Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 3

Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong 
ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 3

b. Phê phán sự lười nhác, ích kỷ, đố kỵ 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến sự lười nhác, sự ích kỷ và đố kỵ: dế lười, chú heo con ủn ỉn, con heo lười, Mèo rửa mặt, con ong lười, con mèo lười, hai con dế hơn thua nhau tiếng gáy... 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, từ ngữ chỉ sự lười nhác, bẩn thỉu xuất hiện ở một số nhân vật, nhưng ít nhiều mang tính khôi hài. Đó là hình ảnh một chú heo con lười nhác chỉ ăn và nằm. Nhạc sĩ mượn hình ảnh chú heo lười để nhắc nhở bạn TN không nên lười vận động và lao động. Bởi nếu lười biếng thì bé cũng có thể giống chú heo kia bị bạn bè xa lánh. Ví dụ: 

(227) Ục ục ục. Ục ục ục. Có chú heo con ủn ỉn kêu hoài. Ăn suốt ngày rồi nằm phểnh cái bụng ra. Chú heo ơi sao mà làm biếng quá! Em biết rồi: không được giống như heo để bạn bè đừng có chê cười. Ê con heo lười! Lêu lêu [NL6, tr.31]. 

Hay đó là sự lười nhác lao động, chỉ ham mê làm theo sở thích của mình như chú dế kia không chịu học bài mà luôn đổ lỗi cho thời tiết không thuận lợi. Ví dụ: 

(228) Rét! Rét! Rét! Chú dế lười! Ơi chú dế lười! Chú dế lười! Chú dế lười! Bé nghe chú dế học bài. Cớ sao chú dế học hoài chẳng xong. Tiết trời đâu phải mùa đông. Vậy mà than “rét” dưới đồng cỏ non. Chú dế lười! Ơi chú dế lười! [NL6, tr.28]. 

Hay như chú mèo muốn trốn học nói dối. Ví dụ: 

(229) Mèo ta buồn bực mai phải đến trường. Liền kiếm cớ luôn rằng cái đuôi tôi ốm. Cừu mới be toáng lên. Tôi chữa cho anh khỏi liền. Nhưng muốn cho nhanh thì cắt đuôi là khỏi hết. Cắt đuôi ấy ấy chết. Tôi xin đi học ơ thôi. Cắt đuôi ấy ấy chết. Tôi xin đi học ơ thôi [NL4, tr.180]. 

Trong bản ngã của mỗi con người, nằm ở một nơi nào đó là sự ích kỷ, đố kỵ. Điều này cũng được các nhạc sĩ nêu ra, gửi gắm các bài học nhân sinh qua các CK tiếng Việt dành cho TN: 

Đó cũng có thể là sự ngây thơ của một đứa trẻ. Ví dụ: 

(230) Ngày nào năm xưa còn bé tí teo. Nằm cạnh bên mẹ em bé như con mèo. Ngày nào năm xưa em còn khóc í a. Vòi mẹ mua bánh, bé không khóc mà! Nhe! Nhe! Nhe! [NL12, tr.75]. 

Hay khi lớn lên TN ích kỷ, đố kỵ khi bạn bè, anh chị em được chia cho phần quà nhiều hơn, phần ăn ngon hơn hay được mua quần áo đẹp hơn, đồ chơi nhiều hơn… tất cả đó là sự không muốn ai hơn mình. Ví dụ: 

(231) Có con chích chòe đứng ca một mình trên cành. Rồi nó liếc trông lên vòm trời xanh. Ngoài kia một tiếng con sáo tre. Ca chọc ngang nó. Rồi sáo nói líu lo nhả tiếng đi hỏi dò, châm biếm chơi, hỏi con Chòe “ăn sáng chưa” (ăn sáng chưa). Bỗng con chích chòe lắng trông im lặng lên ngàn. Nhìn vòm trời xanh chòe nhớ. Rằng mình từ khuya chưa kiếm xong cơm trưa. Bỗng nhiên con chích chòe bỏ cây tươi hoa lá. Ra sức đi tìm sâu nuôi con của Chòe [NL15, tr.36]. 

Và ở mức độ cao, sự ích kỷ và đố kỵ dẫn đến những hành vi sai trái, chẳng hạn: 

(232) “Réc, réc, réc con dế than đang bốc phét. Réc, réc, réc, con dế lửa trông thấy ghét! Hai con dế hơn thua nhau tiếng gáy, xông vào đá nhau con sứt trán con u đầu. Réc, réc, réc, xấu quá đi thôi! [NL8, tr.122]. 

c. Phê phán sự ngu dốt, ngây ngô 

Nhằm giáo dục TN tránh và khắc phục những hành vi và nhận thức ấu trĩ, trong các CK tiếng Việt dành cho TN, các nhạc sĩ đã dùng những ca từ hết sức nhẹ nhàng và sử dụng biện pháp nhân hóa loài vật để biểu đạt. 

Đó là cử chỉ của một chú ếch khi cố đớp ánh trăng: 

(233) Một đêm mùa hạ, trời đầy trăng sao. Có một chú ếch, ngồi ở bờ ao, mồm luôn đớp đớp, uống bóng trăng vào. Cá rô thấy lạ, mới hỏi làm sao? Ếch nói cố đớp, ăn hết trăng sao cho trời tối lại, thành cơn mưa rào [NL4, tr.64]. 

Hay đó là sự luẩn quẩn của một chú kiến con: 

(234) Kiến con mà leo cành đào. Leo phải cành cụt leo vào leo ra. Kiến con mà leo cành đa leo phải cành cụt leo ra leo vào. Kiến con một mình lon ton. Leo nhánh chon von tha miếng mồi ngon. Đến khi trời thôi nắng vàng. Tìm không thấy đàn quên đường về hang [NL5, tr.71]. Hay đó là sự ngây ngô của đàn chuột “đeo chuông” cho mèo. Ví dụ: (235) Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! Tùng! Tùng. Tùng! Làng chuột bàn gì đây? Có một lão mèo hung hăng. Chuyên săn bắt chuột suốt ngày! Chít chít ái cha! Chít chít. Ái cha! Thế làm sao? Thế làm sao? Thế làm sao? Hãy làm một cái chuông đem đeo vào cổ lão mèo. Khi đi chúng đều biết. hay quá! Hay quá! Chuông reo ta chạy về thôi. Nhưng ai đeo chuông vào cổ lão mèo. Ai đeo chuông vào cổ lão mèo! Tùng! Tùng! Tùng! [NL6, tr.51]. 

Thiên hướng chủ đạo của các CK tiếng Việt dành cho TN là ngợi ca, nêu gương để TN học tập và làm theo. Tuy nhiên, do đặc trưng văn hóa dân tộc cũng như thực tiễn, trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp một số từ ngữ chỉ sự vật ngoài con người, vẫn có cái chưa tốt, cái ác, cái xấu… cũng được nhắc đến. Tóm lại, không có nhiều lắm các từ ngữ chỉ “sự tàn ác; sự lười nhác, sự ích kỷ, đố kỵ; sự ngu dốt, thiển cận...”. 

Điều này cũng phần nào phản ánh được quan điểm giáo dục của các nhạc sĩ: khen ngợi, động viên là chính, rất hạn chế và hầu như tránh xa lánh, phê bình. 

4.2.4. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc giải trí của thiếu nhi 

4.2.4.1. Tạo nên những hình ảnh ngộ nghĩnh vui tươi, hồn nhiên Những hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, hồn nhiên luôn mang lại niềm vui trong cuộc sống. Những hình ảnh vui tươi, hồn nhiên này xuất hiện tạo nên gam màu và khoảng sáng. Đó có thể là không khí nhộn nhịp tươi vui trong phiên chợ tết hay đó có thể là không khí rộn ràng trong trường lớp hay đó là không khí ấm áp trong gia đình. Mỗi hình ảnh mang đến cho TN những cảm nhận đầy chất nhạc và thơ. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật gợi lên hình ảnh ngộ nghĩnh, vui tươi, hồn nhiên: đồng lúa hát, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng thắm sân trường, nụ hồng, búp măng non, chùm lá Trạng Nguyên, triệu hạt lúa, muôn vạn chồi xanh, sách, bút, vở, bảng, phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, chiếc máy tính bảng của em, trang sách hồng, trang vở trắng, một cái túi xinh xinh... 

Đó có thể là các từ ngữ gợi lên hình ảnh đoàn học sinh. Ví dụ: 

(236) Đoàn học sinh đi trong nắng hè tươi sáng. Vùng gót tung tăng nhịp nhàng. Tay sách, vui ca hòa vang. Chốn thân yêu nhà trường tường vôi trắng xóa. Hai bên dãy phượng đỏ hoa như đang đón chờ đoàn ta. Tương lai bao chờ mong [NL1, tr.76]. 

Hay đó là hình ảnh vui nhộn về tích mèo và chuột. Ví dụ: 

(237) Con mèo (meo!) con mèo mà trèo, mà trèo, mà trèo mà trèo cây cau tính tang ư, tình tính tang. (Cách cách cách) (cách cách cách) Hỏi thăm chú chuột chít chuột chít, chú chuột chít chuột chít đi đâu vắng ư nhà. Tình tính tang tình tính tang. Rằng thưa sao? Sao? Là thưa rằng chú chuột tôi đi vắng ư văng vùng văng vằng vùng vằng văng vắng văng vắng... đường xa. Mua mắm tình tang, mua muối tình tinh. Giỗ meo con chà là giỗ cha con mèo giỗ meo con chà là giỗ cha ối a con mèo. Ù hù hu hù hu [NL12, tr. 152]... 

4.2.4.2. Tạo nên hình tượng thế giới sống động muôn màu 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật vừa cụ thể vừa trừu tượng. Đó là thế giới sống động muôn màu, từ những cây lúa, hoa mẫu đơn, cây tre, búp măng, cây phượng, hoa tím lục bình, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, cây phi lao chắn gió, cây bàng vuông,… đến những giấc mơ Phù Đổng, niềm khát vọng, những mộng mơ tuổi hồng, hòa bình tươi vui, tuổi mộng mơ, những khung trời tuổi thơ, những nhọc nhằn gian khó, thời thơ ấu, dòng sông tuổi thơ… 

Hoặc rất nhiều từ ngữ chỉ các loài thú và loài cây: trâu, nghé, bò, mèo, dê, hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn, gà, vịt, ngan, ngỗng, chim chích, chim câu, mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ, cây bí đao, đỗ con xinh xẻo, cây lòng thong là cây bí đao, đồng lúa hát, đồng lúa mới, lúa vàng mênh mông, bông lúa trĩu nặng, trái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm… 

Thế giới tinh thần của con người là một bảng màu với nhiều gam màu sáng tối. Ở đó, con người trải nghiệm những niềm vui, cũng có thể là nỗi buồn; đó có thể hạnh phúc nhưng cũng có thể là chia ly… Đó là sự đầm ấm, sum vầy của gia đình với ông, bà, cha, mẹ, con cháu,… trong ngày tết. Ví dụ: 

(238) Bánh chưng xanh bên dưa hấu đỏ. Nhành mai vàng bên cành đào tươi. Tết năng nay bé thêm một tuổi. Chúc ông bà sức khỏe tuổi già. Chúc ba mẹ sức khỏe nhiều nhiều. Chúc anh chị thương bé nhiều nhiều. Nhưng bé lớn rồi bé không thích lì xì! [NL8, tr.98]. 

Đó là cuộc sống rộn rã nơi xóm làng mỗi độ thu về. Ví dụ: 

(239) Thùng thình thùng thình trống rộn ràng ngoài đình. Có con sư tử vui múa quanh vòng quanh. Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng. Dưới ánh trăng vàng đàn em cất tiếng hát ca vang [NL1, tr.23]. 

Hay đó là không gian cao rộng và lòng người phơi phới. Ví dụ: 

(240) Trời cao trong xanh, sương sớm long lanh, mặt nước xanh xanh, cành lá rung rinh. Bầy chim non hót vang, đàn bướm lượn múa tung tăng lượn. Theo bước chân đi tới trường [NL7, tr.16]. 

Đó có thể là những ngày cả dân tộc đồng lòng hướng đến cuộc sống tự do và hạnh phúc, trải qua đau thương để hướng đến ngày Bắc Nam sum họp. Ví dụ: 

(241) Bồ câu trắng sứ giả của hòa bình. Từ chống phương xa bay về báo tin lành. Rằng thế giới nhân dân yêu hòa bình. Cùng đấu tranh cho con người tự do. Phương trời Á Đông còn đau thương. Chống quân tàn ác nhân dân đang vươn lên. Diệt đế quốc đấu tranh cho hòa bình. Chờ đón bóng chim đem về niềm vui [NL9, tr.77].  

(242) Ngàn dặm xa không ngăn anh em kết đoàn. Biên giới sâu không ngăn mối dây thân tình. Loài giặc kia không ngăn tình yêu chức chan của đoàn thiếu nhi hằng mong yên vui thái bình [NL5, tr.24]... 

4.2.4.3. Tạo nên giọng điệu hài hước, vui nhộn 

Những từ ngữ liên quan đến các chi tiết vui nhộn và hài hước trong các CK tiếng Việt dành cho TN có vai trò làm cho lời ca thêm uyển chuyển, gần gũi mà thân thương, gần với đời sống hàng ngày và bớt đi tính chất giáo điều, khuôn mẫu. Ví dụ đó là các từ ngữ: Bờm, quạt mo... trong sự tương phản với phú ông, bò trâu, cá mè, bè gỗ lim, con chim cu mồi... trong một câu chuyện đổi chác không cân bằng giá trị. Hoặc đó là các từ ngữ chỉ con vật được nhân hóa có những đặc tính rất đặc biệt tương phản nhanh - chậm, thắng - thua kiểu như rùa và thỏ. 

(243) Thằng Bờm có cái i i i quạt mo. Phú ông muốn đổi ì í i ba bò chín trâu. (Ba bò là bò chín trâu). Bờm rằng! Bờm chẳng lấy trâu. Phú ông muốn đổi ì i í một xâu cá mè (Một xâu là xâu cá mè). Bờm rằng! Bờm chẳng ơ ơ lấy mè. Phú ông xin đổi i i í i một bè gỗ lim. (Một bè là bè gỗ lim). Bờm rằng! Bờm chẳng ơ lấy lim, Phú ông muốn đổi ì i í con chim cu mồi (con chim là con chim cu mồi). Bờm rằng! Bờm chẳng ơ ơ ớ lấy mồi. Phú ông muốn đổi ì i í nắm xôi. Bờm cười. Ha há! [NL12, tr.17 - 18]. 

(244) Chậm như rùa! Thật chậm như rùa! Mỗi bước rùa đi ì à ì ạch! Nhanh như thỏ! Thật nhanh như thỏ! Mỗi bước phóng đi bằng bao nhiêu bước chân rùa! Nhưng không ngờ! Thỏ thua rùa! Thỏ thua rùa bạn có biết không? Ôi không ngờ! Thỏ thua rùa! Đừng có cậy tài, khinh người, xấu lắm nha! Thật đáng chê - ế - hê! Thật đáng chê - ế ê - hê! [NL6, tr.129]...

 Những từ ngữ liên quan đến các chi tiết vui nhộn và hài hước trong các CK tiếng Việt dành cho TN giúp kể về một thế giới gồm các sự vật ngoài con người được nhân hóa hoặc có nhân tính: những con vật hung dữ bỗng hiền dịu, thân thương các sự vật hiện tượng như nắng, mưa, bão… không chỉ đơn giản đi vào CK như những hiện tượng tự nhiên mà nó gắn với những ước mơ, niềm tin, niềm hạnh phúc, đôi khi cả sự giận dỗi, hờn ghen: cây dễ thương, cây dễ sợ, nàng Bạch Mẫu Đơn, cây lòng thong là cây bí đao, gà trống thổi kèn, bếp hồng reo vui, anh dế, bác Chào mào, bạn rùa, bạn Sơn Ca, cha thằn lằn, chú ve, mẹ gà, chị gió, ông Tý, ông Mèo, chị ong vàng, chú ếch lười, chú thỏ vàng, chú trâu vàng, chú gấu bông… Những con vật trở thành rất khác thường và rất sinh động qua các từ ngữ gọi chúng: “con mèo lười”, “con ong chăm chỉ”, “con vịt xấu xí”, “con chim chích bông chăm chỉ”, “chim vành khuyên ngoan ngoãn”… 

Hoặc, từ tên mèo mà có những từ láy chỉ “con mèo”, với một sắc thái rất đặc biệt: khôi hài, âu yếm, đùa bỡn. Đây là cách gọi thỉnh thoảng gặp trong các CK tiếng Việt dành cho TN: con mẻo con mèo, hoặc là: con mẻo con meo, con mèo con mẻo con meo… 

Xuất phát từ đặc điểm mèo ngủ gật, mắt lim dim và hay nằm ườn phơi nắng, TN đã “gán” cho chúng cái danh “lười” để từ đó cảnh báo những ai ham ngủ, không chịu làm việc thì đều được gọi là “con mèo lười”. Ví dụ: 

(245) Leo leo rửa mặt như mèo. Xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu. Khăn mặt đâu mà ngồi liếm láp. Đau mắt rồi lại khóc meo meo [NL1, tr.43]. 

4.3. Tiểu kết 

1/ Các ca khúc tiếng Việt nói chung và từ ngữ chỉ sự vật nói riêng góp phần giúp thiếu nhi mở mang tầm hiểu biết về thế giới, về con người. Thông qua các lớp từ ngữ chỉ sự vật, thiếu nhi được mở rộng vốn từ và nghĩa của từ gắn với sự mở rộng về hoàn cảnh giao tiếp (từ gia đình đến nhà trường và xã hội) và sự phát triển của tư duy (từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng). Từ đó giúp thiếu nhi hiểu đúng và nắm vững nghĩa của từ ngữ, tăng sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh cũng như nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho những mục đích giao tiếp cụ thể. 

2/ Các từ ngữ chỉ sự vật góp phần giáo dục nhân cách và định hướng các giá trị thẩm mỹ cho thiếu nhi. Đó là, giáo dục tình cảm trân trọng và làm theo những điều tốt đẹp như: tình cảm gia đình, tình bạn và tình cảm cộng đồng, tình yêu quê hương đất nước và tình yêu thiên nhiên, tính trung thực, lòng dũng cảm, tính cần cù, chăm chỉ, ý thức phấn đấu trong học tập,.... Hay đó còn là, phê phán và xa lánh những điều xấu xa, tàn ác, lười nhác, ích kỷ, đố kỵ, ngu dốt, thiển cận. 

3/ Cùng với những giai điệu ngân nga, vui tươi hay trầm lắng, hào hùng, khôi hài..., những từ ngữ này gợi lên hình ảnh ngộ nghĩnh vui tươi, hồn nhiên và thế giới sống động muôn màu..., có vai trò giải trí tích cực, mang lại những giá trị đi cùng năm tháng cho các ca khúc. Từ ngữ chỉ sự vật mang đến cho người đọc, người nghe những liên tưởng phong phú. Đó là cả thế giới xã hội, tự nhiên sinh động và trong đó các sự vật thường được nhân hóa. Thiếu nhi hình dung ra như thế giới ấy trong quan hệ với mình, cần ứng xử như thế. 

KẾT LUẬN 

1. Sự vật được xác định là những cái thường có chiều kích nhất định, chiếm chỗ trong không gian (hoặc trong tâm trí của người nói): con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng… Luận án quan niệm từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi là các danh từ và ngữ (cụm danh từ) dùng để gọi tên sự vật và phân nhóm các từ ngữ chỉ sự vật thành các nhóm căn cứ vào chức năng: chỉ người; chỉ động vật; chỉ thực vật; chỉ đồ vật; chỉ hiện tượng tự nhiên; chỉ khái niệm trừu tượng... Gọi sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản giao tiếp hằng ngày là sự ứng dụng và sáng tạo, linh hoạt và tùy ý từ cái chung; là hiện tượng thuộc về lời nói trong đối lập tương đối với ngôn ngữ. Cách gọi sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản mang tính cá nhân, phụ thuộc vào loại văn bản và hoàn cảnh giao tiếp, nên đa dạng hơn rất nhiều so với định danh. Cụm từ “cách gọi (chỉ) sự vật” được dùng như một khái niệm công cụ khi triển khai nội dung nghiên cứu trong luận án. 

Tâm lý học lứa tuổi và lý luận về giáo dục học cho thấy những yêu cầu đối với các nhạc sĩ khi viết loại ca khúc này, trên cơ sở nhận thức: Ca khúc có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức, điều chỉnh các hoạt động tâm lý của thiếu nhi, hướng thiếu nhi tới những hoạt động mang tính mục đích, tính xã hội, tính chân thiện mỹ… Khi sáng tạo ra các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các nhạc sĩ phải hình dung đồng hành và đang cùng thiếu nhi hát (trong các tiết tấu và giai điệu). Kể lên bằng lời câu chuyện của thiếu nhi, tức là xuất phát từ góc nhìn cùng giọng điệu của các ca sĩ và người nghe nhỏ tuổi này. 

2. Qua khảo sát và miêu tả đặc điểm 2174 đơn vị với 5209 lượt từ ngữ chỉ sự vật, có thể thấy xét về mặt cấu tạo, từ ngữ chỉ sự vật vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chia thành: từ (từ đơn và từ ghép) 494 đơn vị với 2737 lượt; ngữ gồm 1680 đơn vị với 2472 lượt. Từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo là ngữ gồm 1680 đơn vị, xuất hiện 2472 lượt. Các đơn vị này có cấu tạo gồm từ 2 yếu tố đến 6 yếu tố, trong đó: ngữ có 2 yếu tố chiếm số lượng lớn nhất: 516 đơn vị, chiếm xấp xỉ 30,72% và 869 lượt, chiếm xấp xỉ 35,86%. Sự phân loại trên phản ánh: các ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi luôn có xu hướng mở rộng thành phần miêu tả là lối được ưa dùng. Các ngữ gồm 2, 3 và 4 yếu tố xuất hiện nhiều nhất. 

Xét về phương thức gọi sự vật, các biểu thức gọi sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chủ yếu được tạo thành từ 3 phương thức chính với 3 mô hình gọi chung và các mô hình cụ thể (2174 biểu thức đặc trưng cho 5209 đơn vị). 

Phương thức cơ sở: gồm 374 biểu thức, chiếm xấp xỉ 12,6% và dùng danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài/ loại để chỉ sự vật. Trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, danh từ này được dùng với hai tư cách: 

Thứ nhất, đó là các danh từ chung để chỉ chung cho một giống/ loài/ loại nào đó; 

Thứ hai, sử dụng với tư cách là tên riêng. Đây là phương thức có vai trò nòng cốt tạo nên các yếu tố trong các từ ngữ chỉ sự vật khác. Phương thức phức: gồm 1849 biểu thức, chiếm xấp xỉ 85,1%. Các đơn vị này được tạo ra theo cách kết hợp hai hay nhiều yếu tố có nghĩa với nhau hoặc kết hợp nhiều yếu tố để thành các cụm danh từ có tính cố định. 

Phương thức rút gọn: các từ ngữ được dùng để gọi sự vật theo phương thức này gồm 51 từ ngữ, chiếm xấp xỉ 2,3%. Cách gọi sự vật theo phương thức rút gọn nhằm lược bỏ các yếu tố phụ và tổ hợp các yếu tố chính để làm thành các tổ hợp mới (rút gọn và kết hợp) tạo cho sự vật điểm nhấn, mang đậm màu sắc khẩu ngữ. 

Cấu trúc của các biểu thức gọi sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi không mang tính ràng buộc khuôn mẫu nghiêm ngặt. Phần lớn được cấu tạo theo kiểu mở rộng thành phần miêu tả. Bằng cách này, các từ ngữ còn là các tín hiệu thẩm mỹ giúp thiếu nhi đi vào thế giới nghệ thuật, dùng để gọi và gợi ra những hình ảnh sự vật sống động phong phú đa dạng, để người hát và người nghe ghi nhớ, cùng khám phá thế giới quanh ta và chính mình. 

3. Với tổng số là 2174, với số lượt xuất hiện là 5209 trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các từ ngữ đã được dùng chỉ những loại sự vật rất đa dạng, từ các sự vật hữu hình đến các sự vật trừu tượng, tạo nên các nhóm khác nhau. Các từ ngữ chỉ sự vật này được phân loại thành 6 nhóm: người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu trượng. Một số nhóm từ ngữ được dùng với hai chức năng: chỉ sự vật và xưng gọi. Các từ ngữ xuất hiện trong các nhóm là không tương đồng nhau. Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện cao: người, thực vật, hiện tượng tự nhiên. Nhóm chỉ người xuất hiện với số lượng và số lượt lớn nhất trong tổng số với 569/ 2174 từ ngữ, chiếm xấp xỉ 26.17%; số lượt xuất hiện 2222/ 5209 từ ngữ, chiếm xấp xỉ 42.65%. Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện trung bình là động vật, đồ vật. Nhóm chỉ động vật có số lượng 327/2174, chiếm xấp xỉ 15.04%; số lượt xuất hiện 636/ 5209, chiếm xấp xỉ 12.21%; Nhóm chỉ đồ vật có số lượng 303/ 2174, chiếm xấp xỉ 13.94%; số lượt xuất hiện 483/ 5209, chiếm xấp xỉ 9.27%. Nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện thấp là nhóm chỉ sự vật trừu tượng với số lượng 144/ 2174, chiếm xấp xỉ 6.62%; số lượt xuất hiện 397/ 5209, chiếm xấp xỉ 7.61%. 

Biểu tượng là một trong những đặc trưng gặp nhiều trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi. Đó là: Tiên, Rồng, ông tiên, Bác Hồ, bà, bố, mẹ; con trâu, cái tôm, cái tép; cây lúa, hoa phượng; sách vở, con số…, chủ yếu biểu trưng cho khát vọng về cái đẹp, sự kiên định, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, niềm tin, sự phấn đấu cho ngày mai… Biểu tượng, trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chính là những khuôn mẫu lý tưởng trong những “bài học lớn” cho thiếu nhi, qua các từ ngữ chỉ sự vật. 

4. Nói chung, cũng như toàn bộ ca từ, việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi có vai trò giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp, đồng thời phát triển những phẩm chất tốt đẹp cho thiếu nhi. Cùng với những giai điệu ngân nga, vui tươi hay trầm lắng, hào hùng, khôi hài..., những từ ngữ này gợi lên hình ảnh ngộ nghĩnh vui tươi, hồn nhiên và thế giới sống động muôn màu..., đồng thời có vai trò giải trí tích cực. 

Từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt có vai trò rất lớn trong sự giáo dục và từ đó kêu gọi hành động. Việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc này có những vai trò dễ nhận thấy. Trước hết, giúp thiếu nhi hiểu đúng và nắm vững nghĩa của từ ngữ, nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ trong các hoàn cảnh đa dạng của lời nói và trong các văn bản nghệ thuật. Tiếp theo, giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan cho người hát, người nghe. 

Những từ ngữ chỉ sự vật ấy giúp các ca sĩ thiếu nhi mang đến cho người nghe nhưng liên tưởng phong phú, đó là cả thế giới xã hội - tự nhiên sinh động và hình dung ra như thế giới ấy trong quan hệ với mình, cần ứng xử như thế nào. Số lượt từ ngữ xuất hiện cao nhất là về người; thực vật; hiện tượng tự nhiên. Nhóm chỉ người xuất hiện với số lượng và số lượt lớn nhất trong các ca khúc, điều đó không phải là ngẫu nhiên: quá trình nhận thức của thiếu nhi về thế giới xung quanh, trước hết là về người, trong quan hệ với chính mình. 

5. Tác giả luận án mong có dịp mở rộng phạm vi nghiên cứu về các nhóm từ ngữ trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi với cách gọi cả hoạt động, tính chất có liên quan đến các phạm trù (về động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng - các nội dung góp phần làm sáng tỏ hơn đặc trưng ca từ trong các ca khúc nói trên. Từ đó, kết quả nghiên cứu có thể giúp được phần nào cho các nhạc sĩ một định hướng sáng tác ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, để tác phẩm hay và có ý nghĩa giáo dục cao hơn - một vấn đề đang còn không ít trăn trở trong đời sống xã hội hiện nay, ở Việt Nam. 

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 

1. (2016), “Các từ ngữ chỉ động vật trong ca khúc thiếu nhi Việt Nam”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 2, tr.71-75. 

2. (2016), “Tìm hiểu những giá trị văn hóa ứng xử trong ca từ bài hát dành cho thiếu nhi”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa và ngôn ngữ các dân tộc trong sự giao thoa giữa các quốc gia Đông Nam Á” Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên. Tr. 482-489. 

3. (2018), “Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi từ phương diện tên chung”, Tạp chí Giáo dục và xã hội. tháng 4 (kỳ 2), tr. 154-159. 

4. (2018), “Hiện tượng chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 5, tr. 132- 138. 

5. (2019), “Đặc điểm các từ ngữ chỉ động vật và cơ thể của động vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi”, Tạp chí Giáo dục và xã hội, tháng 4 (kỳ 2), tr.187-192. 

6. (2019), “Một số biểu tượng trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi xét trên cơ sở “nguồn”, Tạp chí Giáo dục và xã hội, tháng 5, tr.130-133. 

TƯ LIỆU KHẢO SÁT: 

1. Nguyễn Văn Hiên (2015), Tuyển tập nhạc thiếu nhi, Nxb Tổng hợp Đà Nẵng. 

2. Vũ Hoàng (2015), Tuyển tập nhạc Thiếu nhi và thanh thiếu niên, Nxb Tổng hợp Đà Nẵng. 

3. Hoàng Lân (2006), Ca khúc thiếu nhi Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 

4. Nhiều tác giả (2009), 50 bài hát mẫu giáo được yêu thích, Nxb Âm nhạc, Hà Nội 

5. Nhiều tác giả (2009), 50 bài hát nhi đồng được yêu thích, Nxb Âm nhạc, Hà Nội 

6. Nhiều tác giả (2009), 50 bài hát thiếu niên được yêu thích, Nxb Âm nhạc, Hà Nội 

7. Nhiều tác giả (2010), Trẻ thơ hát, Nxb Âm nhạc, Hà Nội 

8. Nhiều tác giả (2010), Tập ca khúc tuổi hồng cho em, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 

9. An Thuyên (chủ biên) (2013), Giai điệu tuổi thần tiên, tập 1A, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 

10. An Thuyên (chủ biên) (2013), Giai điệu tuổi thần tiên, tập 1B, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 

11. An Thuyên (chủ biên) (2013), Giai điệu tuổi thần tiên, tập 1C, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội 

12. An Thuyên (chủ biên) (2013), Giai điệu tuổi thần tiên, tập 1D, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Tiếng Việt 

1. Dương Viết Á (2005), Ca từ trong âm nhạc Việt Nam, Nxb Viện âm nhạc, Hà Nội. 

2. Dương Viết Á (2005), Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa, tập 1, Nxb Hà Nội. 

3. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Bốn phương, Sài Gòn. 

4. Đào Duy Anh (1996), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học xã hội. 

5. Nguyễn Văn An (2011), Từ ngữ nghề gốm Thổ Hà, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên. 

6. Nguyễn Phương Anh (2012), Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Từ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Hồng Đức. 

7. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

8. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 

9. Hoàng Trọng Canh (2008), "Từ ngữ gọi tên các công cụ trong tiếng Nghệ Tĩnh”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5, tr. 6-10. 

10. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 

11. Nguyễn Tài Cẩn (1997), Ngữ pháp tiếng Việt. Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb ĐH-THCN, Hà Nội. 

12. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội. 

13. Chafe, Wallce L. (1999), Ý nghĩa và cấu trúc của ngôn ngữ, Nxb Giáo dục. 

14. Chănphômmavông (1999), Đặc điểm định danh và hiện tượng chuyển nghĩa trong trường từ vựng tên gọi các bộ phận con người tiếng Lào (có xem xét trong mối quan hệ với tiếng Việt), Luận án tiến sĩ, Hà Nội. 

15. Đỗ Hữu Châu (1969), “Một số ý kiến về việc giải thích nghĩa của từ trong Từ điển tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2. 

16. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục. 

17. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

18. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội. 

19. Đỗ Hữu Châu (2000),“Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 10. 

20. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục. 

21. Đỗ Hữu Châu (2004), Giáo trình từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐHSP

22. Đỗ Hữu Châu (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập (T1, T2), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

23. An Chi (2015), “Từ thuần Việt”, Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 2, số 28-30. 

24. Nguyễn Văn Chiến (2004), Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt, Nxb Khoa học xã Hội, Hà Nội. 

25. Đỗ Thị Minh Chính (2005), Từ đồng dao đến những bài hát - đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 

26. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

27. Nguyễn Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Việt Nam. 

28. Nguyễn Hữu Đạt (2000), Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội

29. Nguyễn Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

30. Nguyễn Đức Dân (1997), “Cái lý và chiều sâu qua ngôn ngữ trong truyện nhi đồng”, Tạp chí Văn học, số 3, tr. 91-97, Hà Nội. 

31. Nguyễn Đức Dân, 2000, Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục. 

32. Đinh Xuân Dũng (2004), Mấy cảm nhận về văn hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 

33. Nguyễn Thị Bạch Dương (2015), Trường từ vựng động vật trong truyện đồng thoại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 

34. Dương Kỳ Đức (1993), Các đơn vị định danh đa thành tố, một cách tiếp cận từ điển, Luận án tiến sĩ, Hà Nội. 

35. Đinh Văn Đức (1985), "Góp một vài suy nghĩ vào vấn đề thảo luận “Từ - hình vị - tiếng trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr. 42-56. 

36. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 

37. G.N. Pospelov chủ biên (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, tập 1, Nxb Giáo dục. 

38. Chu Thị Quỳnh Giao (1999), “Biểu tượng rùa trong văn hóa Việt Nam và thế giới”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, tr. 22-30. 

39. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

40. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2010), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

41. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

42. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

43. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.  

44. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 

45. Nguyễn Thiện Giáp (2011), Vấn đề “từ” trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam. 

46. Nguyễn Thiện Giáp (2013), “Ba cách xác định từ và hình vị tiếng Việt”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Nghiên cứu nước ngoài, tập 29, số 4, tr 1-7. 

47. Nguyễn Thiện Giáp (2014), Nghĩa học Việt ngữ, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

48. Nguyễn Thiện Giáp (2015), Từ và từ vựng học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

49. Hồng Hà (1984), “Một vài nhận xét về các con vật trong thành ngữ so sánh chậm như sên, nhát như thỏ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, tr. 8-9, Hà Nội. 

50. Nguyễn Bích Hà (1991), “Hình tượng rắn từ thần thoại đến cổ tích”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 1, Hà Nội. 

51. Lê Thị Hà (1998), Mô hình các từ ghép và ngữ định danh chỉ y phục của người Việt xét về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. 

52. Hoàng Văn Hành (1988), "Về cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai trong các ngôn ngữ đơn lập", in trong "Những vấn đề ngôn ngữ các dân tộc ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á", Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 

53. Hoàng Văn Hành (1991), Từ ngữ tiếng Việt trên đường hiểu biết và khám phá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 

54. Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (1998), Từ tiếng Việt - hình thái - cấu trúc - từ láy, từ ghép, từ chuyển loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  

55. Phạm Thị Hòa (2000), Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người (các động từ nhiều nghĩa có nghĩa nói năng), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 

56. Chu Thị Hảo (1995), Nghĩa của thành ngữ có thành tố chỉ vật thể hiện tượng tự nhiên trong tiếng Việt, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 

57. Cao Xuân Hạo (2007), Tiếng Việt: mấy mấy đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh. 

58. Lê Ngọc Hậu (2002), Ca từ trong những ca khúc cho giới trẻ ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 

59. Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), Trường từ vựng về con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc, Luận án thạc sĩ ngôn ngữ học Hà Nội. 

60. Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (2003), Từ điển văn học - Bộ mới, Nxb Thế giới.

61. Nguyễn Thái Hòa (2005), Từ điển tu từ - phong cách - thi pháp học, Nxb Giáo dục. 

62. Đỗ Thị Hòa (2010), Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt, luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Hà Nội. 

63. Tô Hoài (1968), “Tôi viết đồng thoại: Dế Mèn, Chim Gáy, Bồ Nông”, Tạp chí Văn học, số 10. 

64. Vấn Hồng (2012), Văn học thiếu nhi, nửa thế kỷ một con đường, Nxb Kim Đồng, Hà Nội. 

65. Châu Minh Hùng, Lê Nhật Ký (2003), Văn học cho thiếu nhi, Đại học Quy Nhơn, Quy Nhơn. 

66. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (Ngôn từ - Tác giả - Hình tượng), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội... 

67. Tử Đinh Hương (2014), Biểu tượng cỏ cây, hoa, chim, động vật nhỏ, thú, Nxb Kim Đồng, Hà Nội. 

68. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản, NXB Khoa học Xã hội. 

69. Nguyễn Văn Khang (2007), Từ ngoại lai trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

70. Nguyễn Thúy Khanh (1996), Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga, Luận án TS, HN

71. Nguyễn Thúy Khanh (2004), “Sự thâm nhập của từ địa phương vào ngôn ngữ toàn dân (dưới cái nhìn của từ điển học)” Tạp chí Ngôn ngữ, số 7. 

72. Trịnh Thị Cẩm Lan (2009), "Biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt (trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật)”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 5 (163), tr. 28-33. 

73. Đinh Trọng Lạc (2011), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

74. Nguyễn Lai (1993), Về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, in trong: Việt Nam - những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 

75. John Lyons (Nguyễn Văn Hiệp dịch, 2008), Ngữ nghĩa học dẫn luận, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

76. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 

77. Lê Nin (1962), Bút kí triết học, Nxb Sự thật, Hà Nội. 

78. Đỗ Thị Kim Liên (2007), “Trường ngữ nghĩa biểu hiện quan niệm về nữ giới trong tục ngữ Việt”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6 (140). 

79. Nguyễn Thế Lịch (1987), “Các hướng chuyển nghĩa của nhóm danh từ biểu thị tên gọi động vật”, Tạp chí Ngôn ngữ, sô 1-2, tr. 58 -65.  

80. Tăng Tấn Lộc (2014), “Đặc điểm các nhóm từ chỉ sông nước trong tiếng Việt ở Nam Bộ”, Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 8, tr. 31-36. 81. Lã Thị Bắc Lý (2011), Giáo trình Văn học trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 

82. Vĩnh Long (1976), Sự tròn vành rõ chữ của tiếng hát dân tộc, Viện Nghệ thuật, số 12, Hà Nội. 

83. Nguyễn Tố Mai (1992), Vài nét về tìm hiểu những ca khúc Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. 

84. Trần Thị Mai, (2010), “Trường từ vựng chỉ không gian trong tập thơ Lửa thiêng của Huy Cận”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 1+2 (171+172). 

85. Chomsky N. (2007), Những chân trời mới trong nghiên cứu ngôn ngữ và ý thức, Nxb Giáo dục. 

86. Vũ Hồng Nga (2007), Một số biện pháp tăng cường hiệu quả giờ hát cho học sinh lớp 6, 7 tại trường THCS Trần Đăng Ninh, thành phố Đông Hà, Luận văn Thạc sĩ trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương. 

87. Hà Quang Năng (1998), Khả năng nhận biết và sử dụng từ ghép, từ láy của học sinh tiểu học, trong “Tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, H, tr. 9 - 32. 

88. Hà Quang Năng (chủ biên), 2009), Sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XIX, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 

89. Thạch Thị Hoàng Ngân (2011), “Trường ngữ nghĩa sông nước trong thơ ca dân gian Nam Bộ”, Ngữ học toàn quốc 2011 Diễn đàn học tập và nghiên cứu, Hà Nội, tr.580 - 588.
90. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 

91. Triều Nguyên (2011), Tìm hiểu thế giới động vật dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa dân gian người Việt (Qua dẫn liệu vùng Thừa Thiên Huế), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 

92. Nguyễn Thị Nhung (2015), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Thái Nguyên. 

93. Nguyễn Văn Nở (2009), “Biểu trưng động vật trong tục ngữ Việt Nam”, Tạp chí Văn học dân gian, tr. 72 -76. 

94. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 

95. Phan Quang (2008), Tuyển tập mười năm, Nxb Văn học, Hà Nội. 

96. Phan Văn Quế (1996), Ngữ nghĩa của thành ngữ - tục ngữ có thành tố chỉ động vật trong tiếng Anh (trong sự so sánh đối chiếu với tiếng Việt), Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Ngôn ngữ học, Việt Nam. 

97. Ferdinand de Saussure (Cao Xuân Hạo dịch, 2005), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 

98. Nguyễn Thị Kim Soa (2011), Tìm hiểu một số ca khúc Việt Nam sử dụng chất liệu dân ca Nghệ Tĩnh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương. 

99. Trịnh Sâm (2013), Ý niệm sông nước trong tri nhận của người Nam Bộ, Hội thảo khoa học Quốc tế - Ngôn ngữ học Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập. 

100. Đặng Thị Hảo Tâm (2011), “Trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn và ý niệm CON NGƯỜI”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2 (267), tr. 25-34. 

101. Vấn Thanh (sưu tầm - biên soạn) (2003), Văn học thiếu nhi Việt Nam (Nghiên cứu, lý luận, phê bình, tiểu luận - tư liệu), tập 1 và 2, Nxb Kim Đồng, Hà Nội. 

102. Nguyễn Kim Thản (1976), Động từ trong tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

103. Phạm Tất Thắng (1996), Đặc điểm của lớp tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt, Luận án tiến sĩ. Viện Ngôn ngữ, HN.  

104. Phạm Tất Thắng (2004), “Sự khác biệt giữa tên riêng và tên chung”, tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 6. 

105. Lý Toàn Thắng (2001), “Bản sắc văn hóa: thử nhìn từ góc độ tâm lý - ngôn ngữ”, T/c Ngôn ngữ, số 15. 

106. Lý Toàn Thắng (2002), Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học đại cương, Nxb Khoa học xã hội 

107. Lý Toàn Thắng (2009), Ngôn ngữ học tri nhận - Từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt, Nxb Phương Đông, Tp. Hồ Chí Minh. 108. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

109. Trần Ngọc Thêm (2009), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội. 

110. Lê Quang Thiêm (2008), Ngữ nghĩa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

111. Phạm Thị Mai Thu (2015), Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng dân gian, Luận văn Th.S, trường ĐHKHXH - NV, ĐH Quốc gia Hà Nội. 

112. Bùi Minh Toán (1999), Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục. 

113. Bùi Minh Toán (2015), Ngôn ngữ với văn chương, Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội. 

114. Nguyễn Đức Tồn (1994), “Đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3. 

115. Nguyễn Đức Tồn (1997), “Tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với việc biểu trưng tâm lý - tình cảm”, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 3 (47), tr. 60-64. 

116. Nguyễn Đức Tồn (2001), “Cách nhận diện và phân biệt từ thuần Việt với từ Hán Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 2.  

117. Nguyễn Đức Tồn (2002), Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 

118. Nguyễn Đức Tồn (2003), “Cần phân biệt hai bình diện nhận thức và bản thể trong nghiên cứu ngôn ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 11. 

119. Nguyễn Đức Tồn (2011), “Về các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt từ góc độ nhận thức và bản thể”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, 9. 120. Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐH& THCN. 

121. Hoàng Tuệ (1984), Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, Nxb Tác phẩm mới, Hội Nhà văn. 

122. Ngô Gia Tuệ (2001), Một số đặc điểm tâm sinh lý trong việc tiếp thu âm nhạc của học sinh tiểu học, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. 

123. Nguyễn Thanh Tùng (2003), Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của nhóm từ chỉ động thực vật tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh), Luận án tiến sĩ, ĐHXH-NV Tp HCM

124. Hồ Xuân Tuyên (22013), Định danh sự vật liên quan đến sông nước vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong phương ngữ Nam Bộ, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học. 

125. Đinh Thị Trang (2015), Từ ngữ nghề biển của ngư dân Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng. 

126. Nguyễn Thế Truyền (2014), “Tìm hiểu những điểm khác biệt về định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hán”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1 (296), tr.37-49, Hà Nội. 

127. Nguyễn Đăng Trực (2001), Việc giảng dạy bộ môn hát nhạc ở trường tiểu học, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. 

128. Nguyễn Như Ý (CB, 2003), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

129. Hoàng Văn Yến (1990), Tìm hiểu sáng tác ca khúc cho mẫu giáo, Luận văn thạc sĩ, Học viện Âm nhạc Quốc gia. 

130. Nguyễn Ngọc Vũ (2012), Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 

131. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (2004), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

132. Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học. 

133. Viện Ngôn ngữ (2002), Từ ngữ nghề gốm Bát Tràng, Đề tài Khoa học cấp Viện (Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Khang), Hà Nội. 

Tiếng Anh

134. Cruse. A (2000), Meaning in language - an introduction to semantics and pragmatics, Oxford Universty press. 

135. Austin, J (1992), How to do things with words, Cambridge, Harvard Universty Press. 

136. Anderson, J.B. (1976), Language, memory and thought, Hillsdale. 

137. Ebbleck, M. A (1991), Early Childhood Education, Melbourne: Longman Cheshine.  

Thái Nguyên, tháng 11/2020
Vũ Thị Hương
Theo http://tnue.edu.vn/ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...