Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2022

Đôi mắt trên trời 1

Đôi mắt trên trời 1

Lấy máu
Tôi buồn nản bảo Năm Sàigòn:
- Cứ thế này mãi sao? Đến lúc anh phải đổi cách khác đi, nó quen thuộc quá rồi, người ta chẳng thèm ngó lại nữa đâu, cả đến trẻ con nữa.
- Làm những gì nữa?
Năm Sàigòn chẳng thèm ngó, hắn cúi lom khom để khoảng lưng lớn vòng lên, tay nhặt chồng ống bơ sữa bò ném loảng xoảng vào cái bao tải, tôi thu nốt cái chậu thau xóc những đồng hào kêu lẻng xẻng. Năm Sàigòn lấy tay phủi bụi, háp miệng thổi thổi vỉa hè rồi xoay người ngồi xuống, hắn móc túi lấy hộp thuốc lá đã đen sì đưa ngón tay chấm nước bọt dính lấy một tờ giấy cuộn điếu thuốc tổ sâu để lên miệng bặt diêm châm hút, hắn thở ra hơi khói đầu dài một cách khoái trá.
Tôi thấy buồn nản nhỏ bé vô tri nằm trước mặt, ống bơ, chậu thau, đống thuốc bao bạc, thuốc đau răng hiệu Con Bướm và mấy cuốn sách làm trò ảo thuật. Tôi cảm con búp bê bẩn thỉu đầu đội chiếc khăn đỏ - “ông thần” của Năm Sàigòn sai khiến mỗi khi làm trò mua vui - lúc này chẳng còn cái vinh dự đứng ngang nhiên hách dịch, cử động trên bàn tay thô bạo và vạm vỡ của hắn.
Tôi ân hận, mối ân hận và tiếc một cái gì - có phải chiến tranh đã bắt tôi sống như thế này không? Hay một số mệnh nào đó, điều này tôi không thể hiểu được. Nhưng có một điều dù tôi muốn sống với người khác tôi cũng không thể làm theo ý mình, rời Năm Sàigòn chắc chắn tôi chết đói, tôi nhớ lại hôm mẹ tôi chết. Đã hơn ba tháng rồi, mẹ tôi bị đạn trong một trận càn quét rồi được đưa ra nhà thương Phủ Doãn để cứu chữa, nhưng vô hiệu, viên đạn nằm hai ngày trong mạng mỡ, đến khi mổ để lấy ra mẹ tôi cũng vừa chết, ở Hà Nội lạ nước lạ cái, chẳng quen thuộc một người tôi chỉ còn biết vuốt mắt mẹ tôi thẩm thì: “Tại sao mẹ bỏ con, con sẽ sống với ai? Làm sao con về được nhà”. Những điều ấy mẹ tôi không nghe, không trả lời và tôi cũng không biết nói với ai. Tôi ngồi ở nhà thương, bên xác mẹ tôi cho đến khi có một chiếc xe đến khuân những xác không có ai nhận chôn cất. Tôi không hiểu họ sẽ chôn như thế nào, họ sẽ đào một hố lớn rồi đổ xuống đó là xong? Thật không thể biết được. Sau đó tôi ra ngồi ở cổng nhà xác bên những hàng cắt tóc che bạt, kê một chiếc ghế ngoảnh vào một tấm gương treo vào tường.
Tôi ngồi đó ngó những đám ma đi ra có tiếng khóc, tiếng kèn đưa tiễn, tiếng kêu gào. Tôi ngắm nghía những vòng hoa, những cờ đen, đôi trướng bay phấp phới. Tôi nghe tiếng khóc để mình khóc tấm tức trong họng không nước mắt, tôi chẳng biết tìm cách nào để lấy cái ăn vào miệng ngoài việc ngồi ngó những bát cơm đầy cắm đôi đũa bông kẹp ở giữa một quả trứng - tôi muốn được bưng bát cơm đó mà ăn - nhưng khó quá. Cho đến lúc không thể chịu được nữa, tôi xô đến quờ mạnh lên, bát cơm đổ theo, và người ta cũng vừa chụp được tôi mà đánh cho một trận nên thân. Tôi nghĩ: sao tôi không có bát cơm đó. Mấy hôm sau tôi mới tìm được một chút đồ ăn, tình cờ tôi ngó thấy một chiếc xe bò đen đậu ở nơi cổng nhà xác, có một người gánh từng gánh cơm ở trong nhà thương đi ra đổ vào những chiếc thùng để trong xe.
Tôi mừng rỡ tới bốc mà ăn - cơm đã có mùi thiu, nát nhẽo - họ thầu về cho lợn ở ngoại thành ăn thì phải, mỗi ngày tôi chờ đợi để được ăn một bữa như vậy rồi tôi về ngồi ở mái hiên ngõ Chân Cầm, cạnh một đăng xinh mà ngủ. Một hôm tôi ra ăn cơm như mọi khi thì bị người gánh đuổi không cho ăn. Hắn ta quát lớn: “Mày ăn cho tao sạt nghiệp à - đồ chó đói” Tôi nhoẻn miệng cười cho đỡ buồn và hắn đuổi đi không cho ăn. Tôi ngồi ở vỉa hè mút những ngón tay nhớp nhúa. Tôi thấy có một người đứng lại ở đằng sau, tôi ngoảnh lại. Hắn nói: “Mày có muốn được tao nuôi không?” - “Thưa ông con đang chết đói”. Hắn rủ tôi về một căn nhà đổ nằm ngay nơi ngõ Hàng Hành, trong một xó bếp chưa đổ hẳn, là nơi hắn cư ngụ - người đó chính là Năm Sàigòn đang ngồi trước mặt tôi đây.
Tôi ở với hắn và làm những việc rất kỳ cục - việc trước tiên là hắn mang tôi vào nhà tắm công cộng ở Ngõ Gạch cùng với hắn tắm cho sạch, hắn kiếm một nút rơm mà kỳ cọ cho tôi, hắn vứt bỏ quần áo rồi đưa cho tôi một cái áo của người lớn đã cắt cho ngắn bớt, tôi mặc lụng thụng, và một cái quần lót đen - chắc là của chính hắn. Mái tóc tôi dài quá mang tai nhưng hắn để nguyên mà ngắm nghía miệng kêu “Được! Được!”. Hắn nhận là “Năm Sàigòn” và bắt chước giọng nói trọ trẹ. Mỗi ngày hắn mang tôi đi theo bán thuốc ở bờ Hồ hoặc ở các chợ. Đồ nghề của hắn được thu trong một cái bao tải: nào ống bơ, que, vải đỏ - và thuốc giun, đau răng. Hắn cho tôi cầm cái thau đồng và một cái que, trước khi đi hắn bôi vào gò má tôi một chút phẩm đỏ tròn như hai đồng tiền trinh, hắn đội cho tôi một chiếc mũ bằng giấy cao như tụi hề vẫn đội.
Mỗi lần tới chỗ đất rộng hắn trải ra một tờ báo bày ra những thứ đó, tôi đi quanh gõ lớn chiếc thau đồng, hắn lăng xăng vỗ tay miệng lặp đi lặp lại - “Bà con cô bác ghé lại, ghé lại coi trò quỷ thuật, vô cùng lạ lùng hấp dẫn của chú Năm Sàigòn. Chưa bao giờ có! Chưa bao giờ - ê các em ngồi xuống, rộng ra và yên lặng để coi...” Tôi gõ chiếc thau nhăn nhở cười, pha trò theo hắn dạy, nào trồng cây chuối, nhào lộn cho mọi người tụ lại - khi đông hắn làm trò rồi bán thuốc - tôi đưa thuốc cho người nào hỏi và chìa chiếc chậu thau đồng cho người ta bỏ tiền vào đó.
Chúng tôi kiếm chẳng được nhiều dù Năm Sàigòn đã xoay xở nhiều cách cả đến việc làm thuốc giả mà bán nữa. Tôi ăn uống không được đầy đủ nên mỗi ngày một gầy ốm đi, mái tóc dài thêm, khuôn mặt tóp mãi lại và đôi mắt lồi ra. Có lần đứng trước tấm gương của một tiệm tạp hóa tôi đã ngỡ ngàng không biết tôi có phải là tôi không? Có còn tôi những ngày ở nhà quê dù lam lũ chăn trâu cắt cỏ đi mướn? Tôi nhớ mẹ tôi. Tôi chẳng biết mẹ tôi có nhìn ra tôi không nếu mẹ tôi sống lại. Tôi chắc là không. Tôi thường tự nghĩ về một bộ mặt. Tôi tưởng tượng một buổi tối trời nào tôi đẩy cửa vào một căn nhà có trẻ con, người lớn đang vui đùa, quây quần bên nhau nếu thấy tôi xuất hiện thì họ cho đó là ma ngay và đánh cho chết đi dù tôi nhận là một đứa trẻ hay là một người. Tôi miên man nghĩ những điều không đâu, mãi khi Năm Sàigòn đứng lên đập vào chiếc thau đồng làm tôi giật mình đứng dậy:
- Thôi, về!
- Còn sớm mà?
- Nhưng làm gì, gào thét cho chóng chết đói à?
- Thế mai?
- Tính sau.
- Em thấy tụi hát xẩm nó chả bán gì mà cũng xin được tiền nhiều lắm, hay ta cũng làm thế chứ chịu chết à?
- Nhưng tao không biết hát, và tao hay mày không mù thì ai người ta cho.
- Ờ! Phải mù kia, mình đeo kính vào ai biết đâu. Đó coi mấy ông đeo kính đó thì biết, trông họ như mù vậy thôi, ở Sài Gòn chắc anh biết hát cải lương chứ?
- Tao đâu ở Sài Gòn. Tao ở Thái Bình. Thôi đi đừng nói nữa.
Vừa nói, hắn vừa cầm tóc lôi tôi đứng lên, tôi cắp chiếc thau đi theo. Thế ra hắn không phải dân Sài Gòn.
- Nhưng sao anh nhận là Năm Sàigòn.
- Nhận là gì không được, phải vậy mới dễ làm ăn chứ. Thôi đi nhỏ ơi, tao chán mày hết chỗ nói.
Sau khi vào một quán ở ngay lề đường ăn cơm, về nhà hắn suy nghĩ ra vẻ lung lắm, tôi lặng thinh rúc vào đống khố tải ngủ. Tôi thấy thương hại hắn như thương chính tôi. Hắn cũng chẳng có ai thân thích gì, hẳn hồi nhỏ hắn cũng như tôi - và có lẽ bởi thế hắn chẳng bao giờ nói đến cha mẹ, anh em, làng xóm. Có lúc tôi định nói cho hắn nghe về bố tôi, tôi muốn bảo bố tôi là một người ghê gớm lắm - bởi vì bố tôi xa nhà lúc tôi còn nhỏ, về sau có một đôi lần về nhưng chẳng ở lại lâu. Tôi cũng không hiểu bố tôi làm gì. Mẹ tôi chỉ nói là bố tôi có việc phải ở xa, mỗi khi tôi gặng hỏi. Trong gia đình ít ai nhắc đến - nhất là sau khi ông tôi bị bắn chết thì chả còn ai - ngoài mẹ tôi và tôi ra. Tôi nhớ căn nhà lá nhỏ ở xóm Ngang, chẳng hiểu bây giờ ra sao. Những con chim khuyên vàng có còn về làm tổ nơi cây ngâu đầu nhà, những con chim sẻ có còn làm tổ nơi ống tre đầu bếp nữa không, những đứa bạn tôi, thằng Sừng, thằng Thịnh bây giờ ra sao, và con trâu của ông chánh Thú bây giờ ai cho nó ăn cỏ... Tôi muốn tôi về ngay đó - nếu như tôi bôi một chút phẩm đỏ, đội cái mũ làm hề kia về, chắc cả làng tôi phải chạy ra mà cười ồ, nhưng liệu họ có còn đủ sức để cười nữa không. Chiến tranh đã đến làng tôi từ lâu rồi và trước hồi tôi theo mẹ tôi đi cũng đã nhiều người chết, nước mắt và những nấm đất mới nơi bãi tha ma. Tôi nghĩ chắc chẳng bao giờ còn được về đó và nếu về thì những nơi cũ có còn không?
Năm Sàigòn loay hoay với những đồ làm trò như tìm một mứu kế mới rồi tôi thấy hắn mỉm cười, chắc đã có cách, tôi liền hỏi:
- Sao anh cười vậy? Có trò mới à?
- Tao nghĩ đến trò hồi xưa. Mai ta làm.
- Trò gì vậy?
- Trò “nực cười”, mai mày sẽ biết.
Chẳng nói thêm, hắn đi ra ngoài - hồi sau mang về mấy tờ giấy bóng đỏ, ít hồ dán. Hắn ngồi cắt giấy và làm những cái bao nhỏ bằng nửa bàn tay. Tôi chẳng hiểu hắn định làm gi, tôi ngồi mãi mỏi mắt nên lăn ra ngủ lúc nào không biết.
Sáng hôm sau, hắn khua tôi dậy sớm, cũng vẫn mang những đồ dùng cũ. Hắn đưa tôi lên chợ Đuổi. Trước tiên chúng tôi vào nơi chỗ đổ rác ở trong chợ, mùi thối đến ngạt thở, ruồi nhặng bay vo ve cùng khắp, hắn bỏ ra một cái vợt bằng vải chụp vào chỗ nào có nhiều ruồi nhất, hắn bắt từng con một, bỏ vào mỗi túi hai con rồi vê miệng lại cho khỏi bay ra, người đi chợ có kẻ đi qua hiếu kỳ ngó măt vào và không hiểu chúng tôi bắt ruồi làm gì, cả ngay chính tôi. Có người cất tiếng. Năm Sàigòn mỉm cười nói nhẹ nhàng: “Nhà tôi nuôi chim”.
Chỉ bắt một lúc đã được khá nhiều, những bao giấy phồng có nhốt ruồi được bỏ vào chiếc hộp, hắn cặp vào nách rồi chúng tôi xuống bến xe điện bờ Hồ. Hắn giải tờ báo bày vài vật, bảo tôi gõ thau đồng, miệng hắn nói liên tiếp: “Thưa bà con cô bác, một dịp may hiếm có, một trò lạ chỉ có một lần không hai, xin ghé lại, chúng tôi không bán thuốc, không xin tiền mà muốn được trao ông bà cô bác một kỷ niệm, đó là gói ‘nực cười’. Xin dừng lại, xin dừng lại quý ông bà cô bác suốt ngày cực nhọc lo nghĩ, những ai buồn vì chồng chết, con chết, những ai sầu vì cha con, anh em ngăn cách, vì chiến tranh loạn lạc làm mọi người buồn bã... tất cả mọi phiền muộn ưu tư, sẽ chắp cánh bay đi nhờ một gói kỷ niệm ‘nực cười’, xin dừng lại để cùng nhau cười một chút cho đời sống bớt khổ ải. Một liều thuốc tiên giá chỉ một đồng sẽ được cười một trận vô giá không dễ gì mua được - các bạn sẽ không nhịn được cười, chúng tôi cam đoan như thế... xin hãy dừng lại...” Những người qua đường bắt đầu đông đảo, tôi vừa gõ chậu thau vừa nhắc lại những câu cuối của Năm Sàigòn:
- Xin mời bà con cô bác dừng lại...
-... Dừng lại.
- Trò vui “nực cười”...
-... Nực cười rất nực cười.
- Ai nhanh tay mau miệng...
-... Miệng - một đồng một trò, chúng tôi có rất ít xin bà con cô bác nhận ngay kẻo hết...
- Kẻo hết...
Mọi người nhao nhao giơ tay, Năm Sàigòn thu tiền xong mới cầm lấy hộp đựng ruồi - hắn rỉ vào tai tôi:
- Thu xếp đi để nếu có đứa nào nó nổi sùng đánh thì chạy cho gấp không mất mạng toi.
- Xin gửi bà con...
Vừa nói hắn vừa đưa từng gói cho người qua đường. Tôi ngắm một người cầm cẩn thận trên tay gói giấy bóng, gương mặt nghiêm trang chờ đợi. Khi vừa mở được gói chưa kịp tìm kỹ thì hai con nhặng đã bay ngay vào mặt, vội vàng vứt gói giấy, há hốc mồm - có tiếng cười của những người đứng coi vang lên, cười vì những người mắc lừa - có lẽ thế. Có tiếng chửi:
- Đồ bịp! Đồ bịp! Bà con cô bác ơi đánh bỏ mẹ nó đi.
- Mình dốt, ngu để người ta dạy khôn cho như thế mà mất có đồng bạc còn gì nữa...
Giữa lúc mọi người điều qua tiếng lại thì Năm Sàigòn cũng đã tìm cách chuồn lẹ. Hắn ra hiệu cho tôi vác chiếc bao tải chạy theo. Tôi còn nghe thấy những tiếng nói ở phía sau: Đứng lại, bắt lấy nó, bắt lấy nó, tụi bịp, tụi bịp... Chạy một lúc lâu tôi mới bắt kịp được Năm Sàigòn. Hắn bán được khá, còn lại một ít gói ruồi hắn vứt bỏ xuống lề đường.
- Rất may, rất may, chạy thoát nếu không cũng ăn đòn hội chợ.
- Thôi mai đừng dại làm trò này nữa.
- Mai mình sẽ làm trò “đấm kẹo”.
- Sao lại “đấm kẹo”.
- Mình đi bán kẹo ở trường học, cứ mỗi đứa bỏ ra một đồng hoặc năm hào rồi đưa tay bốc lấy kẹo theo như ý nó muốn, được bao nhiêu thì lấy.
- Thế thì hết.
- Không dễ, cứ cho bốc, nhưng bốc rồi nó phải đưa tay cho mình đấm một cái vào tay nắm kẹo, nó giữ được bao nhiêu thì lấy, mình sẽ tùy từng đứa mà đấm mạnh hoặc khẽ, như thế tức là mình bán kẹo mua vui dạy luân lý cho những đứa ít tiền mà tham có nhiều kẹo: một trò rất lương thiện, không ai nói được mình... hồi xưa tao đã từng làm trò đó nhưng trò này không kiếm được bao nhiêu, rồi cũng phải kiếm trò khác làm ăn...
Đúng như Năm Sàigòn nói, sau bữa bán kẹo chúng tôi không kiếm được bao nhiêu và chúng tôi nghỉ không làm gì, Năm Sàigòn đi suốt ngày tối về rúc vào xó ngủ vùi. Có bữa hắn say lảo đảo trở về la thét đập phá rồi khóc, cười cho tới lúc xỉu mà ngủ đi. Tôi buồn bã nằm bên hắn ngửi mùi rượu nồng nặc, mùi mồ hôi nóng bức. Chúng tôi chẳng khác gì mấy kẻ hành khất, nhưng chúng tôi không có được như họ một đôi mắt mù, cụt bớt chân tay để đi hát xẩm hay đứng ở đầu đường mà kêu gào lòng thương hại của mọi người, hoặc được gửi vào một nơi nuôi nấng bố thí nào đó. Tôi cũng đã có lần đứng nơi cửa đền Ngọc Sơn nghe nhiều người tàn tật kêu gào về cảnh huống của họ, nào khói lửa chiến tranh, tai ương bom đạn, cha chết, mẹ chết, không cơm ăn, việc làm, nhà cửa... Tôi cũng muốn kể lể như thế. Nhưng sao tôi thấy những người chung quanh quá thản nhiên, chuyện đó đã thành thường, thành thản nhiên rồi sao? Ngó vào một xác chết cũng như ngó vào một con lợn bị làm thịt, ngó vào một người thường cũng như ngó vào một người tàn tật?... Chiến tranh nằm ngồi chung quanh cuộc sống quen thuộc. Bao nhiêu thảm khốc có thêm cũng không thay đổi cuộc sống bi thảm đã sẵn có một khuôn mặt tệ hại, không gây thêm xúc động hay mối thương tâm, mọi người đã chung chịu những bom đạn, đói khát, nỗi bi thảm đến từ ống bơ, chiếc thau đồng, nhà cửa con phố, con trâu. Nơi nào chiến tranh cũng ngự trị. Người ta sống vất vưởng cùng những lo âu từng giờ phút bởi de dọa của cái chết. Tôi nhủ thầm: chắc con chết khác mẹ, rồi một ngày nào đó, bụng rỗng không, chân tay rời rá, miệng khát con sẽ ngã xuống và đi theo mẹ, rồi người ta nhặt xác con đi...
Tôi không muốn nghĩ đến điều đó, tôi không muốn chết, và có lẽ cả Năm Sàigòn, chúng tôi không muốn chết, như mọi người, nhưng cái chết như nằm ngay bên cạnh cuộc sống của chúng tôi.
Một hôm, Năm Sàigòn đi nhận ở đâu về một thủng thuốc cao dán, hắn nói với tôi:
- Có người bằng lòng thuê mình bán thuốc cao gia truyền, nhiều hoa hồng và còn được trả lương nữa, của một thằng lang băm mà, thuốc của nó chắc làm bằng nhựa đường cũng nên, nhưng mặc cha nó, miễn sao mình bán cho được nhiều là có tiền. Như vậy phải làm sao quảng cáo cho gay cấn, hắn nói thuốc cao này có thể cầm ngay máu khi đang chảy.
Hắn nghĩ cách quảng cáo, hắn đi đi lại lại suy nghĩ, hắn bắt tôi tập hát, giả làm một thằng ngọng đi hỏi vợ, hắn dạy tôi pha trò cảnh cô gái kia chửa hoang, cái bụng cô tỏ tò to, vì cô ăn phải cái gân bò già... Tôi làm đủ cách nhưng không gây được buồn cười, hắn thất vọng nhìn tôi:
- Mặt mũi mày như một đứa chết trôi vậy, cười tao coi, cười đi.
Tôi nhe răng cười và gặng ra thành tiếng, tôi thấy tôi kỳ cục vì tôi không biết phải cười ra sao.
Năm Sàigòn la lên:
- Khỉ, nhe ráng dọa ai vậy, cười mà cũng không biết cười thì làm ăn cái gì... cười lại tao coi. Mày thử tưởng tượng một cái gì thật tức cười, như khi mày được mẹ mày cho kẹo chẳng hạn, nhớ chưa, cười đi...
Tôi rưng rưng nước mắt. Hắn nhìn tôi chán nản, thất vọng. Tôi cúi đầu. Đã lâu tôi không biết thế nào là cười. Tôi cũng quên đi cảnh mẹ tôi cho kẹo, hay đánh mắng... Tôi mất đi những gì đó, tôi tấm tức nói với hắn:
- Tôi chưa được kẹo bao giờ, thôi kiếm trò gì cho tôi khóc chắc dễ hơn.
- Có ra mà khóc đường, khóc mướn cho đám ma, ai người ta còn muốn coi trò khóc làm gì. Mày ngu thì cũng ngu vừa vừa thôi chứ. Cứ thử một vài lần nữa coi.
Tôi thử nhiều lần nhưng không ăn thua gì, cuối cùng hắn đành bỏ vậy, hắn ngồi hút thuốc nhìn tôi, lúc sau hắn đứng lên, hai tay giữ lấy vai tôi nhìn kỹ vào mặt, hắn nắn vai tôi miệng lẩm nhẩm: “Cũng chẳng còn gì, hết rồi...” Tôi chẳng hiểu gì cả. Hắn đi đi lại lại hai tay bỏ trong túi quần, một lúc hắn dừng lại, nói với tôi:
- Mày có can đảm không?
- Làm sao?
- Chẳng hạn khi mày bị đứt tay mày có khóc không?
- Đời nào, tôi bị đứt tay là thường.
- Thế à, nghĩa là không khóc, nhất định không khóc chứ?
- Không hề, cam đoan như thế.
- Vậy được rồi. Chiều nay sẽ bắt đầu.
- Nhưng làm trò gì mới được chứ?
- Mình cũng giáo đầu như mọi khi, nhưng đặc biệt ở chỗ mình sẽ chứng minh tận mắt rằng thuốc rất công hiệu. Tao sẽ cắt tay mày cho chảy máu ra rồi rịt thuốc vào đó, mày phải tỏ ra can đảm, lúc cắt thì phải kêu đau, nhăn nhó... Khi đã dịt thuốc vào xong một lúc thì phải tươi tỉnh như không còn đau một tí gì cả... Khi họ đã thấy thuốc cao công hiệu như vậy thì họ sẽ đổ xô vào mua mỗi miếng giá năm đồng, trong khi mình mua có năm hào bạc, mày thấy không, mình sẽ hốt bạc, mình sẽ sướng hơn. Chứ sống mãi như con chó như thế này được sao...
- Liệu thuốc có hết đau thật không?
- Ngu quá đi con ơi, thuốc ấy thì vứt đi, nhưng miễn sao mình bán được thuốc, rồi mình sẽ lấy thuốc khác công hiệu mà chữa khi về nhà chứ...
Buổi chiều đó, ở ngay dưới gốc đa đền Bà Kiệu chúng tôi diễn trò, vì đúng là ngày thứ bảy nên thiên hạ rong chơi rất đông, thấy có trò lạ đứng bu quanh đông nghẹt. Năm Sàigòn khua chân múa tay, la thét, tôi gõ thau đồng nhảy múa chung quanh, sau khi biểu diễn mấy trò ảo thuật Năm Sàigòn mới bắt đầu giới thiệu thuốc cao:
- Thưa bà con cô bác, hôm nay, lần đầu tiên, thầy chúng tôi là Đại Hán Đường có cho phép chúng tôi ra đây giới thiệu với bà con cô bác một thứ thuốc cao gia truyền mà thầy chúng tôi đã công lao nghiên cứu thêm hơn gần ba chục năm cho công hiệu. Đó là thuốc cao Giang Đông. Thuốc cao Giang Đông chuyên trị bá chứng, từ đau xương, nhức mỏi, mụn nhọt, đau đầu, công hiệu của nó như thần, ngay như một vết thương ra máu nó cũng có thể cầm ngay lại được, chúng tôi có thể chứng minh ngay để bà con cô bác thấy rõ, thuốc chỉ đắp vào trong năm phút là máu hết chảy, không đau nhức và sau đó lành thịt. Nhỏ đâu?
Tôi chạy đến, vén cao tay áo đưa ra cho Năm Sàigòn cầm lấy, hắn cầm tay tôi kéo đi chung quanh cho mọi người nhìn thấy:
- Em nhỏ đây mạnh khỏe, bây giờ tôi sẽ cắt một chút để thấy rõ công hiệu của thuốc cao.
Tôi nghe tiếng xì xào ở người: vô nhân đạo, thằng nhỏ thế kia mà thành một con khỉ cho nó cắt tay à. Tôi muốn bảo: dù nó vô nhân đạo nhưng nó cho tôi ăn để sống, tôi đổi máu để lấy những miếng cơm cho vào miệng, câm đi, đừng nhân đạo giả, thì ai đã cho tôi một hào bạc nào chưa, chúng tôi như nhau, như những con chó. Tôi nhìn vào con dao díp mà rùng mình, hôm trước con dao còn rỉ, Năm Sàigòn đã mài xuống vỉa hè cho sáng và sắc hơn. Hắn cầm chặt lấy tay tôi, tôi rùng mình chờ đợi. Cả người tôi run rẩy. Tôi cố gắng trấn tĩnh. Lưỡi dao chạm vào da tôi và cảm giác đau đớn tràn ngập thân thể. Con dao nhụt khiến Năm Sàigòn phải cứa đi cứa lại máu mới chảy ra. Tôi có nhiều máu hơn tôi vẫn tưởng. Những giọt máu đỏ từ từ ứa ra chảy ròng xuống tay. Năm Sàigòn cầm lên nói lớn:
- Đây bà con cô bác hãy nhìn rõ, một vết thương lớn, máu chảy nhiều, một sự thật không thể giấu diếm, bịp bợm, che đậy. Em nhỏ đây đang đau đớn, như các em nhỏ ở nhà khi không may bị đứt tay chảy máu, có khi ở bất cứ chỗ nào, bất cứ vì tai nạn gì làm xây xát thân thể, gây thương tích, chảy máu. Cả những vết thương vì bom đạn trong khi chưa được cứu chữa. Bà con cô bác hãy dùng thuốc cao Giang Đông, thứ thần dược cấp cứu, thầy chúng tôi đã dành gần hết đời mình để hiến cho bà con cô bác một thứ thần dược có một không hai dùng trong những phút nguy hiểm cho tính mạng. Đây, bà con cô bác hãy nhìn công hiệu của thần dược, thuốc rịt vào máu sẽ cầm ngay tức khắc...
Năm Sàigòn lấy một miếng thuốc lớn dán cho kín ngón tay, nhức nhối ở vết thương chừng như còn tăng lên:
- Đây bà con cô bác coi, em nhỏ vừa xong còn đau đớn, máu còn chảy nay đã như thường, nơi đó sẽ liền thịt và lên da non, chỉ một miếng thuốc là như thường.
Hắn quay lại nháy mắt nói với tôi như một kẻ xa lạ.
- Em đã hết đau chưa?
- Hết đau rồi.
Tôi cố gắng thu hết can đảm, mím môi giữ cho mình khỏi bật khóc.
- Em thấy dễ chịu không?
- Như thường...
- Bà con cô bác thấy chưa. Chỉ một miếng thuốc cao Giang Đông đã khiến cho các em nhỏ đau đớn khi vô ý, trở lại vui đùa như thường không còn kêu khóc làm mất vui trong gia đình. Một dịp may duy nhất... Xin bà con cô bác nhanh tay mau miệng lên tiếng lấy thuốc dùng thử, ở đây chúng tôi muốn gửi tặng bà con cô bác thêm một miếng nữa để mọi người đều được dùng thử thần dược, giá mỗi miếng mười đồng, tặng thêm một miếng, chỉ mất năm đồng bà con sẽ tai qua nạn khỏi khi không may...
Tôi cầm thuốc cao tới trước mặt từng người, có những con mắt nhìn tôi thương hại, và những câu nói cùng bàn tán: Nó thuê em bao nhiêu thế - Thật khổ thằng nhỏ - Em không biết đau ư?
- Tội nghiệp con nhà ai không biết.
- Chắc là lạc, hay cha mẹ chết cả rồi, chứ ai đang tâm để cho con cái phải thế kia?
- Trông nó xanh xao vàng vọt thế kia, rồi máu chảy ra nhiều, mấy mà chết. Cái thằng nó làm trò ác quá.
Tôi thấy đau đớn ở tay - và ở trong thâm tâm những giọt máu của tôi đã chảy ra đó và những con mắt ngó vào bàn tán - dễ chừng họ chưa nhìn thấy máu bao giờ sao? Mà thương tâm, bàn tán như vậy có ích gì cho tôi - và cho cả họ. Máu tôi nhỏ ra vì miếng cơm. Nhưng còn những giọt máu của mẹ tôi do viên đạn bắn vào mạng mỡ đó - để đổi lấy cái gì - chẳng lẽ để đổi lấy cái chết do chính mẹ tôi gánh chịu - và cho tôi như thế này. Tôi tươi tỉnh chìa thuốc cao ra miệng nói:
- Cám ơn cô bác, tôi phụng sự sức khỏe mọi người, thuốc cao tài tình lắm, tôi chẳng hề đau đớn chút xíu...
Tôi cười hô hố nghe rất kỳ cục - cũng có người mua thuốc. Tôi luôn miệng cám ơn.
Có lẽ nhờ cái trò lạ mắt - cắt tay một đứa nhỏ cho chảy máu để chứng minh một thứ thuốc vứt đi - mà người ta đổ xô vào mua để rồi một chút thương tâm, khen một câu can đảm.
Trong ngày hôm đó tôi phải cắt tay như thế ba lần. Buổi tối về tay tôi nhức nhối và có vết đã bắt đầu sưng lên. Tôi mở bỏ thuốc cao nhìn những vết dao cắt - hai mép da co sang bên để lại ở giữa màu thịt đỏ tím, ba ngón tay gần mang ba vết cắt đó. Ngón tay đau không cử động thường được. Mỗi lần cụp ngón tay lại thì những vết thương đau đớn. Những vết máu đọng còn nằm trong lòng tay bẩn. Tôi dùng một ngón tay cạo cạo, một cảm giác buồn buồn dễ chịu. Tôi nghĩ đến những lần đứt tay hồi nhỏ - mẹ tôi căn dặn giữ chắc lấy chỗ đứt, ra bờ rào kiếm một cây duối bứt lấy ít lá bỏ vào miệng nhai rồi đắp lên, hoặc kiếm một ít mạng nhện ở góc nhà quấn lại, cùng lắm là một chút thuốc lào - nhưng tôi còn được thấy gương mặt mẹ tôi lo sợ cuống quít miệng xuýt xoa: có đau không con, mẹ đã bảo chơi đùa, hay làm gì phải cẩn thận mà, nếu không có lần đứt mất ngón tay thì xấu lắm đấy - nghe mẹ không. Nhưng bây giờ thì chẳng phải nghịch ngợm hay vô ý, tôi đưa tay ra cho người ta cắt, cho máu chảy mà chẳng ai thương xót - nỗi thương xót máu mủ ruột thịt - cũng như người ta đã thản nhiên giết nhau hằng ngày không lý do - hay vì ai xui khiến cho người ta ham muốn chứng kiến sự chết chóc, máu đổ. Ở nơi này tôi cũng không kiếm đâu ra lá duối, thuốc lào, mạng nhện. Tôi chẳng còn nước mắt để khóc, chẳng còn ai để than van. Cả người gần tôi nhất ngồi kia - Năm Sàigòn - đối với tôi cũng chỉ là một sự trao đổi về đời sống. Cả hai ở với nhau chẳng qua cũng như hai con chó đói trong một bầy chó đói cần phải giúp nhau dành lấy một mẩu xương mà gặm, nhưng chúng tôi là một thứ chó hoang, vô chủ, là thứ chó của một giai cấp chó hạng bét. Tôi cũng chẳng thể hiểu chúng tôi phải sống như thế này làm gì. Hắn kiếm ra tiền để ăn, để có mấy điếu thuốc và khá ra như hôm nay đi kiếm một con điếm mang về rúc rích ở xó tối, rồi một hôm nào đó lăn ra chết, và tôi nữa. Người ta sống vì sự có mặt của người thân yêu - tôi hay hắn chỉ có một mình - vì làng xóm, vì đất nước, điều sau này tôi chẳng hiểu ra sao cả... những sự thật diễn ra trước mắt đây... Những giọt máu chảy ra đó. Tôi thấy khổ hơn cả một con vật - cho cả những con vật được người ta nuôi để ăn thịt đi nữa - nhưng trong khi nuôi cho béo không bao giờ bị đánh đập - và một lần chết như người ta. Còn tôi hay cả hắn... thật hồi xưa chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phải tự hành hạ thân mình để kiếm lấy miếng ăn mà nuôi lại cái thân bị hủy hoại dần mòn đi đó.
Tôi nhìn Năm Sàigòn đang nằm kia - hắn hút thuốc lá một cách khoan khoái - từ mấy tháng nay hắn chưa bao giờ có một vẻ thảnh thơi như thế - có phải vì mấy giọt máu của tôi không? - Chiều tối nay chúng tôi đã được ăn một bữa khá và Năm Sàigòn say sưa hơn. Lúc ngậm trong miệng một chút xương cá, tôi mới nghĩ ra rằng có nhiều điều hanh phúc không đến với đời sống tôi - nên dù chỉ ngậm một chút xương cá tôi cũng không muốn nhả ra vì tiếc, nhưng nuốt vào sợ hóc. Tôi ăn uống được hơn nhờ đồng bạc của những kẻ lạ mặt, nhờ Năm Sàigòn thương hại tôi? Hay là họ chỉ muốn nuôi tôi cho có nhiều máu mà cắt ra cho họ ngắm nghía? Thật là một sự trao đổi khốn kiếp và bỉ ổi.
Trông dáng điệu của Năm Sàigòn tôi khó chịu. Tôi thấy hắn xa lạ - nó là một người khác. Một kẻ lạ mặt như mọi người ở trong đám đông đời sống vây quanh tôi đây. Tôi ngồi ôm mặt khóc thút thít, Năm Sàigòn khó chịu quát lớn:
- Ê khóc cái gì? Cha mày chết đó à... câm đi cho người ta ngủ chớ, còn mai phải làm nữa.
- Mai tôi không làm, tôi đau lắm không chịu được.
- Ê điên hả, người ta đang dễ làm ăn. Mày ăn cơm cá đó không thấy ngon hả?
- Thôi tôi nhịn cho chết còn hơn.
- Mày không muốn ở với tao nữa thì đi đi, tao kiếm đứa khác cho xong, mới có một chút mà ồn.
Tôi không nói nữa và cứ khóc, Năm Sàigòn cáu tiết đứng dậy cầm cây đánh vào lưng tôi túi bụi, tôi ngước mặt lên nhìn hắn - đau quá không sao khóc hay kêu được, tôi bò lết mà chạy. Vì cử động mạnh làm những vết cắt ở tay chảy máu tung tóe. Tôi ngồi ôm lấy tay mà bảo.
- Cứ việc đánh cho chết - hãy ngó vào tay đây này. Tôi cũng cần chết ghê lắm.
Hắn nhìn xuống tay tôi thấy máu chảy tung tóe nên thôi không đánh nữa. Hắn cúi xuống cầm lấy tay tôi co đi.
- Ra đây, ra đây tao buộc cho - mày phải biết chẳng bao giờ tao muốn như thế - nhưng mày thấy chưa: còn làm thế nào để có miếng mà đút vào lỗ mồm. Phải giữ thân không chết uổng mạng.
- Uổng mạng?...
Hắn bỏ tay tôi vào chậu nước, hắn loay hoay rửa bàn tay thô bạo của hắn chỉ muốn làm một cách dịu dàng cũng vẫn thô lỗ, vụng về như chưa bao giờ cầm đến một bàn tay kẻ khác - và chắc cử chỉ đó hắn chưa bao giờ được nhìn thấy ai chỉ dạy cho. Tôi cảm động ngoan ngoãn ngồi yên cho hắn rửa. Có lẽ vì gặp nước lạnh tay tôi đỡ đau, và máu cũng chảy ít thôi. Xong hắn kiếm cái khăn lau cho ráo, xé một miếng giẻ rách buộc chặt lấy chỗ đau. Tôi bảo:
- Sao không dán thuốc vào.
- Mày ngu - dán vào cho thối tay mày ra à. Để mai tao kiếm một chút thuốc đỏ bôi vào là lành.
- Còn mai.
- Cứ việc cắt vào chỗ gần đó nó quen rồi và không đau nữa đâu mà sợ.
Hắn dỗ tôi, hứa sẽ may quần áo cho tôi và để một hôm nào sẽ cho đi coi cải lương ở Quảng Lạc. Khi sắp ngủ hắn cho tôi một cái kẹo bạc hà, hắn nằm bên kể cho tôi nghe một câu chuyện tiếu lâm tuc tĩu, tôi chẳng thể cười được và ngủ thiếp đi.
Qua một tuần lễ như thế tay trái tôi đã gần nát ra rồi, có những vết tay mưng mủ và thối, nó rỉ nước vàng. Mỗi bữa bưng bát cơm không nổi tôi phải dùng cùi dĩa mà xúc ăn như một kẻ tàn tật. Thấy không thể tiếp tục cắt máu ở bàn tay đó nên Năm Sàigòn bắt đầu cắt ở bàn tay phải. Người ta vẫn xúm đông xúm đỏ lại coi, và mua thứ thuốc vứt đi đó. Con vật thí nghiệm bịp bợm con mắt mọi người đó vẫn phải đổ máu ra. Trong một lần ở ô Chợ Dừa trong khi Năm Sàigòn đang cắt tay tôi, bỗng có người lớn tiếng:
- Phải đi báo cảnh sát chứ sao để cho thằng đó nó cứ cắt tay đứa bé mãi, hôm trước tôi trông thấy đứa bé còn khá, mà chỉ mới có mấy bữa đã vàng và đét hẳn đi. Trong người nó còn được mấy giọt máu mà chảy nữa. Bà con hãy coi bàn tay kia của nó thì biết, hàng chục vết cắt bắt đầu thối ra đó - thuốc gì mà thuốc - là nhựa đường hoặc đất bùn gì đó. Bây giờ nó còn định làm hư nốt bàn tay nữa của đứa nhỏ - và liệu được mấy bữa nữa mà chết vì hết máu.
Có một giọng khác.
- Có lẽ gần hết rồi - coi đó thì thấy, nó cắt dao vào tay mà chỉ có một vài giọt - chắc ở trong người còn độ vài cù-dìa nữa thôi. Đứa nhỏ chết đến chân rồi.
Người ta bàn tán xôn xao, chẳng ai còn chú ý tới những lời khoa trương của Năm Sàigòn. Hôm nay tôi mới nghe thấy giọng hắn đã bắt đầu khàn khàn như một thứ ống bơ rỉ, hay có khi cuống họng hắn đã vỡ ra rồi cũng nên, hắn cứ phải la lên, nếu tôi phải làm như thế chắc cũng không còn hơi để thở nữa. Trông cái bộ dạng lom khom khổ não cứ loay hoay, cúi xuống ngẩng lên, chân tay khoai múa, tóc tai bù xù, mồ hôi ướt đẫm mà thương hại. Nhưng nói chán, chìa thuốc ra cũng chẳng ai hỏi đến một câu. Những trẻ con ở lại sau chót cũng đã quay ra nô đùa với nhau rồi - và mọi người bỏ quên hai con vật múa rối muốn mang thuốc đến để bảo vệ sức khỏe cho họ, và chính hai con vật đó cũng không cứu được chính nó.
Trời nắng thiêu đốt trên đầu chúng tôi. Hai bàn tay tôi đều đau rần, tôi đứng ở khoảng đất bột nhìn xuống bóng mình dưới chân, tôi hoa mắt trước những bóng sáng quay cuồng đảo lộn xanh đỏ trước mắt, tôi ngồi bệt xuống mặt đất nóng rẫy. Tôi muốn lê vào một mái lều chợ cách đó độ mười bước nhưng hai chân run lên không cất được nữa. Hai mắt mỏi phải nhắm nghiền lại - “chắc trong người nó chỉ còn độ vài ‘cù-dìa’ máu mà thôi” - tôi muốn áng chừng xem tôi đã cắt ra bao nhiêu máu, nhưng chẳng thể nào áng được, chắc nhiều lắm, rất nhiều đối với số máu tôi có. Với thân hình gầy đét, và nước da vàng tái này tôi đủ hiểu, những người khỏe mạnh, hồng hào béo tốt ra hết máu còn chết, huống hồ là tôi.
Có lẽ tôi đã chết đến chân thật rồi, chứ sao mọi hôm tôi thấy đôi chân còn khỏe mà hôm nay nó mềm và run lên như thế. Cái chết đến từ từ, rồi nó lên đến bụng, đến ngực, đến cổ là tôi sẽ nằm sóng soài ra và tắt thở. Cái chết đó. Cái chết đó. Không thể được. Tôi đưa hai bàn tay đau nhức lên dụi vào hai mắt cho tỉnh ra để đứng dậy - Năm Sàigòn đang thu xếp. Hắn thấy tôi ngồi yên thì kêu lên:
- Thôi đi chứ, hay là phải để tao gọi xe đến đón quan lớn!
Tôi muốn mở miệng quát lớn cho hắn nghe - nhưng miệng tôi khô và khát quá độ. Tôi cố đứng dậy cầm cái thau đồng theo hắn sang bên kia đường. Chân tôi rời rã, mắt vẫn hoa lên, tôi bước đi lảo đảo. Mặt nhựa nóng bỏng dưới gan bàn chân, tôi nghe tiếng còi xe cộ nhưng cũng không còn để ý đến. Bỗng tôi nghe tiếng kêu thất thanh:
- Kìa, đồ chó chết.
Rồi một cánh tay rất mạnh xô tôi vào hè đường, một tiếng phanh xe tắc-xỏng rít lên. Rồi những âm thanh ồn ào vang động vây lấy thân thể tôi. Khi tôi đủ sức bò dậy, thấy người bu lấy chung quanh, tôi kiếm gọi Năm Sàigòn, nhưng chẳng thấy - tôi ngó ra giữa đường thì thấy hắn nằm ở ngang đầu chiếc G.M.C của nhà binh. Một bên chân kẹp vào dưới xe. Tôi hoảng hốt bò đến.
- Làm sao vậy, làm sao đấy anh...
Hắn không trả lời được nữa. Chiếc khố tải những thuốc cao, ống bơ tung tóe chung quanh. Tôi chẳng hiểu vì sao tai nạn đã xảy ra. Có người đứng ngoài bàn tán với nhau.
- Trời đất, xe nhà binh mà, coi thường mất mạng như chơi. Thằng bán thuốc cao hả?
- Đúng nó. Tại nó trông thấy thằng nhỏ của nó đang đi và gần như sắp ngã ở giữa đường trong khi xe phóng tới, hắn nhào ra đẩy đứa nhỏ vào trong, nhưng chính nó không chạy kịp. Thật khổ.
Bây giờ tôi đã hiểu câu chuyện. Sao tôi lại không chết? Sao lại hắn, hóa ra tại tôi, vì tôi hắn bị nạn. Chiếc xe cứu thương thét còi chạy đến. Chiếc xe G.M.C. đã lùi lại một chút để gỡ chân Năm Sàigòn ra, dưới bụng hắn máu chảy đầm đìa. Trông ghê khiếp hơn cả vũng máu của mẹ tôi hồi bị đạn nữa. Người ta khiêng hắn bỏ lên băng-ca đẩy vào lòng xe, tôi vứt bỏ cả chậu thau leo lên theo.
- Mày là đứa nào?
- Tôi là em ông ta, cho tôi lên với.
Xe mở máy chạy và những hồi còi réo lên nhức óc. Năm Sài gòn nằm mê mệt trên băng-ca, đầu ngoẹo sang một bên mặt tái mét, một bên chân bị nát, máu bết cả quần áo đỏ lòm và vẫn còn dỏ giọt xuống sàn xe. Tôi thấy những giọt máu đỏ cũng giống máu của tôi, và mẹ tôi.
Người ta đưa vào nhà thương Phủ Doãn, chính ở đây mẹ tôi đã chết - người ta vội vã đưa vào phòng cứu cấp, máu chảy ra quá nhiều, người ta lo băng bó chân - và tìm máu để tiếp cho Năm Sàigòn, và sau khi thử máu người ta không có sẵn loại máu của hắn vì có bao nhiêu người từ những mặt trận mang về đều thiếu máu cả, mà người cho máu không có, chỉ có một vài loại khác còn nhưng không thể tiếp cho hắn được - người y tá nói cho tôi biết thế. Tôi ngỏ ý:
- Dạ thưa bà có thể lấy máu của tôi tiếp cho anh tôi được không, anh tôi cần được cứu chữa.
Người nữ y tá nhìn tôi từ đầu đến chân - dễ tôi không là con người sao?
- Nhưng trông em gầy yếu thế này sợ không đủ sức.
- Thưa bà không sao, tôi rất mạnh.
- Để tôi nói với bác sĩ.
Vị bác sĩ cũng nhìn tôi như người y tá - tôi khẩn khoản với ông ta. Sau khi thử, máu tôi cùng loại với máu của Năm Sàigòn. Nhưng đến khi lấy thì không được bao nhiêu. Với số máu ít ỏi đó không đủ để cứu hắn sống.
Tôi nhủ thầm bên tai cho Năm Sàigòn nghe:
- Anh biết không, đáng ra anh không chết nếu em có đủ máu - nhưng máu của em đã phải cắt ra cho mọi người coi để đổi lấy miếng cơm nên chẳng còn để cứu anh nữa - làm sao bây giờ? Tại em mà anh chết đấy...
Năm Sàigòn cố mấp máy, tôi phải háp tai vào tận miệng hắn mới nghe được.
- Không phải tại em, tại chính anh... Phải cố... cố...
Tôi cũng chẳng còn sức để khóc hắn. Tôi trở ra tìm vị bác sĩ. Tôi chìa hai bàn tay sưng thối ra trước mặt ông. Tôi muốn nói: Con muốn được chết thêm ở nhà thương này. Thưa mẹ, con cũng chả hơn gì, đó mẹ thấy chưa?
1961
Những chuột
Lão Chệt ngồi trong bóng tối ngó ra, lão mở lớn đôi mắt tưởng như đã kèm nhèm nhưng thật ra còn tinh tường lắm. Từng đám cỏ động nhanh từng vệt rồi lại biệt tăm. Tiếng kêu của đám chuột đang từ chỗ này sang chỗ khác rủ nhau đi kiếm mồi, mùi cua nướng lão Chệt còn ngửi thấy thơm phức chứ riêng gì đàn chuột, giá như một lúc khác, với những con cua nướng đó, thêm vào vài xị đế chắc đã làm lão say sưa quên hết sự đời. Nhưng bây giờ thì không được, chỉ một tiếng động nhẹ lão cũng tránh, nuốt một chút nước bọt lão cũng thận trọng chứ đâu dám nghĩ đến chuyện nhai từng chiếc lũ, chiếc chân giòn tan trong hàm răng chắc chắn này. Gió tây bắc thổi nhè nhẹ, mùi cua tỏa theo. Tiếng chuột kêu mỗi lúc một nhiều:
- Ra đi các con, mồi ngon lắm, toàn là những cua hang tao đã bắt cả ngày mới được, có con nó còn dùng cả hai chiếc càng bự mà cặp tao sưng cả tay lên đây này. Những chú cua béo vàng ấy thật khoái. Chà, nó vừa vào lửa đỏ đã xèo xèo chảy nước ra nghĩ mà thèm, thế mà tao không được nhậu một miếng. Tụi bay sướng rồi còn gì, tao lại phải ngồi đây chầu chực hầu hạ tụi mày nữa. Như một triều đình còn chi? Ăn đi các quan, xin các quan xơi cho cẩn thận, rủ rê thêm nữa - những quan cố, quan bác, quan con, quan cháu - hãy rủ nhau ra cho đủ mặt mà nhậu một chầu đại yến. Ngàn năm một thuở dấy... Rồi làm sao à...
Lão lẩm bẩm nhưng rồi lão bỗng lặng yên, có mấy tiếng súng nhỏ ở đâu vọng về. Cần gì, còn xa. Những chú chuột kia mới hệ trọng. Tiếng kêu đã đông đảo thêm. Tiếng kêu có vẻ ríu rít vui vẻ gấp bội, có cả tiếng những chiếc lũ cua vỡ giòn tan, tiếng chí chóe như đùa cợt. Nhưng lão Chệt vẫn thấy hình như chưa nhiều đối với chiếc lưới sập mà lão dăng ra phía bờ mương. Đã ra ăn thì không chú nào hòng chạy thoát, lưới trời mà. Lão mỉm cười như thương hại lũ chuột, và cũng như đắc ý. Ai bảo tham ăn, cái luật là như thế. Chẳng lẽ những chú cua mồi thơm phức ấy lại bị hy sinh một cách oan uổng và phí phạm sao? Công lao rình rập và nhất là còn cơm áo của lão, còn cô bé xinh đẹp ở trong xóm lão vẫn muốn được cưới làm vợ. Hơn ba năm trời rồi chả gì cũng đã qua cái cảnh tang bà nó, chết đi bỏ lão cô đơn buồn rầu. Nhưng thực tình còn bà lão thì cũng già rồi, có nước non gì vì vậy lão cứ phải buồn phiền lên tỉnh bảo thằng Lai nó kiếm cho một đứa thổ tả nào đấy mà hú hí một đôi khi cho khuây khỏa tuổi già. Nhưng có được tới vài ba ngày bao giờ, một đêm đã quá lắm, nên lão thường buồn.
Có hai con chuột đuổi nhau chạy vào tận chân lão. Ăn no uống say rồi chúng nó cũng rửng mỡ đấy. Nó kêu, chạy rồi cắn nhau có vẻ âu yếm, có vẻ ưu du, có vẻ đú đởn làm lão đến phát bực. Lão thì một mình. Lão muốn đập cho chúng một cái, lão giơ tay ra, nhưng lão nghĩ đến chuyện đi xa lão lại rụt vội lại. Đôi chuột coi lão chả ra gì và cứ tiếp tục rồi chừng như chúng nó cưỡi nhau nữa. Mắt chúng nó để đâu mà làm chuyện tồi bại như vậy trước mặt lão. Giống chuột có khác.
Sáng mai này thằng Lai nó hẹn về đây. Phải đi với nó một hôm mới được. Chuột chiệc gì vừa hết đi. Lão thèm đàn bà rồi. Mẻ lưới tối nay nhờ trời lấy độ vài trăm chú thì khá. Như vậy cũng được tới hơn ngàn con còn gì?
Lão ngồi thẳng rối vặn người một cái, vài đốt xương khục làm lão khoan khoái thở một hơi dài, lão thấy mình già hẳn đi, lão muốn được ngả lưng xuống mà ngủ một giấc cho khoái. Trời tối thui, lão chẳng thể nhìn xa được bao nhiêu ngoài tầm lưới. Nghe tiếng kêu đã bắt đầu có vẻ im, đã đến lúc lão phải ra tay. Lão gỡ bỏ chiếc nón đậy cây đèn xách lên, một tay lão kéo chiếc dây động mạnh, chiếc dây có buộc những ống bơ kêu lẻng xẻng, lũ chuột chạy tán loạn về phía lưới nhưng vô ích. Lão thấy lũ chuột đã chạy về đủ mới kéo chiếc lưới ụp xuống vây kín lấy lũ chuột. Một vài con khôn hồn tốt số chạy ngược trở lại là thoát thân, còn bao nhiêu nằm gọn trong lưới cho lão cuốn trọn lại kéo về. Lớn bé lúc nhúc nằm trong lưới kêu rộn:
- Thôi mà các con, yên một chút ta mang về cho ở dinh thự rộng lớn lắm, rồi mai sẽ được lên xe đi Chợ Lớn ở tiệm. Đừng kêu, la, cựa quậy làm gì cho phí sức đi. Sáng mai thằng Lai nó về đón đi.
Lão già túm chặt lưới, vắt phần trên lên vai rồi cong lưng kéo về. Vài chú ếch thấy động nhảy xuống mương. Lão dò dẫm đi qua nhịp cầu gỗ về nhà.
Sau khi treo ngọn đèn vào cột lão mang lưới chuột đến chỗ chuồng mở nắp bỏ vào rồi cuốn lưới lên thả lũ chuột vào đấy, chúng chạy lăng nhăng loạn xạ, chúng húc đầu ra phên kẽm cố muốn chạy ra, nhưng những lỗ hổng bằng đồng xu chỉ húc được chút mõm là mắc kẹt, có con toét cả đầu nhưng vẫn cố húc. Đàn chuột cũ thấy lũ chuột mới chạy dạt về một phía như giữ thế thủ. Lão túm lấy đuôi một chú nhỏ nhất xách cao lên ngắm nghía, chú ta kêu và giãy giãy, lão tưởng nếu có sẵn một chảo mỡ đang sôi, lão sẽ quăng chú này vào rồi đưa lên miệng làm một miếng thì hay biết mấy. Lão nhớ lại bữa chuột bao tử mấy hôm trước khi lão bắt được trọn ổ, tới mười bốn con chuột đỏ hỏn chưa mở mắt lão đã mang về tẩm bột rán, lão nghĩ ăn cái ấy thì bổ phải biết, cái gì vào bao tử chả bổ, đến dòi mà lão nghe nói cũng là một vị thuốc ghê gớm lắm. Lão cầm lấy đầu chú chuột bóp mạnh một cái, một tiếng kêu chít rồi tắt, giữa hai ngón tay, đầu chú chuột bẹp dí tóe máu và óc, lão vứt bỏ vào góc nhà, lão đưa ngón tay lên miệng mút lấy một chút lầy nhảy của máu và óc ra chiều khoan khoái rồi lão vào trong bàn kiếm rượu đế tợp một hớp. Lão lấy thuốc vấn một điếu châm lửa hút.
Lão thổi ngọn đèn, vào giường, lão xát mạnh vả dập hai bàn chân phủi cát rồi lăn ra ngủ. Nghĩ đến chuyện đi xa làm lão không sao ngủ được. Lão thấy tức bực về ông cha mình. Có lẽ lão là người khốn nạn nhất hiện nay. Chẳng hiểu ông cha lão đã ngu si dần độn thế nào mà sang đây hàng mấy đời rồi chẳng làm nên cơm cháo gì. Còn những kẻ khác, cũng như lão thì họ giàu có, họ đang tọa hưởng bao nhiêu sung sướng. Cứ lên Chợ Lớn, nhìn những người cùng giống nhiều khi lão ức đến nghẹn thở. Họ đã đến đất này với hai bàn tay trắng chứ gì. Toàn những kẻ chết đói, trộm cướp tù tội mới phải bỏ quê hương chứ gì, bất cứ chỗ nào có ánh lửa là đến. Làm đủ mọi thứ, bán từ chiếc dầu cháo quẩy, nhặt từng chiếc ống bơ, mảnh chai, giẻ rách. Bắt từng con ong, xác ve. Cái gì cũng nhặt, người Tàu lập nghiệp từ những thứ khốn kiếp khốn nạn đó để làm thành danh.
Lão Chệt không hiểu ông cha mình đến cái đất này từ bao giờ, kể cũng lạ thật, thế mà bây giờ già rồi lão vẫn không được nghỉ ngơi. Cứ nghĩ việc lão làm thật cũng chẳng mấy nặng nhọc, nhưng lão thấy tủi thân. Chẳng phải lão không có lúc sướng đâu, cái hồi lão còn làm chủ cái tiệm chạp-phô kia thì cũng chủ nhân ông lắm, nhưng cô vợ tài hoa son phấn của lão lại trót da mang với nàng tiên nâu đã vê tròn, đút lỗ hết cả cái sản nghiệp vào hơi khói, đến nỗi lão cũng mắc nghiện, nhưng khi nghèo khó nuốt sái mãi không được lão phải cai - cái thuở khốn khó đó, không có chút nhựa đã vật vã lão tưởng chết nhưng nợ đời nó chẳng tha cho nên lão vẫn phải sống, phải về đây bắt chuột bán. Cái nghề này thằng Lai, đứa con đầu của lão khi làm cho tiệm ăn tìm ra chỉ cho lão. Thằng con này thật chả giúp gì cho lão ngoài chuyện làm trung gian bán chuột nó còn ăn bớt ăn xén của lão nữa. Lão bắt chuột nhốt một chỗ cho nhiều, mỗi tuần Lai chỉ về một lần mang tiền cho lão rồi xe chuột ra cho tiệm làm bánh bao và xíu mại bán. Lão cứ nghĩ đến những món ăn đã được những đầu bếp khéo léo chế biến chuột ra mà bán thì thật phục. Lão đã ăn rồi, ngon lắm, bằm nhỏ ra ai biết đây là đâu. Thịt gì chả thế, có lẽ thịt người cũng tương tự vậy thôi, có chăng là cách chế biến sao cho nó ra vị là được với lại có chút mỡ, hành, và tiêu vào thì có đến phân trâu cũng ngon lành và đắt khách.
Mong gì chuột nó sinh sản thật nhiều cho lão bắt là khá rồi, giá có cách nào mà nuôi tụi nó chắc hay lắm, nhưng lão chưa nghĩ ra.
Lão mơ tưởng tới một thứ kỹ nghệ thịt chuột, nếu có thì chắc lão sẽ là kẻ tiên phong: nào trại nuôi chuột, rồi sữa chuột, thịt chuột đóng hộp... biết đâu lại chẳng giúp cho lão có xe hơi, nhà lầu, gái đẹp, cái món sau chả cần gì miễn sao cưới được con nhỏ Xiêm, có tiền cưới ai chẳng được mà phải lo. Lão nghĩ tới cái tương lai ấy lấy làm thích thú. Lão thiếp ngủ nhưng trong đầu óc lão chỉ mơ tưởng tới những chuột là chuột, và trong đám chuột ấy những xe hơi, nhà cao, những cô gái tơ mơn mởn hiện ra làm lão muốn quờ quạng, muốn nhìn rõ thì lão lại chỉ nhìn thấy toàn những chuột: chuột sống, chuột chết, cả những chú chuột bị lột da đang băm ra làm món ăn... Chả gì lão cũng là người. Nhưng đó chỉ là một mơ mộng hão huyền trong đầu óc một kẻ thấy mình chả còn hy vọng được gì.
Chú Hai san bớt cà phê ra đĩa đưa lên miệng hớp một chút lấy làm khoái, chú để tay lên môi chấm một chút nước miếng vào đầu ngón tay trỏ rồi rinh một tờ giấy vấn trong chiếc hộp sắt tây, chú vê một chút thuốc vấn lại, chú dùng lưỡi vuốt lần chót điếu thuốc rồi lăn lăn cho tròn trặn trước khi ngậm lên môi. Trong nhà cái Xiêm đang chải đầu trước tấm gương tròn cầm tay. Chú Hai kêu lên:
- Chà, có ai ở đâu về hả... Tưởng ai hóa ra con ông Chệt, anh ta trông sang gớm, ở Sài Gòn có khác.
Xiêm bỏ gương xuống nhìn ra mỉm cười. Trong quán có anh Tư Đen và anh Hộ Nhâm cũng đều ngó ra. Anh Tư đen quấn lại khăn bông xanh lên cổ nói một cách tin chắc:
- Anh ta mang tiền về cho lão Chệt đấy và mang chuột đi đó. Anh ta giàu nhỉ, tôi vẫn định đi xa một lần, lâu quá rồi chưa đi được.
- Sao thằng con ra vẻ đàng hoàng vậy mà lão Chệt ngó bộ nghèo khổ quá, lão mò mẫm bắt chuột rnà thương hại.
- Thương hại gì, anh Hai đâu biết. Các chú nó chí thú lắm, rồi anh coi một ngày nào đấy, nếu lão còn ở đây thì lại không có khi nhà cửa của anh không vào tay lão mà xem, tụi Tàu có tiền mà bọn mình biết được.
- Sao lại không biết.
- Ơ kìa. Anh có thấy là hắn giữ từng cái đuôi chuột để có tiền không, hồi năm ngoái lão là người được thưởng một ngàn đồng vì giết được nhiều chuột đấy thôi, mình thì bao giờ nghĩ được những chuyện đó.
Xiêm đứng ra cửa tựa vào cột, Lai tay xách chiếc cặp da đang từ ngoài đường nhựa vào ngõ, hắn diện lắm, miệng hút thuốc lá phì phèo tiến về phía quán. Hắn mỉm cười nhìn mọi người rồi cất tiếng chào.
- Anh Hai, anh Tư, ông Hộ sao uống cà phê muộn vậy?
- Ờ, ở quê mà, có đâu mệt nhọc như anh.
Lai đưa mắt nhìn Xiêm, hắn kéo cái áo ni-lông cho thẳng ra, Xiêm ngó thấy cả chiếc may-ô, cả cái giấy năm trăm xanh để trong túi áo có gài chiếc bút máy nguyên tử vàng lóng lánh. Lai lấy làm khoái cô nhỏ:
- Cô hai không ra chợ sao?
- Chưa anh.
Xiêm biết Lai vẫn từng nhìn mình một cách chăm chú như thế mỗi lần gặp, nó vẫn chờ một hôm nào đấy Lai sẽ rủ nó đi Sài Gòn, nó sẽ chẳng ngẩn ngại gì mà bỏ phứt cái xóm nghèo đói này đi theo hắn cho thoát. Lai cũng đã nghĩ đến cái của lạ này rồi. Con nhỏ ở quê mà kháu tợn.
Chú Hai nhìn hai đứa rồi buột miệng kêu:
- Ở Sài Gòn vui lắm anh Lai nhỉ?
- Thì nhất định rồi, nhưng tôi cũng chán, muốn về đây ở quá.
- Thôi đánh đổi cho tôi đi.
Tư Đen cười ha hả, nước bọt văng cả ra mép. Ông Hộ Nhâm nói:
- Đầu tháng này tôi đi Sài Gòn đó, tôi đi hầu tòa về cái vụ cả Hoành đâm chết chú Nhai ở mương năm rồi. Đằng ông Bá Hộ bỏ tiền cho đi làm chứng mà. Kiện cáo nhiều khi đến phát mệt.
- Thế à, tôi về chuyến này cũng vài bữa mới đi.
Lai chào mọi người, ngó Xiêm rồi đi vào ngõ. Lão Chệt ưng ý dẫn ngay Lai xuống chỗ để chuột chỉ cho Lai xem:
- Mày xem, lần này khá chớ, có lẽ tao đi Sài Gòn vài bữa đã.
- Thôi mà, ông đi làm gì, tôi chưa đi ngay.
Lão Chệt ra ý không bằng lòng, lão đập que lên chiếc chuồng cho lũ chuột chạy loạn xạ và kêu chí chóe.
Chờ buổi trưa không ai, Lai ra nhà Xiêm, Xiêm ngồi phía ngoài quán hát.
- Cô Hai hát mùi quá, tôi muốn cô hát cho nghe.
- Ở Sài Gòn hay nhiều mà.
- Cô chưa đi Sài Gòn bao giờ à?
- Có chứ, nhưng lâu rồi, chắc bây giờ khác nhiều.
Xiêm đưa tay vấn lại mớ tóc, đôi vú nhọn ưỡn về đằng trước như muốn rách chiếc áo bà ba đen. Lai ngó vào cổ Xiêm. Hắn chụp lấy tay Xiêm nói nhỏ:
- Ưng tôi không? Đi Sài Gòn với tôi?
Xiêm rụt tay lại đỏ cả mặt. Lai cười, hắn dúi trăm bạc vào tay Xiêm.
- Tối chờ tôi nghe.
Xiêm không nói bỏ chạy vào trong nhà.
Tối khuya hôm đó khi cả nhà đã ngủ, Xiêm rón rén hé cửa ra ngồi ở hiên, Lai dắt Xiêm về nhà, hắn dẫn Xiêm xuống chỗ để chuột, trên đống cỏ khô hắn đẩy Xiêm xuống. “Nhưng anh đừng bỏ em - Sao lại bỏ - Nhưng ở Sài Gòn - Ờ anh mang em đi, anh mang em đi - ngoan anh yêu, - thế nào biết được em - cho em theo nghe, nhất định nghe - Chứ sao, anh có nhiều tiền... cứ yên”.
Lão Chệt thức dậy đi tiểu, lão ngó ra hai đứa, Lai giật mình buông Xiêm ra. Lão trông thấy nuốt nước bợt, lão tiến lên. Lai đứng ra ngoài dang hai tay.
- Tôi xin ông dừng làm dữ, người ta biết thì chết tôi.
- Mày để đấy cho tao.
- Không.
- Tao làm ầm lên bây giờ.
Xiêm cuống quít chạy ép mình vào chỗ tối. Lão Chệt xô tay Lai tiến lên. Lai thu hết sức đẩy, lão Chệt ngã vật xuống, đầu đập vào cột nhà nằm im không động đậy.
Hôm sau, khi lão Chệt tỉnh dậy thì Lai đã mang Xiêm đi Sài Gòn rồi. Chú Hai đi tìm con gái cả ngày không gặp buồn rầu mở la-de uống hết chai này sang chai khác say mèm.
Lai không trở về mang chuột đi nữa, lão Chệt chờ hoài không thấy, những đồng bạc cuối cùng lão đã hết, lão bắt từng chú chuột ra khỏi chuồng làm thịt rồi nướng mà ăn, lão nghĩ đến Sài Gòn mà thấy xa xôi quá. Lũ chuột ở trong chuồng đối với lão trở thành những người bạn độc nhất, ngoài thằng Lai ra còn có ai là người dặt chân đến nhà lão bao giờ. Lão bắt những chú chuột ra khỏi chuồng, lão cầm trên tay mà thấy tội nghiệp, hồi xưa lão có thấy tội nghiệp bao giờ, lão vuốt ve bộ lông, chiếc đuôi dài trơn trơn thú vị, có lúc mũi lão ngứa lão đã cầm cả đuôi một con chuột ngoáy vào lỗ mũi, một cảm giác nhè nhẹ dễ chịu, nhiều lần lão không dùng tay, cứ để yên cho chú chuột muốn làm thế nào thì làm, có con động mạnh vào tận trong làm lão hắt hơi túi bụi chảy cả nước mắt nước mũi ràn rụa, nhưng sau đó lão thấy khoan khoái dễ chịu. Lũ chuột đối với lão bây giờ thật đáng yêu, nó có cái gì đáng ghét đâu, nó cũng như người, chẳng qua hình thù nó khác. Nó cũng ăn uống, ỉa đái, sinh nở rồi chết, cũng kiếm ăn như người vậy, có điều lão Chệt yêu chuột, hình như chuột nó có thể sống với nhau cùng một đời sống, không có giai cấp chuột. Và nhất nữa thịt chuột lại có thể ăn được. Còn lão, lão chẳng có liên lạc với ai, thằng Lai chắc đang hú hí với con nhỏ quên cả lão, mà quên là phải vì nó có thể nào hú hí với lão được đâu. Cũng chả cẩn gì, bây giờ đã có chuột.
Trong cái xóm nhỏ bé ấy chẳng mấy khi người ta để ý đến nhau. Mỗi người nghĩ và lo lấy đời sổng của mình. Lão Chệt sống chết gì người ta cũng không quan tâm tới, và riêng lão cũng không nghĩ tới bên ngoài, trong ba chuồng chuột lớn, hơn ba trăm con đó lão ngắm nghía, sờ soạng chơi đùa khi nào đói lão lại bắt ra từng con nướng vào lửa xé ăn. Lão cũng chẳng cần phải nằm ở giường mệt lão lăn ra nằm ở ngay bên lũ chuột.
Một hôm lão thấy hình như lũ chuột đã có con đói lả và gầy còm đi nhiều, có con phát ghẻ lở rụng hết cả lông. Lão quyết định lựa những con gầy yếu thả ra nhà, lão lấy những quần áo cũ, giẻ rách chất từng đống rồi thả chuột vào đó, lũ chuột gầy ốm cứ quanh quẩn chẳng đi xa, nó bò từ chỗ này sang chỗ khác làm tổ ở góc nhà, có con đào hang, con cắp giẻ làm tổ, lão Chệt hiền từ bao dung đàn thú vật vô hại đối với lão.
Bỗng một hôm lão Chệt thấy tiếng chuột kêu giãy chết, từng đàn chạy trốn, lão thấy một con chó xuất hiện. Con chó có màu lông đen nhưng lù xù như chó hoang, gầy teo, nó đi khập khễnh như kẻ nghèo đói, trên một mảng mông lở loét đỏ lòm xem chừng khốn khổ lắm.
- Chào quý khách! Chào quý khách! Không bao giờ tôi lại được tiếp ngài. Ngài mới ở xa tới? Xin ngài cứ tự tiện. Nhà của tôi như nhà của ngài, lũ bè bạn chuột của tôi đây cũng vậy. Chắc ngài chỉ ghé tạm đây trên con đường đi tìm chân lý, bình định thiên hạ. Chả sao, ngài cứ tự tiện xơi những người bạn quý này nếu cần. Tôi cũng vậy...
Lão Chệt cầm một mảng thịt chuột nướng ở tay cho con chó ngửi ngửi, nó ngoạm một miếng nhai ngấu nghiến ra chiều khoái trá lắm, lão tiếp tục nhặt một ít bạn quý nướng vào lửa, con chó tiến đến gần, có lúc chưa kịp vứt ra nó đã vồ lấy, lão Chệt không lấy thế làm bực. Nghe chừng đã no bụng, chó ta khoanh tròn trên ổ rơm ngay bên lão Chệt ngủ.
Sự có mặt của con chó, lão Chệt thấy khoái hơn, nhưng ăn mãi thịt chuột lão bắt đầu thấy chán. Vả trong đám chuột đã bắt đầu có con sinh đẻ ra từng đàn chuột con. Lão nghĩ đến con chó. Tay phải lão Chệt có chỗ sưng lên và lở lói, con chó nhiều lần ngửi ngửi và liếm láp. Lão Chệt rùng người. Lão thấy lo sợ nghĩ đến chuyện một lúc nào đó con chó sẽ đè lão ra mà nhai, chỉ con chó là có thể thịt lão được, còn bầy chuột kia thì ăn thua gì. Chờ con chó ngủ, lão kiếm một cái chai để bên cạnh rồi cầm ở tay thu sức giáng một cái xuống đầu con chó. Chó duỗi hai chân giãy giãy lè lưỡi và sùi bọt mép. Lão Chệt mệt nhọc lắm mới kiếm được con dao mổ bụng chó, lão mổ bụng moi bộ gan nướng ăn, lão thấy tiết chó nóng và đặc sánh, lão thấy cổ khát nên vốc uống. Lão ưng ý về món ăn lạ kỳ. Lão vứt bỏ xác chó ra giữa nhà, lũ chuột kéo đến ngoạm.
Trong xóm người ta bỗng xôn xao về cái chết của hai cha con ông Hộ Nhâm, bệnh tình giống nhau và chết ngay, có người nghi ngờ nên kiếm bác sĩ về khám, người ta phát giác ra bệnh dịch. Số chuột ở trong làng tăng lên một cách ngạc nhiên, khi đó người ta mới nghĩ đến lão Chệt:
- Tại bây giờ không có ông ta nên chuột nhiều.
- Mà ông ta đi đâu ấy nhỉ?
- Chắc theo thằng con đi Sài Gòn rồi.
- Ê các ông có biết cái Xiêm không, chính nó theo thằng Lai đi đó. Tôi gặp chúng nó đi cặp kè ở Sài Gòn mà...
- Còn cái bệnh dịch hạch thì sao?
- Chả sao, chắc họ giàu thì chết, chứ mình thì đến đập đầu vào đá cũng không chết.
Người nói câu đó là Tư Đen, hai hôm sau anh ngã bệnh rồi chết. Thêm một ít người chết nữa làm cho cái xóm nhỏ bé ấy bắt đầu run sợ, không ai hiểu căn bệnh ấy rồi sẽ ra sao. Người ta nhắc lại chuyện bác sĩ hôm trước ông ta bảo tại chuột, bệnh nguy hiểm ông lo lắng bỏ đi ngay.
Chuột ở đâu bỗng chạy ra cùng khắp các ngõ, chỗ nào cũng thấy chuột nghênh ngang, thấy người không muốn chạy. Những chú chuột lở lói xuất hiện thêm nhiều, không ai ra khỏi nhà, thấy chuột không ai dám động đến.
Một hôm có một đoàn người mặc áo trắng về với một chiếc xe, họ căng một nhà bạt, họ mang ống thuốc đi xịt vào mọi nhà, từng đàn chuột lăn ra chết được nhặt vào một chỗ mà đốt, mọi người bắt buộc phải chích thuốc và được tập trung vào một chỗ.
Thằng Lai dẫn vợ nó về lúc đó, Xiêm đã có mang được mấy tháng và bị dẫn đến chỗ ở tập trung. Chú Hai nhận ra con mình bưng mặt khóc. Lai không thấy bố mới hỏi mọi người:
- Ông cụ tôi sao không có ở đây?
- Tôi tưởng ông theo anh đi?
- Không.
Lai vội trở về nhà cũ, vừa tới cổng đã ngửi thấy mùi hôi thối xông lên, hắn ta hoảng hồn xô cửa vào: một cảnh tượng khủng khiếp trước mặt, trong nhà chuột ở lúc nhúc, lão Chệt nằm ở ổ rơm rên khì khì, tay lão còn cầm cả một con chuột như mới nhai dở, môi mép lão ta máu me, quần áo rách rưới chuột bò hiền từ ở cổ tay, rúc cả trong quần áo. Lai kêu:
- Ba, ba.
Lão Chệt mở mắt rồi lại nhắm nghiền, mãi lão mới nói:
- Mày về lấy chuột hả, không được nghe, nó là bạn của tao chứ không phải của mày. Đừng đụng tới nó, nếu không tao giết mày như con chó cho chuột nó ăn.
- Chuột nguy hiểm lắm. Bệnh dịch hạch đó.
- Dịch hạch! Mày nói chi lạ. Tao chết đâu, thế từ bao nhiêu lâu nay họ ăn thịt chuột cả sao không chết? Đừng bịp tao để bắt chuột đi mà bán. Nhiều lắm, bây giờ thì dễ làm ăn. Hừ, mày mang con nhỏ đi bỏ tao lại mà. Chuột mới chiệc gì. Nhưng chuột nuôi tao và cũng đã nuôi mày. Con nhỏ đâu?
- Tôi mang nó về đây định ở với ba, nó mang bầu rồi, ba sẽ có cháu.
- Tao muốn có con, có con của tao kia. Mày muốn lập nghiệp với đàn chuột này à?
Lai không nói, nó trông thấy lũ chuột mà tiếc rẻ, lão Chệt bỗng nhắc hắn chuyện làm ăn. Hắn mang lão Chệt ra cho người ta chữa, vị bác sĩ trông thấy thất kinh, ông không thể nào ngờ được một người lại có thân hình kỳ cục như thế, bệnh tình rất nặng mà chưa chết. Lúc bấy giờ người ta mới rõ trong mấy tháng trời ông ta vẫn ở nhà. Vị bác sĩ hỏi:
- Vậy chứ sao ông sống?
- Chuột, chuột... xưa kia tôi bắt chuột bán lấy tiền sau chuột không bán được tôi nướng ăn, rồi sống. Ông xem nhà tôi toàn chuột, chuột là bạn của tôi, còn ông?
- Chuột nó sắp giết ông đó.
- Không, tôi sống với chúng nó. Tôi có bệnh gì đâu. Ông phải biết tôi sáu mươi tuổi đầu chưa bao giờ phải uống một viên thuốc, mắt không đau... Rồi ông coi tôi thì biết.
Thằng Lai nghĩ tới mối lợi về chuột, nó tình nguyện đi bắt chuột, nói là nhốt vào một chỗ rồi mang ra bờ mương đốt nhưng nó đã tìm cách mang chuột lén ra khỏi vùng chẳng ai biết đấy là đâu. Lai đi mấy chuyến đều xuôi nhưng rồi hắn ngã bệnh và chết. Cái Xiêm khóc mếu nghĩ về cái thai trong bụng. Lão Chệt dỗ:
- Đừng lo con, về ở với ba, ba nuôi. Nó là thằng bất hiếu đáng kể gì. Tại nó bắt chuột mang bán nên mới chết như vậy đó.
Tiếp tục những người trong làng theo nhau lăn ra chết, một vài kẻ trốn đi - còn thì ai cũng như chờ lúc để lan ra. Bác sĩ gần như bó tay trước tình trạng nguy kịch. Ngay trong số y tá cũng có người bỏ mạng. Sau một thời kỳ truy nguyên người ta mới hiểu ra rằng người gây ra bệnh dịch, hay là nguyên nhân khiến có bệnh dịch phát khởi là bởi những con chuột lão Chệt đã nuôi nấng, nhưng lão sống dai quá. Lão nặng nhất nhưng vẫn sống, vì lão đã quen với bệnh.
Khi Xiêm nhuốm bệnh đoàn y tế mới nghĩ ra giải pháp muốn mang bệnh nhân ra khỏi vùng, nhưng điều đó không được phép vì người ta hay sợ bệnh lan truyền.
Hôm Xiêm hấp hối lão Chệt xin được đến ngồi bên, mọi người bỏ chạy, lão hát líu lo cho Xiêm nghe như một điệu kèn Tàu. Xiêm hỏi:
- Sao ông không chết?
- Ta chết sao được. Chuột là bạn ta.
Khi Xiêm tắt thở lão Chệt vuốt mắt và để tay lên chiếc thai lẩm bẩm:
- Cháu ta mà. Nếu là con ta đâu có chết.
Tin tức vùng dịch hạch được lan truyền toàn cõi làm mọi người xôn xao trước cái chết. Tất cả mọi người ở trong vùng dịch không được phép ra ngoài, (nhưng nhân loại ngu dần có biết đâu dịch hạch vẫn lan truyền) cả ngay những người trong đoàn y tế. Người ta đã nghĩ đến chuyện thiêu hủy vùng nhuốm bệnh. Trong đoàn y tế chỉ còn có bốn người phụ và vị bác sĩ, đường tiếp tế bị cắt đứt không còn gì liên lạc với bên ngoài, hàng ngày có một chuyến máy bay thả dù xuống một ít lương thực. Trong bữa cơm ăn ngày thứ sáu có món thịt làm cho người nữ y tá khóc, một chàng thanh niên cầu nguyện lúc ăn nói với vị bác sĩ là cô ta theo đạo, thứ sáu kiêng thịt, và nhất nữa cô muốn rời khỏi vùng này:
- Thế nào tôi cũng phải về còn vị hôn phu của tôi, còn mẹ tôi, em tôi... không ở đây được, sớm mai tôi về, tại sao người ta lại bắt mình chết thêm vào số người lâm bệnh ở đây. Tại sao?
Vị bác sĩ trầm ngâm tháo gọng kính ra khỏi mắt:
- Mấy đứa cháu của tôi chắc nó đang nói đến tôi, mắt tôi cứ nháy hoài. Tôi, tôi ở lại được.
- Không, bác sĩ cũng không thể ở lại được, không có ích gì, rồi bác sĩ cũng chết.
- Tôi già rồi. Sự đời tôi nếm cả rồi. Các người còn trẻ, phải trở về, nhất định phải về.
Vị bác sĩ ngồi nhìn từng người và xin mọi người nói lại tên mình một lần cho ông nghe. Người thứ nhất 25 tuổi, theo đạo, đã có lần đi tu, rồi bỏ ra sống với mẹ già. Người thứ hai: - “Chính ra tôi cũng chẳng biết nên về hay nên ở. Về có ích gì? Ở có ích gì? Tôi 27 tuổi, cha mẹ chết không nhớ ngày. Tôi chẳng bao giờ muốn quyết định chuyện gì? Tôi đến đây xem cái chết đến với mọi người ra làm sao, nhưng tôi thấy cũng chẳng lạ. Lúc nào con người cũng hèn. Nhất là đối với cái chết. Tôi cũng cảm thấy cái đó. Nhưng có lẽ khi ra khỏi vùng nhuốm bệnh tôi lại muốn trở lại hoặc mong cho bệnh lan truyền ra...”. Người thứ ba là một sinh viên ngành thuốc, anh ta nghĩ rằng đã được tiêm thuốc trừ bệnh như vậy việc đến đây chẳng can hệ gì, mà chỉ muốn tỏ ra mình là một con người có lòng nhân đạo, thế thôi. Còn cô y tá, chính khi cô quyết định đến đây là vì cô đã giận dỗi vị hôn phu bởi một nguyên do là vị hôn phu đó đã ôm hôn một người đàn bà khác mà cô bắt gặp. Còn vị bác sĩ, ông nói điềm đạm, ấm áp: “Tôi muốn chết, sự đời tôi nếm cả rồi. Tứ đại đồng đường còn gì”.
Ngày hôm sau trước khi đoàn y tá bỏ đi, vị bác sĩ đã yêu cầu mọi người ăn một bữa cơm chung với các bệnh nhân. Còn cả thảy mười bốn người, họ đều còn sức để ngồi vào ghế. Họ đã cầu nguyện. Trong khi đang ăn lão Chệt nhăn nhó cái mặt lở loét đứng dậy khóc tru tréo và nói mếu máo không ra lời:
- Các người đi hết cả thì ai chôn chúng tôi.
Mọi người nín thinh không nói gì.
Sau bữa ăn vị bác sĩ cất giọng hát, ông giảng giải cho mọi người nghe về khúc hát đó. Khúc hát mà hồi trẻ ông vẫn hát, bài hát thật vui. Vị bác sĩ trong con mắt mọi người như hồi sinh lại, khi hát ông vỗ tay, mọi người cũng vỗ tay theo khiến họ thấy xa cách sự chết. Vui miệng vị bác sĩ còn kể một câu chuyện, đó là chuyện hồi ông trời còn ở một mình, ông buồn nên muốn tạo ra một giống vật cho vui, ông đặt tên vật là: người, ông ta lấy đất nặn chân, tay, mình mẩy, nhưng thuở đó thời gian ngắn, ông bắt đầu từ sớm mà mãi tối chưa xong không kịp làm đầu phải để đến hôm sau. Sáng đến, ông thấy con vật bị phá, cứ thế liên tiếp nhiều ngày, ông tức bực nói lớn: “Ai làm cóng việc ám muội này?” - “Thưa tôi”. Ông trời nhìn ra đó là ông đất: “Sao lạ vậy?” - “Vì đất là của tôi”, ông trời nghĩ ra nên ôn tồn: “Vậy ông cho tôi mượn được chứ?” - “Được, nhưng nhớ trả lại tôi”.
Mọi người vui vẻ nghe câu chuyện. Sau đó bốn người y tá đi khỏi. Nhưng họ đã không thoát được vòng vây. Những người ở ngoài vòng vây buộc họ phải ở đó.
Sau đó ít lâu vùng bệnh dịch chỉ còn có hai người. Vị bác sĩ đã gần như mất trí. Lão bò lê bắt chuột cùng khắp và xé ăn, chuột sinh sản nhiều làm cho trí óc lão Chệt cuống quít, “Ức quá, thằng Lai không còn, nếu không nó có thể giàu lớn, bây giờ không cần dăng lưới nữa. Còn có hai người thì làm sao ăn hết số chuột này”. Lão Chệt hỏi vị bác sĩ:
- Chắc ông tiêm và uống hết cả thuốc nên sống sót phải không?
- Ồ tôi là dân giết heo mà. Còn ông?
- Tôi à? Tôi là giám đốc một hãng kỹ nghệ đồ hộp. Đứa con lớn làm luật sư, đứa con nhỏ du học, đứa con gái thì lấy một vị hoàng tử.
- Con tôi hai đứa đầu làm đảng cướp giết người, hiếp đàn bà bị treo cổ. Đứa cháu đích tôn rơi xuống sông chết. Tôi định tới đây bắt chuột về làm thịt. Thịt chuột ngon và lành ghê lắm.
- Trời ơi, ông nói làm tôi ghê cả miệng, thịt chuột mà ăn gì được, thịt người họa may còn ngon. Tôi có bao giờ động đến miếng thịt. Mọi người họ đi đâu cả nhỉ?
- Họ chết rồi. Tôi trông thấy họ chết mà. Về sau này tôi thấy họ thật đáng vui. Lúc trước họ khóc sau rồi cười, có người tự chặt chân, chặt tay, có người đập đầu vào đá, có người mổ bụng. Họ mong cái chết nên không muốn đợi chờ mất thì giờ. Thế mà họ cứ bảo tôi trốn đi mới lạ chứ. Họ tưởng tôi khoái sống lắm. Còn ông, chính ông đã làm cho họ chết.
- Chính tôi? Ai bảo vậy?
- Thôi mà, ông cứ đùa, ông tưởng chết chứ thực ra họ đã ra khỏi vùng này rồi. Họ đang vui vẻ với mọi người. Ông nhắm mắt lại mà coi.
Lão Chệt chờ đợi, khi vị bác sĩ nhắm mắt lão cầm cục đá đập vào đầu, ông ta lăn ra chết. Lão Chệt bắt chuột ấn vào miệng vị bác sĩ.
- Ăn đi, thịt chuột ngon lắm.
Lão Chệt đã tìm cách bỏ vùng dịch thoát đi. Tôi viết câu chuyện này theo một người điên vửa kể lại. Chẳng hiểu có phải người điên này là lão Chệt không, có khi tôi thấy hắn bắt chuột ăn, nhưng dịch hạch vẫn đang lan tràn. Thật tối phi lý...
1961
Mỗi người
Lê bế đứa nhỏ trên tay cho nó dựa lưng vào ngực. Đứa nhỏ ba tháng nhưng có phần khỏe và cứng cáp, nó đưa bàn tay mặt lên miệng mà bú. Lê cười trên đôi khóe mắt:
- Anh sắp đoạn tang rồi.
- Thế à.
- Anh làm bộ hoài. Không sắp đầy năm rồi sao.
Tôi gật đầu. Đã sắp hết một năm. Lúc Lê đi lấy chồng, tôi có nói, trong vòng một năm tôi sẽ không yêu ai, hoặc cụ thể hơn không lập gia đình, tôi gọi đó là thời gian chịu tang. Ăn hỏi được ít ngày, Lê tìm gặp tôi, tôi nói lại điều này cho Lê nghe. Lê khóc tấm tức: Anh cho là em chết rồi phải không? Mà có lẽ em chết rồi thật. Tôi tàn nhẫn: đối với anh, em đã chết rồi - Anh tệ với em quá. Anh có muốn em trả trầu cau cho người ta rồi lấy anh không. Câu hỏi làm tôi lúng túng, tôi lặng đi rất lâu. Tôi thấy rõ: mất Lê tôi buồn, nhưng để quyết định thì tôi chần chờ. Trước đó tôi có thể cưới Lê mà không gặp khó khăn gì, nhiều sự thuận tiện là khác, nhưng tôi vẫn kéo dài thời gian chờ đợi. Khi Lê hỏi ý tôi trả trầu cau, tôi lại lưỡng lự, tôi nói: Thôi mà, gây ra làm chi, mệt quá. Tôi muốn nói thêm: Em lựa chọn hơn là em yêu. Nếu thật yêu anh em đã chẳng làm vậy. Tôi cho đó là lý do, lý do Lê không thật yêu tôi tha thiết. Nhưng còn tôi, tôi có yêu Lê tha thiết không? Tôi lúng túng, câu trả lời chừng như là: không tha thiết. Mình đã không tha thiết mà lại đòi ở người khác tha thiết, tuyệt đối. Tôi thấy tôi vô lý và ích kỷ quá lắm. Đã sắp được một năm. Tôi nhẩm tính. Một năm tôi vẫn chẳng có gì đổi khác. Chỉ có Lê với cuộc sống riêng: một người bạn được gọi là chồng, một đứa nhỏ được sinh ra, với một cái tên riêng và được gọi là con. Rồi nó sẽ lớn. Đời sống giản dị và bình thường.
Tôi cầm tay đứa nhỏ kéo ra khỏi miệng và lắc lắc, đôi mắt nó màu hạt dẻ nhìn tráo trâng vô nghĩa. Miệng nó nhoa nhuếch nước rãi. Chân tay nó cử động liên hồi như cùng một nhịp. Người ta ở trạng thái gỗ đá rồi trở thành yêu tinh. Bây giờ nó biết gì, một người đàn ông trước mặt nó, lớn nó sẽ gọi là bác nếu nó và người đàn ông còn sống. Nó biết đâu người đàn ông đó xưa kia, phải rồi, xưa kia là người tình của mẹ nó, khi nó lớn nó sẽ hiểu nhiều chuyện, nó cũng sẽ yêu đương, lấy vợ và có con. Thật kỳ cục. Nhưng còn cuộc chiến 20 năm này.
Đứa nhỏ giãy và khóc, Lê nựng nựng. Lê nói:
- Đáng lẽ nó là con của anh đó. Thiệt chứ. Chứ ngó bộ anh định ở góa thiệt à.
- Có thể lắm. Để rồi xem đã, biết đâu được.
- Thôi em cho cháu về đây, anh nhớ chưa.
- Nhớ, nhưng mà ngại quá.
- Ngại, cái gì anh cũng ngại. Có ai đâu, chỉ có mấy người quen, anh cũng biết cả rồi, lâu lâu ăn uống cho nó vui.
- Ngại ông ấy ghen.
- Có anh ghen thì có, nhà em không ghen đâu, người hiền như cục đất. Anh có lại không - Lê nói như ra lệnh - ngoắc tay đây.
Tôi cười và đưa ngón tay trỏ ra ngoắc.
- Ngoắc thì cứ ngoắc, nhưng đến hay không chưa biết.
- Xịt anh đi, bây giờ anh làm tàng quá, thế mà xưa kia thì làm bộ tha thiết lắm, tưởng chết được mà vẫn sống nhăn, béo tốt mập mạp ra nữa. Làm bộ thật.
- Chứ không lấy được nhau người ta chết cả sao, chẳng lẽ không buồn, nó kỳ quá. Phải không. Thì cũng bộ tịch này khác cho nó đẹp.
- Cái gì anh khôi hài cũng được.
Lê xốc đứa nhỏ bế vác lên vai. Bỗng Lê nhíu lông mày nhìn tôi chừng chừng:
- Anh mỗi ngày một chua chát ra. Rồi anh sống mãi như thế này được sao.
Lê đội nón lên đầu rồi xách lấy cái giỏ và đi ra cửa, ra hiên Lê còn dặn:
- Chiều em một chút, nhớ đến, anh không đến hóa coi rẻ em quá, nhà em cũng hợp với anh mà. Anh cứ ru rú thế này rồi điên cho mà coi.
Tôi đứng nhìn Lê leo lên chiếc xe xích-lô đứng đợi ở đó. Mới hôm nào đây, thoáng một cái, một đứa con và một đời sống thay đổi. Tôi đứng dựa ở cửa nhà nhìn ra nơi đường rầy xe được đắp cao lên, mé bên kia nhô lên hai ba chiếc cột giăng dây ăng-ten, buổi chiều vàng vọt. Đã lâu rồi những chuyến xe lửa không còn ngang qua. Bỗng tôi thấy nhớ chuyến tàu những toa xám, những sớm tinh mơ và buổi chiều chạy ngang qua, trẻ con trong xóm chạy ra la thét, vẫy tay, ném đá... chuyến tàu đi và chưa bao giờ dừng lại ở chỗ này. Bây giờ đường rầy bỏ hoang, chiều chiều những đứa nhỏ ra thả diều và một ít người ra ngồi hóng mát. Tôi đã quen thuộc với đời sống kéo dài tạm bợ. Sống chung với gia đình anh chị Cương nhưng chừng như tôi xa lạ hơn là một người ở trọ. Tôi trở vào, chị Cương vừa sửa soạn nấu cơm vừa bế thằng nhỏ, tôi khép cửa và leo lên gác. Từ phía ruộng muống từng đợt gió nhẹ thổi qua thoáng mát nhưng tanh mùi bùn. Tôi bỏ người nằm xuống ghế bố. Bây giờ Lê đã có một cuộc sống khác.
Tiêng chân người chạy mạnh ngoài ngõ, tiếng đạp cửa mạnh làm tôi giật mình trở xuống. Anh Cương đã đứng ở cửa mặt tím ngắt tay cầm thanh củi lớn. Chị Cương đang nằm ở giường với đứa nhỏ nhỏm người bế con vào lòng:
- À con đĩ... con đĩ, mày làm nhục ông...
Vừa nói, Cương vừa nhảy bổ về phía vợ giơ cao thanh củi quất xuống một cái bốp mạnh, vợ Cương tru lên:
- Trời ơi, nó giết tôi...
Chị bế con đứng lên định chạy nhưng một thanh củi nữa giáng xuống vai. Đứa nhỏ khóc chu chóe, Cương vứt thanh củi rồi túm lấy vợ xô vào tường, chiếc bàn con đổ làm vỡ hết ấm chén, chị Cương ngã theo, Cương xấn tới dằng lấy đứa con vứt lên giường làm cho nó khóc ngăn ngắt không ra tiếng. Tôi vội chạy xuống, Cương túm lấy tóc vợ bắt đứng. Hắn chừng mắt về phía tôi:
- Mày muốn bỏ mạng thì ra đây.
- Anh bỏ chị ấy ra.
- Câm, câm ngay mày muốn chịu đòn thế mạng hả? Nó làm nhục tao mà, để tao dạy nó.
Hắn vừa nói vừa dập vợ vào tường. Chị Cương hết kêu được rồi, chiếc áo rách hở cả ngực, Cương cầm tóc cuộn vào tay rồi lôi ra một góc, hắn giật sợi dây điện trói tay vợ lại.
- Anh định giết chị ấy sao?
- Tao làm thịt nó nhậu nhẹt chơi.
Hắn bỏ vợ nằm đó rồi tiến đến phía tôi, tôi lui vào, hắn đóng cửa lại. Đứa nhỏ ngồi trên giường vẫn khóc, ngoài cửa hàng xóm kéo đến đông kịt. Trẻ con chun nhau vào cửa. Cương đóng cửa lại và khóa một cách cẩn thận. Tôi muốn ra nhưng không còn đường. Tôi la lên:
- Bà con ơi cứu chị ta với...
Nhưng chẳng ai trả lời. Chị Cương lúc đó đã tỉnh, chị mở mắt và tay thì van lạy:
- Tôi lạy anh, tôi lạy anh.
- Không, không lạy gì cả. Mày làm nhục tao mà. Sao tao đang uống với anh em mà mày lại ra kêu với réo, mày không coi tao ra gì mà...
Chị Cương vùng vẫy la lối, ngoài cửa có người đập nhưng vô ích, Cương bắt vợ đứng trên một cái ghế thấp hắn lấy dây điện treo tay lên xà nhà. Hắn dùng hết sức buộc rồi hắn kéo chiếc ghế dưới chân. Chị vợ lủng lẳng như một con thịt không nói được nữa, cả thân chị giãy lên, càng giãy tay trói càng thít lại và thân càng bị kéo dài xuống, chị rên ư ử như một con vật bị chọc tiết. Đứa nhỏ vẫn khóc. Tôi đứng trong cửa sổ ngó ra:
- Anh định giết chị ấy thật sao?
Hắn lặng lẽ lấy que củi đánh vào mông, mỗi lần thanh củi phạt tới thân thể người đàn bà lại oằn lên, như một con giun đất bị dầm dưới ngón chân... Tiếng phía ngoài vang dội. Hắn cầm con dao ra la lớn:
- Đứa nào muốn bỏ mạng đây...
Tiếng động ở ngoài lại ngừng, những người đứng ngó nơi cửa sợ vội chạy rạp đi.
- Anh đánh chị ấy chết ra đó thì sao?
- Chết thì chôn, dễ tao khoái sống với nó hả? Mày đừng lo, tao chỉ đánh cho nó mang tật ra mà không làm nhục tao thôi. Mày yên trí, tao đánh cả hàng vạn đứa may mắn mới có một vài đứa chết thôi, cho nó đi “tàu bay” thế này là nhẹ lắm...
Hắn tiếp tục đánh cho đến lúc chị vợ hết động đậy rồi mới cởi trói, hắn để người đàn bà rơi xuống như một bao gạo, hắn cởi dây đạp cho nằm ngửa ra rồi lấy chai nước đổ lên mặt, mớ tóc dài của người vợ xõa ra trên vũng nước, hắn đạp cho vợ một cái:
- Lần cuối tao tha chết cho.
Hắn vuốt mồ hôi trên mặt rồi mở cửa đi ra, người đứng phía ngoài bỏ chạy cả. Bà Nhâm bên cạnh nhà chạy sang, tôi kêu bà mở cửa giúp:
- Trời Phật, ba hồn chín vía con mẹ Cương.
Tôi tiến đến lắc chị ta, chị còn thở, và dần dần cử động cái đầu rồi mở mắt, chị ta bắt đầu rên lại, rồi khóc. Tôi bế đứa nhỏ ở giường lên dỗ nó, đứa bé khản đặc lại mắt đỏ hoe và ướt dẫm mồ hôi chua lòm. Chị Cương đã tỉnh lại. Chị bắt đầu than van.
- Sao nó không giết tôi cho xong...
Tôi giao đứa nhỏ lại cho chị rồi vào nhà mặc áo, tôi ra cửa người ta vẫn bu quanh lại bàn tàn, hỏi han, tôi nói:
- Không việc gì, không việc gì...
Vừa nói tôi vừa đưa tay lên khoát khoát, đám người nhìn tôi ngơ ngác, có tiếng nói một cách mai mỉa:
- Không việc gì, anh ngó hắn đánh chị anh như vậy mà lặng thinh được à.
- Sao thằng cha nó ác thế nhỉ... Có lúc hắn đánh chết vợ mà không ai làm gì được ta...
- Chuyện vợ chồng người ta, đèn nhà ai nhà đó rạng, chỏ mồm vào mang vạ... ngu, ngu...
Tôi rẽ đám người đi ra khỏi ngõ. Chuyến ô-tô-ray chạy qua trên đường rầy, tiếng bánh sắt đổ sầm sầm nhức nhối, một người đứng nơi đầu toa xe vẫy tay, đám trẻ chạy bên đường la thét đuổi theo xe một cách bất lực.
Tôi đi về phía lò heo rồi rẽ ra đường nhựa. Một người đàn bà ngồi nơi góc cất tiếng chào, tôi mỉm cười và cúi đầu, một chiếc xe lôi nổ máy inh ỏi phun khói đen đặc dừng lại, anh Tư Đen ngồi trên đó hỏi lớn: Lên phố đó a cậu Hai, trời nóng thế này mà ra bờ sông thì khoái lắm. Tôi nói: Nực quá mà, anh đi bỏ heo về đó à?
Tôi leo xe buýt nơi trạm người bán vé hỏi: Đi Sài Gòn anh, tôi gật đầu cầm tấm vé giắt vào tay áo. Đã nhiều lần tôi cứ leo xe buýt như thế này lên phố quanh quẩn một chút cho tới tối mịt mới trở về nhà. Tôi đã nhiều lần tính tìm một chỗ ở khác nhưng mẹ tôi không bằng lòng vì mẹ tôi muốn tôi ở nhà của người anh con nhà bác, đó là anh Cương, mẹ tôi bảo ở đó còn vài bà con nhờ nhau được rồi còn khi trái nắng trở giời, nhưng điều chính mẹ tôi không chịu nói là ở đây tiền bạc đỡ tốn, mỗi tháng mẹ tôi chỉ phải trả cho chị Cương sáu trăm đồng. Căn xóm tôi ở xưa kia là một bãi rác của đô thành, phía trong là một con rạch sình ngày nay đã đầy nhà cửa, căn nhà làm bằng ván, một bên là đường xe lửa đi miền Trung, một bên là lò thịt heo, để ra phía đường chính vào Sài Gòn có thể đi nhiêu lối: hoặc men đường tàu ra cổng xe lửa, hoặc đi ra cư xá hỏa hoạn, hoặc theo đường nhựa nơi lò heo. Ngược lại có con đường tắt qua phía ga xe lửa cùng với những ao cá có nhà cầu bắc phía trên như những nhà chòi. Những người ở trong xóm một phần lớn làm nghề hái rau muống hoặc hàng thịt, một ít người làm thợ hồ. Căn nhà tôi ở chỉ hẹp có bốn thước ngang được làm trên sình, phía sau thông ra ruộng, nhà đó không phải của anh Cương, anh ta thuê lại của bà Thạch, bà ta ở sát ngay bên chung phía sau với căn nhà này. Anh Cương hiện thất nghiệp, xưa kia làm Phòng nhì cho Pháp, vào Nam theo Bình Xuyên, sau hồi Bình Xuyên anh lấy vợ và sinh được đứa con gái ba tuổi đó.
Trước đây anh Cương làm cho một hãng xe đò chạy lục tỉnh nhưng sau một tai nạn, anh phải ra tòa và từ đó thất nghiệp luôn, ít lâu nay tôi thấy anh la cà với mấy tay anh chị ở ngoài đầu xóm, mỗi chiều tụm năm tụm ba nhậu đế, chị Cương trong một vài lần xô xát to tiếng đã nói ra rằng: anh Cương là một tên đầu trộm đuôi cướp, cách thức nói chừng như để ám chỉ đời sống anh Cương hiện nay, tôi mơ hồ hiểu về những tiền bạc lâu lâu anh Cương mang về cho vợ, những hôm ấy anh ta say sưa hơn bao giờ hết, mặt anh ta đã xám lại xám đi, môi đen ướt rãi và đôi mắt ngầu đỏ đã nhiều lần làm tôi kinh hoàng với những trận đánh vợ như đánh kẻ thù, tôi nghĩ chắc đó cũng là một thói quen của nghề nghiệp để lại. Đời sống và những thực tế kỳ cục vẫn làm tôi choáng váng liên hồi, chừng như không còn một trật tự nào nữa, những trật tự tôi được học hỏi như ở một thời nào đã xa lắm. Và còn lại đâu nơi cuộc sống một ít lương tâm riêng rẽ. Lê đã nhìn vào tôi rất lâu: - Chừng như lúc nào anh cũng đang đi tìm một cái gì. - Tìm một cái gì, em nói như tiểu thuyết. Đi tìm em đó. Câu nói đó tôi nhớ, nhớ vì lần Lê hỏi vào lúc Lê phải quyết định lập gia đình. Tôi có lý do muốn kéo dài, một là hoàn cảnh tôi chưa muốn bỏ ngang những dự định, sau là chừng như tôi còn muốn thử thách. Nhưng nếu người ta cũng thử thách mình thì sao? Sau này tôi mới hỏi tôi thế. Và Lê quyết định mau chóng tàn nhẫn. Con gái có thời đâu người ta cứ đợi mãi rồi mình không lấy người ta thì sao. À, phải rồi. Lê kể chuyện người chồng tương lai cho tôi nghe: một người vất vả từ nhỏ, phải nuôi mẹ già, mấy đứa em nhỏ, đã đi làm và cần có một người vợ để trông nom gia đình. Lê nói giọng chắc chắn ra vẻ người lớn: anh ấy tha thiết chuyện vợ con lắm. Câu chuyện đó mới đầu tôi cho là Lê làm cách thử tôi, nhưng rồi hóa thật. Lúc còn đó tôi chẳng tha thiết, nhưng mất nó đi rồi tôi thiếu một cái gì. Nhìn vào đời sống của vợ chồng anh Cương tôi lại thấy khác, nào có sung sướng gì. Mỗi kẻ riêng ra một số phận, và một cô đơn. Tôi bảo Lê: Mong cho chồng em là một người hiền lành.
- Anh làm như anh là người hiền lành lắm ấy. Chồng em là phải chiều nếu không em bỏ luôn.
- Ấy đừng nói trước. - Anh đừng dọa em, rồi anh coi. Thoáng Lê đã có một đứa con, và đời sống êm đềm, tôi yên tâm. Với lời trách cũ: nếu em khổ em sẽ oán anh. Chắc chắn bây giờ Lê không còn oán tôi. Nàng đã lựa trúng một lô độc đắc, hoặc ít nhất là một lô an ủi.
Chuyến xe đã mang tôi tới trung tâm thành phố. Bây giờ làm gì. Tôi vẫn ngại phải chứng kiến những cảnh thương tâm. Ra khỏi nhà là tôi muốn bỏ chạy để khỏi phải nghe tiếng khóc tiếng kêu. Tại sao hắn có thể đánh vợ hoài như thế được. Bọn đàn ông có vẻ bần tiện. Có lần tôi hỏi đùa anh Cương - anh ta đã cười:
- Lâu phải đánh nếu không vợ nó cưỡi lên đầu ấy, mà cậu chưa có vợ làm sao hiểu được...
Rồi tôi cũng phải đánh vợ? Và tất cả mọi người đàn ông khác? Có vậy sao? Còn người đàn bà thì sao? Chẳng hạn: ai cũng ngoại tinh? Tôi tự mỉm cười nhạo mình. Tôi bước đi long rong ngó ngàng cái này cái khác. Người ta đi đi lại lại nói cười. Mình cũng như họ. Rồi mình cũng vô nghĩa như thế. Tôi chẳng còn thấy gì gọi là ý nghĩa nữa. Rồi lớn lên, ra đời, kiếm tiền, vợ con rồi lăn ra làm cục đất. Cũng hay hay. Tôi đi một lúc thấy mỏi chân liền ngồi xuống ở cổng một nhà băng, lúc sau đi nữa. Ngang qua một tiệm cà-rem, tôi mua một cái vừa đi vừa ăn rồi trở lại bến xe. Người ta như thác lũ. Chuyến xe chạy trong buổi chiều oi bức. Về tới đầu ngõ trời đã nhá nhem, tôi ngang qua lò heo và dừng lại nơi chỗ một đám đông người đang vây quanh một con trâu điên đứng sững như một khối đá, như một khối đá đen.
Buổi chiều đã mất hẳn ánh nắng, khu nhà ga, những mái nhà xi-măng với bốn chiếc cột sắt cao có gắn đèn đỏ đã bật, thân cột mỏng như một vệt bút chì tô trên một nền giấy hoen ố. Một khoảng sáng loang ở phía sân máy bay nhờ nhiều ngọn đèn được thắp ở đó. Nó đứng đó không nhúc nhích, lầm lì một vẻ thách đố. Xung quanh khoảng đất trống hai mặt của hai dãy nhà ngó ra, đèn sáng không đều phía trong những khuôn cửa, ở một đầu dãy có một ngọn đèn được thắp ngoài hiên nhưng một lùm cây che khuất ánh sáng. Căn nhà dài của lò heo chỉ có một ngọn đèn vàng treo lơ lửng soi trên lưng bốn con trâu, một con bò vàng già bụng lép kẹp với hai gò mông trơ bạnh xương lớn. Một con trâu nhỏ nằm, ba con kia chụm đầu vào chiếc cột xi-măng, chúng cùng bị buộc vào đó bằng những dây xích sắt. Nền xi-măng ướt phản chiếu ánh sáng không đều vì rác rưởi. Nhà biến điện máy chạy kêu o o, bên giếng nước có một đôi thùng sắt để đó và chiếc đòn gánh bỏ rơi dưới nền. Một thằng nhỏ tay bịt mũi kêu với đứa bạn đứng bên: về mày, hôi quá trời, đến điếc mũi mất. Chúng kéo nhau đi ra. Nó vẫn đứng không cục cựa, đầu cúi xuống, chân như chôn sâu xuống đất.
Nền trời màu chì đục úp xuống. Tiếng thở của nó nặng nhọc và dồn dập, đôi mắt đỏ đã bị bóng tối che khuất, nó đã thấy những cánh đồng cỏ xanh nào, những cánh rừng nào, những đồng ruộng bát ngát màu mạ xanh hay lúa vàng. Bây giờ nó đứng im, bóng tối vây quanh, căn nhà gạch chạy dài trống rỗng, ánh đèn yếu trong những khuôn cửa, đầu những cột đèn những bóng người thì thầm vây xa. Hai người đàn ông ngồi nơi bậc thềm vào cửa nhà biến điện, một người nhỏ cởi trần, chiếc quần lính cũ ngắn; người thứ hai đội một chiếc mũ ni-lông dúm dó, chiếc áo đen không đóng khuy phô ra lần da ngực đỏ vì rượu. Người cởi trần vẻ bực bội:
- Vậy bây giờ mình bó tay chịu chết à, mẹ cái thằng toét chẳng ra chó gì, buộc con trâu không xong làm mệt mình.
- Còn suýt bỏ mạng nữa chớ. Thật tao chưa thấy con nào dữ như con này, trâu Thái Lan đó, nó mà lồng lên chạy tứ tung nữa thì còn mệt, nó húc thằng Cương ra sao.
- E chết quá.
- Sượt vào mạng sườn thôi, nó mà nhạo lên thì chết rồi.
- Cái điệu đó chết đáng, nó say sưa đã vào. Mới đầu tao thấy nó ở trong quán đi ra, dáng lảo đảo đi về phía con trâu, tao kêu trâu điên đừng có vào nó húc chết, nó lè nhè tiến vào: mẹ trâu điên tao sợ à, bọn người tao còn đánh cho dập xương cả nữa là con trâu... Mẹ say có khác, coi trời như cục đất. Tao trông cảnh ấy mà muốn nghẹt thở, nó tiến lên nắm lấy hai sừng trâu, mới đầu con trâu nó im, rồi bỗng nó lạng một cái, thằng cha khuỵu luôn và con trâu chạy thêm một quãng nữa rồi mới đứng lại đó.
- Tháng này ngó bộ xui, nhất là từ hôm mình mổ con trâu có mang. Có tiền mà chẳng ăn thua mẹ gì. Cứ giết mãi nó oán cho đến xuống địa ngục. Mẹ cái nghề kỳ cục.
- Giết súc vật chứ giết người đâu. Giết người... chắc giết người khó hơn... Giờ có một khẩu súng thì nó cũng ngã ngay.
- Thì thằng ấy nó đi kêu cảnh sát rồi đó. Chút nữa thôi... Cứ đứng đó, cứ đứng đó con ạ...
Tôi đi vội về nhà, ánh sáng chập chờn nhòe nhoẹt. Chị Cương đang xếp một bộ quần áo vào cái giỏ, dưới ánh đèn, chị nhìn lên. Tôi hỏi:
- Anh ấy bị nạn sao?
Giọng chị Cương nghẹn ngào:
- Vâng, tôi phải vào nhà thương đây, cậu trông nhà giúp tôi, khổ tôi quá, nếu mệnh hệ nào thì...
Chị Cương khóc sụt sịt. Tôi nhận thấy những vết bầm và sưng ở mặt. Người ta đã chọn, người ta chịu đựng và thương yêu. Lúc sau chị nói tôi ra tiệm ăn gì tạm, chị không kịp nấu cơm, chị bế đứa nhỏ, rồi xách chiếc giỏ đi ra khỏi nhà. Một chiếc xích-lô, một chiếc xích-lô máy chẳng hạn sẽ đưa chị đến bệnh viện, chị sẽ nhìn thấy chồng còn sống hay đã chết... có điều tôi biết chắc chị sẽ khóc nhiều hơn, và đêm nay chị sẽ không ngủ được.
1963
Khuôn mặt nước rút
Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Chiếc xe díp trườn ra khỏi con đường đất đỏ của khu công trường để vào đường nhựa, mặt trời chưa ra khỏi lùm cây thấp, ánh sáng viền màu xanh tươi vàng mát nơi những cạnh lá cây lóng lánh sương đêm. Musyto lên đạn khẩu súng tiểu liên để ngang trên hai bắp đùi. Bác tài xế kéo cặp kính xuống mắt, tôi kéo cao cổ áo blouson lên gáy và buộc chắc chiếc mũ lưỡi trai. Một đàn chim bay ngược chiều xe chạy trở lên làm Musyto ngước mắt nhìn theo. Khoảng rừng thấp xanh trải dài dưới triền đồi một vẻ lộng lẫy êm ái. Tôi hỏi Musyto: “Anh ở lại dưới đó tới bao giờ?” - Musyto xoay người lại một chút, cánh tay trái ghếch lên lưng ghế trả lời: “Ba ngày, tôi về dự trận đấu biểu diễn thôi, anh cùng lên lại với tôi chứ?”
- “Tôi ở lại ba ngày là nhiều rồi. Anh có thể ở lại ăn cơm với tôi được không?”
- “Sao lại không?”. Xe đổ dốc, máy chiếc xe rồ hẳn lên rồi từ từ êm. Chính ông cũng muốn làm một người lạ. “Anh chưa về lần nào phải không?”
- “Chưa. Tôi lên mới được ba tháng”. “Anh thích công việc ấy không?” - “Không thích sao tôi lại lên, nhưng có điều tôi cần có việc làm, và nhất là được làm việc bằng chân tay”
- “Đó đâu phải công việc thích hợp cho anh. Tôi biết quá” - “Thì anh cũng vậy chứ gì?”
- “Tôi lớn tuổi rồi, anh còn trẻ”. Mặt trời đã lên khỏi những lùm cây. Chiếc xe chạy phá tan bầu không khí chung quanh. Tôi bỏ tay vào túi tìm điếu thuốc rồi bật lửa mồi, chiếc xe chạy với kim chỉ 100 cây số, gió ngược tạt khói thuốc tan vèo lại phía sau cùng với tàn thuốc. Musyto đăm đăm nhìn con đường chạy ngược, bác tài giữ chắc tay lái, tôi xoay người tìm một thế ngồi vững vàng hơn. Quyên đã đứng yên lặng nơi cửa: “Mai anh đi Đa-nhim, anh thấy cần phải đi lắm. Anh muốn được nghe em nói một điều gì với anh”. Quyên lặng im mân mê chiếc chìa khóa nơi tay. “Em giận anh mãi sao? Em không muốn anh được yên tâm về em sao? Hay em không yêu anh nữa?” Quyên lặng lẽ quay nhìn ra dãy phố đêm với những ngọn điện vàng ốm ngả xuống, chiếc xe đạp của người Tàu bán bánh bò uể oải tiến đến gần, một con chó hoang đạp đổ chiếc thùng rác làm thành tiếng kêu khiến con chó bỏ chạy và cất tiếng sủa khô khan. “Dù sao mai anh cũng đi, vì anh yêu em nên anh phải đi”. Quyên cầm chìa khóa gõ vào hàng hiên. Tôi tiến đến phía sau định trao đổi môi hôn từ biệt như những lần tôi tới thăm nàng. Quyên đứng im. Tôi cầm lấy bàn tay hờ hững của Quyên rồi quay gót trở ra và không quay lại. Tiếng chìa khóa khua động và tiếng cửa đóng. Từ biệt em hay vĩnh biệt em. “Anh Minh này, anh nhớ đừng quên dành thì giờ dẫn tôi tới thăm người yêu của anh đấy nhé”. Musyto quay lại mỉm cười nhìn tôi. “Nhất định rồi, nàng sẽ vui mừng khi có anh đến chơi nữa là khác, tôi có nói về anh với Quyên rồi, chính nàng dặn tôi mời anh đó. Rồi anh coi”. Xe vẫn chạy đều nuốt con đường thẳng trước mặt lên xuống những thung lũng thấp. Nắng đã lên đầy.
Quyên hiện ra phía sau hàng lưới sắt sơn màu mỡ gà ngăn giữa căn nhà ra làm hai phần, phía ngoài cho khách hàng, phía sau là nhân viên của nhà cầm đồ bình dân, tôi dắt chiếc xe gắn máy đưa vào phía tay trái, người Chà Và già ngồi nơi cửa lớn xem xét, tôi tiến ra phía quầy trình hóa đơn, thẻ căn cước, nhận biên lai lĩnh tiền. Nhà cầm đồ này đã quá quen thuộc với tôi, tôi chẳng cần nói năng gì cả, ngay cả những luật lệ và tiền tôi có thể có được, mỗi lần tôi đều có thể nhận nơi người Chà Và một nụ cười gượng gạo. Cầm biên lai tôi lại phía két. Tôi đưa tay qua một lỗ hổng vuông mỗi chiều độ mười phân. Quyên ngồi ở đó kéo ngăn lấy tiền, ngón tay trỏ để lên chiếc bông thấm nước đếm tiền trao cho tôi. Người con gái xa lạ đó có một mớ tóc đen cắt ngắn, làn da nâu có đôi mắt lớn và dài, hai mí hơi sưng, môi đỏ im lặng như một pho tượng, bao giờ đếm tiền xong tôi cũng nhớ nói “cám ơn cô”. Người con gái vẫn lặng yên, khuôn mặt cắt vuông từng miếng nhỏ sau lưới sắt. Phía mặt nàng ngọn điện hát lên một vẻ xanh xao mệt nhọc. Phía sau, trong sâu căn nhà đầy những xe đạp, xe gắn máy, đỉnh đồng, máy khâu xếp chồng chất, chung quanh gian nhà những giá gỗ màu nâu bám vào tường cao lên đến trần được chia ra làm nhiều ngăn để những đồ gói giấy, mỗi gói đều có một tấm thẻ ghi số, ở giữa nhà còn có hai giá gỗ như thế, ở đó có dựa một cái thang sắt sơn xanh. Khoảng độ từ 20 đến cuối mỗi tháng cửa tiệm đông nghẹt phải chờ đợi mới cầm được đồ, tiếng quát tháo inh ỏi - khoảng đầu tháng người ta lấy đồ ra một cách thư thả. Lâu lâu tôi lại có dịp trở lại để ngắm người con gái yên lặng ngồi phía trong hàng lưới sắt. Với khuôn mặt bị cắt ra từng ô vuông nhỏ, đôi mắt đen mở lớn: Anh không ưa đời sống và gia đình của em phải không? - Anh yêu em chưa đủ sao? - Anh dối em. - Em không tin anh? - Em tin em nghĩ đúng, nhưng em chọn sao được. Em sống ở một chỗ, anh sống ở một chỗ. Nhưng anh nghĩ đến những điều ấy làm gì. Anh đừng ở xa em thế. Quyên cúi đầu, tôi không nói. Tiếng nói yếu ớt như những sợi bún ướt, xa cách, lạ lùng: Chính ông cũng muốn làm một người lạ. - Có lẽ tôi lạ tôi. - Có lẽ ông là một người lạ thật mà.
Chiếc xe bỗng nhiên tắt máy chạy một quãng rồi ngừng lại. Bác tài kêu lên: “Quái sao bỗng nhiên lại ngừng, hôm qua đã sửa soạn cẩn thận rồi, chạy ngon lắm”. Bác nhảy xuống đường vội vã mở máy ra coi. Musyto cầm súng nơi tay cũng xuống theo. Tôi ngồi quay ngược dựa vào hông xe nhìn xuống: “Thế này e kẹt mất rồi, không biết trên đó hôm nay có chuyến nào về nữa không?” Musyto kiếm thuốc châm hút. Bây giờ Quyên chắc vẫn còn ngồi đó. Musyto nói: “Chắc mẹ anh cũng giống mẹ tôi”. - “Có lẽ không?” - “Sao vậy?” - “Tôi nghĩ vậy”. - “Còn sáu tháng nữa tôi hết giao kèo ở đây sẽ trở về. Mẹ tôi mong lắm. Mà tôi lại chỉ thích được đi xa, càng xa càng hay?” - “Tôi cũng vậy”. Nắng lên đã gắt, ngọn cây im không: “Xe có thể chạy được không bác. Chuyện tình mà nhỡ thì buồn tôi lắm”. - “Không sao, một chút thôi. Thằng nhỏ ngu quá không cẩn thận bình điện”. Ba tháng trôi qua mau. Thoáng đi như một cuộc dạo chơi quên lãng. Bác tài đậy xe, mở máy, tiếng ga két két mấy lần rồi nổ. Musyto vui mừng: “Tôi sợ máy móc lắm nên rất phục tài bác”. Bác tài lau tay cẩn thận rồi bắt đầu cho xe chạy trở lại. Tiếng máy xé tan bầu không khí im lặng.
Tôi đứng lại phía ngoài cửa sắt nhận nút chuông chờ đợi. Chị người làm trở ra hé cánh cửa nhìn thấy tôi liền cúi đầu chào: Sao lâu không thấy cậu lại chơi. Tôi mỉm cười gượng gạo: Anh Thuận tôi có nhà chứ, vừa nói tôi vừa lách người vào sân. - Ông bà mới đi Cấp hồi sáng. Có cụ ở nhà. Tôi hơi lo ngại bước vào thềm nhà. Lâu lắm tôi mới lại đây nên quang cảnh đã có nhiều đổi khác.
Tôi bước vào nhà. Tiếng bà cả nói vọng từ phòng trong ra: Ai đó? - Dạ thưa, con. - Minh đó hả? Hồi này làm ăn thế nào, sao không dẫn em nó đến. - Dạ em nó đau. - Thế à, nó mạnh rồi chử. - Dạ chưa, em nó sưng màng phổi. - Ồ thế sao không đến nói cho anh nó biết mang vào nhà thương khỏi tốn tiền. Bà cả từ trong phòng lê đôi dép thấp trở ra, tôi ngồi xuống ghế tràng kỷ. Thế em nó bệnh tật ra sao? - Hôm trước nó đau đưa vào nhà thương, nhưng chỗ không mất tiền hết giường nằm nên phải ở nhà chữa, nó bớt được ít lâu, hồi hôm nay nó bệnh trở lại nặng con lo lắm. Con ghé lại có ý nhờ anh cho con mượn ít tiền. Tôi ngượng ngập ngừng nói, chung quanh yên lặng, bà cả đang đánh trầu trong cối. Thế đi làm từ hồi nào tới giờ mà vẫn không chắt bóp được đồng nào sao? Tiếng bà cả lạnh lùng trách móc. - Hãng con làm bị nghỉ từ gần năm nay... - Tôi biết, ăn tiêu thì biết sao cho đủ... Sao không đến từ hồi sáng, anh chị Thuận đi Cấp từ hồi sáng rồi, hồi này nó cũng túng vì mới hùn cổ phần với người ta để làm nhà máy nước đá. Tôi đứng dậy - Thôi để vài bữa nữa con ghé lại... Tôi vội ra khỏi nhà. Tim tôi nhói đau cố nghĩ xem tôi sẽ tới đâu?
Những người thân của tôi ở đây chẳng có ai để nhờ cậy được, ngoài anh Thuận và chị Hạnh. Anh Thuận là anh cùng cha khác mẹ với tôi. Bà cả là người vợ chính của thầy tôi, còn mẹ tôi chỉ là một cô đầu tài sắc mà thầy tôi đã mang về làm nàng hầu hồi làm tri huyện. Nghĩ lại, lúc nào gặp bà cả, hay anh Thuận tôi chỉ oán thầy tôi và thương mẹ tôi, cam chịu phận hèn mọn của hai anh em mồ côi. Đối với bà cả, chúng tôi không được nhận là con của thầy tôi - nghĩa là con chánh thức - chưa bao giờ bà tỏ một dấu hiệu nào thương hại chúng tôi cả. Nếu như chúng tôi có chết bà cũng không quan tâm. Tôi sẽ tới đâu bây giờ? Em tôi đang cần thuốc. Mẹ giúp con, phù hộ con. Ba năm sau mẹ mất bây giờ con làm sao lo cho em. Phố đêm vàng ánh điện. Phía sau tôi hai cánh cửa sắt nặng nề đã khép lại. Cái dinh cơ ấy là của cải thầy tôi, nhưng chúng tôi là những đứa con hoang, những đứa con được sinh ra để chịu đựng những nỗi khổ ải. Tôi muốn ngồi ở đầu giường kể cho em tôi nghe những sự thật mà chúng tôi phải hứng đỡ. Như thế nếu em tôi có chết nó sẽ đỡ phần oán tôi phận làm anh không đủ nuôi nó sống. Nhưng biết đâu những điều đó không làm cho nó khổ hơn. Tôi vẫn tủi hổ rằng mình không có một cái gì đẹp đẽ để nói ra thuộc về ông bà, cha mẹ hay anh chị tôi. Thầy tôi là ông tri huyện có tiếng tăm, một thứ tiếng tăm không đẹp. Ông không phải là người cai trị dân một cách công minh, thương yêu, hay một người ái quốc dám treo ấn từ quan, ông có tất cả tiếng tăm về một tên quan tàn nhẫn, bòn rút của dân, phao vu dân nấu rượu lậu, theo cộng sản, ông là một viên chức gương mẫu, trung kiên của bọn cai trị. Chính mẹ tôi cũng chỉ là một nạn nhân. Thầy tôi đã dùng quyền hành bắt mẹ tôi dẹp bỏ nhà hát theo ông làm một nàng hầu vì tiếng hát hay và nhan sắc. Mẹ tôi là một kẻ nô lệ bị cầm giữ làm một thứ đồ chơi giải trí cho viên quan đã về già. Mẹ tôi bị khinh miệt cùng những người thiếp và nàng hầu khác. Tôi là con một ông quan huyện. Nhưng tôi chưa nhớ mặt ông quan huyện đó ra sao. Ngoài tấm hình tôi nhớ mang máng được để trên áo quan khi ông qua đời mà tôi được nhìn thấy.
Khi ông còn sống chúng tôi phải ở một nơi khác. Mỗi lần cần đến mẹ tôi thì cho người đi gọi như gọi một gái làng chơi. Mẹ tôi sửa soạn đi có khi một đêm, có khi vài ngày rồi trở về với một ít tiền, đó là tiền ông trợ cấp nuôi mẹ tôi và hai hạt máu rơi của thầy tôi. Khi tôi lớn lên mẹ tôi chỉ khóc mỗi lần tôi nhắc đến thầy tôi. Những điều đó tôi nên nhớ làm gì, sao còn có can đảm để nói với em tôi. Một đứa trẻ thơ sẽ ra sao khi nó biết mẹ nó gần như một gái làng chơi, một kẻ ngoại tình, hay bố mẹ nó là những người xấu xa nhơ bẩn? Tôi đã thức những đêm mẹ tôi khóc, mẹ tôi buồn rầu đau đớn nên kéo theo bệnh tật, nhan sắc không còn nên thầy tôi không hỏi đến nữa. Nhưng với thân một cô gái mềm yếu phải nuôi hai mụn con lâu lâu mẹ tôi lại phải đến xin thầy tôi ít tiền để sống. Con có thương mẹ không? - Có, con sẽ mau lớn và đi làm lấy tiền nuôi mẹ. Nhưng tôi không được nuôi mẹ tôi ngày nào, và với một đứa em độc nhất tôi cũng còn không biết làm sao nếu còn mẹ tôi sẽ nói làm sao? Mẹ tôi mất trong cảnh nghèo khốn, mẹ tôi bị lao ho ra máu rồi mất. Tôi nhớ khuôn mặt nhăn nhó của người lúc lâm chung, người ứa nước mắt nhìn hai đứa con thơ không nói được điều gì. Những giọt nước mắt ấy đọng trên mi mắt long lanh tôi đã lau đi khi vuốt mắt cho người dừng mở lúc hơi thở ấm của người không còn nữa.
Đó là những giọt nước mắt cuối cùng tôi được biết là có người khóc cho tôi, khóc cho tương lai tôi và em tôi. Tôi nhớ khuôn mặt thản nhiên của thầy tôi, của bà cả, của anh Thuận khi tôi khóc mếu đến báo tin mẹ tôi mất. Họ lặng lẽ nhìn tôi như một người lạ, như một kẻ khốn khó nào đó đến xin sự cứu giúp. Số tiền tôi nhận được chỉ đủ mua cho mẹ tôi một chiếc quan tài bằng gỗ tạp trắng và thuê chiếc xe bò đưa mẹ tôi ra nghĩa địa thí. Hai đứa con mồ côi ngồi bên chiếc quan tài mộc không có một tấm vải che. Hai ngọn nến đỏ và một bát cơm hẩm có quả trứng gà. Tôi bế đứa em khóc ấm ức trong cổ họng. Dưới lòng huyệt nông mẹ tôi đã nằm xuống đó êm ả, thoát cái đời sống khổ ải, nhưng số phận chúng tôi ra sao mẹ tôi chắc đã hiểu khi mắt người lúc mất không muốn nhắm và những giọt nước mắt lạnh buồn. Sau đó tôi thỉnh thoảng tìm đến căn nhà đồ sộ nguy nga, với người hầu hạ đông đảo để xin tiền. Đến khi thầy tôi mất bà cả và anh Thuận không còn muốn nhìn chúng tôi nữa, cũng như những đứa con rơi khác của thầy tôi. Mẹ tôi mất, tôi sống giữa những trơ trọi, may nhờ chị Hạnh, cũng là một người con rơi khác của thầy tôi, thương tình mang về cho chung sống. Chị Hạnh hơn cả tuổi anh Thuận vì chị là con một người đàn bà nhà quê làm gia nhân của ông nội tôi mà thầy tôi đã đi lại từ trước khi hiển đạt, nhưng vì phận tôi đòi không được nhận là vợ của thầy tôi, người đàn bà đó đã cắn lưỡi chết khi thầy tôi lấy con một ông tuần phủ là bà cả bây giờ.
Tôi sẽ đến đâu? Giờ này em tôi đang chờ thuốc. Chị Hạnh không ở đây. Trong gần một năm thất nghiệp, chị Hạnh đã gửi tiền giúp chúng tôi rất nhiều, dù chị cũng còn cả một gia đình với sáu đứa con nhỏ. Tôi hy vọng nơi anh Thuận và bà cả thương tình, nhưng bây giờ tôi không còn hy vọng gì nữa. Tôi nghĩ tới Thạch, người bạn thân của tôi. Tôi vội vàng tới đó. Tôi đã nói cho Thạch nghe: “Anh giúp tôi, dù tôi biết anh cũng không khá gì, chỉ lo vô phúc tôi chết, chứ tôi còn sống thì sao cũng phải có việc làm”. Nhưng Thạch đã không có gì để giúp tôi ngay được. Anh hẹn tôi sáng sớm hôm sau trở lại. Và anh đã mang chiếc xe gắn máy ra tiệm cầm đồ để lấy tiền cho tôi. Tôi rớt nước mắt cầm số tiền của Thạch không làm sao nói được. Tôi nghe tiếng nói êm đềm của Thạch: “Mong cho em cậu nó qua khỏi tôi mừng. Bọn mình còn phải sống lâu với nhau, đừng nghĩ gì cả”. Nhờ số tiền của Thạch để thuốc men em Hoài đã được cứu sống. Tôi lo lắng tìm việc làm. Mỗi buổi sáng ra đứng ngoài tiệm nước nghe thông cáo tuyển người của nhà nước, đọc rao vặt trên các nhật báo, và đi ra ngoài phố. Tôi nhìn ai cũng nghĩ tới xin việc, rồi tôi hỏi han các cửa tiệm, các hãng nhưng chỗ nào cũng từ chối. Tôi kiếm bất cứ một công việc nào hèn hạ sao cũng được miễn là kiếm ra tiền. Nhưng chẳng sao tìm được. Việc Thạch đưa tôi đến tiệm cầm đồ ám ảnh tôi. Tôi đem cầm dần mòn những đồ đạc của mẹ tôi cho tiệm cầm đồ. Tôi hy vọng rằng tôi sẽ có việc làm, có tiền và chuộc lấy những thứ đó. Ngày tháng vô vọng kéo dài cho tới lúc tôi không còn gì để cầm cố nữa ngoài cái vòng bạc có bộ khánh gắn chuông của mẹ tôi đeo cho tôi hồi nhỏ. Em Hoài hỏi tôi: “Anh mang cái đó ra làm gì vậy?” Từ lâu nay tôi vẫn giấu nó về tình cảnh của hai anh em, tôi bảo: “Có anh bạn mời ăn đầy tháng đứa con, anh tính tặng đứa cháu đó bằng vật kỷ niệm của mẹ”.
- “Bây giờ em thấy ai đeo thử này nữa? Nó cổ quá rồi”.
- “Thế là vì mình quý mới cho”. Tôi cố lảng sang chuyện khác rồi gói cái vòng bỏ vào túi. Sau đây rồi tôi sống bằng gì? Đến tiệm cầm đồ lần này tôi quá độ cảm động, vẫn căn nhà ba từng lộng lẫy, vẫn gian nhà rộng đầy những đồ đạc. Cùng với những người đã quen mặt tôi. Người Chà Và nhìn hỏi: “Sao đồ gửi mãi không lĩnh ra?” Người nhận đồ nhìn tôi lãnh đạm: “Coi quá hạn hết lĩnh đó, đừng kêu nghe”. Người con gái da nâu, đôi mắt đen vẫn ngồi yên lặng sau lưới sắt. Tôi đưa chiếc vòng trong chiếc khăn tay ra hỏi người nhận đồ: “Cái này được độ bao nhiêu?” Hắn hơi ngạc nhiên rồi nhìn lên như tra xét: “Đồ quỷ này được mấy đồng. Mới đánh cắp được ở đâu vậy?”. Tôi nhói nơi ngực. Với khuôn mặt hốc hác vàng nghệ, mái tóc bơ phờ, chiếc áo cánh trắng ngà ngà sờn vai, chiếc quần ka ki tròn ống, đôi dép cao-su sứt sẹo, bộ dạng tôi, với chiếc vòng bạc bỏ trong túi quần đủ là một tên trộm cắp trước mọi người: “Mới đánh cắp được ở đâu vậy?”. Tôi ngó ra những người ở chung quanh đang ngó tôi chằm chằm, tôi ấp úng: “Đâu có, của tôi từ hồi nhỏ” - “Cứ mấy ngày tôi lại thấy anh mang đồ lại cầm. Đừng có cho tôi ở tù theo vì tàng trữ của trộm cắp nghe không”. Vừa nói hắn vừa mang chiếc vòng đi vào chỗ người con gái ngồi đặt lên chiếc cân tiểu ly để ở đó. Tôi ngượng ngùng đứng phía ngoài người con gái. Người nhận đồ nói lớn: “Hóa đơn đâu?” - “Đồ này cũ quá nên tôi không còn giữ được hóa đơn”. - “Thôi đi, mấy chục bạc không chừng tôi ở tù, đi đi!” Hắn vứt trả cái vòng ra. “Ông làm ơn giúp tôi. Cô làm ơn giúp tôi. Nó là vật cuối cùng của mẹ tôi để lại. Tôi không ăn cắp. Tôi không ăn trộm. Tôi cần ít tiền... cô làm ơn...” Người con gái lặng lẽ nhìn tôi. Rồi nàng cầm lấy: “Bác nhận cho người ta. Không sao đâu, tôi chịu cho”. Vừa nói, cô ta vừa chuyền cho người đàn ông và cầm biên lai xem tiền: 50 đồng. Nàng mở ngăn kéo đưa cho tôi tờ giấy 200 đồng để phía trong tờ biên lai gập đôi lại. Tôi nói: “Tôi không có tiền lẻ”. Nàng cúi xuống, nhìn tôi trìu mến và im lặng. Nàng nói lớn: “Bác Hoành ơi mấy giờ rồi?” - “Mười hai giờ rồi, thưa cô”. Nàng lặng lẽ đứng lên, tôi nói khẽ: “Cám ơn cô”. Tôi bỏ tiền vào túi trở ra. Tôi đứng tần ngần dưới mái hiên, tôi nghĩ đến thái độ của người con gái. cửa tiệm đã đóng cửa, tôi lững thững đi về. Qua khỏi dãy phố chính tôi tạt về tay trái, bỗng tôi nghe thấy tiếng gọi: “Anh Minh”. Tôi quay lại ngạc nhiên thấy người con gái trong tiệm cầm đồ. Tôi tự nghĩ: “Cô ta đòi tiền lại chăng?” - “Cô gọi tôi?” - “Vâng”...
Xe chúng tôi tới Sài Gòn lúc hơn hai giờ trưa. Tôi chia tay bác tài và hẹn với Musyto: “Tôi sẽ đến dự trận đấu của anh, sau đó tôi sẽ mời anh ăn cơm nhé?”. Tôi bắt tay Musyto rồi rảo bước.
Việc đầu tiên là tôi tới kiếm em Hoài ở nhà trọ. Tôi đã gửi nó nơi nhà người anh của Thạch, tôi nhờ Thạch trông nom, nó ăn ở lại đó để tiếp tục học. Mỗi tháng tôi gửi về cho Thạch một ngàn đồng là non nửa số lương tôi có. Ba tháng trời xa thành phố tôi thấy mình quá đỗi xa lạ. Tới nhà trọ, em tôi đã đi học. Tôi để đồ đạc lại đó. Tôi tặng ông Thịnh - anh Thạch - một cặp sừng hươu đóng trên giá làm mắc áo: “Em ở rừng không có gì làm quà chị cả, biếu anh chị cái này làm mắc áo”. “Quý hóa rồi còn gì, đẹp quá nhỉ, họ làm thật khéo đó. Chú mạnh chứ?” - “Cám ơn anh, ở trên đó khí hậu tốt em khỏe lắm, em Hoài ở nhà chắc quấy rầy anh chị lắm”. - “Ồ, nó còn bé nhưng ngoan lắm. Mấy hồi đầu nó nhớ anh thơ thẩn. Rồi nó cũng nguôi dần, cô Quyên mới chủ nhật rồi lại dẫn nó đi coi ciné”. Qua một vài câu chuyện trao đổi tôi xin phép lại thăm Thạch, vợ chồng Thạch tiếp tôi niềm nở: “Thế là tạm yên, cố làm sao cuối năm lập gia đình đi. Đó cậu thấy chưa, mình còn sống đời với nhau mà. Có lúc thế này có lúc thế khác chứ dễ bộ lúc nào cũng sung sướng sao?”. Tôi ngồi kể cho Thạch nghe về những chuyện ở công trường thủy điện Đa Nhim.
Chiều ngả xuống, tôi trở về nhà anh Thịnh đợi Hoài đi học về, tôi sẽ dẫn đứa em lại thăm Quyên rồi chúng tôi đi dạo.
Bốn chiếc xe Cam-nhông dừng lại trên một khoảng đất rộng có trải đá đỏ. Mọi người đưa mắt cùng nhìn vào phía công trường đang bắt đầu xây cất những cơ sở đầu tiên cho nhà thủy điện tương lai. Tôi đứng dậy vươn vai, xách va-li nhảy xuống đất cùng đoàn nhân công. Sau gần ba trăm cây số cho một cuộc hành trình mọi người đã có thể nhìn nhau mỉm cười hay trao đổi một vài câu chuyện ngắn ngủi. Tiếng nói vồ vập trầm vang ra cả một khu yên lặng bốn bề rừng xanh và núi sẫm màu than rêu bao quanh.
Trước mặt chúng tôi một miếng sơn màu vàng cam quết dưới thung lũng là khu vực cơ sở đang xây dựng, ba dãy nhà tôn màu thiếc lạnh nằm ở phía tay mặt. Bên tay trái hai chiếc xe ủi đất đang san phẳng một vùng rộng rãi, phía trong cùng sườn sắt của mấy dãy nhà đã dựng lên, ở trước đó là một số xe cộ máy móc và ít thùng gỗ lớn. Người cắp cặp da kêu tên đoàn nhân công ra làm ba toán xếp hàng đi vào. Tôi thở một không khí mát mẻ êm ái và thoáng đạt. Tôi đã dứt khoát được với chính tôi. Tôi đã mở đầu một thái độ của kẻ đủ lý trí trước cuộc sống. Tôi đã lấy được tự tin để thấy mình trưởng thành. Tôi đã bỏ được đời sống thành phố ỷ lại, lười biếng, nhờ cậy để tới đây nhận làm một công nhân.
Việc đầu tiên khi vào công trường là chúng tôi lấy số thứ tự để nhận giường, nhận phòng, nhận chăn màn vật dụng cần thiết. Sau khi thay quần áo, tắm rửa chúng tôi sửa soạn chỗ ngủ, nghỉ ngơi rồi tập hợp nghe chỉ thị trước khi dùng cơm buổi tối. Sau một ngày, tôi được giao việc phụ với Musyto trông coi toán nhân công khoan núi.
Chiều xuống rót sương vào thung lũng như một ly sa loãng êm đềm, những đỉnh núi đã khuất vào mây trắng, những rèm núi biến đi làm thành một nền chì nhạt. Tiếng Musyto nói ở phía sau: “Chắc anh nhớ nhà?”. Tôi lặng lẽ. “Sao anh lại lên đây. Ở dưới đó anh không thích sao?” - “Tôi không ưa ở một chỗ lâu, nhất là thành phố. Ồn ào quá không hợp với tôi” - “Ở xứ tôi mùa này đã lạnh lắm”
- “Ở quê tôi cũng lạnh, tháng một chứ ít gì. Tôi ở ngoài Bắc mà anh, tôi vào đây hồi Genève”
- “Trông người anh tôi biết. Vào phòng tôi uống cà phê?”. Tôi quay vào với Musyto. Trong toán nhân công tôi không có bạn. Phần nhiều họ là những phu, những người thất nghiệp ở thành phố. Họ xô bồ, ồn ào một cách khỏe mạnh. Tôi ưa yên tĩnh nên không quen lối sống của họ. Musyto là một chuyên viên công chánh, anh ta 36 tuổi, là người do công ty Nhật Bản mang sang để xây cất nhà máy thủy điện, mà công tác đầu tiên là đào một đường hầm qua một ngọn núi mang nước ở phía bên kia sang một cái đập đắp bằng đất. Anh ta trầm lặng ít nói và hợp với tôi dù chỉ mới làm việc với nhau có mấy ngày. Hai ly cà phê đen, Musyto hút píp, tóc anh hớt ngắn, hai cánh tay khỏe mạnh, người đậm đạp, vừa phải, khuôn mặt nghiêm trang với đôi mắt hơi sâu, xương má lớn nên có vẻ khắc khổ và buồn: “Tôi sống một mình lâu nên quen, nhưng cũng nhiều khi nhớ nhà. Tôi ký giao kèo ở đây một năm, nếu muốn tôi sẽ ở nữa, đáng ra tôi qua Ba Tây nhưng sau tôi nghĩ ở Việt Nam hợp với tôi hơn. Anh tôi chết ở Việt Nam. Làm việc như tôi với anh là đùa với tử thần đấy. Tôi đã lãnh nhiều công tác đào núi rồi. Một lần tôi chết hụt vì đá sập, người ta moi tôi ra ở dưới hố sâu hai mươi thước. May là có hai cái đà khiến tôi lọt ở giữa nên không chết. Tai nạn đó làm 28 người thiệt mạng, chỉ có 6 người sống nhưng hai người là phế nhân. Thế mà tôi sống sót. Biết đâu ngày mai, ngày kia, hay hôm nào đó tôi hay anh lại không chết vì một tai nạn bất ngờ... Nói vậy chứ chết cũng có số... Anh còn gia đình?”
- “Có, em và người yêu”. “Tôi chỉ còn một người mẹ. Anh còn nhiều hạnh phúc hơn tôi, nhất là người yêu, tương lai...” - “Sao anh không lập gia đình. Tôi tưởng anh có cháu rồi mới phải”. Musyto nhấp cà phê, hút một hơi thuốc dài rồi quay người ngả lưng vào thành ghế. Tôi thấy tôi đã tàn nhẫn khi quyết định bỏ đi. Nhưng tôi không thể nào làm khác được. Đáng ra Quyên phải yêu một người khác và sống một đời sống hạnh phúc với sự giàu có của gia đình nàng. Giữa lúc tôi sống tuyệt vọng nhất thì Quyên đã đến với tôi. Quyên như một bà mẹ, như một ngôi sao cứu mệnh đã sáng lên trong đêm vô vọng mà tôi tưởng sẽ không sao thoát ra được để tìm thấy sự sống của một người. Với đứa em đau ốm, tôi thất nghiệp, không người thân, bao nhiêu vật dụng đã cầm và bán hết. Quyên đã trả lại cho tôi tất cả những cái đó, chiếc vòng bạc cuối cùng tôi đã mang theo như một lá bùa hộ mệnh. Quyên đã giúp tôi phương tiện để chữa bệnh cho Hoài và tôi có cơm ăn. Nàng khuyên tôi tiếp tục sự học. “Tôi mong có dịp về Sài Gòn sẽ đến nhà anh chơi”. Musyto thay mồi thuốc rồi châm lửa. Tôi đứng dậy về phòng. Trời tối mù, chung quanh công trường những ngọn đèn vàng nhỏ như rơi vào ở trong một sa mạc, hay trên một đại dương mù mịt hơi nước. Phố khuya vẻ buồn rầu xa cách. “Bây giờ anh hãy quên anh và nghĩ đến em thôi. Anh đừng lo kiếm việc làm nữa. Em muốn thấy tương lai của anh và em. Mọi chuyện để em lo”. - “Như vậy anh sẽ nhờ em đến bao giờ. Anh không muốn thấy em phải sống lén lút khổ sở mãi như thế này”
- “Làm sao được” - “Nếu cậu mợ em biết thì khổ em. Anh không muốn thế, tiền bạc của em...”
- “Sao anh cứ nhắc hoài... Anh có yêu em không?”. Trong vùng sương đêm, gió núi lạnh phả vào mặt như những mũi kim châm tê buốt
- “Em biết thế nào rồi anh cũng bỏ em để đi. Anh muốn được chọn lựa như một người không phụ thuộc với ai. Ngay cả với chính em. Tại sao? Em biết em không có một quyền hạn nào với anh cả. Nhưng cũng từ đó em thấy anh xa cách em vô cùng... Sao tình yêu anh lại làm em khổ sở đến như thế được. Khi viết những dòng này cho anh, em không có anh trước mặt. Nhưng hình ảnh anh vẫn ở đâu quanh đây với đôi mắt mở lớn, đôi môi dày mím và làn trán hơi nhăn lầm lì như một khối đá, như một loài chim hiếm cô đơn, như một đêm tối hãi hùng, một con nước ngầm chảy xoáy, và em như một loài rong rêu, loài bèo bọt trôi đi vật vờ xa lạ chung quanh anh. Sao anh lại xa cách với em như vậy? Anh sẽ đi, anh sẽ đi xa, anh sẽ bỏ em lại như một chiếc áo cánh mùa đông khi thời tiết đã vào xuân, như con nước đã xa nguồn, như con tàu đã hết cuộc hành trình, như làn bụi trên vai áo. Anh sẽ quên em, xa em mãi mãi. Em biết em sẽ ra sao. Dù vậy em vẫn chẳng quên anh, chẳng sao quên những ngày đã yêu anh. Con lộ những khuya vắng anh đã đi với em, những bữa ăn ấm cúng giữa ba anh em... tất cả những kỷ niệm cũ chẳng bao giờ mất đi được. Em chỉ xin anh cho phép em được coi Hoài như em ruột của em. Chúc anh may mắn. Vĩnh biệt anh...”.
Tiếng gió thổi reo, tiếng ai thì thầm dưới thung lũng. Tôi đã không nói được điều gì với Quyên. Chính ông cũng muốn làm người lạ. Tiếng nói đã trở lại với tôi. Tôi thấy tôi là một người lạ với mọi người. Cả với Quyên. Tại sao? Tôi chẳng rõ ngoài điều tôi mơ hồ cảm thấy: Chừng như tôi đã bị cắt đứt ra khỏi cuộc sống chung quanh. Tôi đã không được sống để biết là có tình yêu thương, đầm ấm, hạnh phúc cùng hy vọng của một đời người. Tôi lạ tôi. Tôi muốn đi tìm một cái gì. Tôi đã từ chối sự giúp đỡ của Quyên để làm lấy cuộc sống. Tôi tới công trường này để làm việc, để quên, để bỏ, để xa những nhằng nhịt đen tối. Với Quyên, với Hoài, có lẽ tôi đã tìm thấy người khác, tìm thấy tình yêu, vỗ về, an ủi. Nhưng chừng như tôi chưa tìm thấy tôi... Tôi muốn được ở bên Quyên, Hoài lúc này để nói một câu với ý nghĩ mến yêu của tôi dành cho người khác. Nhưng cũng lúc đó tôi lại thấy tôi lẻ loi, riêng rẽ và xa lạ...
Ba chúng tôi về đến đầu ngõ. Tôi bảo Hoài: “Em về ngủ trước để anh đưa chị Quyên về đã nghe”. Hoài vâng rồi đi vào. Trên phố đêm, tôi nói: “Sao em không viết thư cho anh, em vẫn còn giận anh sao? Anh muốn làm việc chứ đâu phải anh không muốn được em giúp anh. Em im lặng đã làm anh khổ sở biết bao nhiêu”. Quyên cúi đầu chậm bước, tôi kể chuyện ở công trường, tôi nói về Musyto tốt lắm. Quyên không trả lời “Em vẫn giận anh sao?”. Suốt buổi chiều đi chơi Quyên vui vẻ, tôi nhận thấy Quyên và Hoài quấn quít và thân mật hơn cả tôi đối với em tôi. Giữa hai anh em trai tôi vẫn thấy có một cái gì khô khan, hơn là một người em trai với chị nó. Tại sao Quyên không nói? Hai kẻ thân duy nhất ấy bây giờ lại cũng xa tôi thật rồi sao? “Quyên vẫn giận anh sao? Hay em không còn yêu anh nữa. Anh có đủ can đảm chịu đựng để nghe em nói bất cứ điều gì. Anh có lỗi gì với em”. Quyên òa lên khóc. Sao Quyên khóc? Tôi giữ lấy vai nàng gần vào tôi. “Không tại anh gì cả. Và có lẽ cũng không tại em. Em không giận anh, em thương anh, nhưng em thấy có lẽ em và anh không hợp nhau”. Tiếng khóc của nàng tấm tức nghẹn ngào, tôi khổ sở không biết làm sao. Một cơn gió mạnh thốc trên mặt đường khuya và những cánh lá bay theo chiều trườn trên mặt nhựa hoảng hốt: “Em sắp lấy chồng”. Tôi nhói nơi ngực và bỗng nhiên dừng chân. Quyên đi lên một bước dừng lại. Tôi yên lặng
- “Em lấy chồng? Em lấy chồng? Em không yêu anh nữa?”
- “Cậu mợ em muốn thế. Em biết làm sao?”.
Tôi thấy tôi bất lực hoàn toàn trước hạnh phúc của đời sống. Tôi không nói được một điều nào nữa cho tới khi về tới nhà Quyên. “Anh buồn em lắm sao?” - “Em còn bắt anh nói thế nào nữa, anh vẫn yêu em, nhưng anh chỉ ân hận rằng anh đã chẳng mang lại cho người thân chút nào hạnh phúc và ngay cả với chính anh. Anh mong em... Có lẽ tối nay là lần cuối cùng anh gặp em”. Tôi đã hôn lên đôi mắt ướt của Quyên, nước mắt chát như muối biển cay đắng.
Tôi sinh ra để làm người lạ...
Tôi đứng lại ở một khoảng trống, một con số không nằm dưới cuốn sổ chi tiêu đời người. Những vòng vây của mây xám, nước sông đen quấn lấy, xoay vòng mịt mù những lo âu. Bây giờ tôi đã vượt khỏi tuổi thanh xuân ốm o, khát sữa, thiếu tháng để trở thành một ông già mang đôi chân giả của quá khứ, như hiệp sĩ quý tộc thất thế rời khỏi những tòa lâu đài kín đáo không có những môn hạ trung thành.
Hãy chia tay. Người khách lạ nào vừa đứng lên đó. Nán lại một chút đi. Hãy vỗ tay cùng hát một nhịp. Hãy chiêu niệm khuôn mặt nước rút và Quyên và quá khứ thanh xuân làm kẻ độc hành kiêu ngạo vinh hiển. Từ biệt em. Quyên ơi! Những sợi tóc đỏ đang bay lên trong gió như ngọn lửa. Hãy khóc.
Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Tôi giơ tay khoát khoát lên trước mặt, ai đang đi trên lề đường ngơ ngác dừng lại, tôi đi quá lên cúi mặt mỉm cười.
Bến xe ở bên kia con đường, tôi nhảy qua vũng nước băng ngang luồn giữa những xe cộ qua lại. Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Tiếng Phụng nói trườn ngang, hàng cây muồng bờ đường có hoa vàng trên ngọn, chuyến xe lửa đen rú còi chạy qua với hai người chạy hai bên phất phất lá cờ, mấy đứa trẻ nhảy lên nhảy xuống lanh lẹ. Tiếng ai ngừng lại, va vào một thành tường như cuống quít rồi bay lên uốn éo mơ hồ. Quyên đang ngơ ngác đứng kia phải không. Tôi dừng lại đưa tay lên tầm mắt ngó qua khoảng đường rộng, hơi nắng bập bủng chờn vờn lay động trước tầm nhìn, bóng một tà áo màu xanh rêu chuyển đi xa và mất, có lẽ không phải Quyên, tôi nhủ thầm. Áo ấy của Quyên, màu rêu non đó của Quyên, nàng ngồi ở trên chiếc ghế dựa cũ màu đen.
Nàng im lặng, tôi muốn nói một điều gì đấy. Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Tôi đứng dậy ra khỏi căn nhà. Em đã xa anh. Tôi đứng dang chân ở cửa ra vào châm một điếu thuốc, mùi diêm thơm, hàng rào phía nhà đối diện đã đổ từ hôm nào không biết, cây trứng cá đã bị chặt hết lá giơ lên mấy cành trơ trọi, hàng dây điện nhằng nhịt, một cánh diều giấy đỏ mắc trên đó cơn gió đang đong đưa. Anh đã vừa chấm dứt được một thời kỳ, vừa phá bỏ một ảo tưởng. Anh nghe em nói phía trong phiến gỗ mộc mà anh đã ôm theo làm tấm ván thiên cho chiếc quan tài sẽ nằm, bảy ngọn nến trắng sẽ cắm lên đó. Anh đã thổi tắt ngọn nến đỏ trước mặt để nhìn thấy em ngủ vùi trong bóng tối
- Quyên ơi! - Tôi ngó mặt trong khuôn cửa sổ một căn nhà lầu ba tầng. Tà áo màu rêu bay phấp phới ở đầu đường xa dần rồi tôi nhìn rõ một người con trai có nét mặt ngờ ngệch, đứng im lúng túng tay chân, hắn nói với một giọng khàn khàn đều đặn. Đồ ngu. Hắn nói với tôi gì đó. Mặt trời đã đứng ở phía bên kia dãy nhà. Nàng đi về phía dưới kia. Hãy gọi nàng lại. Quyên ơi! Hắn ta đứng im như pho tượng, tôi muốn đấm cho hắn một cái, nhưng tôi chưa kịp cử động hắn đã tan ra như nước. Tôi nhảy qua bờ hè. Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Máy nổ, chuyến xe với một đám đông chạy qua những đường phố, nhà cửa, rạp hát một cái chợ, một chiếc xe vận tải đầy mía chắn ngang cây cầu đen vòng qua dòng sông. Tôi thấy một đám đông trôi lãng đãng lùi lại.
Tôi xuống ở bến xe ngay đầu cầu. Chiếc ca-nô chạy băng với một người con gái mặc áo màu đỏ ngồi trên đó đeo kính gọng trắng. Tôi ngồi xuống bờ cỏ, mùi nước sông hôi, đen và lờ đờ chảy. Ai đã lội sang phía bên kia mang theo tấm ván thiên. Ai leo chiếc xe đò tay cầm va-li, tay bám cửa quên từ biệt. Nắng chấp chới nhảy những vệt xáo động vồ vập rồi lãng đãng trôi trên khuôn mặt của Quyên. Tôi đưa hai bàn tay gầy giữ lấy đầu ai. Cơn gió lùa qua rừng tóc rối - Em lấy chồng? - Em không thể lấy anh - Em không yêu anh? - Trong hai vũng tối con mắt, ai khóc: Anh hiểu vì sao không, em muốn được một chàng trai ôm em vào lòng với hai bàn tay mềm mại vuốt ve và lời hứa hẹn, và bài hát đêm. Anh thì không. Anh kiêu ngạo như loài thú hiếm, lầm lì như đá xanh. Anh đừng nhìn em với con mắt đó. Hãy khép đôi mắt đó lại, anh hãy bịt đôi mắt đó lại, hãy chọc thủng đôi mắt đó đi. Đôi mắt anh biết không, chính nó làm em run sợ, làm em như một cái bóng đờ đẫn nhảy quanh chân anh, đôi mắt làm người đàn bà ngoại tình... không, không được... Anh không thể yêu ai, và không ai đủ nghị lực đam mê để yêu anh, họ chỉ đủ sức theo anh rồi lảng xa, nhìn lại như một quá khứ thần thánh trang trí cuộc sống tầm thường. Và anh đầy đủ một loài thú nguyên vẹn cô đơn.
- Ai nói gì đó? Tôi cầm lấy tay tôi. Dưới dòng sông tiếng hát của Quyên vọng lên mơ hồ lôi cuốn. Ai nói đó? Trong chiếc khăn tay trắng cuộn tóc của Quyên nằm im buồn. Em tặng anh đó. Anh bảo em đừng cắt tóc, cắt làm gì. Không. Anh không muốn em mất đi một cái gì hết. Sao anh không dám nói anh yêu em. Không. Sao vậy. Có lẽ không phải là người yêu của anh... một dòng nước xoáy trên mặt sông, tiếng canô nổ giòn. Hãy bỏ tấm ván thiên xuống. Nói gì đó? Chính ông cũng muốn làm một người lạ. Những sợi tóc của em vẫn còn nguyên. Anh yêu em chứ. Không. Còn em. Em yêu anh, nhưng em sẽ có chồng. Không phải anh, anh không yêu em, anh không yêu em... Anh không nghe tiếng em hát sao. Và tiếng ai: Chính ông cũng muốn làm một người lạ.
Tôi đã tới quá muộn, cuộc đấu võ đã tan với khán đài trống vắng. Musyto say ngồi nơi tiệm rượu: “Anh còn tới sao?” - “Xin lỗi anh tôi đã tới muộn” - “Tôi muốn không thấy anh tới, không phải tôi giận, đáng ra anh phải đi chơi với người yêu mới phải. Tôi là một thứ bỏ rồi” - “Tôi có hơn gì anh. Tôi chẳng có gì cả” - “Tôi muốn được chết trong hầm núi hay bị một võ sĩ đánh chết trên võ đài”. Tôi cụng ly với Musyto. Tôi sung sướng lắm sao. “Tôi chẳng còn ai. Đó, anh thấy đó. Anh tôi chết ở Việt Nam, gia đình tôi chỉ sống sót một bà mẹ tật nguyền. Tại sao mẹ tôi không chết luôn cho đỡ khổ, nhìn mẹ tôi, tôi không thể đành lòng. Anh không thể tưởng tượng được, còn bạn bè tôi đều đã nhận làm vật hy sinh. Tôi chậm lại một chút để sống, để chịu đựng thảm kịch bại trận, tan nát. Sống như tôi khổ hơn chết. Tại sao thế?” - “Tôi hơn gì anh, dù tôi khác anh.
Tại sao?” Tưởng đâu tôi đã tìm thấy. Không. Tôi là một người lạ. Làm sao tôi có thể nói những ý nghĩ, những sự thật cho em tôi nghe. Giọng Musyto yếu ớt: “Chúng ta sắp khoan tới phần núi đá rồi, sẽ phải gài mìn...”. Tiếng Quyên mơ hồ: “Anh hay em có quyền lựa chọn khi sinh ra không? Tại sao em sướng, anh khổ? Có chắc em sướng không. Anh là một khối đá xanh, là một loài chim hiếm, còn em như một hạt bụi... Tại sao chúng ta lại ở trong một hoàn cảnh thế này... Anh ơi!”. Thành phố đảo nghiêng, chai rượu mạnh đã cạn. Musyto run rẩy: “Núi đá... Mìn”. - “Không. Tôi còn em Hoài. Tôi còn trẻ. Tôi chưa được sống đủ... Tôi không là anh. Tôi không là anh”. Một dòng nước đục đang trôi dưới chân làm tôi thấy tôi bất động. Tôi lạ tôi...
10-1962
Lời chúc cho kẻ phản bội
Tôi bắt tay ông khách cuối cùng ra khỏi phòng tiệc. Còn đứng lại có tôi, Lành, bà mẹ và vợ chồng chị Loan. Tôi nói với chị Loan.
- Anh chị đưa mẹ về hộ em, chúng em về sau.
Tôi ngượng ngùng vì biết rằng tôi đang nói một câu cho có với mọi người. Anh chị Loan đã biết tối nay chúng tôi không về nhà, bà mẹ vợ tôi đã nói trước như thế, bà không muốn đôi vợ chồng mới về nhà, vì như thế xui lắm, theo như thói quen của nhiều người vẫn có. Lành đứng nhìn tôi đăm đăm. Một người bạn ở đâu xuất hiện, chừng như trước đó anh ta bận đi tiểu, anh ta bắt tay tôi rất mạnh và khều khều bàn tay tôi:
- Chúc cho cậu hạnh phúc nhé.
Anh ta cười nheo hai con mắt, Lành cúi chào mặt ửng đỏ. Mẹ tôi cùng với anh chị Loan đi xuống thang lầu, tôi cầm tay Lành đi xuống theo. Nhìn lên cổ Lành tôi nhớ tới chiếc khăn quàng màu hường:
- Khăn của em đâu?
Lành ngừng lại, với tay lên cổ áo:
- Chết, em bỏ quên rồi anh.
Tôi vội quay trở lại, gian phòng náo nhiệt ấm cúng bây giờ hoang vắng, mấy người bồi đang thu dọn bàn ghế và đẩy đi, tiếng chân ghế kêu xát trên nền gạch âm thanh khô chát chúa ghẻ lạnh, chiếc khăn màu hường vẫn còn nằm vắt trên lưng chiếc ghế dựa, tôi cầm lấy. Kim cũng có một chiếc khăn quàng như thê, một chiếc khăn màu đỏ tươi. Tiếng chổi quét khua động những nút chai lại với nhau, trên nền gạch mấy bông hoa đỏ. Tôi cũng đã có mặt trong gian phòng này với Kim. Và xa mãi. Kim bắt tay tôi và đi với người chồng. Tôi trở về một mình vào một đêm giới nghiêm. Khi ra đến đầu cầu thang, mẹ và anh chị Loan đã đi khỏi. Lành đứng bơ vơ ở đó. Tôi đưa khăn cho Lành, tôi cảm thấy ngượng ngùng trở đến vội vã. Xuống thang Lành im lặng. Không khí tưng bừng của phòng tiệc đã hoàn toàn tan loãng, tiếng nhạc đã tắt, tiếng cười đã mất, những câu chuyện vui, lời chúc mừng hạnh phúc đã bay đi. Bây giờ là tiếng giày khô khan của Lành gieo trên nền đá bậc thang. Hôm nào tôi cũng đã gieo những bước đi như thế. Những bước rời rã, không khí im lặng, những vui đã hết. Tôi lấy bao thuốc từ trong túi quần ra, bao thuốc chừng như đã nằm ở đó từ hơn ngày nay bẹp dí. Tôi lồng ngón tay trỏ vào lòng bao lồng cho bao thuốc phồng ra. Chỉ còn hai điếu đã quăn queo. Tôi lấy hết ra, để một điếu vào túi áo sơ-mi, một điếu để lên miệng và mồi thuốc hút. Bây giờ Lành đã là vợ tôi. Khói thuốc bay lên. Suốt buổi chiều nay bây giờ tôi mới được hút hơi thuốc đầu tiên. Lành bỗng dừng lại và ho. Tôi vội vứt bỏ mẩu thuốc, Lành nhìn tôi vẻ cám ơn, chúng tôi tiếp tục bước xuống. Vừa đúng một tuần lễ nhanh chóng. Câu chuyện mới xảy ra buổi chiều hôm nào, sau khi tôi gặp Thịnh. Tôi đã say. Trong quán. Tôi nhớ. Trên mặt bàn, dưới gầm hai mươi chai bia, không đứng ngay ngắn, những chiếc ly chỉ còn lại chút nước đá, Thịnh giơ tay búng gọi thằng nhỏ, tôi đưa tay giữ lấy - Thôi không uống nữa, đủ say rồi - tôi quay ra nói với thằng nhỏ - Tính tiền đi mày. Thịnh đưa con mắt đỏ ngầu nhìn tôi
- Thôi sao, bây giờ đã hết buồn, đã không cần say nữa sao? Quên rồi à? - Say rồi, đủ say rồi, bây giờ còn gào thét với ai nữa mà say. Quên thế nào được. Mười chai rồi chứ ít gì. - Mười chai, cái hồi đó cậu uống bằng hai là ít. Nữa đi.
- Thôi, anh cũng nên biết: tôi đã hứa với người ta không say nữa... Thịnh cười ngất, vẻ khoái, lấy thuốc ra đưa cho tôi.
- À, nếu vậy thì thôi, giữ cho cậu chung tình chứ. Người ta cho đi tàu suốt như vậy mà còn nghĩ tốt. Cậu còn bị lừa, có khi suốt đời cậu nữa.
- Thà vậy đi. Thịnh trả tiền la-de, chúng tôi ra khỏi quán. Tôi nói tôi phải về. Thịnh ngần ngừ một lúc rồi nói thôi được, tôi chui vào ciné đây. Thịnh bắt tay tôi nói: - Nếu gặp nàng, nói tôi gửi lời hỏi thăm. Tôi nói cám ơn cậu.
Thịnh nhăn mặt, cái điệu cậu nói tôi là chồng nàng tôi đánh vỡ mặt. Tôi cười nói xin lỗi cậu, có vậy mà cậu cũng nổi nóng được sao. Xe rồ máy chạy. Tôi tìm kiếm điếu thuốc khác và bước trở về nhà. Dọc đường phố tôi gặp một vài người quen và cúi chào! Đã sáu tháng, từ ngày đám cưới của Kim nay tôi mới gặp lại Thịnh. Thịnh là bạn của tôi và cũng là bạn của Kim lúc nhận được tin Kim lập gia đình. Thịnh trở về tưởng chú rể là tôi, nhưng đến lúc thấy không phải Thịnh ngạc nhiên không ít, Thịnh la lên và hỏi tôi tại sao? Tôi cười không trả lời. Bởi vì Thịnh rõ tôi và Kim yêu nhau đã nhiều năm. Tiếng Thịnh: tôi không thể hiểu được, không thể hiểu được. Tại sao? Tại cậu, tại Kim hay tại cái gì. Tôi nói tại số, tại trời. Thịnh bảo không tin. Trong hai đứa chắc có một đứa tồi... Tôi bảo: tôi đó. Đến hôm đám cưới của Kim, Thịnh bảo: có đi không. Tôi bảo tại sao không. Thịnh thấy tôi vẫn bình thường, trong đám cưới ngay với Kim tôi vẫn không có gì thay đổi. Tôi vẫn cười, vẫn ngọt nhẹ nương chiều âu yếm. Thịnh hỏi Kim tại sao vậy. Kim cười bằng mắt nhìn tôi không trả lời Thịnh. Thế là thế nào. Tôi nói thay Kim thế đó và tôi cười thành tiếng. Tôi đã ăn, đã uống rượu và tôi say. Khi tôi say tôi không giấu được ai nữa. Sáu tháng trước Thịnh bảo: cậu là thứ khỉ đếch chịu được. Hồi đó chia tay tôi không cười. Bây giờ Thịnh về, Thịnh gặp lại tôi, Thịnh muốn tôi say. Tôi nhớ lại khung cảnh những người trong đó có Thịnh, có Kim và tôi cười, như trong tấm hình chụp kỷ niệm. Người ta đã phụ nhau rồi đấy. Em đi không nón không áo choàng. Tôi còn yêu tôi cứ yêu. Tôi còn yêu mãi, yêu mãi, yêu hoài. Tôi lẩm nhẩm thành tiếng những câu thơ, câu hát rời rạc chợt xuất hiện...
Tôi mở cửa bước vào nhà, tôi sửa soạn một nụ cười với bà chủ, căn phòng khách, trên chiếc ghế mỗi buổi chiều, giờ này bà ngồi đọc nhật báo. Nhưng hôm nay bà chủ không có đó, tôi đi ngang phòng ăn, chiếc bàn rộng trải khăn ca rô đỏ trống trơn. Chẳng lẽ tôi đã về quá muộn đến nhỡ bữa ăn. Tôi đi vào rửa mặt, đi tiểu và leo lên gác, mở cửa, vào phòng. Cơn say mới ập xuống, đè nặng trên hai mí mắt. Tôi cố gắng tỉnh táo cởi bỏ áo ngoài trước khi lăn lên giường.
Tôi thức dậy vì tiếng nói của Trạch và Hoàng. Trạch thấy tôi thức hỏi:
- Cậu ăn cơm chưa. - Mình về trễ, nhưng cũng không đói. Mình ăn rồi. Hoàng nói: - Mùi rượu xông nặc, mình đã biết ngay. Bọn này bị bỏ đói. Bà chủ phải phát tiền cho đi ăn phở - Sao lại vậy, bà ấy đau à - Chuyện cô Lành, cậu không biết sao? -Không - Thằng Trác trốn đi, vỡ lẽ cô Lành đã có bầu với nó. Chết chưa.
Tôi ngạc nhiên, thế được sao, Trạch và Hoàng tiếp tục bàn tán, tôi lấy quần áo đi tắm. Trong nhà trọ, từ bốn tháng nay tôi đã chứng kiến nhiều chuyện kỳ cục. Đã có một vụ lường gạt về tình nhưng không để lại dấu tích, hai cô cậu đều bỏ đi, một vụ thành đôi vợ chồng, cưới nhau ba tháng có con đầu lòng, sau khi ăn đám cưới đó tôi bị xe hơi tông suýt gãy tay, người ta bảo dự những đám cưới như vậy xui lắm. Căn nhà tôi ở trọ là một căn nhà hai tầng nằm ở trung tâm thành phố, trong một ngõ cụt hai bên có hai dãy nhà hai tầng cho những công chức cao cấp và nhà buôn lớn cư ngụ. Bà chủ nhà có hai người con gái, ở giữa hai người con gái này là một người con trai hiện là thiếu úy bộ binh. Người chị tên Loan, đã lập gia đình, có một người con gái hai tuổi. Người chồng buôn bán cũng ở chung với mẹ vợ. Người con gái sau là cô Lành hiện là nữ sinh mới thi đỗ tú tài phần một. Về cô Lành từ hồi tôi đến đây ở trọ, tôi để ý thấy các cậu trai ở trọ đều dòm ngó đến, nói theo giọng Trạch: nếu được mình khỏi trả tiền trọ, nói theo giọng Hoàng: trường túc bất tri lao, cái mông hay lắm. Tôi thường tép miệng: cũng được. Cũng được. Bây giờ tôi vẫn có thể nói như thế. Khuôn mặt Lành, một khuôn mặt nhẹ nhàng bình thường, nước da trắng mịn, đôi lông mày thưa, con mắt màu hạt dẻ. Đúng như tên gọi của nàng, Lành có vẻ hiền lành, dáng người cân đối vừa phải, đôi chân nàng nhỏ và trắng thường đi dép mỏng. Lành là một người con gái đủ làm cho các bà mẹ yên tâm, và với bà chủ nhà là một điều hãnh diện. Với các cậu trai ở trọ, cậu nào cũng trải qua một giai đoạn đầu ngượng ngùng rồi sau đều ngọt ngào xưng con với bà chủ. Chừng như đó cũng là điều làm cho bà chủ hãnh diện. Bây giờ Lành đã không còn là Lành như trước nữa. Và Trác đã bỏ đi. Một kẻ đã phản bội. Tôi cười thầm. Mọi người đã hạnh phúc. Phải không. Bây giờ bào thai trong bụng đó.
Chúng tôi đã xuống đến tầng lầu cuối. Người gác đi ra trước mặt cúi chào. Thế là xong. Tôi cố tạo vẻ thân mật khoác lấy tay Lành. Đêm đã khuya, trên lộ vắng xe, hàng xe đậu sát bên lề lúc trước giờ chỉ còn lại vài cái. Câu đầu tiên tôi đã nói với Lành vào buổi tối hôm đó: Lành bằng lòng làm vợ anh không? Và Lành gật đầu. Bây giờ Lành đã là vợ tôi. Tôi nói trong sự bình thản của mình. Tôi không có một chút cảm xúc nào. Tôi đã không ngờ tôi có thể quyết định mau như vậy, Trạch và Hoàng đã không giấu được ngạc nhiên và sau chót họ đều hỏi: cậu được bao nhiêu tiền. Tôi đã phá lên cười. Chừng như tôi đắt giá lắm, người ta mua tôi sao?
Sau khi nghe rõ câu chuyện về Lành, mới đầu tôi dửng dưng nhưng sau tôi thấy thương Lành, có lẽ tôi không thương Lành mà tôi thương tôi. Với tôi, dấu tích một phụ bạc không có, nhưng với Lành, dấu tích đó còn mãi, còn đời. Tôi đã hiểu nỗi khổ tâm của một gia đình, trong đó thường bà mẹ chịu nhiều đau khổ nhất về một lầm lỡ của con gái mình. Sao lại gọi là lầm lỡ. Yêu nhau là lầm sỡ sao. Chắc không. Có điều đã nhầm để trao tình yêu cho một kẻ đáng ra không được hưởng tình yêu đó. Nhưng đã chắc gì, nói như giọng Hoàng: con nhỏ định làm chuyện đã rồi để bắt thằng Trác phải cưới. Tôi la lên: Sao đã chắc vậy.
- Tôi biết có đứa trót có mang với thằng khác rồi đi đổ cho thằng khác nữa. Đã chắc gì thằng Trác ngủ với con Lành. Tôi nói: Vậy cậu đã ngủ với cô Lành chưa?
- À, biết đâu đấy, và Hoàng cười, lúc sau Hoàng nghiêm nét mặt: sao cậu lại có vẻ bênh cô Lành vậy. Một ý nghĩ chợt đến. Tôi nói: Nếu cô ấy bằng lòng tôi sẽ cưới cô ấy ngay. Cô ấy sẽ trở thành một bà vợ tốt. Cô ấy bị gạt. Một câu nói rất vô tình đã lọt vào tai bà chủ.
Sau cơn say váng vất của la-de từ buổi chiều, những buồn nản sau bao nhiêu ngày trống rỗng. Từ khi Kim phụ tôi, tôi loãng đi, và tôi rõ: thực tôi đã không yêu ai ngoài Kim. Tôi đã nói đùa, bây giờ tôi muốn cưới vợ cũng không có vợ để cưới. Kim lấy mất đi trong tôi bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu hy vọng... và những thân yêu tôi đã có trong cuộc sống. Mới đầu tôi không nghĩ Kim phụ bạc tôi, tôi vẫn yêu Kim và phần nào tôi có cảm tưởng Kim vẫn yêu tôi, Kim phải lấy một người khác vì hoàn cảnh của nàng, hoặc như Kim nói: cái số, em không nghĩ gì cả. Nhưng mãi sau, dần dần men rượu cay đắng thấm mãi, tôi nghĩ tôi đã bị lừa. Tôi đã lý tưởng cả những gì mà bản chất nó không có tí gì lý tưởng. Em không nghĩ gì cả, đó là một điều lừa dối. Em nghĩ đến sự bình thường của đời sống, đến danh vọng, tiền bạc. A ha! Tôi đã cười ngất. Tôi đã bị phụ bạc.
Tôi đã đóng vai một thằng hề leo dây giữa lòng phố để cho thiên hạ vỗ tay reo vui, và một hôm nào tuột chân ngã xuống. Với Kim, tôi đã đóng vai một thằng hề chung thủy cho nàng đẩy tôi ngã xuống, nàng không cười thành tiếng, nàng đã giấu đi nụ cười, để nhỏ ra mấy giọt nước mắt an ủi tôi. Nghĩ thế, tôi rã tan. Tôi đã thua một canh bạc lớn, canh bạc không phải của lần ăn thua đen đỏ, mà canh bạc quay đời sống tôi lăn mãi, như quân xúc xắc, trong lòng bát được xóc lên bởi một bàn tay vô hình. Bao nhiêu những gì trong tôi đảo lộn. Cơn vật vã kéo dài âm ỉ và từng chút, từng chút một lúc nào đó lại thức dậy, như một mũi kim nhọn nằm trong thớ thịt. Tôi oán và trách, tôi nhớ những kỷ niệm cũ, hình ảnh của Kim trong ký ức lại hiện ra. Thời gian sau này, chợt có những lúc tôi nhớ Kim tha thiết hơn. Và cũng từ đó tôi buồn hơn. Có lẽ với tâm trạng đó tôi thương Lành.
Tôi đứng lại rất lâu, Lành hỏi:
- Mình về chưa anh?
Tôi giữ tay Lành:
- Anh muốn được đi ăn cái gì, bây giờ đói quá.
- Em cũng có ăn được gì đâu. Nhưng em không thấy đói, mình đi ăn cháo gì vậy anh, gần đây có hàng đó.
- Anh lo chạy, lại phải uống rượu... bây giờ nóng ruột.
Chúng tôi bước qua đường. Mình về chưa anh. Về đâu. Tôi nhói đau. Tôi không có nhà để về. Bây giờ chúng tôi sẽ vào một khách sạn. Ở đó qua đêm tân hôn của chúng tôi. Tôi đã nói với Kim: cưới nhau xong chúng mình sẽ đi Đà Lạt hay Nha Trang. Chúng tôi mường tượng với nhau về một khung cảnh đầm ấm, nên thơ của một đôi vợ chồng mới, với đồi cỏ, rừng cây, với bãi cát, với biển xanh. Những mơ mộng của bất cứ cặp trai gái nào. Bây giờ tôi mất Kim, mất mơ mộng, tôi đi với Lành vào một căn phòng khách sạn rồi sáng mai trở về nhà trọ của tôi mà nay là nhà mẹ vợ. Tôi đã được bao nhiêu tiền. Tôi đã được mua như bọn nó nói. Giống đực đắt giá thế sao. Ở đâu, người khác, không phải tôi. Câu chuyện bất ngờ tối hôm đó đã làm tôi không có một chút phản ứng nào. Sau khi tắm rửa, tôi ra phố ăn và uống cà phê. Nửa năm đã trôi qua. Tôi về nhà trễ và đi ngủ. Vừa tắt đèn một lúc thì bà chủ cho người hầu vào đánh thức tôi dậy, nói xuống cho bà được gặp. Mới đầu tôi nghĩ bà muốn hỏi ý kiến tôi về câu chuyện của Trác. Tôi vốn có cách sống chừng mực nên vẫn được bà hỏi han nhiều việc. Khi xuống đến nơi bà mời tôi cẩn thận, bà kêu pha nước. Trước nhất bà nói lại câu chuyện cho tôi nghe, vừa nói bà vừa khóc rất khổ tâm. Tôi lấy giọng êm đềm an ủi bà, tôi nói chắc thế nào rồi Trác cũng nghĩ lại; bà chủ kêu lên: Không đâu cậu ơi, tôi đã gặp nó rồi, nó vuột hết nó còn nói: con bà đĩ như vậy đã chắc gì đó là con của tôi. Trời ơi, cậu thấy đó, con tôi con nhà gia giáo nề nếp, nó có biết gì, nó làm hư hỏng cả đời con tôi nay nó bỏ đi... Tôi chỉ muốn nó bằng lòng, chuyện cưới xin tôi lo hết, cả đời nó nữa...
Bà chủ khóc, tôi cũng chẳng biết phải nói gì. Tôi nhớ đến Trác, vẻ bình thường, có chút gì hơi khôn ngoan, nhưng tôi không ngờ là Trác đã có thể hành động như thế. Tôi ngồi mãi trên ghế với ý nghĩ đặt mình làm cớ cho bà chủ trút đi nỗi buồn rầu. Nhưng bỗng bà hỏi tôi: Cậu có thương em nó không. Thế là nó khổ cả một đời... Tôi cũng không biết nói sao. Lúc sau, rất lâu bà nói với tôi vẻ rụt rè: Có thật tình cậu muốn lập gia đình với em nó không?
Một tuần lễ sau, vừa đúng, hôm nay tôi đã là chồng của Lành.
Hai chúng tôi bước chân vào một tiệm mì, ở đây không có cháo, tôi gọi cho tôi hai vắt mì nhỏ. Lành chiều ý tôi ăn một vắt. Sau câu hỏi của bà chủ, mới đầu tôi hơi choáng váng, mãi sau tôi mới lấy lại được bình tĩnh. Tôi nói: Với Lành, Lành ngoan lắm, cháu rất mến, nhưng cháu sợ làm buồn lòng cô ấy thôi. Dù sao bà cũng để cho cháu nghĩ lại. Trong câu chuyện bà cho biết Lành đã có mang hai tháng, chưa ai biết chuyện đó cả. Bà muốn câu chuyện được giải quyết sớm, bà ân cần nói với tôi: Cậu là người tôi rất quý, vì thế tôi mới dám nói với cậu. Tôi đã gặp Lành và hỏi ý Lành về điều mẹ nàng đã nói với tôi. Tôi hỏi Trác có yêu cô không. Lành nói: Không, em hiểu em đã bị lợi dụng, đã bị phản bội. Đến lúc biết thì đã muộn. Tôi nói: Nếu Lành bằng lòng tôi có thể nhận lời để lập gia đình với Lành. Tôi nói cô nên nghĩ kỹ, dù sao chuyện này đối với cô cũng quan trọng. Với tôi có lẽ ít hơn. Tôi có ra gì đâu, nhưng với vợ, có lẽ tôi cũng không tệ lắm. Và sau cùng là đám cưới, bây giờ là lúc chúng tôi trở về gian phòng khách sạn.
Đứng lên, ra khỏi tiệm, tôi nói tôi muốn ngủ. Tôi vẫy tay kêu xe. Khi lên xe tôi ứa nước mắt, cầm lấy bàn tay đeo nhẫn tôi hôn lên đó. Lành hỏi:
- Anh buồn vì đã lấy em?
Tôi nói:
- Không, anh buồn vì người ta đã phản bội em.
Kim đã lấy chồng, đã sung sướng ra sao. Tôi lặng lẽ nhớ về những gì đã có. Trong những người đến với em, anh là người em yêu hơn hết. Em ngoại tình trong tư tưởng, phải không anh. Tôi mỉm cười. Có điều anh ngu phải không. Kim lặng im. Có lẽ anh không yêu em như em tưởng. Tôi nói tùy em nghĩ. Thời gian đã trôi, đã trôi, mới đầu tôi tưởng tôi không yêu nhưng cho đến nay tôi rõ, tôi yêu Kim. Và nàng đã phụ tôi, nếu không nói, nàng đã đánh cắp của tôi bao nhiêu quý mến, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu hy vọng... Tôi cũng như Lành, chúng tôi bị phản bội.
Xuống xe, chúng tôi bước chân vào khách sạn, người bồi đưa cho chìa khóa phòng chúng tôi đã dành sẵn. Lên thang lầu, dáng Lành buồn hẳn xuống. Vào phòng Lành bỏ quần áo, tôi chỉ bỏ áo ngoài rồi ngồi xuống ghế bành. Đêm im vắng. Bụng của Lành hơi lớn. Tôi lấy thuốc hút. Lành ngồi nơi đầu giường. Tôi tắt ngọn đèn lớn. Lành hỏi:
- Anh hết buồn ngủ rồi sao?
- Còn.
Khi nằm trên mặt giường, Lành quấn chăn nói:
- Anh có hối hận không?
Tôi cầm tay của Lành để lên mặt tôi. Giấc ngủ tan loãng. Tôi sẽ có một đứa con.
- Anh có khinh em không?
Tôi trườn người hôn lên mắt Lành đầy lệ.
- Anh khinh người phản bội em. Có điều chúng ta phải giúp nhau sống.
- Em thương anh, rồi em sẽ yêu anh. Anh tin không?
Tôi gật đầu. Lành vỗ về tôi:
- Anh hãy ngủ đi. Anh đang nghĩ về một người khác phải không?
- Như em.
- Không, em nghĩ đến đứa con.
- Anh nghĩ về một người lạ đã chết.
Tôi quay người nhìn vào vách tường, ở đó tôi thấy một cái ống nhổ lớn. Tôi với tay tắt đèn và hát nho nhỏ: “Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây...”.
9-1960
Dương Nghiễm Mậu
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...