Năng đoạn kim cương 1
Suốt mười bảy năm từ 1981 đến 1998, tôi đã được hân hạnh làm
việc với Ofer và Aya Azrielant, hai vị sở hữu chủ của Tập đoàn kim cương quốc tế
Andin (Andin International Diamond Corporation) và với ban nhân sự cốt cán để
thành lập một trong những xí nghiệp kim cương và kim hoàn lớn nhất thế giới.
Doanh nghiệp khởi đầu với số tiền vay 50.000 Mỹ kim và chỉ với ba hay bốn nhân
viên, kể cả tôi nữa. Vào lúc tôi rời bỏ để dành hết thì giờ cho Học viện đào tạo
mà tôi sáng lập ở New York, doanh số bán của chúng tôi đã lên đến hơn 100 triệu
đô la Mỹ mỗi năm, với hơn năm trăm nhân viên tại các văn phòng ở khắp thế giới.
Suốt thời gian tôi làm doanh nghiệp Kim cương, tôi đã sống một
cuộc sống đôi. Bảy năm trước khi vào ngành kinh doanh, tôi đã tốt nghiệp đại học
Princeton với hạng danh dự và trước đó tôi đã vinh hạnh nhận được Huy chương Học
tập của Tổng thống do Tổng thống Hoa Kỳ tặng và phần thưởng học bổng Mc Connell
của Học viện Quốc tế vụ Woodrow Wilson của Princeton.
Một tài trợ của Học viện này đã cho phép tôi sang châu á để học
với các Lạt -ma Tây Tạng tại trú sở của Đức Đạt-lai Lạt-ma. Việc học hành của
tôi về trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng đã khởi đầu như thế và kết thúc vào năm
1995, khi tôi trở thành người Mỹ đầu tiên hoàn tất hai mươi năm học tập kiên
trì và hoàn tất các kỳ sát hạch cần thiết để nhận được văn bằng Geshe hay Thạc
sỹ Phật học. Tôi đã sống trong nhiều tu viện Phật giáo cả ở Hoa Kỳ lẫn châu á từ
khi tôi tốt nghiệp Princeton và vào năm 1983, đã phát nguyện của người tu sĩ Phật
giáo.
Khi tôi đã đạt được một căn bản vững chắc trong việc đào tạo
Tăng sĩ, vị thầy chính của tôi - Khen Rinpoche, hay “Quý Hòa thượng” khuyến
khích tôi vào lĩnh vực kinh doanh. Ngài bảo tôi rằng dù tu viện là một nơi lý
tưởng để học những tư tưởng lớn của Trí tuệ Phật giáo, một văn phòng nhộn nhịp
của Mỹ cũng có thể cung cấp một “phòng thí nghiệm” toàn hảo để thực sự trắc
nghiệm những lý tưởng này trong đời sống thực tế.
Mới đầu tôi không chấp thuận lời khuyên ấy, ngại phải rời bỏ
sự yên tĩnh của tu viện nhỏ của chúng tôi, và bối rối về hình ánh các nhà doanh
nghiệp Mỹ vẫn ám ảnh tâm trí tôi: tham lam, tàn nhẫn, phóng dật. Nhưng một hôm,
sau khi nghe được một buổi nói chuyện đầy cảm hứng của thầy tôi trước một số
sinh viên đại học, tôi nói với ngài rằng tôi thuận theo lời ngài dạy sẽ tìm kiếm
một công việc trong kinh doanh.
Vài năm trước, trong lúc thiền định hàng ngày tại tu viện,
tôi đã có một cái gì đó về sự thấy và từ lúc ấy tôi biết tôi sẽ chọn doanh nghiệp
nào để theo đuổi: chắc chắn tôi sẽ vào ngành kim cương. Tôi chẳng có kiến thức
nào về các thứ đá quý này và quả tình chẳng có dính dự gì đến ngành kim hoàn;
chẳng có ai trong gia đình tôi từng được vào ngành kinh doanh này. Cho nên, giống
như anh chàng Candide ngây ngô, tôi bắt đầu tham quan một cửa hàng kim cương
sau khi đã tham quan một cửa hàng khác, hỏi xem có ai chịu nhận tôi làm người tập
sự không.
Cố gắng vào việc kinh doanh kim cương theo cách này cũng gần
như toan tính gia nhập tổ chức Mafia: việc mua bán kim cương thô thuộc một hội
nhóm rất kín đáo và riêng biệt, thường chỉ giới hạn trong thành viên gia đình.
Vào thời ấy, những người Bỉ kiểm soát các kim cương cỡ lớn - những viên một
ca ra hay hơn nữa; những người Israel cắt hầu hết những viên đá nhỏ; và những
người Do Thái Hassid ở Quận Diamond của New York, đường Bốn mươi bảy nắm giữ phần
lớn việc mua bán sỉ trong nội địa Mỹ.
Cần nhớ rằng toàn bộ số lượng kim cương của những cơ sở lớn
nhất cũng chỉ có thể được chứa đựng trong một ít thùng chứa nhỏ y như những hộp
đựng giày thông thường. Và không có cách gì để phát hiện một vụ trộm kim cương
trị giá hàng triệu đô la: bạn chỉ cần bỏ vào túi một hay hai nắm kim cương rồi
bước ra cửa không có thứ gì như máy dò kim loại có thể phát hiện ra các viên đá
được. Cho nên hầu hết các xí nghiệp chỉ thuê con, cháu hay anh em họ chứ không
bao giờ thuê một anh chàng Ireland cù bơ cù bất ưa chơi với kim cương.
Tôi nhớ rằng tôi đã viếng chừng mười lăm cửa hàng để xin một
chỗ quèn, rồi đều bị đuổi ra tức khắc. Một ông cụ sửa đồng hồ trong một thị trấn
gần đó khuyên tôi nên theo một số khoá học về phân loại kim cương tại Học viện
Đá quý Mỹ tại New York, tôi sẽ có nhiều cơ may hơn để có việc làm nếu tôi có được
một văn bằng và nếu tôi gặp được ai đó trong lớp học có thể giúp đỡ tôi.
Chính tại Học viện này, tôi gặp ông Ofer Azrielant. Ông cũng
đang học một lớp về phân loại kim cương cao cấp, được gọi là đá “được xác nhận”
hay “được cấp chứng chỉ”. Việc phân biệt một viên kim cương “chứng chỉ” vô cùng
giá trị với một viên đá giả mạo hay đã được xử lý bao gồm trong khả năng phát
hiện ra được những lỗ li ti hay nhưng khuyết điểm khác, kích cỡ mũi kim, trong
khi hàng chục hạt bụi bám trên mặt viên kim cương hoặc trên chính kính hiển vi,
cứ nhiễu quanh và gây lẫn lộn lung tung. Cho nên cả hai chúng tôi đều ở đấy để
học làm sao cho khỏi bị rạch túi.
Geshe Michael Roach và Lama Christie McNally
Về tác giả
Geshe Michael Roach là một vị sư Phật giáo đã được thọ Đại giới
Tỷ - kheo, đã nhận được bằng geshe (Cao học Phật học) từ tu viện Tây Tạng Sera
Mey sau hai mươi năm tu học. Là một vị thầy môn Phật học từ năm 1981, ông còn
là một học giả về Phạn ngữ, Tạng ngữ và Nga ngữ, và đã có rất nhiều tác phẩm dịch.
Ông đã nhận bằng cử nhân tại Đại học Princeton và đã làm việc ở New York với tư
cách là Giám đốc một công ty kim cương lớn trong nhiều năm. Ông đã sáng lập và
điều hành Viện Cổ học châu Á (Asian Classics Institute) cũng như Dự án Nhập liệu
Cổ học châu Á (Asian Classics Input Project) và rất tích cực trong việc trùng
tu Tu viện Sera Mey.
Lama Christie McNally là giáo sư về tôn giáo và triết học, là một trong những nữ Lama đầu tiên của phương Tây, cô trở thành một diễn giả về tâm linh và kinh doanh toàn thế giới. Cô tốt nghiệp Đại học New York và cũng được học tập tại nhiều tu viện Tây Tạng, cô tham gia dịch thuật rất nhiều bản kinh cổ và cũng là tác giả của hàng loạt các cuốn sách được Nhà xuất bản Doubleday và những nhà xuất bản khác phát hành. Cuốn sách The Diamond Cutter (Karmic Management: What Goes Around Comes Around, in Your Business and Your Life) chính là câu chuyện bằng cách nào mà Lama Christie McNally sử dụng những nguyên tắc trong Năng đoạn kim cương để giúp thành lập Trường Đại học trên núi Kim Cương, một trong những Học viện giáo dục có chất lượng cao thành công nhất tại Mỹ.
Lama Christie McNally là giáo sư về tôn giáo và triết học, là một trong những nữ Lama đầu tiên của phương Tây, cô trở thành một diễn giả về tâm linh và kinh doanh toàn thế giới. Cô tốt nghiệp Đại học New York và cũng được học tập tại nhiều tu viện Tây Tạng, cô tham gia dịch thuật rất nhiều bản kinh cổ và cũng là tác giả của hàng loạt các cuốn sách được Nhà xuất bản Doubleday và những nhà xuất bản khác phát hành. Cuốn sách The Diamond Cutter (Karmic Management: What Goes Around Comes Around, in Your Business and Your Life) chính là câu chuyện bằng cách nào mà Lama Christie McNally sử dụng những nguyên tắc trong Năng đoạn kim cương để giúp thành lập Trường Đại học trên núi Kim Cương, một trong những Học viện giáo dục có chất lượng cao thành công nhất tại Mỹ.
Lời nói đầu Đức Phật và doanh nghiệp
Suốt 17 năm từ 1981 đến 1998, tôi đã được hân hạnh làm việc với
Ofer và Aya Azrielant, hai vị sở hữu chủ của Tập đoàn kim cương quốc tế Andin
(Andin International Diamond Corporation) và với ban nhân sự cốt cán để thành lập
một trong những xí nghiệp kim cương và kim hoàn lớn nhất thế giới. Doanh nghiệp
khởi đầu với số tiền vay 50.000 Mỹ kim và chỉ với ba hay bốn nhân viên, kể cả
tôi nữa. Vào lúc tôi rời bỏ để dành hết thì giờ cho Học viện đào tạo mà tôi
sáng lập ở New York, doanh số bán của chúng tôi đã lên đến hơn 100 triệu đô la
Mỹ mỗi năm, với hơn 500 nhân viên tại các văn phòng ở khắp thế giới.
Suốt thời gian tôi làm doanh nghiệp Kim cương, tôi đã sống một cuộc sống đôi. Bảy năm trước khi bước vào ngành kinh doanh, tôi đã tốt nghiệp Đại học Princeton với hạng danh dự và trước đó tôi đã vinh hạnh nhận được Huy chương Học tập do Tổng thống Hoa Kỳ tặng và phần thưởng học bổng Mc Connell của Học viện Quốc tế vụ Woodrow Wilson của Princeton.
Một tài trợ của Học viện này đã cho phép tôi sang châu Á để học với các Lạt ma Tây Tạng tại trụ sở của Đức Đạt lai Lạt ma. Việc học hành của tôi về trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng đã khởi đầu như thế và kết thúc vào năm 1995, khi tôi trở thành người Mỹ đầu tiên hoàn tất 20 năm học tập kiên trì và hoàn tất các kỳ sát hạch cần thiết để nhận được văn bằng Geshe hay Tiến sĩ Phật học. Tôi đã sống trong nhiều tu viện Phật giáo cả ở Hoa Kỳ lẫn châu Á từ khi tôi tốt nghiệp Princeton và vào năm 1983, đã phát nguyện của người tu sĩ Phật giáo.
Khi tôi đã đạt được một căn bản vững chắc trong việc đào tạo Tăng sĩ, vị thầy chính của tôi - Khen Rinpoche, hay “Quý Hoà thượng” - khuyến khích tôi vào lĩnh vực kinh doanh. Ngài bảo tôi rằng dù tu viện là một nơi lý tưởng để học những tư tưởng lớn của Trí tuệ Phật giáo, một văn phòng nhộn nhịp của Mỹ cũng có thể cung cấp một “phòng thí nghiệm” hoàn hảo để thực sự trắc nghiệm những lý tưởng này trong đời sống thực tế.
Mới đầu tôi không chấp thuận lời khuyên ấy, ngại phải rời bỏ sự yên tĩnh của tu viện nhỏ của chúng tôi, và hình ảnh các doanh nghiệp Mỹ hỗn loạn vẫn ám ảnh tâm trí tôi: tham lam, tàn nhẫn, phóng dật. Nhưng một hôm, sau khi nghe được một buổi nói chuyện đầy cảm hứng của thầy tôi trước một số sinh viên, tôi nói với ngài rằng tôi thuận theo lời ngài dạy, tôi sẽ tìm kiếm một công việc trong kinh doanh.
Vài năm trước, trong lúc thiền định hàng ngày tại tu viện, tôi đã có một cái gì đó về sự thấy và từ lúc ấy tôi biết tôi sẽ chọn doanh nghiệp nào để theo đuổi: chắc chắn tôi sẽ vào ngành kim cương. Tôi chẳng có kiến thức nào về các thứ đá quý này và quả tình chẳng có dính dáng gì đến ngành kim hoàn; chẳng có ai trong gia đình tôi từng được làm trong ngành kinh doanh này. Cho nên, giống như anh chàng Candide ngây ngô, tôi bắt đầu tham quan một cửa hàng kim cương, hỏi xem có ai chịu nhận tôi làm người tập sự không.
Cố gắng vào việc kinh doanh kim cương theo cách này cũng gần như toan tính gia nhập tổ chức Mafia: việc mua bán kim cương thô thuộc một hội nhóm rất kín đáo và riêng biệt, thường chỉ giới hạn trong thành viên gia đình. Vào thời ấy, những người Bỉ kiểm soát các kim cương cỡ lớn - những viên một ca ra hay hơn nữa; những người Israel cắt hầu hết những viên đá nhỏ; và những người Do Thái Hassid ở Quận Diamond của New York, đường 47 nắm giữ phần lớn việc mua bán sỉ trong nội địa Mỹ.
Cần nhớ rằng toàn bộ số lượng kim cương của những cơ sở lớn nhất cũng chỉ có thể được chứa đựng trong một ít thùng chứa nhỏ y như những hộp đựng giày thông thường. Và không có cách gì để phát hiện một vụ trộm kim cương trị giá hàng triệu đô la: bạn chỉ cần bỏ vào túi một hay hai nắm kim cương rồi bước ra cửa - không có thứ gì như máy dò kim loại có thể phát hiện ra các viên đá được. Cho nên hầu hết các xí nghiệp chỉ thuê con, cháu hay anh em họ chứ không bao giờ thuê một anh chàng Ireland cù bơ cù bất ưa chơi với kim cương.
Tôi nhớ rằng tôi đã ghé chừng 15 cửa hàng để xin một chỗ quèn, rồi đều bị đuổi ra tức khắc. Một ông cụ sửa đồng hồ trong một thị trấn gần đó khuyên tôi nên theo một số khóa học về phân loại kim cương tại Học viện Đá quý Mỹ tại New York; tôi sẽ có nhiều cơ may hơn để có việc làm nếu tôi có được một văn bằng và nếu tôi gặp được ai đó trong lớp học có thể giúp đỡ tôi.
Chính tại Học viện này, tôi gặp ông Ofer Azrielant. Ông cũng đang học một lớp về phân loại kim cương cao cấp, được gọi là đá “được xác nhận” hay “được cấp chứng chỉ”. Việc phân biệt một viên kim cương “chứng chỉ” vô cùng giá trị với một viên đá giả mạo hay đã được xử lý bao gồm trong khả năng phát hiện ra được những lỗ li ti hay những khuyết điểm khác, kích cỡ mũi kim, trong khi hàng chục hạt bụi bám trên mặt viên kim cương hoặc trên chính kính hiển vi, cứ nhiễu quanh và gây lẫn lộn lung tung. Cho nên cả hai chúng tôi đều ở đấy để học làm sao cho khỏi bị rạch túi.
Tôi bị ấn tượng ngay bởi những câu Ofer hỏi thầy giáo, bởi cách ông xem xét và chất vấn từng khái niệm được trình bày. Tôi quyết định thử nhờ ông giúp tôi tìm một việc làm hoặc chính ông mướn tôi làm việc, và do đó mà làm quen với công việc. Vài tuần sau, vào ngày tôi hoàn tất các bài sát hạch cuối khóa về phân loại kim cương tại các phòng thí nghiệm của GIA ở New York tôi bịa ra lý do để vào văn phòng của ông và xin ông một chỗ làm.
May mắn làm sao, đúng vào lúc ông ta đang mở một văn phòng chi nhánh tại Mỹ, trong khi ông ta đã lập được một xí nghiệp nhỏ ở Israel, quê hương của ông. Cho nên tôi bảo rằng tôi muốn làm việc ở văn phòng ông và xin ông dạy tôi về kinh doanh kim cương: “Tôi sẽ làm bất cứ thứ gì ông cần, hãy cho tôi thử thách. Tôi sẽ dọn dẹp văn phòng, lau cửa sổ, làm bất cứ điều gì ông sai bảo.”
Suốt thời gian tôi làm doanh nghiệp Kim cương, tôi đã sống một cuộc sống đôi. Bảy năm trước khi bước vào ngành kinh doanh, tôi đã tốt nghiệp Đại học Princeton với hạng danh dự và trước đó tôi đã vinh hạnh nhận được Huy chương Học tập do Tổng thống Hoa Kỳ tặng và phần thưởng học bổng Mc Connell của Học viện Quốc tế vụ Woodrow Wilson của Princeton.
Một tài trợ của Học viện này đã cho phép tôi sang châu Á để học với các Lạt ma Tây Tạng tại trụ sở của Đức Đạt lai Lạt ma. Việc học hành của tôi về trí tuệ cổ xưa của Tây Tạng đã khởi đầu như thế và kết thúc vào năm 1995, khi tôi trở thành người Mỹ đầu tiên hoàn tất 20 năm học tập kiên trì và hoàn tất các kỳ sát hạch cần thiết để nhận được văn bằng Geshe hay Tiến sĩ Phật học. Tôi đã sống trong nhiều tu viện Phật giáo cả ở Hoa Kỳ lẫn châu Á từ khi tôi tốt nghiệp Princeton và vào năm 1983, đã phát nguyện của người tu sĩ Phật giáo.
Khi tôi đã đạt được một căn bản vững chắc trong việc đào tạo Tăng sĩ, vị thầy chính của tôi - Khen Rinpoche, hay “Quý Hoà thượng” - khuyến khích tôi vào lĩnh vực kinh doanh. Ngài bảo tôi rằng dù tu viện là một nơi lý tưởng để học những tư tưởng lớn của Trí tuệ Phật giáo, một văn phòng nhộn nhịp của Mỹ cũng có thể cung cấp một “phòng thí nghiệm” hoàn hảo để thực sự trắc nghiệm những lý tưởng này trong đời sống thực tế.
Mới đầu tôi không chấp thuận lời khuyên ấy, ngại phải rời bỏ sự yên tĩnh của tu viện nhỏ của chúng tôi, và hình ảnh các doanh nghiệp Mỹ hỗn loạn vẫn ám ảnh tâm trí tôi: tham lam, tàn nhẫn, phóng dật. Nhưng một hôm, sau khi nghe được một buổi nói chuyện đầy cảm hứng của thầy tôi trước một số sinh viên, tôi nói với ngài rằng tôi thuận theo lời ngài dạy, tôi sẽ tìm kiếm một công việc trong kinh doanh.
Vài năm trước, trong lúc thiền định hàng ngày tại tu viện, tôi đã có một cái gì đó về sự thấy và từ lúc ấy tôi biết tôi sẽ chọn doanh nghiệp nào để theo đuổi: chắc chắn tôi sẽ vào ngành kim cương. Tôi chẳng có kiến thức nào về các thứ đá quý này và quả tình chẳng có dính dáng gì đến ngành kim hoàn; chẳng có ai trong gia đình tôi từng được làm trong ngành kinh doanh này. Cho nên, giống như anh chàng Candide ngây ngô, tôi bắt đầu tham quan một cửa hàng kim cương, hỏi xem có ai chịu nhận tôi làm người tập sự không.
Cố gắng vào việc kinh doanh kim cương theo cách này cũng gần như toan tính gia nhập tổ chức Mafia: việc mua bán kim cương thô thuộc một hội nhóm rất kín đáo và riêng biệt, thường chỉ giới hạn trong thành viên gia đình. Vào thời ấy, những người Bỉ kiểm soát các kim cương cỡ lớn - những viên một ca ra hay hơn nữa; những người Israel cắt hầu hết những viên đá nhỏ; và những người Do Thái Hassid ở Quận Diamond của New York, đường 47 nắm giữ phần lớn việc mua bán sỉ trong nội địa Mỹ.
Cần nhớ rằng toàn bộ số lượng kim cương của những cơ sở lớn nhất cũng chỉ có thể được chứa đựng trong một ít thùng chứa nhỏ y như những hộp đựng giày thông thường. Và không có cách gì để phát hiện một vụ trộm kim cương trị giá hàng triệu đô la: bạn chỉ cần bỏ vào túi một hay hai nắm kim cương rồi bước ra cửa - không có thứ gì như máy dò kim loại có thể phát hiện ra các viên đá được. Cho nên hầu hết các xí nghiệp chỉ thuê con, cháu hay anh em họ chứ không bao giờ thuê một anh chàng Ireland cù bơ cù bất ưa chơi với kim cương.
Tôi nhớ rằng tôi đã ghé chừng 15 cửa hàng để xin một chỗ quèn, rồi đều bị đuổi ra tức khắc. Một ông cụ sửa đồng hồ trong một thị trấn gần đó khuyên tôi nên theo một số khóa học về phân loại kim cương tại Học viện Đá quý Mỹ tại New York; tôi sẽ có nhiều cơ may hơn để có việc làm nếu tôi có được một văn bằng và nếu tôi gặp được ai đó trong lớp học có thể giúp đỡ tôi.
Chính tại Học viện này, tôi gặp ông Ofer Azrielant. Ông cũng đang học một lớp về phân loại kim cương cao cấp, được gọi là đá “được xác nhận” hay “được cấp chứng chỉ”. Việc phân biệt một viên kim cương “chứng chỉ” vô cùng giá trị với một viên đá giả mạo hay đã được xử lý bao gồm trong khả năng phát hiện ra được những lỗ li ti hay những khuyết điểm khác, kích cỡ mũi kim, trong khi hàng chục hạt bụi bám trên mặt viên kim cương hoặc trên chính kính hiển vi, cứ nhiễu quanh và gây lẫn lộn lung tung. Cho nên cả hai chúng tôi đều ở đấy để học làm sao cho khỏi bị rạch túi.
Tôi bị ấn tượng ngay bởi những câu Ofer hỏi thầy giáo, bởi cách ông xem xét và chất vấn từng khái niệm được trình bày. Tôi quyết định thử nhờ ông giúp tôi tìm một việc làm hoặc chính ông mướn tôi làm việc, và do đó mà làm quen với công việc. Vài tuần sau, vào ngày tôi hoàn tất các bài sát hạch cuối khóa về phân loại kim cương tại các phòng thí nghiệm của GIA ở New York tôi bịa ra lý do để vào văn phòng của ông và xin ông một chỗ làm.
May mắn làm sao, đúng vào lúc ông ta đang mở một văn phòng chi nhánh tại Mỹ, trong khi ông ta đã lập được một xí nghiệp nhỏ ở Israel, quê hương của ông. Cho nên tôi bảo rằng tôi muốn làm việc ở văn phòng ông và xin ông dạy tôi về kinh doanh kim cương: “Tôi sẽ làm bất cứ thứ gì ông cần, hãy cho tôi thử thách. Tôi sẽ dọn dẹp văn phòng, lau cửa sổ, làm bất cứ điều gì ông sai bảo.”
Và ông ta đáp: “Tôi không có tiền để mướn anh! Nhưng hãy yên
tâm, tôi sẽ nói với người chủ của văn phòng này - tên ông ta là Alex Rosenthal
- và chúng tôi sẽ tính xem ông ta và tôi có thể chia nhau trả lương cho anh được
không. Rồi thì anh sẽ lo các việc lặt vặt cho cả hai chúng tôi.”
Thế là tôi khởi sự với tư cách một anh giúp việc, thù lao bảy đô la một giờ, một người tốt nghiệp Princeton lê đôi chân suốt những mùa hè ẩm thấp và những cơn bão tuyết mùa đông của New York, lên tới quận Diamond, mang các túi vải bạt đựng đầy vàng và kim cương chờ được đúc và chế tạo thành nhẫn, vòng. Ofer, vợ ông là Aya, và một người thợ kim hoàn ít nói năng và rất giỏi người Yemen tên là Alex Gal sẽ ngồi quanh cái phòng việc lẻ được thuê, cùng với tôi phân loại kim cương theo từng hạng, phác họa những mẫu mới và đi chào hàng.
Tiền lương ít ỏi, lại thường được trả chậm trong khi Ofer có vay mượn thêm ở các bạn bè của ông ở London, nhưng ít lâu sau tôi cũng đủ sắm cho mình một bộ y phục của các nhà doanh nghiệp mà tôi vẫn mặc mỗi ngày trong suốt nhiều tháng. Chúng tôi thường làm việc đến quá nửa đêm và tôi phải đi bộ suốt một quãng dài về căn phòng nhỏ của tôi tại một tu viện nhỏ trong cộng đồng Phật giáo châu Á ở Howell, New Jersey. Ngủ được vài giờ, tôi lại phải thức dậy và đáp xe buýt đi Mahattan.
Sau khi việc kinh doanh của chúng tôi có khá hơn một chút, chúng tôi dời lên phố gần khu kim hoàn hơn và đánh bạo thuê một người thợ kim hoàn, người này ngồi một mình trong một gian phòng lớn là “xưởng” của chúng tôi, chế tạo các vòng, nhẫn kim cương đầu tiên của chúng tôi. Chẳng bao lâu tôi được tin cậy đủ để thực hiện mong ước của mình, để ngồi xuống với một gói kim cương lẻ và bắt đầu phân chúng thành từng hạng. Ofer và Aya hỏi xem tôi có chịu đảm trách một chi nhánh mua kim cương vừa mới được thành lập hay không (mà lúc ấy gồm tôi và một người khác nữa). Tôi phấn khích vì cơ hội này và bắt đầu dấn thân vào dự án.
Một quy định mà vị Lạt-ma Tây Tạng của tôi nêu ra cho tôi về việc đi làm trong một cơ sở doanh nghiệp bình thường là tôi giữ kín rằng tôi là một tu sĩ Phật giáo. Tôi phải để tóc dài như bình thường (thay vì phải cạo nhẵn) và mặc y phục bình thường. Bất cứ nguyên tắc Phật giáo nào mà tôi sử dụng trong công việc cũng phải được áp dụng một cách thầm lặng, không rêu rao kèn trống. Bên trong, tôi phải là một bậc hiền nhân Phật giáo và bên ngoài tôi phải là một doanh nhân Mỹ bình thường.
Và thế là tôi bắt đầu nỗ lực trông coi đơn vị này bằng những nguyên tắc Phật giáo mà không ai biết điều này. Lúc bắt đầu công việc, tôi đã thiết lập một thoả thuận với ông bà Azrielant: Tôi chịu trách nhiệm về điều hành mọi mặt của Đơn vị Kim cương và về việc tạo ra lợi nhuận lành mạnh về đá quý; đổi lại, tôi có toàn quyền về việc thâu nhận và sa thải nhân viên, trả phụ trội hay tăng lương về số giờ mà người của tôi đã làm việc, và người nào đảm nhận trách nhiệm nào. Tôi chỉ phải giao sản phẩm đúng thời hạn và có lợi nhuận khá.
Cuốn sách này là câu chuyện về tôi đã xây dựng đơn vị kim cương tại Andin International như thế nào khi sử dụng những nguyên tắc được thu thập từ trí tuệ xưa cổ của Phật giáo, từ cái không có gì thành một hoạt động khắp thế giới sinh nhiều triệu đô la mỗi năm. Tôi không làm như thế một mình, cũng không phải các quan điểm của tôi là những quan điểm độc nhất mà chúng tôi theo, nhưng tôi có thể nói rằng phần lớn những quyết định và chính sách trong đơn vị của chúng tôi trong suốt thời gian tôi giữ chức Phó Chủ tịch đều được chịu tác động bởi những nguyên tắc mà bạn sẽ tìm thấy trong cuốn sách này.
Nói tóm lại, những nguyên tắc này là gì? Chúng ta có thể chia chúng làm ba.
Nguyên tắc thứ nhất là việc kinh doanh phải thành công: tức là nó phải tạo ra tiền. Tại Mỹ và tại các nước phương Tây thì thành đạt là làm ra tiền, theo một cách nào đó thì đây là một sai lầm đối với những ai đang nỗ lực có một cuộc sống tâm linh. Trong Phật giáo, tiền bạc tự nó không phải là xấu; thực ra, một người có nhiều tiền bạc có thể làm được nhiều việc thiện trên đời này hơn là không có nó. Vấn đề chính là chúng ta làm ra tiền bằng cách nào chúng ta có hiểu được tiền phát sinh từ đâu không và làm sao để tiền tiếp tục đến và chúng ta có giữ được một thái độ lành mạnh về tiền hay không.
Vậy, toàn bộ vấn đề làm ra tiền một cách trong sạch và lương thiện, hiểu rõ tiền từ đâu ra để nó đừng dừng lại và giữ một quan điểm lành mạnh đối với nó trong khi ta có nó, chừng nào ta thực hiện được như thế thì sự làm ra tiền là hoàn toàn thích hợp với một lối sống tâm linh. Thực vậy, việc làm ra tiền trở thành một phần của lối sống tâm linh.
Nguyên tắc thứ hai là chúng ta nên hưởng thụ tiền bạc; tức là chúng ta cần phải học cách giữ cho tinh thần và thân thể của chúng ta được lành mạnh trong khi chúng ta làm ra tiền. Hoạt động tạo ra tài sản không được làm cho chúng ta quá mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần đến nỗi chúng ta không thể hưởng thụ được tài sản. Một doanh nhân tàn phá sức khỏe khi kinh doanh tức là làm tiêu tan mục đích thực sự của việc kinh doanh.
Nguyên tắc thứ ba là bạn phải quay nhìn lại sự nghiệp kinh doanh của bạn, cuối cùng và thành thật mà nói rằng bao năm làm kinh doanh của bạn đã có một ý nghĩa nào đó. Mục đích tối hậu của mọi sự kinh doanh mà chúng ta dấn thân vào, và thực ra là mục đích của đời chúng ta, mục đích của những ai từng làm kinh doanh là khi chúng ta nhìn lại tất cả những gì chúng ta đã đạt được - chúng ta cần phải thấy rằng chúng ta đã điều hành bản thân và điều hành doanh nghiệp theo một cách có ý nghĩa lâu dài, để lại dấu ấn tốt trong đời.
Tóm lại, mục đích của kinh doanh, hay của trí tuệ cổ Tây Tạng và thực ra là của mọi nỗ lực của con người, chính là làm cho chính chúng ta được phong phú - đạt được sự thịnh vượng, cả bên ngoài lẫn bên trong. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ sự thịnh vượng này nếu như chúng ta giữ được sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt. Trong suốt cuộc đời của mình, chúng ta phải tìm cách để làm cho sự thịnh vượng này có ý nghĩa theo một cách hiểu rộng hơn.
Đây là bài học về những gì mà chúng tôi đã thực hiện ở Đơn vị Kim Cương của Tập đoàn Andin International, và đây là một bài học mà bất cứ ai thuộc bất cứ tầng lớp nào hay tín ngưỡng nào, cũng có thể học và áp dụng được.
Thế là tôi khởi sự với tư cách một anh giúp việc, thù lao bảy đô la một giờ, một người tốt nghiệp Princeton lê đôi chân suốt những mùa hè ẩm thấp và những cơn bão tuyết mùa đông của New York, lên tới quận Diamond, mang các túi vải bạt đựng đầy vàng và kim cương chờ được đúc và chế tạo thành nhẫn, vòng. Ofer, vợ ông là Aya, và một người thợ kim hoàn ít nói năng và rất giỏi người Yemen tên là Alex Gal sẽ ngồi quanh cái phòng việc lẻ được thuê, cùng với tôi phân loại kim cương theo từng hạng, phác họa những mẫu mới và đi chào hàng.
Tiền lương ít ỏi, lại thường được trả chậm trong khi Ofer có vay mượn thêm ở các bạn bè của ông ở London, nhưng ít lâu sau tôi cũng đủ sắm cho mình một bộ y phục của các nhà doanh nghiệp mà tôi vẫn mặc mỗi ngày trong suốt nhiều tháng. Chúng tôi thường làm việc đến quá nửa đêm và tôi phải đi bộ suốt một quãng dài về căn phòng nhỏ của tôi tại một tu viện nhỏ trong cộng đồng Phật giáo châu Á ở Howell, New Jersey. Ngủ được vài giờ, tôi lại phải thức dậy và đáp xe buýt đi Mahattan.
Sau khi việc kinh doanh của chúng tôi có khá hơn một chút, chúng tôi dời lên phố gần khu kim hoàn hơn và đánh bạo thuê một người thợ kim hoàn, người này ngồi một mình trong một gian phòng lớn là “xưởng” của chúng tôi, chế tạo các vòng, nhẫn kim cương đầu tiên của chúng tôi. Chẳng bao lâu tôi được tin cậy đủ để thực hiện mong ước của mình, để ngồi xuống với một gói kim cương lẻ và bắt đầu phân chúng thành từng hạng. Ofer và Aya hỏi xem tôi có chịu đảm trách một chi nhánh mua kim cương vừa mới được thành lập hay không (mà lúc ấy gồm tôi và một người khác nữa). Tôi phấn khích vì cơ hội này và bắt đầu dấn thân vào dự án.
Một quy định mà vị Lạt-ma Tây Tạng của tôi nêu ra cho tôi về việc đi làm trong một cơ sở doanh nghiệp bình thường là tôi giữ kín rằng tôi là một tu sĩ Phật giáo. Tôi phải để tóc dài như bình thường (thay vì phải cạo nhẵn) và mặc y phục bình thường. Bất cứ nguyên tắc Phật giáo nào mà tôi sử dụng trong công việc cũng phải được áp dụng một cách thầm lặng, không rêu rao kèn trống. Bên trong, tôi phải là một bậc hiền nhân Phật giáo và bên ngoài tôi phải là một doanh nhân Mỹ bình thường.
Và thế là tôi bắt đầu nỗ lực trông coi đơn vị này bằng những nguyên tắc Phật giáo mà không ai biết điều này. Lúc bắt đầu công việc, tôi đã thiết lập một thoả thuận với ông bà Azrielant: Tôi chịu trách nhiệm về điều hành mọi mặt của Đơn vị Kim cương và về việc tạo ra lợi nhuận lành mạnh về đá quý; đổi lại, tôi có toàn quyền về việc thâu nhận và sa thải nhân viên, trả phụ trội hay tăng lương về số giờ mà người của tôi đã làm việc, và người nào đảm nhận trách nhiệm nào. Tôi chỉ phải giao sản phẩm đúng thời hạn và có lợi nhuận khá.
Cuốn sách này là câu chuyện về tôi đã xây dựng đơn vị kim cương tại Andin International như thế nào khi sử dụng những nguyên tắc được thu thập từ trí tuệ xưa cổ của Phật giáo, từ cái không có gì thành một hoạt động khắp thế giới sinh nhiều triệu đô la mỗi năm. Tôi không làm như thế một mình, cũng không phải các quan điểm của tôi là những quan điểm độc nhất mà chúng tôi theo, nhưng tôi có thể nói rằng phần lớn những quyết định và chính sách trong đơn vị của chúng tôi trong suốt thời gian tôi giữ chức Phó Chủ tịch đều được chịu tác động bởi những nguyên tắc mà bạn sẽ tìm thấy trong cuốn sách này.
Nói tóm lại, những nguyên tắc này là gì? Chúng ta có thể chia chúng làm ba.
Nguyên tắc thứ nhất là việc kinh doanh phải thành công: tức là nó phải tạo ra tiền. Tại Mỹ và tại các nước phương Tây thì thành đạt là làm ra tiền, theo một cách nào đó thì đây là một sai lầm đối với những ai đang nỗ lực có một cuộc sống tâm linh. Trong Phật giáo, tiền bạc tự nó không phải là xấu; thực ra, một người có nhiều tiền bạc có thể làm được nhiều việc thiện trên đời này hơn là không có nó. Vấn đề chính là chúng ta làm ra tiền bằng cách nào chúng ta có hiểu được tiền phát sinh từ đâu không và làm sao để tiền tiếp tục đến và chúng ta có giữ được một thái độ lành mạnh về tiền hay không.
Vậy, toàn bộ vấn đề làm ra tiền một cách trong sạch và lương thiện, hiểu rõ tiền từ đâu ra để nó đừng dừng lại và giữ một quan điểm lành mạnh đối với nó trong khi ta có nó, chừng nào ta thực hiện được như thế thì sự làm ra tiền là hoàn toàn thích hợp với một lối sống tâm linh. Thực vậy, việc làm ra tiền trở thành một phần của lối sống tâm linh.
Nguyên tắc thứ hai là chúng ta nên hưởng thụ tiền bạc; tức là chúng ta cần phải học cách giữ cho tinh thần và thân thể của chúng ta được lành mạnh trong khi chúng ta làm ra tiền. Hoạt động tạo ra tài sản không được làm cho chúng ta quá mệt mỏi cả thể xác lẫn tinh thần đến nỗi chúng ta không thể hưởng thụ được tài sản. Một doanh nhân tàn phá sức khỏe khi kinh doanh tức là làm tiêu tan mục đích thực sự của việc kinh doanh.
Nguyên tắc thứ ba là bạn phải quay nhìn lại sự nghiệp kinh doanh của bạn, cuối cùng và thành thật mà nói rằng bao năm làm kinh doanh của bạn đã có một ý nghĩa nào đó. Mục đích tối hậu của mọi sự kinh doanh mà chúng ta dấn thân vào, và thực ra là mục đích của đời chúng ta, mục đích của những ai từng làm kinh doanh là khi chúng ta nhìn lại tất cả những gì chúng ta đã đạt được - chúng ta cần phải thấy rằng chúng ta đã điều hành bản thân và điều hành doanh nghiệp theo một cách có ý nghĩa lâu dài, để lại dấu ấn tốt trong đời.
Tóm lại, mục đích của kinh doanh, hay của trí tuệ cổ Tây Tạng và thực ra là của mọi nỗ lực của con người, chính là làm cho chính chúng ta được phong phú - đạt được sự thịnh vượng, cả bên ngoài lẫn bên trong. Chúng ta chỉ có thể hưởng thụ sự thịnh vượng này nếu như chúng ta giữ được sức khoẻ thể chất và tinh thần tốt. Trong suốt cuộc đời của mình, chúng ta phải tìm cách để làm cho sự thịnh vượng này có ý nghĩa theo một cách hiểu rộng hơn.
Đây là bài học về những gì mà chúng tôi đã thực hiện ở Đơn vị Kim Cương của Tập đoàn Andin International, và đây là một bài học mà bất cứ ai thuộc bất cứ tầng lớp nào hay tín ngưỡng nào, cũng có thể học và áp dụng được.
Mục tiêu 1 Làm ra tiền
Trong cổ ngữ Ấn Độ, Năng đoạn kim cương được gọi là Arya
Vajra Chedaka Nama Prajnya Paramita Mahayana Sutra.
Theo Tạng ngữ, nó được gọi là Pakpa Sherab Kyi Proltu Chinpa
Dorje Chupa Shejawa Tekpa Chenpoy Do.
Theo Anh ngữ, nó được gọi là The Diamond Cutter, a High
Ancient Book from the Way of Compassion, a Book which teaches perfect Wisdom
(Năng đoạn kim cương (1), một quyển sách cổ cao quý từ con đường từ bi, một cuốn
sách dạy về Trí tuệ Toàn hảo).
Điều gì khiến quyển sách này khác với bất cứ quyển sách nói về doanh nghiệp nào mà bạn đã từng đọc? Đó là nguồn gốc của những gì mà chúng tôi phải nói ở đây: một quyển sách cổ của trí tuệ Phật giáo được gọi là Năng đoạn kim cương.
Điều gì khiến quyển sách này khác với bất cứ quyển sách nói về doanh nghiệp nào mà bạn đã từng đọc? Đó là nguồn gốc của những gì mà chúng tôi phải nói ở đây: một quyển sách cổ của trí tuệ Phật giáo được gọi là Năng đoạn kim cương.
(1) Ngài Huyền Trang dịch là Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La
Mật Đa Kinh - “Năng đoạn” nghĩa là “có thể chặt”. “Chedika” nghĩa là cắt, chặt,
đập vỡ. Tác giả dịch là The Diamond Cutter nghĩa là người hay dụng cụ dùng để
chặt kim cương (N.D).
Ẩn giấu trong Năng đoạn kim cương là trí tuệ cổ mà chúng tôi
áp dụng để giúp tạo Andin International thành một công ty có doanh thu hơn 100
triệu đôla mỗi năm. Chúng ta cũng nên biết đôi chút về cuốn sách quan trọng này
ngay từ khởi thủy để thấy được vai trò của nó trong suốt chiều dài lịch sử của
Đông bán cầu.
Năng đoạn kim cương là cuốn sách có niên đại xưa nhất thế giới,
được in ấn chứ không phải được viết ra bằng tay. Viện bảo tàng London hiện giữ
một bản đề năm 868 sớm hơn bản in cuốn Kinh thánh Gutenberg 600 năm.
Năng đoạn kim cương là bản ghi chép một giáo lý do Đức Phật dạy
cách đây hơn 2500 năm. Khởi đầu, nó được truyền giảng bằng miệng, và rồi khi ra
đời chữ viết - nó được ghi trên những ngọn lá bối dài. Trên thân lá bối bền
dai, người ta dùng kim để vạch chữ vào, rồi dùng bụi than chà lên các chỗ kim vạch
ấy. Các sách được làm theo cách này vẫn còn được tìm thấy ở Nam Á và vẫn rất dễ
đọc.
Những ngọn lá bối rời được giữ lại với nhau bằng một trong
hai cách. Đôi khi người ta dùi một lỗ xuyên chính giữa một chồng lá, rồi cho một
sợi dây xuyên qua để giữ các trang lại với nhau. Cách hai dùng vải bọc lại.
Năng đoạn kim cương nguyên gốc do Đức Phật giảng dạy thì bằng
Sanskit (Phạn ngữ), là ngôn ngữ cổ của Ấn Độ ra đời cách đây chừng 4.000 năm.
Khi quyển kinh này đến Tây Tạng (cách đây khoảng một ngàn năm), nó được dịch ra
Tạng ngữ. Qua nhiều thế kỷ, kinh này được khắc vào những phiến gỗ (mộc bản), và
được in lên băng giấy dài làm bằng tay bằng cách phủ mực lên phiến gỗ rồi ấn giấy
vào đó bằng một con lăn. Những băng giấy dài này được cất giữ trong vải bóng
màu vàng nghệ hay màu nâu sậm, trông giống như hồi kinh được lưu giữ bằng lá bối.
Năng đoạn kim cương cũng được phổ biến rộng rãi tới các nước
lớn của châu Á gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Mông Cổ. Suốt 25 thế kỷ
qua, nó đã được in lại không biết bao Laâm ra tiïìn nhiêu lần bằng các ngôn ngữ
của nước này và trí tuệ của nó được truyền thừa theo một dòng mạch vững bền từ
miệng của các vị thầy đến các học trò của thế hệ kế tiếp. Ở Mông Cổ, quyển kinh
quan trọng đến nỗi mỗi gia đình đều giữ một bản, cẩn thận đặt trên bàn thờ
trong nhà. Một hay hai lần mỗi năm, người ta mời các nhà sư ở địa phương đến
nhà và đọc lớn bản kinh cho cả gia đình nghe để được ban phát trí tuệ của kinh.
Thật không dễ gì đạt được trí tuệ trong giáo lý gốc của Năng
đoạn kim cương, cũng như rất nhiều giáo lý của Đức Phật, ẩn chứa dưới ngôn ngữ
rất bí ẩn mà chỉ có một vị thầy đang sống dùng những sớ giải lớn lao đã được viết
qua nhiều thế kỷ mới có thể phát hiện ra được. Bằng Tạng ngữ, chúng tôi có ba
trong những bộ sớ giải cổ ấy, có niên đại từ thế kỷ thứ tư đến thế kỷ thứ chín.
Quan trọng hơn, chúng tôi vừa xác định được một sớ luận khác
về quyển kinh, một bản sớ luận mới và dễ hiểu hơn nhiều. Trong 12 năm qua, tôi
cùng một nhóm đồng sự đã tham gia kế hoạch nhập liệu cổ thư châu Á (Asian
Classics Input Project) nhằm bảo tồn sách cổ của trí tuệ Tây Tạng. Trải qua
hàng ngàn năm, các sách này đã được giữ trong các tu viện và thư viện lớn của
Tây Tạng, được bức tường thiên nhiên vĩ đại là dãy núi Himalaya bảo vệ khỏi chiến
tranh và quân xâm lược. Điều này đã bị thay đổi trong hoàn cảnh mới.
Chúng tôi đã cố gắng sưu tập các sách Tây Tạng cổ và lưu trữ
những cuốn sách quý hiếm này vào các đĩa vi tính; thế rồi chúng được ghi lại
trên CD-ROM hay trên web và phát miễn phí cho hàng ngàn học giả trên khắp thế
giới. Cho đến nay, chúng tôi đã giữ lại được 150.000 trang của thủ bản mộc bản
theo cách này. Chúng tôi còn đi đến các nơi xa xôi của thế giới để tìm ra những
quyển sách, đây là sự việc chưa từng xảy ra bên ngoài Tây Tạng.
Sâu tận trong một tập đầy bụi bặm gồm những thủ bản tại St.
Petersburg, nước Nga, chúng tôi may mắn tìm được một bản sớ
giải tuyệt vời về Năng đoạn kim cương được các nhà thám hiểm đầu tiên tới Tây Tạng
và mang về Nga. Bản sớ luận này tên là Ánh mặt trời trên Con đường đi đến Giải
thoát (Sunlight on the Path to Freedom) của một vị Lạt-ma Tây Tạng tên là
Choney Drakpa Shedrup (1675-1784). Thật trùng hợp vị Lạt-ma này có gốc gác từ
tu viện Sera Mey ở Tây Tạng, nơi tôi đã hoàn tất việc học tập của mình. Biệt
danh của ngài, qua nhiều thế kỷ là “Choney Lama” hay “Lạt-ma ở Choney”, một
vùng đất ở phía đông Tây Tạng.
Xuyên suốt quyển sách này, chúng tôi sẽ sử dụng những lời lẽ
nguyên gốc của Năng đoạn kim cương, cùng với bản Ánh mặt trời trên Con đường đi
đến Giải thoát. Đây là lần đầu tiên sớ giải quan trọng này được dịch sang Anh
ngữ. Cùng với những trích dẫn từ hai tác phẩm lớn này, tôi cũng sẽ đưa vào những
giải thích đã được truyền khẩu suốt hai mươi lăm thế kỷ qua, như tôi đã tiếp
thu được từ các vị Lat-ma. Và cuối cùng chúng tôi sẽ thêm vào những sự kiện thực
tế từ cuộc sống của chính tôi trong giới doanh nghiệp kim cương quốc tế, để chứng
minh những bí mật của trí tuệ cổ xưa này có thể tạo thêm một thành tựu nào đó
cho sự nghiệp và cuộc đời bạn.
Chương 2: Ý nghĩa tựa đề sách
Tựa đề Năng đoạn kim cương tự nó chứa đựng một cấp độ cao của
trí tuệ cổ xưa, và trước khi thực sự đi sâu vào việc làm thế nào để đạt thành
công bằng trí tuệ này, chúng ta nên bàn về ý nghĩa của nó. Trước hết, chúng ta
nghe lời giải thích của chính Choney Lama về tựa đề rất dài này:
Nguyên bản ở đây khởi đầu bằng các từ “trong ngôn ngữ cổ của Ấn
Độ, giáo lý này được gọi là Arya Vajra…” Các từ tương đương với các từ Sanskrit
trong tựa đề là: Arya có nghĩa là “cao vời”, và Vajra nghĩa là “kim cương”.
Chedaka nghĩa là (người hay dụng cụ) “chặt”, trong khi Prajnya là “trí tuệ”,
Param nghĩa là “sang phía bên kia”, trong khi ita nghĩa là “được đưa đến”, hai
từ này ghép lại nghĩa là “sự hoàn hảo”, Nama nghĩa là “được gọi là”, Maha là “lớn”,
nhằm trỏ lòng “từ bi” và Yana nghĩa là “con đường” (hay thể cách), Sutra nghĩa
là “sách cổ” (kinh).
Từ quan trọng nhất ở đây, nhằm giải thích làm sao để thành
công trong doanh nghiệp và đời sống là “kim cương”. Theo cách hiểu của người
Tây Tạng xưa, kim cương biểu hiện một năng lực tiềm tàng trong tất cả các sự vật:
năng lực này thường trỏ đến sự “trống rỗng” (tính không). Một doanh nhân hiểu
biết trọn vẹn năng lực này sẽ nhờ đó mà hiểu được cái chính yếu để đạt thành
công cả về tiền tài lẫn con người. Chúng ta sẽ giải thích đầy đủ hơn trong
chương kế tiếp; bây giờ, chúng ta chỉ cần biết rằng cái tiềm năng trong mọi sự
vật thì giống như một viên kim cương có ba tính chất.
Kim cương tinh khiết, trước hết, là một loại vật chất được
xem như gần nhất với chất liệu vật lý tuyệt đối trong suốt. Hãy nghĩ đến một tấm
kính lớn, chẳng hạn loại mà ta dùng cho cửa kính trượt thông ra hành lang bên
ngoài. Được nhìn từ mặt trước, tấm kính hoàn toàn trong suốt - đến nỗi có những
người hàng xóm bất chợt đến thăm, ta cứ ngỡ như họ bước xuyên qua các tấm kính
và làm vỡ chúng. Tuy vậy, nếu được nhìn theo bề dày của tấm kính thì nó và hầu
hết các loại kính khác đều có màu lục đậm. Đó là do hậu quả tích tụ của những bụi
sắt bẩn li ti trải khắp kính, và điều này càng rõ ràng hơn khi nhìn qua một khối
kính dày.
Tuy nhiên kim cương thì khác. Trong ngành, chúng tôi xếp hạng
giá trị kim cương trước nhất bằng sự không màu của chúng - kim cương hoàn toàn
không có màu sắc thì hiếm và quý nhất. Một viên kim cương hoàn toàn không có
màu sắc được chúng tôi xếp là “D”, tự nó là một sai lầm có tính chất lịch sử.
Khi hệ thống hiện đại về xếp hạng kim cương được phát minh thì đã có nhiều hệ
thống khác đang cạnh tranh. Chữ “A” thường được dùng rộng rãi để chỉ một viên
kim cương thật đẹp hoặc không có màu sắc, và rồi đá loại hai được gọi là “B” và
cứ thế mà lùi theo bảng chữ cái.
Tiếc thay, ý niệm của mỗi công ty về “A” và “B”… biểu thị cái
gì thì lại khác nhau, và dĩ nhiên điều này gây ra nhiều vấn đề cho khách hàng.
“B” gần như không màu sắc của xí nghiệp này có thể là “B” có màu ngà ở các xí
nghiệp khác. Do đó, người thiết kế hệ thống mới quyết định khởi đầu lại từ khoảng
xa hơn ở bảng chữ cái - và ông ta gọi đá quý nhất hay trong suốt nhất là “D”.
Hãy nhìn xuyên qua một tấm kính làm bằng một khối kim cương
màu D (nếu như khối kim cương này có thật), hẳn là nó sẽ hoàn toàn trong suốt.
Hãy nhìn xuống chiều sâu của một tấm kính bằng kim cương màu D, hẳn là nó sẽ
trong suốt như thế. Đây là bản chất của những thứ hoàn toàn tinh khiết và trong
suốt. Nếu có một bức tường kim cương dày ngăn cách bạn và một người khác, và nếu
không có ánh sáng phản chiếu từ bề mặt của nó thì bạn sẽ hoàn toàn không thể
nhìn thấy kim cương.
Năng lực tiềm tàng để thành công được tìm thấy trong chất kim
cương cũng giống như tấm kính kim cương này. Nó ở ngay quanh ta vào mọi lúc, mọi
sự vật và mọi người. Và chính tiềm năng này, nếu được khai thác, sẽ đưa đến sự
thành đạt về cá nhân và việc kinh doanh. Cái trớ trêu của đời ta là dù tiềm
năng này thấm nhuần mọi người và mọi vật xung quanh ta, nó vẫn vô hình đối với
ta: đơn giản là chúng ta không trông thấy nó. Vậy, mục đích của Năng đoạn kim
cương là dạy cho ta làm sao để thấy được tiềm năng này.
Kim cương có tính chất thứ hai, là vật thể cứng nhất trong vũ
trụ. Không có thứ gì trên đời này có thể cắt được một viên kim cương, ngoại trừ
một viên kim cương khác. Theo một cách đo độ cứng, (được gọi là hệ thống
Knoop), kim cương cứng gấp ba lần loại đá thiên nhiên được xếp là cứng nhất sau
nó - hồng ngọc (ruby). Và những viên kim cương tự chúng chỉ có thể rạch được
các viên kim cương khác khi viên kim cương bị rạch có một chiều hướng “mềm”.
Đây chính là cách người ta cắt một viên kim cương. Dù một
viên kim cương không thể bị rạch, nó có thể bị “tách” hay bị “chẻ” theo một mặt
phẳng giống như một miếng gỗ bị chẻ bằng rìu. Để chặt một viên kim cương, ta
dùng những mảnh rời còn lại khi cắt một viên kim cương khác - hoặc ta dùng một
mảng đá kim cương thô không đủ tinh khiết để làm thành một đồ đá quý - rồi ta
chẻ và nghiền các mảnh này thành bột.
Bột kim cương này được đưa vào một loạt những cái rây lọc hay
lưới sắt một cách cẩn thận cho đến khi nó thật mịn, sau đó, nó được cất giữ
trong một chai thủy tinh nhỏ. Kế đến, người ta chuẩn bị một tấm sắt lớn và phẳng
bằng cách khắc rạch những đường hẹp suốt bề mặt cho đến khi tạo được một mạng
lưới gồm những lỗ thưa. Bấy giờ bánh xe được phủ bằng dầu tinh, thường là dầu
ô-liu, dù rằng mỗi người cắt có công thức bí mật riêng cho việc pha trộn.
Tấm sắt được gắn vào một thanh nối với một mô-tơ đặt trên một
cái bàn nặng được gia cố bằng những thanh đỡ bằng thép cứng. Việc này để tránh
mọi rung động khi bánh xe bắt đầu quay và quay hàng trăm vòng trong mỗi phút. Bấy
giờ, bột kim cương được rắc rải khắp trên dầu cho đến khi thành chất dẻo xám.
Kim cương thô trông chẳng hấp dẫn gì hơn một viên sỏi dính
bùn - một mẩu tinh thể trong suốt bị kẹt bên dưới một lớp bọc ngoài màu nâu xỉn
hay màu xanh ô-liu. Lớp bọc này, nếu phải một ngày xui xẻo, có thể xem như bạn
vất vả bứt hơi chỉ để khám phá rằng mẩu kim cương thô mà bạn đã trả giá cao ấy
hoàn toàn vô giá trị.
Viên sỏi này được gắn vào trong một cái chén nhỏ gọi là “đóp”
(dop) và cái đóp được gắn vào một cái cán trông giống như cánh tay gác trên một
máy quay đĩa cũ. Viên sỏi được gắn vào đóp bằng một loại keo đặc biệt để nó
không bị rơi ra khi viên kim cương nóng lên trong lúc cắt.
Khi lần đầu tiên tôi tập sự nghề với người cắt kim cương bậc
thầy tên là Sam Shmuelof, viên đá đã được gắn vào bằng một chất nhão làm bằng
asbestos và nước. Ngay khi viên đá nóng lên, chất asbestos khô đi và co cứng lại,
cặp chặt viên kim cương vào cái đóp. Chúng tôi tạo ra chất nhão này một cách thận
trọng đối với chất asbestos - vì ai cũng biết rằng chỉ một tí ti chất asbestos
cũng có thể gây ung thư, và tôi nhớ rằng một người thợ cắt đã mang một khối u lớn
gần cổ họng vì chất này.
Mô-tơ được mở, bánh xe khởi động và quay mà không có chút
rung động nào: việc sắp đặt bánh xe trong các máy cắt kim cương cũng phải mất
nhiều giờ. Rồi người thợ ngồi trên một chiếc ghế cao như ghế của em bé, và cúi
xuống bánh xe, người này cầm cái cán có viên đá thô và đưa nó chạm thật nhẹ vào
bánh xe đang quay.
Kim cương cứng hơn thép rất nhiều, cho nên nếu người thợ cắt ấn
quá mạnh viên đá thô vào cạnh sắc thì nó sẽ thực sự bắt đầu cắt xuyên vào bánh
xe. Bạn khéo léo lắc lư viên đá qua bánh xe, và rồi đưa cái cán lên mắt. Bàn
tay kia của bạn cầm một kính phóng đại của người thợ cắt, gọi là “kính lúp”. Một
người thợ cắt có kinh nghiệm sẽ nhấc viên đá lên tới mặt để kiểm tra quá trình
“cắt” (thực ra là mài) viên kim cương rồi áp viên đá vào bánh xe bằng một động
tác thuần thục nhiều lần trong một phút, trông giống như một hoạt náo viên huơ
gậy để khích lệ mọi người hoan hô vậy.
Khi bạn lật viên đá lên để kiểm tra, bạn lau sạch dầu và bột
kim cương tích tụ trên bề mặt của nó bằng một cái khăn. Trong một hay hai phút
nó đã mài được một đốm nhỏ ở viên kim cương, và đây sẽ là cái “cửa sổ” để vào
bên trong viên đá. Bạn dùng kính lúp nhìn kỹ vào cửa sổ này để xem có đốm hay vết
rạn nào bên trong không, vì bạn sẽ cố sắp đặt sao cho chúng bị mài sạch hoặc ít
ra cũng được đặt đầy khéo léo ở bề cạnh của viên kim cương, khi viên đá này được
hình thành. Chẳng hạn, một đốm đen ở đầu nhọn của viên kim cương sẽ bị phản chiếu
xuống các mặt đáy, làm xuất hiện trọn một gia đình đốm tại nơi mà thực ra chỉ
có một đốm - điều này làm cho viên đá quý gần như chẳng có giá trị gì.
Quá trình nhìn xuyên qua cửa sổ và cố tưởng tượng một cách
chính xác rằng phải tác động vào viên đá quý được hình thành như thế nào giống
như dự liệu về một phiến đá hoa để điêu khắc, lợi dụng tối đa các vùng có màu sắc
và vẻ đẹp. Việc chuẩn bị một viên đá lớn để cắt bao gồm việc trau chuốt một số
cửa sổ bên trong lớp bọc, rồi nghiên cứu viên đá trong nhiều tuần hay thậm chí
nhiều tháng, phác họa những hình mẫu hình học mà từ đó viên đá sẽ đạt kích cỡ tối
đa.
Những đốm đen nhỏ mà đôi khi bạn nhìn thấy bên trong một viên
kim cương hầu hết là những tinh thể kim cương nhỏ khác đã bị kẹt bên trong một
tinh thể lớn hơn theo cách nó phát triển. Kim cương là carbon (than) thường đã
bị chảy bởi sức nóng cao độ bên trong lòng đất, áp suất này biến đổi cấu trúc
nguyên tử của carbon thô thành cấu trúc nguyên tử của kim cương. Những viên kim
cương nhỏ thực ra có thể lớn lên trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, chẳng hạn,
hình thành vào một thời điểm va đập cụ thể khi một thiên thạch có carbon bên
trong đập vào trái đất, tạo thành một hố lớn có những viên đá quý nhỏ ở trung
tâm.
Những viên kim cương xinh xắn bé nhỏ “kèm với một viên kim
cương” có thể xuất hiện như là những đốm đen hoặc nếu chúng được xếp hàng theo
một cái trục riêng, chúng sẽ tạo thành một cái túi ẩn kín bên trong viên đá
thô. Dù hình thành theo cách nào, chúng cũng là một phiền phức lớn cho người cắt.
Chúng tạo ra những vùng hệ trọng bên trong viên đá. Khi viên đá áp vào bánh xe
và người cắt bắt đầu theo lập trình mà tạo dáng các cạnh hoặc các mặt của viên
đá quý thì viên kim cương có vẻ như chống lại việc này.
Dù có dầu, viên đá vẫn bắt đầu kêu rít lên khi chạm vào thép
nên tạo một âm thanh ghê rợn. Các cửa hàng cắt kim cương ở đường 47 quận
Diamond (Kim Cương) ở New York hầu hết là ảm đạm, u ám, những căn phòng tầng
trên của các cao ốc đang chuyển các viên kim cương giá trị nhiều tỷ đôla vào
Hoa Kỳ và ra các hãng kim hoàn. Hãy tưởng tượng hàng hàng lớp lớp thợ cắt, mỗi
người đều cúi mình xuống bánh xe cắt, ấn các bề phẳng của viên kim cương vào
bánh xe thép, mỗi viên đá đều rít lên như bộ phanh rỉ. Chính giữa vòng xoáy của
tiếng ồn này, những người thợ cắt ngồi quen với sự hỗn độn, mắt bình thản, đang
tập trung cao độ.
Ma sát giữa viên đá và bánh xe tạo nên quá nhiều sức nóng đến
nỗi viên kim cương thô bỗng trở nên rực sắc huỳnh quang có thể gây cho bạn một
vết bỏng kinh khủng hơn bất cứ loại than hồng nào. Khi hơi nóng tác động vào
cái túi trọng điểm kia, vây bọc phần bên trong, nên toàn bộ viên đá có thể nổ,
đập mạnh vào bánh xe với tốc độ cao, bắn tung tóe những mảnh nhỏ khắp phòng. Nếu
đó là một viên đá lớn thì bạn có thể đoán được là nhiều trăm ngàn đôla bị tiêu
tan thành những mảnh cát kim cương.
Tại sao kim cương là vật chất cứng nhất? Hãy nghĩ về ý niệm rằng
một vật gì đó là nhất: cao nhất, ngắn nhất, dài nhất, lớn nhất. Trí óc con người
đấu tranh với khái niệm, vì thật ra chẳng có cái gì quá cao đến nỗi bạn không thể
thêm vài phân nữa; chẳng có cái gì quá ngắn đến nỗi bạn không thể xén bớt một
chút.
Tiềm năng mà chúng ta nói tới là một cái gì thực sự tuyệt đối
đến độ không một vật thể vật lý nào có thể như thế.
Đấy là bản chất cao nhất mà một sự vật có thể có, hoàn toàn
có ở một con người hay một sự vật. Độ cứng của kim cương tự bản chất là gần với
tuyệt đối nhất so với bất cứ vật nào trong vũ trụ, đó là thứ cứng nhất. Và do
đó, kim cương có ý nghĩa thứ hai - một ẩn dụ cho một cái gì thực sự tuyệt đối.
Bây giờ, chúng ta hãy quay trở lại với những mảnh kim cương
li ti vung vãi khắp nền nhà của xưởng cắt sau khi một viên đá đập vào bánh xe vỡ
tung ra. Những mảnh này khiến ta nhớ đến tính chất quan trọng thứ ba của kim
cương. Mỗi viên kim cương thì hết sức đơn giản về mặt cấu tạo nguyên tử: carbon
tinh ròng không pha trộn. Carbon trong ruột bút chì và carbon trong một viên
kim cương quả đúng là cùng một chất. Những nguyên tử carbon trong ruột bút chì
nối kết với nhau theo từng phiến và liên kết với nhau một cách lỏng lẻo, giống
như những tấm đá phiến sét hay những lớp bột của bánh pasty. Khi bạn vạch đầu
bút chì trên một tờ giấy, các lớp này tách rời, trải trên bề mặt tờ giấy, bạn gọi
đấy là viết bằng bút chì. Những nguyên tử của carbon tinh ròng trong một viên
kim cương nối kết với nhau theo một cách hoàn toàn khác hẳn bằng một sự đối xứng
toàn hảo theo mọi hướng, không thể có bất kỳ một nguyên tử nào lơi lỏng được,
điều này làm cho một viên kim cương thành một vật cứng nhất như ta đã biết. Điều
thú vị là mọi viên kim cương đều được tạo thành từ carbon, được nối kết với
nhau theo cùng một cấu trúc nguyên tử. Nó cũng có nghĩa rằng, mọi mảnh vụn của
kim cương ở dạng phân tử giống bất cứ một mảnh kim cương nào xét về nội tại.
Điều này có liên hệ gì với năng lực tiềm tàng trong các sự vật?
Trước đây, chúng ta bảo rằng mỗi hiện thể trong vũ trụ - vô tri như sỏi đá,
hành tinh và hữu tri như con kiến, người - đều có tiềm năng riêng, bản chất tối
hậu riêng của hiện thể ấy. Điểm chính ở đây là mỗi một mẫu hình này của tiềm
năng, mỗi trường hợp đơn lẻ của bản tính tối hậu đều y hệt như mỗi cái kia.
Trong ý nghĩa này nữa, năng lực tiềm tàng của các sự vật - tính chất duy nhất
trong các sự vật có thể mang lại cho bạn cả thành công bên trong lẫn bên ngoài
- cũng giống như một viên kim cương.
Đây là lý do tại sao tựa đề của cuốn sách này lại có từ “kim
cương”. Kim cương thì hoàn toàn trong suốt, hầu như không nhìn thấy được, và tiềm
năng của mọi sự vật xung quanh chúng ta cũng vậy, rất khó nhìn thấy. Kim cương
rất gần với một thứ gì đó tuyệt đối - một vật cứng rắn nhất - và tiềm năng
trong các sự vật là sự thật tinh ròng và tuyệt đối. Mỗi mảnh vụn kim cương có
đâu đó trong vũ trụ có cùng một chất liệu như mọi mảnh vụn khác - kim cương
tinh ròng 100% - và tiềm năng của các sự vật cũng như thế, tức là mỗi trường hợp
tiềm năng cũng tinh ròng, cũng là một thực tính tuyệt đối như mọi trường hợp
khác.
Và tại sao người ta gọi cuốn kinh là Năng đoạn kim cương? Một
số dịch giả khi dịch cuốn kinh sang Anh ngữ đã bỏ đi phần tựa đề kinh mà không
hiểu rằng, phần này hết sức quan trọng đối với ý nghĩa của cuốn sách.
Ở đây, chúng tôi phải nêu lên, rất ngắn gọn, rằng có hai cách
để thấy được tiềm năng trong các sự vật, bản chất tối hậu của chúng. Một cách
là “thấy” bản chất này bằng cách đọc những giải thích về nó như cách được tìm
thấy trong cuốn sách này, thế rồi ngồi thư giãn và suy nghĩ kỹ về những lời giải
thích cho đến khi bạn hiểu được tiềm năng ấy và sử dụng nó. Cách thứ hai là nhập
vào một trạng thái thiền định thâm sâu, và lần này thì “thấy” trực tiếp trong
con mắt của tâm.
Thấy tiềm năng theo cách thứ hai thì mạnh mẽ hơn nhiều, dù
không phải ai cũng hiểu và áp dụng thành công tiềm năng ấy.
Ai đã nhìn thấy tiềm năng này bằng cách trực tiếp thì ngay
sau đó, hiểu được rằng mình đã nhìn thấy một cái gì đó là tối hậu. Họ tìm trong
tâm mình điều mà họ có thể so sánh với tiềm năng này. Sự vật trong thế giới
bình thường của chúng ta gần nhất với tiềm năng tối hậu này, sự vật bình thường
gần nhất với sự trở thành cái gì đó một cách tối hậu, chính là kim cương - sự vật
vốn cứng rắn nhất ấy.
Dù rằng trong cuộc sống bình thường, kim cương là vật gần nhất
với cái gì đó tối hậu, nó cũng không thể nào so sánh được với tiềm năng mà ta
đã nói đến và sẽ miêu tả đầy đủ hơn trong các chương sau, vì tiềm năng này là một
cái gì đó thực sự tối hậu. Trong ý nghĩa này thì kim cương là một ẩn dụ hoàn
toàn không thích hợp và do đó nó bị “chặt” hay bị vượt qua nhờ năng lực của điều
thực sự là tối hậu. Và đây là lý do tại sao cuốn kinh của trí tuệ này được gọi
là Năng đoạn kim cương. Nó dạy về một năng lực còn tối hậu hơn cả kim cương, vật
cứng rắn nhất, vật gần nhất với cái tối hậu, trong thế giới bình thường xung
quanh ta.
Nếu tất cả điều này nghe ra có vẻ khó hiểu thì bạn cũng đừng
lo. Mục đích thực sự của Năng đoạn kim cương là giúp chúng ta. Bí mật của cách thức
vận hành thực sự của các sự vật, bí mật để đạt thành công thực sự và lâu dài
trong đời sống hàng ngày và trong những nỗ lực kinh doanh của chúng ta, là một
cái gì đó sâu xa, nếu không nỗ lực thì không dễ gì thấy được. Nhưng chắc chắn
nó xứng đáng để bạn nỗ lực.
Chương 3: Nguồn gốc kinh Năng đoạn kim cương
Chúng ta sắp thực hiện một cuộc hành trình quan trọng vào một
lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, những ý niệm về việc kinh doanh và sắp xếp cuộc sống
của bạn mà các cuốn sách khác chưa hề miêu tả. Thiết nghĩ cũng là có ích nếu được
nghe một điều gì đó liên quan đến địa điểm và thời gian mà trí tuệ này đã được
truyền đạt.
Để bắt đầu, chúng ta hãy quay trở lại chính kinh Năng đoạn
kim cương. Vào khoảng hơn hai ngàn năm trước, tại Ấn Độ cổ, một vị hoàng tử tên
là Tất đạt đa (Siddharta) được cả nước thương yêu giống như Chúa Jesus xuất hiện
năm thế kỷ sau đó. Ngài lớn lên trong sự giàu sang và xa hoa của một cung điện,
nhưng sau khi thấy người ta khổ đau mất mát - Ngài đã từ bỏ cung điện với mong
cầu độc nhất là tìm ra nguyên nhân khiến chúng ta khổ đau và làm sao để chấm dứt
khổ đau.
Thế rồi, Ngài đã đạt được sự thể nghiệm tối hậu về những điều
ấy và bắt đầu dạy cho nhân dân con đường của Ngài. Nhiều người trong số họ đã từ
bỏ nhà cửa để theo Ngài, chấp nhận sống đời sống của một tu sĩ giản dị, thoát
khỏi những sở hữu, suy nghĩ trong sáng vì tâm họ đã thoát khỏi gánh nặng phải
nhớ đến mọi thứ, mọi người.
Nhiều năm sau, một đệ tử của Ngài kể lại kinh Năng đoạn kim
cương đã được thuyết giảng đầu tiên như thế nào. Vị ấy gọi thầy mình - Đức Phật
là “Thế tôn” (1).
Thế tôn đang trú tại Xá vệ (Shravasti), trong khuôn viên của
Cấp Cô Độc (Anata Pindika) tại khu vườn của Thái tử Kỳ đà (Jetavan). Hội kiến với
Ngài là một hội chúng lớn gồm 1.250 Tỳ-kheo (đệ tử hàng đầu) cũng như đông đảo
đệ tử trên đường từ bi - và chư vị cũng đều là những thánh giả cao trọng.
“Một lần, tôi nghe Đức Phật nói những lời này” là một khởi đầu
thông thường của một cuốn kinh, vì nhiều kinh được chép ra khá lâu sau khi Đức
Phật nhập diệt. Người thời ấy rất giỏi nhớ ngay tại chỗ những giáo huấn của một
vị đại sư.
Từ “một lần” ở đây hàm chứa ý nghĩa. Trước hết, nó trỏ mức độ
cao vời của trí tuệ mà người bình thường của Ấn Độ cổ có được - đó là sự việc họ
có thể học thuộc lòng đúng y như một điều gì đó được nói ra và hiểu được những
ý nghĩa sâu xa nhất của nó. Kế nữa, từ này còn có ý nghĩa rằng kinh Năng đoạn
kim cương được giảng dạy chỉ một lần mà thôi, nghĩa là trí tuệ mà kinh hàm chứa
- kiến thức về những gì làm cho sự vật đúng như sự vật là điều rất hiếm hoi và
quý giá trên đời này.
(1) Nguyên tác Anh ngữ là “the Conqueror”, “người Chinh phục”,
chúng tôi chuyển dịch thành “Thế tôn” cho quen thuộc với Phật tử Việt Nam
(N.D).
Choney Lama, trong sớ giải kinh Năng đoạn kim cương của Ngài,
đã cho chúng ta thêm một số thông tin cơ bản về cách thức và nguồn gốc ra đời
giáo lý lớn lao này. Phần in nghiêng ở đây cho thấy những nơi mà ngài đã đưa lời
của chính kinh Năng Đoạn Kim Cương vào.
Trước hết, Ngài bảo rằng Ngài nghe Đức Phật thuyết giảng. Một
lần, nghĩa là vào một lúc nào đó, Thế tôn trú tại Xá-vệ, trong khuôn viên của Cấp
Cô Độc tại khu vườn của Thái tử Kỳ-đà. Hội kiến với Ngài - tức cùng với Ngài là
một hội chúng lớn gồm 1.250 đệ tử hàng đầu, cũng như đông đảo đệ tử trên đường
từ bi - và chư vị cũng đều là những Thánh giả cao trọng.
Bấy giờ, tại Ấn Độ có sáu thành phố lớn, trong đó có thành phố
được gọi là “Xá-vệ”. Thành phố đặc biệt này tọa lạc trong lãnh địa của vua Ba
Tư Nặc (Prasena Ajita) bao gồm một khu vực đẹp hết sức của một vị được gọi là
Thái tử Kỳ-đà.
Một lần nọ, nhiều năm sau khi Thế tôn chứng ngộ, một vị trưởng
giả tên là Cấp Cô Độc quyết định xây một tu viện to lớn, đẹp đẽ để Đức Phật và
chư đệ tử của Ngài có thể sống ở đấy thường xuyên. Để đạt mục đích này, ông tìm
đến Thái tử Kỳ-đà và mua các khu vườn của Thái tử bằng cách trả cho Thái tử nhiều
ngàn đồng tiền vàng đủ để trải đầy các khu vườn ấy.
Kỳ-đà cũng cúng Thế tôn một lô đất vốn là một phần của các
khu dành cho những người coi sóc tài sản này. Trong khu vườn này, Cấp Cô Độc nhờ
vào các thần thông của Xá-lợi-phất (Shariputra) mà điều động các công nhân lành
nghề từ các vùng đất của trời và người để xây dựng một khuôn viên thật tuyệt vời.
Khi khuôn viên được hoàn tất, Thế tôn - biết ý của Kỳ-đà đặt
tên tự viên chính theo tên của Thái tử. Còn Cấp Cô Độc là một đại sĩ vốn sinh
ra làm người bảo trợ cho bậc Đạo Sư, ông có năng lực nhìn thấy các kho tàng
vàng bạc châu báu nằm sâu trong nước hay dưới đất và có thể sử dụng các kho báu
này bất cứ khi nào ông muốn.
Những dòng mở đầu của Năng đoạn kim cương này rất có ý nghĩa.
Đức Phật sắp tuyên thuyết giáo lý cho đoàn Tỳ-kheo, vốn là những vị, đã quyết định
từ bỏ những bận bịu bình thường của mình mà dành cuộc đời để tu tập theo con đường
của Ngài. Nhưng lý do khiến lời dạy này có thể xảy ra lại từ những người có quyền
thế, những người giàu có.
Hoàng tộc của Ấn Độ cổ là lực lượng lãnh đạo trong đời sống
kinh tế và chính trị của đất nước họ. Họ thực sự giống như cộng đồng doanh nghiệp
trong xã hội phương Tây ngày nay. Khi chúng ta nói về Đức Phật và tư tưởng Phật
giáo ngày nay, chúng ta thường hay nghĩ đến một người phương Đông với một cái
bướu trên đầu, một nụ cười lớn và một dạ dày lớn - nếu chúng ta đã từng thấy một
trong những bức tượng của Trung Hoa. Nhưng hãy nghĩ đến một thái tử cao lớn và
xinh đẹp, lặng lẽ xuyên qua mọi xứ sở bằng sự hiểu biết, thuyết phục và lòng từ
bi, nói đến những tư tưởng mà mọi người đều có thể sử dụng để thành công trong
đời và làm cho cuộc đời này có ý nghĩa.
Hãy nghĩ đến các môn đệ của Ngài, không phải như những hành
khất trọc đầu ngồi chéo chân dưới đất, ngâm tiếng om bên vệ đường. Có lẽ những
bậc thầy lớn nhất của Phật giáo thời xưa đều là những người hoàng tộc, những
người có nỗ lực và tài năng điều hành xứ sở và kinh tế. Chẳng hạn, có một giáo
lý Phật giáo quan trọng được gọi là “Kalachakra” hay “Bánh xe thời gian” - được
từng vị Đạt-lai Lạt-ma Tây Tạng trao truyền trong những buổi lễ đặc biệt trong
mấy trăm năm gần đây. Tuy vậy, khởi đầu nó đã được Đức Phật thuyết dạy cho các
vị vua ngày xưa của Ấn Độ, cho những người có trí tuệ và khả năng đặc biệt để dạy
lại cho các vị vua khác suốt nhiều thế hệ.
Sở dĩ tôi nêu điều này ra đây là để nói lên một nhận thức sai
lầm thông thường về Phật giáo nói riêng và về đời sống nội tâm của mỗi người
nói chung. Phật giáo luôn luôn dạy rằng có một khoảng thời gian và một nơi chốn
để sống cuộc đời của một Tỳ-kheo ẩn dật, tách biệt với thế giới ngõ hầu học tập
phục vụ cho đời. Nhưng để phục vụ cuộc đời, chúng ta phải ở trong thế gian.
Suốt những năm chung sống và hợp tác, tôi luôn ấn tượng mạnh
về những con người lãnh đạo doanh nghiệp, họ đã hé lộ cho tôi thấy chiều sâu nội
tâm của chính họ. Tôi đặc biệt nghĩ đến một người, một nhà buôn kim cương ở
Bombay (vừa được đặt tên lại là Mumbai cho thích hợp hơn) tên là Dhiru Shah. Nếu
bạn thoạt nhìn ông Shah xuống máy bay tại sân bay Kennedy ở New York, bạn sẽ có
ấn tượng đầu tiên rằng đó là một người da nâu, dáng hơi thấp, mang kính, tóc
thưa và có nụ cười e thẹn. Ông di chuyển qua đám đông và xách một chiếc va li
nhỏ đã cũ, rồi dùng ta-xi đến một khách sạn bình dân ở Manhattan. Tại đó, ông
dùng bữa tối bằng vài lát bánh mì làm ở nhà do bà vợ Ketki của ông sửa soạn và
chu đáo đặt vào trong cặp của chồng.
Thực ra, ông Shah là một trong những người buôn kim cương uy
thế nhất thế giới, mỗi ngày ông mua hàng ngàn viên từ tập đoàn Andin. Ông ta là
một trong những người có tâm hồn sâu sắc nhất mà tôi từng gặp. Một cách lặng lẽ,
trải qua nhiều năm, ông đã hé lộ cho tôi thấy đời sống nội tại phong phú của
ông.
Ông Shah là một người theo Kỳ-na giáo (Jainism), một tín ngưỡng
cổ của Ấn Độ phát sinh cùng thời với Phật giáo cách đây hơn 2000 năm trước.
Chúng tôi đã ngồi với nhau trong sự yên lặng của buổi tối trên nền mát lạnh của
ngôi đền cạnh nơi ông ở, một kiến trúc rất đẹp bằng đá, trong một góc vắng lặng
nằm giữa những xô bồ nhộn nhịp của Bombay. Các nhà sư lặng lẽ di chuyển trước
bàn thờ, trong bóng tối mát lạnh của chính điện bên trong, những khuôn mặt ngời
lên dưới ánh sáng nhẹ của những cây đèn dầu nhỏ màu đỏ mà họ thắp lên trước vị
thần của họ.
Phụ nữ trong y phục bằng lụa mềm buông thõng im lặng bước
vào, sụp người xuống đất mà bái lạy, rồi lại ngồi xuống mà im lặng cầu nguyện.
Trẻ con đi qua từng bức tượng, nhìn lên một ngàn vị linh thiêng mà thầm thì.
Doanh nhân thì đặt những chiếc cặp và giày của họ ở chân các bậc cấp lên đền và
đứng dậy kính lễ cửa đền rồi bước vào mà ngồi thực hiện sự cảm thông thầm lặng
của chính mình với đấng Mahavir.
Bạn có thể ngồi xuống ở đấy và hãy lắng nghe tâm linh của
mình; bạn có thể hoàn toàn quên đi thời gian, quên hôm ấy là ngày nào hoặc quên
rằng bạn phải đứng dậy về nhà, quên cả ngàn việc trong ngày.
Nhà hát Opera là mẫu mực của doanh nghiệp kim cương ở Ấn Độ,
nơi khoảng nửa triệu người làm việc trong những ngôi nhà xây bằng gạch và trong
các ngôi nhà cao tầng giá nhiều triệu đôla để cắt hầu hết kim cương trên thế giới
và cung cấp cho các khách hàng ở châu Mỹ, châu Âu, Trung Đông và Nhật Bản. Nhà
hát Opera thực ra chỉ là hai tòa cao ốc cũ kỹ, một tòa mười sáu tầng và một tòa
hai mươi lăm tầng, được gọi tên như thế là do có một nhà hát lớn ở gần đó, tại
trung tâm Bombay.
Để vào trong các tòa cao ốc ấy, bạn dùng một chiếc xe cũ kỹ đến
một khu đậu xe đông đúc không thể tưởng được, rồi tiếp tục đi đến một khoảng rộng
bằng xi-măng xuyên qua một đám người buôn bán kim cương mới vào ngành, mặc cả với
nhau và vẫy những gói giấy nhàu nát có vài viên đá nhỏ xíu bên trong. Những người
bán đứng đối diện với những người mua, cài những ngón tay của mình vào với nhau
trong một ngôn ngữ bằng dấu hiệu vô hình để chỉ giá cả phải cao đến mức nào để
hoàn tất thương lượng.
Sau khi chen lách qua cái đám người kia để có lối đi, bạn lại
tranh đường với cái đám đông đang cố gắng đi vào cái thang máy cũ kỹ độc nhất
hoạt động ngày hôm nay (luôn luôn là một sự chọn lựa: hoặc dùng thang máy và có
thể bị kẹt hàng giờ ở giữa các tầng lầu khi điện lại bị cúp hoặc bước lên chừng
20 bậc thang và đến nơi với cái áo sơ mi mới tinh ướt đẫm mồ hôi từ hơi nóng và
sự ẩm ướt của Bombay), thế rồi lộ ra một sự kết hợp kỳ lạ gồm những ổ khóa Ấn Độ
xưa cũ, những máy dò chuyển động bằng số và những thiết bị cảm ứng âm thanh rất
tinh vi để đi vào trụ sở văn phòng.
Ở đây mọi thứ đều đổi khác. Trong những văn phòng lớn hơn, có
nhiều đá cẩm thạch trên nền phòng, đá cẩm thạch trên tường, đá cẩm thạch khắp
phòng tắm và nhiều bức danh họa cổ được khắc trên các bệ đá hoa cương được đưa
về từ văn phòng chi nhánh ở Bỉ. Đồ đạc gắn cố định trên phòng vệ sinh hẳn là được
mạ vàng và phòng vệ sinh tự nó là một tập hợp kỳ lạ của một chỗ ngồi kiểu
phương Tây, hai bên có phần chìa ra bằng sứ, khiến người ta cũng có thể bước
lên và cúi lom khom theo cách cổ xưa của người Ấn Độ nếu họ muốn.
Đằng sau những cánh cửa khóa bên trong là những căn phòng yên
tĩnh có máy điều hòa không khí với hàng dài những phụ nữ Ấn Độ quý phái, trẻ
trung mặc những chiếc xa-ri mềm mại mà cách đây vài ngàn năm phụ nữ Ấn Độ vẫn mặc.
Họ lặng lẽ ngồi dưới những ánh sáng huỳnh quang êm dịu có độ dài sóng nhất định,
và trước mỗi người là một đống kim cương gọn ghẽ hẳn đáng giá hàng trăm ngàn
đôla. Cánh tay của họ thò ra từ bên dưới nếp gấp của chiếc xa-ri, mỗi người cầm
một cái nhíp có càng rất mảnh - họ gắp từ đống kia ra một viên kim cương, đưa
nó lên kính phóng đại của người thợ kim hoàn mà bàn tay kia của họ đang cầm và
gí sát vào mắt, và rồi họ búng viên đá theo một đường cung xinh xắn đi qua tấm
đệm bằng giấy trắng tinh, sao cho nó rơi xuống một trong những đống kim cương
nhỏ hơn - thường chừng năm đống - mỗi đống là một hàng, một giá riêng.
Âm thanh trong những căn phòng này chỉ là tiếng cào chạm nhẹ
vào giấy và tiếng lộp bộp nho nhỏ của viên đá rơi vào đúng các đống kim cương.
Cảnh tượng này vẫn diễn ra trong các phòng phân loại kim cương trên khắp thế giới,
dù ở New York, Bỉ, Nga, châu Phi, Israel, Australia, HongKong hay Brazil.
Có lần, chúng tôi đã về thôn quê để xem người ta thực sự cắt
các viên đá như thế nào. Một số lớn kim cương được các thành viên trong gia
đình ở đó tạo dáng. Hàng ngày, những viên kim cương thô được đưa từ các hãng
kim cương lớn ở Bombay ra vùng quê qua một mạng lưới rộng bằng cách cho vào những
túi nhỏ và đi bằng xe lửa hay xe buýt, xe đạp hay qua các con đường mòn. Hàng
ngày, những viên đá lại quay trở về theo cùng cách như thế đến một phòng xếp loại
ở đâu đó, rồi được đưa vào trong một chiếc hộp nhỏ bằng kim loại, sau đó được một
nhân viên hãng Brinks bảo vệ trên chuyến bay đêm đến New York mỗi ngày.
Navsari là một phố cắt kim cương tiêu biểu ở bang Gujarat,
khu vực phía Bắc Bombay, nơi tập trung nhiều xưởng kim cương nhất. Các công
nhân từ khắp nơi trong nước đổ xô về Navsari hi vọng tìm được một công việc ổn
định hơn. Họ ký hợp đồng làm việc sáu tháng, thường là làm cho đến một kỳ nghỉ
tôn giáo quan trọng, như lễ Divali (một lễ hội quan trọng của người Hindu). Thế
rồi, họ nhận tiền thưởng nhân lễ và hôm sau ra khỏi thị trấn, đôi khi phải đi cả
ngàn dặm để trở về nhà một vài tuần thăm vợ con, và đầu tư tiền vào một vụ ngô
của một nhà hàng xóm. Sau đó, họ lại vác một túi nhỏ lên vai mà trở lại xưởng để
làm việc trong sáu tháng tiếp theo.
Việc mua kim cương ở Navsari không giống bất kỳ nơi nào khác
trên thế giới. Hãy tưởng tượng bạn phải cố gắng ra khỏi một đám đông hỗn tạp suốt
cả một con đường đầy bụi dài một hoặc hai dặm trong một trung tâm của một thị
trấn nhỏ của Ấn Độ. Những người đàn ông đang gào thét trong đám đông hỗn tạp đó
đều cầm chặt một mẩu giấy xếp nhỏ, trong đó có một hoặc hai viên kim cương nhỏ,
lớn hơn dấu chấm cuối câu này một chút. Những viên đá này còn đang được bao phủ
bởi dấu cắt, tạo cho chúng một màu xám xỉn, và dưới ánh sáng rõ ràng của mặt trời
thì chỉ có một kẻ điên - hay một nhà buôn Ấn Độ được đào luyện kỹ - mới cố mua
một viên đá mà không thể nói được nó là màu trắng tinh (đắt giá) hay màu vàng
tươi (vô giá trị).
Xe cộ chạy xuyên qua đám đông dày đặc ở cả hai đầu bấm còi
inh ỏi. Mặt trời như đổ lửa trên đầu bạn. Áo sơ mi của bạn bị một lớp bụi mỏng
phủ trở thành một chất nhầy màu nâu vì được trộn với mồ hôi của bạn. Những trẻ
lang thang đường phố dùng tay và đầu gối để len lỏi qua đám đông, chúng chui
qua háng của những người buôn bán, hi vọng tìm được một mảnh kim cương nhỏ tình
cờ bị rớt xuống đất, trông giống như đám gà con đang lúc cúc cào bới hạt.
Những nơi xa nhất có tiếng là đế quốc kim cương Ấn Độ được
tìm thấy ở gần Bhavnagar, gần bờ biển phía Tây và biển Ả Rập, nơi khởi đầu của
những sa mạc Rajasthan và thành phố sa thạch màu hồng của những nhà buôn cẩm thạch
là Jaipur. Dhiru Shah đã đưa tôi đến đấy trên một chiếc máy bay Ấn Độ ọp ẹp, và
chúng tôi đi xe hơi đến dãy núi Palitana, nơi thiêng liêng nhất của những người
theo đạo Kỳ-na (Jainism).
Chúng tôi dừng lại ở một xưởng kim cương cuối cùng, đấy chỉ
là một biệt thự ở rìa sa mạc và uống vài tách trà Ấn Độ nhỏ, đậm, có gia vị
cùng đám trẻ và những phụ nữ kỳ cục ở đấy, từ phía sau những bức tường gạch và
những cái mạng che mặt, đang nhìn trộm ra ngoài, khúc khích cười và trố mắt
nhìn người da trắng đầu tiên đi qua. Rời ngôi nhà và cái xưởng cuối cùng cũng
giống như bỏ lại cuộc sống thực tại, đi từ khu doanh nghiệp mà lên đến các ngọn
đồi để tìm đến đời sống tâm linh bên trong mỗi chúng tôi.
Chúng tôi ngủ qua đêm ở một nhà trọ bình dân dưới chân ngọn
núi do những người kinh doanh kim cương xây dựng để dành cho những người trong
giới của họ đến ở khi cảm thấy có nhu cầu tâm linh. Dhiru im lặng dẫn tôi đi
trước khi trời sáng, đến một khu riêng biệt, nơi bắt đầu con đường dẫn lên núi.
Trên những bức tường đá có khắc những bài kinh cầu nguyện của 25 thế kỷ, tại
đây chúng tôi cởi giày ra đi chân đất trên con đường đá dẫn lên núi cao để tỏ
lòng kính trọng nơi linh địa.
Chúng tôi đi cùng hàng ngàn người hành hương khi trời còn tối.
Không khí mát mẻ và những chỗ lồi lõm trên mặt đá dưới chân chúng tôi như nói
lên hàng triệu bàn chân đã lên núi như thế này vào mỗi buổi sáng trong suốt nhiều
thế kỷ. Cuộc leo, mất nhiều giờ nhưng người ta không cảm thấy lâu vì chúng tôi
được những ý tưởng và lời cầu nguyện của những người khác làm vững tâm như đá tảng
dưới chân chúng tôi.
Cuối cùng, chúng tôi cũng lên tới đỉnh, bước vào một mạng lưới
những ngôi đền, nhà nguyện, am thờ được khắc đục từ trong đá, bên trong thì tối,
bên ngoài thì sáng hơn. Chúng tôi chỉ việc để mặc đôi chân tiến về phía trước
cho đến khi thuận hợp thì ngồi xuống trên một phiến đá mát lạnh rồi thiền định.
Văng vẳng có tiếng đọc tụng thì thầm, nhưng không có ánh sáng. Bạn nghe thấy cả
hơi thở, nhịp tim đập của hàng ngàn người xung quanh và cảm thấy sự mong cầu.
Từ đỉnh núi, chúng tôi quay về phía Đông, nhìn xuống đồng bằng
Ấn Độ. Bấy giờ bóng tối bắt đầu thay đổi một cách tinh tế từ đằng sau đôi mắt
khép đang lúc thiền định của chúng tôi, chẳng bao lâu xuất hiện vàng hồng, rồi
chuyển thành vàng nghệ và cuối cùng thành màu vàng đồng của mặt trời Ấn Độ đang
mọc lên. Chúng tôi vẫn như thế, tất cả đều vẫn thiền định, mỗi người nghĩ đến
cuộc sống của chính mình và nghĩ xem mình phải trải qua cuộc sống ấy như thế
nào khi trở về.
Không ai uống nước hay dùng bất cứ thức ăn nào vì nếu ăn uống
thì có vẻ như xúc phạm đến sự linh thiêng của núi. Đến lúc chúng tôi đứng lên,
làm lễ và bắt đầu bước nhanh xuống núi, mọi thứ lúc này giống như một cảnh hội
hè, trẻ con cười đùa, chạy nhảy. Lần đầu tiên trong đời bạn cảm nhận sự kỳ diệu
của đôi giày khi hai bàn chân trần của bạn bắt đầu sưng phồng và nứt rạn. Tuy
thế, điều này có vẻ còn giá trị hơn là một món quà tặng rất nhiều.
Chỉ đến lúc ấy tôi mới biết được rằng Dhiru Shah, người đàn
ông buôn kim cương nhỏ người, da sậm, hạnh phúc này, đã trải qua nhiều năm ở dưới
chân những vị thầy tâm linh trên chính núi này; chỉ sau đó tôi mới biết rằng những
lần ông ta đến New York để tham dự các cuộc họp giữa các Giám đốc quốc tế, có
thể rằng ông đang chay tịnh tâm linh, cầu nguyện trong căn phòng nhỏ ở khách sạn
bên trên những ngọn đèn chói chang tại quảng trường Thời Đại (Times Square) về
khuya. Các văn phòng ở Bombay của ông tỏa ra một hơi ấm gia đình mạnh mẽ; ông
quan tâm đến từng người ở đó như đối với con trai, con gái, giúp người ấy trong
những chi phí lễ cưới hay lễ hỏa táng của một người thân yêu. Với hàng triệu
đôla giao dịch trôi nổi quanh mình suốt ngày, ông vẫn tuyệt đối giữ gìn để
không bao giờ sử dụng một xu lẻ nào mà ông không thực sự có quyền.
Ở nhà, gia đình riêng của ông cũng được quản lý tốt như vậy.
Trong nhiều năm khi tôi làm việc bên cạnh gia đình Shah, họ sống trong một căn
hộ nhỏ trên tầng ba của một tòa nhà nhỏ yên ắng tại khu Vileparle. Bà Shah đã
giàu có từ trước khi họ kết hôn, và Dhiru - cùng với con trai là Vikran - đã
góp thêm vào sự giàu có ấy cho nên mọi người xung quanh cứ mãi thúc ép họ kiếm
một chỗ ở lớn hơn, rằng trẻ con đang lớn, cần phải có phòng riêng. Nhưng gia
đình vẫn tiếp tục sống như vậy trong nhiều năm, ông nội thì ở trong một căn
phòng riêng, tiện nghi, ở chái bếp, được mọi người kính trọng và chăm sóc; những
người còn lại trong gia đình thì vui vẻ ra ngoài bao lơn vào giờ ngủ, kê giường
cạnh nhau dưới sao trời để hưởng không khí ban đêm và mùi thơm của cây cối đang
trổ hoa. Ngay cả khi cuối cùng họ chuyển đến một căn hộ lớn, một khu biệt lập của
thành phố, họ cũng đều ngủ chung với nhau trong một góc phòng nhỏ. Họ thật hạnh
phúc.
Ở đây vấn đề hoàn toàn đơn giản. Người Mỹ, bao gồm cả tôi,
luôn có một quan điểm xem thường những người mà chúng tôi gọi là “những doanh
nhân” và trong thập niên sáu mươi, hầu như là một sự xúc phạm nếu dùng từ này để
chỉ ai đó. Đây là khuôn mẫu của một con sói mặc một bộ đồ thương nhân khéo cắt,
nói quá nhanh, sống chỉ vì tiền, làm bất cứ điều gì để có tiền, quên đi nhu cầu
của những người xung quanh. Bạn hãy nghĩ đến điều ấy.
Giới kinh doanh ngày nay hiển nhiên toàn những người tài năng
nhất. Họ có tham vọng và khả năng làm những gì phải làm để cho được việc, vì
không có ai khác làm. Họ sản xuất ra rất nhiều hàng hóa và dịch vụ trị giá hàng
tỷ đôla một cách trôi chảy, luôn luôn cải tiến sản phẩm, luôn luôn cắt giảm thời
gian và tiền bạc cần thiết để làm ra chúng. Sự đổi mới và hiệu quả là một lối sống,
không giống như lĩnh vực nào khác trong xã hội chúng ta.
Các doanh nhân luôn chu đáo, kiên cường, kỹ lưỡng và sáng suốt.
Nếu những ai không có phẩm chất này thì không thể tồn tại, vì doanh nghiệp có
quy tắc riêng, có quá trình chọn lọc tự nhiên riêng của nó: Không ai chịu đựng
được bạn trong một thời gian dài dù ở bất cứ thứ bậc nào trong một công ty, nếu
bạn không hăng say làm việc. Chủ hãng và ban Giám đốc, và cả đến những công
nhân trong nhóm sẽ loại bạn ra khỏi nhóm nếu bạn không làm việc hiệu quả. Tôi
đã thấy điều này thường xảy ra: giống như cơ thể của bạn từ chối kháng thể lạ.
Những nhà doanh nghiệp lớn nhất đều có một năng lực nội tại
thâm sâu - họ khao khát, như tất cả chúng ta nhưng có lẽ còn mạnh hơn - sống một
đời sống tâm linh thực sự. Họ nhìn thấy thế giới nhiều hơn tất cả chúng ta; họ
biết thế giới có thể cho và không cho họ những gì. Họ đòi hỏi một lý luận trong
những gì thuộc tâm linh, họ đòi hỏi rằng phương pháp và kết quả phải rõ ràng
như những điều kiện của bất cứ thỏa thuận kinh doanh nào. Thường thì họ bỏ dở một
đời sống tâm linh sinh động - không phải vì họ tham lam hay lười biếng, mà đơn
giản là vì các yêu cầu trong sinh hoạt của họ. Năng đoạn kim cương vốn được
dành cho những người này - tài năng, kiên quyết và hiểu biết.
Đừng bao giờ chấp nhận rằng vì bận kinh doanh, bạn không có
cơ hội, thời gian hay phẩm chất cá nhân cần thiết cho một đời sống tâm linh thực
sự, hay việc duy trì một đời sống nội tâm thâm sâu thì có vẻ mâu thuẫn với sự
nghiệp kinh doanh. Trí tuệ của Năng đoạn kim cương bảo rằng chính những người bị
cuốn hút vào doanh nghiệp đúng là những người có sức mạnh nội tại để nắm bắt và
thực hiện những thực hành thâm sâu về tâm linh.
Trí tuệ này là tốt cho người ta và rõ ràng là cũng tốt cho việc
kinh doanh nữa. Và điều này hoàn toàn nhất quán với thông điệp của Đức Phật. Ở
Mỹ, chính cộng đồng doanh nghiệp lãnh đạo một cuộc cách mạng thầm lặng mà chắc
chắn về thể cách thực hiện công việc kinh doanh và cả cuộc sống của chúng ta nữa,
bằng cách sử dụng trí tuệ cổ xưa cho những mục đích của thế giới hiện đại.
Và để kết thúc chương này, bây giờ chúng ta hãy xem Đức Phật
đã thức dậy và đi làm việc vào cái ngày Ngài giảng Năng đoạn kim cương.
Vào buổi sáng, bấy giờ Thế tôn đắp áo Tỳ-kheo, khoác áo
ngoài, cầm bình bát của bậc Hiền nhân, vào đại thành Xá-vệ, để đi đến từng nhà
mà khất thực theo cách của một Tỳ-kheo. Và khi đã thu nhập được một số thức ăn
theo cách ấy, Ngài rời thành phố mà trở về, rồi dùng các thức ăn ấy.
Khi Ngài dùng bữa xong, Đức Phật cất dẹp bình bát và áo
ngoài, vì Ngài đang thực hành không ăn bữa chiều để giữ cho tâm được trong
sáng. Ngài rửa chân rồi ngồi theo thế liên hoa (kiết già), giữ thẳng lưng và đặt
tư tưởng vào trạng thái quán tưởng.
Thế rồi một số rất đông đảo các Tỳ-kheo tiến đến chỗ Thế tôn
và khi đã đến cạnh Ngài, chư vị cúi mình chạm đầu vào đôi bàn chân Ngài. Chư vị
kính cẩn nhiễu quanh Ngài ba lần, rồi ngồi xuống cạnh Ngài. Bấy giờ Tỳ-kheo trẻ
tuổi Tu-bồ-đề (Subbuti) cũng cùng nhóm đệ tử này và đang cùng ngồi với chư vị.
Tỳ kheo trẻ Tu bồ đề đứng dậy và cung kính trịch góc áo trên
(thượng y) khỏi vai và quỳ gối phải trên đất. Ông đối diện Thế tôn, chắp tay ở
ngực và cúi mình. Rồi ông khẩn nài Thế tôn như sau:
Bạch Thế tôn, đấng Phật đà - Đức Như Lai, vị Phá diệt giặc
phiền não, bậc Toàn Giác - đã ban giáo huấn thật hữu ích cho hàng đệ tử trên đường
từ bi, cho hàng đại nhân, Thánh giả. Tất cả giáo huấn mà Ngài, đấng Phật đà, đã
từng ban phát cho chúng con thật là một sự hộ trì lớn lao cho chúng con.
Và Đức Như Lai, vị Phá diệt giặc phiền não, bậc Toàn Giác
cũng đã giáo huấn chính chư đệ tử này bằng cách trao cho chư vị những chỉ dạy
rõ ràng. Bất cứ sự chỉ dạy sáng suốt nào mà Ngài đã ban phát, bạch Thế tôn cũng
là một điều tuyệt diệu. Bạch Thế tôn, đấy là một điều rất tuyệt diệu.
Thế rồi Tu bồ đê hỏi như sau:
Bạch Thế tôn, những vị đã khéo đi vào con đường từ bi thì
sao? Họ nên sống như thế nào? Họ nên tu tập như thế nào? Họ nên giữ tư tưởng
như thế nào?
Thế rồi, Thế tôn nói những lời sau đây để trả lời câu hỏi của
Tu bồ đề:
Này Tu bồ đề, tốt lắm, tốt lắm. Này Tu bồ đề, đúng như thế và
đúng thế này: Như Lai quả thực đã gây lợi lạc cho những người trên đường từ bi,
hàng đại nhân, hàng Thánh giả, bằng cách ban phát cho chư vị ấy sự giáo huấn lợi
ích. Như Lai quả thực đã ban sự chỉ dạy sáng suốt cho các đệ tử này, bằng cách
ban phát cho chư vị sự chỉ dạy sáng suốt nhất.
Và do vậy, này Tu bồ đề, bây giờ ông hãy lắng nghe những gì
ta nói và hãy xác quyết rằng những điều ấy sẽ an định trong lòng ông, vì ta sẽ
khai mở cho ông rằng những người đã khéo đi vào con đường từ bi nên sống như thế
nào, chư vị ấy nên tu tập như thế nào, chư vị ấy nên giữ tư tưởng như thế nào.
“Con xin được lắng nghe”, Tỳ kheo trẻ Tu bồ đề đáp, và ông ngồi
xuống lắng nghe như Thế tôn dạy. Bấy giờ Thế tôn bắt đầu dạy như sau…












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét