Gọi là đi du lịch nội địa thăm thú cho biết xứ ngàn năm văn vật
cũng được, mà bảo là chuyến hành hương về nguồn cũng không sai bởi tôi gửi cuống
rốn cho Bà Từ Dũ - Saigon (cuối thập niên 40, thế kỷ trước) nhưng trong mục kê
khai căn cước nguyên quán nội tổ ở tít tận cố đô Mê Linh, Hà Nội. Đúng là lịch sử
đất nước phân ly nằm vắt hai bờ giới tuyến, đã khiến hình tướng của biết bao
người Việt Nam di dân, dời cư không tránh khỏi cong cong như hình chữ S, lúc nào cũng
đau đáu truy vấn: ta là ai? - ta từ đâu đến? - ta về đâu cuối đời?
Xem ra heo may chẳng còn hiu hiu nữa mà đang quạt gió rần rần
trên mái tóc phai sương. Cội nguồn réo gọi. Còn chần chừ gì nữa, sao không một lần
về thăm cho thỏa?
Tôi ra Hà Nội cũng vừa tầm thu đến, bầu trời trong xanh, mây
nhẹ, nắng nhàn nhạt. Vỉa phố Phan Đình Phùng trút đầy lá Sấu. Hà Nội mơ màng chuyển
mình với ánh vàng rực nắng của hoa cúc, của cây cơm nguội, của lộc vừng đơm hoa
treo lủng lẳng bên Hồ Gươm, thoảng thơm hương cốm sữa.
Qua ô kính tàu bay, nhà cửa li ti, màu ngói như son, tum mái lố
nhố, những đồng xanh nhập nhòa, và dòng sông Hồng đỏ ngầu đặc trưng bên dưới cánh
bay, chỉ dấu kinh thành Thăng Long đang dần hiện rõ. Cơ trưởng thông báo vùng
không phận chuẩn bị hạ cánh, dặn dò hành khách thắt dây an toàn, tắt sóng di động, ngồi
yên cho đến khi tàu bay dừng hẳn. Trong khoang im bặt, áp suất thay đổi làm ù
tai, mọi âm thanh nứt vỡ nghe như từ xa xăm. Tàu bay tiếp đất rùng rùng chạy một
đoạn dài vào bến đỗ.
Khoác balô bước ra khỏi đường ống dẫn nối với sảnh nhà ga Nội
Bài, tôi thực sự hiểu mình đang đứng trong lòng Hà Nội - háo hức pha chút ngỡ
ngàng quen lạ.
Ấn tượng đầu tiên - Trích Sài, Hồ Tây
Chiếc taxi tấp vào:
- Các bác về đâu ạ?
Tôi kê một lô địa danh để ông thần thổ địa Hà Nội dễ “search”
trong trí não:
- Anh cho về Trích Sài, Võng Thị, Hồ Tây…- Hà Nội nhiều tên
làng, tên phố quá - nào Nhổn, nào Chèm, Vẽ, Láng, Cót… nhưng cái tên Trích Sài thì ít
nghe.
Anh tài trẻ góp lời:
- Các bác ở trong Nam ít biết đó thôi - Hà Nội có hàng đống
tên phố, tên làng mới cũ kể hàng giờ chưa hết - chúng cháu sinh sau đẻ muộn chỉ
biết lõm bõm.Theo các cụ lớn tuổi kể lại: Trích Sài, Kẻ Bưởi, Yên Thái, Võng Thị
thuộc vùng đất cổ nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội. Ngày ấy... vùng Bưởi có nhiều
làng nghề, trong đó có hai nghề thủ công nổi tiếng là dệt lĩnh (làng Bái Ân,
Trích Sài) và làm giấy dó (làng Hồ Khẩu, Yên Thái). Tiếng chày giã vỏ cây trở
thành nét đặc trưng của kinh kỳ, đi vào câu ca dân gian hầu như ai cũng biết: “Gió
đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói tỏa
ngàn sương/ Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ”.
Xe lướt nhanh trên cao tốc Nhật Tân - Nội Bài, phía trước cây cầu
Nhật Tân hoành tráng hiện ra với 5 trụ tháp hình thoi, 6 nhịp dây văng, 8 làn xe
mỗi chiều, bắc ngang sông Hồng đẩy dạt qua một bên đống thép cầu Thăng Long rườm
rà, nặng nề, cũ kỹ - công trình khiến dân ta không bao giờ quên sự “hàm ơn” dành
cho anh bạn Tàu hữu nghị xảo trá đòi “dạy cho Việt Nam bài học” năm 1979 - và ăn cướp
trắng trợn Hoàng Sa, "nói dối trơ trẽn" về cái gọi là "chủ quyền từ
thời cổ đại" đối với quần đảo Trường Sa của Việt Nam và mới đây trong phát
biểu của Triệu Lạc Tế - UV Thường vụ BCT, Bí thư UB Kiểm tra Kỷ luật TƯ Đảng
CSTQ dịp thăm làm việc tại Việt Nam 27/9/18 - lại tiếp tục nói lời “tăng cường niềm
tin”!
Đứng trên bao lơn tầng 7, nhà khách 299, phố Trích Sài, phóng tầm
nhìn bao quát Hồ Tây - cầu Nhật Tân, vòng đu quay công viên nước mờ xa - bán đảo
Quảng An, Nghi Tàm nhô ra giữa hồ - Yên Phụ, Cổ Ngư (đường Thanh niên), chùa Trấn Quốc, đền
Quán Thánh chếch phía đông.
Trời nước mênh mang, nghe bảng lảng giai điệu Nhớ mùa thu
Hà Nội của Trịnh Công Sơn: “Hồ Ƭâу chiều thu, mặt nước νàng laу bờ
xa mời gọi. Màu sương thương nhớ, bầу sâm cầm nhỏ νỗ cánh mặt trời…”. Tôi liên tưởng
bài đọc thuộc lòng Đêm trăng chơi Hồ Tây của Phan Kế Bính (3) thời
niên thiếu, bỗng ùa về xâm chiếm tâm hồn: “Trời tháng Tám, nhân buổi đêm trăng, dắt
một vài anh em bơi một chiếc thuyền nhỏ rong chơi trong hồ. Hồ về Thu, nước
trong vắt, bốn mặt mênh mông. Trăng tỏa ánh sáng, rọi vào các gợn sóng lăn tăn, tựa
hồ hàng muôn hàng ngàn con rắn vàng bò trên mặt nước. Thuyền ra khỏi bờ độ vài
ba con sào, thì có hây hẩy gió động sóng vỗ rập rình…
Thuyền theo gió, từ từ mà đi, ra tới giữa khoảng mênh mông, tôi
đứng trên đầu thuyền ngó quanh tả hữu. Đêm thanh cảnh vắng, bốn bề lặng ngắt như
tờ. Chỉ còn nghe mấy tiếng cá lắc tắc ở giữa đám rong, mấy tiếng chim nước kêu
oác oác ở trong bụi niễng, cùng là văng vẳng mấy tiếng chó sủa, tiếng gà gáy ở
mấy nơi chòm xóm quanh hồ mà thôi. Trông về Đông Nam, kia đền Quan Thánh, đó Chùa
Trấn Quốc; trông về Tây Bắc, đây Đình Võng Thị, nọ Văn chỉ Tây Hồ, cây cối vài đám
um tùm, lâu đài mấy tòa ẩn hiện, mặt nước phẳng lỳ tứ phía, da trời xanh ngắt một
màu, xem phong cảnh đó, có khác gì bức tranh sơn thủy của Tạo hóa treo ở trước mắt
ta không?...
Hà Nội nhìn lướt
Hà Nội hiện có tất cả 30 quận, huyện - Bắc giáp Thái Nguyên và
Vĩnh Phúc; Nam giáp Hà Nam và Hòa Bình; Đông giáp các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh
và Hưng Yên; Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ. Sau khi điều chỉnh hợp nhất
toàn bộ Hà Tây; sát nhập Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), và 4 xã Đông Xuân, Tiến
Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, diện tích địa giới hành
chính Hà Nội: 3.345 km2; dân số (theo thống kê 2009): 6.451.909 người
- hiện nay có thể lên đến > 9 triệu. Mật độ bình quân 1979 người/km2 -
dày nhất quận Đống Đa (36.2.86 người/km2), tiếp theo là: Hai Bà
Trưng (29.280 người/km2), Hoàn Kiếm 27.799 người/km2), Ba Đình (24.291
người/km2), Thanh Xuân (24.582 người/km2)... - những huyện ngoại
thành như Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ
Đức, mật độ dưới 1.000 người/km².
Hà Nội 20 năm trở lại đây đổi thay đến chóng mặt. Ông Xuân Diệu
có sống dậy chắc phải sáng tác thêm Ngói mới 2 thay cho Ngói mới
1 (ra đời 9.1959) lạc hậu rồi! (Ôi ngàn vạn ngói, nói xôn xao/ Như đất ta vui bỗng
vọt trào…). Đất nước hôm nay chuyển mình, lột xác dữ dội, nhà cửa không còn “tranh
hóa ngói” tầm tầm nữa mà đang “trải ra thành rộng, dựng thành cao” với nhiều cao ốc
mọc lên như nấm. Các tuyến giao thông, cầu đường nâng cấp mở rộng hiện đại. Phố thị
náo nhiệt đẩy lùi làng xưa, phố cổ. Kinh tế thị trường xới tung sinh hoạt xã hội, tính
cạnh tranh vô cùng khốc liệt. Hà Nội cũng như nhiều tỉnh thành cả nước sau thời
gian dài bao cấp giậm chân trì trệ, đã chủ động đổi mới, hội nhập quốc tế, tăng tốc
phát triển theo kiểu “ăn bù, no dồn”, có dấu hiệu “béo phì”, khiến tấm áo cũ căng cứng.
Ngoài đường phố, người và xe đủ chủng loại chen chúc dày đặc. Siêu
thị, chợ búa, cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh bán buôn, hoạt động dịch vụ dình dịch
24/24 không ngớt. Nhớ lại cái thời tem phiếu phân phối theo tiêu chuẩn qua hệ thống
thương nghiệp quốc doanh-Xã hội chủ nghĩa mà không khỏi rùng mình. Phải nói phúc
đức cho dân tộc này!.
Từ Ninh Bình trở về Hà Nội theo trục Tam Trinh-Kim Ngưu-Trần
Khát Chân-Đại Cồ Việt-Xã Đàn-La Thành-Bưởi-Thụy Khê về Trích Sài (ven Hồ Tây) -
vào giờ tan tầm, phải mất hai ba nhịp đèn tín hiệu mới thoát được ngả tư và hơn
tiếng đồng hồ, chúng tôi mới về đến nhà khách.
Tình trạng ùn ứ, tắc đường nghiêm trọng ở Hà Nội là do các
phương tiện giao thông - trong đó có phương tiện cá nhân, gia tăng quá
nhanh. Theo thông tin của Sở GTVT HN với báo chí - TP Hà Nội hiện có hơn 5,5 triệu
xe trong đó ô tô gần 535 nghìn, xe máy gần 5 triệu. Điều kiện kinh tế phát triển, nhu cầu tăng
cao, nhiều gia đình mua sắm ô tô riêng. Tuy nhiên, cũng có gia đình không có
nhu cầu sử dụng ô tô riêng nhưng vẫn cứ mua, chỉ để cho “oách” - mua xe nhưng
không cần biết ô tô của mình đỗ ở đâu, chi phí mỗi năm cho một chiếc xe tốn bao
nhiêu tiền. (Nguồn vtc.vn, số liệu năm 2015)
Phố với đường
Chắc có lẽ cư dân bản địa Hà Nội quá quen với Ngõ nhỏ, phố
nhỏ, nhà tôi ở đó/ Trong giấc mơ tôi vẫn thầm mơ.(2) - Nhìn nơi ăn chốn ở
quá khiêm tốn, hạnh phúc vừa vặn một vốc tay trẻ sơ sinh của thị dân phố cổ, tôi
rất ái ngại. Ngõ 34 Hàng Da với chỗ rộng nhất 60cm, nơi hẹp nhất chỉ có 46cm. Ngõ 24 Hàng Điếu nơi hẹp nhất chỉ 49,5cm, chỗ rộng nhất 61,5cm… Căn nhà trong
ngõ số 8, Phất Lộc dài 2,1m, rộng 1,7m với diện tích 3,75m2, là nơi ăn ở của
năm con người. Căn nhà số 4 Hàng Gà bề ngang 1,91m, dài 2,82m, tính ra được
5,4m2 là nơi trú ngụ sáu con người… Sinh hoạt gia đình cực kỳ khốn khổ. Mọi người
rất bức xúc, và mong rằng thành phố khẩn cấp chỉnh trang, cải tạo phố cổ, nhà
cổ quá đát, trước khi tai họa ập đến.
|
Khách trong Nam ra lần đầu khó phân biệt được đâu là đường, đâu
là phố? Cách gọi phố là “đặc sản” riêng của Hà Nội và một số thành phố, thị
xã phía Bắc - trong Nam (TP Hồ Chí Minh chẳng hạn) gọi là đường ráo trọi.
Nhiều phố gắn với chữ hàng (hàng Than, hàng Đào, hàng
Đường, hàng Đậu, hàng Thùng, hàng Mành…), bên cạnh đó cũng có rất nhiều đường: (đường
Yên Phụ, đường Láng, đường Đại La, đường Nguyễn Chí Thanh…).
Trong số hơn 500 tuyến phố hiện nay của Hà Nội, phố và đường là
“ngang ngửa”. Tên gọi phố chủ yếu thuộc về các khu phố cổ, khu phố cũ,
các điểm buôn bán sầm uất... Còn các tuyến phố mới xuất hiện thường được đặt
là đường. Theo Bản quy ước về việc đặt tên đường, phố, ngõ của
TP Hà Nội, từ ngày 26/8/1998:
- Đặt là đường đối với những đường có quy mô lớn về độ dài,
chiều rộng, nằm trên các tuyến vành đai, đường liên tỉnh, đường trục chính trên
địa bàn thành phố.
- Đặt là phố đối với những đường có quy mô nhỏ và hai
bên có những công trình kiến trúc liên tiếp (nhà ở, cửa hàng, cửa hiệu, trụ sở
cơ quan,…).
Phân biệt là vậy nhưng đường, phố luôn “biến thái” - rất nhiều
tuyến đường qua thời gian đã bị “phố hóa” (như Đường Trường Chinh, Đường
Láng, Đường Nguyễn Trãi, Đường Cầu Giấy,…) nhưng tên cũ vẫn còn đó.
Dân Saigon bát phố Hà Nội như lạc giữa mê hồn trận, cứ nhoáng nhoàng
với tên đường, tên phố - Một tuyến đường dài cắt nhiều khúc, mang nhiều tên như
Văn Cao - Liễu Giai - Nguyễn Chí Thanh - Trần Duy Hưng - đại lộ Thăng Long…
Cách ngả tư đường, người chờ ở Tràng Tiền, kẻ đợi ở Hàng Khay cứ alô em ở đâu?
Hoặc thả dạo 36 phố phường - đang đi Hàng này bỗng đánh độp
biến thành tên Hàng khác như trò ảo thuật - Có tên đường nghe như tấu
hài - ví dụ đường Ướp Lạnh khu vực Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm - cũng
may biển tên đã được gỡ bỏ.
Trong Nam (Tp Hồ Chí Minh) tương đối đơn giản hơn - chẳng hạn: đại lộ Võ Văn Kiệt mới mở, quất thẳng một lèo từ đầu Bến Chương Dương, cột cờ
Thủ Ngữ (Q1) xuyên bến Hàm Tử (Q5), bến Bình Đông (Q6) đến trục quốc lộ 1A - đoạn An Lạc, Bình
Điền (H. Bình Chánh). Ai cần hỏi thăm đường cũng dễ chỉ. Có lẽ vì vậy dân Nam bộ
tính thẳng như ruột ngựa chăng?
Dưới góc nhìn phong thủy, chính dòng sông Hồng chuyển tải
nguyên khí tổng hợp từ hai con sông Đà và sông Lô chảy qua địa phận Hà Nội
(163km), đã làm cho Hà Nội trở thành một vùng đất địa linh, nguyên khí sung
mãn, tồn tại đến muôn đời.
Thân Nhân Trung (1419-1499), Tiến sĩ triều Lê, trong một bài bi
ký - Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đã viết: "Hiền tài là nguyên khí của quốc
gia, nếu nguyên khí thịnh thì nước thịnh và mạnh, nếu nguyên khí yếu thì nước yếu
và suy, cho nên từ xưa đến nay tất cả các bậc thánh đế minh vương không ai là
không chăm sóc hiền tài và bồi dưỡng nguyên khí."
Riêng thi sĩ Hồ Dzếnh (1916-1991), ông cảm nhận rất rõ những gì
Hà Nội đã đem lại cho đời văn của ông: - Cái nước sông Hồng, cái gió sông
Hồng nó lạ lắm, nó làm ra văn chương Bắc Hà, văn chương Hà Nội. Anh muốn sống ở
đâu cũng được, viết ở đâu cũng được nhưng phải tráng qua tí chút hơi hướng Tràng
An thì mới thành văn chương đích thực, nó khác với văn tỉnh lẻ. Giải thích
điều này theo ông: Thì bao nhiêu cái khôn ngoan của thiên hạ tất phải chạy về đất
kinh kỳ mới có cơ hội nổi danh được. Tầng lớp sĩ phu đông, danh gia vọng tộc nhiều, dầu
muốn hay không nó vẫn đóng góp cái phần của nó vào sự phát triển trí tuệ
của dân tộc. Tiếng nói của họ dầu là chính thức hay không chính thức vẫn tác động
tới đời sống tinh thần cả nước. Nhưng không có con buôn đâu nhá, dẫu có là tỉ phú
vẫn cứ bị dân Hà Nội xem là lái buôn. Cũng không có quan lại đâu nhá, quan lại phải
đỗ đại khoa, phải sống cao thượng, đẹp đẽ mới được xem là trí thức. Cụ Thiếu Hà
Đông (Hoàng Trọng Phu, 1872-1946) vẫn cứ là bồi tây. Còn Tổng Đốc Hoàng
Diệu (1829-1882) mới là sĩ phu Bắc Hà. Sự đánh giá của nó, của đất kinh kỳ, về việc
về người là rất quan trọng, có giá trị lưu truyền hậu thế…(4)
Hà Nội là vậy - “nếu chúng ta định nghĩa Hà Nội là một nơi
tinh hoa dưới dạng “thanh lịch Tràng An” thì chúng ta sẽ thất vọng. Bởi nó vốn
là một nơi kẻ chợ, bây giờ vẫn là một nơi kẻ chợ, và chắc chắn là một kẻ chợ phồn
hoa, sầm uất, nuôi sống được nhiều người. Nơi đô hội ấy, tập trung anh tài,
tinh hoa... và cả cái xấu xí.” (5)
Với tôi, được về thăm nguyên quán sau bao dâu bể, là niềm hạnh
phúc viên mãn.
Hà Nội như mảnh ghép tạng của chính tôi!.
Ghi chú:
(1) Cầu Thăng Long TQ xây bỏ dở (1974-1977) - Liên Xô
giúp hoàn thành (1978-1982)
(2) Bài hát “Hà Nội và tôi” - Lê Vinh
(3) Phan Kế Bính (1875-1921), hiệu Bưu Văn, bút danh
Liên Hồ Tử, người làng Thụy Khuê (làng Bưởi), nay thuộc quận Tây Hồ (Hà Nội). Chỉ
trong 15 năm, từ khi thi đỗ cử nhân Hán học năm 1906 và không ra làm quan đến
khi qua đời năm 1921. Ông đã để lại cho hậu thế một di sản văn hóa lớn. Bài ký
"Đêm trăng chơi Hồ Tây" của ông có thể coi là một áng văn tuyệt bút
viết về thắng cảnh.
(4) “Hà Nội trong mắt tôi” - Nguyễn Khải, tr.35, NXB VHTT, 2014.
(5) “Hà Nội có phải nơi đáng sống?” (nguoidothi.vn).





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét