Việt Nam văn học sử yếu 2
CHƯƠNG THỨ TƯ
NHỮNG ĐIỀU GIẢN YẾU VỀ KINH THI, TẬP CA DAO CỔ CỦA NGƯỜI TÀU
Nói qua về ngũ Kinh
A) Ngủ kinh (năm cuốn sách) Cũng như Tứ thư, là những sách gốc
của Nho giao. Nguyên trước có sau kinh, nhưng vì sự đốt sách của Tần Thủy Hoàng
(246-209). một kinh kinh là Kinh Nhạc (am nhạc) mất đi (1)
B) Ngũ kinh là;
1) Thi (thơ), do đức Khổng tử sưu tập và lựa chọn, sẽ nói rõ
về sau.
2) Thư (nghĩa đen là ghi chép), do đức Không tử sưu tập,
trong chép điển, mô, huấn, cáo, thiệt, mệnh (2) của các vua tôi bên Tàu tự đời
Nghiêu, Thuấn đến đời Đông Chu (tự năm 2357 đến năm 77t tr. T.L)
3) Dịch (nghĩa đen là thay đổi) là cuốn sách sách tượng số
dùng về việc bói toán và sách lý học cốt giải thích lẽ biến hoá của trời đất và
sự hành động của muôn vật Nguyên vua Phục Hy (4480-4365) đặt ra bát quái (tám
quẻ, tức là tám hình vẽ),tám quẻ ấy lại lần lượt đặt trồng lên nhau thành ra 64
trùng quái (quẻ kép); mỗi trùng quái có sáu nét vạch (hoặc vạch liền biểu thị lẽ
dương, hoặc vạch đứt biểu thị lẽ âm gọi là hào, thành ra 384 hào.
4) Lễ ký (chép về lễ) là sách chép các lễ nghị trong gia
đình, hương đảng và triều đình. Hiện cuốn Lễ ký còn truyền lại đến giờ phần
nhiều là văn của Hán nho, chứ chính văn do đức Khổng tử san định về đời Xuân
thu không còn mấy.
5) XuânThu (mua xuân và mùa thu), nguyên là sử ký nước Lỗ,
do đức Khổng Tử san định lại, chép công việc theo thể biên niên tự năm đầu đời
Lỗ Ẩn công đến năm thứ 15 đời Lỗ Ai công (tự 722 đến năm 481 tr. T.L) cộng là
243 năm.
Lược sử kinh Thi.
A) Kinh Thi vốn là những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc
chương ở nơi triều miếu của nước Tàu về đời thượng cổ. Các thiên trong “Thương
tụng” (Xem ở dưới) có lẽ làm tự đời nhà Thương (1783-1135), còn các thiên khác
đều làm về đời nhà Chu, tự thế kỷ thứ XII đến thế kỷ thứ VI. Các bài ấy do các
nhạc sư sưu tập và đem hát trong khi có yến tiệc và tế lễ.
B) Nguyên trước có đến gần ba ngàn thiên, sau Đức Khổng tử lựa
chọn lấy hơn ba trăm thiên và theo ý nghĩa các thiên sắp đặt thành bốn phần.
C) Đến đời Tần Thủy Hoàng, Kinh Thi, cũng như các kinh khác bị
đốt, nhưng có nhiều nhà Nho còn nhớ.
D) Đến thế kỷ thứ II tr. TL về đời nhà Hán, có bốn bản kinh
Thi xuất hiện, đại thể giống nhau, duy chữ viết có khác. Truyền lại đến nay là
bản của Mao Công (tức Mao Trường)
Nội dung của kinh Thi. Kinh Thi có bốn phần gồm 305 thiên
(bài thơ). Trong đó có 6 thiên chỉ truyền lại đề mục mà không còn bài. Mỗi
thiên lấy vài chữ chính trong thiên làm đề mục và chia ra làm nhiều chương. Bốn
phần trong kinh thi là: Quốc phong, Tiểu nhã, Đại nhã và Tụng.
A) Quốc Phong - Quốc nghĩa làn ước (đây là các nước chư hầu về
đời nhà Chu) phong nghĩa đen là gió; ý nói các bài hát có thể cảm người ta như
gió làm rung động các vật. Vậy quốc phong là những bài ca dao của dân các nước
chư hầu mà đã được nhạc quan của nhà vua sưu tập lại.
Quốc Phong chia làm 15 quyển, mỗi quyển là một nước, gồm có:
1) Chính phong (hai quyển Chu nam và Thiệu nam) (3) gồm những
bài hát tự trong cung điện nhà vua truyền ra khắp thiên hạ.
2) Biến phong, gồm những bài hát của 13 nước chư hầu khác.
B) Tiểu nhã. Nhã nghĩa là chính đính, gồm những bài hát dùng ở
nơi triều đình. Tiểu nhã chỉ những bài dùng trong những trường hợp thường như
khi có yến tiệc.
Tiểu nhã gồm có 8 thập, mỗi thập có 10 thiên.
C) Đại nhã.- Đại nhã chỉ những bài hát dùng trong những trường
hợp quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu hoặc tế ở miếu đường.
Đại nhã gồm cỏ thập, mỗi thập 10 thiên, trừ thập thứ ba có 11
thiên.
D) Tụng. - Tùng nghĩa là khen, gồm những bài ngợi khen các vua
đời trước và dùng để hát ở nơi miếu đường.
Tụng có 5 quyển gồm 40 thiên, chia ra làm:
1) Chu tụng: 31 thiên (3 quyển đầu)
2) Lỗ tụng: 4 thiên (quyển thứ 4)
3) Thương tụng: 5 thiên (quyển thứ 5).
Thể văn trong Kinh Thi.-
A) Các bài trong Kinh Thi viết theo thể thơ 4 chữ (thỉnh thoảng
có câu 3 chữ hoặc 5 chữ.
B) Cách kết cầu các bài làm theo ba thể:
1) Thể phú (xem bài đọc thêm số 1)
2) Thể tỷ (Xem bài đọc thêm số 2)
3) Thể hứng (xem bài đọc thêm số 3)
Ba thể ấy đã giải thích rõ trong chương thứ I (mục nói về Ba
thể văn trong ca dao).
Luân lý trong Kinh Thi.-
A) Đức Khổng tử đã nói: “Thi tam bách, nhất ngôn dĩ tế chi,
viết: Tư vô tà., nghĩa là: Cả ba trăm thiên Kinh Thi, chỉ một câu có thể chùm
được, là: Không nghĩ bậy. (Luận ngữ: Vi chính II). Vậy người đọc Kinh Thi phải
làm thế nào cho lòng mình không nghĩ đến điều sằng bậy, dâm tà để có được tính
tình trong sạch; đó là bài học luân lý của sách ấy, mà cũng là chủ ý của đức
Không tử khi ngài san định kinh ấy.
B) Ngài lại nói: “Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần,
khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa chi ư điểu thú, thảo mộc chi
danh., nghĩa là: Xem kinh Thi, có thể phấn khởi được ý chí, xem xét được việc
hay dở, hòa hợp với mọi người, bầy tỏ nỗi sầu oán, gần thì học việc thờ cha, xa
thì học việc thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông cỏ cây. (Luận ngữ:
Dương Hoá, XVII). Đó là sự ích lợi của việc đọc kinh Thi.
Đọc kinh Thi, biết được những điều gì? đọc kinh Thi, ta biết
được tính tình, phong tục của người dân và chánh trị các đời vua cùng các nước
chư hầu ở nước Tàu về đời Thượng cổ. Thí dụ:
Đọc Mân phong, ta biết được tục cần kiệm của người dân nước ấy.
Đọc Vệ phong, ta biết được tục dâm bôn của người dân nướcấy.
Đọc Tần phong, ta biết được sự hối quá của người dân nước ấy.
Đọc Đại nhã, Tiểu nhã, ta biết được chánh trị của nhà Chu thịnh
suy thế nào.
Ảnh hưởng kinh Thi đối với văn chương nước Tàu và nước Nam.
A) Kinh Thi là một cái nguồn thi hứng các thi sĩ thường mượn
đề mục ở đấy.
B) Kinh Thi lại là một cái kho điển tích: các nhà làm văn hay
lấy điển hoặc lấy chữ ở đấy. Ta cứ đọc Truyền Kiều thì thấy rất nhiều điển và
chữ mượn ở Kinh Thi.
Kết luận. Kinh thi, cũng như ca dao của ta, là cái nền
thơ lối cổ của nước Tàu, trong đó có nhiều bài mô tả tính tình, phong tục dân
Tàu một cách chất phác, hồn nhiên, thật là một cái kho tài liệu cho ta khảo cứu
vậy.
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
Rau quyền nghiêng giỏ còn vơi,
Hái rau lòng những nhớ người nẻo xa.
Nhớ ai thơ thẩn lòng ta,
Giỏ rau đặt xuống bên kia vệ đường.
Lên gò, lên núi, ta lên đồi;
Ngựa chồn, tớ mệt ta ngồi nghỉ ngơi.
Chén vàng rót rượu đầy vơi,
Cho khuây khỏa nỗi ngậm ngùi nhớ thương.
Thơ nầy là bà Hậu phi (vợ Chu Văn Vương) tự làm ra, xem mà
cũng đủ thấy cái tính tình trinh tĩnh và chuyên nhất. Ấy hoặc là đương những
khi Văn đi chầu, đi hội, đi đáp dẹp các hơi, hay trong lúc phải ngồi ở Dữu lý
(4) mà bà Phi ở nhà làm ra chăng? Nhưng không thể xét được vậy.
Thi kinh (Quốc Phong, Chu Nam, Quyển nhì)
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn
Đặng đức Tộ cùng dịch
Kinh Thi, Quyển thứ nhất
(Nghiêm Hàm ấn quán, Hà Nội).
Gió đông hong
Gió hòa mưa thuận
Dốc một lòng
Có giận nhau chi!
Kìa như phong phỉ rau kia
Hái rau sao có kể gì cuống rau.
Tiếng tăm trong sạch trước sau.
Sống cùng nhau, thác cùng nhau với mầy.
Đây là thể tỷ - Rau phong, rau phỉ, ngọn và cuống đều ăn được
cả mà cuống nó thời có lúc ngon, có lúc không ngon. Người đàn bà bị chồng bỏ,
cho nên làm ra thơ nầy, để kể những tình thương nỗi oán. Nói âm dương hòa mà rồi
mới có mưa thuận, vợ chồng hòa mà rồi mới nên cửa nhà, cho nên trong đạo vợ chồng,
nên rằng gắng gượng để cùng lòng với nhau mà không nên đến có sự giận dữ. Lại
nói như hái rau phong, rau phỉ, không nến thấy vì cái cuống nó không ngon mà bỏ
cả cây rau: vợ chồng với nhau, không nên vì nhan sức kém xưa mà phụ nhau vậy.
Tiếng tăm giữ được trong sạch thời cũng đáng cùng mầy cho đến thác, chớ sao.
Thi kinh (Quốc phong, Bội Phong, Cốc phong. Chương thứ I)
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm thượng Văn,, Đặng Đức Tô cùng dịch
(sách đã kể trên).
Kìa trông con én nó bay
Nó sa cành nầy, nó liệng cánh kia,
Gã kia bước chân ra về,
Ta tiễn mình về, đến quãng đồng không.
Trông theo nào thấy mà trông,
Nước mắt ta khóc ròng ròng như mưa.
Đây là thể hứng. Gã kia là nói vào nàng Đái Vỹ. Về là về hẳn
nhà bố mẹ đẻ. Bà Trang Khương không có con, lấy con của nàng Đái Vỹ (người con
gái của nước Trần, cũng lấy vua Trang công) để ra, tên là Hoàn, làm con mình.
Vua Trang công mất. Hoàn lên ngôi, bị Châu Hu (con của một người thiếp yêu) giết
chết. Vậy nên Đái Vỹ về hẳn nhà (nước Trần) mà Trang Khương đi tiện làm ra bài
thơ nầy.
Kìa trông con én nó bay,
Bay bổng nơi nầy, bay xuống nơi kia.
Gã kia bước chân ra về
Ta tiễn mình về, chẳng quản đường xa.
Trông theo nào thấy đâu mà
Một mình thơ thẩn đứng mà khóc thương.
Đây là thể hứng.
Kìa trông con én nó bay.
Kêu lên tiếng nầy, kêu xuống tiếng kia.
Gã kia bước chân ra về.
Ta tiễn mình về, xa tiễn sang nam.
Lòng ta vơ vẩn ai làm.
Trông theo chẳng thấy cho thêm nhọc lòng.
Đây là thể hứng.
Tiễn sang nam là vì nước Trần ở phía nam nước Vệ.
Thi Kinh (quốc Phong, Hội phong, Yến-yến. chương I, II, II)
Nguyễn Khắc Hiếu, Nghiêm Thượng Văn, Đặng Đức Tô cùng dịch.
(Sách đã kể trên)
(1) chỉ còn lại một thiên, sau đem vào sách Lễ ký, đặt là
thiên nhạc ký.
(2) Điển là phép tắc: mô: mưu bàn, kế sách; huấn: lời dạy dỗ;
cáo: lời truyền bảo, thệ: lời răn bảo tướng sĩ; mệnh: mệnh lệnh.
(3) Chu nam, Thiệu nam: Chu và Thiệu là tên đất (nay là đất
huyện Kỳ Sơn, tỉnh Thiểm Tây; nam là nước chư hầu ở phương nam. Đất chu, đất
Thiệu nguyên là cố ấp của nhà Chu. đến đời chu Văn Vương mới chia cho 2 người
con là Đán và Thích: Đán được ăn phần đất Chu nên gọi là Chu công, Thích được
ăn phần đất Thiệu nên gọi là Thiệu công.
(4) Hữu lý là chỗ vua Trụ giam vua Văn phải ngồi tù ở đó (lời
chú của dịch giả)
CHƯƠNG THỨ NĂM
HỌC SINH NGƯỜI NAM SANG DU HỌC Ở TÀU
Sự truyền bá Hán học ở nước ta trong thời kỳ Bắc thuộc. Từ
khi nước ta nội thuộc nước Tàu (111 tr.TL) chữ Nho cùng Hán học dần dần truyền
bá sang nước ta. Sự truyền bá ấy nhờ mấy duyên cớ này:
A) Các lương lại Tàu đã có bụng tốt mở mang việc học trong xứ
ta. Trong số ấy, sử còn ghi tên những ông sau này:
1. Tích Quang, làm thái thú quận Giao chỉ về đờ Hán Bình đế,
dạy dân lấy điều lễ nghĩa
(CM. tiền biên, q.2, tờ 9b)
2. Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu chân từ năm 29 đến năm 33,
dạy dân lễ giá thú.
(CM. tiền biên q.2 tờ 9a)
3. Sĩ Nhiếp làm thái thú quận Giao chỉ từ năm 187 đến năm
226.
Ông là một người có văn học, lại chăm mở mang việc học, nên vẫn
được suy tôn là “Nam bang học tổ". (Ông tổ việc học ở nước Nam). Nhưng ta
không nên lầm tưởng ông là người đầu tiên đem chữ Nho sang dạy dân ta; ông chỉ
là một người có công to trong việc truyền bá Hán học ở xứ ta thôi.
4. Đỗ Tuệ Độ làm thứ sử Giao châu về cuối đời nhà Tấn (đầu thế
kỷ thứ V), chăm việc mở trường dạy dân học (CM. tiền biên, q.3, tờ 24b).
B) Các sĩ phu Tàu chạy loạn sang nước ta.
1. Về thời Vương Mãng (1) (8-23), có nhiều quan lại và sĩ phu
nhà Hán, không muốn thờ kẻ tiếm nghịch, chạy sang đất Giao chỉ theo Tích Quang,
rồi khuyến khích và giúp đỡ quan Thái thú trong việc truyền bá văn hóa Tàu ở xứ
ta. (Theo H. Maspèro, BEFEO, XVIII, số 3, tr.12)
2. Lại sau khi vua Hán Linh đế mất (189) nước Tàu rối loạn,
chỉ có đất Giao Chỉ là yên ổn, bởi thế bấy giờ có nhiều người danh vọng ở bên
Tàu chạy sang ở bên ta (Theo P.Pélliot, T’oungpao, 1918-1919, tr.273)
Xem hai việc ấy đủ biết trong khi nước ta nội thuộc nước Tàu,
có nhiều bậc học thức người Tàu sang ở bên ta, rồi truyền bá Hán học ở đấy.
C) Các nhà sư Tàu (sẽ nói rõ trong Chương sau).
D) Các học sinh người Nam sang du học ở Tàu: đó là vấn đề ta
sẽ xét ở đoạn dưới.
Học sinh người Nam sang du học ở Tàu.
A) Nguyên nhân.- tuy các nhà cầm quyền người Tàu có lo đến việc
dạy dân ta học chữ Nho thật. Nhưng nền học ấy vẫn ở một cái trình độ thiển cận:
mục đích chỉ cốt luyện lấy người dùng làm lại thuộc ở các ty, các nha, chứ
không phải là đào tạo nhân tài. Vì thế những người tuấn tú trong nước ta muốn học
cho thành tài tất phải sang bên Tàu.
B) Các người hiển đạt và nổi tiếng. – Trong số các người sang
du học ở bên Tàu, sử sách còn ghi tên mấy người hiền đạt và nổi tiếng là những
người nầy:
1. Trương Trọng đi du học ở đất Lạc dương (nay thuộc tỉnh Hà
Nam) về đời Hán Minh đế (58-75), sau được bổ làm quan thái thú ở Kim thành (tên
quận, nay thuộc tỉnh Cam túc) (theo Chu bội Liên, tựa sách Thánh mô hiền phạm của
Lê Quý Đôn).
2. Lý Tiến được bổ làm thứ sử ở Giao chỉ năm 187 (Hán Linh đế,
Trung bình thứ 4). Ông có dâng sớ xin cho người Giao chỉ được bổ làm quan như
người ở trung châu bên Tàu. Vua Tàu chỉ cho những người đỗ mậu tài (2) hoặc hiếu
liêm (3) được làm lại thuộc ở trong xứ, chứ không được làm quan ở trung châu.
3. Lý Cầm làm túc vệ trong điện vua nhà Hán lúc bấy giờ, thấy
việc của Lý Tiến xin không được, mới rủ mấy người đồng hương ra cùng kêu xin.
Vua nhà Hán bèn bộ một người Giao chỉ đổ mậu tài làm quan lệnh ở Hạ dương, và một
người đổ hiếu liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp. Sau Lý Cầm làm quan đến Tư lệ hiệu
úy (CM, tiền biên, q.2. tờ 26)
4. Khương Công Phụ ở về đời Đường Đức Tôn (78-804), đậu tiến
sĩ, làm quan đến chức bình chương (An nam chí nguyên, bản in PQVĐHX,
tr.178-180)
Ảnh hưởng về việc học sinh ta sang du học bên Tàu.
Việc học sinh ta sang du học ở Tàu có ảnh hưởng đến sự truyền
bá Hán học ở nước ta. Cái ảnh hưởng ấy phát triển ra có hai cách:
a) Các học sinh thành tài về nước đem những điều mình đã học
được mà truyền dạy cho người đồng bang.
b) Cái gương các học sinh thành tài được hiển đạt, vinh dự
làm cho các người trong nước nức lòng mà chăm chỉ học tập, nhờ đó mà Hán học
càng ngày càng lan rộng trong nhân gian.
Các tác Phẩm kê cứu.
(1) Nguyễn Bá Trác, Bàn về Hán học, N.P.VII, số 10 tr.324-336
(2) Lê Thước. L’Enseignement des caractères chinois: Ext. de
la Revue indochinoise, 1921, Hanoi, Imp, d’Extrème-Orient.
Chú thích:
(1) Vương Mãng: nguyên làm quan với nhà Hán, rồi giết vua
Bình đế mà tiếm ngôi vua sau bị vua Hán Quang Vũ giết chết.
(2) Mậu tài: tức là tú tài. Sau vì vua Hán Quang Vũ tên là
Tú, nên đỗi chữ tú là chữ mậu.
(3) Hiếu liêm: vua Hán Vũ đế bắt đầu truyền lệnh cho mỗi quận
trong nước cử một hiếu liêm; các đời sau cũng theo lệ ấy: châu thi cử tú tài,
quận thi cử hiếu liêm.
CHƯƠNG THỨ SÁU
SỰ TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VÀ ĐẠO GIÁO
Trong hai chương thứ ba và thứ tư, ta đã xét qua hai bộ Tứ
thư và Ngũ kinh nói về học thuyết Nho giáo là cái đạo giáo được Việt Nam tôn
sùng nhất. Nhưng trừ Nho giáo ra, người nước ta còn chịu ảnh hưởng của hai tôn
giáo khác nữa là Phật giáo và Đạo giáo, mà cả hai tôn giáo ấy cũng từ nước Tàu,
hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp, truyền sang ta. Vậy ta phải xét quả chủ nghĩa
hai tôn giáo và sự truyền bá hai tôn giáo ấy trong nước ta như thế nào?
Phật giáo.
Phật tổ. Người sáng lập ra Phật giáo (hoặc Thích giáo là Tất
Đạt Đa, họ Cồ Đàm (Gotama), thuộc dòng Thích ca hoặc Thích già (Sakya); bởi thế
ta thường gọi ngài là Thích ca mâu ni (Sakya Muni) (mâuni: tịch mịch, lặng lẽ).
Ngài sinh ở thành Ca-tỳ-la (Kapilavastu) ở phía bắc Ấn độ, vào thế kỷ thứ VI và
mất vào khoảng năm 480 tr.T.L nghĩa là ở đồng thời với Đức Khổng tử. Ngài là
con một nhà quí tộc, có vợ con, nhưng thấy sự khổ sở của người đời, bỏ cả quyền
vị phú quí, đi tu trong sáu năm, sau ngài tỉnh ngộ, tự xưng là Như lai (1), rồi
đi thuyết pháp các nơi để truyền đạo giáo của ngài. Đời sau gọi ngài là Phật
(2) và tôn ngài là ông tổ Phật giáo.
(1) Như lai: Bậc giác vi như, kim giác vi lại, nghĩa là: vốn
biết là như, nay biết là lai (đạo viên tập)
(2) Phật, hoặc Phật đà hoặc Bồ đề (chữ Phạn là Bouddha) nghĩa
là giác (biết): một là tự giác (tự mình tỉnh ngộ), hai là giác tha (thuyết pháp
để cứu độ người khác), ba là giác hành viên mãn (sự biết và làm đều trọn vẹn)
Chủ nghĩa của đức Thích ca.
A) Đức Thích ca nhận thấy cuộc đời là khổ ải tức là biển khổ
(sinh, lão, bệnh, tử, v.v...) mà người ta bị trầm luân nghĩa là chìm đắm trong
đó. Sự khổ ấy, không phải một kiếp nầy phải chịu mà hết kiếp nầy sang kiếp
khác, cứ sinh tử, tử sinh mãi mà chịu nỗi khổ ấy không bao giờ thôi: tức là người
ta phải ở trong vòng luân hồi nghĩa là cái bánh xe xoay hết vòng lại trở lại
mãi. Cái nghiệp ta chịu kiếp nầy là cái quả của công việc ta về kiếp trước mà
những công việc của ta về kiếp nầy lại là cái nhân của nghiệp ta về kiếp sau,
thế là ta cứ phải chịu sự nghiệp báo (karma) ấy mãi.
B) Cái nguyên nhân của sự khổ là gì?
Chính là lòng tham muốn của người ta: tham sống, tham sướng,
tham mạnh.
C) Vậy muốn diệt khổ nghĩa là dứt hết nổi khổ não thì phải
tiêu trừ lòng ham muốn không để cho còn một chút nào. Muốn thế, phải dốc chí tu
hành, chánh tâm theo đạo để cắt đứt những cái nhân duyên nó ràng buộc mình ở trần
thế. Khi đã diệt được sự khổ rồi, tức là được giải thoát, nghĩa là ra khỏi vòng
luân hồi, nghiệp báo, không sinh không tử nữa mà tới cõi Niết bàn (Nirvana).
Tóm lại, đức Phật cho đời người là khổ và mục đích lập giáo của
ngài là cứu độ chúng sinh cho thoát nỗi khổ não (Xem bài đọc thêm số 1 và số 2)
Sự bành trướng của Phật giáo. – Sau khi Phật tổ mất, Phật
giáo dần dần lan rộng:
A) Trong nước Ấn độ, thoạt tiên ở khu vực sông Hằng Hà
(Gange) là nơi sinh trưởng của Phật tổ rồi đến khắp cả nước Ấn Độ (thế kỷ thứ
III tr.T.L)
B) Ra các nước ngoài do hai đường:
1) Do đường bộ, sang các nước Trung hoa (thế kỷ thứ I, về đời
nhà Hán), Cao ly (thế kỷ thứ IV), Nhật Bản (thế kỷ thứ VI), các xứ ở Trung Á
như Tây Tạng, Mông Cổ (thế kỷ thứ VII).
2) Do đường thủy sang đảo Tích Lan (Sri Lanka), Nam dương quần
đảo (Indes Néerlandaises) v.v...
Sự truyền bá Phật giáo ở nước Nam.
- Phật giáo truyền sang nước ta do hai cách:
A) Nhờ các vị sư Tàu sang tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua Hán
Linh đế mất (189) trong khi nước Tàu có nội loạn (cuối thế kỷ thứ II và đầu thế
kỷ thứ III):
B) Nhờ các vị sư người Thiên trúc: Khang cư, Nguyệt thị,
Indoseythe (4) sang ở nước ta, hoặc đi qua nước ta để sang Tàu trong thế kỷ thứ
III.
Xem thế thì biết Phật giáo sang ta hoặc theo cách trực tiếp từ
Ấn độ sang, hoặc theo cách gián tiếp tự bên Tàu sang. Nhưng về sau cái ảnh hưởng
Phật giáo Tàu mạnh hơn nên nay Phật giáo ở bên ta cũng theo phái Đại thừa (5)
như ở bên Tàu vậy.
Lịch sử Phật giáo ở nước Nam.
Có thể chia ra làm ba thời kỳ:
A) Thời kỳ truyền bá (từ cuối thế kỷ thứ II đến cuối thế kỷ
thứ VI, tự lúc nội thuộc nhà Hán đến hết đời Nam Bắc triều): nhờ các vị sư Tàu
và thứ nhất là các vị sư Ấn độ mà Phật giáo dần dần truyền trong dân gian,
nhưng chưa có tổ chức gì.
B) Thời kỳ phát đạt: (tự thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XIV, từ
lúc nội thuộc nhà Tùy đến cuối đời nhà Trần): trong thời kỳ này, có ba Thiền
phái (6) kế tiếp nhau thịnh đạt ở nước ta.
1) Tự năm 580, vị sư người Tây trúc tên là Ti ni Đa Lưu Chi, đến ở
chùa Pháp vân (nay thuộc tỉnh Bắc ninh) lập một Thiền phái thứ nhất ở nước Nam
truyền được 19 đời (680-1216) trong các vị Pháp Hiền (+626), Đỗ Pháp Thuận
(+990+, Vạn Hạnh (+1018), Từ Đạo Hạnh (+1122).
2) Tự năm 820, vị sư người Tàu tên là Vô Ngôn Thông đến ở
chùa Kiến sơ (ở làng Phù đổng, huyện Tiên du, tỉnh Bắc ninh) lập một Thiền phái
thứ hai truyền được 14 đời (820-1221) trong có các vị sư Ngô Chân Lưu (+1011)
và vua Lý Thái Tôn (1000-1054).
3) Đến thế kỷ thứ XI, vị sư Tàu tên là Thảo Đường được phong
làm quốc sư lập một Thiền phái thứ ba truyền được 5 đời (1069-1205), trong các
vị vua nhà Lý: Thánh tôn (1023-1072), Anh Tôn (1136-1175), Cao tôn (1173-1210)
Trong thời kỳ nầy, đạo Phật ở nước ta rất thịnh, hầu được coi
như quốc giáo: triều đình đặt chức quốc sư, mở khoa thi tam giáo (Nho, Phật,
Lão); nhiều ông vua nhà Lý, nhà Trần đi tu sau khi thoái vị và chùa chiền dựng
lên ở trong nước rất nhiều.
C) Thời kỳ suy đồi (từ thế kỷ thứ XV tức là tự đời Hậu Lê trở
về sau): Phật giáo bị phái Nho công kích không được nhà vua săn sóc đến nữa,
lâu dần thành một tôn giáo của dân chúng, không có tổ chức thống hệ gì nữa. Các
tăng ni phần nhiều là người vô học thức bày ra các mối dị đoạn, các lễ nghi phiền
phức để cho bọn hạ lưu (thứ nhất là đàn bà) dua theo còn các giáo lý cao thâm của
đạo Phật ít người hiểu nữa.
(3) Khang cư (Sogdiane): tên cũ một xứ ở Châu Á, nay là xứ
Boukhara thuộc Turkestan russe.
(4) Nguyệt thị (Indescythe): giống người ở phía bắc Ấn độ,
phía trên sông Indus bây giờ.
(5) Vào khoảng thế kỷ thứ II sau T.L, Phật giáo chia làm hai
phái: một là Tiểu thừa (nghĩa đen là xe nhỏ: chữ phạn là Hinayâna) về giáo lý
thì Tiểu thừa được giữ chính truyền của Phật tổ hơn. Về sau các nước thuộc về
Nam tôn (như Tích lan, Xiêm la, Miến điện, Cao Miên) theo phái Tiểu thừa, còn
các nước thuộc về Bắc tôn (như Tây tạng, Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bản, Việt Nam) theo phái đại thừa.
(6) Thiền phái hoặc thiền tôn: Một phái của Phật giáo do ông
tổ thứ 28 là Bồ đề đạt ma (Bodhidharma - mất năm 528) người Thiên trúc, sang đất
Quảng Châu bên tàu về đời nhà Lương lập ra. Thiền nghĩa là thanh tĩnh; phái này
cốt đem lòng thanh tĩnh để tu luyện cho thành Phật, không cần văn tự nên cõng bọi
là “tâm tôn”.
2. Đạo giáo
Lão tử.- Người sáng lập ra Đạo giáo là Lão Tử (hai chữ này chỉ
là danh hiệu và nghĩa là “ông thầy già”, nhưng thân thế của ông,ta không biết
rõ. Theo sách Sử ký của Tư mã Thiên (7) thì ông họ là Lý, tên là Nhĩ tự là Bá
dương thụy là Đam người huyện Hỗ thuộc nước Sở (nay thuộc tỉnh Anh huy) không
rõ sinh và mất năm nào (có sách cho là sinh năm 570 và mất năm 490 tr.TL (nhưng
cũng ở đồng thời với đức Khổng tử, nghĩa là vào thế kỷ thứ VI tr.T.L vì sử chép
rằng năm 522, Khổng tử có một lần đến hỏi lễ ở ông. Ông có làm quan trụ hạ sử
(quan giữa công văn) nhà Chu. Sau ông bỏ đi về phía tây (Cam túc), không biết rồi
ra thế nào. Nhưng có người lại bác cái thuyết ấy, cho rằng Lão tử chính tên là
Dương Bá Phú ở vào thế kỷ thứ VIII tr.TL chứ không phải là Lão Đam ở đời Xuân
thu nói trên.
Dù sao chăng nữa, ông có viết ra Đạo đức kinh (hai thiên, 81
chương, hơn năm ngàn lời nói) để bày tỏ cái tôn chỉ của ông, bởi thế mới gọi
cái đạo của ông sáng lập là đạo giáo.
Về sau lại có Liệt tử và Trang Tử cũng làm sách để diễn giải và
truyền bá cái tôn chỉ của ông và bài bác các học thuyết khác, thứ nhất là Nho
giáo.
(7) Tư Mã Thiên: Một đại sử gia nước Tàu vào thế kỷ thứ I tr.
T.L về đời nhà Hán.
(8) Liệt tử: Họ Liệt, tên là Ngự Khấu người nước trịnh (nay
thuộc tỉnh Hà Nam) ở về đời Chiến Quốc, vào quảng thế kỷ thứ V, thứ IV tr. TL.
Các môn đệ của ông chép những lời ông dạy thành chữ Liệt Tử gồm có 8 thiên.
(9) Trang Tử: tên là Chu, người đất Mông (nay thuộc tỉnh An
Huy) ở về đời Chiến quốc, vào thế kỷ thứ IV tr. TL soạn ra sách Trang tử gồm
hơn mươi vạn lời nói.
Tôn chỉ của Lão tử
A) Về triết lý.- Lão tử cho Đạo là một nguyên lý rất huyền diệu
do đấy mà sinh ra trời đất và vạn vật. Đạo vốn là đơn nhất, sinh ra âm dương;
âm dương sinh ra trời, đất và khí; trời, đất và khi sinh ra muôn vật, muôn vật
sinh ra khắp cả thế gian, rồi quay trở về Đạo. Trở về Đạo,rồi lại hóa ra vạn vất,
cứ đi đi về về mãi thế, tức là cái cuộc biến cải sống chết ở đời, mà là cái cuộc
tuần hoàn theo lẽ tự nhiên.
B) Về Luân lý.- Người ta muốn theo đạo thì nên thanh tĩnh vô
vi. Nghĩa là phải tuyệt hết cái bụng nghĩ ngợi, ham muốn và quên cả hình hài đi
để được trong sạch yên lặng mà không hành động gì cả, cứ phó mặc tự nhiên không
phải nhọc trí nhọc sức. Sở dĩ người ta phải khổ sở, lo nghĩ là vì phải hành động
mà nguồn gốc của sự hành động là dục tình; bởi thế, nếu dứt hết dục tình thì
không hải hành động, không phải lo nghĩ khổ sở mà lòng được thư thái, thân được
an nhàn. Cho nên trong nhân loại kẻ gần Đạo nhất là đứa anh nhi mà người có nhiều
đức cũng hồn nhiên như đứa bé con vậy.
Đạo giáo biến đổi thế nào? – tư tưởng của Lão tử là một nền
triết học cao thâm quá, người thường không hiểu, nên không bao lâu đạo ấy biến
đổi đi mà thành một tôn giáo có nhiều dị đoan và ảo thuật. Người ta tôn Lão tử
làm Thái thượng Lão quân và bày ra thuật tu tiên, luyện đan (luyện thuốc tràng
sinh bất tử), thuật số, phù thủy v.v...
Sự truyền bá Đạo giáo sang nước ta.
Đạo giáo truyền sang ta từ đời Bắc thuộc, những không có môn
phái thống hệ gì.
Bậc thượng lưu học thức xem sách của Lão tử và của các môn đồ
Đạo giáo như Liệt tử, Trang tử thì nhiễm những tư tưởng tiêu diêu phóng khoáng,
chán đường công danh phú quý, cần sự an nhàn tự do.
Còn thường dân thì tin các dị đoan về thần tiên, về phù thủy
và theo các ảo thuật như bùa bèn, ấn quyết v.v...
Ảnh hưởng Phật giáo và Đạo giáo đối với văn chương của ta.-
Không kể phương diện tín ngưỡng và dị đoan, Phật giáo và Đạo giáo rất có ảnh hưởng
đến văn chương nước ta. Trong tác phẩm cũ của ta, bao nhiêu những tư tưởng
phóng khoáng, nhàn tản, yếm thế là do ở đạo giáo mà ra. Thí dụ, trong tập thơ của
Nguyễn Bỉnh Khiêm và trong tập hát nói của Nguyễn Công Trứ, những bài vịnh cảnh
nhàn đều là chịu ảnh hưởng của Đạo giáo cả.
Còn những tư tưởng về khổ ải, trầm luân, nhân quả, nghiệp
báo, là do Phật giáo mà ra cả.
Ta cứ xem khúc Cung oán (đoạn nói về cuộc đời khổ sở) và Truyện
Kiều thì thấy nhiều ý tưởng đã thoát thai ở Phật giáo mà ra.
Các bài đọc thêm.
1) Phật thuyết pháp lần thứ nhất về “tứ diệu đề”
“Nầy các thầy sa môn, ở đời có hai sự thái quá, người tu đạo
phải lánh xa. Hai sự thái quá là gì? Một là đam mê trong vòng sắc dục: như thế
thì hèn xấu, trái với đạo lý, uổng công không đáng. Này các thầy sa môn, hai sự
thái quá ấy, Như lai đều phải lánh xa cả.
Như lai đã tìm được con đường đi giữa, để mở mặt, mở trí cho
người ta, khiến cho tinh thần được bình tĩnh, được thông tỏ, được sáng suốt, được
tới cõi nát bàn. Vậy các thấy có biết con đường giữa mà như lai đã tìm được ấy,
con đường để ở mắt mở trí cho người ta, khiến cho tinh thần được bình tĩnh, được
thông tỏ, được sáng suốt, được tới cõi nát bàn ấy, là gì không?
Con đường thần diệu ấy gọi là đường bát chính: 1) Chính kiến
(samyaksadrsti), nghĩa là thành thực mà tin đạo; 2) Chính tư duy
(samyaksankalpa), nghĩa là thành thực mà suy xét; 3) chính ngữ
(samyaksarmaunta), nghĩa là thành thực mà làm việc; 5) Chính mệnh
(samyabjvara), nghĩa là thành thực mà mưu sinh; 6) Chính tinh tiến (sayakvyâma), nghĩa là thành thực mà mong tới; 7) Chính niệm (samyaksmarti)
nghĩa là thành thực mà tưởng nhớ; 8) Chính định (samyaksamạdhi), nghĩa là
thành thực mà ngẫm nghĩ. Nầy các thầy sa môn, ấy đó là con đường trung đạo. Như
Lai đã phát minh ra được, để mở mắt mở trí cho người ta, khiến cho tinh thần được
bình tĩnh, được sáng suốt, được tới cõi niết bàn.
“Này các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự khổ: sinh là khổ,
già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cái gì không ưa mà phải hợp là khổ, cái
gì ưa mà phải dời là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền
miên trong ngũ trọc là khổ (10).
“Này các thầy sa môn, đây là phép mầu về nguyên nhân sự khổ:
nguyên nhân sự khổ là lòng tham sống, vì tham sống mà phải luân hồi sinh tử,
càng tham càng muốn, càng được càng tham, tham sống, tham sướng, tham mạnh (11)
“Này các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự diệt khổ, diệt khổ
phải tiêu trừ lòng tham dục, phải giải thoát chi hết lòng tham dục, không để
cho còn một chút nào. (12)
“Này các thầy sa môn, đây là phép mầu về sự diệt khổ, đạo diệt
khổ tức là đạo bát chính: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp,
chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định (13)”
Phạm Quỳnh
Phật giáo lược khảo
(Nam phong tạp chí, t.VII số 40, tháng 10-1920)
(10) Đây tức là đệ nhất diệu đề.- “Ngũ trọc” hay là “ngũ uẩn”
(panchaskandha) là năm cái nguyên tố họp lại làm thành ra thân thể tâm thần người
ta: 1: sắc uẩn (rupaskhandha) là hình thể người; 2. thụ uẫn (vedaskandha), là sự
cảm giác; 3 tưởng uẩn (sanjnaskandha), là sự tưởng tượng; 4: hành uẩn
(sanskaraskandha) là sự hành vi, 5: thức uẩn (vijnânaskandha, là sự ý thức.
(11) đệ nhị diệu đề
(12) đệ tam diệu đề.
(13) Đệ tứ diệu đề - Bốn diệu đề trong sách Tàu thường nói
tóm lại bốn chữ là khổ tập, diệt đạo
2. Nát bàn là gì?
Thuộc về Nát bàn, các học giả Âu châu nghị luận cũng đã nhiều,
nhiều người lấy cái lý tưởng riêng của Âu châu mà bình phẩm, đại khái trách đạo
Phật rằng lấy sự hư vô tịch diệt làm cứu cánh cho đời, một tôn giáo như thế thời
không những không bổ ích gì cho quần sinh, mà lại có thể di hại cho xã hội. Nay
không muốn nối gót các học giả Âu châu mà phẩm bình bao biếm đạo Phật, nhưng phải
biết rằng đạo Phật đã lấy sự “khổ” làm tiền để thời phải lấy sự “diệt” làm hậu
kết, đã cho rằng người ta có thể là có khổ thời muốn hết khổ tất phải diệt
thân, trước sau thật là duy nhất, lý luận không có mâu thuẫn. Vậy rút lại vấn đề
chỉ ở một câu, ở đời có khổ hay không? Câu hỏi đó, thiết tưởng không ai là
không trả lời rằng có, không ai là không cùng phật công nhận rằng sống là khổ,
và nước ở đời ví đem tích lại thời sánh với nước mặn bể khơi cũng chưa thấm vào
đâu.Sự khổ đã có, thì phải tìm đường thoát khổ, muốn thoát khổ thời phải diệt
khổ, nhưng khổ là liền với thân, khổ là một với sống, diệt khổ tức là diệt
thân, diệt sống, tự diệt vậy.
Song người đời vẫn lấy sự hư vô làm sợ; nếu mãn kiếp tu hành,
hết sức học đạo mà cứu cánh chỉ đến tiêu nhập vào chốn hư vô, thời kinh hải biết
dường nào! Phật cũng biết thế, nên Phật đối với vấn đề cứu cánh cũng giữ một
thái độ như khổng phu tử đối với quỷ thần vậy; không hề nói rõ bao giờ, mỗi khi
đề cập đến, vẫn có ý thoái thác. Khổng tử thời môn đệ hỏi đến việc quỷ thần, đến
sự chết, trả lời rằng: “Các anh chưa biết việc đời người đã hỏi việc quỷ thần
làm chi, các anh chưa biết sự sống đã hỏi sự chết làm gì?” Phật tổ thời đệ tử hỏi
cứu cánh có phải là cõi hư vô không, và khi linh hồn đến khi nhập nát bàn còn
gì nữa không, bèn dùng cách tỉ dụ mà hỏi lại rằng: “Ta hỏi: nay có một người bệnh
thập tử nhất sinh, có kẻ đem thuốc lại cứu cho khỏi chết, người ấy có chịu uống
ngay không, hay là còn hỏi thuốc kia ở đâu mà lại, thuốc kia làm bằng vật gì?
Như lai thấy chúng sinh trầm luân trong bể khổn, muốn ra tay tế độ cho siêu
thoát, khác nào như kẻ cho thuốc người bệnh bệnh nặng, thuốc sẵn, cứ việc uống
còn hỏi gì?” – Xưa nay những bậc triết nhân quân tử đã sáng suốt muôn lẽ, đã thấu
hiểu mọi sự, muốn ra tay tế độ cho quần sinh thường có nhiều điều tự mình biết
mà không thể truyền bá ra được cũng tức như ông thầy thuốc biết là bệnh trạng
nguy mà không dám nói rõ cho bệnh nhân biết vậy. Phật tổ cũng vậy; chắc trong ý
riêng vẫn biết rằng linh hồn sau khi tịch diệt rồi là vào cõi tịch mịch hư vô,
chớ chẳng phải nơi thiên đàng cực lạc gì; nhưng không hề thuyết minh cho ai biết
bao giờ, là sự có kẻ chưa thoát sạch trần tục, nhân thế mà ngã lòng tu đạo
chăng? Vì những sự biết như thế là sự biết “chết người” vậy. Bởi thế nên dầu
các nhà bác học tìm khắp trong kinh sách, cũng không hề giải được nát bàn là thế
nào. Ông Oldengerg đã phải chịu thú thật rằng: “Chúng tôi đã hết sức nghiên cứu
mà kết quả cũng lạ thay: chỉ có hai thuyết, không ra ngoài được, một rằng nát
bàn là cõi hư vô, hai rằng nát bàn là nơi cực lạc, thời rút cục lại chẳng thuyết
nào đúng hẳn” (14)
Phạm Quỳnh
Phật giáo lược khảo.
(14) “Le résultar deces recherches est d’ailleurs assez
singulier; les deux alternatives qui formaient, semble-t-il, un véritable
dilemme, à savoir que dans ;’ancienne communauté, le nirvâna devait être concu
soit comme le néant, soit comme la beatitude suprême, it s’est trouvé que ni
l’une ni l’autre n’avait tout à fait raison” Oldengerg, P.274, Tự số 910 đến
14): (Lời chú thích của tác giả)
3. Đạo là gì?
Đạo là gì mà tự đâu sinh ra? Lão tử cho là thoạt kỳ thủy thì
không có gì cả (15), bởi cái không mà thành ra cái có, rồi do cái có đó mà
thành ra muôn vật, nghĩa là trước hết là không, rồi tự nhiên thành ra một vật độc
nhất trong khoảng không gian: do vật độc nhất ấy mà sinh muôn vật trong thiên hạ.
Vật độc nhất đó gọi là gì? Không biết gọi tên là gì, nhưng ta
đặt tên là chữ đạo (16). Đạo là một chữ đặt ra để có tên mà gọi cho dễ, chứ kỳ
thực thì không sao mà tả rõ ra được, vì rằng: (17) cái đạo mà đã nói rõ ra được
thì không phải cái thường bao giờ cũng có nữa mà một vật đã có thể gọi tên ra
được thì cũng không phải cái vật thường vẫn có ấy nữa.
Đạo là một vật tự nhiên hỗn thành ra trước khi có trời đất, mờ
mờ mịt mịt, im lặng một mình trong khoảng không gian ở đâu cũng có, mà bao giờ
cũng thế, không suy suyển chút nào mà muôn vật trong vũ trụ cũng bởi đó mà sinh
ra cả.
Đạo lại là một giống rất to, mà không có hình thể gì cả. (19)
Trông không trông thấy được, nghe không nghe thấy được, sờ không sờ thấy được,
mênh mông, lờ mờ, dẫu muốn suy diễn đến đâu cũng không xiết được, mà bao giờ
các toàn thể của Đạo vẫn là đơn nhất, nghĩa là chỉ có một mà thôi, chứ không có
hai ba nào cả. Nhân có cái tính đơn nhất ấy mà thành ra có trời đất và muôn vật,
nghĩa là do cái tính đơn nhất của Đạo mà sinh ra âm dương, tức là trời đất, trời
đất cùng với khí sinh ra vạn vật. Với tính đơn nhất ấy thực là linh hoạt. Trời có
được cái tính đơn nhất ấy mới sáng, đất có nó mới vững, thần có nó mới thiêng,
muôn vật có nó mới sinh sản mãi mãi. (22)
Trần Trọng Kim
Đạo giáo
(Nam Phong tạp chí t.XII, số 57 tháng giêng 1923)
4. Lẽ sinh tử theo Trang tử.
Người ta sinh ra ở trong khoảng trời đất này chẳng khác gì
cái bóng mặt trời thoáng qua trước cái khe cửa. Đường sinh tử là cái lối đi ra
đi vào của vạn vật. Sự đi lại ấy thật là nhẹ nhàng, dễ dàng, ai ai cũng thế, chứ
không ai khác ai. Vì sự hóa mà sinh, rồi lại vì sự hóa mà tử, vậy thì việc gì
mà ta lo, ta buồn. Những người lấy sự sống chết làm lo làm buồn là người không
biết gì, khác nào như muốn đem cất cai cung của trời, thắt cái túi áo của trời,
làm trái với mệnh trời thì làm sao được. Ta nên để mặc cái cung trời lúc dương
lúc trùng, cái túi áo trời lúc mở lúc xếp, cứ biết rằng cái lẽ sống chết là một
lẽ thay đổi, vừa liên tiếp, vừa thong thả, khi hồn phách ở thì thân mình ở, khi
hồn phách đi thì thân mình đi theo, cũng về cả trong quãng thái hư mà thôi (23)
Sự sống chết là thế thì việc gì mà lo sợ. Chẳng qua mình lo sợ
cái mình chưa biết ra thế nào, chứ biết đâu sự thay đổi của tạo hóa là một sự
hay. “Ngày xưa, người con gái đẹp đất Lệ sang lấy vua nước Tấn, lúc ở nhà đi ra
thì kêu khóc. Đến lúc về ở với vua được đủ mọi điều sung sướng, lúc ấy mới hối
sự mình kêu khóc”. Thế thì biết đâu người chết rồi lại không hối lúc trước mình
đã cầu sống. thường đêm nằm chiêm bao uống rượu thấy sáng dây có sự buồn rầu,
hoặc đêm nằm chiêm bao thấy sự buồn rầu, sáng dậy có sự vui vẻ, nghĩa là sự chiêm
và sự thực không giống nhau. Đương lúc mình chiêm bao mình không biết là chiêm
bao, mà trong lúc chiêm bao mình vẫn đoán việc chiêm bao, mãi đến khi tỉnh dậy
mới biết là chiêm bao thật. Chỉ có bậc đại giác thì mới biết được cuộc đời là một
giấc chiêm bao lớn mà thôi, con người ngu thì chiêm bao vẫn cho là tỉnh, rồi tưởng
mình chủ tể được cái tâm trí ấy (24)
Thường giấc mộng mơ màng là cuộc sống ở đời, mà lúc tỉnh dậy
là sự chết đó thôi. Bởi vậy cho nên những bậc “chân nhân” cứ tự nhiên nhi
nhiên, hễ gặp vào lúc sống mà sống là hợp thời, gặp lúc nào chết mà chết là thuận
cảnh, hợp thời và thuận cảnh, thì còn có việc gì mà buồn hay vui? Người ta lúc
sống chẳng qua cũng như bị cái dây nó treo mình ở trong khoảng không gian, lúc
chết cổi cái dây ấy mà xuống. Cũng thí dụ như củi với lửa: Củi là hình hài, lửa
lái tinh thần, lửa bén vào củi, rồi củi hết là lửa tắt. nhưng kỳ thực là ta biết
thế nào là lửa hết được: lửa tắt là vì hết củi đó thôi (25)
Trần Trọng Kim
Đạo giáo II
(Nam phong tạp chí t.XII, số 58, tháng hai 1923)
(15) Đạo đức kinh chương thứ 40
(16) Đạo đức kinh chương thứ 25
(17) Đạo đức kinh chương thứ 1
(18) Đạo đức kinh chương thứ 25
(19) Đạo đức kinh chương thứ 41
(20) Đạo đức kinh chương thứ 14
(21) Đạo đức kinh chương thứ 42
(22) Đạo đức kinh chương thứ 39
(23) Trang tử: Trí bắc du
24) Trang tử: Tế vật.
Các tác Phẩm để kê cứu
1. Phạm Quỳnh Phật giáo đại quan, Nam phong tùng thư, Hà Nội,
Đông kinh ấn quán x.b
2. Trần Trọng Kim, Đạo giáo, Nam Phong tạp chí t.XII tr.12-32
và 103-113; tXIII, tr.113-127 và 197-209; Phật lục, Hanoi, Imp, du Nord 1940.
3. Đại nam cao tăng truyện, Nam phong tạp chí, t.XXI, Phần chữ
Hán, trang 27-30, 41-44, 54-57.
4. Phật giáo nam lai khảo, Nam phong tạp chí t. XXII, Phần chữ
Hán tr.45-48.
5. Trần văn Giáp, Le Bouddhisme en Annam, des origines au
XIIIè siècle BEFEO. T.XXXII fase. L.pp.191.268
6. Oldengerg. Le Bouddha.Sa vie, sa doctrine, sa communauté,
traduit de l’1allemand par A.Fourcher, Bibliothèque de philosophie
contemporainee 3è édition francaise, Paris, Félix Alcan 1921.
7. Tené Grousset. Histoire de la philosophie orientale. Inde
Chine Japon, Bibliothéque francaise de philosophie, Paris, Nouvelle Librair
nationale, 1923.
8. Le P.Léon Qieger. Histoire des croyances religieuses et
des opinions philosophiques en Chine depui l’origine jusqu’à nos jours. Hokien
fou Imp. De la Misision catholique, 1917.
9. Le P. Léon Wieger, Textes philoshophiques. Sommaire des
notions chinoises depuis ; l’origine jusqu’à nos jours. Hokien fou. Imp de la
Mission catholique, 1906.
Chương thứ Bảy
Việc dùng chữ Nho làm quốc gia văn tự
Cách tổ chức việc học.
1. Việc dùng chữ Nho làm quốc gia văn tự
Dân tộc ta, trước khi nội thuộc nước Tàu có thứ chữ riêng để
viết tiếng ta hay không? Đó là một vấn đề hiện nay không thể giải quyết được,
vì không có di tích, tài liệu mà khảo cứu.
Duy từ khi nước ta tự chủ (939) cho đến khi nước Pháp sang bảo
hộ, thì trong khoảng hơn chín thế thể kỷ ấy, triều đình vẫn lấy chữ Nho làm quốc
gia văn tự: các luật lệ, dụ chỉ của nhà vua, công văn, án từ của các quan, việc
học, việc thi, đều dùng chữ Nho cả. Trong dân gian, các khế ước, chúc thư,
khoán lệ, sổ sách cũng dùng chữ nho.
Chỉ có hồi đức Nguyễn Ánh còn xưng vương, chưa bình định xong
Nam Bắc, là có dùng tiếng Nôm làm các dụ sắc và công văn, vì bấy giờ trong nước
loạn lạc, việc học, việc thi chữ nho khoáng phế đã lâu, không có người văn học
để dùng; vả các tướng tá, quân nhân cũng ít người biết chữ nên phải dùng tiếng
Nôm cho tiện. Hiện nay còn truyền lại một tập công văn viết bằng tiếng Nôm về hồi
ấy (Xem bài đọc số 1)
Vậy ta phải xét cách tổ chức việc chọc chữ nho ở nước ta
trong các triều vua thế nào.
2) Cách tổ chức việc học chữ Nho
Xét về vấn đề này, ta có thể phân biệt ra hai thời kỳ:
Việc học chữ Nho trong các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý sơ (từ
đầu thế kỷ thứ X đến giữa thế kỷ thứ XI) - Mấy triều Ngô, Đinh và Tiền Lê, phần
vì ngắn ngủi, phần vì các vua còn phải lo việc chống nhau với nước Tàu để làm
cho nền tự chủ được vững, nên chưa có thì giờ tổ chức việc học chữ Nho. Trong
thời kỳ ấy, việc dạy chữ Nho phần nhiều do các nhà sư đảm nhận, vì Phật giáo
bâý giờ đương thịnh và các vị sư đều thâm Hán học cả. Xem như năm 986 (Thiên
Phúc thứ 7), có xứ nhà Tống sang, vua Lê Đại Hành sai ông sư Đỗ Pháp Thuận đi
đón, lại sai ông sư Ngô Chân Lưu làm bài từ để tiễn sứ Tàu; lại xen như Sử chép
vua Lý Thái Tổ thuở nhỏ học ông Sư Vạn Hạnh thì đủ biết các vị sư bấy giờ nhiều người giỏi chữ Nho và dự một phần lớn trong việc truyền bá Hán học.
Việc học chữ Nho trong các triều Lý, Trnần, Kê, Nguyễn (từ giữa
thế kỷ thứ XI đến cuối thế kỷ XX) – Trong thời kỳ này, việc học chữ Nho đã được
triều đình tổ chức để các sỹ phu có nơi học tập.
A) Lý- Năm 1070, vua Lý Thánh Tôn dựng văn miếu ở Thăng Long
(nay là văn miếu Hà Nội để thờ đức Khổng tử và các vị tiên hiền, tỏ ra rằng nhà
vua tôn sùng Nho giáo. Ngài lại sai Hoàng tử đến học ở đấy.
Năm 1076, vua Lý Nhân Tôn đặt ra Quốc Tử giám chọn các quan
có văn học bổ vào đấy coi việc giảng dạy.
B) Trần - Năm 1236, vua Trần Thánh Tôn đặt ra Để điệu Quốc tử
viện để cho con em các quan văn vào đấy học. Năm 1243, ngài sai làm lại Quốc tử
giám. Năm 1252, ngài cho con thường dân người nào tuấn tú được theo học với con
các quan ở Quốc tử giám.
Năm 1253, ngài lập Quốc học viện để giảng Tứ thu, Ngũ kinh.
Năm 1237, về đời vua Trần Thuận Tôn, Hồ Quý Ly thấy việc học
trong nước, trừ kinh đô ra, còn ngoài chưa hề tổ chức, bèn hạ lệnh đặt ở các lộ,
phủ, châu các học quan coi việc dạy dỗ và cấp ruộng cho các viên ấy.
C) Lê - Vua Lê Thái Tổ, sau khi ngài lên ngôi, liền lưu ý đến
việc học. Năm 1428, ngài lập Quốc tử giám ở kinh đô để dạy con cháu các quan và
các người tuấn tú trong dân gian; còn ở ngoại thì đặt nhà Lộ học chọn con em
các lương gia trong dân sung làm Lộ hiệu sinh và bổ thày để dạy dỗ.
Năm 1483. vua Lê Thánh tôn mở rộng thêm nhà Thái học (tức là
Quốc tử giám), làm các phòng cho các sinh viên ở và kho Bí thư để chứa sách.
Sau khi nhà Lê trung hưng, thì việc cũng phỏng theo đời Tiền
Lê. Ở Quốc tử giám thì đặt quan tế tửu và quan tư nghiệp để làm giảng quan, mỗi
tháng một lần tiểu tập, ba tháng một lần đại tập. Năm 1734, đời vua Thuận Tôn,
Trịnh Giang lại sai khắc in các sách Kinh Truyện phát ra mọi nơi để khỏi phải
mua sách in ở bên Tàu.
D) Nguyễn. – Năm 1803, vua Gia Long dựng nhà Quốc học ở kinh
đô (Huế). Ngài lại đặt chức đốc học ở các trấn, giáo thụ, huấn đạo ở các phủ,
huyện để coi việc dạy học.
Năm 1821, vua Minh Mệnh đổi tên nhà Quốc học gọi là Quốc tử
giám, dựng thêm một giảng đường, một Di luân đường cùng hai học xá ở bên tả,
bên hữu. Năm 1826, lại dựng thêm học phòng bên tả, bên hữu mỗi bên mười chính
gian để làm chỗ sinh viên học tập.
Cách học tập ở các trường công hồi xưa.-
Cách học tập ở các trường công ngày xưa thường tổ chức như
sau:
A) Sự giảng sách.- Mỗi tháng định mấy kỳ giảng sách. Những
hôm ấy, các học trò tề tựu ở học đường, rồi các quan đốc học, giáo huấn giảng
nghĩa các kinh truyện cho học trò nghe.
B) Sự tập văn.- Mỗi tháng lại định những kỳ làm văn. Đến hôm ấy,
các giáo quan ra đầu bài cho học trò đem về nhà làm; cũng có khi làm ở trường
trong một ngày phải xong (cách ấy gọi là làm văn nhật khắc). Học trò làm xong
văn nộp quyển; học quan, khi đã điểm duyệt xong, họp các sinh viên lại mà bình
các quyển văn hay. Một đôi khi cũng phát ra những giải thưởng nữa (1)
Kết luận: - Trong cách tổ chức việc học ở nước ta hồi xưa. Triều
đình chỉ chú trọng đến một trường đại học ở kinh đô và đặt các giáo chức ở lộ,
phủ để cho các học trò lớn cố chỗ học tập mà dự khoa thi. Còn việc học ở dân
gian như nay gọi là bậc “tiểu học” thì Triều đình không tổ chức, cứ để các tư
gia đón thầy dạy lấy con cháu. Tuy vậy, việc học của bình dân cũng được phồ cập,
vì các trường tư mở ra rất nhiều và các “ông đồ” trong có các bậc hưu quan, các
nhà khoa mục, được người trong nước một lòng tôn trọng.
(1) Trên đây là nói về việc học chữ Hán ở nước ta trước khi
nước Pháp can thiệp. Sau khi nước Pháp lấy xứ Nam kỳ (1892 và 1867) thì bãi việc
học việc thi chữ Nho ở trong ấy mà tổ chức nền học Pháp Việt. Còn ở Trung, Bắc
kỳ thì chính phủ bảo hộ trước vẫn để nguyên như cũ, sau mới thương lượng với
Nam triều lập ra Hội đồng cải lương học vụ để sửa đổi lại phép học, phép thi.
Ngày 31 tháng năm năm 1906, chính phủ ban hành một đạo vụ về việc ấy. Về phép học
thì chia làm ba bậc: 1) Ấu học: dạy ở các trường tổng sư và lấy bằng tuyển sinh
làm tốt nghiệp; 2) Tiểu học dạy ở các trường phủ, huyện (giáo thụ, huấn đạo) và
các trường quy thức ở tỉnh lỵ, lấy bằng khóa sinh làm tốt nghiệp. 3) Trung học
dạy ở các trường tỉnh (đốc học) để luyện học trò thi Hương. Chương trình học vẫn
lấy chữ Nho làm gốc, nhưng có học thêm các khoa cách trí, sử ký, địa dư, toán
pháp bằng chữ quốc ngữ và một ít chữ Pháp.
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
1. Một đạo dụ viết bằng quốc văn về đời đức Nguyễn Ánh.
Lời dụ ban cho tướng sĩ trong khi duyệt binh ở Gia Định ngày
26 tháng ba năm Canh Thân (1800)
“Cơn bát loạn chẳng lo sao đặng, năm sáu phen đăng định, dễ
muốn chi qua giáp biền đê; hội trung hưng phải quyết mới xong, muốn nghìn dặm
thu công, bao nỡ để sinh linh đồ thán.
“thời dĩ chí, khá rằng vội tưởng: cơ khá thừa, vậy phải sớm
toan.
Ta nay: gặp hội trung vi, dựng nền tái tạo. Tám chín phủ gian
sơn đồ sộ, đặng chỗ này lo chỗ khác, thù tổ tôn đâu dám nguôi lòng, mười ba thu
tướng sĩ nhọc nhằn, đánh trận nọ qua trận kia, đạo thần tử trước đà gắng sức. Vậy
năm ngoái thu thành Bình định, rất đỗi cần lao; tưởng năm nay nghỉ chốn Đồng
nai, yên bề hưu tức. song liệu chừng thế nó, tướng phẫn binh tàn, hạ lăng, thượng
phế, dù chẳng đánh cũng hư; nhân tính lại việc ta đồn quân, tích tướng, trữ
súng, tăng thuyền, phải sắm thêm mới mạnh.
“Nên nỗi: theo đường phú liễn, nặng việc công sưu. Dân thời
cung cống lương tiền, nhịn mặc, nhịn ăn, tật khổ ta đâu không rõ; quân thời tân
cần chinh địch, gắng công gắng sức huân lao ta vốn không quên.
“Trước tuy nhật xúc kinh doanh, rày đã sẵn rồi chiến cụ. Cũng
muốn dưỡng uy súc nhuệ, trời Gia định nghỉ nhơi cho khoẻ, ngõ chư hầu đều được
lạc sinh; nào ngờ cùng khấu xương cuồng, lũy Bàn xà đến rấn vào vậy, bởi nghịch tặc
tư lai tống tử.
“Huống nó, em phản anh, tôi phản chúa, lại thêm ngoại viện
tàng sư, trường thành thất hiểm, tai phần sào đã quyết từ nay; mà ta lương thì
đủ, quân thì ròng, sẵn có tướng tài quy phụ, chư quốc liên binh, thế phà trúc
chờ bao thuở nữa.
“Cứ ấy: vội vàng trục bắc, hăm hở bình tây. Trước là lo tôn
xã mà phục thù, kẻo lăng tẩm một trời man mác; sau là bị thần dân mà tiếc phẫn,
kẻo thương sanh khắp chốn than van. Cơ hội này ai nỡ đặng thôi; công danh ấy
người âu phải gắng.
“Rày mới vui lòng sư lữ, mở tiệc cảo lao. Muốn cho đặng tấm
lòng chung, tôn ti nhất thể; vậy phải phô bày lời thật, minh thệ tam quân. Quân
thời nợ nước lo đền, khoán thiết thơ son đành tạc đó; quân thì thù trai dóc trả,
cung dâu tên cỏ phỉ nguyện xưa (Liễn (những) người tiến kiến hướng minh, chót
đã lập công, chớ để Trần Bình riêng thuở Hán; những kẻ hậu lại quy thuận đều
cho báo hiệu, nữa nhường Kính Đức ngợi đời Đường. Phép vô tư chẳng khuất một
ai, dầu bộ khúc thiên ty, có công ắt thưởng; quyền tất phạt không riêng nửa mảy,
tuy huân thần quy thích, phạm tội nào dung. Trên dưới tua dọc chí cần vương; tướng
hiệu cũng một lòng địch khái. Thành Quy Nhơn chỉ bắc, đạp phá trùng vi: đô Thuận
hóa rung cờ, dẹp yên đảng ngụy. Công trừ bạo gắng rồi một thuở, phúc thái bình đều
hưởng nghìn năm. Ai tưởng câu chủ quy thần vinh mà phụng tại triều, quan ắt đặt
tên đề trúc bạch, ai muốn chữ công thành thân tạo mà quy hưu tại dã, quân thời
xá thuế lính chinh diêu. Trên đã bày lời, dưới tua tỏ ý.
“Khâm tai sắc dụ”
An Khê sao lục
(Nam phong tạp chí, t XIV số 80, Février 1924)
2) Vua Lê Thánh tôn sử lại nhà Thái học:
Lúc buổi đầu Quốc triều (tức là nhà Lê) nhà Thái học vẫn theo
phép cũ của nhà Trần, quy chế còn nhiều điều thiếu thốn. Đến khi ấy (tháng
giêng năm Hồng Đức thứ 14, 1483), vua sai mở rộng ra; trước nhà Đại học, dựng
điện Đại thành của văn miếu để thờ tiên thánh, đông vu, tây vu để chia thờ các
bậc tiên hiền, tiên nho, điện Canh phục (thay đồ mặc) để làm chỗ túc trực, một
kho chứa đồ tế và một buồng bếp. Đằng sau, dựng cửa nhà Thái học, Minh luân đường,
Đông Tây giảng đường để dạy học trò. Lại đặt thêm kho Bí Thư để chứa các ván in
sách. Phiá đông, phía tây đều có 3 dãy nhà ở có 3 hạng “xá sinh (2), mỗi dãy có
25 gian. Phía đông, phía tây đều có một cái nhà bia. Quy mô thực là to tát rộng
rãi.
Dương Quảng Hàm dịch
(Theo Khâm định Việt sử thông giám chương mục, q.23,
tr.38b-39a)
(2) Xá sinh: Về đời vua Lê Thánh Tôn, các giám sinh ở Quốc tử
giám họp lại thi. Ai trúng tam trường được sung “thượng xá sinh”, ai trúng nhị
trường được sung “trung xá sinh, ai trúng nhất trường được sung “hạ xá sinh”, mỗi
xá lấy 100 tên, tiền lương tháng thì thượng xá sinh được cấp một quan, trung xá
sinh được 9 tiền, hạ xá sinh được 8 tiền (theo C.M 23, tr.39h-40a)
Các Tác Phẩm kê cứu
1) Nguyễn Bá Trác, Bàn về Hán học N.P, tvII số 40, tr.
324-336
2) Lê Thước, L’enseignement des caractères chinois, Ext. de
la Revue Indochinoise; 1921, Hanoi, Imp. D’Extrème Orient.
3) Aurousseau. Le Temple de la littérature de Hanoi, Revue
Indochinoise, nouvelle série; t.XX, juillet – Decebrre 1913, pp.1.12.
4) Quốc tử giám khảo, N.P,t.X.số 39, phần chữ Hán tr.172-176.
CHƯƠNG THỨ TÁM
NHÀ NHO, KHOA CỬ, LỊCH SỬ KHOA CỬ Ở NƯỚC TA
Nhà nho
A) Thích nghĩa – Nho nghĩa đen là học giả, Nhà nho
là người đã theo Nho học, hiểu đạo lý của thánh hiền đời xưa, có thể dạy bảo
người đời cư xử cho phải đạo và nếu được đặc dụng, thì đem tài đức của mình mà
giúp dân giúp nước.
B) Địa vị trong xã hội. – Tùy theo cảnh ngội, nhà nho có
thể chia làm ba hạng:
1) Hiển nho là những người đã hiển đạt, thi đổ làm quan, giúp
vua trị dân, có quyền hành, địa vị cao quý trong xã hội.
2) Ẩn nho là những người tuy có học thức tài trí mà không muốn
ra gánh vác việc đời, ẩn náu ở nơi sơn lâm hoặc chốn thôn dã để vui thú an
nhàn.
3) Hàn nho là những người cũng theo Nho học, nhưng không đổ đạt
để ra làm quan được, ở nhà theo nghề dạy học, làm thuốc, v.v... để lấy kế sinh
nhai.
Nhưng dù cảnh ngộ có khác, các nhà nho đều có một tư cách và
một chí hướng chung, đều muốn bồi đắp cho cương thường, giữ gìn lấy chính giáo,
hoặc lấy sự nghiệp mà giúp vua giúp dân hoặc lấy phẩm hạnh mà làm mẫu mực cho
người đời, hoặc lấy giáo hoá mà tác thành bọn hậu tiến, nên đều được xã hội tôn
trọng, dù chẳng được triều định ban cho chức vị, bổng lộc cũng được dân chúng
quý mến phục tòng (xem bài đọc thêm số 1).
C) Cách tuyển người làm quan. – Xã hội ta xưa tổ chức
theo khuôn phép Nho giáo, nên người cầm quyền trong nước để giúp vua trị dân phải
là người trong phái nhà nho, tức là người đã am hiểu đạo lý của Nho giáo. Bởi
thế quan trường ở nước ta ngày xưa là do nho phái xuất thân.
Cách lựa chọn các người ra làm quan là khoa cử. Vậy ta phải
xét lịch sử và chế độ khoa cử ở nước ta hồi xưa như thế nào.
Lịch sử khoa cử ở nước ta.- Như chương trước đã nói, trong
các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, triều đình chưa kịp tổ chức việc học việc thi,
mãi đến đời nhà Lý thì việc khoa cử mới bắt đầu quy định.
A) Lý (1009-1225) - Năm 1075, vua Lý Nhân tôn mở
khoa thi Tam trường để kén người minh kinh bác học (rõ nghĩa sách và học rộng):
nước ta bắt đầu có khoa cử tự đấy. Song trong triều nhà Lý, khoa cử chưa có thường
lệ, cứ khi nào nhà vua cần người thì mở khoa thi: trừ khoa trên. Sử còn chép đến
năm khoa nữa mở vào những năm 1086, 1152, 1165, 1185 và 1193.
Năm 1195, vua Lý Cao tôn mở khoa thi Tam giáo tức là: Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo; xem đấy thì đủ biết Phật giáo bấy giờ được coi ngang
hàng với Nho giáo.
B) Trần (1225-1400), phụ nhà Hồ (1400-1407) - Đến đời
nhà Trần thì khoa cử đã có thường lệ và hai khoa thi chính là thi hương và thi
hội, đã đặt ra.
1) Thi hội – Năm 1232, vua Trần Thái tôn mở khoa
thì Thái học sinh (tức sau này là tiến sĩ) và đặt ra tam giáp, nghĩa là chia
các người đỗ ra làm ba hạng: đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, và đệ tam giáp. Đến năm
1247, ngài lại đặt ra tam khôi (ba người đổ về đệ nhất giáp) là trạng nguyên
(trùm đầu), bảng nhỡn (mắt bảng) và thám hoa (thăm hoa). Đến năm 1304, vua Trần
Anh tôn đặt thêm tên Hoàng giáp để gọi người đỗ đầu về đệ nhị giáp. Năm 1374,
vua Trần Duệ tôn mở khoa Đình thi (thi ở sân vua) lấy tiến sĩ Tên “tiến sĩ” bắt
đầu có từ đấy. Nhưng mãi đến năm 1442, đời Lê Thái tôn mới chuyên dùng chữ “tiến
sĩ” mà bỏ chữ “thái học sinh”. Năm 1396, vua Trần Thuận tôn quy định lại phép
thi, cứ năm trước thi hương, năm sau thi hội: tên “thi hội” bắt đầu có từ đấy.
Còn kỳ hạn các khoa thi, thì năm 1246 vua Trần Thái tôn định
cứ 7 năm một khoa. Đến năm 1404, Hồ Hán Thương định cứ 3 năm một khoa, nhưng vì
nhà Hồ sắp mất ngôi, nên lệ ấy không thực hành được, mãi đến năm 1463 đời Lê
Thánh tôn, lệ ấy mới theo.
2) Thi hương. - Năm 1396, vua Trần Thuận tôn đặt ra
thi hương lấy cử nhân; thi hương bắt đầu có tự đấy.
3) Thi tam giáo - Đạo Phật về đời nhà Trần vẫn còn thịnh nên
năm 127, vua Trần Thái tôn cũng có mở khoa thi tam giáo.
C) Hậu Lê (1428-1527): phụ nhà Mạc (1527-1592) - Buổi
đầu vua Lê Thái tổ chưa kịp lập lại các khoa thi thường lệ, ngài chỉ mở những
khoa bất thường; khoa minh kính (rõ nghĩa sách) năm 1429, khoa hoành từ (lời lẽ
lớn lao) năm 1431.
Đến năm 1434, vua Lê Thái tôn mới xuống chiếu định điều lệ
thi hương, thi hội, hẹn đến năm 1438 thì mở khoa thi hương, năm 1439 thì mở
khoa thi hội, rồi cứ ba năm lại mở một khoa. Nhưng thực ra thì khoa thi hội đầu tiên ở triều Lê mãi đến năm 1442 mới mở, mà lệ ba năm một khoa, đến năm 1463 (đời
Lê Thánh tôn) mới thực hành được.
1) Thi hội. - Về khoa thi hội năm 1442, các tiến sĩ cũng
chia làm tam giáp và cũng lấy tam khôi như lệ nhà Trần. Năm 1448, vua Lê Nhân
tôn chia Tiến sĩ là cập đệ, chánh bảng và phụ bảng. Năm 1484, vua Lê Thánh tôn
đổi trạng nguyên, bảng nhỡn, thám hoa làm tiến sĩ cập đệ, chánh bảng làm tiến
sĩ xuất thân, phụ bảng là đồng tiến sĩ xuất thân. Năm 1466, ngài đặt ra lệ xướng
danh (gọi tên các người trúng tuyển một cách long trọng) (xem Bài học thêm số
2) và lệ vinh quy (rước về nguyên quán). Năm 1484, ngài lại định khắc bia tiến
sĩ; tên các ông tiến sĩ mỗi khoa đều khắc trên một tấm bia đá dựng ở Văn miếu
Hà Nội (hiện hãy còn). Ngài sai khắc tên các tiến sĩ tự khoa 1442 là khoa đầu
tiên trở xuống.
2) Thi Hương. - Năm 1462, vua Lê Thánh tôn chia các
người đổ thi hương làm hương cống (tức là cử nhân trước) và sinh đồ hai tên
“hương cống và “sinh đồ” bắt đầu từ đấy.
Nhà Mạc, sau khi tiếm ngôi nhà Lê, cũng theo phép thi cũ của
nhà Lê, cứ ba năm mở một khoa như trước.
D) Lê Trung hưng (1533-1789) - Sau khi nhà Lê trung
hưng, mãi đến năm 1554, vua Lê Trung Tôn mới mở khoa thi. Buổi đầu thỉnh thoảng
mở một khoa. Rồi đến năm 1590, lại mở thi Hội; từ đó về sau, lại theo lệ ba năm
một khoa như đời Tiền Lê. Nhưng cách thi cử còn sơ lược; đến năm 1664 đời vua
Lê Huyền tôn, Trịnh Tạc mới định lại quy thức thi Hội. Còn thi Hương thì đến
năm 1678, đời Lê Hi tôn, mới định lại điều lệ rõ ràng.
Trừ các khoa thi Hương, thi Hội, trong đời Lê Trung hưng lại
mở những khoa thi bất thường; khoa Sĩ vọng, khoa Đông các, khoa Hoành từ và
khoa Tuyển cử.
Nhưng sự thi cử đời bấy giờ không được nghiêm như đời Tiền
Lê. Như năm 1750 đời Lê Hiển tôn, vì nhà nước thiếu tiền đặt ra lệ thu tiền
thông kinh: hể ai nộp ba quan thì được đi thi Hương, không phải khảo hạch.
Thành ra những người làm ruộng, đi buôn, ai cũng được nộp quyển vào thi; rồi
người thì dùng sách, kẻ thì thuê người làm bài, kẻ thực học mười người không được
một.
Đ) Nguyễn triều. - Trong triều nhà Nguyễn, chế độ
khoa cử cũng châm chước theo triều Hâu Lê, vẫn có hai khoa thi, thường lệ là
thi hương và thi hội; thỉnh thoảng lại có mở các khoa bất thường nữa.
1) Thi hội - Trong đời Gia Long, chưa mở thi hội. Mãi đến năm
1882, vua Minh Mệnh mới mở khoa thi hội đầu tiên: các tiến sĩ cũng chia làm ba
giáp như đời Lê; lệ xướng danh, vinh quy, khắc bia cũng theo như trước (các bia
tiến sĩ về triều Nguyễn đều dựng ở Văn miếu trong kinh đô Huế. Năm 1229, Minh Mệnh
thứ 10, dưới bực tiến sĩ, lại lấy thêm phó bảng (bảng phụ viết tên các ông này,
đối với chánh bảng viết tên các ông tiến sĩ): danh hiệu “phó bảng” bắt đầu có từ
đấy.
2) Thi hương – Khoa thi hương đầu tiên mở về triều
Nguyễn là khoa năm 1807, Gia Long thứ 6. Trước còn định 6 năm một khoa, rồi đến
năm 1825, Minh mệnh thứ 6, lại định ba năm một khoa, cứ các năm tý, ngọ, mão, dậu
thì thi hương, các năm thìn, tuất, sửu, mùi thì thi hội. Năm 1828 Minh Mệnh thứ
9, đổi hương cống làm cử nhân, sinh đồ làm tú tài.
3) Các khoa thi bất thường - Trừ các khoa thi thường
lệ, trong triều Nguyễn, lại mở các ân khoa (khoa thi gia ơn), cả hương lẫn hội,
khi trong nước có việc vui mừng, như lễ đăng quang (vua lên ngôi), lễ vạn thọ,
v.v... và các khoa thi đặc biệt như khoa hoành từ mở năm 1851, Tự đức thứ 4, khoa
nhã sĩ mở năm 1865, Tự Đức thứ 18.
Thể thức và chương trình các khoa thi.- Tóm lại, ngày xưa nước
ta có hai khoa thi chính thức: 1 thi hương hoặc hương thi (hương: từng vùng), để
lấy cử nhân (hoặc hương cống) và tú tài (hoặc sinh đồ); 2 thi hội hoặc hội thi
(hội; họp lại) để lấy tiến sĩ (trước là thái học sinh) và phó bảng. Vậy ta phải
xét quả thể thức và chương trình hai khoa thi ấy.
A) Thể thức - Thi hương thì mở ở nhiều nơi (như về triều
Nguyễn thì có các trường Thừa thiên, Gia Định, An Giang, Bình Định, Nghệ An,
Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nội, còn lại thi hội thì các thí sinh họp lại cả ở kinh
đô.
Hương thi chia làm bốn kỳ hoặc trường (có khi chỉ có ba trường;
hoặc thi cả bốn trường, rồi mới theo văn bài mà lấy đỗ, đánh hỏng; lệ ấy gọi là
quán quyển; hoặc trúng kỳ trước mới được vào kỳ sau, trúng được bốn trường thì
đậu cử nhân, trúng ba trường thì đậu tú tài. (Xem bài đọc thêm số 3). Đậu cử
nhân rồi mới được dự khoa thi hội.
Hội thi cũng chia làm bốn trường. Trúng cả bốn trường mới được
vào thi đình hoặc đình thi (đình: sân vua) vì học trò làm văn ở sân điện nhà
vua, không phải thi ở trường thi như mấy kỳ trước. nhưng ta nên nhận định thi
không phải là một khoa thi riêng mà chỉ là kỳ cuối cùng của khoa thi tiến sĩ.
Người nào nhiều số phân được lấy đỗ tiến sĩ, ít số phân được lấy đổ phó bảng.
B) Chương trình – Chương trình thi trước kia thế
nào. Sử không chép rõ. Đến năm 1304, vua Trần Anh tôn định lại phép thi, thì
chương trình bốn kỳ như sau: 1. kỳ đệ nhất: ám tả; 2. đệ nhị: kinh nghĩa, thơ,
phú; 3. đệ tam: chiếu, chế, biểu; 4. đệ tứ: văn sách.
Năm 1396, đời vua Trần Thuận Tôn, bỏ ám tả và định kỳ đệ nhất
thi kinh nghĩa, đệ nhị thi thơ, phú, còn hai kỳ sau như cũ.
Năm 1404, Hồ Hán Thương thêm vào một kỳ thứ năm thi thư (viết)
và toán (tính).
Năm 1434 vua Lê Thái Tôn định lại phép thi: kỳ đệ nhất thi
kinh nghĩa; đệ nhị thi chiếu, chế, biểu; đệ tam thi thơ, phú, đệ tứ thi văn sách.
Suốt đời nhà Lê, cả thi hương và thi hội đều châm chước theo chương trình ấy.
Vua Gia Long khi mở khoa thi hương thi chương trình theo đúng
như đời hậu Lê. Đến năm 1832, vua Minh Mệnh sửa lại phép thi; cả thi hương và
thi hội, bốn kỳ rút bớt đi một kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; đệ nhị thi thơ, phú;
đệ tam thi văn sách.
Năm 1850, vua Tự Đức lại lập lại bốn kỳ: cả thi hương và thi
hội, kỳ đệ nhất thi kinh nghĩa; kỳ đệ nhị văn sách; kỳ đệ tam thi chiếu, biểu
luật; kỳ đệ tứ thi thơ, phú; còn thi đình thì đối sách một bài.
Năm 1858, Tự Đức thứ 11, lại rút các kỳ thi xuống ba: kỳ đệ
nhất thi kinh nghĩa: kỳ đệ nhị thi chiếu, biểu, luận; đệ tam thi văn sách; còn
kỳ đệ tứ thi thơ, phú bỏ đi.
Năm 1876, Tự Đức thứ 29, kỳ đệ nhị của khoa thi hương lại bỏ
chiếu, biểu, luận mà thi thơ, phú.
Năm 1884, Kiến Phúc nguyên niên, thi hương, trừ ba kỳ trước, lại
đặt thêm kỳ phúc hạch (xét lại) thi lược bị một bài kinh nghĩa, một bài phú, một
bài văn sách (1).
Kết luận. - Khoa cử ở nước ta bắt đầu có tự đời Lý, đến đời
Trần thì đã có thường lệ, đời Hậu Lê thì đặt thêm các điều vinh dự để hậu đãi
người có khoa mục. Chương trình thì trong các triều đều đại đồng tiểu dị, chỉ
chú trọng về văn chương mà không hỏi về các khoa thực dụng. Duy có họ Hồ muốn cải
cách đôi chút, thêm vào một kỳ thi toán pháp là có ý lưu tâm đến thực học,
nhưng vì họ Hồ mất ngôi ngay, nên sự cải cách âý không có hiệu quả. Chính vì chế
độ khoa cửa ấy mà cái học từ chương, thói chuộng hư văn một ngày một lưu tệ và
bao nhiêu người thông mình tuấn tú, trong nước đều xô nhau vào trường khoa cử
không ai lưu tâm đến khoa học và kỹ nghệ, thương mại nữa.
(1) Trên đây là nói về chương trình các khoa thi lối cũ của
ta. Theo đạo dụ ngày 31 tháng năm 1906 (xem lại Chương thứ VII, Lời chú (1) thì
chương trình thi hương đổi lại, về phần chữ Nho thì bỏ kinh nghĩa và thơ phú,
chỉ có văn sách và luận, về phần chữ quốc ngữ thì có bài luận và những bài hỏi
về địa dư, cách trí, và toán pháp; lại thêm những bài dịch chữ Pháp (trước còn
cho bất nguyện giả bất cưỡng, sau thì bắt buộc). Chương trình thi hội cũng đổi
lại: về phần chữ Nho chỉ giữ văn sách, chiếu biểu, dụ, tấu, sớ, biểu văn và luận,
còn thêm vào những bài chữ quốc ngữ và chữ Pháp.
CÁC BÀI ĐỌC THÊM
1. Chức vụ của nhà nho
Cái tên “nhà nho” không những là để chỉ người biết chữ, học đạo
thánh hiền trong Nho giáo; lại là chỉ một giai cấp trong xã hội, tức là hạng
thượng lưu trí thức trong nước. Vì xưa kia ngoài Nho học không có cái học nào
khác nữa, nên phàm người đi học là học đạo Nho hết cả. Đạo Nho có cái địa vị độc
tôn, nên hầu như thành một tôn giáo; mà thực ra cũng chính là cái quốc giáo của
nước Nam từ xưa đến giờ.
Những người phụng sự cái quốc giáo đó, tức là nhà nho. Vậy thời
nhà nho là kẻ có học hành, biết chữ nghĩa; nhà nho là bậc thức giả xã hội trong
nước; nhà nho là tín đồ của cái tôn giáo họ Khổng. Về đường xã hội, về đường
chính trị, về đường trí thức, tinh thần đều có một cái địa vị đặc biệt, đối với
một chức vụ đặc biệt.
Chức vụ này cao quý, có thể gọi là một thiên chức được, vì là
chức vụ hướng đạo cho quốc dân, làm tiêu biểu cho cả nước... Xã hội nước ta chỉ
có hai giai cấp lớn: một hạng bình dân, là dân quê làm ruộng, một hạng học thức,
tức là nhà nho. Hạng bình dân coi hạng học thức là thầy dạy bảo, là người đưa
đường, sẵn lòng phục tòng, không có đố kỵ. Hạng học thức cũng tự nhận cái chức
trách đó, không lạm dụng, không kiêu căng, vì coi,mình như kẻ giáo sĩ của đạo
Khổng, Mạnh, thiên hạ thờ là thờ đạo, kính là kính đạo, mà nhớ cái dư oai của
tôn giáo mới khiến cho mình có một địa vị tôn trọng vậy. Muốn cho xứng đáng với
địa vị đó, thời như ông linh mục tuyên truyền đạo giáo, phải đem cái đạo thánh
hiền, cái học của tiên nho mà truyền dạy trong dân gian, đem thân tiêu biểu cho
danh giáo, hộ vệ cho đạo đức. Mà thật thế; nhà nho chân chính thật là chức linh
mục của đạo Khổng, Mạnh. Đạo này là một đạo thông thường, một đạo nhập thế
không có gì là siêu nhiên thần bí cho nên những người tuyên truyền phụng sự
cũng không cần phải phát nguyện tu hành gì. Nhưng cái chức vụ truyền đạo dạy đời
thời cũng chẳng khác gì nhà giáo sĩ, chức linh mục của các đạo khác vậy.
Phạm Quỳnh
Nhà Nho
(Nam Phong tạp chí, t.XXX, số 172, tháng 5 năm 1932)
2. Lể xướng danh trong khoa thi hội về Bản triều
Ngày xướng danh gọi là ngày truyền lô. Hôm đó, bày nghị vệ đại
triều ở đền Thái Hòa, các quan mặc đồ triều phục, chia ban đứng chầu, phụng
Hoàng thượng ra ngự điện, rồi quan Khâm mạng tâu lại việc thi, quan Giám thí
thì triệu các tân khoa tiến sĩ vào nhà công văn, phụng mệnh vua mà ban thưởng mỗi
người một bộ áo mũ. Các tiến sĩ quy lãnh rồi, quan Lễ bộ dẫn vào quỳ sắp hàng
trước sân rồng rồi qua Truyền Lô cầm sổ theo thứ tự mà xướng danh. Đâu đấy mới
treo bảng ở trước lầu Phú văn ba ngày.
Sau khi ra bảng, ban ăn yến tại dinh Lễ bộ và ban cho mỗi người
một cành kim trâm. Sáng hôm ấy, các quan trường và các tân khoa tiến sĩ mặc đồ
triều phục, lễ vọng tạ ơn ban yến. Ăn yến đoạn, mỗi ông tân khoa phải dâng một
bài biểu tạ ơn.
Quan Lễ bộ lại dẫn các quan Giám thị và các ông tân khoa vào
vườn Ngự uyển xem hoa, mỗi người đều mặc đồ triều phục cưỡi ngựa che lọng, xem
hoa xong thì ra từ cửa thành đông mà đi diễu xem các phố xá.
Phan Kế Bính
Việt Nam Phong Tục
(Đông dương tạp chí, lớp mới, số 41)
Cách thức thi hương về Bản triều
Đại để phép thi của ta, cứ năm nào đến khoa thi thì quan Đốc
học các tỉnh phải sát hạch học trò, ai đỗ hạch mới được đi thi. Gần đến tháng
thi, học trò đỗ hạch và những tú, ấm phải nộp quyển trước cho quan Đốc học bản
hạt, mỗi người nộp ba quyển, mỗi quyển độ một hai chục tờ, đóng bằng giấy thi,mặt
quyển để họ tên, niên canh, quán chỉ và phải khai họ tên, nghề nghiệp tổ phụ
tam đại nhà mình. Quan Đốc sai lễ sinh thâu quyển, rồi đóng hòm tử tế, làm danh
sách, đợi đến ngày thi thì đem nộp cho quan trường.
Quan trường thì do tự Bộ cử ra một ông Chánh chủ khảo, một
ông Phó chủ khảo, còn mấy ông Giám khảo, Đề diệu, Phân khảo, Giám sát, Phúc khảo,
Sơ khảo thì tùy tràng to nhỏ mà cử nhiều hoặc ít. Chánh, phó chủ khảo giữ quyền
ra đầu bài, chấm quyển lần sau cùng là lấy người đổ; Phân khảo có quyền xét lại
những quyển hỏng; Giám, Sơ, Phúc thì chỉ được phép chấm quyển ba lần trước mà
thôi. Để điệu, Giám sát thì coi về việc giữ quyển và kiểm xét sự gian phi của
quan trường và của học trò; lại phải vài chục người lại phòng để coi việc nhận
quyển, làm sổ sách, viết bảng, vân vân.
Trước hôm thì vài ngày, các quan trường vào trang thi gọi là
ngày tiến trường. Tiến trường rồi thì bốn mặt trường có linh canh giữ nghiêm cẩn,
cấm không ai được tự tiện ra vào nữa.
Hôm học trò vào trường thi chia làm bốn vi hoặc tám vi, mỗi
vi có một cửa, ai vào cửa nào, quan trướng phải yết bảng trước cho học trò biết.
Học trò mỗi người vác một lều chiếu, cổ đeo ống quyển, bầu nước,
vai đeo một cái tráp chứa đồ ăn, thức dùng, phải chực sẵn ở ngoài cửa trường từ
đêm.
Tan ba hồi trống thì quan trường chia nhau, mỗi ông võng lọng
ra một cửa; quan Chánh ra cửa giáp, quan phó ra cửa ất, quan Phân, quan giám ra
hai cửa tả, hữu, mỗi cửa đốt hai cây đinh liệu sáng rực trời, quan trường áo mũ
đai mà ngồi trên ghế chéo, sai lại phòng xướng danh, giao quyển cho học trò
vào trường.
Học trò vào đóng lều đâu đấy, sáng rõ thì có đầu bài Học trò
phải tĩnh túc mà làm văn. Đến trưa phải đem quyển vào nhà thập đạo lấy dấy nhật
trung. Tối làm văn xong thì nộp quyển. Bấy giờ quan trường hội ở cả nhà thập đạo,
học trò nộp quyển rồi thì cứ do cửa tiền mà ra.
Phan Kế Bính
Việt Nam Phong tục
(Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 41)
CÁC TÁC PHẨM ĐỂ KÊ CỨU
1) Phạm Quỳnh, Nhà nho, NP, t.XXX, số 172, tr.449-458.
2) Tuyết huy, Khảo cứu về sự thi ta. N.P.t.IV số 23,
tr.373-385/
3) Nghĩa viên Nguyễn văn Đào, Hoàng Việt khoa cử kinh N.P.
tVIII, phần chữ nho, tr.60-64, 97-100; 138-143.225.-227, t/IX, tr.59-62,
168-168, t.XIV, tr.85-85. 105-107;t.XV,tr.12-15;23-26.
4) 4) Hch.1.26-38 Khoa mục chí (đã in trong N.P, tXXVIII)
5) Trần Văn Giáp, Lược khảo về khoa cử Việt Nam từ khởi thủy
đến khoa Mậu Ngọ (1918), KTTĐTS, số 2 và 3, tr.41.tđ.
CHƯƠNG THỨ CHÍN
CÁC LỐI VĂN CỬ NGHIỆP VIẾT BẰNG CHỮ NHO:
KINH NGHĨA, VĂN SÁCH, CHIẾU BIỂU V.V...
Trong chương trước, ta đã xét chương trình các khoa thi chữ
Nho xưa Trong các lối văn dùng về việc thi cử, trừ lối thơ và lối phú là hai thể
văn vần các văn sĩ Tàu và ta thường viết (1), còn các lối khác như kinh nghĩa,
văn sách, chiếu, chế, biểu, chỉ là những lối văn ứng thí dùng trong trường ốc;
ngoài ra ít khi dùng đến. Vậy ta nên xét qua thể thức mấy lối ấy để hiểu rõ cái
tính cách khoa cửa của ta xưa thế nào?
(1) Sẽ nói ở chương thứ XIII và XIV.
Kinh nghĩa
A) Định nghĩa – Kinh nghĩa đen là sách, đây tức là tứ thư và
ngũ kinh hợp lại thành chín kinh. Kinh nghĩa là một bài văn giải thích ý nghĩa
một câu trích trong truyện, bởi thế cũng gọi lối ấy là tinh nghĩa (tinh: làm
rõ).
B) Phép làm kinh nghĩa theo lối “bát cổ”- Lối kinh nghĩa
thông dụng nhất là lối “bát cổ” (tám vế). Lối này là một lối biền văn (biền:
hai con ngựa chạy sóng đôi) không có vần mà có đối.
Các đoạn mạch trong một bài kinh nghĩa làm theo lối ấy gồm
có:
1) Phá đề: mở bài 2 câu (lời mình nói)
2) Thừa đề: nối theo đoạn phá, vài ba câu (không phải đối) Từ
đoạn sau trở đi phải thay lời người xưa mà nói.
3) Khởi giảng: nói khai mào đại ý của đề mục (đối hay không đối)
4) Khai giảng: mở ý đầu bài (cuối đoạn này có một câu Hoàn đề
nhắc lại câu đầu bài.
5) Trung cổ: thích thực rõ nghĩa đầu bài
6) Hậu cổ: nghị luận rộng ý đầu bài
7) Kết cổ: đóng ý đầu bài lại (cuối đoạn này có một vài câu
thắt đầu bài lại gọi là thúc đề)
(Từ đoạn 4 - đến 7) Bốn đoạn này đều mỗi đoạn chia làm 2 vế đối
nhau.
Văn sách.
A) Định nghĩa – Sách nghĩa là mưu hoạch, văn sách là một bài
văn làm để trả lời những câu hỏi của đầu bài để tỏ kiến thức và mưu hoạch của
mình. Văn sách là một thể văn không có vần, thường thì có đối, nhưng viết thành
văn xuôi cũng được.
B) Văn sách mục và văn sách đạo. – Theo cách ra đầu bài, văn
sách chia làm hai loại:
1. Văn sánh mục: Đầu bài ra thật dài, đem hoặc một vấn đề hoặc
nhiều vấn đề ra hỏi. Trước hết nêu lên một câu phủ đầu bao quát cả ý nghĩa đầu
bài gọi là đề án, rồi ở dưới dẫn các lời trong kinh truyện và các việc trong lịch
sử có liên lạc đến đề mục ấy mà hỏi; cuối cùng hỏi một vài câu về thời sự cũng
thuộc về đề mục ấy.
2. Văn sánh đạo. - Đầu bài ra ngắn và hỏi riêng về từng việc.
C) Cách làm bài văn sách.- Lúc làm bài đáp lại, cứ theo từng
câu hỏi trong đầu bài mà trả lời lại, phải biện lý, dẫn chứng, giải thích sao
cho vỡ vạc gãy gọn. Lắm khi đầu bài hỏi lăng líu, câu nọ chẳng sang câu kia,
thì lúc làm bài, hoặc theo thứ tự các câu hỏi, hoặc đảo lên đảo xuống. liệu
cách mà gở lần từng mối, sao cho đáp khỏi thiếu ý mà cũng đừng thừa ý.
Chiếu, chế, biểu
A) Định nghĩa - Chiếu là lời của vua ban bố hiệu lệnh cho thần
dân.. Chế là lời của vua phong thưởng cho công thần. Biểu là bài văn của thần
dân dâng lên vua, để chúc mừng (hạ biểu) hoặc tạ ơn (tạ biểu) hoặc bày tỏ điều
gì.
B) Cách làm chiếu chế, biểu, theo lối “tứ lục”
Ngày xưa ba lối ấy làm theo văn xuôi gọi là cổ thể: từ đời
nhà Đường, mới làm theo lối tứ lục gọi là cận thể (thể gần đây). Tứ lục (bốn
sáu) cũng là một lối biền văn, lối ấy gọi thế vì mỗi câu thường chia làm hai đoạn
một đoạn 4 chữ, một đoạn 6 chữ.
1) Cách đặt câu- Cứ hai câu đối nhau, gọi là hai vế. Mỗi vế
chia làm hai đoạn, hoặc trên 4 dưới 6, hoặc trên 6 dưới 4, hoặc có khi trên dưới
đặt dài hơn số chữ cũng được. Thí dụ:
Sớm chiều lo sợ, một lòng kính cẩn ban đầu:
Công việc thì hành, trăm mối tính lo cất nhắc.
(Trích trong Bài chiếu của vua Minh Mệnh khuyên răn thần dân
về lúc đầu năm)
2) Niêm.- Niêm (nghĩa đen là dính) là sự liền lạc về âm luật
của hai câu văn. Trong lối tứ lục, hai câu niêm với nhau khi nào hai chữ cuối
câu cùng một luật, nghĩa là hoặc cùng bằng bằng, hoặc cùng trắc trắc, thành ra
bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc theo thứ tự này:
Chữ cuối câu thứ 1 là bằng (1)
Chữ cuối câu thứ 2 là trắc (2)
Câu 2 niêm với câu 3
Chữ cuối câu thứ ba là trắc (3)
Chữ cuối câu thứ 4 là bằng (4)
Chữ cuối câu thứ 5 là bằng (5)
Câu 4 niêm với câu 5 v.v...
Lời chú. Thể tứ lục còn dùng để làm những bài sắc (lời của
vua phong thưởng cho thần dân hoặc bách thần. Cáo (lời của vua tuyên bố một chủ
nghĩa hoặc kết quả một công cuộc gì cho dân biết) hịch (bài của vua, tướng, hoặc
người lãnh tụ một đảng kể tội kẻ thù để khuyến khích tướng sĩ và nhân dân), trướng
(bài văn chúc tụng về dịp thượng thọ hoặc thăng quang, hoặc phong tặng v.v...)
Kết luận: - Trong các lối văn dùng về việc khoa cử kể
trên này thì lối kinh nghĩa cốt xem xét học trò có thuộc và hiểu nghĩa kinh truyện
không, nhưng phải làm theo thể thức riêng và thay lời người đời xưa và giải
thích sao cho đúng ý của cổ nhân, chứ không được bày tỏ ý kiến riêng và lời phẩm
bình của mình. Chiếu, chế, biểu là lối văn ứng thế, chỉ khi nào thi đỗ làm quan
mới có dịp dùng đến. Duy có lối văn sách dùng để bày tỏ kiến thức, kế hoạch của
mình còn có thực dụng, những cũng phải là những người có lịch duyệt nhiều, có học
thức rộng mới ra ngoài khuôn sáo thường mà làm được những bài văn có giá trị.
BÀI ĐỌC THÊM
1. Một bài kinh nghĩa làm mẫu
2. Đầu bài
Mẹ ơi! Con muốn lấy chồng.
Bài làm
(Phá đề) – Nói nhỏ tình riêng cùng mẹ, muốn muốn khéo lạ lùng
thay!
(Thừa đề)- Phù, lấy chồng chi sự, ai chẳng muốn vậy, nãi muốn
nhi chi ư nói với mẹ, muốn sao muốn gớm muốn ghê, gái tơ mà đã ngứa nghề sớm
sao!
(Khởi giảng) - Tưởng khi năn nỉ cùng mẹ rằng:
Nhất âm nhất dương; nãi thiên địa cổ kim chi đạo mà nghi gia,
nghi thất, thực thế gian duyên kiếp chi thường. Sa chân bước xuống cõi phù
sinh, đố ai giữa được tiếng trinh trên đời. Buồn mình lại nghĩ duyên mình, nay
con xin kể tâm tình mẹ hay.
(Khai giảng)- Con nghĩ: rằng xuân xanh thấm thoắt, người ta
như có lứa chi măng: phỏng hôn giá chi cập thời tức chồng loan vợ phượng chi
duyên, cũng quang thái ư môn mi chi rạng rỡ.
Con luống sao tơ đỏ nhữ nhàng, phận những chịu long đanh chi
vân; ngẫm thanh xuân chi bất tài, tức chớp bể mưa nguồn chi hội, cũng buồn tênh
ư mai xiếu chi lơ thơ.
(Hoàn đề)- sự này mẹ đã hay chưa? Nay con luống những ngẩn
ngơ về chồng.
(Trung cổ) – Kìa những kẻ son phai phấn nhạt (lạt), cuộc
phong trần luống đã chán chường xuân. Nay con lấy mặt hoa mày liễu chi dung
nghi chính đương độ tuần rằm chi bóng nguyệt; bởi vì ai dỡ dang phận bạc, dịp
chưa thông ả chức chi Ô kiều. Khắc khoải rồng mây, lược không muốn chải; khát
khao cá nước, gương chẳng muốn soi. Đêm thanh tơ tưởng khách thừa lương, chăn
phỉ thúy suốt năm canh trằn trọc. Ngồi với bóng lại thở than với bóng: mẹ ơi!
Con muốn đem ông trời xuống cõi trần, hỏi xem duyên có nợ nần chi không?
Khi những kẻ liễu yếu đào thơ, tình vân vũ hãy còn e ấp nguyệt.
Nay con lấy sắc nước hương trời chi phẩm giá, đã ngoài vòng đôi tám chi xuân
xanh; bởi vì ai ngăn đón gió đông, đàn chưa gãy chàng Tương chi Hoàng Khúc. Ước
ao sứ điệp phán chẳng muốn tô; mong mỏi tin ong, vòng không muốn chuốt. Ngày vắng
mơ màng duyên bốc phương, gối uyên ương thâu sáu khắc bồi hồi. Buồn vì thu ngao
ngán vì thu; mẹ ơi! Con muốn đem một sợi chỉ đào, để cho ông Nguyệt xe vào cho
con.
(Hậu cổ) - Mẹ chẳng xem; trên trời chim kia chi liền cánh, dưới
đất cây nọ chi liền cành; cảnh vật ấy còn dèo bồng ân ái. Nay con tủi là thân bồ
liễu, giữ đầu xanh ấp một buồng hông. Nao người tích lục, nào kẻ tham hồng, biết
cùng ai mà phỉ nguyền tác hợp? Mẹ ợi! có chồng kẻ đón người đưa, không chồng đi
sớm về trưa mặc lòng. Bực mình lại ngán cho mình, tình cảnh ấy mẹ hay chăng là.
Mẹ chẳng xem: Bắc lý kẻ nọ chi nghênh thê, Nam lân người kia
chi tống nữ; người ta từng nao nức đông tây. Nay con hổ là phận thuyền quyên,
mang má phấn nằm trong mệnh bạc. Nào kẻ tương tri, nào người tương thức, biết
cùng ai mà kết giải đồng tâm? Mẹ ơi! Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chăn loan đệm
quế không chồng cũng hư. Tủi phận mà than với phận, tâm sự này mẹ rõ cho chưa?
(Kết cổ) – Sau dẫu tơ đào lá thắm, ự chắp nối kia bởi tại
trăng già.
Song le chỉ Tấn, tơ Tần, việc gả bán chẳng qua lòng mẹ.
(Thúc đề).-Mẹ nghĩ sao?
2. Một bài văn tứ lục làm mẫu
Tần cung nữ oán Bái công văn.
(Khi nhà Tần mất nước, Bái công - tức Hán Cao tổ sau này –
đem quân vào đất Quan Trung là kinh đô nhà Tần, thấy cung điện nguy nga và cung
nữ đẹp đẽ, ý muốn ở lại đấy. Nhưng bầy tôi là Phàn Khoái và Trương Lương lấy lẽ
vua nhà Tần vì say đắm sắc dục mà mất nước, khuyên ông không nên lưu lại đấy,
Bái công nghe theo, đem quân về Bá thượng để chống với Hạng Vũ. Bài văn này làm
thay lời cung nữ nhà Tần oán trách Bái công đã bỏ họ mà về Bá thượng
Tác giả bài này không biết đích là ai: người thì bảo là NGUYỄN
HỮU CHỈNH (xem tiểu truyết ở Năm thứ nhì, Chương thứ X, lời chú 3) người thì bảo
là ĐẶNG TRẦN THƯỜNG (xem tiểu truyện ở Phần thứ nhì trước Bài số 80, chưa biết
thuyết nào là đúng)
Khói tỏa cung A; - mây tuôn (1) đồn Bá.
Xuân tin bổn gửi (2) cùng điệp sứ; - Phương tâm đành (3) hẹn
với long nhan.
Thuở (4) tuổi xanh xảy gặp bụi hồng, thuyền ngư phủ chẳng (5)
đưa vào động biếc (6) – khách má đỏ thường đeo phận bạc, dây nguyệt ông nên (7)
dắt lại lầu son.
Vẻ vang chưa (8)! một tiếng cung nhân (9); - ngao ngán (nhẽ)!
mười nguyền thất nữ.
Cầu thước (11) giậm tiếng hát (12), tựa sấm, sô bồ dưới nguyệt
gót kim liên; gác phượng chen bóng bội (13) đường mây, nhấp nhánh trong gương
da bạch ngọc.
Thềm huê (14) nọ thôi cười với bóng (15); gốc (16) thúy kia lại
ủ cùng hoa.
Nét mày xanh từ cái lá cũng ghen, cây khiển hứng đành chìm
dòng nước chảy; làm môi đỏ đến (17) con chim còn ghét (18) giấc thừa ân qua buổi
(19) bóng trăng tà.
Ngẩm thân (20) duyên từng rỏ (21) nước mắt thầm:- nghĩ (22)
thế sự những (23) đổ mồ hôi trộm.
Cung Dĩ (24) - thủy túc nỉ non tiếng dế, trường thu phong lạc
bậc (25) quản huyền xưa; - cửa Hàm quan khi phất phới (26) ngọn đào, rèm tà
(27) nguyệt ố (28) màu la ỷ cũ.
Quán ngán nhẽ! cửa (29) bạch câu một nháy (30); nực cười (31)
thay! Tranh thương cẩu trăm hình.
Con hươu bách nhị lạc loại đâu. Hoa cỏ ngậm ngùi vườn thượng
- uyển; - cái én tam thiên ngơ ngẩn đó (32) mây mưa bát ngát đỉnh Vu phong.
Sương đã liền mái (33) tóc kim sinh; chàm đâu nhuộm mối (34)
tơ lai thế.
Ví (35) thân đã rời (36) hương Cấm dịch, cỏ Ly sơn đành lấp
tóc da mồi;- bởi phận còn quyến (37) lá Ngư câu, trăng Vị (38) -thủy hãy cầm
hình bóng lại.
Kiếp ngọc (39) nử xương còn im đóng (40); tiếng chân nhàn
gió đã đưa xa.
Dòng Đào đường róc tách dưới (41) sông Lưu, mụ Xà (42) khóc
bên đường nghe cũng tủi; mây Mang lĩnh chờn vờn về đất (43) Bài, chị Trĩ theo
trong núi nghĩ mà thương.
Thấy bóng (44) cờ ai chẳng rượu dê mừng; - nghe nhạc ngựa người
để đàn (45) sáo rước.
Bên Chỉ đạo xe vôi ngựa phấn, trộm thấy lòng bất nhẫn cũng mừng
thầm (46): trước Kim lâu xiêm bụi áo (47) bùn, vàng (48) biết ý dục lưu càng
(49) khép nép.
Ngắm (50) khí sắc đã (51) nên năm vẻ; - cảm cơ (52) duyên âu
cũng (53) ba sinh.
Bất kỳ mà nương bóng (54) rồng bay, thà mây phủ mưa dần cho
đáng số (55);- giải cấu phỏng lầm (56) hơi khỉ tắm, nỗi hoa bay nước chảy (57)
cũng oan tình.
Hẳn quản gia (58) mà có (59) dạ ái nhân; - thời thánh thể nở
(60) bề ai oán nữ.
Âu ca thuở về cùng (61) thuấn, Vũ Cao Dao Hậu Tắc (62) nào
ngăn;- Huyên hoàng khi đến với (63) Thang, Văn, Y Doãn, châu công há (64) cấm.
Nay trong trường (65) chưa một lời mở (66) mặt, mà ngoài sâu
đã (67) lắm tiếng vang (68) tai.
Quả ngán thay! Nắng chẳng thương hoa; mưa (69) nào xót nguyệt.
Ngọn xích xi ùn ùn về Bá Thượng, mưa tuông nước xiết (70) lạt
lẽo thay tình; - mà (71) Lam điền dặc dặc đến (72) Quan trung, phấn cuốn hương
phai (73) bẽ bàng bấy (74) phận.
Nín thời những đeo sầu ngậm tủi (75); nói ra tuồng (76) ép dấu
nài thương.
Úp (77) bánh xe là bởi tại (78) Lý Tư, nào ai đem nhất tiếu
khuynh thành, mà dương Vũ (79) nhẽ vong Tần cho đáng; giở roi (80) ngựa ấy khoe
(81) danh Châu hậu (82), lấy ai đủ thập phần phụ quốc, mà thầy cho rằng trợ Kiệt
nên tin (83).
Trương (84) con ngươi nào (85) ngắm cuộc tang thương, - uốn dầu
(86) lưỡi bỗn rời (87) duyên phấn đại.
Mặt bán thịt mới mua duyên năm nọ (88), chẳng qua bệnh (89)
dì nó đánh ghen thay; tay (90) cắp dùi toan (91) mất vía ngày xưa, hẳn còn vị
(92) chúa mình gây (93) giận mãi.
Sức bao nả cũng hùm hăm dưới bệ (94) ; trung với (95) ai mà
thỏ thẻ bên màn?
Nếu vì chưng tiền tốt bạc ròng (96), ngăn nước (97) dãi phú
ông thời cũng phải; song những kẻ hoa cười nguyệt nói (98) dứt tầm lòng du tử
thế cho đang.
Ngày (99) đông cư lòng hiếu sắc sao chiếu (100)? – nay tây nhập
sức (101) hữu vi mà cấm.
Một là bởi giật mình cửu quận (102) dần lén ra dành (103) đợi
tướng quân vào; - hai là toan theo gót (104) năm hồ, sẽ nứu lại lừa đem (105)
Tây tử bước (106).
Đã cay đắng (107) một liều thuốc độc; - lại dỡ dang (108) ba
tấc lưỡi mềm.
Bởi rủi ro vì chút phận bình bồng, vòng kim giáp (109) để hơi
hương chẳng thấu; vì may mắn nhằm duyên (110) ai cơ trữu, giọt minh (111) y cho
(112) chút bụi nào rơi.
Lượng khoan dung bao nả (113) hẹp hòi; tư minh đạt để đâu lầm
lỗi (114).
Nào thuở trước dưới (115) rừng cây, nghe nhạc ngựa, thấp
thoáng bóng dù dáng (116) kiệu, những than dài (117) chí cả trượng phu; - mà đến
nay (118) ngồi bệ (119) ngọc ngắm tranh người, xôn xao đầu mũ gót hài, lại làm
khoảnh (120) ngôi sang (121) Hoàng đế.
Gương trong đuốc sáng mặc lòng trên; - cỏ ủ hoa sầu đành phận
dưới.
Nơi hang kín phỏng hơi dương con thấu, ắt trong nước ai chăng
thần thiếp, lại phòng tiên cung quế cũng cam lòng; - chốn non kinh dầu vẻ ngọc
còn tươi, thời dưới trời đâu chẳng giang sơn, âu cửa trúc nhà tranh còn mát mặt.
Số là bởi tình chung mới nói; há rằng vì phận mếch mà thưa.
Xin chớ cười người khách thơ ngây; - dám gửi lạy đức ông
khoát đạt.
Bản chép riêng: (1) lồng, - (2) muốn ngỏ; (3) e; - (4) nợ; -
(5) bỗng; - (6) bích; - (7) chỉ óng tơ dành; (8) thay; - (9) phi; - (10) nỗi;
- (11) hồng; - (12); - giây; - (13) bụi; (14) Đài Loan; - (15) nguyệt; - (16) nệm;
- (17) thăm đầu; - (18) cũng né; - (19) hoan rất nỗi; - (20) Nghĩ cơ; - (21)
càng sa; - (22) nghe; - (23) bỗng; - (24) Vy; - (25) lãng nhịp; - (26) chói lọi;
- (27) tân; - (28) lạt; - (29) ngẩn ngơ nhẽ bóng; - (30) nhoáng; - (31) xót xa;
- (32) vơ vẫn đấy; - (33) Tuyết đã đeo; - (34) sướng nào nhuốm mùi; - (35) vì;
- (36) lây; - (37) vương; - (38) Ty; - (39) Tiết thục; - (40) in giống; - (41)
xuống; - (42) mẹ rắn; - (43) ấp; - (44) Trông ngọn; - (45) dâu không kèm; -
(46) những thầm thì; - (47) dưới Hàm quan áo bụi xiêm; - (48) vẫn; - (49) đà; -
(50) Xem; - (51) vẫn; - (52) tưởng căn; - (53) hẳn; - (54) vì may mà gặp hội; -
(55) âu lửa đươm hương nồng cho phỉ nguyện; - (56) e rủi phải lây; - (57) để hồng
trôi thắm nhạt; - (58) minh vương; - (59) thiệt; - (60) có; - (61) chầu về; -
(62) Bà ích; - (63) đón rước; - (64) dâu; - (65) Trong trướng gấm; - (66) lạn;
(67) ngoài thềm hoa dà; - (68) ỏi; - (69) mây; - (70) hoa trôi nước chảy; - (71) cầu;
- (72) thui thủi ở; - (73) rã hoa rơi; - (74) với; - (74) với; - (75) chác não;
- (76) dường; - (77) rấp; - (78) tội; - (79) khoái; - (80) Theo gót; - (8) nổi;
- (82) loạn; - (83) cho cam, (84) Troo75n; (85) không; - (86) là; - (87) chỉ gièm;
- (88) trước; - (89) vì; - (90) gan; - (91) cùng; - (92) e cũng bởi; - (93) lây;
- (94) mà chun lòn dưới trướng; - (95) cùng; - (96) giả như loại hươu nội lợn đồng;
- (97) giọt; - (98) đâu đến nỗi nhạn sa cá lặn; (99)Thuở; - (100) sở hiếu nào chịu;
- (101) thế; - (102) Hay là hẳn sức hơi chín quận; - (103) phải lành ra mà; -
(104) hay là vì vui thú; - (105) dành lần lại để tìm; - (106) rước; - (107) Miệng
đắng nghét; - (108) tai chưa; - (109) Bởi lạc loài là phận bèo mây cửa cấm thất
; - (110) như; - (111) nên bích; - (112) chẳng; - (113) nhơn đâu có; - (114)
hoát đạt lẽ nào sót lạc; - (115) chẳng nhớ lúc núp; (116) tàn giàn; - (117) khen
thầm; - (118) may bây giờ; - (119) chiếu; - (120) nghênh; (121) cao.
CÁC TÁC PHẨM KÊ CỨU
1) Phan Kế Bính, Việt Hán văn khảo (sách đã kê trước)
2) Ưu thiên Bùi Kỷ, Quốc văn cụ thể, Hà Nội, Tân Việt nam thư
xã 1932.
3) Nguyễn Đông Châu, Cổ xúy nguyên âm. Lối văn thơ nôm, cuốn
thứ nhì, Hà Nội Đông kinh ấn quán, 1918.
Hà Nội, tháng sáu tây năm 1941 Dương Quảng Hàm
Hà Nội, tháng sáu tây năm 1941


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét