Thứ Tư, 7 tháng 4, 2021

Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2

Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong 
ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2

+ Đặc điểm chỉ giới tính: 

Những cách gọi như bạn nam, bạn nữ, bạn gái, bạn trai, chàng trai, cô gái, bác gái, bác trai… là cách gọi quen thuộc của TN. 

TN thường gọi các đối tượng mình chưa quen biết hoặc chưa nhớ tên bằng cách phân biệt theo giới tính: nam - nữ, gái - trai. Ví dụ: 

(53) Hình như trong từng tia nắng có nét tinh nghịch bạn trai. Hình như trong từng hạt mưa có nụ cười duyên bạn gái [NL4, tr.35]. 

+ Đặc điểm độ tuổi: Em bé, mẹ già, cháu bé, bé lớn, bé tí xíu, bé to con, em bé bé, trẻ thơ nhớn, bạn bè trang lứa, người lớn… Ví dụ: 

(54) Làm anh khó đấy, tưởng đâu chuyện đùa, với em bé bé phải người lớn cơ [NL2, tr.23]. 

(55) Em muốn quanh em rộn tiếng reo cười, bạn bè trang lứa vui hát ở mọi nơi [NL4, tr.205]. 

+ Đặc điểm về nghề nghiệp: Cô công nhân, anh phi công, chú bộ đội, chú hải quân, chú mục đồng... Ví dụ: 

(56) Em yêu cô công nhân sớm hôm chuyên cần trong tiếng máy reo vang. Em yêu cô công nhân nét mặt dịu dàng vẫn đón xe bên nhà trên đường vào ca ba [NL6, tr.62]. 

(57) Rồi mai ta khôn lớn, ta sẽ làm anh phi công. Ta cùng anh bạn “Mích” bay giữa bầu trời xanh [NL5, tr.26]. 

+ Đặc điểm tình thái: Bác kính yêu, con ngoan, cô vui mừng, mẹ hiền, mẹ yêu, các em thơ ngây, bạn bè thân thương,… Ví dụ: 

(58) Có tiếng sáo vi vu. Như tiếng ru mẹ hiền. Khói vương trên bờ tre. Có đàn dê đi về [NL8, tr.19]. 

(59) Chào thầy cô, chia xa ngày tháng. Thôi chào bằng lăng rơi bịn rịn sân trường. Bạn bè thân thương mắt vương buồn mơ ước. Thả hồn nhiên bay theo làn gió [NL5, tr.34]. 

+ Đặc điểm địa danh: bộ đội Trường Sơn, thiếu nhi thế giới, thiếu nhi Việt Nam, bạn khắp nơi, Trường Sơn, Việt Nam, thế giới, khắp nơi, mọi miền… Ví dụ: 

(60) Hoa phong lan đêm rừng đi cùng ông đánh giặc. Hoa vào Nam ra Bắc theo bộ đội Trường Sơn trên ba lô đã vá, trên chiếc mũ đã sờn [NL6, tr.79]. 

(61) Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam [NL11, tr.40]. 

(62) Mùa xuân đẹp quá, bạn khắp nơi mau cùng lại đây chơi! A, mùa xuân đẹp quá, cùng nắm tay nhau, cùng đùa vui. Thật thắm tươi khi mùa xuân đến mọi nơi. Đẹp biết bao tình thân ái trên đời [NL10, tr.30]. 

+ Đặc điểm nghề nghiệp: 

+ Vị trí/ thời gian/ tình thái: chú bộ đội hải quân, người giáo viên hôm nay, người lính đảo, chú bộ đội anh hùng,… Ví dụ: 

(63) Từ thành phố Bác Hồ em nhớ về quần đảo Trường Sa. Giữ biển trời bao la chú bộ đội hải quân mến thương [NL8, tr.131]. 

+ Đặc điểm tuổi tác/ hoạt động: 

+ Hoạt động: bà lão qua đường, người đi chúc Tết,… Ví dụ: 

(64) Bà lão qua đường [NL5, tr.58]. 

(65) Này là đoàn Lân đón Tết. Kìa là người đi chúc Tết. Em bỗng thấy nôn nao [NL6, tr.124]. 

+ Đặc điểm từ xưng hô: 

+ Tên riêng: Đó là các ngữ như cháu Bác Hồ Chí Minh, con bác Ba Tèo, con bác Ly,… Ví dụ: 

(66) Khi trong phương đông vừa hé anh dương, khăn quàng trên vai chúng em tới trường. Em yêu khăn em càng gắng học hành, sao cho xứng cháu Bác Hồ Chí Minh [NL5, tr.11]. 

(67) Lỳ là một em chăn trâu con bác Ly Lỳ lầm lì giống, giống tính ông lầm lì [NL9, tr.55]. 

+ Đặc điểm hoạt động:

+ Đồ vật/ nơi chốn/ hiện tượng: Đó là các ngữ như cô lái máy cày, mẹ dãi dầu mưa nắng, người cho em tất cả, người hi sinh cho Bắc Nam, lớp thanh niên xây dựng đất nước… Ví dụ: 

(68) Ơi chú hành quân, cô lái máy cày có nghe phấp phới tiếng diều lượn bay [NL6, tr.120]. Phương thức phức có thể kết hợp danh từ chung chỉ người với với 3 yếu tố chỉ đặc điểm. Đó là cách thức/ hoạt động/ trạng thái, hiện tượng/ địa danh. Ví dụ: người khơi nguồn nước, người khơi suối nước, người hi sinh cho Nam Bắc,… Ví dụ: 

(69) Cô là người gieo ánh sáng. Cho chồi em xanh tươi. Cô là người khơi suối nước. Cho sông em lớn trôi [NL4, tr.92]. 

Loại 2: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chỉ người Phương thức phức có thể kết hợp danh từ đơn vị/ số từ với danh từ chỉ người: Các từ ngữ chỉ đơn vị/ số lượng: những, các, mỗi, mọi, lũ, bọn, đàn, các,…, nhiều, một, hai, ba… Các từ này có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc cùng xuất hiện để kết hợp với các danh từ chỉ người. Trong tư liệu khảo sát, các BTGSV thuộc loại này với 2 cách kết hợp: 

- Kết hợp giữa danh từ đơn vị/ số từ với danh từ chung chỉ người: các bạn, đàn anh, hai em, đàn em, mỗi con người, lũ tây, lớp chúng ta, nhiều người,… Ví dụ: 

(70) Để loài người chung sống trong hòa bình. Để đàn em được vui ca học hành [NL7, tr. 22]. 

(71) Em mong sao trên trái đất mỗi con người, như em đây là chim trắng chim hòa bình [NL2, tr.74]. 

- Kết hợp giữa danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + yếu tố chỉ đặc điểm. Cách kết hợp này có thể gồm: Thứ nhất, mô hình: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + 1 yếu tố chỉ đặc điểm. Các BT thuộc mô hình trên như: các bạn trai, đàn em thân yêu, đàn em thơ, lũ giặc tham tàn, loài người mến yêu, một anh giữa, một anh béo, bao người vất vả… Ví dụ: 

(72) Trường làng em bên cạnh đình, vừa sạch mát lại vừa xinh. Sớm chiều đàn em thơ ríu rít tới đây vui học chung [NL9, tr.22]. 

(73) Một anh béo trông thật đến hay [NL1, tr.38]. Thứ hai, mô hình gồm: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + 2 yếu tố chỉ đặc điểm.
Các BT thuộc mô hình trên như: lớp cháu con giữ gìn nước nhà, người bạn hiền thương mến, từng lớp trai làng đi chinh chiến…Ví dụ: (74) Những em bé ngoan [NL9, tr.118]. 

(75) Mai sau là lớp thanh niên dựng xây đất nước, rồi mai sau là lớp cháu con giữ gìn quê nhà [NL9, tr.52]. 

b1) Các biểu thức chỉ sự vật ngoài con người 

- Danh từ chung chỉ họ (giống) + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài khác 

Các BTGSV theo mô hình này như: chim sâu, chuồn chuồn ớt, chuồn ngô, chim sâu, bọ ngựa, cỏ may, cỏ trinh nữ, hoa gạo, hoa bão táp, hoa phong ba, lá Trạng Nguyên, rừng thu, thông rừng, Phong lan Trường Sơn, hoa lục bình, hoa ngâu, tre Việt Nam, cỏ Bồ Đề, lúa vầng trăng, cây bí đao, áo ai, áo cha, áo em, khăn em, áo cha anh, áo giáp sắt, đò chú cuội, còi xe lửa, mo cây cau, quạt Bác Hồ… Ví dụ trường hợp: (76) chuốn ngô 

Yếu tố chung chỉ giống/ loài/ loại động vật: chuồn (loài động vật thuộc họ côn trùng); 

Yếu tố chỉ loài giống/ loài thực vật: ngô (danh từ chỉ cây lương thực). 

(77) phong lan Trường Sơn 

Yếu tố chỉ loài giống/ loài thực vật: phong lan (danh từ chỉ loài hoa mọc trên cây và thường ở rừng. Danh từ chỉ địa danh: Trường Sơn (nơi hoa phong lan thường sống). 

(78) áo chú bộ đội 

Danh từ chung chỉ loại đồ vật: áo (danh từ chỉ vật mặc từ cổ trở xuống, chủ yếu che lưng và ngực; Danh ngữ chỉ sự vật khác: chú bộ đội (cụm từ chỉ người là nam giới và làm trong quân đội). 

- Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài 

Các BT thuộc mô hình này như: anh dế, bác Chào mào, bạn rùa, bạn Sơn Ca, cha thằn lằn, chàng ve sầu, chị ong, chú chuột, chú Dã tràng, chú dế, chú gà, chú heo, chú mèo, chú ve, mẹ gà, chị gió, ông Tý, ông Mèo,… Ví dụ trường hợp 

(79): chị ong, trong đó từ xưng hô: chị (danh từ thân tộc chỉ người con gái cùng thế hệ trong gia đình, trong dòng họ nhưng thuộc hàng trên, trong quan hệ với “em”); ong (chỉ động vật thuộc giống sâu bọ cánh màng, có ngòi đốt ở đuôi, thường đục lỗ và làm tổ trong các thân cây khô, đặc biệt là tre, nứa. 

- Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài + 1 đặc điểm 

Ví dụ trường hợp (80): chị sáo nâu 

Từ xưng hô: chị (danh từ thân tộc được dùng để xưng hô); yếu tố chung chỉ giống/ loài/ loại: sáo (chỉ loài chim nhỏ, lông đen có điểm trắng ở cánh thường sống thành bầy đàn); đặc điểm: nâu (là tính từ chỉ màu sắc - màu trung gian giữa đen và đỏ hoặc giữa vàng và đỏ sẫm). 

Xin dẫn một số BT thuộc mô hình này: chị ong vàng, chú bê lạ lùng, chú chim trên cành, chú ếch lười, chú giun gầy, con chim rừng, mẹ cún con, chú thỏ vàng, chú trâu vàng, chú gấu bông... 

- Danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1, 2, 3... đặc điểm 

Các BT thuộc mô hình này: măng mọc thẳng, dừa xanh xanh Bình Định, bèo đông xuân, đào hồng tươi, lúa đồng sâu, lúa đồng xanh, lúa thâm canh, tràm xanh xanh Hậu Giang, biển xanh, đất đỏ, đêm đen, mây trắng, nắng hồng, ban mai vàng, xuân thắm, khói trắng, nắng xanh, cát trắng, biển rộng, đảo xa, sóng cả, suối xa, đêm dài, bùn sâu, đá mòn, mùa vui, xuân vui, gió lạnh, gió mát, mây dịu dàng, đất mới, nước long lanh, nồi cơm nếp, rơm nếp thơm, xe đạp xanh, bếp than hồng, lửa hồng, máy bơm, nón lá, nón mê, sách mới, cờ sao vàng, diều vàng nắng, que bắc vai, … 

Tương tự, các biểu thức: 

(81): cúc vàng nở 

Yếu tố chỉ giống/ loài/ loại: cúc (danh từ chỉ loài hoa có các hoa mọc trên một đế chung trông như một hoa; Đặc điểm: 1. vàng (tính từ chỉ màu sắc); 2. nở (tính từ chỉ trạng thái của sự vật). 

(82) bếp than hồng. 

Từ ngữ chỉ loại vật dùng để nấu: bếp than (bếp là dụng cụ dùng để đun nấu với vật dùng để duy trì lửa là than); đặc điểm: hồng (tính từ được sử dụng với nghĩa chuyển với nội dung miêu tả bếp than đang cháy); việc chỉ các vật dùng để nấu ăn có thể dựa vào các đặc điểm trạng thái, tính chất, hoạt động,… để gọi tên. 

(83) biển xanh 

Danh từ chung chỉ hiện tượng tự nhiên: biển; đặc điểm: xanh (tính từ chỉ màu sắc). Các đặc điểm rất đa dạng như đã nói ở đầu gồm: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, cảm xúc, thái độ, màu sắc, hình dáng,… - Danh từ chỉ đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ một đặc điểm 

Các BTGSV thuộc mô hình này: bông hoa tươi, đóa hoa thắm, đóa hoa xinh, bông hoa này, cây bàng xanh, dãy phượng đỏ, đồi chè xanh, đồng lúa chín, lũy tre làng, chiếc áo dài, chiếc áo hoa, chiếc khăn quàng, chiếc nón lá, đôi mái chèo, đòn bánh tét, manh áo vá, dải đất Việt Nam, khắp trời Nam, khắp trời Việt Nam, dòng sông bé, dòng sông hiền hòa, dòng suối mát, dòng suối nhỏ,... 

Ví dụ biểu thức (84): bông lúa non 

Danh từ đơn vị: bông (danh từ đơn vị đứng trước sự vật dùng để chỉ cá thể sự vật). Các danh từ đơn vị cùng loại như: bông, chiếc, tờ, tấm, miếng, cây, con, dòng, hạt, lá, ngọn, quả,...; Danh từ chung chỉ giống/ loài: lúa (danh từ chỉ giống cây dùng làm lương thực,…); Đặc điểm: non (tính từ chỉ tính chất ở giai đoạn mới mọc chưa phát triển đầy đủ). (85): dòng suối mát Danh từ đơn vị: dòng; Danh từ chung chỉ loại: suối; Đặc điểm tính chất: mát. 

- Danh từ chỉ số lượng + đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm 

Ví dụ biểu thức (86): ba đóa hoa tươi 

Số từ: ba (từ chỉ số lượng xác định - số (ghi bằng 3) đứng liền sau chữ số hai trong các số tự nhiên; đơn vị: đóa (từ đơn vị chỉ riêng cho hoa với nghĩa trang trọng); yếu tố chung chỉ loài: hoa (là từ dùng để chỉ một bộ phận trên cây hạt kín, có màu sắc và mùi vị); Tính chất: tươi (là từ chỉ trạng thái còn mới, chưa bị mất nước, chưa khô). 

Các BT thuộc mô hình: 5 điều Bác dạy, ba gánh lá xanh, bao hàng cây xinh xinh, bao nhiêu chú chim ri, bao cô cá rô phi, đôi khóm tre ngà, hai chiếc máy bay, hai chú cún con, hai con thằn lằn con, mấy con kiến nâu, một đàn chim nhỏ, một đóa hoa tươi,... 

- Danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại + từ ngữ chỉ hai đặc điểm 

Ví dụ biểu thức (87): biển rộng lớn 

Danh từ chung chỉ loại: biển; đặc điểm: rộng và lớn. 

Các biểu thức khác thuộc mô hình này như: biển rộng lớn, hồ mát lạnh, bình minh hé sáng, gió lộng nhẹ, nắng vàng tươi nước trong xanh, trăng non hay già,… 

Bảng 2.5: 

Mô hình phương thức phức

TT

Nhóm (chỉ)

 Ví dụ

A

 Phương thức phức chỉ người

1

Danh từ chung chỉ người + danh từ chung chỉ người

bà em, ông em, bố em, mẹ em, cha mẹ, anh chị, thầy cô, ông bà, bố mẹ, dân mình, người ta,…

2

Danh từ chung chỉ người + danh từ chỉ sự vật ngoài con người

mẹ Bống, gái Nam, bạn Nam Bắc, chị Hằng, chú Cuội, ông Bụt, bà tiên, con Lạc, cháu Hồng,

 

3

Danh từ chung chỉ người + từ ngữ chỉ đặc điểm

Anh hai, anh ba, bạn nam, bạn nữ, người lính đảo, chú bộ đội anh hùng, mẹ hiền,…

4

Danh từ đơn vị/ số từ + Danh từ chỉ người

 

các bạn, đàn anh, hai em, đàn em, mỗi con người, lũ tây, lớp chúng ta, nhiều người, các bạn trai, đàn em thân yêu, đàn em thơ,

5

Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + yếu tố chỉ đặc điểm 

các bạn trai, đàn em thân yêu, đàn em thơ, lũ giặc tham tàn, loài người mến yêu, một anh giữa, một anh béo, bao người vất vả…

B

 Phương thức phức chỉ sự vật ngoài con người

6

Danh từ chung chỉ họ (giống) + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài khác

 

chim sâu, chuồn chuồn ớt, chuồn ngô, chim sâu, bọ ngựa, cỏ may, cỏ trinh nữ, hoa gạo, hoa bão táp, hoa phong ba, lá Trạng Nguyên, rừng thu, thông rừng, Phong lan Trường Sơn, hoa lục bình, hoa ngâu, tre Việt Nam, cỏ Bồ Đề, lúa vầng trăng, cây bí đao, áo ai, áo cha, áo em, khăn em, áo cha anh, áo giáp sắt, đò chú cuội, còi xe lửa, mo cây cau, quạt Bác Hồ… 

7

Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài

 

anh dế, bác Chào mào, bạn rùa, bạn Sơn Ca, cha thằn lằn, chàng ve sầu, chị ong, chú chuột, chú Dã tràng, chú dế, chú gà, chú heo, chú mèo, chú ve, mẹ gà, chị gió, ông Tý, ông Mèo,…

8

Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài + từ ngữ chỉ đặc điểm

 

chị ong vàng, chú bê lạ lùng, chú chim trên cành, chú ếch lười, chú giun gầy, con chim rừng, mẹ cún con, chú thỏ vàng, chú trâu vàng, chú gấu bông... 

9

Danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1,2,3…đặc điểm

 

măng mọc thẳng, dừa xanh xanh Bình Định, bèo đông xuân, đào hồng tươi, lúa đồng xanh, biển xanh, đất đỏ, đêm đen, mây trắng, nắng hồng, ban mai vàng, xuân thắm, đảo xa, sóng cả, suối xa, đêm dài, bùn sâu, đá mòn, mùa vui, xuân vui, gió lạnh, đất mới, nước long lanh, nồi cơm nếp, rơm nếp thơm, xe đạp xanh, bếp than hồng, lửa hồng, máy bơm, nón lá, nón mê, sách mới,…

10

Danh từ chỉ đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm

 

bông hoa tươi, đóa hoa thắm, đóa hoa xinh, bông hoa này, cây bàng xanh, dãy phượng đỏ, đồi chè xanh, đồng lúa chín, lũy tre làng, chiếc áo dài, chiếc khăn quàng, chiếc nón lá, đôi mái chèo,... 

11

Danh từ chỉ số lượng + đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm

5 điều Bác dạy, ba gánh lá xanh, bao hàng cây xinh xinh, bao nhiêu chú chim ri, đôi khóm tre ngà, hai chiếc máy bay, hai chú cún con, hai con thằn lằn con, một đàn chim nhỏ, một đóa hoa tươi,...

12

Danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại + từ ngữ chỉ 2 đặc điểm

biển rộng lớn, hồ mát lạnh, trăng lưỡi liềm, bình minh hé sáng, gió ru êm, gió lộng nhẹ, nắng vàng tươi,… 

        

2.2.2.3. Phương thức rút gọn 

Phương thức rút gọn (còn gọi là “tỉnh lược”, “gọi tắt”) là phương thức sử dụng các biểu thức gọi sự vật (BTGSV) bằng cách giữ lại các yếu tố chính và lược đi các yếu tố phụ. Kết quả khảo sát có 51 từ ngữ với 127 lượt và chia thành hai nhóm: 

Nhóm 1: Từ ngữ 1 yếu tố 

Khi gọi sự vật theo phương thức này, yếu tố chỉ đặc điểm được sử dụng để chỉ sự vật theo loài/ giống/ loại. Cơ sở của việc rút gọn dựa trên các phương thức gọi sự vật ở dạng đầy đủ. Vì vậy, khi gọi sự vật theo phương thức rút gọn, người nghe/ người đọc vẫn hiểu đúng đối tượng được nói tới. Ở phạm vi nhất định, phương thức này giúp cho sự vật trở nên gần gũi, thể hiện được tình cảm, thái độ của đối tượng gọi sự vật. 

Việc lựa chọn những đặc điểm nổi bật để gọi sự vật: thầy, cô, Mèn, chũi, bống, chòe, chuồn, đông, xuân, thu… thường phù hợp với sự hình dung, liên tưởng của TN. Đặc điểm này phản ánh thói quen gọi tắt tên sự vật. Tuy nhiên, khảo sát sự vật được gọi theo phương thức này, có thể thấy, người và động vật là những sự vật được gọi nhiều nhất. Ví dụ: 

Rút gọn tên: chích chòe ® chòe, cá bống ® bống, dế Mèn ® Mèn, chuồn chuồn ® chuồn… Ví dụ: 

(88) Nhìn vòm trời xanh Chòe nhớ [NL12, tr.36]. 

(89) Mèn ta liền đáp: “Em Dế đây, xin chào anh Sáu” [NL12, tr.35]. Dùng từ chỉ nghề nghiệp như: cô giáo ® cô, thầy giáo ® thầy; thầy giáo cô giáo ® thầy cô… 

(90) Một bông hồng em dành tặng cô. Một bài ca hát riêng tặng thầy [NL8, tr.89]. 

(91) Cô vỗ về an ủi, chao ôi sao thiết tha [NL4, tr.83]. 

Nhóm 2: Từ ngữ 2 yếu tố theo quan hệ chính - phụ

Bên cạnh phương thức rút gọn gồm một yếu tố chỉ đặc điểm thì phương thức gọi rút gọn gồm hai yếu tố theo quan hệ chính – phụ giúp cho TN dễ dàng hình dung sự vật hơn. 

Ví dụ: đèn ông sao ® đèn sao, xe có trọng tải lớn như sức con gấu ® xe gấu, mùa đông về ® đông về, mây bay la đà ® mây la đà, mây bay mịt mù ® mây mịt mù, chim bồ câu ® chim câu, chim chích bông ® chim chích, chim chích chòe ® chích chòe, nấm linh chi ® linh chi… 

(92) Cháu có nghe nói Linh Chi là vị thuốc, cháu có biết không? [NL6, tr.98]. 

(93) Ơi thân yêu quý, mai ngày em lớn lên em cũng lái xe gấu như bố em cho mà xem [NL12, tr.142]. 

Việc lược bớt một số đặc điểm để gọi sự vật trong các nhóm từ có sự khác nhau. Nhìn chung các đặc điểm được rút gọn thường là những đặc điểm chung, mang tính phổ quát. 

Cách gọi sự vật theo phương thức rút gọn trong các CK tiếng Việt dành cho TN gần với khẩu ngữ, tạo cho sự vật điểm nhấn, điểm khác biệt gây kích thích, hứng thú tiếp nhận. 

Sau đây là bảng tổng hợp các mô hình trong phương thức rút gọn tạo nên các BTGSV: 

Bảng 2.6: 

Mô hình phương thức rút gọn

Nhóm

Ví dụ

Từ ngữ 1 yếu tố

Chích chòe ® chòe, cá bống ® bống, dế Mèn ® Mèn, chuồn chuồn ® chuồn…

Từ ngữ 2 yếu tố theo quan hệ chính - phụ

Đèn ông sao ® đèn sao, xe có trọng tải lớn như sức con gấu ® xe gấu, mùa đông về ® đông về, mây bay la đà ® mây la đà, mây bay mịt mù ® mây mịt mù, chim bồ câu ® chim câu, chim chích bông ® chim chích, chim chích chòe ® chích chòe, nấm linh chi ® linh chi…

2.3. Tiểu kết

1/ Khảo sát và miêu tả đặc điểm 2174 từ ngữ với 5209 lượt chỉ sự vật, có thể thấy xét về mặt cấu tạo, từ ngữ chỉ sự vật vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chia thành: từ (từ đơn và từ ghép) 494 đơn vị với 2737 lượt; ngữ gồm 1680 đơn vị với 2472 lượt, trong đó: Từ đơn có 188 đơn vị với 1939 lượt xuất hiện. Các lớp từ đơn chỉ sự vật được sử dụng với tần số cao để phù hợp với tâm thế luôn coi mình là “trung tâm” và “nhỏ bé” của người hát (trẻ em). Từ ghép có 306 đơn vị với 798 lượt xuất hiện. Các biểu thức là từ ghép có nghĩa nhỏ hơn các nghĩa của yếu tố chính và có chức năng khu biệt đối tượng được gọi. Các từ ghép và ngữ được sử dụng với tần số cao và ổn định. Các đặc điểm thường gán cho sự vật chủ yếu là: màu sắc, hình dáng, kích thước, hoạt động… 

Từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo là ngữ gồm 1680 đơn vị, xuất hiện 2472 lượt và được cấu tạo từ 2 yếu tố đến 6 yếu tố. Sự phân loại trên phản ánh: các ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi luôn có xu hướng mở rộng thành phần miêu tả là lối được ưa dùng. Các ngữ gồm 2, 3 và 4 yếu tố xuất hiện nhiều nhất. 

Có nhiều từ ghép và ngữ là những kết hợp tự do, bất thường như: bà bạc tóc, cô lái máy cày, chuột cha, cây thòng bong,… 

2/ Với phương thức gọi sự vật, các biểu thức được sử dụng trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chủ yếu được tạo thành từ 3 phương thức chính và các mô hình cụ thể (2174 biểu thức đặc trưng cho 5209 đơn vị). 

Phương thức cơ sở: gồm 374 biểu thức, chiếm 12.6% và dùng danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài/ loại để chỉ sự vật. Trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, danh từ này được dùng với hai tư cách: thứ nhất, đó là các danh từ chung để chỉ chung cho một giống/ loài/ loại nào đó; thứ hai, sử dụng với tư cách là tên riêng. Đây là phương thức có vai trò nòng cốt tạo nên các yếu tố trong các từ ngữ chỉ sự vật khác. 

Phương thức phức gồm 1849 biểu thức, chiếm 85.1%. Các đơn vị này được sử dụng theo cách kết hợp hai hay nhiều yếu tố có nghĩa với nhau, hoặc kết hợp nhiều yếu tố để thành các cụm danh từ có tính cố định. Các yếu tố kết hợp được dùng trong các biểu thức gọi sự vật gồm: danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại, từ xưng hô, từ chỉ đơn vị, từ chỉ số lượng, từ chỉ đặc điểm,… 

Phương thức rút gọn gồm 51 từ ngữ chiếm 2,3%. Cách gọi sự vật theo phương thức rút gọn nhằm lược bỏ các yếu tố phụ và tổ hợp các yếu tố chính để làm thành các tổ hợp mới (rút gọn và kết hợp) tạo cho sự vật điểm nhấn, mang đậm màu sắc khẩu ngữ. 

3/ Cấu trúc của các biểu thức gọi sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi không mang tính ràng buộc khuôn mẫu. Phần lớn các biểu thức này được tạo nên theo kiểu mở rộng thành phần miêu tả. Bằng cách này, các từ ngữ được dùng để gọi đã giúp những hình ảnh sự vật trở nên sống động phong phú đa dạng, để người hát và người nghe ghi nhớ, cùng khám phá thế giới quanh ta và chính mình, như sẽ nói đến ở chương sau. 

Chương 3 
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÖC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI 
3.1. Khái quát về các nhóm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ sự vật có số lượng lớn, khá đa dạng về chủng loại, tạo nên các nhóm khác nhau. Theo kết quả khảo sát, phân loại có thể chia các từ ngữ chỉ sự vật thành 6 nhóm: người; động vật; thực vật; đồ vật; hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu trượng. Kết quả thống kê: 

Bảng 3.1: 

Các nhóm từ ngữ chỉ sự vật 

TT

 

Nhóm

 

Số lượng và tần số xuất hiện

Số lượng

Tỷ lệ % 

Tần số 

Tỷ lệ %

1

Người

569

 26.17  

 2222  

42.65 

2

Thực vật

420

19.32 

 671  

12.88

3

Hiện tượng tự nhiên

411 

 18.91  

 801  

15.38

4

Động vật

327 

 15.04

 636  

12.21  

5

Đồ vật 

303 

13.94  

 483  

9.27 

6

Sự vật trừu tượng  

144 

6.62  

 397  

7.61  

Tổng

2174

 100% 

 5209  

100% 

Nhận xét:

- Các từ ngữ xuất hiện trong các nhóm là không tương đồng nhau. Cụ thể: 

+ Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện cao: người; thực vật; hiện tượng tự nhiên. Nhóm chỉ người xuất hiện với số lượng và số lượt lớn nhất trong tổng số: số lượng 569/ 2174 từ ngữ, chiếm 26.17%; số lượt xuất hiện 2222/ 5209 từ ngữ, chiếm 42.65%. 

+ Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện trung bình: động vật, thực vật và đồ vật. Nhóm chỉ động vật có số lượng 327/ 2174, chiếm 15.04%; số lượt xuất hiện 636/ 5209, chiếm 12.21%. Nhóm chỉ thực vật số lượng 420/ 2174, chiếm 19.32%; số lượt xuất hiện 671/ 5209, chiếm 12.88%. Nhóm chỉ đồ vật: số lượng 303/ 2174, chiếm 13.94%; số lượt xuất hiện 483/ 5209, chiếm 9.27%. 

+ Nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện thấp là nhóm chỉ sự vật trừu tượng: số lượng 144/ 2174, chiếm 6.62%; số lượt xuất hiện 397/ 5209, chiếm 7.61%. 

- Sự xuất hiện của các từ ngữ trong các nhóm chỉ sự vật trong CK TN với số lượng, số lượt khác nhau có thể chịu sự chi phối của các nhân tố: 

+ Nhân tố thực tế: Môi trường sinh hoạt của TN chủ yếu ở gia đình và nhà trường. Điều này lý giải tại sao trong các CK các từ ngữ chỉ người và thế giới tự nhiên lại xuất hiện với số lượng và số lượt cao nhất. 

+ Nhân tố thi pháp nghệ thuật: Sự “nhân hóa” cho các sự vật ngoài con người còn cho phép các từ ngữ thuộc các nhóm sự vật ngoài con người được tăng lên. Điều này được thực hiện qua việc các nhạc sĩ thường sử dụng các yếu tố chỉ người có trong các mô hình gọi sự vật ngoài con người.

+ Nhân tố lối miêu tả: Các nhạc sĩ thường lấy một hoặc một số đặc điểm nổi bật để gọi sự vật, tạo nên lối đặc tả và làm nên sự thích thú được nghe, được hát. Để làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN, luận án sẽ đi sâu phân tích các đặc điểm từ ngữ trong các nhóm. 

3.2. Từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 
3.2.1. Từ ngữ chỉ “người” 
3.2.1.1. Từ ngữ chỉ “người” trong gia đình 

Khi xem xét đặc điểm ngữ nhóm từ ngữ chỉ người trong CK tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy các từ ngữ này thuộc hai phạm vi: gia đình và xã hội (ngoài gia đình). Tuy nhiên, có rất nhiều các từ ngữ được sử dụng chung cho cả hai phạm vi trên. Ngoài ra, có thể ghi nhận rất nhiều hiện tượng chuyển nghĩa. 

Các từ ngữ chỉ người trong CK tiếng Việt được dùng với hai chức năng: gọi người trong gia đình và xưng gọi trong hội thoại. Hai chức năng này được biểu hiện cụ thể ở hai loại quan hệ đó là trong gia đình và ngoài gia đình. 

a. Từ ngữ gọi người trong gia đình 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, những bài có chủ đề gia đình chiếm số lượng tương đối lớn. Cách gọi người thân của TN rất đa dạng. Đó có thể là cách gọi đơn giản: ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, thím, mợ, anh, chị, em, cha (bố), mẹ, con… nhưng đó cũng có thể là cách gọi “gán cho” những đặc điểm riêng mà chỉ “con trẻ” nói: bé Bông, cả nhà ta, bà - vườn cổ tích, bà bạc tóc, bố - tàu lửa, bố - xe hơi, con - con ba, con - con mẹ… 

Theo kết quả khảo sát, các danh từ chung chỉ người trong gia đình, họ hàng, thân thuộc của người Việt được phân thành 3 bậc với hai mối quan hệ là cùng thế hệ và các quan hệ khác thế hệ (quy ước lấy “tôi” làm mốc để gọi). 

Bảng 3.2: 

Các từ ngữ chỉ người trong gia đình theo quan hệ thứ bậc 

TT

Thứ bậc 

Số lượng 

Tỷ lệ 

Ví dụ 

1

Bậc 1: thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ go - “tôi”

38

1.57

ông, bà, ông bà, ông bà nội, ông em, bà em, ông nội, bà - vườn cổ tích,…  

2

Bậc 2: thế hệ trước, là hoặc ngang hàng với người trực tiếp sinh ra ego

180 

8.28 

bố/ cha/ ba, mẹ/ má, ba má, ba má em, mẹ em, bác em, chú, dì, mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, bố - tàu lửa,… 

3

Bậc 3: cùng một thế hệ trong gia đình (trước hoặc sau) với ego

51

2.35 

anh, chị, anh chị, anh chị, anh cả, anh hai, em út, chị em, anh em,… 

- Từ ngữ chỉ người bậc 1 - thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ của “tôi” 

Trong quan hệ gia đình, ông và bà thường được xác định là bậc 1. Các từ này phản ánh kết cấu truyền thống trong gia đình người Việt: “tam đại đồng đường” (ba thế hệ cùng sống chung). 

Xuất phát điểm của từ ngữ chỉ người trong phạm vi gia đình là bậc 1 chỉ gồm 2 từ: ông, bà (với nghĩa gốc: từ ông được dùng để chỉ: Người đàn ông thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ [81, tr.927]; bà: Người đàn bà thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ [81, tr.42]). Ví dụ: 

(94) Ông dành những lúc thảnh thơi dang tay mời cháu bé. Dung dăng dung dẻ dắt trẻ đi chơi. Ði chơi đi chơi đi chơi [NL2, tr.22]. 

Hay: 

(95) Bà là vườn cổ tích, là bóng mát tuổi thơ. Cháu nằm nghe bà kể ngỡ vào giấc mơ [NL6, tr.7]. 

Với nghĩa gốc, các từ ông, bà thường xuất hiện độc lập. Sắc thái tình cảm khi sử dụng các từ này thường cố định - một sự mặc định: ông và bà là sự đầm ấm, mang màu sắc cổ tích, và nguồn cội trong khu vườn tuổi thơ dưới một mái nhà). Ông bà là những người lớn tuổi nhất trong nhà, luôn gần gũi các cháu. Ví dụ: 

(96) Rằng là em bé rất ngoan. Thường hay khám tay sạch các anh. Làm vệ sinh hay quét nhà, và múa hát cho vui ông bà [NL1, tr. 39]. (97) Một sợi rơm vàng là hai sợi vàng rơm. Bà bện chổi to bà làm chổi nhỏ [NL1, tr.5]. 

Gắn với những cảm nhận ngô nghê nhưng chân thành, sâu nặng, ân tình, các nhạc sĩ thường dùng những cách khác nhau gọi ông bà. Có thể coi đây là cách gọi phức hợp, chẳng hạn: ông bà, ông bà cháu, ông nội, bà nội, ông bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bà em, ông em, ông nội, bà - vườn cổ tích … Ví dụ:

(98) Chẳng thấy ông nội đâu, mà giọng ông nói đấy. Áp tai vào ống nghe, đỡ nhớ ông quá trời” [NL8, tr.58]. 

(99) Bé hay bày trò vui, làm mẹ ba đều thích. Tập cúi đầu lễ phép, ông bà nội rất thương. Bé tên một cành sen, xòe nụ hoa tươi thắm [NL8, tr.54]. 

Các kết hợp: bà - vườn cổ tích, bà - bóng mát tuổi thơ,… xuất hiện trong các CK tiếng Việt dành cho TN thể hiện sự riêng khác của nhóm từ ngữ bậc 1 với các nhóm đối tượng khác. 

- Từ ngữ chỉ người bậc 2 - thế hệ trước, là hoặc ngang hàng với người trực tiếp sinh ra “tôi” 

Trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các nhạc sĩ thường dùng một số cách để gọi bố, mẹ, bác, cô, dì, chú,… Theo kết quả khảo sát, các từ bố/ cha/ ba, mẹ/ má xuất hiện với tần xuất lớn. Điều này phù hợp với mối tương tác của TN trong phạm vi gia đình. 

Sử dụng các danh từ chung để gọi: Cha (ba/ bố) là “người đàn ông có con, trong quan hệ với con” [81, tr.179]. Mẹ (má) được dùng với hai nghĩa: 1/ Người đàn bà có con trong quan hệ với con; 2/ Từ dùng để gọi người đàn bà đáng bậc mẹ (hàm ý coi trọng) [81, tr.806]; Bác được dùng với nghĩa 2 nghĩa: 1/ Anh của cha/ mẹ hoặc chị dâu của cha/ mẹ; 2/ Từ dùng để chỉ người lớn tuổi với ý tôn trọng, hoặc chỉ người nhiều tuổi hơn cha mẹ mình [81, tr.44]. Ví dụ: 

(100) Con vòi bố mua cho con cây súng gỗ. Bố chỉ mua cho chiếc ô tô bằng nhựa [NL10, tr.44]. 

(101) Một phần cho mẹ. Một phần cho cha [NL4, tr.219]. 

Các từ “bố”/ “cha”, “mẹ”/ “má”, “ba mẹ”, trong các ví dụ trên được dùng gọi trực tiếp. Sử dụng các tổ hợp (ngữ) để gọi bác, bố, mẹ, chú, cô, dì,… thường có cơ sở là sự phân tích và liên tưởng. Các kết hợp này thường từ các danh từ chỉ quan hệ thân tộc với các danh từ khác chỉ sự vật. Đó là các ngữ : mẹ hiền, bác em, má em, bố mẹ em, cha mẹ, mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, mẹ - vầng mây, mẹ - biển rộng, bố - tàu lửa, bố - xe hơi, bố - con ngựa,… Các ngữ này được cấu thành từ các danh từ kết hợp với các danh từ chung (bố - mẹ - em); hoặc chuyển nghĩa: mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, bố - tàu lửa, bố - xe hơi,… Các sự vật được chuyển nghĩa đều gắn với những đặc trưng riêng khác: dịu dàng, mạnh mẽ, nghiêm khắc... 

- Từ ngữ chỉ người bậc 3 - cùng một thế hệ trong gia đình (trước hoặc sau) với “tôi” 

Trong bức tranh tuổi thơ của TN, anh, chị, em... được sử dụng rất nhiều. TN bước vào một thế giới với tất cả sự trẻ trung, tươi mới. Đó còn là sự nhường nhịn của anh chị cho em đồ chơi đẹp, hay đó là buổi trông em cho bố mẹ ra đồng,… Ví dụ: 

(102) Làm anh khó đấy, phải đâu chuyện đùa, với em bé gái phải người lớn cơ. Mẹ mua chiếc bánh nhường em phần hơn, có đồ chơi đẹp, cũng nhường em luôn [NL2, tr.23]. 

b. Từ ngữ chỉ người trong gia đình được dùng với chức năng xưng gọi 

Trong phạm vi gia đình, TN luôn dùng cách xưng con, cháu để đáp lại ông bà, cha mẹ. 

Theo kết quả khảo sát, các từ con, cháu trong các cặp quan hệ: ông bà - cháu, bố mẹ - con, mẹ - con… xuất hiện với tần suất cao (con: 43 lượt, cháu: 27 lượt). Vì những lý do trên, có thể tách ra và coi đây là một trường hợp đặc biệt để phân tích. 

Trong quan hệ họ hàng, bậc 2 và bậc 3 mang hai tư cách chính: thứ nhất, là con đối với cha mẹ (được thể hiện trong mối quan hệ: ông bà - ba mẹ/ bác/ cô/ dì/ chú…); thứ hai là ba/ mẹ/ bác/ cô/ dì/ chú - con/ cháu. 

Hai từ này được dùng với các nét nghĩa: 

Con được dùng với hai nghĩa: 1/ “người thuộc thế hệ sau, trong quan hệ với người trực tiếp sinh ra” [81, tr.264]; 2/ Từ xưng gọi lâm thời dùng thay “cháu” khi đối tượng thuộc thế hệ thứ ba (cháu) gọi thế hệ thứ 1 (ông, bà) hoặc thế hệ thứ hai (đồng hàng với bố mẹ - không trực tiếp sinh ra). Từ con được dùng khá phổ biến trong xưng gọi, tạo ra các cặp xưng hô: ông/ bà - con; bác - con; chú/ cô/ dì/… - con. 

Cháu được dùng với nghĩa: “người thuộc thế hệ sau nhưng không phải là con, trong quan hệ với người thuộc thế hệ trước” [81, tr.184]. Ví dụ: 

(103) Ba thương con vì con giống mẹ. Mẹ thương con vì con giống ba [NL1, tr.7]. 

Bác được dùng với hai nghĩa: “1/ Từ dùng để chỉ người lớn tuổi với ý tôn trọng, hoặc chỉ người nhiều tuổi hơn cha mẹ mình; 2/ Từ dùng trong đối thoại để gọi người coi như bậc bác của mình với ý kính trọng” [81, tr.43]. Theo tư liệu khảo sát, ngoài hai nghĩa trên, từ Bác đôi khi được thay thế bằng từ “Người” để chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên trong phạm vi xã hội, xu hướng gọi người cụ thể diễn ra phổ biến. Mỗi một ngữ gọi sự vật tự mang trong mình một nội dung cụ thể và với các sắc thái khác nhau. Chẳng hạn, Bác Hồ, Bác Hồ Chí Minh, Cháu bác Hồ Chí Minh,… hoặc tạo ra các ngữ gọi tên: Bác như sao sáng mùa thu, Bác như là vầng trăng,… Ví dụ: 

(104) Đất nước mình bao nhiêu hoa đẹp, Bác vun trồng giờ nở hoa dâng Bác [NL5, tr.38]. 

(105) Bác như sao sáng mùa thu, Bác như là vầng trăng. Vui trong vinh quang Bác Hồ Chí Minh [NL9, tr.121]. 

Như vậy, các từ ngữ chỉ người trong gia đình có các đặc điểm nổi bật:1. Trong ca khúc TN thường được dùng với chức năng để xưng gọi; 2. Từ ngữ chỉ người ở bậc trên (ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ, bác, chú, dì, cô…) nhiều hơn từ chỉ người bậc dưới (con, cháu); 3. Các từ ngữ này thường được dùng với sắc thái mến yêu; 4. Chỉ ở các bậc trên (ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ, chú, dì, cô…) mới có sự phân biệt rõ ràng về giới tính (nam/ nữ). 

3.2.1.2. Từ ngữ chỉ người trong quan hệ xã hội ngoài gia đình 

a. Từ ngữ chỉ người ngoài gia đình 

So với quan hệ gia đình, các quan hệ ngoài gia đình phức tạp với nhiều. Tuy nhiên, đối với TN biên độ quan hệ xã hội hẹp hơn. Các quan hệ xã hội với TN chủ yếu trong một số hoàn cảnh trong nhà trường và sinh hoạt cộng đồng, địa điểm vui chơi. Kéo theo đó là các mối quan hệ: thầy cô - học trò, bạn bè,… Ngoài ra, trong quá trình tương tác ngoài xã hội, TN tạo ra các mối quan hệ với các nhân vật như: chú công an, cô công nhân, chú bộ đội, chú phi công, cô lái máy cày,… Thậm chí, các mối quan hệ khác nhiều khi chỉ có “tính ảo”, tức là TN hiểu về những con người trong xã hội qua câu chuyện của ông bà, lời dạy của bố mẹ, thầy cô,… đôi khi chỉ là cách nhận biết qua quan sát hoặc đối thoại. Khảo sát trong các CK tiếng Việt dành cho TN, kết quả như sau: 

Bảng 3.3: 

Các từ ngữ chỉ người trong quan hệ xã hội

STT

Hoàn cảnh

Số lượng 

Tỷ lệ 

Ví dụ 

1

Nhà trường

191

8.79

thầy, cô, thầy cô, thầy em, cô giáo như mẹ hiền, bạn bè,Bác… 

2

Sinh hoạt cộng đồng, địa điểm vui chơi

109

5.01

 

chú bộ đội, cô công nhân, phi công, thợ cầy, thợ cấy, công an, bác sĩ,… 

Nhận xét: 

- Phạm vi tương tác của trẻ em trong xã hội ở hai hoàn cảnh chính: 

1. nhà trường; 

2. các địa điểm vui chơi, sinh hoạt cộng đồng (công viên, thảo cầm viên,…). 

Hoàn cảnh nhà trường xuất hiện nhiều hơn trong tương tác của TN với xã hội. 

- Trong các CK, thường được dùng để gọi là các từ chỉ nghề nghiệp: công nhân, bộ đội, phi công, bác sĩ, thợ cầy, thợ cấy, thầy giáo, cô giáo,… Các từ này được sử dụng với các nghĩa đặc trưng chỉ nghề nghiệp cụ thể. Chẳng hạn: “Công nhân” được dùng chỉ người lao động chân tay làm việc ăn lương; “Cô giáo” được dùng chỉ “người phụ nữ dạy học”. “Thợ cấy” được dùng chỉ người lao động chân tay làm nghề cấy. Ví dụ: 

(106) Kìa cô công nhân đi về xưởng máy. Kìa chú bộ đội 1 - 2 bước đều [NL8, tr.157]. 

(107) Ôi thỏ con ơi mau theo em đến trường. Chớ để cô giáo chờ trông [NL8, tr.90]. 

- Thường được gặp là các từ ngữ chỉ nghề nghiệp: công nhân, bộ đội, phi công, bác sĩ, thợ cầy, thợ cấy, thầy giáo, cô giáo,… Ví dụ: 

(108) Em yêu đồng lúa quê em bát ngát con sóng vàng. Em yêu đồng lúa quê em yêu bàn tay thợ cấy [NL 6, tr. 65]. 

(109) Dựng cột điện cao trước sân đình làng, mắc những đường dây dài theo xóm nhỏ. Chú thợ điện về mang nguồn ánh sáng [NL 10, tr.64]. 

Gắn với ngữ cảnh của ca khúc, TN có sự liên hệ rất rõ ràng về nghề nghiệp. Chẳng hạn, công nhân gắn với nhà máy, thầy cô với mái trường, thợ cầy - thợ cấy với cánh đồng, phi công với bầu trời, bộ đội với biên cương/ đảo xa… 

b. Từ ngữ chỉ người ngoài gia đình được dùng để xưng gọi 

Các từ dùng để xưng gọi: tôi, tớ, tao, mày, bạn bè, thầy cô,… xuất hiện với tần số khá cao. Điểm đặc biệt là các từ xưng gọi dùng trong hoàn cảnh gia đình được sử dụng để xưng gọi ngoài xã hội khá phổ biến. Đặc biệt, cặp xưng hô: bác - cháu; con - thầy/ cô xuất hiện với mật độ tương đối dày đặc. Trong các quan hệ này, các từ xưng gọi không còn nguyên nghĩa gốc mà dùng với nghĩa phái sinh. 

(110) Con nghe lời Bác luôn dạy dỗ theo gót anh hùng đem cờ hoa đến ngày toàn thắng [NL11, tr42]. 

Mối quan hệ thầy / cô... - trò thường được gặp qua cách xưng gọi: thầy giáo/ cô giáo/ thầy cô/ thầy cô giáo - em/ chúng em/ con/ chúng con/ học sinh. Theo kết quả khảo sát, lớp từ này xuất hiện với 2 nhóm ý nghĩa khác nhau: 

+ Cách xưng gọi cụ thể: thầy giáo, cô giáo, em, chúng em… Đây là các danh từ chỉ loại thể có tác dụng thay thế, dùng trong nhóm từ chỉ người và các nhóm khác. Ví dụ: 

(111) Nắng vừa lên em đi mẫu giáo. Chim chuyền cành hót chào chúng em. Cô giáo khen em chăm học [NL2, tr.26]. 

+ Cách xưng gọi bao gộp: thầy cô, thầy cô giáo, đoàn học sinh… Các danh từ chỉ loại thể có tác dụng gọi tổng loại, có tác dụng thay thế và dùng để phân biệt nhóm từ chỉ người với các nhóm khác. Ví dụ: 

(112) Thầy cô và mái trường cho đàn em tới bến [NL4, tr.181]. 

113) Đoàn học sinh đi trong nắng hè tươi sáng [NL9, tr.80]. 

Như vậy, kết quả khảo sát các danh từ chung chỉ người trong quan hệ xã hội, có thể nhận thấy để gọi các đối tượng ngoài xã hội TN thường gọi cụ thể, đầy đủ - đôi khi khá dài dòng về đối tượng. Vì vậy, các danh từ chung chỉ người trong quan hệ xã hội có xu hướng ghép với các danh từ chung bậc hai (bác, chú, cô,…) và bậc ba (anh, chị) trong quan hệ gia đình, họ hàng để tạo thành các tổ hợp: chú bộ đội, cô công nhân, chú phi công, anh bộ đội,… Các tổ hợp này được biểu thị hai ý nghĩa phân biệt khá rõ là giới tính (nam - nữ) và tuổi tác (trong độ tuổi lao động). Ví dụ: 

(114) Pin! Pin! Pin! Chiếc xe buýt ngừng trước nhà em đón cô công nhân đi vào nhà máy [NL6, tr. 62]. 

3.2.2. Từ ngữ chỉ động vật và bộ phận cơ thể động vật 

3.2.2.1. Từ ngữ chỉ động vật 

Các từ ngữ gọi động vật có thể được chia thành: động vật được thuần dưỡng và động vật hoang dã. Mỗi nhóm động vật này lại bao gồm rất nhiều lớp động vật khác nhau. Kết quả khảo sát cụ thể: 

Bảng 3.4: 

Các từ ngữ chỉ động vật theo phạm vi sinh trưởng 

STT

 Nhóm động vật

Số lượng

Tỷ lệ %

Ví dụ

 1

 

 

Động vật thuần dưỡng 

Động vật nuôi trong gia đình

 104

41.9

gà, vịt, ngan, ngỗng, chim câu, ong, ong chăm chỉ, cá, tôm, cá chép, cá quả, tép, trâu, nghé, bò, mèo, dê,…

Động vật nuôi trong tổ chức xã hội

59

23.8

hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn, chim công, cò, rắn, tắc kè, rùa,…

 2

 

 

Động vật hoang dã

Động vật hoang dã sống gần gũi với loài người 

 57

23.0

chim chích, chim chích bông, bướm, đom đóm, kiến, châu chấu, cào cào, chuột, thằn lằn, rắn, rùa, tắc kè, ếch, nhái, cóc,…

Động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên

28

 11.3 

cò, chim chèo bẻo, hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn,…

 Tổng

248

 100%

 

Nhận xét: 

- Từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng lớn hơn từ ngữ chỉ động vật hoang dã. Cụ thể: từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng là 163/ 248 từ ngữ, chiếm 67.5%; từ ngữ chỉ động vật hoang dã là 65 từ ngữ, chiếm 34.3%. 

- Trong nhóm từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng, từ ngữ chỉ động vật nuôi trong gia đình xuất hiện với số lượng lớn 104/ 248 từ ngữ, chiếm 41.9%; từ ngữ chỉ động vật nuôi trong tổ chức xã hội 59/ 248 từ ngữ, chiếm 23.8%. Trong nhóm từ ngữ chỉ động vật hoang dã, từ ngữ chỉ động vật hoang dã sống gần gũi với loài người chiếm số lượng lớn 57/ 248 từ ngữ, chiếm 11.3%. 

- Điểm nổi bật và riêng khác trong CK tiếng Việt dành cho TN là số lượng các từ ngữ chỉ động vật là các loài thú, bò sát sống trong tự nhiên và thuần dưỡng được nhắc tới ở những hoàn cảnh khác nhau. Nếu như các từ ngữ chỉ động vật là thú, bò sát được thuần dưỡng xuất hiện trong các CK viết về chủ đề “đi chơi công viên” thì từ ngữ chỉ động vật là thú, bò sát trong môi trường tự nhiên chỉ xuất hiện trong các câu chuyện của bà, của mẹ. 

a) Từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng 

Các từ ngữ chỉ động vật được thuần dưỡng bao gồm hầu hết các lớp từ ngữ chỉ loài trong hệ động vật. Đặc điểm của các từ ngữ này: 

Thứ nhất, động vật thuộc nhóm này thường là các loài thú nhỏ, thú tính thấp như: mèo, trâu, bò, chó, lợn, dê, hươu, nai, thỏ,… Đây cũng là lý do, các loài thú này xuất hiện như người bạn thân thiết của TN và được TN nhắc đến rất nhiều trong các ca khúc. Đặc biệt các loài thú lớn nếu xuất hiện thì chỉ xuất hiện trong các CK viết về việc TN đi chơi trong công viên, sở thú,… nơi mà những con thú được nuôi nhốt và kiểm soát. Ví dụ: 

(115) Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu. Phú ông xin đổi một xâu cá mè [NL6, tr.122]. 

(116) Chú khỉ con thích leo cây cao. Chú hổng sợ té đau chú đang tập thể thao. Chú khỉ con có cái đuôi lon ton, tay chân dài rất thông trong dáng thiệt mi - nhon [NL8, tr. 12]. 

(117) Chú thỏ con, ơi chú thỏ con, có bộ lông lông trắng như bông. Mắt của chú, đôi mắt của chú màu hồng nhạt như là viên kẹo [NL10, tr.55]. 

Thứ hai, các loài thú nuôi là những con vật gần gũi trong đời sống hàng ngày của trẻ. Chúng trở thành những “người bạn nhỏ” của trẻ; Và vì thế, các loài thú nuôi với TN vẫn có sự đồng điệu và gần gũi đến lạ kỳ. Trong thế giới tuổi thơ của các em, các em có thể tâm tình với vật nuôi nhưng cũng có thể hào hứng nói lên mơ ước được hóa thành “những người bạn tâm tình”, “những chàng dũng sĩ”, “những anh hùng”… 

Thứ ba, những động vật thuộc lớp chim: gà, vịt, ngan, ngỗng, chim chích, chim câu… xuất hiện tương đối nhiều trong các ca khúc, bởi các con vật này gắn với đời sống, phục vụ đời sống và thân thiện với con người, nhất là trẻ em. Vì lẽ đó, những bài học về thế giới động vật đầu tiên của trẻ em, những trò chơi, khúc hát đầu đời của TN thường liên quan đến chim, cò, gà, vịt… Ví dụ: 

(118) Con vịt cạp cạp. Con gà cục cục. Con chó gâu gâu. Mình đố con gì nó kêu lâu lâu? [NL6, tr.38]. 

Lớp từ ngữ chỉ loài chim xuất hiện nhiều nhất trong lớp từ chỉ động vật do: gà, con vịt, con ngan… vốn là những con vật thường xuyên gặp, đồng thời, Việt Nam là nước nhiệt đới, các loài chim rất đa dạng; Đặc biệt, chim câu là biểu tượng cho hòa bình, tự do và lòng nhân ái vì vậy chúng đi vào đời sống của các con như một biểu tượng cố định và bất biến. 

(119) Sáng nào em đi học chim câu cũng chào em bằng những tiếng thân quen nghe sao thương mến thế [NL5, tr.78]. Các động vật thuộc lớp côn trùng và thân mềm, gặm nhấm: ong, trai, ốc, chuột,… 

Các động vật này xuất hiện trong các CK TN với mật độ thưa, song khá phong phú về loài. Ví dụ: 

(120) Chú mèo con lông trắng tinh. Mắt tròn xoe và trông rất xinh. Meo! Meo! A! con mèo nó rất ngoan. Bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt [NL8, tr.76]. 

(121) Bướm dạo là bướm ối a nó bay i i [NL5, tr.29]. 

Các lớp từ ngữ thuộc lớp tôm, cá; động vật lưỡng cư; bò sát; côn trùng và thân mềm gặm nhấm xuất hiện không nhiều như các lớp động vật trên. 

b) Từ ngữ chỉ động vật trong tự nhiên 

Động vật trong tự nhiên bao gồm các loài thú lớn như: hổ, báo, voi, khỉ, vượn,… Các từ ngữ chỉ động vật trong tự nhiên bao gồm các loài thú nhỏ như: chó, mèo, vịt,… Đặc biệt, các loài thú lớn xuất hiện trong CK không phải được TN gọi một cách trực tiếp thông qua trực quan mà thường được cảm nhận thông qua các câu truyện kể của bà, của mẹ. Dưới lăng kính của các câu truyện cổ tích, các bài đồng dao,… các con thú lớn xuất hiện trong CK TN với tư cách là “những người bạn nhỏ” của các em. Ví dụ: 

(122) Khắp chốn Tây Nguyên cần nhiều voi. Góp sức xây buôn làng đẹp tươi [NL2, tr.67].
Trong ca khúc, các con vật vốn “trong rừng thẳm” với bản tính tưởng như “hung hãn” thì lại rất thân thương, hiền lành khi chung sống với con người. 

Thế giới động vật trong cảm nhận của TN nhuốm màu hồng huyền ảo mà ở đó những con vật hung dữ bỗng hiền dịu, thân thương đến lạ kì. Có lẽ thế giới ấy chỉ có ở trong tuổi thơ của mỗi người và là nơi cho TN tha hồ kết bạn. 

Các loài động vật như: cá, tôm, cá chép, cá quả, tép, cái bống… rất phong phú và đa dạng trong ca khúc. Có đủ loài cá từ biển, cá đồng, cá sông, cá ruộng đều xuất hiện trong các CK TN. Vì vậy, tên gọi chúng đi vào các CK TN với hệ thống phong phú, đa dạng. Ví dụ: (123) Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước [NL2, tr.61]. 

(124) Cây cho trái và cho hoa, sông cho tôm và cho cá, đồng ruộng cho bông lúa chín, chim tặng lời reo ca [NL4, tr.106]. Các động vật thuộc lớp côn trùng và thân mềm, gặm nhấm: ong, bướm, đom đóm, kiến, trai, ốc, châu chấu, cào cào, chuột,… 

Các loài động vật này (trừ loài kiến) xuất hiện trong các CK TN khá phong phú về loài. Đây là những động vật vốn gần gũi với TN nên tên gọi của chúng dễ dàng đi vào đồng dao với các đặc điểm nổi bật của mình. Ví dụ: 

(125) Mỗi khi chuột gặp mèo, chuột sợ chết queo [NL8, tr.16]. 

(126) Bướm dạo là bướm ối a nó bay i i [NL5, tr.29]. 

Các lớp từ ngữ thuộc lớp tôm, cá; động vật lưỡng cư; bò sát; côn trùng và thân mềm gặm nhấm xuất hiện không nhiều như các lớp động vật trên. 

- Động vật thuộc lớp cá, tôm như: cá, tôm, cá chép, cá quả, tép, cái bống, chú dã tràng,… Các loại thủy hải sản này cũng rất phong phú và đa dạng trong CK TN. Có đủ loài cá từ biển, cá đồng, cá sông, cá ruộng đều xuất hiện trong các CK TN. Vì vậy, tên gọi chúng đi vào các CK TN với hệ thống phong phú, đa dạng. Ví dụ: 

(127) Nghiêng cánh Phượng hồng, rơi tiếng ve buồn có chú Dã tràng se cát. Mùa hè, mùa hè đến tạm biệt ngôi trường yêu mến [NL8, tr.116]. 

(128) Cây cho trái và cho hoa, sông cho tôm và cho cá, đồng ruộng cho bông lúa chín, chim tặng lời reo ca [NL4, tr.106]. 

Động vật thuộc lớp bò sát và lớp động vật lưỡng cư cũng được TN nhắc tới rất nhiều như: thằn lằn, rắn, rùa, cá sấu…, ếch, nhái, cóc,… Đặc biệt, cóc và ếch đã trở thành những nhân vật quen thuộc và nổi tiếng trong văn học dân gian. Trong nhiều tác phẩm, chúng đã trở thành biểu tượng nghệ thuật. Ví dụ: 

(129) Chậm như rùa! Thật chậm như rùa! Mỗi bước rùa đi ì à ì ạch [NL6, tr.129]. 

(130) Con ếch ộp ộp. Con mèo meo meo [NL6, tr.38]. 

3.2.2.2. Từ ngữ chỉ bộ phận của động vật 

Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật rất đa dạng, gồm 79 từ ngữ chiếm 3.63%: cánh, vây, cổ, mỏ, mồm, miệng, bụng, mắt, chân, đuôi, lông, mắt, râu, đầu, trán, vai, mặt, đuôi đỏ, đầu vàng, cánh chim, mắt tròn, đuôi vờn, cánh chim, cánh én, mật ong, màu cam, cái đầu, đôi cánh, những cánh chim, bốn chân, hai chân, hai mắt, hai tay, đôi mắt, hai vây, miếng vá đen… Sự xuất hiện của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật là căn cứ trên tâm lý của TN trong việc gọi tên các loài động vật. Có thể nhận xét chung: 

- Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật gồm từ và ngữ. Nếu các từ đơn: chân, lông, mắt,… thường gọi chung cho các loài, thì các ngữ: bốn chân, hai vây, hai mắt,… Đặc biệt, ngữ gọi tên miếng vá đen (mèo) lại thể hiện đặc trưng riêng biệt, cá thể hóa cho sự vật. 

(131) Kìa con bướm vàng! Kìa con bướm vàng! Xòe đôi cánh, xòe đôi cánh. Bươm bướm bay năm ba vòng, bươm bướm bay năm ba vòng, bay vòng quanh, bay vòng quanh [NL1, tr.31]. 

(132) Chú mèo con lông trắng xinh. Mắt tròn xoe và trông rất xinh. Meo, meo. A con mèo nó rất ngoan, bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt [NL6, tr.29]. 

- Hiện tượng đồng sở chỉ trong cách sử dụng các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật: mỏ, miệng và mồm. Mỗi từ này đều mang một nét nghĩa riêng biệt về phạm vi biểu vật. Sự xuất hiện của các từ ngữ này làm phong phú vốn từ ngữ và phản ánh sự hiểu biết quy loại. Chẳng hạn: đối với loài chim đó là mỏ; đối với loài lợn, mèo, chó, nai… đó là mõm (đôi khi mồm, thậm chí là miệng cho loài chim, để thể hiện tình thái yêu quý). 

(133) Gà ta siêng năng đi cùng đi khắp. Cái chân bới nhanh cái mỏ nhặt gấp [NL12, tr.55] 

(134) Kìa chú ếch con có hai mắt tròn. Ngồi bên bờ giếng miệng kêu uệch uệch! [NL6, tr.29] 

3.2.3. Từ ngữ chỉ thực vật và bộ phận thực vật 

3.2.3.1. Từ ngữ chỉ thực vật 

Dựa theo phạm vi sinh trưởng, có thể chia các từ ngữ chỉ thực vật thành hai nhóm: thứ nhất, từ ngữ chỉ thực vật nuôi trồng; thứ hai, từ ngữ chỉ thực vật trong tự nhiên.  

Bảng 3.5: 

Các từ ngữ chỉ thực vật theo phạm vi sinh trưởng 

STT

 Nhóm thực vật

Số lượng

Tỷ lệ %

Ví dụ

 1
 
 
 
 

Thực vật nuôi trồng 

Thực vật là cây thực phẩm

 105

45.5

lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ, lạc, gừng, bí, bầu, dừa Bình Định, xoài Hậu Giang, ái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm,… 

Thực vật là cây cảnh

19

8.2

phong lan, phong lan Trường Sơn, hoa Sứ, nàng Bạch Mẫu Đơn,… 

 


Thực vật là cây nguyên liệu sản xuất và phục vụ đời sống con người 

29

12.6

mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ, phượng thắm, hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng thắm sân trường, cánh phượng hồng,…

       2

Thực vật tự nhiên, hoang dã

78

 33.7 

cây tre, cây cọ, cây lau, cây sậy, tre Việt Nam, lim, thông, xoan,…

 Tổng

231

 100%

 

Trong vòng tuần hoàn của sự sống, cùng với động vật, thực vật là một trong những “đối tượng động” và có tác động trực tiếp tới cuộc sống của con người. Ngay từ khi còn bé, TN đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp muôn màu của lá, của hoa và thưởng thức một thứ hương “đằm ngọt” của quả. Từ trong những câu chuyện cổ tích của bà với cô Tấm dịu hiền ẩn mình trong quả thị hay là ngọn cỏ lá cây ngày ngày nâng bước chân em,… Thế giới thực vật đầu tiên mà TN tiếp xúc đó chính là những cây lương thực, thực phẩm rồi đến các cây ăn quả trong vườn nhà. Điều này thể hiện rõ trong CK tiếng Việt dành cho TN. 

a) Từ ngữ chỉ thực vật nuôi trồng 

- Từ ngữ chỉ thực vật làm thực phẩm 

Cây lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu ăn để tồn tại của con người: lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ, lạc, gừng, các loại rau,… Đây là loại thực vật không thể thiếu đối với con người. Nó nuôi sống con người và con người phải nuôi trồng nó nên giữa con người và loài thực vật này có mối quan hệ gắn bó, thân thiết. Xét về số lượng từ ngữ, số lượng từ ngữ chỉ loài thực vật này ít hơn nhưng tần suất lại xuất hiện dày hơn. Bởi trong đó có một số từ ngữ xuất hiện với tần suất rất cao, đó là các từ ngữ dùng để gọi thực vật thuộc loại ngũ cốc: khoai, lúa, bí, bầu, cà, đỗ, ngô…Trong cảm nhận của TN, các loài thực vật lúa, ngô, bầu, bí, khoai, sắn… không chỉ đơn thuần là sự vật mang chức năng phục vụ nhu cầu ăn uống của con người mà với TN mỗi sự vật đó đều có những vai trò và linh hồn khác nhau. Dưới con mắt của TN, thực vật được dán mác, gọi với các đặc điểm rất riêng. Đó là: cây lòng thòng là cây bí đao, đồng lúa hát, đồng lúa mới, lúa vàng mênh mông, bông lúa trĩu nặng, trái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm,… Ví dụ: 

(135) Cho em hái dưa, hái dừa, hái xoài, đào khoai. Gửi sang Đông Đức tặng bạn của em [NL11, tr.36]. 

(136) Em đi giữa biển vàng. Nghe mênh mang trên đồng lúa hát, bông lúa trĩu ở trong lòng tay như đựng đầy mưa gió nắng như nặng giọt mồ hôi của bao người nuôi lúa lớn lúa ơi! [NL4, tr.78]. 

- Từ ngữ chỉ thực vật là cây hoa, cây cảnh: hoa hồng, quỳnh, cây mít, hoa mai, hoa sứ,… Từ ngữ chỉ thực vật này xuất hiện số lượng nhiều nhưng tần suất các từ ngữ lại thấp hơn hai loại trên. Ví dụ: 

(137) Mai chia tay phượng ơi, tuổi thơ năm tháng không nguôi [NL8, tr.127]. 

(138) Nắng nằm trong búp xanh. Tết nở ra năm cánh. Như ông sao lấp lánh. Gọi mùa xuân đầu cành. Hoa mai - Hoa mai - Hoa mai - Hoa mai [NL6, tr.77]. 

Trong các ví dụ 137, 138 cây phượng, hoa mai là các loại cây hoa và cây cảnh gắn với những mùa cụ thể trong năm. Nếu cây phượng và cụ thể là hoa phượng thường được gắn với mùa hè thì hoa mai lại gắn với mùa xuân, gắn với sự thanh mát, tươi mới. 

- Từ ngữ chỉ cây nguyên liệu sản xuất và phục vụ đời sống con người Các từ ngữ chỉ cây ăn quả: mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ… Đây là các loài thực vật quen thuộc và gần gũi nhất đối với TN nông thôn. Nó là những loài thực vật sống ngay trong vườn nhà, lại cho hoa quả hấp dẫn đối với TN. Và đối với TN không có điều kiện tiếp xúc với đời sống tự nhiên trực tiếp thì thông qua các “thứ quà quê” các em cảm nhận và nhận biết về chúng. Đặc biệt là nhiều loài cây, trong đó một số loại xuất hiện với tần suất cao: cam, dừa, mít, hồng, chuối, dưa… Dưới con mắt của TN, mỗi cây trồng dường nó có linh hồn hoặc gắn với nó là các sự kiện, sự tích đẹp: cây dễ thương, cây dễ sợ, nàng Bạch Mẫu Đơn, cây lòng thong là cây bí đao, đỗ con xinh xẻo,… Ví dụ: 

(139) Má trồng toàn những cây dễ thương. Nào là hoa là rau là lúa. Còn ba trồng toàn cây dễ sợ. Cây xù xì cây lại có gai. Cái gai bưởi đụng nhằm thì chảy máu. Trái sầu riêng rơi xuống thì đầu u, nhựa hột điều dính vào là rách áo. Cây dừa cao cao ôi là cao [NL4, tr.133]. (140) Chặt cây dừa là chừa cây cau. Cây thong long là cây bí đao. Cây thấp thì nấp cây cao. Cây lách chới với cây lau. Rập rành rồi ra tay nào, tay nào chạy ra [NL5, tr.80]. 

(141) Bánh chưng xanh bên dưa hấu đỏ. Nhành mai vàng bên cành đào tươi. Tết năm nay bé thêm một tuổi. Chúc ông bà sức khỏe tuổi già [NL8, tr.98]. 

b) Thực vật tự nhiên, hoang dã 

Thế giới tự nhiên với muôn hình vạn trạng, ngoài các cây trồng trong phạm vi gia đình và cây lương thực, thì các thực vật còn lại được xếp vào nhóm thực vật trồng tự nhiên. Kết quả khảo sát, các từ ngữ chỉ thực vật tự nhiên, hoang dã có 78 từ ngữ, chiếm xấp xỉ 33.7%; xuất hiện ở phạm vi rộng và thường gắn với thái độ, cảm nhận theo các hướng: nhỏ bé, kiên cường, kỳ vĩ, mạnh mẽ với sức sống dẻo dai: cây tre, cây cọ, cây lau, cây sậy, tre Việt Nam, lim, thông, phượng, xoan, tre,… 

Cụ thể là: 

Các loại cây sống trong tự nhiên khá gần gũi với cuộc sống đời thường. Thậm chí, có những loài cây trở thành người bạn thân thiết của người Việt (sau này có một số loài cây tự nhiên thành ra cây trồng) xuất hiện khá nhiều trong các CK TN: tre, lau, sậy, cỏ,… Ví dụ: (142) Tre ơi, tre ơi, tre cho bóng mát, ta ngồi ta hát, ta hát tre nghe [NL4, tr.175]. 

Từ ngữ chỉ cây thân gỗ: lim, thông, phượng, xoan, đa… Lí do các loài thực vật này xuất hiện với tần xuất thấp vì tương tác hay sự tiếp xúc của TN về nhóm sự vật này ít và do đây là cá loài thực vật sống nhiều trong rừng, mọc hoang và không xuất hiện nhiều trong vườn nhà nên số lượng từ ngữ chỉ loài thực vật này trong CK TN rất ít. Chỉ riêng trường hợp “cây phượng” và “hoa phượng” được nhắc tới nhiều nhất và gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau: phượng thắm, hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng thắm sân trường, cánh phượng hồng, dãy phượng đỏ tươi như đang đón chờ đoàn ta,… Ví dụ: 

(143) Này hàng xoan xanh tươi tỏa bóng mát. Này dãy phi lao ngăn từng cơn gió cát [NL12, tr.78]. 

(144) Mạnh như cây đa. Yếu như cây sậy. Nhưng không phải lúc nào sậy cũng thua đa [NL6, tr.47]. 

3.2.3.2. Từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật 

Nhóm các từ ngữ chỉ bộ phận thực vật có 105 từ ngữ chiếm xấp xỉ 4.83% gồm: cành, nhành, cánh, quả, hoa, nụ, chồi, rễ, thân, gai, mầm, hạt, lá, cánh hoa, cành hồng, thân xù xì, cái gai bưởi, gai hồng, cánh hoa phượng, cánh bèo, nụ hồng, cái gai bưởi, búp măng non, bông lúa trĩu, bông lúa non, bông hoa tươi hồng, chùm lá Trạng Nguyên, hai đóa hoa tươi, hai sợi rơm vàng, một đóa hoa tươi, triệu hạt lúa vàng, từng chiếc lá nhỏ, muôn vạn chồi xanh, hạt mồng tơi, hạt thóc, hạt dưa, vòm cây phượng vĩ,… 

Các từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật ít xuất hiện ở dạng là các danh từ chung: lá, hoa, cành, mầm, chồi,… mà thường xuất hiện dưới mô hình cấu trúc phức: cánh hoa phượng, triệu hạt lúa, muôn vạn chồi xanh, hạt thóc,… 

Các từ ngữ chỉ bộ phận thực vật khi xuất hiện ít biểu hiện tính cụ thể riêng của loài và mang đặc tính biểu trưng cụ thể về nét nghĩa. Các từ ngữ chỉ bộ phận này không thể tách khỏi ngữ cảnh chung được đề cập tới. Hay, các từ này chỉ có thể được hiểu đúng nghĩa gọi tên một thực vật nào đó khi được đặt trong ngữ cảnh. 

Tuy nhiên, các đơn vị là ngữ gọi tên trong đó chứa các từ chỉ bộ phận của thực vật phần lớn thường là những ngữ kết hợp với các từ chỉ đơn vị: triệu bông hoa, triệu hạt lúa, một đóa hoa tươi,… Đây là điểm riêng khác của nhóm từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật dùng để gọi sự vật. Cách gọi này thể hiện đặc trưng nét nghĩa “nhỏ bé” và thường “cộng hưởng” để làm nên đặc tính riêng của loài thực vật. Ví dụ: 

(145) Cây xù xì cây lại có gai. Cái gai bưởi đụng nhằm thì chảy máu [NL4, tr.132]. 

(146) Hãy ngủ ngủ cho ngoan, ngoan như dòng nước ngọt nước ngọt quê hương cho lúa trên đồng sóng lúa mênh mông [NL8, tr.60]... 
3.2.4. Từ ngữ chỉ đồ vật và các chi tiết của đồ vật 
3.2.4.1. Từ ngữ chỉ đồ vật 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ đồ vật: giầy, váy, áo, ba lô, mũ, áo ba lỗ, áo trắng, giầy, dép, sách, bút, vở, bảng, bi, đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe, chổi rơm, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo, đèn sao phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi,... 

Khảo sát và phân loại phạm vi sử dụng và chức năng của đồ vật, các từ ngữ chỉ đồ vật trong CK tiếng Việt dành cho TN có thể được chia thành hai loại. 

Bảng 3.6: 

Các từ ngữ chỉ đồ vật theo phạm vi sử dụng 

STT 

Phạm vi sử dụng

Số lượng 

Tỷ lệ %

Ví dụ  

1

Đồ vật trong gia đình

 

 87

 4.00

giầy, váy, áo, ba lô, mũ, giầy, dép, bi, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo, đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe, chổi rơm,... 

2

Đồ vật ngoài gia đình

 

 157

 7.22

sách, bút, vở, bảng, phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, thuyền, tàu, lưới, đò, chiêng, chuông,…

a) Từ ngữ chỉ đồ vật trong gia đình 

Các đồ vật trong phạm vi gia đình xuất hiện trong tất cả các hoạt động sinh hoạt của con người. Trên cơ sở tư liệu khảo sát, có thể phân loại các từ ngữ chỉ đồ vật trong phạm vi gia đình theo 3 nhóm sau: 

- Đồ vật cá nhân phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người: giầy, váy, áo, ba lô, mũ…; Đồ chơi: bi, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo,…; Đồ vật chung trong sinh hoạt: đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe... Ví dụ: 

(147) Hoa vào Nam ra Bắc theo bộ đội Trường Sơn trên ba lô đã vá, trên chiếc mũ đã sờn [NL6, tr.79]. 

(148) Lỳ hay chơi pháo, pháo tập tàng và rất mê [NL7, tr.61]. 

(149) Quả gì mà lăn lông lốc xin thưa rằng quả bóng [NL3, tr.45]. 

(150) Chúng ta đi rất oai hùng theo nhịp ca. Kèn thúc lên rồi thiếu niên tiền phong [NL11, tr.62]. 

(151) Tùng rinh rinh tùng rinh tùng rinh rinh. Đám rước đèn em dạo bước trên dòng kênh xanh [NL9, tr.65] 

b) Từ ngữ chỉ đồ vật ngoài gia đình 

- Các từ ngữ chỉ đồ vật dùng ngoài gia đình có thể phân loại thành 2 nhóm: 

+ Đồ dùng học tập: sách, bút, vở, bảng, phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, chiếc máy tính bảng của em, trang sách hồng, trang vở trắng, một cái túi xinh xinh, túi của bé… Các từ ngữ chỉ đồ dùng ngoài gia đình của TN luôn gắn với những đặc điểm về hình dáng, màu sắc và gắn với một tình cảm riêng khác. Bởi đó là những đồ vật gắn bó với các em khi đến trường - ngôi nhà thứ hai. Ở đó, các đồ vật trên vừa là công cụ nhưng vừa là “người bạn thân” của trẻ. Từ trong những chiếc cặp xinh xinh, những trang sách hồng tươi trẻ được học với bao mới lạ. Thế giới dường như thu nhỏ trong trang sách và bao điều thú vị từ lời cô dạy. Ví dụ: 

(152) Em yêu trường em, với bao bạn thân và cô giáo hiền như yêu quê hương, cắp sách đến trường trong muôn vàn yêu thương. Nào bàn, nào ghế, nào sách, nào vở. Nào mực, nào bút, nào phấn, nào bảng. Cả tiếng chim vui trên cành cây cao [NL2, tr.43]. 

+ Đồ vật dùng trong nghề nghiệp: thuyền, tàu, lưới, đò, chiêng, chuông,… 

Ví dụ: 

(153) Cốc cốc cốc! Ai gọi đó? Nếu là thỏ cho xem tai. Nếu là nai cho xem gạc. Là lá la la la la la. Kìa chị gió đi đâu về mà vội thế chị gió ơi! Cốc cốc cốc xin mời vào cùng sửa soạn đón trăng bên hè. Rồi ngày mai khi ra biển quạt buồm lên thuyền lướt khơi [NL4, tr.170]. 

(154) Con đò chờ em bên sông. Khua mái chèo vẫy gọi ánh trăng [NL8, tr.148]. 

3.2.4.2. Từ ngữ chỉ các bộ phận của đồ vật 

Những từ ngữ chỉ các chi tiết của đồ vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN thường được nhắc tới: cánh diều, cánh buồm, dây diều, lưỡi cần câu, trang sách, trang vở, sợi rơm mùa, ngọn nến, ống nghe, tấm áo, ánh đuốc thiêng của Lê Văn Tám, những tà áo trắng,…Có 59 từ ngữ chỉ các chi tiết của đồ dùng, 2.71%. Ví dụ: 

(155) Em đón cái chữ vào tay thương nụ hoa thương như mầm cây mọc trên trang vở [9, tr.69]. 

(156) Vạt áo thân thương. Có đổi màu qua mưa nắng [NL12, tr.113]. 

3.2.5. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng 

Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng có thể chia thành hai loại. Kết quả cụ thể: 

Bảng 3.7: 

Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng

STT 

Hiện tượng và sự vật

Số lượng 

Tỷ lệ %

Ví dụ  

1

Hiện tượng tự nhiên

 

 411

 18.91

sông, suối, núi, đồi, đất, đá, nước, nắng, mưa, bão, gió, sương, trăng, chị gió, ông mặt trời, ông mặt trời lóng lánh, bầu trời xanh xanh, bờ biển Đông bao la,… 

2

Sự vật trừu tượng 

 

 144

 6.62

giấc mơ Phù Đổng, niềm khát vọng, những mộng mơ tuổi hồng, hòa bình tươi vui, tuổi mộng mơ, những khung trời tuổi thơ, những nhọc nhằn gian khó, thời thơ ấu, dòng sông tuổi thơ,… 

3.2.5.1. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ sự vật thuộc thiên nhiên và hiện tượng tự nhiên rất đa dạng: sông, suối, núi, đồi, đất, đá, nước, nắng, mưa, bão, gió, sương, trăng, chị gió, ông mặt trời, ông mặt trời lóng lánh, bầu trời xanh xanh, bờ biển Đông bao la, dòng sông hiền hòa, đất hoang cằn cỗi, đất nở hoa, đêm rằm liên hoan, giọt sương long lanh, mây trời hiền lành, mùa hè trong xanh, mùa thu khai trường, trăng hồng như quả chín,… 

Thế giới tự nhiên với muôn vàn màu sắc và thanh âm. Từ những vật tưởng như vô tri, xù xì, xấu xí như hòn đá, hòn đất,… cho đến những vật lung linh, rạng ngời, dịu dàng… mà “không thể đuổi bắt được” như gió, mây, mặt trời,… đều toát lên một sự hấp dẫn lạ kỳ. TN nhìn thế giới tự nhiên với đầy đủ các thanh âm và cung bậc tình cảm. Đó là sự ngưỡng mộ với ông mặt trời hay đó là lời xin được đi cùng chị gió… Ví dụ: 

(157) Kết tinh từ mây mưa trên núi. Kết tinh từ ngày đêm khoe màu sắc [NL6, tr.99]. 

(158) Mưa đang hát, mưa đang reo, tiếng mưa rơi rộn ràng như đang múa [NL7, tr.21]. 

Những từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên đi vào CK dành cho TN như một phần tạo nên đời sống muôn màu. Theo kết quả khảo sát, có thể nhận thấy các từ ngữ chỉ hiện tượng thường xuất hiện nhiều ở CK dành cho cho lứa tuổi từ 9 - 15 hơn là lứa tuổi từ 3-8. Lý giải điều này có thể nhận thấy các sự vật hiện tượng như nắng, mưa, bão… không chỉ đơn giản đi vào CK như những hiện tượng tự nhiên mà nó gắn với những ước mơ, niềm tin, niềm hạnh phúc… đôi khi cả sự giận dỗi, hờn ghen. 

3.2.5.2. Từ ngữ chỉ sự vật trừu tượng 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ sự vật trừu tượng dưới cách nhìn của TN: 

giấc mơ Phù Đổng, niềm khát vọng, những mộng mơ tuổi hồng, hòa bình tươi vui, tuổi mộng mơ, những khung trời tuổi thơ, những nhọc nhằn gian khó, thời thơ ấu, dòng sông tuổi thơ,… 

Sự vật trừu tượng là nhóm sự vật mang những đặc điểm “riêng khác” với các nhóm sự vật còn lại. Nếu các nhóm sự vật chỉ con người, động vật, đồ vật, hiện tượng, TN có thể cảm nhận bằng các giác quan: nghe, nhìn, ngửi,… thì nhóm sự vật trừu tượng lại không thể cảm nhận theo cách đó mà để cảm nhận và gọi nhóm sự vật này cần phải xuất phát từ trạng thái cảm xúc của TN và gắn với sự hiểu biết của các em. 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy nhóm sự vật xuất hiện trong các CK có sự khác nhau về cách gọi theo lứa tuổi của TN. Cụ thể, nếu ở lứa tuổi mầm non và tiểu học, lớp từ này chỉ xuất hiện với những từ đơn thể hiện cảm xúc: vui, yêu, nhớ, niềm tin, hi vọng, ước mơ,… Điều này thể hiện mức độ “cụ thể hóa” cảm xúc của TN còn ở mức độ thấp - tư duy phản biện chưa cao. 

(159) Hòa bình tươi vui bầu trời quê hương sáng trong một màu xanh [NL9, tr.44]. 

(160) Con đường học trò. Đưa em qua những mộng mơ tuổi hồng [NL4, tr.165]. 

Các từ này thường xuất hiện trong các CK dành cho lứa tuổi từ 9 - 15. Bởi vì, ở lứa tuổi này TN nhận thức được những khái niệm trừu tượng và nói về các sự vật trừu tượng đó với mục đích, quan điểm riêng của mình. 

3.3. Các biểu tượng thường gặp 

3.3.1. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ động vật 

Trong thế giới của TN, con vật là “những người bạn” mà TN có thể “chia ngọt sẻ bùi” hay “giận dỗi ngây ngô” thậm chí “quát mắng” chúng. Và trong thế giới ấy, TN đã gán cho một số loài vật những đặc điểm riêng khác và trở thành biểu tượng mà bất cứ ai nghe đều có thể cảm nhận và hiểu điều TN đang nói tới. Trong CK tiếng Việt dành cho TN, đó là: “con ve sầu” (29 lượt), “con mèo” (19 lượt), “chú chim câu”(15 lượt), “con chim chích chòe” (11 lượt),“con ong” (9 lượt), “cái tôm, cái tép, cái bống” (8 lượt), “chim vành khuyên” (7 lượt), “con trâu”/ “con nghé” (6 lượt), “con chim chích bông” (4 lượt), “con vịt xấu xí” (3 lượt),… 

Ve sầu - biểu tượng gọi hè. Mỗi khi tiếng ve bắt đầu râm ran và những bông hoa phượng bắt đầu khoe sắc hồng rực lửa thì báo hiệu mùa hè đã đến. TN được nghỉ học và vui chơi trong 3 tháng hè. Vì thế tiếng ve đã trở thành một trong những biểu tượng “gọi hè”, và tạm biệt mùa hè. (161) Hòa cùng tiếng gió vút khắp cánh đồng. Râm ran gọi hè tiếng ve kêu [NL5, tr.28]. 

Mèo - biểu tượng cho sự lười biếng. Con mèo thì luôn ngủ, mắt lim dim và hay nằm ườn phơi nắng, TN đã “gán” cho chúng cái “lười”, để gọi những ai ham ngủ, không chịu làm việc là “con mèo”: 

(162) Leo leo rửa mặt như mèo. Xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu. Khăn mặt đâu mà ngồi liếm láp. Đau mắt rồi lại khóc meo meo [NL1, tr.43]. 

Chị ong nâu - biểu tượng cho sự cần cù, chịu khó. 

(163) Chị ong nâu nâu nâu nâu. Chị bay đi đâu đi đâu. Chú gà trống mới gáy. Ông mặt trời mới dậy mà trên những cành hoa em đã thấy chị bay. Bé ngoan của chị ơi, hôm nay trời nắng tươi. Chị bay đi tìm nhụy, làm mật ong nuôi đời. Chị vâng theo bố mẹ, chăm làm không nên lười [NL3, tr.28]. 

Chim bồ câu - biểu tượng cho hòa bình. Dùng biểu tượng chim bồ câu để truyền thông điệp hòa bình giữa con người với con người, yêu quý thiên nhiên: 

(164) Em như chim bồ câu tung cánh giữa trời. Em như chim bồ câu trắng bay giữa trời. Em mong sao không có nước mắt rơi chia lìa. Em mong sao trên trái đất hoa thơm nở bốn mùa. Em mong sao trên trái đất mỗi con người, như em đây là chim trắng chim hòa bình. Sống để yêu thương giữ đẹp trái đất xanh [NL2, tr.74]. 

3.3.2. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ thực vật 

Những loài thực vật được coi là biểu tượng trong các CK tiếng Việt dành cho TN: cây lúa (38 lượt), cây tre (16 lượt), hoa mai (14 lượt), cây phượng (13 lượt), hoa hồng (11 lượt), hoa đào (9 lượt), búp măng /măng non (7 lượt), hoa mẫu đơn (nàng Bạch mẫu đơn) (5 lượt), hoa tím lục bình/ hoa bèo (4 lượt), cây phi lao chắn gió (3 lượt), cây bàng vuông (3 lượt),… 

Cây tre thường được ví với tinh thần người Việt. Vì thế, cây tre trong các CK tiếng Việt là biểu tượng cho sự đoàn kết, gắn bó, sự quật cường, hiên ngang trong bảo vệ quê hương trước kẻ thù, đồng thời chở che cho con người: 

(165) Em yêu cây tre xanh tươi râm mát. Trưa hè tre hát như tiếng mẹ ru. Em yêu cây tre đã cùng Phù Đổng đánh thắng giặc Ân nay đã vót thành chông đánh bầy giặc Mỹ. Em yêu em quý cây tre anh hùng. 

Cây tre quê em bao quanh thôn ấp, như là lũy thép dưới ánh cờ sao. Cây tre quê em kĩu cà kĩu kịt gánh thóc vào kho ngày mai tới gửi ra chiến trường diệt Mỹ. Em yêu em quý cây tre Việt Nam [NL10, tr.104]. Cây lúa - biểu tượng cho “nguồn sống” và sự “thân thương”. Cây lúa là một hình ảnh rất đỗi quen thuộc, dung dị, hiền hòa đã gắn bó với người dân Việt Nam bào đời nay. Cánh đồng lúa xanh đã từ lâu trở thành biểu tượng của nông thôn Việt Nam. Trong CK tiếng Việt dành cho TN: 

(166) Quê hương xinh đẹp chúng ta biết bao tình yêu và bao mến thương. Ruộng đồng bát ngát chân trời cò bay nhịp nhàng giữa khung trời quang. Luôn luôn chúng em ghi lòng giữ cho cây lúa càng được xanh tươi [NL9, tr.111]. 

Biểu tượng của mùa hè tuổi học trò - “cây phượng vĩ”. Đây là loài cây mang hình ảnh hoa gắn liền với tuổi học trò. Cây phượng vĩ có tán lá rộng, xanh tốt, hoa đẹp, thường được trồng làm cây tạo cảnh quan, cây bóng mát trên các vỉa hè, đường phố, công viên, trường học. Cây phượng vĩ là một biểu tượng của mùa hè, khơi gợi nhiều cảm xúc trong lòng người. 

Với TN, mỗi khi mùa hè đến là hoa phượng báo hiệu một năm học đã kết thúc và có những ngày tháng nghỉ hè bên gia đình. Cánh hóa phượng mỏng như trang giấy học trò. Chúng mang một sắc đỏ biểu trưng trong CK tiếng Việt dành cho TN: 

(168) Chào mùa xuân muôn con chim én bay. Trong nắng ban mai muôn hoa khoe sắc hồng. Hè về nghe râm ran bao tiếng ve. Trong góc sân trường hoa phượng thắm đỏ tươi. Mùa thu đem mây hồng cũng heo may [NL5, tr.14]. 

Và đó là nỗi nhớ về mái trường khi chia xa: 

(169) Ơi hoa phượng đỏ thắm. Đỏ rực cả bầu trời. Râm ran ve kim hát nao lòng mình bạn ơi. Mùa hạ nào của tôi? Vẫn như ngày xưa ấy. Mùa hạ đến bây giờ dẫu tháng ngày vẫn vậy. Cơn mưa về nỗi nhớ. Nỗi ơ nhớ. Chia tay trên sân trường ơ trường. Lá đa rơi thảm đỏ. Bạn ơi mắt bạn có rưng rưng? [NL4, tr.193]. 

3.3.3. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ đồ vật 

Trang sách - biểu tượng nguồn kiến thức đời sống (trang đời). Từ buổi đến trường đầu tiên, TN bắt đầu với những con chữ “ê, a” qua những trang sách. Mỗi trang sách đều chứa đựng những thông tin, giá trị vật chất và tinh thần. Trong CK tiếng Việt dành cho TN xuất hiện 7 từ ngữ về “sách” như: sách, trang sách, sách mới, trang sách hồng, những trang sách hồng,… 

(170) Khăn thắm hồng tươi rạng ngời trang sách mới. Kiến thức là đây nhớ công ơn Cô thầy” hay “Khi trang sách mở ra những trang đời oanh liệt: đưa em vào quá khứ, đưa em vào tương lai. Khi trang sách mở ra lời cô hằng khuyên nhủ: Quê hương thêm giàu đẹp đang chờ em lớn lên. Cô giáo như mẹ hiền nuôi con dòng kiến thức. Cô giáo như mẹ hiền ngọt ngào câu ru hời. Cô giáo như mẹ hiền. Mong sao ngày em lớn lên không quên điều đã học. Khi trang đời mở ra [NL6, tr.35].

Khăn quàng đỏ - biểu tượng của lý tưởng và tâm nguyện phấn đấu. Khăn quàng đỏ có thiết kế hình tam giác - mang nghĩa tượng trưng một phần của cờ Tổ quốc và màu đỏ tượng trưng cho lý tưởng của cách mạng. Đeo khăn quàng đỏ, đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh tự hào về Tổ quốc, về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Bác Hồ vĩ đại, về nhân dân Việt Nam anh hùng và nguyện phấn đấu để trở thành đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Trong các CK tiếng Việt dành cho TN có 9 từ ngữ về biểu tượng khăn quàng đỏ như: khăn quàng, khăn quàng đỏ, khăn quàng em, khăn quàng đỏ tươi, chiếc khăn quàng, chiếc khăn quàng của em,… 

(171) Là những măng non đang lớn lên giữa lòng đất nước vô cùng tự hào vì tổ quốc Việt nam. Truyền thống cha anh đã bao đời xây nền xã hội tươi đẹp chúng em nguyện đều tiến bước vinh quang. Khăn quàng đỏ tươi em đeo nhắc em bền chí phấn đấu là đội viên tiên tiến theo cờ Đội em hăng say [NL10, tr.132]. 

3.3.4. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ hiện tượng thiên nhiên 

Mặt trời - biểu tượng cho tri thức và lãnh tụ 

Mặt trời là trung tâm của hệ mặt trời và tỏa ra một nguồn nhiệt lớn, sinh ra ánh sáng và năng lượng cho mọi sự sống trên trái đất. Trở thành biểu tượng, mặt trời không chỉ mang tới nguồn sáng, sự ấm áp cho vạn vật, mà còn mang tới niềm tin, tình yêu, khát vọng. Trong CK tiếng Việt dành cho TN có 8 từ ngữ chỉ biểu tượng mặt trời như: mặt trời, ông mặt trời, ông mặt trời của bé,… 

(172) Vui bao nhiêu dân Mèo có chữ. Mặt trời lên tan màn đêm thâu. Chúng em càng nhớ công ơn Đảng. Khi vui cùng nhau tới trường. Thi đua nhau chăm học hết sức mai sau em xây dựng quê hương... [NL12, tr.59].

Đặc biệt, các nhạc sĩ đã dùng mặt trời để nói về Chủ tích Hồ Chí Minh: 

(173) Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác Đã thấy trong sương, hàng tre bát ngát. Ơi! hàng tre xanh xanh Việt Nam. Giông tố mưa xa đứng thẳng hàng. Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng. Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ. Ngày dòng người... đi trong thương nhớ... Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín... mùa xuân [NL3, tr.66]. 

Đất - biểu tượng cho nguồn gốc, sự bao bọc và sinh sôi. 

Trong tâm thức của mỗi con người, đất được coi là nơi cội nguồn của sự sống. Điều này được khẳng định ngay từ cách gọi Tổ quốc bằng từ “đất nước” và quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người. Trong CK tiếng Việt dành cho TN có 18 từ ngữ chỉ biểu tượng đất như: đất, mặt đất này, trái đất, đất hoang cằn cỗi, … 

(174) Nếu bạn về thăm quê tôi. Thăm những nương chè đồi sơn bát ngát. Nếu bạn về thăm dòng sông Lô xanh trong hay sông Thao màu nước pha hồng. Phải chăng bạn ơi là quê tôi Vĩnh Phúc, đẹp như bức tranh trên lụa Việt Nam. Nhưng nếu tôi nói rằng quê tôi cũng là quê bạn. Quê hương tôi yêu quý [NL12, tr.146]. 

Các hiện tượng tự nhiên có thể là những biểu tượng gần gũi, trân trọng và kỳ vọng. Đó là ông mặt trời, mặt trăng, chị gió, chị mây hay đó là cơn mưa chiều bất chợt, nắng hè oi ả…
3.3.5. Biểu tượng trên cơ sở các từ ngữ chỉ ngườ

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy có rất nhiều biểu tượng xuất phát từ các từ ngữ chỉ người - đó có thể là những con người có thật hoặc những nhân vật tưởng tượng. Đó có thể là một cá nhân nào đó nhưng cũng có thể là một tượng đài tập thể như con Rồng - cháu Tiên, ông Bụt, bà Tiên, cô Tấm, Thạch Sanh,… Bác Hồ, Kim Đồng, quân tiên phong, thiếu nhi, quân tiên phong,… Tất cả các biểu tượng đó khi xuất hiện trong các CK tiếng Việt dành cho TN đều kích thích TN nhớ về những sự tích, những chiến công, những cống hiến… của những con người đã trở thành biểu tượng. 

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh (Bác Hồ) đã trở thành một biểu tượng niềm tin, lý tưởng của dân tộc Việt Nam nói chung và TN Việt Nam nói riêng: 

(175) Cho em tất cả người mang cho em cuộc đời mới tươi sáng đầy ước mơ. Người cho em tất cả là Bác Hồ Chí Minh [NL2, tr.34]. 

(176) Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn TN Việt Nam. Bác chúng em dáng cao cao, người thanh thanh. Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài. Bác chúng em nước da nâu vì sương gió. Bác chúng em thề cương quyết trả thù nhà. Hồ Chí Minh kính yêu, chúng em kính yêu Bác Hồ Chí Minh trọn một đời [NL3, tr.54]. 

Bên cạnh các biểu tượng về nguồn gốc dân tộc thì những người như chú bộ đội (8 lượt), anh Kim Đồng (3 lượt), quân tiên phong (2 lượt), anh phi công (1 lượt),… đều trở thành những biểu tượng cho sự anh dũng, quả cảm trong chiến đấu. 

(177) Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít. Dấn bước ra đi, Kim Đồng lên chiến khu. Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mờ. Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù. Anh Kim Đồng ơi! Anh Kim Đồng. Tuy anh xa rồi! Tuy anh xa rồi. Gương anh sáng ngời! Gương anh sáng ngời. Đội ta cố noi... [NL11, tr.54]. 

Những người thân trong gia đình như ông bà, bố mẹ hay thầy cô,... cũng trở thành những biểu tượng về nhân cách sống. Đó là hình ảnh bà: 

(178) Cháu ngồi nghe bà kể bao câu chuyện ngày xưa. Có Thạch Sanh dũng cảm. Có cô Tấm chăm ngoan. Bà là vườn cổ tích, là bóng mát tuổi thơ. Cháu nằm nghe bà kể ngỡ vào giấc một mơ. Cháu nằm nghe bà kể đi vào giấc thần tiên [NL6, tr.7]. 

Đó là cha mẹ: 

(179) Ba sẽ là cánh chim đưa con bay thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa cho con cài lên ngữ. Ba mẹ là lá chắn che chở suốt đời con. Vì con là con ba con của ba rất ngoan. Vì con là con mẹ con của mẹ rất hiền. Ngày mai con khôn lớn bay đi khắp mọi miền. Con đừng quên con nhé ba mẹ là quê hương [NL2, tr.14]. 

Những thầy cô: 

(180) Thầy cô đã vì em thắp sáng niềm tin. Ôi những lời dịu dàng em thấy lòng bồi hồi. Vì hạnh phúc đàn yêu thương thiết tha. Nhớ ơn thầy cô em hát ngàn lời ca. Bao tình thương dưới mái trường này. Như là cha nâng niu trìu mến. Cô thầy vì đàn em thân yêu [NL5, tr.84]. 

Chú bộ đội: 

(181) Vai chú mang súng, mũ cài ngôi sao đẹp xinh. Đi trong hàng ngũ chú hành quân trông thật nhanh. Chú bộ đội chúng cháu yêu chú lắm. Súng chắc trong tay chú canh giữ cho hòa bình. Canh giữ biên giới, giữ trời xanh xanh của ta. Canh nơi đầu sóng giữ biển khơi nơi đảo xa. Chú bộ đội chúng cháu yêu chú lắm. Nhớ chú bao nhiêu cháu ca múa cho thật nhiều [NL10, tr.26]. 

Hay cô công nhân: 

(182) Pin! Pin! Pin Chiếc xe buýt dừng trước nhà em đón cô công nhân đi vào nhà máy. Ngày từng ngày dù mưa hay nắng, không ngăn được cô Rất đúng giờ khi nghe tiếng còi: pin pin pin. Em yêu cô công nhân sớm hôm chuyên cần trong tiếng máy reo vang. Em yêu cô công nhân nét mặt dịu dàng vẫn đón xe bên nhà trên đường vào ca ba [NL6, tr.62]. 

Ngoài các biểu tượng như đã nói ở trên, trong các ca khúc tiếng Việt dành cho TN chúng ta còn bắt gặp rất nhiều những hình ảnh mang tính biểu tượng khác như màu xanh, bàn tay, hoa cúc, búp măng non... Nói chung các biểu tượng thường tùy thuộc vào sự thỏa thuận và đồng thuận của nhóm đối tượng để gán cho nó một nội dung nào đó. 

3.4. Tiểu kết 

1/ Với tổng số là 2174, với số lượt xuất hiện là 5209 trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các từ ngữ đã chỉ những loại sự vật rất đa dạng, từ các sự vật hữu hình đến các sự vật trừu tượng, tạo nên các nhóm khác nhau. Các từ ngữ chỉ sự vật này có thể được phân loại thành 6 nhóm: người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu trượng. Một số nhóm từ ngữ được dùng với hai chức năng: chỉ sự vật và xưng gọi. 

Các từ ngữ xuất hiện trong các nhóm là không tương đồng nhau. Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện cao: người, thực vật, hiện tượng tự nhiên. Các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc thiếu nhi được tìm hiểu ở hai phạm vi: trong gia đình và ngoài xã hội, đồng thời, trong từng phạm vi dựa theo đặc trưng của từng nhóm sự vật được triển khai tìm hiểu sâu. Nhóm từ ngữ chỉ người thuộc phạm vi gia đình được tìm hiểu dưới dạng mô hình thứ bậc với việc lấy ego - tôi (thiếu nhi) làm tâm để soi chiếu. Trong phạm vi ngoài xã hội, dựa vào hoàn cảnh tương tác để phân ra: nhà trường, công viên, sở thú,… Theo từng phạm vi và hoàn cảnh thiếu nhi có cách gọi khác nhau. Các từ ngữ như: bố, mẹ, ông bà, thầy cô, mẹ dịu hiền, cô công nhân, chú bộ đội, bạn bè, bạn Nam Bắc,… được phân tuyến để thấy rõ đặc trưng tương tác của thiếu nhi. Với các nhóm từ ngữ chỉ sự vật ngoài con người, luận án cũng khai thác các phạm vi: gia đình và ngoài xã hội. Gắn với từng nhóm sự vật khác nhau dựa theo đặc trưng giống/ loài/ loại chúng tôi có sự phân định về phạm vi. 

Tuy nhiên, điểm đặc biệt trong các từ ngữ chỉ sự vật ngoài con người là những con vật hung dữ như: hổ, báo, voi,…và những hiện tượng: trời, trăng, mây, mưa,…lại xuất hiện không trực diện mà thường được “vật hóa” để trở thành “những người bạn lớn” của thiếu nhi thông qua các câu truyện của bà, của mẹ. 

2/ Biểu tượng là một trong những đặc trưng gặp nhiều trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi. Đó là: Tiên, Rồng, ông tiên, Bác Hồ, Kim Đồng, bà, bố, mẹ; con trâu, con chim bồ câu, cái tôm, cái tép; cây tre, cây lúa, hoa phượng; trống trường, sách vở, con số,… chủ yếu biểu trưng cho khát vọng về cái đẹp, sự kiên định, tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, niềm tin, sự phấn đấu cho ngày mai… Nói chung, trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi đó là những khuôn mẫu lý tưởng trong những “bài học lớn” cho thiếu nhi, qua các từ ngữ chỉ sự vật. 

Chương 4 

VAI TRÒ GIÁO DỤC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÚC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI 

4.1. Khái quát về vai trò của ca khúc trong giáo dục tri thức đời sống và nhân cách 

Trẻ em thích vừa học vừa chơi và thích hát. Các CK là món ăn tinh thần rất cần thiết, không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của TN, góp phần định hướng suy nghĩ, tư duy trẻ thơ, giúp TN bày tỏ quan tâm và chia sẻ với thế giới xung quanh, với gia đình, bạn bè, thầy cô… Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ, Ngày đầu tiên đi học, Tia nắng hạt mưa, Tuổi hồng, Bông hồng tặng cô, Trường của cháu đây là trường mầm non…, luôn là những bài ca được yêu thích trong thế giới âm nhạc tuổi thơ, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, đi sâu vào lòng người bằng những giai điệu và ca từ đẹp nhất. 

Sở dĩ các CK có được vai trò như vậy, trước hết là do các nhạc sĩ đã bám sát đặc điểm tâm lý TN và có ý thức về chức năng giáo dục của hình thức văn nghệ này. Trong đặc điểm tư duy, tưởng tượng và trí nhớ của TN, các nhạc sĩ đã chú ý đến quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng, sau đó chuyển sang tư duy hình tượng và trừu tượng, đồng thời cố gắng tìm ra những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Đây là cơ sở hình thành khả năng lĩnh hội những tri thức khoa học, óc phê phán, suy luận và khả năng phân tích, tổng hợp. 

Đặc điểm tưởng tượng của TN - một quá trình tâm lý, phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có: trí tưởng tượng chuyển từ các đặc tính hình ảnh bên ngoài vào bên trong (hình ảnh tinh thần); trí tưởng tượng có chủ định và không chủ định; dẫn đến khả năng tưởng tượng của TN càng phong phú, những biểu tượng của tưởng tượng tái tạo càng gần hiện thực hơn. Đặc điểm trí nhớ - quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, gìn giữ và tái tạo sau đó ở trong óc những cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây: từ nhớ không chủ định cho đến nhớ chủ định; ghi nhớ trực quan hình ảnh, ghi nhớ máy móc và học thuộc lòng các tri thức sách vở; về sau thì ghi nhớ từ ngữ và hình tượng càng phát triển... 

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức, điều chỉnh các hoạt động tâm lý, góp phần làm cho tâm lý con người mang tính tính khái quát cao, hoạt động mang tính mục đích, tính xã hội và… Việc dạy ngôn ngữ cho TN thường bắt đầu bằng việc “dạy các tên gọi” và bắt đầu từ những từ đơn tiết và tiếp đến là từ ghép và cụm từ, ngữ; từ gọi tên “vật nhìn thấy” đến gọi tên “vật nghĩ đến”. Dựa vào đặc điểm này, rất nhiều các CK TN có các từ ngữ chỉ các loại động vật, thực vật, đồ chơi, có các nhân vật là các sự vật (người, động vật, thực vật,...). Việc phát triển ngôn ngữ cho TN thông qua các CK dành cho TN bắt đầu với nhiều đơn vị gọi sự vật. 

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của các CK tiếng Việt dành cho TN là giáo dục tình cảm, mang lại xúc cảm, thái độ đối với những người khác, với các sự vật, hiện tượng của hiện thực. Xu hướng nổi bật trong xây dựng hình tượng là mối quan hệ gần gũi giữa các sự vật; cảm hứng chủ đạo là khẳng định, chú ý, đề cao những thuộc tính, đặc điểm tốt. Đó cũng là cách các tác giả âm nhạc đề cao và nêu gương, phê phán, phủ định, để hướng tới nhân cách lý tưởng. 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, hiện thực được phản ánh xuất phát từ góc nhìn của TN, đồng thời gắn với ý đồ nghệ thuật của nhạc sĩ. Mỗi sự vật được nhắc đến trong các CK đều ít nhiều phản ánh cảm nhận của trẻ thơ: đó là thế giới những con người và sự vật, là ngôi nhà yêu thương, là mái trường thương mến, là vũ trụ bao la... Mỗi sự vật được nhắc tới đều có vai trò tác động đến ca sĩ và người nghe theo nhiều phương diện: phát triển kỹ năng ngôn ngữ, nâng cao khả năng nhận thức, giáo dục nhân cách và định hướng những giá trị thẩm mỹ… 

Trên thực tế, song hành với quá trình phát triển các kỹ năng ngôn ngữ của TN là nhận thức về các sự vật hiện tượng được gọi tương ứng, từ đơn giản đến phức tạp. Cụ thể hơn, việc nắm bắt từ vựng của TN thường bắt đầu từ những từ đơn tiết và tiếp đến là từ ghép và ngữ. Đặc biệt sự gia tăng số lượng từ ghép và ngữ trong vốn từ ngữ của TN qua các lứa tuổi chứng tỏ sự phát triển của khả năng phân tích và khái quát hóa. Dựa vào đặc điểm này, nhiều các CK TN sử dụng các từ ngữ gọi người, cảnh sắc thiên nhiên, động thực vật, đồ chơi..., gắn với nhiều đặc điểm riêng biệt và những nét nghĩa tình thái. 

Với đa số trẻ em Việt Nam, chỉ hát câu đầu thôi cũng có thể đoán đó là bài gì và hát theo: “Một ông sao sáng, hai ông sáng sao…”; “Xòe bàn tay đếm ngón tay, một anh béo trông thật đến hay…”… Có thể nói: Trẻ em như tờ giấy trắng. Những gì đã đi vào ký ức thời ấu thơ trong sáng đều rất khó phai mờ. In đậm trong tuổi thơ TN là lời những CK rất bình dị và dễ thương. Đó là một thế giới ồn ào rất nhiều loại sự vật với nhiều cảnh sắc. 

4.2. Vai trò của ca khúc trong giáo dục tri thức đời sống và nhân cách cho thiếu nhi Việt Nam 

4.2.1. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc hình thành, phát triển kỹ năng tiếng Việt của thiếu nhi 

4.2.1.1. Mở rộng vốn từ ngữ về sự vật 

Khi hát lên hoặc lắng nghe các CK, TN không chỉ thả tâm trí trong các giai điệu du dương, bay bổng... của tuổi thơ mà còn được mở rộng vốn từ ngữ về sự vật. Đó là từ ngữ gọi các sự vật (con người, động vật, thực vật, thế giới tự nhiên) với các gam màu bình dị, thân quen, gần gũi trong đời sống. Mỗi sự vật một vẻ, mang đặc trưng riêng biệt. Các từ ngữ chỉ sự vật là phương tiện gợi nên trong tâm trí người hát người nghe về những sự vật đã gặp hoặc chưa gặp trong đời sống. Thông qua lời hát, TN tiếp nhận từ ngữ vào vốn từ của mình và sử dụng trong giao tiếp xã hội. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể bắt gặp nhiều cách gọi người, cảnh sắc thiên nhiên, các loại động vật, thực vật, đồ chơi... khác nhau, với rất nhiều dáng vẻ và ẩn chứa tâm tư, tình cảm của người nói trong đó. 

Các từ ngữ chỉ sự vật xuất hiện trong ca khúc không chỉ với số lượng lớn mà còn đa dạng về phạm vi. Mỗi bài ca đều mang lại những từ ngữ gọi sự vật trong thế giới tự nhiên và xã hội. 

Trong cuộc sống hàng ngày, ngoài các mối quan hệ trong gia đình với các thành viên như: ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, anh, chị, em… còn có các mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội như: bạn bè, làng xóm, thầy cô giáo, cô công nhân, chú công an, anh bộ đội, bác sĩ, kỹ sư, Bác kính yêu, TN thơ ngây, bạn bè thân thương,… Qua các ca khúc, TN có thể nhận biết cụ thể hơn, chi tiết hơn về các cá nhân trong quan hệ từ gia đình, đến nhà trường và xã hội, qua các từ ngữ. Chẳng hạn: 

- Các cá nhân trong quan hệ huyết thống: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cô, dì, cậu, thím, anh, chị, em,... 

- Các cá nhân nghề nghiệp khác nhau: thầy giáo, cô giáo, cô công nhân, anh bộ đội, thợ cầy, thợ cấy, phi công, cô công nhân, kĩ sư, chú công an,… 

- Các cá nhân cùng hoặc khác giới tính: bạn trai, bạn gái, bác trai, bác gái,… 

- Các cá nhân trong quan hệ theo sự đánh giá tình cảm: mẹ hiền, mẹ hiền từ, bà dịu hiền, mẹ yêu, em yêu, cha ngọt ngào, cha yêu, trẻ ngoan, Bác kính yêu, đàn em thân yêu, hai mẹ hiền, cô giáo như mẹ hiền,… 

- Các cá nhân trong quan hệ tuổi tác: em nhỏ, mẹ già, em thơ, trẻ con, đàn em thơ,… 

Như vậy, thông qua các CK, TN được mở rộng vốn từ ngữ gắn với từng mối quan hệ trong gia đình và xã hội. Sự phát triển vốn từ ở TN thường diễn ra nhanh chóng và có sự khác nhau giữa các đối tượng, các môi trường giao tiếp và giáo dục khác nhau. Điều này thể hiện rất rõ trong các giai đoạn phát triển của TN và gắn với nó là các CK cụ thể. Ví như, ở giai đoạn mẫu giáo, TN được làm quen và học các CK như: “Cháu yêu bà” của Xuân Giao, “Chúc bé ngủ ngon” của Lưu Hà An, “Cháu đi mẫu giáo” của Phạm Minh Tuấn, “Tạm biệt búp bê” của Hoàng Thông, “Trường của cháu đây là trường mầm non” của Phạm Tuyên… Ví dụ: 

(183) Bà ơi bà cháu yêu bà lắm. Tóc bà trắng màu trắng như mây. Cháu yêu bà cháu nắm bàn tay. Khi cháu vâng lời cháu biết bà vui [NL1, tr.11]. 

(184) Bé ơi! Ngủ đi đêm đã khuya rồi. Để những giấc mơ đẹp sẽ luôn bên em. Bé ơi! Ngủ ngoan trong tiếng ru hời. Vầng trăng đợi em cùng bay vào giấc mơ. À ơi! À ơi! À a ơi! [NL1, tr.13]. 

Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật ở trong các CK dành cho TN ở giai đoạn mẫu giáo là các từ đơn tiết và thường có xu hướng sử dụng cùng một đơn vị từ vựng để gọi sự vật cho nhiều đối tượng khác nhau. Đến độ tuổi cuối mầm non và học bậc học phổ thông (Tiểu học, THCS), vốn từ ngữ của TN phát triển nhanh chóng. Khi có được vốn từ ngữ phong phú hơn, TN thường có nhiều lựa chọn khác nhau để gọi sự vật, có thể gọi sự vật bằng cách gán thêm cho sự vật các đặc điểm riêng khác để nhận diện chính xác hơn đối tượng được nói tới. 

Ví dụ: (185) Trong ca khúc “Gia đình chuột” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên “Chúng ta là chuột. Này là chuột cống: chuột ông, chuột bà. Này là chuột cống: chuột mẹ, chuột cha. Này là chuột nhắt: chuột con, chuột cháu. Này là chuột nhắt: chuột anh, chuột em” [NL6, tr.69]. Có thể thấy ở đây cách diễn đạt về chuột được TN ưa dùng: gia đình chuột, chuột cống, chuột ông, chuột bà, chuột cha, chuột mẹ, chuột con, chuột cháu, chuột anh, chuột em… TN đã mượn cách gọi các thành viên trong gia đình của loài người để gán cho loài chuột. Hoặc trong CK “Con chim vành khuyên” của nhạc sĩ Hoàng Vân, tác giả đã nhắc đến rất nhiều loài chim khác nhau và các loài chim này có quan hệ họ hàng với nhau như: bác Chào mào, cô Sơn ca, anh Chích chòe, chị Sáo nâu, Vành khuyên... 

4.2.1.2. Hiểu đúng và nắm vững nghĩa của từ 

Thông qua các hoạt động giao tiếp và tiếp thu kiến thức, vốn từ ngữ của TN thường xuyên được củng cố và mở rộng. Vốn từ ngữ được sử dụng phong phú và linh hoạt thông quan các tình huống giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn, các đơn vị từ vựng chỉ người trong CK dành cho TN không chỉ cung cấp vốn từ chỉ người, mà còn góp phần mở rộng bằng cách mang lại sự liên tưởng. Ví dụ: Bên cạnh những từ ngữ xưng gọi đã quen thuộc với TN: ông, bà, bố, mẹ, thầy, cô,… ca từ còn góp phần mở rộng cách diễn đạt với các thành phần định ngữ và lối nói ẩn dụ: con của mẹ, em như chim bồ câu trắng, cháu ngoan Bác Hồ, cô giáo như mẹ hiền, những lớp măng non,… 

Có thể nhận xét: Nếu các từ đơn gọi sự vật thường phản ánh cách tư duy trực quan sinh động và đơn thuần trong cách gọi sự vật thì các từ ghép và ngữ gọi tên sự vật lại thể hiện sự chuyển biến ở giai đoạn cao hơn: từ trực quan sinh động sang khái quát hóa và gắn với việc phân tích hay miêu tả. Ví dụ: 

(186) Cô giáo như mẹ hiền nuôi em dòng kiến thức. Cô giáo như mẹ hiền ngọt ngào câu ru hời [NL6, tr.35]. 

(187) Ngôi trường của em như một tổ ấm. Và chúng em như những đàn chim nhỏ. Sớm sớm chiều chiều đến lớp học ngoan. Cô giáo em giảng bài, dạy hát thiệt là hay [NL8, tr.87]. 

Trong nhóm từ ngữ chỉ động vật, có không ít từ ngữ chỉ con mèo trong các CK TN thuộc về xu hướng phân tích (đặc điểm hình dáng: mèo mướp, mèo tam thể, mèo đen…; thói quen: bắt chuột, ngủ nướng, nghịch ngợm,…; bản tính: khi đáng yêu, khi hung hăng…; thái độ, tình cảm: con mèo, chú mèo, bạn mèo, anh mèo…). Ví dụ: 

(188) Nhà em có con mèo. Chú mèo kêu meo meo. Mắt tròn trong như nước. Ai cũng yêu chú mèo [NL1, tr.3]. 

(189) Có một lão mèo hung hăng. Chuyên săn bắt chuột suốt ngày [NL6, tr.51]. 

Hoặc, đó là những từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên theo hướng mở rộng và phân tích, chứ không đơn thuần gọi sự vật: sông, suối, núi, đồi, đất, đá, nước, gió, sương, trăng,…chị gió, ông mặt trời, bầu trời xanh xanh, dòng sông hiền hòa, đất hoang cằn cỗi, đất nở hoa, mùa hè trong xanh, mùa thu khai trường, trăng hồng như quả chín… 

Như đã nói ở trên, có một phương thức rất phổ biến và cực kỳ quan trọng là phương thức “chuyển nghĩa của từ” trong tiếng Việt. Đó là do trong giao tiếp của đời sống, nhu cầu phá vỡ “nghĩa biểu trưng của từ” vốn có và tạo nên tính sinh động cho sự vật xu hướng tìm cách thay thế tên gọi cũ bằng một cách gọi mới hay bằng một tổ hợp miêu tả xuất hiện. 

Đối với các sự vật trong CK dành cho TN, cách gọi sự vật có thể theo hướng miêu tả (nhấn mạnh hay bỏ qua đặc tính này hay khác) hoặc chuyển nghĩa. Chẳng hạn: mẹ có thể được gọi là ai hai sương một nắng, bàn tay mẹ, vầng trán mẹ, ánh trăng dịu hiền, mẹ hiền; chim chích chòe có thể được gọi là con chim chích chòe, chim chích, chích chòe, những chú chim xinh xắn, những con chim hót vang… Tương tác với các CK tiếng Việt cũng là một trong những cách làm cho nhận thức của TN tăng lên rõ rệt từ việc có thêm vốn từ vựng phong phú để gọi các sự vật đến việc nắm được các đặc tính, tính chất, đặc điểm… của sự vật; thậm chí có thể gắn với tình cảm, cảm xúc và gán cho nó, gọi nó bằng các đối tượng tương đồng khác. 

Tóm lại, thông qua các CK, TN được mở rộng vốn từ và nghĩa của từ ngữ gắn với sự mở rộng về hoàn cảnh giao tiếp (từ gia đình đến nhà trường và xã hội). Nhiều trường hợp các đơn vị từ vựng có thêm nét nghĩa tình thái. Từ đó các từ ngữ này giúp TN tăng sự hiểu biết của mình về thế giới xung quanh cũng như nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho những mục đích giao tiếp cụ thể. 

4.2.1.3. Nắm được cách dùng từ ngữ trong tạo lập văn bản 

Các từ ngữ chỉ sự vật nói trên được đặt trong những ngữ cảnh cụ thể, thể hiện nghĩa và cách dùng trong giao tiếp xã hội. 

Nhận thức của TN được nâng lên thông qua các hoạt động giao tiếp trong gia đình và xã hội. Hay, thông qua các hoạt động giao tiếp TN sẽ có thêm nhận thức về thế giới xung quanh, phát triển vốn từ ngữ và sử dụng linh hoạt trong sáng tạo văn bản. Đây chính là cơ sở cho việc nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ bằng các biện pháp tu từ. 

Khảo sát, thống kê sự vật trong các CK trong tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy hiện tượng sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ được sử dụng rất phổ biến. Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng ở hầu hết các nhóm sự vật là minh chứng cho sự mở rộng vốn từ ngữ và khả năng sử dụng thành thạo vốn từ tùy thuộc vào từng đối tượng. 

Hiện tượng nhân hóa theo xu hướng xuất hiện trong việc gọi sự vật trong CK dành cho TN diễn ra với tần số rất cao. Nói cách khác, các nhóm sự vật động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng luôn có xu hướng hóa “người” - tức là được gán cho những hoạt động, tính chất,… của con người. Trong các cấu trúc gọi sự vật, các yếu tố chỉ người có thể xuất hiện trước hoặc sau yếu tố chỉ họ/ giống/ loài/ loại như: chuột ông, chuột bà, chuột mẹ, mắt nai ngơ ngác, gà trống thổi kèn, nàng bạch mẫu đơn, lúa reo, chị Hằng xinh tươi, nắng soi gương,… Ví dụ: 

(190) Chít chít chít. Chúng ta là chuột. Chít, chít, chít! Chúng ta biết ơn. Biết ơn con người vì người nuôi ta sống. Nhưng con người lại rất ghét chúng ta. Và con mèo cũng rất ghét chúng ta [NL6, tr.69]. 

(191) Có con chim vành khuyên nhỏ. Dáng trông thật ngoan ngoãn quá. Gọi “dạ” bảo “vâng”, lễ phép ngoan nhất nhà. Chim gặp bác chào mào: “chào bác”. Chim gặp cô Sơn ca: “Chào cô!”. Chim gặp anh chích chòe: “chào anh!” Chim gặp chị sáo nâu: “Chào chị!” [NL2, tr.70]. Nghệ thuật nhân hóa đã giúp cho người nghe có cảm giác “con chuột”, “con chim vành khuyên” đang dẫn chuyện kia như là một ai đó đang kể chuyện về gia đình mình có ông, bà, cha, mẹ, anh, chị,… Một gia đình thu nhỏ của xã hội loài chuột với đầy đủ các “phân tích” về các mối quan hệ thân - sơ, lợi - hại. Kết hợp với tính nhạc trong CK làm cho các ca từ trở nên sinh động. Đặc biệt, cách gọi không chỉ làm cho TN thích thú vui vẻ đón nhận mà còn tự ý thức nhận biết được các thành viên trong gia đình. Từ đó, TN có những liên tưởng lý thú về gia đình mình, rộng hơn là cộng đồng xã hội. 

Không chỉ phản ánh thế giới trên bình diện rộng (gia đình, cộng đồng), xu hướng cá biệt hóa những sự vật ngoài con người còn giúp TN có những sự nhận thức về các hoạt động, tính chất, hành động, thái độ, đặc tính… của loài vật như: trâu vất vả, những con ong chuyên cần, cây nhóm lửa, hoa tên thời gian, cây nến tin yêu, con búp bê dì ghẻ, con đường học trò, mây trời hiền lành, đất nước hồi sinh, tim ước mơ… Sự kết hợp nghệ thuật nhân hóa và miêu tả đã khiến cho các sự vật ngoài con người rất gần gũi, thân quen và giàu thanh âm. Ví dụ: (192) Chim chích bông bé tẻo teo. Rất hay trèo từ cành na ra cành bưởi sang bụi chuối. Em vẫy gọi chích bông ơi. Luống rau xanh sâu đang phá. Chim xuống nhé có thích không? Chú chích bông liền sà xuống bắt sâu cùng và luôn mồm. Thích thích thích! Thích thích thích [NL2, tr.62]. 

(193) Cái kiến bò dưới đất con ong bay trên trời, cần cù và chăm chỉ chẳng bao giờ rong chơi. Cái kiến muốn lên trời tiếc thay không có cánh. Con ong sà xuống đất sợ lấm nhụy hoa tươi…[NL6, tr.40]. 

Hình ảnh những chú chích bông ngoan ngoãn, cần mẫn, chăm chỉ được miêu tả hết sức chân thực nhưng đồng thời cũng rất gần gũi, thân thương. Nghe ca khúc, TN có thể cảm thấy mình cũng bé nhỏ và đáng yêu như con chim chích bé nhỏ, cái kiến, con ong,… 

Như vậy, các biện pháp tu từ là cách thức giúp cho các sự vật trong các CK không chỉ được miêu tả cụ thể, chi tiết mà còn sinh động với nhiều sắc thái biểu cảm. Điều này kích thích tính tò mò, khiến TN thích thú tiếp nhận các CK. Từ đó sẽ giúp TN nâng cao kỹ năng sử dụng từ ngữ theo từng hoàn cảnh, đối tượng… 

4.2.2. Sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật đối với việc nâng cao nhận thức về thế giới của thiếu nhi 

4.2.2.1. Nhận thức chung về sự vật 

Khảo sát 12 tuyển tập với 736 CK tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy đặc điểm nổi bật là các sự vật thường được miêu tả chính xác và phù hợp với đặc điểm vốn có của sự vật trong thực tế. Ví dụ: 

(194) Kìa chú là chú ếch con có đôi là đôi mắt tròn. Chú ngồi học bài một mình bên hố bom kề vườn xoan. Bao nhiêu chú trê non cùng bao cô cá rô ron. Tung tăng chiếc vây son nhịp theo tiếng ếch vang dồn [NL6, tr.29]. 

Không chỉ là những con người, con vật, đồ vật… trong cuộc sống hàng ngày mà còn có những sự vật mang tính biểu trưng, tính ước lệ cao trong các tác phẩm dân gian (bà tiên, ông Bụt, rồng, lân, cô Tấm, cô Tiên,…), thế giới loài người và thế giới tự nhiên trong CK tiếng Việt còn là một bức tranh đa sắc màu, phong phú và đa dạng. 

(195) Sân khấu của em chị Hằng cũng ngẩn ngơ. Cô Tấm ngày xưa bên cô Tiên dịu hiền nhân ái giữa cuộc đời [NL8, tr.29]. 

Các nhạc sĩ đã vẽ lên cả thế giới sự vật phong phú qua tên gọi. Hệ thống tên gọi sự vật trong các CK TN đủ các nhóm: chỉ con người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng... Thậm chí, bên cạnh các sự vật hữu hình, các sự vật vô hình như: bà tiên, chị Hằng, chú Cuội, ông Bụt, niềm tin, lòng tin… cũng được nhắc đến. Đặc biệt, bên cạnh những từ ngữ chỉ sự vật có tính chất toàn dân, nhiều từ ngữ do tác giả sáng tạo ra hoặc mượn tiếng địa phương cũng góp phần tạo nên một thế giới sự vật phong phú và sống động trong các CK dành cho TN. Ví dụ: 

(196) Miền Nam gọi là bắp, miền Bắc gọi là ngô, mà ngô cũng như bắp, mà bắp cùng như ngô. Hoan hô hoan hô… Miền Nam gọi là ba, miền Bắc gọi là bố, mà ba cũng như bố, mà bố cũng là ba. A ha ha ha … [NL11, tr.117]. 

(197) Em yêu trường em với bao bạn thân và cô giáo hiền, như yêu quê hương, cắp sách đến trường trong muôn vàn yêu thương. Nào bàn, nào ghế, nào sách nào vở. Nào mực nào bút, nào phấn, nào bảng. Cả tiếng chim vui trên cành cây cao. Cả lá cờ sao, trong nắng thu vàng. Yêu sao yêu thế trường của chúng em [NL2, tr.43]. 

Như vậy, các CK tiếng Việt nói chung và từ ngữ chỉ sự vật nói riêng góp phần giúp TN mở mang tầm hiểu biết về thế giới, về con người. Điều đặc biệt, các sự vật được nhìn với đôi mắt rất “trẻ thơ” - nhận thấy cái mới, cái bất ngờ trong những cái quen thuộc, thông thường trong cuộc sống để làm giàu cho “đôi mắt” và nhận thức của mình. Không chỉ phản ánh thế giới trên bình diện rộng (gia đình, cộng đồng), xu hướng cá biệt hóa những sự vật ngoài con người còn giúp TN có những sự nhận thức về các hoạt động, tính chất, hành động, thái độ, đặc tính… của sự vật, ví dụ: trâu vất vả, những con ong chuyên cần, cây nhóm lửa, hoa tên thời gian, cây nến tin yêu, con búp bê dì ghẻ, con đường học trò, mây trời hiền lành, đất nước hồi sinh, tim ước mơ… 

4.2.2.2. Nhận thức về các lớp loại sự vật 

Sự vật trong đời sống không phải là một tập hợp chung chung mà bao gồm một hệ thống các loại/ nhóm sự vật. Khảo sát các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể phân biệt tên gọi của các sự vật theo 6 nhóm: con người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng và sự vật trừu tượng. Khảo sát sâu vào các CK có thể nhận thấy: có những CK thể hiện thuần một tiểu nhóm sự vật; có những CK kết hợp giữa các tiểu nhóm sự vật. Kết quả này không mâu thuẫn với thực tiễn mà hoàn toàn phù hợp với thực tiễn của cách gọi các sự vật của con người. Tuy nhiên, do đặc trưng độ tuổi nên cách gọi các sự vật của TN có những cách gọi “bất thường” khi gọi sự vật thuộc tiểu nhóm này bằng tên sự vật của tiểu nhóm kia. 

Vì thế, theo thời gian và “độ lớn” của các CK thiếu nhi hoàn toàn có thể phân biệt được các lớp loại sự vật ở dạng chung và dần dần có sự phân loại cụ thể. Cụ thể, TN ở độ tuổi TN (khi đến trường mẫu giáo) hoàn toàn có khả năng phân biệt được các sự vật thuộc lớp loại chỉ người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng. Ví dụ: 

Nhóm chỉ người gồm: ông, bà, bố, mẹ, thầy, cô, bạn bè, bé, con người, công nhân, anh phi công, thằng cu Sáo, chiến sĩ Trường Sa,… 

Nhóm chỉ chỉ động vật gồm: chó, mèo, gà, chuột, chim chích, chim sâu, chim vành khuyên, con dế mèn, chú chuột nhắt,… 

Nhóm chỉ chỉ thực vật gồm: hoa, lúa, cây, cây cau, hoa lan, dừa, cây trúc xinh, hàng dương xanh, ngàn đóa hoa, những chiếc nấm,… Nhóm chỉ chỉ đồ vật gồm: chổi rơm, bút, vở, phấn, cái quạt mo, chiếc nón lá, lá cờ sao, quả bóng xanh, tấm ảnh bá Hồ,… 

Nhóm chỉ chỉ hiện tượng gồm: mây, mưa, nắng, mặt trời, dòng sông hiền hòa, mùa hè rong chơi, mùa xuân mới, nắng sân trường, những vì sao,… 

Riêng với nhóm chỉ sự vật trừu tượng thì đến độ tuổi vào bậc trung học (tiểu học, trung học cơ sở) TN mới thực sự hiểu bản chất và phân loại đúng các sự vật thuộc tiểu nhóm này. Chẳng hạn: niềm tin, tình yêu, lý tưởng, tương lai em, cội nguồn, một giấc mơ, anh hùng tổ quốc, tim ước mơ, tuổi thơ của chúng em… 

Như vậy, tùy vào mức độ tư duy và nhận thức của TN theo độ tuổi mà các lớp sự vật được cụ thể hóa trong các loại CK. Thông qua tiếp nhận các CK, tên gọi của các sự vật trong CK tiếng Việt giúp cho TN cho TN nhận thức về thế giới tự nhiên và con người một cách nhanh chóng và thuận lợi. 

4.2.2.3. Nhận thức về mối quan hệ giữa các sự vật và giữa các lớp loại sự vật 

Sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN không tồn tại độc lập mà giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Một mặt, các sự vật thống nhất chung nhau một trong những đặc điểm nổi bật để tạo nên sự khác biệt đối với các nhóm khác; mặt khác, sự khác biệt giữa các sự vật tạo nên những đặc tính riêng khác và khẳng định tên gọi riêng của bản thân mình. 

TN ở độ tuổi mầm non chưa nhận thức cụ thể được các đối tượng và vì thế giữa các nhóm sự vật thường có sự nhầm lẫn. Đặc biệt là các nhóm về hiện tượng và sự vật trừu tượng. Điều này hoàn toàn phù hợp với trình độ nhận thức của lứa tuổi ở trẻ. Chẳng hạn, TN có thể nhầm gọi nhiều con vật như: gà, vịt, ngan, ngỗng,… là chim/ gà. Thậm chí, các sự vật trừu tượng rất ít TN có thể gọi chính xác. Vì vậy, các sự vật xuất hiện trong các CK dành cho lứa tuổi mẫu giáo thường rất ngắn và chủ yếu sử dụng các danh từ chỉ loài/ loại/ họ/ giống, hầu như không xuất hiện nhiều các cụm từ với yếu tố gồm nhiều đặc điểm để gọi sự vật. Ví dụ:  

(198) Con vịt bầu nó chẳng sợ ao sâu. Con vịt bầu vừa bơi vừa lầu nhầu [NL8, tr.20]. 

Trong những CK được dạy trong các trường Tiểu học và THCS thì tên gọi của các sự vật thường kèm theo những đặc điểm cụ thể. Sự vật được gọi với các đặc điểm đặc trưng nhất. Điều này thể hiện sự phân loại rõ ràng các nhóm sự vật và gọi sự vật theo đặc điểm riêng của nó. Những cách gọi động vật phổ biến có liên quan đến mối quan hệ giữa các sự vật và giữa các lớp loại sự vật: 

Trước hết, nói chung tất cả các từ ngữ chỉ động vật tiếng Việt đều có thể đứng sau con, như: con bò, con mèo, con kiến... Ngoài ra, tên gọi chung của động vật chủ yếu là các từ ngữ có hình thức đơn tiết. Số các từ ngữ này không nhiều lắm. Nhưng đó là cái “gốc rễ” của sự phái sinh. Nhiều hơn rất nhiều là các từ ngữ chỉ động vật, nhưng là thuộc bậc thấp hơn, được cấu tạo theo lối ghép nghĩa, trong đó chủ yếu là ghép chính phụ: bổ sung một hay hơn một yếu tố sau cái “gốc rễ” chỉ loại lớn này, tạo nên một đơn vị định danh mới chỉ sự vật hiện tượng thuộc loại nhỏ hơn. Ví dụ: 

- cá ® cá lẹp, cá mè, cá mương, cá nục, cá ngão, cá nục, cá rô, cá thu, cá trê, cá vàng... 

- kiến ® kiến càng, kiến đen, kiến gió, kiến lửa, kiến vống... 

- rắn ® rắn cạp nong, rắn cạp nia, rắn đuôi kêu, rắn giun, rắn lục, rắn hổ chúa, hổ mang, rắn nước, rắn ráo... 

Như vậy, thông qua cách gọi các sự vật đã giúp cho TN nâng cao khả năng nhận thức về các nhóm sự vật nói chung và các sự vật nói riêng. Từ đó, TN sẽ biết thêm về sự vật trong đời sống. Chẳng hạn: 

Trong nhóm từ ngữ chỉ thực vật, các sự vật được xếp với nhau theo từng cặp và có sự tương đồng với nhau theo chiều hướng “bổ sung”. Ví dụ: 

(199) Chặt cây dừa là chừa cây cau. Cây thong lòng là cây bí đao. Cây thấp thì nấp cây cao. Cây lách chới với cây lau. Rập rành rồi ra tay nào, tay nào chạy ra. 

Xắc củ cải dãi cho nàng, chàng phách chàng chê. Tao với mầy thả ma với quỷ, hú hồn chạy ra [NL5, tr.80]. 

Hay như trong CK “Con chim vành khuyên”, tác giả đã phân loại các loài chim và gắn cho nó cách gọi đặc biệt làm nên một CK vừa dí dỏm, nhí nhảnh, vừa trang trọng, kính phục. Ví dụ: 

(200) Có con chim vành khuyên nhỏ. Dáng trông thật ngoan ngoãn quá. Gọi “dạ” bảo “vâng”, lễ phép ngoan nhất nhà. Chim gặp bác chào mào: “chào bác!”. Chim gặp cô Sơn ca: “Chào cô!”. Chim gặp anh chích chòe: “chào anh!” Chim gặp chị sáo nâu: “Chào chị!” [NL2, tr.70]. 

4.2.3. Các từ ngữ chỉ sự vật góp phần giáo dục nhân cách và định hướng các giá trị thẩm mỹ cho thiếu nhi 

4.2.3.1. Giáo dục tình cảm trân trọng và làm theo những điều tốt đẹp 

a. Tình cảm gia đình 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật gợi lên hình ảnh những người trong gia đình: ông bà, cha mẹ, cô chú, chú dì, anh em, chị em, ai hai sương một nắng, bàn tay mẹ, vầng trán mẹ, ánh trăng dịu hiền, mẹ hiền, cả nhà ta, bà bạc tóc, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, ông bà nội… 

Những cách gọi những người trong gia đình nói trên đã giúp phản ánh sự tri nhận về các quan hệ, đồng thời giúp thể hiện những nét nghĩa tình thái, từ góc nhìn của ca sĩ và người nghe. Gắn với những cảm nhận chân thành, sâu nặng, ân tình, các nhạc sĩ thường dùng những cách khác nhau gọi ông bà. Có thể coi đây là cách gọi phức hợp, chẳng hạn: ông bà, ông bà cháu, ông nội, bà nội, ông bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bà em, ông em, ông nội, bà - vườn cổ tích… 

Ví dụ: Với nghĩa gốc, các từ ông, bà thường xuất hiện độc lập. Sắc thái tình cảm khi sử dụng các từ này thường cố định - một sự mặc định: ông và bà là sự đầm ấm, mang màu sắc cổ tích, và nguồn cội trong khu vườn tuổi thơ dưới một mái nhà: 

(201) Rằng là em bé rất ngoan. Thường hay khám tay sạch các anh. Làm vệ sinh hay quét nhà, và múa hát cho vui ông bà [NL1, tr. 39]. (202) Bé hay bày trò vui, làm mẹ ba đều thích. Tập cúi đầu lễ phép, ông bà nội rất thương. Bé tên một cành sen, xòe nụ hoa tươi thắm [NL8, tr.54]. 

(203) Ông, bà, cháu đã có lời ca, có ông, bà, cháu và có mẹ, cha, còn hơn châu báu còn hơn ngọc ngà. Ông bà cháu cùng hát lời ca, có ông, bà, cháu và có mùa hoa, tình yêu thắm thiết niềm vui một nhà [NL10, tr.34]. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, thường gặp các ngữ : mẹ hiền, bác em, má em, bố mẹ em, cha mẹ, mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, mẹ - vầng mây, mẹ - biển rộng, bố - tàu lửa, bố - xe hơi, bố - con ngựa,… Các ngữ này được cấu thành từ các danh từ kết hợp với các danh từ chung (bố - mẹ - em); hoặc chuyển nghĩa: mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, bố - tàu lửa, bố - xe hơi,… Mẹ là từ có tần số xuất hiện rất cao trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi. 

Điểm đặc biệt trong các CK tiếng Việt dành cho TN: từ bác, ngoài hai nghĩa phổ thông “1/ Từ dùng để chỉ người lớn tuổi với ý tôn trọng, hoặc chỉ người nhiều tuổi hơn cha mẹ mình; 2/ Từ dùng trong đối thoại để gọi người coi như bậc bác của mình với ý kính trọng” [81, tr.43], còn được dùng để chỉ Bác Hồ. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, tình cảm gia đình là một chủ đề lớn và được thể hiện rất nổi bật. Đó là tình cảm của ba mẹ dành cho các con: 

(204) Ba thương con vì con giống mẹ. Mẹ thương con vì con giống ba. Cả nhà ta cùng thương yêu nhau. Xa là nhớ gặp nhau là cười [NL1, tr.7]. 

Và những lời ca “Ba sẽ là cánh chim, đưa con đi thật xa. Mẹ sẽ là cành hoa, cho con cài lên ngực” từng đi theo nhắc nhớ TN về một thời trong vòng tay cha mẹ. Với ca từ dễ nhớ, dễ thuộc nhưng cũng vô cùng ý nghĩa, Cho con đã trở thành bài hát nổi tiếng nhất của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Hay trong CK “Em là hoa hồng nhỏ” là tâm sự của một em bé mơ mộng, thấy mình lạc vào một thế giới của những trang sách hồng, những vần thơ yêu thương, những bông hồng nhỏ. Cuối cùng, điều hiện thực ngọt ngào và tuyệt vời nhất “Em sẽ là mùa xuân của mẹ. Em sẽ là màu nắng của cha”... 

b. Tình bạn và tình cảm cộng đồng 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật gợi lên hình ảnh những người thân yêu: Bác kính yêu, con ngoan, cô vui mừng, mẹ hiền, mẹ yêu, bạn bè thân thương, bộ đội Trường Sơn, thiếu nhi thế giới, thiếu nhi Việt Nam, bạn khắp nơi, chú bộ đội hải quân, chú bộ đội anh hùng, cô lái máy cày, mẹ dãi dầu mưa nắng, người hi sinh cho Nam Bắc, các bạn trai, đàn em thân yêu, đàn em thơ... 

Ngoài phạm vi gia đình, tương tác xã hội đầu tiên TN có được chính là đến từ những người bạn nhỏ của mình. TN có thể rất nhanh để kết bạn và xây dựng những mối quan hệ tình bạn rất hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Đây là cánh cửa đầu tiên đến với môi trường xã hội rộng lớn và với các mối quan hệ xã hội. Việc giáo dục tình cảm bạn bè và tình cảm cộng đồng cho TN cũng là một nội dung rất được quan tâm từ cấp học thấp nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta hiện nay. Phần lớn các CK TN được khảo sát là các sáng tác được giảng dạy trong các nhà trường. Vì vậy, chức năng giáo dục tình bạn và giáo dục cộng đồng cũng được thể hiện rất rõ. Với nhịp điệu sôi nổi, vui tươi trong CK “Lớp chúng ta kết đoàn” của nhạc sĩ Mộng Lân, nhạc sĩ đã khéo léo tạo ra “một khối kết đoàn” mà trong đó mỗi bạn nhỏ là một thành viên. Trên nền tảng của tình bạn, tình thân, cộng đồng thu nhỏ là lớp học dường như trở nên rất mạnh mẽ với sự kết đoàn, giúp đỡ lẫn nhau: 

(205) Lớp chúng mình rất rất vui, anh em ta chan hòa tình thân. Lớp chúng mình rất rất vui, như keo sơn anh em một nhà. Đầy tình thân quý mến nhau, luôn thi đua học chăm tiến tới. Quyết kết đoàn giữ vững bền. Giúp đỡ nhau xứng đáng trò ngoan [NL3, tr.59]. 

Vượt ra khỏi cộng đồng thu nhỏ là lớp học, TN sống với cộng đồng lớn là anh em, bạn bè khắp năm châu. Ở đó, mọi giới hạn địa lý, chủng tộc, chế độ… không còn là rào cản bởi tình cảm chân thành của đoàn thiếu nhi. 

Tình bạn đã xóa nhòa mọi khoảng cách. Thế giới trong cảm nhận của TN chỉ còn lại một thứ tình cảm duy nhất là tình bạn thân, tình đồng loại: 

(206) Ngàn dặm xa không ngăn anh em ta kết đoàn. Biên giới sâu không ngăn mối dây thân tình. Loài giặc kia không ngăn tình yêu chứa chan của đoàn thiếu nhi hằng mong yêu vui thái bình [NL5, tr.24]. Ngay cả cộng đồng thu nhỏ là những con vật thân quen như: vịt, gà, mèo, chuột… hay những loài cây con bé nhỏ như: đỗ, cà,… hoặc những hiện tượng như: mây, mưa, sấm chớp… cũng có cộng đồng riêng của mình. 

(207) Thiên nga trắng cất tiếng ca bên hồ. Đàn vịt con tưởng mẹ gọi... bơi theo. Cạp! Cạp! Cạp! Cạp! Cạp! Cạp! Mặt hồ nước tung tăng nhảy múa cánh hoa bèo khô nhấp nhô nhấp nhô [NL6, tr.127]. 

c. Tình yêu quê hương đất nước và tình yêu thiên nhiên 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật gợi lên hình ảnh quê hương đất nước và thiên nhiên: cánh diều, sợi rơm mùa, ngọn nến, tấm áo, ánh đuốc, bầu trời xanh xanh, bờ biển Đông bao la, dòng sông hiền hòa, đất nở hoa, đêm rằm liên hoan, mùa hè trong xanh, phượng thắm, hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng hồng, dãy phượng đỏ tươi như đang đón chờ...
Khi TN bắt đầu học nói lại được tiếp xúc với các CK tiếng Việt, tình yêu quê hương đất nước nhẹ nhàng và giản dị đi vào tâm hồn TN. Tình yêu đất nước bắt đầu từ tình cảm gia đình, từ tình yêu từng nhành cây ngọn cỏ, giọt sương, ánh nắng…, ví dụ: 

(208) Em yêu đồng lúa quê em bát ngát con sóng vàng. Em yêu đồng lúa quê em yêu bàn tay thợ cấy. Em yêu đất nước quê hương yêu bao người vất vả. Em yêu tiếng sóng reo ca yêu nước non quê nhà [NL6, tr.65]. 

(209) Quê hương là chiếc cầu tre. Mẹ về nón lá nghiêng che. Là hương đồng gió nội. Ru em giấc ngủ hè. Quê hương là con đò nhỏ. Êm đềm sóng nước bâng khuâng. Quê hương là vầng trăng tỏ. Hoa cau rụng trắng ngoài thềm [NL8, tr.152]. 

Quê hương có bàn tay của cha, của mẹ, của cô công nhân, của chú lái máy cày… của cả bóng dáng của TN trong từng nét bút. Và tự bao giờ trong từng lời ca tiếng hát, tình yêu quê hương trở thành máu thịt, là hơi thở, là sự sống mà dù chưa cắt nghĩa được hai chữ quê hương nhưng “quê hương là gì hả mẹ mà cô giáo dạy phải yêu. Quê hương là gì hả mẹ - ai đi xa cũng nhớ nhiều”. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật gợi lên hình ảnh thiên nhiên: dừa xanh, đào hồng tươi, lúa đồng sâu, lúa đồng xanh, lúa thâm canh, tràm xanh xanh, dãy phượng đỏ, biển xanh, đất đỏ, đêm đen, mây trắng, nắng hồng, nắng xanh, gió lạnh, đất mới, nước long lanh, mây trời hiền lành... 

TN luôn tò mò về mọi thứ xung quanh, về con vật, đồ chơi, xe cộ, máy móc, cây cối… Với tâm lýí đó, TN thường xuyên đặt ra rất nhiều những câu hỏi như: tại sao cây lại có màu xanh, hoa màu đỏ, quả khi chín lại màu đen… Các CK TN mang đến sự cảm nhận thế giới tự nhiên, với những tình cảm tự nhiên và gần gũi: 

(210) Thiên nhiên xanh tươi - Yêu mến con người - Đi trong tươi xanh - Muông thú an lành. Hãy sống cuộc sống vui tươi - Hạnh phúc khi sống chan hòa - Không bao giờ tàn phá thiên nhiên. Còn đó lời nguyền thiêng liêng. Gìn giữ tình yêu muôn loài - Sống hòa bình vươn tới tương lai [NL6, tr.128]. 

Thiên nhiên trước hết là những cây trồng ngay trong gia đình: cà, dưa, bí đao, hoa hồng, cây mít, cây xoài… ; hay là những con vật nhỏ bé như: con mèo, con chó, con vịt, con lợn…; hoặc chỉ là cơn gió nhẹ, hạt mưa bay, tia nắng sớm… 

Bài hát “Một con vịt” có ca từ đơn giản nhưng sinh động, gần gũi. “Một con vịt xòe ra hai cái cánh. Nó kêu rằng cáp cáp cáp cạp cạp cạp. Gặp hồ nước nó bì bà bì bõm. Lúc lên bờ vẫy cái cánh cho khô” [NL1, tr.32]. 

Như vậy, những con vật, cây cỏ, hiện tượng tự nhiên… vốn rất thân quen với TN trong lời ca dường như sống động, có tình. Điều này sẽ giúp cho TN có thêm kiến thức về thiên nhiên nhưng đồng thời tự xây dựng cho mình ý thức ứng xử chủ động, tích cực, thân thiện, linh hoạt và giàu tình yêu đối với thiên nhiên. 

d. Tính trung thực, lòng dũng cảm 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật nhằm ca ngợi về tính trung thực và lòng dũng cảm: anh Kim Đồng, bông hoa chi đội mạnh, bông hoa nghìn việc tốt, chú bộ đội anh hùng, đứa bé gan lì, cây tre anh hùng, lũy thép dưới ánh cờ sao, măng mọc thẳng, những mùa thu kháng chiến,… 

Trước hết, tính trung thực ở phạm vi rộng là lòng trung với Tổ quốc, ở phạm vi hẹp đó là sự ngay thẳng, thật thà, nói đúng sự thật, không làm sai sự thật. Theo đó, những người có tính trung thực thì luôn tôn trọng sự thật, ngay thẳng và dám nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm… Tính trung thực, lòng dũng cảm gặp trong một Kim Đồng tuổi nhỏ bất khuất; một chú bé chăn trâu - Lỳ lầm lì dám cầm lựu đạn ném quân thù; một lũy tre làng - thành đồng của tổ quốc; một nhành phong lan vẫn nở nơi chiến tuyến khốc liệt… Ví dụ: 

(211) Lỳ lầm lì thu, thu trong tay cái chi. Lỳ rình mò thấy thấy lũ Tây lặc lè. Lỳ dang tay ném, ném tài sao tài gớm ghê. Lựu đạn rền vang, Tây chết răng còn nhe [NL9, tr.55]. 

Xuất phát từ tính trung thực và lòng dũng cảm, cá nhân nhìn nhận rõ hơn về tính đúng - sai, tốt - xấu… đang tồn tại trong xã hội. Khi tính trung thực đặt tới sự tự ý thức, tự hành động, cá nhân có thể “phản ứng” lại các xấu, việc không tốt. Đó là niềm vinh dự và sự tự hào của mỗi cá nhân. Ví dụ: 

(212) Đi ta đi lên nối tiếp bao anh hùng, như quân tiên phong bước trên đường giải phóng. Tiếng kèn vang vang giục giã thiếu niên nhi đồng, tiến theo lá cờ Đội Hồ Chí Minh quang vinh [NL11, tr.48]. 

e. Tính cần cù, chăm chỉ 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật cần cù, chăm chỉ: con ong chăm chỉ, cái tôm cái tép đi đưa bà còng, con chim chích bông chăm chỉ, chim vành khuyên ngoan ngoãn, những con ong chuyên cần… 

Tính cần cù, chăm chỉ từ lâu đã là một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam chúng ta. Khi sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn các cháu nhỏ: “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình…” và Người rất coi trọng việc giáo dục rèn luyện đức tính này cho thế hệ TN nói riêng và người Việt Nam nói chung. 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, tính cần cù, chăm chỉ cũng là một trong những nội dung được nhiều CK nêu cao. Qua cách gọi các sự vật như: ai hai sương một nắng, bao người vất vả, cô lái máy cày, chim đi học, mèo con đi học, trâu cày, cái bống, chú ếch, trống trường nhắc nhở,… 

Đó là niềm vui được làm việc nhà khi bà cho: cái “chổi to”, cái “chổi nhỏ” để “quét sân kho” và “quét nhà”, hay đó là niềm vui khi được giúp mẹ việc nhà và đón mẹ “chạy cơn mưa ròng”; cũng có thể là niềm hăng say lao động “làm kế hoạch nhỏ” góp công ở nhà trường… Ví dụ: 

(213) Cái Bống là cái Bống bang, là cái Bống là cái Bống bang. Kéo sẩy í a khéo sàng, cho mẹ của Bống nấu cơm cho mẹ nấu cơm. Mẹ Bống á đi chợ là chợ đường trơn. Bống ra là ra gánh giúp để chạy cơn là mưa ròng, để chạy cơn là mưa ròng [NL2, tr.24]. 

(214) Một gánh lá xanh (này). Hai gánh lá xanh. Ba gánh lá xanh cùng rung rinh cành lá. Lá cành đẹp, lá cành (ơ) đẹp tươi. Lá này cháu chặt. Cháu chặt bên phía đồi. Gánh về giúp chú. Chú kịp thời chú kịp thời ngụy trang [NL9, tr.47]. 

Đặc biệt, xu hướng mượn hình tượng các sự vật ngoài con người để gọi và mô tả cho hoạt động, hành động lao động của con người diễn ra rất phổ biến. Hiện tượng này đưa đến: thứ nhất, làm sinh động hóa các hoạt động lao động của TN; thứ hai, làm cho các sự vật trong thế giới khách quan có sự gắn kết hài hòa. Các sự vật ngoài con người hiện lên với những đặc trưng riêng nổi bật và có sự gắn kết chặt chẽ với nhau. Vì thế những chú ếch con, chú chim, cá trê non, cá rô non, chú chuột, chú gà trống, con kiến, con ong chăm chỉ, con voi đánh trống, sóng biển rì rào, ông mặt trời lấp ló, đồng lúa xanh tươi, hoa phượng đỏ thắm,… gợi cho TN về một thiên nhiên sinh động, tươi xanh ở đó mỗi loài vật, hiện tượng đều chăm chủ, cần cù và lung linh khoe hương khoe sắc. Ví dụ: 

(215) Kìa chú là chú ếch con có hai là hai mắt tròn. Chú ngồi học bài một mình bên hố bom cạnh vườn xoan. Bao con cá trê non cùng bao con cá rô ron. Tung tăng chiếc vây son nhịp theo tiếng ếch vang ròn [NL2, tr.64]. 

(216) Chào mùa xuân hoa lá xanh tươi. Gieo ngàn niềm tin chim én bay khắp trời. Cành đào tươi xuân đến muôn nơi. Hoa ngọt ngào thơm bay khắp nơi tỏa hương [NL9, tr.16]. 

g. Ý thức phấn đấu trong học tập 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật có liên quan đến ý thức phấn đấu trong học tập: những búp măng non, mấy con kiến nâu, những chú chim sẻ, những bông hoa nhỏ, mỗi tầng sâu kiến thức, những cháu ngoan Bác Hồ, bông hoa nghìn việc tốt, bông hoa học hành chăm, những trang sách hồng nhỏ… 

Trong số CK tiếng Việt dành cho TN có nhiều CK đề cập, biểu dương, khen ngợi,… những TN có ý thức chăm học, chăm làm. Đó là nhân vật “em” hoặc “chúng em” với ý thức học tập và rèn luyện nghiêm túc. Chẳng hạn, trong CK “Hổng dám đâu” mặc dù bên ngoài kia vạn vật thiên nhiên mời chào, bạn bè đang vui vẻ chơi đùa nhưng bé vẫn chăm chỉ học tập, làm bài cô giao. Ví dụ: 

(217) Trên cành cao chim hót mời em chơi giữa vườn xuân. Bao bạn thân lấp ló gọi em tung tăng sân nhà. Đá bóng với đá cầu nhảy dây bắn bi trốn tìm. Ôi hấp dẫn tuyệt vời nhưng mà em hổng dám đâu. Hổng dám đâu em còn phải học bài. Hổng dám đâu em còn phải làm bài. Sao khó ghê mai mình hãy ôn bài. Hổng dám đâu! Hổng dám đâu! [NL6, tr.82].

Ý thức phấn đấu trong học tập thể hiện qua việc đi học đều, thực hiện đúng nội quy ở trường, hòa đồng với bạn,… Ví dụ: 

(218) Em được khen là em bé ngoan vì chúng em đi học đều. Khi học em ngồi nghe rất chăm, cô giáo khuyên đều vâng theo. Em được khen là em bé ngoan, quần áo em luôn gọn gàng. Thân hình em sạch trông đáng yêu, em cất cao lời ca vang [NL9, tr.118]. Hoặc: Khi ông mặt trời thức dậy, mẹ lên rẫy, em đến trường cùng đàn chim hòa vang tiếng hát [NL7, tr.69]. 

h. Biết sống vì mọi người 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật có liên quan đến ý thức biết sống vì mọi người: mẹ em, trâu cày, cô lái máy cày, thành phố mang tên Bác Hồ, cô Tiên dịu hiền nhân ái, những người bạn quý mến của Bác Hồ, đội viên hợp tác xã măng non, con cháu Tiên Rồng, nòi giống Tiên Rồng,… 

Một trong những truyền thống văn hóa quý báu của người Việt là tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Tinh thần ấy giúp chúng ta mở rộng tầm nhìn với tình nhân ái. Đối với cộng đồng nói chung và với TN nói riêng, việc nêu cao tinh thần đoàn kết thân ái luôn cần được bồi dưỡng và nâng cao, đó là tinh thần sẵn sàng giúp đỡ người khác, là sự chia sẻ và động viên những người có hoàn cảnh khó khăn,… Đó chính là những biểu hiện và việc làm cụ thể của tư duy sống vì mọi người. 

Trong CK tiếng Việt dành cho TN, có rất nhiều CK đề cập đến nội dung này, chẳng hạn: đó là sự giúp đỡ người già trong đời sống một cách vô tư, không vụ lợi. Ví dụ: 

(219) Bà còng đi chợ trời mưa. Cái Tôm cái Tép đi đưa bà Còng. Đưa bà đến quãng đường cong, đưa bà vào tận ngõ trong nhà bà. Tiền bà trong túi rơi ra. Tép Tôm nhặt được trả bà mua rau [NL3, tr.4]. 

Đó là sự cảm thương cho những hoàn cảnh gặp khó khăn. Sự đồng cảm, chia sẻ và giúp đỡ sẽ là những tác nhân kéo gần những con người lại với nhau. Ví dụ: 

(220) Bà ơi bà bước tạm vào đây. Trời mưa rét lưng cùng gối mỏi. Quãng đường dài lưng già cằn cỗi. Bà ơi bà bước tạm vào đây. Gậy chống làn tre tuổi già phiêu bạt. Chiếu đất màn trời quạt giáo đèn trăng. (…) Cháu đứng nhìn bà thương lắm bà ơi! [NL5, tr.58]. 

i. Noi theo gương tốt, làm những điều hay 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp rất nhiều từ ngữ chỉ sự vật là gương tốt, điều hay: Bác Hồ, Bác Hồ Chí Minh, Cháu Bác Hồ Chí Minh, Bác như sao sáng mùa thu, Bác như là vầng trăng, chú bộ đội, cô công nhân, chú phi công, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, con Rồng - cháu Tiên, ông Bụt, bà Tiên, cô Tấm, Thạch Sanh, Kim Đồng, quân tiên phong, thiếu nhi, quân tiên phong... Trong cộng đồng nói chung và mỗi gia đình nói riêng, việc những người trên thực hiện làm việc tốt, nói lời hay là việc làm rất cần thiết. Nhất là đối với những gia đình có con trẻ. Việc thực hiện làm việc tốt, nói điều hay của người lớn sẽ là tấm gương để con TN noi theo. Từ đó, TN hình thành nên ý thức lành mạnh trong học tập và trong đời sống. 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có rất nhiều CK nêu bật những điển hình nói lời hay, làm việc tốt. Điều này sẽ góp phần lôi cuốn, định hướng và thôi thúc TN học và thực hành theo. 

Đó có thể là ý thức bảo vệ môi trường nơi mình sinh sống. Ví dụ: (221) Ai trồng cây (ai trồng cây) người đó có tiếng hát. Trên vòm cây (trên vòm cây) chim hót lời mê say. Ai trồng cây (ai trồng cây) người đó có bóng mát. Trong vòm cây (trong vòm cây) quên nắng xa đường dài. Ai trồng cây (ai trồng cây) người đó có ngọn gió. Rung cành cây hoa lá đùa lay lay. Ai trồng cây người đó có hạnh phúc. Em mong chờ cây mau lớn theo từng ngày. Đi trồng cây (đi trồng cây) chúng em đi trồng cây. Khăn quàng tung bay [NL4, tr.154]. 

Hay gần gũi nhất đó chính là làm tốt nhiệm vụ của mình, TN đến trường với sự vui tươi, hồ hởi - “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Ví dụ:  

(222) Trống trường giục ta rồi. Mau lên các bạn ơi! Vào lớp, giờ vào lớp. nhìn thẳng hàng ta đi thôi. Hãy bay đi chú chim sâu xinh đẹp! hãy im đi tiếng ve kêu râm ran! Giờ vào lớp không có làm ồn ào cho ta nghe tiếng cô giảng bài [NL9, tr.73]. 
4.2.3.2. Giáo dục trẻ nhận biết và phê phán thói hư tật xấu 

a. Phê phán sự tàn ác 

Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, có thể gặp những từ ngữ chỉ sự vật liên quan đến sự tàn ác: búp bê dì ghẻ, lũ tham tàn phát xít, giặc Ân, giặc cuồng dại, quân Mỹ, lũ thú rừng... 

Đó là sự căm ghét đối với “lũ giặc tham tàn phát - xít” khi dày xéo lên quê hương, mang đau thương phủ kín một miền quê yên bình: “Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít. Dấn bước ra đi, Kim Đồng lên chiến khu”. Hay đó là sự căm ghét sự độc ác, xấu xa của “con búp bê dì ghẻ” với đứa con riêng của chồng,… 

(223) A búp bê búp bê búp bê. Búp bê cổ tích. A búp bê búp bê búp bê. Búp bê thần tiên. Đây là Thạch Sanh. Đây là cô Tấm. Đây là bà Tiên. Kia là dì ghẻ. Tèo xí Thạch Sanh. Hằng giành cô Tấm. Em khóa bà Tiên... (…) Còn một con búp bê nữa! Con búp bê búp bê nào đâu? A đúng rồi, đúng rồi, đúng rồi! Nó đang ngồi co ro một mình! Chẳng có ai chịu đến làm bạn, bởi lòng nó gian ác vô cùng. A! Đúng rồi, đúng rồi, đúng rồi! Đó là con búp bê dì ghẻ! [NL6, tr.16]. 

Tất cả các sự vật xấu xa được TN gọi đều gắn với những “biệt danh” rất chi tiết và cụ thể. Để làm nổi bật sự xấu xa đó, các sự vật đẹp đẽ, thiện lương luôn được song hành nhắc tới và các sự vật đẹp đẽ ấy thường “lấn át” làm mờ đi cái xấu. Dường như, ta cảm thấy một sự “nhân quả - báo ứng” diễn ra rất nhanh và kết cục thì cái xấu xa luôn thất bại, bị xa lánh và thậm chí là bị tiêu diệt. 

Bắt đầu từ thế giới sự vật ngoài con người vốn chỉ sẵn trong mình bản thể “con” hoặc vô tri được con người “gán” và “dán mác” cho chúng những nên dễ có những hành động xấu theo bản năng như: một con mèo hung hăng với thói quen “săn chuột”; một “con búp bê dì ghẻ”… Ví dụ: 

(224) Có một lão mèo hung hăng. Chuyên săn bắt chuột suốt ngày! Chít chít ái cha! Chít chít. Ái cha! Thế làm sao? Thế làm sao? Thế làm sao? Hãy làm một cái chuông đem đeo vào cổ lão mèo. Khi đi chúng đều biết. hay quá! Hay quá! [NL6, tr.51]. 

Xã hội loài người cũng có muôn vẻ mặt và muôn vạn con người. Vì thế, bên cạnh những ông Bụt, bà tiên, ông bà, bố mẹ, thầy cô, anh chị, bạn bè… luôn đầy ắp tình thương, sự quan tâm chăm sóc thì cũng có không ít những “thế lực” những con người tham lam, ích kỷ đã dùng bạo lực cường quyền… để tước đi cái tự do của nhiều người. Đặc biệt, với một dân tộc luôn “gồng mình chống chọi” với kẻ thù “hai chân và bốn chân” trong suốt chiều dài lịch sử thì những đau thương, mất mát dường như nó trở thành “một vết sẹo” khó lành mà khiến thế hệ sau và thời gian luôn ghi khắc để phấn đấu vươn lên. Sự căm ghét luôn song hành với niềm vinh dự, tự hào; con người tàn độc luôn bị khuất phục trước những con người dũng cảm, quyết đấu tranh đến cùng với cái xấu như: lũ tham tàn phát-xít tương phản với Kim Đồng; đế quốc tương phản với dân tộc anh hùng,… Ví dụ: 

(225) Hờn căm bao lũ tham tàn phát - xít. Dấn bước đi lên Kim Đồng lên chiến khu. Kim Đồng quê hương Việt Bắc xa mù. Kim Đồng thay cha rửa mối quốc thù. Anh Kim Đồng ơi! Anh Kim Đồng ơi! Tuy anh xa rồi tuy anh xa rồi, gương anh sáng ngời gương anh sáng ngời Đội ta cố noi. Bao phen giao thông trong rừng. Gian lao nguy nan vô cùng. Xung phong theo gương anh hùng. Đùng đùng đùng, đoàng đoàng đoàng anh vẫn đi [NL11, tr.54-55]. 

(226) Chống quân tàn ác nhân dân đang vươn lên. Diệt đế quốc đấu tranh cho hòa bình. Chờ đón bóng chim đem về niềm vui [NL9, tr.77]. Với chức năng giáo dục, các CK tiếng Việt dành cho TN thông qua cách gọi sự vật và thể hiện “đặc tính” của các sự vật đã định hướng tác động đa chiều về ranh giới giữa cái thiện và cái ác. Sự ích kỷ, vô ơn, lười nhác là những cái xấu phải cảnh giác, cần được loại bỏ: lũ giặc tham tàn phát - xít, lũ giặc Tống cướp nước, quân tàn ác, thỏ, chú dế lười, quả bóng rong chơi, chú ếch ăn trăng… 

Thái Nguyên, tháng 11/2020
Vũ Thị Hương
Theo http://tnue.edu.vn/ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...