Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Nguyễn Đông Nhật: Tự hoạ bằng cây bút của giấc mơ

Nguyễn Đông Nhật: Tự hoạ 
bằng cây bút của giấc mơ
Nếu tính từ 1969 -năm những bài thơ đầu tiên của NGUYỄN ĐÔNG NHẬT xuất hiện trên báo chí Sài Gòn - cho đến nay thì đã hơn bốn mươi năm, một nửa đời người, NGUYỄN ĐÔNG NHẬT lặng lẽ "VẼ" chân dung mình bằng thơ. Nói đúng hơn là, anh cố thử "TỰ HOẠ" tâm hồn mình cùng những suy tưởng về mọi góc cạnh của cuộc đời  bằng "Cây bút của những giấc mơ" như anh đã viết trong bài PHÍA SAU TÔI. Chân- dung- Thơ NGUYỄN ĐÔNG NHẬT cứ mỗi ngày dần rõ nét và đã gây được ấn tượng khá đặc biệt đối với bạn đọc yêu thơ cũng như giới chuyên môn. Điều đáng chú ý và trân trọng là, tuy thơ NGUYỄN ĐÔNG NHẬT thường "KÉN" người đọc, nhưng "DIỆN MẠO" thơ anh có nét rất riêng, không thể lẫn với bất cứ ai. Đã có nhiều bài báo do các cây bút chuyên nghiệp phân tích, điểm bình rất công phu về thơ NGUYỄN ĐÔNG NHẬT, nay SÔNG THƠ chỉ xin làm CẦU NỐI để bạn đọc có dịp tìm hiểu thêm về một HỒN THƠ: "đa mang, cả nghĩ, phức cảm, cô đơn trong kiêu hãnh, tự khai phá chính mình tưởng như đến cùng kiệt mà vẫn sung mãn   sức sáng tạo và giàu sang giấc mơ...". Chúng tôi cũng xin trích đăng lại các ý kiến cảm nhận, đánh giá về thơ NGUYỄN ĐÔNG NHẬT  của một số đồng nghiệp; xin mời quý độc giả tham khảo thêm!.
SÔNG THƠ
QUY KHỨ - VỀ ĐÂY
Kính tặng anh Tường Linh & anh Tần Hoài Dạ Vũ
Thì vẫn muôn trùng vẫn gió lay
Cay chua dâu bể bạc chân mày
U minh chìm nổi triền miên giấc
Trong trận cờ ma loạn dấu giày
Ai hỏi ngàn câu trên biển lớn
Can chi thân gởi chốn lưu đày
Đời soi huyễn mộng gương như chém
Chữ nghĩa tan theo nắng cuối ngày
Trí bạc xem ra đành phận mốc
Mờ mờ qua lối huyệt mù say.
Ra đi. Âm vọng đầu sông sáng
Khóc lịm hài nhi giập sóng lầy
Ta bước lên đường như phải bước
Từ vô lượng kiếp giạt về đây
Nặng cùng chín chữ thầm trong máu
Tát cạn sông đền chửa mảy may
Tóc trắng bên trời cha mẹ yếu
Mà lưu lạc rã cánh bèo mây
Đành cam bất hiếu lòng pha giấm
Hồn gởi điêu linh lệ thấm dày
Ngút ngút quê nhà sương khói nghẹn
Không về, ai đợi mỏn niềm tây
Lửa bom đã lấp biền dâu sém
Vườn cải hoa bầm lạnh dấu tay
Lịch sử cười điên cơn mất trí
Xé đời tươi máu có ai hay?
“Ngàn năm mảnh đất đan trong kén” (1)
Tàn nửa dòng thơ, lạc bướm bay.
Ra đi. Mơ dựng lời vui mới
Cho ngát mùa lên xanh sắc cây
Cho bếp nhân quần reo lửa ấm
Hát cùng giấc mộng khúc ca say
Đâu hay máu chảy ra ngoài máu
Dìm nát tim yêu cuộc thế bày
Ước nguyện phai màu tan ảo ảnh
Trách lòng chưa tỏ cuộc cờ ngây
Nghìn xưa rồi những nghìn sau nữa
Danh lợi cuồng tâm trái đất quay
Gió hú đêm trường trăng lạnh khóc
Ai đem xương trắng dựng lầu mây?
Ai cười xé lụa hờn sông núi?
Ai hỡi? Lầm chôn kiếp đọa đày!
Giận trời, mây cứ điềm nhiên trắng
Tiếng chó tru ma rợn óc lầy
Được mất còn chi ngoài rách nát
Thôi đành che mắt ướt trong tay
Đời ơi? “… một chấm nhân sinh nhỏ
Mong mỏi gì hơn ở kiếp này ” (2)
Biết thế nên vui cùng nước mắt
Ơn người mong trả giữa niềm cay
Thời gian. Xin giữ đền tơ tóc
Vinh - dự - tang - thương một cõi này
Trái đất già nua mà mới mẻ
Âm thầm ngậm đắng vết thương vay
Ra đi, ngày chật vô tình rộng
Lá hát rung đều nhịp nước mây
Ra đi. Thiên địa trầm ngâm thức
Câu hỏi không lời dạt cỏ cây.
1/2001
(1): Qui ẩn, về đâu? Thơ Tần Hoài Dạ Vũ.
(2): Khúc ca qui ẩn. Thơ Tường Linh.

SỰ RƠI XUỐNG BÌNH AN
Trong thành phố
dường như rất ít nhà có tro.
Làm sao họ hiểu
sự tàn lụi của lửa. Chầm chậm.
Của chính họ.
MỘT THỰC TẠI
Cái tủ kính nhìn ra cửa.
Cái cửa nằm trong mặt kính.
Cánh cửa nào tôi sẽ đi qua.
5 - 2002
NHỮNG TÁCH CÀ PHÊ
tặng TV
Mùa đông năm trước bên tách cà phê, đôi khi
chúng ta nhận ra vị đắng và ngọt
trong bóng lá bạc hà in vào mắt của nhau
giữa tiếng còi xe thúc giục lúc rời xa.
Bên tách cà phê nóng và nguội
chúng ta lao vào nhau trong nỗi chia lìa.
Cháy và tắt
cháy và tắt như biến tan như mãi mãi.
Những mặt bàn những tách cà phê bây giờ ở đâu .
Em và anh đang ở đâu.
Và một năm tận. Gió vẫn reo. Tán lá bạc màu.
10.1.2008
GIẢI MÃ MỘT ĐIỀU BÌNH THƯỜNG
gửi Th.
Bằng đôi mắt em không nhìn và bàn tay em lạnh
anh đã thanh toán vài ảo tưởng thời gian
bằng giọng nói trầm đục của em
anh gom những thanh âm ngày chưa đến.
Phía sau đôi vai, khi trùm bóng xuống cơn mê
em để lại khoảng trời vỡ
khi em thấm vào anh những tháng năm rũ rượi
không khí mở ra cánh cửa rạng ngời.
Cuộc đời có thực hay không, anh không biết
nhưng chúng ta những sợi máu cuồng nhiệt lặng thầm
là con đường mù lòa tỉnh thức.
Không chia lìa dù không mãi mãi
trên dòng ánh sáng hồi sinh
từ bóng tối ấm nồng vô hạn.
Như hơi thở. Đến ngày cuối.
20.5.2008
THƠ VỀ THƠ
THÁI ĐỘ
I.
cũng đành nói một điều gì đó
cũng đành hát một bài vui hay buồn
đứng trước tấm gương, nhìn và phải thấy
khuôn mặt người trên vách tường câm
II.
đôi mắt nhìn thẳng
không cần mang kính
nghe hết mọi điều
nói điều im lặng
NHÀ THƠ
Cuộc đời đã rút dần của anh
niềm vui cùng dòng nhựa ấm.
Và hôm nào anh ra đi
không ảnh hình lời chào lặng lẽ.
Người ta sẽ quên giữa những bộn bề
tên anh. Thoáng mây chìm gió dạt.
Nhưng cái bóng thầm tiếng động những câu thơ
chầm chậm thấm vào giọng hát trong mơ.
Nhặt ánh sáng từ đêm tối
anh trả cho trời xanh niềm vui biếc gió.
Dâng lên bằng những tiếng vô hình
anh gọi một mùi hương quên - nhớ.
Chết đi - sống lại bao lần
anh là dáng trăng giữa ngày mờ ảo
là tiếng gió từ hoàng hôn xưa
hửng bên trời xa quầng sáng chậm.
Anh không định nghĩa. Và cuộc đời lại dang tay
ôm anh như vầng trăng muộn.
Những dòng thơ rơi rụng nơi nao
bỗng chấm từng giọt xanh trên đá.
THƠ
1.
Tỉnh giấc trong khuya vì những tiếng nói
thật rõ và mơ hồ
như mình nói cho mình nghe
như là của chính mình
mà không phải.
Rồi chúng mất tăm như chưa hề.
Rồi lại chìm vào cơn mê
để thêm một lần thấy lại
để biết rằng sẽ mất đi mãi mãi
để lại tìm thấy trong một ngày nào.
2.
Giấy trắng.
Mực đen.
Có gì đáng nói?
Giấy trắng
chữ trắng
những chữ đẹp nhất.
Tìm chúng trong đêm.
Chúng hiện giữa ngày.
Nghe ấm một tình yêu
HUỲNH MINH TÂM
Đó là cảm giác chung nhất đọng lại khi đọc xong “Một trăm bài thơ”của Nguyễn Đông Nhật. Hãy thử bắt đầu bằng đoạn thơ: “Có đêm tôi mở cửa ra đường/ nghe tiếng thì thầm trong hàng cây? tưởng tới những người đã khuất/ những mặt đất những cánh rừng những năm tháng đi qua/ cứ mất hút dần đi và sinh sôi như kỷ niệm” (Khu nhà số 20) đủ để thấy thơ Nguyễn Đông Nhật mang âm hưởng lặng lẽ, mang chiều sâu của chiêm nghiệm. Những câu thơ gợi mở nỗi khát khao được yêu, được sống, được viết và lòng biết ơn của con người bằng xương bằng thịt trở về sau chiến tranh và cái chết. Đoạn thơ này, bài thơ này nằm trong phần I của tập thơ. Phần này còn có nhiều bài thâm trầm, sâu sắc với những giấc mơ đẹp như Sân khấu, Những người bạn gái, Bài ca của gió.
Phần II là lời nói dịu dàng kín đáo của người tình – cuộc sống, những giấc mộng vàng “trở lại, trở lại dòng lệ âm thầm/ là nỗi hân hoan của giấc mơ ” như chính nhà thơ đã thổ lộ:
Có phải ngôi nhà với những đồ vật gọn gàng
với đám bụi mỏng mỗi ngày, dù được lau đi
còn đọng lại nét thời gian khó nhọc.
Hay tình yêu là cơn gió vô tình
thổi bên ngòai sự ấm cúng

(Tình yêu)
Chủ đề tình yêu xuyên suốt tập thơ nhưng gần gũi và thân thuộc nhất ở các bài Hội An, Nghịch lý của tình yêu, Ban mai. Với bút pháp chấm phá, giàu chất suy tưởng, nhạc điệu mới lạ và quyến rũ, tác giả đã vẽ lại những bức tranh cảm xúc tinh tế và sâu sắc, những liên tưởng bất ngờ, thú vị:
Lẽ ra bóng họ lấp đầy tôi
khi tôi tìm cách từ bỏ
bản thân vô ích này.

(Nghịch lý của tình yêu)
Phần III đầy ắp mùa màng xao động, đánh thức nỗi cô đơn của tác giả tưởng chừng còn ngủ quên ở hồn lau tâm lách. “Ra đi. Sông réo bên nguồn sóng/ Mặc những con đường xé ngã ba/ Cuối giấc điên bừng tan ảo tưởng/ Thấy hồn như lửa sáng trên tay". Đặc biệt trong phần này, Nguyễn Đông Nhật đã viết lên một tình yêu chân thực đầy chất lãng mạn và sinh động, một cảm xúc tình yêu đã “hóa thân” thành những câu thơ giản dị. Ở đây, cái Đẹp chỉ dành rất ít chỗ cho những mỹ từ, mà hiện thân nó là “tuệ quán” với “cái đang là” tế nhị, lặng lẽ:
Năm tháng hiện dần trên những sợi tóc anh
đôi mắt em nhìn nơi nào xa.
ngọn đèn trên hoàng hôn thẫm bóng
thời gian vẽ một đường cong không mờ.

(Cửa chiều)
Còn khúc nhọc nhằn của cuộc đời giao hòa với “bi ca thâm trầm của triết học phương Đông” lại được thể hiện đậm nét trong phần IV. Dẫu rằng cũng chỉ “ngồi sáng vẽ chiều, nhìn trăng vẽ hoa” gắn với chất suy niệm nhưng gợi được một số cảm hứng mới lạ:
Trong thành phố
dường rất ít nhà có tro.
Làm sao họ hiểu
sự tàn lụi của lửa. Chầm chậm.
Của chính họ.
(Sự rơi xuống bình an)
Ở đây, có một nỗi cảm thông nào đó rất đáng trân trọng; và tự chúng ta cũng cảm thông với tác giả. Cuộc sống luôn vận động, biến đổi, thế thì tâm thức, thế đứng thế nhìn của nhà thơ đôi lúc cũng không được “định“ như ý vậy? Tiết tấu thơ chậm, lẻ, đơn độc.
Phần V của tập thơ gánh nặng cảm hứng nghề nghiệp, tình yêu của những tâm hồn đồng điệu, chia sẻ những dằn vặt trăn trở trước lớp lớp xô bồ con chữ vốn dĩ tác động cụ thể và đầy ám chướng đến nghịp cầm bút:
Đằng sau nỗi đau đớn của ông
ánh sáng những câu thơ
vẽ màu cỏ
biếc xanh

(Nhớ thi sĩ Văn Cao)
Nói về người cũng là nói về mình, là cái nhìn vào tâm điểm thực tại hay ảo ảnh và qua bao lăng kính của đời người dâu bể: “Tôi gắng vẽ hình tôi giữa cuộc đời/ bằng cây bút của những giấc mơ/ có thể thấm tràn máu đỏ/ hay có thể khô cong” (Phía sau tôi).
Hoặc: ”Người ta sẽ quên giữa những bộn bề/ tên anh. Thoáng mây chìm gió giạt/ nhưng cái bóng thầm tiếng động những câu thơ / chầm chậm thấm vào giọng hát trong mơ ” (Nhà thơ).
Nói chung, “Một trăm bài thơ“ là tập thơ bề thế, đầy đặn các ý tưởng với một bút pháp nhất quán, chặt chẽ. Đề tài của nó rộng lớn về cuộc sống, tình yêu và thơ ca; đặc biệt là cảm hứng chân thực và cảm hứng nhân đạo, tình yêu – hy vọng của bao cảnh đời mất mát sau chiến tranh. Nguyễn Đông Nhật viết thơ “ kỹ ”, ngôn từ giản dị, hàm súc, nhịp điệu thơ uyển chuyển, mới lạ, rất kén chọn. Trường liên tưởng thơ anh rất rộng và gợi mở, phép so sánh xa xôi bất ngờ, gợi cho bạn đọc có cảm tưởng dòng thơ đang vận động ở hình thức câu thơ tĩnh lặng, khắc khổ. Cảm hứng “thiền“ ở thơ anh ít màu sắc biểu cảm nên đôi lúc khó đọc. Nhưng cảm hứng trần thế – quê hương – con người trong thơ anh giàu sắc thái biểu cảm và đẹp. Một thành công nữa của thơ Nguyễn Đông Nhật là với tài quan sát sắc sảo và trí tưởng tượng phong phú, có những đề tài, sự kiện quen thuộc gần gũi nhưng qua ngòi bút của anh, các hình ảnh trở nên sống động, với bao lý giải thú vị, đáng kinh ngạc:
“Mọi sự ra đi đều báo trước
nhưng anh không hình dung, khuôn mặt yêu dấu kia
lẫn vào những khuôn mặt khác
tại sao phải sắp hàng trước một mùa đông“

(Biệt ly)
Lời thơ lạnh lùng, nhưng rõ ràng vẫn nghe ấm một tình yêu. Và đây cũng là cái chung nhất của “Một trăm bài thơ”.
(Báo Quảng Nam chủ nhật, số ra ngày 23/1/2005.)
*Nhận xét của các nhà thơ:     
* Tập “Một trăm bài thơ” của Nguyễn Đông Nhật gồm những bài chọn lọc được viết rải rác từ năm 1968… đến những năm gần đây. Có thể coi tập thơ dày dặn này là cái mốc ghi dấu một chặng dài hành trình thơ gần bốn mươi năm mà tác giả đã bền bĩ, kiêm tìm. Những suy ngẫm, chiêm nghiệm trong từng giai đoạn thăng trầm thời cuộc, qua lăng kính riêng mình, Nguyễn Đông Nhật đã có thơ. Tác giả bộc lộ quan niệm về thơ, về nghề thơ:
Giấy trắng
chữ trắng
những chữ đẹp nhất
Tìm chúng trong đêm
Chúng hiện giữa ngày

(Thơ)
Có những bài Nguyễn Đông Nhật viết cách đây ba mươi năm, hai mươi năm, giờ đọc lại vẫn không nhàm cũ, bởi tác giả đã tạo cho thơ mình chất giọng riêng trong cách nghĩ, cách cảm.
(Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu - tạp chí Văn Nghệ Quân đội Số 650-tháng 7/2006)
* THƠ NGUYỄN ĐÔNG NHẬT
Thơ Nguyễn Đông Nhật xuất hiện trên những tờ báo hợp pháp và bán công khai trong phong trào đấu tranh của SVHS tại các thành thị miền Nam trước năm 1975. Nhưng quãng thời gian hơn 30 năm kể từ ngày đất nước thống nhất đến nay, thơ Nguyễn Đông Nhật mới thực sự đi vào lòng người đọc. Và, theo tôi, “Bài ca của gió” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của giọng thơ Nguyễn Đông Nhật, chắc chắn sẽ còn lại với thời gian.
Thơ Nguyễn Đông Nhật luôn buộc người đọc phải tìm tòi, khám phá. Ở đó, cái ý cái tình như ẩn đằng sau câu chữ; dù không khí thơ rất hiện đại, nhưng vẫn không đi ra ngoài quan niệm truyền thống “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời).
Tôi yêu cái tâm thế của nhà thơ, khi một ngày nào đó, trong tương lai có thể rất gần mà cũng có thể thật xa, “dừng chân trước ngôi nhà em cửa đóng/ nhân danh tro bụi, tôi cúi xuống/ nhặt chiếc lá đêm vô tình”.
Phải rồi, dù chỉ là một “Chiếc lá đêm vô tình”, nhưng đó chính là cuộc sống, hay ít ra cũng là mối liên hệ mong manh vẫn giúp con người gắn lòng mình với cuộc đời dẫu bất toàn nhưng vẫn đáng sống này.
(Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ, báo Quảng Nam cuối tuần - 9/2008).
Theo http://www.songtho.net/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đ...