Tôi còn nhớ, khoảng năm 1984, các anh ở Tạp chí Văn nghệ
Quân đội vui như nhặt được vàng khi nhận được truyện ngắn “Thời gian” của Cao
Duy Thảo. Khi đó, tạp chí đang mở cuộc thi Thơ và Truyện ngắn
1983-1984. Truyện ngắn đã giới thiệu nhiều nhưng chưa tìm được tác phẩm xuất sắc.
May sao, lúc cuộc thi gần kết thúc, bỗng “Thời gian” của Cao Duy Thảo xuất hiện.
Đã có “đỉnh” để trao. Nhưng khi bỏ phiếu, tác phẩm này chỉ về nhì. Nhiều người
lý giải, nếu truyện ngắn đó có nhân vật chính là anh bộ đội sẽ được Giải Nhất. Nhà văn Cao Duy Thảo Nhưng trong Thời gian, nhân vật chính là người mẹ – một người
mẹ trên hành trình tìm kiếm sự thật về người con trai duy nhất của mình – song
mới chỉ nhận được nửa đáp số thì qua đời. Cũng dễ thông cảm cho cách giải thích
đó. Vì tiêu chí của cuộc thi là phát hiện vẻ đẹp của Anh Bộ đội Cụ Hồ. Nhưng, từ xưa đến nay, không phải kết quả cuộc thi nào cũng
chính xác, nhất là những cuộc thi văn chương, nghệ thuật. Chỉ biết rằng, truyện
ngắn “Thời gian” của Cao Duy Thảo luôn xác định chỗ đứng vững vàng trong trái
tim bạn đọc. Câu chuyện kể về một bà mẹ, sau giải phóng, bị ám ảnh về tin
đồn, đứa con trai độc nhất của mình, đã chiêu hồi. Bà đau ốm triền miên. Bỗng một
hôm, bà nhận được tin, người ta tìm thấy hài cốt một người lính. Trong số những
di vật, có chiếc đồng hồ Seiko. Bà nhận ra, đó là chiếc đồng hồ mà bà mua tặng
con trai. Và khi bà cầm chiếc đồng hồ lên, kỳ lạ thay, chiếc đồng hồ vẫn chạy.
Chỉ riêng chi tiết này, chứng tỏ nhà văn Cao Duy Thảo là người rất giỏi sử
dụng chi tiết. Khi xem phim “Đàn sếu bay”, có cảnh, bom Đức ném xuống những
ngôi nhà Moskva. Trong đống đổ nát, chiếc đồng hồ treo tường vẫn chạy. Thầy giáo
Nga của tôi dạy môn phân tích phim, bình một câu đích đáng: “Chiến tranh có thể
phá hủy mọi thứ, nhưng không bao giờ tàn phá được thời gian”. Trở lại chuyện bà mẹ, nghĩa là con bà hy sinh chứ không chiêu
hồi, không phản bội. Bà lặng lẽ qua đời với niềm tin như thế. Đó là một cách để phản ánh “chủ nghĩa nhân đạo”
trong chiến tranh. Nếu một bà mẹ đang ốm, đồng đội về báo tin, con trai bà hy
sinh anh dũng, có thể làm bà mẹ đau lòng. Nhưng bà tự hào con mình làm tròn
nghĩa vụ với Tổ quốc. Nhưng nếu nói sự thật, con trai bà hy sinh vì một lý do
nào đó, như sốt rét, hoặc chết đuối… thì bà mẹ lòng đau như cắt. Nhưng nhà văn Cao Duy Thảo không dễ dãi kết thúc tác phẩm của
mình như vậy. Ông đẩy câu chuyện đi xa hơn. Còn một bước ngoặt mới. Trong cái
đêm hành quân đó, đứa con trai của bà, đã đưa chiếc đồng hồ đó cho người chỉ
huy. Và anh này đi đầu. Đoàn quân lọt vào ổ phục kích của địch. Cả đoàn hy
sinh. Nhưng có hai người mất tích. Đó là con trai bà và một người khác. Không
ai biết họ đi đâu. Cái tầng sâu của câu chuyện nằm ở đây. Đi tìm sự thật chiến
tranh hay sự thật về con người là cuộc hành trình không bao giờ kết thúc. Các
nhà văn, dù trong hay sau cuộc chiến, không bao giờ có thể đi đến tận cùng của
vẻ đẹp này. Đó là cuộc tìm kiếm vô tận. Kể câu chuyện này chỉ để nhấn một
điều: nhà văn Cao Duy Thảo là người lao động nghệ thuật nghiêm túc. Ông yêu câu
chuyện, yêu nhân vật, xây dựng cấu trúc truyện có chiều sâu. Ông khác nhiều người
viết cùng thế hệ. Họ viết nhanh, viết nhiều nhưng ít để lại ấn tượng như mong
muốn. Nhà văn Cao Duy Thảo (thứ 4 từ trái
sang) cùng các bạn viết tại chiến trường Khu V Nhà văn Cao Duy Thảo đúng là người “một chốn bốn quê”. Tuổi
thơ ở Phù Cát, Bình Định. Năm 12 tuổi, xuống tàu, tập kết ra Bắc như ai. Dù xuống
tàu chỉ có một thân một mình. Ra Bắc, học trường nội trú học sinh miền Nam. Hơn
mười năm lớn lên trên đất Bắc, mơ ước thành nhà văn. Năm 1966,
ngoài 20 tuổi, chàng trai Cao Duy Thảo vừa tốt nghiệp Trường Điện ảnh Việt Nam,
ngành Biên kịch, xin về Nam. Ông trưởng thành ở chiến trường khu V, hoạt động
chủ yếu ở Quảng Nam. Rồi mười năm ở chiến trường cũng trôi qua. Khi miền Nam giải
phóng, ông định cư tại Nha Trang. Nhìn vào tiểu sử không gian của nhà văn, có thể nhận thấy,
quê hương sáng tác của ông chính là những năm tháng ở chiến trường miền Trung.
Nhưng con người, những bối cảnh ở miền núi, đồng bằng, vùng biển hay cao nguyên
miền Trung, liên tục trở đi trở lại trên những trang viết của ông. Ông như cái
cây, bén rễ sâu nơi này. Hương vị của đất đai miền Trung Trung bộ, vẻ đẹp chất
phác của con người “Nam-Ngãi – Bình – Phú – Khánh Hòa” luôn mặn mòi trong các
truyện và ký của ông. Có một chuyện nhỏ. Hồi chuẩn bị đi Nam, Cao Duy Thảo cùng nhiều
người được lệnh tập trung tại một đơn vị. Ngày thì đeo ba lô đầy gạch, đi bộ
qua các phố, luyện vượt Trường Sơn. Đêm thì xem toàn phim Trung Quốc. Chàng
trai Cao Duy Thảo học điện ảnh nên sớm nhận ra những sự tuyên truyền quá mức
trong phim, nên cùng vài người nữa “hưởng ứng” bằng tràng vỗ tay trêu chọc. Kết
thúc đợt tập trung, trong danh sách đi chiến trường, không có tên anh. Người
Cao Duy Thảo bừng bừng như lửa. Vừa tức vừa xấu hổ. Khi đó, không được đi chiến
trường, khác nào kẻ đào ngũ. Về đơn vị cũ, không dám. Ai cũng nghi ngờ, cho
mình yếu tinh thần hoặc hèn nhát. Không chịu chấp nhận số phận, chàng thanh niên quyết định đi
bộ, xông thẳng đến nhà vị cán bộ phụ trách việc đưa cán bộ đi Nam. Anh phân
tích cho vị cán bộ kỳ cựu: đi chiến trường, đánh nhau, địch chết nhiều, dễ như
trong phim, thì cả nước kéo nhau đi hết từ lâu rồi! Vị cán bộ nhận ra, đây là một
con người, ngoài trái tim đầy nhiệt tình cách mạng, còn có một cái đầu trĩu nặng
suy tư. Có lẽ, cái tên Duy Thảo cũng trùng hợp với câu nói của Pascan: “Tôi là
một cây sậy, nhưng cây sậy biết suy nghĩ”. “Duy” có nghĩa “suy nghĩ”; “Thảo” có
nghĩa cây cỏ. Vị cán bộ tìm cách làm dịu nhiệt huyết của chàng trai bằng cách,
sắp xếp để anh đi đợt sau. Và trong đợt này có bác sĩ Đặng Thùy Trâm, người anh
hùng sau này. Thực tế hơn chục năm ở chiến trường của Cao Duy Thảo là một
khối vàng nguyên chất. Khối vàng này lại đặt trong mỏ vàng lớn là miền Trung với
bao địa danh nổi tiếng, bao con người với tính cách sắc nét như khảm vào đá. Có
một quê hương sáng tác như vậy là một hạnh phúc không dễ ai có, không gì sánh nổi
đối với ông. Nhìn vào đâu hay đi đâu, quanh nhà văn đều có những câu chuyện, những
con người đáng viết. Nhiều người nói, thực tế như vậy, nhà văn đâu cần tưởng tượng,
cứ thế viết. Nhưng đối với Cao Duy Thảo, sự việc chỉ mang tính truyền thông. Để
câu chuyện có chiều sâu, ông khai thác bối cảnh câu chuyện, tình huống diễn ra
và đặc biệt, đào sâu những ý nghĩ, tâm tư của nhân vật. Vì vậy, khi đọc truyện
hay ký của ông, người đọc vẫn được thưởng thức những vẻ đẹp nhân văn của câu
chuyện, của nhân vật. Cao Duy Thảo là người nói không nhiều, nhưng khi nói, ông
luôn đưa ra những lời chắc chắn. Gốc Bình Định, ông không nói nhanh và nghĩ
nhanh như nhiều người xứ Quảng. Nhưng bù lại, ông luôn có sự suy nghĩ sâu sắc.
Gương mặt ông luôn hồn hậu. Từ đó tỏa ra ánh sáng của lòng tin. Gương mặt đó
luôn tươi sáng, tỏa vẻ đẹp của sự suy tư, chiêm nghiệm. Giọng nói ông chậm
nhưng rõ ràng, khúc chiết. Con người ấy sống tự lập từ nhỏ nên luôn nuôi dưỡng
trong lòng nghị lực tự vươn lên. Như cái cây luôn đứng thẳng, đón lấy những gì
đẹp nhất của cuộc sống. Là người sống kỹ và sống chậm, Cao Duy Thảo luôn nặng lòng với
ơn nghĩa cuộc đời. Ông biết ơn Trần Tiến (Chu Cẩm Phong) dạy ông làm nương
trong những năm gian khổ; ông cảm phục, thương tiếc nữ diễn viên múa Thảo
Phương ngã xuống chiến trường; ông đau xót khi Dương Thị Xuân Quý hy sinh, để lại
đứa con còn nhỏ đã mất mẹ… Tôi rất thích câu chuyện ông kể về cái Tết ở quê
Bình Định. Dẫu xót xa, đắng đót, nhưng bao trùm lên vẫn là tình cảm. Và trái
tim ông cảm nhận sức bền của quê hương, sức bền của thời gian, mãi mãi, vẫn là
sự chịu thương chịu khó của đất đai và cây cỏ – những người phụ nữ thương yêu.
Mời các bạn thưởng thức đoạn văn rất đẹp của nhà văn Cao Duy Thảo trong
bút ký “Chuyện quê”: “… Đã tới giờ đứa cháu gái đứng lên mang con trao cho
bà ngoại rồi lặng lẽ quay ra hãm lửa chuẩn bị vớt bánh. Âm thầm như chiếc bóng,
cháu gái tôi suốt ngày luôn tay luôn chân với công việc, chẳng mấy khi chịu mở
miệng với ai. Ai cũng bảo số phận cháu tôi kém may mắn: Lớn lên trong cảnh
không cha lại ít học, ngay từ nhỏ đã quen gánh vác việc nhà. Có dạo cháu được
xã cho lên huyện học lớp bổ túc văn hóa tập trung theo tiêu chuẩn con liệt sĩ,
tưởng đâu lần ấy sẽ được đổi đời, học xong có thể học thêm lên nữa hoặc tìm được
việc làm giữa nơi thị thành. Nhưng có trời biết chuyện gì xảy ra: Mãn khóa, người
ta thấy cháu lù lù quay về làng rồi vướng vào chuyện tình với một anh chàng mỏng
mép góa vợ có con riêng. Phải lấy nhau khi sự việc đã tới hồi không thể dừng lại.
Ít lâu sau cháu gái tôi sinh con đầu lòng, lúc vượt cạn chỉ có mẹ đẻ ở bên cạnh.
Từ khi có người lo toan việc nhà, thằng con rể của chị Hai đi biền biệt, nghe
nói hắn bị ma dẫn lối sa vào các chiếu bạc, thỉnh thoảng có đảo về cũng chỉ để
vòi tiền hoặc đã say mèm. Thế là tất cả gánh nặng của nhà chồng cứ nhè đôi vai
người mẹ trẻ trút xuống. Không thở than, không giận hờn, cháu tôi lúc cực quá
chỉ còn biết chạy về nhà mẹ đẻ ngồi một đỗi lấy hơi, ráo mồ hôi lại đứng lên
làm tiếp những việc bỏ dở… Bánh đã vớt ra nia, bốc hơi nghi ngút. Mùi bánh chưng, bánh
tét lan tỏa khắp mảnh vườn. Tôi xuống võng, bước lại chỗ đứa cháu gái, nói nhỏ: – Giờ này cháu nên về qua nhà một chút. Bánh trái để lại đó
cho chú! Một tiếng “dạ” như gió thoảng. Trước ông chú nghiêm trang,
tôi thấy cháu tôi hơi cúi mặt xuống giấu một nét cười. Hẳn cháu chưa bao giờ
nghe ai nói với mình một câu như vậy? Qua đứa cháu trong dòng họ, tôi chừng như
nhận ra cái phần chung nhất của những phụ nữ quê tôi. Họ chính là những gì khiến
ta thương cảm và khâm phục, phẩm hạnh của họ thể hiện ở sự chịu đựng, tận tâm cứu
vãn và hy sinh… Theo tục xưa tôi cẩn thận ngồi xuống cời những hòn than đỏ
vùi lại trong tro để giữ lửa. Mà giao thừa cũng đã đến rồi!…”. 2/2/2021 Đoàn Tuấn Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét