Xa Xôi Thôn Ngựa Già
- 1 -
Seo Ly, kẻ khuấy động
tình trường
Cửa sổ gác hai nhà anh
giáo Vàng Seo Tống nhìn xuống đường phố chính huyện lỵ M, một tỉnh miền núi xa
xôi. Đường phố huyện lỵ heo hút này thì có gì mà đáng nói, ngoài phân ngựa khô,
phân ngựa tươi và lũ chó lười, khi đùa phỡn, khi ngủ trong nắng hanh vàng vắng
ngơ. Thành ra thu hút cái nhìn của con mắt cửa sổ trổ trong bức tường xăm đá
nhà Tống phải nói chính là cái tòa nhà đối diện với nó. Bốn cây cột đá tròn dựng
nơi tiền sảnh, đội cả một tảng đá lớn trên khắc những chữ Tây cho đến năm ngoái
khi ông đội Tơ ở phố này hai năm mươi, thì chẳng còn ai hiểu nghĩa nó là quái
quỷ gì, ngoài cái ấn tượng mông lung về một dĩ vãng rất sơ sài và buồn tẻ. Qua
tiền sảnh, bước vào một cái sân gạch đỏ như son, chưa kịp gột rửa cảm giác ngợp
choáng vì lạ lẫm, khách liền rơi vào tâm trạng tự ti vì thấy quá bé nhỏ so với
ba lớp nhà hai tầng vây kín, chế ngự cả khoảng trời xanh bao la trên đầu. Hành
lang nối hành lang. Các vòm cửa đắp nổi hình lá nho và con dơi, cùng các mặt
sàn lát gỗ lim đen bóng với lò sưởi xây, đem lại cho dinh thự một phong cách
châu Âu xa lạ. Nhưng, nhìn hàng tường mặt tiền tòa nhà thao láo các lỗ châu
mai, và phía sau, một lô cốt quét vôi vàng cao vọt lên, khách nơi xa đến lại
nghĩ nó chính là một trại lính khố xanh, khố đỏ còn sót lại từ thời xứ này thuộc
quyền của đạo quan binh thuộc địa thứ tư. Muốn gì thì gì, tòa nhà này cũng là một
công trình bền vững, còn lại với thời gian và mang dấu vết thời đại rõ rệt nhất
ở trong vùng. Tòa nhà trơ như đá, vững như đồng, thi gan cùng tuế nguyệt. Sau
Pháp là Nhật, sau Nhật là Quốc dân đảng. Sau Quốc dân đảng là tên tuổi các thổ
ty chúa đất lừng danh, và bây giờ, đóng trụ sở tại đó là ủy ban nhân dân, chính
quyền công nông của các dân tộc Mèo huyện nhà.
Khoảng tháng này, quanh
cái bàn nhỏ của anh giáo Tống kê gần cửa sổ nọ, Tống có thêm hai người bạn trẻ.
Một là bác sĩ Ngôn hai mươi chín tuổi, chưa vợ, đeo kính cận, điển trai, tiêu
biểu cho lớp đàn ông ưa phiêu du lãng mạn. Một người là Quốc, một gã trai mới
hai mươi nhăm, lùn, vập vạp như đô vật, rất phù hợp với cái nghề kỹ sư nông
nghiệp mà anh ta đang dấn thân. Khác với Ngôn, Quốc khô khan, lý tính rõ rệt. Hắn
có thể lội ruộng cả ngày. Và đếm quả đậu tương trên các khóm cây nọ ở ruộng thí
điểm không bao giờ chán.
Họ chơi với nhau, thân với
nhau vì cùng sinh hoạt một chi đoàn. Nhưng sự liên kết về chính trị thật tình
cũng chỉ là bước khởi đầu, một cái cớ bề ngoài. Cốt lõi của sự thân thiết là
tuy khác nhau lắm lắm về phong độ, tính tình, cả ba đều thấy ở nhau một điểm
tương đồng đặc biệt: ấy là sự đam mê, sự sống tận lực, hết mình với cái mà họ
yêu quý, tôn thờ. Tuy nhiên, thúc đẩy họ đến đây lại từ một lý do vừa tầm thường,
vừa cao cả, nhưng cụ thể và giản đơn hơn nhiều. Cuối cùng thì Ngôn nhìn hai bạn,
đắc chí nói rằng: Suy ra thì đối với cái đẹp, đối với người đẹp, một ông kỹ sư
xuất thân chân đất, một gã tiểu tư sản thành thị và gã trí thức Mèo gốc là Tống,
khác nhau quá lắm cũng không hơn sự khác nhau giữa con chó giữ nhà và con chó
đi săn.
Đợi cho Quốc giãn cái mặt
hay nhăn nhó vì Ngôn phải chua thêm rằng đó là ý kiến của Phrêđêrích Ăngghen mà
hắn đã đọc, đã ghi nhớ từ lâu rồi, Tống mới nhoẻn cười, vào đầu câu chuyện:
- Tôi cam đoan với hai
bác rằng, cô ấy là phụ nữ Mèo đẹp nhất mà tôi đã thấy. Tất nhiên là theo mắt
tôi, mắt của kẻ đã thấy chín mươi chín ngọn núi, chín mươi chín con suối và
chín mươi chín rừng đào.
Quốc chọp chẹp đôi môi
dày, chen ngang:
- Cái đẹp, theo tôi, có một
cái khung thẩm mỹ, rất rộng. Một người đẹp. Một khu đồng đẹp. Một khóm đậu
tương đẹp. Cái đẹp một khi dâng hiến cho con người thì nó mang nhân tính.
Tống giơ tay, hồn nhiên,
đầu lắc lắc:
- Tôi chưa nói hết. Tôi
đã có dịp quen biết nàng. Nàng đẹp khác thường lắm. Toàn bộ dân ca Mèo nói về
người con gái đẹp tôi thuộc cả. Hàng nghìn câu. Nhưng chưa đủ đâu. Lạ lắm, thực
đấy mà huyền hoặc đấy. Nói không được mà chỉ cảm được thôi. Thôi, tôi không đủ
lời đâu. Kìa, nàng đã ra! Hai bác cứ mục sở thị, rồi hãy phát biểu ý kiến!
Tống ngắt lời đột ngột.
Nhưng, lẽ ra phải nhường bạn, thì anh giáo Mèo hai mươi tám tuổi này lại sấn
lên, cả tấm thân phương phi của anh, chỉ lui lại, nhường chỗ cho bạn, khi Ngôn
lấy tay kéo mạnh thắt lưng anh.
Sáu con mắt nhường nhịn
nhau, khéo léo lắm mới đủ chỗ để phóng chiếu sáu luồng sáng sang tiền sảnh tòa
công sở đối diện.
- Seo Ly! Seo Ly!
Cả hai gã trai người Kinh
cùng bật tiếng, kêu kinh hoàng và sung sướng, rỗi như hai con gà chen nhau ra cửa
chuồng, hai gã huých vai thúc khuỷu nhau để giành nhiều không gian hơn trước
khung cửa sổ nhỏ.
Không còn là một thiếu nữ
măng tơ, không, hoàn toàn không còn là măng mới nhú, trăng mới mọc, nụ mới hé.
Seo Ly đã là một thiếu phụ viên mãn trọn vẹn. Vóc dáng nàng đã thuần thục, đã nảy
nở hết độ. Mỗi chi tiết trên cơ thể nàng đã được đào thải, gạn lọc, chọn tuyển
và bây giờ định hình như những tuyệt phẩm của tạo hóa. Nổi bật trên cơ thể nàng
là khuôn hình eo hông mượt mà và bầu ngực tràn trề sinh lực phồn thực, chúng uyển
chuyển khi nàng bước đi. Và cùng hòa phối với chúng, mắt nàng biếc xanh màu núi
lung liêng, môi nàng hé mở đầy vẻ mời mọc, gợi tình. Nàng là sản phẩm chín nục
của yêu đương mê mệt, của đàn ông háo sắc và các cơn đắm dục chứa chan.
Nhô cao cái cổ như một cọng
hoa ra khỏi lớp vòng bạc sáng choang, nàng hơi nheo mắt nhìn cảnh sắc ngoài trời.
Ánh nắng sớm lúc chín giờ, thời điểm đẹp nhất của một ngày, hắt vào hiên gặp sắc
đá xanh, tạo nên một hiện tượng giao thoa kỳ ảo. Và nàng, rõ ràng đường nét da
thịt, rõ ràng bụng tròn lưng nở như một thực thể đàn bà, mà thần thái lại quái
kiệt yêu kiều, như từ huyền thoại cổ tích đi ra.
Trước hết là những con ngựa.
Cả một bầy vài chục con buộc ờ dãy cột chôn hai bên của công thự nọ, đang gật
gù u oải, lập tức thoát ra khỏi trạng thái lờ đờ, khi nàng vừa bước xuống bậc
tam cấp, đi đến cạnh chúng, chúng cùng nhất loạt hểnh mũi, hếch mông, ngoáy
đuôi, rung bờm và hí rộn như những tiếng khèn. Nàng xòe ô và âu yếm nhìn bầy ngựa.
Tống thầm kêu:
- Nàng đẹp và kiêu hùng
như một con gà sống thiến!
Ngôn choáng váng:
- Thật là một sắc đẹp mê
hồn. Một trang tuyệt thế giai nhân đầy sức cám dỗ. Một nhan sắc phi phàm, huyền
bí và chết người!
Quốc câm lặng. Hắn như bị
cấm khẩu. Xưa nay hắn chỉ quen mô tả hạt lúa, hạt đậu, cùng lắm là con sâu cắn
rễ đậu, con rầy nâu hại lúa. Hắn bí từ.
Seo Ly, trang tuyệt sắc xứ
Mèo quê ở một làng nhỏ kiệt cùng của thế giới, nơi ngõ hẻm của vũ trụ, trên đỉnh
núi Fansipan mới về làm việc ở ủy ban nhân dân huyện. Sắc đẹp và tên tuổi nàng
từ lâu đã lưu truyền và trở thành một trong những truyền kỳ đặc sắc nhất trong
vùng. Giàng A Páo ba mươi lăm tuổi, sức vóc vác nổi một con ngựa hai tuổi, là
chủ tịch huyện, nhân một lần về thăm vùng lúa mì thí điểm trên bản Y Tí quê Ly,
gặp Ly liền tì đầu gối ký quyết định tuyển nàng ngay về làm nhân viên cơ quan
hành pháp tối cao của huyện nhà. Tư chất nàng, vẻ đẹp của nàng đáng đặt nàng
vào những ngôi vị sang trọng nhất trong thang bậc xã hội này. Xoàng ra, nàng
cũng có thể làm phó chủ tịch, làm ủy viên ủy ban phụ trách văn xã, hoặc diễn
viên văn công. Tiếc thay nàng mới võ vẽ biết đọc và chẳng có năng khiếu gì. Chủ
tịch Páo quát: “Làm sang cái cơ quan ủy ban mà không đáng giá à!”. Nói vậy
thôi; chứ thiếu gì việc. Cuối cùng; êm thấm nhất; nàng giữ chân văn thư đưa gửi
và tiếp nhận công văn. Và như vậy, ngày hai lần, sáng là chín giờ và chiều là
hai giờ, nàng giương ô, rời văn phòng với cái túi nhỏ trên vai đi tới trạm bưu
điện ở cuối phố và lát sau, từ đó nàng trở về. Đi năm trăm mét. Về năm trăm
mét. Quãng đường đủ để Ngôn bám gót và biến ngay thành một gã si tình.
Chả ngày nào gã bác sĩ
không theo đuổi nàng. Thoạt đầu thì khoảng cách còn rộng. Sau thu hẹp dần. Và
càng lúc hắn càng sôi sục, càng mê muội, càng giống một kẻ ở trạng thái thăng đồng.
Giọng ngào ngạt, hắn nói:
- Làm sao mà có thể sống
bình thường khi ở gần nàng được nhỉ? Nàng tỏa ra một từ trường lôi cuốn. Nàng
hút hồn tôi. Nàng thôi miên mỗi chi tiết trên phố xá! Con ngựa tỉnh ngủ. Cái cối
đá tự quay. Cả lớp rêu xanh màu kim khí bám trên bờ đá cũng khởi sắc. Tôi đứng
bên nàng như đứng giữa hai cực đối lập: sự hiện hữu cụ tượng và tính phi thực của
đời sống. Nhưng, Tống bảo sao? Nàng đã xấp xỉ tuổi bốn mươi? Tôi không tin!
Khuôn mặt bầu bĩnh đờ ra,
lát sau Tống mới lẩm nhẩm:
- Khi tôi còn bé, chưa
qua tuổi mụ, tôi đã nghe mẹ tôi nói, ở Y Tí có một người phụ nữ đẹp như tiên.
- Hay là mẹ nàng?
- Không! Chính là nàng.
Anh có biết ông quét chợ Mã Đại Khương không? chính ông ta nói ông ta có lá số
tử vi của nàng. Nàng mệnh vô chính diệu đắc tam không, lẫy lừng lắm. Nàng sinh
năm Tuất, năm nay gần bốn mươi là phải rồi.
Giữa đối thoại say mê của
hai bạn, gã kỹ sư lùn ngồi như bụt mọc. Gã ít lời. Nhưng có trời hiểu được
trong óc gã đang xảy ra chuyện gì. Liệu trong giấc mơ toàn thấy những đậu, ngô,
khoai và sâu bọ, gã có thấp thoáng hình bóng giai nhân?
Là kẻ duy cảm và duy mỹ đến
cùng, Ngôn dấn thân lao vào cuộc phiêu lưu ái tình. Viên bác sĩ trẻ ngẩn ngơ cả
người khi nhận ra điều kỳ lạ là từ thân thể người phụ nữ nọ, tiết ra một làn
hương thơm phảng phất mùi hương xạ. Tra cứu các sách vở y học, hắn không tìm thấy
lời giải đáp. Hắn đọc các sách cổ thì thấy có nói đến loại người phụ nữ đặc biệt
này. Lại thấy có câu: Mỹ nhân hơn hoa là nói. Hoa hơn Mỹ nhân ở chỗ tỏa hương.
Liền mừng húm vì thấy nàng được cả hai.
Ngôn tìm đến người quét
chợ. Lão quét chợ bằng tuổi bố Ngôn. Y miệng méo, chân khoèo, tay lệch, dáng đi
ngật ngưỡng, kiểu người tiên thiên bất túc. Thần xác tật nguyền ấy là hệ quả của
một đời sóng gió, lăn lóc bất tận trong tranh đấu và trường tình. Đến đất này,
khi y là sư phó một sư đoàn Quốc dân đảng. Nhưng y đã vứt lại tất lon tướng,
ngù vai và kiếm lệnh để ở lại với một mụ đàn bà bán bánh bao người Hoa lai Việt.
Y bảo: “Seo Ly thuộc loại yêu phụ, loại này mắt sáng trắng, như mắt quạ, ngày đừng
hòng chạm đến da thịt nó, nhưng từ ba giờ sáng thì tha hồ vần vò”. Lại có lúc
như một kẻ sở đắc vì đã từng trải, y than: “Hồng nhan bạc mệnh! Nàng là số phận
của cái đẹp ở trên đời!”. Rồi nghêu ngao bỡn cợt ngay sau đó:
Mày đẹp thì mày phải lo
Đêm nằm khối kẻ rình mò ước
ao
Xấu xí như mẹ con tao
Đêm nằm mở cửa, sướng sao
cho đành!
- Cả thằng quét chợ ấy nó
cũng mê Seo Ly rồi. Khốn nạn! Nó còn nói được ngủ với nàng một đêm rồi chết, nó
cũng cam lòng. Thật là một tên cường bạo!
Một hôm, Ngôn đã rít lên
như vậy với vẻ cuống cuồng và nỗi sự hãi đờ đẫn cả người. Sau đó, Ngôn gần như
biến mất dạng. Ít lâu sau, trên cái bàn kê gần cái cửa sổ nhỏ nọ chỉ còn lại Tống
và anh chàng kỹ sư lùn. Cả hai cùng buồn rầu vì cái tin Ngôn đã bị đưa xuống hạ
phóng ở các vùng thấp dưới bờ sông Chảy trong chiến dịch phòng chống bướu cổ của
huyện.
- Tại ông Páo!
Tống nói, Quốc lắc đầu:
- Tại nó. Nửa đêm nó gõ cửa
buồng Seo Ly. Nhưng, nó ngồi nói chuyện đàng hoàng. Mà thật ra, cũng chẳng tại
ai hết. Khung thẩm mỹ vốn rộng. Ta có thể yêu một khu đồng xanh tươi, một khóm
đậu, vì vẻ đẹp của chúng mang nhân tính.
Viên kỹ sư chân đất ngắt
lời, không trình bày hết lý thuyết về khung thẩm mỹ vốn rộng, móc túi vứt lên
bàn một tập giấy nhàu nát, mặt bỗng hí hởn như trẻ con được quà:
- Đọc thử Tống nghe vài
bài thơ tình nhé.
Ôi trời! Giữa những trang
giấy tô xóa nhằng nhịt các công thức, các hình vẽ sâu bọ và mô tả cây đậu, là
những bài thơ phác thảo:
Sau giấc mộng lòng ta như
chiếu trải
Mưa chưa hết nước, lòng
ta như suối reo
Hoa chưa nở, ớt trong vườn
đã chín
Bếp lửa hồng, ngọn lửa bốc
như treo.
Buổi sáng ấy là thời điểm
hệ trọng. Với sự phụ giúp thêm của hai lít rượu bắp, phố huyện đã xuất hiện hai
nhà thơ. Tống hát nhại các bài dân ca tình yêu. Còn Quốc thì như một hiện tượng
đột xuất của thiên tài. Xưa nay, theo quan niệm phổ thông, để trở thành nhà thơ
đâu có khó. Chỉ cần thuộc một ít ca dao tục ngữ và trong lòng có hỏa diệm sơn
tình cảm. Gã kỹ sư đổng quê giàu có cả hai phương diện đó. Và gã vừa đọc thơ của
mình, vừa nhận ra Freud quả là một bậc thầy có một không hai về khoa học phân
tâm học: chính gã đã dồn nén, tích tụ, chứ không phát tiết ra mắt ra miệng, như
Ngôn bác sĩ, và bây giờ thăng hoa thành thơ ca.
Mặc dầu, bốc lên tận mầy
xanh buổi sáng ấy, cả hai vẫn không quên ngó qua cái cửa sổ nọ như nhòm vào
kính chiếu yêu để soi tìm bóng mỹ nhân. Điều lạ là, cả ngày hôm đó, cả ngày hôm
sau, và tiếp đó, họ đểu không thấy Seo Ly ra vào...
Seo Ly không còn là nhân
viên văn thư của ủy ban huyện nữa. Nàng không thạo việc, chữ nghĩa quá ít ỏi,
công văn giấy tờ nàng giao nhận nhầm lẫn lung tung. Đó là một lý do. Lý do nữa
là ông Páo sợ mất phiếu trong kỳ bầu cử chủ tịch tới. Đây đó đã có lời đàm tiếu:
Chủ tịch mê tít cung thang Seo Ly, đêm nào cũng xuống buồng cô trò chuyện, lại
có người nhìn thấy ông thơm vào má nàng. Và, đáng trách hơn nữa, như dư luận
xôn xao, trong việc ông đưa Ngôn đi xuống các xã vùng thấp tham gia chiến dịch
chống bướu cổ rõ ràng là có tác động của cơn ghen tình ái ngấm ngầm. Tuy vậy, tất
cả củng vẫn chỉ là lý do phụ. Cái chính là sự quyết định của bí thư huyện ủy Cư
A Tráng. Tráng là bí thư huyện trẻ, mới ba mươi hai, mặt mũi sáng sủa, tính
tình hoạt bát, quyết đoán. Một lần sang ủy ban huyện họp, thấy mặt Seo Ly, liền
sững sờ rồi nheo mắt, nhăn trán, cả buổi họp khác hẳn mọi ngày, chẳng mở miệng
nói nổi một câu. Nhưng, hôm sau, có tờ quyết định từ huyện ủy gửi sang: Nay điều
đồng chí Seo Ly về công tác ở cơ quan huyện Hội Phụ nữ. Bấy giờ, từ chủ tịch
Páo tới anh chăn ngựa ở cơ quan, mới ngã ngửa người ra vì bất ngờ và tức tối!
Bí thư Tráng quả là có
con mắt tinh đời. Thiên nhiên được đánh thức bằng sự bừng nở bất ngờ của hoa.
Cơ quan huyện hội xưa nay không có thì thiếu, có thì thừa, vốn vắng tanh vắng
ngắt, nay như có cuộc bùng nổ về khách khứa vào ra.
Người cũng như vật trang
trí trong nhà, xếp đúng chỗ mới nổi hình nổi sắc. Tiếp theo phát hiện của ông
Tráng là sự khám phá liên tục của các nhà báo tỉnh. Hóa ra không phải chỉ là chụp
được những tấm hình đẹp. Trung thành với quan điểm nội dung là cái quyết định,
họ xuyên qua lớp hình thức hời hợt bao bọc bên ngoài, tìm đến cái cuộc đời bên
trong của người phụ nữ này. Và họ đã sung sướng đến phát rồ. Họ đã có cả một
kho để tài. Seo Ly thật là một điển hình của một cuộc đời phụ nữ Mèo bị vùi dập
trong thung lũng đau thương, nhờ ánh sáng cuộc đời mới, nay đã nở hoa trên đỉnh
non xanh thắm. Tiểu sử của nàng, chỉ nàng là không hay biết, vì nàng không biết
đọc, được tất cả các cấp lãnh đạo thuộc làu. Mười ba tuổi nàng là con dâu gạt nợ.
Khổ sở quá, nàng bỏ nhà chổng, và làm gái gầu phàng ăn ở không công ở nhà lý
trưởng. Rồi nàng lại bị gả bán lần thứ hai. Rồi lần thứ ba. Biết bao ê chề, đau
đớn nàng đã trải qua trong thời ly loạn, lúc trời thảm đất sầu, khi mặt đất chỉ
là máu và nước mắt.
“Seo Ly, bông hồng rừng
thơm ngát”. “Hòn ngọc nơi biên ải: Seo Ly”. “Người đẹp huyện xa: Seo Ly”. “Seo
Ly, một cuộc đổi đời”. “Seo Ly - trà hoa nữ”. “ Seo Ly, hoa hậu xứ Mèo”. “Seo
Ly - chứng nhân lạc quan của lịch sử bi hùng”. Liên tiếp trên các trang báo tỉnh
và trung ương là các bài viết về nàng. Sau các bài báo là thơ. Có đến một chục
nhà thơ chưa hề đến đất này mà lại có thơ về Seo Ly, tặng Seo Ly. Đến nỗi thi
sĩ huyện lẻ, kỹ sư canh nông Quốc uất tức, phải nghiến răng ken két: “Toàn là bọn
nhà thơ rởm. Họ có sự dồn tích và khai phóng, thăng hoa như ta đâu!”.
Seo Ly thực sự đã bước
sang một khúc ngoặt mới của đời người. Nàng được bổ sung vào Ban chấp hành huyện
hội. Đại hội năm sau nàng trở thành phó chủ tịch. Rồi nàng vào Đảng và hết kỳ dự
bị thì được bầu làm ủy viên dự khuyết huyện ủy.
Là kẻ có công đầu phát hiện,
nay thấy Seo Ly thăng tiến vậy, lẽ ra ông Páo phải vui lắm. Nhưng trái lại, ông
cứ lì lì. Có anh kích ông: “Tiếc công đắp đập be bờ...”. Ông cũng im thít. Chỉ
có rượu mới cậy được miệng ông. Ông đập đít chén, chửi:
- Chung cào nả (1), thằng
Tráng khôn quá con cáo!
Bạn rượu hỏi. Ông hất hớp
rượu vào họng, chép môi:
- Uống rượu thì cả hai thằng
cùng say chứ, sợ gì!
Khẩu khí như vậy chứng tỏ
ông Páo coi xoàng ông Tráng. Mà cũng phải. Đồng tuế, đổng khóa. Thuở còn đi học
trường Đoàn, đêm đêm rủ nhau đem sáo đến thổi ở đầu hồi nhà mấy bà góa, bị chó
đuổi cắn rách ống quần, như nhau thôi. Có gì mà lạ nhau, đằng sau cái áo chức vị
nhỉ?
Đùng cái, một đêm xuân nọ
cây cỏ trở giấc hứng tình vì ngọn gió ấm, phố huyện đang mơ màng, bỗng bật hồng
huyên náo như có giặc cướp.
Từ trên căn gác của mình,
nhìn xuống, Tống thấy một đám đông ba bốn chục người đèn đuốc ầm ĩ từ phía cơ
quan huyện ủy kéo xuống. Trung tâm đám người là ông Tráng, tay bị trói quặt ra
sau, mặc độc cái áo chàm, hai ống chân trần đầy lông đen. Quanh ông tua tủa
súng CKC của dân quân. Ông Tráng ngơ ngác: “Ơ kìa, tôi sang buồng cô ấy xin tí
dầu xoa. Tôi đau bụng mà”. Gã quét chợ trong đám đông vây quanh, hoa chân múa
tay vẹo miệng khoái trá, cất giọng véo von: “Dù cho trăm khéo ngàn khôn. Đến cửa
nhà l. bảy vía còn ba! Há! Há!”.
Kẻ nào dám đứng ra tổ chức
rình bắt quả tang ông Tráng trong cảnh huống trai trên gái dưới với Seo Ly?
Không nói, ai cũng biết.
Phải là tay có thế lực lắm mới điểu động được cả tay súng dân quân tham gia việc
này. Không nói nhưng ai cũng biết thừa tên tuổi kẻ đa mưu túc trí và thần thế
nghiêng trời lệch đất chủ mưu sự việc động trời này! Biết, nhưng chả ai nói ra!
Nói làm gì!
Ông Tráng bị cách chức bí
thư huyện ủy. Chủ tịch Páo từ nay kiêm luôn cả nhiệm vụ nọ. Nhưng được hơn một
tháng ông Páo cũng giữ không nổi chức vụ vinh quang ấy. Không phải vì ông kém cỏi,
định ra chủ trương sai lầm hay là hữu khuynh, cứ để mặc dân trồng lén cây thuốc
phiện. Mà là vì ông giẫm vào lốt chân ông Tráng.
- Nhiều lần rồi! - Ông
phó bí thư bực bội nói trong cuộc họp kiểm điểm sai lầm của ông Páo. - Chúng
tôi đã hội ý, nhắc nhở, góp ý. Nói xa rồi nói gần. Rồi cảnh báo. Rổi nhờ cả vợ
đồng chí Páo khuyên bảo chồng. Nhưng, đồng chí Páo bỏ ngoài tai tất.
- Ôi, cái này không bảo
được đầu!
Nghe thấy có người nói vậy,
ông phó bí thư trợn rách mắt:
- Nói thế không nghe được!
Ta phải dùng nghị lực, phẩm chất cách mạng để giữ gìn tư cách chứ! Thật là nhục!
Để cả thằng quét chợ nó khinh!
Ông phó bí thư nhận trách
nhiệm quyền bí thư. Và Seo Ly bị hạ tầng công tác, bị điều xuống làm cấp dưỡng
cơ quan.
Nhưng, chẳng bao lâu sau
đó, ông phó bí thư được mang tên là Phó Gầm. Không phải vì ông mới tậu được chiếc
xe máy Start, mỗi lần qua phố, chiếc xe nó gầm điếc tai bà con. Mà vì ông phải
chui vào gầm giường Seo Ly, khi tự vệ cơ quan phá cửa vào bắt quả tang ông đang
rúc váy nàng.
Seo Ly, người đàn bà khuấy
đảo đời sống thường nhật buồn tẻ! Nàng chính là thủ phạm, là kẻ khởi xướng những
hành động sôi nổi và ly kỳ của cánh đàn ông: các cuộc rình rập, theo dõi đuổi bắt,
lật mặt nhau, có nguyên cớ là đàn bà. Nhờ nàng, tình trường phố huyện xưa nay lặng
tờ, uể oải bỗng như tăng đôi sinh lực, sống hoạt hẳn lên. Từ nàng, bắt đầu nảy
sinh các cuộc đánh ghen dữ dội của cánh đàn bà. Nhờ nàng, đàn ông bỗng dồi dào
năng lực yêu và đàn bà bỗng diêm dúa, tơ tuốt và phong tình hơn. Nàng cho mọi
người thấy cuốn sách vĩ đại của thiên nhiên được viết bằng các khúc ca hoan lạc.
Hương thơm của các chuyện trăng gió giờ đây át cả mùi đồng ruộng thanh tao bấy
lâu được coi là chủ thể của đời sống. Nàng bổ sung một khoảng trống hụt trong đời
sống con người, khiến cho mọi người ngộ ra điều quan trọng, rằng bấy lâu họ sống
mà không biết mình đang sống. Nhờ nàng, mọi người cảm được cái thú vui vô tận của
đời sống dục tình và chốn bồng lai cực lạc của đời sống lứa đôi. Nhờ nàng, những
kẻ đần dại nhất, dù trong phối cảnh tầm thường của đời sống phố huyện, nhận ra
mỗi ngày sống vẫn là một ngày vàng vậy cần phải tận hưởng cho đầy đủ các phương
diện.
Seo Ly - cái năng lượng
khổng lồ, cái mãnh lực xung thiên. Nàng đánh thức những tiềm ẩn, nàng tạo nên
những cơn phấn hứng ngút trời. Nàng là mẹ đẻ của các giai thoại, truyền kỳ.
Nàng sinh ra các nhiếp ảnh kỳ tài. Nàng là nữ thẩn, là người mẹ của thi ca.
Nàng như bậc vua chúa có
quyền lực đổi thay cả tập tục sinh hoạt. Nàng biến đổi bộ mặt phố xá, con người,
từ một gã quét chợ oặt èo đến bậc quan chức đóng ở thang bậc nhất nhì hàng huyện.
Seo Ly, nàng không là Bao
Tự, Tây Thi, Đát Kỷ, nhưng từa tựa các mỹ nhân nọ, nàng đã kết thúc mấy triều đại
quan chức huyện nhà. Seo Ly - cái nhân tố báo động, gây bất ổn định của xứ sở!
Chuyện của nàng, chuyện về
nàng, yêu thay, nhưng cũng lo thay vì hệ quả của nó là nó đã vượt qua biên giới
huyện nhà. Giám đốc Sở Công an tỉnh dẫn cả một đoàn nhân viên tin cẩn vào huyện,
gặp hết người này đến người kia, cuối cùng, gặp Tống, hỏi:
- Hay là Seo Ly do địch
cài vào để phá ta?
Tống cười phá:
- Không phải thế đâu! Nếu
theo mẹ tôi kể thì từ hổi còn trẻ, nàng đã làm điên đảo cả các binh thầu, seo
phải(2), lý trưởng và các trùm thổ phỉ cơ. Để tôi nhớ dần... rồi kể lại cho mọi
người nghe nhé...
Ngôn đã hết hạn lưu đày,
trở về bệnh viện huyện với một tập thơ gần trăm bài thơ tình. Quả là những bài
thơ hay. Chàng kỹ sư chán quê biết không đọ tài nổi liền giấu biệt bản thảo thơ
của mình và lảng tránh câu chuyện có dính dáng đến sự sáng tạo nghệ thuật cần
tài năng thiên bẩm và học hành chu đáo này.
- Khung thẩm mỹ vốn rộng.
Tôi thích nghe chuyện thật. Thật như hạt lúa, hạt đậu. Chúng cũng mang nhân
tính. - Một bữa Quốc nói.
Ba người bạn lại ngồi bên
nhau quanh chiếc bàn nhỏ và Tống bắt đẩu nhớ lại chuyện mẹ đã kể về Seo Ly.
Cái đẹp, cũng như cái tài
của con người, nó rất giống cái cây, bông hoa. Mẹ tôi bảo vậy. Tống nói. Phải
có thời gian cây mới lớn, hoa mới nở. Đặc sắc ở chỗ cái đẹp, cái tài của người
thực tài, thực đẹp là nó lâu bền, gần như cùng tồn tại với đời người.
Chín mười tuổi Seo Ly là
cái gậy đuổi lợn vứt bờ rào. Mười hai, mười ba tuổi, nàng là cái bóng thất thểu,
vẹo vọ vì cái lù cở(3) nặng địu sau lưng.
Nhưng, mười lăm tuổi,
nàng như được trời ban phép lạ, biến đổi từng ngày, chính là một hôm mẹ tôi bảo:
“Lạ quá, tao ngửi thấy mùi con cầy hương ở người nó”. Hương thơm hắt ra từ người
con gái, đó là điều xưa nay vẫn được nói tới, nhưng chả ai tin. Sao lại không
tin? Cây còn tỏa mùi. Hoa còn tỏa hương. Lẽ nào người, tinh túy của muôn loài,
lại không vậy? Đám đàn ông nhận biết mùi hương ở nàng tất nhiên là thính nhạy
hơn mẹ tôi. Trong đám đó, kẻ có cảm giác sắc bén nhất lại là những người giàu.
Nghiệm ra, giờ cũng vậy thôi, có giàu sang, phú quý mới biết thưởng thức cái đẹp,
cái kỳ thú ở đời. Chứ còn đã nghèo kiết, lo ăn lo mặc không xong, thì còn biết
đến cái gì nữa, ngoài cái dạ dày.
Nhận ra mùi hương đặc biệt
ở người phụ nữ dậy thì ấy trước hết là seo phải họ Lý và lý trưởng Cử A Tỏa. Lý
seo phải là một người đàn ông dài ngoẵng, nhưng săn chắc như một sợi song đá.
Lý trưởng Tỏa trái lại, giống một con bò mộng, hung hăng và tợn bạo. Khác nhau
vậy, nhưng họ giống nhau ở khoản dâm bôn vô độ. Ông nội Lý seo phải chín mươi
tuổi còn mọc răng và phạm tội ổi tiết với đứa cháu gái chín tuổi. Còn lý trưởng
Tỏa thì nghe đồn: Cái công cụ dùng trong tính giao của hắn thì to khỏe cương cường
chẳng kém gì Lao Ái, tức cái tên vờ đóng vai quan hoạn để thỏa mãn thói dâm
đãng của Triệu Cơ, mẹ đẻ Tần Thủy Hoàng.
Thâm thù giữa hai nhà này
cũng chỉ quanh cái chuyện tranh cướp đàn bà. Họ đào mồ cuốc mả nhau cũng là do
chuyện ấy. Và tất nhiên, bao giờ Seo Ly cũng là nguyên do của cuộc tranh chấp
giữa họ. Thoạt tiên, Lý seo phải rình nàng tắm suối, vồ được cắp về. Nhưng ba
ngày sau, Tỏa cùng một đám trai làng nửa đêm đột nhập trang ấp Lý seo phải, cướp
lại được. Seo Ly là cái máng lợn bị tha đi, đá lại trong những ngày đó. Có điều
lạ là cả hai đều hết sức cay uất, khí giận tích đầy người, vì dẫu giữ được nàng
trong tay vài ba hôm, nhưng họ vẫn chưa hề chiếm đoạt được nàng, chưa đụng tới
thân thể nàng, chưa thấy được nàng, chưa được nàng chấp nhận. Chà!
Thói đời, chưa được nếm
trải, càng say. Nhưng, muốn say phải có lực. Đoản hơi, yểu lực hơn nên cuối
cùng Lý seo phải chịu thua. Và lý trưởng Tỏa đã hớn hở cắp con gà sống thiến đến
nhà Seo Ly, rập đầu trước bố mẹ nàng. “Thôi thì gạo đã thành cơm. Bố mẹ thách
bao nhiêu cũng xin chịu nhận”. Lạ thay, que thách vừa trao và gạo dẫu đã thành
cơm, thì Tỏa lăn cổ ra chết. Chết ngay trong lúc hung hăng chiếm hữu thân xác
thơm tho của nàng, chết như kẻ leo núi cao quá, đứt hơi đằng ngực mà chết.
“Tao sợ quá. Vì vậy rất
mê nàng mà đành phải để mẹ bán nàng cho một bào trưởng bên Tàu”. Sau này, trùm
phỉ Phếu, con trai Tỏa, tầm sự với bạn y vậy.
Người Tàu bên kia biên giới
giỏi xem tướng mạo đàn bà lắm. Với họ, người đàn bà đẹp tất nhiên phải là sự
chưng cất, chọn lọc, nhưng vẫn phải sống động, tự nhiên. Họ hơi sợ mùi hương
toát ra từ thần thể nàng, có cái gì đó trái với thông lệ, nhưng lại thấy ở đó
cái phần gần gụi với bản nguyên động vật thời sơ thủy và nhất là nhận ra giá trị
sử dụng, hưởng thụ khoái lạc ở nàng. Và thế là kiệu đón, lọng che, kèn sừng dê
inh ỏi ngày nhà chồng đón rước nàng. Nàng đi rồi, buồn đấy, nhưng thôi, cũng là
xong một kiếp người, và loại trừ đi một nguyên cớ của hỗn loạn bao năm trời nơi
thôn bản.
Ấy vậy mà mới qua một vụ
lúa nương đã lại thấy Seo Ly cưỡi ngựa, với váy áo xúng xính, vòng cổ vòng tai
xênh xang trở về làng. Tưởng nàng về quê thăm mẹ. Thì nàng bảo: “Ông bào trưởng
cho tôi về. Ông ấy không ngủ được với tôi. Tôi là cái hoa đực, là cái hoa ăn thịt
người”.
Nàng nói thản nhiên, như
mắc chứng lãnh cảm, trong khi đám đàn ông vây quanh nàng tròn mắt sợ hãi và động
lòng trắc ẩn.
Nàng trở về với đời người
phụ nữ Mèo lầm lụi đã quen. Còn tối trời đã dậy xay ngô, đồ ngô, rồi bọc rúm
rím, đặt vào lù cở, đi đến nương trời mới sáng tờ mờ và từ đó chài chãi trong nắng
gió, cho tới tận trăng lên. Kiếp người có sướng vui, sầu khổ, âu cũng là cái lẽ
thường tình.
Đã tưởng vậy là xong, nào
ngờ lại không phải vậy.
Hoa vẫn tỏa hương. Và
nàng, cái tố chất kỳ lạ nhất của tự nhiên, cũng tỏa hương. Qua tuổi hai nhăm,
nàng bước vào thời kỳ các xung lực kích ứng tràn đầy, nảy nở tốt tươi và nhuần
thấm hơn cả thời thiếu nữ. Hương sắc nàng là thứ thiên phú. Chúng tách khỏi bối
cảnh, chúng như vật tự thần, chúng giống các bảo vật của vạn đại.
Nàng là trăng trên trời.
Là chim quyên trong các loài lông vũ. Là măng tre trong các loại rau ăn. Là quả
vài trong các thứ trái cây. Là mùa xuân của thiên nhiên.
Nàng là đàn bà hơn tất cả
đàn bà. Vì nàng gầy thèm muốn được chiếm ngự, thỏa lạc của đàn ông. Cơn rừng động,
đất rung khởi sự tự nàng. Đàn ông trong bản lẩn lượt thảy đều rơi vào vòng giậm
giật rửng mỡ, dù cơm chưa ấm cật, áo chưa đủ che da.
Thoạt đầu là anh chàng gù
hàng xóm bên tả. Tiếp đến là ông thợ rèn hàng xóm bên hữu. Nhưng chẳng một kẻ
nào hé răng được một lời nói thật; họ đặc biệt sĩ diện trong việc chinh phục
đàn bà. Thế là đám thiêu thân, đàn ông cả bản, cả xã, cả tổng, nối nhau lao vào
ngọn lửa tình rừng rực. Điểu lạ là đam mê xảy ra với họ chỉ có một lần. Họ chỉ
là những thanh đóm cháy veo trong lò nấu luyện, trong hỏa diệm sơn triệu độ.
Kẻ xứng đôi vừa lứa với sắc
đẹp thánh thần, và ham muốn phi phàm của nàng chỉ xuất hiện những năm tao loạn.
Thật đúng với câu thành ngữ: gái thời bình, trai thời loạn. Phếu, con trai của
lý trưởng Cư A Tỏa đã khởi nghiệp và nổi danh tức khắc vì tính đầu bò đầu bướu
và phản trắc của y. Một đêm, y lôi kéo được cả nghìn trai Mèo, dấy binh chiếm
huyện lỵ và hơn một chục xã vùng cao, mưu bá đồ vương, nghênh ngang một cõi
biên thùy biệt lập.
Chả có thằng đàn ông nào
mà không mê gái đẹp. Chả có bậc vua chúa nào mà không dùng quyền lực chiếm đoạt
gái non. Phếu cũng vậy. Vênh vang anh hùng cái thế, sau khi đã lăn lóc chán chê
và dạn dày kinh nghiệm trong các cuộc tình thô bạo với gái đẹp tứ xứ, y bỗng nhớ
đến người vợ ba của người cha y thuở nào, nàng Seo Ly, người đàn bà bí ẩn ám ảnh
suốt một thời trai trẻ của hắn, kẻ đã gây ra cái chết của cha y - giờ đây y mới
biết được nguyên nhân và tên gọi của cái chết ấy: thượng mã phong.
Đêm đầu chung đụng với
nàng, Phếu thủ sẵn một con dao nhọn. Cả đêm, đôi nam nữ như hai địch thủ đồng
cân đồng sức vào cuộc giao đấu. Sáng hôm sau, tên lính hầu vào dọn phòng, cuộn
lại và bê đi một cái đệm lau nhàu nát và đầm đìa máu tươi.
Phếu tuyên bố: Y đã khám
phá ra bí mật và là người đầu tiên sở hữu được nàng thực sự. Nhưng, khốn nạn
thân y, năm ngày sau, y chết cái chết từa tựa cha y.
Bác sĩ Ngôn cắn môi, hai
mắt đờ ra một giây. Không còn cái vẻ lãng du trên khuôn mặt điển trai vốn dĩ nọ.
Anh nghiêm nghị như đứng trước một ca mổ. Ngôn nói, lạnh lùng như một kẻ ngoài
cuộc hoàn toàn:
- Ông trời chơi khăm.
Tung ra đời một cái đẹp, nhưng bí hiểm. Về phương diện y học, tôi công nhận
chuyện Tống kể chính xác. Seo Ly bị một thứ bệnh thi thoảng đàn bà hay bị mắc.
Không biết, có khi lấy nhau đàn ông không thực hiện được nghĩa vụ làm chồng và
đời sống vợ chổng sẽ chẳng bao giờ có sinh khí.
Quốc lầm thầm:
- Tự nhiên luôn kỳ quặc vậy:
Có hoa ăn thịt người đấy, Tống ạ. Nhưng kỳ quặc hay không kỳ quặc, chẳng qua
cũng là những khái niệm do con người đặt ra. Cuộc sống nó là vậy. Thẩm mỹ là một
cái khung rộng, có nhân tính.
Ngôn lắc đầu:
- Tôi nghĩ: Seo Ly vẫn là
cái gì siêu thường. Nàng trội bật lên, ra khỏi khung cảnh. Nàng làm cái nhiệm vụ
phi thường là chọn tuyển, thanh lọc, gột rửa, loại trừ. Nàng chỉ hợp với một
cái gì cũng rất đặc thù như nàng thôi. Còn bây giờ, số phận nàng ra sao rồi?
Tôi đi vắng lâu...
Nhìn hai con mắt lơ ngơ của
Ngôn, Tống nhoẻn cười:
- Nàng lấy chồng rồi?
- Lấy ai?
- Lẽ ra, nàng có thể lấy
tôi, lấy anh, lấy Quốc. Hỏi thật, các anh có mê nàng không?
Quốc và Ngôn cùng im lặng
thú nhận.
Tống tiếp:
- Chuyện tưởng hết mà hóa
ra chưa hết. Như câu dân ca Mèo vậy, hai bác ạ. Hà, sau khi ông giám đốc công
an kéo cả đám thủ túc tin cậy vào điểu tra, tổng kết thành tích bất hảo của
nàng: hóa ra nàng đã đánh đổ ba bí thư huyện ủy, bốn trưởng phòng cấp huyện, và
mười chủ tịch, bí thư xã, họ liền quyết định điều một ông thường vụ tỉnh già
vào để “trị” nàng. Nhưng...
- Nàng lại thắng?
- Không thắng, nhưng cũng
không thua. Kết quả là lại một đêm nhộn nhạo phố huyện. Lần này đi “diễu phố” một
cách man rợ là cả ông bí thư già và nàng. Cả hai đều trần truồng. Khốn khổ cho
nàng. Vì lần đầu tiên thiên hạ được nhìn thấy nàng khỏa thân và cùng kinh hoàng
về sự tuyệt mỹ của mỗi đường nét trên thân thể nàng. Trước sự ngưỡng mộ của mọi
người, nàng càng ngượng ngùng. Mắt nàng đẫm lệ và ngơ ngác, như tự hỏi: “Tôi có
tội tình gì?”. Ái ngại cho nàng quá. Phô bày lộ liễu một tạo vật trác tuyệt là
một sự thô phàm. Tôi có tiên giác ấy bên cạnh sự xót thương nàng. Nhưng, tôi đã
rất hèn. Và hai bác nữa, giá hai bác có mặt ở đó, hai bác cũng hèn như tôi
thôi. Nghĩa là chúng ta cũng không bằng thằng quét chợ.
- Thằng quét chợ sao? -
Ngôn nghển lên sửng sốt.
Tống tái mặt:
- Thằng quét chợ hơn hẳn
chúng ta. Từng trải thì sở đắc. Và nó vượt qua được bản năng, nó hơn chúng ta.
Nó gạt hàng súng CKC tua tủa quanh nàng, chạy vào và cởi phăng cái áo đại cán của
nó, khoác lên vai nàng, che bớt tấm thân lõa lồ của nàng. Xưa nay, tất cả bọn
đàn ông chúng ta chưa hề có một kẻ nào đó có được hành vi giúp đỡ nàng nhỏ bé,
nhưng thể hiện tính can đảm của nam nhi và quân tử như thế cả.
Tất cả mọi người cùng lặng
phắc trong một nỗi sợ hãi tiền định. Mãi sau, Tống mới thở một hơi dài:
- Thằng quét chợ thật xứng
đáng là chồng nàng!
Quốc vò đầu, rồi nhìn bác
sĩ Ngôn:
- Thật là một trò chơi
quái ác của tự nhiên, ông Ngôn ạ. Đúng là ông trời chơi khăm tất cả lũ đàn ông
chúng ta.
Lào Cai, 1999 -2010
Chú thích:
(1) Tiếng chửi tục.
(2) Các chức dịch xưa ở
làng xóm.
(3) Cái địu đan bằng tre,
mây.
- 2 -
Thắp một tuần hương
Tôi phải cố ghìm mình. Nếu
không, tôi sẽ văng ra lời bất nhã và cũng có thể là sẽ thô bạo hơn: leo lên, giật
đứt và đập tan cái loa kim công cộng treo ở góc buồng - vật bất khả xâm phạm của
ông Tương Bằng, một người sống cùng một căn buồng tập thể với tôi. Cái loa léo
nhéo ngày bốn buổi: sáng, trưa, chiều, tối; rặt những khi tôi cần nghỉ ngơi
tĩnh lặng. Ồn ĩ lăng xăng ở cơ quan, phố xá suốt cả ngày rồi còn chưa chán hay
sao!
Nhưng mà cuối cùng thì
cái loa vẫn còn đó!
Ấy là vì, hễ cứ thấy ông
Tương Bằng hiện diện một thân xác già nua, còm nhõm, là tôi lại động lòng và
ngơ ngẩn: Đời một con người sao mà có lắm lần phân thân! Ông Tương Bằng, hai
mươi năm trước, hiển hiện một trang thanh niên nước Việt khôi ngô, tuấn tú, ngời
ngời một vẻ đẹp nam nhi! Praha, Matxcơva, Buđa-pext, Xôphia... trong những tấm ảnh
đã ngả màu, tuyết mùa đông phủ trắng các ngọn tháp và tượng đài. Bên các bạn bè
châu Âu mũi nhọn, tóc vàng, ông Tương Bằng sáng tươi gương mặt một chàng trai
châu Á điển hình: tóc đen, mặt tròn, tam đình, ngũ nhạc phân minh, tinh tướng
đàng hoàng sang trọng lắm! Ông Tương Bằng, một tên tuổi trong các tổ chức công
đoàn thế giới, một người có danh vọng, bậc tai mắt của xứ sở, giờ sao lại có
cái hình dong thảm hại thế này: Mặt tóp, mũi khoằm, mắt quằm quặm, đã thấp bé
còi cọc lại hơi gù, còn phong độ tính tình thì lắm lúc như một chú hề, như một
lão già dở tính, vừa nhâng nháo thô vụng, vừa tinh ranh, cổ quái lạ lùng.
Tôi về nhận việc ở cơ
quan này, và vừa được phân về ở cùng một buồng với ông trong khu tập thể, đã có
người rỉ tai: “Này, ở với lão già ấy thì nhớ thực hiện ba đừng. Cụ thể là: Đừng
bao giờ mua bán hộ. Đừng bao giờ cho vay cho mượn bất cứ cái gì. Và đùng có trò
chuyện nhỏ to tâm sự với lão. Lão bủn xỉn, có tính gian, hay thóc mách và lố bịch
lắm!”.
Quả nhiên, vừa thấy mặt
tôi, ông Tương Bằng đã lên mặt cha chú, hất hàm hỏi tuổi tôi, rồi buông một câu
thật khinh nhờn: “Còn kém tuổi con gái tớ!” Tôi im. Với các vị cao niên, các bậc
lão thành cách mạng tốt nhất là kính nhi viễn chi.
May là tuy ở cùng buồng,
nhưng tôi và ông Tương Bằng ít khi giáp mặt nhau. Tôi đi làm thì ông ở nhà. Ngoại
trừ buổi đêm, còn tôi về buồng cũng chẳng mấy khi gặp ông. Ông đã quá tuổi hưu
trí, giờ đang nghỉ chế độ, làm thủ tục để lĩnh sổ. Thực ra thì ông phải nghỉ
hưu cách đây bảy, tám năm rồi. Nhưng có khúc mắc gì đó nên cứ dầy dưa lần lữa,
nửa như chờ nghỉ, nửa như vẫn còn đang đi làm. Và tiếng là đang nghỉ chế độ mà
cứ bận rộn hết việc này đến việc khác, cứ như là đang còn tại chức vậy. Ông đi
suốt. Đến bệnh viện khám sức khỏe tranh thủ lĩnh ít thuốc bổ thì chẳng nói làm
gì. Bận rộn là gần như ngày nào ông cũng có việc đến gặp hết vị chức sắc này đến
ngài thủ trưởng đơn vị kia, và trở về thì mặt mũi lúc nào cũng đầy khí giận,
chí ít cũng rầu rĩ bực dọc, không hề có cái vẻ thảnh thơi của người đã hoàn tất
trách nhiệm, giờ thong dong hưởng thụ sự thanh nhàn.
Mỗi người mỗi việc, mỗi
tuổi mỗi tính, tôi mặc ông. Kể cả những lúc ông gây điều khó chịu cho mình. Chẳng
hạn, ông rất hay tọc mạch dò hỏi quan hệ của tôi với Giang, nữ bác sĩ. Chúng
tôi yêu nhau là phải tường trình với ông chắc? Chẳng hạn, đêm chẳng mấy khi ông
yên giấc. Khậm khoặc ho. Khạc nhổ hên hổi. Rên rẩm và nói mê ầm ĩ. Hút thuốc
lào sòng sọc. Đánh trung tiện liên tục. Chưa kể mỗi đêm là bảy tám lần đái tồ tồ
vào cái bô để ở gầm giường. Gầy còm, nhưng ông ham ăn và ăn khỏe lắm. Lót dạ phải
hai gói mì tôm. Mỗi bữa một bò rưỡi gạo. Ông sống chẳng mấy khi yên ổn với mọi
người. Vài ngày, buồn thế, tôi lại phải chứng kiến một cuộc đôi co, thậm chí
cãi cọ đến mức văng tục giữa ông và một đồng nghiệp. Mà toàn là chuyện nợ nần,
vay mượn nhau từ đời tám hoánh nào; ông nói thế này, bà nói thế nọ, chẳng bên
nào chịu bên nào. Phiền não hơn là không mấy khi ông yên lặng. Ông nói suốt, nếu
không phải là lúc sau bữa cơm, nằm ngửa trên giường, tay lót gáy, mắt lim dim
nghe loa. Ông nói xấu, rủa xả, chê trách hết người này đến người khác. Mà toàn
là bạn bè cùng trang lứa một thời, nhưng giờ đây đã thoái hóa biến chất, thành
tên cơ hội, đứa vong ân bội nghĩa, thằng ăn cướp, lũ lừa thầy phản bạn, đểu giả
ba que...
Già quá hóa trẻ... con.
Đó là lúc các khuyết tật thời trẻ được dịp tích tụ. Đó cũng là lúc nhầm lẫn và
u mê. Nghĩ loáng thoáng vậy, lại cũng là kẻ lâu nay đang tập trung vào công việc
viết lách, thêm nữa, suy cho cùng quan hệ tôi và ông chẳng qua là sự ghép đôi
mang tính ước lệ trong một không gian mười mét vuông trong chốc lát chứ có gì
là quan trọng mà phải quá phiền lòng. Nghĩ vậy, nên cuối cùng mọi sự khó chịu
cũng qua; cuộc đời nên chăng, cán coi như là một vở hài kịch được xem không mất
tiền?
Khó chịu cuối cùng có
chăng chỉ còn là cái loa kim!
Cái loa kim, di vật cuối
cùng của một thời nghèo khổ, một thời coi trọng sự truyền thông đại chúng và
tính đồng nhất tuyệt đối của đời sống tinh thần.
Cái loa kim bắt vào đường
dây trực tiếp của đài phát thanh thành phố biết rằng mình sắp hết thời rồi hay
sao là dạo này nó hùng dũng và to tiếng khác thường thế! Năm giờ kém mười lăm
sáng, trời còn nhá nhem mà nó đã khua tôi dậy trong tiếng nhạc hiệu đinh tai nhức
óc của nó. Khổ nữa là từ năm giờ chiều đến mười một giờ đêm là lúc tôi cần yên
tĩnh để chìm vào dòng tư duy sáng tạo; mà ác cái, tai không như mắt, có thể nhắm
mắt làm ngơ.
Tôi cằn nhằn với ông
Tương Bằng:
- Hồi còn chế độ bao cấp,
cỡ cán bộ như bác hẳn là đã được mua đài theo giá cung cấp chứ ạ?
- Hẳn rồi! Tớ được mua những
bốn cái kia. Ôriôngtông. Mẫu đơn. Xiêngmao. Naxionan.
- Sao bác không đem ra mà
nghe?
- Tớ bán rồổi! Tốn tiền
pin lắm!
Hừ, có đài cung cấp, bán
đi để nghe loa công cộng, để khỏi tốn tiền mua pin! Ông khôn, tôi cũng chẳng dại.
Bắc ghế lên, tôi dùng kéo cắt béng một đoạn dây, vứt đi. Thấy loa mất tiếng,
ông lập cập leo lên ghế, lần mò tìm ra nguyên nhân, rồi lọ mọ đi xin dây, nối lại.
Cáu sườn, tôi cầm cái dùi thọc bậy vào lòng loa. Ông lại leo lên, kiểm tra dây
dợ, gõ gõ một chập, áp tai một hồi, không thấy tiếng liền gỡ xuống, cuốc bộ hai
cây số đến Đài Phát thanh thành phố yêu cầu sửa lại.
Năm lẩn bảy lượt như vậy,
kết cục kẻ thua cuộc là tôi. Cái loa lại oang oang. Đam mê quả là một sức mạnh
vô địch thật!
Thật điềm tĩnh và khách
quan dõi theo, mới biết ông Tương Bằng gắn bó với cái loa - gắn bó với thế sự mật
thiết đến dường nào. Cứ tưởng ông chỉ chú tâm đến những điều lặt vặt xảy ra
hàng ngày quanh mình, nào ngờ ông nhập tâm chẳng sót một tin tức, một bài xã luận,
một thông cáo nào đã phát trên đài. Ông chửi rủa thật độc địa Pinôchê độc tài
và lên án gay gắt tổng thống Mỹ đương thời không chịu hủy bỏ lệnh cấm vận với
nước ta. Ông xúc động vô cùng trước thảm họa núi lửa ở Philippin bỗng nhiên hoạt
động trở lại. Và viết thư cho đồng bào Sơn La, ông chia buồn về cơn hồng thủy vừa
tàn hại vùng này. Ông bàn luận về biến động chế độ chính trị trên bình diện thế
giới và đề xuất một đề án chấn chỉnh quy mô tầm cỡ vũ trụ. Ông viết bài hưởng ứng
các cuộc thi tìm hiểu về luật Công đoàn, về lịch sử Đoàn Thanh niên, về Hội Phụ
nữ. Ông quan tâm đến tin trẻ lạc và người điên mất tích. Đặc biệt hễ có dịp là
ông viết bài bày tỏ quan điểm tư tưởng, bênh vực điểu này, phản bác luận điểm
kia rất hăng hái. Vài ngày ông lại hoàn thành một bài báo để gửi báo này, tạp
chí nọ. Chỉ tiếc, chúng chẳng có được một hổi âm. Cáu tiết, ông chửi vung: “Mẹ
chúng nó chứ! chúng nó quên mình là ai rồi!”. Cáu vậy, chửi bậy vậy, nhưng ông
không thối chí. Ông là sản phẩm đích thực của cuộc sống đầy phong ba bão táp của
xã hội ta mấy chục năm qua. Ông phản ánh tập trung nhất đặc điểm tinh thần của
mỗi cá thể chúng ta: Ông là cách mạng gia, là nhà chính trị nòi, ông nảy sinh từ
cái gốc cắm sâu vào các phong trào, các cuộc vận động xã hội. Đời ông đã được định
hướng. Ông như con tàu đã được đặt trên hai thanh ray. Giờ, con tàu chỉ việc chạy,
chạy theo thói quen, theo quán tính đã ăn sâu vào máu thịt, đã trở thành một bản
thể tự nhiên, không thể khác được, chạy, dẫu có tàn hơi kiệt lực cũng cứ chạy.
Quán tính là một sức mạnh
vô hình, nó có sức chi phối đến mức ông Tương Bằng không tự biết. Nghỉ việc, sửa
soạn nhận sổ hưu rồi, ra khỏi quỹ đạo của chức trách rồi, vậy mà cứ dăm bữa nửa
tháng, ông lại nai nịt gọn gàng, đeo cái ba lô lên vai, xách chiếc cặp da trên
tay, trịnh trọng bảo tôi: “Này, có ai hỏi thì cậu bảo: tớ lên làm việc với Thủy
điện Hòa Bình. Ai gửi cái gì thì cậu nhận, giữ hộ nhé!”. Lâu dần, hết cả ngạc
nhiên, tôi chỉ còn tủm tỉm cười thầm.
Ông Tương Bằng sống theo
quán tính, tự tạo hư giác cho mình mà không hay. Còn tôi, tôi sống theo trực
giác đời thường. Ông ra khỏi nhà là tôi ngắt dây loa và phôn ngay cho Giang.
Giang, nữ bác sĩ, xinh đẹp
cỡ hoa hậu quận, người yêu của tôi đã hai năm nay. Cơ hội và địa điểm gặp nhau
thật hiếm. Chín muồi để nên vợ nên chồng rồi mà vẫn không thành hiện thực, chỉ
vì chúng tôi không một chốn nương thân. Giờ, vắng chúa nhà gà vọc niêu tôm, ông
Tương Bằng đi vắng, chúng tôi đã có một giang sơn riêng.
Giang dắt chiếc xe Honda
81 đời chót vào, khóa cổ xe thật cẩn thận xong là tôi kéo nàng đến bên giường.
Thôi thì tha hồ. Chúng tôi quấn lấy nhau. Tôi vốn là kẻ háo sắc. Còn Giang, học
ở Pháp về, tính âm mạnh mẽ, cách sống hiện đại có thừa. Làm đủ trò yêu đương
cho thỏa nỗi nhớ mong xong, chúng tôi mới bắt đầu công việc nhóm bếp dầu nấu
ăn.
- Ông Tương Bằng đi Bắc
Thái mấy hôm, anh?
- Một tuần.
- Thú vị nhỉ. Ông ấy bao
nhiêu rồi mà vẫn chưa chịu về hưu?
Tôi đáp. Giang đưa tay
vén tóc mai, khuôn mặt mảnh mai hoáy nhẹ một núm đồng tiền:
- Người đâu mà dại thế!
Năm tháng còn lại được bao nhiêu lâu nữa đầu!
- Em nói thế nào chứ, anh
thấy ông ấy còn khỏe, còn hăng hái lắm! Giang lắc đầu, lạnh lùng:
- Gặp ông ấy vài lần,
nhìn thoáng qua là em biết chứ. Cách đây mười hai năm, ông ấy đã mổ tim. Quá
date rồi! Giờ, lục phủ ngũ tạng thảy đều đã suy. Thiên quý đã hết nên râu tóc bạc
cả. Gân xương rã rời, đi đứng đâu còn vững. Anh có để ý không, ấn đường ông đã
có dấu vết hôn ám. Em lo ông thọ chẳng được bao lâu nữa đâu!
Trời! Nói về cái chết của
một người mà sao giọng lại nhẹ tênh và giá lạnh thế! Nhận ra cái rùng mình của
tôi, Giang mỉm cười:
- Sao, anh sợ à?
Tôi im lặng. Nhìn Giang,
bỗng thấy hàm răng trắng lóa đều tăm tắp của Giang và đôi mắt rất đẹp của Giang
sao lạnh tanh vô cảm thế.
- Hôm nay em vừa mổ chết
một lão già tám mươi. - Giang nói tiếp: Đã bảo mổ là chết mà người nhà không
nghe. Thành ra, động dao vào, đóng bụng lại là chết ngay. Trách ai được!
Không để ý tới cơn run rẩy
chạy dọc sống lưng tôi, Giang nhìn quanh căn buồng như đo đạc kích thước của
nó, rồi nhìn tôi, nhoẻn cười:
- Ông Tương Bằng mà chết
thì anh được ở cả căn buồng này nhỉ!
Nhìn tôi chớp chớp mắt
quay đi, Giang tiếp, giọng vẫn tênh tênh:
- Anh đã nghe chuyện ông
nội em và bố em chưa? Cả hai đều mệnh thiên y, đúng giờ ngọ mỗi ngày, gọi từng
người trong gia tộc đến, xét đoán người này người nọ thọ yểu ra sao, chính xác
từng ngày từng giờ. Em được hưởng cái tiên thiên bẩm sinh của hai cụ, và đi vào
ngành y là theo hướng nghiệp của các cụ đấy. Để em đoán vận số của ông bạn già
cùng buồng với anh nhé...
Tai tôi ù ù như có gió thổi.
Nỗi sợ khiến tôi tê liệt cả thính giác. Xung quanh tôi là cái chết mênh mông.
Thính lực của tôi phục hổi
hoàn toàn khi tôi nghe thấy tiếng chân bước trở về của ông Tương Bằng; và sau
đó nhận ra bóng hình ông còm cõi lẩy bẩy trên cái ghế đẩu đang nối lại sợi dây
loa trong buồng. Chiếc loa lại kêu oang oang trong tiếng ho khục khoặc đầy đờm
dãi của ông. Đợt đi này ông hao tổn nhiều sức lực quá. Ông viêm họng, ngây ngấy
sốt. Lại thêm bàn chân trái bong gân vì bước trượt trên cầu tàu, sưng u, đỏ tấy.
Ám ảnh về phán định của
Giang, khiến tôi không khỏi không lo lo cho ông. Nhưng, thật may, tôi đã thở
phào. Giang của tôi nói vậy là nói trên đại thể thôi, chứ sống là khó mà chết
cũng đâu có phải là trò chơi dễ dãi của tạo hóa! Con người ta còn ẩn tàng một
năng lực sống, một năng lượng chống trả cái chết nữa, chứ đâu có yên phận một bề.
Thanh minh cho thái độ vô tâm của Giang, tôi sung sướng vì nhận ra, sau ba ngày
khặc khừ, thậm chí cơm không một hạt, li bì, lệt bệt, tưởng phải đưa vào bệnh
viện cấp cứu, ông Tương Bằng như nhận được phép thần, đã khỏe mạnh trở lại. Ông
Tương Bằng đã khỏe mạnh trở lại như thường khi. Thả vào cổ họng mấy viên thuốc
cảm xuyên hương lẫn với kháng sinh ămpixilin và chục viên vitamin C và B1, đơn
giản vậy thôi, ông đã trút hết bệnh tật ra khỏi người, như ta cởi bỏ một bộ quần
áo bẩn đang mặc vậy. Ông lại như mọi ngày. Lại cười khề khề: “Tớ trước nay, kể
cả thời lặn lội trong rừng Việt Bắc, sốt rét rung lán trại, cũng không bao giờ
nằm quá một tuần”. Ông Tương Bằng lại nghe đài. Lại bàn luận mọi việc. Lại viết,
lại sống hăm hở theo cái quán tính đã nhập vào ông, đã dẫn dắt ông bấy lâu.
Không thể quan niệm được
một ông Tương Bằng khác với chính ông. Ông trung thành với chính mình. Trước
sau ông vẫn là một chính trị gia, một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Và hẳn là
ông nghĩ, nếu ông không tiếp tục những công việc ông đã từng làm thì đời ông sẽ
rất vô vị, sẽ rỗng tuếch, sẽ chẳng có nội dung gì cả. Chả nên khắt khe với ông.
Chỉ có điều đáng buồn là khi đã ra khỏi guồng máy rồi thì ông coi như đã bị loại
thải, chẳng còn có cơ hội thi thố tài năng và biểu hiện cái bản thể đã được
hình thành, ngoài những công việc lặt vặt ở khu tập thể cơ quan, nơi ông tá túc
những ngày đã về hưu. Vâng, những việc lặt vặt bàn cả đời không hết. Như chuyện
dạy dỗ con trẻ, phòng chống mất cắp, giữ gìn an toàn trật tự vệ sinh, xây dựng
gia đình văn hóa mới...
Ông Tương Bằng nổi lên
như một nhân vật quan trọng số một trong những cuộc họp dân phố bàn bạc những
chuyện lặt vặt ấy. Ông đến sớm. Ngồi ở hàng ghế trên. Bao giờ ông cũng là người
phát ngôn đầu tiên. Và không chỉ nói một lần. Ông nói như lâu nay bị triệt khẩu.
Giọng the thé và quyết đoán. Lại kèm các động tác vung tay, đảo mắt, đánh vai,
lắc đầu. Ông sống lại trong các hồi ức một thời chuyên đứng trên các bục diễn
giảng, hô hào, cổ động, đọc diễn văn. Mê man trong hoài niệm, nên mặc dấu cử tọa
chỉ là các bà nội trợ, ngồi nghe mà tâm trí để hết vào chuyện chợ búa, giá cả
hoặc đường kim đan len... và chỉ là một đề tài cỏn con như việc cấm để chó thả
rông, hoặc việc xích mích giữa hai hộ trong việc tranh nhau hứng nước máy, ông
cũng tràng giang đại hải, cao đàm khoát luận cả nửa tiếng đồng hổ. Gặp phải cuộc
họp có anh thích đùa dai, nó vờ vịt phản đối ông, hăng tiết lên, ông lại tiếp tục
hùng hồn một cách không đúng chỗ, không biết là mình đang làm trò cười cho
thiên hạ.
Quán tính suy cho cùng
cũng là một sức mạnh tối tăm. Tính ái kỷ lại là sức mạnh truyền thống của những
kẻ quen hoạt động trong phong trào. Và chỉ cần quá đà một chút là họ đã trở
thành một kẻ dị dạng, một ca bệnh lý tâm thần, một bức tranh biếm họa tự vẽ mà
không biết.
Khổ thân ông Tương Bằng,
người bạn cao niên sống cùng một căn buồng với tôi. Ông Tương Bằng ơi! Lý thuyết
nhân sinh đang phổ biến quan niệm rằng: đời người nên chia làm ba giai đoạn. Từ
lên một đến tuổi hăm nhăm là thời kỳ tích lũy dục vọng. Từ hăm nhăm đến ngũ tuần
là giai đoạn sục sôi thực thi dục vọng. Còn sau khi đã qua tuổi tri thiên mệnh
rồi thì dứt khoát là phải bước vào thời đoạn giải tỏa dục vọng, tĩnh tâm dần dần,
trở lại với vô vi. Cổ xưa thiếu gì gương sống. Đạo làm người quan trọng nhất là
ở chỗ biết mình là ai và đang sống ở thời điểm nào. Ra sân khấu lúc nào và khi
nào thì rút vào hậu trường là cả một nghệ thuật lớn. Nhầm lẫn lớn nhất một đời
người là nhẩm lẫn về thời gian. Tài cán dẫu có được thiên phú thì cũng chỉ là hữu
hạn trong vòng trời đất khôn cùng mà thôi. Ham hố cũng chẳng được. Mê muội càng
không nên.
Ông Tương Bằng sắp vào tuổi
cổ lai hy rồi sao không hiểu điều sơ giản ấy! cho rằng lý thuyết nhân sinh ấy
là cổ giả, phản động thì cũng phải tính đến một thực tế sờ sờ là: ông còn đâu sức
lực nữa mà theo đòi dục vọng. Mỗi ngày ông hao kiệt thêm một tý. Cái cơ thể đếm
được hai trăm linh sáu cái xương lớn bé của ông, ít nhất cũng có đến hai căn bệnh
có thể gây đột tử tức thời: trái tim sau hơn chục năm giải phẫu sửa chữa đã đến
lúc ọp ẹp, và căn bệnh huyết áp cao là tử thần sẵn sàng kết thúc đời ông vào bất
cứ lúc nào. Chưa kể, những căn bệnh mãn tính tiềm tàng ở ông, như đau dạ dày,
phì đại tuyến tiền liệt và đái tháo đường...
Nghĩ vậy nên càng lúc tôi
càng hoang mang trước những chứng nghiệm suy đoán nghe ra không phải không có
lý của Giang. Nhất là gần đây, có lúc thấy ông đang nói, bỗng ngắc lại, ứ nghẹn
hàng giờ. Đó là theo Giang nói, lưỡi ông bất thần bị rụt lại do gốc bệnh có ở
tâm thần. Mỗi bữa ăn, ông mắc nghẹn đến vài lần. Nhiều hôm trở trời, thấy ông nằm
liệt hoặc ngồi thừ lừ ôm cái mặt bỗng dưng ứ huyết trở nên húp híp như phù nề -
cơn dở chứng của con tim đau yếu, nghĩ đến lời cảnh báo của Giang, tôi không khỏi
kinh hoàng và xót xa!
Bác Tương Bằng ơi!
Một đời người mấy ai được
như bác đầu. Mấy ai mới hăm mốt tuổi đầu mà đã đảm nhiệm nổi chức trách chủ nhiệm
tỉnh bộ Việt Minh một tỉnh lớn ở đồng bằng Khu Ba. Hăm hai tuổi là Bí thư tỉnh ủy,
chỉ huy cuộc kháng Pháp suốt một rẻo biên giới Lao Cai - Hà Giang. Rồi lẫm liệt
trong vai tướng soái, đứng đầu bộ tư lệnh tiễu phỉ, đập tan âm mưu gây phản loạn
của hai tên đế quốc đầu sỏ Pháp - Mỹ cùng lũ chúa đất thổ ty. Suốt mười năm
trai trẻ đứng vững trên cương vị chủ tịch tỉnh trong tuyến đầu chống Mỹ ở một địa
bàn trọng yếu sát nách thủ đô đâu phải là ai cũng có thể đảm trách được! Cũng
có được mấy người như bác vào tuổi trung niên đã hoàn thành trọng trách nhiệm vụ
đối ngoại của một đoàn thể lớn là tổ chức công đoàn. Đi công tác nước ngoài
liên tục như con thoi trên khung dệt. Trước đối phương gian ngoan, xảo quyệt
thì tỉnh táo, sắc bén và vững vàng; trước cám dỗ và sa sẩy không một lời ong tiếng
ve; gương trung thành, liêm chính vằng vặc như gương treo giữa trời. Huân
chương, huy chương đeo phải đầy ngực. Công tích đáng hạng danh nhân đất nước.
Giờ đây, dẫu có một tuổi già vô dụng như mèo già vuốt cùn răng rụng thì cũng chẳng
có gì mà phải ngượng ngùng tủi hổ cả. Bác có thể cứ an nhiên sống đúng với tuổi
tác, không việc gì phải gắng gượng lên gân lên cốt, để mất đi cái tự nhiên, vốn
là điều quý giá của đời người!
Chao ôi! Tôi biết, dẫu có
vang lên bên tai ông Tương Bằng cả ngàn lần những lời vừa nói trên thì cũng vô
ích thôi! Làm sao mà có thể ngăn cản nổi cái đà xung trận, nhập cuộc của ông;
ghê gớm thay, nó cũng đã trở thành một sức mạnh không cưỡng lại của tự nhiên rồi.
Thế đấy, ông thợ mộc làm
việc ở xí nghiệp, sáu mươi tuổi về hưu, vẫn cứ là cầm cưa đục được đi! Cũng vậy
thôi, ông thợ điện, thợ xây và cả ông nhà văn nhà thơ nữa. Ai cấm họ hành nghề
khi vào tuổi hưu trí. Oái oăm thay cái lẽ tự nhiên ấy lại thiếu hẳn đi yếu tố tự
nhiên ở ông Tương Bằng. Là bởi vì, thợ mộc thì có cưa đục. Nhà văn thì có bút mực.
Còn ông Tương Bằng, nhà cách mạng chuyên nghiệp tiếc thay về hưu lại tay trắng,
nghĩa là ông chẳng còn có công cụ nào trong tay cả. Không có công cụ trong tay
nhưng thói quen ham mê điều hành chỉ huy người khác thì lại là một ám ảnh lâu
dài, không dễ gì dứt bỏ được.
Ông Tương Bằng vẫn một nếp
sống không thay đổi. Một hôm, sau ba ngày đi vắng, trở về căn buồng của tôi và
ông, nhìn thấy chiếc Honda 81 của Giang gửi ở góc nhà, ông liền lừ mắt một cái,
rồi nằm lăn ra giường:
- Thật là chó chứ không
phải là người nữa!
Đang đọc sách, nghe tiếng
ông quát gằn, tôi giật thột mình, quay lại:
- Có chuyện gì đấy, bác?
- Đúng là chó chứ không
phải là người!
Vừa hết câu, ông liền
vùng dậy, tay nắm cái cọc màn, để khỏi chuệnh choạng, rồi hổn hà hổn hển:
- Tôi nói là nói cái thằng
ấy đấy!
- Thằng nào, hở bác?
- Cái thằng đeo kính trắng,
trông rất là thư sinh mà chó má, cái thằng hôm rồi nó vừa đến đòi nợ tiền tôi ấy!
Thấy tôi im lặng, vẻ như
tảng lờ, không muốn đẩy vào câu chuyện, ông liền tiến về phía tôi, hạ giọng:
- Để tôi kể cho cậu nghe.
Cái thằng ấy, hồi tôi làm bí thư tỉnh ủy, nó chỉ là thằng phó bí thư cấp huyện,
sau thấy nó có khẩu khiếu, tôi mới đưa nó vào thường vụ tỉnh, cho nó phụ trách
tuyên giáo. Cái thằng ấy vừa rồi nghe tôi nói định phát đơn kiện mấy cha tỉnh ủy
nọ dính tay vào đồng tiền bát gạo của dân, nó liền trừng mắt hỏi tôi: “Liệu bác
có đủ đạn không mà theo đòi vụ kiện?”. Một thằng thường vụ mà ăn nói thế thì có
đúng là chó, là lưu manh không, hả cậu? Nhưng mà cậu ơi, thằng cha ấy giờ chết
mẹ nó rồi. Chết mẹ nó rồi!
- Chết rồi?
- Thì chết rồi, chứ sao!
- Ông Tương Bằng nhệch miệng đầy vẻ khoái trá rồi xìa môi - Tiên sư các anh!
Anh nào định từ bỏ lý tưởng thì hãy trông gương thằng này! Thằng này chết vì
con đĩ Lộc đấy! Con đĩ Lộc là con đĩ thập thành ở tỉnh tôi, nó có cả tá nhân
tình, nhân ngãi. Vừa rồi thằng chồng nó lăn cổ ra chết vì sốc ma tuý. Thế là lập
tức thằng cha này sán lăn vào. “Anh sẽ từ bỏ tất cả để làm nô lệ cho em”. Nó
tuyên bố thế đấy, cậu xem có tởm lợm không?
Vung cao tay, mặt bừng bừng
như hơ lửa, ông Tương Bằng cao giọng, pha chút hả hê:
- Nhưng mà lần này thì
ông con giời chết mẹ nó rồi! Chết vì sao, cậu biết không? Cùng với con đĩ này cầm
đầu một đường dây buôn bán ma túy xuyên quốc gia. Cả hai đang bị công an theo
dõi từ lâu và hôm qua vừa có lệnh khám nhà. Chưa hết, nghe đâu, anh chàng còn
dính hát y vê ết nữa mới bỏ mẹ cơ! Ha ha... Tiên sư anh! Anh từ bỏ lý tưởng.
Anh đặt lờ con đĩ Lộc lên bàn thờ. Anh chết vì cái lờ của nó thì khốn nạn cái
thân dê chó của anh rồi. Ha ha... Nhưng mà kìa, cái loa kim, tại sao lại không
kêu?
Đang hào hứng trong phấn
khích, như sực nhớ, nhà cách mạng về hưu chợt dừng lời và nhìn lên góc buồng,
nơi treo cái loa kim đang nói bỗng tậm tịt, quát to:
- Không được! Phải lên tiếng
tố cáo, phê phán, lên án, cảnh tỉnh. Phải dóng lên hồi chuông báo động sự xuống
cấp nghiêm trọng của đạo đức! Cậu có đồng ý với tôi không? Đổng ý hả? Bắt tay cậu
một cái nào!
Cái bắt tay là nhịp cầu
giao lưu thân tình đã được bắc qua quan hệ giữa tôi và ông Tương Bằng. Từ hôm
đó, thôi thì chẳng còn thiếu gì chuyện ông kể cho tôi nghe. Một ông bạn đương
chức dẫn gái điếm về nhà bị bắt quả tang. Một chiến hữu làm chủ nhiệm hợp tác
xã tín dụng bị bắt vì tham ô một tỉ đồng, vào tù, bị bọn đầu gấu lột truồng ra
làm nhục. Bạn ông, kẻ trốn chạy ra nước ngoài vì xù nợ bạn bè; người bê tha sống
trác trụy với bồ bịch. Đồng chí ông, kẻ bỏ rơi các giá trị tinh thần, quay về với
cuộc sống sùng bái đồng tiền. Người phản bội đồng nghiệp, ngang nhiên chà đạp
lên luân thường đạo lý. Cả một trang lứa, một lớp người nếu không sa sút về phẩm
cách thì đang qua ngày trong trạng thái bàng quan mũ ni che tai, hoặc buồn nản,
vô vọng, thây kệ mọi sự! Cuối cùng, chỉ còn lại mình ông tả xung hữu đột, chống
chọi với mọi sự suy đồi, giữ trọn đạo lý, kỷ cương lề luật cuộc đời!
Một hôm, ông đi viếng một
đám tang về. Thấy ông lử lả, tôi hỏi, ông thều thào đáp:
- Khốn nạn! Bố ngủ với
con gái. Bị phát hiện, thắt cổ tự vẫn. Thế đấy! Ra khỏi chức vị một cái là trở
thành chó má ngay!
Mùa đông về với ngọn gió
lạnh thở dài thê thảm.
Dần dà tôi nhận ra, đã
phai nhạt dần vẻ biếm họa trong chân dung ông Tương Bằng. Phần vì ông bỗng trở
nên ít nói hẳn đi. Phần vì sức khỏe ông sa sút trông thấy. Không còn những ngày
đi xa với công kia việc nọ tự mình bày đặt ra nữa. Ông quẩn quanh ở trong mấy
căn nhà ở khu tập thể. Đi lại một lúc một khó khăn. Leo thang gác chỉ mươi bước
là dừng chân, thở dốc. Mặt thi thoảng lại đỏ rửng như sung huyết vì cơn kịch
phát của áp huyết tăng.
Đêm ấy, ông đi nằm từ lúc
chập tối, vì ngực bỗng thấy đau thắt và các khớp gối thì tấy đỏ và rất nhức nhối.
Tôi nằm, không ngủ được, phần vì nghe tiếng ông rên, phần vì cơn xung khắc xảy
ra hồi chiều với Giang. Chiều, Giang đến lấy chiếc xe Honda 81 gửi từ hôm nàng
đi biệt phái vào Thanh. Dắt chiếc xe ra sân, lật yên xe lên Giang bỗng hoảng hốt
kêu: “Cái nắp bình xăng đầu mất rồi?” Tôi lật đật chạy ra. Mặt Giang tím tái.
Tôi ngu ngơ. Ai lấy cái nắp bình xăng ở xe của Giang? Chả lẽ lại là tôi? Chả lẽ
một tên kẻ trộm nào đó đã lọt vào căn buồng của tôi và ông Tương Bằng chỉ là để
lấy cắp cái nắp bình xăng? Mắt Giang lừ lừ. Con mắt lạnh như băng, có sức thấu
thị siêu phàm, có thể nhìn thấu tới vận số của con người, có thể soi tỏ tới đáy
tâm địa con người. “Hơn chục nghìn đồng cái nắp bình xăng đấy, ít của à! Kẻ nào
lấy của tôi, trời hại nó!”. Buông một lời rủa độc, Giang quay ngoắt dắt xe đi.
Tôi tê điếng cả người.
Nửa đêm, thiếp đi trong
chốc lát, tôi bỗng thức giấc.
- Cậu Thược ơi...
Ông Tương Bằng vừa cất tiếng
khàn khàn mệt nhọc gọi tôi, sau khi vất vả lắm mới chống tay ngồi dậy được và
đang khua chân tìm dép.
- Có chuyện gì thế, bác?
Tôi phắt ngay dậy, nhận
ra ngay tiếng ông già nghe là lạ; và đưa mắt, tôi nhận ra, ông hiện lên trong một
hình khối u uẩn lờ mờ, tay đang lập cập mở chiếc nắp cặp lồng nhôm rỗng không.
- Tôi thấy... khó ở quá!
Nhưng mà... cậu có còn gạo không? Hay là mì ăn liền cũng được!
Chỉ thoát ra được từng ấy
câu đứt nối, ông Tương Bằng đã lại nằm vật xuống. Khổ, ông vừa ốm lại vừa đói!
Đói! Không! Cảnh ngộ còn bi đát, thảm thương chua chát hơn bội phần. Ông đâu chỉ
có già yếu bệnh tật và hoang tưởng. Ông còn nghèo khổ, khánh kiệt nữa. Gia sản
ông đã cạn kiệt cùng sức khỏe và năng lực của ông. Ông thất thế lạc loài, cô
đơn giữa dòng thác tàn nhẫn của lịch sử xưa nay vốn ghẻ lạnh với các số phận cá
nhân khi đã hết vai trò. Cái đinh ốc làm gì còn có giá trị khi rời khỏi cỗ máy.
Giờ đây, sau mấy chục năm trường dâng hiến toàn bộ sức lực và tài năng cho lý
tưởng, ông chỉ còn lại một thân xác già nua, ốm o, nghèo khổ và đơn độc; ông chỉ
là một thứ đồ đã bị loại thải.
- Bác cứ nằm nghỉ đi. Để
tôi nấu bát mì cho bác ăn.
Tôi vội vã nhóm bếp dầu,
trong nỗi nghẹn ngào bất nhẫn. Và lát sau, ông ngồi dậy, đón bát mì nóng hổi từ
tay tôi, khe khẽ rên: Cám ơn cậu. Nhưng mà sao cậu nấu cho tôi nhiều thế? Những
hai gói milikét cơ à! Ông đang ở trong cơn sốc tim mạch. Nhưng cảm giác đói ở một
cơ thể ham sống, đòi sống đã chế ngự ông gay gắt hơn. Ông đói đã hai ngày. Gạo
hết. Tiền không. Giờ, ông khua đũa vào thành bát. Ông và, ông lùa cả búi mì tướng
vào miệng. Ông húp sụp soạp. Ông nuốt ừng ực. Rồi sau khi rên to một tiếng mãn
nguyện, ông đặt cái bát sạch trơn xuống mép giường và nằm ạch xuống chiếu.
- Bác còn ăn được nữa
không?
- Thôi, no lắm rồi. Cám
ơn cậu!
Vừa dứt lời, tôi chưa kịp
quay đi, thì khủng khiếp quá, ông đã nhoai người ra cạnh giường, oằn lưng, thót
bụng, há miệng nôn thốc nôn tháo một hồi.
Tất cả những gì vừa được
nuốt vào bụng ông, nghĩa là tất cả số lượng hai gói mì đã được ông ăn, giờ vẫn
còn nguyên từng sợi lổn nhổn cùng với thứ nước vàng vàng lợn cợn những hạt máu
đỏ tía tung tóe trên nền nhà.
- Cảm ơn! Cảm ơn! Nhưng
mà nôn được là đỡ rồi! Tiên sư nó! Có lẽ là bị cảm nhập lý! Hừ, nhưng mà sao lại
tức ngực quá. Tức ngực quá. Chẳng lẽ lẩn này là gục thật à? Không! Không thể gục
được!
- Thôi, bác đừng nói nữa.
Bác nằm nghỉ đi!
- Bác ngủ đi. Sáng mai,
tôi sẽ đưa bác đi bệnh viện. Không thể chủ quan được đâu!
Mệt nhọc và kinh sợ, tôi
thiếp đi. Và tôi đã giật thót mình khi vùng dậy nhìn sang ông. Mới chỉ qua mấy
tiếng đồng hồ, ông Tương Bằng đã biến đổi thành một hình hài hoàn toàn khác lạ.
Mặt ông phù thũng, nặng bình bịch. Tóc râu ông khô xác. Rùng mình, tôi nghĩ tới
lời phán định cay nghiệt của Giang ngày nào: ông đã tiêu pha đến kiệt cùng thần,
khí, sắc, và chút thiên quý cuối cùng của thân xác ông rồi. Nhưng mà kìa, có lẽ
là tôi đã nhầm. Ông đâu có chịu gục ngã như ông đã nói. Ông vốn gan góc và bền
dai. Hai mắt ông vừa mở. Nghẹo đầu nhìn tôi, ông đang vận dụng nội lực để khơi
lại nguồn sinh lực vẫn còn sót lại đâu đó trong mình.
- Cậu Thược đừng lo! Tôi
ngấp nghé cái chết nhiều lần rồi. Một lần bị bọn thổ phỉ phục kích ở Xín Chéng
Lao Cai bắn vỡ một bên vai. Một lần chết ngất trên mình ngựa giữa đèo Ma Ngán
Chải trong lúc truy đuổi tướng phỉ Vàng Lao Phu. Một lần thổ huyết vì sức ép của
bom Mỹ. Rồi tim sưng, phế mãn. Rồi tràn dịch màng phổi. Rồi mổ tim. Thế mà cậu
có biết không, tôi đã nghiến răng lại mà chịu đựng, phải rồi, nghiến răng lại
vì nghĩ: đau đớn là việc của căn bệnh, còn mình thì phải chịu đựng và tập rèn để
vượt qua. Và thề rằng, dù chỉ còn một lá phổi, một cánh tay, một cẳng chân, một
con mắt... thì cũng vẫn phải sống!
Một cơn co thắt đột ngột
chẹn ngang ngực đã khiến ông ngưng lời. Xoa ngực cho ông, tôi ứa nước mắt
thương ông. Có cảm giác như đã phần nào nhận ra chân dung ông bên cạnh những ấn
tượng không hay về ông, tôi thành thật khuyên ông, rằng sau đợt đau ốm này nên
thôi hẳn việc đi lại, nói năng, bực bõ vô bổ đi, rằng ông nên trở lại trạng
thái yên hòa, thư nhàn là nền tảng của sức khỏe tuổi già.
- Có phải là mình đi chơi
không đâu, Thược!
Cơn đau đã dịu. Ông nhìn
tôi rầu rầu, khẽ khàng. Thì ra ông chưa chịu nhận lĩnh sổ hưu, ông còn đi đây
đi đó là để đòi người ta phải xác minh lại giá trị của ông ở hai điểm. Một là,
ông đã là cách mạng chuyên nghiệp trong Hội Ái hữu thợ dệt, từ trước năm 1945,
tiền khởi nghĩa; điểm này quan trọng lắm vì nó có quan hệ đến phụ cấp lương bổng,
và khi chết được chôn ở Khu nghĩa trang A. Hai nữa, năm 1953, ông bị án kỷ luật
cảnh cáo vì quan hệ với một nữ đồng chí; nay, theo quan điểm mới thì phải xóa
án cho ông.
Tôi an ủi ông:
- Thôi, bác ạ. Những cái
đó giờ đây còn có gì là quan trọng lắm đâu. Bây giờ, quan trọng là bác về với
bác gái, với các anh chị con bác là có đủ niềm vui sống rồi. Lấy cái vui đó,
thêm cái tự hào vì cả cuộc đời cống hiến cho cách mạng lấn át cái buồn rầu, cái
thiệt thòi lặt vặt đi, bác ạ.
Ông Tương Bằng nằm im.
Ông không đủ hơi sức phản bác lại tôi rồi? Hay là nhà cách mạng chuyên nghiệp
này, trong giây phút cuối đời đã nhận chân ra giá trị của mình và chấp nhận ý
kiến của tôi, một gã trai tuổi chưa bằng con gái ông? Dự đoán trong hoang mang,
tôi bỗng chờn chợn, nổi da gà sợ hãi, khi bỗng thấy ông he hé mở hai con mắt đỏ
ké với hai hàng mi ướt nhoèn.
- Bác Tương Bằng!
- Cậu Thược...
Hai con mắt ướt nhoèn nhó
nháy của ông già lướt đi lướt lại trên mặt tôi khiến tôi bủn rủn cả chân tay.
Nhưng tôi chưa kịp ghé xuống đã thấy ông khe khẽ lắc đẩu:
- Cậu Thược à. Có lẽ
trong đời tôi lúc này tôi chỉ còn có cậu là người thân thiết gần gụi nhất thôi.
- Bác Tương Bằng!
Tôi kêu to một hơi và nắm
chặt tay ông. Ông nghiêng mặt. Từ cặp mắt ướt của ông tọt ra hai giọt nước mắt
giá lạnh lăn tuột xuống gối:
- Nhà tôi, bà ấy chết rồi!
Còn con gái tôi, nó từ bỏ tôi từ lâu rồi, cậu Thược ơi!
Trong cuộc đời mình, đây
là giờ phút tôi bị nỗi ân hận giằng xé đau nhức nhất. Bởi tôi nhận ra, bấy lâu
nay, tôi chỉ là một kẻ sống hời hợt, không hề biết chia sẻ, giao tiếp với đồng
loại của mình. Tôi không hề biết đến nỗi đau đời khủng khiếp nhay nhức suốt đời
ông Tương Bằng, không hề biết rằng mỗi con người là một cuộc đời với bao khổ
đau cay đắng mà đồng loại cần phải sẻ chia, giao cảm. Vợ ông, một nữ chiến sĩ
cách mạng đã chết rồi. Chết khi chị vừa sinh đứa con gái đầu lòng được một năm
và sau đó, nhận quyết định từ ông để con lại cho bà ngoại, vào vùng địch, thực
hiện mỹ nhân kế nhằm mê hoặc và tiêu diệt một tên tướng phỉ. Khổ! Khi quyết định
giao nhiệm vụ trên cho chị, ông đầu có nghĩ rằng, đứa con gái duy nhất của ông
sẽ oán hận ông suốt đời.
- Cậu Thược ơi...
Rưng rưng trong thương cảm,
tôi cúi xuống bên ông già. Và nhận ra, những tàn lực cuối cùng đã bừng dậy
trong tiếng nói phản tỉnh nức nở, đẫm vẻ hoang mang của ông:
- Cậu Thược ơi! Cả một đời
hoạt động cách mạng, tôi không làm điều gì sai trái với lương tâm đạo đức. Vậy
mà tôi đã làm hại chính vợ con mình. Nhưng mà cậu có hiểu cho tôi không? Tình
thế lúc ấy phải làm vậy. Phải làm vậy, vì chẳng lẽ lại đùn đẩy cái gian khó, hiểm
nguy cho người khác. Cậu có thông cảm cho tôi không? Ơ kìa tại sao cậu không
nói? Tại sao lại im vắng thế? Cái loa đâu, tại sao nó không kêu? Cậu nối dây
loa đi, cậu Thược...
Không thể ngờ, đó lại là
những câu nói cuối cùng của ông Tương Bằng. Ông rơi vào cơn hôn mê sâu ngay sau
khi nói những lời trên. Tôi vội gọi xe cấp cứu, nhưng vào đến bệnh viện, một tiếng
sau thì ông mất. Bệnh án ghi, ông bị đột tử vì nhồi máu cơ tim.
Đám tang ông lèo tèo vài
chục bạn bè đồng nghiệp. Càng buồn vì phải nghe một bài điếu văn nhạt nhẽo như
được viết theo một khuôn mẫu có sẵn. Mọi cái chết đều cô đơn. Nhà cách mạng
chuyên nghiệp này chết trong cô đơn hơn bất cứ ai. Tôi lập bàn thờ ông tại một
góc buồng, nơi ông đã cùng tôi chung sống những ngày qua. Thắp tuần hương đầu
tiên cho ông, tôi khóc òa, như khóc thương một người cha. Một người cha đã chết
như một kẻ bị loại thải, bị lãng quên. Nhưng quan trọng hơn, một người cha trước
khi chết đã sống một cuộc sống thật sự. Sống như đã hằng sống, sống với đặc điểm
là lòng ham mê lý tưởng và sự quên mình đến khốn khổ.
Gia tài, di vật ông để lại
được bàn giao cho người con gái một tuần lễ sau khi ông mất mới trở về thọ tang
cha, chỉ là một cái valy cũ nát, vài bộ quần áo rung rúc, mấy tấm ảnh, vài chiếc
huân chương, kỷ niệm chương, ba quyển sổ công tác, một cuốn sổ tiết kiệm có số
dư một ngàn rưởi đồng, vừa tiền một bát phở. Dưới đáy valy ông còn có một vật lạ
mà vừa nhìn thấy, tôi đã nhanh tay chộp lấy và giấu biến đi; đó là cái nắp bình
xăng ở chiếc Honda 81 của Giang trị giá hơn chục nghìn đồng. Chúng ta sống với
nhiều bi kịch, chứ đâu có nhiều hài kịch như lúc đầu tôi tưởng.
Hà Nội, 12/1990-2011
- 3 -
Cố Vinh, người xứ lạ
Cho mình đi, ông Tây ơi!
- Người Phăngki ơi, tung
tiền ra đây nào!
- Kẹo! Kẹo ngọt! Đằng này
kia mà, ông Tây! Những tiếng réo gọi, hối thúc hoan hỉ hợp thành một vòng tròn
âm thanh mỗi lúc một ken dày, chật chội, vây quanh một người đàn ông xứ lạ mới
xuất hiện giữa buổi chợ đông đã lập tức nổi trội về sự khác biệt dung mạo, vóc
dáng. Mũi ông thò lõ, mắt ông xanh lơ, râu cằm ông giống hình cái chổi đót,
vàng hươm màu thuốc lá. Cả thân hình đồ sộ của ông choàng một lớp vải đen thâm,
lại kỳ dị thêm vì cái mũ nan trắng rất rộng, trông như cái mũ nấm dại.
Đứng giữa đám người Mông
vây bọc, một tay ông giữ cây thánh giá nạm bạc lớn treo lủng lẳng trước ngực, một
tay ông liên tiếp lách qua các lớp vải áo choàng vào bên trong ngực. Rồi ông rướn
người lên. Vốn đã cao lớn, nay trong động tác rún chân, tung tay, ông hóa thân
thành một hình tượng bốc bay thần thánh, khiến đám người vây quanh như bị thôi
miên, cùng há hốc miệng, ngước hết cả lên, dõi theo cánh tay tung cao của ông.
Họ liên tưởng tới thao tác gieo hạt từ động tác nọ. Điều đó có lẽ là không sai.
Khác chăng chỉ ở chỗ hạt ông gieo là những chiếc kẹo bọc giấy bóng xanh xanh đỏ
đỏ và những đồng tiền - những đồng hai mươi xu bằng bạc nguyên chất, xinh xẻo,
một mặt có hình bà đầm ngồi xòe váy rộng, in chữ số năm phát hành 1927.
Ai mà chẳng thích tiền!
Trẻ con thì thích cả tiền lẫn kẹo. Nên thoạt tiên là trẻ con; chúng tách ra khỏi
đám đông đang quẩn lại như mê lú trong phiên chợ. Chúng chen huých nhau để
giành kẹo, giành tiền. Tiếp theo bọn trẻ nhỏ là cánh đàn ông trẻ. Đám người
Mông này đang chơi chim họa mi, đang đánh gót, nhảy lò cò uốn mình nghiêng ngả
theo hơi khèn bè, hoặc đang ồn ào mua bán, đổi chác ngựa trâu, đang lơ mơ trong
men rượu bắp bên bát thắng cố, khi nhận ra ông Tây nọ tung hê tiền bạc và kẹo
ngọt, thì lập tức bỏ lại tất cả mọi việc cùng nỗi ham mê, xông ngay vào cuộc. Lồng
chim mi và cây khèn bè ngay tắp lự bị vứt lỏng chỏng trên bãi cỏ rìa chợ.
Lũ đàn bà con gái Mông nhập
cuộc muộn hơn. Bản tính e dè cố hữu và kém cỏi về sức lực tranh đua khiến họ
lúc đầu chỉ đóng vai như là những khán giả đứng xem các trò chơi vật lộn, tranh
cướp trong các kỳ hội làng. Nhưng sau cùng họ thấy cũng chẳng nên bỏ lỡ cơ hội
hưởng phúc lộc. Họ liền cúi xuống, ngượng ngùng tìm nhặt những đổng xu, những
chiếc kẹo người Tây nọ quá đà tay tung ra tận vòng ngoài. Khổ! Tất cả dân Mông
bản địa huyện này đểu nghèo!
Người Tây cao lớn đeo cây
thánh giá, mặc áo choàng thâm rộng tiếp tục gieo phúc lộc. Nhưng, kho trời cũng
có hạn nữa là. Cuối cùng, vào lúc chợ tàn phiên, người đàn ông xứ lạ nọ tung bổng
hai cánh tay lớn lên trời, kêu to bằng tiếng Mông: “Hết rồi!”. Và cả đám người
đang mê cuồng trong cuộc giành giật lợi lộc liền tỉnh cơn, cùng cười to một tiếng
mãn nguyện và tan đám!
Đám tan mà chưa tan!
Câu hát hết, câu hát lại
bắt đầu!
Lũ thiếu niên, những kẻ vụ
lợi vô tư nhất của loài người đội mũ vải chom chỏm, mặc áo khoác cộc tay bằng
lanh, phết sáp ong cứng, xán ngay đến người xứ lạ mặc áo choàng thâm nọ.
- Mai ông Tây lại phát tiền,
cho kẹo nhé!
Nghe lũ trẻ gạ, một nụ cười
không âm thanh nở trong đám râu vàng mượt quanh miệng lan lên má, lên mắt người
đàn ông nọ, trông thật hiền. Ông đặt bàn tay dầy, trắng hổng, ấm áp lên vai những
đứa trẻ vây quanh, cúi xuống, cất lên một thứ tiếng Mông phát âm chuẩn mực cùng
ngữ điệu đầy tính hàn lâm:
- Em bé này ở đâu?
- Ở Lao Chải.
- Ờ, ông biết Lao Chải.
Còn em? Cũng ở Lao Chải?
- Không! Ở Tả Giàng
Phình.
- Tả Giàng Phình. Tôi đã
hơn một lần đi qua. Còn anh vác dao quắm kia?
- Tôi ở Mù Cang Chải. Có
con dao này đi rừng không sợ con gấu, con hổ.
- Ôi, con dao sáng sắc
quá!
Người Tây bất giác giật
lui, mắt nhìn ánh dao nọ, đưa tay lên giữ cổ. Tựa như lưỡi dao nọ vừa chạm vào
da cổ ngài. Người Mông ở Tả Giàng Phình tiến lên một bước nhỏ, cười khẽ:
- Ông có muốn thuê tôi đi
hộ vệ không?
- À, ừ. Tốt. Cào bê hùa
cheng? Anh tên là gì?
- Sùng Sử!
- Sùng Sử. Anh đẹp trai lắm.
Đẹp mạnh mẽ, đẹp như con gà trống thiến. Dân ca Mông hát thế. Có đúng không?
Người tên Sùng Sử mặt bự,
môi dầy đầy vẻ nhục cảm, cười to:
- Không phải. Con gái đẹp
mới ví thế. Em đẹp như con gà trống thiến. Xa em hồn anh phảng phất ở vạt áo
em. Có câu hát ấy đấy!
- À, tôi nhầm - Người Tây
lắp bắp - Tôi nhầm. Hay lắm! Cám ơn anh Sùng Sử. Anh thông minh lắm. Còn tôi,
tôi là cố đạo Ravina. Ravina! Nói thử xem!
Lũ thiếu niên Mông ngẩng
lên, như những con chim non há mỏ, đọc theo Sùng Sử, dằn mạnh từng âm tiết.
Ra-vi-na! Người đàn ông tên Ravina gật đầu:
- Giỏi lắm! Pêtu Mông
trang, anh em người Mông ta giỏi lắm! Nhưng từ nay gọi tôi bằng tên Việt. Tên
Việt tôi là cố Vinh. Cố Vinh. Cố Vinh! Đọc thử xem nào!
Lẩn này thì cả đám đàn
ông, đám đàn bà con gái đứng ở ngoài rặng đào ngoài kia, cùng lũ thiếu niên mấp
máy môi, lẩm nhẩm: “Cố Vinh!”.
Cố Vinh! Cố Vinh! Cha
Ravina! Cha xứ đạo vùng Sapả! Con đầu của Hội Thánh nước Đại Pháp!
Cố Vinh lừng lững một tầm
vóc gấu mẹ, tuy mới ngoài tuổi hai mươi, nhưng gương mặt đã bào giũa hết mọi
hôn ám đối nghịch, nổi bật giữa đám thảo dân thiểu số nhỏ con, nâu nhám, mặt
mày còn ngơ ngác trong các tín niệm bán khai. Năm ngày một phiên chợ Sapả, chẳng
phiên nào cố Vinh quên thực thi hành động phóng tài hóa, nâng mình lên lồng lộng,
nên chẳng bao lâu tên tuổi cố cùng hình tượng nghĩa hiệp nọ đã thành một trích
đoạn của một thiên huyền sử, lưu truyền theo suốt chiều dài sơn mạch Fansipan
hùng vĩ này.
Người Tây đến đất núi này
từ cuối thế kỷ trước, sớm nhất là bọn nhà binh. Nhà binh Phăngki từ tỉnh lị Lào
Cai nhờ người dẫn đường lên tới đây, bắn mấy tràng súng ra oai, rồi cắm trại, lập
đồn. Giữa hoang vu, đồn binh thoạt đầu mới chỉ là một căn nhà cột kèo dui mè đều
làm bằng gỗ pơmu với một cái chuồng ngựa dài lợp gianh xám. Đường đi mới chỉ là
vệt mòn. Tây đàn ông từ tỉnh lị lên phải ngồi ngựa, thuê người dắt. Phăngki đàn
bà yếu hơn phải ngồi kiệu. Ông Thào A Sần, người Lao Chải, thôn gần huyện lị
Sapả nhất, đã tám mươi tuổi, kể: “Tôi dắt ngựa cho cả ông công sứ Tây. Tôi
khiêng kiệu cho nhiều bà đầm. Nhưng tôi chưa hề thấy mặt ông cố Vinh này”.
Hố pẩu, tức bô lão, tức
người gốc, tên là Mã A Thòn cũng ở thôn Lao Chải, nhíu mày: “Tôi nhớ rằng ông Cố
này đến xứ Mông ta khi vua Giàng Say ta vừa quy tiên!”.
Mọi người ngồi quanh bếp
lửa cùng à to một tiếng, rồi cùng một nhịp kêu dồn: “Phải rổi! Phải rồi!”. Và
đăm chiêu nhớ lại. Nhớ lại rằng, Giàng Say người Mông sinh ở Tả Giàng Phình vào
năm con khỉ một hôm bị con ngựa trắng đá vào ngực, nằm liệt, thập tử nhất sinh
sáu tháng trời liền. Đến ngày đầu tiên của tháng thứ bảy thì nhận được phép lạ,
bệnh lui hết, tung chăn ngồi phắt dậy, cất tiếng sang sảng: “Nay trời giáng ta
xuống trần làm vua xứ Mông ta. Đầu ta đã mọc chín cái sừng. Lưng ta đã nổi chín
cái bướu. Ta bay lên trời được. Ta gọi được mưa, gọi được nắng. Ta hóa phép cho
ngô lúa tự mọc. Ta lệnh cho các người từ nay không phải xuống vùng thấp khiêng
kiệu, dắt ngựa hay đi phu làm đường, không phải đóng thuế nương thuế ruộng cho
ai hết!”.
Dân Mông mười tám xã
trong huyện nghe tin Vua ra nườm nượp kéo đến, mang theo đồ mừng, nghe lời phán
bảo, sung sướng như đứa trẻ côi cút được trở về sống dưới sự che chở của mẹ
cha.
Đồn binh Tây biết tin nọ
liền cho lính mang súng xuống Tả Giàng Phình, vừa như mời vừa như ép buộc vua
Giàng Say lên đồn. Vua chối không được, đành cùng năm người trai đinh theo lính
đồn đi. Quan Pháp đón vua Mông ở cửa đồn, dẫn vào buồng ăn, mở tiệc khoản đãi
và trò chuyện rất thân mật. Cuối tiệc, hỏi: “Vua Mông có phép lạ gì bày cho
quan xem với”. Giàng Say cao hứng vươn tay múa và hát bằng tiếng Quan:
Lù van van
Ni thin ngố xổ
Ni thin ngố chéng
Hâu lải sui seo sin cù chủ
Pú trồ khu. Pú trồ
nan.(1)
Quan đồn vỗ tay khen hay,
rồi cho Vua về.
Sau lúc Vua về, mưa đổ
liên tục ba ngày đêm không dứt. Suối lớn nước dâng tới tận lưng núi. Đường đi lối
lại đều bị nước ngăn. Mưa tạnh được nửa buổi, vua Giàng Say bỗng ôm bụng quằn
quại. Nửa đêm đó Vua tắt hơi đằng ngực, mặt tím bầm, lưỡi thè ra như để mọi người
thấy đầy là cái chết do ngộ độc thức ăn!
Vua Giàng Say chết được
ít lâu thì Cố Vinh có mặt ở xứ này. Cố Vinh không ăn mặc kiểu nhà binh Pháp.
Cũng không đeo súng. Cố mặc áo choàng đen như con quạ, cưỡi con ngựa đực màu đỏ
lửa. Một mình một ngựa, thoạt đầu Cố Vinh đến các bản Mông quanh đồn binh đóng ở
huyện lị Sapả. Ít lâu sau, như vệt dầu loang, ông nhờ ngựa đưa đến các bản Mông
xa hơn. Ông tới cả đất Mù Cang Chải, nơi trời không ba ngày nắng, đất không ba
thước bằng, suốt ngày sương ủ mịt mờ nương thuốc phiện. Ông để tâm nhiều nhất đến
bản Lao Chải, nơi cư trú gần trăm nóc nhà họ Mã người Mông cạnh huyện lị.
Xứ Mông chưa từng gặp một
kẻ ngoại tộc nào thực hiện cuộc du hành kiên nhẫn với tinh thần chăm chỉ học hỏi,
và có thái độ trân trọng với nền văn hóa cổ truyền của dân bản địa như thế. Chỉ
đường là bài hát mở đầu tang lễ. Cố nhập tâm từng câu, rồi còn lân la hỏi cho đến
ngọn nguồn từng điển tích. Cố ghi chép phong tục cướp vợ cùng các bài dân ca,
các tập quán bất thành văn, lại miêu tả cảnh quan thiên nhiên và nhân văn cùng
mùa màng, cách thức canh tác, dệt vải của bộ tộc này. Quên thói quen ăn lúa mì,
Cố dùng bữa với thứ bột ngô đồ chiêu nước canh cải. Cố uống chè tuyết, ngủ qua
đêm trên tấm da hổ, sống không phân ngôi khách chủ với mọi nhà.
Cố chăm học tiếng Mông lắm.
Trong vòng nửa năm Cố đã nói thạo thứ tiếng này, lại còn biết phân biệt thứ thổ
ngữ vùng nội địa với ngoại biên, biết nói kiểu tiếng Mông xanh thanh nhẹ hơn tiếng
Mông đen. To lớn, nhưng trẻ trung hiền lành. Hành vi ứng xử vẻ ngoài như khom nịnh,
nhưng cốt cách rõ đáng bề trên. Nét mặt, nụ cười hoàn toàn trong trẻo, không
vương sót tí chút dục năng tục lụy, ham muốn tầm thường, lại thêm có lời nói ai
nghe cũng lọt tai: “Ta về quê tổ của ta đây rồi”. Thoạt tiên Cố nói vậy. Rồi Cố
nhẩn nha tiếp: “Người Phăngki ta với người Mông là anh em ruột thịt đấy. Này
nhé: Cùng ở vùng lạnh. Cùng ăn bằng thìa. Phụ nữ Mông và phụ nữ Phăngki cùng mặc
váy như nhau. Vợ chổng như đôi chim cu, đi đâu cũng có nhau. Có đúng tôi và anh
là cùng thịt cùng da không?”. Người Mông còn đang ngơ ngác, Cố đã tiếp: “Ngay
tiếng nói ta cũng giống nhau lắm. Người Việt nói lúa. Người Mông ta nói Mblê.
Người Phăngki nói blê. Có đúng là giống nhau không?”.
Ấy thế, nghe nói thế thì
biết thế. Chứ biết gì mà bảo là sai!
Prứ... Prăp prăp...
Prứ prứ... Prăp prăp...
Đó là tiếng ngựa thở và dồn
vó trong thôn Lao Chải xúm xít hơn trăm nóc nhà họ Mã thuần Mông. Con tuấn mã
đang phì hơi lửa qua hai lỗ mũi và nện móng trong nhà ông Mã A Thòn, hố pẩu, đầu
tộc họ Mã, ba gian gỗ rộng thênh.
Nhà ông Thòn đang có đám
cúng ma, đang đông nghẹn người.
Buổi trưa. Mấy mảnh ván
thông lợp mái được đẩy kênh lên cho ánh mặt trời có lối vào soi tỏ gian giữa âm
u đặt bàn thờ ba tầng bát hương đồ sộ. Khói hương phủ mù mịt hơn chục cái bát
hương ở mỗi tầng. Bàn thờ dựa vào bức vách rối rít la liệt các bức họa, những
hình âm dương, các quẻ hào, bát quái, những chủng tự ngoằn ngoèo bí ẩn, những
con vật mang hình thù quái dị vì lắp ghép lộn xộn, khi là mình rồng đẩu chim,
khi là mặt người thân rắn. Cùng với chúng là những lá bùa xoắn thừng treo cạnh
gậy tầm xích và các cặp chân gà, chân chó khô quắt.
Phủ phục trước nơi thờ
cúng uy nghi nọ là chiếc ghế băng phủ tấm chăn dạ đỏ chóe, nhưng qua vẻ trịnh
trọng của nó, ta có thể đoán ngay rằng đó là con tuấn mã. Con tuấn mã, con ngựa
chiến, chính nó đang thở và nhảy những bước dồn dập như đã thấy ở trên kia.
Trên lưng ngựa lúc này là
ông Mã A Thòn, trong vai một ông thầy cúng. Mặt ông choắt choeo, gãy góc, lúc
này trông càng khắc kỷ và kín mít. Bộ quần áo thầy cúng vàng lửa có vẽ hình mặt
rồng nơi bụng áo, cùng với hai chùm nhạc đồng buộc ở hai cổ tay ông làm ông oai
nghiêm hơn ngày thường. Tuy nhiên, ông chỉ thực sự biến hình khi dàn nhạc gồm
kèn, trống, nhị ở cạnh bàn thờ bắt đầu cuộc hòa tấu. Thoạt tiên là sự hưởng ứng
của hai chùm nhạc đồng ở hai tay ông. Tay ông run rẩy rồi vung cao, trong khi
hai chân ông nhớm trên mặt đất bật lên từng nhịp nẩy mỗi lúc một mạnh mẽ. Cảm hứng
và trách nhiệm đã làm tan biến vẻ mờ mịt, kín đáo trên mặt ông. Mặt ông ửng lên
màu men hồng. Ông đã trở thành kỵ sĩ. Lúc này hai chân ông đạp phình phịch liên
hồi trên mặt đất. Và chiếc ghế băng bốn chân đã hóa thành con chiến mã đang lao
sầm sập vào trận thư hùng sinh tử.
Trên lưng ngựa, ông thầy
cúng Mã A Thòn đang lao xuống cõi âm ti địa ngục. Ông đang xông pha để tìm kiếm
linh hồn đứa trẻ nhỏ, cháu đích tôn của ông. Ma ở xứ người chết này là ma ác;
nó đã bắt mất linh hồn đứa cháu yêu quý của ông. Đích thị nó là ma ác rồi.
Nhưng nó là con ma gì thì ông chưa biết, ông còn đang truy tìm. Nó có thể là
con ma suối, con ma rừng. Cũng có thể là con ma trâu hoặc là con ma lợn sề,
loài ma ác nhất. Nhưng loại ma ác nào mà chẳng khôn ranh. Thoáng thấy ông là nó
thoát xác, biến hình ngay lập tức. Cuộc truy bắt thật gian nan! Ông phải có trí
xét đoán phi thường. Phải có con mắt thấu thị và khẩu khí phải linh hoạt, sắc
bén vô cùng, vì đã có những lúc tưởng là đã tóm được con ma nọ rồi, mà cuối
cùng vì đường lý lẽ không thông suốt, đành phải để nó buột ra khỏi tay mình!
Lúc này ông đơn thương độc
mã, một mình một ngựa. May thay, con ngựa này đã bao phen xông pha chiến trận
cùng ông nên khôn ngoan và can trường, có thể sánh ngang với ngựa của Hạng Vũ
hoặc của Quan Vân Trường. Đường đi thật muôn vàn gian khó. Núi hiểm. Sông sâu.
Cầu hẹp, lại lúc đóng lúc mở. Lại chó ngao cả đàn chặn lối và quỷ binh hung ác
lũ lĩ ngăn đường. Cũng có lúc ngựa chiến muốn nản chân bon. Thì đã có ông ghé
tai khích lệ: “Ngựa khôn, ngựa khỏe của ta. Dũng mãnh lên con. Đích xa ở trước
mắt kia rồi!”.
Tuấn mã tức thì lại như mọc
cánh. Và ông cao hứng cất tiếng vang vang:
Ngựa khổng lồ! Ngựa khỏe
của ta!
Chân nhanh hơn đất
Móng không có vết
Ma phải khiếp vía chạy về
nhà nó
Tiến lên kẻo xác người chết
thối rữa ra rồi!
Dừng tiếng hát, thoắt
cái, ông dựng hai chân, đứng thẳng như cây cọc tiêu trên lưng ngựa. Mắt ông
quăng quắc. Môi ông mím chặt. Lỗ mũi kéo vẹt về hai phía, miệng nín thở, mặt
ông nở phình. Hai tay ông vung vít bốn phương. Ông đã gặp con ma bắt linh hổn đứa
trẻ. Con ma ác này đang huy động quân binh vây bọc ông. Ông đang dùng vũ thuật.
Không xong, ông phải giở pháp thuật. Ông quát:
- Bớ ma kia! Hãy trở về
nhà đi! Như người trở về với ruộng nương của mình. Bớ ma kia, hãy trả lại linh
hồn đứa bé cho ta. Hãy trở về nhà ngươi và cấm có được lang thang đây đó nữa, hỡi
ma kia!
Ngồi trên cái ghế rơm vặn
tròn hình khúc gỗ, cố đạo Ravina dõi theo trình tự lớp lang buổi cúng, nhập trí
từng khúc đoạn, cảnh huống, ghi nhớ từng lời hát, động thái, nét mặt ông thầy
cúng. Chưa bao giờ Cố được chứng kiến một hoạt cảnh vừa hào hùng vừa kỳ quái
như thế. Ngài mới hai mươi bảy tuổi. Đây là địa phận đầu tiên ngài được phái đến
để thực hiện chức năng thiết lập sự đạo và cai quản các linh hồn con dân nước
Chúa. Tuổi trẻ gắn liền với tính tò mò. Buổi cúng ma, đối với Cố phần nào đã trở
thành một trò diễn và ngài vô cùng sửng sốt khi thấy ông Thòn đang trên mình ngựa
tả xung hữu đột, bỗng như thoát khí, uể oải ngồi xuống lưng ngựa, rồi nhoài
mình trên chiếc ghế dài phủ tấm chăn đỏ, nhắm nghiền hai mắt, thiêm thiếp đi
luôn vào giấc mê.
Nhạc hơi và bộ gõ im tiếng.
Một người đàn bà từ sau chiếc bếp lò bên gian trái bước ra, bà cúi xuống nâng đầu
ông Thòn dậy. Một người trai trẻ từ gian đối diện cũng đã có mặt ở cạnh đó, nhấc
chân ông thầy cúng. Cuối cùng ông chỉ còn là một hình xác được đặt trên chiếc
cáng tre, khiêng đi.
Cố Vinh nghĩ: màn kịch đã
buông. Trận đấu đã kết thúc. Hồn đứa trẻ đã từ âm ti địa ngục trở về. Ngài liền
đứng dậy. Nhưng thấy một đám trai trẻ ùa ra sân, ầm ĩ chỉ trỏ, ngài liền đi
theo họ. Mọi người vây quanh một đoạn rãnh ở đầu hồi. Một người đàn ông đặt lưỡi
xẻng xuống đoạn rãnh ẩm ướt xanh lè rêu dại, ấn mạnh, rồi lật lên: “Úi!”. Mọi
người cùng kêu to. Từ những lỗ hổng trên tảng đất mới lật, hoảng hốt bò ra cả một
đám những con mò đen xám. Đó chính là lũ quân ma. chúng định chạy trốn. Nhưng
những kẻ trợ thủ của ông thầy cúng đã nhanh nhẹn đưa cả xẻng đất cùng bọn chúng
vào lòng cái bếp lò đang đỏ rực ở gian trái. Bọn quân ma đã bị tiêu diệt hoàn
toàn. Đó đây nổi lên những tiếng reo mừng chiến thắng!
Tối hôm đó, Cố Vinh ghi
nhật ký:
“Đợi cho ông Mã A Thòn tỉnh
dậy, tôi yêu cầu ông cho tôi gặp đứa nhỏ bị ốm. Nằm trong một cái xó tối ẩm thấp,
nó vẫn đang sốt li bì. Tay nó lên càng cua. Mu bàn tay phải căng nhức màu mủ
vàng lẫn máu. Tôi đã làm dấu và cho nó những viên kẹo và thuốc giảm đau. Tôi nhận
ra nó là một đứa bé đã hơn một lần nhận những chiếc kẹo và những đồng tiền tôi
tung rải ở các phiên chợ Sapả hồi trước.
Thuốc giảm đau có hiệu
nghiệm ngay. Tôi nói với mọi người chứng kiến sự kiện này:
- Đây là thuốc của Chúa.
Chúa cũng là một con ma, con ma lành, con ma to nhất, ma đứng trên tất cả các
ma lành của người Mông ta!
Ít lâu sau, Cố Vinh bắt
tay vào viết công trình khảo cứu mang tên: Địa lý nhân văn và xã hội học về dân
tộc Mông. Về buổi cúng ma nọ và các buổi cúng ma chữa bệnh tương tự, ông viết
như sau:
“Buổi cúng giống như một
vở kịch. Nói một cách khác, diễn tiến buổi cúng là một lễ lên đồng được gán cho
một nội dung tri thức rõ rệt và có kịch tính cao. Vì nó gồm cả sự vi hành, sự
can thiệp, việc thuyết phục và giao đấu, với kết cục là khỏi bệnh. Nên gọi ông
thầy cúng là saman. Trong buổi cúng, saman lên đồng, hiện hữu mà thực chất là hồn
lìa khỏi xác đi chu du, nhờ con ngựa dẫn đạo. Phù trợ cho saman tôi được biết
thêm, còn có nhiều ma lành khác. Ma cửa, ma bếp lò, ma gỗ giường, ma rầm nhà
chính... nghĩa là cả một hệ thống ma lành, cùng saman chống lại các ma ác, loại
này có thể kể: ma rừng, ma suối, ma trâu, ma lợn sề... đông vô cùng.
Thầy saman gần thầy phù
thủy hơn là thầy tu. Ông có một năng lực kỳ lạ là có thể tùy ý để hồn rời khỏi
thân thể, bằng cách vượt lên trên kinh nghiệm cá nhân mình. Ông biết cách run rầy,
biết chế ngự và táo tợn. Để trở thành saman ông phải thành tâm, lòng không được
mờ ám và phải có sự trợ giúp của thần linh để biến đổi - đó là sự khai mở,
không chỉ có tính chất trí tuệ mà còn có cả phần hoạt động của thể chất, sinh
lý.
Người Mông có từ nđù, tức
Trời. Theo họ, trên trời có bốn vị thần linh. Đó là các vị thần có chức năng
phán xét, quyết định cho con người được sống bao nhiêu tuổi và sau khi chết, được
trở thành người hay giống vật. Giống vật chỉ chết, chứ không ốm. Chúng chỉ có một
chu kỷ bất di bất dịch. Là chó thì mãi mãi là chó! Con người ta là một biệt lệ.
Một ông già ở bản Pao Mao Chải sắp chết nói với tôi rằng: “Thế là ta sắp tái
sinh”. Ở Mù Cang chải có một chuyện lạ hơn. Một người đàn ông sắp chết còn nợ đầm
đìa bà con. Khi lâm chung, ông nói với vợ: “Tôi sẽ trở thành con trâu cày để
giúp bà làm trả nợ!”. Sau khi chồng mất, bà vợ nuôi một con trâu. Bà nằm mê thấy
con trâu nói: Tôi sẽ làm trâu trả nợ giúp bà đúng năm năm”. Hiện thời con trâu
đã làm được ba năm rưỡi. Tôi sẽ theo dõi câu chuyện tâm linh này. Tuy nhiên,
trước sau tôi vẫn cho rằng, dân tộc này còn chìm đắm trong tiềm thức. Hôm qua
giống hôm nay và ngày mai cũng vậy. Toàn bộ những điều đã thấy, kể cả lễ saman
chỉ là thứ mê tín tản mạn. Đó không phải là tôn giáo. Nếu con người cần một đời
sống tâm linh được tổ chức chu đáo, có quy củ, thì rõ ràng ở xứ này, người Mông
“có một khoảng trống rỗng cần kíp phải lấp đầy”. Khoảng trống rỗng tâm linh này
một khi đã được lấp đầy thì tôi tin rằng cả những vụ xưng Vua như vụ Giàng Say
lên ngôi năm con khỉ - một căn bệnh trầm kha kinh niên ở các bộ tộc thiểu số sẽ
được loại trừ, nỗi lo sợ của nền đô hộ của người Pháp sẽ tiêu tan”.
Vào cuối những năm ba
mươi thế kỷ này, sự đạo ở đây đã bước vào thời kỳ vô cùng phồn thịnh. Dòng Thừa
sai thuộc địa phận Hưng Hóa của Cố Vinh lúc này đã mở mang nước Chúa tới tận
cái ngõ hẻm kiệt cùng xa cách ở hành tinh này, với gần chục ngôi nhà thờ ngày
ngày vang ngân tiếng chuông báo giờ lễ lạy.
Ngôi nhà thờ lớn nhất
vùng ở thôn Lao Chải dựng xong sau một năm trời công phu kiến thiết. Không kỳ
công như ngôi nhà thờ Phát Diệm của Cha Sáu, nhưng trong tương giao với cảnh
quan thì sự nguy nga và độc đáo cũng chẳng thua. Tất cả đều bằng gỗ pơmu lão đại
đục đẽo bằng rìu, trông thô mộc, chất phác, ngộc nghệch và nghịch dị lạ thường.
Tháp chuông nhọn, cao vót lên như một chóp núi kiêu hùng. Tượng ông Thánh Gioan
ở trước cửa ngôi nhà thờ cũng là tác phẩm của cây rìu, trông như tượng thờ của
dân da đỏ cổ đại. Chân tượng là dòng chữ khắc: Lạy Chúa! Chúa có những lời hằng
sống. Lòng trong ngôi nhà thờ tuân thủ nghiêm ngặt kiểu kiến trúc lòng ống
máng; từ các hàng ghế quỳ lễ lạy ngước dậy, cái nhìn bị vuốt dài tới một vầng
hào quang rờ rỡ, ở đó lung linh hình Đức chúa chịu nạn và trên vòm trần là hình
các thánh thần có cánh bay lượn giữa các vì thiên thể vô cùng huyễn hoặc, kỳ
quái và thấm đẫm nỗi hoang mang.
Nhà thờ dựng xong thì một
đoàn tráng đinh được cử ra tỉnh lị đón quả chuông chở từ Hà Nội lên bằng đường
xe lửa. Ròng rã ngày đi đêm nghỉ, ba ngày trời quả chuông hơn tạ mới leo dốc về
tới đích. Đưa được quả chuông lên nóc tháp mới thực sự là kỳ công. Dây rừng,
mây song bện, con lăn, ròng rọc, bánh đà kết hợp với sức người mới tạo được thực
cảnh kỳ diệu: ấy là khi quả chuông đã treo cao dóng hồi đầu tiên, tiếng bạc, tiếng
đổng văng vưởi rộn ràng khiến dân Mông trong cả thôn đều kinh hoảng, nhất loạt
bỏ việc, sụp mặt xuống, run lẩy bẩy như người tiền sử trước oai linh sấm sét.
Thoát ra từ tiếng chuông vừa rang rảng vừa âm u mù mịt là một linh hồn siêu đẳng
dang đôi cánh rộng bay lượn, phủ bóng khắp không gian.
Việc thờ phụng, lễ lạt đi
vào nền nếp. Mùa hè, đúng năm giờ kém mười lăm sáng thứ năm hàng tuần là lễ cưới.
Lễ rửa tội cho trẻ em có ca đoàn phù trợ thì tổ chức vào mười giờ sáng thứ sáu
hàng tuần. Hố pẩu Mã A Thòn trở thành trùm trưởng. Lo việc kinh bổn và trật tự
trong nhà thờ còn có hai quản giáo, trong đó một là nữ. Ngoài ra còn có một thầy
cai và một ông bõ, đểu là người trong thôn. Cùng với việc thu hút cả trăm hộ với
toàn thể thành viên trong gia đình thành con chiên do chúa chăn dắt, họ Mã còn
cử được hai thiếu niên đi học tràng tập ở tỉnh lị, với viễn cảnh náo nức; chẳng
bao lâu nữa, người Mông xứ này sẽ có linh mục người bộ tộc mình!
Giờ đây, trước khi xúc
thìa bột ngô ở hai bữa chính trong ngày, người Mông ở đây biết làm dấu thánh.
Chiếu tối, chuông rung. Trong ánh đuốc tẩm nhựa pơmu chập chờn, các con chiên
người Lao Chải đọc kinh nhật khóa, khung cảnh huyền ẩn rất giống không khí toát
ra từ những bức tranh sơn dầu miêu tả những nỗi khó trong cuộc đời của Đức Chúa
Giêsu. Ngày ngày, trong các buổi ngắm nguyện, quây quần quanh ông Cố, các tín đồ
càng lúc càng đắm mình vào ao ước sửa soạn xây thêm Nhà Nguyện Đức Mẹ bằng đá lấy
từ đỉnh núi PhanSiPan về và việc mở rộng nước Chúa tới các bộ tộc Dao Đỏ, Uní, ở
những bản làng heo hút trên lưng chừng trời.
Không nói thì ai cũng biết:
cảnh quan thịnh vượng của xứ đạo ở một vùng bộ tộc thiểu số thuộc một đất nước
nghèo nàn nơi châu Á này, thật là hi hữu và công đầu là thuộc về công sức và
tài cán của Cố Vinh, của đức cha Ravina. Ravina, ông Cố Vinh, một tính cách
thánh thần, một chuẩn mực đích đáng, một nguyên tắc cao cả, một mãnh lực vô
song cho một đại sự!
Cố Vinh, ông cố trẻ tuổi,
với những thành tựu này, quả thật đã chẳng phụ công rèn tập, răn dạy của các đấng
bề trên. Ông Cố trẻ tuổi thật sự là bản rập theo đúng các khuôn mẫu tạo tác của
các thánh tông đồ và Đức Chúa Trời cao cả. Chúa Giêsu, vị tổ khởi đầu của Thiên
Chúa giáo, đã đặt chân lên khắp xứ Galilê cổ đại, thì Cố Vinh, con của người,
cũng không vắng mặt ở bất cứ một thôn bản xứ này. Chúa Giêsu đã từng hết lòng
rao giảng, chữa lành mọi bệnh hoạn, thống khổ, hãm áp, quỷ ám, điên giản, bại
xuội cho đám người nghèo khó, tật nguyền, tăm tối ở xứ nọ thì ông cố trẻ tuổi
này, mục tử tốt lành của người, cũng ngày ngày nêu gương tận hiến cho đám con
chiên của người. Mỗi ngày ở đây ghi nhận không biết bao gắng gỏi của Cố nhằm cởi
thoát bao tai ách nặng nề cho đám dân chúng nghèo nàn, ngu độn ở nơi đây. Cố
ban thuốc chữa bệnh. Cố phân phát tiền bạc và quà cáp. Tục cưới xin gả bán vốn
là nguyên ủy của cảnh trai không vợ, gái không chồng, một hủ tục kinh hoàng của
xứ sở, nhờ Cố đã được thay thế bằng phép bí tích hôn phối giản kiệm trong nhà
thờ, tạo nên một hấp lực mạnh mẽ với dân chúng. Cái lợi ở đâu thì dân theo về
đó. Cố không đọc sách của Lão Tử, nhưng thực hành theo đúng chỉ dẫn của điều dạy
nọ. Kẻ nào theo đạo của Cố thì được ngài bênh vực, chở che khi kiện tụng. Phần
sưu thuế của những kẻ cùng hội cùng thuyền với Cố cũng được nới giảm do sự can
thiệp của ngài với các chức dịch lớn trong huyện, vốn cùng nòi Phăngki như
ngài. Xưa nay, lòng tốt bao giờ cũng chỉ là phần eo hẹp chỉ đủ để chi dùng cho
nội giới!
Ruổi rong trong cuộc đuổi
bắt và giành giật linh hồn người xứ sở này, Cố Vinh dấn thân vào một sự nghiệp
cao cả đầy mê hoặc. Cố sống trong một cơn nhập đồng, chỉ khác với thầy saman mà
Cố đã miêu tả trong buổi cúng ma nọ, là cơn thăng đồng của Cố có độ dài liên tục.
Chưa có kẻ ngoại tộc nào mà treo cao gương hỉ xả cho dân Mông đến thế! Bản nào
có đám cúng để giải thoát cho người ốm đau, thì dẫu xa xôi cách trở mấy, Cố
cũng lần mò tới. Cố chích mụn nhọt cho ông già bà cả. Cố hút đờm dãi cho trẻ sơ
sinh. Cho tiền bạc kẻ nghèo khó, yên ủi người hoạn nạn, Cố là hiện thân của đức
vị tha cao cả. Cố là thánh thiêng đẩy phép lạ, hằng ngày ban sức khỏe và phúc
lành cho mọi người!
Tuy nhiên, tất cả những
điều kể trên dẫu có được truyền tụng, biến hóa và phóng đại theo quy luật tình
cảm, trở thành những biểu tượng siêu phàm thì cũng chưa phải là đã phản ánh
đúng công tích chủ yếu của đức cha Ravina, người đã tới đất này khi Vua Giàng
Say, biểu trưng cho khát vọng muôn đời của bộ tộc Mông, vừa chết. Cố Vinh, người
Phăngki, chính thực là cái tố chất khởi xướng một tôn giáo mới và đã thành công
mỹ mãn. Ông Cố trẻ tuổi đã đóng trọn vai một nhà truyền giáo vĩ đại, vì đã lập
công trạng phi thường: đã di thực một loài thực vật từ một đới khí hậu xa lạ đến
và làm cho nó sống tươi tốt ở môi trường này.
Cố Ravina trẻ tuổi xứng
đáng hiển thánh ngay từ lúc này. Vì cũng như các thánh nhân xưa nay, ngài gây
được ảo giác cho con người và dẫn dắt họ đi theo mình. Du hành trong cõi vô
hình, đi tới những miền sâu thẳm của tiềm thức, của người dân sở tại, Cố đã
thâu tóm được và hệ thống hóa toàn bộ niềm kinh dị siêu hình của họ. Nhưng hơn
tất cả các tiền bối, Cố không làm điều phản bác!
Đổ tất cả các nguyên tố
hóa chất vào một chiếc bình, Cố làm công việc của nhà hóa học tài tình, Cố trộn
tất cả đám ma lành, ma ác, chức vị saman, các món phù phép, dị đoan tản mạn vừa
thiêng liêng vừa xằng xịt của dân Mông, với các niềm kính tín của chính ngài,
khuấy đảo, rung lắc, cuối cùng ngài tạo ra được một hợp chất mới mẻ và tảpilù
nhưng ngon lành, hợp khẩu vị với các đám dân lần đầu tiên được tiếp xúc với những
tín điều xa lạ. Cố đóng vai nhà ảo thuật, Cố biến đi rồi lại tái sinh trong
hình hài mới. Vậy là hệ thống tín điều xưa cũ, truyền thống xưa cũ vẫn còn
nguyên vẹn. Không suy suyển! Không đảo lộn! Chỉ có thêm vào, vẻ như không đáng
kể, một niềm tin cậy mới lạ. Và như vậy, thầy saman vẫn cứ tiếp tục cùng con tuấn
mã đi xuống cõi âm phủ đánh nhau với các loài ma ác để giành giật các linh hồn
người. Tất cả các tập tục vẫn ngày ngày diễn tiến. Tất cả, tất cả vẫn như xưa,
khác chăng bây giờ tất cả đều ở dưới sự chở che an bằng và ban phát của Đức
Chúa! Đức Chúa ở trên tất cả. Trên các niềm tin cậy. Chúa còn là hiện thân của
niềm khao khát về một kẻ đứng đầu bộ tộc tự chủ - một Vua Mông vĩnh hằng. Chúa
là con ma to nhất, con ma đứng đầu, bao trùm tất cả các loại ma! Lời ngài nói
khi thăm bệnh, cho thuốc đứa cháu nội hố pẩu Mã A Thòn ngày nào đã không còn là
câu buột miệng ngẫu nhiên.
Vậy là được thiên thời, địa
lợi, nhân hòa, đạo như lúa trổ bông, như hoa tỏa hương. Đạo soi tỏ mỗi việc làm
thiện, ác, len lách vào mỗi ngóc ngách tâm tư, thầm kín, biết được cả lòng tà
dâm của kẻ ngó đàn bà mà sinh lòng ham muốn. Đạo được chấp nhận là những quy tắc
nghiêm mật để xét xử thân mình.
Hoàn thành việc tập hợp
những kẻ cùng căn nghiệp vào một hội đoàn rồi, ông Cố tiếp tục lấy lối sống đạm
bạc, minh tĩnh và nghiêm cẩn của mình dể răn dạy con chiên. Ông dạy họ nếu mắt
hữu phạm tội thì móc ngay chi thể đó vất đi, vì thà mất một bộ phận, còn hơn để
cả thân thể bị ném vào địa ngục. Ông khuyên họ phải biết yêu kẻ ác vì Chúa vẫn
ngày ngày sai khiến mặt trời soi cho kẻ ác, vì người thiện vẫn soi cho ma tà,
công nghĩa vẫn thường soi cho kẻ bất nhân. Đạo đã lấp đầy khoảng trống hoang sơ
bản năng! Tài tình thay!
Ngôn dị hành nan. Cố Vinh
hiểu hơn ai hết điều này. Thành ra quá trình truyền dạy lời Chúa cũng là những
tháng ngày ngài ra sức trau dồi thứ ngôn ngữ bản địa nọ. Công việc bức bách đã
khiến ngài nảy ra sáng kiến sử dụng các mẫu tự Latinh để ghi âm tiếng nói bộ tộc
này. Ngài đắm mình trong say mê khoa học sáng tạo thuần túy không vương vấn tí
chút vụ lợi, ở việc này cũng như việc ngày càng chăm chỉ sưu tập, ghi chép để
hoàn thành tập biên khảo địa lý nhân văn và xã hội học về bộ tộc này. Chẳng bao
lâu, với thiên bẩm thông tuệ, lại có nền móng là sự uyên bác do cần cù tích cóp
từ ngày còn là chú tập sinh ở chủng viện, ngài đã thành công trong việc chuyển
dịch các văn bản về lịch sử hội thánh và những bản kinh lễ từ ngôn ngữ phương
Tây sang thứ tiếng Mông chưa có quy tắc ngữ pháp thành văn và đang thiếu rất
nhiều từ ngữ cùng là những khái niệm tương đương. Công việc thật là khổ cực, thật
là mê man, thật là trọng đại! Ông Cố Vinh với công việc dịch thuật nọ, đã hoàn
thành một vĩ nghiệp vĩnh cửu mà lúc đó ngài chỉ thấy được một phần vinh hiển.
Hoàn tất công việc này, lúc đó, ngài mới chỉ thấy rằng: ngài đã trao cho đám
con chiên nghèo khó một công cụ để hằng ngày họ bồi bổ cho đầy ắp đời sống tâm
linh của mình. Ngài mới chỉ thấy ngài đã dự phần vào việc dương triển giáo lý
và củng cố đức tin. Trong khi, vì văn tự, chữ nghĩa thực sự là những mắt lưới
giăng mắc cùm trói bền chắc hơn mọi dây dợ trên đời, nên thực chất Ngài đã trao
cho những kẻ khó mới gia nhập gia đình Đức Chúa nọ một vùng mỏ đầy báu vật và một
lạc viên tươi đẹp để di dưỡng tâm hồn họ!
Ôi chao! Thành ra, bây giờ
sau biết bao nỗ lực phi thường và thành quả trác tuyệt nọ, Cố Vinh đang sống
trong tâm trạng vô cùng mãn nguyện. Ngài thấy lòng thanh thản vô cùng. Nhất là
mỗi khi nghe thấy tiếng chuông rền. Gần một chục tháp chuông trong vùng cùng
lên tiếng đưa hồn người vào xứ sở kinh nguyện ngày ngày. Lúc ấy, Cố Vinh thấy hồn
mình bay lượn ngất ngây. Ngài làm dấu thánh và môi lật bật như một phản ứng bất
thẩn.
Thà lình txì, Thà lình
tù, Thà lình xèng xì bê mbê oa lê. Nhân danh cha và con và đức thánh thần, a
men.
Ngài không đọc kinh bằng
tiếng Latinh trong nguyên bản mà ngài đã nhuần thấm từ buổi thiếu niên. Ngài đọc
kinh bằng tiếng Mông, theo bản chuyển ngữ thật sát nghĩa và tài tình của chính
ngài.
Thà lình txì, Thà lình
tù...
Nhân danh cha và con...
Đó là tiếng nói của đạo,
của văn hóa chế ngự bản năng hoang sơ. Đó là lời kính mộ thầm thì trên môi Cố
Vinh mỗi khi ngài nghe thấy hồi chuông nguyện, chuông gióng giả tiếng vàng, lúc
văng đảo rền rã, khi đong đưa êm ả vuốt theo chiều dài trên núi, khi lìm lịm
ánh chiều buông, lúc loang loang ánh sáng một ngày mới khai mở.
Ít lâu nay, đã thành thói
quen, mỗi khi nghe tiếng chuông vang, Cố Vinh thường ngưng việc suy tưởng, đưa
mắt tìm kiếm môn đệ của mình, gã trai Sùng Sử, ngài muốn dò xét thái độ của y với
việc đạo. Hơn năm nay theo hầu ngài, trong tư cách là vệ sĩ, là mã phu, là
thông dịch viên, là kẻ dẫn đường, thậm chí là cố vấn mách bảo, Sùng Sử người Mù
Cang Chải, chính là kẻ đã gặp ngài buổi ngài phóng tài hóa thu nhân tâm phiên
chợ ngày nào, kẻ lúc nào cũng kè kè con dao quắm cán dài sáng rợn bên mình. Con
dao quắm lưỡi sáng rợn gây ớn lạnh kinh dị da cổ Cố Vinh ngày nào giờ đây vẫn
nguyên vẹn ám ảnh đó khi Cố nhìn thấy nó. Con dao quắm sắc có thể chém đứt đôi
chồng bạc trắng cùng với sức khỏe và kinh nghiệm đi rừng của Sùng Sử là một bảo
đảm an toàn tuyệt đối cho Cố Vinh. Y đã chém xả vai một con gấu ngựa khi con
thú này chợt xồ ra uy hiếp tính mệnh Cố Vinh. Cọp beo, lợn rừng, chó sói, Sùng
Sử cũng từng chạm mặt; y không biết thua chúng, khi y có thứ vũ khí bạch binh
thô sơ nọ ở trong tay. Thông minh, khôi ngô, tuấn tú, cố chấp và giảo hoạt,
Sùng Sử kết tinh ở trong y những đặc điểm quan trọng nhất của tuổi trẻ Mông nơi
rừng rú. Y am hiểu kỹ lưỡng bộ tộc mình. Những trang ghi chép của Cố Vinh về cảnh
quan, phong tục, lịch sử, phẩm hạnh, đời sống tâm linh, tín ngưỡng cùng là sự
làm ăn, may mặc, yêu đương, hôn thú, ca hát của bộ tộc này, có sự đóng góp
không nhỏ của y. Đó là lý do chính yếu khiến Cố Vinh, trong vai một nhà khoa học,
nhiều lúc phải dằn lòng, bỏ qua những điểu bất như ý, để tiếp tục sử dụng y như
một kẻ thân tín nhất.
Sùng Sử, gã trai Mông, biểu
trưng của một bản năng tự nhiên bất di bất dịch, vô cảm với các giá trị văn hóa
ngoại lai, khác mình. Chà! Thì chính y chả đó là một nhân vật Cố Vinh dùng để
trắc nghiệm một khía cạnh của tính cách Mông đó sao. Và ở phần kết thúc của trắc
nghiệm này, cực chẳng đã, Cố đã phải đưa ra cái kết luận thấm nhiễm tinh thần
bi quan của mình: Đạo không tới được, không có ý nghĩa cải hóa gì với những kẻ
như Sùng Sử, một dân Mông nguyên bản mãi mãi chỉ là một thành tố của bộ tộc
Mông? Là bởi vì, trắc nghiệm đã được thực hiện rất nghiêm túc. Đi cùng Cố Vinh
được nửa năm, Sử được Cố đưa về Hà Nội. Ở Hà Nội, Sử được ở nhà lầu, được hưởng
ánh điện và tất cả lợi lộc của nền văn minh cơ khí phương Tây. Thăm dò tư tưởng
y, Cố Vinh biết rằng Sử hết lòng thần phục nước Đại Pháp. “Nước Pháp có cái máy
nói chuyện được với người trời, lại có cái thiên lý kính, thật đáng bố mẹ ta rồi”.
Sử nói vậy. Nhưng đó chỉ là cảm giác buổi đầu tiên tiếp xúc của y. Ở Hà Nội một
tháng trời, y rầu rĩ tới hai mươi chín ngày rưỡi. Y không nguôi nhớ thương quê
núi. “Y rầu rĩ như người nông dân xứ Brơtanhơ trong bài hát nhớ quê”. Cố Vinh
nhận xét vậy và nhận ra Sử càng lúc càng lử khử lừ khừ như một kẻ ốm đứng giữa
chốn thị thành đô hội. Và không thể tưởng tượng được y vui sướng thế nào khi được
tin ngày mai sẽ được trở về quê hương. Y vui như một kẻ hết hạn lưu đày. Xuống
tàu lửa ở ga Lào Cai, bỏ mặc Cố Vinh đó, y phăm phăm như ngựa chạy, hơn bốn chục
cây số đường bộ, liền một hơi tới bản quê. Y vồ gọn một cô gái chăn bò trên đường,
đè cô bé ngay trên nệm cỏ, vừa làm tình với cô vừa gào như điên dại vì phát hiện
niềm khoái lạc vô biên ở chốn bản quê. Trả lời câu hỏi khảo sát của Cố Vinh, y
đáp. “Chả nghĩ đến Chúa hay bất cứ ai cả. Chỉ nghĩ đến chõ bột ngô và con đàn
bà. Chõ bột ngô để ăn. Con đàn bà để đút vào một phát cho nó sướng, thế thôi,
há!”. Ôi, Sùng Sử! Một bản thể xung thiên! Sùng Sử mãi mãi chỉ là Sùng Sử! Một
người Mông mãi mãi vẫn là dân con của bộ tộc Mông?
Cùng ruổi rong tháng ngày
với Cố Vinh, ngoài Sùng Sử, con chiên còn cần phải được sự rèn giũa của chúa,
còn có con ngựa đực. Con ngựa đực màu đỏ lửa, mắt xếch xanh dữ tợn, đuôi bờm rườm
rà, bốn tuổi, có nước kiệu êm và nước đại nhanh như gió. Con ngựa rừng rực một
khối nóng cháy sức lực, có tiếng hí dài lạnh rởn mỗi khi gặp ngựa cái. Con ngựa
đỏ không phải là chiếc ghế băng phủ tấm chăn đỏ trong lễ cúng ma của hố pẩu Mã
A Thòn được phong danh là con tuấn mã. Tuy vậy con ngựa đực màu đỏ cũng đem lại
cho Cố Vinh cái hư giác hạnh phúc và oai hùng của saman trong cuộc chinh phục,
giành lại các linh hồn khốn khó.
Bữa nay Cố Vinh và Sùng Sử
rời huyện lị Sapả từ lúc tan sương. Họ dự định buổi chiều sẽ tới bản Mù Cang Chải
để khảo sát cái chết của một con trâu cày; con vật này là hóa thân của một người
đàn ông còn chồng chất nợ nần khi trở về với quê tổ, như đã nói ở trên, trong một
trang ghi chép của Cố về đời sống tâm linh của bộ tộc Mông này.
Buổi trưa, đúng với lộ
trình, hai thầy trò tới con suối lớn ở đầu bản Lao Chải. Nắng sáng long lanh.
Nước suối trong xanh. Hoa trúc đào nở đỏ sậm trên bờ suối xanh mượt cỏ êm. Buộc
con ngựa đỏ ở gốc đào, hai người giở bánh trái ăn bữa trưa. Cơm nước xong, Sử
vác dao quắm tót lên rừng theo thói quen. Cố Vinh trải tấm da bò mang theo cạnh
búi mua dại, nằm nghỉ. Nhạc suối tính tang. Gió mát hiu hiu. Chỉ một thoáng hồn
Cố Vinh đã bay bổng lên thiên đường. Cố thấy mình có đôi cánh y như các thiên
thần mang gương mặt hài đồng giữa các vầng mây bạc. Ngài nhìn thấy những cánh rừng
mênh mông toàn một loại cây thân bạc, quả ngọc, cành vàng. Và ở trung tâm, nơi
Thiên Chúa ngự, một tòa lâu đài được tạo bằng chín thiên cầu lồng vào nhau tỏa
sáng lung linh, trong khi xung quanh bạt ngàn là những đóa hoa hồng xếp cánh, tức
các linh hồn xứng đáng đã được chúa cho gọi về bên người, đang cùng cất tiếng
ca. “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng chảy kêu dần Thánh Chúa”. Ôi!
Cực kỳ hạnh phúc chính là lúc này đây, Cố Vinh trẻ tuổi vội quỳ mọp xuống cạnh
một đóa hồng và giữa tiếng hát của bầy nữ đổng trinh, ngài nức nở thành lời:
“Con là mục tử tốt lành của Người, con xin thí mạng sống vì các con chiên của
Người”.
Giấc mộng huy hoàng của Cố
kéo dài chừng hơn nửa giờ. Lát sau, mơ màng trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, Cố
nghe thấy tiếng hai người trai gái vừa như giận dữ vừa như vui vẻ ở ngay bên cạnh
nơi ngài nằm. Thấy họ như đang trong cuộc co kéo. Rồi thấy tiếng bụi cây rạp
mình và tiếng phụ nữ kêu hấm hức.
Sau cùng tiếng một con ngựa
hí thật dài, rơn rởn, làm Cố Vinh ra khỏi giấc mộng vàng. Ngài nghển cổ và nhận
ra, đó là tiếng hí hào hứng và bức bối của con ngựa đỏ thân cận của mình mỗi
khi nó gặp ngựa cái. Con ngựa đỏ thật là một con đực rất đĩ tính. Lần nào gặp
ngựa cái nó cũng nổi những cơn cuồng hứng bất tử. Thế nào thì nó cũng tìm cách
đến gần được con cái. Ghìm nó thì nó phát điên phát rỗ. Nó đá lộn. Nó rúc bụi.
Nó cắn. Nó hất cả Cố xuống đất. Lần này thì hình như cơn kịch phát đến bất thần
và xem ra dữ dội còn gấp bội phần. Ngửa cổ hí hanh hách một hồi dài nữa, nó bắt
đầu hếch mông, đá hậu và bật đầu dậy, đòi giật đứt dây cương buộc ở gốc trúc
đào phóng đi.
“Cái gì đã xảy ra thế?”.
Lần đầu tiên Cố nhận ra những động tác kích ứng nọ của con ngựa đỏ hình như
đang bắt đầu lây nhiễm vào cơ thể mình. Sau một giấc mộng đẹp, cơ bắp thư giãn,
tâm hồn thanh thản, bỗng dưng trong Cố đó xuất hiện những háo hức là lạ.
Cố Vinh nhổm hẳn dậy.
Con ngựa đỏ vẫn liên tục
hất cổ, giựt cương, giậm giật bốn vó, ngoáy đuôi bước tới bước lui với vẻ bức
xúc và bứt rứt càng lúc càng tiến tới trạng thái điên khùng. Có một cơn bùng nổ
đang giấu mình ở trong nó. Có một nỗi thèm khát cháy bỏng ở trong nó đang đòi
được giải tỏa. Cảm nhận điều đó qua bản thân mình hay sao mà Cố bỗng dưng đỏ rửng
cả gương mặt. Và cùng lúc ngài bỗng gằm mặt xuống đất vì thấy xấu hổ vô cùng
khi thật tự nhiên và bất ngờ, ngài nhìn thấy một hiện tượng cực kỳ quái gở ở
nơi bụng dưới con ngựa đỏ. Con ngựa đỏ, tên nô lệ tận tụy và cương cường sức lực
của Cố, sau một hồi quấy đảo, rừng rực như một đám cháy, đã đứng im trên bốn vó
căng tràn sức bật, và đang lặng lẽ thả ra, thật từ từ nhưng thật rõ rệt, từ bụng
dưới của nó, một thỏi thịt gân guốc càng lúc càng dài, càng đỏ bầm và cương tức
vô cùng. Khủng khiếp quá! Vì lúc này, như bị kích thúc từ bên trong, không thể
gằm mặt xuống đất được nữa, ông Cố trẻ tuổi chập choạng đứng dậy và nhận ra sự
thể bây giờ lại còn khiếp đảm hơn. Thỏi thịt thò lõ từ dưới háng con ngựa đực
đã thả dài tới mức chấm vào ngọn cỏ. Nó đã là cả một khúc thịt vừa trơn nháy vừa
nổi mấu sù sì. Và cơn tức hứng đã khởi phát, nó, cái khúc thịt ấy một khi chạm
vào ngọn cỏ là lập tức trở thành một sinh vật độc lập, cứ tự động giật phắt
lên, rồi hạ thõng xuống, bần bật, bần bật như đánh nhịp liên hồi.
Quả thật đây là lần đầu
tiên Cố Vinh nhìn thấy cái vật giới của con ngựa đực. Ngài không thể tưởng tượng
nổi cái vật thể quái quỷ ấy chui lần ở đâu mà bây giờ lộ diện lại to gộc, dài
ngoẵng và dữ tợn thế. Nó cứ ngật ngưỡng bật lên, hạ xuống, nó không chịu ở yên.
Và nguy hiểm quá, nó hút hồn Cố. Nó gây ra sức dẫn truyền. Cố bỗng thấy hai bắp
vế và bụng dưới ngài như dồn máu, chuyển động giần giật và căng tức lạ lùng. Một
con vật lâu nay đã bị nhốt kín trong đời sống tuyệt dục, vô hôn, trong mải mê sự
đạo, giờ đây đang cựa quậy thức dậy trong ngài.
Vòng hai tay như ôm giữ
phần bụng dưới có cơ sắp bung vỡ, Cố bỗng thấy mình xa lạ với chính mình và bơ
vơ vì kinh hãi.
“Sùng Sử, người ở đâu?”.
Định cất tiếng, Cố vội đưa tay bịt miệng mình. Lưỡi ngài khô ráp, miệng ngài đắng
ngắt. Cố đã nhận ra tiếng thở gấp, cùng tiếng gầm ghì của gã vệ sĩ. Tiến lên một
bước, Cố nhận ra, đằng sau con ngựa đỏ đang trình diễn một cách khả ố và thô lỗ
cái hoạt cảnh bản năng tình dục không được chế ngự; Sùng Sử cũng như con ngựa đực,
nhưng ở thế chủ động và đang khai triển hành vi tính giao thú vật của y. Y đã
đè rập được một thiếu nữ Mông trên búi cây cỏ hôi. Y hung hãn như thú rừng vồ
được mồi. Ngồi được lên bụng thiếu nữ nọ, y giật tung hai vạt áo khép của cô
ta. Chính lúc ấy Cố Vinh cũng như mắt Sùng Sử, hai cặp mắt đổng thời nhìn thấy
hai bầu vú xổng xểnh như hai cái bánh dầy trắng mịn của cô gái. Riêng Cố Vinh,
Cố còn được biết thêm: phụ nữ xứ này không mang xu chiêng và nhìn sâu xuống
phía bụng dưới thiếu nữ, Cố Vinh trẻ tuổi biết thêm rằng: họ chỉ có một lớp váy
che ngoài.
- Bỏ ra! Bỏ ra, cho tôi
tìm ngựa!
Đáp lại lời kêu rên và
vùng vẫy của thiếu nữ, Sùng Sử trợn mắt, giơ con dao quắm sáng rợn lên cao, rồi
y vứt dao, ập xuống, rú lên sằng sặc:
- Ngựa của em đây! Anh là
con ngựa đực của em đây! Ối cha ôi, sướng quá, cha Vinh ơi!
Mặt Cố Vinh tối sầm. Óc
ngài mù mịt. Ngài lểu đểu quay trở lại và vội nằm úp sấp xuống tấm da bò để chẹn
một sức bứt phá nhức nhối vừa bột phát từ bên trong. Nhưng tiếng hí dồn dập, tức
tối của con ngựa đực khiến ngài lại bật dậy, và sau đó ngài vừa quằn quại vừa
thống thiết gào tên Đức Chúa Trời.
Que diêm đã bùng cháy
thành ngọn lửa thần.
Điều đó thể hiện trước hết
ở con ngựa đỏ. Nó không chịu rời chân khỏi vùng đất quanh gốc trúc đào nọ. Nó
khịt mũi, hít thở mùi hoan lạc tỏa ra từ bụi cây cỏ hôi. Sau nữa lộ trình sai hẳn
dự định. Hai thầy trò chiều đó dừng lại ở thôn Lao Chải, nơi có ngôi nhà thờ tạo
tác từ gỗ pơmu lão đại bằng lưỡi rìu. Cố Vinh quên phứt mất mục tiêu chuyến đi
là bản Mù Cang Chải và sự kiện con trâu trả nợ chết. Ngài thấy không còn hứng
thú. Trong khi đó Sùng Sử coi việc ở lại Lao Chải là sự tất nhiên. Cô gái đi
tìm ngựa bị hắn cưỡng ở bụi cỏ hôi, người ở thôn này, không ngờ lại là cả một đống
lửa rấm âm ỉ bao nhiêu là khoái lạc.
Để CốVinh ở lại với ông
trùm trưởng Mã A Thòn, cơm nước xong là Sùng Sử biến mất. Gần sáng y mới trở về.
Trở về y liếm môi liếm mép như vừa ăn xong một bữa tiệc và hai mắt rực sáng.
Quái, tình dục bẩn thỉu sao lại có ngọn lửa cháy sáng, bền bỉ thế!
- Cha Vinh à. Gái thôn
này đẹp như gà sống thiến cả lượt - Sùng Sử cười - Cha có nhớ buổi nào gặp
nhau, cha nói, tôi sửa lại câu ví đó không?
Cố Vinh ngoảnh mặt vào
vách. Ngài sợ hai con mắt rừng rực đam mê có sức thôi miên của gã vệ sĩ. Nhưng
y không kìm được. Y cứ chồm tới:
- Này cha, cha có nhớ đứa
con gái tôi đè ở bờ suối Lao Chải không? Chà, nó là con ngựa cái.
- Cái gì?
- Nó bảo nó thích cha.
- Hớ!
- Chác là nó nhìn thấy...
cái gì đó của cha...
- Úa!
Bất ngờ phát một tiếng nấc,
Cố Vinh ngóc dậy. Tên vệ sĩ đang hừng hực hồi ức cuộc tính giao kia, mi không
biết rằng Cố đang trằn trọc. Cố đang gắng sức để lại hình ảnh cô bé có hai bầu
vú trắng mịn nọ ở nguyên vị chỗ bụi cỏ hôi đó hay sao! Cố đang gắng gỏi chế ngự
mình. Cố quát:
- Sùng Sử! Anh không nhớ
rằng, chỉ cần ngó đàn bà mà động lòng ham muốn cũng đủ là kẻ phạm tội tà dâm rồi
đó hay sao?
Chà! Lời răn bảo của Cố
lúc này còn có ý nghĩa gì với Sùng Sử! Y đang theo đuổi ý tưởng của mình. Y dấn
tới sát cha.
- Cha ơi, có phải cha
nói, thánh Pao-lồ dạy: Tình yêu là mối dây liên kết hoàn hảo nhất! Đâu có tình
yêu, ở đó có Chúa, ở đó là thiên đàng?
- Phải!
- Cha ơi, có phải có lần
cha nói: Ađam và Êva ăn trái cấm xong thì biết là mình đang trần truồng?
- Ta đã nói vậy!
- Còn con. Ngủ với nó ba
lần liền con hiểu thế nào là cái khoái thú của đời người, con đã tới thiên
đàng!
- Bay đi lời nói dâm bôn!
- Cha ơi, cha giỏi tiếng
Mông, cha có biết câu nói cửa miệng này không: Đàn ông sung sướng hơn nhau ở
người đàn bà!
- Lạy Chúa! Cha không hiểu!
- Đúng là cha không hiểu
gì cả. Cha ơi, còn sướng hơn cả ăn uống kia. Ăn uống chỉ sướng miệng một mình
mình. Một mình đàn ông thì không thể có sự sung sướng được! Phải có đàn bà!
Gã trai Mông giơ ba ngón
tay. Y diễn tả các công năng của đàn ông đàn bà. Y miêu tả một cách cụ tượng cuộc
giao phối. Mắt y lóe sáng. Niềm khoái lạc vô biên tràn trề trong mỗi lời y. Một
mình đàn ông thì không thể có sự sung sướng được! Ôi, mệnh đề dân dã hay thánh
triết đây, sao mà ghê gớm vậy. Chao ôi! Cố Vinh còn rất trẻ. Cuộc sống phàm tục
ngài chưa trải. Cuộc sống ấy bấy lâu nay bị ngài coi như địa ngục. Và dục năng
chính là con quỷ dâm loàn trong quan niệm của ngài. Ngài có biết đâu, cuộc sống
ấy là thường nhật; cuộc sống ấy giờ đấy hiện ra với ngài lại sát sạt, thiết
thân, sục sôi hấp dẫn thế.
Quỳ rập xuống trước tượng
chúa, Cố Vinh rền rĩ:
Thà lình xì thà lình tù
Nhân danh cha và con và
thánh thần.
Lạy Chúa! Sao con nghe rạo
rực trong người quá thế! Xưa kia, đã có đôi lúc trong giấc mơ có quỷ ám, con đã
từng biết tiết chế, kìm hãm, nay con thật không hiểu trong con đang quẫy động
những cám dỗ đê tiện nhuốc nhơ, hay đang nảy nở những ao ước thần tiên? Con
không hiểu trong con có một con quỷ dữ đang hoành hành hay đây là người bạn
đòng hành thân thiết của con? Lạy Chúa!
Phàm vật gì nó đã sinh ra
mà cố tình làm cho nó bé đi thì trái lại, nó càng to lên. Đã có cái khởi đầu tức
thì sẽ có bước tiếp theo. Vùng hoan lạc bị nền giáo dục khép kín và khắc kỷ trở
thành hoang hóa mở rộng từng ngày, đưa Cố Vinh trẻ tuổi vào trạng thái thất thần,
hơ hoảng.
Nhiều đêm, Cố trằn trọc,
quằn quại bên chăn gối. Đi tắm, ngài ngại ngùng phải cởi bỏ quần chùng áo dài.
Ngài sợ nhìn thấy đàn bà con gái. Sợ nhìn thấy họ, nhưng lần đẩu tiên, do ám thị
từ hành vi bản năng của con ngựa đực lông đỏ, ngài lại muốn gần gụi họ và thấy
họ đẹp mẩy mang, hoang dã và rất phồn thực. Chà! Cuộc sống phóng dục ở đây diễn
ra thật tự nhiên. Gái tắm truồng nồng nỗng bên suối cả bầy. Trai gái yêu nhau
là có thể dâng tặng nhau thân thể mình, và trong ngày hội phóng đãng của bản
làng, bất kể ai cũng có thể làm tình với ai. Khốn khổ cho Cố Vinh, ngài nhắm mắt
bỏ qua, bịt tai lại không nghe, cũng vô hiệu. Trình diễn trước mặt ngài, trong
óc ngài bây giờ liên tục là cảnh tượng trai gái, đàn ông, đàn bà ái ân hành lạc.
Tội nghiệp cho Cố, nơi Cố nằm là một sàn gác. Đêm đêm từ đó, chỉ cẩn mở mắt
nhìn xuống là Cố có thể tận mắt chứng kiến cuộc chung đụng nam nữ của các cặp vợ
chổng. Ôi chao! Cái đời sống thường ngày nó là vậy mà sao Cố không biết tới,
sao Cố lại lãng quên? Que diêm đã bùng cháy thành ngọn lửa thần thật rồi “Một
mình đàn ông thì không thể có sự sung sướng được, cha có nhớ cái đứa con gái
tôi đè ở bờ suối Lao Chải không?”. Những âm thanh đã lọt vào óc cuối cùng ngân
lên thành một hồi chuông rền trong Cố!
Cố Vinh nhận ra ngài đã nấn
ná ở lại nhà thờ Lao Chải gần tháng trời.
Một bận, trong buổi lễ, Cố
phát hiện ra, mình đã đọc lẫn lộn lời kinh. Mồ hôi toát ra đầm đìa đúng lúc
ngài nhận ra một ánh mắt vuốt ve mơn trớn; và vì người nọ quỳ ngay ở hàng ghế đầu,
nên Cố nhận ra, hai vạt áo của cô ta khép không kín, để hở cả một vùng ngực trắng
thăm thẳm niềm liên tưởng.
Cái gì đã có khởi thủy
thì sẽ có chung cuộc.
Buồn thay, người đi cải
hóa kẻ mông muội lại bị bọn người bị coi là mông muội gieo hoang mê. Trần thế đầy
rẫy sự thể và bọn người chưa được giáo hóa, cần được giáo hóa lại đầy rẫy những
bài răn dạy không vòng vèo lý thuyết, chỉ trực giác mà hiệu quả tắp lự! Thiên
đường hóa ra cũng có nhiều lối để đi lên!
Tan buổi lễ, Cố Vinh chờ
cho tất cả con chiên ra về mới ra khỏi nhà thờ. Vòng ra sau tháp chuông, trong
bóng râm đổ xuống của tòa nhà lấp lánh ánh trăng, cạnh chỗ xếp các chũa(2) củi
cao vót dự trữ chống rét cho cả mùa băng giá sắp tới, Cố dừng chân bước.
- Cha!
Bật lên một tiếng thiếu nữ
gọi nức nở. Người Cố chung chiêng như quả chuông lắc. Cố vội đưa tay làm dấu
thánh. Nhưng không được. Thiếu nữ Mông nọ đã kéo bàn tay Cố và đặt nó vào khuôn
ngực ấm áp của mình. Cố vòng tay còn lại ôm trọn tấm lưng thăn lẳn nóng hổi của
người đàn bà trẻ và giọng ngài như giọng con trai Mông đang trong thời mê đắm:
- Em đẹp như con gà sống
thiến. Hồn anh ở vạt áo em, từ buổi thấy em bên bờ suối Lao Chải đó, em yêu.
Cố Vinh bị chặt đầu lúc
ông đang gập cổ, đắm mình trong cơn ăn năn trước tượng Chúa tại ngôi nhà thờ
Lao Chải, một trong những nơi ông đã dành toàn bộ sức lực và niềm tin cho công
nghiệp lấp đầy khoảng trống tâm linh cho đám dân sở tại.
Đầu ông đứt phăng, lăn
lông lốc. Vết chém bằng dao sắc lẻm, đứt gọn. Mắt ông trợn ngược, ngước lên trời
xanh, đầy nỗi nghi ngờ và hoang mang.
Hại Chúa chính là Juđa
thân cận. Không nói ai cũng biết, kẻ sát hại Cố Vinh là Sùng Sử. Hung khí là
con dao quắm. Con dao quắm ngày nào mới nhìn thấy nó Cố đó thấy rơn rởn nơi da
cổ. Con dao quắm đó chém đứt đôi chồng bạc trắng, đã chém xả vai con gấu ngựa cỡ
đại và cũng là công cụ đe dọa để chiếm đoạt thân xác thiếu nữ Mông nọ. Tên vệ
sĩ nổi cơn ghen, theo bản năng bất tử cố hữu của y.
Giết Cố Vinh xong, Sùng Sử
vứt bỏ bộ quần áo đang mặc đẫm máu Cố Vinh xuống suối, phóng lên núi Rêu gần đỉnh
Fansipan lẩn trốn. Y bắt cả thiếu nữ nọ cùng lên đó ăn ở với y.
Đồn binh Phăngki ra lệnh
truy nã hung thủ.
Một tháng qua. Sáu tháng
qua. Một năm qua. Án nhạt dần.
Sùng Sử cùng con dao quắm
đi các bếp lửa. Y kể:
- Buồn cười, có lần tôi hỏi
ông: “Có thích ăn nấm(3) không? Ông ngẩn ra không hiểu. Tôi giải thích. Ông cười
hiền trong búi râu: “Ta biết yêu chứ. Nhưng cứ gì cứ phải yêu đàn bà mới là
yêu!”. Lúc đó, tôi nghĩ nhầm, ông không phải giống đực.
Bật cười ha ha xong, Sùng
Sử tiếp:
- Nay thì rõ rồi. Đại
nhân và đại ác thì bề ngoài từa tựa nhau. Ông cũng là đàn ông. Mà còn đàn ông
hơn tôi, hơn anh. Ông còn đi xem đàn bà con gái tắm truồng, ông thèm họ hơn
tôi, vì chưa được hưởng bao giờ. Ông làm Ađam và Êva với cô gái nọ nhiều lần rồi.
Ngừng lại, tên vệ sĩ quay
về sau, nhổ bọt:
- Ông ấy từng bảo: Nếu mắt
bên hữu phạm tội thì hãy móc ngay chi thể đó vứt đi! Thế đấy!
Mọi người há hốc mồm kinh
sợ.
May thay, bọn người dung
tục đã lái câu chuyện vào quan hệ đàn ông, đàn bà. Họ bảo: “Trời đã sinh ra cái
vật gì thì phải sử dụng cái vật đó. Không dùng là phí phạm, là có tội với tạo
hóa”. Mỗi người một câu như củi góp vào bếp lửa, chuyện này kéo dài suốt đêm
thâu. Đầu câu chuyện là chuyện đạo, cuối cầu chuyện nhằng sang chuyện đời, chuyện
đàn bà sục sôi mùi sắc dục.
Cố Vinh chết. Sự nghiệp mở
mang nước chúa ở vùng núi non này còn quá mới mẻ hóa ra dang dở. Ông Cố mới được
cử đến thay thế Cố Vinh không có được cái đam mê của kẻ tạo vĩ nghiệp ở bước khởi
đầu, lại đã già, và chưa dứt khỏi ám ảnh của vụ sát nhân, nên sự đạo coi như tuột
mất thời cơ hồi phục. Kinh bổn chỉ ít ngày lơ là là quên. Nấm mọc trên mái gỗ.
Một bầy ong rừng không hiểu vì nguyên do gì bu lại làm tổ ở cây thánh giá trên
gác chuông, người kéo chuông vì vậy đâm ra ngại lắm mỗi lần phải giật dây, rung
lên hồi chuông báo.
Cố Vinh chết. Ảo giác mới
có đã tan. Khoảng trống tâm linh dân chúng nơi đây chưa kịp lấp đầy. Cái chết của
Cố có vẻ là ngẫu sự và không tương xứng với tầm cỡ ngài. Nhưng đó cũng là sự thật
về số phận hẩm hiu, bi đát của các hệ thống tín ngưỡng xa lạ; các hệ thống tín
ngưỡng này, đồ sộ thì có đồ sộ thật, nhưng nhiều khi quá mê mải lý thuyết mà
chúng quên mất cái lẽ tự nhiên của con người. Cố Vinh chết. Đời sống tâm linh bộ
tộc Mông ở xứ này coi như lại trở về điểm xuất phát. Khát vọng có được một thủ
lĩnh hùng mạnh, một đấng minh quân trị vì bộ tộc mình vẫn còn nguyên vẹn: và
đây là một chủ để trong bản giao hưởng cách mạng mà vào lúc ông Cố chết, tức
năm 1944, bộc tộc Mông cùng với bộ tộc khác trong vùng đang sửa soạn diễn tấu.
Cố Vinh chết. Ông chết vì
thành thật với mình. Chuyện phong tình của ông mờ nhạt dần theo thời gian. Tới
nay có lẽ chỉ còn tôi biết. Sùng Sử, người kể cho tôi nghe chuyện này, cũng đã
mất. Tên Cố Vinh còn ít người nhớ. Trong văn bản, ông là nhà xã hội học Jean
Ravina. Nhà xã hội học, nhà bác học Ravina! Ông để lại nhiều công trình nghiên
cứu rất có giá trị về bộ tộc Mông. Trong đó, đặc biệt là bộ sách địa lý nhân
văn và xã hội học dân tộc Mông dày hơn một nghìn trang. Ông là tác giả của các
bản kinh tiếng Mông dịch từ tiếng La tinh.
Những người biết lai lịch
ông, đặc biệt là các cụ bô lão, nhân dịp này, hẹn gặp nhau bàn luận và đang dự
định đúc tượng ông, coi ông là bậc danh nhân vì đã có công đầu trong việc sáng
tạo ra thứ chữ Mông dựa trên hệ thống mẫu tự La tinh, nay thứ chữ này đang được
phổ biến rộng ngoài đời.
Câu hát hết rồi lại chưa
hết
Khóm ngải tàn rồi khóm ngải
lại xanh.
Đó là một trong cả ngàn
câu ca ông đã ghi lại được từ chính tai ông nghe ở thuở ấy, nay người ta định
trổ khắc ở bức tượng đài hình ông nay mai sẽ được tạo dựng ở phố huyện Sapả,
theo quyết định của Hội đổng nhân dân huyện này.
1996-2011
Chú thích:
(1) Đường cong cong. Nghe
ta nói. Nghe ta truyền. Sau này cỏ sẽ mọc thành lúa. Không gặp khổ. Không gặp nạn.
(2) Bó
(3) Ý tục.
- 4 -
Cánh bướm tím
Cuối cùng thì hai thùng
nước đầy phè đã đổ òa xuống và cái sân in hình từng viên gạch cổ vuông vắn chìm
dần vào lặng lẽ sau những tiếng bong bóng sôi òng ọc ở những đường gờ nứt nở.
Và thằng Ất mười hai tuổi, con bác cả Lễ, tối qua đi xe đạp lên đây ở lại với
Thoan, theo mẹ nó nói là để đỡ đần cô sửa soạn ngày giỗ đầu của ông nội, sau
lúc kéo gầu nước cuối cùng từ cái giếng xây lên, nhìn Thoan, đã mâng mâng hai
con mắt có ý ngóng chờ.
- Lại định vòi cô đấy, hả?
Ra bà Xuân ở đẩu ngõ lấy cho cô ít khoai lang vào đây để cúng ông nội đã.
- Ứ ừ. Cháu mệt lắm rồi!
- Làm cái gì mà mệt. Lại
đòi tiền đi chơi điện tử chứ gì! Đây, cô cho. Nhưng, nhớ rẽ vào bà Xuân hộ cô.
À, mà bố Lễ cháu bao giờ mới đi công tác về?
- Cháu không biết.
Đút tiền vào túi, thằng Ất
tươi tỉnh tót ngay ra cổng.
Thốt nhiên căn nhà, khoảng
sân, mảnh vườn, cái giếng, bức tường hoa, ngay sau tiếng đóng cổng của Thoan,
chợt như buột ra khỏi cái nhìn quen thuộc của Thoan, bỗng trở nên xa lạ và vắng
vẻ vô cùng. Cảm giác ấy có, có lẽ còn là do lúc này, trời sập tối quá nhanh và
đàn dơi, những con vật có cánh, không lông vũ, như những quái tượng xổ lồng đã
vẽ loằng ngoằng rối rít những đường bay tùy hứng, chế ngự và làm nát vụn cả
không gian. Vắng vẻ quá, chìa tay ra có cảm tưởng chạm ngay vào bóng mình,
Thoan rùng mình vì trạng thái lẻ loi, nhất là khi hàng hiên Thoan đứng đã
thoang thoảng mùi hương trầm, chẳng có gì xa vắng hơn mùi hương trầm.
- Thoan, con làm gì ở
trong đó thế?
May thay, vừa có tiếng
người gọi và ngó ra ngoài cửa, Thoan liền khe khẽ reo:
- Cô Xuân! Cháu vừa bảo
thằng Ất nó ra cô, cô không gặp nó ạ?
- Cô gặp nó phóng xe đạp,
suýt nữa nó đâm vào bà cụ Tề bán bánh đa ở ngoài ngõ. Ban thờ sửa soạn xong
chưa, cháu?
- Vâng. Chỉ còn thiếu mấy
thứ đồ ăn khi sống cha cháu rất thích thôi.
- Ừ, khoai lang là món
ông cụ thích nhất đấy! Cô có mang theo đây rồi!
Xếp mấy củ khoai lang mập
mạp tím sẫm vào cái đĩa đặt lên rìa ban thờ, bà Xuân gài tóc mai, khép nép ngồi
xuống cánh phản kê trước bàn thờ đang nghi ngút khói hương, hiện ra mờ mờ giữa
hai lá màn xô vén cao. Hôm nay là ngày tiên thường, còn gọi là ngày cáo giỗ,
mâm cúng gồm những thức ăn khi sống người đã khuất vẫn thường thích ăn, con
cháu phải thắp hương, khấn thổ công, nội ngoại tổ tiên xin phép mời hương hồn
người cha về phối hưởng vào ngày mai là ngày tiểu tường giỗ đầu.
Thoan châm thêm hai ngọn
nến rồi ngồi xuống cạnh bà Xuân. Trên ban thờ cha, dương sao âm vậy, xếp đầy đồ
mã, áo quần, bát đĩa, ngựa xe, đồ dùng vật dụng của cha. Áo xô, mũ chuối, tang
phục của con cháu còn vắt bên cạnh. Vẫn còn lại tất cả. Cả cái áo cũ của cha
lúc cha nhập quan ở nhà tang lễ, bà Xuân cầm chạy ra giữa sân, huơ huơ lên cao
và hú gọi: “Ba hồn bẩy vía anh Lâm ở đâu thì về nhập quan nhé!”. Bà Xuân bảo,
sau khi trút hơi thở cuối cùng, hồn cha thoát khỏi thể xác, còn đang phiêu du
trên cao xanh, giờ nghe tiếng gọi mới trở về. Và lúc đó, ngay lập tức, ngồi bên
thi thể cha, Thoan có cảm giác được đối diện với cha, cha đang ở nơi cõi thế xa
xôi mà gần gụi với Thoan xiết bao!
- Cô Xuân ạ, cháu cứ đặt
mình là mơ thấy cha cháu. Hôm ba mươi nhăm ngày đưa cha cháu lên chùa, lúc triệu
cành phan, cháu hỏi cha cháu có thiếu gì không. Cụ nói: “Không”. Hỏi có thiếu
tiền tiêu không? Cụ lắc đầu. Nhưng hỏi có thiếu rượu không thì cụ lại gật.
- Từ hồi về hưu mới thấy
ông cụ uống. Nhưng cũng chỉ mỗi bữa một chén nhỏ thôi. Có đúng không?
- Vâng. Cha cháu vẫn tự
coi mình như bình thường, chả có bệnh gì sất. Đi khám định kỳ về, có hỏi cha
cháu cũng chỉ lắc đầu nói: “Xuất thân thợ thuyền như tao chẳng có bệnh tật gì sất,
ngoài cái đốt L2 ở sống lưng chệch đĩa đệm thôi. Mà bệnh này thì không lây,
không chết ngay mà cũng không chữa được. Mặc nó”. Vậy mà sau cái hôm đi ăn mừng
tân gia nhà anh cả Lễ cháu về, cha cháu còn hỏi: “Tiền của đâu mà nó làm cái
nhà to thế!”. Rồi bỗng nhiên ôm ngực kêu đau. Cô ơi, hôm nay là ngày cáo giỗ
thì không nói làm gì. Nhưng còn ngày mai, cháu chỉ sợ anh chị cháu mải làm ăn,
quên mất thì chẳng biết nói năng thế nào!
- Bác cả đã cho thằng Ất
lên giúp cô sao lại không nhớ! Thế, bây giờ còn những việc gì nữa? Mà này,
ngoài gia đình mình ra, cháu có định mời những ai đến nữa không?
- Cháu không định mời ai
nữa đâu. Nhưng cô à, hai ba hôm nay, cháu liên tục nhận được điện thoại của mấy
bác ở tận Thanh Hóa, Nghệ An. Tự giới thiệu là học trò học nghề của cha cháu từ
hổi xưa xong, các bác ấy hỏi han kỹ lắm về ngày giỗ của cha cháu.
- Cô có loáng thoáng nghe
cha cháu nói, có thời gian ông là thấy truyền nghề cho nhiều lớp thợ.
- Còn tất cả các thứ đồ
cúng cháu đều đặt rồi. Nem mọc thì cô làm giúp, chỉ còn mỗi nồi măng là cháu nấu
lấy. Thấu đu đủ ngâm giấm cháu bảo thằng Ất thái gọt, nó kêu đau tay, cháu phải
làm. Đúng là nhựa đu đủ ra xót da tay lắm, cô ạ.
- Đi bít tất tay cao su
vào.
- Vâng. Cô Xuân ạ. Không
hiểu vô tình hay hữu ý mà lúc đọc lời cám ơn ở buổi tang lễ anh cả Lễ cháu lại
nói: “Trời đã cho cha tôi hưởng dương bảy mươi hai tuổi là đủ”. Biết thế nào là
đủ! Với tình thương yêu thì dẫu có sống đến một trăm tuổi cũng chưa đủ, cô ạ. Vắng
cha cháu một năm rồi mà cháu đã quen được đâu. Bữa cơm nào cũng vậy, cháu có cảm
tưởng cháu vừa ăn vừa đợi cha cháu về. Cháu nhớ chiểu hôm đó, ở phòng cấp cứu,
cha cháu đã tỉnh, cha cháu còn nói: “Bây giờ tôi có thể đi bộ về nhà được rồi”.
Và cô còn bón cho cha cháu ăn gần hết một bát bún măng cơ mà! Cô ạ, giờ cháu vẫn
còn run cầm cập khi nhớ tới lúc ông bác sĩ bảo: “Thôi, không cứu được nữa đâu,
để ông cụ ra đi cho thanh thản nhé!”. Rồi rút tất cả dây dợ gắn ở người cha
cháu ra! Cô ơi, thật tình là cháu không biết có sống được nữa không, nếu lúc đó
cháu không có cô ở bên cạnh. Vì lúc đó hai anh cháu, người thì đang đi nước
ngoài, người đang đi nghỉ ở Vũng Tàu. Cháu viết thư cho Hoằng bạn trai cháu.
Anh ấy cũng nói là: “Không ngờ cha em đi sớm thế!”.
- Thế bao giờ bạn cháu
xong công việc?
- Hoằng biết cháu buồn.
Hoằng bảo sẽ tranh thủ thời gian trình bày luận án ở Đại học Ghécsen vào cuối
tháng 11 này để về trước hạn định một tháng, cô ạ. À, cô ơi...
- Còn chuyện gì nữa thế?
- Cô ạ. Từ mấy tháng nay,
cứ dăm bảy đêm lại có con bướm cánh tím điểm trắng, to bằng hai bàn tay từ đâu
bay vào nhà. Sa sẩn ở bàn thờ một lúc rồi vào buồng, cuối cùng thế nào nó cũng
đậu lại ở cái chao đèn đầu giường cháu.
- Lúc ấy cháu có thắp
hương không?
- Có, cháu thắp hương khấn
vong linh cha cháu một lúc thì con bướm bay ra. Đêm hôm qua cũng thế. Cháu đang
khấn thì thằng Ất tỉnh dậy. Nghe cháu nức nở: “Cha ơi, cha về với con đấy à?”.
Thằng Ất cũng chắp tay vái ông, cô ạ.
- Đúng là thế đấy, người
chết đâu có phải là đó xa lìa hẳn mọi người thân.
Ngoài sân, trời đã sập tối
từ lúc nào. Chỉ còn nghe thấy tiếng những đường bay như roi quất trong đêm của
bầy dơi ăn muỗi. Và thành phố như ở bên kia xứ sở hắt lên lưng trời một vầng
sáng hồng nhợt.
Thoan không lưu giữ được
nhiều ấn tượng sâu sắc về mẹ. Mẹ Thoan mất khi Thoan còn đang ở tuổi ấu nhi.
Nhớ đến mẹ, Thoan nhớ đến
mùi vị thang thuốc bắc sực nức và tự tin bay ra từ chiếc ấm đất đặt trên cái bếp
kiềng thọt một bên chân, phải kê gạch và rất hay nghiêng đổ. Thêm một hình ảnh
nữa là những ngón tay mẹ gầy gùa xanh xao, chúng lẫn vào với hai que đan nhoay
nhoáy chúi xuống trồi lên, một công việc nhỏ mọn, nhằm phụ thêm chút đỉnh vào đồng
lương chật hẹp của cha, một cán bộ xuất thân thợ cơ khí tay nghể cao, để nuôi
dưỡng một gia đình năm người. Thoan nhớ, mẹ Thoan hay gọi Thoan là Con mắt bò.
Mắt Thoan to như mắt bò thật. To đẹp và lúc nào cũng ướt át. Thoan nhớ, có lần
mẹ Thoan bảo, Thoan sáng sủa xinh xắn thế, cho đi văn công được đấy, nhưng
trông đôi mắt đa cảm của Thoan, mẹ sợ rồi số Thoan sẽ khổ.
Vắng mẹ, thiệt thòi này,
khoảng trống vắng này, Thoan nhận ra càng lúc càng rõ hơn khi tiếp xúc với văn
học; văn học, cái dòng chảy hồn nhiên, trong xanh và phiêu lãng, nơi in bóng
tình người, bao giờ cũng khơi nguồn cảm xúc từ tình yêu với người mẹ. Chẳng có
tác phẩm văn học đích thực nào nói về người mẹ mà lại không chân thành tha thiết.
Tuy nhiên, bù lại thiệt thòi này, Thoan được hưởng trọn vẹn niềm thương yêu của
cha.
Cha Thoan tuổi thìn. Anh
cả Lễ tuổi mùi. Anh hai Nghĩa tuổi tý. Hai bà chị dâu của Thoan đều tuổi thân.
Thoan tuổi thìn. Bà Xuân nói: “Thoan nấp bóng cha”. Theo lời thầy lý số vì cha
Thoan mất lúc hai giờ sáng là giờ xấu, kỵ tuổi thân, mùi, tý nên bên cha lúc
khâm liệm chỉ có mình Thoan và bà Xuân.
Chắt từng chén rượu ngâm
gừng xoa bóp mỗi khớp xương đã cứng đơ của cha, để mặc áo quần đi bít tất cho
cha, Thoan khóc thầm: Cha ơi, không hiểu sao đúng ngày cha đi cấp cứu một tuần,
chiều ấy từ cơ quan về, ngang đường gặp người bán gừng, con lại dừng lại mua một
xâu lớn. Chả lẽ là đã có sự tiên báo tiền định bắt cha con mình phải xa nhau
vĩnh viễn ư? Run rẩy mặc bộ quần áo đẹp nhất cho cha, bộ com lê màu xám kẻ ô
vuông may đo ở cửa hiệu, Thoan nhớ một đời làm thợ tay nghề cao, bậc lương lên
tới tột đỉnh và cả khi làm cán bộ công đoàn, cha cũng không có một bộ lễ phục tử
tế nào. Cha bảo: “Mình già rồi. Vải được thưởng để đấy, có chết, con cái nó còn
lấy vải đó may cho chúng được, chứ còn đã thành quần áo rồi thì đứa nào nó chịu
mặc”. Nhưng bây giờ thì vải cha được thưởng để đó ai may? Các bà chị dâu của
Thoan kêu: Toàn là vải Katê, ốcpho với vinilông cả, họa có nhà quê nó mới thèm
mặc. May mà cha còn bộ com lê đẹp. Dạo đó cơ quan làm dịch vụ được lãi lớn, thưởng
cho mỗi nhân viên một trăm đồng. Thoan góp thêm năm chục đồng nữa, kéo cha đến
tận nhà may Thời Trang phố Tràng Tiền, để may đo cho cha bộ com lê này. Hai
tháng sau, sau một lần thử, cha một mình đến nhà may nhận bộ đồ. Thế nào mà cái
áo thì vai rúm, vạt lệch. Chiếc quần thì vòng bụng rộng thùng thình trong khi
hai ống lại chật khăng khăng. Cha tắc lưỡi: “Thôi thế cũng được”. Nhưng Thoan
không chịu. Thoan đến cửa hàng, gặp cửa hàng trưởng, gay gắt: “Thấy ông cụ hiền
lành, các anh định bắt nạt hay sao?”.
Sự việc ấy cả nhà đểu biết
và không thể ngờ lại mở ra một cuộc bình phán của tất cả các thành viên trong
gia đình.
- Con mắt bò thế mà khá!
Còn ông cụ, đụt đâu có đụt đến thế!
Anh cả Lễ nhận xét cha vậy,
trong khi anh hai Nghĩa thêm:
- Hừ! Đã từng là tỉnh ủy
viên hồi cách mạng còn bí mật, thế mà bao nhiêu quyền lợi đáng được hưởng để tuột
ra khỏi tay hết. Đấy, cùng là hoạt động trước cách mạng mà người ta cấp chức
đàng hoàng, ô tô con đưa đi đón về, nhà cao cửa rộng phân phối ở không hết còn
cho Tây thuê, tháng tháng kiếm cả ngàn đô.
Còn chị dâu cả thì chẹp
miệng, mát mẻ:
- Hai ông con trai nói bố
thế là không công bằng! Cấp chức đàng hoàng! Thì ông cụ cũng oai phong cóc tía
một chức giám đốc, thủ trưởng một cái xí nghiệp sản xuất xô tôn với thùng sắt
tây, có đến những một trăm công nhân chứ xoàng à! Chỉ tiếc là đường đường một đấng
đảng viên tham gia cách mạng từ tiền khởi nghĩa năm 1945, thế mà khi được điều
chuyển công tác về Tổng liên đoàn, nó thí cho cái chức phó ban kinh tế hạng bét
mà cũng nhận.
Chuyện như đã khơi đúng
dòng, nên tới đầy anh cả Lễ lập tức cướp lời vợ:
- Các cậu sinh sau không
biết đâu! Ngay đất tổ tiên để lại cũng chẳng biết giữ nữa là. Đất nhà mình ngày
xưa ấy à, gồm cả dãy nhà bên kia đường kia kìa. Ngu ngơ quá để hàng xóm nay nó
lấn, mai nó ép, nay chỉ còn có hơn trăm mét, hèn đến thế là cùng.
Và chị dâu cả như được thể,
dài giọng:
- Thật không thấy đâu như
ở đây. Hễ mở miệng khuyên bảo con cháu, không là: “Hãy ăn bớt bát, hãy nói bớt
nhời đi, các con ơi!”. Thì lại là: “Chó nó có dây xích một mét rưỡi thì đứng xa
ra một mét sáu, các con ạ”. Có đúng là hiền giả quá ngu không!
Còn chị dâu thứ suốt cuộc
đã im lặng, giờ mới thấy không thể cứ ở vòng ngoài, nên sau một cái ngáp dài,
liền cau mặt, khủng khỉnh:
- Tôi về làm dâu cái nhà
này sau, nhưng theo tôi nhận xét, ông cụ cũng ghê gớm, cũng ương ngạnh ra phết
đấy. Đấy, chả kình nhau dai dẳng với tay gì cấp trên ở Tổng cục kinh tế thuộc Tổng
liên đoàn suốt chục năm trời, rồi bị lão ấy trù úm, vùi dập cho đến thân bại
danh liệt đấy thôi!
Con người là chính nó và
cũng có thể là biểu trưng cho một cái gì đó mà anh ta và những người xung quanh
còn biết rất lơ mơ. Tuy vậy, nếu cần nói về tính cách của cha trong một câu thì
Thoan có thể nói: “Cha tôi là một người hiền lành và cương nghị; hiền lành và
cương nghị - hai mặt đối lập trong một thể thống nhất hữu cơ”.
Hiển lành, thật thà là phẩm
hạnh cơ bản của người lao động lương thiện, là cách sống hồn nhiên giữa người
và người trong mối tâm giao bạn bè. Phải chăng, nhiều khi đức tính này không được
một bảo hiểm bằng một đức tính khác, ví dụ, tính nguyên tắc, nên có cảm giác
cha là người nhu nhược, yếu hèn? Chưa phải là những chuyện xa xôi mà ngay việc
cha để mất đất đai của tổ tiên để lại như anh cả Lễ nói đã là có thật. Thổ đất
của gia đình xưa rộng rãi lắm. Đó nguyên là một vùng ao hồ hoang vu rồi được mấy
anh em cha bỏ sức ra san lấp, biến thành khu vườn trồng trọt hoa màu, rộng có đến
dăm trăm mét vuông. Sau này các anh trai cha vào Nam bộ làm phu đồn điền cao
su, thất tán mỗi người một nơi, đất này mới để lại cho riêng cha gìn giữ. Chuyện
cha bị lừa mất đất thì nhiều, chẳng hạn, một ngày kia bỗng có một gã trai gầy
còm đầu bù tóc rối được cha dẫn về nhà. Cùng với việc nấu cơm cho gã ăn, cha lại
còn cho gã ở nhờ trong một túp lều nhỏ ở một góc vườn nguyên là nơi để than củi.
Hỏi ra, mới biết gã nọ là thợ tiện bậc 5/7 của xí nghiệp. Gã khai là bị con vợ
tai quái cho mọc sừng và đuổi ra khỏi nhà, giờ cầu bơ cầu bất không biết nương
nhờ vào ai. Thương tình kẻ gặp hoạn nạn, lại muốn giữ gìn của quý là thợ lành
nghề cho xí nghiệp, cha liền tự nguyện đa mang đèo bòng nó vậy. Không ngờ thời
gian bôi nhờn các quan hệ, kẻ được cưu mang được đằng chân lân đằng đầu, nên chỉ
hơn năm sau cơ ngơi nhà cửa nó đã loang rộng gần hết khu vườn, tiếp đó, lấy vợ
mới, dựng nhà xưởng chế biến đậu phụ, xây tường vi, cát cứ đất đai, thành lãnh
địa riêng. Nhẹ nhàng khuyên bảo nó thì nó phớt lờ. Lấy lý cản ngăn nó thì nó sửng
cổ, giở trò càn rỡ, vác dao búa ra tính chuyện ẩu đả. Hóa ra nó là thằng chuyên
lừa đảo, đã từng ra tù vào tội mà cha không biết.
Cha đã nhẹ dạ, cả tin hay
nhu nhược yếu hèn ở trường hợp này? Và ở câu chuyện sau đây nữa. Có một thằng
bé ở đâu đến xưng là cháu ông Cẩm, một người bạn thợ cùng làm việc với ông từ hồi
còn ở trong công binh xưởng trên Việt Bắc. Nó van nài cha: “Ông Lâm ơi, ông lấy
quyền cha chú đến can bố cháu hộ cháu mới, không bố cháu giết chết cháu mất.
Cháu không đánh mất xe máy của bố cháu. Cháu chỉ cho bạn cháu mượn thôi. Thế mà
bố cháu không tin, cứ cầm con dao đứng ở trước cửa, bảo: Mày mà vào đây thì mày
toi đời”. Động lòng trước tình cảnh đứa trẻ, cha lấy chiếc xe đạp Mipha đèo nó
đi. Nó chỉ căn hộ trên gác năm cao tít, sụt sịt bảo cha: “Ông lên đi, cố khuyên
giải bố cháu hộ cháu, cháu ở dưới này giữ hộ xe ông”. Vòng vèo năm lần cầu
thang, lên đến nơi, phì phò hỏi mới biết ông Cẩm bạn ông đúng là ở đây, nhưng
ông không có đứa cháu nào cùng ở, cũng không có câu chuyện như đứa trẻ kể. Biết
là bị lừa, vội quay xuống, thì ôi thôi, chỉ còn thấy mặt đất trống trơn, còn
chiếc xe Mipha một phần gia tài quan trọng của gia đình và thằng bé nọ đã biến
mất rồi.
- Thật là to đầu mà còn dại!
Đúng là không có cái dại nào giống cái dại nào!
Vợ chồng hai anh lớn nghe
chuyện ra sức mỉa mai chê trách cha. Cha im lặng. Sự đời lắt léo thế ai lường
trước được. Mẹ nói: “Thôi của đi thay người, buồn làm gì”. Còn bà Xuân thì an ủi
cha: “Dễ tin người là một nhược điểm dễ thương nhất của người ta đấy, anh Lâm ạ”.
Ôi, bà Xuân, người phụ nữ
mến thương gần gụi nhất với gia đình Thoan, một thành phần trong cái cơ cấu
quan hệ đặc biệt với gia đình Thoan, điểm tựa tinh thần mấy chục năm qua của bố
con Thoan, đặc biệt là từ khi mẹ Thoan, người phụ nữ mảnh khảnh yếu đuối cả
tinh thần lẫn thể chất, sinh Thoan được ít lâu thì đổ bệnh nằm liệt rồi mất. Bà
Xuân và mẹ Thoan cùng là y tá của một sư đoàn. Tâm đầu ý hợp, vừa là đồng chí vừa
là đồng nghiệp, hai người kết nghĩa chị em, cùng ra khỏi quân ngũ một ngày.
Không muốn rời xa nhau, vả lại, ở vùng quê Nam Định cũng chẳng còn ai thân
thích nên bà Xuân ở lại thành phố này, gần gụi sớm hôm với gia đình Thoan.
Tươi đẹp nhuần nhụy ở tuổi
bốn mươi, rồi cứ trẻ trung mãi với vóc dáng đàn bà vừa nảy nở trọn vẹn, vừa gợi
cảm hồn nhiên, bà Xuân là một tính cách phụ nữ đặc sắc. Mạnh bạo và khéo léo,
sõi việc đời, nhưng thấu tình đạt lý, bà Xuân được cả cha và mẹ Thoan vô cùng
quý mến, tin cậy. Ông Lâm nói: “Cô Xuân suy nghĩ thì cứng rắn, nhưng nói năng
thì mềm mại, Thoan phải học cô điều ấy”. Bà Xuân chính là người đã bế ẵm Thoan
từ lúc Thoan mới lọt lòng. Vì từ lúc đẻ Thoan, trong người mẹ Thoan đã mang mầm
bệnh nên yếu ớt lắm. Nên từ việc quấn cái tã, bón thìa bột, dỗ dành, nâng giấc
Thoan, bà Xuân cũng đã là bà mẹ thật sự của Thoan rồi.
Bà Xuân hiểu cha lắm. Trước
sau cha vẫn là vậy thôi. Và cha còn tiếp tục bị lừa, bị phản bội, càng về sau
càng chua chát hơn. Cuối cùng, thì chính là kẻ mang ơn cha, tên phó giám đốc
tham lam được cha chia sẻ trách nhiệm, thoát khỏi vòng lao lý, đã dựng lên cả một
câu chuyện dài với ý đồ quật ngã cha, lật đổ cha khỏi chức giám đốc cái xí nghiệp
chuyên sản xuất xô, thùng con con nọ. Khốn nạn! Cha, lẽ ra, với lịch trình công
tác, với công sức đã cống hiến và phẩm chất đã thể hiện, ít ra phải giữ một trọng
trách ở một ngành công tác ở trung ương! Không! Cha không màng chức vụ, công
danh và tiền tài! Hai chục năm, vẫn một bậc lương không đủ nuôi sống mình. Nhà
cửa không nhận phần. Một chiếc xe đạp phân phối cũng không. Cha khái tính,
không thèm cất một lời khiếu nại khẩn cầu. Cũng lại là cái thói quen hay nhường
nhịn, thương người, cảm thông với hoàn cảnh chung. Trong khi ấy, một kẻ khác,
tên Tổng cục trưởng mà cha biết chắc nó là tên phản bội cách mạng, đầu hàng đế
quốc lại ngang nhiên ngồi trên đầu ông, sống một đời vương giả, một mình làm chủ
đến ba bốn cái vila, có cả ngoại tệ gửi ngân hàng ngoại quốc, chính hắn đã liên
minh với tên phó giám đốc phản trắc nọ nhổ cái gai nhọn là cha. Đòn hội chợ đã
đánh bật cha ra khỏi vị trí đứng đầu xí nghiệp nọ. Nhưng cha đâu có chịu khuất
phục. Cái tính khí ương bướng của cha mà anh cả Lễ nói tới là ứng vào dịp này.
Cha hóa thành kẻ đối đầu với tên Tổng cục trưởng nọ. Gần một trăm lá đơn và gặp
gỡ đối chất. Đã có lúc chính cha cũng tưởng không đủ thời gian và sức lực.
Nhưng không, kẻ đào giếng một khi đã tin chắc, thì cứ mình trần lấm láp, chịu
khó chịu khổ đào bới kiếm tìm cho kỳ tới nguồn mạch mới thôi.
Về mặt này, anh cả Lễ và
anh hai Nghĩa là những người giống cha. Họ là những kẻ có năng lực và ý chí thật.
Bốn mươi lăm tuổi, anh cả đã là thứ trưởng một bộ kinh tế. Bốn mươi, anh hai là
viện phó một viện khoa học. Nghe tin cha phải đi cấp cứu, họ gọi điện tới tấp về
cho Thoan: “Khốn nạn thế! Tiêu chuẩn của cụ đáng lẽ phải là A1 bệnh viện cao cấp,
chứ đâu có phải cái xó nhà thương bình dân ấy”. Anh cả Lễ còn gọi điện trực tiếp
cho giám đốc, trưởng khoa bệnh viện nọ, nhắc nhở họ việc săn sóc thuốc thang
cho ông cụ, cuối cùng còn biết nguyên nhân dẫn đến cái chết của cụ là do vỡ
tim. Vỡ tim! Ngu đến thế là cùng! Anh cả Lễ kêu trời trong điện thoại gọi cho
anh hai Nghĩa. Anh bảo tim cụ, động mạch vành của cụ trục trặc từ lâu, lại
không chịu đi chữa, vì còn mải gây gổ, kiện tụng với cái thẳng cha lãnh đạo nọ.
Dở hơi, gàn quái quá chừng. Nó chẳng qua cũng là một bãi cứt trong cả một đống
cứt lớn ở nhà xí, thối là thối chung chứ riêng gì cụ ngửi mà cụ uất tức. Hai
anh trai Thoan nhất trí cho rằng cha Thoan là kẻ không thức thời, để thiệt
thân!
Hay đến nhà Thoan sau lễ
an táng cha là hai bà chị dâu của Thoan. Nhưng xem ra họ cũng chẳng mặn mà gì lắm
với việc kiểm kê tài sản, đồ nhật dụng của cha. Họ chỉ đảo mắt qua nhà cửa, cái
sân, cái giếng, mảnh vườn, rồi bỏ đi. Những hôm Thoan ốm, họ ở lại lâu hơn,
nhưng cũng chỉ sẩm tối là ra về.
Cha Thoan, tài sản riêng
để lại, thật tình chẳng có gì đáng kể. Hai bà chị dâu chẳng đoái hoài tới là phải.
Ấy là chưa kể khi Thoan xuống bếp nấu nước, bà chị dâu cả còn ghé tai bà chị
dâu thứ khúc khích: “Nói thật với cậu, lão Lễ nó thúc thì tớ phải đến thôi, chứ
mấy thứ này, bất quá như thứ hàng thùng, lại đồ của người chết nữa, nghĩ đã thấy
ghê bỏ cha đi ấy!”.
Cha có một va ly quần áo.
Ngoại trừ bộ com lê mặc lúc liệm, còn toàn đồ cũ. Một chiếc săng đay tím than,
cổ lọ. Hai chiếc khăn tắm tổ ong. Vài cái quần đùi vải diềm bâu, lồng giải rút.
Ba chiếc áo sơ mi xanh sĩ lâm. Bộ bà ba nâu. Đôi bít tất chân màu cỏ úa. Chiếc
mũ cát két xanh. Hòn đá kỳ. Những chiếc mùi xoa ngả màu thêu hoa ở góc khăn.
Ngoài ra là một cái cặp da sờn, khóa đã rỉ đựng giấy tờ, sổ sách. Cuốn lý lịch
đảng viên bong bìa. Mấy cuốn sổ lưu niệm. Một sổ lịch Nhân dân bìa ni lông đỏ
năm 1969. Tấm ảnh Bác Hồ tặng chiến sĩ diệt dốt. Đáng lưu ý là cuốn anbom, toàn
ảnh đen trắng, có tấm chụp mẹ Thoan và bà Xuân, thời thiếu nữ tóc để bờm, mặc
áo sơ mi cổ lá sen. Một tấm ảnh cha chụp chung với mẹ, cha húi tóc cao, mặc áo
đại cán, mẹ mặc áo vét cổ bẻ, nét mặt cả hai đều rất ngượng nghịu. Có một chiếc
ảnh vừa nhác thấy, Thoan đã phải giấu ngay đi vì sợ hai bà chị dâu thóc mách. Ảnh
màu, nước ảnh còn mới. Đó là ảnh chân dung bà Xuân. Bà mặc áo dài tím, đeo dây
chuyền và hoa tai vàng, vẻ mặt rất tươi mười, trẻ trung và mãn nguyện. Sau ảnh
là dòng chữ bà viết nắn nót: Một đoạn đường mới của cuộc đời. Hạ Long mùa thu
1998.
Thật tình là đọc dòng chữ
nọ mặt Thoan đã đỏ bừng và tim Thoan ngay lúc ấy đập rộn ràng. Ôi, như vậy là
đã có một điều gì đó vô cùng hệ trọng đã xảy ra trong sự huyền nhiệm của đời sống.
Nói cách khác, đã có điều gì đó đã từng hiện ra mập mờ trong sự phỏng đoán đầy
lo âu và hồi hộp của Thoan, giờ đây đã sáng tỏ giữa thanh thiên, đối diện trực
tiếp và thử thách thái độ Thoan.
- Cô ơi, ông có cái hòm
gì nặng lắm, cô ạ. Ông đựng gì ở trong này, hở cô?
- Cháu mở ra đi!
- Ối! Toàn là kìm, búa, mỏ
lết, cờ lê các loại, cô ạ.
- Đồ nghề của ông đấy.
- À mà cô ơi.
- Cháu muốn hỏi gì?
- Ông mất tức là không
còn gì nữa, hả cô?
Thằng Ất vừa nói vừa bê từ
trong buồng cha Thoan ra một chiếc hòm gỗ nặng chịch. Đó nguyên là chiếc hòm đạn
37 ly, đã tróc sơn, nhưng còn rất chắc chắn.
Đóng nắp chiếc hòm lại,
thằng Ất ngẩng lên. Hai con mắt nó thoáng nỗi bơ vơ, ngơ ngác. Thoan biết nói
thế nào để nó hiểu nhỉ? Cái chết nói chung là dấu chấm hết một cái gì đó tích cực,
một sự sống. Nhưng nếu nghĩ rằng, cái chết là sự đứt đoạn hoàn toàn thì dứt
khoát là không phải rồi!
Ất là thằng cháu đích tôn
của ông Lâm. Nó là đứa cháu nội gắn bó nhất và do đó có ấn tượng kỹ lưỡng nhất
về ông. Ông dạy nó từ cách gọt bút chì. Ông cầm tay nó tô những chữ tập viết đầu
tiên. Ông sửa cho nó cái cách cầm bút mấy ngón tay chum chủm như cầm bút lông
nên chữ viết vừa cứng quèo vừa gẫy nét. Ông dậy nó học tiếng Pháp. Uốn nắn rất
lâu nó mới phát âm được phụ âm erờ rung trong từ Pari, Camêrun. Ông bảo, đuổi
con chó con mèo trong nhà thì dùng tờ báo cuộn tròn lại phát nhẹ vào lưng
chúng. Tiếng phát nghe to, con vật sợ, nhưng lại không gây đau cho nó. Phơi áo
len muốn không bị giãn, tốt nhất là để chiếc lồng bàn trên sân nắng rồi rải cái
áo len ướt lên. Đóng đinh, thoạt đầu đóng mớm, rồi cứ một nhát ướm một nhát nện
mạnh, đầu ngọn búa phải vuông thước thợ với mũ đinh. Với Thoan thì cha dậy:
“Khi tiếp khách, chỗ ngồi của chủ nhà là ở chiếc ghế quay ra phía cửa ra vào, ở
vị trí này mới có tầm nhìn bao quát”.
Cha vẫn còn quanh quất
đâu đây, trong những điều cha dạy bảo, nằm ở thể vô thư, vô ngôn, giản dị thường
ngày.
Chị dâu cả tên Bỉnh xuất
thần nhân viên bán xăng dầu; từ ngày lấy chồng tức anh cả Lễ hồi đó làm vụ phó
vụ Tổ chức, đã bỏ việc, ở nhà vì chửa đẻ liên miên, người gầy tong teo, giờ
dùng lưỡi làm ra tiền, ỷ thế chồng chuyên việc đi xin quảng cáo cho các báo
chí, ăn hoa hồng phần trăm, kiếm bạc triệu ngon ơ. Chị dâu thứ tên Thìn, hơn chồng
năm tuổi, béo tốt phây phây, học hết lớp bẩy là ở nhà, trước là con theo mẹ, giờ
mẹ con là bạn hàng, cùng hùn vốn buôn bán hàng Tàu từ biên giới về hoặc đồ
second-hand của Thái, xe đạp bãi của Nhật, tháo vát, giỏi giang đường sinh lợi.
Về nhan sắc, ở tuổi bốn mươi cả hai đều chẳng xấu, chẳng đẹp. Giống nhau ở chỗ,
làm việc gì họ cũng tính toán chi li lợi hại, đường đi nước bước sau trước ngọn
ngành. Cả hai từ ngày về làm dâu nhà này, thấm nhuần câu Giặc bên Ngô không bằng
bà cô bên chồng, nên thiết lập ngay một quan hệ lãnh đạm với Thoan. Ít khi họ đến
thăm nom Thoan và ông Lâm. Phần vì cả hai đều là sản phẩm của một thời coi trọng
thời gian - thời gian là thứ vật chất thượng đẳng. Phần vì ngày rằm ngày đầu
tháng họ còn bận đến các đền chùa miếu mạo. Đền Sòng phố Cát. Đền Xanh Tuyên
Quang. Bến Đền Lào Cai... Chả nơi thờ phụng thiêng liêng nào mà họ không vi
hành tới dâng hương, xin lộc, cầu tài.
- Tôi đã gặp thượng tọa
chùa Trấn Quốc rồi. Đưa vong cụ lên đó vừa mát mẻ, đẹp đẽ, vừa thuận đường đi lại
cho cô. Tốn kém thì cũng phải chi, cô Thoan ạ.
Một hôm chị dâu cả đến
nhà nói. Chị dâu thứ chép miệng:
- Vấn đề là xem tiền nong
lấy ở đâu bây giờ?
Vuốt hai mép, chị dâu cả
làm như vô tình:
- Thế sổ tiết kiệm của cụ
để lại có được dăm chục triệu không, cô?
- Không nhiều thế đâu chị
ạ - Thoan đáp - Trong sổ tiết kiệm, cha chỉ có ba triệu đồng tiền thưởng huân
chương lúc về hưu thôi.
- Ba triệu đồng!
- Vâng.
- Lạ nhỉ, thế tiền lương
hưu hàng tháng của cụ tọt cả vào cái lỗ nẻ nào?
Chị dâu cả nhíu mày. Chị
dâu làm như lảng chuyện:
- À, Thoan này, cái hôm
làm lễ tang ông ấy mà, người ta phúng viếng được tất cả là bao nhiêu? Chi tiêu
thế nào? Có thiếu thì cô cũng phải cho biết để anh chị bù thêm vào cho chứ!
Mắt mở trân trân, môi
Thoan mím chặt. Thoan nhớ rằng, suốt buổi tang lễ, Thoan phải tựa vào vai bà
Xuân và úp mặt vào chiếc khăn tay ướt đầm. Dẫu sao thì bà Xuân cũng còn tỉnh
táo. Bà còn để ý thấy, hễ cứ có đám khách nào đặt tiền phúng lên bàn thờ cha
Thoan, là lập tức ngay sau đó, hai bà chị dâu của Thoan vội vã chen ra nhót lấy,
đút túi liền.
- Em đang mệt - Thoan nói
- Nhưng các chị khỏi phải lo hộ em. Thiếu thì em vay, em trang trải tất cả mọi
việc, kể cả việc đưa vong cha lên chùa sắp tới. Còn thừa thì em sẽ báo cáo với
tất cả các anh các chị, để lo việc xây mộ, sang cát cho cha sau này.
Đó là những ngày Thoan ốm
đau lệt bệt. Sau những ngày đêm liên tục săn sóc cha ở bệnh viện, tiếp đó là liền
một tuần lo việc an táng cha, nỗi đau tâm thể và cơn mệt nhọc quá sức chịu đựng
đã đánh quỵ Thoan. Lại đang là lúc cần dồn sức cho kỳ thi tốt nghiệp Đại học
Ngoại thương sau năm năm trời học tập căng thẳng. Hoằng từ Nga gọi điện về, lo
âu đến lạc cả tiếng. “Sao gần tháng nay rồi, anh không nhận được thư em?”. “Cha
mất rồi. Em đang bị viêm phổi!”. Chỉ đáp được tưng ấy tiếng, Thoan đã kiệt sức,
buông máy. Chị dâu cả chèm chẹp môi bình: Cô Thoan còn phải ngất ngư đúng trăm
ngày. Sau đó thì có đỡ mới đỡ. Giọng rất dửng dưng, chị dâu thứ tiếp: “Không
thì ít nhất cũng phải sau lễ định nghiệp bốn mươi chín ngày. Còn bây giờ ý à, hồn
cụ còn lơ vơ lưởng vưởng quẩn quẩn quanh quanh ở trong nhà, còn là khổ!”.
Qua trận viêm phổi, huyết
áp Thoan tăng đột ngột lên 220/100. Đi cấp cứu, uống thuốc một tuần, đơ đỡ thì
phát hiện có hai dạng, hai ổ ngoại tâm thu, nhịp tim đập hàng năm trăm lần
trong khi chỉ số cho phép chỉ là ba trăm trong một ngày đêm. Lại phát hiện thêm
nguy cơ dầy thất trái. Rõ ràng là trạng thái stress, những xúc cảm âm tính đã gảy
nến những tổn thương nặng nề cho sức khỏe của Thoan.
Chập chờn trong trạng
thái bệnh tật dằng dai, Thoan càng nhớ đến cha mỗi khi Thoan đau ốm. Nhớ chai
nước muối cha pha để súc miệng hàng tối. Cha nói: “Nhà mình từ cha đến anh Lễ,
anh Nghĩa, con, đường hô hấp, nhất là họng, đều yếu, dễ nhiễm khuẩn lắm”. Nghe
người ta mách, cha lặn lội lên tận Hòa An, Cao Bằng xin cây cóc mằn về trồng để
chữa bệnh viêm xoang cho Thoan. Trời! Ngành y tế toàn thế giới vậy mà hóa ra là
cái anh vô tích sự nhất hạng, có tí xoang mũi mà có chữa được đâu! Xót con gái,
cha có lúc nặng lời như vậy. Cha dặn phải ăn nhạt bằng nửa người ta. Nên ăn ít
trứng, ăn nhiều hoa quả. Lại không được xào gan lợn với giá, ăn thịt gà với
kinh giới. Trong nhà có riêng một tủ thuốc, một cái cặp bìa đựng hàng trăm tờ
giới thiệu công dụng các loại thuốc, đặc biệt là bệnh tim, bệnh của mẹ.
Hình bóng cha còn in đậm
trong nỗi nhớ của Thoan.
Cha kể, hai mươi tuổi, lần
đẩu tiên được đi giầy, như trẻ con, cha còn đi nhầm chân nọ sang chân kia. Cha
học nghề cơ khí ở trường Bách nghệ. Đi làm, cha là thợ áo xanh, tức thuộc đẳng
cấp cao hơn thợ áo nâu, lương cha được một đồng một ngày, trong khi thợ đàn bà
chỉ có lương bẩy xu một ngày thôi. Nhưng, ở phân xưởng cha làm, chủ đặt một cái
bồ tre đan, cắm sẵn hơn chục roi mây, để cai ký thuận tiện rút ra đánh thợ ngay
lúc cần! Vì vậy khẩu hiệu đấu tranh của thợ hồi đó thường là rất cụ thể. Ví dụ:
Tăng lương mỗi ngày thêm năm xu! Không được đánh đập thợ! Phải có nhà nghỉ trưa
cho thợ! Và tất nhiên ở đỉnh cao là cuộc đấu tranh chính trị đã có mặt cha.
Kỳ lạ, bóng hình cha sao
nhiều lúc quấn quýt không rời bóng hình bà Xuân! Lại như trở lại trong nỗi nhớ,
một sáng chủ nhật trời trong xanh, nghe tiếng gọi cổng chạy ra đã thấy bà Xuân
tay xách cái làn thức ăn đi vào. Thoáng cái, trong bếp, hai bếp dầu đã bốc lửa
xanh lơ. Và công việc bếp núc của hai cô cháu mới tíu tít vui vẻ làm sao! Trời!
Cô Xuân, sao cô khéo thế! Nhiều lúc Thoan thốt lên sung sướng. Bà Xuân dạy
Thoan từ cách luộc con gà sao cho chín đều mà không bị quắt cũng không bị nứt nở.
Hôm ấy, ngoài món gà luộc, hai cô cháu còn làm nem để cúng mẹ, nhân thể đãi cha
vừa được bầu là chiến sĩ thi đua toàn ngành. Bắc cái chảo rán lên, đợi mỡ sôi
lăn tăn, bà mới bỏ vào chảo nhúm gừng giã nhỏ và vài giọt chanh vắt. Bà bảo,
như thế nem sẽ giòn lắm. Bà nói: “Cô mới học được hôm rồi cô và bố cháu với
cháu đi ăn ở nhà hàng trên Ngõ ẩm thực Kỳ Đồng đấy”. Chuyện lan man thế nào mà
bỗng Thoan ôm cô và như là buột miệng: “Mẹ cháu gọi cháu là Con mắt bò. Nhưng
chính cháu là dạ dày bò mới đúng, cháu ăn khỏe như đàn ông ấy. Cháu là đàn ông
thì cháu yêu cô liền”. Bà Xuân cười nhưng lắc đầu quầy quậy, bảo: “Cháu nói thế,
cô tưởng thật thì nguy to”. Thoan kêu: “Không cháu nói thật đấy”. Thì bà nói lảng:
“Cô và mẹ cháu giống nhau ở chỗ nào cháu biết không? Cũng hay cả nể lắm. Nhưng
khác nhau là mẹ cháu thì chịu nhịn, chứ cô ấy à, vua chết thì chúa cũng phải
băng hà, cô mà bị đứa nào lật lọng, cô phải cho nó tan hoang”. Không, lần này
thì Thoan không để bà lảng chuyện. Thoan không buông tha bà. Nên bà chưa dứt lời,
Thoan đã níu vai bà: “Cô ơi, cháu hỏi câu này cô phải trả lời nhé. Cô đẹp thế,
cô khéo thế, sao cô không lấy chồng?”. Câu hỏi không ngờ làm bà đỏ chín mặt. Bà
kêu nghèn nghẹn: “Cô mà đẹp, cô mà khéo ư! Chẳng qua là chẳng ma nào nó thèm.
Thật đấy! Cái gò má sát chồng của cô đây này, cháu có thấy không?”. “Không phải!”.
Thoan phản bác thì bà lặng đi hồi lâu. Rồi nhìn Thoan, bà chớp chớp mắt khe khẽ:
“Thoan ơi, khi người ta đã yêu sâu sắc một người thì không sao có thể thay đổi
được nữa. Cháu có nhận thấy như thế không?”. Một cơn rùng mình chạy dọc lưng,
lan ra hai cánh tay Thoan. Ôi bà Xuân! Trong bà có cả một câu chuyện dài bí ẩn.
Đây gió, đây trong rừng,
đây cánh đổng, kia cánh đổng đầy bao phóng khoáng. Kìa cô em thân yêu cô sầu nhớ
chi trong lòng... Hôm ấy, chắc là vui lắm nên ông Lâm mới cất tiếng hát bài hát
tủ độc nhất vô nhị đó. Giọng ông khan khan, nghiêng nghiêng ngả ngả. Ông ngó
vào bếp, giọng cao bổng: “Hai cô cháu làm gì mà tưng bừng thế!”.
Hôm ấy, lần đầu tiên bà
Xuân dạy Thoan khấn. Bà nói: “Khấn không đúng bài, dù có mổ ba bò chín trâu mời
mẹ, mẹ cũng đứng ngoài cửa khóc, không vào nhà được”. Dấu ấn của buổi ăn chẳng
dễ phai mờ được là sau khi hương tàn, mâm cơm từ bàn thờ hạ xuống chiếc bàn nhỏ,
cha rót rượu cẩm ra ba cái ly nhỏ. Bà Xuân nâng ly, chạm vào cạnh ly của cha,
thỏ thẻ: “Xin bác cho khất dịp khác vì hôm nay em hơi váng đầu”, cha nhân nhượng,
cười tủm tỉm: “Ừ, thì cho cô khất đến dịp khác, nhưng dịp khác không có nhiều lắm
đâu nhé!”.
Đó là một câu nói ý nhị,
hàm ẩn nỗi dịu dàng vô tận của cha với bà. Bữa ăn ấy ngon vì câu nói ấy của
cha. Vì hai món thịt gà và nem rán. Vì còn râm ran câu chuyện về Hoằng. Người
miền trong họ thường có ý chí hơn người, Thoan ạ. Tiếp lời bà Xuân, cha nói: “Đạo
đức, tài năng, anh hùng, ba mặt đó người đàn ông cẩn có”. Hoằng là một sinh
viên trẻ ở khoa Sử Đại học Quốc gia thường hay đến hỏi cha về Tổ chức Công hội
đỏ và hoạt động của cha, những việc làm khiến cha nổi tiếng là người thợ lành
nghề từ thời Pháp thuộc. Hoằng, người quê Hà Tĩnh, đẹp người, thông minh, hiện
giờ đang làm luận án tiến sĩ ở bên Nga, đã yêu Thoan từ hồi đó. Nghĩ đến tình
yêu của mình với Hoằng, Thoan lại chạnh nghĩ tới cha và bà Xuân. Hai người rất
đáng chung sống với nhau. Nghĩ vậy mà trong sâu xa, Thoan lại buồn rũ vì thấy
xót cho mẹ quá!
Sức khỏe là thứ mất đi rất
khó lấy lại. Lại thêm trọng lượng quá tải của ký ức và niềm thương nhớ về người
cha khiến trận ốm kéo dài đã hơn ba tháng. Lễ rước vong cha lên chùa, lễ tứ cửu
và lễ bách nhật đã qua. Giờ, trước mặt Thoan là kỳ thi tốt nghiệp chỉ còn cách
tròn một tháng. Thoan càng buồn và bối rối. Vì có bạn đến thăm, lập lá số tử vi
nói: “Sao địa kiếp chiếu cung mệnh, phải ốm hết năm nay mới khỏi được!”.
Một sáng chủ nhật, sau tiếng
xe máy ở ngoài cổng rộ lên rồi tắt nghỉm, bà Bỉnh, vợ anh cả Lễ xuất hiện trước
Thoan; áo quần xộc xệch, vẻ như chợt nhớ có việc cấp bách, bà phải tức tốc đến
ngay. Quả nhiên, chưa kịp uống chén nước, bà đã vuốt hai mép trắng bợt, hổn hển:
- Cô Thoan, anh cô phải
đèo tôi đến cô ngay, tôi phải bỏ cả một cái hẹn, để đến hỏi cô một việc.
Rồi dịch cái ghế lại cạnh
giường Thoan, hai cánh mũi nở phập phồng, bà tiếp:
- Cô nhớ lại xem, có phải
là buổi chiểu hôm trước lúc ông cụ mất, ông cụ có ăn một bát bún măng không?
Tưởng chuyện gì! Thoan
xoay người, đưa hai chân xuống sàn tìm dép, thở ra:
- Vâng, em bón cho cha.
Cha ăn rất ngon.
- Thế thì rõ rồi! Nhưng
có phải là con mẹ Xuân nó mua bát bún ấy đem vào cho ông cụ không?
- Vâng! Thế thì làm sao
cơ ạ?
Không thể ngờ đó lại là một
sự kiện quan trọng. Đến mức bà Bỉnh vừa nghe Thoan nói xong liền vung hai tay
lên kêu trời, rồi đập mạnh xuống đùi, kêu to:
- Thế thì nửa đêm hôm đó,
ông cụ chết là phải rồi! Bún đã độc mà măng còn độc nữa. Trời ạ! Đích thị là
con mẹ ấy nó giết ông cụ. Đích thị nó là kẻ sát nhân rồi!
Đó là một suy luận ngụy tạo
quá bất ngờ với Thoan. Càng không ngờ, ngay sau đó bà Bỉnh ôm mặt bật khóc hu
hu và hờ trời rằng: “Cha ơi cha chết oan chết uổng, chết vì con mụ đàn bà yêu
tinh thần nữ ấy, cha ơi”. Rồi chẳng để Thoan chen lời, bà con dâu cả vừa nhìn
Thoan vừa sụt sùi ra vẻ thương hại Thoan vô cùng:
- Ới em ơi, em trẻ người
non dạ, em dễ tin người, em bị con mụ Tác ta ấy nó tà lưa mà em không biết. Nó
là đứa đào mỏ, chuyên bòn rút của cải của ông cụ. Nó là dân thủy lợi nạo vét nổi
tiếng xưa nay. Mắt lá răm, gò má cao, cằm chẽ đôi, nó là đứa dâm loàn nhất hạng.
Trời ơi, sức nó là sức hồi xuân. Nó là con ngựa cái. Có lần nó rủ cụ đi Đồ Sơn
thuê buồng ở cả tuần. Có lần chị đến, em đi học, chị còn bắt gặp nó đang mặc xi
líp trong buồng ông cụ! Đấy, hôm nọ chị hỏi tiền lương tháng của cụ tọt vào cái
lỗ nẻ nào là chị đã có ý nghi rồi. Ôi xót xa quá cha ơi là cha ơi! May mà cha
chết chứ không thì cái nhà này, đất đai này dần dần sang tay nó hết, cha ơi!
Phụ nữ là giới có tiềm
năng để làm điều tốt nhiều hơn điều xấu. Thiên phú cho họ nhan sắc và sự suy
nghĩ đơn giản. Câu chuyện hư cấu của bà Bỉnh đầy tính tư biện và do đó quá kém
cỏi nên cuối cùng chỉ tạo nên một phản cảm tích cực ở Thoan. Đó là một điều kỳ
lạ về tâm lý và sinh lý. Thoan, trong tiềm ẩn rất có khả năng là kẻ thừa kế
tính cách cha, bỗng cảm thấy từ lúc này đã thoát ra khỏi tất cả tật ách, cơ thể
đã đầy đặn như một quả cầu tròn, thoắt trở lại khỏe mạnh như khi xưa. Thoan thoắt
trở lại khỏe mạnh để có sức chống lại cơn thác loạn của sự tha hóa nhân cách
đang rắp ranh hủy hoại những giá trị tinh thần của một nhân cách đáng thờ phụng
là cha thân yêu. Khỏe mạnh, Thoan cần phải khỏe mạnh ngay để kịp thời hoàn
thành kỳ thi tốt nghiệp, và để tiếp đó có được một chỗ đứng vững chắc trong xã
hội hiện đại.
Chờ cho chị dâu cả thốc
tháo một hồi, dừng lại xin cốc nước lọc uống, Thoan mới đứng dậy, nghiêm nghị:
- Chị về đi và thôi ngay
cầu chuyện xằng xịt đó đi! Em phải đi học thi đây!
- Cô Thoan ơi!
Nghe tiếng thằng Ất gọi cổng,
cứ tưởng nó phóng về nhà gọi bố mẹ, các em nó và vợ chồng chú Nghĩa sang ăn giỗ
ông nội, nhưng ngó ra thì hóa ra là khách lạ.
Đã nhọ mặt người. Con gà
mẹ đang cục cục dẫn con lên chuồng. Ngọn cau nhòa nhòa nét lá. Trên cái sân gạch
nhá nhem tối, lô nhô bóng bốn năm người đàn ông, thảy đểu đã cao tuổi, đồng loạt
áo xanh, quần xanh, mũ cát két thợ những năm sáu mươi, vẻ mặt ai nấy đểu lộ vẻ
cung kính và hết sức khép nép.
Rót nước mời khách, Thoan
chưa biết bắt đẩu câu chuyện thế nào thì người già nhất toán bỏ mũ, ôm bó huệ lớn
đứng dậy, lễ phép và cảm động, giọng đặc quánh xứ Nghệ và hơi hướng cổ xưa,
cung kính và cảm động:
- Kính thưa gia đình thầy
Đinh Văn Lâm. Bầy tui chừ xin được phép tự giới thiệu. Bầy tui vốn là học trò,
là môn đệ của cụ nhà. Tui là trưởng tràng, trưởng môn. Từ những năm năm mươi,
thời còn kháng chiến chống thực dân Pháp, thấy bầy tui lang thang, vô nghề nghiệp,
thầy liền gom bầy tui lại, bảo ban, dậy dỗ, mần nghề. Thoạt đầu là nhóm lò, thổi
bễ, quai búa, nướng sắt...
Thật tình là Thoan vẫn bị
bất ngờ, dẫu là hai, ba hôm rồi, có nghe được điện thoại của mấy bác ở trong
Thanh Hóa, Nghệ An gọi ra, hỏi về ngày giỗ đầu của cha. Vẫn bị bất ngờ vì trong
những hồi ức của cha, chưa bao giờ được nghe cha kể về công việc truyền nghề và
các học trò của mình. Tuy nhiên phong thái giản dị, chân thành của những người
nọ ngay lập tức khiến Thoan tin cậy và gần gụi. Người trưởng tràng xin phép
Thoan được đội khăn tang thầy, rồi cả năm người đứng dàn hàng ngang trước bàn
thờ cha Thoan, vái vong linh cha Thoan sau khi đã lần lượt dâng hương.
Quay trở lại bàn nước,
người trưởng tràng cho Thoan biết: Năm chục anh em học trò thầy giờ phân tán tứ
xứ, đều đã hưu trí cả rồi, vừa rồi tình cờ đọc cáo phó của gia đình trên một tờ
báo cũ mới biết thầy mất, nên thư từ điện báo cho nhau, tính đúng ngày giỗ đầu
của thầy, cùng nhau đến thắp hương, tỏ lòng thương tiếc và tri ân với thầy. Chắc
chốc nữa, anh em sẽ lẩn lượt tới.
Một người đứng dậy, tay cầm
cái phong bì dầy, giọng rưng rưng:
- Hơn hai chục năm nay, cứ
ngày 1 tháng 9, ngày thầy Lâm khai mạc lớp dậy nghề ở Nông Cống là anh em chúng
tôi tổ chức họp đồng môn. Được tin thầy mất, anh em chúng tôi tiếc thương lắm.
Công đức thầy với chúng tôi là trời bể.
- Thầy tạo nên chúng tôi
đó, cô ạ.
- Bác trưởng tràng có nhớ
hồi đó khó khăn đói kém, có lần thầy bỏ cả tiền sinh hoạt phí của thầy cho anh
em đong gạo không?
- Sinh hoạt phí của thầy
lúc đó là một vạn ba, thầy giao cho tôi tất.
- Để tôi có ý kiến nốt ạ
- Người cầm chiếc phong bì nói tiếp - Bởi vậy, anh em chúng tôi gom góp được một
số tiền, gọi là... mong gia đình thông cảm.
Chuyện đã qua phần nghi
thức, thủ tục. Nhưng một lẩn nữa Thoan lại nhận ra đời cha vẫn là những trang
tiểu sử chưa khai mở hết. Nói về tài năng nghề nghiệp của cha, một người kể: “Cụ
có tài chắp sắt rất đặc biệt. Về kỹ thuật nói là để chỗ khớp nối cháy thật ngấu
mới lấy ra tóp lại cho nó hút nhau, là nói về nguyên tắc, nhưng phi tay cụ
không ai làm nổi”. Người trưởng tràng tiết lộ một chi tiết chưa ai được biết,
vì cụ chỉ tâm sự với ông: “Năm 1941, chính cụ đã mần được cái mỏ neo cho con
tàu Hirondelle ở cảng Hải Phòng nặng 125 ký bằng cách nớ. Năm 1944, công ty xe
hỏa Việt Điền thông báo thi tài đánh tăm pông tầu hỏa, vì lúc ấy ở chính quốc
đang chiến tranh hắn cũng bí. Cụ ứng thi. Dùng lửa ép từng lá sắt lại với nhau
rồi tóp tròn, rất kỳ công. Chu cha! Lúc đưa ra, thằng kỹ sư Tây còn nghi ngờ, cụ
cho nó tha hồ đập, cái tăm pông cụ mần cứ trơ trơ, kết quả nó phải thưởng cho cụ
50 đồng tiền Đông Dương”.
- Tôi không biết chuyện
thời trước - Một người nói - Nhưng tôi nhớ là hồi sáu ba sáu tư gì đó, bên Quốc
phòng có thuê xí nghiệp ta làm một nghìn quả búa, loại sáu lạng, loại một cân.
Ông cụ chỉ huy lấy sắt cho từng quả, rồi ông cụ kiểm tra. Trời! Chỉ bằng tay cầm
mà nghìn quả không sai cân lạng một quả.
- Bàn tay vàng thật! Giờ
ít thấy ai như cụ, cầm cái xilanh lên, nói ngay được: Cái này của Pháp hay của
Đức, của Đài Loan!
- Tôi cho rằng cái tài gắn
với cái tâm. Cụ thường dạy chúng tôi. Tâm địa trầm tĩnh thì khoan khoái, thông
minh. Sống cũng như làm việc, nên để khuất mình đi, nhưng đừng để khuất dạng.
- Tức là phải để dấu ấn
cá nhân mình vào công việc đó, cô ạ.
- Tôi nhớ...
Ký ức bắt rễ sâu vào đời
sống, gặp lúc thuận đang nảy nở. Hình ảnh cha như bức chân dung mỗi lúc một gần
cận lại như xa cách với hình dung của Thoan. Thoan hiểu thêm một điều hệ trọng,
cá nhân cha không chỉ là một bản ngã có tính luân lý. Giá trị lớn nhất của kiếp
sống của cha không chỉ là một giá trị luân lý. Cha để lại một dấu ấn riêng
trong nghề nghiệp, một dấu ấn được lưu truyền.
Mải mê suy tưởng theo
hình ảnh cha tan thấm vào các tình tiết sống động của cuộc đời, Thoan không hề
biết rằng lúc này ở ngoài sân, vợ chồng hai anh trai đã đến và trong lúc chờ đợi
để vào bữa tiểu tường giỗ đầu, mặc lũ nhỏ đang cùng thằng Ất chơi trò trốn tìm
đuổi nhau trong sân, họ chia thành hai tốp nhỏ cùng nhau rì rầm trò chuyện.
Đứng ở cạnh bức tường hoa
là anh cả Lễ và anh hai Nghĩa. Hai anh em cao bằng nhau. Tuy vậy, trông Lễ có vẻ
như thấp hơn vì cái bụng đã xề xệ ở độ tuổi năm mươi. Anh cả Lễ mới đi Tây
Nguyên về. Mặt xạm nắng. Đường tĩnh mạch nổi vằn vèo trên cái trán rộng, đầy vẻ
mệt nhọc và âu lo.
- Nghe nói cái Thoan đỗ tốt
nghiệp xuất sắc có phải không, Nghĩa? - Anh cả Lễ nói - Phải giúp nó tìm chỗ
làm! Nó rất giống tính ông cụ: Định làm cái gì là làm bằng được!
Nghĩa liếm môi:
- Tính khí ấy chỉ tổ khó
lấy chồng thôi.
- Sao bảo nó sắp cưới thằng
gì đang làm luận án tiến sĩ ở Nga?
- Em cũng nghe chị cả nói
thế, nhưng em nghĩ: Việc ấy cần có ý kiến của anh.
Như không nghe thấy lời
Nghĩa, anh cả Lẽ chớp chớp mắt, bâng quơ:
- Nghĩa này, từ hồi ông cụ
mất, mình cứ thấy buồn bã, chán chường, lo lo thế nào ấy.
- Em chỉ thấy buồn khi
nghe chuyện chị Bỉnh phát hiện quan hệ lăng nhăng giữa ông cụ và bà Xuân. Thần
tượng, xưa nghĩ ông cụ đúng là thần tượng của mình, giờ thế là sụp đổ tan tành!
- Đời nay làm gì còn thần
tượng. Sinh nhi chi tư. Chuyện đàn ông đàn bà sinh ra tất nhiên là thế. Mình buồn
vì nghĩ... thế là người cuối cùng của thế hệ trước mình đã mãn. Giờ đến lượt
mình. Sợ quá, cái chết! Mà thế quái nào gien ông bô bà bô mình kém thế! Tim ông
cụ over date, tay bác sĩ trưởng khoa bảo mình thế. Mới ngoài bẩy mươi mà đã
toi! Anh em mình là thừa hưởng cái khốn nạn này! Đời người ngắn ngủi, chẳng ra
cái nghĩa lý gì. À, mà cậu có quen tay nào trên tổ chức Trung ương không?
- Anh định khiếu nại quyền
lợi cho ông cụ à?
- Đã bảo là đã mãn có
nghĩa là xong rồi. Không nhắc lại nữa. Quên đi! Với mình bây giờ là số năm sống
còn lại.
Nghĩa cắn môi, gật gật đầu,
nghiêng tai về phía hai người đàn bà. Bóng tối từ mảnh vườn tỏa ra đen ngòm.
Trên trời, loạng choạng dăm ba cánh dơi. Trong mấy anh em, Thoan có diện mạo giống
mẹ, còn Nghĩa có khuôn mặt, vóc dáng y sì ông Lâm. Mặt vuông, nét mắt, nét miệng
thẳng ngang, tai to, hàm hơi bạnh, biểu hiện sức mạnh và trung thực. Nhưng
Nghĩa hoàn toàn không giống tính cha. Anh mềm yếu, không dứt khoát, luôn giữ
thái độ điều hòa, nửa vời.
Nghênh nghênh cái tai lớn,
Nghĩa nghe thấy rất rõ giọng bà chị dâu cả thật là nôn nả, ráo riết, không thể
lẫn với bất cứ ai, vì hay chêm những tiếng lóng và ngôn ngữ phố phường:
- Hôm rồi, tôi đã cho em
gái hai ông anh một bài giáo huấn hơi bị hay rồi đấy, cô ạ. Thôi thì con yêu nữ
ấy nó mơi được của ông cụ cái gì rồi thì thí cho nó. Coi như mất. Còn bây giờ
thì cấm cửa, xong phim. Mày hại ông cụ nhà tao, tao không tính sổ với mày, là
phúc cho mày lắm rồi, có phải không? Vấn đế là...
- Em nghe nói. Vợ Nghĩa
cướp lời vợ Lễ, tay che miệng, khẽ khàng: Tháng mười một này thằng Hoằng bảo vệ
luận án xong ở bên Nga sẽ về, hả chị?
- Đấy! Đấy! Cái tổ con
chuồn chuồn nó ở chỗ ấy. Cho nên... à ông Nghĩa đấy hả? Này, hai ông, lại đây,
có mặt bốn người, ta hội ý luôn đi để chốc nữa vào ăn, cùng đồng thanh nào.
- Chuyện gì thế?
Lừ đừ, anh cả Lễ dịch lại,
giọng đượm buồn. Bà Thìn, vợ Nghĩa đang hau háu lục lọi bóng đêm, đo đạc đánh
giá căn nhà, mảnh sân... toàn bộ bất động sản, nghe tiếng anh cả liền quay lại:
- Chị Bỉnh nói đi!
Bà Bỉnh hẩy vai vào bà
Thìn, lo le đầu lưỡi, giục:
- Trước hết, cô kể cái
chuyện cô đã mục sở thị ở chỗ cô ở cho anh Lễ nghe đi đã.
Bà Thìn đà đận, ngập ngừng:
- Thôi, chị cả đã nói thế
thì biết đến đâu em cứ kể đến đấy nhé. Ở khu xóm mẹ em, có một cặp vợ chồng, chồng
họ Bùi, vợ đẻ được hai con gái. Vừa rồi, không may người chổng họ Bùi đi đào
vàng bị sập hầm chết. Sập hầm chết thì chả có chuyện gì đáng nói. Đáng nói là
khi người chồng vừa chết, chưa kịp an táng, thì người bên chồng, tức người bên
họ Bùi, xông ngay đến nhà anh ta, niêm phong nhà cửa của cải, rồi đứng ra làm
tang lễ cho anh ta.
- Thế là thế nào?
- Chú Nghĩa cứ để cô ấy
nói cho hết đã.
- Tôi biết rồi - Anh cả Lẽ
chẹp miệng - Lại chuyện tranh chấp của cải thừa kế chứ gì!
Nguýt chổng một cái dài,
bà Bỉnh cao giọng:
- Nó là cái nguyên tắc Nữ
nhân ngoại tộc. Chồng chết, chỉ có hai con gái, con vợ không có quyền gì hết! Đấy,
nó là thế! Cô Thìn ngại không nói, tôi nói thẳng: Đất này, nhà này, ông cụ để lại,
là của họ Đinh nhà ta. Nói thế để nếu sắp tới đây cái nhà cậu tên Hoằng tiến sĩ
tiến sung người miền Trung trọ trẹ gì ấy ở Nga về có cưới cô Thoan thì cũng xin
mời kéo nhau đi chỗ khác mà sống. Đi chỗ khác! Còn gái không có phần ở đây!
- Chậc! Thôi, tùy các bà
và chú Nghĩa, tôi không có ý kiến cụ thể. Làm sao trong ấm ngoài êm thì làm.
Tôi cũng xin nhắc, cái Thoan nó là một phần của ông cụ đấy. Nó là đứa ngoài mềm
trong cứng, không dễ đâu!
Anh cả Lễ đưa tay bóp
trán, lạng một bước sang bên.
- Ô hay, cái nhà ông này!
- Tiếng bà Bỉnh như tru lên, nhưng lấp chìm trong tiếng thằng Ất vừa lách qua mọi
người và đám trẻ con hét toang toang: - Đố chúng mày tìm thấy tao.
Trên trời, đàn dơi như vỡ
tổ ở đầu dồn về nhao nhác đảo cánh. Dưới đất lũ trẻ chạy nhốn nháo, tán loạn.
Khoanh tay, anh cả Lễ đứng lại ở góc sân. Bóng tối dâng lên, dầy đặc hơn, bọc
kín mấy người đàn ông, đàn bà đang xích lại gần Lễ và câu chuyện bị đứt quãng lại
tiếp tục càng lúc càng ồn ồn ào ào.
Chính lúc ấy bọn trẻ đang
chơi trò trốn tìm bỗng dừng cả lại. Đầu tiên là thằng Ất. Thằng Ất nấp sau bức
tường hoa chợt nhô đầu lên, dụi mắt.
- Không phải dơi! - Ất
thét - Con bướm! Con bướm to quá!
Một con bướm cực lớn, hai
cánh bằng hai bàn tay, màu tím sẫm, điểm chấm trắng nho nhỏ và những đường nét
hoa văn huyền ảo, con bướm thi thoảng Thoan vẫn hằng thấy và đã kể cho bà Xuân
nghe, con bướm như từ hư vô bay ra, vẫy đôi cánh tâm linh như một hình ảnh của
sự siêu thoát ra khỏi thế tục, thoạt đẩu bay đến chỗ mấy người lớn đang túm tụm
trò chuyện. Ở đây, con bướm vẽ những đường tròn chòng chành, hư ảo, nhưng gần
như lần lượt tiếp giáp với từng người. Tiếp đó, con bướm dang cánh liệng tròn
liên tiếp mấy vòng như quan sát toàn cảnh ngôi nhà cùng cái sân nhỏ. Và Ất, đứa
cháu nội gắn bó nhất với ông nội, từ nãy vẫn đang đăm đăm dõi theo bóng hình
con bướm, trong mối xúc động thiêng liêng khởi nguồn từ đêm qua càng lúc càng
dâng chan, bỗng chạy tọt ra giữa sân, vung tay hét thật to:
- Tất cả mọi người im đi.
Ông đang về kia kìa!
Tiếng hét bất thình lình
của đứa trẻ khiến đám người lớn đang ồn ào bàn bạc tính toán những mưu toan bỗng
giật thột mình. Và không thể có gì là bất ngờ hơn, mọi người cùng ngẩng đẩu,
ngước dậy, và lập tức rơi vào trạng thái ngượng nghịu cùng bẽ bàng vì có cảm
giác bị bắt quả tang. Bẽ bàng và ngơ ngác họ nhìn theo bóng đôi cánh con bướm
đang tiếp tục lượn một vòng nữa trước khi khép cánh lọt qua khuôn cửa vào gian
giữa căn nhà đang lung linh ánh sáng của đèn nến.
Con bướm dập dờn trên bản
thờ ông Lâm. Con bướm khai mở một miền đất mới trong cõi tâm linh bí ẩn của con
người. Người chết không còn là người sống. Điều đó là một sự thật hiển nhiên mà
một đứa trẻ như Ất cũng đã biết. Nhưng, như thế không có nghĩa là người chết đó
biến vào vô tăm tích. Không! Người đó khuất trong tín niệm và truyền ngôn của
dân gian, dưới một hình thái tồn tại khác, vẫn còn tạo lập với người sống bằng
một mối liên hệ vô hình và linh thiêng.
Quẩn quanh trên ban thờ
ông Lâm thật lâu, cuối cùng con bướm mới vẫy cánh bay vào buồng Thoan, nhẹ
nhàng đậu lên cái chao đèn đặt cạnh giường ngủ của Thoan.
Đó cũng là lúc một tốp
môn đệ, những người thợ được ông Lâm đào tạo nữa, từ ngoài sân đi vào, thắp
hương, bái lạy, kính viếng vong hồn ông cùng những lời tri ân gan ruột và xót
xa. Là thế đó, mặc những thờ ơ, quên lãng và toan tính lạnh lùng vô lương, cuộc
sống thủy chung vẫn là có cội nguồn, là trầm tích tháng ngày, là dựa cậy vào
huyết mạch, phúc đức, công nghiệp của cha ông, là nương nhờ vào mối liên hệ
trong cõi giới tinh thần huyền ẩn mà tiếp nối và tồn tại!
Nhìn những người đến viếng
cha thắp một tuần hương nữa, rồi lui ra đồng loạt rạp mình vái lạy trước bài vị
cha, một lẩn nữa, vừa nhìn con bướm có đôi cánh tím sẫm in những chấm trắng nho
nhỏ cùng các hình hoa văn kỳ lạ, Thoan vừa bật khóc nghẹn ngào.
22/9/2000-3/1/2011
- 5 -
Người khổ nhất trần gian
Nội bay đi Pr. rồi. Anh
được cử giữ chức vị tương tự như là tùy viên, tham tán gì đó trong một phái bộ
của nước ta ở châu Âu. Chức vụ, như có người nói, ra nước ngoài, chưa là vấn để
gì. Vào lúc nước nhà đang gặp hồi khó khăn, đồng lương tằn tiện chưa đủ sống,
mà được ra nước ngoài công tác, thì dẫu có là nhân viên quèn, cũng vẫn cứ là có
thu nhập cao hơn, có mức sống cao gấp bội anh ở nhà đi. Mà nhân viên quèn ít bị
ràng buộc buôn bán thủ lợi có khi còn thuận tiện hơn, chưa biết chừng!
Ấy là Lân nghe vợ mình
nói vậy. Chứ Lân đã có bao giờ được ra khỏi lũy tre xanh làng nước mình mà biết.
Lần chỉ suy toán trên phương diện lý thuyết thôi. Về phương diện lý thuyết thì
rõ ràng là: Người Việt ở nước ngoài giống như thửa ruộng ngửa mặt hưởng hạt mưa
trời, nghĩa là chẳng mất công sức gì như chính dân nước sở tại, mà lại được hưởng
trọn những thành quả của nền kinh tế, khoa học, kỹ thuật tiên tiến của nước đó,
vậy nên có mức sống cao và giàu có là lẽ dĩ nhiên. Khối anh nghèo rớt mồng tơi
ra nước ngoài mới chỉ vài năm, về đã lên ngôi triệu phú, tỉ phú, vênh vang cái
mặt, động nói là bỉ bai cái nghèo khó, ngu dốt của dân nước mình đó thôi. Thoắt
cái đổi đời như vậy nên nói có chuyện tranh giành nhau để xuất ngoại, chứ đi để
chuốc lấy cái nghèo cái khổ thì có khi phải tổ chức bổ đầu, cắt phiên!
Lân, bạn hàng xóm của Nội,
cách sống, cách nghĩ hơi hàn lâm, kinh viện, lại đã vào tuổi năm mươi tri thiên
mệnh, hiểu rằng mỗi người có số phận riêng, nên thoát được thói mê chấp suy tị,
chỉ thấy hẫng buồn khi biết thế là mình sắp thiếu mất ông bạn tốt bụng kề cận rồi.
- Số trời cho tôi được ở
cạnh ông, âu cũng là một sự bù đắp cho tôi, ông Nội ạ.
Lân thường nói vậy. Nói
thật lòng đấy. Vì với một ông giáo tỉnh lẻ, kiêm một nhà văn nghiệp dư cấp phường
cả đời chưa hề biết đến mây trời xứ sở người, thì Nội là một bách khoa toàn
thư, là cả hoàn vũ mênh mông; ở gần Nội, Lân có thể học hỏi, bổ túc thêm bao điều
mới lạ, bao điều bổ ích. Là con người sách vở và duy cảm, Lân không biết dối
trá, quý Nội ở điểm đó, cũng là thành thật.
Thành ra, chiều ấy thình
lình ghé cửa sổ nghe Nội báo tin: ba ngày nữa mình bay đi Pr. Và từ đó đến mai
là ngày xa biệt nhau rồi mà Lân vẫn chưa tìm được một kẽ hở thời gian nào để
sang trò chuyện với Nội, thực tình Lân rất áy náy. Suốt từ tinh mơ cho tới nửa
đêm, ngày nào cũng như ngày nào, Nội tối mặt đón khách vào, tiễn khách ra. Nhác
thấy bóng Lân là lập tức nhún vai, ngả hai cánh tay, tỏ ý phân trần, mong thông
cảm.
Rảnh rỗi đôi chút là vợ Nội.
Ba mươi hai tuổi, chị trẻ hơn chồng gần hai chục tuổi. Người phụ nữ này là cái
bóng mờ nhạt cạnh chồng. Nhan sắc trung bình, chị đoan trang, hiền lành như nghề
giáo dạy cấp tiểu học của chị.
- Khổ thân nhà em quá! Chị
sang nhà vợ chồng Lân, than thở - Rặt các ông ở ngành ngoại giao mà vô ý vô tứ
quá. Có hôm, đang dở bữa cơm, cũng phải để đấy để tiếp khách. Nửa đêm cũng gọi
cửa. Hết đổi tiền lại gửi tiền, gửi hàng, mách mối, đặt quan hệ, nhờ vả. Tiêu
chuẩn hành lý, tiền ngoại được mang đi là bao nhiêu, họ biết thừa cả rồi, vậy
mà cứ ép. Ép rồi hứa hẹn, rồi dỗ dành. Nhà em thì thiết gì bổng lộc hả, anh chị?
Thật cực chẳng đã mà phải đi thôi! Có ai hiểu điểu đó cho mình?
Không hề hay biết rằng
nghe mấy lời trần tình cuối cùng của mình, vợ Lân nhếch mép quay đi ra ý giễu cợt,
vợ Nội lấy khăn tay chấm đuôi mắt, rồi sụt sịt, tiếp:
- Đấy, năm giờ sáng mai
đã phải ra sân bay rồi, vợ chổng con cái đã dặn dò nhau được gì đâu, mà bây giờ
lại sấp ngửa lên chào ông già. Khổ, không khéo sáng tới nơi là ốm lăn ra cho mà
xem. Nhà em sức vóc nào có ra gì, cấp cứu như cơm bữa, bệnh tật đầy người, anh
chị còn lạ!
Vợ chổng Lân từ lâu đã hiểu
từ ông già vợ Nội dùng là để chỉ người thủ trưởng của Nội, một cán bộ cao cấp của
Nhà nước. Một ông già bẩy mươi, nhưng sức lực còn cương cường. Một người Nội hết
sức kính mộ, thậm chí tôn thờ và gắn bó như cha con, hơn cả ruột thịt.
Nghe vợ Nội thổ lộ, Lân
thở dài, buồn nao lòng. Nào ai hay sự tình của kẻ trong cuộc? Chồng đi công tác
nước ngoài, nghĩ rằng đó là cơ hội đổi đời phải mừng húm, chứ đầu lại xót xa,
ai oán thế!
Khi dọn đến căn buồng 202
ở tầng 2 ngôi nhà B12 ở khu tập thể T.C, thấy mình có người hàng xóm là Nội,
Lân thật sự mừng lắm. Tiếp xúc vài lần, anh nhận ra ngay Nội là người có hiểu
biết, đôn hậu và rất khiêm nhường.
Hai người cùng sinh năm
Bính Tý, nhưng số phận thì hoàn toàn trái ngược nhau. Ngoài năm mươi, kẻ thì gần
như cả đời chỉ ru rú ở một xó trường trong một tỉnh lỵ hẻo lánh; phía Nam, chân
chưa đặt tới thành phố Vinh, còn phía Bắc, chưa hề được biết thế nào là cái bãi
biển Trà Cổ đẹp nhất đất nước. Một thì đã từng xẻ ngang xẻ dọc bầu trời, châu lục
nào cũng đã đặt chân tới, còn các nước văn minh tiêu biểu như Nga, Anh, Pháp, Mỹ,
Nhật hoặc các con rồng chầu Á thì qua lại như đi chợ, thuộc vanh vách tên từng
đường phố ở các thành phố lớn. Một thì có lúc đã phải bán cả những cuốn sách
quý đi để lấy tiền đong gạo, có thời cả tuần chỉ ăn bí đỏ và lá dâm bụt, chậm
lương đứt bữa là chuyện bình thường. Một thì đã sống thừa mứa chứa chan giữa
bao la của ngon vật lạ, giờ dửng dưng hoàn toàn với cao lương mỹ vị, nghĩ đến
tiệc tùng, chiêu đãi là phát chán nên phải tìm cách thoái thác.
Nội có thể nói cả giờ cho
Lân nghe về bảo tàng Hermitage, tả lại cái rét của mùa đông Nga tài tình đến mức
Lân cảm nhận được cả chiều sâu xúc cảm cái giá lạnh chết người trong truyện ngắn
Chiếc áo choàng nổi tiếng của văn hào Gôgôn. Nội kể về các cửa hàng bán sôn ở
Pari, vẻ đẹp tráng lệ hai bờ sông Sen, lễ tiết huy hoàng độc đáo của những hội
hè Môngôlia, kiểu ăn Triều Tiên, tháp truyền hình Tôkyô, phong cảnh và kiến
trúc đặc sắc cùng quy mô vĩ đại của những Thiên An Môn, Cố cung, Di Hòa viên. Nội
nói về bát mì Tứ Xuyên đại bố cay xé lưỡi say sưa khiến Lân mê mẩn, tắc lưỡi
thèm muốn chẳng kém khi chỉ cho Lân xem cả bộ bốn mươi hai cuốn Toàn tập Quỳnh
Dao bằng tiếng Tàu, mà Nội có, nhưng một chữ bẻ đôi cũng không hay. Nội làm Lân
kinh ngạc về sự giàu có của Hoa Kỳ, miền California tràn ngập nắng vàng và
khung cảnh khoáng đạt của những trang trại miền Texas. Nhờ Nội, Lân hiểu biết
thêm bao điều thú vị về tập quán trong đời sống, lễ nghi và ứng xử của xứ người.
Lăm vông diễn ra lúc đèn tắt, nhưng mà anh động chạm sàm sỡ vào cơ thể cô gái
là ăn tát ngay. Còn ở Mỹ, vợ không đồng ý làm tình, chồng cứ cưỡng ép, vợ có thể
gọi điện thoại số 911 để cảnh sát tới điều anh chồng đi liền. Và ở xứ kia, nếu
anh là thượng khách, anh có thể được hưởng ân huệ là tắm chung bồn với lệnh ái
của ngài nguyên thủ quốc gia.
- Ông cứ ra sân bay quốc
tế, bước lên một chiếc máy bay của Pháp, của Nga là ông ngửi thấy mùi vị lạ rồi.
Sang trọng, quý phái, thanh khiết vô cùng! Bọn tôi gọi gọn nó là mùi Tây. Cái
gì ở họ cũng khác ta. Trong ôtô, trong buồng ngủ, trong toa lét cũng vậy. Có điều
là cái gì cũng đắt, nếu theo cách tính của ta. Ví dụ, một đêm ngủ ở khách sạn
năm sao của họ xoàng ra cũng là hai trăm đô.
- Tức là...
Vợ Lân lập bập. Vợ Nội
nhanh nhảu, vẻ thành thạo:
- Giá một đô là mười
nghìn tiền ta, thì tức là hai triệu đồng.
- Úi giời! Bằng móc ruột!
Ngủ gì thì cũng vật mình hai ba cái rồi thiếp đi như chết, biết gì nữa mà những
bạc triệu. Bằng tiền cả cái tivi, bằng tiền lương cả năm của tôi!
Nội cười hiền hậu, độ lượng:
- Tất nhiên buồng ngủ của
họ còn nhiều tiện nghi thú vị khác. Ví dụ, tivi của họ bắt được tất cả các đài
trên thế giới: VOA, BBC, NHK, tách cái là có liền. Nhưng thú thật, mình quen rồi
mà cũng thấy xót ruột. Đấy, vừa rồi sang Nhật họ mời mình, một bữa ăn Triều
Tiên, một trăm năm mươi đô.
Vợ Lân giẫy nẩy:
- Ăn thế thì sạt nghiệp.
Mà cũng là thịt, là cá, là thích khẩu chứ gì! Thật không đâu ăn vừa ngon vừa rẻ
như ở nước mình.
- Rẻ hay đắt, chị Lân ạ,
phải so với đồng lương, thu nhập ở nước sở tại ấy. Đây này, em tính...
Cắt ngang lời giải thích
ra điều hiểu biết của vợ mình, Nội nhỏ nhẻ:
- Nói chung có một nhận
xét thế này. Ở những nước nông nghiệp lạc hậu, sức mua kém, thu nhập kém, giá cả
thường rẻ. Tất nhiên nó còn vấn đề chất lượng. Ví dụ, vừa rồi qua Đan Mạch. Ở
sân bay, ông già khát nước, tôi đi mua kem. Một que kem các bạn có biết bao
nhiêu không? Năm đô la. Đắt, nhưng ngon, bổ, vô trùng tuyệt đối, nghĩa là cũng
xứng đồng tiền bát gạo!
Nội nhỏ nhẹ, mạch lạc.
Bao giờ cũng thế. Không bao giờ to tiếng bẳn gắt! Lúc nào cũng điềm đạm, ôn
hòa. Tính nết ấy thật nhất quán với vóc dáng, diện mạo, ngoại hình - một ngoại
hình trông đã thấy sự an nhàn, thong thả. Người hơi đẫy, nhưng không chảy xệ,
hơi thấp, nhưng dáng đi vẫn nhanh nhẹn, thông thoáng. Mặt hơi tròn, má đầy
phúng phính, nhưng môi đỏ và mắt sáng rờ rỡ, khiến khuôn mặt vãn nhẹ nhõm, tươi
vui, phúc hậu, nghiêm cẩn mà vẫn chan hòa. Dáng vẻ sang trọng nhưng không quan
dạng, xa cách cũng còn vì nết ăn ở với hàng xóm thật tận tình, chu đáo. Ai nhờ
vả gì cũng hết lòng giúp đỡ. Từ việc gửi hộ một lá thư ra nước ngoài đến việc
giúp đỡ để xin việc làm. Đi công tác xa về, dẫu là trong nước, cũng có quà; trẻ
em thì mấy cái kẹo, người lớn thì hộp dao cạo, cái cặp sách, chiếc cà vạt.
Riêng với Lân, Nội hay tặng bút, với lời chúc thân tình: Để nhà văn viết những
tác phẩm tiếng vang vượt biên giới, làm vẻ vang cho dân tộc!
Giữa đám người bình dân
hàng ngày còn phải sấp mặt xuống lo cho đủ ba bữa ăn thì cái cuộc sống quá ư
sung túc của Nội thật là một tòa lâu đài chỉ có trong mơ. Với những kẻ đầu óc bị
quan bế do chưa hề thấy được cái gì ngoài quê hương bản quán mình, thì cuộc đời
bay nhảy đây đó của Nội là cái ước ao sở cầu vạn kiếp của họ.
Nội cảm nhận được sự cách
bức ấy, nên trong đối xử chu đáo với mọi người, ngầm ẩn cả vẻ ý tứ, cẩn trọng.
Rất ít khi anh lộ ý khoe khoang. Ăn mặc, tiêu pha, trang bị nội thất trong nhà,
hơn người là cái chắc, nhưng luôn luôn được kiềm thúc đến tối đa, để chỉ mình
hơn người chút ít, để khỏi mang tiếng là thực hành khổ nhục kế, cũng để người đời
khỏi tủi phận và phát sinh lòng ghen ghét!
Nhưng, làm sao người ta lại
có thể vô tư khi mình thì quá khổ mà người khác lại cứ nhơn nhơn sung sướng được!
Vợ Lân là như thế. Từ hôm được tin Nội được cử sang Pr. công tác một nhiệm kỳ
những năm năm, mặt y cứ lầm lầm và hễ có dịp là y xổ ra, toàn những tức tối, đố
kỵ âm ỉ sẵn ở trong lòng.
- Khôn ngoan thế! Đánh rắm
xịt, sắp đi mới cho hàng xóm biết! Sợ người ta tranh mất phần, hả? Hay là sợ
người ta tố cáo? Mà sao ăn mòn cả bát đĩa thiên hạ còn chưa biết chán nhỉ? Hóa
ra lòng dạ anh quái nào cũng là cái vại thủng. Mấy cũng chẳng vừa. Thôi, phen
này thì quá lên tiên. Của cải ăn mãn đời, sang đời con đời cháu cũng không hết!
Hóa ra nước chảy chỗ trũng thật, số gì mà đỏ như vang thế không biết!
Vợ Lân đay đả liên tục
hàng thôi hàng hồi. Chỉ một mình y nói. Một mình y nói, nhưng lúc ấy phải có mặt
Lân. Lân mà bịt tai giả điếc thì y nói càng hăng. Lân là chất xúc tác của y. Sự
có mặt của Lân như trêu ngươi y. Y phải nói. Nói tới lúc Lân phải đồng tình với
y thì thôi. Mà cũng chưa chắc đã thôi.
Nhưng, làm sao Lân lại có
thể đồng tình với thói ghen tị, tính hẹp hòi, sự thiển cận của vợ mình được?
Nhìn nhận cái gì cũng phải có tầm khái quát, tổng quan và bao dung rộng lượng.
Mà chắc gì kẻ mà ta tưởng là đang sung sướng lại sung sướng thật? Chắc gì mình
ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm, lại là khổ sở thật? Nội sang Pr. là phải. Giá có
cho mình đi mình củng chịu. Tiếng tăm không biết. Hiểu biết cũng không. Việc đại
sự đâu có thể chăng chớ. Ấy thế, khổ quá dễ trở nên dị mọ, bất công đấy!
Tuy vậy, Lân vừa mới chỉ
định mở miệng giãi bày mấy ý tưởng đó thì vợ anh đã xìa môi xì một hơi dài:
- Thế mà cũng đòi biết!
Không biết thì dựa cột mà nghe nhớ!
Lân chạm tự ái, đỏ rửng mặt:
- Thì cô cũng chỉ là anh
nghe hơi nồi chõ, suy đoán lung tung. Cô biết gì hơn tôi nào? Nào, nói đi! Vì
sao ông ấy được cử đi công tác ở nước ngoài lần này nào?
- Tôi đố ông đấy!
- Thì vợ anh ấy chẳng đã
nói là cực chẳng đã là gì! Vợ chồng họ có thiết gì đâu. Chẳng qua trên cho ông ấy
đi để kết hợp chữa bệnh. Ông ấy bị suy tim, béo thế là béo nước, béo bệnh. Nằm
trong nhà mà không mở cửa sổ là không thở được. Có hôm nằm trong màn cũng còn
thiếu không khí để thở kia. Vợ ông ấy nói hôm rồi đấy. Mà mình cũng chứng kiến
gần đây ông ấy đi bệnh viện liên tục đấy thôi.
Vợ Lân nhếch môi, mắt kéo
một vệt sắc lẻm:
- Tim với chả phổi! Nói
trẻ con nó cũng không nghe được. Ông không suy tim, nhưng ông thấp khớp, chân
ông sưng đầu gối ông voi, đi không nổi. Vai ông đau, giơ tay viết bảng không
xong. Sao người ta không cho ông đi để kết hợp?
Lân cười gằn:
- Cô này nói lạ. Đấy có
phải việc của mình đâu. Nhưng thôi được rồi. Vậy, vì lý do gì mà ông ấy được đi
cô cứ nói đi!
Vợ Lân nghiến răng ken
két, mắt long sòng sọc:
- Vì lý do gì à? Vì kiếp
trước, ông bà cha mẹ ông ấy ăn ở phúc đức. Vì bây giờ ông bà ấy ngày rằm mồng một
chăm chỉ dâng hương đền chùa, gầy trồng quả phúc cho con cháu và cho mình. Thế
nào, ông nghe đã tỉnh ra chưa? Vì gì nữa? Thật chỉ muốn đốp ngay vào cái mặt
con mẹ hoẹt, đạo đức giả. Cực chẳng đã, khổ thân anh ấy. Ông có biết khổ nghĩa
là thế nào không? Nghĩa là từ tháng sau, bà ấy cứ ngồi không mà hưởng mỗi tháng
một trăm đô. Một trăm đô là một triệu. Một triệu là thế nào ông có biết không?
Là gấp năm lần lương của ông giáo khổ kiêm văn sĩ quèn của ông. Đó là chưa kể
khoản lương sướng, thu nhập thêm của ông ấy ở bên kia!
Dừng lại, thở hồng hộc, mắt
đỏ dọc, cứ như bấy lâu chịu oan ức, giờ mới được tỏ bày, vợ Lân tiếp, giọng
càng gay gắt: - Thế nào, ông đã nghe thủng chưa? Vì gì nữa? Vì ông ấy cúc cung
tận tụy với ông già nên được ông già ban tài phát lộc cho. Còn ông? Cả đời ông
có chịu bám víu vào ai không? Ông hốc xịt cũng là đáng kiếp thôi, hiểu chưa!!!
Khiếp quá thôi! Có đúng
là cảnh cú khó vọ mừng, cú có vọ tức không? Ai người ta giành giật cái gì của
mình mà căm tức người ta, mà muốn đâm vào mặt người ta? Chuyện người dưng can hệ
gì đến mình mà bỗng dưng vợ chồng lại sinh sự với nhau? Rõ khéo! Nhưng mà thôi,
cũng chẳng nên chấp cái nồng nã ghen ăn tức ở của người đàn bà nông cạn làm gì!
Lân nghĩ vậy nhưng hồi
sau lại ngẩn ra: không hiểu sao vợ mình lại tinh quái thế? Ai rỉ tai mách bảo y
mà y biết, lại nói được rằng cái việc được đi Pr. là tài lộc ông già thủ trưởng
của Nội ban phát cho Nội? Xem mặt y, cái cách nói của y thì y còn nắm được nhiều
bí mật của sự việc lắm. Hay việc đời vốn có cái bí nhiệm của nó thật? Ấy thế,
dân mình chẳng hạn, là cả một sự khó hiểu. Hôm trước kêu túng lắm, khéo phải
bán cả quần áo đi để đong gạo, hôm sau được chia đất đã móc túi ra hai trăm triệu,
gọi thợ đến xây ngay cái nhà ba tầng. Tuần trước mất xe đạp còn ngửa tay xin cơ
quan trợ cấp ba chục ngàn, tuần sau đã tậu cái Dream II, bóng loáng mười triệu
đồng.
Cuộc sống có cái phần
không lộ ra của nó. Nhưng, như thế không có nghĩa là đằng sau các sự việc đều
là xấu xa, tồi tệ cả. Vợ Lân sao lại cứ hướng sự tìm tòi vào cái xấu, cái tồi,
cái tăm tối? Y tức tối, y uất căm vì đời y khổ quá, thiệt thòi quá ư? Bốn mươi
ba tuổi, cán bộ hơn hai chục năm, lương không đủ nuôi thân. Nhà cửa thật không
bằng cái bếp của người ta. Hay là y đã bị thói đạo đức giả lừa dối quá nhiều rồi
nên y quyết không tin vào ai nữa và y có quyền phanh phui, tố cáo?
- Kết hợp chữa bệnh! Lướt
qua mặt chổng một ánh lườm thương hại, vợ Lân lại cất giọng cay cú - Còn lâu
nhé. Của trời hàng vạn, ngắn tay đừng có hòng với tới. Thân cận với ông già
không phải chỉ có mình ông Nội. Không nịnh nọt, hầu hạ giỏi, không khôn ngoan,
đáo để có mà được quả to thế!
Lân tặc lưỡi, xuê xoa:
- Ôi, trong phúc có họa,
trong họa có phúc, đã biết thế nào!
- Rõ là luận điệu của anh
hèn. Ngờ nghệch lắm, ông ơi.
- Thì cứ chờ xem. Quả to
hay quả nhỏ? Quả thật hay quả giả!
Vợ Lân bĩu mỏ, bỏ đi, mặt
lộ vẻ khinh nhờn, không thèm chấp anh chồng gàn, nhưng Lân biết y vẫn ngấm ngầm
tức tối.
Quả nhiên, chiều ngày thứ
năm kể từ ngày Nội bay đi Pr. Lân vừa ở trường về, đang thay quần áo, bỗng nghe
thấy tiếng vợ mình rít chói tai, nhưng hết sức đắc chí, ở gian buồng ngoài.
- Kìa, bố thằng Luyện,
con An ra hành lang mà xem quả thật hay quả giả!
Ngoài hành lang, cái Ngọc
Oanh, con gái út của Nội, bằng tuổi cái An, con gái Lân, đang ngồi vắt vẻo trên
chiếc Honda Cub mới tinh, như vừa ở trong hộp bước ra. Xung quanh cái Ngọc Oanh
có ba bốn đứa bạn. Cái Ngọc Oanh khoe với bạn nó rằng bố nó sang tới nơi là gửi
ngay quà về cho gia đình. Ngoài chiếc xe máy còn chiếc xe đạp mini Nhật và một
lô đồ hàng vặt nữa.
Chính Lân cũng bị bất ngờ!
Nhưng, ngay tối hôm ấy,
Lân có cảm tưởng anh lấy lại được thăng bằng. Vợ Nội sang nhà Lân, có gì như
thúc bách lại nhuốm vẻ lo lắng khác thường.
- Nhà tôi mới gửi thư tay
về, hỏi thăm sức khỏe anh chị. Khổ! Đúng là xẩy nhà ra thất nghiệp. Bên ấy rét
quá. Vừa sang được một hôm nhà tôi đã phải đi nằm viện.
Lân sửng sốt:
- Chắc anh bị rét đột ngột,
lại bị tim nó hành!
Vợ Lân vênh mặt vừa xưng
xỉa vừa đắc chí ngẩm:
- Thế thì sang làm thèm
vào!
Vợ Nội rưng rưng:
- Có nói thì anh chị cũng
chẳng tin đâu. Của cải là cái gì hả, anh chị? Của tám vạn nghìn tư, chết cũng
hai tay buông xuôi thôi.
Động lòng trắc ẩn trước lời
nói bức bối của vợ Nội, Lân vội hạ giọng đỡ lời:
- Nghe anh ấy nói mới thấy
con người ta cũng như cây cỏ, ở đâu hợp thung thổ đấy, sống ở nước người chả
sung sướng gì thật. Anh ấy kể thật tội. Hồi ở bên Nga mùa đông, thèm rau quá,
anh ấy phải nuôi năm củ hành trong năm lọ nước, đặt ở bậu cửa sổ, vài ngày hành
mọc được tí lá nào là xén tí lá ấy nấu ăn.
Được người chia sẻ, vợ Nội
đưa tay quệt đuôi mắt, giọng nghèn nghẹn:
- Đấy, có từng trải mới
thương nhau. Ở nước ngoài, cứ tưởng lên xe xuống ngựa, hội hè khoản đãi liên tục
là sung sướng. Lấy nhau hơn chục năm tính ra vợ chồng chỉ ở bên nhau mỗi năm được
một hai tháng. Mà toàn là những lúc ốm đau mới được về. Còn khỏe thì hết Âu
châu lại Mỹ La tinh. Trong nước thì bắc, nam xuôi ngược đủ miền theo ông già. Lần
này mà nhà tôi không đi Pr. thì lại phải cắp cặp theo ông già vào Tây Nguyên ba
tháng liền đấy, anh chị ạ.
Vợ Lần chống tay lên đầu
gối đứng dậy, lạnh tanh:
- Mình không ưng, ai bắt
bò mình.
Lần biết vợ được dịp xả
cơn bực bội, vội dàn hòa:
- Nói thế chứ, đã ở trong
cuộc thì cũng có cái khó của nó. Mình phụ thuộc vào người ta mà.
Vợ Nội khịt mũi, nao
núng:
- Đúng thế đấy! Từ lúc đầu
còn xanh, tuổi còn trẻ đã đi theo ông già rồi. Cả đời lặn lội với ông già, bây
giờ không nhẽ gặp khó lại rẫy ra. Nhiều lúc em cứ nói với nhà em: ngẫm ra, cứ
như anh Lân, chằng phải phụ thuộc vào ai, mà sướng!
Ngẫm ra, cứ như Lân mà sướng!
Ngẫm ra, cứ như cái đời anh giáo khổ, anh nhà văn quèn, chưa biết thế nào là
mùi Tây, ngoài miếng cơm rau dưa tương cà ra, chưa hề được nếm bơ sữa xứ người,
hóa ra lại sướng! Vợ Lân, dù lôi ngay lời vợ Nội ra để mai mỉa, gọi vợ Nội là
con mẹ hoẹt, đạo đức giả, thì Lân cũng thấy vợ Nội có lý.
Cái khổ, cái sướng ở đời
người ta, nói ra cũng thật là vô cùng. Thế nào là khổ, thế nào là sướng? Chắc
gì kẻ đang ở nhà lầu, đi xe hơi, ăn toàn thịt cá, đặc sản, đã là sướng hơn người
ở nhà cấp bốn, kẽo kẹt cái xe đạp tàng, cơm rau dưa hai bữa ngày mà tâm hồn
thanh thoát, quan hệ trên dưới trong ngoài êm thuận? Hoặc giả như Lân đây, thiếu
thốn về vật chất thì rõ rồi, nhưng người ta đâu chỉ sống với miếng cơm manh áo,
chiếc xe, căn buồng!
Lân sướng. Dứt khoát là
Lân sướng, Lân hài lòng với cuộc sống của mình: Lân tự do. Lân chẳng phải phụ
thuộc vào ai, ngoài lương tri mình. Lân là thế nào, Lân cứ việc thể hiện mình
như thế ấy lên trang viết. Văn nghiệp của Lân là một cơn tùy hứng. Nó không nằm
trong kế hoạch của tổ chức nào hết. Nó cũng chẳng bị một điều lệnh nào bó buộc.
Nó không đồng nhất với cái gì. Nó chỉ là nó, nó phụng sự cái đẹp. Thậm chí nó
cũng chẳng phụ thuộc vào nhà xuất bản, ông tổng biên tập, chị biên tập viên. Khổng
Tử nói mấy ngàn năm rồi đấy; sự việc ở đời ngổn ngang, xếp sắp lại cho nó một
hình thức văn, chỉ có bậc thánh triết mới làm được! Nhà văn dẫu loại xoàng cũng
có cái kiêu hãnh của bậc chí thánh, của người sáng tạo; loại người chỉ có thể mời
được, không dụ được, không bỏ được, không khinh được. Riêng Lân, Lân còn sướng
hơn đồng nghiệp là Lân không vị cả đồng tiền. Lân không cần tiền. Không phải vì
Lân giàu có, thừa thãi. Mà là vì Lân sống kham khổ, tằn tiện quen rồi. Ngày hai
bữa cơm rau, năm hai bộ quẩn áo, với vài mét vuông để ở và làm việc, thế là đủ!
Do đó thích thì Lân viết, mà chán thì Lân gác bút. Sướng nữa là cái nghề này nó
sòng phẳng lắm. Đó, chuyện đời nó bánh đúc bày sàng, xếp sắp lại thành bài văn
là cái tài của anh. Tài cao thì có tác phẩm hay, xuất bản được nhiều, nhuận bút
lớn. Lộn sòng, cơ hội, thấy người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào, thì cũng ba
bẩy hăm mốt ngày là lộ toẹt. Cũng như tình yêu, cái dốt cái giả trong nghề này,
không giấu được.
Tất nhiên, nhuận bút bây
giờ chẳng đáng là bao. Cuốn tiểu thuyết dày ba trăm trang, in một nghìn bản, đắt
khách bán hết, nhà xuất bản cũng chỉ trả cho tác giả già nửa triệu bạc. Già nửa
triệu bạc là năm mươi đôla, chưa đủ bữa ăn kiểu Triều Tiên của Nội. Chất xám, sự
sáng tạo như vậy được trả quá rẻ mạt. Nhưng như thế lại có cái hay là yên ổn phần
lương tâm. Rằng mình hưởng ít hơn cái phần mình làm ra, mình chẳng ăn lẹm phần
của ai hết. Cổ nhân có cầu: Bang hữu đạo bần thả tiện xỉ dã. Có nghĩa là: nước
có đạo mà nghèo và hèn là điểm xỉ nhục. Như vậy, hiểu theo lối phản chứng thì
lúc này đây, phú quý là điều xấu xa.
Lân suy nghĩ cổ giả như
thế đấy. Biết làm sao được! Bởi vì, suy cho cùng nghề văn là nghề rất cổ. Xưa
nay vẫn là vậy thôi, nhà văn là cái anh dù có giao du đây đó, bặt thiệp từng trải,
cuối cùng cũng là cái kẻ ru rú ở xó nhà, chìm trong cõi tâm linh trong suốt và
mây mù của bản thể mình, cái bản thể mang vóc hình vũ trụ, xới lật tâm can, với
cái ảo giác chập chờn của sự săn đuổi. Chao ôi, được sáng tạo, được bày tỏ
mình, được thực hiện chức năng của kẻ sĩ là cất tiếng nói, mà lại trong trạng
thái chiêm bao ảo giác thì còn gì sung sướng hơn!
Lân sung sướng vì Lân thấy
Nội như thế mà chắc gì đã là kẻ sung sướng hơn Lân! Thiên nhân tương dữ. Người
và tự nhiên là một mối. Ở đâu quen đấy, người Bắc vào Nam ở, nhớ cái mưa phùn
miền Bắc còn ngây ngất cả hồn kia. Trong khi đó ở đây, chiều hè, nhảy ùm xuống
hồ vùng vẫy một hồi, rồi lên, đánh cái quần cộc, rồi lùa cả miếng cơm chan canh
rau luộc thả mấy cái lá me rôn rốt chua, thêm mấy hạt mì chính, mà rung đùi thú
vị. Hỏi trần gian còn có gì sướng hơn?
Nội khổ ngay cả khi đầy đủ.
Nội khổ hơn Lân còn là vì Nội nhất nhất phải tùy thuộc vào yêu cầu của ông già.
Ông già là một danh đại từ thành kính những người giúp việc đặt cho các nhà
lãnh đạo cao niên ở các ngành các giới trên trung ương. Ông già lãnh nhiều
trách nhiệm quan trọng, lại đã có tuổi, nên phải có nhiều người giúp việc. Lái
xe, cần vụ, bảo vệ là một nhẽ. Đông nhất là các trợ lý, thư ký. Nội là một
trong số đó. Nội gắn bó với ông già như hình với bóng. Ông già đi liên tục.
Trong nước. Nước ngoài. Đi với ông già tất nhiên là lên xe xuống ngựa, cơm bưng
nước rót, quà cáp biếu xén không ít, hơn đứt anh nhà văn quèn đi cơ sở. Nhưng, ở
đời có gì được là được cả đâu. Việc của ông già là việc quốc kế dân sinh, động
chạm tới sinh mệnh, quyền lợi hàng triệu người, nên phải nghiêm cẩn, lơ mơ tài
tử chăng chớ là không được, nên bận rộn vất vả lắm!
Bận rộn có cái thú là nó
vận động những năng lượng dự trữ để phát tiết anh hoa. Nhưng Lân cũng đâu có rỗi.
Cũng lắm khi rối như canh hẹ, như kẻ mê sảng. Tuy vậy, bận rộn của Lân là bận rộn
của sự thôi thúc tự nguyện từ bên trong, nó do lề luật của lương tâm quyết định.
Nó khác với cái bận rộn của cái người bị sai khiến, bị phụ thuộc, của gã công bộc,
anh đầy tớ.
Nhưng, lý sự như trên dẫu
thế nào thì cũng là lối biện luận chủ quan, nói lấy được và áp đặt ý tưởng của
mình cho người khác, chứ còn Nội? Người ta chỉ khổ khi người ta cảm được là
mình khổ thôi. Vậy Nội, anh bạn hàng xóm của Lân có khổ không?
Thật tình là khi được tổ
chức giới thiệu đến nhận chân thư ký giúp việc ông già, Nội cũng thấy lo lo
ngài ngại. Lúc ấy Nội còn rất trẻ. Mới hai mươi nhăm. Mà công việc của ông già
lại là việc trọng đại. Anh nhận chỉ là vì thấy ông già hiền hậu và chân thật.
“Giúp tớ nhé!”. Ông già nói. Nói thật với cậu, tớ văn hóa kém lắm. Có được đi học
ở nhà trường đâu. Học trong nhà tù đế quốc do các đổng chí dạy thôi.
Hóa ra công việc cũng
suôn sẻ. Ở ngoài, cứ tưởng công việc quan trọng quá cao siêu và cẩn mật. Làm rồi
thì thấy cũng bình thường. Thì có gì mà không làm được với một anh cán bộ có bằng
trung học phổ thông lại qua trường tuyên giáo trung ương. Ghi chép biên bản các
cuộc họp của ông già. Viết diễn văn cho ông già. Diễn văn thì đã có mẫu xã luận
báo Nhân dân rồi. Quan trọng là liên hệ với thực tế ngành và phải đánh máy chữ
to, cách dòng rộng và rõ ràng. Vì mắt ông già kém, đọc hay vấp. Ngoài ra, Nội
giúp ông già các việc vặt: trả lời thư khiếu nại, bố trí lịch công tác, gọi xe
ô tô và giúp ông già giải quyết những việc nhỏ mọn, vặt vãnh trong gia đình, chẳng
hạn, mua hộ con gái rượu ông già một chai rượu ngoại ở cửa hàng Quốc tế để nó mừng
sinh nhật bạn!
Ông già bận tối mặt,
không còn một khe hở thời gian nào để mắt tới gia đình. Cái chốt cửa hỏng. Cái
bóng đèn cháy. Bà vợ thì quê mùa. Lũ con thì lười biếng, ỷ thế bố. Cơ quan phải
lo hộ, tức là Nội phải lo.
- Chúng nó lồng hổng quá.
Xưa, mình bằng chúng nó phải đi kéo xe tay kiếm sống ở thành phố rồi. Một lần,
ông già phàn nàn. Biết làm sao được! Họp hành tối mặt! Đến thân mình cũng phải
người khác lo cho nữa là con cái. May mà ông già còn khỏe. Khỏe lắm! “Giá bắt
mình kéo cái xe tay cũng còn hơn bắt mình đọc tài liệu!”. Ông già nói vậy rồi
cười, răng đen nhờ, chằn chặn. Cơm ăn bữa nào cũng đủ ba bát đầy. Đặt mình là
ngủ. Ngủ là ngáy váng nhà. Không biết nói sai. Thật thà như đếm. Có hôm phải họp
liên tục mấy cuộc họp, ông già ngủ gật, đầu đập bàn sưng vếu, đứng dậy, xin lỗi
mọi người: “Hồi đi làm cách mạng theo các đồng chí lãnh đạo, tôi vẫn giơ lưng
chịu đòn nhà tù hộ các đồng chí, nhưng chẳng bao giờ nghĩ cách mạng xong lại họp
hành nhiều như thế!”. Ông già ngủ gật, lơ đãng và thông thường họp xong Nội lại
phải đọc bản tóm tắt để ông già nắm lại.
Ông già lúc trẻ không được
đi học thật. Chữ ông già to xều. Viết được một trang chữ là cả một cuộc vật lộn.
Báo, tạp chí, bản tin mật chất đống trên bàn, ở cơ quan, ở nhà, xểnh cái là lũ
con lấy đi bán cho hàng giấy vụn. Cậu xem đi, rồi có gì hay thì nói lại cho tớ
nghe. Ông già nói rồi lắc đầu với vẻ bất đắc dĩ và tự nhạo mình.
Rõ ràng là ông già rất
thiếu năng lực quán xuyến công việc lớn đang đảm nhiệm. Nhưng, cũng rất rõ ràng
là ông già rất tự tin vào vị thế của mình, một vị thế không ai thay thế được. Bầu
cử lần nào ông già cũng trúng cử với số phiếu tuyệt đối. Cuộc họp tổng kết nào,
người ta củng nì nèo mời ông già đến, có khi chỉ là dự khai mạc, thậm chí ăn với
anh em một bữa cơm. Có lẽ là vì ông già có một trang tiểu sử rất đáng tự hào.
Mười sáu tuổi, bần nông mất đất, ra thành phố, kéo xe tay. Một bận đang kéo xe
đi qua nhà giam Hỏa Lò bỗng thấy một bóng đen từ bức tường vây bao quanh nơi
giam cầm nhảy xuống và leo lên xe. Ông già cứ thế chạy đại ra ngoại ô. Không ngờ
đó là một đồng chí lãnh đạo cao cấp của đoàn thể. Ông già gia nhập cách mạng bằng
một nghĩa cử. Và nổi tiếng vì đức kiên trung, không hé răng một lời khai trước
đòn tra hiểm độc của đế quốc. Chẳng những thế còn giơ lưng hứng chịu đòn đánh của
quân thù thay cho đồng chí mình.
Nhưng, cuộc sống là biến
hóa! Ai thì cũng thế thôi, chứ chẳng phải là với riêng ông già trong cái cơ chế
tôn sùng các giá trị đạo đức và xu thế độc quyền càng lúc càng thịnh hành. Giờ
đây, sau hơn hai chục năm đứng đầu một cơ quan lớn của quốc gia, ông già nghiễm
nhiên trở thành một kẻ độc tôn, một bề trên tối thượng, một đấng bậc có quyền
hành vạn năng. Một cái gật đầu của ông già quan hệ đến số phận của hàng trăm
con người. Một chữ ký của ông già có ảnh hưởng đến một phần tài sản của hàng chục
đơn vị. Một điều bất như ý của ông già có thể làm thân bại danh liệt một kẻ
đang vênh vang đắc thế. Và ngược lại. “Thằng nào làm cái việc ấy? Láo! Gọi nó
lên đây cho tao!”. Đó là câu nói cửa miệng gần đây của ông già, một người trước
đây được tiếng là chát phác giản dị, thật thà. Tội nghiệp, quyền lực gây ảo tưởng
cho chính ông già. Nhưng, không sao hết, với Nội cái kiểu ăn nói tùy tiện, suồng
sã, gia trưởng ấy, thậm chí nhiều khi cũng tục tĩu nữa, lại là đặc trưng hết sức
đáng yêu của một người cha tận tụy với đàn con, của một nhà lãnh đạo xuất thân
từ tầng lớp bình dân.
Cảm mến, kính mộ ông già
trong Nội lớn lên, tạo nên một trường thôi miên anh từ lúc nào anh cũng không hề
biết. Tình yêu thái quá nào thì cũng có tính chất tôn giáo mê muội. Nội trở
thành một tín đồ, một môn đệ sùng kính ông già với thoạt đầu là tình yêu mến sơ
khởi bắt nguồn từ sự kính trọng, và mến phục những trang tiểu sử đầu đời của
ông
Nội đã quá si mê ông già.
Ông già đã trở thành thánh sống, là kẻ tập trung tất cả sự tốt lành của thế
gian. Với Nội, cả những nhược điểm của ông già như thất học, và gần đây là những
thói xấu mới nhiễm phải như quyết đoán và thô lỗ cũng bị biến dị trở thành giai
thoại đáng yêu của một thần tượng đang được phụng thờ.
Mẹ Nội mất. Anh được ông
già cho xe riêng đưa về chịu tang mẹ. Nhưng anh chỉ kịp nhìn mặt mẹ, hờ mấy
câu, rập đầu chịu tội bất hiếu, rồi lại vội lên xe trở về cơ quan, không kịp
đưa mẹ ra đồng. Hôm ấy cơ quan mở đại hội, ông già cần anh góp một tay để có đủ
số phiếu bầu đi dự đại hội cấp trên. Xa ông già một ngày là Nội nhớ. Cái chân
lý: Sợ giặc còn hơn sợ chúa, yêu thân còn hơn yêu thầy, hóa ra sai toét trong
trường hợp này; tình thủ trưởng nhân viên, tình đồng chí hóa ra cũng có thể biến
thành tình cha con đến mức có thể xả thân, tận lực cho nhau là vậy!
Vợ Nội kể:
- Lần ấy nhà tôi đi với
ông già chỉ đạo công việc gì đấy ở Tây Nguyên liền hai tháng trời mới về. Tôi
nhớ đó là dịp cuối tháng mười một, trời đã trở lạnh. Một chiều nổi gió, anh ấy
bước lên cầu thang, vào tới nhà, chẳng nói năng được câu nào, đã đi thẳng vào
buồng ngủ, nằm vật ra và ngất lịm đi. Tôi vội đưa anh ấy vào bệnh viện cấp cứu.
Anh nằm li bì hai mươi ngày liền mới tỉnh. Các bác sĩ khám nghiệm kết luận:
“Tim anh bị tổn thương nặng, cần phải nghỉ ngơi hoặc chuyển sang làm việc nhẹ”.
Tôi lo lắng, bảo anh: “Thôi, ra viện anh xin ông già cho chuyển sang công việc
tĩnh tại văn phòng đi!”. Không ngờ, anh vặc lại ngay tôi: “Cô chẳng hiểu gì cả.
Tôi coi ông già còn hơn cha đẻ tôi kia!”. Tôi im, nghĩ: có lẽ tôi đã quá lo lắng
vì mỗi lần vào thăm anh lại thấy anh thêm xác xơ, ảo não. Nhưng, một ngày kia,
thăm anh tôi kinh ngạc thấy anh tươi tỉnh, hổng hào như vừa được uống một thứ
thẩn dược, trở nên khỏe mạnh hoàn toàn. Lại còn đang vừa huýt sáo vừa xếp quần
áo, tư trang vào va li. “Ông già vừa gọi điện cho anh”. Anh nói, mắt long lanh
như hai ngọn đèn. Thì ra, anh chỉ chờ có vậy! Tôi chép miệng, buồn rầu: “Gần
tháng trời anh đau ốm lệt bệt, ông già có ngó ngàng gì đến. Nay, anh vừa nhúc
nhắc...”.
Anh quắc mắt cắt ngang lời
tôi: “Ông già bận trăm công nghìn việc. Mình phải tự lo cho mình chứ!”. Tôi lảng
chuyện: “Ông già nói gì với anh?”. Anh hào hứng: “Ông già nói: Nội đấy à. Về
ngay nhé, có việc cần cậu đấy”. “Trời!”. Tôi kêu. “Việc gì thì cũng phải tính đến
sức khỏe của anh chứ. Chả lẽ anh không biết là anh vẫn đang nằm viện điều trị bệnh
tim à?”. Anh phất tay lắc đầu: “Anh khỏe rồi. Với lại, việc cần kíp thì ông già
mới gọi chứ!”. Tôi vội cầu cứu các bác sĩ. Các bác sĩ ngăn anh, bảo anh rằng, cứ
liệu đấy, quỵ một lần nữa là suy tim, là thành đồ phế thải, là hết đường cứu chữa
đấy. Mặc, anh cứ sùng sục đòi về. Lúc này thời tiết đã chuyển sang mùa mưa dầm
gió bấc. Mặc, với anh, ông già tượng trưng cho sự thiêng liêng tối thượng.
Vợ Nội ngừng, nước mắt
chan chan. Chị không ngờ ba ngày sau, Nội trở về nhà trong trạng thái sức khỏe
hết sức nguy ngập. Chị kể tiếp:
- Hai người bạn phải xốc
nách anh mới đưa anh lên gác hai. Đẩy cửa đi vào, anh bước chuệnh choạng. Cái
Ngọc Oanh sáu tuổi nhao ra định ôm bố. Anh một tay ôm ngực trái, một tay đẩy
con ra. Rồi anh nhoài xuống giường, nhăn mặt vặn người ngửa mặt lên, miệng hí
hóp thở như con cá bị quẳng lên bờ. Ngực trái anh sưng phồng! Trời!
Nội suy tim. Một tháng liền,
anh ở giữa biên giới của cái sống và cái chết. Vợ Nội khóc mếu, than vãn: Sao
ông già nỡ nhẫn tâm như thế với anh? Nhẫn tâm hay vô tâm chẳng cần quan tâm đến
ai hết, ngoài mình? Bởi vì, ông già gọi anh về có phải vì một công việc cần
kíp, hệ trọng có liên quan đến quốc kế dân sinh, lợi quyền của dân chúng đâu!
Ông già cần anh về để giao phó cho anh nhiệm vụ chủ trì đám cưới cô con gái út
của mình. Cô con gái út của ông già, năm nay đã hăm chín tuổi vừa xấu người vừa
xấu nết, đã từng gây tai họa cho hai gã con trai. Một gã sinh viên từ tỉnh lẻ
lên học, nuôi ý định lấy cô làm vợ, những mong dựa thế bố vợ để cải hóa cái lý
lịch ba đời có nợ máu với cách mạng của mình. Một gã xích lô nghĩ rằng, ông bố
cô cùng cảnh ngựa người, chắc vui vẻ chấp nhận cuộc tình, sẽ tha hồ đào mỏ một
khi là rể ông già.
Kết quả cả hai gã đều đưa
ra mặt trận chết ngóm cho đáng đời. Giờ cô này lại đang có chửa với một ông
giáo già bấy lâu được thuê làm gia sư kèm cặp cô học tiếng Nga. Rắc rối thế! Lỡ
dở rồi, tổ chức đành yêu cầu phải làm cái đám cưới này thật linh đình để át lời
đàm tiếu có hại cho uy tín ông già.
Thế là cái đám cưới chạy
danh giá, có mục đích bịt mồm thiên hạ được giao phó cho một kẻ giúp việc hết sức
mẫn cán. Lên một kế hoạch tổng thể, đặt ra mọi tình huống, vạch ra tiến trình từng
công việc cụ thể, săn sóc từng chi tiết đầu việc, việc gì Nội cũng phải lo toan
đầu cuối, không bỏ qua bất cứ một tình tiết nhỏ mọn nào: kể từ màu sắc phông
màn, họa tiết trang trí đến phòng hợp cẩn của chú rể, cô dâu. chính tay Nội ghi
tên khách mời lên từng tấm thiếp. Lại đích thân Nội đạp xe đưa tận tay những
khách mời quan trọng. Kẹo bánh phải đặt trực tiếp với giám đốc xí nghiệp bánh kẹo,
nhưng Nội vẫn phải kiểm tra tận phân xưởng. Thuốc lá lấy tận nơi sản xuất để
tránh hàng rởm. Rồi cũng chính Nội phải đi mời, đón nghệ nhân nấu ăn về trông
nom việc bếp núc của các tiệc mặn hơn ba trăm người ăn nóng.
Chẳng còn nghĩ gì đến bản
thân, Nội lo ngày lo đêm cho cái đám cưới nọ, vất vả nhưng bừng bừng hãnh diện
và chỉ sợ phụ lòng tin của ông già. Một đêm mưa tầm tã, xe ô tô đi mượn bát
đĩa, ấm chén sa lầy ở giữa đường. Trên xe chỉ có người lái xe và Nội. Nội nhảy
xuống, gồng sức đẩy. Mưa xối ướt đầm. Bùn văng, trát đầy người. Rét run, hai
hàm răng va nhau lập cập. Rồi lạnh ớn và ngực phồng lên, đau nhói nhói, đau dội
lên, nhức nhối đến nghẹt thở. Nội chỉ lo không hoàn thành được nhiệm vụ, không
xứng với niềm tin ông già đã trao gửi cho anh. Xưa nay anh vẫn sống theo nếp
đó. Mà chả riêng gì anh. Tất cả những người giúp việc ông già đều như vậy. Ông
già là cha, là thủ lĩnh, là ân nhân, là quyền uy tuyệt đối. Mọi người là con,
là nô bộc, là kẻ chịu ơn chỉ biết có phục dịch tận tình và tuân phục vô điều kiện.
Tình cảm và nghĩa vụ hòa quyện, không cần lý giải. Việc chung, việc riêng của
ông già không phân biệt. Và đã thành thói quen, ông già cũng tự coi mình là biểu
trưng của toàn bộ cộng đồng. Ông già lo cho mọi người thì mọi người có nghĩa vụ
thực hiện những yêu cầu có quan hệ đến ông già. Vợ, con ông già muốn có một chiếc
xe Mifa, thích xem một vở kịch, mùa hè này cần nghỉ ở bãi biển nào... cũng như
một cái chốt cửa hỏng, một chiếc bóng đèn cháy ở nhà ông già, đó chính là việc
của cơ quan và mọi người. Còn lúc này, dồn hết toàn lực đẩy chiếc xe ra khỏi hố
bùn là việc tất nhiên Nội phải làm, có gì mà phải nghĩ ngợi. Hơn một giờ sau,
nhờ mấy người nữa xúm vào đẩy, chiếc xe mới nhích lên được tí. Lúc này, người Nội
đã mất hết cảm giác. Anh dựa vào thành xe, mắt nhắm nghiền, thào thào thở. Rét
quá! Rét từ trong tim rét ra! Nói cách khác, khí lạnh đã nhập vào tận tim, phổi
Nội. Nên khi chiếc xe nhờ phép lạ của chúa bỗng gia tăng năng lượng, vọt được
lên bờ hố bùn, thì anh mất chỗ dựa, như một cây chuối ải, rụi ngay xuống hố
bùn.
Nội chưa trở thành đồ phế
thải hoàn toàn vì một may mắn bất ngờ, anh mới ngoài bốn mươi. Nhưng, anh đã phải
nằm viện gần một năm trời và từ đó tim anh, sau cơn tai biến, chính thức bước
vào vòng suy yếu. Bác sĩ ghi trong giấy ra viện của anh như sau: Phải kiểm tra
tim mạch thường xuyên. Dứt khoát phải chuyển sang chế độ làm việc nhẹ và tĩnh!
Nội chẳng quan tâm tới lời
dặn của bác sĩ. Ở viện ra, về đến nhà, việc đầu tiên là anh bảo vợ dắt hộ xe đạp
ra cửa để anh đi. Anh lên chào ông già đây. Anh nhớ ông già quá! Ngăn không được,
biết vậy, vợ Nội chỉ thở dài. Tận tối mịt hôm đó, Nội mới trở về, mặt mệt mỏi
thoáng vẻ bần thần. Thì ra ông già đang bận họp. Anh chờ từ hai giờ đến hết năm
giờ. Tan họp, anh hí hởn nhẩy đến đón ông già thì ông già xua tay ra hiệu còn
phải đi ăn với khách, rồi lên xe ô tô đi ngay. Nội lại ngồi chờ. Sốt ruột vì bảy
giờ tối tiệc chưa tan, anh đạp xe đến khách sạn thì được biết ông già đã đi xem
cải lương ở rạp Hồng Hà. Trực ở cửa rạp hát tới hơn mười giờ, tan vở diễn anh mới
chụp được tay ông già, nước mắt nhỏ ròng ròng: “Ông ơi, con nhớ ông quá, ông
ơi...”. Vợ Nội ứa lệ, quay đi, nghĩ thầm: Thật quá con chiên với đức cha. Nội
không hay biết ý nghĩ của vợ, chớp chớp mắt, nén một hơi thở dài: “Em ạ, anh chỉ
hơi buồn là ông già bận quá. Khổ, anh ốm, chẳng còn có ai như anh săn sóc và
giúp đỡ ông già!”.
Dẫu thế nào thì sức khỏe
của Nội cũng sa sút lắm rồi. Và ông già đã bước vào thời kỳ lão suy với các
khuyết tật không thể cưỡng lại được. Tính tình nóng lạnh khác thường, bệnh tật
phát sinh, hay mệt mỏi và trí nhớ kém sút, đó là những dấu hiệu rõ nhất ở tuổi
bảy mươi lăm ở ông già. Đặc biệt là giảm sút trí nhớ.
Phải, ông già rất ít nhớ.
Điều đáng buồn là trong khi Nội ngay cả trong mơ cũng có hình bóng ông già và
giống như con chiên của Chúa, anh nghĩ Chúa chẳng quên ai, đặc biệt là anh, kẻ
đã cúc cung tận tụy một đời, thì ông già gần như quên hẳn anh.
Một hôm, Nội đến cơ quan
sớm, đang mở cặp tài liệu thì ông già đi từ cửa vào. Anh vồn vã cất tiếng chào
ông già sau bao nhiêu ngày xa cách. Ông già dừng lại, hấp háy cặp mắt đỏ ké
nhìn anh như nhìn một kẻ xa lạ, rồi hất hàm: “Đồng chí đến có việc gì thế?”. Nội
đánh rơi cặp tài liệu, sửng sốt: “Ơ kìa, em là Nội đây mà, thủ trưởng!”. Ông
già ngơ ngơ, như lần mò trong mây mù hư vô, rồi nhíu mày: “Nội, Nội nào nhỉ?”.
Nội lạnh toát người, xô lại ông già, thảng thốt: “Em là Nội, Nội vẫn đi theo,
giúp việc thủ trưởng gần hai chục năm nay đây mà!”. Vô ích. Trong óc ông già Nội
là một con số không to tướng, ông phẩy tay và đi vào buồng trong, vẻ mặt vừa
ngơ ngẩn vừa bực bội: “Nhưng mà đồng chí đến gặp ai và để làm gì chứ?”.
Vợ Nội nói:
- Có những lúc ông già chẳng
còn nhớ gì nữa. Chả cứ nhà tôi. Đang nói chuyện này có khi nhảy sang chuyện
khác lúc nào không hay. Thật là thế đấy. Ví dụ như không có chuyện sau đây thì
có lẽ chẳng còn cơ hội nào nhà tôi được ông già để ý tới.
Lần ấy, đi công tác ở Tây
Bắc về, ông già bỗng phát một cái mụn ở bắp chân trái. Thoạt đầu nó giống như một
nốt phá lở thôi. Nhưng bôi đủ thuốc Tây y mà nốt mụn vẫn có chiều hướng cương
to, nên văn phòng cơ quan lo lắm. Dạo này ông già hay đau yếu thất thường. Còn
nhớ, có lần ông già bị táo bón một tuần, mấy anh bảo vệ sức khỏe lo cuống cuồng
truy tìm nguyên nhân mãi mới tìm ra thủ phạm là cái đơn thuốc bắc nhiều vị
nóng, và lương y kê đơn ấy bị Ban bảo vệ sức khỏe vặn vẹo một trận đến khốn khổ!
Còn lúc này nhà tôi đã chuyển sang làm việc tại văn phòng, nhưng vẫn thương nhớ
ông già lắm. Tình cảm cũng là một thói quen. Quan hệ cũng vậy. Chả dễ mà cắt bỏ
được. Nhất là khi đã trở thành nỗi si mê, mờ muội. Nhất là lúc này đây ông già ở
vào tình trạng cô đơn, sau khi vợ mất và lũ con cái triệt để lợi dụng thế lực của
ông già đã thành gia thất, bộc lộ trọn vẹn thói ích kỷ, cố hữu của chúng. Trước
cái mụn khó chữa của ông già, chả phải việc của mình, cũng chả vì ông già hoặc
tổ chức nhờ cậy, nhà tôi cứ tự động vất vả lặn lội hết nơi này nơi khác, hết
ông thầy thuốc bắc này đến bà thầy thuốc nam kia. Cuối cùng tìm đến anh bạn giỏi
Đông y, lấy được thứ thuốc gia truyền nổi tiếng về cho ông già. Thuốc là một nắm
lá có tên là Bạch xà. Sắc lá ấy lên uống, còn bã thì đắp vào nốt mụn. Cũng là một
cách chữa trị phổ biến. Nhà tôi thực hiện đúng chỉ dẫn của anh bạn. Không ngờ,
làm ơn mà nên tội! Được một ngày, nốt mụn của ông già không những không xẹp, lại
phá ra thành nốt lở loét to hơn. Hai ngày sau nữa, bắp chân ông già sưng tấy. Rồi
ông già lên cơn sốt nóng rừng rực, và tiếp đó chuyển sang sốt rét rung bần bật.
Sau cùng cả người ông già bỗng như được bơm thổi, trương phình lên, rồi ở cổ
tay, khoeo chân xuất hiện các vết nứt nẻ, rỉ nước vàng. Ông già mê man bất tỉnh.
Văn phòng vội đưa vào bệnh viện Việt Xô cấp cứu. Bệnh viện Tây y hiện đại nhất
nước bó tay. Lại chuyển sang bệnh viện Đông y lớn nhất Hà Nội. Cũng lại thúc thủ.
Vì chẳng hiểu bệnh gì. Hết nước rồi, ông già nằm thoi thóp chờ chết. Bộ phận bảo
vệ ông già vội vã truy cứu nguyên nhân. Chẳng phải lâu la, rắc rối gì, họ tìm
được ngay thủ phạm là nắm lá Bạch xà. Nhà tôi bị bắt liền. Thẩm vấn suốt một tuần.
Tôi vật vã kêu khóc. Nhà tôi một mực trước sau bày tỏ lòng trung thành với ông
già. Nhưng tình ngay lý gian và chính anh cũng đau đớn. Trời ơi, nếu ông già có
mệnh hệ nào thì oan này bằng oan Thị Kính, Thị Lộ! Nhưng hỡi ôi, anh làm gì còn
có cơ hội và thời gian để bày tỏ niềm ân hận xót xa của một tôi trung. May cho
nhà tôi, số ông già chưa tận. Một tuần nhà tôi bị giam cầm nữa trôi qua, người
ông già xẹp dần sau một ngày ông già đi tiểu như tháo cống. Được một tuần nữa
thì các vết nứt liền da và nốt mụn tẹt đi, săn se một lớp da non. Ông già qua
cơn nguy biến và khỏe lên gấp bội. Ông cười hà hà: Có thể cưới cho tớ một cô mười
tám tuổi nữa! Ha!Thật là một thứ thuốc tiên!
Vợ Nội vuốt nước mắt:
- Ông già khỏe mạnh. Nhà
tôi ra khỏi nhà giam, kiệt lực phải đi nằm bệnh viện. Tôi lên gặp ông già trần
tình mọi việc và xin ông già cứu giúp. Ông già nghe xong, gật đầu: “Cậu ấy ốm nặng
hả? Thế thì để tổ chức xếp sắp cho đi nước ngoài kết hợp chữa bệnh! Ông già đền
ơn cứu mệnh mình hay gia ân cho tôi tớ, tôi chẳng cần biết, chỉ biết đó là thời
cơ thuận lợi nhất để nhà tôi khỏi khổ nhục vì phải làm việc với ông già. Còn
trù trừ gì nữa. Tôi sợ những vụ như vụ lá Bạch xà lắm rồi!”.
❊ ❊ ❊
Lân thở dài não nuột. Sự
đời nó nhiều tầng cấp là thế. Ngọn nguồn nông sâu thế nào, ai dám nói là hiểu
được tường tận. Người mà ta vẫn hằng kính trọng, hóa ra cũng có thể tàn nhẫn,
vô tâm, thậm chí ích kỷ đến bỉ ổi. Nhìn bề ngoài, cứ tưởng đời Nội là sung sướng,
mãn nguyện lắm. Có biết đâu nghe thì sang trọng mà căn bản Nội cũng chi là một
kẻ phụ thuộc, mang đầy đủ mùi vị chua cay nhục nhã của kiếp người mất quyền tự
chủ. Mà như thế thì hẳn Nội là một con người khổ nhất trần gian rồi. Chuyện
bình thường mà động tới tâm thể sâu xa thế!
Nhìn mặt Lân rưng rưng
xúc động, vợ Lân nhếch mép, ngủng nghỉnh:
- Đầu bạc rồi mà còn cả
tin thế, hả ông?
Thấy Lân im lặng, vợ Lân
sì một hơi dài:
- Lá cây Bạch xà làm thuốc
với lại bị bắt giam oan ức! Rõ khéo bịa chuyện để che mắt thiên hạ chưa.
- Oan ức, bịa chuyện để
che mắt thiên hạ? Gì mà ghê thế?
- Chứ còn gì. Thiên hạ, hỏi
có ai đem cái sung sướng ra khoe với ông không?
Lân tảng lờ, chặc lưỡi:
- Ừ thì giả thử đúng như
thế thì cũng là người ta lấy của cải của thiên hạ cho người thiên hạ, chứ sao!
- Ông nói thế mà cũng
nghe được à!
Không ngờ vợ Lân nắm bắt
được cái thần của câu Lân nói, đứng phắt dậy, quắc mắt, vặc lại. Lân chớ chẩn một
hồi, chỉ biết vợ phản bác chứ không hiểu vợ nói gì, rồi im.
Cho đến một hôm Lân đi dạy
về, vừa bước vào nhà, chưa kịp bỏ mũ, vợ Lân đang đãi gạo, quay lại, bỏ rá gạo
chìm trong chậu nước, cất tiếng the thé, vừa hể hả vừa cay cú:
- Kìa! Sao không về nhanh
mà xem người ta khổ nhục thế nào! Đúng là con mẹ hoẹt dùng khổ nhục kế!
Lân đưa mắt ra cửa, nhận
ra căn buồng nhà Nội đã khóa trái và dán chéo hai băng giấy trắng đánh dấu niêm
phong. Vợ Lân đứng dậy, liếc qua mặt chồng buông một câu cụt lủn:
- Bay rồi.
- Bay đi đâu?
Nghe câu hỏi mơ màng của
chồng, người phụ nữ như chồm lên, xoe xóe:
- Ông mê ngủ à? Chưa tỉnh
à? Cả mấy mẹ con bay sang Tây theo chồng chứ đi đâu. Tám giờ ra ô tô, bảy giờ mới
sang chào. Thật là vợ chồng được cả đôi! Rõ là dãi dài hơn người chưa! Cháy nhà
ra mặt chuột chưa? Đúng là của ruộng đắp bờ. Ông già đâu có phải là kẻ tàn nhẫn
độc ác như người ta vu vạ. Ông già ăn ở tình nghĩa lắm chứ! Mà vợ chồng ông bạn
ông đâu có mê muội, ngu si! Thế gian anh nọ lợi dụng anh kia cả, chẳng có ai
ngu ngơ như ông đâu. Một lúc mấy suất xuất ngoại ngon ơ! Bổng lộc lớn thế dễ ai
mà có được!
Ngừng lại mấy giây, vợ
Lân xếch quần ngồi xuống, nhấc rá gạo trong chậu nước, xoay tròn và hất hàm,
nhìn Lân:
- Thế nào, bây giờ ai khổ
ai sướng ông đã biết chưa?
- Biết rồi, biết rồi...
Lân đáp khe khẽ. Tưởng
Lân đã nao núng, vợ Lân đắc chí trề môi:
- Ông Nội mà còn khổ thì
còn ai sung sướng ở cõi đời này nữa!
Lân quay đi. Ừ, thì cứ
cho là Nội bịa tạc ra chuyện lá cây Bạch xà và việc bị bắt giam oan ức như vợ
Lân nghĩ thì điều đó cũng có thể chứng tỏ là Nội đã thấm thía cái khổ nhục của
kẻ giúp việc phụ thuộc rồi. Hoặc giả, Nội không thấy cái nhục cái khổ, Nội cho
rằng mình khôn ngoan, biết lợi dụng cơ hội để dành lấy sự sung sướng cho mình
và vợ con. Thử hỏi rằng có đáng gọi là khôn ngoan và sung sướng không khi bổng
lộc được nhận như ban ơn bố thí vậy! Và câu chuyện ai khổ ai sướng tưởng đã rõ
ràng rồi mà sao vợ Lân cứ như là cố tình không hiểu. Hay đàn bà là thế, vợ Lân
là thế, họ chỉ quan tâm đến cái thực lợi giản đơn, và do vậy tinh quái đến mức
nhận ra cái thói đời vô cùng xấu xa là con người sống chỉ với một mục đích duy
nhất là kiếm chác lợi lộc từ người khác cho bản thân mình! Khiếp quá thôi, nếu
con người sống chỉ là để lợi dụng nhau!
Bất giác, Lần thấy buồn
hơn bao giờ hết. Buồn vì cái cuộc đời còn biết bao nhiêu là oái oăm, bí ẩn đến
quái đản này!.
3/1/2011
Ma Văn Kháng
Theo https://vietnamthuquan.eu/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét