Con tim và lý trí của thi sĩ
Xuân Diệu: Giai đoạn 1954-1958
Trong giai đoạn 1954 - 1958, Đảng Lao động Việt Nam, sau nhiều
đợt giằng co tiến thoái, đã áp đặt được sự kiểm soát trên tất cả các lĩnh vực của
hoạt động thông tin văn hóa và học thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đối
với nhiều nhà trí thức cách mạng, tình trạng mất tự chủ về chuyên môn là một điều
thất vọng đến bất ngờ. Họ từng nghĩ rằng những cống hiến trong kháng chiến chống
Pháp (Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất – 1946-1954) và kết quả thắng lợi của
cuộc kháng chiến là đủ chứng minh cho sự trung thành của mình với cách mạng. Họ
cảm thấy như vậy là đương nhiên sẽ có thêm không gian riêng trong lĩnh vực
chuyên môn, vốn nằm trong tầm kiểm soát chặt chẽ của đảng suốt tám năm kháng
chiến.[1] Nhưng
giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam lại nghĩ khác. Giai đoạn bốn năm
sau khi chiến tranh kết thúc là thời gian giải quyết những khác biệt về quan điểm
nói trên, đồng thời đặt ra những quy định thiết yếu cho đời sống trí thức của
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đa phần vẫn còn được bảo lưu cho đến tận
hôm nay. Chính ở giai đoạn ngắn ngủi này, tầng lớp trí thức của chế độ đã chứng
kiến những đổi thay bất ngờ, những lật lọng khó đoán, và không ít người trong số
họ đã tự mình trải nghiệm những xử lý khiến số phận họ hoàn toàn thay đổi.
Câu chuyện về những người trong hàng ngũ trí thức đã phản
kháng quyết liệt nhất trước sự áp đặt và kiểm soát của giới lãnh đạo đảng – gồm
những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và học giả gắn liền với phong trào Nhân văn-Giai
phẩm – là một trong những lĩnh vực được để ý nhiều nhất trong lịch sử Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa.[2] Phong
trào được đặt tên theo hai ấn phẩm do các nhà trí thức cách mạng bất mãn xuất bản
vào năm 1956 – báo Nhân văn và các tuyển tập mang tên Giai phẩm,
đã thu hút được sự chú ý của giới học giả trong nhiều thập kỷ chủ yếu vì nó được
đánh giá là một trong những khoảng mở hiếm hoi để tìm hiểu về mức độ đắc nhân
tâm của chủ nghĩa cộng sản ở miền Bắc Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu thấy bất
ngờ về mức độ đa dạng và thẳng thắn của những ý kiến và yêu cầu của năm mươi bảy
nhà trí thức từng tham gia trực tiếp vào Nhân văn-Giai phẩm đã bày tỏ với chế độ
Mác-xít-Lê-nin-nít và đã thu hút được sự đồng tình của số đông quần chúng.[3] Gộp
chung những đề tài nghiên cứu hiện có về phong trào này, ta sẽ có được một bộ
chân dung rất phong phú về những nhân vật trụ cột. Điều này được thực hiện một
phần là nhờ những học giả phương Tây đã phỏng vấn được những thành viên của
Nhân văn-Giai phẩm đang còn sống, sau khi các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam
thi hành chính sách Đổi mới vào năm 1986.[4] Một yếu
tố khác nữa là, cùng với thời gian, các học giả nghiên cứu về phong trào đã cân
bằng trở lại, thoát khỏi ảnh hưởng của chính trị cực đoan thời Chiến tranh Lạnh,
cũng như tư tưởng lạc quan tếu thời Đổi mới gần đây.
Tuy vậy, chân dung những trí thức nòng cốt, những người đã trợ
giúp lãnh đạo đảng đàn áp, thanh lọc và trừng phạt những thành phần tham gia
Nhân văn-Giai phẩm vẫn gần như giữ nguyên hình dạng đơn sắc, đơn tuyến và thậm
xưng theo kiểu biếm họa so với những nghiên cứu của thời kỳ trước. Trong thực tế,
nhiều nhà trí thức nòng cốt này tiếp tục có một sự nghiệp gây ảnh hưởng lớn
trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thậm chí sau khi nhà nước này được hóa
thân thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.[5] Thực
ra, dấu ấn của những người này trên đời sống trí thức của Việt Nam còn
sâu đậm hơn rất nhiều so với những nhân vật cải cách kém may mắn của phong trào
Nhân văn-Giai phẩm. Bài luận này là một cố gắng giải quyết sự thiếu hụt thông
tin nói trên, và chuyển hướng tiêu điểm của sự chú ý từ những ngôi sao của
phong trào Nhân văn-Giai phẩm sang một trong những người bảo vệ quan điểm chính
thống của đảng, đó là nhà thơ nổi tiếng, người đã cải hóa thành nhà thơ cách mạng
theo chủ nghĩa Mác-Lê nin từ một quá khứ từng là thi sĩ lãng mạn vĩ đại, Xuân
Diệu (1916-1985). Bản chất mối quan hệ của nhà thơ với Đảng Lao động Việt Nam là
gì, và vì sao ông lại quyết định đả kích trực diện những nhà trí thức đã
lên tiếng yêu cầu lãnh đạo đảng thực thi cải cách vào cuối năm 1956?
Vào những năm cuối thập niên 1950 và đầu 1960, học giả Sài
Gòn Hoàng Văn Chí, một người gốc Bắc di cư và cựu thành viên của Việt Minh, lập
luận rằng Xuân Diệu chỉ đơn thuần là một công chức làm việc cho Đảng Lao động
Việt Nam như ông đã từng làm (nhân viên hải quan) cho Pháp thời thuộc địa.[6] Chịu ảnh
hưởng của tác phẩm Giai cấp mới: Phân tích về Thế giới Cộng sản của
Milovan Djilas xuất bản năm 1957, Hoàng Văn Chí cho rằng những trí thức nòng cốt
như Xuân Diệu không phải là những tín đồ thật sự của chủ nghĩa Mác-Lê mà chỉ là
những kẻ cơ hội chủ nghĩa có tham vọng chính trị, đàn áp Nhân văn-Giai phẩm để
bảo vệ quyền lợi giai cấp của mình. Theo cách diễn giải này, Nhân văn-Giai phẩm
là một phong trào yêu nước gồm những nhà trí thức đủ mọi tầng lớp đấu tranh chống
lại sự “áp bức trí thức” mà giới tinh hoa văn hóa được chế độ sủng ái đang áp đặt
lên họ. Hoàng Văn Chí nhìn nhận giới tinh hoa văn hóa này như một “giai cấp mới”,
chung một bản chất ích kỷ và là những tay sai tận tụy của lãnh đạo đảng.[7]
Năm 1990, một học giả người Pháp, cựu đảng viên cộng sản tên
là Georges Boudarel, người đã từng tham gia Việt Minh trong cuộc Chiến tranh
Đông dương lần thứ nhất và sống tại Hà Nội từ năm 1954 đến tận năm 1964, xuất bản
cuốn sách mở đầu cho dòng nghiên cứu về các trí thức đối kháng của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa nhan đề Trăm Hoa Vẫn Nở Giữa Đêm Việt Nam: Chủ nghĩa Cộng sản
và Bất đồng Chính kiến, 1954-1964 (Cent fleurs ecloses dán la nuit du
Vietnam: communism et dissidence 1954-1964). Nếu như lập luận của Hoàng Văn Chí
gần giống với của Djilas trong Giai cấp mới, thì tác phẩm của Boudarel có
thể được coi như phiên bản Việt Nam của tác phẩm Cuộc Cách mạng
bị phản bội của Leon Trotsky.[8] Học
giả người Pháp này cho rằng các trí thức của phong trào Nhân văn-Giai phẩm chia
sẻ sự tương đồng quan điểm ở chỗ cùng ghét cay ghét đắng một quan chức Văn nghệ
kiểu Stalin: Tố Hữu, cùng phản đối chủ nghĩa Mao-ít, và cùng mong muốn chế độ
mà họ đang phục vụ thực hiện những cam kết chính trị mang tính nhân văn (nhất
là tự do ngôn luận).[9] Tuy nhiên, những vấn đề cốt lõi này, cũng như những
điểm tương đồng khác như sự bất bình vì chứng kiến sự suy đồi văn hóa chính trị
đang diễn ra xung quanh, và lòng căm ghét thường trực đối với chế độ Sài Gòn được
Mỹ bảo trợ đã không đưa họ đến một sự thống nhất về một chương trình chính trị
chung.[10] Về
động cơ của Xuân Diệu khi tham gia đàn áp Nhân văn-Giai phẩm, Boudarel chỉ nêu
ra một lý do là nhà thơ “thân cận với giới lãnh đạo đảng”.[11]
Ba năm sau, vào năm 1993, nhà lịch sử văn hóa Neil Jameison
cũng đưa ra quan điểm riêng về vấn đề này, và lập luận trong cuốn sách Tìm
hiểu Việt Nam rằng Xuân Diệu cũng như những trí thức cực tả khác của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa có động cơ là niềm tin trung kiên vào chủ nghĩa Mác-Lê:
“Có lẽ Xuân Diệu là người nhiệt tình nhất trong số các nhà
văn, nhà thơ tham gia Kháng chiến. Ông không còn bấu víu lấy cuộc đời bằng những
móng tay và đối mặt với biên giới băng giá của chủ nghĩa hư vô nữa. Dưới ảnh hưởng
của người bạn thân Huy Cận, Xuân Diệu đã trở thành một cảm tình viên nhiệt
thành và được kết nạp Đảng vào năm 1947.[12] Sự
nổi tiếng và tài thơ của ông là một đóng góp giá trị đối với Việt Minh. Để bù lại
cho thành phần gia đình tư sản và quá khứ là thi sĩ lãng mạn nhất, Âu hóa nhất
và riêng tư nhất trong văn giới Việt Nam, Xuân Diệu trở thành người cực
đoan nhất trong giới văn nghệ cộng sản mới. Ông là người ca ngợi “Bác Hồ” và “Đảng”
nhiệt tình hơn ai hết:
Mỗi lần tranh đấu gay go
Chúng con lại được Bác Hồ tới thăm
Nghe lời Bác dạy khuyên răn
Chúng con ước muốn theo chân của người…
Chúng con thề nguyện một lời
Quyết tâm thành khẩn lột người từ đây.
Qua cụm từ “lột người từ đây”, Xuân Diệu muốn thể hiện chính
xác, không thừa không thiếu, sự tái sinh dưới một diện mạo mới. Đây là sự thể
hiện nguyện ước được “tái sinh” dưới chủ nghĩa cộng sản… Đây là lời thỉnh cầu
được thay đổi bản ngã tương tự như việc cải đạo, một trải nghiệm tôn giáo, một
sự lột xác hoàn toàn. Cả Lưu Trọng Lư và Xuân Diệu đã tìm được ý nghĩa mới và mục
đích mới của cuộc đời, cùng thay đổi cá tính cũ của mình.[13]
Trong phần sau của cuốn sách, Jamieson lập luận rằng đối với
Xuân Diệu cũng như các nhà thơ cách mạng khác, “kỷ luật của đảng cộng với tư
cách thành viên trong một nhóm xã hội khép kín, có tính tổ chức cao đã khiến họ
trút bỏ được gánh nặng của chủ nghĩa cá nhân và cho họ một diện mạo mới đắc ý
hơn.”[14] Chính
vì lý do đó, Jamieson cho rằng quyết định của Xuân Diệu tham gia ném đá Nhân
văn-Giai phẩm xuất phát từ lòng tin cuồng nhiệt vào lý tưởng chung theo thuyết
giáo của Đảng Lao động Việt Nam. Trong số các nghiên cứu về Xuân Diệu, ý kiến của
Jamieson gần nhất với quan điểm chính thống, hiện vẫn được phổ biến ở trong nước
khi đánh giá về nhà thơ.
Nghiên cứu mới nhất về Nhân văn-Giai phẩm của Kim Ninh (2002)
và Heinz Schutte (2003) cũng có vẻ đồng điệu với quan điểm của Jamieson, coi
Xuân Diệu như một tín đồ thực thụ của chủ nghĩa Mác-Lê trong khi các thành viên
của Nhân văn-Giai phẩm có tính cách phức tạp, xuất phát từ sự đa dạng về cá
tính, nghề nghiệp và lập trường chính trị. Schutte, trong bài nghiên cứu quan
trọng về Nhân văn-Giai phẩm dưới lăng kính của Đại Sứ quán Đông Đức tại Hà Nội,
đã viết như sau:
“Những đại diện của (phong trào) Thơ mới của những năm đầu thập
kỷ 40 như Huy Cận (sinh năm 1920) và Xuân Diệu (1916-1985) – bị mất cảm hứng
lãng mạn, phải chịu đựng sự đau khổ khi phải rời bỏ chủ nghĩa cá nhân, đã được
Đảng, Việt Minh và cách mạng tái sinh, nên đã hòa nhập hoàn toàn vào tập thể cách
mạng. Nhưng không phải trí thức Việt Nam nào cũng vậy. [Những thành
viên phong trào Nhân văn-Giai phẩm như] nhà thơ Hoàng Cầm (sinh 1922), Trần Dần
(1924-1927), và Lê Đạt (sinh 1929) và các học giả như Phan Khôi (1887-1959),
Đào Duy Anh (1904-1988) và Trần Đức Thảo (1917-1993) chưa từng biến mình thành
“những cái máy chỉ biết phục tùng” của đảng, được nhồi sọ, và tiếp thu một chiều,
không phản biện với những khẩu hiệu thích hợp.”[15]
Như vậy, theo Schutte, Xuân Diệu đã “hòa nhập hoàn toàn” vào
phong trào cách mạng, để trở thành (chúng ta có thể suy luận) một “cái máy chỉ
biết phục tùng của đảng”, không phản biện suy tư về tư tưởng Mác-Lê của Đảng
Lao động Việt Nam.
Chúng tôi cố gắng nêu ra qua bài luận này rằng Xuân Diệu, khi
được nghiên cứu với phương pháp từng chỉ được dành riêng cho các thành viên của
Nhân văn-Giai phẩm, sẽ không còn là hình ảnh một chiều, đơn tuyến như giới học
giả thường mô tả ông. Thực chất, ông cũng có nhiều điểm giống với các thành
viên của phong trào Nhân văn-Giai phẩm mà ông từng giúp đảng đàn áp. Trước hết,
cũng như các tác giả nổi tiếng nhất của Nhân văn-Giai phẩm như Trần Dần, Lê Đạt
và Hoàng Cầm, ông cũng gặp rắc rối với giới lãnh đạo đảng về các vấn đề liên
quan đến đời sống tình cảm của mình.[16] Tuy
nhiên, trong trường hợp của Xuân Diệu, vấn đề không phải là thành phần giai cấp
của người bạn tình mình chọn, mà ở chỗ ông có nhiều bạn tình, tất cả
đều là đàn ông. Điểm thứ hai, và cũng là một trong những điều trớ trêu đáng ghi
nhớ nhất của giai đoạn này, Xuân Diệu chính là người, với vai trò thư ký toàn
soạn của ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của đảng, báo Văn nghệ, đã xuất bản
những bài viết đầu tiên của Hoàng Cầm và Lê Đạt trong nỗ lực xoay chuyển nền
văn chương của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[17] Vào
tháng Năm năm 1955, những nhà văn trẻ có can đảm phê bình ngay cả nhân vật quyền
lực nhất trong văn giới, Tố Hữu, có thể đã coi Xuân Diệu như một đồng minh. Điểm
thứ ba là, đối với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa luôn gây
tranh cãi, Xuân Diệu công khai ca ngợi dòng văn học này và lớn tiếng chê bai những
tác phẩm lãng mạn cũ của mình, những sáng tác đã làm cho ông trở nên nổi tiếng.
Nhưng chỉ cần nghiên cứu sơ qua về những sáng tác cách mạng của Xuân Diệu, ta
cũng có thể nhận thấy những động thái cố gắng khai thác lại những đề tài và tiểu
tiết từ các tác phẩm lãng mạn của ông. Trên thực tế, ta có thể thấy Xuân Diệu
lưỡng lự không kém gì những thành viên của Nhân văn-Giai phẩm khi cân nhắc giá
trị nghệ thuật của các tác phẩm trước và sau cách mạng.
Để đánh giá lại quan điểm chung đã được đa số tán thành, coi
Xuân Diệu như một kẻ cuồng tín về tư tưởng cách mạng, có thể xem những lời bàn
khá căng thẳng về sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu xuất hiện trong các tờ báo
nhà nước và tư nhân hồi năm 1956, qua đó ta thấy nhiều đồng nghiệp đương thời
đánh giá những lập ngôn lạc quan của nhà thơ, tuyên ngôn rằng mình đã chuyển
hóa hoàn toàn từ chủ nghĩa lãng mạn cá nhân sang chủ nghĩa tập thể Mác-Lê, là
thiếu thuyết phục. Một nhà trí thức phê bình Xuân Diệu có “bệnh khoái cảm” –
khoái cảm bệnh hoạn khi tả về bạo lực chiến tranh trong thơ cách mạng, ngầm ám
chỉ rằng cảm hứng sáng tác của Xuân Diệu không phải bắt nguồn từ lý tưởng cách
mạng của chế độ.[18] Ba
nhà trí thức khác viết bài bật mí những thông tin tai tiếng về âm mưu lũng đoạn
tổ chức đảng từ hậu trường để mưu lợi riêng của nhà thơ, có ý chê Xuân Diệu là
một cán bộ thoái hóa, vẫn giữ nguyên thói ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa như mọi người
vẫn đánh giá trước khi nhà thơ tham gia cách mạng.[19]
Vì sao sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu lại gây nhiều tranh
cãi đến vậy trong giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và rốt cuộc, thái độ
thực của nhà thơ đối với hệ tư tưởng của chế độ là như thế nào?
Giai đoạn tiền cách mạng của Xuân Diệu
Một yếu tố quan trọng quyết định vị thế tương quan giữa cá
nhân Xuân Diệu và Đảng Lao động Việt Nam là sự nghiệp sáng tác trước
cách mạng của nhà thơ. Sinh năm 1916, ông sống với mẹ đẻ (là vợ hai của cha
ông) suốt những năm tháng thơ ấu ngay tại làng quê của bà gần kề thành phố cảng
Quy Nhơn. Năm ông 11 tuổi, cha ông (lúc đó đang dạy học) và người vợ cả của ông
quyết định đã đến lúc cậu bé Xuân Diệu phải xa người mẹ đẻ, đến sống chung với
họ tại thành phố Quy Nhơn để bắt đầu theo học ở một trường tiểu học gần nhà.
Sau đó, ông học tiếp lên các cấp cao hơn và giành được văn bằng của hai trường
thuộc địa danh tiếng nhất, là trường Lyceé du Protectorat (thường gọi
là trường Bưởi) và trường Quốc học Huế.[20] Năm
ông 19 tuổi, tức là vào năm 1936, Xuân Diệu bắt đầu có thơ đăng trên các tờ báo
có liên quan mật thiết với nhóm Tự lực Văn đoàn và Phong trào Thơ mới – cả hai
đều chịu nhiều ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn Pháp và chủ nghĩa cá nhân Tây
Âu. Sự nghiệp của ông lên nhanh, và chẳng mấy chốc Xuân Diệu trở thành một
trong những tác giả quan trọng (nếu không muốn nói là quan trọng nhất) của
Phong trào Thơ mới. Tiếng tăm của Xuân Diệu cũng nổi nhanh như sức lan tỏa của
Thơ mới trong công chúng. Năm 1942, nhà phê bình văn học giai đoạn tiền chiến nổi
tiếng Hoài Thanh đã mô tả về nhà thơ trẻ Xuân Diệu trong tác phẩm có nhiều ảnh
hưởng của mình về các nhà thơ hiện đại Việt Nam, Thi nhân Việt Nam:
1932-1941 như sau:
“Bây giờ khó mà nói dược cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi
Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta một y phục tối tân và chúng ta đã rụt
rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta
cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày
hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu,
ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái
cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta.”[21]
Hai tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, Thơ thơ (1938)
và Gửi hương cho gió (1945) được người đương thời cho là kiệt tác.
Các nhà phê bình nhận thấy trong thơ ông sự cảm nhận sâu sắc về tính phù du của
thời gian và sự mong manh của cuộc sống, và cả hai điều này đều làm gia tăng
lòng khát khao tuổi trẻ, mùa xuân và tình yêu toát ra từ những câu thơ của Xuân
Diệu.[22] Danh
tiếng của Xuân Diệu khiến ông trở thành một đối tượng vô giá đối với các lãnh đạo
cộng sản, những người sau này sẽ thường xuyên yêu cầu ông trấn an dư luận về
chính sách văn hóa.
Ở Việt Nam, các nhà phê bình văn chương đã phong Xuân Diệu
là ông hoàng thơ tình, và trong những năm gần đây, họ còn bắt đầu công khai thừa
nhận rằng các bài thơ tình của ông được lấy cảm hứng chủ yếu từ các mối tình đồng
tính của nhà thơ.[23] Ngoại trừ bài báo của Nguyễn Quốc Vinh về biến
thái trong văn chương Việt Nam thời thuộc địa, cho tới nay các học giả phương
Tây thường tránh đề cập trực tiếp về xu hướng luyến ái đồng tính của Xuân Diệu.[24]Hiển
nhiên là họ không muốn khai thác khía cạnh đời tư này của nhà thơ, nhưng mặt
khác lại muốn thể hiện là mình có biết về điều đó, nhất là với các độc giả có
kiến thức, nên các nhà nghiên cứu thường chọn cách giải quyết vấn đề như Kim
Ninh đã áp dụng trong cuốn sách xuất bản năm 2002 về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
của mình, Một thế giới đã hoán cải. Bà viết, “Xuân Diệu, một ngôi sao sáng
trong Phong trào Thơ mới, có thể dẫn Verlaine và Rimbaud một cách thoải mái, cảm
thấy gần gũi với những nhà thơ Pháp hiện đại này không kém gì các nhà thơ trẻ
cùng thời ở Paris”.[25] Những người quen thuộc với văn thơ lãng mạn Việt
Nam có thể nhận ra ngay lập tức rằng tác giả đang muốn liên hệ đến một bài thơ
của Xuân Diệu trong đó đồng tính luyến ái được thể hiện trực tiếp nhất, bài
“Tình trai”, ca ngợi mối tình cháy bỏng giữa hai nhà thơ thuộc trường phái Tượng
trưng Pháp, Paul Verlain và Arthur Rimbaud:
Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
Hai chàng thi sĩ choáng hơi men,
Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.
Những bước song song xéo dặm trường
Đôi hồn tươi đậm ngát hoa hương,
Họ đi, tay yếu trong tay mạnh,
Nghe hát ân tình giữa gió sương.
Kể chi chuyện trước với ngày sau;
Quên ngó môi son với áo màu;
Thây kệ thiên đường và địa ngục!
Không hề mặc cả, họ yêu nhau.
Khi các lãnh đạo đảng kết nạp Xuân Diệu vào tổ chức công khai
Việt Minh, họ đã tiếp nhận một thanh niên đầy tài năng và sức thu hút, đồng thời
có lẽ cũng là nhân vật nổi tiếng có biểu hiện đồng tính lộ nhất ở Việt Nam tính
đến thời điểm đó. Dù so ra vẫn là quá kín đáo theo tiêu chuẩn hiện tại, những
bài thơ tiền chiến của Xuân Diệu có hàm chứa đề tài đồng tính, và rõ ràng là xu
hướng đồng tính luyến ái của Xuân Diệu không những là một nguồn cảm hứng quan
trọng đối với thơ ông, mà còn là một phần bản ngã của nhà thơ. Nhưng đương
nhiên Đảng Lao động Việt Nam không hề khuyến khích tự do luyến ái, đừng
nói tới chuyện luyến ái đồng tính. Để hai bên có thể hợp tác với nhau được, cần
phải có một số điều nhân nhượng.
Giai đoạn mới tham gia cách mạng
Thời điểm đầu tiên Xuân Diệu va chạm với chủ nghĩa cộng sản
có thể tính vào tháng Sáu năm 1942, khi tổng thư ký Đảng Cộng sản Đông Dương,
Trường Chinh sáng tác bài thơ “Là thi sĩ” đề tặng tất cả các nhà thơ Việt Nam,
có những dòng như sau:
Nếu “thi sĩ là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”
…
Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc
Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn,
Véo von ca cho át tiếng kêu than
Của nhân loại cần lao đang giãy giụa
Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa
Là tai ương chướng họa của nhân quần,[26]
Được sáng tác trong lòng thành phố Hà Nội đang bị Nhật tạm
chiếm, bài thơ của Trường Chinh kêu gọi các văn nghệ sĩ, bất kể theo hệ tư tưởng
hay trường phái nào, hãy trút bỏ những mối quan tâm cá nhân và tiếp nhận sự
nghiệp cách mạng của dân tộc. Đúng ra, Trường Chinh đã dẫn hai câu đầu tiên từ
bài thơ “Cảm xúc” của Xuân Diệu viết năm 1938 để làm lời mở đầu cho bài “Là thi
sĩ” của mình, dường như chính nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đã tạo cảm hứng chủ đạo
cho sáng tác của ông tổng bí thư.[27] Hai
năm sau, vào năm 1944, Xuân Diệu bắt đầu mang văn tài của mình ra phục vụ cho
Việt Minh – tổ chức công khai của Đảng Cộng sản Đông dương.[28] Đối
với nhà thơ, cũng như một số trí thức khác đã nổi tiếng từ thời trước cách mạng,
điều đó có nghĩa là làm việc trong Hội Văn hóa Cứu quốc và tờ báo văn hóa cách
mạng Tiên Phong, được xuất bản ở Hà Nội trong thời kỳ Việt Minh nắm chính
quyền, từ năm 1945 đến 1946. Với uy tín khá cao của Xuân Diệu, vừa là thi sĩ
lãng mạn vừa có kinh nghiệm làm việc với tờ báo được coi là hàng đầu trong giai
đoạn tiền cách mạng của nhóm Tự lực Văn đoàn, tờ Ngày Nay, việc ông được
chọn làm thư ký tòa soạn (tên gọi cũ cho vị trí tổng biên tập) không làm ai ngạc
nhiên. Tới cuối năm 1945, ông còn được chọn lựa để ra tranh cử vị trí đại biểu
tỉnh Hải Dương trong kỳ bầu cử sắp tới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (tổ chức
vào ngày 6 tháng Giêng năm 1946). Đương nhiên, ông – cũng như những ứng cử viên
được đảng chọn khác, đã đắc cử trong kỳ bầu cử tại tỉnh và trở thành thành viên
Quốc hội mới của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[29] Vào
tháng Năm năm đó, Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng mời Xuân Diệu và một vài đại biểu
Quốc hội khác cùng đi trong đoàn ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới
Fontainebleau để hội đàm với Pháp.
Khi những đoàn quân và xe tăng Pháp trở lại Hà Nội vào cuối
năm 1946 để tái thiết chế độ thực dân ở Đông Dương, các thành viên Việt Minh
đang làm việc ở thành phố phải tản cư ra vùng nông thôn. Đa số cán bộ Việt Minh
tản ra ba hướng Bắc, Tây và Nam của đồng bằng sông Hồng để tránh hướng
tấn công của Pháp từ Hải Phòng vào phía Đông Hà Nội. Đợt tiến công sau đó của
quân Pháp cắt ngang Hà Nội, tiến về hướng Tây đã khiến Xuân Diệu và các trí thức
khác (một số cùng đi với cả gia đình) phải liên tục di chuyển trong sáu tháng đầu
của cuộc chiến. Tới giữa năm 1947, cuối cùng Xuân Diệu và văn hữu đã tìm được
nơi sơ tán ở một ngôi làng nhỏ có tên là Gia Điền ở cực bắc tỉnh Phú Thọ. Ẩn giữa
những dãy đồi có nhiều cây cối rậm rạp, làng Gia Điền là nơi trú ẩn lý tưởng và
không bao lâu sau được chọn làm trụ sở cơ quan văn học kháng chiến.[30]
Tháng Ba năm 1948, Xuân Diệu cùng với các nhà văn khác ở Gia
Điền bắt đầu xuất bản tạp chí văn hóa mới lấy tên là Văn Nghệ. Thực chất tạp
chí này chỉ là sự tiếp nối, cộng với sự thể hiện tư tưởng Mác-Lê công khai hơn
so với tờ Tiên Phong đang xuất bản ở Hà Nội trước khi Pháp quay lại.
Bốn tháng sau, tức là tháng Bảy năm 1948, Xuân Diệu cùng với vài chục nhà trí
thức cách mạng khác tham dự hai hội nghị quan trọng tổ chức tại Phú Thọ. Hội
nghị thứ nhất là Hội nghị Văn hóa Toàn quốc lần thứ hai (từ ngày 16 đến ngày 20
tháng Bảy năm 1948), với việc thành lập Hội Văn hóa Việt Nam, nhưng sự kiện nổi
tiếng nhất phải là bài diễn văn tại hội nghị này của Trường Chinh với nhan đề “Chủ
nghĩa Mác và vấn đề Văn hóa Việt Nam”. Trong suốt bốn thập niên sau đó,
lãnh đạo đảng luôn đề cao tác dụng của bài diễn văn này như một định hướng lý
thuyết cho tất cả những người làm văn hóa. Ngày 23 tháng Bảy năm 1948, ba ngày
sau khi kết thúc Đại hội Văn hóa Toàn quốc lần II, một hội nghị nhỏ hơn – Hội
nghị Văn nghệ Toàn quốc, được tổ chức, dẫn đến sự ra đời của Hội Văn nghệ Việt
Nam. Nhà thơ trẻ Xuân Diệu, lúc đó mới 32 tuổi, chắc rất hài lòng khi được chọn
vào cơ quan điều hành quyền lực nhất của Hội, giữ ghế thành viên Ban thường vụ
chỉ gồm năm người.[31]
Năm sau, tức là năm 1949, lãnh đạo đảng quyết định dời trụ sở
cơ quan văn hóa về huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngay gần an toàn khu của
Trung ương Đảng đang đóng tại Định Hóa. Huyện Đại Từ – chỉ cách chỗ ở của các
nhà lãnh đạo như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp vài
cây số về phía Nam, là nơi Xuân Diệu sinh sống trong suốt 5 năm cuối của cuộc
kháng chiến. Ngày 5 tháng Mười một năm 1949, Hồ Chí Minh ký văn bản thông báo rằng
tình hình mới – nhất là thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc – cho phép thành
lập một đơn vị hành chính mới, trải rộng từ các tỉnh phía Bắc Hà Nội lên tới
biên giới Trung Quốc. Vùng này sẽ được gọi là “Liên khu Việt Bắc”. Với trụ sở
trung ương đảng đóng tại Thái Nguyên, đảm bảo đường kết nối với Trung Quốc –
nguồn tiếp liệu chiến tranh chủ yếu của Việt Minh, Việt Bắc thực sự là đầu não
của cuộc kháng chiến.[32]
Xuân Diệu được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1949,
khi ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến của Việt
Minh đang tăng cao.[33] Mối quan hệ này, cộng với sự kiện Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chính thức công nhận về
ngoại giao có vẻ đã khiến Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cao nhất của Đảng Lao động
Việt Nam mạnh dạn hơn và công khai thừa nhận tư tưởng Mác-Lê là nền tảng của đường
lối lãnh đạo cách mạng. Kết quả của sự chuyển hướng này là việc áp dụng biện
pháp chỉnh huấn của Liên Xô và Mao, một kỹ thuật cải tạo tư tưởng sử dụng “phê
bình và tự phê bình” để chuẩn bị tinh thần cho cán bộ chính trị và chiến sĩ trước
những nhiệm vụ cách mạng khó khăn.
Chính trong hai tối chỉnh huấn vào năm 1952, Xuân Diệu đã phải
trả giá cho thói lang chạ đồng tính của mình và mất chiếc ghế ủy viên Ban Thường
vụ Hội Văn nghệ. Nhà văn cách mạng Tô Hoài, một người tình của Xuân Diệu trong
nhiều năm, hồi tưởng lại những buổi tối đó như sau:
“Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng,
Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, những thằng Đại, thằng
Đắc, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không
ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyết rũ, mình cũng
điên kia mà, chứ có phải một mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể việc ấy,
nhưng ai cũng to tiếng, to tiếng gay gắt, nghiêm trang phê phán “tư tưởng tư sản,
tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi.” Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình
trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa
gì cả.”[34]
Theo Tô Hoài, sau khi Xuân Diệu bị truất ghế ủy viên Ban Thường
vụ Hội Văn nghệ, “bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi
và viết.[35]
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7 tháng Năm năm 1954, tiếp
theo là Hiệp định Geneva được ký kết hai tháng sau đó, chính xác là ngày 21
tháng Bảy năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc. Đối với Xuân Diệu và
các văn nghệ sĩ Việt Minh khác, cùng với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng ở
Liên khu Việt Bắc, đã đến lúc rời chiến khu để trở về Hà Nội trong vai người
chiến thắng, – nhưng phải xuất bản nốt số cuối của tờ Văn nghệ đã.
Trong số tháng Mười này, Xuân Diệu đăng một lá thư gửi tất cả những nhà văn đã
quyết định ở lại Hà Nội trong thời gian Pháp tạm chiếm. Lá thư thể hiện phong
cách bút chiến đại ngôn lên gân mà Xuân Diệu thường sử dụng (phong cách này rõ
ràng đã góp phần tạo cho Xuân Diệu được tiếng là người có lập trường tư tưởng vững
vàng):
“Có những người vì hoàn cảnh nào đó mà làm cho địch, tiếng
hát đã bán cho đài phát thanh địch, mà tâm hồn chảy máu không thôi. Muốn vùi đầu
quên thân trong son phấn trăng hoa rượu tiệc, mà khuya về, tiếng nói của lương
tâm, tiếng nói của văn nghệ chân chính không để cho mình nhắm mắt. Ta có phải
là ta nữa không? Sao cổ họng, ngòi bút, tài năng của ta lại làm đồ dùng cho chiến
tranh và xâm lược? Những người đau khổ ấy vẫn là bạn, vì tâm hồn văn nghệ vẫn sống
dưới đáy lòng.”[36]
Dù văn nghệ sĩ Việt Nam bị chia cách bởi chiến tranh, và
trong nhiều trường hợp, bởi quan điểm chính trị trái ngược, nhưng tình cảm đồng
nghiệp giữa họ với nhau, có vẻ vẫn được duy trì, tuy có bị phai mòn. Nói cách
khác, những người đã từng làm việc cho Pháp hay chỉ đơn thuần đã không làm gì để
ủng hộ Việt Minh trong cuộc chiến cũng có thể tìm được cuộc sống mới dưới chế độ
cộng sản. Tuy nhiên, đi cùng với vòng nguyệt quế mừng chiến thắng là những yêu
cầu và điều kiện, mà Xuân Diệu đã giải thích với giọng thuyết giảng hùng biện đặc
trưng:
“Văn nghệ đã căm thù quyết liệt cái thòng lọng đế quốc hung
tàn. Quyết không một nét vẽ, một câu thơ, một bài văn, một tiếng đàn, một giọng
hát, một màn kịch, một điệu múa nào cho địch! Quyết không bao giờ đem bông hoa
sáng tạo vứt xuống bùn nhơ! Quyết không để cho cái tinh anh của con người mập mờ
với xâm lăng và ngu tối! Mà trái lại, từ đây hơn bao giờ hết rạch ròi ranh giới,
vạch rõ trắng đen giữa tà và chính, giữa giả và chân, giữa địch và TA! Đó là vấn
đề sống chết của những con người văn nghệ.”[37]
Để ghi nhận những cống hiến của Xuân Diệu với cách mạng trong
tám năm kháng chiến, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam đã cấp cho ông và người bạn
suốt đời của ông, Huy Cận, một nhà thơ nổi tiếng đồng thời là quan chức văn hóa
cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa một căn biệt thự Pháp rộng rãi trên phố Cột
Cờ (nay là đường Điện Biên Phủ). Bất động sản cao cấp này có thể được coi như một
tín hiệu của giới lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam rằng mọi nhu cầu vật chất của
Xuân Diệu sẽ được quan tâm thỏa đáng nếu ông tiếp tục phục vụ sự nghiệp
của họ một cách trung thành. Về nhu cầu tình cảm và sinh lý của nhà thơ, lãnh đạo
đảng cũng cố gắng tạo điều kiện. Dù có quan điểm khắt khe và bảo thủ về hôn
nhân và tình dục, họ cũng sẵn lòng làm ngơ cho trường hợp của Xuân Diệu, cho
phép ông được sống chung một nhà với Huy Cận. Nhưng có lẽ đáng ghi nhận hơn là
việc cả hai nhà thơ đều sống chung nhà với bà Ngô Xuân Như, người em gái cùng
cha khác mẹ với Xuân Diệu và là vợ của Huy Cận. Cuộc hôn nhân của họ cho ra đời
một người con trai vào năm 1957 và chỉ kéo dài thêm vài năm sau đó, rồi hai người
chia tay. Huy Cận tái hôn năm 1964 và có thêm ba người con.[38]
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp sắp kết thúc, Xuân Diệu cũng
đã thu xếp cho mẹ đẻ mình, lúc này đã già yếu, từ Quy Nhơn ra Hà Nội để tiện
chăm sóc. Em trai nhà thơ, ông Ngô Xuân Huy, quyết định ở lại miền Nam, nơi ông
hưởng một cuộc sống lặng lẽ với nghề viết văn độc lập dưới bút danh Tịnh Hà
không mấy nổi tiếng.[39]
Trong kế hoạch tiếp quản Hà Nội, lãnh đạo đảng quyết định
chuyển đổi tờ Văn Nghệ từ một nguyệt san có phần thô sơ về hình thức
phát hành ở chiến khu, thành một tờ bán nguyệt san quy mô hơn – có thể sánh với
các ấn bản văn hóa, trí thức của Hà Nội thời Pháp tạm chiếm. Một thay đổi nữa
là ban điều hành tờ báo. Sau bốn năm để trống chức vụ thư ký toàn soạn chính thức
của tờ báo, các lãnh đạo văn hóa của chế độ mới quyết định phục hồi vị trí này.
Tương tự như trường hợp của tạp chí cách mạng xuất bản tại Hà Nội trước đây, tờ Tiên
Phong (1945-1946), chức vụ này rơi vào tay Xuân Diệu. Có thể họ đã tính
toán rằng, những nhà trí thức không theo cách mạng, nhiều người trong số đó đang
cân nhắc xem có nên di cư vào Nam không, sẽ thấy yên tâm hơn khi tên tuổi nhà
thơ lãng mạn nổi tiếng xuất hiện trên bìa ấn phẩm văn hóa quan trọng nhất của
chế độ mới. (Trên thực tế, tên Xuân Diệu được in với cỡ chữ to gấp đôi tên các
thành viên khác trong ban biên tập). Dù với lý do gì đi nữa, việc được bổ nhiệm
vào vị trí thư ký tòa soạn tờ Văn Nghệ vào thời điểm bản lề hẳn có
tác dụng như một thông điệp bảo đảm với nhà thơ rằng, dù gặp rắc rối vì quan hệ
đồng tính luyến ái hai năm trước đó, tài năng và uy tín của ông trong lĩnh vực
văn hóa vẫn được đánh giá cao trong chế độ mới mà nhà thơ đang phụng sự.
(còn tiếp)
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2,
Summer 2010.
Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
Bản gửi từ tác giả.
[1] Đảng Cộng sản Đông Dương (1931-1945) là tiền thân
của Đảng Lao động Việt Nam (1951-1975) và Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-nay).
[2] Mạc Đình, Tâm trạng của giới Văn nghệ ở miền
Bắc (Sài gòn, 1956 – không rõ tên nhà xuất bản); P.J. Honey “The Revolt of
the Intellectuals in North Vietnam” (Cuộc nổi dậy của các trí thức miền Bắc), The
World Today 13, No.6 (June 1957): 250-260; Hoa Mai, biên tập, The
“Nhân Văn” Affair [Vụ Nhân Văn] (Sài Gòn: The Vietnam Chapter of the Asian
People’s Anti-Communist League, 1958); Hoàng Văn Chí, The New Class in
North Vietnam [Giai cấp mới ở miền Bắc Việt Nam] (Sài Gòn: Công Dân, 1958); Trăm hoa đua nở trên đất Bắc (Sài Gòn: Mặt Trận Bảo
Vệ Tự Do Văn hóa, 1959); Như Phong “Intellectuals, Writers, and Artists,” (Trí
thức, Văn sĩ và Nghệ sĩ) China Quarterly, no.9 (Jan-March 1962): 47-69;
Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism [Từ thực dân đến cộng sản] (London, Pall Mall Press, 1964;
Hirohide Kurihara, “Changes in the Literary Policy of the Vietnamese Workers
Party, 1956-1958” (Những thay đổi trong chính sách văn học của Đảng Lao động Việt
Nam, 1956-1958) trongIndochina in the 1940s and 1950s, eds. Takashi Shiraishi
and Motoo Furata (Ithaca, NY: Sotheast Asia Program Cornell University, 1992),
(Nguyên bản tiếng Nhật của bài luận của Kurihara được đăng trên Journal of
Asian and African Studies, 1988); Georges Boudarel, Cent fleurs ecloses
dans la nuit du Vietnam: Communism et dissidence 1954-1956 [Trăm hoa vẫn nở
trong đêm Việt Nam: Chủ nghĩa cộng sản và bất đồng chính kiến 1954-1956]
(Paris: Editions Jacques Bertoin, 1991); Georges Boudarel “Intellectual
Dissidence in the 1950s: The Nhan van-Giai pham Affair” [Trí thức bất đồng
chính kiến trong thập niên 1950: Vụ Nhân văn-Giai phẩm], Phi Linh Baneth lược dịch
từ tiếng Pháp, Vietnam Forum 13 (1990): 154-174; Kim Ninh, A
World Transformed: The Politics of Culture in Revolutionary Vietnam [Một
thế giới đã hoán cải: Chính trị hóa văn hóa và cách mạng Việt Nam] (Ann Arbor:
University of Michigan Press, 2002), chương 4 (Trí thức bất đồng chính kiến: Thời
kỳ Nhân Văn Giai Phẩm); Nguyễn Ngọc Tuấn, “Socialist Realism in Vietnamese
Literature: An Analysis of the Relationship between Literature and Politics”
[Phương pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa trong Văn học Việt Nam: Phân tích mối
quan hệ giữa Văn học và Chính trị] (luận án tiến sĩ, Trường Đại Học Victoria,
2004) chương 6 (Vụ Nhân Văn Giai Phẩm: Khủng hoảng giữa thời bình); Shawn
McHale, “Vietnamese Maxism, Dissent, and the Politics of Postcolonial Memory:
Tran Duc Thao, 1946-2003” (Chủ nghĩa Mác, Bất đồng chính kiến và Chính trị của
Ký ức hậu thuộc địa ở Việt Nam: Trần Đức Thảo, 1946-2003), Journal of
Asian Studies 61, no.1 (Feb, 2002): 7-31; Heinz Schutte, “Hundred Flowers
in Vietnam, 1955-1957” (Trăm Hoa trên đất Việt, 1955-1957), bài trình bày tại hội
thảo thường niên Hội Nghiên cứu Châu Á, New York, 28/3/2003; Nguyễn Võ Thu
Hương, The Ironies of Freedom: Sex, Culture and Neoliberal Governance in
Vietnam [Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và cách quản lý tân tự do ở
Việt Nam] (Seattle: University of Washington Press, 2008), chương 7 (Từ tinh thần
bất phục đến người đàn bà quỳ).
[3] Boudarel, “Intellectual Dissidence”, 172.
[4] Bà Thụy Khuê, trí thức người Pháp gốc Việt đáng được
ghi nhận đặc biệt vì đã thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn với các nhân vật
Nhân văn-Giai phẩm trong chương trình Văn học Nghệ thuật của đài RFI.
[5] Xuân Diệu, Huy Cận, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình
Thi, Như Phong, Nguyễn Công Hoan, Hoài Thanh, Tú Mỡ, Hồng Chương, và những người
khác.
[6] Hoàng Văn Chí, Trăm Hoa, 148.
[7] Mạc Đình, Trăm Hoa, 12-13. Hoàng Văn Chí, From
Colonialism to Communism, 230-231.
[8] Tất nhiên là sự so sánh này cũng có chỗ khập khiễng.
Vào năm 1990, khi Boudarel viết cuốn sách này, ông đã có thành kiến với chủ
nghĩa cộng sản trong khi Trotsky vào năm 1936 viết ở góc độ một tín đồ chân thực.
[9] Về thái độ cùng căm ghét Tố Hữu, xem Boudarel, Cent
fleurs, 245. Về thái độ thù nghịch chủ nghĩa Mao-ít và sự mong muốn chế độ thực
hiện những cam kết đã hứa, xem Boudarel “Intellectual Dissidence in the 1950s”,
lần lượt ở các trang 154 và 164.
[10] Boudarel, Cent fleurs, 245.
[11] Boudarel, “Intellectual Dissidence in the 1950s”,
164-165. Trong Cent fleurs tác giả viết: “Xuân Diệu, cùng với người bạn
chí thiết Huy Cận, có quan hệ rất tốt với Tố Hữu và những người phụ trách văn
hóa của đảng – chỉ trích một người là động đến tất cả những người khác (trong bọn
họ)”: 235.
[12] Hồ sơ về Xuân Diệu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
III ghi ông gia nhập đảng năm 1949.
[13] Neil Jamieson, Understanding Vietnam (Berkeley
and Los Angeles: University of California Press, 1993), 208-209.
[14] Sđd., 269.
[15] Schutte, “Hundred Flowers in Vietnam”, 6.
[16] Cả Trần Dần và Hoàng Cầm đều yêu những người phụ
nữ Hà Nội mà theo quan điểm của đảng là xuất thân từ giai cấp bóc lột. Xem Kim
Ninh, A World Transformed, 123-133. Chuyện tình của Lê Đạt được ít người
biết đến hơn. Khi tham gia cải cách ruộng đất năm 1953, ông cưới một phụ nữ thuộc
tầng lớp bần nông, rồi chẳng bao lâu sau bỏ bà để lấy một nữ diễn viên trẻ, việc
này ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chính trị của ông.
[17] Trong tiếng Việt, văn nghệ là từ được ghép từ hai
từ “văn học” và “nghệ thuật”. Nhưng cụm từ “văn nghệ” cũng có thể được hiểu
theo nghĩa “văn hóa” – ví dụ như sáng tạo (hoặc quản lý) văn hóa/văn nghệ.
[18] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của
Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21-28/6/1956.
[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai
phẩm Mùa thu tập 1, tháng 8/1956; Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân
Văn, sối 1, 20/9/1956; Nguyễn Bính, “Về giải thưởng văn học 1954-1955”, Trăm
Hoa, số 1, tháng 10/1956.
[20] Dưới chính quyền Trần Trọng Kim năm 1945, tên Trường
Bưởi Hà nội chính thức được đổi thành Trường Chu Văn An, và được giữ
nguyên đến nay. Trường Quốc học Huế đã qua vài lần đổi tên. Khi người Pháp
thành lập trường vào năm 1896, tên chính thức của trường là École primaire
superieur, nhưng người Việt thường gọi là Trường Quốc học. Năm 1936, trường đổi
tên thành Trường Trung học Khải Định. Năm 1955, lại đổi thành Trường Trung học
Ngô Đình Diệm. Năm 1957, trường được trả lại tên cũ Quốc học, và được giữ
nguyên đến nay. Như rất nhiều người đã biết, nhiều nhân vật chính trị quan trọng
đã học qua hai trường này. Điểm qua danh sách cựu học sinh trường Bưởi có Nguyễn
Cao Kỳ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên,
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Đức Thảo, Dương Trung
Quốc, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đình Thi, Đặng Thùy Trâm, Hoàng Ngọc Phách, Tạ Quang
Bửu, Nguyễn Khắc Viện, và nhiều người khác. Ở trường Quốc học Huế, có Hồ Chí
Minh, Ngô Đình Diệm, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Lưu
Trọng Lư, Huy Cận và Xuân Diệu. Chính trường Quốc học Huế là nơi Xuân Diệu gặp
người tình suốt đời Huy Cận.
[21] Hoài Thanh và Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam:
1932-1941 (Hà Nội: Nxb. Văn Học, 2005. Theo lời nhà xuất bản, đây là bản
in lại nguyên tác do Nxb. Nguyễn Đức Phiên in năm 1942).
[22] Xuân Diệu, Thơ thơ và Gửi hương
cho gió (Hà Nội, Nxb. Hội Nhà văn, 1995). Những ý kiến phê bình thơ Xuân
Diệu có thể đọc được từ: Thanh Lãng, 13 năm tranh luận văn học, 1932-1945 (TP
HCM: Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP HCM, 1995).
[23] Đọc các bài viết, ví dụ như của Hà Minh Đức, Xuân
Diệu: Ông hoàng của thơ tình yêu (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2004).
[24] Nguyễn Quốc Vinh, “Deviant Bodies and Dynamics of
Displacement of Homoerotic Desire in Vietnamese Literature from and about the
French Colonial Period (1858-1954)” [Biến thái hình thể và những mâu thuẫn xung
quanh chủ đề khát khao tình dục đồng tính trong và sau giai đoạn Pháp thuộc,
1858-1954], Hợp Lưu số 42, tháng 8-9, 41-53. Trong luận án tiến sĩ
đang viết, Richard Trần dành một chương để bàn về tình yêu đồng giới của Xuân
Diệu trong những năm tiền cách mạng.
[25] Kim Ninh, A World Transformed, 59.
[26] Sóng Hồng (Trường Chinh), Thơ (Hà Nội:
Văn Học, 1966) 25-28.
[27] Một bài trên báo Công an Nhân dân ngày
7/2/2007 nhan đề “‘Là thi sĩ’ của Sóng Hồng phê phán ‘Cảm xúc’ của Xuân Diệu?”
cho rằng Trường Chinh viết bài thơ ban đầu là để vận động một thư ký doanh trại
lính Pháp rất yêu thơ tham gia cách mạng.
[28] Từ điển Văn học (Hà Nội: NXB Khoa Học Xã Hội,
1984), 604.
[29] Sau khi giành chính quyền tháng Tám năm 1945, Đảng
Cộng sản Đông Dương dành ra mấy tháng sau đó để truy tầm và xử tử vài ngàn người
bị coi là phần tử chính trị nguy hiểm (nhất là đảng viên các đảng đối lập). Vì
vậy, khó có thể tưởng tượng được rằng lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương nghiêm
túc thực hiện “dân chủ đại diện” trong cuộc tổng tuyển cử tháng Giêng năm 1946.
Không rõ Xuân Diệu, gốc Quy Nhơn quê Hà Tĩnh, có liên hệ cụ thể gì với tỉnh Hải
Dương.
[30] “Đỗ Ngọc Dũng, “Kỷ Niệm 60 Năm Thành Lập Hội Văn
nghệ Việt Nam: 25/7/1948-25/7/2008, 16/7/2008”. http://dodungart.vnweblogs.com/post/3574/80401 (truy
cập ngày 5/5/2010)
[31] Sđd. Xuân Diệu phụ trách “tổ chức kiểm tra”.
Trong bốn người còn lại, Nguyễn Tuân là Tổng thư ký, Tố Hữu Phó Tổng thư ký, Võ
Đức Diên phụ trách kinh tế và Ngô Quang Châu làm quản trị.
[32] “Nghị quyết Hội Nghị Thống Nhất Hai Khu 1 và Khu
10: 5/11/49, Văn Kiện Đảng Toàn Tập (Hà Nội: Chính trị Quốc Gia,
2001), 10:427. Cần phân biệt “Việt Bắc” khác với “miền Bắc”, là khái niệm rộng
hơn, dùng để chỉ 1 trong 3 kỳ thời Pháp thuộc, và sau Hiệp định Geneva 1954, chỉ
một nửa đất nước tính từ phía bắc vĩ tuyến 17.
[33] Tịnh Hà, Xuân Diệu: Con người và Tác phẩm (Hà
Nội: Văn Học, 1987), 11.
[34] Tô Hoài, Cát bụi chân ai (Hà Nội: Hội
Nhà Văn, 1992), 198.
[35] Sđd, 199.
[36] Xuân Diệu, “Thư gửi các bạn văn nghệ ở Hà Nội”, Văn
nghệ, số 56, tháng 10/1954.
[37] Sđd.
[38] Sau đó, Huy Cận lấy người vợ thứ hai, và cũng là
cuối cùng, bà Trần Lệ Thu, giảng viên tiếng Nga, Đại học Ngoại ngữ vào năm
1964, khi bà 28 tuổi. Họ có với nhau ba người con.
[39] Sau năm 1975, hai anh em được đoàn tụ và cùng cộng
tác trong một số dự án văn học.
Cuộc tranh luận về tập thơ Việt Bắc
Trong chín tháng giữ vai trò cầm lái tờ Văn Nghệ, từ
ngày mồng 1 tháng Mười một năm 1954 đến ngày mồng 4 tháng Tám năm 1955, Xuân Diệu
trải qua một giai đoạn có thể coi là ly kỳ nhất trong cuộc đời tham gia cách mạng
của ông. Với chức vụ thư ký tòa soạn, Xuân Diệu cầm trịch cuộc tranh luận văn học
quan trọng về tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, người đã được lãnh đạo đảng
chọn để đứng đầu mặt trận văn hóa. Cách Xuân Diệu xử lý cuộc tranh luận có vẻ
đã làm lãnh đạo đảng không hài lòng, và có thể chính điều đó đã dẫn đến quyết định
phải thay người khác vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn nghệ.
Trong hai tháng đầu tiên, Xuân Diệu đã để cho cuộc tranh luận
diễn ra như một sự kiện tranh luận văn học thực sự, cho in một số bài phê
bình Việt Bắc khá nặng cùng với những bài khen ngợi.[1] Nhưng
dưới quan điểm “văn học không thể tách rời chính trị” của chế độ, tranh luận
công khai về thơ của Tố Hữu cũng có nghĩa là tranh luận về quan điểm chính trị
của ông ta. Và đương nhiên, phe phê phán chẳng bao lâu sau bắt đầu đặt câu hỏi
về lập trường của Tố Hữu theo hệ tư tưởng Mác-Lê, ngầm ý chất vấn quyết định của
lãnh đạo khi giao trọng trách cho Tố Hữu ở vị trí quyền lực nhất trong lĩnh vực
văn hóa. Nguyên nhân vì sao lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để cho cuộc
tranh luận kéo dài đến thế vẫn là điều chưa được giải đáp. Một cách giải thích
khả dĩ là cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm còn nhiều căng thẳng đối với
giới lãnh đạo chế độ mới, khiến họ e ngại nếu can thiệp không khéo sẽ làm bất
bình số đông trí thức cách mạng, những người coi việc tranh luận chuyên môn là
một phần bình thường của đời sống trí thức.
Trong thời gian đó, nạn đói xảy ra ở hầu khắp các vùng nông
thôn miền Bắc. Lúc đó đang là tháng Tư, một tháng trước vụ chiêm. Ngay cả trong
những năm được mùa, người nông dân Bắc Việt vẫn thường thiếu ăn vào thời điểm
này. Ba văn bản liên tiếp của Bộ Chính trị kêu gọi cứu đói trên toàn miền Bắc
(vào các ngày mồng 9, 16 và 29 tháng Tư năm 1955) cho thấy tình hình căng thẳng
đến mức nào.[2] Một
vấn đề lớn nữa thu hút sự quan tâm của giới lãnh đạo vào thời điểm này là cuộc
di cư lớn của người dân miền Bắc vào Nam. Hiệp định Geneva đã ấn
định khung thời gian ba trăm ngày tự do đi lại giữa hai miền Nam-Bắc từ tháng Bảy
năm 1954 đến tận tháng Năm năm 1955. Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, những người tự gọi chế độ của mình là “dân chủ nhân dân”, việc gần một
triệu người miền Bắc di cư vào Nam được coi là một thất bại lớn về thể diện. Đoạn
văn dưới đây, trích từ Chỉ thị 07 của Bộ Chính trị ban hành ngày 16 tháng Hai
năm 1955 cho thấy phần nào mối quan ngại của lãnh đạo đảng về vấn đề di cư và
tác động của nó đối với hình ảnh quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
“Chọn một vài địa điểm điển hình để tổ chức cho đồng bào đi
(khu chọn rồi đề nghị với Trung ương). Nên mời cả Ủy Ban quốc tế đến để chứng
kiến việc đó. Những nơi này phải là nơi có cơ sở quần chúng của ta, khi tổ chức
cho quần chúng đi thì chỉ có số ít xin đi, như thế mới có lợi cho ta. Khi làm
việc này phải chuẩn bị chu đáo, giải quyết thật nhanh.
Phải có kế hoạch trấn áp phản động, tăng cường canh gác, kiểm
soát, đề phòng địch lợi dụng dịp này thúc đẩy quần chúng tập trung, gây khó
khăn cho ta.”[3]
Tố Hữu, tác giả của tập thơ Việt Bắc, lúc đó mới 35 tuổi,
là một người gốc Huế gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương từ năm 1938 và thăng tiến
rất nhanh qua các cấp ủy. Khi tập thơ được xuất bản, ông ta đang được cân nhắc
vào vị trí ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, một việc sẽ xảy
ra trong năm 1955.[4] Một biểu hiện nhỏ cho thấy lãnh đạo đảng đánh giá
tập thơ Việt Bắc cao đến thế nào là quyết định trích ngân sách hẹp
hòi để cho in tập thơ với số lượng hai mươi nghìn bản, một con số ấn bản lớn
chưa từng có.[5] Về
nội dung, Việt Bắc là sự thể hiện bằng thơ quan điểm của Mao về “chiến
tranh nhân dân”.[6] Tố
Hữu tả toàn thể dân tộc Việt Nam đều cống hiến trọn vẹn tâm hồn và lý trí cho
công tác đấu tranh cách mạng: từ người nông dân đi phá đường cho đến người lính
pháo binh công tập đồn Pháp, từ người phụ nữ tải đạn ra chiến trường đến em nhỏ
làm giao liên cho du kích Việt Minh. Ông ta nồng nhiệt ca ngợi Hồ Chí Minh,
Stalin, Mao và Đảng Lao động Việt Nam. Việt Bắc còn bao gồm các
bài dịch từ dân ca Nam Tư và một số bài thơ nước ngoài khác – hai bài của nhà
thơ Liên Xô Konstantin Simonov, một của nhà thơ cộng sản Pháp Louis Aragon, và
một của nhà thơ cộng sản Mỹ Ethel Rosenberg, đã bị tử hình với tội danh gián điệp
vào năm 1953.
Bài báo đầu tiên giới thiệu tập thơ của Tố Hữu với công chúng
do một cán bộ chính trị xuất thân từ tỉnh Nghệ An tên là Xuân Trường viết được
đăng trên số Tết (ngày 24 tháng Giêng năm 1955) của tờ báo chính thống của đảng
–Nhân dân.[7] Bài
báo được viết theo dàn bài tiêu chuẩn của một văn kiện báo cáo đảng: giới thiệu,
ưu điểm, khuyết điểm và kết luận. Trong suốt cả bài gồm hai mươi chín đoạn văn,
chỉ có hai đoạn bàn về khuyết điểm của tập thơ Việt Bắc. Hai đoạn đó chủ yếu
vạch ra rằng Tố Hữu cần phải “cụ thể” hơn khi tả “người nông dân tham gia cách
mạng” và “đảng Tiên Phong của dân tộc”. Xuân Trường viết “chúng ta rất tiếc rằng
Tố Hữu chưa nói lên hộ lòng biết ơn, sức tin tưởng của hàng chục triệu con người
đảng viên và quần chúng đối với Đảng tiên phong của giai cấp công nhân.”[8]
Ba tuần sau, vào ngày 15 tháng Hai năm 1955, Xuân Diệu cho
đăng trên Văn Nghệ phần đầu của bài nhận xét dài của chính ông về tập
thơ của Tố Hữu. Cũng như bài viết của Xuân Trường, ông giữ đúng cấu trúc tiêu
chuẩn của một bản báo cáo chính trị. Trong bài viết gồm bảy mươi đoạn văn, Xuân
Diệu dành sáu mươi đoạn để ca ngợi ưu điểm của tập thơ:
“Từ 1932 đến 1945, trong khi các nhà thơ khác đắm chìm trong
phong trào “thơ mới” mơ mộng, than khóc, u sầu, Tố Hữu đã đi tiên phong, hát những
bài ca tranh đấu.”…
“Con đường ngót 20 năm nay Tố Hữu đã đi là một con đường vinh
quang, kỳ diệu. Chỗ kỳ diệu lớn lao là nhà thi sĩ làm cách mạng, và nhà cách mạng
làm thơ, và thơ rất thành công…
Cách mạng càng ngày càng thắng lợi, càng to lớn, đồng thời
cũng đưa tài thơ của Tố Hữu nở dần đến chỗ tròn đầy, lộng lẫy. Đó là sự tương
quan mật thiết giữa hành động và văn chương, và Tố Hữu là điển hình đẹp nhất.”[9]
Trong phần đầu của đoạn trích nêu trên, Xuân Diệu dường như
đang xưng tội về quá khứ của chính mình khi tham gia Thơ mới. Phải chăng mười
năm dưới sự dẫn dắt của đảng đã chuyển hóa hoàn toàn nhà thơ lãng mạn nổi tiếng
Xuân Diệu? Có vẻ là như vậy, cho đến khi chúng ta đọc đoạn thứ mười của bài với
những dòng Xuân Diệu viết về nhược điểm của tập thơ. Tại đó, nhà thơ nhẹ nhàng
chỉ ra rằng tập thơ Việt Bắc “nặng về tình cảm xã hội mà gần như bỏ
qua tình cảm cá nhân”. Trong một khổ khác, ông viết, “Con người cán bộ trong Tố
Hữu bao trùm con người thường”. Ở đây, những lời phê bình của Xuân Diệu dường
như có hàm ý đề cao tính chủ quan – cho phép con người ta có thể thay đổi bản
chất để phù hợp với hoàn cảnh. Không một bài viết nào khác về Việt Bắc đưa
ra một ý kiến tương tự như thế. Từ đó, người đọc có thể suy diễn một cách hợp
lý rằng, theo Xuân Diệu, tính chủ quan của con người rất phức tạp, không thể
đánh giá theo một yếu tố chung nào hết – như giai cấp chẳng hạn. Trong phần sau
của bài viết, Xuân Diệu bổ sung thêm rằng thơ Tố Hữu “nặng về tình cảm xã hội,
tình cảm tập thể ” mà “hầu như không nói đến những tình cảm của cá nhân”.[10] Không
rõ Xuân Diệu có ý thức được điều này không, nhưng rõ ràng việc ông chiếu tướng
Tố Hữu về tình cảm cá nhân và khả năng một con người có thể mang nhiều diện mạo
tiềm ẩn nguy cơ thách thức học thuyết chính thống cao hơn rất nhiều so với yêu
cầu của Xuân Trường về việc cần tả cụ thể về đảng tiên phong và quần chúng hàm
ơn.
Ngày 11 tháng Ba năm 1955, hai tuần sau khi đăng bài bình luận
của chính mình, Xuân Diệu duyệt và cho đăng bài phê bình Việt Bắc của
Hoàng Yến, một nhà phê bình văn học trong quân đội gần như chưa được ai biết đến.
Với nhan đề “Tập thơ Việt Bắc có tính hiện thực hay không?”, bài phê
bình phân tích năm bài trong tập thơ để đi đến kết luận chung rằng những suy
nghĩ, từ ngữ và hành động của các nhân vật trong Việt Bắc trong những
tình huống quan trọng có vẻ không hiện thực và không thể hiện được tính phong
phú và vĩ đại của cách mạng.[11] Ngoài bài viết của Hoàng Yến, Văn Nghệ còn
mời độc giả viết thư để đóng góp phản hồi về tập thơ Việt Bắc đồng
nghĩa với việc mở rộng diễn đàn tranh luận cho công chúng.
Trong một tháng rưỡi sau đó, Xuân Diệu, trong vai trò thư ký
tòa soạn Văn Nghệ, đã cho đăng tiếp năm bài phê bình Tố Hữu, có nhiều điểm
cho rằng ông ta kém về năng lực lãnh đạo, thơ thì tầm thường và quan điểm cách
mạng “tiểu tư sản có hệ thống”.[12] Chắc chính lời phê về “tiểu tư sản” đó đã làm
lãnh đạo đảng nhức nhối nhất vì họ đã chọn Tố Hữu, cùng với các Ủy viên Trung
ương là Lê Văn Lương và Hoàng Quốc Việt giám sát công tác chỉnh huấn tư tưởng,
với mục tiêu chính là gạt bỏ những “tư tưởng tiểu tư sản” khỏi đầu óc các đảng
viên.[13]
Trong suốt năm tuần, Xuân Diệu đã duy trì gần như cân bằng những
bài viết theo hai hướng khen và chê tập thơ của Tố Hữu, như thể ông đang trở lại
làm việc cho tờ Ngày Nay của Tự lực Văn đoàn vậy. Rồi bỗng nhiên, sau
số Văn Nghệ ra ngày 1 tháng Năm năm 1955, ông xoay ngược một trăm tám
mươi độ, cho đăng toàn những bài khen ngợi tập thơ hết lời. Sự trùng hợp về thời
gian giữa việc thay đổi đường lối nói trên và cái mốc ba trăm ngày tự do đi lại
giữa hai miền Nam Bắc (đến 18 tháng Năm 1955) gợi cho ta thấy hình như việc tự
do đi lại cũng là một yếu tố quyết định cách chính quyền xử lý cuộc tranh luận.
Những bài viết phê phán Việt Bắc bị ngừng đăng kể từ số Văn nghệ ngày
10 tháng Năm 1955, nhưng đến thời điểm đó, đã quá muộn để biến cuộc tranh luận
thành đợt tuyên truyền cho thơ Tố Hữu – những nhà phê bình trẻ đã gây tổn thất
nặng nề cho danh tiếng tập thơ Việt Bắc. Không một bài bình luận tiếp theo
nào, dù ca ngợi không tiếc lời về lòng yêu nước và văn tài của Tố Hữu, có thể đảo
ngược lại được những lời phê bình về nhược điểm của Việt Bắc mà Xuân
Diệu đã cho đăng trên những trang báo trước đó của tờ Văn Nghệ.
Ngoài quyết định chuyển hướng đột ngột trong cuộc tranh luận
về Việt Bắc, có ba điểm khác cho thấy hình như cách xử lý vấn đề của Xuân
Diệu lúc ban đầu không theo quan điểm của lãnh đạo đảng. Một là, không một tờ
báo nào khác của đảng ngoài tờ Văn Nghệ đăng bài chê tập thơ Việt
Bắc.[14] Các
tổng biên tập của những tờ báo khác dường như hiểu được ý của lãnh đạo đảng muốn
họ giữ vai trò gì trong cuộc tranh luận: đăng các bài khen Việt Bắc để
bài chê của Hoàng Yến trở thành hiện tượng cá biệt, qua đó cho thấy Tố Hữu được
sự ủng hộ của đa số quần chúng Việt Nam. Hai là, không bao lâu sau, lãnh đạo
quyết định thay Xuân Diệu và đưa Nguyễn Đình Thi, một quan chức văn hóa cứng rắn
vào vị trí thư ký tòa soạn báo Văn Nghệ, người đặt dấu chấm hết cho cuộc
tranh luận về Việt Bắc một thời gian ngắn sau đó.[15] Bằng
chứng thứ ba là ý kiến nhận định về cuộc tranh luận của một quan chức văn hóa
cao cấp, Hoài Thanh (tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam: 1932 – 1941 đã
được nhắc đến ở phần trên). Trong một bài nhận xét về hoạt động văn học trong
năm 1955, ông ta viết: “Về mặt phê bình cũng phạm nhiều sai lầm thiếu sót. Công
tác phê bình ít được chú ý. Thỉnh thoảng có một cuộc phê bình như cuộc phê bình
tập thơ Việt Bắc thì lại có tính chất tự phát, thiếu chuẩn bị, thiếu
mục đích rõ ràng, thiếu kết hợp với yêu cầu đấu tranh chính trị và tư tưởng.”[16]
Ý của Hoài Thanh là, Xuân Diệu, với vai trò thư ký tòa soạn Văn
nghệ đã không quan tâm đầy đủ đến những bài phê bình Việt Bắc, cho
đăng những bài không phù hợp với “yêu cầu của cuộc đấu tranh chính trị và tư tưởng”.
Nói cách khác, ông không hiểu được rằng Văn nghệ đúng ra phải đóng
vai trò là một cơ quan văn hóa của đảng. Đặt trong hoàn cảnh đất nước ba năm rưỡi
sau đó, cách ông xử lý cuộc tranh luận – nhất là để cho mọi tầng lớp trí thức
trong nước công khai và trực tiếp chất vấn năng lực chuyên môn của một quan chức
cao cấp của đảng như Tố Hữu – là điều không thể tưởng tượng được.[17]
Xuân Diệu và Walt Whitman
Như đã đề cập ở phần trước, trong hai đêm Xuân Diệu tham gia
chỉnh huấn vào năm 1952, vấn đề lang chạ đồng tính của Xuân Diệu bị đem ra để
“phê và tự phê”. Theo nhà văn Tô Hoài, những người tham gia buổi chỉnh huấn đêm
đó đã liên hệ xu hướng luyến ái đồng tính của nhà văn lãng mạn nổi tiếng với
“tư tưởng tiểu tư sản xấu xa” của ông – điều mà Xuân Diệu nhất quyết từ chối
trong nước mắt. Sau đợt chỉnh huấn, ông bị đưa ra khỏi Ban Thường vụ Hội Văn
nghệ, một tai nạn nghề nghiệp vẫn làm ông nhức nhối nhiều năm sau đó.[18] Vì
quá nhiều bài thơ lãng mạn nổi tiếng của ông có cảm hứng từ đề tài luyến ái đồng
tính, và vì ông có biểu hiện coi đó là một phần của chính mình, không thể thay
đổi ngay cả với quyền năng chuyển hóa của cách mạng, bài tiểu luận được ít người
biết của Xuân Diệu viết về Walt Whitman đăng trên số ra ngày 5 tháng Giêng năm
1956 của tờ Văn Nghệ cần được nghiên cứu kỹ.[19]
Quyết định viết về nhà thơ Mỹ không phải là một lựa chọn liều
lĩnh về mặt chính trị, vì chính những người gác cửa văn học chính thống của
Liên Xô cũng đã tặng cho Whitman danh hiệu “nhà thơ cách mạng” từ trước đó rất
lâu. Dù đã tạ thế, sự nghiệp cách mạng của nhà thơ Mỹ này có thể coi như được
khởi đầu ở Nga vào năm 1905, khi những nhà cách mạng Nga tại hải ngoại phụ
trách tờ Tia lửa (Iksra), cơ quan của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội
Nga (lúc đó đặt trụ sở tại Geneva, Thụy Sỹ), chọn một bài thơ của ông vào “tuyển
tập thi ca cách mạng”. Hơn thế nữa, Whitman còn được nhân vật nổi tiếng nhất
trong văn giới Liên Xô – nhà biên dịch, viết tiểu luận và thơ thiếu nhi Kornei
Chukovsky (1882-1969) chọn làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu.[20] Chukovsky
đã đăng bài viết đầu tiên về nhà thơ Mỹ “Phong trào hâm mộ Whitman ở Nga” trong
tạp chí của trường phái Tượng trưng Vesy vào năm 1906. Phần lớn nội
dung bài viết đó được Chukovsky dành để phê phán những bài dịch thơ Whitman của
Konstantin Balmont, một nhà thơ Tượng trưng. Sự công kích của Chukovsky đã khơi
mào cho một cuộc tranh luận sôi nổi về nghệ thuật biên dịch giữa hai người yêu
thơ Whitman trên các trang báo của tờ Vesy. Sau đó, giới lãnh đạo văn hóa
Liên Xô ủng hộ Chukovsky, giúp ông đủ quyền lực để nâng quan điểm về dịch thuật
của mình trong cuộc tranh luận trước đó về Whitman thành tiêu chuẩn chính thống,
thành các nguyên tắc chung cho mọi hoạt động dịch thuật của Liên Xô.[21]
Vì Whitman vừa sử dụng thể thơ tự do vừa có quan điểm triết học
duy tâm giống như các nhà thơ trường phái Tượng trưng của Pháp – những người có
ảnh hưởng quan trọng đến dòng thơ lãng mạn của Xuân Diệu, có thể ông đã biết rõ
về tác giả của tập Lá cỏ từ trước khi tham gia cách mạng.[22] Không
biết ông có biết về Whitman sớm đến thế không, nhưng ít nhất Xuân Diệu hẳn phải
nghe nói đến nhà thơ này vào cuối năm 1945, khi một bài báo đăng trên Tiên
Phong vào tháng 12 năm 1945 có nhắc đến nhà thơ Mỹ này. Với tiêu đề “Một
lá thư ngỏ của Hội Văn hóa Cứu quốc gửi các trí thức Mỹ”, bài báo được công bố
là bản sao nguyên văn lá thư thật được đưa cho một nhà báo Mỹ đến Hà Nội để đưa
tin sự kiện Nhật Bản đầu hàng. Theo lời kể, nhà báo bí ẩn này đến trụ sở hội
vào ngày 21 tháng Mười năm 1945, trước khi về Mỹ. Người ta kể rằng vì cảm tình
với sự nghiệp ái quốc của Hội Văn hóa Cứu quốc, ông nhà báo này tình nguyện nhận
chuyển thư của hội đến các nhà trí thức Mỹ.[23] Lá
thư của hội, được in lại trên báo Tiên Phong bày tỏ lòng tin rằng “…mối
thiện cảm của những người đồng chí của Phan-cờ-lin (Franklin), Bít-sơ Xít-tao
(Beecher Stowe), I-mớc-sơn (Emerson), Oan-tờ Huýt-man (Walt Whitman), Ê-đi-sơn
(Edison), những người như Giấc-cờ Lân-đơn (Jack London), Xin-co-le Liu-ít-xờ
(Sinclair Lewis), Pớc Bấc-cờ (Pearl Buck)… ở giữa một nước lớn như dân tộc
Hoa-kỳ, sẽ làm rung chuyển dư luận hoàn cầu để giúp cho cuộc giải phóng của
chúng tôi.”[24]
Cũng có thể Xuân Diệu đã tìm hiểu thêm về Whitman khi đi Liên
Xô và Đông Âu năm 1955, vì chuyến đi của ông trùng với thời gian kỷ niệm 100
năm tập thơ Lá Cỏ nổi tiếng của nhà thơ Mỹ này. Trong chuyến đi, có
thể Xuân Diệu đã thấy những cuốn sách về Whitman bày trên giá các hiệu sách nơi
ông đến thăm, với hy vọng thu hút được mối quan tâm về tác giả đang được hâm
nóng lại trong đợt kỷ niệm. Điều này có thể lý giải được thời điểm Xuân Diệu viết
bài về Whitman, vì bài báo được đăng trên Văn Nghệ một thời
gian ngắn sau khi ông đi Liên Xô và Đông Âu về. Tuy nhiên, chi tiết thú vị nhất
là Xuân Diệu biết Whitman là người đồng tính luyến ái từ khi nào và bằng cách
nào, vẫn còn là câu hỏi bí ẩn. Chỉ biết trong các bài thơ lãng mạn của ông,
không thấy có điểm liên hệ nào tới nhà thơ Mỹ này.
Bài của Xuân Diệu giới thiệu Whitman trên báo Văn Nghệ thể
hiện quan điểm chính trị của chế độ đương thời, với yêu cầu phải xác định rõ mối
đồng cảm của nhà thơ Mỹ với giai cấp vô sản. Vì thế, bài báo bắt đầu bằng những
dòng kể lể tỉ mẩn về xuất thân bình dân của Whitman, là con trai một di dân,
làm nghề đóng khung nhà, và thời trẻ ông ta cũng làm những công việc “tay làm
hàm nhai” – thợ in, giáo viên, nhà báo, thợ gặt. Bài báo cũng trích nguyên nhiều
câu trong bài “Thơ Tự do cho châu Á, Phi, Mỹ, Úc, Cuba và các Quần đảo ở Đại
Dương” của Whitman. Trong những lời kêu gọi chung chung tranh đấu chống cường
quyền trên khắp thế giới, bài thơ đó của Whitman phảng phất những nét hao hao
giống lý thuyết Mác-xít về cách mạng vô sản thế giới. Có lẽ để tô đậm thêm mối
liên hệ này, tiêu đề của bài thơ được đổi thành “Tặng một nhà cách mạng châu Âu
thất bại”. Không rõ Xuân Diệu tự đổi hay chỉ đơn thuần sao chép lại cách đặt
tiêu đề của một dịch giả trước đó. Ngay dưới tiêu đề bài thơ, Xuân Diệu giải
thích rằng bài thơ lấy cảm hứng từ cuộc cách mạng bị thất bại năm 1848. Trong
bài viết, Xuân Diệu còn khai thác sâu thêm cảm tình vô sản của Whitman bằng
cách dẫn nhiều khổ thơ trong bài “Bài ca đời tôi”, tất cả đều nhằm minh chứng rằng
nhà thơ Mỹ thực sự đã “đi sâu vào thực tế của quần chúng lao khổ”.[25]
Tuy nhiên, bài báo có đôi chỗ mang dấu hiệu cho thấy Xuân Diệu
đang sử dụng quan điểm chính trị của chế độ đương thời làm bình phong để khoe một
cách kín đáo về đời sống luyến ái đồng tính của Whitman. Ví dụ, bài báo có kể rằng
“… lúc đã nổi tiếng, nhiều khi ông (Whitman) thay các bạn ông làm người đánh xe
ngựa, làm người bán vé xe hàng”. Chi tiết này có vẻ như đơn thuần là một động
tác nhấn mạnh sự gần gũi của nhà thơ Mỹ với quần chúng cách mạng. Nhưng trên thực
tế, có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nữa, vì người bán vé xe hàng mà Xuân Diệu
nhắc đến chính là Peter Doyle, người đàn ông được coi là người tình suốt đời của
Whitman.
Đọc kỹ bài báo, ta thấy có nhiều chỗ Xuân Diệu dường như đang
muốn liên hệ những nét giống nhau giữa cuộc đời của chính mình với nhà thơ Mỹ
này. Ví dụ, ông viết rằng Whitman “lúc hai mươi tuổi, đọc rất nhiều sách Âu và
Mỹ” (ai cũng biết Xuân Diệu là nhà Thơ mới chịu ảnh hưởng nhiều nhất của thơ
Tây phương, nhất là thơ trường phái Tượng trưng của Pháp). Ông còn kể rằng, từ
năm mười chín đến hai mươi hai tuổi, nhà thơ trẻ Whitman “làm một số bài buồn
thảm và tiêu cực” (theo cách phân tích chính thống về bước chuyển hóa cách mạng
của Xuân Diệu, văn nghiệp của ông bắt đầu từ những năm mười mấy, hai mươi tuổi
với những bài thơ lãng mạn “buồn thảm” và “tiêu cực”). Bài báo viết tiếp rằng,
trong những năm từ 1846 đến 1848, Whitman làm tổng biên tập báo Brooklyn
Daily Eagle (tương tự như chức vụ thư ký tòa soạn báoTiên Phong của
Xuân Diệu từ năm 1945 đến 1946) trong thời gian Mỹ đang có chiến tranh với
Mexico. Xuân Diệu viết trong bài báo rằng “từ lúc đó, một luồng gió cách mạng
thổi vào trong các bài báo của ông. Và chính lúc ông đầy một tinh thần chống
dùng nô lệ và đấu tranh cho lý tưởng dân chủ, là lúc ông thấy dồi dào hồn thơ
trở lại”. Phải chăng “luồng gió cách mạng” này cũng tương tự như luồng gió đã
thực sự thổi vào Xuân Diệu trong năm 1945, và góp phần hình thành những vần thơ
cách mạng của ông?
Sau khi khai thác mọi chi tiết có thể để tạo cho Whitman căn
cước của một người vô sản với tư tưởng tiến bộ, hàm ý nhà văn Mỹ vĩ đại này hội
đủ điều kiện để đi theo đảng tiên phong nếu có được cơ hội, Xuân Diệu đi vào phần
kết của bài luận dài. Đến đây, ông tự nhiên mất cảnh giác và dẫn một đoạn trong
bài thơ cuối cùng của tập Lá Cỏ, bài “Chia tay”, không liên quan gì đến chủ
đề cách mạng:
Bạn ơi, đây không phải là một quyển sách.
Ai cầm đến sách này là động đến một con người.
Có phải giữa đêm chăng?
Có phải chỉ có hai chúng ta mà thôi chăng?
Bạn cầm lấy tôi và tôi đang cầm lấy bạn.
Từ giữa những trang sách tôi vọt ra giữa vòng tay bạn ôm…
… Bạn thân hỡi, dù bạn là ai, bạn cũng nhận cái hôn này
Cái hôn tôi riêng tặng bạn,
Bạn đừng quên tôi…
Dù không ai biết chắc trăm phần trăm, nhưng có vẻ Xuân Diệu
chọn những câu thơ này vì chúng gợi tả một tình cảm đồng tính và lãng mạn, nhất
là với những người hiểu biết về đời tư của Whitman. Lời bình đầy cảm xúc của
Xuân Diệu về bài thơ là bằng chứng rõ ràng cho cách suy luận nêu trên: “Đọc đến
bài thơ này, tôi có thể nào không nhận thấy hơi thở của nhà thi sĩ còn tinh anh
ở trong câu thơ? Tôi có thể đọc qua loa, hờ hững?” Ông còn viết thêm “Thơ viết
hàng trăm năm trước, bây giờ vẫn còn tươi nguyên. Đó là mãnh lực của văn
chương, của thơ”.[26]
Giai Phẩm Mùa Xuân 1956
Làm một trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cần phải có nhiều
kỹ năng, vừa phải biết điều chỉnh ngòi bút, cây cọ vẽ, nét nhạc hay bài nghiên
cứu sao cho phù hợp với yêu cầu chính trị mới nhất do lãnh đạo đảng đưa ra, vừa
phải đảm bảo chất lượng chuyên môn để không bị đồng nghiệp phê phán. Đồng thời,
phải theo dõi những sự kiện lớn trong khối xã hội chủ nghĩa và lường trước được
những ảnh hưởng đến chính trị trong nước. Và cuối cùng, ở mức độ cá nhân, một
trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải biết duy trì quan hệ trên-dưới và biết
nên kết bạn với ai (và cần phải gạt bỏ ai). Trong cuộc tranh luận về Việt
Bắc, Xuân Diệu đã để cho các nhà thơ trẻ Hoàng Cầm và Lê Đạt đăng các bài viết
phê bình nặng nề Tố Hữu, quan chức văn hóa quyền lực nhất của Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa. Không biết ông có đồng tình hay không với quan điểm chỉ trích của họ,
nhưng kể từ thời điểm đó, Xuân Diệu mặc nhiên bị coi là có liên quan với hai
người nổi loạn này. Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, ông nhiều lần tìm cách để
tách mình khỏi hai người đó. Như chúng ta sẽ thấy, để đạt mục đích nói trên,
Xuân Diệu dùng những biện pháp càng ngày càng xấu xa, thậm chí đến mức gần như
tự hủy diệt cá tính của mình.
Động thái đầu tiên là vào tháng Hai năm 1956, khi Hoàng Cầm
và Lê Đạt cộng tác với bảy nhà văn khác cho ra đời một tuyển tập văn học, xuất
bản riêng, có tiêu đề Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[27] Dù
có quan điểm chính trị riêng, về cơ bản tuyển tập vẫn đồng điệu với lãnh đạo đảng,
thậm chí còn thể hiện nhiệt tình hưởng ứng chiến dịch cải cách ruộng đất, – thiết
nghĩ không cần nhắc lại rằng chỉ sáu tháng sau đó, chiến dịch cải cách ruộng đất
này bắt đầu bị phê phán và các nhà trí thức bất bình phản đối gay gắt.[28] Hình
như Giai Phẩm mùa Xuân 1956 ra đời nhằm hai mục tiêu chính. Thứ nhất
là để chứng tỏ với lãnh đạo đảng rằng, nếu để cho các trí thức trẻ tự thân vận
động, họ vẫn sẽ ủng hộ chương trình chính trị của Đảng Lao động Việt Nam một
cách trung thành, và chính vì thế, họ đáng được tin tưởng nhiều hơn. Nói cách
khác, đảng mất gì mà không cho tự do ngôn luận? Mục tiêu thứ hai là thể hiện
cho lãnh đạo đảng và những thành viên khác của giới trí thức thấy có những sáng
tác văn chương thực sự cách mạng hơn, hay hơn so với loại thơ “tiểu tư sản” của
Tố Hữu. Cứ để tự do ngôn luận, chế độ sẽ dễ dàng phát hiện và bồi dưỡng những
tài năng trẻ.
Không thấy rung động trước nỗ lực ve vãn cảm tình của mình
theo cách này, lãnh đạo đảng lập tức ra lệnh tịch thu tuyển tập. Tuy nhiên, một
điều quan trọng cần lưu ý là họ (lãnh đạo đảng) giải quyết vấn đề Giai Phẩm
mùa Xuân 1956 hoàn toàn qua kênh quản lý văn hóa. Xem cả hai ấn phẩm nặng
ký nhất của đảng, nhật báo Nhân Dân và Học Tập – một tạp
chí lý luận mới ra đời trước đó không lâu, không có một bài báo nào “đánh” ấn
phẩm này. Chính vị quan chức văn hóa sắt đá Hoài Thanh đứng ra triệu tập cuộc họp
các nhà văn để phê bình bài thơ “Nhất định thắng” của nhà thơ quân đội trẻ nóng
tính Trần Dần đăng trong tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956.[29] Có
chân trong ban lãnh đạo Hội Văn nghệ, đương nhiên Xuân Diệu cũng phải phát biểu
ý kiến về việc này, mà hình như ai cũng biết là có liên quan đến vấn đề tự do
ngôn luận trong chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bài báo ông viết trên báo Văn
nghệ không bao lâu sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 bị tịch thu
là lời minh định rõ ràng, khó có thể hiểu khác đi được. Dưới tiêu đề “Vai trò
lãnh đạo của Đảng”, bài báo thực chất là bản dịch rút gọn lời phát biểu của
Nikolai Fadeyev – một quan chức văn học Liên Xô tại Đại hội Đảng Cộng sản Liên
Xô lần thứ hai mươi tổ chức vào tháng Hai năm 1956. “Đối với chúng ta, những
nhà văn trong Đảng hay ngoài Đảng, khía cạnh quan trọng nhất của quan niệm
chúng ta về một nền văn học tự do, tức là thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống và trong lĩnh vực văn học. Những nhà
văn tư sản thì phụ thuộc vào các đảng tư sản, mà cầm đầu là bọn trùm của giới kỹ
nghệ và tài chính, nhà văn phải phụ thuộc vào các nhà xuất bản của chúng, vào
báo chí của chúng. Thuật ngữ ‘phi chính trị’ của các nhà văn tư sản chỉ là ảo
tưởng”.[30]
Đợt công kích của Văn Nghệ vào Giai Phẩm mùa
Xuân 1956 sử dụng chiến thuật hai gọng kìm. Trước hết, Xuân Diệu biện luận
rằng đảng không thể tha thứ cho hành động thách thức vị thế độc quyền của mình
trong lĩnh vực văn hóa. Việc xuất bản riêng, không qua tổ chức đảng tức
là Giai Phẩm mùa Xuân 1956 đã không chịu phục tùng yêu cầu bắt buộc về
kiểm duyệt của chế độ. Một điềm xấu hơn nữa đối với những trí thức nhiều ưu tư
về tình trạng chế độ ngày càng gia tăng kiểm soát, phần nội dung bài phát biểu
được Xuân Diệu chọn dịch thừa nhận “vai trò lãnh đạo” của đảng không chỉ trong
lĩnh vực văn học mà còn trong “tất cả mọi lĩnh vực của đời sống”. Hoài Thanh đảm
nhận mũi tấn công thứ hai bằng bài viết in ngay sau bài của Xuân Diệu với nhan
đề “Vạch tính chất phản động của bài thơ ‘Nhất định thắng’ của anh Trần Dần”[31]. Trong
bài viết, Hoài Thanh dùng một loạt đòn bẩy tư tưởng và hùng biện để bẻ cong bài
thơ yêu nước và đầy tính chiến đấu của Trần Dần thành “phản động” và nổi loạn.[32] Hơn
một tháng rưỡi sau, một quan chức văn hóa cốt cán khác – Nguyễn Đình Thi, đột
nhiên đào xới lại việc này, đăng liên tiếp trên hai số Văn Nghệ ngày
19 và 27 tháng Tư năm 1956 bài viết dài hai phần với tiêu đề “Những sai lầm về
tư tưởng trong tập sách Giai Phẩm”.[33]
Ngay sau khi Giai Phẩm mùa Xuân 1956 được phát
hành, Xuân Diệu đã có những bước dứt khoát để tách mình ra khỏi Trần Dần và Lê
Đạt. Tuy nhiên, điều quan trọng ta cần lưu ý là bài viết của Xuân Diệu đánh Giai
Phẩm không hề động chạm tới nội dung tập sách ấy. Nếu lấy lời phê bình của
Xuân Diệu đối với Việt Bắc làm thước đo, những bài thơ của Trần Dần,
Lê Đạt và các tác giả khác trong tuyển tập Giai Phẩm mùa Xuân 1956 có
lẽ đã được Xuân Diệu chấp nhận về chất lượng. Trong khi, theo con mắt của Xuân
Diệu, Tố Hữu còn nhiều thiếu sót – như không thể hiện được một “Tố Hữu, con người
bình thường” hay “gần như bỏ qua tình cảm cá nhân”, thật ra các tác giả trẻ của Giai
Phẩm mùa Xuân 1956 đã thành công.[34] Có
lẽ Xuân Diệu chọn cách dịch bài diễn văn mới của quan chức văn hóa Liên Xô phần
nào để tránh công việc khó khăn là bới móc những nội dung nguy hiểm và phản động
trong Giai Phẩm mùa Xuân 1956 – một tuyển tập thể hiện rõ ràng sự ủng
hộ đối với Đảng Lao động Việt Nam và những mục tiêu xã hội chủ nghĩa.
Nhưng có lẽ yếu tố quan trọng nhất là khi Xuân Diệu quyết định
sử dụng bài diễn văn của Fadeyev, các trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như được
bật đèn xanh để khai thác các thông tin, văn kiện của Đại hội Đảng Cộng sản
Liên Xô lần thứ 20 làm dẫn chứng cho tính chính thống của quan điểm của mình đối
với các sự kiện trong nước. Những người thấy thất vọng với Xuân Diệu khi ông
công khai viện dẫn quyền lực của Fadeyev đã không thể ngờ được rằng chính chiến
thuật khôn ngoan đó lại nổ ngược một cách ngoạn mục làm điêu đứng nhà thơ và
các lãnh đạo bảo thủ khác của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là vì
có một bài diễn văn “bí mật” khác, mà đến giờ ai cũng rõ, cũng được đọc ngay tại
Đại hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô – bản báo cáo nổi tiếng của Khrushchev lên án
Stalin. Từ bài diễn văn đó, các nhà trí thức bất bình trong đội ngũ nhà văn có
thể khai thác được không biết bao nhiêu lời biện hộ ở cấp cao nhất cho kế hoạch
cải cách của họ – trên thực tế những thành viên Nhân văn-Giai phẩm sẽ coi
Khrushchev như một ông thánh bảo hộ.
Quyết định chậm công bố bài của Khrushchev vạch mặt những tội
ác của Stalin của Đảng Lao động Việt Nam đã làm cho chàng thi sĩ cả
tin Xuân Diệu bị việt vị. Nếu được biết về bản báo cáo bí mật đó, chắc ông đã
chọn cách khác để tấn công Giai Phẩm mùa Xuân 1956. Tuy nhiên, cũng phải
thấy sự cân nhắc, lưỡng lự xem có nên công bố nội dung bản báo cáo của
Khrushchev hay không từ phía các nhà lãnh đạo là có nguyên cớ, vì từ Hồ Chí
Minh, Trường Chinh đến các quan chức khác của Đảng Lao động Việt Nam đã mất rất
nhiều công sức khuếch trương hình ảnh của Stalin ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa.[35] Họ
sẽ phải giải thích thế nào về một ông Stalin khát máu, cố chấp, đôi khi bất tài
đến mức làm hỏng việc như Khrushchev đã mô tả trong bản báo cáo bí mật? Giống
như những nhà lãnh đạo khác trong khối xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh cũng lâm
vào tình thế tiến thoái lưỡng nan khi phải lên tiếng về những điểm xấu của thói
“sùng bái cá nhân”, vì ông rõ ràng đã khuyến khích xây dựng một vòng hào quang
sùng bái quanh hình ảnh chính mình ở Việt Nam.[36] Hơn
thế nữa, nội dung bản báo cáo của Khrushchev còn có vấn đề ở chỗ, phần dài nhất
được tác giả dành để kể về những năm tháng chuẩn bị và giai đoạn chính của cuộc
Đại Thanh trừng do Stalin tiến hành, từ năm 1934 đến 1938. Đối với Hồ Chí Minh,
đây quả là một vấn đề khó khăn, vì những năm tháng đó cũng trùng với thời gian
ông đang ở Moscow (tháng Bảy năm 1934 đến mùa xuân 1938).[37] Nếu
đây là quá trình Stalin thể hiện bộ mặt xấu xa nhất và Hồ Chí Minh đang ở ngay
tại Moscow trong suốt thời gian đó, thì tại sao ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Stalin lại (và vẫn đang) được mô tả như một ông thánh trong suốt mấy thập kỷ
qua? Tại sao Hồ Chí Minh, lãnh tụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nikita
Khrushchev, lãnh tụ mới của khối xã hội chủ nghĩa, lại đi đến những kết luận
trái ngược đến như vậy về di sản của Stalin?
Những yếu tố nói trên giúp giải thích vì sao lãnh đạo Đảng
Lao động Việt Nam chậm tiết lộ thông tin về bản báo cáo của Khrushchev về
Stalin. Những bằng chứng từ hồi ký của nhà văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng cho
thấy, mãi tới tận ngày mồng Một tháng Tư năm 1956, tức là ba mươi tư ngày sau
khi bản báo cáo được công bố, những trí thức cao cấp của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa mới bắt đầu hiểu thuật ngữ “tệ sùng bái cá nhân” là để chỉ Stalin.[38] Ngày
24 tháng Tư năm 1956, Đảng Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết 9, với nội
dung, theo tinh thần Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, kêu gọi các cấp ủy
“đấu tranh chống tệ sùng bái cá nhân, tăng cường lãnh đạo tập thể, tích cực
tham gia phê bình và tự phê bình”.[39] Đợt
hóa giải ảnh hưởng của Stalin đã chính thức bắt đầu tại Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa.
(còn tiếp)
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2,
Summer 2010.
Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
Bản gửi từ tác giả.
[1] Là thư ký tòa soạn, Xuân Diệu chịu trách nhiệm cuối
cùng về tất cả các bài đăng trên tờ báo. Tuy nhiên, theo chính thành viên Nhân
văn – Giai phẩm Hoàng Cầm trả lời phỏng vấn Thụy Khuê ngày 5/5/2997, nhân vật
trong ban biên tập Văn nghệ tích cực nhất trong cuộc tranh luận (http://thuykhue.free.fr/rfi/2007/20070519-HoangCam.mp3 )
là con người đầy sức thu hút Nguyễn Hữu Đang. Sau đó, ông Đang trở thành một
thành viên có thể gọi là quan trọng nhất của phong trào Nhân văn – Giai phẩm.
Ta không thể không thắc mắc liệu có phải, trong chừng mực nào đó, Xuân Diệu đã
nghe theo ý của Nguyễn Hữu Đang thuyết phục về cách thức báoVăn nghệ tổ chức
và điều hành cuộc tranh luận.
[2] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của trung ương số 12-CT/TW,
9/4/55: Tăng cường lãnh đạo chống đói và giải quyết nạn đói”, Văn Kiện Đảng
Toàn Tập, 16:241; Ban bí thư, “Điện của ban bí thư ngày 16 tháng 4 năm 1955 gửi
các khu”, Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 16:252; Nguyễn Duy Trinh, “Thông tri của
ban bí thư số 30-TT/TW ngày 29 tháng 4 năm 1955: về việc tích cực thi hành Chỉ
thị số 12 của TW gấp rút tăng cường lãnh đạo công tác chống đói”, Văn Kiện
Đảng Toàn Tập, 16:279.
[3] Lê Văn Lương, “Chỉ thị của bộ chính trị số
07-CT/TW ngày 16 tháng 2 năm 1955: Đẩy mạnh đấu tranh phá âm mưu mới của địch
trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam”,Văn Kiện Đảng Toàn Tập,
16:74.
[4] Từ điển Văn học (Hà Nội, KHXH, 1984),
405-406.
[5] Boudarel, Cent fleurs, 119.
[6] Về chất lượng và phong cách, thơ Tố Hữu có thể so
sánh, đại loại như với bài “Paul Revere’s Ride” của Henry Wadsworth Longfellow.
[7] Báo Nhân Dân thành lập năm 1951, là cơ
quan chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Có thể tờ
báo được lấy ý tưởng từ ấn phẩm cùng tên của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
[8] Xuân Trường, “Vài ý kiến sau khi đọc tập thơ Việt
Bắc của Tố Hữu”, Nhân Dân, số 329, 24/1/1955.
[9] Xuân Diệu, “Đọc tập thơ Việt Bắc”, Văn
nghệ, số 63, 15-22/2/1955.
[10] Sđd, số 64, 28/2-10/3/1955.
[11] Hoàng Yến, “Tập thơ Việt Bắc có hiện thực
không?”, Văn nghệ, số 65, 11/3/1955. Bài này sau đó được đăng lại trên báo Nhân
Dân hai số ra ngày 3-4/4/1955. Bài báo được đăng lần đầu trên tạp chí văn
học quân đội Sinh Hoạt Văn nghệ.
[12] Về khả năng lãnh đạo yếu kém, xem Lê Đạt, “Học tập
Maikovski, phát huy sức sống mới của thi ca Việt Nam (kỳ 1 và kỳ 2), Văn
nghệ, số 69 và 70, 21/4/1955 và 1/5/1955. Về chất lượng thơ tầm thường, xem
Hoàng Cầm “Tập thơ Việt Bắc ít chất sống thực tế”, Văn nghệ, số
67, 1/4/1955; và Nguyễn Văn Phú, “Vài điểm non yếu trong nghệ thuật tập thơ Việt
Bắc, Văn nghệ, số 68 11/4/1955; và Hoàng Cầm, “Bổ sung ý kiến của tôi về tập
thơ Việt Bắc”, Văn nghệsố 70, 1/5/1955.
[13] Xem Lê Văn Lương, “Vấn đề chỉnh huấn”, Văn
Kiện Đảng Toàn Tập, 13:101-106.
[14] Có thể kể các tờ báo Nhân Dân, Tổ Quốc, Độc
Lập và Nói Thật. Ngoại lệ duy nhất là báoNhân Dân có đăng lại
bài của Hoàng Yến, được coi như bài mở màn cho cuộc tranh luận. Ngoài ra, không
có một bài phê bình (chê) nào xuất hiện ngoài mặt báo Văn nghệ.
[15] Sau khi Nguyễn Đình Thi thay Xuân Diệu làm thư ký
tòa soạn, màu ma-két báo Văn nghệ đổi từ xanh lá cây sang đỏ cờ. Thông tin về
ban biên tập, vốn được đăng ngay trang bìa trong thời gian Xuân Diệu làm thư ký
tòa soạn, bị đưa về trang cuối.
[16] Hoài Thanh, “Nhìn lại hoạt động văn nghệ một năm
qua”, Nhân Dân, số 697, 29/1/1956.
[17] Phê bình công khai lãnh đạo cao cấp cỡ như Tố Hữu
trong cuộc tranh luận về Việt Bắc vẫn còn là điều cấm kỵ ở Việt Nam.
[18] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 198-199.
[19] Tình yêu đồng tính của Whitman đã được người
nghiên cứu và viết tiểu sử ông trình bày trong một bài phân tích thú vị. Xem
Jeffrey Meyers, “Whitman’s Life” (Cuộc đời của Whitman),The Antioch Review, số
4 (Autumn 2005): 755-787.
[20] Muốn biết về ảnh hưởng của Whitman đối với các
nhà văn Biểu tượng Pháp, xem P.M. Jones, “Whitman in France” (Whitman ở Pháp), Modern
Language Review 10, số 1 (tháng 1/1915): 1-22. Về ảnh hưởng của Whitman đối
với nhà văn Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky, xem Dale E. Peterson,
“Mayakovsky and Whitman: The Icon and the Mosaic” (Mayakovsky và Whitman: Biểu
tượng đơn icon và hình ghép mosaic), Slavic Review 28, số 3 (tháng
9/1969): 416-425. Nghiên cứu về Chokovsky vừa với vai trò dịch giả của thơ
Whitman vừa làm chính trị, xem Rachel Polonsky, “Translating Whitman,
Mistranslating Bal’mont” (Dịch Whitman, dịch nhầm Bal’mont), Slavonik and
Eastern Europe Review 75, số 3 (tháng 7/1997):401-425. Trong bài viết thú
vị này, Polonsky đã ghi nhận rằng “Whitman đã từng được Max Nordau nhắc đến
trong nghiên cứu gây nhiều tiếng vang về căn bệnh mà ông cho là ‘bệnh đồi trụy’ Entartung [Sa
đọa, 1892], trong đó Whitman bị miêu tả là ‘bụi đời và phóng đãng’ và xếp đồng
hạng với Verlaine và Rimbaud và những kẻ giống như họ”.
[21] Polansky, “Translating Whitman”, 402-404.
[22] Jones, “Whitman in France”, 4. Tác giả ghi
nhận ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu văn học suy đoán rằng các nhà thơ Pháp đã
học thể thơ tự do của Whitman sau khi tác phẩm của nhà thơ Mỹ này được dịch lần
đầu tiên và xuất hiện ở Pháp vào năm 1886, tức là một năm trước khi Pháp bắt đầu
có lối làm thơ tự do.
[23] Chúng tôi chưa tìm được bất kỳ bằng chứng nào về
việc một nhà báo Mỹ đến trụ sở Hội Văn hóa Cứu quốc. Có thể câu chuyện được dựng
lên hoàn toàn (hoặc một phần nào) nhằm mục đích tuyên truyền, tạo ấn tượng cho
công chúng Việt Nam rằng khi đó nhà báo nước ngoài đã nhìn nhận Hội
là tiếng nói chính thức của văn hóa Việt Nam. Tại thời điểm cuối năm 1945,
thực ra Hội Văn hóa Cứu quốc, dù khá quan trọng, cũng chỉ là một trong nhiều tiếng
nói văn hóa ở Việt Nam.
[24] “Một bức thư của Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam trao
tận tay cho các nhà văn hóa Hoa Kỳ”, Tiên Phong, số 2, tháng 12/1945, 5.
[25] Xuân Diệu, “Uýt-man: Nhà thi hào tiến bộ của nhân
dân Mỹ”, Văn nghệ, số 102, 5/1/1956.
[26] Sđd
[27] Giai phẩm Mùa xuân 1956 (Hà Nội, NXB Minh Đức,
tháng 2/1956). Các tác giả khác là Văn Cao, Trần Dần, Sỹ Ngọc, Tử Phác, Phùng
Quán, Nguyễn Sáng và Tô Vũ.
[28] George Boudarel và Kim Ninh đều đi đến kết luận
giống nhau. Xem Boudarel, Cent fleurs, 134-138 và “Intellectual
Dissidence”, 159; và Kim Ninh, A World Transformed, 137. Chúng tôi dùng từ
“về cơ bản” chứ không phải “hoàn toàn” vì tuyển tập có nhiều bài viết về nhân vật
chính là người dẫn chuyện ở ngôi thứ nhất (chứ không phải là quần chúng). Lãnh
đạo đảng đương nhiên không muốn các trí thức tiểu tư sản viết về bản thân mình.
Để biết thêm một ý kiến phân tích mới lạ về hiện tượng này, xem Chương bảy của
Nguyễn-võ Thu-hương The Ironies of Freedom. Kuriharu đưa ra ý kiến rằng
bài thơ “Nhất định thắng” của Trần Dần có những dòng “có thể hiểu như lời kêu gọi
thống nhất đất nước bằng cách đưa quân đội tiến chiếm miền Nam”, điều trái ngược
với chính sách công khai được Đảng Lao động Việt Nam công bố lúc bấy giờ là thống
nhất bằng biện pháp hòa bình. Xem Kuriharu “Changes in the Literary Policy”,
168. Cảm giác của chúng tôi là ý kiến trên có vẻ mang tính suy đoán hơi quá,
nhưng rất mong độc giả quan tâm tìm hiểu thêm (xem khổ thơ thứ bảy).
[29] Trần Dần là một trong những trí thức đầu tiên lên
tiếng về chính sách văn nghệ gò bó của đảng. Việc bày tỏ ý kiến công khai về vấn
đề trên là một nguyên nhân khiến ông bị quản chế hai lần (tháng 6/1955 và tháng
4/1956). Boudarel gọi ông là người châm ngòi cho phong trào trí thức bất đồng
chính kiến ở miền Bắc. Xem Boudarel, Cent fleurs, 143.
[30] Xuân Diệu, “Vai trò lãnh đạo của Đảng”, Văn
nghệ số 110, 1/3/1956.
[31] Hoài Thanh, “Vạch tính chất phản động của bài ‘Nhất
định thắng’ của Trần Dần”, Văn nghệ, số 110, 1/3/1956.
[32] Một ví dụ là suy luận của ông này chụp mũ Trần Dần
dùng hình ảnh mưa ở Hà Nội để vu khống miền Bắc. Một ví dụ nữa là suy luận
(theo đường lối chính thống của đảng) rằng Trần Dần nói xấu miền Bắc khi thể hiện
rằng đồng bào tự ý quyết định di cư vào Nam. Quan điểm chính thức của Đảng Lao
động Việt Nam là, những người di cư là nạn nhân bị Mỹ, Diệm ép buộc
phải đi.
[33] Nguyễn Đình Thi, “Những sai lầm về tư tưởng trong
tập sách Giai Phẩm”, Văn nghệ, số 117 & 118, 19 và 27/4/1956.
[34] Xem các tác phẩm, ví dụ như, Lê Đạt, hai bài thơ
“Làm thơ” và “Mới”; Trần Dần, thơ “Nhất định thắng”, Hoàng Cầm “Thơ qua đài
phát thanh”; hay bài hát “Mưa Xuân” của Tử Phác và Văn Cao.
[35] Các nghiên cứu của Ilya V. Gaiduk và Christopher
E. Goscha nhấn mạnh sự ngờ vực ban đầu của Stalin cho rằng Hồ Chí Minh thiên về
chủ nghĩa dân tộc hơn là chủ nghĩa cộng sản và hậu quả của nó là sự khó khăn
cho Đảng Cộng sản Đông Dương tái hòa nhập với phong trào cộng sản thế giới sau
Chiến tranh Thế giới lần II. Tuy nhiên, có phải chính vì nguyên nhân này mà Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa nhiệt tình lăng-xê Stalin hơn so với các quốc gia khác
trong khối xã hội chủ nghĩa vẫn là giải thuyết cần nghiên cứu thêm. Xem Ilya V.
Gaiduk Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina
Conflict, 1954-1964 [Đối phó với Việt Nam: Chính sách của Liên Xô về
xung đột ở Đông Dương, 1954-1964] (Standford: Stanford University Press, 2003);
và Christopher E. Goscha “Courting Diplomatic Disaster? The Difficult
Integration of Vietnam into the International Communist Movement (1945-1950)
“Journal of Vietnamese Studies 1, số 1-2 (tháng 2-tháng 8/2006): 59-103 (Bài
này đã được dịch và đăng trên talawas).
[36] Bằng chứng rõ nhất về sự đóng góp của Hồ Chí Minh
vào việc xây dựng hình ảnh lý tưởng hóa chính mình ở Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa sau cách mạng tháng Tám là tự viết tiểu sử bản thân tự thuật (dưới dạng tiểu
sử thông thường – dùng bút danh Trần Dân Tiên).
[37] Sophie Quinn-Judge, Ho Chi Minh-The missing
years, 1919-1941 [Hồ Chí Minh - những năm tháng biệt tăm: 1919 – 1941]
(Berkeley and Los Angeles: University of California
Press, 2002).
[38] “Vì sao sùng bái cá nhân lại trái với tinh thần
chủ nghĩa Mác-Lê nin?”, Nhân Dân, số 759, 1/4/1956.
[39] “Nghị quyết của hội nghị ban chấp hành trung ương
Đảng lao động Việt Nam lần thứ 9 (mở rộng) (19-24/4/1956), Nhân
Dân, số 785, 27/4/1956.
Hóa giải ảnh hưởng của Stalin ở Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa
Những lời lên án mạnh mẽ đến mức gây sốc về tội ác của Stalin
do Khrushchev phát biểu khiến những phần tử bất mãn trong đội ngũ trí thức ở Việt
Nam phấn khởi. Nhiều người còn đang giận dữ về cách xử lý của lãnh đạo văn hóa
đối với các giải thưởng văn học giai đoạn 1954-1955, mới công bố kết quả trên
báo Văn Nghệ số ra ngày 15 tháng Ba năm 1956. Gần như đúng tròn một
năm sau vụ tranh luận về Việt Bắc, Xuân Diệu lại rơi vào vị trí trung tâm
của rắc rối. Vì chính quyết định trao giải nhì cho tập thơ cách mạng Ngôi
Sao của ông đã làm dấy lên làn sóng phản ứng mạnh mẽ nhất, với sự xuất hiện
của ba bài phê bình trên tờ báo văn học tư nhânTrăm Hoa.[1]
Khi mọi chuyện đã qua, bây giờ nhìn lại mới thấy ba bài này
quả thực là phát súng mở màn cho một trận chiến về công tác cách mạng của Xuân
Diệu. Vấn đề cốt yếu vẫn là chất lượng những bài thơ cách mạng của ông. Liệu Ngôi
Sao, tập trung tất cả những sáng tác của nhà thơ trong mười năm dưới sự dẫn dắt
của đảng có so được với Thơ thơ và Gửi hương cho gió không?
NếuNgôi Sao quả là ưu việt hơn, điều đó có nghĩa là chính sách văn hóa của
đảng và sự chỉ đạo của các quan chức văn hóa là hợp lý. Nếu không, có thể đã đến
lúc phải cân nhắc những thay đổi lớn về chính sách và nhân sự. Trong hoàn cảnh
bình thường, ba bài phê bình trên Trăm Hoa và tiếp theo là việc tờ
báo phải đóng cửa vì phá sản sẽ đặt dấu chấm hết cho vụ việc này, và các trí thức
bất mãn sẽ hướng mối quan tâm của mình sang những thứ khác.
Nhưng lời kêu gọi của Khrushchev đã mang lại những thay đổi lớn
lao cho bầu không khí trí thức ở Hà Nội. Đối với những người đang bất mãn, nhà
lãnh đạo Liên Xô này đã tạo cho họ ấn tượng rằng, nếu kiên trì bày tỏ những nỗi
bất bình và đấu tranh cho những yêu cầu của mình, có thể mang lại những thay đổi.
Đối với lãnh đạo đảng, yêu cầu phải hòa nhịp với những biến động thời sự về tư
tưởng ở Moscow có thể buộc họ thấy rằng cần phải áp dụng một thái độ dung hòa
hơn đối với những yêu cầu của đội ngũ trí thức, nhất là khi họ đang trong tầm
quan sát của các đại sứ quán của khối xã hội chủ nghĩa đặt tại Hà Nội.
Bên cạnh đó, với một động thái chắc là có chủ ý đánh lạc hướng
sự quan tâm dư luận khỏi vầng hào quang sùng bái cá nhân đã và đang tồn tại
quanh Hồ Chí Minh, lãnh đạo đảng thận trọng đưa ra thuật ngữ “sùng bái cá nhân”
sao cho nghe có vẻ như một cấp độ hơi nặng hơn của các căn bệnh cũ như “cá nhân
chủ nghĩa”, “quan liêu”, “cửa quyền”. Đây là những thuật ngữ lãnh đạo Đảng Lao
động Việt Nam thường dùng trong suốt mấy thập kỷ trước để phê bình những
đảng viên không làm tốt công tác được giao.[2] Trên
thực tế, Hồ Chí Minh đã giải thích rõ về các lỗi lầm và căn bệnh (chính ông gọi
như vậy) thường mắc này cho đội ngũ đảng viên trong cuốn sách Sửa đổi lề lối
làm việc ông viết năm 1948.[3] Các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hẳn thấy nhẹ
người khi biết rằng các trí thức bất mãn ban đầu chỉ dừng ở mức áp dụng thuật
ngữ “sùng bái cá nhân” đối với lãnh đạo cấp trên trực tiếp của mình trong lĩnh
vực văn hóa. Chừng nào mà sự chỉ trích chỉ dừng lại trong giới hạn an toàn với
những mối ưu tư nhỏ hẹp về công tác văn hóa, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam tỏ
ra sẵn lòng để cho đội ngũ trí thức cạo gáy các lãnh đạo chuyên môn của mình.
Tất cả những điều đó là dấu hiệu xấu báo trước một thời kỳ
sóng gió sắp đến với Xuân Diệu, khi những lời bàn sôi nổi về quá trình tham gia
cách mạng của ông lan sang tới các trang báo Văn Nghệ. Trên tờ báo này,
quan chức văn hóa cao cấp Hoài Thanh, người đã tham gia ban giám khảo, buộc phải
bảo vệ quyết định trao giải nhì cho Ngôi Sao với những lời khẳng định
công khai về tác phẩm của Xuân Diệu:
“Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần
chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về
nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như
gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong
thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh
gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn
nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều.
Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn,
chân thành trong thơ Xuân Diệu.”[4]
Tuy dành phần lớn bài viết để khen ngợi những phần đúng đường
lối của Ngôi Sao, chính Hoài Thanh đã công nhận những nhược điểm của tập
thơ này. Tuy vậy, ông ta quy nguyên nhân cho quá khứ tiểu tư sản của Xuân Diệu,
chứ không phải vì những giá trị và sự dẫn dắt tác giả mới tiếp nhận trong mười
năm phục vụ cách mạng.[5]
Dù được sự tiếp ứng nói trên, tình hình vẫn ngày càng xấu đi
cho Xuân Diệu. Một tuần sau bài viết của Hoài Thanh, Văn Nghệ đăng một
bài ngắn của nhà thơ lãng mạn nổi tiếng Nguyễn Bính, lớn tiếng phản đối sự
thiên vị của ban giám khảo dành cho Ngôi Sao và phủ nhận những lời
bào chữa của Hoài Thanh, cho rằng đó chỉ là nỗ lực xoa dịu dư luận một cách vụng
về:
“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi Sao thực là nhiều và
sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi
trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có
những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới
giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động
khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến.
Tập thơ Ngôi Sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng. Ngay
khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của
nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa
thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần
chúng? Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm
vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.
[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải
không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc
của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa
của Hoài Thanh trong Văn Nghệ số 122. Một vài anh em không bằng lòng
ra mặt những bài phê bình tập Ngôi Sao trên báo Trăm Hoa, cho
đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những
bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi
phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi
trước, lỗi mình để túi sau?”[6]
Ngày 21 tháng Sáu năm 1956, Văn Nghệ đăng tiếp bài
viết thứ ba về Ngôi Sao, của một nhà văn khác tên là Huy Phương.[7] Tác
giả lập luận rằng, mặc dù thơ cách mạng của Xuân Diệu nói chung có biểu hiện một
lòng thiết tha với dân tộc, nhân dân và cách mạng, nhưng tình cảm cao quý ấy chỉ
hiện lên rất “yếu đuối” trong tập Ngôi Sao. Huy Phương viết, “Nhưng những
lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi sâu vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế
tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ
thành công”. Tuy nhiên, Huy Phương viết tiếp, “nhưng những khi Xuân Diệu trở về
với ‘hồn thơ’ của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn
vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.” Do vậy, tác giả kết luận trong bài,
những vần thơ cách mạng hay nhất của Xuân Diệu là nhờ cảm hứng trong quá trình
Xuân Diệu tham gia cải cách ruộng đất.[8]
Phần còn lại của bài viết là sự khai triển lập luận trên, khi
tác giả cố chứng minh những điểm mạnh của thơ cách mạng Xuân Diệu là kết quả của
quá trình học hỏi theo chỉ dẫn của đảng (nhất là những phần lấy cảm hứng từ cuộc
đấu tranh thực sự của quần chúng lao động). Trái lại, tất cả những điểm yếu là
kết quả của sự chệch hướng khi tác giả không theo sự dẫn dắt của đảng, để cái
tôi cá nhân của quá khứ tư sản xen vào gây tác hại. Ngay cả những vần thơ tuyệt
đẹp tả thiên nhiên đã góp phần mang lại sự nổi tiếng cho thơ lãng mạn Xuân Diệu
(và Hoài Thanh đã gồng mình thuyết phục mọi người rằng trong Ngôi Sao vẫn
có những vần thơ như vậy) cũng không làm Huy Phương hài lòng: “…Xuân Diệu nhìn
quanh mình chỉ thấy những màu sắc lung linh, óng ả của núi sông, mây gió, cờ
sao… Anh ngợp đi trong những lạc thú về thị giác và vị giác, cuộc đời biến diễn
trước mắt, anh thấy như một bữa tiệc ngon của mắt và mồm.”
Một trong những nội dung thú vị nhất của bài viết là những lời
bàn của Huy Phương về cách Xuân Diệu tả chiến tranh. Hiển nhiên đây là phần khó
đổi lỗi cho quá khứ tư sản của nhà thơ nhất trong cả tập Ngôi Sao, vì
đương nhiên những tập thơ lãng mạn nổi tiếng của Xuân Diệu Thơ Thơ và Gửi
Hương Cho Gió không hề có chỗ cho bạo lực. Vậy phải giải thích những câu
thơ sau thế nào đây? Tả quân địch, Xuân Diệu viết:
Rượu mồi hôi, bánh xương tủy tim gan,
Thịt nhân quần chúng mày vẫn uống ăn.
Và
Óc đã vỡ máu lộn cùng xương tủy
Tay lìa chân, đầu rụng tiệc đau thương.
Tả người lính Việt Minh, Xuân Diệu viết:
Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
Lấy máu tủy đổ ra đời bát ngát
Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng.[9]
Điều khiến Huy Phương thấy khó chịu vì những dòng thơ “nhễ nhại
những máu huyết” này là “bệnh khoái cảm” (khoái cảm bệnh hoạn) mà Huy Phương
tin là Xuân Diệu đã mắc phải khi viết những dòng thơ đó. “Những câu như vậy,
cái lối nhìn như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân
Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức
và tình cảm của tác giả”. Tình cảm, theo Huy Phương, là “một cạnh khía quan trọng
của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế” và vì thế phải có một vị trí
quan trọng trong thơ. “Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình
thức và hưởng thụ thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của
bản chất hưởng lạc cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản”.[10] Huy
Phương lập luận rằng, trong những vũng máu huyết, “bánh tim gan”, tay chân đứt
lìa, óc vỡ này, thông điệp cách mạng không thể đến được với người đọc. Cùng với
những nhược điểm khác mà nhà phê bình trẻ này cho là Ngôi Sao mắc phải,
Huy Phương nhận xét rằng Xuân Diệu có khoái cảm trước cảnh bạo lực rùng rợn và
quy kết nguyên nhân tại quá khứ tư sản của nhà thơ.
Thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm: tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956
Suốt bốn tháng liền từ tháng Tám đến tháng Chạp năm 1956, thời
kỳ của phong trào Nhân văn – Giai phẩm, công tác kiểm soát báo chí của đảng trở
nên dễ dãi hơn bao giờ hết trong suốt lịch sử của chế độ. Vì sao, mới ra lệnh tịch
thu Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào tháng Hai, lãnh đạo đảng lại đột ngột
chuyển hướng và cho phép tự do báo chí vào những tháng cuối năm 1956? Trước hết,
vì nhu cầu viện trợ từ Liên Xô và Trung Quốc là rất cấp bách, khiến giới lãnh đạo
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấy buộc phải hòa nhịp với những diễn biến chính trị
tư tưởng ở hai nước đồng minh này. Ở Moscow, đó là phong trào hóa giải ảnh
hưởng của Stalin, ở Bắc Kinh, đó là chính sách Trăm Hoa. Một yếu tố bên ngoài nữa
là cuộc nổi dậy Poznan ở Ba Lan vào tháng Sáu. Một chỉ thị của ban bí
thư đảng ban hành tháng Tám nhận định: “Bọn tay sai của Mỹ – Diệm còn lại ở miền
Bắc có thể lợi dụng những sai lầm và khó khăn tạm thời của ta để phá hoại ta. Vụ
lộn xộn xảy ra ở Pôdơnan (Poznan) thuộc Ba Lan gần đây là một bài học cảnh giác
lớn cho ta”.[11] Một
yếu tố quan trọng của hoàn cảnh trong nước có tác động đến quyết định nhân nhượng
đột ngột của đảng là dư chấn còn nóng hổi của chiến dịch cải cách ruộng đất đầy
bạo lực, mới kết thúc vào tháng Sáu năm 1956. Những người được tiếp cận bản báo
cáo bí mật của Khrushchev không thể không nhận thấy sự tương đồng giữa những sự
kiện tiêu cực được nêu trong văn bản đó với những cái gọi là “sai lầm” trong
chiến dịch cải cách ruộng đất ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (giết người không cần
xét xử, tra tấn để cưỡng bức nhận tội hoặc tố cáo người khác, cùng với hàng loạt
biểu hiện bất chấp nhân quyền trong chiến dịch).
Một biểu hiện của cảm giác lo lắng của giới lãnh đạo Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa trong giai đoạn này có thể thấy qua Chỉ thị 45 của ban bí thư
Đảng Lao động Việt Nam, ban hành ngày 23 tháng Tám năm 1956: “Về tăng cường vận
động quần chúng để đề phòng bọn phản động gây ra tình trạng cưỡng bức di cư vào
Nam hay kích động gây hấn hoặc phá hoại.” Lúc đó đã hơn một năm sau ngày biên
giới Nam Bắc khép lại, lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn e ngại nguy cơ di
dân hàng loạt. Một phần khác của chỉ thị, chủ yếu nói về các cộng đồng Công
giáo, viết rằng “trong số người có tư tưởng muốn đi Nam thì phần lớn là nông
dân lao động, nhiều người được chia quả thực trong cải cách ruộng đất[12], có nơi
cả cốt cán và cán bộ xóm cũng muốn đi”.[13] Nhà
văn cách mạng Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký ngày 21 tháng Tám năm 1956 về
tình hình lúc bấy giờ như sau: “Nông dân sau cải cách ruộng đất, đánh nhau vì
tranh tháo nước, để cứu úng thủy. Có hiện tượng Diệm nó phát động một phong
trào di cư mới. Mà lần này có thể cả quần chúng cơ bản đi”.[14]
Giai đoạn đầu của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm có thể được đánh
dấu bằng hội nghị do lãnh đạo Hội Văn nghệ triệu tập từ ngày mồng một đến ngày
mười tám tháng Tám năm 1956. Hơn ba trăm trí thức đủ mọi thành phần đang làm việc
ở Hà Nội đã tới dự hội nghị, nhiều người đã tận dụng ngọn gió “dân chủ” do Đại
hội 20 Đảng Cộng sản Liên Xô đưa đến (đến lúc đó đã được thể hiện trong Nghị
quyết 9 Đảng Lao động Việt Nam) để bày tỏ những bức xúc bị dồn nén lại trong một
thời gian dài.[15] Trong
thời gian diễn ra hội nghị, cả Văn Nghệ và Nhân Dân cùng đăng
trích đoạn bài báo viết bằng tiếng Trung của Lục Định Nhất “Trăm Hoa Đua Nở,
Trăm Nhà Đua Tiếng”, mở đường cho luồng gió dân chủ thứ hai đến từ Bắc Kinh.[16] Như
chúng ta đều biết, trong vòng ba tháng sau hội nghị học tập nói trên, những trí
thức cách mạng bất mãn ở Hà Nội rủ nhau lần lượt xuất bản bốn ấn phẩm mới: báo Nhân
Văn và ba tạp chí văn hóa Đất Mới, Sáng Tạo và Nói Thật,
đồng thời tái bản hai tờ báo Giai Phẩm và Trăm Hoa.[17]
Những bài vở trong các ấn phẩm này đề cập đến hàng loạt vấn đề
và không dừng lại ở lĩnh vực văn nghệ: tự do, dân chủ, tham nhũng, bạo lực cách
mạng, hóa giải ảnh hưởng của Stalin, cải cách tư pháp, chủ nghĩa Mác, nhân quyền,
giá trị truyền thống và nhiều chủ đề bức thiết khác. Chung quy, phần lớn các chủ
đề trên, bằng cách này hay cách khác, đều quy về vấn đề cơ bản nhất: tự do.
Trên thực tế, hai từ “tự do” và “dân chủ” xuất hiện ít nhất 360 lần trong ba
mươi trang của năm số báo Nhân Văn. Các báo chí tư nhân thời kỳ Nhân
văn-Giai phẩm kêu gọi lãnh đạo đảng tiến hành cải tổ nhiều lĩnh vực, tuân thủ
các tiêu chuẩn mà đảng áp dụng cho mọi người khác, và công nhận rằng việc lý tưởng
hóa Liên Xô như một thiên đường xã hội chủ nghĩa không một tỳ vết là không còn
hợp thời nữa. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, dù các thành viên phong trào Nhân
văn-Giai phẩm yêu cầu phải đánh giá lại hình ảnh của Liên Xô và của chính Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa cho phù hợp thực tế hơn, điều này không hề dẫn tới yêu cầu
tương tự về việc xem xét lại nhận định tiêu cực của chế độ miền Bắc đối với Cộng
Hòa miền Nam Việt Nam hay đồng minh Hoa Kỳ.[18]
Trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, có bảy bài báo về Xuân Diệu
gây nhiều chú ý (ba bài trên báo chí của nhà nước và bốn bài trên báo tư nhân).
Cả bảy bài báo đều tập trung vào quá trình tuyển tập thơ cách mạng của Xuân Diệu Ngôi
Sao được xét trao giải nhì của giải thưởng văn học Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa 1954-1955, và chất lượng chung của tuyển tập này có xứng đáng hay không.
Phan Khôi
Có lẽ để bộc lộ rằng sự nghiệp cách mạng của Xuân Diệu đã trở
thành một đề tài căng thẳng đến thế nào, bài báo đầu tiên trên ấn phẩm đầu tiên
của thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, Giai Phẩm Mùa Thu tập 1 dành hẳn một
đoạn nói về nhà thơ. Bài báo của Phan Khôi nhan đề “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”
có thể coi là bài luận nổi tiếng nhất trong suốt bốn tháng sôi động với rất nhiều
tranh luận học thuật.[19] Khi Phan Khôi viết bài này năm 1956, ông đã 69 tuổi
(hơn Hồ Chí Minh ba tuổi). Nhà trí thức lão thành khó tính và bộc trực này có
uy tín cao trong văn giới, và đã tham gia nhiều công tác yêu nước, từng viết
báo, dạy học và viết văn. Đã sống và làm báo ở tất cả ba trung tâm văn hóa lớn
của Việt Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, ông hiểu biết về đất nước và con người
Việt Nam không kém gì ai. Về quan hệ của ông với Xuân Diệu, Phan Khôi
là người đã phát động và ủng hộ Phong trào Thơ mới từ đầu thập kỷ 1930. Ngoài
những thành tích đáng nể về chuyên môn, Phan Khôi còn xuất thân từ một dòng họ
hoàn hảo, có truyền thống ái quốc. Ông ngoại Phan Khôi là vị tướng huyền thoại
Hoàng Diệu, người được giao trọng trách trấn thủ thành Hà Nội trước đợt tấn
công của Pháp năm 1882. Khi tất cả mọi kế sách đều thất bại, theo lời kể lại,
Hoàng Diệu đã tự vẫn để tỏ rõ trách nhiệm của bản thân với tư cách một viên tướng
đã không thể làm tròn trọng trách giữ thành vốn đã hứa với đức vua và triều
đình.[20]
Bài báo của Phan Khôi dài mười trang và gồm bốn phần. Trong
phần mở đầu, nhà báo lão thành tuyên bố ông sẽ nói sự thật, với ngôn ngữ không
úp mở để tất cả mọi người đều hiểu. (Việc tác giả thấy có nhu cầu tuyên bố điều
này có thể gợi cho ta thấy, vào thời điểm đó ngôn ngữ Bôn-sê-vích đã trở nên rối
rắm khó hiểu đến thế nào). Ông cũng thông báo rằng có một phe “đối lập” trong
lĩnh vực văn nghệ, gồm nhiều trí thức ở gần như tất cả mọi cấp, mọi lĩnh vực,
là những người không bằng lòng với các lãnh đạo văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa.[21] Phan
Khôi dành phần hai của bài báo để nói về vấn đề tự do sáng tác, lập luận rằng
thái độ nghi ngờ của lãnh đạo đảng đối với các văn nghệ sĩ cách mạng trẻ là
không hợp tình hợp lý. Theo ước tính của Phan Khôi, những trí thức cách mạng đã
làm vượt yêu cầu để chứng tỏ được lòng trung thành trong suốt tám năm kháng chiến.
Phần thứ ba của bài báo ông phê phán sự thái quá trong cách xử lý của các lãnh
đạo văn hóa đối với Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 và tác giả Trần Dần trong
tháng Hai vừa qua.
Phần bốn và cũng là phần cuối cùng của bài báo là nơi bắt đầu
có những rắc rối cho Xuân Diệu. Trong phần này, Phan Khôi kể lại kinh nghiệm bản
thân trong thời gian làm thành viên ban giám khảo xét giải thưởng văn học
1954-1955, xoáy sâu vào những lời bàn của ban giám khảo về tập thơ Ngôi
Sao của Xuân Diệu:
“Hôm bình định về thơ, tôi phản đối tập Ngôi Sao đứng
giải nhì, tôi nói: có vớt vát lắm thì cũng chỉ nên để nó đứng giải ba. Tôi cử
ra những câu bí hiểm không thể hiểu nghĩa được, thì ông Huy Cận (một trong Ban
chung khảo) bảo rằng đó là tại tôi “muốn” không hiểu thì không hiểu. Quái, tôi
“muốn” làm sao được? Theo lẽ, ông Huy Cận nếu binh vực cho Ngôi Sao thì
phải cắt nghĩa rạch ròi những câu ấy ra, chứ sao lại bảo rằng tôi “muốn” không
hiểu?”[22]
Sau đó, Phan Khôi tả lại lúc ông chỉ ra một vài câu thơ không
hẳn khó hiểu, nhưng “không đáng gọi là thơ”, ý muốn nói thơ cách mạng của Xuân
Diệu kém hơn thơ lãng mạn. Ông kể rằng, đáp lại lời ông, “một ông trong ban
(quên là ai) cãi rằng nếu thế thì bao lâu nay Đảng giáo dục Xuân Diệu không có
hiệu quả gì sao?” Hình ảnh Xuân Diệu được tả trong bài báo của Phan Khôi là một
người ích kỷ và cá nhân không khác gì ấn tượng chung về tính cách cũ nhà thơ
trước khi tham gia cách mạng, điều này đã phủ nhận mạnh mẽ diễn ngôn chính thống
rằng cách mạng đã hoán cải Xuân Diệu. Theo những thông tin Phan Khôi được biết,
Xuân Diệu đã dùng quyền lực và ảnh hưởng từ nội bộ đảng để để cao tập thơ của
mình: “Ban Chung khảo theo đề nghị của ông Xuân Diệu, sau khi tuyên bố giải thưởng,
phải làm nhiều cách tuyên truyền cổ động rầm rộ cho các tác phẩm được giải, và
đã cắt cử người nào viết bài phê bình cho tác phẩm nào.”
Nhưng điều mà Phan Khôi thấy “quái đản” nhất về giải thưởng
văn học nói trên là việc ba người trong ban giám khảo lại nộp tác phẩm dự giải:
“Về vụ này, có một điều, người ngoài không phải là tôi, không
biết đến, thì không lấy làm quái. Ấy là điều, ba ông Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng,
Hoài Thanh đều có tác phẩm dự thi mà đều ở trong Ban Chung khảo. Nếu chỉ ở
trong Ban Chung khảo mà thôi, còn khá; thử điều tra lại hồ sơ, thì ba ông còn ở
trong Ban Sơ khảo nữa. Sao lại có thể như thế? Trường thi phong kiến thuở xưa,
tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: Một người nào
có con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải ‘hồi tị’, không được đi
chấm trường. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không ‘hồi tị’: một lẽ là
ở thời đại Hồ Chí Minh, con người đã đổi mới, đã “liêm chính” cả rồi; một lẽ là
trắng trợn vì thấy mọi cái ‘miệng’ đã bị ‘vú lấp’”.[23]
Để giải thích ý “vú lấp miệng” của mình, Phan Khôi tả lại một
vụ rõ ràng là cố tình che giấu thông tin trong một cuộc họp đột xuất của ban
giám khảo giải thưởng văn học 1954-1955 vào ngày 8 tháng Tám năn 1956. Trong buổi
họp đó, ông được đọc biên bản thảo luận của ban giám khảo: “Tất cả những ý phản
đối tập thơ Ngôi Sao của tôi đều không được ghi vào biên bản. Tôi lập
tức viết thư cho ông (Trường Chinh) tổng bí thư Đảng Lao động Việt Nam để
kể rõ sự việc.”
Vì chính quyền đã không làm gì tiếp để giải quyết thắc mắc của
ông Phan Khôi, giờ đây khi mọi việc sáng tỏ trên mặt báo, mọi người có thể suy
luận là Trường Chinh và lãnh đạo đảng đã phớt lờ ý kiến của ông Phan Khôi. Có
ba cách lựa chọn cho các nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam để giải
quyết vấn đề này, tất cả đều không dễ dàng trong hoàn cảnh đương thời. Một là,
họ có thể tiếp tục làm ngơ trước lời yêu cầu xóa bỏ tham nhũng trong lĩnh vực
văn hóa của Phan Khôi. Nhưng điều này có nguy cơ khiến họ bị đánh giá là không
quan tâm đến tình trạng tham nhũng, và không theo đường lối của Khrushchev mới
đưa ra về tăng cường dân chủ trong đảng và lãnh đạo tập thể (có nghĩa là phải lắng
nghe ý kiến từ bên dưới). Hai là, lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam có
thể nghe theo đề nghị của Phan Khôi là tiến hành một số biện pháp kỷ luật đối với
các lãnh đạo văn hóa. Nhưng làm như thế chẳng khác gì gửi một thông điệp cho
các trí thức rằng họ có thể giữ vai trò cảnh sát đạo đức ở nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, có chức năng giám sát chính quyền và buộc lãnh đạo đảng phải giải quyết
những bất công mà trí thức phát hiện. Lựa chọn thứ ba là tránh phải giải quyết
những yêu cầu của Phan Khôi là bằng cách làm thế nào đó để hạ uy tín của ông.
Nhưng vì đảng đang cho phép tự do báo chí trở lại, chắc chắn một chiến dịch bôi
nhọ nhà báo lão thành và nhiều uy tín này trên các cơ quan ngôn luận của đảng sẽ
kéo theo những phản hồi từ những người ủng hộ Phan Khôi trên báo chí tư nhân.
Điều này sẽ thu hút sự quan tâm rộng rãi hơn của quần chúng đối với Phan Khôi
và các ấn phẩm tự do trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm.
Yến Lan
Khi đã xác định rằng không thể phớt lờ những yêu cầu công
khai của Phan Khôi, lãnh đạo đảng thử nghiệm một giải pháp kết hợp cả hai lựa
chọn còn lại, một mặt buộc ba quan chức văn hóa (Hoài Thanh, Nguyễn Tuân và
Nguyễn Đình Thi) công bố bài tự phê bình, mặt khác bật đèn xanh cho đăng những
bài viết hạ uy tín Phan Khôi. Bài đầu tiên của dạng này xuất hiện trên Văn
Nghệ số ra ngày 20 tháng Chín năm 1956, tập trung đả kích bài của Phan
Khôi ở khía cạnh phê phán sai rằng lãnh đạo đảng đã phớt lờ một vụ gian lận hiển
nhiên. Tác giả của nó là nhà thơ, nhà biên kịch 40 tuổi, Yến Lan, người đã ghi
biên bản cuộc họp của ban giám khảo. Ông nhận rằng đó là quyết định cá nhân của
một mình ông khi loại bỏ ý kiến của Phan Khôi về tập Ngôi Sao của
Xuân Diệu, chứ không phải là âm mưu chung của Ban như nhà báo Phan Khôi đã áp đặt:
“Biên bản là để ghi lại những ý chính của cuộc họp. Những nhận xét đó
(của ông Phan Khôi) đều lạc khỏi đề tài đang thảo luận, hoặc đưa ra trong lúc
giải lao, giữa hai ba người với nhau (nhiều lúc tranh luận rất sôi nổi, đôi khi
gay gắt nữa) và không được đưa vào biên bản vì thư ký lúc đó đang nghỉ giải
lao”.
Tiếp theo, Yến Lan trả lời thắc mắc của Phan Khôi đối với việc
ba người trong ban giám khảo (trong đó có Xuân Diệu) gửi tác phẩm và được trao
giải:
“Ông [Phan Khôi] đã vạch ra ba ông Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng,
Xuân Diệu có tác phẩm dự thi mà cùng đều ở trong ban chấm thi từ lúc sơ khảo đến
chung khảo. Cũng như những người khác, ông Phan Khôi có quyền nghi như thế sẽ
có điều ám muộn, nhưng trên thế giới việc đó không có gì là quái, miễn là người
ta phải làm việc đúng với nguyên tắc: những người ở ban chấm thi mà có tác phẩm
dự giải thì không có quyền biểu quyết tác phẩm của mình. Nguyên tắc ấy ở đây
xin chứng thực là luôn luôn được nhắt đến và làm đúng, còn ra có vị nể hay
không thì không thuộc phạm vi bài này.”[24]
Trần Công
Ngày 20 tháng Chín năm 1956 – ngày bài viết của Yến Lan được
đăng trên Văn Nghệ, cũng tình cờ là ngày mà nhà trí thức cách mạng bất mãn
Nguyễn Hữu Đang, với sự cộng tác chủ yếu của Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Duy và
Phan Khôi, khai trương số đầu tiên của báo Nhân Văn. Cũng như số đầu tiên
của tập Giai Phẩm Mùa Thu xuất bản trước đó mấy tuần, tờ báo gai góc
này ngay lập tức khai thác chủ đề giải thưởng văn học 1954-1955. Trong bài báo
“Chống bè phái trong văn nghệ”, nhà văn trẻ Trần Công viết:
“Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, đại diện cho ban Chấp
hành Hội, đều có trách nhiệm lớn đối với phong trào. Thế mà tác phẩm còn non
kém của ba ông lại được giải. Nếu không phải tự mình bỏ phiếu cho mình thì cũng
là bè cánh ta lại bỏ phiếu cho tác phẩm tồi của bè cánh ta (cũng nên chú ý đến
Huy Cận có chân trong ban chấm giải, mà ai cũng biết Huy Cận và Xuân Diệu chỉ
là một).”[25]
Trần Công còn lục lại việc cũ trong quá khứ, đưa ra một vấn đề
hóc búa khác cho Xuân Diệu:
“Tập thơ Việt Bắc cũng là một tập thơ như muôn ngàn
tập thơ khác, dù có hay chăng nữa thì cũng chỉ là một tập thơ. Nhưng nó có cái
đặc biệt. Đặc biệt không phải ở thơ mà ở tác giả. Giá tập thơ Việt Bắc là
của người khác thì phê bình cũng chẳng sao đâu, nhưng Việt Bắc lại là
của Tố Hữu. Một loạt bài của Hoàng Yến, Hoàng Cầm, Lê Đạt làm một số cán bộ
lãnh đạo [Hội] Văn nghệ ngạc nhiên, tức giận thậm chí có người nói ‘Địch nó
không mong gì hơn chúng ta chê thơ Tố Hữu.’”[26]
Nguyễn Tuân
Một tuần sau đó, vào ngày 27 tháng Chín năm 1956, một bài báo
khác xuất hiện trên tờ Văn Nghệ với chủ ý đáp lại những thông tin mà
Phan Khôi tiết lộ xung quanh việc chấm giải nhì cho tập thơ Ngôi Sao đang
gây tranh cãi. Bài báo là một bản tự phê bình công khai của nhà văn nổi tiếng
thời Pháp thuộc, đương kim tổng thư ký Hội Văn nghệ, Nguyễn Tuân. Ông cũng tham
gia ban giám khảo, cùng với Phan Khôi, Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh và năm
trí thức có uy tín khác của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[27] Trong
bản tự phê, dưới nhan đề “Những suy nghĩ về giải thưởng văn học 1954-1955”,
Nguyễn Tuân thừa nhận rằng ông không đồng tình với đề xuất trao giải nhì cho tập
thơ Ngôi Sao (theo ông, trao giải ba thì xứng đáng hơn).[28] Tuy
nhiên, theo Nguyễn Tuân, vấn đề liên quan đến việc trao giải cho tập thơ Ngôi
Sao không phải chỉ ở chỗ tác phẩm đáng được giải nào: “Riêng tôi muốn tác
giả Ngôi Sao tự nhìn mình nghiêm khắc nhiều hơn nữa, và tôi nghĩ rằng
các anh Hoài Thanh, Huy Cận đã tích cực bênh vực thơ Ngôi Sao, có thể giúp
đỡ nhiều cho tác giả thấy rõ vấn đề. Riêng phần tôi, trong việc Ngôi Sao,
tôi cũng thấy mình nể nang trước những ý kiến của Hoài Thanh đối với thơ Ngôi
Sao.”[29]
Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam
Trong số tiếp theo, ra một tuần sau đó (ngày mồng 4 tháng Mười
năm 1956), báo Văn Nghệ đăng tiếp một một bài tự phê thứ hai, liên
quan đến vụ Ngôi Sao của Xuân Diệu: “Thông báo của Ban Thường vụ Hội
Văn nghệ.”[30] Trong
bài, hội thừa nhận đã sai lầm trong việc xử lý vụ việc Trần Dần và bài thơ “Nhất
định thắng”, cũng như thiếu sót trong việc tuyển chọn giải thưởng văn học 1954-1955:
“Lề lối làm việc luộm thuộm, thiếu dân chủ, ít chú ý liên hệ
với quần chúng. Như trong khi chấm giải, đã có nhiều ý kiến về tập thơ Ngôi
Sao, nhưng đa số ủy viên chưa thật chú ý lắng nghe.
…Cũng trong phiên họp trên của Ban chấm giải, đa số ủy viên
nhận rằng tập thơ Ngôi Sao của Xuân Diệu xếp giải nhì là quá cao, một
số cho rằng xếp Ngôi Sao vào giải ba thì đúng hơn.”[31]
Nguyễn Bính
Bài báo thứ sáu trong số bảy bài liên quan tới Xuân Diệu
trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, “Phải xem xét lại tất cả các giải thưởng văn
học” do Nguyễn Bính chấp bút và đăng trên hai số liền của tờ Trăm Hoa (ra
ngày 20 và 28 tháng Mười năm 1956).[32] Nguyễn
Bính là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng, và cũng đã viết bài trên báo Văn Nghệ bốn
tháng trước đó, yêu cầu các lãnh đạo văn nghệ phải “nghiêm túc tự phê” vì đã
trao giải nhì cho Ngôi Sao trong đợt xét giải thưởng văn học
1954-1955. Khi đó, ông đang là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Trăm Hoa, tờ báo
đã đăng ba bài phê phán tập Ngôi sao sau ngày công bố giải thưởng văn
học 1954-1955, ngày 15 tháng Ba năm 1956. Không lâu sau đó, tờ báo sập tiệm vì
hết tiền.[33] Bản
thân Nguyễn Bính cũng là một ngôi sao (tuy không rực rỡ bằng Xuân Diệu) của
Phong trào Thơ mới.[34] Về hoạt động cách mạng, ông đã từng rời Hà Nội
vào Nam từ năm 1944 để du ngoạn và kiếm sống, ở đó khi cuộc cách mạng tháng Tám
và kháng chiến chống Pháp tái xâm lược Việt Nam nổ ra, ông tiếp tục làm việc
trên mặt trận văn chương cho Việt Minh. Khi chiến tranh sắp kết thúc năm 1954,
ông tập kết ra Bắc cùng với hàng ngàn cán bộ Việt Minh khác và bắt đầu làm việc
tại Nhà Xuất bản Văn nghệ. Chính vì ở cương vị này mà ông nắm vững được thông
tin chi tiết về quá trình xuất bản tập thơ Ngôi Sao.[35]
Bên cạnh các nội dung khác, Nguyễn Bính khai triển một vấn đề
do Trần Công nêu ra trong bài viết trên báo Nhân Văn cách đó một
tháng, về việc lạm dụng “yêu cầu cách mạng” làm mục tiêu biện minh cho mọi hành
động, thực chất là để che giấu động cơ mưu lợi cá nhân. Theo hướng này, Nguyễn
Bính lật lại câu nhận xét, lúc bấy giờ đã bị nhiều người chê bai, về cuộc tranh
luậnViệt Bắc: “Địch nó không mong gì hơn là ta chê thơ Tố Hữu”. Nguyễn Bính kết
luận, thật là hổ thẹn khi “Ông Hoài Thanh đã đem cả địch ra mà bảo vệ cho thơ Tố
Hữu”. Theo Nguyễn Bính, nguyên nhân thực sự khiến Hoài Thanh bênh vực tập thơ Việt
Bắc là quan hệ công tác giữa ông ta và tác giả tập thơ – Tố Hữu là thủ trưởng
của Hoài Thanh. “Cái lối nịnh trên nạt dưới ấy tất nhiên ông Hoài Thanh phải
đem sử dụng vào việc chấm giải. Vì ông Tố Hữu ai cũng biết là Trung ủy, là lãnh
đạo văn nghệ, là Thứ trưởng…”[36]
Những lời phê của Nguyễn Bính còn trở nên trực tiếp hơn, cá
nhân hơn khi ông bàn tới mối liên hệ giữa giải thưởng văn học và tiền bản quyền
khi xuất bản. Ông tiết lộ rằng trong tất cả các thi sĩ có sách in ở nhà xuất bản
của Hội Văn nghệ, chỉ duy nhất có thơ Tố Hữu là được sắp vào loại A, “nghĩa là
thuộc cái loại giá trị nhất và được tính tiền bản quyền tác giả cao nhất.
(Không biết các ông lãnh đạo Hội có kiểm tra đôn đốc việc này hay không?)”. Ở
đây cần phải lưu ý rằng cụm từ “kiểm tra đôn đốc” được sử dụng rất nhiều trong
các văn kiện đảng. Cũng tương tự như lời bàn của ông về việc Hoài Thanh viện tới
“địch” để bênh vực tập thơ của Tố Hữu, Nguyễn Bính nhại cụm từ “tủ” này một
cách mỉa mai để đánh động sự chú ý của mọi người rằng các quan chức cao cấp có
thể dễ dàng lợi dụng những thuật ngữ cách mạng rất văn hoa để đánh bóng và hợp
lý hóa những hành động, thực ra, có thể đơn thuần chỉ là vụ lợi cá nhân.
Nguyễn Bính cũng bật mí những chi tiết xung quanh quá trình
xuất bản tập thơ Ngôi Sao. Theo ông, tất cả đội ngũ cán bộ của Nhà Xuất bản
Văn nghệ, nơi ông làm việc, đã đánh giá là tập thơ rất tệ, vì vậy, nó bị bỏ xó ở
một góc văn phòng suốt mấy tháng, mãi đến khi “cấp trên” liên tục nhắc nhở, buộc
Nguyễn Bính và đồng nghiệp phải triệu tập một cuộc họp, chọn ra những bài “đỡ tệ”
nhất trong bản thảo để gửi đến Nhà in Quốc gia. “Vì lẽ Thơ Xuân Diệu không có độc
giả, Xuân Diệu lại vận động mãi với cấp trên, sau bất đắc dĩ nhà in Quốc gia nể
quá mới in cho 1500 quyển”. Khi các thành viên của giới văn nghệ biết được tin Ngôi
Sao được giải nhì, “anh em không thể tưởng tượng được rằng lại có một cuộc
xâm phạm trắng trợn văn nghệ như thế. Anh em lạ quá là vì anh em không thể ngờ
rằng ban giáo khảo lại có thể khinh thường văn nghệ, khinh thường anh em và quần
chúng đến mức ấy”. Để kết thúc bài viết, Nguyễn Bính bày tỏ những suy nghĩ như
sau:
“Hai ông Huy Cận và Hoài Thanh trong ban chung khảo tại sao lại
“tích cực bênh vực cho tập thơ Ngôi Sao” (lời ông Nguyễn Tuân)? Ông Hoài
Thanh trước cách mạng đã biết chọn lọc các bài thơ hay của các thi sĩ để soạn
thành quyển Thi nhân Việt Nam, có phê phán. Ông Huy Cận, tuy bây giờ
là Thứ trưởng bộ Văn hóa, nhưng trước kia đã từng là một nhà thơ có tiếng tăm.
Thế thì đối với một tập thơ dở như tập Ngôi Sao, tại sao hai ông lại tích
cực bênh vực? Có phải tại ông Huy Cận và Xuân Diệu chỉ là một, còn ông Hoài
Thanh vụ trưởng vụ Nghệ thuật thì lại là cấp dưới của ông Huy Cận hay không?”[37]
Phạm Tường Hạnh
Bài báo cuối cùng trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm liên quan
đến Xuân Diệu xuất hiện trên trang bìa của tờ Trăm Hoa số ba (ra ngày
mồng 4 tháng Mười một năm 1956). Tác giả là Phạm Tường Hạnh, một nhà văn cách mạng
trẻ từ miền Nam ra Bắc tập kết sau kháng chiến chống Pháp, đang làm
việc cho chương trình Phát thanh Thanh niên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tác
giả phản đối ý kiến của Nguyễn Tuân trong bài tự phê, cho rằng đa số những nhận
xét tiêu cực về tập thơ Ngôi Sao xuất phát từ ác cảm với Xuân Diệu ở
một số thành phần trong đội ngũ trí thức. Ông viết: “Tôi tưởng vấn đề không phải
thế. Có thể có số người nào đó không ưa tác giả Ngôi Sao. Nhưng không đến
nỗi họ “giận cá chém thớt” để tẩy chay tác phẩm của Xuân Diệu. Vả lại còn có
nhiều người xưa nay chưa biết mặt mũi Xuân Diệu ra sao như anh em miền Nam tập
kết chẳng hạn, cũng nhiều người không thích tập thơ Ngôi Sao chút
nào”.[38]
(còn tiếp)
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2,
Summer 2010.
Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
Bản gửi từ tác giả.
[1] Tiêu đề của tập thơ Ngôi sao gợi hình ảnh
Đảng Lao động Việt Nam, với đảng kỳ có ngôi sao vàng trên nền đỏ. Nhưng
cũng có thể tác giả muốn chuyển tải cảm nghĩ về đảng như một ngôi sao dẫn đường.
Chúng tôi vẫn chưa tìm lại được tư liệu những số Trăm Hoa có đăng bài
phê phán tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu. Hình như tác giả của các bài
phê bình đó là nhà thơ Trần Lê Văn.
[2] Xã luận, “Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản
Liên-Xô đã thành công rực rỡ”, Nhân Dân, số 726, 28/2/1956. Xem thêm bài
“Đồng chí Trường Chinh trả lời phỏng vấn của phóng viên đài phát thanh Mạc-Tư-Khoa”, Nhân
Dân số 733, 6/3/1956.
[3] X.Y.Z., Sửa Đổi Lề Lối Làm Việc (Hà Nội,
Sự Thật, 1950).
[4] Hoài Thanh, “Một vài ý kiến về tập thơ ‘Ngôi sao’
của Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 122, 24/5/1956.
[5] Sđd. So sánh những ý kiến đánh giá thơ lãng mạn
Xuân Diệu trong bài này với tác phẩm Thi nhân Việt Nam: 1932-1941 để
thấy giọng văn Hoài Thanh đã thay đổi như thế nào.
[6] Nguyễn Bính, “Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình”, Văn
nghệ, số 125, 14/6/1956.
[7] Huy Phương, “Phát biểu về tập thơ Ngôi sao của
Xuân Diệu”, Văn nghệ, số 126, 21/6/1956.
[8] Một chi tiết thú vị đáng lưu ý là, đến tận tháng
6/1956, Huy Phương – một người sắp tham gia phong trào Nhân văn – Giai phẩm vẫn
có nhận xét tích cực về cải cách ruộng đất.
[9] Huy Phương, trong “Phát biểu về tập thơ Ngôi
sao”, dẫn bài “Xuân Việt Nam” và “Đêm Mười Chín” của Xuân Diệu.
[10] Sđd.
[11] Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về
việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình
hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn
Tập, 17:374.
[12] “Quả thực” là thuật ngữ của đảng dùng để chỉ những
tài sản tịch thu từ những người bị coi là kẻ thù giai cấp trong chiến dịch cải
cách ruộng đất, đem chia cho những người nghèo để chứng tỏ rằng đảng quan tâm đến
lợi ích của họ.
[13] “Chỉ thị của Ban Bí thư, số 39/CT-TW, 3/8/56, “Về
việc sửa chữa một số sai lầm khuyết điểm trong các công tác nhằm ổn định tình
hình và ngăn ngừa âm mưu khiêu khích của bọn phá hoại”, Văn Kiện Đảng Toàn
Tập, 17:374.
[14] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng:
Tập 3, Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội: Thanh Niên, 2006), 127.
[15] Chúng tôi dùng từ “dân chủ” theo nghĩa các lãnh đạo
đảng thường gán cho từ này, tức là khi cấp trên lắng nghe ý kiến phê bình của cấp
dưới. Một ví dụ cụ thể, xem “Chỉ thị của thường vụ liên khu ủy IV, 1/10/1952”
trong Văn Kiện Đảng Toàn Tập, 13: 440-443.
[16] Báo Nhân Dân đưa tin về bài viết trong
“Thư Bắc Kinh” của Lê Hao (Nhân Dân, số 884, 5/8/1956) nhưng mãi đến số ngày
30/9/1956 mới đăng bài dịch.
[17] Theo nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng và hồi ký của
Tô Hoài, tổng biên tập báo Trăm Hoa, Nguyễn Bính cho rằng tờ báo của mình
độc lập với Nhân Văn và Giai Phẩm, khách quan và trung lập hơn.
Dù ý định của ông là gì chăng nữa, tờ báo Trăm Hoa cũng chia sẻ rất
nhiều suy tư mang tính nhân văn được nêu trong Nhân Văn và Giai
Phẩm.
[18] Một ngoại lệ là ý kiến của Nguyễn Hữu Đang kêu gọi
mọi người tôn trọng pháp chế tư bản hơn: “Chúng ta quá căm ghét pháp chế tư bản
chủ nghĩa đến mức, ở nhiều người, nó đã biến thành nỗi căm ghét pháp chế nói
chung”. Nguyễn Hữu Đang, “Cần phải chính quy hơn nữa”,Nhân Văn, số 4, 11/11/1956.
[19] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, Giai
phẩm Mùa thu tập 1 (Hà Nội; NXB Minh Đức, tháng 8/1956).
[20] Hoàng Diệu được chế độ mới tôn trọng đến mức tên
ông được chọn đặt cho một trong số ít những con đường ở khu có nhiều biệt thự của
lãnh đạo đảng tại thủ đô Hà Nội.
[21] Trong nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, nhà văn cách mạng
này ghi nhận Phan Khôi có lần đã nói với lãnh đạo đảng rằng họ là “mensheviks”
(phe nhược tiểu, ngược với bolshevik), Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký tập 3:
Nghệ sĩ và công dân (Hà Nội, Thanh Niên, 2006), 128.
[22] Phan Khôi, “Phê bình lãnh đạo”.
[23] Sđd. Ở Việt Nam, câu ngạn ngữ này được dùng
để tả trường hợp một người ở thế mạnh hơn dùng quyền thế để ép người dưới dưới
im tiếng.
[24] Yến Lan, “Một vài sự thật chung quanh ‘vụ giải
thưởng văn học 1954-1955’”, Văn nghệ, số 139. 20/9/1956.
[25] Trần Công, “Chống bè phái trong văn nghệ”, Nhân
Văn, số 1, 20/9/1956.
[26] Trần Công, “Chống bè phái”.
[27] Năm thành viên còn lại của ban giám khảo là Đặng
Thai Mai, Thế Lữ, Trương Tửu, Hoàng Xuân Nhị và Nguyễn Huy Tưởng.
[28] Nguyễn Tuân, “Về giải thưởng Văn Học 1954-1955”, Văn
nghệ, số 140, 27/9/1956.
[29] Sđd.
[30] “Thông cáo của Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam”, Văn
nghệ, số 141, 4/10/1956.
[31] Sđd.
[32] Nguyễn Bính, “Cần phải xét lại toàn bộ giải thưởng
văn học”, Trăm Hoa, số 1 & 2, 20 và 28/10/1956.
[33] Nguyễn Bính đã miêu tả cách chế độ làm khó dễ cho
báo chí tư nhân trong bài báo thú vị “Hoa lại nở”, Trăm Hoa, số 1,
20/10/1956.
[34] Không giống như Xuân Diệu và đa số các nhà thơ
khác trong phong trào, Nguyễn Bính đã khai thác cảm hứng cho thơ mình từ ca
dao, dân ca Việt Nam. Thơ của ông có xu hướng miêu tả những cảnh bình dị ở
thôn quê Việt Nam theo phong cách lãng mạn.
[35] Nguyễn Bính, “Cần phải xem xét lại toàn bộ giải
thưởng văn học”.
[36] Sđd.
[37] Sđd.
[38] Phạm Tường Hạnh, “Một vài ý kiến của bạn đọc về
bài ‘Về vụ giải thưởng 1954-1955’ của Nguyễn Tuân”, Trăm Hoa, số 3,
4/11/1956.
Xâu chuỗi lại những nhận xét về Xuân Diệu trong thời kỳ Nhân
văn-Giai phẩm
Những tài liệu về báo chí thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm cho phép
chúng ta tổng kết lại những nét chính của dư luận đa chiều xung quanh quá trình
phục vụ cách mạng của Xuân Diệu. Trước hết, có vẻ nhà thơ đã lợi dụng uy tín cá
nhân của mình và khai thác những mối quan hệ có quyền lực trong đảng để gây sức
ép với NXB Văn nghệ vốn đang lưỡng lự, phải sớm in tập thơ Ngôi Sao. Thứ
nhì, đại đa số đội ngũ trí thức văn nghệ cho rằng chất lượng của tập thơ kém,
khiến quyết định trao giải nhì càng có vẻ bất công hơn. Ba là, Xuân Diệu đã
tham gia ban giám khảo xét giải thưởng văn học 1954-1955 mà vẫn nộp tác phẩm dự
giải, tạo cho mình lợi thế có thể bỏ phiếu, hoặc ít nhất là vận động sự ủng hộ,
cho tác phẩm của chính mình.[1] Bốn là, trong ban giám khảo, Huy Cận, bạn đời của
Xuân Diệu, là người vận động tích cực nhất cho tập thơ Ngôi Sao. Năm là,
khi Phan Khôi nhận xét thơ cách mạng của Xuân Diệu kém hơn thơ lãng mạn, một
thành viên không rõ tên của ban giám khảo đã gần như gợi ý rằng cần phải trao
giải cho thơ cách mạng Xuân Diệu để đảng khỏi mất uy tín. Sáu là, sau khi Huy Cận
đinh ninh rằng Ngôi Sao sẽ được giải, Xuân Diệu đã tự giúp mình thêm
bằng cách yêu cầu tất cả các tác phẩm được giải (trong đó, đương nhiên có Ngôi
Sao) phải được quảng bá rộng rãi trên báo chí của đảng (sử dụng ngân sách công)
để khuyến khích quần chúng mua tác phẩm (và tiền sẽ vào túi Xuân Diệu). Điểm cuối
cùng là, cả Trần Công và Nguyễn Bính đều công khai khẳng định rằng Xuân Diệu và
Huy Cận là một đôi, đầy quyền lực trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ.
Việc Xuân Diệu nghĩ như thế nào về những ý kiến tranh luận rất
nóng liên quan đến sự nghiệp cách mạng của mình vẫn còn là điều bí ẩn, vì ông
không viết một bài nào phản ứng lại những vấn đề do những người phê bình ông
đưa ra. Một manh mối cho thấy trạng thái tâm lý của Xuân Diệu là ông không đăng
bất cứ một bài vở gì trong suốt năm tháng liền, từ ngày 17 tháng Năm năm 1956 –
ông có bài nhận xét về cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ
Chủ tịch cho đến ngày mồng 9 tháng Mười một năm 1956, bài “Về con người cũ
và con người mới”.[2] Bài viết sau là bản dịch các ghi chép của Maksim
Gorky về sự chuyển hóa cách mạng. Trong thời gian đó, các rạp ở Hà Nội đang chiếu
bộ phim Liên Xô dựa theo tác phẩm nổi tiếng của Gorky “Người mẹ”.[3] Bản dịch
các ghi chép của Gorky là một bước đi hết sức thận trọng của Xuân Diệu
nhằm tiếp cận lại diễn đàn trí thức sau một thời gian dài im hơi lặng tiếng.[4]
Những sự kiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm làm xáo trộn đời
sống chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn.
Phản ứng của chính quyền với phong trào được bắt đầu bằng bài viết “Mấy điểm
sai lầm chủ yếu trong báo Nhân Văn và tập Giai Phẩm Mùa Thu” của
Nguyễn Chương, một nhân vật bảo thủ, đăng trên báo Nhân Dân, cơ quan của Ủy
ban Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, số ra ngày 25 tháng Chín năm 1956.[5] Bốn
nhân vật bảo thủ khác trong đảng, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, Hồng Chương và Quang
Đạm, tất cả đều gắn với hai ấn phẩm nhiều quyền lực nhất của chế độ đương thời,
báoNhân Dân và tạp chí lý luận Học Tập, tiếp sức liền.[6] Ngoài
bài viết của những vị nêu trên, báo Nhân Dân còn đăng khoảng ba mươi
bài khác, trong thời gian từ tháng Mười năm 1956 đến tháng Giêng năm 1957, phản
hồi về những vấn đề cốt lõi được nêu trong các ấn phẩm của Nhân văn-Giai phẩm,
như tự do dân chủ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa nhân văn, và quan hệ giữa
chính trị và văn hóa.
Là tờ báo chuyên ngành văn hóa của chính quyền, Văn Nghệ –
lúc đó Xuân Diệu vẫn có tên trong ban biên tập, chỉ đăng có sáu bài phê phán
phong trào Nhân văn-Giai phẩm trong mười hai số xuất bản trong thời kỳ Nhân
văn-Giai phẩm, tức là trung bình hai số mới có một bài.[7] Có lẽ
điều quan trọng hơn là, chỉ trừ bài cuối cùng do một quan chức văn nghệ gốc Nghệ
An tên là Hoàng Trung Thông (bút danh Hồng Vân) viết, tác giả của tất cả các
bài còn lại đều là những nhân vật tương đối ít tên tuổi trong đội ngũ trí thức
văn nghệ. Đó thực là một phản ứng yếu ớt, nếu so sánh với những đòn tấn công
mãnh liệt hồi tháng Ba và tháng Tư tờ báo này đã dành cho tập Giai Phẩm Mùa
Xuân 1956 – một ấn phẩm vô hại hơn nhiều so với những ấn phẩm sau này của
phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hồi đó, ba nhà trí thức quyền lực nhất nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa: Hoài Thanh, Xuân Diệu và Nguyễn Đình Thi cùng tiên phong
chỉ đạo đợt tấn công.
Trong con mắt của các lãnh đạo đảng cao cấp, giới trí thức Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa và tờ báo Văn Nghệ lúc bấy giờ hẳn là một đám hỗn
loạn. Một vấn đề nhức nhối là ba thành viên quan trọng trong phong trào Nhân
văn-Giai phẩm: Văn Cao, Sĩ Ngọc và Chu Ngọc đều có chân trong ban biên tập chín
người của báo Văn Nghệ. Điều này đồng nghĩa với việc không thể sử dụng tờ
báo này làm vũ khí hữu hiệu để tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trên thực tế, nhiều
thành viên quan trọng của phong trào cải cách này còn đăng bài trên báo Văn
Nghệ trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm. Hình như họ không gặp trở ngại nào
với cả hai mảng báo chí nhà nước (Văn Nghệ) và tư nhân (Nhân văn, Giai phẩm),
và tự do qua lại cả hai bên.[8]
Có ba yếu tố giúp giải thích vì sao báo Văn Nghệ giữ
thái độ khá trung lập và không thấy nhiều sự phụ họa của giới trí thức trong
chiến dịch tấn công Nhân văn-Giai phẩm. Trước hết, đa số thành viên trong đội
ngũ trí thức có vẻ ngầm đồng tình với nhiều đề xuất nhân văn được thể hiện
trong các ấn phẩm của phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Hai là, dưới góc độ kinh tế
đơn thuần, tình trạng lạm phát, thiếu lương thực, và không có chính sách lương
chuẩn hóa, ổn định cho các trí thức ở Hà Nội lúc bấy giờ đồng nghĩa với tình trạng
các nhà văn phải chật vật mới đủ ăn. Môi trường tự do báo chí sẽ là mang lại
nhiều cơ hội kiếm tiền nhuận bút, điều mà các trí thức trong chế độ Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đang rất khát khao. Và ba là, lãnh đạo đảng ban đầu đã chủ
trương xoa dịu các trí thức bất mãn bằng cách để cho họ xả những nỗi tức giận
lên đầu những người lãnh đạo chuyên môn trực tiếp. Những quan chức văn hóa này
(như Xuân Diệu, Huy Cận, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, thậm chí
ngay cả Tố Hữu) đã bị đồng nghiệp trí thức hạ uy tín và tạm thời bị chính quyền
thả nổi. Đến lúc thấy nhất định phải loại bỏ Nhân văn-Giai phẩm, lãnh đạo đảng
buộc phải trông cậy vào các nhà lý luận Mác-Lê của hai tờ Nhân Dân và Học
Tập chứ không phải các quan chức văn hóa, những người đã phải trả giá đắt
vì đã đánh tập Giai Phẩm Mùa Xuân 1956 vào đầu năm. Tình thế đó giúp
giải thích vì sao Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi và các lãnh đạo văn
hóa khác phải ngồi im lặng ngoài đường biên gần như suốt thời kỳ Nhân văn-Giai
phẩm, không hề tham gia viết bài đánh phong trào này ngay trong chiến dịch.
Khoảng giữa tháng Chạp năm 1956, lãnh đạo đảng bắt đầu ra lệnh
đóng cửa các ấn phẩm Nhân văn, Giai phẩm, đầu tiên với tờ báo Nhân
Văn. Một bài báo của nhà lý luận cứng rắn Xuân Trường đăng trên Nhân Dân số
ra ngày 10 tháng Chạp năm 1956 đã tổng kết quan điểm của chính quyền về tờ báo
nói trên: Nhân Văn tuyên bố là đi theo sự lãnh đạo của đảng, nhưng
trên thực tế thì không. Tờ báo nói xấu chế độ bằng cách công khai kết tội lãnh
đạo đảng tìm cách phá hoại tờ báo, nó “gieo mầm nghi ngờ trong quần chúng về bản
chất tự do dân chủ của chế độ ta”; và các bài báo “xuyên tạc, nói xấu, bịa đặt”.
Về những suy tư của Nhân Văn đối với Ba Lan và Hungary, Xuân Trường
viết:
“[Nguyễn Hữu Đang] lại đặt vấn đề ‘nguyên nhân sâu xa của những
biến cố ở Ba-lan và Hung-ga-ri là vì thiếu dân chủ, tại sao lại hiểu ra là vì
thiếu chuyên chính?’ Chế độ ta là chuyên chính dân chủ nhân dân, nghĩa là dân
chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân, của Tổ quốc, của chế độ.
Dân chủ và chuyên chính là hai mặt của một vấn đề. …Những biến cố vừa rồi ở
Ba-lan và Hung-ga-ri có nguyên nhân khách quan và chủ quan của nó. Kẻ chủ mưu
những vụ phiến loạn ở Hung-ga-ri là bọn phản cách mạng gồm những phần tử phong kiến
tư sản phản động tay sai của đế quốc. Chúng lợi dụng sự bất mãn của quần chúng
mà làm điều phi pháp. Cách hiểu và đặt vấn đề của bạn Nguyễn Hữu Đang về thực tế
đã gieo một tâm lý hoài nghi cho một số người chưa thật hiểu ở đường lối và
chính sách của Đảng và Chính phủ.”[9]
Đến tháng Chạp, Trung ương đảng tổ chức gặp gỡ các trí thức
và phê bình nghiêm khắc những người đã tham gia phong trào Nhân văn-Giai phẩm.
Dù những nhà cải cách này vẫn tiếp tục được làm việc cho chế độ, nhưng cuộc sống
của tất cả các thành viên từng tham gia phong trào vẫn không thể trở lại bình
thường. Bị công an theo dõi là chuyện thường ngày, và đương nhiên khiến cho những
người khác trong giới trí thức (bất kể ý kiến riêng của họ về Nhân văn-Giai phẩm
như thế nào) ngại bị người khác phát hiện có tiếp xúc với các thành phần Nhân
văn-Giai phẩm.[10] Tuy
nhiên, bịt miệng phong trào Nhân văn-Giai phẩm đã là một việc làm đau đầu các
lãnh đạo đảng, nhưng việc khó hơn (và đòi hỏi những biện pháp mạnh hơn) là phải
phá vỡ sự thống nhất của giới trí thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với xu hướng
coi tranh luận thả cửa và sự tồn tại của nhiều luồng ý kiến không đồng thuận là
chuyện thường ngày trong giới. Xu hướng dung hòa các quan điểm bất đồng này buộc
Đảng Lao động Việt Nam phải siết chặt sự kiểm soát đối với các hoạt động
sáng tác. Lãnh đạo đảng cần các trí thức kiểm soát lẫn nhau, chứ không phải
dung hòa với nhau.
Giữa Nhân văn-Giai phẩm và Văn: Hai bài phát biểu của
Xuân Diệu về Văn học Cách mạng
Sang đến năm 1957, tình hình của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã
tương đối ổn định so với những năm đầy xáo trộn trước đó, từ cải cách ruộng đất,
hóa giải ảnh hưởng Stalin, phong trào Trăm Hoa, những biến động chính trị trong
khối xã hội chủ nghĩa (Ba Lan và Hungary) và Nhân văn-Giai phẩm. Tuy nhiên, một
văn kiện chính thức của đảng năm 1957 cho người đọc một cảm tưởng rằng chế độ vẫn
vững vàng trên đôi chân của mình, dù phải liên tiếp đối mặt với hết sự cố này đến
rắc rối khác, cố gắng kiểm soát một xã hội đang rời rạc và thiếu hiệu quả. Vụ
đàn áp Nhân văn-Giai phẩm vào tháng Chạp năm 1956 đánh dấu bước đi đầu tiên
trong kế hoạch đảo ngược lại chính sách hóa giải ảnh hưởng của Stalin, sẽ được
thực hiện trong suốt năm 1957. Đối với vấn đề cải cách ruộng đất – một chiến dịch
gây tác động sâu rộng đến đông đảo dân chúng nhất của Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, lãnh đạo đảng tỏ ra ngày càng hờ hững với việc “sửa sai” – dù trước đó đã
hứa sẽ thực hiện triệt để, trong lúc cao điểm của phong trào hóa giải ảnh hưởng
của Stalin vào tháng Mười năm 1956. Những bước sửa sai gồm có: phục hồi công
tác cho các đảng viên bị đấu tố, bồi thường thích đáng về vật chất cho nông dân
lao động có tài sản bị tịch thu, giảm thuế nông nghiệp – vì trong chiến dịch đã
bị nâng mức đồng loạt.[11] Về mặt tư tưởng, chính quyền chưa bao giờ thấy dễ
chịu với chính sách hóa giải ảnh hưởng Stalin.[12] Về
kinh tế, bất kể xu hướng chính sách của lãnh đạo đảng có như thế nào chăng nữa,
tình hình kinh tế ngày càng xuống dốc của đất nước không cho phép thực thi
chính sách bồi thường toàn diện cho các nạn nhân cải cách ruộng đất. Vào giữa
năm 1957, Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam nhận xét tình hình kinh
tế như sau:
“Hội nghị (Bộ Chính trị tổ chức ngày mồng 6 tháng Tư năm
1957) nhận định từ đầu năm đến nay, tình hình thị trường ngày một gay go: vật
giá tiếp tục lên mạnh, thất thu về thuế đang nặng nề, nạn đầu cơ tích trữ trầm
trọng hơn, thị trường tự do đang mở rộng và đấu tranh mạnh chống lại sự kiểm
soát, quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của kinh tế quốc doanh.
Tình hình đó làm cho đời sống của nhân dân lao động nhất là
những người sống bằng tiền lương bị sút kém, việc thực hiện kế hoạch Nhà nước
1957 bị khó khăn, và gây ảnh hưởng chính trị không tốt.”[13]
Để đối phó với tình hình đang xấu đi này, Bộ chính trị chỉ thị
đảng phải huy động các nguồn lực và thực thi một số biện pháp, dù việc này chắc
sẽ không gây được cảm tình của quần chúng.[14] (Trên
thực tế, các biện pháp đó có nét giống với một số tội “bóc lột” mà đảng đã quy
cho địa chủ trong hai thập kỷ qua). Những biện pháp đó gồm có “hăng hái đấu
tranh chống” thất thu thuế nông nghiệp và công nghiệp, hạn chế số lượng tiền mặt
lưu hành trên thị trường, hạn chế cho vay vốn nông nghiệp. Trong một nỗ lực nhằm
giảm thiểu nhu cầu vật chất của nhân dân, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào hãy ghi
nhớ những gian khổ hy sinh mà nhân dân Liên Xô đã chịu đựng trong suốt mười bốn
năm cách mạng. Trình bày viễn kiến của mình về thời gian sắp tới trước một cử tọa
gồm các “đại biểu nhân dân” ở Hải Phòng, lãnh tụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ôn nghèo kể khổ về quãng thời gian ông chứng kiến tại Liên Xô: “Đàn ông không cần
cổ cồn, cravát, đàn bà không cần lòe loẹt; ô tô chỉ cần chạy chuyên chở được, tất
cả là cốt để xây dựng đã. Và mua cái gì cũng có vé hết, bất kỳ bánh, thịt, vải,
giày. Vì tinh thần hy sinh chịu khó, chịu khổ, thắt lưng buộc bụng và cách tổ
chức mua bán như thế là hết đầu cơ tích trữ”.[15]
Trong hoàn cảnh kinh tế căng thẳng này, vào tháng Hai năm
1957, ngay sau kỳ nghỉ Tết, Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai diễn ra
trong tám ngày (từ ngày 20 đến ngày 27 tháng Hai) tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Trong
ngày khai mạc, nhà lý luận văn hóa gạo cội của đảng, Trường Chinh đã đọc bức
thư dài của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Hội
nghị. Bức thư khẳng định “nền văn nghệ mới lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm
phương pháp sáng tác tốt nhất.” nhưng vẫn đinh ninh “để phát triển sự nghiệp
văn học nghệ thuật cách mạng, cần phát huy tự do sáng tác”.[16] Đại
hội chứng kiến việc giải thể Hội Văn nghệ và thành lập một đoàn thể văn hóa mới,
Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Lãnh đạo đảng chỉ thị cho mỗi
ngành văn hóa của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thành lập một hội riêng trong
khuôn khổ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Xuân Diệu ở trong số mười lăm nhà
văn và một vài nghệ sĩ từ các ngành nghệ thuật khác được “bầu” vào ban chấp
hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật. Vậy là sau hàng loạt các bài viết phanh
phui những thủ đoạn vận động hậu trường để nâng đỡ tập thơ Ngôi Sao xuất
hiện trong thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, dường như lãnh đạo đảng thấy cần phải
vun xới lại uy tín cho Xuân Diệu và các lãnh đạo văn hóa cánh hữu khác từng chịu
búa rìu phê phán của những trí thức bất mãn trong giai đoạn cuối năm 1956.
Bài diễn thuyết thứ nhất: “Bệnh sơ lược trong văn học” (ngày
26 tháng Hai năm 1957)
Bài tham luận của Xuân Diệu về “bệnh sơ lược trong văn học” tại
Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ hai đáng được lưu ý vì đây là lần đầu tiên
ông đăng đàn phát biểu về những vấn đề văn học gây tranh cãi trong thời kỳ Nhân
văn-Giai phẩm. Theo ý kiến đa số, Xuân Diệu có tài phát biểu trước công chúng,
là một người thích đứng trước micro và biết vận dụng thuật hùng biện, như làm
điệu bộ, ngắt nhịp, lên xuống giọng để gây hiệu ứng kịch tính.[17] Thử
tưởng tượng xem các thành viên của Nhân văn-Giai phẩm, những người từng cộng
tác hoặc chủ trương những ấn phẩm vừa bị đóng cửa ba tháng trước sẽ nghĩ như thế
nào về Xuân Diệu khi họ ngồi ở trong Nhà hát Lớn nghe ông diễn thuyết: “Những
tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tai hại là làm cho người ta hiểu sai thực tế, tưởng
cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và thiếu lý tưởng”.[18]
Về nguyên nhân của căn bệnh sơ lược trong văn học Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu vạch ra rằng “Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh
sơ lược là do ở bản chất nền văn học mới của chúng ta, cũng như có người nói tệ
sùng bái cá nhân là ở bản chất của chế độ Xô-viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại
vì Đảng lãnh đạo nhúng tay vào văn học, nên văn học mới bị bệnh sơ lược, công
thức như thế này; nếu cứ để Văn nghệ sĩ hoàn toàn tự do, thì Văn nghệ đã vô
cùng phong phú”.
Thay vì tiếp tục phân tích giả thuyết trên xem đúng sai ra
sao, Xuân Diệu giải thích:
“…bệnh sơ lược không ở bản chất nền văn học mới chúng ta…
chúng ta không độc quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim đông tây, đời nào
và ở đâu cũng có… Số người quy bệnh sơ lược ở Đảng và chế độ cũng thường trách
Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con người máy, những
người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận điệu này, bọn tư bản
về đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi…”
Xuân Diệu cũng nói về cái mà mọi người thường gọi là văn hóa
“rập khuôn” trong môi trường xã hội mới của cuộc cách mạng:
“Những con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế
Văn Đàn đã hy sinh rập khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe xã hội
chủ nghĩa, liệt sĩ Việt Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô
Matrosov, cũng lấy mình lấp lỗ châu mai một cách công thức chăng? Vâng, chúng
ta rất giống nhau, chúng ta người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước yêu dân,
cũng được Đảng dặn dò: khi cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi
dân tộc, […]. Vâng! Nếu có một cái khuôn nào, thì đó là một cái khuôn cao cả vĩ
đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu, hy sinh!”
Ngoài ra, Xuân Diệu còn biện minh cho bệnh sáo mòn rất phổ biến
trong văn học và nghệ thuật cách mạng: “Bệnh công thức của ta rất đáng ghét,
nhưng động cơ của nó là muốn nói cái mới cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu
sáng tạo mà rơi vào chỗ sáo, ít nhất là nó hảo ý; chứ còn cái công thức của tư
sản phản động, của văn hóa Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng.”
Về cách chữa trị khả dĩ cho căn bệnh sơ lược, Xuân Diệu cảnh
báo về sự tồn tại song hành của cả hai cách chữa chân chính và giả tạo, và
khuyên thính giả phải cảnh giác với loại giả tạo: “Cách chữa giả tạo là dựa vào
hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự tẻ nhạt bằng cách bịa ra những trò chơi quái
ác, bằng cách bẻ quặt thực tế khách quan […] Chữa giả tạo bằng cách quá đề cao
cá tính siêu nhân của người Văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền kiếp” ra thổi
giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục hồi nguyên
xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên hình thức bằng
cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống dòng nhiều
quá sự cần thiết…”[19]
Trái lại, cách chữa “chân chính” là “nghiên cứu sâu thực tế
cách mạng” vì “cái mới căn bản nằm trong đời sống cách mạng”. Xuân Diệu giảng
tiếp “ta phải nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ ‘mới
chủ nghĩa’, đi tìm những cái tính lập dị nào… Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị
Điểm mà sống lại và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà
bình thế giới hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần
chúng đau khổ gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn
viết về cuộc đấu tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự
nguyện đặt mình dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải
thâm nhập vào quần chúng hiện tại!”[20]Ba tháng
sau khi phong trào Nhân văn – Giai phẩm bị dập tắt, giọng văn bút chiến của
Xuân Diệu đã phục hồi.
Bài thứ hai: “Viết sự thật” (tháng Tư năm 1957)
Chỉ một tháng sau, Xuân Diệu có bài diễn thuyết thứ hai tại hội
nghị ra mắt Hội Nhà văn Việt Nam ngày mồng 1 tháng Tư năm 1957. Đối với
các nhà văn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hội nhà văn là tổ chức thay thế cho Ban
Văn thuộc Hội Văn nghệ vừa mới giải thể để chuyển thành Hội Liên hiệp Văn học
Nghệ thuật Việt Nam. Hội riêng này của giới văn học cũng có tổ chức hội
viên riêng, tờ báo riêng, nhà xuất bản riêng và ngân sách riêng. Trong hoàn cảnh
lúc bấy giờ ở Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không có gì lạ khi Hội Nhà văn, cũng
như các chi hội khác của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật được thành lập và cơ
cấu như một công cụ chính trị của đảng và nhà nước. Hội được giao độc quyền kiểm
soát lĩnh vực chuyên môn, một đội ngũ văn phòng được trả lương và được nhà nước
tài trợ để phát triển hoạt động trong toàn quốc. Điều ba trong Điều lệ Hội Nhà
văn quy định mục đích của Hội như sau: “Trên cơ sở Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam đoàn kết mọi nhà văn yêu nước và tiến bộ, không
phân biệt dân tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, xu hướng nghệ thuật”.
Bài diễn văn Xuân Diệu đọc tại hội nghị Hội Nhà văn vào tháng
Tư, “Một vài ý kiến về viết sự thật”, được đăng lại trên báo Nhân Dân số
ra ngày 21 tháng Tư năm 1957. Trong trích đoạn dưới đây, ta có thể tìm thấy
cách lập luận biện hộ cho việc kiểm duyệt mà đảng vẫn tiếp tục áp dụng ở Việt Nam cho
đến tận hôm nay:
“Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm
công tác tư tưởng bằng văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh
tốt rồi bạ cái gì cũng chụp ảnh, cũng in ra. Chúng ta không hoàn toàn đi theo
cái chủ nghĩa thành thật, vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những
thơ văn nào chúng ta viết ra đều là huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật,
mà có thiết tha thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải những tình cảm
nào thiết tha thành thật đều nên đưa vào thơ văn.”[21]
Tại sao phải như vậy? Theo Xuân Diệu, nhà văn vừa là “kỹ sư
tâm hồn” vừa là “bác sĩ tâm hồn”. Vì vậy, họ phải đấu tranh không để cho những
nỗi khổ tâm riêng của mình ảnh hưởng đến người khác, đồng thời phải tạo cảm hứng
và dìu dắt (mọi người) theo các mục tiêu của đảng và nhà nước:
“Nhà văn hiện nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề
ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải
quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề rồi vứt giữa xã hội thì chỉ tổ
gây hoang mang. Vào trong xã hội mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm tính của
mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm thường,
như lập trường, nhưđảng tính, v.v…, thì càng tưởng rằng viết theo sự thật
lại càng sai lạc.”[22]
Trong đoạn này, Xuân Diệu thể hiện quan điểm về chức năng và
tác dụng của văn học rập khuôn theo lý luận của lãnh đạo đảng đã đề ra trước
đó. Trong phần sau của bài diễn văn, ông kết hợp lý luận này với những ý kiến
phê bình gay gắt Nguyễn Tuân vì viết văn như “bác sĩ gọi ra bệnh của bệnh nhân”
nhưng không “kê đơn bốc thuốc”. Xuân Diệu cũng lên án một số tác phẩm của Nhân
văn-Giai phẩm mang đậm nét nhân văn của phong trào cùng tên, cụ thể như “Tiếng
sáo tiền kiếp” của Trần Duy, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt và “Một
trò chơi nguy hiểm” của Nguyễn Thành Long.[23]
(còn tiếp)
Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, vol. 5, no.2,
Summer 2010.
Bản tiếng Việt © 2010 Đông Hiến
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
[1] Điều thú vị là, hiện tượng đó đã xảy ra với giải
thưởng năm 1951-1952, khi Tú Mỡ, Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi đều tham
gia tự trao giải cho mình. Xem “Kết quả giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1951-1952”, Văn
nghệ, số 39, tháng 2/1953.
[2] Xem Xuân Diệu, “Đọc Những mẩu chuyện về đời
hoạt động của Hồ Chủ tịch”,Văn nghệ, số 121, 17/5/1956. Maksim Gorky, “Nói về
con người cũ và con người mới”, Xuân Diệu dịch và biên tập, Văn nghệ, số
146, 9/11/1956.
[3] Trong cùng số báo Văn nghệ đó, Trần
Công, người đã phê phán Xuân Diệu, cũng viết một bài khen cuốn phim Liên Xô
chuyển thể từ tiểu thuyết “Người mẹ” của Gorky.
[4] Về thời điểm Xuân Diệu chọn để đăng bài trở lại,
ta không thể không ghi nhận sự ăn khớp giữa thời điểm tái xuất giang hồ của nhà
thơ và văn bản cảnh cáo báoNhân Văn vì đã vi phạm quy định báo chí. Ủy ban
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ban hành văn bản cảnh cáo nói trên
vào ngày 8/11/1956 – bài của Xuân Diệu được đăng ngày 9/11/1956. Qua các mối
quan hệ cấp cao của mình, có thể Xuân Diệu đã biết trước lãnh đạo đảng chuẩn bị
ra văn bản cảnh cáo, một dấu hiệu khá chắc chắn báo trước số phận của Nhân
Văn chỉ còn tính từng ngày.
[5] Nguyễn Chương, “Một vài điểm sai lầm chủ yếu trong
báo Nhân Văn và tập Giai phẩm Mùa thu”, Nhân Dân, số 934,
25/9/1956.
[6] Trên báo Nhân Dân: Xuân Trường “Một thái độ
phê bình không đúng, một quan niệm sai lầm về nghệ thuật”, số 935, 26/9/1956;
xã luận “Dân chủ và chuyên chính”, số 979, 9/11/1956; Hoàng Xuân Nhị “Chủ nghĩa
nhân văn của chúng ta”, số 955, 16/10/1956; Quang Đạm, “Củng cố và phát triển
chế độ dân chủ của chúng ta”, số 989, 19/11/1956. Trên tạp chí Học Tập: Hồng
Chương, “Chính trị và văn nghệ”, số 10, tháng 10/1956; Hồng Chương, “Thử bàn về
tự do sáng tác”, số 11 & 12, tháng 12/1956. Phương Sơn, “Cần tiếp tục đấu
tranh chống những tư tưởng lạc hậu và tiêu cực trong văn nghệ”, số 2, tháng
2/2957.
[7] Chu Thiên, “Phê bình Giai phẩm Mùa thu” và Lê
Quang, “Đọc Nhân Văn số 1”,Văn nghệ, số 141, 4/10/1956; Lê Văn Hải,
“Đọc bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ’”, Văn nghệ, số
142, 11/10/1956; Lê Trung Thực, “Phê bình bài ‘Bệnh sùng bái cá nhân trong giới
lãnh đạo văn nghệ’của ông Trương Tửu”, Văn nghệ, số 144, 25/10/1956; Hồng Văn
“Xung quanh nhóm Pơ-rô-lê-cun và các Nghị quyết về Văn Học của đảng”, Văn
nghệ, số 149, 30/11/1956.
[8] Trong số đó, có thể kể Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi,
Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Trần Lê Văn, Hữu Loan, Trần Duy, Trương Tửu, Bùi
Quang Đoài, Tử Phác, Trần Công, Huy Phương, Lê Đại Thanh, Nguyễn Viết Lãm,
Hoàng Huế, Nguyễn Văn Tị, Nguyễn Bính, Thụy An, Nguyễn Sáng, Chu Ngọc, Sỹ Ngọc
và Văn Cao.
[9] Xuân Trường, “Chống vu khống và xuyên tạc”, Nhân
Dân, số 1010, 10/12/1956.
[10] Nguyễn Huy Tưởng, Nhật ký Tập 3. Xem những
đoạn, ví dụ như, ngày 14/2/1957, bàn về nhạc sĩ Văn Cao bị ám ảnh luôn có người
theo dõi. Trong một đoạn khác, ghi ngày 23/3/1957 (tr.233), Nguyễn Huy Tưởng kể
hai họa sĩ Sỹ Ngọc và Nguyễn Sáng bị từ chối khi đi xin việc, vì có tham gia
Nhân văn – Giai phẩm.
[11] Hồ Chí Minh, “Thư gửi đồng bào nông thôn và cán bộ
nhân dịp cải cách ruộng đất ở miền Bắc căn bản hoàn thành”, Nhân Dân, số
896, 27/8/1956; “Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng”, Văn
Kiện Đảng Toàn Tập, 17: 562.
[12] So sánh, ví dụ như phong thái chậm chạp, lờ đờ và
lưỡng lự khi chế độ triển khai phong trào hóa giải ảnh hưởng Stalin ở Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, với tinh thần khẩn trương, quyết liệt và bạo tay khi thực hiện
“chống chủ nghĩa xét lại” được tuyên bố vào cuối Hội nghị tháng 11/1957 ở
Moscow. Chế độ cũng chưa từng cho phép một sự thảo luận công khai hướng đến bản
chất tội ác của Stalin.
[13] “Nghị quyết của Bộ Chính trị: Số 17-NQ/TW,
4/6/1957 về việc đẩy mạnh công tác tiền tệ, tài chính và quản lý thị trường”, Văn
Kiện Đảng Toàn Tập, 18: 453.
[14] Trong bài viết ngày 3/2/1957 về tình hình chung ở
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu tuyên bố rằng “củi, vải, thức ăn và hạnh
phúc đang dần nhiều thêm”. Xem “Mùa xuân thắng”, Nhân Dân, số 1062, 3/2/1957.
[15] Hồ Chí Minh, “Nói chuyện với đại biểu nhân dân
thành phố Hải Phòng”, Hồ Chí Minh Toàn Tập số 8, 1955-1957 (Hà Nội: Chính
Trị Quốc Gia, 2009), 372.
[16] “Thư của ban chấp hành trung ương Đảng Lao động
Việt Nam gửi Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, Nhân Dân,
số 1081, 21/2/1957.
[17] Tô Hoài, Cát bụi chân ai, 199. Tô Hoài, người
đi cùng Xuân Diệu nhiều lần trong các dịp nói chuyện, tả về phong cách diễn
thuyết của nhà thơ như sau: “Xuân Diệu hay đi nói chuyện văn thơ. Xuân Diệu có
kế hoạch chăm chút bảy, tám bài nói, nói khắp nước cũng chuyên tám cái tủ ấy.
Đã trau dồi đến thuộc làu, chỗ nào giơ tay, chỗ nào nghiêng phải, nghiêng trái,
lên giọng và nhất mạnh, chỗ nào đợi vỗ tay, đợi cười và mình mỉm cười”.
[18] Xuân Diệu “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”, Văn
nghệ, số 162, 1/3/1957.
[19] Ngụ ý lối bắt chước cấu trúc thơ “xuống thang”
theo phong cách nhà thơ Liên Xô nổi tiếng Vladimir Mayakovsky thường dùng.
[20] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về bệnh sơ lược”.
[21] Xuân Diệu, “Vài ý kiến về vấn đề viết sự thật”, Nhân
Dân, số 1140, 21/4/1957.
[22] Xuân Diệu, bài đã dẫn.
[23] Trần Duy, “Tiếng sáo tiền kiếp”, Giai phẩm
Mùa thu tập 1 (tháng 8/1956):54-63; Lê Đạt, “Nhân câu chuyện mấy người tự
tử”, Nhân Văn, số 1, 20/8/1956, Nguyễn Thành Long, “Một trò chơi nguy hiểm”,
in trong Xuân 1957 (Hà Nội, Văn nghệ, 1957).
13/11/2010Lại Nguyên Ân viết cùng ALEC HOLCOMBEĐông Hiến dịch


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét