Chương 4: Tiềm năng trong mọi sự việc
Để thành công thực sự trong doanh nghiệp bạn cần một số trí
tuệ thâm sâu đến với một đời sống tâm linh. Như thế, bạn có thể có cái bánh và
cũng có thể ăn nó nữa. Trong chương này, chúng ta sẽ đề cập tiềm năng trong mọi
việc - cái mà những người theo Phật giáo gọi là “không” - nhưng xin đừng lo lắng
về cái tên mới lạ này, hoặc mường tượng nó ra ngay. Nó chẳng hề là những gì mà
từ này gợi ý, và nó, hoàn toàn đơn giản, là bí mật của mọi thành công.
Tốt nhất có lẽ nên khởi đầu bằng một sự trao đổi đáng ngạc
nhiên giữa Đức Phật và vị đệ tử Tu bồ đề của Ngài.
Tỳ kheo trẻ tuổi Tu bồ đề cung kính bạch Thế tôn như sau:
Bạch Thế tôn, loại giáo lý đặc biệt này tên là gì? Chúng con
phải nghĩ đến nó như thế nào?
Đức Phật trả lời:
Này Tu bồ đề, đây là giáo lý về Trí tuệ Toàn hảo và các người
phải nghĩ đến nó như thế.
Tại sao vậy? Vì rằng, này Tu-bồ-đề, chính cái Trí tuệ Toàn hảo
này mà Như Lai giảng dạy là cái Trí tuệ Toàn hảo có thể không bao giờ hiện hữu.
Và quả thực đây là lý do tại sao chúng ta có thể gọi nó là Trí tuệ Toàn hảo.
Này Tu-bồ-đề, hãy nói cho ta biết, ông nghĩ gì? Có giáo lý
nào mà Như Lai từng giảng dạy không?
Và Tu-bồ-đề cung kính bạch:
Không, bạch Thế tôn, không hề có. Không bao giờ có thể có
giáo lý nào mà Như Lai có thể giảng dạy.
Bằng những lời này, Năng đoạn kim cương có vẻ như nổi lên
trong cái thế giới không-mang-ý-nghĩa (không, vô ngã, vô niệm) mà tiếc thay,
trong văn hóa của chúng ta, Phật giáo bị hiểu là thế giới ấy. Nhưng tuyệt nhiên
không phải như vậy.
Hãy xem những gì được nói ở đây và tại sao như thế, rồi hãy cố
gắng nhìn xem Phật giáo có thể được áp dụng thế nào trong cuộc sống doanh nghiệp
của chúng ta. Bởi vì quả thực Phật giáo có thể được áp dụng, ngôn thuyết của Phật
giáo chứa đựng những bí mật thực sự cho một cuộc sống hoàn toàn thành công.
Tựu trung, đối thoại trên có vẻ như sau:
Tu-bồ-đề: Chúng con sẽ gọi kinh này là gì?
Đức Phật: Hãy gọi là Trí tuệ Toàn hảo.
Tu-bồ-đề: Chúng con sẽ nghĩ về kinh như thế nào?
Đức Phật: Hãy nghĩ đến kinh như là Trí tuệ Toàn hảo.
Và nếu ông muốn biết tại sao, thì đấy là vì cái Trí tuệ Toàn
hảo mà ta đang viết về là cái trí tuệ toàn hảo không hề hiện hữu - và đấy chính
là lý do tại sao ta quyết định đặt tên kinh này là Trí tuệ Toàn hảo. À này,
Tu-bồ-đề, ông có nghĩ rằng cuốn kinh này là một cuốn kinh?
Tu-bồ-đề: Không ạ. Chúng con biết rằng Ngài không bao giờ viết
kinh.
Cái then chốt ở đây, và cái chìa khóa cho năng lực ẩn giấu
trong tất cả mọi sự vật, là lời khẳng định rằng “Bạn có thể gọi cuốn kinh là một
cuốn kinh, và bạn có thể nghĩ về cuốn kinh như một cuốn kinh, vì nó chưa bao giờ
có thể là một cuốn kinh”. Lời khẳng định này có một ý nghĩa rất rõ ràng và rất
cụ thể; nó không phải là một loại chữ nghĩa rắc rối vô ích, và trong nó chứa đựng
tất cả những gì mà bạn cần biết để được thành công trong cuộc sống cá nhân và
cuộc sống doanh nghiệp của bạn.
Hãy lấy một thí dụ rất thông thường từ cuộc sống doanh nghiệp
để minh họa cái ý niệm về tiềm năng này. Đó là thí dụ về bất động sản.
Khi mới khởi đầu tại Andin, chúng tôi thuê một hay hai phòng
trong một văn phòng lớn của một công ty kim hoàn gần tòa Empire State Building.
Ofer và Aya, hai chủ sở hữu, ngồi trong một căn phòng nhỏ kế bên một phòng hơi
lớn hơn, phòng ngăn này là nơi Udi (người thợ kim cương), Alex (người tạo mẫu
kim hoàn), Shirly (cô phụ trách máy vi tính) và tôi ngồi quanh một cái bàn lớn.
Kim cương được phân loại để trên mé bàn, cùng với những hóa đơn cần được đưa
vào máy vi tính ở góc bên kia. Trong khi đó, tôi ngồi bên điện thoại ở một góc
khác, cố tìm ra tên các thư ký của những người mua kim hoàn lớn khắp thành phố,
như thế, chúng tôi có thể liên lạc trực tiếp với người có quyền quyết định.
Một hàng khoảng 15 chiếc nhẫn được sao chụp trên một mặt giấy
mà Ofer và Aya chạy quanh và chỉ cho mọi người xem. Làm việc cho họ cũng khá ngộ
vì họ chẳng biết chút gì về doanh nghiệp ở Mỹ, và nghịch đời thay, họ lại có khả
năng sáng tạo hơn nhiều vì rằng họ chẳng cần để ý tới tất cả những công việc vốn
không thể làm được (mà lại làm được), hoặc tất cả những gì mà bạn tuyệt đối
không được phép làm (giống như mặc một chiếc áo thun bóng bầu dục của đội
Dallas Cowboys để đi dự một cuộc họp với các ủy viên điều hành của một trong những
nhóm kinh doanh lớn nhất thế giới).
Ofer có thể bước vào và hỏi chúng tôi những câu hỏi ngớ ngẩn
về nước Mỹ như: “Theo lịch thì ngày mai là ngày lễ Groundhog1. Đấy có phải là một
ngày quốc lễ không? Các bạn có được nghỉ ngày ấy không nhỉ? Chúng tôi có phải
trả lương ngày ấy cho các bạn không? Và đôi khi, chúng tôi nói với ông ta rằng
đấy là một ngày lễ rất quan trọng ở Mỹ.
Mặt khác, họ lại không thể hiểu tại sao ai cũng muốn về nhà
trước 11 giờ đêm và thường thì chúng tôi làm việc tới giờ ấy, đôi khi còn khuya
hơn. Thời gian về tu viện của tôi mất gần hai giờ, và vì vậy tôi phải về nhà
khoảng 1 giờ sáng, và đến 6 giờ sáng phải thức dậy để lên xe vào lại thành phố.
Kim cương và các đồ trang sức được đưa đến từ xưởng chế tạo ở
Israel và đi thẳng đến khách hàng. Tôi nghĩ người ta tưởng chúng tôi có những
phương tiện sản xuất riêng nhưng rốt lại vẫn là chạy xuống trụ sở Brinks
Armored ở Đại lộ số 5 và đường 47 mà bóc hết các nhãn hiệu khác ra khỏi chiếc hộp
vừa mới từ Tel Aviv tới rồi dán lên đó một trong những nhãn hiệu của chúng tôi
có ghi tên khách hàng, rồi đưa nó lên văn phòng ở tầng lầu kế tiếp.
Tôi nhớ có một sự việc gây hốt hoảng khi tôi mở chiếc hộp như
thế ra để chia cho hai khách hàng. Tôi thấy bên trong chiếc hộp là một đống nhẫn
kim cương pha đồng. Tôi mang kiện hàng chạy xuống trở lại tầng 30 rồi gọi điện
thoại tới tấp 1 Ngày 2/2. Ở Hoa Kỳ, Canada, có truyền thuyết cho rằng đây là
ngày có con sóc đất (groundhog, woochuck, marmot hay ground squyrrel) từ trong
hang chui ra. Nếu nó không nhìn thấy bóng nó (trời âm u), tức là mùa đông sắp hết.
Nếu ngược lại, trời nắng, nó sẽ lại chui vào hang để ngủ, tức là mùa đông sẽ
kéo dài thêm sáu tuần nữa.
đến Trung Đông. Vấn đề ở đây là vàng 14 ca-ra có thể được làm
ra bằng nhiều cách. Trong hệ thống ca-ra đối với vàng (trái với hệ thống ca-ra
đối với kim cương), 24 ca-ra là biểu hiện của vàng ròng; dùng cho đồ trang sức
thì vàng ròng là quá mềm với điều kiện bình thường, một chiếc nhẫn 24 ca-ra sẽ
bị long ra. Do đó, chúng tôi trộn thêm vào đó các kim loại khác để làm cho nó cứng
hơn.
Nếu pha trộn các kim loại khác vào theo tỷ lệ một phần tư thì
chiếc nhẫn trở thành 18 ca-ra và v.v… Thông số ca-ra đúng quy định tại Mỹ là
18, 14, và 10 ca-ra. Kim loại mà bạn thêm vào để làm cho chiếc nhẫn cứng hơn
cũng xác định nó đạt tới màu gì. Nếu bạn thêm niken, vàng sẽ mang màu vàng nhạt
hơn. Nếu bạn thêm đồng, vàng sẽ mang màu đỏ bóng. Các cách pha trộn khác tạo ra
các màu sắc khác. Người Mỹ có xu hướng thích các màu vàng nhạt hơn; người châu
Á thì thường chuộng các màu vàng đậm; và nhiều người châu Âu lại chuộng một màu
gần như màu đồng. Món hàng đặt của chúng tôi đã được chế nhầm theo màu châu Âu.
Đây là một trong những ký ức mà tôi quý nhất về những năm đầu
của công ty: tất cả chúng tôi gồm ba hay bốn người đổ xô đến một xưởng xi mạ
đông đúc chật chội, và cố gắng tìm người chủ để thêm một lớp vàng màu vàng (đắt
tiền) lên trên món vàng màu đỏ nhạt. Tôi ngồi cùng với mấy tỷ phú tương lai
này, quanh một chiếc bàn chung với chừng 15 cô gái người Puerto Rico, Ofer và
Aya đang oang oang chỉ bảo nhau bằng tiếng Hebrew, các cô gái đang oang oang bằng
tiếng Tây Ban Nha, không ai có thể hiểu được tại sao chúng tôi dùng vàng mạ
vàng, và lát sau chúng tôi kề vai nhau cúi chụm vào những chiếc nhẫn kim cương
này mà quét lên chúng bằng những hóa chất đặc biệt để các hóa chất này che đi
những phần mà chúng tôi không muốn chuyển sang màu vàng.
Thế rồi chúng tôi có cơ hội mở xưởng của chính mình. Xưởng
này cũng gần như thế, một căn phòng ở dưới đường phố tại Manhattan với những bức
tường to lớn bằng những thanh sắt chạy qua nền xi-măng, cùng với cái hầm két đầu
tiên của chúng tôi. Ở đây cũng có những điều để nhớ mãi: Cái đêm chúng tôi rời
chỗ cũ, chúng tôi đã làm rách bung tấm thảm và phải bò lê khắp mà sục sạo các mảnh
vỡ của kim cương mà chúng tôi đã làm rơi xuống trong suốt mấy tháng làm việc vừa
qua (cũng tới vài trăm mảnh). Một cô nhân viên bị kẹt trong căn phòng mới lập
dưới hầm ngầm suốt cả đêm do sự cố, và chồng cô ta không hiểu vì sao chúng tôi
có thể làm việc đến quá trễ như vậy. Tôi thì đẫm mồ hôi trong bộ đồ vest độc nhất
của tôi (nó bằng len) suốt mùa hè ẩm thấp của New York; đấy là vì thầy của tôi
dặn kỹ rằng tôi phải luôn luôn ăn mặc đúng tư cách - tôi phải mặc nó suốt ngày
và không bao giờ được cởi áo ra, không được nới lỏng cà-vạt.
Sau chừng sáu tháng làm việc tại cái xưởng bé tẹo, chúng tôi
quyết định đã đến lúc phải dời đi nơi khác. Chúng tôi có nên đánh liều mà dời
xuống quận Diamond không? Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng tôi mướn một chỗ lớn hơn
nhưng các đơn đặt hàng lại giảm xuống? Còn nếu chúng tôi mướn một chỗ nhỏ hơn
nhưng các hóa đơn đặt hàng lại tăng nhiều thì sao? Làm sao chúng tôi có thể thực
hiện cho hết?
Cho nên, chúng tôi chọn chừng phân nửa một tầng lầu của một
cao ốc cũ kỹ nằm sát ngoài khu chính - một giải pháp thỏa hiệp giữa sự liều
lĩnh mướn một chỗ lớn và sự yên tâm về giá thuê rẻ. Tôi ngồi một mình trên ghế
trong “phòng kim cương” (một phòng bé tí); đôi khi tôi làm việc trong “phòng kế
hoạch” (một phòng rất nhỏ lại được dùng làm phòng đợi nữa); hoặc ở đâu đó trong
phòng két (một loại phòng nhỏ hẹp không có chỗ ngồi chỉ đủ cho hai công nhân gần
giống như hai xác ướp trong một quan tài bằng đá). Nhà xưởng là một phòng lớn
hơn có độc nhất một máy đánh bóng để trong góc.
Trong vòng một năm, chúng tôi đã có doanh số bán gấp đôi (điều
này gần như xảy ra hàng năm trong suốt khoảng 10 năm) và việc đánh liều mướn một
chỗ lớn đã trở thành bắt buộc phải thực hiện. Chúng tôi thực sự phải thúc cùi
chỏ vào nhau; có một nhận xét khôi hài rằng một phân Anh (inch) của khoảng cách
giữa hai bàn làm việc của bạn được tính theo mỗi ngàn đôla lương của bạn và thế
thì bấy giờ tôi có được 15 phân Anh. Vì các lý do an toàn, chúng tôi không tiếp
những người cung cấp kim cương, và do đó chúng tôi đứng ngoài mà thương lượng ở
hành lang giữa phòng ngoài (được gọi là một cái “bẫy người”) và phòng đợi, do
đó những người mua bán kim cương khác sẽ không nghe được giá cả mà chúng tôi
nêu ra cho người đầu tiên. Hãy tưởng tượng rằng bạn đứng trong một hành lang nhỏ
hẹp, lù mù, tay cầm gói giấy nhỏ chứa hàng ngàn viên kim cương nhỏ xíu, cố cao
giọng át tiếng ồn của một cái xưởng đằng sau bạn, nhưng lại cố đừng để cho những
người đang ngồi phía trước bạn nghe, rồi tính toán tổng số tiền mua đối với nhiều
cấp loại khác nhau, lãi suất và giảm các số tiền trả vì đối thủ của bạn cũng
làm như thế. Người ta thường cảm thấy đây như là một cuộc chiến đấu giữa các kiếm
sĩ được tổ chức trong một căn phòng hẹp.
Nhân tiện, một “cái bẫy người” là một khu đặc biệt trong các
hãng kim cương, tại đó người khách từ ngoài bị dò xét khi vào trong cửa trước,
bị camera kiểm tra hoặc bằng kính chắn đạn khi cửa ngoài đóng lại, và rồi bị dò
xét khi qua cửa thứ hai để vào khu nhà chính của công ty. Một thiết bị điện
ngăn không cho cả hai cửa mở cùng một lúc. Điều này đưa đến một số tình trạng
bi hài khi bạn là người cuối cùng đi ra vào buổi tối và đã qua khỏi cửa trong
nhưng lại quên chìa khóa cửa ngoài.
Khi đã đến giai đoạn này, chúng tôi thực hiện bước an toàn là
mướn thêm nửa kia của tầng lầu. Khi toàn bộ tầng lầu trở lại tình trạng khoảng
cách giữa các bàn làm việc chừng 20 phân Anh thì chúng tôi mướn thêm một tầng nữa
và nối hai tầng với nhau bằng một cầu thang. Chúng tôi cứ trở đi trở lại với
tình trạng khoảng cách các bàn làm việc là 20 phân Anh trong khi luôn luôn đạt
gấp đôi doanh số bán, và chúng tôi mướn tầng lầu kế cận nhất mà chúng tôi có thể
mướn được - không may tầng này lại cách tầng cũ hai tầng.
Lần kế tiếp chúng tôi lại cần nhiều không gian hơn nhưng tuyệt
nhiên chẳng có tầng nào để dọn đến nữa. Chúng tôi kiểm tra cao ốc, sát ngay cạnh,
đấy là một kiến trúc gồm ít tầng hơn, nhưng chúng tôi cũng không kiếm được tầng
nào ở đấy. Do đó, chúng tôi mướn một tầng lầu cách chúng tôi một cao ốc đủ cao
để vượt khỏi cao ốc nằm giữa, rồi chúng tôi giăng mạng dây một cách hoàn toàn bất
hợp pháp xuyên qua khoảng không bên trên cao ốc thấp hơn kia để rồi móc vào các
máy vi tính. Trông nó giống như những dây phơi quần áo mà bạn giăng giữa các
cao ốc chung cư ở Brooklyn, nhưng ở đây thì giữa các tháp bằng thép và kính tại
trung tâm Manhattan.
Bây giờ, chúng tôi đang gặp tình trạng khó khăn khi phải nhiều
lần lên xuống đường phố với những gói lớn đựng kim cương - và cả hồng ngọc,
bích ngọc, tử ngọc và cả tá ngọc khác nữa - để làm việc giữa các phòng phân loại
trong các cao ốc khác nhau. Thật là nguy hiểm, và quận Diamond đã bắt đầu lan rộng
tới khu của chúng tôi, tiền thuê nhà đất luôn luôn tăng lên. Chúng tôi phải có
một quyết định về việc làm sao để công ty của chúng tôi có trụ sở vững vàng vì
vào lúc này, công ty đã có lợi tức là nhiều triệu đôla mỗi năm và có khoảng một
trăm nhân viên. Do đó, chúng tôi quay trở lại vấn đề tài sản thực sự và tiềm
năng của các sự việc.
Một nhà doanh nghiệp có tiếng ở New York phải có tờ The Wall
Street Journal (Nhật báo phố Wall) vào mỗi buổi sáng. Vấn đề đọc hay không đọc
nó không quan trọng (tôi có cảm nhận rằng rất ít người thực sự đọc nó), điều
quan trọng trong nhiều công ty là người ta nhìn thấy bạn cặp một tờ báo này
trong cánh tay khi bạn hăng hái bước vào các cửa chính mỗi sáng. Còn tốt hơn nữa
là phải đoán chắc rằng tờ báo ấy được giao đến phòng bạn mỗi ngày - được đút
vào cửa văn phòng của bạn vào khoảng 9 giờ sao cho tờ The Wall Street Journal
được thấy rõ từ hành lang. Sở dĩ là lúc chín giờ vì tờ báo có thể ở đó cho đến
khi bạn ung dung vào phòng khoảng lúc 9 giờ 30. Mỗi nhân viên cấp dưới đi qua cửa
phòng bạn trước lúc này sẽ trông thấy tờ báo còn ở đấy, bằng chứng tích cực rằng
bạn chưa đến văn phòng và họ sẽ được nhắc nhở rằng bạn là ông chủ, và chẳng cần
phải đâm sầm vào đấy lúc 9 giờ 50.
Vài lần tôi cũng có đọc The Wall Street Journal, thường là vì
tò mò. Ở trang nhất, qua phía bên phải (vì khoảng phía bên trái, kín đặc tin tức
trong nước và thế giới), sẽ có một bài viết rất thú vị về một nhà doanh nghiệp
cỡ như George Soros, đã thực hiện việc đầu tư rất táo bạo và thành công rực rỡ.
Vị này được ca tụng như là người “nhìn xa trông rộng” có trí tuệ vượt xa những
người khác trong thương trường, người đã có lòng can đảm và sự tự tin để tiến
lên thiết lập những quân bình mới về lợi nhuận trong khi những doanh nhân kém
trí hơn và bảo thủ hơn tụt lại đằng sau.
Ở trang bốn có thể có một bài về doanh nghiệp đang lúng túng
vì việc quản trị đã trở nên lỗi thời và kẹt cứng về các phương cách; tất cả các
Phó Chủ tịch đều bị Ban Quản trị tẩy chay và vị Chủ tịch đã bị thay thế. Một tuần
hay một tháng sau khi mở tờ nhật báo ra (thực ra tôi vẫn thường rút trộm một tờ
dưới khe cửa của một Phó Chủ tịch khác, và đặt nó lại chỗ cũ trước khi ông ta
vào phòng). Trên trang nhất có thể có một bài ca ngợi một công ty cứ trung
thành theo những phương pháp được sử dụng, thử thách qua nhiều năm và trong quý
này đã đạt lợi nhuận lớn. Họ là một công ty được một người lãnh đạo có trí tuệ
gắn chặt với những nguyên tắc của quá khứ. Thế rồi ở trang bốn có thể có một
bài phê bình gay gắt về một nhà tư bản khờ dại đã dùng vốn của công ty mình một
cách táo bạo, thiếu thận trọng.
Điều gây ấn tượng với tôi là những thiên tài táo bạo trong một
tháng có thể là những anh khờ táo bạo vài tháng sau. Và tên của những anh khờ bảo
thủ trong tháng này có thể là tên của những thiên tài táo bạo về sau. Hoặc có
thể nhà thiên tài táo bạo vẫn tiếp tục cất cánh, hoặc anh khờ bảo thủ vẫn tiếp
tục lụn bại. Dù thế nào đi nữa, hình như chẳng có ai lưu ý rằng hầu hết những
thành tựu khác nhau một cách ngẫu nhiên hình như vẫn tiếp diễn từ chính cùng những
hành động được thực hiện bởi một hay cùng những cá nhân hay công ty.
Điều này ứng dụng vào vấn đề bất động sản như thế nào? Điều
này cho thấy một “tiềm năng” như thế nào? Hãy nghĩ đến những câu hỏi mà chúng
tôi vẫn đặt ra khi chúng tôi đang suy tính làm sao để có được một cao ốc cho
chính chúng tôi sau nhiều năm, cứ phân vân về việc thuê hay không thuê, mở rộng
hay không mở rộng. Chúng tôi có nên thực hiện bước vĩ đại này hay không?
Trong tình thế này, các nhà doanh nghiệp mỗi người đều khởi đầu
những toan tính riêng của họ, nhận định những thuận lợi hay không thuận lợi. Một
cao ốc mới và lớn sẽ gây ấn tượng cho khách hàng của chúng tôi, tạo thêm một ấn
tượng về sức mạnh cả cho họ lẫn những người cung cấp hàng cho chúng tôi. Hoặc
có thể họ nhận thức rằng chúng tôi đã mở rộng vượt ngoài khả năng của chúng tôi
- có thể các khách hàng sợ rằng chúng tôi sẽ phải tăng giá để trang trải những
chi phí mới, và có thể những người cung cấp sẽ nghĩ rằng họ đã bán đá quý cho
chúng tôi với giá rẻ - rằng chúng tôi có được cao ốc mới bằng chi phí của họ.
Có thể việc rời khỏi quận Diamond sẽ làm cho tình hình trở
nên khó khăn và liều lĩnh hơn đối với những người cung cấp đá quý trong việc
mang hàng đến mỗi khi chúng tôi cần họ. Có thể tiền tiết kiệm do không phải
thuê mướn cơ sở sẽ cho phép chúng tôi trả giá cao hơn cho họ, chúng tôi sẽ thu
hút nhiều nhà buôn hơn và làm ra nhiều tiền hơn.
Ngược lại việc di chuyển mới sẽ làm cho tình hình trở nên khó
khăn hơn đối với các nhân viên đến chỗ làm việc, họ phải mất thêm nửa tiếng đồng
hồ cho việc đi lại bằng xe điện ngầm sẽ buộc những người tốt phải bỏ việc và
tìm kiếm công việc gần quận Diamond hơn. Hoặc có thể người ta thích khu vực yên
tĩnh tại cơ sở mới của chúng tôi, West Greenwich Village - nơi có những cửa
hàng và nhà hàng kỳ lạ với những đĩa thức ăn lớn hơn nhiều so với khu trung
tâm.
Có thể giá trị tài sản của công ty sẽ tăng vọt lên khi chúng
tôi dời đến đó, và cộng thêm một khoản lớn tiền lãi suất đầu tư cho những người
sở hữu. Hoặc có thể thị trường bất động sản New York sẽ trải qua một sự tụt giá
đột ngột và chúng tôi sẽ bị kẹt vào những thanh toán thế chấp cao.
Có thể việc tổ chức quy mô và việc thực hiện tất cả các hoạt
động sản xuất trong một cao ốc sẽ cho phép chúng tôi hạ giá và thắng đậm trên
thị trường. Hoặc chi phí để duy trì điều kiện sản xuất lớn sẽ dần dần bóp chết
chúng tôi.
Những ai trong các bạn đã từng thực hiện kinh doanh đủ lâu và
thực sự chân thực với chính mình đều biết rằng, trong trường hợp này các sự việc
có thể dễ dàng diễn ra theo một trong hai cách. Nếu bạn mua cao ốc và mọi việc
suôn sẻ thì bạn là một thiên tài. Đấy là một thành công lớn. Nếu bạn mua mà mọi
việc trở nên xấu đi thì bạn là một thằng khờ liều lĩnh. Nếu bạn không mua cao ốc
mà mọi việc suôn sẻ, hay nếu bạn không mua và mọi việc không suôn sẻ - thì bạn
biết đấy, người ta sẽ gọi bạn là gì. Và bạn biết rằng dù cách thế nào thì bạn vẫn
là một người mà thôi.
Rất nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, điều này đưa chúng ta đến khả
năng tiềm ẩn của các sự việc.
Một cuộc kinh doanh bất động sản như việc mua một tòa cao ốc
lớn gồm chín tầng của tập đoàn Andin International ở khu phía Tây của Manhattan
là một thí dụ hay về tiềm năng hay cái mà những Phật tử gọi là “tính không”.
Điều quan trọng để hiểu ở đây là trong vấn đề cao ốc và việc
mua cao ốc có mọi loại tiềm năng để trở thành việc tốt hay xấu, tất cả đều có
trong cùng một lúc.
Nếu chúng tôi mua cao ốc và giá trị bất động sản ở New York tụt
xuống (và tôi e rằng chính điều này xảy ra khi chúng tôi mua tòa cao ốc của
mình) thì việc mua cao ốc là một việc không tốt - đối với những người chủ công
ty của chúng tôi, Ofer và Aya.
Nếu chúng tôi mua cao ốc và đột nhiên tất cả các trưởng phòng
đều có khoảng không gian văn phòng rộng hơn họ có trước đây thì việc mua này là
một việc tốt - đối với các trưởng phòng.
Nếu chúng tôi mua cao ốc và tất cả các nhân viên ở New Jersey
phải mất thêm nửa giờ để đi lại hàng ngày thì đó là một việc không tốt đối với
họ. Nhưng đó lại là một việc tốt cho tất cả những ai ở Brooklyn, họ tiết kiệm
được thời gian đi lại hàng ngày.
Nếu chúng tôi mua cao ốc và nó gây cho những người cung cấp
hàng cho chúng tôi cái ấn tượng rằng chúng tôi mạnh về tài chính thì đó là một
việc tốt - đối với chúng tôi. Nếu nó gây cho họ ấn tượng rằng chúng tôi thắng đậm
họ thì đó là việc xấu đối với chúng tôi.
Nhưng sẽ thế nào nếu chúng ta bỏ qua cái “đối với chúng tôi”
và “đối với họ”? Sẽ thế nào nếu chúng ta thử đánh giá xem tòa cao ốc hay việc
mua tòa cao ốc trong chính nó là việc tốt hay việc xấu? Nếu bạn suy nghĩ về nó
dù trong một chốc thì câu trả lời rõ ràng sẽ là, trong chính nó, việc mua tòa
cao ốc không phải là tốt cũng không phải là xấu - nó chỉ tùy thuộc vào cái nhìn
của người nào. Nó sẽ là tốt đối với những ai có lợi từ nó và sẽ là xấu đối với
những người bị thiệt hại vì nó. Nhưng không có cái tốt hay cái xấu sẵn có về việc
mua tòa cao ốc - nó không có tính chất ấy trong chính nó và của chính nó. Nó trống
rỗng, không có tính chất nào như thế.
Và đây chính là ý nghĩa của không: các sự việc có thể diễn ra
theo một cách nào đó, không có “sự việc” nào về tòa cao ốc trong chính nó và của
chính nó, nó hoàn toàn tùy thuộc vào thể cách nhận thức của chúng ta về nó. Đây
là cái tiềm năng trong các sự việc.
Cũng nên nhớ, mọi sự trên đời đều giống như thế. Có phải
trong chính nó và của chính nó, việc đi đến nha sĩ để giải phẫu chân răng là một
việc xấu không? Vâng, nếu đó là một việc xấu thì nó phải xấu đối với tất cả mọi
người. Nhưng hãy suy nghĩ về nó - bất kể là nó có vẻ xấu như thế nào đối với
chúng ta, việc giải phẫu chân răng có thể là một điều gì tốt cho những người khác.
Một nha sĩ không đạo đức có thể nhận thức rằng đó là một cơ hội rất tốt để kiếm
tiền trả học phí đại học cho cậu con trai; đối với một cô y tá thì điều đó thể
hiện sự đảm bảo cho công việc; đối với người bán các dụng cụ về răng thì đó là
một cơ hội để bán thêm một hộp ống tiêm nữa. Ngay cả quá trình đau đớn như thế
cũng không có tính chất cố hữu của một việc tốt hay một việc xấu. Trong chính
nó và của chính nó, nó độc lập với thể cách nhận thức về nó của những người
khác nhau, nó không có tính chất nào như thế; nó là trung tính, trống không hay
trống rỗng. Tóm lại, nó có cái “không tính”, và điều này - theo các kinh điển
thâm sâu nhất về trí tuệ Tây Tạng cổ - là cái khả năng tiềm ẩn và tối hậu của
nó.
Những người xung quanh ta đều như nhau: Hãy suy nghĩ về những
người tại nơi làm việc của bạn hay làm bạn bực mình nhất. Hình như về phía của
chính họ, họ có một tính chất hay bản chất gây bực bội. “Việc gây bực bội” có vẻ
như xuất phát hay bắt nguồn từ họ đến bạn. Tuy vậy, hãy suy nghĩ về nó. Một người
nào đó (có thể là một nhân viên khác, có thể là một ai đó trong gia đình của họ,
một người vợ hay một đứa con) nhận thấy họ rất thân thương và khả ái. Khi những
người này nhìn thấy họ trong phòng như bạn nhìn thấy họ đang làm hay đang nói
chính những sự việc ấy thì những người này nhìn thấy một cái gì tốt.
Rõ ràng là không có “việc gây bực bội” nào xuất phát từ cá
nhân ấy đến với họ - điều này chứng tỏ một cách rất đơn giản rằng đây không phải
là một tính chất bên trong của những cá nhân ấy. Họ không có tính chất nào như
thế bên trong chính họ, nếu không thì nó đã biểu lộ ra cho những người khác thấy
nữa; đúng hơn, giống như những màn hình trống trơn, họ là trung tính và những
người khác nhau trông thấy những điều khác nhau ở họ. Đây là một bằng chứng rất
đơn giản và không thể phủ nhận về không tính hay khả năng tiềm ẩn. Và bất cứ điều
gì khác trong thế giới này cũng đều giống như vậy.
Bây giờ chúng ta có thể quay trở lại và hiểu những gì mà Đức
Phật đã nói về cuốn kinh này. “Ông có thể gọi cuốn kinh là một cuốn kinh, và
ông có thể nghĩ về cuốn kinh như là một cuốn kinh vì nó chưa bao giờ là một cuốn
kinh”. “Bạn có thể nói rằng việc mua một tòa cao ốc là một điều tốt, và bạn có
thể nghĩ về việc mua tòa cao ốc như là một điều tốt bởi vì hoàn toàn tự chính
nó, việc mua tòa cao ốc chưa bao giờ là một điều tốt (hay là một điều xấu); tức
là từ phía chính nó, nó độc lập với thể cách mà chúng ta nhìn thấy nó”.
Vậy, tất cả điều này có gì liên hệ với doanh nghiệp? Khả năng
tiềm ẩn này có thể là chìa khóa cho thành công cả trong cuộc sống cá nhân và
trong doanh nghiệp của chúng ta như thế nào? Để được như vậy, chúng ta phải biết
những nguyên tắc đằng sau việc sử dụng tiềm năng này vận dụng như thế nào.
Chương 5: Những nguyên tắc sử dụng tiềm năng
Trong chương trước chúng ta đã nói về khả năng tiềm ẩn trong
tất cả mọi sự việc - điều mà các Phật tử gọi là “tính không”. Chúng ta thấy rõ
ràng rằng không có gì đã từng xảy ra cho chúng ta là một việc tốt hay xấu từ
phía chính nó, bởi vì - nếu như vậy thì bất cứ người nào khác cũng sẽ kinh nghiệm
nó theo cách như thế. Chẳng hạn, người gây bực bội cho chúng ta ở nơi làm việc
cũng sẽ gây ấn tượng đúng như thế đối với bất cứ ai khác, nếu sự “gây bực bội”
của người ấy là một cái gì đó ở bên trong xuất phát ra khỏi người ấy và bay khắp
phòng đến với chúng ta. Tuy nhiên, trong thực tế hầu như luôn luôn có ai đó nhận
thấy người ấy là tốt và dễ thương.
Thật ra vấn đề này có hai hàm ý quan trọng:
1. Bên trong anh ta, người này không có tính chất gây bực bội
hay tử tế. Tự người ấy từ phía chính mình là “trống không” hay “trung tính” hay
“không”.
2. Lý do khiến chúng ta đưa ra nhận xét cá nhân rằng người
này gây bực bội phải xuất phát từ đâu đó khác.
Thế thì nó xuất phát từ đâu? Câu trả lời nằm trong những
nguyên tắc đằng sau việc tháo mở các khả năng tiềm ẩn trong các sự việc, những
nguyên tắc để sử dụng khả năng này để thành công trong doanh nghiệp và trong đời
sống cá nhân của chúng ta. Đây là những gì Đức Phật đã dạy trong kinh Năng đoạn
kim cương về việc thực hiện một doanh nghiệp toàn hảo và một cuộc sống toàn hảo
- một thế giới toàn hảo hay thiên đường.
Thế tôn dạy:
Này Tu bồ đề, giả sử một số môn đệ trên con đường từ bi đã
nói rằng: “Tôi đang nỗ lực để tạo ra một thế giới toàn hảo”. Họ bảo thế là
không đúng sự thật.
Đại sư Choney Lama giải thích những dòng khó hiểu trên theo
cách sau đây:
Đức Phật muốn chỉ ra rằng để cho một người đạt đến một trạng
thái cao nhất của hiện hữu mà trước đây chúng ta đã nói đến, trước tiên người ấy
phải tạo ra một thế giới toàn hảo mà trong đó người ấy đạt được trạng thái cao
nhất này. Vì thế, Thế tôn bảo Tu bồ đề:
Giả sử một số môn đệ trên con đường từ bi đã nói hay tự nghĩ
rằng: “Tôi đang nỗ lực để tạo ra một thế giới toàn hảo.” Và giả sử đồng thời họ
tin rằng những thế giới toàn hảo có thể hiện hữu từ phía chính họ và rằng sự tạo
ra những thế giới này có thể hiện hữu từ phía chính nó. Trong trường hợp này, họ
bảo thế là không đúng sự thật.
Đức Phật tiếp tục tự giải thích trong những dòng kế tiếp của
kinh Năng đoạn kim cương:
Tại sao như vậy? Vì Như Lai đã tuyên bố rằng: “Những thế giới
toàn hảo mà chúng ta đang nỗ lực để tạo ra có thể chưa từng hiện hữu. Và đây
đúng là lý do tại sao chúng ta có thể gọi chúng là những thế giới toàn hảo”.
Ở đây bạn có thể nghĩ đến một “thế giới toàn hảo” như một
“doanh nghiệp toàn hảo”. Điểm đầu tiên: sẽ là sai lầm nếu bảo rằng doanh nghiệp
toàn hảo có thể hiện hữu từ phía chính nó. Một quyển sách, mua tòa cao ốc, hay
một anh chàng gây bực bội ngồi bên cạnh bạn ở nơi làm việc - không có thứ nào
trong những thứ này, không có gì cả, xuất phát từ phía chính nó. Không có thứ
gì trong chúng là một điều xấu hay một điều tốt để xảy ra từ phía chính nó - bởi
vì nếu nó là tốt hay xấu thì bất cứ ai cũng cảm nhận nó là tốt hay xấu.
Nhưng mỗi người lại không cảm nhận sự việc như nhau. Cho nên những
thứ này là trống không, hay trung tính hay cái mà các Phật tử gọi là “không”;
thế mà chúng ta lại cảm nhận một vài sự việc là tốt, và những sự việc khác là xấu.
Nếu điều tốt hay điều xấu không phát sinh từ chính các sự việc thì nó phát sinh
từ đâu? Nếu chúng ta giải quyết được khúc mắc này thì có lẽ chúng ta có thể khiến
các sự việc xảy ra theo cách chúng ta muốn.
Rõ ràng là đôi lúc ta biết rằng cách chúng ta nhìn sự vật
phát sinh từ chính chúng ta. Chúng ta cảm nhận rằng một người nào đó tại nơi
làm việc là gây bực bội hay gây cảm hứng tích cực là một vấn đề của chính những
nhận thức của chúng ta. Bởi vì, những người khác cũng tại nơi làm việc ấy lại
thấy người ấy theo nhiều cách khác, thậm chí đối nghịch lại với cảm nhận của
chúng ta.
Thế nào là các sự việc phát xuất từ chính chúng ta? Và chúng
ta có thể sử dụng hiện tượng này như thế nào để có lợi cho chúng ta?
Tôi nghĩ rằng điều quan trọng nhất trước hết hãy giải thích
vì sao những sự việc này không phát xuất từ chính chúng ta. Thật dễ dàng để nói
rằng cách mà ta nhìn thấy những người khác và những sự việc khác là một cái gì
đó phát xuất từ tâm ý của chính ta, từ những nhận thức của chính ta. Nhưng có một
điều đáng buồn là điều này không có nghĩa rằng ta có thể kiểm soát được cái
cách thức ta nhìn nhận sự vật đúng như ta mong muốn.
Không có nhà doanh nghiệp nào trên thế giới lại muốn thất bại,
muốn bị phá sản và cảm nhận nỗi đau khổ của những công nhân thất vọng, những
người cung cấp không được trả tiền, những người vợ, chồng hay đám trẻ con buồn
khổ.
Nhận thức của chúng ta về một tình trạng phá sản phát sinh từ
trong tâm lý của chúng ta. Điều này, một cách nào đó, có thể là đúng, nhưng đấy
không có nghĩa là tình trạng phá sản sẽ chấm dứt bằng cách mong muốn nó chấm dứt.
Bất cứ điều gì làm cho chúng ta nhìn thấy các sự vật theo cách này hay cách
khác đều buộc chúng ta phải nhìn thấy chúng theo cách ấy, bất kể đến chính
chúng ta, bất kể đến những gì chúng ta muốn trong hiện tại.
Từ đây, chúng ta chuyển sang ý niệm của Phật giáo về những dấu
ấn trong tâm, ý nghĩa thực sự của từ karma (nghiệp). Nhưng vì có quá nhiều ngộ
nhận về từ này ở khắp nơi, chúng ta hãy nói kỹ về “những dấu ấn tâm linh”.
Hãy nghĩ tâm của bạn như là một máy ghi băng hình, mắt, tai của
bạn và tất cả những gì còn lại là những thấu kính mà bạn nhìn ra ngoài. Tất cả
các núm điều chỉnh, mở tắt đều nối với ý định - với những gì bạn muốn xảy ra và
tại sao. Thế thì việc ghi hình được thực hiện như thế nào? Những dấu ấn về
thành công hay thất bại trong doanh nghiệp được in dấu vào tâm ta như thế nào?
Trước hết, hãy nói đến ý niệm về một dấu ấn tâm linh. Hãy
nghĩ tâm như là một mẩu mát-tít (putty) rất nhạy cảm. Hễ khi nào nó được đặt đối
diện với bất cứ vật gì thì vật ấy in một dấu ấn trên mảnh mát-tít. Nhưng chất
mát-tít còn có một số tính chất đặc biệt khác nữa. Trước hết, nó hoàn toàn
trong sáng và không thể miêu tả được - nó không giống như cơ thể của chúng ta,
cũng chẳng có chút nào giống như những gì được làm bằng thịt, máu và xương.
Phật giáo không chấp nhận rằng bộ não là cái tâm mặc dù cái
tâm trong một vài ý nghĩa, có thể ở đâu đó quanh vùng não.
Nhưng tâm cũng mở rộng tới cuối bàn tay của bạn: Bạn có thể ý
thức về ai đó đang chạm vào ngón tay của bạn, và đó là tâm của bạn ý thức. Hơn
nữa, nếu tôi hỏi bạn xem có bánh kẹo ngon trong tủ lạnh ở nhà bạn không thì con
mắt của tâm bạn sẽ đi đến đó - ký ức của bạn gợi lên một ít đồ vật có lẽ đang
còn ở đó từ sáng nay và do đó nhờ vào thông tin của lý trí và ký ức, trong một
ý nghĩa nào đó, tâm của bạn đã đi vượt khỏi những giới hạn vật lý của thế giới
trước mắt bạn. Vượt qua cái thân thể vật lý của bạn và đã đi đâu đó nữa. Và nếu
tôi bảo hãy nghĩ đến các vì sao hay xa hơn nữa thì tâm của bạn sẽ ở đâu nào?
Chất mát-tít tâm còn có một tính chất thú vị khác nữa: Hãy
nghĩ rằng nó như một mẩu dài được kéo ra giống như một sợi mì spaghetti từ lúc
đầu tiên của đời bạn cho đến lúc cuối cùng (và có lẽ ở cả hai phía còn dài hơn
thế nữa nhưng bây giờ chúng ta sẽ không đi sâu vào điều này). Nói một cách
khác, nó trải vượt thời gian. Những dấu ấn được tạo nơi tâm ở cấp độ thứ nhất,
những dấu ấn về cấp độ ABC của bạn, được mang sang cấp độ thứ hai, và đó là lý
do tại sao trước đây và cả bây giờ nữa, bạn có thể đọc toàn bộ các từ ngữ. Người
phương Tây không quen nói về việc học tập như là “cố ý gieo những dấu ấn”, nhưng
nếu bạn nghĩ về điều này thì đấy đúng là lý do tại sao chúng ta gửi con cái đến
trường. Chúng ta hi vọng rằng những dấu ấn trong tâm của Johnny, và chúng ta hi
vọng rằng những dấu ấn này sẽ vẫn còn đó khi Johnny vào được trường y, do đó
chúng ta sẽ không phải chỉ phụ thuộc vào an ninh xã hội mà thôi. Chúng ta cứ chấp
nhận toàn bộ ý niệm về những dấu ấn tâm linh mặc dù chúng ta chẳng suy nghĩ gì
về thể cách vận hành của toàn bộ quá trình - chẳng hạn, làm sao mà bộ não của
chúng ta lại không trở nên lớn hơn khi chúng ta già đi, trong khi nó đầy ắp tất
cả những thứ ấy?
Bây giờ, chúng ta hãy nói về các loại dấu ấn buộc chúng ta phải
nhìn thấy các sự việc vốn “trống không” hay “trung tính” (hay “không”) một cách
khác đi, thành ra tốt hoặc xấu (nhân đây, tôi dám chắc rằng bạn đã đọc đủ ở đây
về “cái không” này mà bạn hiểu rằng nó không dính dáng gì tới “sự vô nghĩa” hay
“những lỗ đen” hoặc cố gắng nghĩ đến cái không gì cả hay cái gì đại loại như thế.
Điều này có nghĩa là những sự việc tốt hay xấu xảy đến với chúng ta không xảy đến
như thế từ phía của chính chúng).
Những dấu ấn này về những cảm nhận “tốt” hay “xấu” đã được
gieo theo ba cách: chúng xảy ra khi chúng ta làm điều gì đó hoặc nói gì đó hoặc
cả khi chúng ta suy nghĩ điều gì đó. Cái máy quay phim (VCR-Video) gắn sẵn của
chúng ta, cái tâm, thì luôn luôn ở tình trạng mở - tâm luôn luôn ghi mọi sự mà
chúng ta cảm nhận qua các thấu kính của mắt hay tai của chúng ta và những thứ
còn lại, gồm cả chính các ý nghĩ nữa. Khi bạn thấy mình giúp đỡ một nhân viên
đang lúc khó khăn, một dấu ấn tốt được tạo ra trong tâm bạn. Khi bạn thấy mình
đang có phần nào nói dối một khách hàng hay một người cung cấp hàng, một dấu ấn
xấu được tạo ra trong tâm bạn.
Cái nút ý định trên máy thu hình là yếu tố quan trọng nhất
quyết định việc ghi hình ảnh sẽ đậm nét như thế nào. Nếu bạn giúp đỡ một nhân
viên không phải vì bạn quan tâm đến anh ta mà vì vấn đề của anh ta đang ảnh hưởng
đến sản xuất, đến lợi nhuận của bạn, thì dấu ấn tốt được gieo trong tâm bạn sẽ
gần như chẳng có gì. Nếu bạn giúp đỡ anh ta vì bạn biết rằng vấn đề đang thực sự
làm anh ta khổ đau thì dấu ấn tốt sẽ mạnh hơn nhiều. Còn nếu bạn giúp đỡ anh ta
vì bạn nhận biết rằng cái lằn ranh giữa “anh” và “tôi” là giả tạo, và rằng những
gì làm thương tổn một người trong chúng ta cũng làm thương tổn tất cả chúng ta
- tóm lại, vì bạn thấy mình đang đấu tranh với kẻ thù chung của chúng ta, nỗi
khổ đau của con người - thì dấu ấn thực sự là một trong những dấu ấn mạnh mẽ nhất
mà bạn có thể gieo.
Còn nhiều trường hợp khác cần kể đến nữa. Trước hết là những
xúc cảm. Chẳng hạn, nếu bạn nói dối một cách vô hại với người cung cấp hàng vì
những cảm giác mạnh mẽ của sự tức giận thì dấu ấn xấu được tạo ra ở tâm bạn là
một dấu ấn mạnh hơn nhiều.
Kế đến là cái mà ta gọi là “sự xác định đúng đắn”. Nếu bạn
bán giá đắt cho một khách hàng do vì một nhầm lẫn chân thực, ví dụ do đọc nhầm
giá cả trên màn hình máy vi tính, thì cái dấu ấn xấu được tạo ra sẽ yếu hơn nhiều
so với trường hợp bạn hiểu rõ giá cả như thế là không đúng.
Khi bạn thực hiện một hành động đối với một người nào đó, điều
kiện và hoàn cảnh xung quanh người ấy đóng một vai trò quan trọng trong việc
xác định dấu ấn mạnh yếu ra sao.
Khoảng hai ba năm sau khi tham gia vào ngành kim cương, tôi
nghĩ rằng mình có thể biết về kim cương nhiều hơn nếu hiểu chúng được cắt như
thế nào. Do đó, tôi bắt đầu gõ cửa các tiệm cắt kim cương kín đáo, nhỏ bé cách
xa những người chào hàng kim cương trên đường 47, để cố gắng tìm kiếm ai đó có
thể chỉ dạy tôi.
Tôi tìm được một trong những người cắt kim cương nổi tiếng ở
đó; theo như tôi nhớ thì vào lúc đó ông ta đang làm việc với viên kim cương lớn
nhất thế giới, một viên đá fancy màu vàng nhạt nặng hơn 400 ca-ra được mạng lưới
cửa hàng trang sức Zales mua. Ông ta bảo thỉnh thoảng tôi cứ đến xem, nhưng chỉ
thế mà thôi. (“fancy” là một cái tên để chỉ những viên kim cương có màu tự
nhiên như vàng sáng hay màu nâu, hoặc màu xanh giống như viên kim cương Hope
(hi vọng)).
Tôi tình cờ gặp một vài thợ cắt kim cương người Nam Phi và ở
chung với họ vài ngày, nhưng chỗ ấy quá lộn xộn. Cũng có vấn đề là tôi phải tìm
ai đó sẵn sàng dạy tôi hơi trễ vào buổi tối, vì chúng tôi vẫn đang tất bật xây
dựng doanh nghiệp Andin. Và do đó, tôi tình cờ gặp Sam Shmuelof.
“Shmuel”, như chúng tôi vẫn thường gọi ông ta, là một trong
những quý ông thực sự trong ngành kim cương. Bà vợ Rachel của ông ta là cánh
tay phải của tôi tại Andin và là người đóng góp vào thành công của đơn vị chúng
tôi. Ông đồng ý dạy cho tôi vào ban đêm và các ngày Chủ nhật: Một trong những
lý do khiến có quá nhiều nhà buôn kim cương ở New York là những người Do Thái
chính thống giáo vì những người trong ngành đều tôn trọng lễ Shabbat, ngày
Sabath, và không ai ở đường 47 bị ép phải làm việc vào các ngày thứ Bảy nếu người
ấy có đạo.
Lần đầu tiên tôi bước vào cửa hiệu cắt kim cương, giống như cảnh
Dante được Virgil dẫn vào địa ngục. Shmuel nắm lấy cánh tay tôi đưa đến một con
đường nhỏ ẩn ở giữa hai tòa nhà chọc trời lát đá trên đường 47, và dẫn tôi đến
một thang máy nhỏ. Thang máy ì ạch lên khoảng mười tầng và dẫn ra một hành lang
hẹp, lù mù với những cửa hẹp ở hai bên. Mỗi cửa là một kết hợp kỳ lạ của sơn bị
bóc và một vẻ cũ kỹ nhưng lại được khoác lên bằng những ổ khóa và then cài mới
toanh, nặng nề và đẹp đẽ. Hầu hết các cửa đều có năm hay sáu biểu hiện nhỏ, rẻ
tiền, được viết bằng tay ở bên trên mà về sau tôi mới biết chúng là những “biệt
danh” khác nhau của một đơn vị do một người điều hành một nhà buôn kim cương nhỏ,
ví dụ như một ai đó có một cái tên là “Bennie Ashtar”, có thể được ghi là:
“Công ty Kim cương Quốc tế Ashtar”
(Đó có thể là một hộp đựng giày nhỏ chứa những viên kim cương
lẻ mà ông ta đã cắt khoảng vài tháng trước đó, cùng với một ít viên đá rất xấu
xí, không thể bán được mà ai đó đã để lại cho ông ta cách nhiều năm trước để bù
cho một khoản nợ khó đòi).
Hay “Cơ sở chế tạo đồ trang sức Toàn cầu Ben-Ash”
(Đó có thể là một ít bông tai lẻ mà có lần ông ta đã làm với
một số đá quý của ông do ông nghe rằng những nhà chế tạo đồ trang sức kiếm nhiều
tiền hơn những người chế tạo kim cương và kiếm tiền dễ dàng hơn nhiều dù rằng
dĩ nhiên ông chẳng có thể bán được cái nào).
Hay “Xưởng Cắt và Sửa chữa Kim cương Quốc tế Simsev”
(Đó có thể là doanh nghiệp thực sự, gồm chỉ một cái bàn với một
bánh xe cắt kim cương, bao giờ cũng được đặt theo tên của những đứa con của ông
này Simon và Zéeva; nhưng dù sao mọi người có thể gọi nó là cửa hàng cắt kim
cương của Bennie).
Hay “Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đá quý Hiếm và Đẹp”
(Đó có thể là hai kilô đá quý màu hồng hay bạch ngọc hình khối
tổng hợp màu hồng mà ông mua từ hồi năm 1993 khi loại này đang là “mốt” được
sáu tháng nhưng Bennie giữ nó lại trong bảy tháng, hi vọng giá vẫn tiếp tục lên
cao, và giờ đây công ty bảo hiểm đang than phiền rằng cái bao đựng các thứ ấy
chiếm quá nhiều chỗ trong tủ an toàn và ông cần phải ném chúng ra).
Khi đến gần một hành lang lạ lùng, chúng tôi bắt đầu nghe một
âm thanh the thé càng lúc càng lớn hơn, một thứ gì đó giống như đến gần một cái
hang lớn trong đó có hàng triệu con muỗi bị nhốt và bay tứ tung một cách điên rồ.
Cửa ra vào là một thiết bị kỳ cục to lớn bằng kim loại màu xám của thép súng,
không có bất cứ con số hay biển hiệu nào trên đó. Ngay góc của trần nhà, phía
trên cao cửa ra vào, một camera an ninh chĩa thẳng vào chúng tôi.
Shmuel bấm chuông, và chúng tôi chờ đợi.
Không có tiếng trả lời.
Ông ta lại bấm chuông, bấm nữa, và cuối cùng có một tiếng ré
lên qua cửa: “Vâng, ai đó?” (Các máy thu hình cứ luôn bị hỏng, như bạn thấy đấy,
không ai có thì giờ hoặc muốn sửa chữa chúng).
“Shmuel”.
“Vâng, vâng”, và bạn nghe hết tiếng then cửa này đến then cửa
nọ được mở, rồi tiếng dây xích và cuối cùng cánh cửa được mở ra.
Tiếng ồn như nổ tung và bao trùm lên đầu và tai bạn - tất cả
những tiếng rít và tiếng còi rền rĩ, tiếng nổ của máy khoan nén mà bạn gặp phải
trong nửa giờ đi bộ xuống một con phố ở New York nhưng giờ đây lại được ép gọn
trong vài giây. Shmuel kéo tôi ra cái nhìn chằm chằm đầu tiên của người chủ cửa
hiệu. “Ông ta chẳng sao đâu, ông ta cùng đi với tôi đấy” - rồi đẩy tôi qua cái
bẫy người (cũng đang bị hỏng) để đi vào cửa hiệu.
Một hay hai người ngồi trên mé máy ly tâm đang kêu veo veo bất
ngờ ló lên và kiểm tra xung quanh - không phải trộm cướp, không phải khách hàng
tiềm năng - rồi lại thụt xuống để kiểm tra xem có chút xíu kim cương nào bị
bánh xe mài lạm đi khi họ ngẩng đầu lên hay không.
Có khoảng năm cái bàn dài được xếp như những khúc xương sườn
suốt cả phòng. Mỗi bàn được gắn sâu vào trong bằng ba hay bốn bánh xe kim loại
có gai, đối diện với mỗi bánh xe là một người thợ cắt ngồi trên một ghế cao,
cúi người xuống viên đá. Các chỗ ngồi được đặt ở mỗi bên để tiết kiệm khoảng
không gian văn phòng quý báu trong một số khu vực đất đai đắt tiền nhất thế giới
- sao cho mỗi người thợ cắt chỉ cách một vài tấc Anh đối với người bên cạnh và
đối diện với người cuối cùng. Suốt từ 10 đến 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày trên
băng ghế, tất cả những gì bạn thực sự thấy là khuôn mặt của gã đối diện và hy vọng
là anh ta vui tính để bạn nói chuyện.
Ánh sáng trong các xưởng kim cương thì không giống ở đâu cả.
Vì màu da nâu nhạt của viên kim cương thô bị mài đi để lộ ra bề mặt gương pha
lê, những phần nhỏ của viên kim cương rơi ra và trộn lẫn với dầu tinh trên mặt
bánh xe cắt bằng kim loại. Tốc độ cao khủng khiếp của bánh xe ném những hạt bụi
kim cương li ti và dầu vào không khí, chất nhờn này bay đến bức tường hay người
gần nhất và bám vào đấy.
Vì vậy, mỗi phân Anh ở nơi này đều có màu xám, một màu xám xỉn.
Tường màu xám, nền nhà xám, các trang bị ánh sáng xám, các bàn tay, các khuôn mặt
đều xám, áo sơ mi, quần tây, giày dép và cả cửa sổ cũng xám. Bạn có thể đang ở
một ngàn tấc Anh dưới mặt đất hoặc trên tầng 40 của một tòa nhà bằng kính bóng
loáng cao chọc trời nào đó ở New York (gồm nhiều cửa hàng), nhưng có thể bạn
không bao giờ thấy được sự khác biệt từ cái màu xám xỉn đang cố gắng len lỏi
xuyên qua các cửa sổ. Nhìn những viên đá quý tuyệt đẹp nổi lên từ thế giới tối
tăm, tôi chưa bao giờ bị ấn tượng mạnh đến thế, giống như nhìn bông sen hồng mọc
lên từ bùn và nước trong một cái hồ gần tu viện của chúng tôi ở Ấn Độ. Phép ẩn
dụ được các Phật tử ưa chuộng. Chúng ta có thể giống như hoa sen này không?
Chúng ta có thể ngậm khổ đau và trớ trêu của cuộc đời, sử dụng nó để trở thành
một trong những viên ngọc quý hiếm của thế giới - một con người từ bi thực sự?
Shmuel cho tôi một số lời khuyên cần thiết khi mới bắt đầu, rồi
đặt tôi ngồi lên một cái ghế cao cót két, một phía đối diện với Natan và phía
kia thì đối diện với Jeorges. Natan là một người Do Thái ở Brooklyn, mỗi ngày
ông đi làm bằng một chiếc xe buýt đặc biệt, phụ nữ ngồi một phía, nam giới ngồi
phía kia, được ngăn cách bởi một bức màn, mỗi bên đều cầu nguyện khi chiếc xe
buýt chở họ bắt đầu qua cầu Brooklyn, phố Tàu (Chinatown) đến quận này. Natan
may mắn, ông ta luôn có một hợp đồng với một nhà sản xuất kim hoàn lớn. Thường
thì đây không phải là một thỏa thuận béo bở - công lao động của ông có thể gần
bằng hoặc cao hơn giá của viên đá đã hoàn tất - nhưng họ đang buôn bán các loại
hàng tốt và ông ta đưa ra giá tốt để thu được số lượng ổn định. Do đó, nếu ông
ta chịu khó làm việc thì cuộc sống cũng khá tốt.
Jeorges thì lại hoàn toàn khác. Ông ta là một thợ thủ công
người Puerto Rico trong ngành đánh bóng kim cương, đôi khi ra ngoài bù khú và
không xuất hiện tại nơi làm việc trong nhiều ngày, đôi khi lại biến mất để trở
về Puerto Rico trong vài tuần và đột nhiên xuất hiện trở lại nơi làm việc như
thể ông ta vừa ra ngoài uống cà phê. Nhưng ông ta là một tài năng đấy! Không ai
có thể có đôi bàn tay như thế, loáng thoáng qua bánh xe như một con chuồn chuồn,
tạo ra những kiệt tác thật sự từ một mẩu thô cứng nhất. Ông rất có uy tín về những
viên đá thô tốt nhất thế giới, và trong đôi tay vững vàng của ông giờ đây viên
đá 12 ca-ra đang cháy đỏ cọ vào cái bánh xe sắt đang rú lên. Một khi được cắt
xong, nó sẽ bán được hơn 50.000 đôla.
Shmuel lấy một cái tay cầm kim cương cũ đã được tín nhiệm ra
khỏi bộ dụng cụ quý hiếm được gắn vào các hốc khắp mép chiếc bàn dài của ông;
đây có lẽ là cái tay cầm mà ông quen thuộc, một thứ đồ cổ thực sự từ những ngày
đầu của việc cắt kim cương. Gắn vào cuối cán gỗ cứng là một cái cổ dày bằng đồng
có một viên bi trên một cây đèn cồn nhỏ mà ông ta giữ ở cùi chỏ cho đến khi chì
mềm ra. Rồi bằng một động tác nhanh nhẹn, ông ta áp viên đá thô vào chì rồi
dùng mặt móng tay mà vỗ nhanh vài cái để ấn nó xuống.
Cấu trúc nguyên tử toàn hảo của một viên kim cương không những
làm cho nó thành một trong những vật chất trong suốt nhất mà còn là một trong
những chất dẫn nhiệt và dẫn điện tốt nhất. Một phần tư ca-ra nhỏ xíu của kim
cương được đặt dưới một cái tiếp mạch nhạy - như một nút công tắc trong vệ tinh
chẳng hạn - đảm bảo rằng nó sẽ không bao giờ quá bóng và hỏng vì kim cương đẩy
nhiệt ra mạnh hơn bất cứ vật chất nào khác. Thực tế, người ta đã tìm thấy kim
cương là một trong những sản phẩm tốt nhất cho NASA1. Tôi còn nhớ một viên đá lớn
được họ đặt làm ở một xưởng gần đó - nó hầu như không có khuyết điểm nào và có
kích cỡ đường kính thật chính xác. Nó được cắt thành hình đĩa và được dùng để
che phủ cái kính ngoài của một máy thu hình trên một vệ tinh được gửi đến sao Hỏa
- vì kim cương không bị ảnh hưởng bởi hầu hết các axít hay các chất ăn mòn
khác. Thậm chí, người ta còn cắt một viên đá thứ hai giống viên đá này để dự
phòng trường hợp có điều gì xảy ra cho viên đá thứ nhất; tôi cũng không thể tưởng
tượng nổi nó làm họ tốn kém bao nhiêu. Dù sao đi nữa, Shmuel phải có động tác
thật nhanh, vì một viên kim cương mang nhiệt còn tốt hơn cả những kim loại như
vàng, bạc và có thể gây cho bạn một vết bỏng nhỏ nhưng rất đau đớn.
Đối với viên đá đầu tiên của tôi, Shmuel đã giao cho tôi một
viên “boart”2 to, nghĩa là một trong những sai lầm của thiên nhiên. Đây là viên
đá mà cấu trúc nguyên tử không bố trí hợp lý, và thay vì trông như kim cương
thì bề trong của viên đá giống như một loại thạch đục mờ có màu lục của xe
tăng. Việc tốt duy nhất cho những viên đá này là nghiền chúng ra thành bột để rắc
trên bánh xe, hoặc để làm phẳng bánh xe khi nó bị “khía” hoặc mẻ bởi một viên
kim cương có xu hướng quá cứng. Viên đá thô nặng hai ca-ra nhưng giá trị không
đến 10 đôla, như thế chúng tôi chẳng mất mát gì nếu tôt cắt không đúng góc.
1. Viết tắt của National Aeronautics and Space Administration:
Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ, thành lập năm 1958
(N.D).
2. “Boart” hay “bort” là loại kim cương kết tinh bất toàn,
không có giá trị (N.D).
Và các góc phải thật hoàn hảo. Kim cương có độ khúc xạ cao nhất
so với bất cứ vật chất tự nhiên nào tồn tại trong vũ trụ, đấy cũng là do cấu
trúc nguyên tử toàn hảo của nó. Khúc xạ là khả năng của một chất cho phép ánh
sáng đi xuyên qua, làm lệch hướng ánh sáng từ một bề mặt hay mặt kính bên trong
mà đi đến mặt đối diện, rồi đi ra trở lại đến mắt người nhìn. Nếu góc của đáy
hay đầu nhọn của kim cương quá hẹp thì ánh sáng sẽ bị khúc xạ ra phía sau hay
ra các mặt của viên đá, tạo cho viên kim cương một vẻ mờ đục, ngay cả đối với
con mắt của người không thông thạo. Nếu đáy bị cắt dẹt quá thì ánh sáng chỉ
xuyên qua từ đỉnh xuống đáy, giống như xuyên xuống đáy phẳng của một ly nước -
và viên đá sẽ không lấp lánh. Một trong những kỹ năng khó nhất đối với người mới
học là xử lý góc của các mặt đáy thật chính xác: tức là 40 độ 3/4, và làm sao để
đừng sai lệch lớn hay nhỏ hơn nửa độ.
Bấy giờ Shmuel, vị thầy lớn, vẫn không để cho tôi sử dụng một
cái đóp kiểu mới có khả năng tự động tạo góc: Tôi phải khởi đầu bằng một viên
kim cương tròn gắn trong chì ở cuối cái cổ bằng đồng. Để tạo góc, tôi phải hạ
cái phần bằng đồng và cầm cái cán đưa xuống tới bánh xe. Vài micron kim cương
văng ra, và tôi phải bật viên đá ra đưa tới cái kính phóng đại (kính lúp) của
thợ kim hoàn mà tôi đang mang và kiểm tra góc bằng một dụng cụ kỳ quặc trông giống
như một con bươm bướm bằng sắt. Tiêu cự của kính lúp khoảng một phân Anh, nghĩa
là mặt của tôi phải dán sát vào lòng bàn tay khoảng nửa ngày. Tôi phải dùng
chóp mũi để giữ chắc các ngón tay cầm kính lúp - Không một bàn tay ai không tựa
mà lại đủ vững để giữ cho các thứ li ti khỏi chao đảo trong khi bạn kiểm tra
bên trong viên đá xem có các đốm carbon hay không, sự việc cũng giống như bạn tự
nhốt mình trong một cái tủ với một cái kính hiển vi để tìm bọ chét trong lúc một
trận động đất đang xảy ra vậy.
Tôi phải mất khoảng nửa giờ để hiểu ra rằng, tôi chẳng nhìn
vào bên trong viên đá mà chỉ nhìn vào các lỗ chân lông trong da ngón tay tôi ở
phía bên kia của viên đá. Cầm lấy dụng cụ đo độ, kính lúp và cái “đóp” có gắn
viên đá, cố giữ cho các ngón tay không rung, nhìn lên ngay đúng vào cái bóng
đèn, nén giữ hơi thở và cố không nghe tiếng rít của các bánh xe cắt ở xung
quanh tôi là một việc khá khó khăn. Tôi liếc mắt nhìn cái đồng hồ tưởng như là
thời gian đang ngưng đọng.
Có một tiếng động nhỏ và tôi nhìn thấy Jeorges, đúng hơn là
cái mông của Jeorges (ông ta hơi mập), khi ông đang bò người ra, mũi dán vào nền
nhà. Về sau tôi mới biết, đây là một tư thế quen thuộc trong một xí nghiệp kim
cương khi có ai đó đánh rơi một viên đá. Một cảnh tượng thật lạ lùng - một
phòng gồm những người lớn, nhiều người đang là triệu phú, bò lê trên nền nhà,
chộp lấy từ cục giấy vụn trên nền nhà và cẩn thận xé rời ra để cố tìm một viên
đá bắn ra khỏi bánh xe hay ra khỏi cái nhíp gắp kim cương của ai đó. Ở trường dạy
phân hạng kim cương, chúng tôi không được phép về nhà khi viên kim cương bị lạc
mất chưa được tìm ra. Do vậy, có hôm chúng tôi đã bị giữ lại ba tiếng đồng hồ -
một viên kim cương lóng lánh khá là bự bắn xuyên qua phòng và rơi vào trong góc
bục giảng của thầy giáo và chúng tôi đã phải kiếm tìm đến từng centimet.
Jeorges vẫn bò khắp sàn một cách yên lặng, rồi ồn ào hơn một
chút, rủa lầm bầm bằng tiếng Tây Ban Nha, rồi đến Natan bò trên nền nhà.
Jeorges thoáng nhìn Shmuel một cách tuyệt vọng, ý bảo rằng: “Chúng tôi có vấn đề
đây. Ông có thể xuống đây giúp tôi chăng?” Trong vài phút, mọi người trong cửa
hàng đều cúi xuống nền nhà, những viên kim cương trị giá vài trăm ngàn đôla
đang treo trên những bánh xe đang quay để đợi cắt, trong khi tình thân ái của
những người làm kim cương đang được thể hiện rõ. Một người đã đánh mất một viên
đá, viên 12 ca-ra, viên đá lớn nhất chỉ vừa mới đến cửa hàng.
Chúng tôi tìm kiếm đến khuya. Trước tiên là ở từng khoảng
không gian của nền nhà, rồi đến các bậu cửa sổ (các cửa sổ, may thay, vẫn không
được mở ra trong nhiều năm, cho nên không sợ rằng viên đá đã rơi xuống vào tay
của một người buôn bán đá quý may mắn nào đó - điều này đã từng xảy ra nhiều lần
trước kia ở đường 47). Rồi đến túi áo của từng người (một nơi thuận tiện để giấu);
rồi đến các ống quần; rồi giầy, tất, rồi dưới dây thắt lưng, trong quần, trong
đồ lót, trong túi xách, hộp và các khe hở, vết nứt. Thậm chí, chúng tôi còn kiểm
tra đầu tóc của mỗi người (nơi những viên đá nhỏ thường bị dính vào) - nhưng
cũng chẳng thấy gì. Sau đó, chúng tôi xem kỹ lại mọi thứ một lần nữa, rồi lại một
lần nữa. Trời đã gần sáng, trước khi chúng tôi bỏ cuộc, kiểm tra đến người cuối
cùng, vì mọi người đều đã ở lại để giúp chúng tôi.
Sự cố này là một thí dụ về dấu ấn trong tâm thức có thể được
in sâu một cách đặc biệt mạnh mẽ như thế nào, khi một điều tốt hay không tốt
nào đó được thực hiện cho ai đó đang cần sự giúp đỡ to lớn. Trong hoạt động
buôn bán kim cương, có những hợp đồng bảo hiểm mà bạn có thể ký để bù đắp cho những
tai nạn như thế này, nhưng hầu như không ai có đủ khả năng để đóng tiền cho loại
bảo hiểm như thế. Hẳn là Jeorges sẽ phải mất cả năm để đền trả giá trị của viên
đá, và bạn có thể chắc chắn rằng ông ta sẽ đền trả - vì đây là quy tắc của những
người cắt kim cương. Mỗi người tạm gác phần việc của mình để giúp tìm kiếm viên
kim cương bị mất đều quan tâm đến ai đó đang rất cần sự giúp đỡ; nếu chúng ta
ngưng giúp đỡ hoặc lưu tâm giúp đỡ một người như thế, hoặc không biết tới sự cần
giúp đỡ của người ta thì cái dấu ấn (tốt hay xấu tương ứng) sẽ mạnh mẽ hơn nhiều.
Thế rồi sáng hôm sau, người chủ cửa hàng cắt kim cương nhận một
cú điện thoại từ một thợ cắt ở trụ sở bên cạnh, nơi nhà sảnh. Ông ta hỏi có phải
chúng tôi đã mất một viên đá lớn chăng? Ông ta đã tìm thấy nó trong góc nhà của
một kế toán viên của ông ta. Đây là sự thâm nhập của tôi vào sự chân thật tuyệt
đối của hầu hết từng cá nhân đơn lẻ trong ngành kim cương thô - nó gây cho tôi
một ấn tượng sâu sắc. Chúng tôi đã hình dung ra rằng, viên đá đã bật ra khỏi
cái góc bằng kim loại của bàn cắt, bay thẳng xuống nền nhà, đâm xuống một khe hở
nhỏ ở gờ tường, xuyên qua một khoảng hở nhỏ ở dưới tường rồi chui ra khỏi khe hở
chung của gờ tường ở phía bên kia. Jeorges, chẳng cần phải nói, vô cùng biết
ơn.
Một dấu ấn không chỉ mạnh hơn khi bạn làm một điều gì với một
người đang rất cần được giúp đỡ, một cách tương tự, dấu ấn sẽ được tăng cường
khi bạn hành động đối với ai đó đã từng giúp đỡ cho bạn rất nhiều, hoặc ai đó hết
sức đặc biệt.
Sa thải một cách khiếm nhã một nhân viên đã làm việc cho công
ty chỉ trong một thời gian ngắn và chưa có đóng góp gì đáng kể là một việc;
nhưng để cho một công nhân đã làm việc lâu dài và đã giúp xây dựng công ty ra
đi chỉ vì người này sắp đạt đến thời gian làm việc đủ yêu cầu để được các lợi
ích hưu trí đặc biệt, thì đấy là một việc hoàn toàn khác hẳn. Bạn trả tiền điện
thoại trễ là một việc, nhưng phá vỡ một thỏa thuận miệng với một người vì lòng
tốt đã giao phó cho bạn một gói kim cương đắt tiền thì đấy là một việc hoàn
toàn khác.
Trong ngành kinh doanh đá quý có những thỏa thuận sau: Toàn bộ
hoạt động mua bán sỉ kim cương đều tuân thủ quan niệm truyền thống Mazal. Mazal
là viết tắt của biểu ngữ tiếng I-dít1 Mazel un b’rachah có nghĩa là “Hãy thọ hưởng
cho lành mạnh”. Trong những người làm kim cương, lời nói này có nghĩa là “Đồng
ý rồi đấy”. Phần lớn việc mua bán kim cương ở tầm cao nhất đều hoàn toàn thực
hiện quan niệm mazal này, hay một thỏa thuận cam kết bằng miệng. Hàng triệu
đôla đá quý được mua và bán qua điện thoại, đôi khi giữa những người chưa từng
gặp mặt nhau, bằng chỉ một từ đơn mazal. Một khi từ mazal thoát ra khỏi miệng bạn
thì bạn đã cam kết chấp nhận thỏa thuận với bất kỳ giá nào.
Giữ gìn mazal là trái tim của việc kinh doanh kim cương. Phá
vỡ mazal là một điều chưa từng có. Khi người bán và người mua, sau một thương
lượng gắt gao, đều nói mazal, thì sự thỏa thuận được ghi trên đá, nếu không phải
là trong tim của họ. Không có hợp đồng, không có chữ ký. Bạn sẽ thanh toán số
tiền mà bạn đã hứa, vào cái ngày mà bạn đã đồng ý, vì bạn đã nói mazal.
1. I-dit (Yiddhish): Ngôn ngữ được xem như tiếng Do Thái quốc
tế, một dạng tiếng Đức cổ và có những từ mượn tiếng Hebrew (Do Thái cổ) và ở
nhiều ngôn ngữ hiện đại được người Do Thái ở Đông và Trung Âu sử dụng. (N.D.)
Vì bạn có thể tưởng tượng rằng ấn tượng hay dấu ấn trong tâm bạn sẽ mạnh hơn nhiều nếu bạn không đếm xỉa đến cái tinh thần mazal hay đã hành động chống lại một người có cá tính đặc biệt khác thường. Một thí dụ khác về điều này là cái mà chúng tôi gọi là “tráo đổi”, hay sự vi phạm nguyên tắc “ghi nhớ”, một truyền thống thiêng liêng khác của nghề kim cương.
Vì bạn có thể tưởng tượng rằng ấn tượng hay dấu ấn trong tâm bạn sẽ mạnh hơn nhiều nếu bạn không đếm xỉa đến cái tinh thần mazal hay đã hành động chống lại một người có cá tính đặc biệt khác thường. Một thí dụ khác về điều này là cái mà chúng tôi gọi là “tráo đổi”, hay sự vi phạm nguyên tắc “ghi nhớ”, một truyền thống thiêng liêng khác của nghề kim cương.
Ví dụ doanh nhân A gửi một bao hay một gói giấy nhỏ gồm 300
viên kim cương rời nặng một ca-ra cho doanh nhân B “ghi nhớ” hay ký gửi. Doanh
nhân B dành ra nhiều ngày để quan sát kỹ các viên đá và quyết định sẽ bán hết số
kim cương ấy hay chỉ một vài viên hoặc không bán viên nào. Nếu ông ta quyết định
bán tất cả các viên đá, ông ta sẽ dứt khoát đòi hỏi một sự giảm giá nào đó đối
với cái tổng giá trị của bao kim cương, và số tiền được giảm này sẽ là đối tượng
của sự thương lượng gay gắt giữa hai bên kéo dài nhiều tuần.
Nếu doanh nhân B quyết định chỉ bán một vài viên trong bao đá
mà doanh nhân A giao thì doanh nhân A theo như truyền thống được quyền đòi một
giá riêng lẻ cao hơn đối với các viên đá mà doanh nhân B quyết định giữ lại. Sở
dĩ như thế là vì giá trị của viên đá tốt nhất trong gói thường cao hơn nhiều so
với giá trị của các viên đá khác trong gói ấy; cho nên khi bạn “gạn lọc” hay chọn
những viên đá tốt nhất thì hẳn bạn phải trả tiền hơi cao hơn để mua chúng.
Bây giờ, nếu doanh nhân B là một người phi đạo đức thì sau
vài ngày, ông ta có thể gọi doanh nhân A và nói: “Cuối cùng thì tôi cũng kiểm
tra xong món hàng mà ông đã gửi tôi - và thực sự tôi không thể tin rằng ông lại
mời tôi mua thứ drek 1. đó. Hãy đưa người bảo vệ đến thẳng đây mà mang chúng về,
tôi phải xấu hổ khi đặt cái thứ đồng nát ấy trong cửa hiệu kim hoàn của tôi.”
1. Drek là tiếng I-dít, nghĩa là rác rưởi. Nếu bạn đang quấy rầy
một doanh nhân Ấn Độ thì bạn thay thế từ này bằng từ karab. Nếu ông ta là người
Nga thì bạn bảo musor. Thế nào bạn cũng làm chủ được vấn đề. Khi bạn mua đá quý
từ một người khác thì chúng luôn luôn là “rác rưởi”. Khi bạn bán đá quý cho người
khác - dù cho đấy chính là những viên đá “rác rưởi” mà sáng nay người khác đã
chào bán cho bạn - chúng luôn là một mitzia hay một “món hời không thể tin được”.
Tuy thế trong suốt mấy ngày, doanh nhân B đã kiểm tra những
viên kim cương của doanh nhân A hết sức kỹ lưỡng. Ông ta đã chọn ra một hay hai
viên trong số những viên đá có giá trị nhất và thay thế chúng bằng những viên
kim cương có chất lượng thấp hơn của chính ông ta nhưng lại có trọng lượng đúng
y như thế. Bây giờ, những viên kim cương như những bông tuyết: không có hai cái
nào giống y như nhau, nhưng chẳng có ai có thể nhớ chính xác từng viên đá trong
số hàng của mình giống như thế nào, nhất là đối với hàng mua tại Tập đoàn Andin
- cỡ chừng một phần tư triệu viên kim cương. Rất có thể chẳng ai lưu ý đến sự
tráo đổi này.
Chính chúng tôi cũng sử dụng những mưu mẹo theo cách này để
khám phá xem chúng tôi có phải là nạn nhân của thủ đoạn lừa gạt như thế hay
không. Vì bạn không thể rạch một viên kim cương, không dễ dàng như lấy đinh
ghim rạch những chữ cái đầu tên bạn vào những viên đá. Tuy thế, những tia laser
cực nhỏ đã được áp dụng trong ngành cho phép bạn nung đốt một con số nhận dạng
vào mặt bên của một viên kim cương nếu bạn thực sự muốn (1). Chúng tôi cũng sử dụng
tia X để phát hiện các món giả hay món tráo, và có thể kiểm tra hàng ngàn viên
đá cùng một lúc với một máy X quang lưu động nhỏ được đặt trong một chiếc xe
thùng có thể di chuyển tới nhiều địa điểm khác nhau.
Dù sao, trong thực tế, nhà buôn bán hiếm hoi mặc sức tráo đổi
hàng sớm muộn gì cũng phạm một lỗi lầm rõ ràng trong việc gian lận của ông ta
(sự dối trá và ngu ngốc thường xuất hiện trong cùng một tâm ý, giống như kim
cương và ngọc hồng lựu, một loại ngọc nhỏ có thể báo cho các máy thăm dò quặng
về khả năng có kim cương). Lời nói lan khắp thế giới trong vòng một hai ngày, rồi
đột nhiên, khi nhà buôn bán này yêu cầu một bao hàng thì ông ta chỉ nghe:
“Không, hôm nay chúng tôi không có loại hàng đặc biệt đó.”
(1) Điều này đắt tiền đến nỗi chỉ đáng thực hiện đối với cái mà
chúng tôi gọi là hàng “có chứng chỉ” hay hàng cao cấp.
Vấn đề ở đây là doanh nhân B đã vi phạm sự tín nhiệm đáng
kính của doanh nhân A. Ông đã xúc phạm một người tín nhiệm ông ta, ông ta đã giẫm
lên nguyên tắc danh dự mà mazal đã nêu tỏ, và điều này lại khiến cho dấu ấn
hành động của ông ta mạnh hơn nhiều trong chính tâm trí của ông ta.
Thể cách đặc biệt mà bạn làm điều gì đó tốt hay xấu cũng ảnh
hưởng đến sự gây dấu ấn một cách mạnh mẽ như thế nào trong cái chất nhão được gọi
là trí óc của bạn. Chẳng hạn, không những bạn không trả cho nhà cung cấp đúng
lúc mà bạn còn lẩn tránh họ. Đây là một số lời lảng tránh phổ biến mà tôi đã được
nghe trong doanh nghiệp:
“Tờ séc đã được gửi đi vào tuần trước nhưng như ông biết, việc
chuyển thư từ New York là như thế đấy!”
“Trưởng phòng thanh toán của chúng tôi đã dời sang một văn
phòng khác trong tòa nhà. Không, chúng tôi không có số nội bộ của ông ta.”
“Chúng tôi đã thay đổi phần mềm kế toán, và séc chỉ có thể được
in vào thứ Sáu tới.”
“Tôi biết thời hạn là 90 ngày. Nhưng chúng tôi nghĩ thế có
nghĩa là 90 ngày sau khi chúng tôi hoàn tất việc phân hạng kim cương” (có thể mất
nhiều tuần).
“Ngay cả những công ty lớn như Coca-Cola cũng quá hạn vài
ngày, có vấn đề gì lớn đâu?” (Trừ khi bạn nói như thế sau khi bạn đã trễ hai
tháng rồi.) “Hiện nay, chúng tôi đang bận lắm, tờ séc của ông sẽ sẵn sàng trong
vòng một hay hai ngày, lúc đó ông có thể đến sau bữa trưa được không?” (Ý là
phòng kế toán của chúng tôi đã được lệnh trao tờ séc cho ông vào ngày thứ Sáu,
10 phút sau khi ngân hàng đóng cửa, do đó chúng tôi được thêm ba ngày tiền lời
trong ngân khoản).
Dĩ nhiên, vấn đề nổi cộm nhất vẫn là sự thoái thác, hãy nhấc
tất cả các ống điện thoại trong phòng kế toán ra khỏi giá móc, hoặc (nếu bạn thực
sự cảm thấy tàn nhẫn), hãy ghi âm bằng một giọng rất ngọt ngào rằng: “Cuộc gọi
của ông thật quan trọng đối với chúng tôi! Xin chờ ít giây nữa trong khi các
nhân viên của chúng tôi phục vụ một số khách hàng quan trọng.” Hãy nối lời ghi
âm này trong suốt 30 giây hay khoảng chừng ấy, hay thêm vào nền tiếng thứ âm nhạc
nào đó thực sự kích động, và thế là bạn đã làm cho dấu ấn của hành động mạnh
hơn nhiều thay vì lẽ ra nó không thế, do bởi cái thể cách mà bạn đã sử dụng.
Yếu tố tối hậu ảnh hưởng đến sự việc các dấu ấn được gieo vào
tâm trí bạn như thế nào liên hệ đến sự kết luận của ý nghĩ, lời nói hay hành động,
tức là, bạn có cảm thấy vui khi làm điều ấy không? Bạn có định làm lại nữa
không? Bạn có làm chủ nó không? Nếu thế thì dấu ấn sẽ mạnh hơn nhiều - dù tốt
hay xấu.
Như thế, đây là những nguyên tắc của dấu ấn tâm linh. Tâm ta
giống như một mảnh phim rất nhạy, và trước bất cứ cái gì mà ta phơi bày tâm - đặc
biệt là bất cứ điều gì tốt hay xấu mà ta thấy mình đang làm cho người khác -
thì điều đó sẽ tạo nên một dấu ấn hay một ấn tượng rõ ràng; dù là dấu ấn của một
con chim câu hay dấu chân một con sói trên tuyết mới rơi, thì dấu vết ấy vẫn
còn giữ lại lâu dài.
Những dấu ấn này ảnh hưởng đến cuộc sống của ta như thế nào?
Ta có thể sử dụng chúng không? Ta có thể làm cho mọi sự xảy ra theo cách ta muốn
không? Để hiểu điều này, ta phải kết nối các nguyên tắc của tiềm năng với chính
tiềm năng.
Chương 6: Sử dụng tiềm năng
Bây giờ, chúng ta đã hiểu cách thức để giải quyết những vấn đề
hóc búa. Mọi thứ mà bạn cần biết để sử dụng kiến thức thâm sâu của Tây Tạng cổ
trong đời sống hay những nỗ lực của chính bạn. Chúng ta chỉ cần nối kết chúng với
nhau.
Trước hết, chúng ta đã thấy rằng mọi sự đều có một khả năng
biến đổi tính chất rất tinh nhạy. Chúng ta không gặp người nào đang gây phiền
phức từ phía người ấy, vì luôn luôn có ai đó thấy họ hoàn toàn dễ thương; dù
cho chúng ta thấy họ như thế nào đi nữa, đó không phải là cái gì đang đến từ
phía họ. Vậy thì nó đến từ đâu? Rõ ràng là bằng cách nào đó nó xuất phát từ
phía chúng ta, từ tâm của chính chúng ta.
Cho nên, chúng ta có thể quyết định một cách đơn giản rằng nếu
sự vật xuất phát từ tâm của chính chúng ta, chúng ta sẽ chọn để thấy điều xấu xảy
ra cho chúng ta thành điều tốt chăng? Mỗi sự thỏa thuận xấu thành sự thỏa thuận
tốt? Bạn biết rằng nó không diễn biến theo cách ấy. Bạn không thể mua nhà hay
cho con cái học đại học chỉ bằng ước muốn mà thôi. Rõ ràng là chúng ta nhìn thấy
sự vật theo cách này hay cách khác là chúng đang diễn ra như thế theo một cách
bắt buộc; tức là bất cứ cái gì khiến chúng ta nhìn thấy sự vật nào đó tốt hay xấu
xảy ra cho chúng ta đang buộc chúng ta phải nhìn thấy những sự vật này như
chúng ta đang nhìn thấy.
Đó là bởi vì những dấu ấn tâm linh mà chúng ta đã nói ở trên,
và trí tuệ Phật giáo mong muốn quay chúng về phía có lợi cho bạn. Để được như vậy,
bạn phải biết các dấu ấn tác động đến bạn như thế nào. Chúng ta hãy quay trở lại
Năng đoạn kim cương để tìm lời khuyên.
Và Thế tôn bảo:
Này Tu bồ đề, ông nghĩ thế nào? Giả như có nam tử hay nữ nhân
thuộc gia đình cao quý đem tất cả các hành tinh có cư dân của đại thiên hà này,
một thiên hà gồm hàng ngàn hành tinh mà bao phủ chúng bằng bảy loại châu báu và
đem tặng chúng cho ai đó. Nam tử hay nữ nhân ấy có tạo ra nhiều núi lớn việc
thiện do một hành động như thế chăng?
Đức Phật đang đi đến chỗ khiến chúng ta bối rối, có lẽ tốt nhất
là mang Choney Lama theo với chúng ta đối với từng câu kệ. Đây là giải thích của
Ngài về những gì đang được nêu ở đây:
Qua đoạn kế tiếp đoạn kinh này, Đức Phật muốn chứng minh một
sự việc chắc chắn. Trong những đoạn trên, chúng ta đã nói về việc đạt đến trạng
thái cao nhất của sự hiện hữu, và về việc dạy những điều này cho những người
khác, … Không có sự việc nào hay không có vật nào trong vũ trụ hiện hữu bên
trong nó và do chính nó. Tuy thế, chúng vẫn hiện hữu trong các nhận thức của
chúng ta. Và quả thực là bất cứ ai bố thí đều tạo ra điều thiện. Nhưng bất cứ
ai nghiên cứu những nguyên lý đằng sau những thứ này, bất cứ ai suy ngẫm về
chúng và sau đó quán tưởng về chúng đều tạo ra điều thiện vô cùng lớn hơn.
Để truyền đạt ý này, Đức Thế tôn hỏi Tu bồ đề: “Ông nghĩ thế
nào, giả như có một nam tử hay gia đình cao quý đem tất cả những hành tinh có
cư dân của đại thiên hà này, một thiên hà gồm hàng ngàn hành tinh…”.
Thiên hà nêu ở đây được miêu tả trong Ngôi nhà báu của trí tuệ
cao vời (Treasure House of Highest Knowledge) như sau: Cái mà chúng ta gọi là một
thiên hà “cấp thứ nhất”
Là một ngàn hành tinh có cư dân, Mỗi hành tinh gồm bốn lục địa
của riêng nó, Với một hệ thống núi trung tâm Và các chúng sanh riêng trong mỗi
cõi Với cõi Tịnh độ trên đỉnh của nó.
Một ngàn thiên hà này Chúng ta gọi là một thiên hà “cấp thứ
hai” Và một ngàn thiên hà này lại tạo thành Một thiên hà “cấp thứ ba”.
Đức Phật dạy tiếp: “Lại nữa, giả như nam tử hay nữ nhân của
gia đình cao quý này bao phủ các hành tinh này bảy loại châu báu: vàng, bạc,
pha lê, thanh ngọc, lục ngọc, ngọc karkettana và ngọc trai đỏ; và sau đó bảo rằng
họ dâng những hành tinh này cho người nào đó. Họ tạo ra nhiều núi lớn việc tốt
do một hành động như thế, từ việc hiến tặng như thế chăng?
Trở lại kinh Năng đoạn kim cương Và Tu-bồ-đề đáp:
“Bạch Thế tôn, nhiều núi lớn việc thiện được tạo ra. Vâng, bạch
Thế tôn, nhiều lắm. Nam tử hay nữ nhân này của gia đình cao quý quả thực tạo ra
núi lớn việc thiện do một hành động như thế. Và tại sao như vậy? Bởi vì, bạch
Thế tôn, chính những núi lớn việc thiện này là những núi lớn việc thiện chưa
bao giờ hiện hữu. Và vì chính lý do này mà chư Như Lai nói đến “những núi lớn
việc thiện, những núi lớn việc thiện”.
Phần kệ này cũng được Choney Lama giải thích.
Đáp lại, Tu bồ đề nói:
Nhiều núi lớn việc thiện được tạo ra - và những núi lớn việc
thiện này là những núi lớn việc thiện mà chúng ta có thể thiết lập như là chỉ
hiện hữu trong nhận thức của chúng ta, chỉ theo cách hiện hữu của một giấc mơ
hay một huyễn ảnh: Tuy nhiên, chính những núi lớn việc thiện này có thể chưa
bao giờ hiện hữu như những núi đã hiện trong và của chính chúng. Chư Như Lai
cũng nói đến “những núi lớn việc thiện, những núi lớn việc thiện” trong ý nghĩa
danh xưng - mà đặt tên cho chúng.
Phần này nhằm chứng tỏ một số điểm khác nhau. Những hành động
tốt - xấu mà bạn đã làm trước đây và những hành động mà bạn sắp làm sau này, đấy
là những hành động trong quá khứ đã chấm dứt và những hành động trong tương lai
chưa xảy đến.
Do đó, chúng không hiện hữu nhưng hẳn chúng ta cũng phải đồng
ý rằng, trong một ý nghĩa thông thường thì chúng hiện hữu. Hẳn chúng ta cũng đồng
ý rằng chúng được nối với dòng tâm thức của người đã thực hiện chúng và rằng
chúng tạo ra những hậu quả thích ứng đối với người ấy. Những vấn đề này và những
vấn đề khó khăn khác được nêu ra trong những lời trên.
Trở lại Năng đoạn kim cương:
Thế rồi Đức Thế tôn bảo:
Này Tu bồ đề, giả như một nam tử hay một nữ nhân nào đó thuộc
gia đình cao quý đem tất cả các hành tinh của đại thiên hà này, một thiên hà gồm
ngàn ngàn của một ngàn hành tinh có cư dân mà bao phủ tất cả chúng bằng bảy loại
châu báu và dâng tặng chúng cho ai đó.
Mặc khác, giả như nam tử hay nữ nhân nắm giữ một bài kệ bốn
dòng của giáo lý đặc biệt này, và giải thích nó cho những người khác và giảng dạy
nó một cách đúng đắn. Do thực hiện hành động thứ hai này, người ấy sẽ tạo ra
nhiều hơn nhiều những núi lớn việc thiện này so với hành động trước: việc thiện
hẳn là vô cùng, vượt ngoài một sự đo đếm.
Choney Lama giải thích những bài kệ cuối cùng này bằng những
lời sau đây:
Trước hết chúng ta cần nói đôi lời về từ “kệ” ở đây: Mặc dù
cuốn kinh này - trong bản dịch Tây Tạng - không được viết bằng kệ, ý kiến ở đây
là người ta có thể chuyển nó thành kệ trong nguyên bản Sanskrit. Từ “nắm giữ”
nghĩa là “giữ trong tâm” hay “ghi nhớ”. Nó cũng có thể áp dụng cho việc cầm một
quyển sách trong tay và trong mỗi trường hợp, đọc bài kinh to lên.
Cụm từ “giải thích nó một cách đúng đắn” nhằm chỉ ý đọc các lời
của bản kinh và giải thích chúng rõ ràng. Cụm từ “dạy đúng đắn” nhằm trỏ đến việc
dạy tốt ý nghĩa của kinh - và sau tất cả, điều này là quan trọng nhất.
Bây giờ giả như ai đó nắm giữ cuốn kinh này và làm những điều
khác liên quan với kinh thay vì chỉ thực hiện các thiện hạnh đã được nêu trước
kia. Một người như thế sẽ tạo ra nhiều núi lớn việc thiện hơn nữa, và vượt
ngoài mọi sự đo đếm.
Cho nên, chúng ta đã thấy rằng mọi sự kiện từng xảy ra cho
chúng ta, trong một ý nghĩa, thì “trung tính” hay “không”. Cái nội dung mà
chúng ta nhìn thấy trong nó - tức là, chúng ta cảm nhận nó là cái gì ưa thích,
hoặc không ưa thích - không phải là một cái gì đó phát sinh từ chính nó. Đúng
hơn, nó có vẻ như phát sinh từ phía chúng ta, mặc dù - nhìn bề ngoài - nó không
phát sinh theo cách mà vào lúc ấy chúng ta có thể kiểm soát nó.
Sự bí mật của những dấu ấn tâm linh nằm ở đây. Chúng được
gieo trong tâm như chúng ta đã miêu tả ở trên: qua sự nhận biết của chúng ta về
chính mình khi chúng ta làm điều gì giúp đỡ hay gây tổn thương người khác. Sức
mạnh theo đó chúng được gieo trồng tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như chúng
ta đã khái quát nêu ra, bao gồm những ý định, sức mạnh của cảm xúc; mức độ nhận
biết của chúng ta về những gì chúng ta đang làm; thể cách hành động của chúng
ta; mức độ “tự chủ” về những hành động của chúng ta; và một số chi tiết về con
người mà hành động của chúng ta tác động đến - người đó đang rất cần giúp đỡ,
người nào đó đã giúp đỡ ta rất nhiều, hay người nào đó có tính cách rất đặc biệt.
Bây giờ, hãy nói về cách thức những dấu ấn này xác định những
gì ta nhận thức xung quanh. Theo đó các kinh điển Phật giáo, các VCR1 hay máy
ghi hình của tâm ta ghi khoảng 65.000 hình hay dấu ấn riêng lẻ trong khoảng thời
gian chỉ bằng cái búng tay. Những dấu ấn này đi vào, có thể nói thế, trong tiềm
thức của chúng ta. Ở đây, chúng tồn tại trong nhiều ngày, nhiều năm hay nhiều
chục năm, tự tái tạo trong mỗi phần ngàn giây như là những khoảnh khắc của
chính tâm, nhấp nháy đóng mở ở trong và ngoài sự hiện hữu, chuyển động theo một
hàng giống như những tấm hình của một bộ phim, tạo cho chúng ta một huyễn tưởng
về sự liên tục.
Giống như những hạt mầm ngoài thế giới tự nhiên, những hạt mầm
bên trong dòng tâm thức tiếp tục lớn lên sau khi được gieo, rồi chúng lớn lên,
như trong tự nhiên, theo thể cách cấp số mũ. Độ lớn của một dấu ấn tâm linh được
gieo vào ngày đầu tháng được gấp đôi bởi ngày thứ hai, rồi gấp bốn vào ngày thứ
ba - và đến ngày thứ năm của tháng thì gấp 16 lần sức mạnh ban đầu của nó.
Nguyên lý ở đây chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nếu bạn ngẫm
nghĩ một chút. Hãy xem trọng lượng hay khối lượng của một quả sồi, được đo bằng
gram, là tương phản với cây sồi được hình thành - tức là, một tấn của thân cây
trên mỗi gram hạt mầm. Trí tuệ cổ của Tây Tạng cho rằng những hạt mầm tâm thức
cũng vận hành tương tự như vậy, và điều này cũng có thể hiểu được nếu bạn xem
cái gì đó như là “khối lượng” của bộ máy hành chính Liên bang của Hoa Kỳ là
tương phản với cái ý niệm mơ hồ bé nhỏ về một chính phủ mới trong tâm trí những
nhà sáng lập ra đất nước này vào những năm 1705. Bạn có thể (1) Video Cassette
Recorder: Máy ghi hình ảnh âm thanh.
hình dung một đứa trẻ hiểu thế nào về ý nghĩa của tiền bạc và
bây giờ hãy thử hình dung sau 20 năm bạn phải bận bịu và khó khăn thế nào để kiếm
tiền.
Điều chúng ta đang bàn ở đây là một ý niệm mà người Tây Tạng
gọi là kenyen chenpo: khả năng lớn về thuận lợi, rủi ro lớn về mất mát, cả hai
đều trong một gói. Ngay cả trong những hành động rất nhỏ nhặt và bất cẩn của ta
đối với người khác cũng gieo mầm trong tâm ta. Vào lúc chúng nảy nở, sẽ trở
thành những kinh nghiệm to lớn. Thế thì những hạt mầm này nảy nở như thế nào?
Quy tắc vận hành ở đây là gì?
Tâm của chúng ta giống như một nhà kho rộng chứa hàng trăm
ngàn dấu ấn tâm linh. Chúng xếp hàng nối đuôi nhau để cất cánh như những chiếc
máy bay trên đường băng của phi trường. Những dấu ấn mạnh hơn - theo những
nguyên tắc mà chúng ta đã nói ở trên kia - thì cất cánh trước, trong khi những
dấu ấn yếu hơn thì thụt phía sau trên đường băng của tâm. Hễ chúng ta làm điều
gì nữa với người khác mà gieo một dấu ấn mạnh hơn một trong những dấu ấn đang
có thì những dấu ấn này sẽ di chuyển lên trên trong hàng, giống như một chiếc
máy bay mà đài kiểm soát gọi cất cánh trước các máy bay khác.
Khi chiếc máy bay dấu ấn cất cánh - tức là, khi cái ấn tượng
nằm sâu trong tâm tiến tới cái tâm thức - nó sẽ tô màu (còn hơn thế nữa, xác định)
toàn bộ nhận thức của chúng ta về bất cứ sự kiện nào mà chúng ta đang trải qua
trong lúc ấy. Một tập hợp bốn cái ống được nối với một dạng thùng lớn hơn xuất
hiện trước mặt bạn và một dấu ấn nổi lên trong tâm thức buộc bạn phải hiểu cái
dữ kiện mới này là một “người”.
Một hình ô-van màu hồng xuất hiện ở giữa một hình trứng ở
trên đỉnh một hình thùng. Bằng một chuỗi liên tục, một hình trụ đỏ bóng xuất hiện
trong hình ô-van và bắt đầu đi tới đi lui. Các mức độ decibel bắt đầu thay đổi
nhanh xung quanh hình trụ cùng với những âm tiết và nguyên âm trộn lẫn nhau
theo một cách nào đó. Đồng thời, một dấu ấn tiêu cực được gieo trong quá khứ khởi
lên trong cái tâm ý thức, đòi hỏi bạn phải hiểu dữ kiện mới này là “ông chủ
đang quát tôi”… Có bốn quy tắc khiến cho những dấu ấn từ quá khứ “nảy nở” trong
tâm, theo đó buộc bạn phải thấy sự việc xung quanh bạn xảy ra theo cách mà
chúng thực sự là:
(1) Nội dung tổng quát của kinh nghiệm được áp đặt nơi bạn phải
tương xứng với nội dung tổng quát của việc in dấu ấn ban đầu.
Tức là, một dấu ấn được gieo trong tâm bạn qua hành động tiêu
cực - bằng việc bạn đã khiến một người khác bị tổn thương - có thể chỉ bắt buộc
bạn nhận thức việc đó như là kinh nghiệm khó chịu do hành động ấy sinh ra. Và một
dấu ấn đươc gieo bởi một hành động tích cực - bằng cách giúp đỡ người khác - có
thể chỉ bắt buộc bạn nhận thức sự việc đó như là một kinh nghiệm thích thú do
hành động ấy sinh ra. Nói đơn giản, một hành động tiêu cực chỉ có thể đưa đến
những kết quả tiêu cực, một hành động tích cực sẽ đem đến những kết quả tích cực.
Những trái táo không bao giờ mọc ra từ những cây gai, những trái vả không bao
giờ có thể mọc ra từ những cây khế.
2. Sức mạnh của dấu ấn tiếp tục phát triển trong suốt thời
gian nó ở trong tiềm thức; tức là, cho đến khi nó nảy nở và buộc chúng ta phải
trải qua một số kinh nghiệm, dù là tốt đẹp hay xấu xa.
Chúng ta đã nói về hiện tượng này rồi. Điểm quan trọng là
ngay những hành động rất nhỏ và gần như không cố ý cũng có thể gây ra những nhận
thức to lớn trong tương lai.
3. Không có bất cứ điều gì xảy ra nếu cái dấu ấn gây nên
không được gieo từ trước.
Điểm quan trọng ở đây là mọi kinh nghiệm mà ta trải qua đều
có nguyên nhân từ những dấu ấn trước kia; không có gì xung quanh ta - không người
nào, sự việc nào hay sự kiện nào, không cả đến những ý nghĩ của ta nữa - xảy ra
mà không có nguyên nhân bởi một dấu ấn trong chính tâm ta xuất hiện ở nơi ý thức
của ta và làm ta nhận thức nó.
4. Khi một dấu ấn được gieo trong tâm, nó phải đưa đến một trải
nghiệm: không có dấu ấn nào bị xóa nhòa.
Quy tắc số bốn có vẻ như ngược với số ba; tức là, trong khi
quả thực là không có trải nghiệm mà không xuất phát một dấu ấn nào trước đó,
cũng quả thực rằng - một khi dấu ấn được gieo - nó phải đưa đến một trải nghiệm.
Những dấu ấn không bao giờ bị xóa bỏ; chúng luôn luôn có mặt, luôn luôn giúp
chúng ta nhận thức được một cái gì đó.
Cần nói thêm rằng quy tắc thứ hai là chỗ xuất phát của đoạn
trích từ kinh Năng đoạn kim cương trong phần mở đầu của chương này. Và trong
các điểm quan trọng của cuốn sách này, đây đặc biệt là điểm quan trọng nhất đối
với doanh nghiệp và sự thành công cá nhân.
5. Ngay cả một hành động nhỏ, nếu được thực hiện bằng một nhận
thức về cách các dấu ấn khiến chúng ta nhìn thế giới như thế nào, “trung tính”
hay “không”, sẽ đưa đến những thành quả to lớn.
Để minh họa chân lý trên, Đức Phật bảo với đệ tử Tu-bồ-đề của
Ngài rằng nếu đưa cho người nào đó kinh Năng đoạn kim cương và dù người ấy chỉ
hiểu mơ hồ về nội dung của kinh thì cũng tốt hơn là đem cho người ấy trọn một
hành tinh hay ngay cả một tỷ hành tinh được bao phủ toàn bằng châu báu. Sở dĩ
như thế là vì một người đi đến gần sự hiểu biết về những dấu ấn thì khiến chúng
ta nhìn thấy thế giới như thế nào rồi đi khắp nơi mà tạo ra, một cách có ý thức,
một cuộc sống toàn hảo và một thế giới toàn hảo. Chúng ta càng hiểu được quá
trình này thì những hạt mầm của những hành động, lời nói và ý nghĩ dù nhỏ nhặt
cũng được gieo vào tâm một cách hiệu quả, mạnh mẽ và những thành quả của chúng
trong việc rèn đúc thế giới quanh ta và dấu ấn trong ta càng mạnh mẽ hơn.
Tất cả những gì chúng ta phải làm bây giờ là nhận ra mục tiêu
mà chúng ta tìm kiếm, rồi sử dụng quy tắc số một để nhận ra những dấu ấn đặc biệt
có thể khiến chúng ta nhìn được các loại mục tiêu ấy. Chúng ta gọi những dấu ấn
này là “những mối tương quan”, nghĩa là bạn có thể đi ngược lại từ một kết quả
đặc biệt nào đó có tính chất khả quan để rồi nhận ra những dấu ấn đặc biệt có
thể khiến bạn nhìn thấy kết quả ấy.
Trong phần lớn các trường hợp, những dấu ấn đặc biệt trong
tâm mà bạn cần để tạo ra một kết quả đã định trong đời sống hay trong doanh
nghiệp của bạn thì hầu như là cái trái nghịch với những gì mà bản chất con người
mong muốn. Chẳng hạn, giả sử công ty của bạn đang cạnh tranh trong thương trường,
và tiền mặt đã trở thành một vấn đề. Bản năng tự nhiên của hầu hết mọi người
hay mọi công ty trong tình trạng này là cắt giảm. Việc trợ cấp của công ty là nạn
nhân của sự cắt giảm, tiếp đó là những ưu đãi cho các thành viên ban quản trị
như vé máy bay hạng nhất trong các chuyến công tác ngắn.
Kế đến các khoản nằm giữa thưởng và tiền lương, ví dụ như bảo
dưỡng xe cho nhân viên về trễ vì phải ở lại làm việc; là tiền thưởng nhân ngày
lễ, là các khoản lương tăng bị hớt bớt; việc tăng lương hoàn toàn chấm dứt; các
phúc lợi cũng bị cắt đứt. “Chúng tôi đã tìm được một kế hoạch HMO (1) còn tốt hơn
nữa” là tuyên bố của ban quản trị khi công ty gặp vấn đề có thể khiến cho những
nhân viên từng trải phải lo lắng, vì nó thường có nghĩa là sẽ có một số thủ đoạn
được áp dụng để cắt đi những phúc lợi đang có. Những mức độ cắt giảm này dần dần
cũng chạm tới tinh thần của xí nghiệp, từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất, gây
ra một sự thiếu hụt chung về nhân đức theo mọi ý nghĩa của từ này:
“Tiền mặt đang bị kẹt, cho nên sắp tới chúng tôi phải hoãn việc
tăng lương cho bạn trong vài tháng tới.”
“Tại sao tôi lại phải tiếp tục cái công việc này? Họ vẫn sẽ
không tăng lương cho tôi mà!”
(1) Health Maintenance Organization: Tổ chức Bảo trì sức khỏe -
một dạng bảo hiểm sức khỏe trả tiền trước bao gồm các quyền lợi chăm sóc sức khỏe
toàn diện tập trung vào giữ gìn sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật.
“Hãy hoãn việc tăng lương lần nữa, chẳng có ai tỏ thái độ gì
đâu!”
“Tại sao tôi phải cố gắng tiết kiệm tiền bạc của công ty khi
họ vẫn tiếp tục trì hoãn việc tăng lương?”
“Chúng tôi đã cắt giảm các chi phí đến tận xương, nhưng lưu
lượng tiền mặt vẫn có vẻ như trở nên tệ hơn.”
Do đó, cảnh giác với phản ứng tự nhiên của bạn đối với một vấn
đề là điều quan trọng: nó có thể chỉ kéo dài khó khăn mà thôi. Ở Tây Tạng, hiện
tượng này được gọi là korwa, hay một “hoàn cảnh rối rắm tự kéo dài”. Công ty bạn
đang khó khăn về tiền bạc cho nên bạn bắt đầu từ chối giúp đỡ những người đang
cần; và bạn bắt đầu nói đến những sự cắt giảm. Quan trọng hơn hết, suy nghĩ của
bạn chuyển từ sự sáng tạo, tính sáng tạo sang sự bảo vệ và phòng thủ.
Mỗi hành động này đều gieo những dấu ấn mới trong tâm bạn, những
dấu ấn tiêu cực. Mỗi khi bạn từ chối cho tiền bạc hay giúp đỡ những người nhờ cậy
bạn, bạn gieo một dấu ấn mà sau này chính bạn và doanh nghiệp của bạn bị chính
tiền bạc và sự giúp đỡ ấy từ chối. Hiện tượng này cứ tăng dần lên theo quy tắc
thứ hai của dấu ấn: sức mạnh của chúng lớn đến mức nào là do thời gian bao lâu
chúng ở lại trong tiềm thức. Thế rồi khi điều này gây nên vấn đề mới về tài
chính thì bạn sẽ phản ứng bằng thái độ bủn xỉn mạnh mẽ hơn, tạo ra một làn sóng
thứ ba. Hậu quả tích tập là cái đường xoắn ốc đi xuống mà người ta rất thường
thấy trong các công ty đang vật lộn với khó khăn.
Ngụ ý của tất cả những gì chúng ta vừa bàn đến ở đây là chúng
ta phải tránh những cắt giảm và lối suy nghĩ bủn xỉn như là một phản ứng đối với
những áp lực tài chính. Tuy nhiên, điều này cần phải được định tính rõ. Trên
kia, chúng ta đã nói có ba cách gieo một dấu ấn: bằng những hành động, lời nói
và ý nghĩ. Quan trọng hơn cả chính là dấu ấn thứ ba, tức là những dấu ấn thâm
sâu nhất là do thái độ tạo ra.
Điều chủ yếu như một phản ứng đối với những áp lực tài chính
(của công ty hay cá nhân), trên tất cả, người ta phải tránh một trạng thái tâm
bủn xỉn. Có thể thực tế không có sẵn tiền dành cho các khoản thưởng như trước
đây, và bạn có thể phải ngưng các bổng lộc vì ngay bây giờ không có tiền chi
cho các khoản ấy, nhưng điều quan trọng là không suy nghĩ gian dối, không đánh
mất tính sáng tạo, không đánh mất quan điểm hào phóng khi bạn gặp những khó
khăn tài chính.
Nếu bạn có tâm trạng gian dối, từ chối giúp đỡ người khác những
điều gì bạn thực sự có thể trong khả năng tài chính hiện nay của bạn thì bạn sẽ
tạo ra những dấu ấn mạnh mẽ sẽ ảnh hưởng thực sự đến việc bạn có thể hồi phục lại
được hay không.
Còn một điểm quan trọng nữa mà chúng tôi cần nêu ra ngay đây.
Chúng ta không ở trong cái hệ thống trí tuệ cổ để nói về một thái độ có thể tô
màu những nhận thức của bạn về tình hình tài chính của bạn. Đúng hơn là chúng
ta đang đặt ra một quá trình thực sự xác định cái thực tính xung quanh bạn.
Chúng ta không bàn về việc bạn cảm thấy như thế nào khi không thể thanh toán
các hóa đơn. Chúng ta đang nói về cách mà bạn cảm thấy để quyết định rằng bạn
có thể thanh toán các khoản tiền hay không. Tiền đề ở đây rất sâu sắc và chưa
được xác lập đúng đắn trong những hệ thống khác về việc vận hành một doanh nghiệp
như thế nào: Tiền bạc chính nó được tạo ra bằng cách duy trì một tâm trạng hào
phóng.
Hãy nhìn vào bất kỳ một tình huống thị trường nào.
Kim cương, nói thẳng ra, là hầu như chẳng có giá trị gì cả.
Những viên kim cương méo mó, nhỏ xíu, xấu xí, những mẫu “boart” nâu và đen hay
kim cương công nghiệp hợp thời trang, đóng một vai trò to lớn trong kinh tế thế
giới. Những đồ vật như các lốc xe hơi và những bộ phận quan trọng của một máy
bay dân dụng phải được chế tạo bằng thép carbon, cứng đến độ có thể gọt đẽo cả
thép với sự chính xác gần như tuyệt đối cho các thứ này vận hành. Tuy nhiên,
chính thép carbon cũng phải được đẽo gọt, và riêng kim cương là tác nhân gọt đẽo
tốt nhất.
Vì lý do này, kim cương thường được sánh ngang với uranium và
plutonium, một khoáng chất chiến lược, vô cùng cần thiết cho công nghiệp hiện đại.
Chính phủ Hoa Kỳ đã lưu trữ kim cương công nghiệp trong nhiều năm, phòng trường
hợp một cuộc chiến tranh hay một tai họa tương tự, có thể khiến đất nước này
không nhận được các nguồn cung cấp kim cương cần thiết mà vào thời điểm đó có
thể đang còn tập trung trong những lớp trầm tích dưới đáy sông chỉ được tìm thấy
tại một số ít các quốc gia châu Phi.
Suốt thời gian chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ cũng đã áp dụng các
biện pháp khiến các nguồn cung cấp kim cương cho các nước Đông Âu như Liên Xô bị
phá vỡ. Mỉa mai thay, điều này đã đẩy người Nga vào cuộc tìm kiếm kim cương
trên khắp đất nước của họ.
Các hố kim cương to lớn có hình củ cà-rốt, kích cỡ từ vài tấc
Anh đến hàng trăm thước lên tới mặt đất. Khi chúng ta tạo các hố để tìm quặng
kim cương, đào bới hàng trăm, hàng ngàn tấc Anh sâu dần xuống, hố thường hẹp lại
và trở nên khó khai thác. Các hố thực sự là những hình ống, nơi đây dung nham cổ
đã từ trung tâm trái đất trồi lên mà ra ngoài không khí, mang theo các viên kim
cương non. Những ống này đầy cả quặng màu lục nhạt được gọi là “kimberlite”; bạn
có thể phải đào ra cả tấn thứ này để tìm được số kim cương đặt vừa cục tẩy bút
chì, và do đó (trái với những gì người ta thường tin), việc sản xuất kim cương
quả là rất tốn kém.
Sự phân bố các hố kim cương khắp hành tinh là một trong những
bằng chứng chứng minh cho lý thuyết cho rằng, các lục địa của thế giới đã từng
gắn kết lại với nhau, và rằng các đại dương hiện nay chính là các khe hở hoặc vết
nứt được tạo nên khi các lục địa tách ra. Những hố điển hình, như nhiều người
biết, nằm tại Nam Phi. Chẳng hạn, ở đây - giữa một số cánh đồng do Công ty De
Beer Brothers làm chủ, vốn là của hai anh em nông dân nhà Beer nghèo khó - hố
De Beers nổi tiếng được phát hiện, cùng với mỏ Kimberley trên chính sở hữu đó
đã sản xuất ra hàng triệu ca-ra kim cương kể từ khi hai anh em đã bán mảnh đất
này với giá rẻ mạt vào năm 1870. Chính mỏ này đã cho các-ten (1) kim cương De
Beers nổi tiếng mượn tên của nó, đây là một tổ chức mạnh mẽ và phát triển liên
tục, kiểm soát nhiều doanh nghiệp kim cương thô quốc tế trong hơn một trăm năm
nay.
Một sự việc thú vị xảy ra suốt hai triệu năm, khoảng thời
gian để cái đụn hình nón được tạo ra bởi sự tuôn tràn của hố kim cương bị san bớt
cho đến khi ngang bằng với vùng đất xung quanh. Mưa, gió và hậu quả của hơi
nóng và băng giá dần dần làm mòn cái hình nón ấy. Kim cương thô tách ra khỏi
“đá xanh” hay quặng và bắt đầu đổ vào các ngòi nước, rồi vào suối và sông, chảy
xuống biển.
Kim cương là một trong những chất nặng nhất trong tất cả các
khoáng chất, ngang với cả vàng và vì chúng cứng hơn đá thông thường rất nhiều
nên có khuynh hướng đào cho chính chúng những hốc nhỏ trong nền đá dưới một con
sông. Một số những viên đá này thế nào cũng bị rơi và trôi ra biển. Chỉ có những
viên kim cương tinh ròng nhất - những viên không có những chỗ nứt hay vết rạn
dù là nhỏ bé nhất - mới còn sót lại qua cuộc hành trình suốt hàng nguyên đại
(aeons) địa chất. Có lẽ sự phát hiện kim cương nổi tiếng nhất là ở bờ Tây châu
Phi, nơi sông Orange đổ ra Đại Tây Dương.
Vì những viên đá từ các hố kim cương lăn xuống sông Orange và
ra tới biển, những dòng chảy đại dương qua nhiều thế kỷ đã đẩy trở lại những
viên đá này lên bờ, nơi đó những viên kim cương có chất lượng cao nhất đang nằm
rải rác giống như bắp rang vung vãi cho những nhà thám hiểm người Đức phát hiện
ra chúng vào năm 1908. Một trong những bức ảnh được ưa thích của tôi là bức ảnh
chụp những người đang bò qua bờ biển này, mà sau đó được gọi là “Sperregebei”
hay vùng cấm, chỉ để nhặt những viên pha lê lớn hoàn hảo.
(1) Cartel: Liên hiệp, hiệp hội các công ty.
Cũng có những vùng ở Brazil nơi các đáy sông có nhiều kim
cương, những nơi như lưu vực sông Jekitihonha gần Diamantina, một thị trấn nhỏ
kỳ lạ giống như Thụy Sĩ ở trong tiểu bang mới Minas Gersais. Nhưng không có hố
kim cương nào trong xứ này đã có thể xuất phát đá quý. Cũng như thế, một số
vùng đất bồi khác hay những trầm tích dưới sông ở phía Tây Ấn Độ, một đất nước
đã sản xuất những viên đá quý lớn đầu tiên có tính lịch sử - những kiệt tác như
viên Koh-i-noor và viên Orloff - rất lâu trước khi các trầm tích ở châu Phi được
phát hiện.
Hãy lấy bản đồ thế giới, nắm các mút đáy của Nam Mỹ và Ấn Độ,
rồi áp chúng trở lại vị trí xưa kia của chúng - sát vào hai bên của Nam Phi -
thì sẽ thấy rõ chỗ xuất phát của kim cương: những hố lớn trên mép đáy của châu
Phi bị mòn đi, đá quý tuôn vào các con sông của Brazil và của cao nguyên Deccan
ở Ấn Độ trước khi những lục địa tương ứng của chúng trôi dạt ra khỏi đất mẹ.
Trong nhiều mặt thì địa chất của vùng đất xung quanh các hố
kim cương lớn ở Nam Phi tương tự với vùng đất ở Siberi, và điều này đã được nhà
địa chất vĩ đại người Nga là Vladimir Sobolev lưu ý trong suốt những năm mà trò
ma mãnh của người Mỹ đã gây khó khăn cho Liên Xô trong việc nhận các nguồn cung
cấp kim cương ở châu Phi mà họ cần cho ngành công nghiệp. Dưới sự điều khiển của
Sobolev, nhiều nhóm các nhà địa chất được gửi đến vùng băng giá mênh mông của
lãnh xuyên Siberi để tìm những hố kim cương.
Rủi thay, vào lúc ấy có ít dụng cụ để định vị các hố kim
cương theo cách từ trên không hay theo các cách khác. Bạn hầu như phải đứng
trên đỉnh của một hố kim cương để bảo rằng có đất xanh ở đó, và thêm vào những
khó khăn của bạn là nó có thể nằm dưới sâu nhiều thước so với lớp đất cũ bình
thường vốn đã tích tụ ở đó qua nhiều thế kỷ. Truyền thuyết về doanh nghiệp kim
cương cho rằng một nhà nữ địa chất đã đi khắp các hoang mạc băng giá của Siberi
để tìm những hố kim cương ước mơ của Sobolev, điều kỳ diệu đã xảy ra vào một
hôm khi ra ngoài săn bắn để xem bà có thể tìm được thịt tươi nhằm tăng khẩu vị
cho các đồng chí của bà hay không. Bà nhìn thấy một chuyển động ở đằng xa - một
con chồn đỏ biến mất vào trong bụi cây. Bà nâng súng lên, nhìn thấy con chồn
trong ống ngắm của mình, và may sao bà đã không bóp cò, lông của con chồn bị bẩn
vì một đốm xanh, đúng là một màu của quặng trong một hố kim cương. Bà theo dấu vết
con chồn đến tận hang ổ của nó, dẫn xuống một cái hố mà sau này là một phát hiện
lớn đầu tiên về kim cương ở Nga! Mỏ Mir hay “Hòa bình”.
Hơn 40 năm sau, Nga đã trở thành một trong những lực lượng lớn
nhất trong thế giới kim cương, với những hố mới trải khắp vùng nội địa rộng lớn
của miền Bắc băng giá. Tại đây mọc lên những thành phố của những công dân mỏ, sống
trên giàn khoan được nâng cao lên khỏi tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu bởi một hệ
thống lớn gồm các cọc đóng sâu vào đất băng giá. Các máy điều hòa không khí phải
liên tục thổi khí lạnh vào khoảng trống ở giữa các thành phố này và vùng lãnh
nguyên ở bên dưới để tránh cho băng khỏi tan ra và cho thành phố không bị chìm
xuống lớp tuyết mềm của bùn đất gần như đóng băng.
Khi những viên đá Nga bắt đầu tuôn ra các thị trường kim
cương trên thế giới, điều này gây ra một làn sóng kinh hoàng trong thâm tâm những
nhà buôn kim cương khắp toàn cầu. Tôi đã học tiếng Nga tại Princeton và đã phụ
giúp vào một số nghiên cứu của những người thuộc Đơn vị Công nghiệp De Beers gần
London để cố bắt kịp những gì người Nga đã đạt được. Tôi đã tha thiết lưu tâm đến
tất cả những gì liên hệ đến kim cương mãi từ năm 1975, và muốn biết mọi điều về
doanh nghiệp; cho nên tôi tình nguyện dịch các bài về kim cương từ nhiều tạp
chí khoa học của Nga.
Chúng tôi rất lo lắng vì biết rằng người Nga đã biết được
cách sản xuất một viên kim cương toàn hảo trong phòng thí nghiệm; điều này trước
đây đã được các nhà khoa học tại Công ty General Electric ở Hoa Kỳ đi tiên
phong, sử dụng những pít-tông to lớn, kỳ lạ để giữ những mẫu grafit (than chì)
dưới áp lực cao trong những khoảng thời gian dài, đồng thời nung nóng hỗn hợp
này đến độ giống như những quá trình đang diễn ra sâu dưới lòng trái đất, như
những viên kim cương thực hình thành trong các hố nguyên thuỷ.
May thay, lượng điện cần thiết để giữ cho quá trình này diễn
tiến trong khoảng thời gian cần thiết để làm ra một viên kim cương thô một
ca-ra cũng ngang với lượng điện cần thiết để thắp sáng một thành phố nhỏ trong
nhiều giờ, tạo ra một viên đá theo cách này thì tốn kém hơn nhiều so với việc cố
gắng lấy nó ra khỏi một đống đất xanh nặng một tấn, cho nên trí tuệ thông thường
bảo rằng sẽ không bao giờ được lời khi chế tạo đá quý ở nhà. Doanh nghiệp kim
cương cần phải được an toàn khỏi nguy cơ của hàng giả toàn hảo: một viên kim
cương tổng hợp hay được chế tạo trong phòng thí nghiệm thì hoàn toàn tinh khiết
và xinh đẹp như đồ thật.
Tuy nhiên, có lẽ là người Nga đã hiểu được cách sản xuất kim
cương tổng hợp với giá rẻ - hình như đây là cách duy nhất để giải thích sự xuất
hiện bất ngờ của số lượng to lớn nguyên liệu từ Siberi, tạo ra một sự kiện quan
trọng về việc khai mỏ kim cương. Theo kỹ thuật mà chúng tôi biết đến, một số lượng
lớn cần được sử dụng để chế kim cương thô - để lấy chúng ra khỏi đất xanh được
thực hiện theo cách truyền thống là nghiền vỡ chúng thành đá theo một kích cỡ
nhất định bằng cách sử dụng những bánh răng cưa lớn (cũng nên nhớ, những bánh
xe này hầu như luôn luôn làm cho những viên kim cương thực sự to lớn và quý hiếm
bị vỡ thành những mảnh nhỏ).
Thế rồi quặng tốt được trộn với nước và được đổ vào một lượng
lớn chất đặc sệt, đi qua một mặt bàn rộng có phủ một lớp dầu nhão dày như mỡ
bôi trục. Ngoài ra, kim cương với cấu trúc nguyên tử hoàn hảo của chúng, có xu
hướng dính chặt vào bề mặt có bôi mỡ chứ không như bất cứ khoáng chất nào khác.
Hỗn hợp sền sệt của nước và quặng kim cương chạy lộn xộn qua chất mỡ này, những
viên kim cương sẽ dính lại và phần còn lại sẽ dạt ra một bên. Sau đó, mỡ bôi trục
sẽ được lấy ra khỏi bàn, được dồn vào một thùng lớn và được nung thành chất lỏng
để kim cương thô tích tụ ở dưới đáy.
Nhưng chúng tôi biết rằng không thể giữ và chứa lượng nước
này tại các vùng đất ở mép vùng Bắc Cực - đơn giản là nó sẽ đóng băng lại ngay
khi nó tiếp xúc với không khí bên ngoài. Những thông tin chi tiết về công nghiệp
kim cương ở Liên Xô vào thời ấy - kim cương đặc biệt cần thiết cho việc sản xuất
xe hơi, máy bay, tên lửa, xe tăng - được xem là một bí mật quốc gia, và người
nào tiết lộ các thông tin này sẽ chịu án tử hình.
Chúng tôi không có cách nào để biết được rằng liệu có những mỏ
thực trong hố tự nhiên dưới lớp băng vùng Siberi và rằng người Nga đã phát triển
một phương cách mới khéo léo để tách kim cương ra khỏi vỏ bọc. Bạn thấy đó, hầu
hết các viên kim cương đều tỏa ra một luồng ánh sáng yếu khi được các tia X chiếu
vào: chúng phát huỳnh quang mạnh đến nỗi chỉ cần ánh sáng mặt trời cũng khiến
chúng nổi bật (do đó gây ra cái huyền thoại về một viên kim cương “xanh trắng”).
Quặng đã nghiền vỡ được trải ra trên một cái bàn có đục nhiều lỗ nhỏ, mỗi lỗ đều
có một luồng không khí lạnh ở phía dưới. Các tia X đi qua quặng theo từng đợt
và các máy cảm ứng phát hiện những viên đá phát sáng. Tiếp theo là sử dụng một
trong những vòi phun khí, làm nảy viên đá vào gọn trong một cái thùng đặc biệt,
thùng này có một khay thủy tinh ở dưới đáy để thu gom kim cương. Dĩ nhiên có một
cái khóa rất tốt để giữ cái khay lại, và có một người bảo vệ ngồi gần đó để giữ
an toàn.
Không biết đến sự phát triển này, các nhà kim cương thạo tin
rất sợ rằng người Nga đã gây nên một sự bứt phá trong việc tạo ra những số lượng
lớn kim cương nhân tạo. Điều này, chúng tôi biết, rất có thể tạo ra của cải mà
trong ngành kim cương chúng tôi gọi là “phần dôi ra” (overhang).
Phần dôi ra là một biểu từ thường dùng để miêu tả tổng số kim
cương được đánh bóng đã được tích luỹ trên thế giới, đặc biệt là trong khoảng
60 năm vừa qua, khi tầng lớp trung lưu ở các nước phát triển có tiền cần mua một
chiếc nhẫn kim cương trong các dịp đính hôn. Khi phát hiện những hố kim cương mới,
có thể khai thác được ở khắp thế giới đảm bảo các nguồn cung cấp được gia tăng
cho kịp với sự phát triển của tầng lớp trung lưu này.
Hãy nghĩ về điều đó! Một khi kim cương đã được lấy ra từ đất
xanh và được chế tạo thành một viên đá lóng lánh với 58 mặt rực rỡ, vị trí của
nó trong phả hệ được đảm bảo. Không ai từ bỏ một viên kim cương, nó được truyền
từ thế hệ này sang thế hệ khác với tình yêu và sự chăm chút. Những viên đá quý
có thể được gắn vào những chiếc nhẫn hay dây chuyền đeo cổ khác nhau hay vào
các mẩu đồ trang sức khác khi thời trang thay đổi, và rồi được trao cho con gái
hay cháu gái. Là những vật cứng nhất trong vũ trụ, kim cương có khuynh hướng vẫn
tồn tại hầu như mãi mãi. Các nhà thông thái Tây Tạng nói đùa rằng một viên kim
cương là thứ đồ vật mà chẳng chóng thì chày sẽ luôn luôn phải ra đi để tìm một
người chủ mới, sau khi người chủ trước trở nên già và chết đi. Kim cương thì
mãi mãi - nhưng những người làm chủ nó thì không, hình như thế.
Kim cương trang sức thông thường (trái với anh em siêu nhân
dùng trong công nghiệp của chúng) không hề có giá trị thực sự nào cả. Chúng ta
phải thừa nhận rằng có nhiều chuỗi hạt thủy tinh cũng xinh đẹp như thế, hay có
thể còn hơn thế nữa, và kim cương sẽ luôn đắt giá chỉ khi nào ai đó sẵn sàng bỏ
tiền mua chúng vào một ngày đẹp trời nào đó. Giá trị của việc cất giữ một số lượng
lớn kim cương trong tay công chúng vào lúc này - điều mà chúng ta gọi là phần
dôi ra - chỉ là một nhận thức về sự tín nhiệm của người tiêu dùng về giá trị
trong tình trạng khan hiếm liên tục của kim cương.
Nếu người Nga đã phát triển một viên kim cương tổng hợp thực
sự không đắt tiền - một viên kim cương được chế tạo trong phòng thí nghiệm - điều
này có nghĩa là sự sụp đổ của phần dôi ra: một sự đổ dồn những viên kim cương
được tích luỹ trên thế giới vào thị trường từ các nhóm tư nhân vì họ hoảng sợ
và cố đổi chiếc nhẫn của bà nội để lấy ít nhất vài đôla trước khi kim cương trở
nên tầm thường như kẹo. Có thể đó là cơn ác mộng của nhà kinh doanh kim cương -
điều mà, may thay chưa bao giờ thành hiện thực.
Bây giờ chúng ta hãy trở lại vấn đề thị trường, một vấn đề thực
sự nhạy bén trong việc kinh doanh kim cương lẻ. Một công ty như Andin có thể
đưa ra hàng ngàn mẫu thiết kế đồ trang sức khác nhau vào bất cứ lúc nào. Mỗi mẫu
thiết kế đều có cách sắp xếp kim cương hơi khác nhau. Chẳng hạn, một viên kim
cương một ca-ra ở một bên và những hạt vụn đủ để rắc xung quanh cho món đồ đạt
đến giá trị hợp pháp tối thiểu đối với một món đồ hai ca-ra đã được hoàn thành.
Nay bạn không bao giờ biết đơn đặt hàng nào sẽ đến vào bất cứ
dịp đặc biệt nào từ một công ty như J.C Penney hay Macy, hai trong số những
khách hàng lớn của chúng tôi. Công ty nào đó như Penney có thể đột nhiên đặt một
ngàn vòng đeo tay vừa được miêu tả và yêu cầu phải được đưa vào kho trong vòng
khoảng 15 ngày. Những khách hàng đơn vị kim cương của công ty liền khởi đầu một
trò chơi bài Pô-cơ tế nhị. Một kiểu “chơi gà”, một trò chơi phổ biến ở thị trấn
quê tôi khi tôi còn là một đứa trẻ mười mấy tuổi. Hai đứa nhóc khùng điên ngồi
trên hai chiếc xe chạy hết tốc độ, thi nhau vượt lên cho đến khi một đứa “sởn
da gà” và bỏ cuộc.
Chúng tôi phải tạo cho thị trường cái ấn tượng rằng chúng tôi
chẳng cần đá quý chút nào hoặc không cần chúng lắm thì giá mới không nhảy vọt một
cách đột biến. Còn thị trường phải giữ lại các nguồn cung cấp cho đến khi nó chắc
chắn rằng chúng tôi đang hết sức cần và sẽ trả với giá cao nhất để lấy được
hàng hôm nay. Nếu một bên chờ khá lâu mặc dù trò chơi đã chấm dứt: kim cương sẽ
trở lại vô giá trị vì đơn đặt hàng đã được thực hiện, hoặc vì giá bán đã quá đắt
không thể mua được.
Ngày nay với tất cả các kiểu đồ trang sức khác nhau mà một
công ty kim cương phải chào hàng cho các khách hàng, nó hoàn toàn không thể dự
trữ nhiều kim cương mà bạn có thể cần vào bất cứ lúc nào. Ngày hôm qua, công ty
có thể không cần một viên đá lẻ thuộc những kích cỡ và chất lượng đặc biệt mà
cái vòng đeo tay đòi hỏi, giờ đây là một thông báo khẩn: chúng tôi cần khoảng
20.000 viên.
Số lượng này không bao giờ có sẵn tại bất cứ thị trường bán lẻ
nào trên thế giới. Chúng tôi sẽ phải thông báo cho người của chúng tôi trên khắp
địa cầu bắt đầu lặng lẽ thu nhập những túi hàng lớn, trước khi lộ rõ rằng chúng
tôi cần những viên kim cương đặc biệt này. Nếu như vậy thì “giá trị” sẽ nhảy vọt
lên - trong khi chúng tôi đã cam kết với công ty Penney một giá cố định đối với
món đồ trang sức này: không còn chỗ nào để tăng giá với họ.
Đấy là ví dụ rất xác thực về sức mạnh của năng lực tiềm tàng
và về những dấu ấn tâm linh. Tôi đã nhìn thấy nó cả ngàn lần và bạn có thể tin
rằng nó là xác thực. Một người ở New York tên là Kishan rất “nhạy cảm” về đơn đặt
hàng; ông có thể gọi một cuộc điện thoại tới một nhà buôn đặc biệt trong hàng
tá các nhà buôn với một văn phòng trong thành phố.
Một cách trùng hợp, văn phòng này vừa nhận được lô hàng lớn
những viên đá đặc biệt này từ chi nhánh HongKong. Thật ra, người chủ ở Antwerp
phải trả một khoản thanh toán lớn cho De Beers về lô nguyên liệu ở London vào
tuần tới. Và lô kim hoàn kia ở trên đường 47 vừa gọi bảo rằng lưu lượng tiền mặt
chi thu của họ đang bị kẹt vì họ chưa được hệ thống cửa hàng bách hóa nọ thanh
toán. Cho nên, thế nào bạn cũng có thể có những viên đá ấy vào chiều nay, 2.000
viên với một giá rất hời.
Một người mua khác trong thành phố khác, trên một lục địa khác
- ông bạn Dhiru ở Bombay của chúng tôi - cũng gọi những cuộc điện thoại. Không
có sẵn hàng hóa nào dễ dàng nhưng những túi nhỏ bắt đầu được đưa vào từ những
nhà kinh doanh xung quanh thị trấn trong vài giờ. Với nhiều nỗ lực và thương lượng
khó khăn, ông ta cũng mua đủ cho đơn đặt hàng. Văn phòng của ông ta tại New
York đã lỡ chi tiêu hầu hết lượng tiền mặt có sẵn cho món hàng dễ mua được thu
vào ở New York, và do đó ngoài việc phải nỗ lực nhiều hơn, ông ta sẽ phải chờ
lâu hơn để thanh toán.
Một người mua thứ ba, chẳng hạn Yoram ở Tel Aviv, khởi đầu bằng
vài cuộc gọi điện cho những nhà cung cấp thường xuyên của ông. Nhưng sự sai biệt
thời gian về mặt quốc tế có ý nghĩa là các văn phòng chi nhánh tại New York đã
thông báo cho đối tác ở Israel của họ rằng Andin là một công ty đứng đằng sau
đơn đặt hàng những viên đá đặc biệt này. Đột nhiên giá tăng lên, và ông ta càng
gọi thì càng tỏ ra cho các nhà buôn bán rằng ông ta cần hàng. Do đó mà gây ra một
sự nâng giá khác, vì họ có thể “ngửi” thấy ông ta đã nhận một đơn đặt hàng có
ngày giao gấp gáp. Sớm muộn thì ông ta cũng phải chịu thua và phải trả bất cứ
giá nào để lấy được hàng đúng hạn.
Do đó, người mua số ba sẽ chịu giá trễ và cao hơn so với đặt
hàng, ông ta sẽ bị trả tiền chậm và chúng ta cũng chẳng phải nêu nên điều gì sắp
xảy ra cho tiền thưởng hàng năm của ông ta. Công ty J.C. Penney gọi điện thoại
cho ông chủ, Ofer, khi ông này đang ở nhà vào cuối tuần để tìm hiểu tại sao
không có chiếc vòng tay nào chuyển đến kho sau chiến dịch quảng cáo đã thực hiện
trên khắp đường phố hai ngày rồi.
Câu hỏi quan trọng được nêu ra ở đây là: do đâu mà có sự khác
biệt trong ba thị trường vào một ngày nhất định nào đó? Tại sao văn phòng New
York lại thâu hàng quá dễ như vậy? Có phải là người mua đã khéo léo hơn không?
Có điều gì về chiến thuật mà ông ấy đã sử dụng? Có phải đó chỉ là sự may mắn
suông? Nguyên lý của tiềm năng và của dấu ấn tâm linh bảo rằng: dứt khoát không
phải như vậy.
Một thị trường cho một loại hàng hóa trong một thành phố nhất
định vào một ngày đặc biệt nào đó là một thí dụ khác nữa về một sự việc không tốt
cũng không xấu từ phía chính nó. Nếu không phải thế thì mọi người bán và người
mua trong thành phố vào ngày ấy sẽ cùng một lúc gặp thuận lợi hay khó khăn
trong việc lưu chuyển hàng hoá. Nhưng bạn biết đấy, sự việc không theo như vậy.
Một số nhà buôn sẽ bảo rằng đấy là một “ngày ok” (đây là cách nói lóng trong
doanh nghiệp kim cương trỏ cho một ngày tốt không thể tin được - không ai muốn
thú nhận với bất cứ người nào khác rằng họ đang thực sự làm tốt, nếu không thì
nội trong tuần mọi người trong thị trấn sẽ tăng giá hàng của họ đối với ông
ta). Một số nhà buôn bán sẽ nói rằng đấy là ngày tệ nhất trong năm, và họ nói
đúng.
Do đó, thị trường thì “trung tính” hay trong thuật ngữ Phật
giáo “không”. Nó không tốt cũng không xấu từ phía chính nó; nó chỉ hoặc tốt hoặc
xấu trong nhận thức của từng người buôn bán kim cương riêng biệt. Các thị trường
có tốt lành đối với chúng ta hay không - vào cuối ngày hay vào cuối sự nghiệp
kinh doanh lâu dài - điều ấy hầu như ngẫu nhiên. Tuy nhiên, sự thật là thị trường
có vẻ tốt lành, và do đó sẽ tốt lành đối với bất cứ nhà buôn bán nào có những dấn
ấn tâm thức đúng đắn xuất hiện trong cái tâm ý thức vào một lúc nhất định nào
đó.
Hai nhà buôn có thể đang tìm cùng một loại kim cương từ cùng
những công ty trong cùng một thị trường nhưng lại có những kết quả hoàn toàn
khác nhau. Đấy không phải là có hai giới hạn và hai thị trường đang diễn ra
trong cùng một thời gian, vào một ngày nhất định. Đấy là hai nhà buôn mỗi người
đang bị những dấu ấn có sẵn trong tâm họ buộc họ nhìn thấy thị trường theo hai
cách khác nhau. Một nhà buôn sẽ tìm được các đơn đặt hàng của mình, còn nhà
buôn kia thì không.
Điều này đưa chúng ta đến toàn bộ cái cốt lõi của cuốn sách
này: Chúng ta sử dụng cái sự việc này như thế nào để thành công trong đời sống
và trong doanh nghiệp? Câu trả lời rất rõ ràng. Chúng ta phải suy tìm cho được
cái dấu ấn nào là dấu ấn mà chúng ta có thể gieo trong tâm mình để sau này
chúng ta nhìn thấy thị trường theo cách chúng ta muốn: thuận lợi. Và điều này
chủ yếu tùy thuộc vào sự nắm giữ một số trạng thái của tâm, nắm giữ một số tiêu
chuẩn về cách ứng xử và biết cách nào để dùng cho được sức mạnh của cái mà
chúng ta gọi là một “hành động của sự thật”.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét