Tên một loài hoa quê hương
CHƯƠNG 1
TÔI DỪNG LẠI. CĂN NHÀ KHÔNG giống căn nhà nàng đã tả trong thư
viết cho tôi. Nó nhỏ nhắn, dễ thương như căn nhà mơ ước của đôi vợ chồng nghèo
mới cưới nhau. Giàn hoa giấy rợp màu vàng. Tôi tưởng chừng hoa đã chinh phục
lá. Giá có một người con gái thật đẹp ngồi chờ nhặt hoa. Thì nên thơ biết mấy.
Văn minh vật chất mỗi ngày mỗi đẩy mình xa dần thiên nhiên. Bất chợt, hôm nào
đó, gặp một vạt nắng nhẩy múa trên bờ cỏ ven đường, lòng mình sẽ chùng xuống. Bồi
hồi, thương tiếc. Một nỗi tiếc thương không rõ tên tuổi.
Tôi đang đứng ở đây, nơi nhiều gió lắm mây. Mây lặng lờ trôi
và gió rì rào thổi. Thỉnh thoảng, gió bắt hoa rụng. Và, vẳng đưa tới, từ xa, tiếng
hót của một loài chim. Tôi muốn ví tôi cơ hồ một kẻ đi tìm chân trời. Nguyễn
Tuân, chẳng hạn. "Thiếu chân trời còn hại cho cơ thể hơn là thiếu chất i-ốt,
chất muối, chất đường." Đã lâu rồi, tôi thèm những chất đó. Làm thư ký toà
soạn một nhật báo, mấy năm liền, tôi sống chả khác gì con giun, con dế. Nếu đừng
có những bức thư nàng gửi, có lẽ, tôi sẽ không bao giờ biết, ngoài Sài-gòn, cảnh
tượng êm ả thế này.
Tôi đâm ra rụt rè. Tự trách mình nông nổi, dễ tin. Độc giả ưa
đùa bỡn nhà báo lắm. Bạn tôi đã từng nhận được thư mời lên Đà Lạt. Nhân dịp
thăm thành phố thơ mộng này, anh ta ghé địa chỉ của nữ độc giả thân mến. Đó là
hiệu bán quan tài. Và không đời nào có thiếu nữ yêu văn chương của bạn tôi. Trường
hợp của tôi lạ vô cùng. Nàng viết thư đề rõ tên tôi ngoài phong bì. Rất hiếm
hoi là những bức thư gửi về người thư ký toà soạn. Độc giả thường viết cho các
nhà văn, những người phụ trách mục thơ, giải đáp thắc mắc, tâm tình. Thư ký toà
soạn, với độc giả, bị quên lãng. Bởi vậy, nhận được thư của nàng, tôi mừng rỡ.
Thư toàn nói chuyện buồn, nhờ tôi gỡ rối tơ lòng. Tôi bèn chuyển sang mục
"giải đáp tâm tình " Đọc xong, nàng trách móc tôi đủ điều, bắt tôi viết
thư riêng tạ lỗi. Tôi đã viết thư riêng. Và cuộc phiêu lưu bắt đầu.
- Thưa ông, muốn hỏi ai ạ?
Tôi giật mình. Người đàn bà đứng sau lưng tôi lúc nào tôi chẳng
hay.
-Xin lỗi bà, đây có phải nhà cô Tường Vi? Người đàn bà mỉm cười:
-Vâng, nhà Tường Vi. Chắc ông quen biết em Vi? Tôi khẽ gật đầu:
-Cô Tường Vi mời tôi tới nghe cô dạo một bản nhạc hay nhất của
Beethoven.
Người đàn bà hơi nheo mắt.
-Bằng dương cầm?
-Vâng, bằng dương cầm.
-Con bé nhảm quá. Nó hẹn ông rồi bỏ đi chơi biệt. Xin ông cảm
phiền nhé! Bữa khác mời ông ghé nhà. Cả đêm qua, Tường Vi tập đàn. Nó bảo tập
cho một người nghe. Thế mà người ấy đến, nó lại lỡ hẹn.
-Vậy tôi về, chờ dịp khác. Nhờ bà nói giùm với Tường Vi rằng
tôi đã tới. Căn nhà thơ mộng và giàn hoa xinh quá thể.
Người đàn bà chớp mắt mau. Có vẻ gì gian dối trong đôi mắt bà
ta.
Tôi vội nói:
-Thưa bà, tôi đã có vợ con...
Người đàn bà đưa tay vuốt tóc mai:
-Tôi hiểu, thưa ông. Xin ông hứa với tôi đừng nói gì cả nếu
ông gặp Tường Vi.
Người đàn bà rơm rớm nước mắt:
-Tường Vi khổ lắm. Nó muốn níu kéo ông để được tin tưởng cuộc
đời.
Tôi hơi ngạc nhiên. Có một điều gì bí ẩn trong căn nhà này.
Bên ngoài là im lặng nên thơ. Là hoa. Là lá. Là nắng. Là gió. Là chim hót. Là
mây trôi. Nhưng bên trong? Tôi chưa biết. Chỉ thoáng thấy một nỗi niềm vừa u ẩn
vừa gian dối ở đôi mắt người đàn bà. Tôi móc bao thuốc, rút một điếu, bật diêm.
Gió thổi mạnh làm tắt que diêm
thứ nhất. Tôi bước thêm vài bước để có thể dựa lưng vào cánh
cửa sắt. Điếu thuốc đã mồi được. Tôi hít một hơi đẫy, nhả khói và buông một câu
tàn nhẫn.
-Trò chơi giải trí của cô Tường Vi là sự trở về bẽn lẽn của
tôi phải không, thưa bà?
Người đàn bà lắc đầu uể oải:
-Ông chả nên nghĩ thế. Ông có hiểu rằng một người con gái ao
ước gặp ông mà không dám gặp? Nếu đó là trò chơi thì tôi tưởng là trò chơi đau
thương. Và ông đâu thiệt thòi.
Tôi vất điếu thuốc lá đi:
-Khi tôi về chừng vài chục thước, sẽ có những giọng cười chế
giễu tôi.
Người đàn bà nhặt điếu thuốc lá, trịnh trọng đưa cho tôi:
-Ông mồi điếu thuốc khác bằng lửa của điếu thuốc này kẻo gió
thổi khó bật diêm. Xin ông đừng giận dỗi. Tội nghiệp. Không ai dám chế giễu
ông. Vì, chính ông sẽ đem hạnh phúc đến căn nhà lạnh lẽo, bất hạnh này. Tôi xin
ông một điều.
Tôi lạnh lùng:
- Bà nói đi!
Người đàn bà nhỏ nhẹ:
-Ông thật lòng thương hại Tường Vi chứ?
-Thư cô ấy viết thương cảm vô cùng.
-Tường Vi còn đáng thương hại hơn nếu ông gặp nó. Nhưng nếu
ông để nó hiểu ông thương nó với lòng thương hại, tôi sợ nó sẽ khổ sở tột độ.
Và nó dám tự vẫn.
Tôi hơi rùng mình. Tưởng chừng sắp gặp một nhân vật như những
nhân vật quái đản "Gia đình Adams" trên vô tuyến truyền hình của quân
đội Mỹ.
- Tôi không ngờ.
Người đàn bà hỏi:
-Ông ngờ gì? Tôi đáp:
-Tôi không ngờ cuộc phiêu lưu của tôi nguy hiểm thế! Người
đàn bà nói:
-Giúp một người tin tưởng cuộc sống để sống, ông cho là phiêu
lưu ư?
Tôi cười nhạt:
-Bởi vì tôi không được phép thương hại người đó. Tôi phải làm
người đó tin rằng tôi yêu họ. Và, như vậy, tôi đã phiêu lưu. Ít ra, tôi đã khởi
mốc phiêu lưu từ hạnh phúc gia đình tôi.
Người đàn bà hất một bông hoa giấy rớt xuống đầu:
-Ông Hoài đắn đo quá. Tôi cứ ngỡ người nghệ sĩ coi tất cả như
mây trôi. Mọi sự đều là phù du.
Tôi tròn xoe mắt:
- Bà biết tên tôi?
Người đàn bà, mãi tới lúc này, khẽ nhếch mép cười:
-Những gì Tường Vi biết về ông, tôi đều biết. Chúng tôi chỉ
có hai chị em sống với nhau. Tôi vừa làm chị vừa làm mẹ Tường Vi. Ông Hoài, ông
sẽ hiểu tại sao Tường Vi chọn ông làm tay cầm để nó vịn mà bước qua con sông khốn
khó của cuộc đời.
Tôi sững sờ giây lát. Rồi hỏi một câu ngớ ngẫn:
-Quả thật Tường Vi chưa tập xong bài nhạc hay nhất của
Beethoven?
Người đàn bà ngước mắt nhìn lên giàn hoa giấy:
-Luôn luôn Tường Vi bỏ dở dang những bài nhạc hay.
-Cô ấy lười hay lập dị?
-Ông Hoài, nếu ông gặp Tường Vi, ông sẽ thương nó thay vì mỉa
mai nó.
-Tôi không có ý mỉa mai. Thường những nhà nghệ sĩ bỏ dở dang
tác phẩm của mình cho đến khi chết vẫn còn dang dở đều, hoặc là thuở còn sống,
họ lười biếng hay lập dị hay bí đề tài, cạn dòng văn, khô ý thơ nên bỏ dở, ra
cái điều "inachevé "! Người đời sau ưa thêu dệt huyền thoại
"inachevé" của người đời xưa. Và, thưa bà...
-Thanh, Tường Thanh. Tôi chưa đeo nhẫn cưới, ông Hoài ạ!
-Xin lỗi cô Tường Thanh. Thưa cô, nghệ sĩ bây giờ rất ưa bỏ dở
tác phẩm.
-Tường Vi không phải là nghệ sĩ.
Đôi mắt người đàn bà, không, người con gái - Tường Thanh đó -
long lanh. Tôi cố liên tưởng Tường Vi qua Tường Thanh. Nhưng không dám. Có những
nỗi u ẩn làm người ta trở thành đàn bà một cách tàn nhẫn. Và rồi, người đàn bà ấy,
thức giấc mỗi nửa khuya, tìm lại kỷ niệm thời con gái của mình bằng mộng mị.
Đau khổ nhất trên đời là những người mất xuân hồng. Và đàn bà thì càng đau khổ
hơn.
Căn nhà, bên ngoài rất thơ mộng, bên trong, tôi vừa khám phá,
chứa đầy nỗi buồn. Tường Thanh chính là người đàn bà không có thời con gái. Nụ
cười gượng gạo. Khuôn mặt nàng đã thấy rõ dấu hiệu của lỡ thì. Bàn tay nàng
nhăn nheo và những ngón tay khô đét cơ hồ cành cây cuối thu. Tôi thích thương hại
vu vơ và điều khiến tôi dễ động lòng thương là ngồi trước một người con gái thiếu
nhan sắc hay có tật nguyền. Khổ nỗi, những người con gái thiếu nhan sắc lại thường
tỏ ra mình thừa nhan sắc. Họ ăn mặc sang trọng hoặc diêm dúa. Họ điểm trang cầu
kỳ hoặc lố bịch. Như thế, họ chỉ làm nổi bật sự thiếu nhan sắc và quê kệch. Tôi
thương hại họ vì họ biết mình xấu phải tự tạo vẻ đẹp. Thượng đế thật ác. Tại
sao Thượng đế không bắt đàn ông gánh chịu nỗi buồn nhan sắc cho đàn bà? Đàn bà
thì phải đẹp. Thi sĩ độ lượng hơn Thượng đế. Thi sĩ luôn luôn và chỉ tạo ra người
đẹp phái nữ "Nàng là con gái trời cho đẹp, Tuổi mới mười lăm đã đẹp rồi
".
Tường Thanh không thiếu nhan sắc. Tôi biết chắc, nàng đã thiếu
tình yêu. Nàng là cây chết, thứ cây mọc lên để chẳng bao giờ biết mặt trời. Con
người không có tình yêu như dòng sông không có nước xuôi ngược. Tôi biết có những
dòng sông phải tự tìm một nơi nước rút để khô cạn. Như thế, gió lớn mấy vẫn chẳng
sóng to. Và, con thuyền nhỏ, con thuyền yêu dấu của dòng sông, không khi nào bị
vùi dập. Dòng sông mất cho con thuyền còn. Một tình yêu chết cho tình yêu khác
sống. Một cây chết cho một cây xanh tươi. Tự nhiên, tôi quý trọng Tường Thanh.
Và không dám nghĩ là mình đã thương hại nàng.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Tôi không tò mò và cô có quyền từ chối nếu không thích trả lời
những câu hỏi của tôi.
-Ông Hoài đến đây là quý rồi. Ông có biết ông đem hy vọng cho
em gái tôi không?
-Không đâu. Tôi tưởng tôi là kẻ lãng du, thích rong chơi.
-Trên cả nỗi buồn.
-Có thể.
-Ông đừng giả vờ. Tôi hiểu ông là người tự trọng. Ông thương
yêu vợ con ông. Tình thương còn lại, ông dành cho những kẻ xấu số trong cuộc đời.
Tôi đã đọc nhiều sách của ông. Tại sao ông thích viết về những kẻ hẩm hiu trong
xã hội, ông Hoài?
-Bởi vì xuất xứ đời tôi là đứa trẻ hẩm hiu.
-Tôi mới đọc một bài báo của ông. Bài ấy cảm động lắm. Bây giờ,
thí dụ chúng ta chơi một trò chơi thơ ấu, chị em tôi đóng vai của ông ngày xưa,
ông có nỡ bẳt nạt không?
-Không. Nhưng mà...
-Nhưng mà sao?
-Tôi đứng ở cửa nhà cô làm kẻ hỏi địa chỉ hay làm người khách
quý?
Tường Thanh có vẻ bối rối. Nàng với tay ngắt một chiếc lá. Vò
nát.
Ném xuống chân.
- Con bé hư quá!
Tôi nhìn Tường Thanh một cách ranh mãnh. Người con gái chớp mắt
mau. Vẻ bối rối ngập ứ ở đuôi con mắt nàng. Tường Thanh lúc này, chẳng khác gì
con chim khuyên đang hót bị đứa trẻ con đến phá đám. Tôi rất dễ xúc động. Tâm hồn
tôi vốn là thứ tơ trời. Con chim khuyên lo sợ cũng đủ làm tơ trời trong hồn tôi
đứt khúc. Tôi vươn tay, ngắt một chiếc lá:
-Cô bé sung sướng thật. Tường Thanh sửng sốt:
-Ông Hoài nói ai sung sướng?
Tôi đưa chiếc lá gần miệng, thổi nhẹ:
-Tường Vi.
-Tường Vi mà sung sướng?
-Cô bé hồn nhiên, vô tư và, nhất là, dễ... quên.
-Ông không muốn mỉa mai chứ, ông Hoài?
-Tôi nói thật.
Tường Thanh nhún vai. Cái nhún vai chán chường:
- Có lẽ, nó sung sướng thật.
Tôi cố tảng lờ để nàng quên chuyện mời tôi vào nhà. Nhưng Tường
Thanh đã lùi lại vài bước, hơi cúi mình, hất tay điệu bộ:
- Nếu ông Hoài ngại mỏi chân, xin mời ông vô.
Nàng đi trước, móc từ trong xắc ra chùm chìa khóa. Ổ khóa
lách cách. Và một cánh cửa hé mở. Tôi đành theo Tường Thanh. Căn nhà, bên
trong, tôi đoán đúng, chứa ẩn một nỗi buồn. Tôi chưa biết nỗi buồn ấy ra sao.
Chỉ cảm giác ớn lạnh. Như thể lâu rồi, căn nhà thiếu khói hương. Tôi tự ý ngồi
xuống chiếc ghế sa lông sờn rách,
- Ông Hoài đã tin rằng Tường Vi quên hẹn ông chưa?
-Tôi tin.
-Ông có trách em không?
-Rất nhẹ.
-Ông dùng nước trà nhé!
-Cám ơn cô Thanh, cô để tôi ngồi hút thuốc.
Nàng đã ngồi xuống ghế đối diện tôi. Và nói trước câu tôi định
hỏi:
-Nhà vắng lắm, ông Hoài ạ! Hai chị em tôi đã sống với nhau ở
đây, từ khi...
Nàng ngừng vội. Tôi hỏi:
-Từ khi nào?
-Từ mấy năm nay.
-Còn hai cụ?
-Thầy me tôi mất lâu rồi. Chị em tôi sống với nhau. Em Vi đã
nói cho ông Hoài biết rồi chứ?
-Cô bé quên chi tiết này.
-Chúng tôi không quen biết một người đàn ông xa lạ nào.
-Trừ tôi?
-Vâng, trừ ông. Tường Vi quả quyết với tôi là ông sẽ tạo cho
căn nhà đơn lạnh của chúng tôi một chút hương khói.
-Hương khói thuốc lá.
-Cũng được, miễn là có khói hương.
-Rồi sao nữa?
-Tôi còn phải thưa chuyện ông Hoài nhiều.
Tự nhiên, khói thuốc len vào mắt tôi. Cay buốt. Người con gái
ngồi trước mặt tôi đã tình nguyện quên mùa xuân của đời mình cho mùa xuân của
người khác. Tôi tưởng chỉ gặp nàng trong tiểu thuyết. Nhưng nàng đang ở đây,
đang làm tôi xúc động.
-Ông Hoài...
-Dạ.
-Ông có em gái không?
-Không.
-Nếu ông có em gái, em gái ông cần sống trong sự che chở của
ông mãn đời, ông cưới vợ không?
-Tôi chưa biết nghĩ sao, vì tôi không có em gái.
Tường Thanh thở đài:
-Ông Hoài, dường như, ông giầu tưởng tượng lắm? Tôi cười gượng:
-Trong tiểu thuyết đấy.
Tường Thanh nhìn tôi không chớp mắt:
-Viết tiểu thuyết khó không, ông Hoài? Tôi nói:
-Cô có thể viết được. Cô biết tại sao chưa? Tường Thanh lắc đầu:
-Làm sao tôi biết?
Tôi nhả khói thuốc lên trần nhà:
-Cô giỏi tưởng tượng. Ai tưởng tượng giỏi, nói chuyện tưởng
tượng mà khiến người nghe tin đó là sự thật, người đó sẽ viết nổi tiểu thuyết.
Viết rất hay.
Tường Thanh hơi nhăn mặt.
Giọng nàng buồn thảm pha lẫn giận hờn:
-Ông Hoài nghi tôi tưởng tượng ra một Tường Vi để đùa bỡn ông
chăng?
Tôi dập điếu thuốc lá cháy dang dở dưới gót giầy:
-Cô Thanh nói: chúng ta còn nói với nhau nhiều chuyện. Tôi sẽ
chịu khó tới đây và hy vọng được trở thành một nhân vật của Bồ Tùng Linh.
Nàng vân vê nếp áo. Tôi đứng dậy:
-Bây giờ, tôi xin phép cô Thanh về tòa báo. Cám ơn cô đã cho
nghỉ chân một lát.
Nàng tiễn tôi ra tận cửa. Đi một quãng xa, ngó lại, tôi còn
thấy người con gái lỡ thì đứng nhìn theo tôi. Người con gái mặc áo tím. Người
con gái mang một niềm bí ẩn. Chẳng hiểu có phải nàng đã viết thư dụ tôi tới? Chẳng
hiểu căn nhà tôi vừa đặt chân vào có phải căn nhà liêu trai? Tôi giơ tay vẫy.
Nàng vẫy theo. Chừng tôi rẽ qua lối khác, bóng nàng mất biến. Tôi tự nhủ, mình
sẽ còn gặp nàng. Nhiều lần.
CHƯƠNG 2
ANH HOÀI KÍNH MẾN,
Em đã thấy anh rồi. Em đầu có quên hẹn. Cũng không phải tại
chưa tập xong một bản nhạc hay nhất của Beethoven. Em thấy anh từ lúc anh đứng
nói chuyện với chị Thanh ở dưới giàn hoa giấy. Rồi anh vào nhà. Và em mất anh.
Chị Thanh kể cho em nghe về anh nhưng chị đã không kể cho em nghe giọng nói cùa
anh. Ước gì có cái mảy ghi âm nhỏ, anh Hoài nhỉ? Thì bây giờ em đã được nằm
nghe giọng anh nói. Anh đừng hỏi vì sao không thất hẹn mà em để anh về với nỗi
ngờ vực. Điều đau khổ nhất đối với em là hẹn anh mà không dám gặp anh. Em ngồi
trên gác. Tâm hồn nao nao. Em cố tưởng tượng em là chị Thanh. Nhưng, anh Hoài
ơi, dù rất thèm làm nhân vật con nít trong cổ tích, em đã chỉ còn biết ứa nước
mắt. Ước ao chưa một lần đến với em. Trừ anh. Khốn khổ biết mấy.
Anh đến. Anh đến như một nỗi ước ao duy nhất. Song em không
dám đón chào nỗi ước ao của đời em. Anh Hoài, anh nghĩ gì về em, về một người mỏi
mòn trông đợi niềm ước ao và nín thở, xòe tay cho niềm ao ước một đời người vuột
mẩt. Một đời người. Anh Hoài thân quý, em nói vậy vì biết chả bao giờ anh đến với
em nữa. Đến để trở về với lòng ngờ vực, trở về cứ tưởng mình bị gạt gẫm thì đến
thêm làm gì, anh nhỉ? Con đường anh về chẳng biết nắng có nhẩy múa không. Riêng
bầu trời trong mắt em, khi anh về, bỗng vụt xám. Rồi muôn vàn vì sao thắp sáng.
Và cỏ vì sao tím đơn độc một góc thiên đường đã nhỏ nước mắt thương em. Anh hiểu
bởi đâu vì sao ấy thương em chứ? Nàng cũng sầu thảm như em. Nàng là tiên đấy.
Bà tiên sầu muộn khóc bằng lệ tím. Bà tiên hẳn đã trông đợi niềm ước ao như
em...
Như thường lệ, Tường Vi viết thư trên giấy học trò. Lá thư mới
nhất của nàng gửi cho tôi chỉ tới đó. Không ký tên. Chắc chắn, nước mắt nàng đã
nhỏ giọt xuống thư. Lá thư nhòe nhoẹt, dang dở. Tôi gấp lá thư lại. Cuộc đời viết
lách của tôi chưa có gì ly kỳ. Vài cuốn tiểu-thuyết-phơi-ơ-tông mà tự điển giải
nghĩa là truyện nhảm nhí, có đáng làm ai chú ý tới nước trêu chọc mình một cách
nồng nhiệt thế. Tôi chỉ là anh thư ký tòa soạn một nhật báo ít độc giả nhất nước.
Văn tài tôi chẳng đáng để bị đố kỵ, ganh ghét. Tôi đã đến nhà
Tường Vi. Mới gặp chị nàng. Nếu tôi vào tròng đùa nghịch, Tường
Thanh đã đùa nghịch tôi. Nhưng Tường Thanh...
Tôi chợt thấy một điều gì thật xót xa. Nếu Tường Thanh không
dám nhận mình là Tường Vi, có lẽ, tôi sẽ thương nàng lắm. Nàng ngỡ mình đã qua
thời xuân sắc, ngỡ mình lỡ thì, xấu xí nên đành nói dối tôi. Đó là giả thuyết.
Tôi rất ghét lý luận. Suốt đời tôi, tôi sẽ bị gạt gẫm thua thiệt, oan ức vì
không ưa lý luận. Người không ưa lý luận là người cả tin. Tôi thích dễ tin mọi
người để được mọi người tin mình. Và tôi không tin Tường Thanh gạt gẫm tôi. Tôi
đã có vợ con. Chẳng thiếu nữ nào dại dột gạt gẫm tôi, trừ khi, tôi gạt gẫm họ.
Hẳn trong căn nhà nhỏ bé ở miệt ngoại ô Sàigòn phải chứa đựng
một niềm u ẩn. Hay, ít ra, một người u ẩn. Niềm u ẩn hay con người u ẩn đó,
không tin cậy vào cuộc đời mà chỉ tin cậy vào một người viết văn chưa có tác phẩm.
Văn chương, vốn được những người tạo ra nó kiêu hãnh nói rằng để làm đẹp cho cuộc
đời, cho quê hương, cho con người. Văn chương của tôi, dù còn tối tăm, song nếu
đủ khả năng làm vui một người, làm cho một người hy vọng sống, tôi đã hãnh diện.
Bất kể người cậy nhờ tôi ra sao.
Tôi sẽ là tay vịn của chiếc cầu ọp ẹp cho một người con gái
bước qua dòng sông khốn khổ của cuộc đời. Tường Thanh nói thế. Căn nhà nàng lạnh
lẽo. Nàng mong tôi phà khói hương cho căn nhà có hương khói ấm cúng. Ở đây cần
một người đàn ông chăng? Sao lại chọn tôi, một người đàn ông đã định cư đời
mình ở tâm hồn một người đàn bà và đã làm người đàn bà ấy đau khồ, tuyệt vọng?
Chọn tôi và bắt tôi chấp thuận điều kiện. Tường Thanh có vẻ tin ở câu "văn
là người". Nàng nghĩ rằng tôi đã gửi tình thương của tôi cho những nhân vật
con nít mồ côi sống lây lất bên lề xã hội thì tôi sẽ thương hại em gái nàng. Tường
Vi, nếu có thật, chưa phải là kẻ hẫm hiu. Nàng còn chị. Còn căn nhà. Còn cây
dương cầm. Còn đời con gái của nàng. Nhất là còn giàn hoa giấy trước cửa để
chim khuyên mỏi cánh ghé đậu hót vui. Và còn giấy bút để viết cho tôi.
Tường Vi, một loài hoa của anh, một loài hoa chẳng bao giờ
anh thấy cắm ở bình, bầy ở chỗ sang trọng. Anh lớn lên ở những đô thị thiếu
chân trời, vắng thiên nhiên. Anh chưa hề biết hương sắc của tường vi nhưng anh
yêu tên loài hoa em mang tên nó. Anh yêu bờ
tường vi của Hoàng Quý. Loài hoa quê hương ấy đã làm chứng
cho một cuộc tình tan vỡ, buồn tẻ. Lãng mạn và cao quý. "Đôi ta thường đứng
bên bờ tường vi, em có nói rằng sẽ chờ đợi tôi". Ngườỉ em bên kia bờ tường
vi không đợi nổi người anh bên đây bờ tường vi. Đường xa dài hun hút. Xuân thì
trôi vùn vụt. Khi người tình chợt nhớ lời hẹn cũ, quay gót viễn du. Chỉ thấy
xác pháo đỏ tan tác trên con ngõ nhà mình. "Nay bông hoa bên thềm đã uá rồi..."
Người tình xưa bỏ làng ra đi trở thành nghệ sĩ ngàn năm thương "Cô láng giềng"
nhỏ bé ngày nào. Tường Vi, một loài hoa của anh, một loài hoa chỉ nở trên quê
hương anh! Em mới là hoa đẹp nhất, lãng mạn nhất, cao quý nhất. Bởi em đã biết
nhỏ lệ nhìn cuộc tình tan vỡ. Tường Vi, anh chưa thấy em nhưng tưởng chừng đã
thương em như thương hoa tường vi. Anh không trách em, không thí dụ, không giả
thuyết nữa... Anh sẽ tới để em nắm gọn niềm ước ao của em.
Tôi vuốt lá thư, trịnh trọng bỏ vào ví, cạnh thẻ căn cước, cạnh
luôn cả giấy hoãn dịch hộ mạng của tôi. Chưa lần nào tôi quý thư của độc giả
như lần này.
Những thư trước của Tường Vi, tôi đều xếp vào hồ sơ riêng. Mỗi
ngày tôi nhận được cả chục bức thư. Toàn thư nhận mình "à độc giả trung
thành của quý báo " và "đã theo dõi sự nghiệp văn chương của ông, lấy
làm chiêm ngưỡng vô cùng", rồi kết luận "nay tôi gửi ông một bài thơ
(hay truyện ngắn), rất mong ông cho đăng ngay". Những bức thư này, đọc
xong, xé bỏ ngay sau khi nhắn tin "Bài đã nhận đủ. Cám ơn bạn". Nhưng
nếu thư không kèm câu "nay tôi gửi" thì, cỡ thư ký tòa soạn tấp tểnh
viết tiểu thuyết như tôi, sẽ sung sướng vô vàn. Cuộc đời cứ khen mình qua đường,
khen vô tội vạ. Để nhờ vả. Thỉnh thoảng, tôi còn nhận được những bức thư khen
sách tôi bán chạy nhất, và các vị độc giả ái mộ tôi mua về bầy ở chỗ quý trong
tủ sách gia đình, mặc dù, tiểu thuyết của tôi chưa hề được nhà xuất bản nào
nhòm ngó!
Tường Vi đã gửi cho tôi những bức thư không giống những bức
thư khác. Nàng chẳng thèm đả động chi tới văn chương nhảm nhí của tôi mà chỉ ngỏ
ý ước ao được gặp tôi. Ở đời, đôi khi, có một vài chuyện bất ngờ lôi cuốn ta
vào cuộc phiêu lưu tình cảm kỳ tuyệt. Tôi đã coi cuốn phim "Sous le beau
ciel de Provence", một phim cảm động nhất của đại tài tử Fernandel. Anh
chàng bán kẹo Fernandel
đáp chuyến xe đò về miền quê để giới thiệu vài thứ kẹo mẫu
cho đại lý. Chiếc xe đò chết máy giữa đường. Trong dịp này, Fernandel quen một
thiếu nữ đẹp não nùng. Nàng từ quê lên tỉnh, làm thư ký và bị một sở khanh gạt
gẫm. Nàng phải bỏ sở tìm về với mẹ, mong được mẹ an ủi, thương xót đứa con
không cha tương lai trong bụng nàng. Nàng buồn thảm. Fernandel gạ chuyện. Nàng
oà khóc, níu lấy anh chàng bán kẹo hèn mọn, già nua, xấu xí. Nàng kể lể nỗi niềm
đau đớn rồi nói thật với Fernandel rằng, sắp về tới nhà, nàng đâm ra sợ hãi.
Nàng muốn tự tử. Nàng van nài Fernandel nhận là chồng nàng, dẫn nàng về gặp cha
nàng, ở lại chơi vài hôm, rồi chia tay vĩnh viễn. Anh chàng bán kẹo hèn mọn
phân vân giây lát. Bỗng anh quên thực tại, cái thực tại buồn tênh, nhạt nhẽo với
người vợ già ưa gắt gỏng, sáng sớm nằm trên giường, giọng ngái ngủ, giục chồng
pha sữa cho con. Fernandel đã dấn thân vào một cõi thiên thai dưới bầu trời rực
rỡ miền Provence. Chàng đã làm tròn sứ mạng một hiệp sĩ dù gặp khó khăn, khốn đốn.
Chàng đã được sống bằng mộng mơ quãng thời gian ngắn. Rồi khi mơ mộng lặn dưới
biền sâu thực tại, chàng bèn trở về với người vợ già mồm loa mép giải để, sáng
sáng pha sữa, ngày ngày bán kẹo, hèn mọn, buồn nản.
Tôi không bất hạnh tới cái độ có một thực tại buồn tênh, nhạt
nhẽo. Nhưng tôi vẫn mong mỏi, thỉnh thoảng, được bước ra khỏi cái thực tại đường
mòn. Thực tại ấy, dẫu không làm tôi uá héo, tàn tạ thì nó cũng chẳng đưa tôi
bay bổng hay là đà trên cỏ hoa của một con đường mới. Tôi tập viết tiểu thuyết
là để thoát khỏi cái thực tại giun dế của anh thư ký tòa soạn, của đời mình.
Ngày tháng, nếu ta cứ phải đọc hoài, nghĩ hoài đến tin tức chiến sự, hiếp dâm,
lường gạt, xe đụng, vợ kiện chồng, chồng thưa vợ, chắc ta sẽ chóng già nua,
đáng ghét. Không, cuộc sống không thể chỉ đi về trên một lối mòn quen thuộc. Mà
còn cần được là đà bay trên nội cỏ ngàn hoa. Ai cũng ước ao thế. Chỉ thiếu cơ hội.
Nếu chuyến xe đò không chết máy, anh chàng bán kẹo đã không quen biết thiếu nữ
đáng thương và đã không được hưởng một chuyến lên thiên thai, không nhìn thấy bầu
trời tuyệt đẹp của miền Provence. Tôi tự hỏi, giữa tôi và Tường Vi, ai sẽ nhờ
ai chỉ lối lên thiên thai.
Rút một điếu thuốc, tôi quẹt diêm. Khói thuốc bay. Dường như,
tâm hồn tôi đã bay theo. Bay theo và đậu trên một bờ tường vi.
CHƯƠNG 3
Ở ĐẤY, CUỘC SỐNG QUẢ LÀ buồn tênh. Nhà nhà cách xa nhau. Và đều
đóng cửa kín mít. Giàn hoa giấy luôn luôn vắng họ hàng bươm bướm. Tôi nghĩ,
chưa một cánh chim mỏi nào chịu dừng chân trên giàn hoa. Buổi tối càng thê
lương. Nhưng vũng nước quanh đó, về mùa mưa, hẳn ễnh ương phải tấu nhạc xé ruột
gan người cô quạnh. Tôi đựng xe trước cửa. Đến vào buổi tối, chắc chắn, Tường
Vi có nhà. Lại đến tình cờ thì cô bé khó mà tránh mặt tôi. Ấn nhẹ ngón tay vô
nút chuông. Tiếng chuông điện kêu vang, khô khan và dễ sợ. Ngọn đèn nhỏ dưới
giàn hoa vụt sáng. Ánh sáng điện vàng pha mầu lá cây làm tôi hết bình tĩnh.
Một cánh cửa sổ hé mở. Rồi giọng nói quen thuộc mừng rỡ:
-A, ông Hoài! Tôi hỏi:
-Cô Thanh chưa ngủ à?
Không có tiếng trả lời. Tôi nghe rõ bước chân chạy lên cầu
thang. Một lát, ổ khóa lách cách và phòng khách đã ngập ánh sáng. Tường Thanh mở
rộng hai cánh cửa, bước ra. Tôi chờ đợi một lời nói dối mở đầu.
-Ông Hoài, tôi hơi ngạc nhiên.
-Cô ngạc nhiên?
-Vâng, tôi không ngờ ông đến vào giờ này.
-Đến vào giờ này mới hy vọng gặp Tường Vi. Nàng xoa tay:
-Rất tiếc, ông Hoài lại không gặp con bé rồi. Tôi cười:
-Chắc cô Tường Vi mải chơi với bạn quên về nhà ngủ? Nàng
không buồn rầu:
-Ông Hoài biết giỏi thế? Tường Vi có đứa bạn gái thân lắm. Thỉnh
thoảng hai đứa lại ngủ chung với nhau, hoặc ở nhà tôi hoặc ở nhà bạn Tường Vi.
Chừng sợ tôi nghĩ nhảm nhí, nàng dặn trước:
-Ông đừng hiểu lầm đấy nhé! Tôi nói:
-Không, tôi không muốn hiểu gì cả, dù là hiểu lầm. Tôi đến
nghe chuyện cô Thanh kể, cô nhớ lời không?
Tôi theo nàng vào nhà. Vẫn ở chỗ cũ. Cái phòng khách tiêu điều
ấy tưởng chừng lâu lắm mới được tiếp một người khách. Tôi đã như không để gợn một
chút ngờ vực gì về chị em Tường Vi. cầm bằng kẻ đi tìm một tình cờ thích thú,
Chẳng gặp thì thôi.
-Ông Hoài dùng cà phê hay trà?
-Cô để tôi ngồi hút thuốc lá.
-Tùy ý ông.
-Ý cô đó.
-Vâng, ý tôi. Tôi đã muốn căn nhà mình nhiều hương khói.
-Tại sao cô không tập hút thuốc lá thơm?
-Tôi sợ khói thuốc làm cay mắt mình.
-Cô sợ nhiều thứ quá nhỉ?
-Vâng, sợ đủ thứ,
-Thí đụ một thứ khác thuốc lá xem nào?
-Sợ ông phiền trách chị em tôi.
-Sợ tôi phiền trách à?
-Vâng.
-Tại sao phải sợ tôi?
-Vì tôi sắp nhờ vả ông một chuyện quan trọng.
-Chuyện gì thế, cô Thanh?
-Chuyện làm cho một người con gái không muốn tự tử.
Tôi biết rằng một bước chân của tôỉ đã bước vào cuộc đời Tường
Vi. Hay Tường Thanh? Con chim lạ đậu trên giàn hoa giấy, trước khi bay đi, phải
hót.
Chưa biết tiếng hót của con chim lạ thế nào. Não nùng? Hồn
nhiên
?Nhưng, chắc chắn, con chim sẽ phải hót. Cái tình cờ đã đến với
tôi. Khác mọi người là tôi cố tình tìm kiếm nó, tìm kiếm nó một thoáng... tình
cờ. Như vậy, tôi sắp trở thành anh bán kẹo hèn mọn.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Cô luôn luôn nói dối tôi.
-Mới một lần, Tường Vi đã viết thư nói rõ với ông Hoài mà,
-Hôm nay, cô lại nói dối.
-Tôi thề.
-Cô đừng thề. Tôi biết Tường Vi đang nằm trên gác. Tôi không
bắt buộc Tường Vi phải xuống đây gặp tôi. Song, tôi muốn cô thú nhận rằng Tường
Vi không đi vắng.
-Em nó đi vắng.
Nàng chớp mắt mau. Và hai giọt nước mắt ứa ra ở hai đầu con mắt.
Hai giọt ngọc long lanh dưới ánh đèn, không chịu rơi rụng. Tôi bị xúc động vì
hai giọt ngọc của Tường Thanh.
- Xin lỗi Tường Thanh nhé!
Nàng hơi cúi đầu. Hai giọt ngọc rơi:
-Ông Hoài ạ, ngày nào đó, ông sẽ tha thứ cho tôi nếu tôi còn
phải nói dối ông.
Tôi chống tay lên cằm, thả tư tưởng ra ngoài giàn hoa giấy.
- Ông Hoài...
-Tôi nghe đây.
-Trong đời làm báo của ông, ông đã đến thăm một trại cùi nào
chưa?
-Chưa.
-Nhà thương điên?
-Chưa.
-Cả nơi nuôi dưỡng trẻ em tê liệt?
-Cũng chưa. Mà cô Thanh hỏi vậy làm gì nhỉ?
-Để xem cái độ xúc động của ông tới chừng nào, khi ông tới những
nơi đó.
-Quả thật, tôi kém thông minh. Tường Thanh hỏi:
-Ông Hoài nói vậy là thế nào? Tôi đáp:
-Là tôi dốt, không hiểu kịp ý của cô.
-Đem bán cái dốt của ông đi, có kẻ sống nổi một đời. Tôi nhún
vai:
-Cô Thanh bắt tôi đỏ mặt hay sao đây?
-Tôi nói thật.
-Làm sao tôi biết cô nói thật?
-Ông hãy nhìn thẳng vào mắt tôi.
-Sợ cô khóc. À, ta nói chuyện khác. Theo ý cô, tôi có nên đến
thăm một trong ba nơí cô vừa hỏi không nhỉ?
-Nên lắm chứ.
-Tại sao?
-Ông sẽ không xúc động mạnh nếu ông gặp lại cảnh tượng ông đã
gặp.
Im lặng. Tôi nghe rõ tiếng giấy thuốc lá cháy. Có lẽ. Tường
Thanh cũng nghe rõ tiếng trái tim nàng đập. Tôi nhìn lên tường. Không một bức
tranh hay một bức ảnh để ngắm mà đưa câu chuyện ra khỏi ngõ cụt. Buổi tối nuốt
mất dự đoán của tôi. Tôi không tin Tường Vi đi vắng nhưng rất tin có một ngăn
trở nào đó khiến tôi không thể gặp nàng. Ôi, cuộc đời thỉếu chi biên giới. Khó
vượt nhất là biên giới lòng người.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Vai trò tôi sắp đóng liệu cỏ phải tập không?
-Tùy ý ông
-Cô quyết định giùm tôi đi.
-Tôi biết ông giầu lòng thương hại. Xin ông hãy thương hại chị
em tôi.
-Sao cô Thanh nỡ nói thế?
-Nếu ông bảo tôi lạy ông, tôi cũng không dám chối từ. Vì tôi
thương em tôi, tôi chẳng thể nhìn em tôi đau khổ.
-Cô nói tôi chưa hiểu.
-Ông sẽ hiểu.
Nàng nhìn tôi. Đôi mắt mở lớn như đón chờ một ân huệ. Đôi mắt,
lúc này, giổng hệt mắt nai. Tôi đã thấy đôi mắt con nai ở rừng gianh Ban Mê Thuột.
Hôm ấy, chiếc xe dzíp của bạn tôi chạy bừa vào một khu rừng gianh. Có con nai lạc
lõng trú ẩn nơi đây. Dường như, đêm trước, nó vừa thoát nạn. Nghe tiếng máy nổ,
nó vùng chạy. Vừa chạy vừa ngước mắt nhìn lại, trông thương xót vô cùng. Người
bạn
tôi xúc động, ngừng xe cho con nai thoát thân. Bây giờ, ngó
đôi mắt Tường Thanh, tôi liên tưởng đôi mắt con nai lạc lõng ngày nọ,
-Ông Hoài.
-Dạ.
Nàng ngập ngừng giây lát:
-Ông đừng bỏ cuộc nhé? Tôi hỏi:
-Cuộc gì?
Nàng nín thở. Rồi nói nhanh:
- Cuộc tình.
Tôi ngạc nhiên:
-Cuộc tình! Nàng hồi hộp:
-Vâng, cuộc tình. Tường Vi đã trót yêu ông. Tự nhiên, tai tôi
nóng bừng:
-Yêu tôi?
Nàng đưa một bàn tay úp vào mặt:
-Thế mới khổ cho tôi.
-Cả cho tôi nữa!
-Ông tính sao?
-Đột ngột quá, cô Thanh ạ! Nàng thú thật:
-Chính vì vậy mà tôi đành nói dối ông. Tôi an ủi nàng:
-Không sao, cô Thanh. Cuộc sống không dành một hình phạt nào
cho những người nói đối vì lý do tốt đẹp. Tôi bị chóng mặt quá. Xin
phép cô, tôi về.
Nàng bối rối:
-Ông nhận cuộc chơi tội nghiệp này chứ? Tôi nói:
-Tôi sẽ trở lại.
-Liệu ông cỏ trở lại không?
-Cô rán chờ. Chờ đợi cũng là hy vọng. Nhưng nếu tôi trở lại,
cô có sợ giông tố không?
Nàng khoanh tay trước ngực:
-Con thuyền nhỏ đã dời bến. Tôi đứng dậy:
-Tuy nhiên, cô nên chờ đợi.
Tôi ra về. Bầu trời đầy sao nhưng tâm hồn tôi tối mò. Con đường
đầy cỏ hoa lạ tôi đã đến. Mà thân xác tôi nặng trịch không thể nhấc lên để là
đà bay trên đó. Ngước mắt trông sao, tưởng chừng lệ tím của nàng tiên đơn độc
đang nhỏ xuống hồn tôi. Tường Vi, sao em lại chọn anh để chơi ú tim tình ái?
CHƯƠNG 4
ĐÃ HAI TUẦN LIỀN, TÔI ĐỂ CHỊ em Tường Thanh chờ đợi. Tôi không
hiểu, với Tường Thanh, thuở chờ đợi thời gian có rét mướt như thơ Huy Cận.
Riêng tôi, vì là kẻ bắt người khác đợi chờ, thời gian chẳng lấy chi làm rét mướt.
Chỉ thấy nổi dậy ờ đáy hồn mình một nỗi niềm vừa ái ngại vừa bâng khuâng. Không
có gì lạ lùng cả khi một người con gái tỏ tình với một người con trai đã thành
đàn ông, đã có bổn phận với vợ con hắn ta. Nhưng một người chị tỏ tình giùm em
với một người đàn ông bằng cầu khẩn van xin thì cũng hơi lạ lùng. Từ sự lạ lùng
đó, tôi suy ra và càng tin rằng có một sự bí ẩn trong căn nhà nhỏ tôi đã đến
hai lần. Rồi công việc quá bề bộn, tôi không còn thì giờ tơ tưởng con đường
thơm mà tôi đã ao ước là đà bay trên ngọn cỏ hoa!
Một hôm, người phóng viên của tôi bận đi theo một cuộc hành
quân, tôi phải thay thế anh ta, đi thăm một trung tâm nuôi dưỡng trẻ em tê liệt
vì, bà phước trông nom trung tâm này gọi dây nói nhiều lần, khẩn khoản mời tôi.
Tôi đành chiều lòng bà phước nhân từ. Và, đây là lần đầu tiên, tôi được tận mắt
nhìn hàng trăm đứa trẻ tật nguyền. Trái tim tôi thắt lại trước sự đầu hàng bệnh
tê liệt của y tế Việt Nam.
Sau một cơn sốt tàn nhẫn, một cẳng chân hay hai, hoặc cả hai
tay, hai chân của đứa bé mất phản ứng. Thế là đứa bé bị tê liệt. Những đường
gân co lại. Những thớ thịt teo nhỏ. Đứa trẻ sẽ lết bằng khuỷu tay nếu bị tê liệt
tứ chi. Đứa nào chỉ bị tê liệt ở chân, phải thửa giầy, bó chân bằng kim khí nhẹ
và chống nạng đi khập khiễng. Tất cả đều trở thành những đứa trẻ bị bệnh hoạn
cướp mất tuổi hồng. Nhiều đứa trẻ đã chết trước nỗi thẹn thùng của người thầy
thuốc giầu lương tâm và lòng bác ái. Ở Việt Nam mới chỉ có thuốc chích ngừa, uống
ngừa bệnh tê liệt. Chưa có một bệnh viện chữa cho những đứa trẻ bị tê liệt lành
lặn. Bởi thế, trẻ con bị tê liệt, không những chúng mất tương lai mà người lớn
cũng mất hạnh phúc gia đình. Nếu đứa trẻ không chết sớm, lớn dần, nó sẽ tủi
thân, sẽ cảm thấy nó sống thừa, sống để làm khổ thân nhân nó. Và nó là đứa trẻ
cô đơn, đứa trẻ ưa mộng mị hay tàn bạo, cộc cằn.
Theo tôi biết, bên Âu châu, nhất là ở Tây Đức, có những bệnh
viện tối tân chuyên trị bệnh của trẻ con. Nhưng phải cần bạc tỷ mới có
thể gửi con mình sang bên đó mà chữa hàng mấy năm. Lương tâm
chức nghiệp của nữ điều dưỡng viên và nữ y tá trong những bệnh viện này đều là
lương tâm ngà ngọc. Họ thừa kiên nhẫn, dư hồn nhiên đề vừa ngồi xoa bóp chân
tay cho bệnh nhân nhỏ bé vừa kể chuyện cổ tích. Niềm hy vọng từ trái tim của bệnh
nhân lớn dần cùng với lòng kiên nhẫn của thầy thuốc. Rồi cái chân, cái tay bị
teo nhỏ sẽ lớn ra bình thường cử động như cũ. Đứa trẻ hết bệnh. Tổ chức Terre
des hommes đã nghĩ đến những đứa trẻ xấu số trên thế giới. Chương trình của tổ
chức là, hàng năm, đưa một số trẻ em tê liệt, mà gia đình chúng nghèo nàn, qua
Tây Đức, Bỉ, Thụy Sĩ chữa bệnh miễn phí. Terre des hommes đã, đang hoạt động ờ
Việt Nam. Con số bệnh nhân tê liệt được cứu chữa đáng kể. Tiếc rằng thời gian nằm
trị bệnh ngắn ngủi nên bệnh chỉ bớt chứ chưa khỏi hẳn.
Tôi không bao giờ tin tưởng ở lương tâm của các cô y tá Việt
Nam. Mỗi ngày, tôi thường nhận được nhiều thư tố cáo, phàn nàn tác phong hỗn
láo, làm tàng, bắt nạt thân nhân của bệnh nhân tại nhà thương nhi đồng. Các cô
y tá này mà săn sóc trẻ em tê liệt, các em sẽ chóng chết vì bị cấu véo trả thù.
Tôi nghĩ, chỉ các nữ tu sĩ mới lo lắng giùm các em bị bệnh tê liệt. Và tôi đâm
ra thèm một cái nhà thương. Nhà thương với nghĩa là nhà của tình thương. Tôi
ghét hai tiếng bệnh viện thậm tệ. Điều khiến tôi xúc động nhất, tại trung tâm
nuôi dưỡng trẻ em tê liệt này, là bắt gặp những cô bé dậy thì quay lưng về phía
những người đến thăm viếng các cô. Những cô bé đã mất thời thơ ấu, sẽ mất luôn
thời con gái. Tình yêu không bao giờ tới với các cô. Mà chỉ có lòng thương hại
qua đường.
Một cô bé chống nạng, quay cổ nhìn lén tôi. Tôi mỉm cười hiền
hòa và tỏ dấu hiệu trìu mến. Cô bé bĩu môi, quay đi. Tôi biết cô bé khinh bỉ sự
giả dối. Làm thế nào giải nghĩa nổi? Tôi đem hình ảnh cô bé trở về, lòng mang
máng một nỗi buồn vô duyên cớ. Cái trung tâm nuôi dưỡng trẻ em tê liệt, theo
tôi, là một chiến khu sầu đau. Ánh sáng, thời tiết, mưa nắng, gió cát, nụ cười,
tiếng khóc không ảnh hưởng gì đến chiến khu này. Ở đó, hoàn toàn thiếu vắng kỷ
niệm và rặt trông chờ nỗi chết. Nỗi chết còn đi xa. Lưỡi hái tử thần nhìn rõ
song kẻ sử dụng lưỡi hái không chịu xuất hiện. Nỗi chết kéo dài, vất vưởng, đau
đớn. Ước chi có bà tiên ban một lời nguyền cho những kẻ bất hạnh nhất trần ai
được ngủ ngon một giấc ngủ muôn đời.
Bất giác, tôi nhớ Tường Thanh và những câu hỏi vẩn vơ của
nàng. "Ông Hoài đã viếng thăm một trại cùi, một nhà thương điên nào
chưa?" Chưa. "Ngay cả một trung tâm nuôi dưỡng trẻ em tê liệt?"
Bây giờ tôi có thể trả lời nàng là tôi đã viếng thăm chiến khu sầu đau của loài
người. Bỗng dưng tôi buồn quá. Ngay tối hôm ấy, tôi xuống nhà Tường Thanh. Nàng
mừng rỡ cơ hồ đứa trẻ con đón mẹ về chợ. Nàng cười. Rất hồn nhiên. Nụ cười, mãi
hôm nay, tôi mới gặp nở trên đôi môi úa héo của nàng.
-Ông Hoài, tôi muốn khóc.
-Cô cứ khóc đi.
Nàng ứa nước mắt:
-Ông đúng là Bụt của con Tấm Tường Vi. Tôi nói:
-Tôi chỉ là người thích phiêu lưu.
Nàng đưa cánh tay áo quệt ngang mắt:
-Vâng, ông là người phiêu lưu. Và ông sẽ dẫn em gái tôi đi
phiêu lưu. Từ ba năm nay, em tôi không biết cười.
Tôi lại hút thuốc. Ngồi trước đàn bà, con gái là tôi phải hút
thuốc.
Chẳng phải thói quen. Chỉ là một trấn an xúc động.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Sáng nay, tình cờ tôi đã đến thăm một trung tâm nuôi dưỡng
trẻ em tê liệt.
Nàng mở căng mắt:
-Ông... ông... thấy thế nào? Tôi đáp:
-Thấy cần gặp cô ngay để nói với cô rằng tôi đã đến một chiến
khu sầu thảm. Và tôi sẽ không xúc động đến ngất xỉu nếu phải phiêu lưu
tới niềm sầu thảm tương tự hoặc hơn nữa. Tôi xin lỗi cô vì đã
để cô chờ đợi.
-Ông đến là hy vọng đến.
-Tối nay cô không muốn nói dối tôi chứ?
-Nhưng mà...
-Sao?
-Tường Vi ngủ rồi. Con bé uống hai viên thuốc ngủ tự chiều.
Nó có giác quan thứ sáu sao ấy, ồng Hoài ạ! Con bé quả quyết thế nào tối nay
ông cũng đến. Nó viết cho ông một bức thư, nhờ tôi trao. Sáng mai tôi nghỉ việc,
mời ông tới, chị em tôi sẽ đón tiếp ông bằng cả tấm lòng.
Tôi đùa:
-Có vẻ trinh thám tiểu thuyết ghê, cô Thanh nhỉ? Tường Thanh
gật đầu:
-Vâng, một trinh thám tiểu thuyết đau thương. Tôi hỏi:
-Bức thư đâu?
Nàng đáp:
-Khi ông về, tôi sẽ trao lại ông. Ông Hoài, ông đã gấp về
chưa? Nàng trả lời giùm tôi:
-Có lẽ ông không gấp. Tôi hứa kể ông nghe nhiều chuyện. Ông
Hoài muốn nghe chứ?
Tôi ngó đồng hồ đeo tay:
- Còn sớm.
Nàng tươi khuôn mặt:
-Ông dùng cà phê nhé? Tôi chỉ gói thuốc lá trên bàn:
-Hình như cô vẫn cần nhiều hương khói? Nàng nhìn tôi đăm đăm:
-Ông đã phả một thứ hương khói đặc biệt vào căn nhà lạnh lẽo
này. Đó là hương khói của tình thương chứ không phải là hương khói của thuốc
lá. Và, ông Hoài ạ, chỉ cần một làn khói mỏng toát ra tự một tấm lòng, căn nhà
này đã hết đìu hiu. Ông nên dùng một tách cà phê.
-Cô pha?
-Vâng, tôi pha. Ông Hoài sẽ khen ngon.
-Đã ai khen cô pha cà phê ngon chưa?
Nàng chớp mắt, giọng trĩu buồn như giọt sương lớn đọng trên đầu
nhánh cỏ non. Tôi vội nói:
- Xin lỗi cô Thanh, tôi quá tò mò.
Nàng vẫy nhẹ bàn tay khô đét, khẽ thở dài:
-Đã có một người khen tôi pha cà phê ngon. Nhưng không cánh
bướm nào say mê nụ hoa cả. Chờ mãi, nụ hoa không nở, cánh bướm đã ghé một vườn
hoa khác.
Tường Thanh đứng dậy:
- Ông Hoài cho phép tôi pha một tách cà phê mời ông nhé?
Không đợi tôi trả lời, nàng bước xuống nhà. Tôi đã nghĩ thật
đúng về Tường Thanh. Nàng là cây chết. Là kẻ tình nguyện chê bỏ mùa xuân con
gái của đời mình. Còn Tường Vi? Sớm mai tôi sẽ biết về người con gái này. Hẳn
nàng sẽ cho tôi cái cảm giác lâng lâng như kẻ là đà bay trên con đường thơm mơ
tưởng. Tôi sẽ biết rõ, tại sao đang học ở Régina Mundi nàng bỏ dở dang, tại sao
nàng chọn tôi làm tay vịn để bước qua cầu.
Tường Thanh đã bưng tách cà phê phin lên cùng với bình thủy
nước nóng nhỏ và bình đựng đường viên. Nàng nói:
-Ông phải chờ cà phê nhỏ giọt. Tôi cười:
-Kiên nhẫn nổi với cô, tôi ngại gì cà phê nhỏ giọt. Ta bắt đầu
chuyện gì đây?
-Tường Vi.
-Tên một loài hoa.
-Hoa hèn.
-Không, một loài hoa tôi ưa thích dù chưa hề trông thấy.
-Ngày mai ông Hoài sẽ thấy. Tôi xin ông một điều.
-Cô nói đi.
-Ông nhớ quên giùm cái thực tại của ông.
-Cô bắt tôi lừa dối.
-Xin ông hãy lừa dối em gái tôi.
Trong đời, tôi đã gặp nhiều chuyện lạ lùng, nhưng chưa hề gặp
một chuyện lạ lùng nào như chuyện đang xảy ra. Người khuyến khích tôi lừa dối một
người con gái để nói rằng đem hy vọng đến cho nàng.
-Ông Hoài.
-Tôi nghe cô đây, cô Thanh.
-Ông ưa chuyện cổ tích không?
-Thích lắm. Tôi hằng mơ ước, về già, sẽ viết được những truyện
thần tiên Việt Nam. Cứ phải phóng tác những truyện của Perrault, Grimm,
Andersen, tôi thấy tưng tức làm sao.
-Ông đọc truyện "Công chúa ngủ trong rừng" rồi chứ?
-Rồi.
-Ông sẽ là vị hoàng tử mong đợi của những bà tiên tốt. Thưa
ông, Tường Vi đang thiếp ngủ, ông sẽ đánh thức con bé dậy bằng một chiếc hôn nhẹ
trên môi nó. Tôi chỉ cần em tôi thức giấc khoảng thời gian ngắn đủ để nó mỉm nụ
cười hồn nhiên, nghe một tiếng chim hót, nhìn một khoảng trời xanh và,..
-Và sao nữa?
-... Và biết chắc nó được yêu.
Tôi nhấc cái phin khỏi tách nước. Nước cà phê đen đặc. Tôi mơ
hồ thấy tâm sự Tường Vi đen đặc như cà phê trong tách nước. Nhưng hẳn tâm sự ấy
thơm nồng y hệt hương vị cà phê đương thấm vào khứu giác tôi.
-Ông Hoài.
-Dạ.
-Xin ông nhường tiếng "dạ" cho tôi.
-Vâng, tôi vẫn nghe cô.
-Cuộc đời Tường Vi giống cà phê đắng trong cái tách này. Ông
làm ơn bỏ đường, đổ thêm nước...
Nàng còn muốn nói thêm, song vội ngừng ngay. Tôi hỏi:
-Chuyện Tường Vi chỉ có thế? Nàng buồn rầu:
-Tôi không biết thêu dệt thêm. Sự đau khổ không thể nói hết
trong một lúc.
Nàng nhón viên đường toan bỏ vào tách. Tôi gạt đi:
-Cô Thanh, tôi ưa uống cà phê đắng. Thi sĩ Hàn Mạc Tử rồi thi
sĩ Dương Kiền đều thích cái "Thú đau thương ". Tôi muốn bắt chước hai
thi sĩ ấy.
Tôi nâng tách cà phê, uống ực một hơi cạn như một người cả đời
chưa biết thưởng thức cà phê. Đặt cái tách xuống bàn, tôi nói:
-Sáng mai tôi đến sớm. Tường Thanh ra chiều tư lự:
-Sau một phút sung sướng, tôi bắt đầu lo lắng.
-Cô lo tôi không đến?
-Lo ông đến.
-Lạ vậy!
-Nhỡ ông đến, ông quên cái "Thú đau thương " thì
còn khốn nạn hơn là ông không đến.
-Thú thực với cô Thanh là tôi đang choáng váng vì tách cà phê
của cô. Xin phép cô, tôi về. Mai tôi sẽ đến trước khi con chim đậu gần nơi
"Công chúa ngủ trong rừng" cất tiếng hót.
Tôi đứng dậy. Lần này, Tường Thanh tiễn tôi một quãng đường
khá xa. Hai chúng tôi đi bên nhau. Trời không trăng nhưng rất nhiều sao. Tôi chẳng
còn thấy vì sao đơn độc được ví như bà tiên lẻ loi ứa những giọt lệ tím. Tưởng
tượng một ngày đã qua trên quê hương bình yên. Tưởng tượng đang sóng đôi cùng
người tình yêu dấu, người tình đầu của tuổi mới lớn. Tưởng tượng người tình đầu
ấy là Tường Vi. Tôi đang là đà bay trên một nội cỏ ngàn hoa.
5. CĂN PHÒNG NHỎ CÓ NẮNG BAN MAI. Cửa sổ, đứng bên song nhìn xuống,
thấy cỏ hoa; nhìn lên, thấy khoảng trời xanh. Ban ngày mây bay. Ban đêm sao mọc.
Và trăng, đôi khi, hôn lên má mình mà mình không biết. Và gió, luôn luôn, đùa cợt
tóc mình. Trên tường dán toàn những tranh màu dịu cắt từ những báo tuổi ngọc. Khi
tôi bước vào, nhạc êm đềm trong chiếc "transistor" còn mơn trớn giấc
ngủ của Tường Vi. Nàng nằm yên. Đầu nghiêng về một bên, má áp gối. Tóc như muốn
phủ khuôn mặt. Hơi thở đều đều. Chiếc chăn mỏng đắp kín nửa thân thể nàng. Nàng
công chúa ngủ trong rừng của tôi đấy.
Anh hãy đến như một hoàng tử. Em mơ ước thế. Và em, em là
công chúa bất hạnh sau một lời nguyền của bà tiên độc ác, tham ăn. Em mơ ước thế.
Và anh sẽ hôn em. Em thức giấc. Anh sẽ nói anh yêu em dù em không đẹp, dù em tật
nguyền, anh Hoài nhé!
Tôi bước nhẹ tới đầu giường, tắt nhạc đi. Yên lặng. Chỉ thấy
nắng nhẩy múa và nghe rõ hơi thở của Tường Vi. Sự yên lặng khiến tôi bối rối.
Tường Thanh đang ngồi dưới nhà với nỗi lo âu.
CHƯƠNG 5
CĂN PHÒNG NHỎ CÓ NẮNG BAN MAI. Cửa sổ, đứng bên song nhìn xuống,
thấy cỏ hoa; nhìn lên, thấy khoảng trời xanh. Ban ngày mây bay. Ban đêm sao mọc.
Và trăng, đôi khi, hôn lên má mình mà mình không biết. Và gió, luôn luôn, đùa cợt
tóc mình. Trên tường dán toàn những tranh màu dịu cắt từ những báo tuổi ngọc.
Khi tôi bước vào, nhạc êm đềm trong chiếc "transistor" còn mơn trớn
giấc ngủ của Tường Vi. Nàng nằm yên. Đầu nghiêng về một bên, má áp gối. Tóc như
muốn phủ khuôn mặt. Hơi thở đều đều. Chiếc chăn mỏng đắp kín nửa thân thể nàng.
Nàng công chúa ngủ trong rừng của tôi đấy.
Anh hãy đến như một hoàng tử. Em mơ ước thế. Và em, em là
công chúa bất hạnh sau một lời nguyền của bà tiên độc ác, tham ăn. Em mơ ước thế.
Và anh sẽ hôn em. Em thức giấc. Anh sẽ nói anh yêu em dù em không đẹp, dù em tật
nguyền, anh Hoài nhé!
Tôi bước nhẹ tới đầu giường, tắt nhạc đi. Yên lặng. Chỉ thấy
nắng nhẩy múa và nghe rõ hơi thở của Tường Vi. Sự yên lặng khiến tôi bối rối.
Tường Thanh đang ngồi dưới nhà với nỗi lo âu, hồi hộp của nàng. Tôi không tìm
ra chiếc dương cầm kê ở đâu. Có lẽ, chiếc dương cầm kê ở một góc mộng mơ của Tường
Vi, ở một góc tưởng tượng trên thiên đường. Chưa bao giờ nàng tập nhạc của
Beethoven cả. Người con gái nằm trên giường chờ đợi tôi. Tấm drap trắng muốt.
Khung cảnh thần tiên và không hề khêu gợi. Tôi cũng không dám nghĩ đến những ý
tưởng xấu xa về nàng, dù tôi biết, nàng chờ tôi đề dâng hiến... Tôi tới, tâm hồn
thơm cơ hồ tâm hồn hoàng tử trong cổ tích. Thế mà sao trái tim tôi vẫn đập liên
hồi và máu thì không muốn chảy về tim nữa.
Tôi bạo dạn, hơi cúi đầu, vén khẽ những sợi tóc phủ thưa trên
khuôn mặt Tường Vi. Nàng cựa mình. Và tôi được ngắm rõ khuôn mặt nàng. Đó là
trái dừa tìm thấy của kẻ lạc vào sa mạc cát bỏng. Đôi mắt nàng vẫn khép. Bỗng
nhiên, đôi môi nàng nở một lời trách móc âu yếm:
-Sao anh chưa hôn em? Tôi nói:
-Anh chờ em cho nghe bản nhạc hay nhất của Beethoven. Nàng
nũng nịu:
-Hôn em đi, hôn em như hoàng tử hôn công chúa ngủ trong rừng
thì em mới mở mắt, đứng dậy được mà dạo nhạc cho anh nghe.
Tôi chưa kịp tìm cách từ chối. Thì nàng đã nắm lấy cánh tay
tôi, mời mọc:
-Anh Hoài, hôn em đi, anh...
-Em phải mở mắt ra, nhìn anh, dù chỉ nhìn anh khoảng khắc rồi
anh sẽ hôn em.
-Không cần đâu, anh ạ!
-Tại sao? Em không sợ sẽ hối hận à?
Nàng níu cánh tay tôi:
-Với em, không còn gì để hối hận. Anh là hoàng tử, hoàng tử của
lòng em.
Tôi nghẹn ngào nghĩ về ngôi vị hoàng tử mà nàng suy tôn. Ở dưới
kia, bên ngoài cuộc đời, xa hẳn căn nhà có giàn hoa giấy, tôi đã là cái gì? Chẳng
là cái gì cả. Có chăng chỉ là một người chồng vụng về không biết tạo hạnh phúc
êm đềm cho vợ con. Một người chồng vũ phu, thô bạo. Một người cha thiếu trách
nhiệm. Một người, vì muốn thoát khỏi cuộc sống hèn mọn, đã bị lôi ra đặt nằm
trên cái đe phán xét để búa đời bổ xuống những nhát kết tội tàn nhẫn. Một người
với nỗi hàm oan không thích giãi tỏ. Người ấy đang đứng trên căn gác, đứng trên
cuộc đời phiền muộn, vu khống, ích kỷ, ghen tị, thiếu độ lượng. Để làm hoàng tử.
-Anh.
-Em nên mở mắt nhìn anh.
-Em rất sợ ánh sáng.
-Anh không có ánh sáng em sợ. Anh chỉ đến với em bằng tấm
lòng anh.
Đôi mắt nàng vẫn khép kín. Nhưng tôi thấy nước mắt ứa ra. Tự
nhiên, tôi cầm một mép chăn, khẽ nâng lên. Tôi vội bỏ xuống ngay. Mắt tôi hoa
nhẩy. Tim tôi rạn nứt. Tôi như người trúng gió, một thứ gió xót xa, thống khổ
làm quặn đau ruột gan mình. Sự bí mật của căn nhà nhỏ bé đã bị tôi khám phá.
Tôi đã hiểu vì sao một cây tình nguyện khô héo cho một cây sống, vì sao một
dòng sông tình nguyện khô cằn cho khỏi bão táp làm đắm một con thuyền nhỏ, vì
sao Tường Thanh nói dối tôi nhiều lần, vì sao Tường Thanh khuyến khích tôi lừa
dối em gái nàng.
-Đừng khóc, Tường Vi. Sáng nay trời đẹp vô cùng. Anh muốn bồng
em lên xe, đẩy em ra sân thượng ngắm trời mây với anh.
Nàng bóp chặt cánh tay tôi. Và oà khóc. Tôi ngồi xuống mép giường,
vỗ về:
-Đã bảo đừng khóc. Hãy nín đi, lau nước mắt và nhìn sự thật
không khác mộng mơ của em đâu.
Nàng nức nở:
- Anh.. Anh... Dù anh biết em...
Tôi còn thừa một cánh tay để vỗ nbẹ lên thân thể nàng:
-Anh chỉ biết em là Tường Vi, một loài hoa tường vi sắc trắng.
Anh còn đến với em mãi cho tới bao giờ em không cần anh.
Tôi lật tung tấm mền. Tường Vi không phản đối.
-Em là một loài chim nhỏ bé. Con chim khuyên thời thơ ấu của
anh. Nó không đậu trên cành hay chuyền nhẩy được, nhưng nó biết bay xa, thật ra
bằng đôi cánh no mộng mơ của nó. Và anh yêu mến con chim khuyên của anh.
Tôi cúi xuống hôn nhẹ lên môi Tường Vi. Nàng đã buông một
cánh tay tôi. Rồi đôi tay nõn nà của nàng ôm ghì tôi, tặng tôi một chiếc hôn
dài say đắm. Chiếc hôn ví như cơn mưa lớn mong đợi của nhiều mùa đại hạn. Khi
đôi môi rời đôi môi, Tường Vi mở mắt nhìn tôị. Nàng nói:
-Cám ơn anh. Sau Chúa, anh là người bạn ân huệ cho sự sống của
em. Em đã cầu nguyện Chúa và Chúa sai anh tới đoái thương em.
Em là người ngoại đạo. Em đã cầu nguyện Trời, Phật. Gần đây,
em cầu nguyên Đức Mẹ và Chúa.
Tôi để mặc Tường Vi và niềm tin của nàng. Không nên xúc phạm
tới niềm tin của người khác.
-Anh Hoài.
-Gì thế em?
-Em muốn chết ngay bây giờ.
-Đừng. Bên ngoài trời rất đẹp.
-Nhưng đời không đẹp.
-Đời cũng đẹp.
-Anh chả nên nói dối em. Đời chỉ đẹp ở trong anh.
-Như vậy chưa đủ sao?
-Thừa rồi. Và em sẽ chết không sầu hận, sẽ bằng lòng cái chết
êm ái của em.
Tôi mở nút máy thu thanh nhỏ. Đúng lúc bản nhạc "La vie
en rose"
khởi tấu. Tôi nói:
-Anh sẽ mang tặng em, mỗi ngày, một bó hoa hồng tươi. Anh sẽ
mang tặng em một chiếc lồng chim thật đẹp và đôi chim khuyên biết hót hay.
Nàng xua tay:
-Em chỉ cần tiếng nói của anh. Và tiếng nói ấy sẽ nói yêu em.
Em chả ngại anh yêu em thành thật hay giả dối. Miễn là em được nghe anh nói anh
yêu em.
Tôi rút khăn thấm nước mắt cho Tường Vi:
-Có một danh từ mà tự điển không tài nào định nghĩa đầy đủ và
thi sĩ thì khuyên loài ngươi chớ có giải nghĩa, đó là Tình Yêu. Nhất là tình
yêu giữa đôi người trai gái xa lạ càng không thể định nghĩa, giải nghĩa hay
phân trần.
Nàng chống tay ngồi dậy một cách khó nhọc:
-Dù em...
Tôi lắc đầu:
-Em đừng dại dột phân trần. Nếu em cám ơn Chúa, tin tưởng
Chúa đã đưa anh tới gặp em, em phải tin chắc là Chúa đã vì đôi chân tê liệt của
em. Và anh, anh yêu em nhất định chẳng phải vì Chúa. Anh yêu em vì trái tim của
anh. Trái tim anh không có mắt nên nó không biết em tật nguyền. Trái tim anh chỉ
biết rung động. Anh là nghệ sĩ, nỗi rung động càng lớn mạnh. Mộng mơ không hề
đi hay chạy. Mộng mơ không cần đôi chân. Mộng mơ không là đà, nó bay bổng bằng
cánh huyền diệu của tâm hồn. Em hiểu chứ?
Tường Vi chớp mắt:
-Vâng, em hiểu. Tôi vuốt tóc nàng:
-Em thông minh lắm,
-Thưa anh.
-Gì, em?
-Hình như ông hoàng tử nào cũng giầu mơ mộng.
-Hoàng tử à? Đó là những anh ti tiện mộng mơ, nghèo kiết xác
mơ mộng. Các anh ấy có đủ thứ quyền hành, đủ thứ lầu đài, nhưng không có mơ mộng.
Anh là nghệ sĩ. Nghệ sĩ là tỷ phú mơ mộng. Người nghệ sĩ không thèm giống hoàng
tử hay vua chúa, em ạ!
-Anh bằng lòng làm hoàng tử của em?
-Với em, anh chịu khó làm hoàng tử vậy. Hoàng tử thì nhiều
quyền, ít ai dám cãi, kể cả công chúa. Anh muốn đẩy xe đưa em ra ngoài sân thượng.
-Anh Hoài.
-Không được cãi lệnh hoàng tử.
-Dạ.
-Em phải có một chiếc xe chứ?
-Dạ.
-Ở đâu?
-Em giấu anh ngoài kia,
Tôi vỗ nhẹ lên trán Tường Vi:
-Ngoan ngoãn, công chúa của anh. Anh sẽ đẩy xe vào rước em ra
ngắm trời mây và cuộc sống.
Nàng tiếp:
- Cuộc sống mới.
Tôi mở cửa ra sân thượng. Ngoài này cũng có một giàn hoa giấy.
Ở một góc sân, chiếc-xe-lăn-bánh nằm buồn thiu như tài sản còn sót lại của một
thế giới đã chết.
Tôi không biết chất sắt có chảy nước vàng tê tái. Nhưng, nhìn
chiếc xe, quả thật, tôi chẳng thiết sống nếu phải ngồi trên đó, lăn bánh chạy
qua từng viên gạch. Thế mà Tường Vi đã thừa can đảm ngồi trên xe và kiên nhẫn
đan dệt mộng mơ thành một cõi thiên thai bằng tơ vàng tưởng tượng. Nàng biết
thoát thực tại phũ phàng. Ôi, thực tại phũ phàng! Trong mỗi chúng ta đều có nó.
Nhiều kẻ đã nhẩy xuống dòng nước. Nhiều kẻ đã kề họng súng đen lạnh vào thái
dương rồi lẩy cò. Nhiều kẻ uống hàng tuýp thuốc ngủ. Những kẻ khác mượn men rượu
hay khói thuốc phiện. Để thoát khỏi thực tại. Tôi còn biết vô số kẻ nuốt trái bồ
hòn thực tại bằng tình thương con cái. Tất cả, tôi coi đều ngu dại và giả dối.
Và tôi phục Tường Vi. Tôi yêu nàng chính vì nàng biết mơ mộng. Nàng là nghệ sĩ.
Nghệ sĩ không bao giờ biết mình là nghệ sĩ. Tôi chưa phải là nghệ sĩ. Bởi tôi vẫn
nhận mình là nghệ sĩ. Cuộc sống làm chi có hạnh phúc tuyệt đối. Hạnh phúc tuyệt
đối, nếu có, chỉ ở trong giấc mơ xanh khi ta tạo ra đôi cánh mỏng cho tâm hồn
bay cao, bay xa lên khoảng trời hồng.
Tôi đẩy chiếc xe vào phòng. Nàng nhìn tôi, mỉm cười:
-Anh đang nghĩ gì thế? Tôi nói:
-Đang nghĩ tới một chân trời xa.
-Cho ai?
-Em.
-Để làm gì?
-Để con chim khuyên của anh đậu được trên cành cây hạnh phúc.
-Chân trời xa không?
-Tây Đức. Anh sẽ vận động, lạy xin lòng thương xót của thiên
hạ.
-Chỉ vì em?
-Ừ, chỉ vì em.
Tường Vi hơi nhíu mắt:
-Không cần nữa, anh ạ! Anh đã là miền đất lành của em. Tôi lắc
đầu:
-Miền đất lành trồng cây không nở hoa. Mơ mộng thêm chút xíu,
cô bé. Người ta sẽ tạo lại giúp em đôi chân. Với đôi chân ấy, em sẽ qua cầu,
sang sông không cần anh. Hay em sẽ đi bên anh tới những miền kỳ tuyệt của cuộc
đời. Em sẽ kiễng chân với hái trái hạnh phúc. Em sẽ...
Nàng vẫy tay:
- Thôi anh... Anh bồng em đặt lên xe đi...
Tôi ẵm nàng, đặt nàng ngồi lên xe như tôi thường ẵm đứa con
nhỏ của tôi đặt vào nôi. Và tôi đẩy nàng ra sân thượng. Tôi kể nàng nghe những
câu chuyện thần tiên và hứa mang nhiều lồng chim tới treo dưới giàn hoa đề quyến
rũ những loài chim chưa chịu đến với nàng. Khi nắng lên cao, tôi đẩy nàng vào
phòng, ẵm nàng đặt trên giường. Nàng hôn tôi, bảo rằng hôn tạm biệt. Tôi bước
xuống cằu thang. Tường Thanh chờ tôi ở phòng khách. Nàng nhìn tôi. Đôi mắt đẫm
lệ. Tôi thoáng thấy khuôn mặt nàng ửng hồng như thề xuân đời vừa điểm phấn giùm
nàng.
Tôi đẩy cửa đi ra. Tường Thanh quên tiễn chân tôi. Nàng mãi
khóc.
CHƯƠNG 5
CĂN PHÒNG NHỎ CÓ NẮNG BAN MAI. Cửa sổ, đứng bên song nhìn xuống,
thấy cỏ hoa; nhìn lên, thấy khoảng trời xanh. Ban ngày mây bay. Ban đêm sao mọc.
Và trăng, đôi khi, hôn lên má mình mà mình không biết. Và gió, luôn luôn, đùa cợt
tóc mình. Trên tường dán toàn những tranh màu dịu cắt từ những báo tuổi ngọc.
Khi tôi bước vào, nhạc êm đềm trong chiếc "transistor" còn mơn trớn
giấc ngủ của Tường Vi. Nàng nằm yên. Đầu nghiêng về một bên, má áp gối. Tóc như
muốn phủ khuôn mặt. Hơi thở đều đều. Chiếc chăn mỏng đắp kín nửa thân thể nàng.
Nàng công chúa ngủ trong rừng của tôi đấy.
Anh hãy đến như một hoàng tử. Em mơ ước thế. Và em, em là
công chúa bất hạnh sau một lời nguyền của bà tiên độc ác, tham ăn. Em mơ ước thế.
Và anh sẽ hôn em. Em thức giấc. Anh sẽ nói anh yêu em dù em không đẹp, dù em tật
nguyền, anh Hoài nhé!
Tôi bước nhẹ tới đầu giường, tắt nhạc đi. Yên lặng. Chỉ thấy
nắng nhẩy múa và nghe rõ hơi thở của Tường Vi. Sự yên lặng khiến tôi bối rối.
Tường Thanh đang ngồi dưới nhà với nỗi lo âu, hồi hộp của nàng. Tôi không tìm
ra chiếc dương cầm kê ở đâu. Có lẽ, chiếc dương cầm kê ở một góc mộng mơ của Tường
Vi, ở một góc tưởng tượng trên thiên đường. Chưa bao giờ nàng tập nhạc của
Beethoven cả. Người con gái nằm trên giường chờ đợi tôi. Tấm drap trắng muốt.
Khung cảnh thần tiên và không hề khêu gợi. Tôi cũng không dám nghĩ đến những ý
tưởng xấu xa về nàng, dù tôi biết, nàng chờ tôi đề dâng hiến... Tôi tới, tâm hồn
thơm cơ hồ tâm hồn hoàng tử trong cổ tích. Thế mà sao trái tim tôi vẫn đập liên
hồi và máu thì không muốn chảy về tim nữa.
Tôi bạo dạn, hơi cúi đầu, vén khẽ những sợi tóc phủ thưa trên
khuôn mặt Tường Vi. Nàng cựa mình. Và tôi được ngắm rõ khuôn mặt nàng. Đó là
trái dừa tìm thấy của kẻ lạc vào sa mạc cát bỏng. Đôi mắt nàng vẫn khép. Bỗng
nhiên, đôi môi nàng nở một lời trách móc âu yếm:
-Sao anh chưa hôn em? Tôi nói:
-Anh chờ em cho nghe bản nhạc hay nhất của Beethoven. Nàng
nũng nịu:
-Hôn em đi, hôn em như hoàng tử hôn công chúa ngủ trong rừng
thì em mới mở mắt, đứng dậy được mà dạo nhạc cho anh nghe.
Tôi chưa kịp tìm cách từ chối. Thì nàng đã nắm lấy cánh tay
tôi, mời mọc:
-Anh Hoài, hôn em đi, anh...
-Em phải mở mắt ra, nhìn anh, dù chỉ nhìn anh khoảng khắc rồi
anh sẽ hôn em.
-Không cần đâu, anh ạ!
-Tại sao? Em không sợ sẽ hối hận à?
Nàng níu cánh tay tôi:
-Với em, không còn gì để hối hận. Anh là hoàng tử, hoàng tử của
lòng em.
Tôi nghẹn ngào nghĩ về ngôi vị hoàng tử mà nàng suy tôn. Ở dưới
kia, bên ngoài cuộc đời, xa hẳn căn nhà có giàn hoa giấy, tôi đã là cái gì? Chẳng
là cái gì cả. Có chăng chỉ là một người chồng vụng về không biết tạo hạnh phúc
êm đềm cho vợ con. Một người chồng vũ phu, thô bạo. Một người cha thiếu trách
nhiệm. Một người, vì muốn thoát khỏi cuộc sống hèn mọn, đã bị lôi ra đặt nằm
trên cái đe phán xét để búa đời bổ xuống những nhát kết tội tàn nhẫn. Một người
với nỗi hàm oan không thích giãi tỏ. Người ấy đang đứng trên căn gác, đứng trên
cuộc đời phiền muộn, vu khống, ích kỷ, ghen tị, thiếu độ lượng. Để làm hoàng tử.
-Anh.
-Em nên mở mắt nhìn anh.
-Em rất sợ ánh sáng.
-Anh không có ánh sáng em sợ. Anh chỉ đến với em bằng tấm
lòng anh.
Đôi mắt nàng vẫn khép kín. Nhưng tôi thấy nước mắt ứa ra. Tự
nhiên, tôi cầm một mép chăn, khẽ nâng lên. Tôi vội bỏ xuống ngay. Mắt tôi hoa
nhẩy. Tim tôi rạn nứt. Tôi như người trúng gió, một thứ gió xót xa, thống khổ
làm quặn đau ruột gan mình. Sự bí mật của căn nhà nhỏ bé đã bị tôi khám phá.
Tôi đã hiểu vì sao một cây tình nguyện khô héo cho một cây sống, vì sao một
dòng sông tình nguyện khô cằn cho khỏi bão táp làm đắm một con thuyền nhỏ, vì
sao Tường Thanh nói dối tôi nhiều lần, vì sao Tường Thanh khuyến khích tôi lừa
dối em gái nàng.
-Đừng khóc, Tường Vi. Sáng nay trời đẹp vô cùng. Anh muốn bồng
em lên xe, đẩy em ra sân thượng ngắm trời mây với anh.
Nàng bóp chặt cánh tay tôi. Và oà khóc. Tôi ngồi xuống mép giường,
vỗ về:
-Đã bảo đừng khóc. Hãy nín đi, lau nước mắt và nhìn sự thật
không khác mộng mơ của em đâu.
Nàng nức nở:
- Anh.. Anh... Dù anh biết em...
Tôi còn thừa một cánh tay để vỗ nbẹ lên thân thể nàng:
-Anh chỉ biết em là Tường Vi, một loài hoa tường vi sắc trắng.
Anh còn đến với em mãi cho tới bao giờ em không cần anh.
Tôi lật tung tấm mền. Tường Vi không phản đối.
-Em là một loài chim nhỏ bé. Con chim khuyên thời thơ ấu của
anh. Nó không đậu trên cành hay chuyền nhẩy được, nhưng nó biết bay xa, thật ra
bằng đôi cánh no mộng mơ của nó. Và anh yêu mến con chim khuyên của anh.
Tôi cúi xuống hôn nhẹ lên môi Tường Vi. Nàng đã buông một
cánh tay tôi. Rồi đôi tay nõn nà của nàng ôm ghì tôi, tặng tôi một chiếc hôn
dài say đắm. Chiếc hôn ví như cơn mưa lớn mong đợi của nhiều mùa đại hạn. Khi
đôi môi rời đôi môi, Tường Vi mở mắt nhìn tôị. Nàng nói:
-Cám ơn anh. Sau Chúa, anh là người bạn ân huệ cho sự sống của
em. Em đã cầu nguyện Chúa và Chúa sai anh tới đoái thương em.
Em là người ngoại đạo. Em đã cầu nguyện Trời, Phật. Gần đây,
em cầu nguyên Đức Mẹ và Chúa.
Tôi để mặc Tường Vi và niềm tin của nàng. Không nên xúc phạm
tới niềm tin của người khác.
-Anh Hoài.
-Gì thế em?
-Em muốn chết ngay bây giờ.
-Đừng. Bên ngoài trời rất đẹp.
-Nhưng đời không đẹp.
-Đời cũng đẹp.
-Anh chả nên nói dối em. Đời chỉ đẹp ở trong anh.
-Như vậy chưa đủ sao?
-Thừa rồi. Và em sẽ chết không sầu hận, sẽ bằng lòng cái chết
êm ái của em.
Tôi mở nút máy thu thanh nhỏ. Đúng lúc bản nhạc "La vie
en rose"
khởi tấu. Tôi nói:
-Anh sẽ mang tặng em, mỗi ngày, một bó hoa hồng tươi. Anh sẽ
mang tặng em một chiếc lồng chim thật đẹp và đôi chim khuyên biết hót hay.
Nàng xua tay:
-Em chỉ cần tiếng nói của anh. Và tiếng nói ấy sẽ nói yêu em.
Em chả ngại anh yêu em thành thật hay giả dối. Miễn là em được nghe anh nói anh
yêu em.
Tôi rút khăn thấm nước mắt cho Tường Vi:
-Có một danh từ mà tự điển không tài nào định nghĩa đầy đủ và
thi sĩ thì khuyên loài ngươi chớ có giải nghĩa, đó là Tình Yêu. Nhất là tình
yêu giữa đôi người trai gái xa lạ càng không thể định nghĩa, giải nghĩa hay
phân trần.
Nàng chống tay ngồi dậy một cách khó nhọc:
-Dù em...
Tôi lắc đầu:
-Em đừng dại dột phân trần. Nếu em cám ơn Chúa, tin tưởng
Chúa đã đưa anh tới gặp em, em phải tin chắc là Chúa đã vì đôi chân tê liệt của
em. Và anh, anh yêu em nhất định chẳng phải vì Chúa. Anh yêu em vì trái tim của
anh. Trái tim anh không có mắt nên nó không biết em tật nguyền. Trái tim anh chỉ
biết rung động. Anh là nghệ sĩ, nỗi rung động càng lớn mạnh. Mộng mơ không hề
đi hay chạy. Mộng mơ không cần đôi chân. Mộng mơ không là đà, nó bay bổng bằng
cánh huyền diệu của tâm hồn. Em hiểu chứ?
Tường Vi chớp mắt:
-Vâng, em hiểu. Tôi vuốt tóc nàng:
-Em thông minh lắm,
-Thưa anh.
-Gì, em?
-Hình như ông hoàng tử nào cũng giầu mơ mộng.
-Hoàng tử à? Đó là những anh ti tiện mộng mơ, nghèo kiết xác
mơ mộng. Các anh ấy có đủ thứ quyền hành, đủ thứ lầu đài, nhưng không có mơ mộng.
Anh là nghệ sĩ. Nghệ sĩ là tỷ phú mơ mộng. Người nghệ sĩ không thèm giống hoàng
tử hay vua chúa, em ạ!
-Anh bằng lòng làm hoàng tử của em?
-Với em, anh chịu khó làm hoàng tử vậy. Hoàng tử thì nhiều
quyền, ít ai dám cãi, kể cả công chúa. Anh muốn đẩy xe đưa em ra ngoài sân thượng.
-Anh Hoài.
-Không được cãi lệnh hoàng tử.
-Dạ.
-Em phải có một chiếc xe chứ?
-Dạ.
-Ở đâu?
-Em giấu anh ngoài kia,
Tôi vỗ nhẹ lên trán Tường Vi:
-Ngoan ngoãn, công chúa của anh. Anh sẽ đẩy xe vào rước em ra
ngắm trời mây và cuộc sống.
Nàng tiếp:
- Cuộc sống mới.
Tôi mở cửa ra sân thượng. Ngoài này cũng có một giàn hoa giấy.
Ở một góc sân, chiếc-xe-lăn-bánh nằm buồn thiu như tài sản còn sót lại của một
thế giới đã chết.
Tôi không biết chất sắt có chảy nước vàng tê tái. Nhưng, nhìn
chiếc xe, quả thật, tôi chẳng thiết sống nếu phải ngồi trên đó, lăn bánh chạy
qua từng viên gạch. Thế mà Tường Vi đã thừa can đảm ngồi trên xe và kiên nhẫn
đan dệt mộng mơ thành một cõi thiên thai bằng tơ vàng tưởng tượng. Nàng biết
thoát thực tại phũ phàng. Ôi, thực tại phũ phàng! Trong mỗi chúng ta đều có nó.
Nhiều kẻ đã nhẩy xuống dòng nước. Nhiều kẻ đã kề họng súng đen lạnh vào thái
dương rồi lẩy cò. Nhiều kẻ uống hàng tuýp thuốc ngủ. Những kẻ khác mượn men rượu
hay khói thuốc phiện. Để thoát khỏi thực tại. Tôi còn biết vô số kẻ nuốt trái bồ
hòn thực tại bằng tình thương con cái. Tất cả, tôi coi đều ngu dại và giả dối.
Và tôi phục Tường Vi. Tôi yêu nàng chính vì nàng biết mơ mộng. Nàng là nghệ sĩ.
Nghệ sĩ không bao giờ biết mình là nghệ sĩ. Tôi chưa phải là nghệ sĩ. Bởi tôi vẫn
nhận mình là nghệ sĩ. Cuộc sống làm chi có hạnh phúc tuyệt đối. Hạnh phúc tuyệt
đối, nếu có, chỉ ở trong giấc mơ xanh khi ta tạo ra đôi cánh mỏng cho tâm hồn
bay cao, bay xa lên khoảng trời hồng.
Tôi đẩy chiếc xe vào phòng. Nàng nhìn tôi, mỉm cười:
-Anh đang nghĩ gì thế? Tôi nói:
-Đang nghĩ tới một chân trời xa.
-Cho ai?
-Em.
-Để làm gì?
-Để con chim khuyên của anh đậu được trên cành cây hạnh phúc.
-Chân trời xa không?
-Tây Đức. Anh sẽ vận động, lạy xin lòng thương xót của thiên
hạ.
-Chỉ vì em?
-Ừ, chỉ vì em.
Tường Vi hơi nhíu mắt:
-Không cần nữa, anh ạ! Anh đã là miền đất lành của em. Tôi lắc
đầu:
-Miền đất lành trồng cây không nở hoa. Mơ mộng thêm chút xíu,
cô bé. Người ta sẽ tạo lại giúp em đôi chân. Với đôi chân ấy, em sẽ qua cầu,
sang sông không cần anh. Hay em sẽ đi bên anh tới những miền kỳ tuyệt của cuộc
đời. Em sẽ kiễng chân với hái trái hạnh phúc. Em sẽ...
Nàng vẫy tay:
- Thôi anh... Anh bồng em đặt lên xe đi...
Tôi ẵm nàng, đặt nàng ngồi lên xe như tôi thường ẵm đứa con
nhỏ của tôi đặt vào nôi. Và tôi đẩy nàng ra sân thượng. Tôi kể nàng nghe những
câu chuyện thần tiên và hứa mang nhiều lồng chim tới treo dưới giàn hoa đề quyến
rũ những loài chim chưa chịu đến với nàng. Khi nắng lên cao, tôi đẩy nàng vào
phòng, ẵm nàng đặt trên giường. Nàng hôn tôi, bảo rằng hôn tạm biệt. Tôi bước
xuống cằu thang. Tường Thanh chờ tôi ở phòng khách. Nàng nhìn tôi. Đôi mắt đẫm
lệ. Tôi thoáng thấy khuôn mặt nàng ửng hồng như thề xuân đời vừa điểm phấn giùm
nàng.
Tôi đẩy cửa đi ra. Tường Thanh quên tiễn chân tôi. Nàng mãi
khóc.
CHƯƠNG 6
- ÔNG HOÀI, TÔI KHÔNG BIẾT nói sao để diễn tả nỗi sung sướng của
tôi. Nói theo một nhân vật tiểu thuyết của Doãn Quốc Sĩ, ông đã đem ánh sáng đến
cho chúng tôi.
-Cô đọc nhiều quá nhỉ?
-Với chị em tôi, ra khỏi ốc đảo này, thế giới bên ngoài là tiểu
thuyết.
-Cô thích tiểu thuyết?
-Rất mê. Ông lạ sao?
Nàng vội tiếp:
-Tôi đã lạc vào những xã hội tiểu thuyết thơ mộng. Ở đó, cuộc
sống êm đềm và có nhiều người tốt.
Tôi nói:
-Và cô tưởng tiểu thuyết là cuộc đời? Nàng khẽ gật đầu:
-Là cuộc đời đầy thi vị, cuộc đời không giống cuộc đời phiền
muộn mình đang sống. À, ông Hoài...
-Tôi nghe cô đây.
-Ông bảo cứ tưởng tượng giỏi là viết đưực tiểu thuyết hay, phải
không?
-Phải.
-Tôi sẽ tập viết tiểu thuyết.
-Cô sẽ nổi tiếng.
Đôi mắt nàng, bỗng nhiên, sâu thẳm và y hệt giếng nước đương
khơi mạch mộng mị:
-Tôi muốn diễn tả một miền đất mới, một thành phố nhỏ trồng
toàn hoa lan. Tại sao chưa thấy một thành phố nào trồng toàn cây ngọc lan, ông
Hoài nhỉ? Tưởng tượng những hàng ngọc lan bên đường rợp hoa, thành phố sẽ thơm
ngát. Hoa rơi xuống đường. Hoa rơi xuống tóc những người phu quét đường. Ngay cả
rác thành phố
cũng thơm. Và, ông Hoài ạ, tưởng tượng đôi tình nhân tình tự
suốt đêm dưới gốc cây ngọc lan cuối đường hay trong công viên, tôi tin rằng
tình yêu của người Việt Nam sẽ thơm, sẽ thơ, sẽ mộng như tình yêu trong ca đao.
Tôi hít hà một ý tưởng man mác:
-Chúng ta sẽ có nhiều con đường thơm và chúng ta sẽ được đi
trên những con đường thơm như con đường thơm trong thơ Huy Cận. Mà cô định đặt
tên cuốn tiểu thuyết ấy là gì?
Nàng mỉm cười:
-Miền hoa lan.
Miền hoa lan, cái miền mơ ước đó, rồi mọi người phải tìm về ướp
tâm hồn mình như những ngày xưa còn bé ướp từng cánh hoa thơm vào sách vở học
trò. Chúng ta đã phiêu lưu quá xa vùng trời hiền hòa, thơ mộng cũ để chỉ gặp những
đổ vỡ, tan nát. Đổ vỡ, tan nát toàn diện. Miền hoa lan, miền quê hương thần
tiên của chúng ta, miền đất mới mà Tường Thanh vừa nói, miền đất cũ mà chúng ta
tưởng cằn cỗi đã di cư và có ngày nào, chợt nghe dậy ở hồn mình tiếng thầm tình
tự, trong chúng ta, nhiều kẻ muốn trở về.
-Ông Hoài nghĩ gì thế?
-Miền hoa lan của cô,
-À, tôi sẽ đưa những người tốt về lập nghiệp ở miền hoa lan.
Công việc đầu tiên của họ là trồng cây ngọc lan trên hè phố.
-Cô giống ông Noé.
-Ông Noé nào?
-Cô chưa đọc Cựu Ước kinh à?
-Chưa.
-Ông Noé là người tốt trong đám nhân loại sa đoạ. Jéhova tạo
nạn hồng thủy để tận diệt thế giới tội lỗi. Nhưng Ngài muốn cứu vớt một số người
tốt đề lập một thế giới hoàn hảo. Sợ nạn hồng thủy làm chết oan họ, Jéhova ủy
thác ông Noé đóng chiếc thuyền chở họ tị nạn hồng thủy.
-Rốt cuộc, loài người vẫn thế?
-Tồi tệ hơn.
-Tại vì Jéhova không biết định cư những người tị nạn ở miền
hoa lan.
-Lỗi do ông Noé. Giá thuở đó có cô, Jéhova đã chọn cô rồi.
Nàng thẹn thùng:
- Ông Hoài...
Và vội bỏ rơi miền hoa lan:
-Tôi xin báo tin vui với ông: Tường Vi đã làm thơ.
-Làm thơ!
-Ông ngạc nhiên?
-Tôi không muốn cô bé buồn.
-Ông yên tâm, Tường Vi chỉ làm thơ ca ngợi tình yêu ở miền
hoa lan của tôi.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Tôi đã dò hỏi một vài người có quyền trong tổ chức Terre des
hommes, họ hứa sẽ giúp đỡ tôi.
-Giúp Tường Vi?
-Vâng, giúp Tường Vi, nói để cô vui lòng. Thực ra là gỉúp
tôi. Cô tưởng tôi đóng kịch do cô đạo diễn à? Đừng tưởng thế, cô Thanh.
-Vở kịch đã hỏng?
-Không còn kịch nữa. Không có nhân vật kịch. Chỉ còn chúng
ta, vì tình người của chúng ta.
-Ông lại làm tôi muốn khóc.
-Tôi đành xin lỗi cô.
-Nhưng tôi nghĩ con chim khuyên nhỏ bé của ông không ưa chuyền
nhẩy và cũng chẳng thích bay tới chân trời xa lạ mà ông muốn chọn cho nó, ông
Hoài ạ!
-Hình như cô Thanh đồng ý với Tường Vi?
-Bây giờ tôi không được làm đạo diễn.
-Cô thông minh lắm.
-Ngưòi thông minh thường gặp oan trái.
-Tôi kính phục cô.
-Ông quá khen.
-Nếu tôi nhớ không sai thì triết lý trong một tiểu thuyết ngắn
của Tolstoí là chấp nhận sự đau khổ của mình, không thèm than vãn để người khác
được hạnh phúc. Cuối cùng, Chúa soi sáng nỗi đau khổ của kẻ chịu thiệt thòi. Cô
Thanh, nỗi đau khổ của cô đã được thắp sáng. Chiếc nụ sắp nở hoa và con bướm
giang hồ sẽ trở về với nụ hoa ngày cũ.
-Tôi chỉ mong Chúa soi sáng nỗi đau khổ của Tường Vi. Song
tôi nhất định không tin Chúa hay tin quyền lực của Chúa. Tôi luôn luôn tin vào
Tình Người. Ông có tin rằng Chúa dẫn dắt ông tới căn nhà lạnh lẽo này không?
-Không.
-Ông có tin rằng mọi nỗi khốn khổ trên thế gian sẽ bị xoá bỏ
khi mỗi người thắp sáng tình của mình sưởi ấm người khác không?
-Tin chứ.
-Sự bình an ở trần thế không bao giờ do một đấng thiêng liêng
nào ban ơn, giảng phúc cả. Mà chỉ do con người. Tôi trái ý Tường Vi nhưng tôi
không cho con bé biết điều đó.
Nàng muốn bỏ lửng câu chuyện xa vời, cười rất duyên, hỏi tôi:
-Ông dùng cà phê nhé? Tôi đáp:
-Cám ơn cô. Tôi muốn ăn sáng với Tường Vi. Hôm nay tôi rảnh,
muốn ở đây cả ngày.
Khuôn mặt Tường Thanh tươi hẳn lên:
-Vậy tôi nên nghỉ việc và đi chợ. Chúng ta tạo một bữa tiệc
nhỏ, ông Hoài nhé?
Tôi nói:
- Tùy ý cô.
Nàng đứng dậy, nói một câu hết sức bình thản:
- Không thể uốn thẳng một cây tre già, ông Hoài ạ!
Tồi chợt hiểu. Và thương xót Tường Vi vô cùng. Tôi quên khuấy
rằng Tường Vi hết là con nít. Nàng đã trở thành thiếu nữ. Terre des hommes
không thể tặng người thiếu nữ bất hạnh của tôi một niềm hy vọng. Tôi lên gác
thăm nàng. Tường Vi đang ngồi trên xe, ngoài sân thượng. Nắng sớm đẹp lạ lùng.
Mầu xanh của lá tươi ngon. Và giọng những con chim khuyên hót, tôi tưởng chừng
mới chỉ được nghe ở khung cảnh này. Tường Vi chưa biết tôi tới. Nàng quay lưng
về phía cửa. Suối tóc chảy xuống bờ vai. Tại sao tôi không nghĩ rằng Tường Vi
ngồi hong tóc? Nghĩ như vậy chẳng thơ mộng gì, có vẻ cóp nhặt hình ảnh tiểu
thuyết quá. Tôi nghĩ rằng đương ngồi trên chiếc ghế bóng nhoáng, dạo một khúc
nhạc bất hủ của Beethoven. Lúc này, có thể, nàng thích làm Beethoven, dùng âm
thanh thay chữ viết, gửi thư cho Élise. Và tôi chính là Élise mộng mị của nàng.
Tôi đứng yên ngắm một người vừa nhập thiên thai rồi cảm giác chính mình cũng
thoát thực tại đầy móng vuốt ưu phiền. Ôi, móng vuốt thực tại, nhiều khi nó cào
nát trái tim ta.
- Tường Vi.
Tôi khẽ gọi tên nàng. Như một thuở rất xa, ngày con sâu buồn
chưa đục nõn măng niên thiếu, tôi đã sang nhà cô láng giềng bé nhỏ giữa trưa hè
khi nàng thiêm thiếp ngủ trên võng dưới bóng mát của giàn thiên lý, đánh thức
cô bé dậy, báo tin bươm bướm về đầy vườn. Tường Vi không buồn quay lại. Nàng
nói nhỏ như sợ chim khuyên thôi hót.
-Em biết anh đã đến.
-Thế à?
-Vâng.
-Em đang dạo bản nhạc hay nhất của Beethoven phải không, Tường
Vi.
-Đang làm thơ và nhớ anh.
Tôi bước tới, đặt hai tay lên vai nàng:
-Cho anh đọc một bài thơ của em đi. Nàng nũng nịu:
-Khi anh chết, anh sẽ được lên thiên đường và em sẽ buộc thơ
em vào bong bóng thả bay lên tặng anh.
Tôi nói:
-Anh đầy tội lỗi, chắc chắn, anh phải xuống địa ngục. Nàng cười:
-Thì em sẽ đốt thơ gửi xuống cho anh.
Tôi đẩy chiếc xe tới một góc sân. Ở chỗ này, chúng tôi có thể
nhìn xuống. Địa ngục tại sao không phải là dưới kia, dưới cái đảm nhân gian
nhung nhúc những ưu phiền. Thiên đường tại sao không phải là trên này, chỗ hai
chúng tôi đang gần nhau, thương yêu nhau.
-Anh bằng lòng chứ?
-Bằng lòng chi đó, em?
-Bằng lòng đọc thơ em.
-Sao không bây giờ? Chúng ta đang ở trên cao, thiên đường là
đây, em ạ!
-Vậy anh chờ ngày em chết.
-Đừng nói gở.
-Em chết rồi, đọc thơ em, anh sẽ chẳng cười chê mà còn thương
em hơn.
-Em không tin là anh thương em à?
-Tin lắm, anh ạ! Nhưng niềm tin tuyệt đối vẫn chỉ tìm thấy
trong cõi chết,
Tôi nói. Nói rất nhiều. Tường Vi không trả lời. Có lẽ, nàng
không nghe. Rồi im lặng. Chỉ còn tiếng chim hót, tiếng gió lùa qua giàn hoa giấy.
Suối tóc nàng tỏa hương thơm ngát. Tôi cúi xuống hôn tóc nàng. Con thuyền mơ đã
lênh đênh trôi trên dòng suối mộng. Chỉ tiếc con thuyền không được êm ả trôi.
Nó đã đụng phải tảng đá thực tại. Khiến tôi bàng hoàng. Tự nhiên, tôi oán trách
chuỗi ngày tôi đã sống, ước gì được đi lại từ đầu. Thì bước chân thứ nhất giẫm
lên trái tim một người con gái sẽ là bước chân vụng về, không toan tính. Hạnh
phúc tuyệt đối của tình yêu, tôi nghĩ, phải ở sự khờ dại. Tìm kiếm hạnh phúc
trong sự khôn ngoan, chỉ gặp oan trái. Ôi, hạnh phúc tuyệt đối, nó sát kề mình,
mình chẳng thèm chìa tay với hái mà cứ thích đóng bè ra khơi tìm nó. Để bị sóng
gió ân hận vùi dập.
-Tường Vi.
-Dạ.
-Hôm nay anh ở đây trọn ngày.
-Để an ủi em?
-Không, để ru em ngủ bằng thơ Huy Cận, đề nghe trái sầu trong
hồn em rơi rụng.
Tôi bước lên phía trước, quỳ xuống cho đôi mắt vừa tầm nhìn một
đôi mắt. Khuôn mặt Tường Vi đẫm lệ. Nàng đã khóc tự bao giờ. Tôi rút khăn thấm
nước mắt giùm nàng.
-Em giận anh à?
-Không đâu.
-Thế sao em khóc?
-Em đã khóc nhiều nhưng mãi hôm nay em mới biết khóc. Ngày
nào đó, anh thấy em thôi khóc, tin em đi, anh Hoài, ngày ấy, anh không còn em nữa.
-Anh không mong ngày ấy.
-Mà nó cứ đến.
-Ta sẽ ngăn nó.
-Chả ai ngăn nổi nó, kể cả Chúa và quyền uy của Ngài. Chính
Chúa cũng phải chết cơ mà, anh Hoài. Nhưng em sung sướng hơn Chúa. Chúa không
có tình yêu ngọc ngà như em. Chúa chỉ tìm thấy tình yêu ở loài người khi Ngài
đã thành Chúa. Còn em, anh Hoài biết không, em tật nguyền tưởng bị quên lãng mà
vẫn tìm được tình yêu ở anh. Như vậy, em hãnh diện hơn Chúa. Nếu Chúa bất hạnh
giống em, có ai tìm đến Chúa? Em nghĩ Chúa hiểu điều đó nên Ngài dẫn anh tới
em.
-Anh muốn em sung sướng hơn và sung sướng ở cõi sống.
-Em không muốn đi, đứng, chạy, nhẩy. Em sợ ngày con chim
khuyên đậu nổi trên cành cây hạnh phúc thì trời xanh thơ mộng của nó đã sụp đổ.
Thôi, anh ạ, con chim khuyên bé nhỏ của anh rất cần trời xanh. Và trời xanh chỉ
còn với nó khi nó không có chân để đậu. Có chân, cánh nó sẽ gẫy. Hoặc trời xanh
sụp đổ thì cánh nó còn cũng như gẫy.
Tôi cầm tay nàng. Những ngón tay đan nhanh thành một lưới
tình yêu.
-Trời có ngàn phương, con chim khuyên bé nhỏ của anh biết chứ?
Nàng đáp:
-Em chỉ thích một phương. Một phương là thừa rồi, anh nhỉ?
Tôi hiều Tường Vi không muốn làm vuột mất hạnh phúc của mình.
Nàng không muốn thức tỉnh khi giấc mơ đang đẹp. Tường Vi không muốn gì nữa. Đôi
chân nàng đã tê liệt trong chiêm bao thần thoại. Như thế, nàng đang chạy nhẩy
trên cánh đồng mơ ước, đang là đà trên nội cỏ ngàn hoa.
-Em...
-Dạ.
-Em còn mơ ước thêm gì nữa?
-Không anh ạ! Em đã thừa thãi những điều em mong mỏi. Em bằng
lòng đứng lại. Đi xa hơn, mỏi chân chết. Em hơi lành lạnh, anh đẩy em vào đi.
Tôi đứng dậy đẩy chiếc xe vào phòng rồi bồng Tường Vi lên giường.
Nàng vươn tay bật nút máy thu thanh. Nhạc ùa khắp phòng. Giọng hát Anh Ngọc kể
lể "Ngày đó chúng mình". Nàng khép mắt. Tôi không tin nàng mơ
"khăn dài ảo cưới" nhưng trong tôi nỗi xót xa đùn lên tê tái như nước
chanh vắt xuống vết thương tươi. Trọn ngày hôm đó, tôi làm hương khói ở căn nhà
thèm hương khói. Tường Vi đã khiến tôi quên mất thực tại đầy gai góc.
Được trở thành một cần thiết cho người khác cũng đủ sung sướng.
Em có nghĩ như anh không?
CHƯƠNG 7
NHỮNG CON CHIM LẠ ĐÃ CHỊU GHÉ giàn hoa giấy dưới nhà và trên
sân thượng. Tường Thanh kể rằng, mấy bữa nay, có con chích chòe bị ai bắn mù một
mắt, đậu suốt buổi sáng trên chiếc lồng chim khuyên kết hoa rực rỡ. Con chích
chòe hót thật hay, thật não nùng. Như thể nó cũng mang niềm u ẩn. Nó không sợ
sa bẫy. Chắc nó biết ở đây người ta cần nó, cần tiếng hót của nó. Nó đã làm những
con chim khuyên ngứa cổ, ca hót chẳng thiết ăn uống, chuyền nhẩy.
Nhờ tiếng hót của loài chim, Tường Vi ngủ không giật mình. -
Ông sẽ thấy con chích choè kỳ diệu đó, ông Hoài ạ!
Tôi nhìn nàng đăm đăm. Khiến Tường Thanh ửng hồng đôi má.
Nàng bẻ bão tay, cố che giấu một xúc động thơm nồng.
-Tôi chỉ muốn thấy con bướm cũ về âu yếm nụ hoa xưa. Nàng chớp
mắt:
-Nụ hoa xưa không nở nữa. Con bướm đã hóa kiếp rồi. Hai giọt
nước mắt nàng ứa ra. Tôi rút khăn đưa cho nàng:
-Ở miền hoa lan của cô, tôi chắc nụ nào cũng phải nở hoa.
Nàng đỡ chiếc khăn của tôi không ngần ngại. Thấm nước mắt,
nàng gượng cười:
-Làm một sợi dây leo trên cây hạnh phúc đã đủ hạnh phúc rồi,
ông Hoài nhỉ? Đôi khi, tôi thích bị tật nguyền.
Nàng trả tôi chiếc khăn:
-Ông đã đọc truyện ngắn "Bàn tay sáu ngón" của Bình
Nguyên Lộc chưa?
Tôi đáp:
-Rồi. Nàng hỏi:
-Ông nghĩ sao? Tôi thở dài:
-Thấm thía.
-Đấy, ông Hoài coi, cái anh chàng thư ký hèn mọn được nhiều
người chú ý đến mình chỉ vì bàn tay phải của anh ta có sáu ngón. Anh ta chả chịu
hiểu ngón tay dư là hạnh phúc của mình, dại dột đem chặt đi. Khi bàn tay anh ta
còn năm ngón, ai thèm chú ý tới anh ta. Cũng như Tường Vi...
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Cô đừng nói thêm về Tường Vi.
-Ông nên hiểu thêm để bỏ qua ý định chữa lành tật nguyền cho
con bé. Dẫu chữa lành hẳn, Tường Vi cũng từ chối. Nó đã vất nạng, bỏ học...
-Tự lúc nào?
-Tự lúc nó biết nó là con gái. Ông Hoài, xin ông hãy tưởng tượng...
Tôi tưởng tượng ngôi trường con gái tôi đang học. Con bé mới
chỉ học lớp I. Trường có sân rộng, nhiều cây, nhiều bà Mẹ hiền, nhiều bà Sơ đẹp.
Học trò xếp hàng trên lớp đá sỏi vào lớp. Đó là trường Régina Mundi. Mỗi buổi
trưa, tôi thường đi đón con về học. Tôi gặp một đứa bé bị tê liệt, hai chân bó kim
khí nhẹ và chống đôi nạng gỗ ngắn. Nó rất hồn nhiên, chưa biết buồn. Mầm chán nản
còn ở xa thơ ấu. Con bé cười nói luôn miệng. Bạn bè, cô giáo, các Sơ, các Mẹ,
dường như, thương nó lắm. Tưởng tượng con bé lớn dần. Và đôi nạng gỗ của nó cao
dần. Tưởng tượng một ngày kia những cậu học trò con trai trường lạ nhìn ngó bạn
bè nó bằng những đôi mắt thiết tha. Tưởng tượng bạn bè nó bỏ rơi nó, chạy theo
cuộc tình. Con bé chống nạng đứng bơ vơ giữa sân đá sỏi. Nó sẽ tủi thân chừng
nào! Và rồi, con bé biết úp mặt dưới gối, khóc rưng rức. Nó phải xa bạn bè, trường
lớp. Phải quên kỷ niệm học trò. Nó cũng sợ chết chứ. Vậy thì con bé bắt đầu đan
dệt cuộc sống riêng tư của nó bằng tơ mộng. Tơ mộng mong manh hơn tơ trời.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Cô muốn ví tôi như con chích choè bị bắn mù một mắt? Nàng im
lặng.
-Phải, tôi là con chích choè bị bắn mù. Khi người ta mơ mộng,
người ta không cần mở mắt.
Tường Thanh cắt đứt ý nghĩ của tôi:
-Ông là người cuối cùng đến đây. Tôi hỏi:
-Trước tôi nhiều người đã đến? Nàng khẽ gật đầu:
-Và họ không biết phiêu lưu trên nỗi buồn. Họ không thích cái
"Thú đau thương ". Ông lại tưởng tượng đi...
-Đủ rồi.
-Đành gian dối với ông và bây giờ.,.
-Sao?
-Bây giờ, dù ông nói ông yêu Tường Vi, thì chỉ con bé tin rằng
ông thật tình yêu nó. Còn tôi, tôi thấy thương ông...
-Cô thương tôi?
-Vâng, ông phải tạo thêm một đời sống giả.
-Mỗi đời sống thật còn cần một đời sống giả. Đời sống giả chỉ
là cái bóng mát che nắng cho đời sống thật. Đôi khi, đời sống giả tạo ý nghĩa
cho đời sống thật. Tôi yêu đời sống giả của Quang Ngọc, Nhị nương hơn đời sống
thật của Phạm Thái, Trương Quỳnh Như. Đời sống thật của Phạm Thái là anh hủ
nho, đi ngược chiều cách mạng, đâu có rực rỡ như Tiêu sơn tráng sĩ! Sở dĩ, Phạm
Thái đáng yêu là nhờ Khái Hưng đã trùm lên ông ta một đời sống giả ý nghĩa. Đời
sống giả đó là Quang Ngọc. Tôi tự hỏi đời sống thật của tôi là gì, đã làm nổi
cái gì? Chẳng là cái gì cả và chỉ làm phiền muộn nhiều người, nhất là những người
thân yêu của mình. Ở đây, với đời sống giả, tôi đã phả hương khói vào căn nhà lạnh
lẽo này, đã đem hy vọng đến cho một người con gái. Tôi lại tự hỏi, tại sao, đời
sống thật
của tôi không đủ khả năng làm vợ tôi hạnh phúc, làm con tôi
sung sướng, làm bạn bè tôi vừa lòng. Tại sao, cô biết chứ?
-Tôi chịu.
-Bởi vì, khi ta sống đời sống thật của ta, ta phải mở mắt, ta
phải đi và nếu cần, phải bò nữa.
Tôi chợt nhớ đã coi phim "Le passage du Rhin " do
Charles Aznavour và Georges Rivière đóng. Quan niệm của người làm cuốn phim này
thật rộng rãi. Ở đâu ta sống thoải mái với tâm hồn ta, ở đấy là quê hương ta.
Nơi nào nhiều người tin cậy ta, cần thiết sự có mặt của ta, nơi ấy là miền hạnh
phúc của ta. Anh thợ làm bánh Aznavour sống với bố mẹ vợ. Anh ta là một người
con rể gương mẫu. Khi quân Đức chưa đặt chân lên đất Pháp, mỗi buổi sáng, bà mẹ
vợ khó tính của anh ta, giọng cằn nhằn, gắt gỏng vọng xuống hầm: "Có bánh
chưa?". Anh ta vội vàng mở nắp hầm, bưng bánh nóng hổi, lễ phép: "Dạ,
bánh đây ạ! ". Cái đầu anh thợ nướng bánh chui lên, trông thảm hại quá chừng.
Ngày lại ngày, tháng qua tháng, năm và năm, anh đã sống một đời sống thật tẻ nhạt,
buồn tênh. Rồi quân Đức tới. Anh bị bắt làm tù binh. Aznavour khai anh là nông
dân. Quân Đức chở anh về bên Đức phục vụ hậu phương. Thấy anh hiền lành, người
ta cho anh giúp việc một ông xã trưởng già vì trai tráng nước Đức đi lính hết cả.
Anh tận tụy làm việc. Dân làng bên Đức quên anh là tù binh Pháp. Và anh, anh
cũng quên anh là dân Pháp. Không ai ghét bỏ anh. Mọi người thương yêu anh. Khi
ông xã trưởng già chết, Aznavour được bầu lên thay thế. Anh thấy anh quan trọng
quá. Đời sống giả của anh đầy ý nghĩa. Anh muốn ở mãi ngôi làng này đề giúp ích
mọi người. Anh không thích trở về căn hầm nướng bánh tù túng và không thích
nghe cái giọng cằn nhằn, khó chịu của bà mẹ vợ. Nhưng Đức bị bại trận. Chiến
tranh chấm dứt. Anh thợ nướng bánh Aznavour được giải phóng. Dẫu anh khoái làm
nô lệ, người ta vẫn đưa anh về nước Pháp của anh. Và Aznavour đành trở về đời sống
thật với bao quyến luyến đời sống giả. Đời sống thật của anh thợ nướng bánh đã
có cái bóng mát của đời sống giả.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Có người coi đời sống giả là kỷ niệm của đời sống thật.
-Nhưng mọi người vẫn phải sống đời sống thật của mình trọn vẹn,
phải quên kỷ niệm, quên hết. Ông cũng vậy.
Tôi cũng vậy. Dĩ nhiên rồi. Nàng đã chích vào mạch máu tôi một
ống thuốc buồn. Bất giác, tôi thương đời quá thể. Nếu không có đời sống thật,
chẳng có đời sống giả, liệu trái sầu đau có rơi rụng khỏi hồn mình? Tôi chép miệng:
-Hãy cứ biết, ở đây, người ta cần tiếng hót của con chích
choè mù. Tôi lảng chuyện:
-Tường Vi bình thường chứ, cô Thanh?
Nàng đáp:
-Mấy hôm nay sức khoẻ con bé suy yếu. Nó tập thức trắng đêm
và băn khoăn không hiểu thiên thai còn hay hết. Bữa nọ nghe tỉn người Mỹ chinh
phục mặt trăng, con bé khóc nức nở.
-Tôi lên thăm nàng.
-Con bé đang ngủ.
Ngủ rất ngoan. Tấm chăn mỏng che kín từ ngực xuống chân. Hơi
thở đều đều, Đôi mắt khép kín. Tường Vi đó. Tên một loài hoa quê hương, một quê
hương chở chất đầy mộng mị, u sầu. Quê hương cũng có hai đời sống. Đời sống thật
của quê hương là què quặt, bệnh hoạn. Đời sống giả của quê hương chỉ còn dĩ
vãng vàng son. Nàng nằm im lặng như quê hương im lặng. Nhưng tâm hồn đang viễn
du. Tôi thấy yêu tên một loài hoa quê hương mình tha thiết,
Hãy viễn du, hãy thoát lên khỏi cái thực tại vuốt nhọn cào cấu
đời mình, em yêu dấu. Anh đã từng băn khoăn kể từ ngày người Mỹ cắm nổi lá cờ
chinh phục của họ lên mặt trăng, là dấu chân thô lỗ của họ đã giẫm nát cõi
thiên thai thêu dệt bằng chỉ mầu huyền thoại của quê hương mình. Làm chi có chốn
Đào Nguyên lạc bước của lãng tử Lưu Thần, Nguyễn Triệu. Làm chi có Tiên Nga
hong tóc bên bờ suối thơm, nghe Kim Đồng vi vút sáo thần. Làm chi có lá đào rơi
rắc lối đi tâm tưởng một lần tống biệt của Tản Đà. Thiên thai chỉ có đá. Và đá ấy
chẳng hơn gì đá trần gian. Đá ấy lại không biết khóc.
Phải vậy chăng, thế là hết thiên thai? Là tàn lụi mộng mơ của
quê hương mình? Anh không bao giờ tin rằng thiên thai đã bị cầy nát. Và càng
không bao giờ tin rằng thiên thai là Thiên Đàng là Cực Lạc do Đấng Tạo Hóa, do
Chúa Trời hay do Đức Phật tạo ra. Không bao giờ có thiên thai cả, nếu không có
nghệ sĩ. Nghệ sĩ không tạo nổi thiên thai nhưng cơn lốc của mộng mơ đã đưa tâm
hồn họ lên cao vút. Tới một nơi, tâm hồn nghệ sĩ định cư, không muốn bay cao
hơn, nơi đó là thiên thai. Mỗi người đều có sẵn trong trái tim mình một cõi
thiên thai. Hiềm vì chả ai chịu tin thiên thai ở trái tim mình, ở suối mộng mơ
của riêng mình nên nghệ sĩ phải sáng tạo một thiên thai. Và thiên thai bỗng trở
thành huyền thoại lung linh mầu sắc. Đường lên thiên thai diệu vợi khôn lường.
Phải tu nhân tích đức nhiều kiếp mới tìm nổi con đường đưa lên cõi thiên thai.
Tự nhiên, loài người hiểu sai ý muốn của nghệ sĩ. Và thiên thai chỉ còn là trại
tập trung của những ông tiên đắc đạo, tối ngày đánh cờ, uống rượu, chỉ còn là
trại tập trung của những bà tiên không biết yêu đương; chỉ còn là thời gian ngất
ngư, cụt hẫng. Không, thiên thai không bao giờ là cõi chết của người đã chết. Nếu
thiên thai cư ngụ toàn lũ người gỗ, chúng ta đâu thèm mơ ước lên thiên thai.
Thiên thai là của chúng ta, của những người còn sống. Ai cũng biết đường lên
thiên thai. Bản đồ chỉ lối là mộng mơ. Thiên thai, do đó, là sự thoát thực tại
cùng khổ, ê chề, đau đớn nhất của một kiếp người. Con đường thoát thực tại dẫn
lên thiên thai nhiều lối. Mỗi người một lối lên thiên thai. Nhà tu hành lên
thiên thai ồn ào hơn hết. Phải tụng kinh, gõ mõ. Phải rung chuông, giảng đạo.
Chúng ta lên thiên thai rất im lặng. Không kiêng cữ. Không trình diễn. Không
khoe khoang. Chúng ta lên thiên thai của chúng ta. Của riêng từng người. Nhất định
không cõi thiên thai nào giống cõi thiên thai nào. Và không ai đủ quyền thế,
phù phép ngăn lối lên thiên thai của ta hay giẫm nát thiên thai của ta. Em yêu
dấu, cõi thiên thai óng ánh mầu sắc huyền thoại của lòng ta vẫn còn. Chưa hết.
Không mất. Bây giờ rực rỡ hơn cả bao giờ. Vì chúng ta đang đau khổ cực độ.
Thiên thai chính là nơi của những người đau khổ. Nhất là khi đau khổ vì thiếu
tình yêu.
Tôi chẳng muốn đánh thức Tường Vi. Để tâm hồn nàng viễn du và
cảm giác mình cũng đang viễn du.
CHƯƠNG 8
ĐÊM QUA, TRỜI ĐỔ MỘT TRẬN mưa lớn. Trận mưa đầu mùa như trận
mưa bão rớt. Gió rít căm phẫn. Tôi nằm đắp chăn trên giường, nghe mưa gió giận
hờn nhau và nghĩ tới những con chim khuyên dưới giàn hoa giấy nhà Tường Vi.
Nàng không thể đem chúng vào nhà trú mưa. Chả hiểu nàng có nhờ chị săn sóc
chúng nó? Sáng nay Sàigòn bừng nắng. Nắng rực rỡ nhẩy múa trên cành lá còn ướt
nước mưa. Tôi trở dậy, đầu óc hoang mang. Có lẽ, tôi chợt nhớ những bài thơ của
Tường Vi hứa gửi cho tôi đọc khi một trong hai chúng tôi chết trước. Tôi vội
vàng xuống nhà Tường Vi.
Lối vào nhà nàng còn sũng nước. Trái tim tôi xốn xang ngay tự
lúc đứng ở cổng nhà nàng. Tôi nghe rõ tiếng khóc. Ngón tay tôi ấn chết vô nút
chuông điện. Cánh cửa quen thuộc hé mở. Tường Thanh mắt đẫm lệ. Thấy tôi, nàng
nức nở:
- Ông Hoài!
Tôi phóng nhanh vào:
-Chuyện gì thế, cô Thanh? Nàng lau nhanh nước mắt:
-Đêm qua mưa lớn quá. Tôi thở phào:
-Vâng, mưa gió đầy trời.
Tường Thanh thấm khô nước mắt. Nhưng nàng không thể giấu nổi
đôi mắt ngầu đỏ mà tôi biết nàng đã khóc từ lúc mưa vừa chớm tạnh.
-Cô Thanh.
-Dạ.
-Có chuyện gì xảy ra không? Đêm qua tôi bồn chồn quá. Tôi sợ
những con chim khuyên chết cóng trong lồng.
-Chúng hãy còn sống.
-Tường Vi?
-Con bé ngủ ngon. Ông Hoài... Nàng nhìn tôi. Ánh mắt như thắp
một ngọn nến. Và ngọn nến buồn thảm cơ hồ ngọn nến cắm trên nắp quan tài.
-Ông Hoài...
-Tôi nghe cô đây.
-Những người mơ mộng đều không muốn đi xa hơn, khi họ nghĩ rằng
đã đến đỉnh của mộng mơ. Ông đồng ý chứ?
-Vâng.
-Tường Vi đã nhập cõi thiên thai của nó.
Tôi giật mình:
- Cô nói gì, cô Thanh?
Nàng cắn môi dưới một giây, rồi nói:
-Người ta chỉ bất hạnh, sầu đau khi trống vắng kỷ niệm. Một
người con gái sẽ khốn nạn biết mấy nếu đến giờ lâm chung nàng còn phải chờ đợi
tình yêu đến.
Tôi đứng dậy:
- Để tôi lên đánh thức Tường Vi. Nàng chớp mắt:
- Ông Hoài, tôi chưa nói hết ý.
Tôi đành ngồi xuống. Và Tường Thanh, dù không muốn khóc, dù cố
nén một đau thương, nước mắt nàng vẫn ứa ra.
- Tường Vi không bao giờ bất hạnh. Nó là đứa sung sướng nhất ở
thế gian và ở cả địa ngục. Ông đã cắm vào bình hoa tâm hồn nó một đóa hoa
thương yêu bất tử. Và con bé nhập thiên thai bằng hương thơm của tình người.
- Cô Thanh.
- Ông không thể đi xa hơn. Tường Vi cũng vậy. Cả tôi nữa. Tối
qua, trời đầy trăng sao, Tường Vi nhờ tôi ẵm lên xe bảo ngồi trên xe làm thơ
thú vị hơn nằm trên giường. Rồi con bé chờ tôi ngủ, tự lăn xe, tự mở cửa ra ngoài sân thượng. Tôi ngủ thiếp, không biết mưa gió
bên ngoài.
- Rồi sao?
- Chiếc xe còn đó.
- Tường Vi? Tường Vi?
- Nàng đã nhập thiên thai.
-Đã chết?
-Không, đã nhập thiên thai. Nàng đã bay đến một chân trời xa
như ông muốn. Tôi cứ sợ trái bóng xà phòng ông thổì cho nàng vui sẽ vỡ. Bây giờ,
nàng tin chắc trái bóng lung linh màu sắc ấy không bao giờ vỡ. Trái bóng kỳ diệu
đã thay cánh hạc đưa nàng lên thiên thai.
Mắt tôi mờ đi. Trái tim tôi đang bị muôn vàn mũi kim nhọn
đâm. Tôi có cảm tưởng mình là liều thuốc độc mạnh nhất cho một người muốn tự tử.
- Ông Hoài.
- Ông đừng ân hận. Hành lý của Tường Vi xếp chặt kỷ niệm tình
yêu mà ông gửi nàng.
Tôi nghiến răng. Tai tôi ù rồi. Nhưng tiếng nói của Tường
Thanh cứ như ngọn gió bấc cắt da thịt xoáy vào tai tôi.
- Nàng ghi giấy dặn trước hai điều, ông muốn xem không? Tôi lắc
đầu. Tường Thanh nói:
- Tường Vi van xin ông đừng nhìn mặt nàng lần cuối vì mặt người
chết xấu lắm. Nàng bảo thế. Sau hết, nàng tặng ông những bài thơ.
Tường Thanh trao tay tôi một xấp giấy màu hồng. Tôi run rẩy đỡ
những bài thơ. Gia tài của Tường Vi, nàng để lại trên cõi đời cho riêng tôi, chẳng
cần chúc thư. Người chết không oán hận. Người sống cũng không oán hận. Tôi chợt
thấy Tường Thanh nói đúng. Con chim khuyên nhỏ bé của tôi đâu có chết. Nó đã
bay lên một cõi thiên thai của nó, bay đến miền hoa lan. Chắc hẳn nó sung sướng.
Chỉ còn lại những kẻ không biết mơ mộng, những kẻ lê đôi chân
xích hai tảng đá thực tại là bất hạnh trọn kiếp người.
Phú Nhuận, 4/3/1970Duyên Anh

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét