Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2021

Tản mạn nghề và nghiệp văn chương

Tản mạn nghề và nghiệp văn chương

Ông dạo này đang viết gì? Đó là câu hỏi thường được thay cho cả lời chào mỗi khi bạn viết gặp nhau. Nhiều trường hợp là hỏi thật chứ không phải thói quen lễ tiết xã giao thông thường. Hằng năm, ít cũng vài ba lần tôi gặp tình huống ấy. Kể ra câu hỏi cũng giản đơn thôi. Vậy mà người trả lời chẳng dễ chút nào!
Thông thường là cười trừ rồi bày tỏ hoàn cảnh hàng chục điều. Đó cũng là một thói quen: Chà, bận quá! Đúng thôi, người lao động có bao giờ rảnh rỗi nhàn hạ. Việc nhà việc cửa đến việc xóm giềng có bao giờ hết việc. Song với công việc sáng tác thơ văn nói riêng và sáng tạo nói chung thì lý do ấy chỉ là tự dối mình và cũng chẳng thật thà với bạn. Nếu là một công trình dài hơi, quả là cần có quỹ thời gian nhất định. Còn cái sự thường ngày thì e chỉ là đồng nghĩa với việc bao biện? Vâng, thời gian là quý, là cần, là phải san sẻ cho nhiều việc thường ngày, việc không tên! Nhưng với công việc sáng tác văn thơ chính là ở cái mạch, cái nguồn thật sự cảm xúc từ sự vật, thời giờ chưa hẳn đã là yếu tố chính. Khi đã có cảm hứng thì giờ cầm bút thể hiện chắc chắn ngắn hơn nhiều so với những lúc bí từ, bí ý… Đã bí thì hay sinh lắm “lý do lý chấu”. Thói thường là vịn vào những lý do khách quan. Rằng thiếu sự quan tâm, tạo điều kiện của cơ quan quản lý, chỉ đạo đội ngũ và phong trào v.v… Lời phàn nàn trách cứ ấy, xem ra ở đâu và lúc nào cũng có. Cũng có trường hợp đúng như vậy nhưng hiếm lắm! Xưa đến nay câu “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” mãi mãi vẫn đúng.
Nhìn lại hoạt động văn nghệ và cả văn hóa nói chung của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh nhà trong thời gian hơn mười năm tái lập tỉnh đã qua, có những khởi sắc. Song với góc độ quản lý của hội đối với hội viên, quả là không ít vấn đề cần bàn để vừa khắc phục mặt yếu vừa phát huy mặt tốt.
Về tổ chức, có không ít hội viên không còn ý thức hoạt động công việc Hội. Trong đó có sáng tác, chiếu theo điều lệ cần được xem xét nghiêm túc vấn đề hội tịch. Nhận thức của tôi, hội viên không nhất thiết có sáng tác đăng trên tạp chí Văn nghệ Ba Bể mà nói chung là thường xuyên có ý thức hoạt động văn nghệ, văn hóa nói chung, kể cả sự hăng hái đóng góp ở Câu lạc bộ thơ, văn nơi mình cư trú. Tất nhiên tư duy sáng tác vốn phải là chủ yếu và thường xuyên có bài viết. Ngược lại nếu không còn đáp ứng được số lượng tác phẩm tối thiểu thì cũng nên tự nguyện - chủ động đề xuất vấn đề hội tịch của mình (Dụ việc này đầy tế nhị).
Bắc Cạn là một tỉnh nghèo và nhỏ về mặt hành chính, kinh tế, dân số nhưng nhu cầu thẩm mỹ, văn hóa nói chung chẳng khác nhau bao nhiêu so với các địa phương lân cận.
Đội ngũ hoạt động văn học - nghệ thuật tuy không nhiều mà cũng có đủ các lứa tuổi. Xưa nay với quy luật tre già măng mọc vẫn luôn có mặt tứ đại đồng đường trong gia thất văn nghệ gồm sáu bảy dân tộc anh em.
Đại hội lần thứ II của Hội ta vào cuối tháng 8-2005 đã bầu một ban chấp hành với sức chăm lo sự nghiệp khá khỏe mạnh. Năm năm qua công việc sáng tác kể cả biểu diễn vẫn tiếp tục bổ sung thành tựu từ ngày thành lập Hội. Nếu nghiêm túc nhìn nhận, lắng nghe công luận với thành quả của chúng ta cũng chưa thực sự được đông đảo bạn đọc, người xem hài lòng vừa ý.
Thế kỷ XXI thấm thoắt đã sang thập niên thứ hai. Bạn đọc, người xem đến thính giả đều đòi hỏi chất lượng nghệ thuật. Những năm chống Mỹ cứu nước ở thế kỷ trước, trong xuất bản và biểu diễn có từ gọi vui là “ăn đong”. Cụm từ ấy nay được gọi sang trọng hơn là “giao lưu”. Dù ngữ nghĩa có khác đi nhưng vẫn chưa thoát được tình cảnh “tháng 3 ngày 8”. Tờ báo hay tạp chí của tỉnh được bạn bè gần xa gửi góp bài viết là quý, đáng hoan nghênh, trân trọng. Còn hiểu rõ được mặt mạnh yếu, giao lưu hay “ăn đong” tới mức nào, chỉ những người ở bếp núc của báo, tạp chí mới thật rõ sự thiếu, thừa đó.
Nhân đại hội lầm III của Hội, ta thử cùng nhau trao đổi cái nghĩa thực tế cụm từ “phục vụ nhân dân”. Chúng ta đã ít nhiều được nghe, được biết sự tranh luận nghệ thuật vị nhân sinh hay nghệ thuật vị nghệ thuật, giữa hai thái cực từ thời trước Cách mạng tháng Tám.
Ngày nay, xã hội ta đã có một nhận thức chung là phục vụ chính trị, phục vụ nhân dân cần được quán triệt các mặt sáng tác, biểu diễn… Những năm kháng chiến chống giặc giữ nước, đội Văn công tỉnh hàng năm ít nhất cũng một, hai lần đến các cụm xã vùng cao. Ngày ấy, sân khấu là bãi cỏ chân đồi. ánh sáng bó nứa khê, đèn bão, khi có đèn măng sông là đã sang lắm rồi. Ngày nay, bà con vùng cao vẫn còn nhớ mãi. Nhớ bởi lần đầu tiên được xem ca múa thời cách mạng và cũng nhớ vì hàng chục năm không thấy đoàn nghệ thuật nào đến nữa!
Những đêm diễn sân khấu đốt lửa trại ấy nay chỉ còn trong kí ức của nhiều cụ già! Mặt khác nhiều xóm vùng cao có số gia đình đặt máy phát điện mi-ni ngoài suối để xem màn hình vô tuyến, nên sự mong ngóng các đội, đoàn nghệ thuật của đồng bào cũng vơi bớt đi. Bản thân đội, đoàn nghệ thuật cũng không còn thiết tha với việc về vùng sâu vùng xa phục vụ đồng bào nữa.
Đã là nghệ thuật thì phải khổ công tu luyện. Đất nước hòa bình, thống nhất đã bốn chục năm. Các cuộc liên hoan giao lưu vốn nghệ thuật giữa hơn năm mươi dân tộc khu vực và toàn quốc hầu như được tiến hành hàng năm. Đó là chưa kể phần nghi thức khánh tiết các ngày lễ kỷ niệm lịch sử và đón tiếp các đoàn khách quốc tế… Yêu cầu nào cũng cần thiết và chính đáng. Đối tượng nào cũng đòi hỏi chất lượng nghệ thuật nghiêm túc. Năm năm hay ba năm học tập và tu luyện để chỉ diễn một tiết mục mươi mười lăm phút! Do đó từ kháng chiến chuyển sang hòa bình, từ đối tượng phục vụ là nhân dân lao động vùng cao hẻo lánh thì đối tượng chính ngày nay nhiều lúc lại được hiểu là các vị trong hội đồng nghệ thuật hay ban giám khảo. ẩn phía sau đó người diễn viên và các bộ phận chỉ đạo nghệ thuật đang lĩnh hội một điều đầy vinh quang, vinh dự là các loại huy chương vàng, bạc đi cùng các chức danh cao quý: nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân. Các mặt này ngày càng tăng tiến phát triển cũng đồng nghĩa với việc nhân dân các dân tộc vùng cao chỉ còn được thưởng thức ca múa dân tộc qua màn ảnh truyền hình nếu gia đình tạm được ti vi từ đôi lợn tăng nuôi bằng cám tăng trọng hoặc mấy chú dê râu xồm.
Ngày trước, số bản đông nhà nay thưa vắng vì người ta chuyển ra thị tứ dựng nhà mới. Trong xu thế phát triển kinh tế có lẽ cũng hàm cả nhu cầu thưởng thức văn hóa nữa!
Trở lại vấn đề nghệ thuật giữa việc đến thâm sơn cùng cốc biểu diễn với việc bà con thưởng thức ca múa qua vô tuyến thì gián tiếp và trực tiếp ấy đều có thể hiểu một mẫu số chung: phục vụ nhân dân miễn là người nghe và người xem đều thấy hay và thấy đẹp.
Đã chót kết cái duyên cái phận với công việc gọi là nghệ thuật thì đều phải cố gắng để người thưởng thức thấy hài lòng!.
22/9/2016
Nông Viết Toại
Theo https://hoivanhocnghethuat.backan.gov.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...