Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong
ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2
+ Đặc điểm chỉ giới tính:
Những cách gọi như bạn nam, bạn nữ, bạn gái, bạn trai, chàng trai, cô gái, bác gái, bác trai… là cách gọi quen thuộc của TN.
TN thường gọi các đối tượng mình chưa quen biết hoặc chưa nhớ tên bằng cách phân biệt theo giới tính: nam - nữ, gái - trai. Ví dụ:
(53) Hình như trong từng tia nắng có nét tinh nghịch bạn trai. Hình như trong từng hạt mưa có nụ cười duyên bạn gái [NL4, tr.35].
+ Đặc điểm độ tuổi: Em bé, mẹ già, cháu bé, bé lớn, bé tí xíu, bé to con, em bé bé, trẻ thơ nhớn, bạn bè trang lứa, người lớn… Ví dụ:
(54) Làm anh khó đấy, tưởng đâu chuyện đùa, với em bé bé phải người lớn cơ [NL2, tr.23].
(55) Em muốn quanh em rộn tiếng reo cười, bạn bè trang lứa vui hát ở mọi nơi [NL4, tr.205].
+ Đặc điểm về nghề nghiệp: Cô công nhân, anh phi công, chú bộ đội, chú hải quân, chú mục đồng... Ví dụ:
(56) Em yêu cô công nhân sớm hôm chuyên cần trong tiếng máy reo vang. Em yêu cô công nhân nét mặt dịu dàng vẫn đón xe bên nhà trên đường vào ca ba [NL6, tr.62].
(57) Rồi mai ta khôn lớn, ta sẽ làm anh phi công. Ta cùng anh bạn “Mích” bay giữa bầu trời xanh [NL5, tr.26].
+ Đặc điểm tình thái: Bác kính yêu, con ngoan, cô vui mừng, mẹ hiền, mẹ yêu, các em thơ ngây, bạn bè thân thương,… Ví dụ:
(58) Có tiếng sáo vi vu. Như tiếng ru mẹ hiền. Khói vương trên bờ tre. Có đàn dê đi về [NL8, tr.19].
(59) Chào thầy cô, chia xa ngày tháng. Thôi chào bằng lăng rơi bịn rịn sân trường. Bạn bè thân thương mắt vương buồn mơ ước. Thả hồn nhiên bay theo làn gió [NL5, tr.34].
+ Đặc điểm địa danh: bộ đội Trường Sơn, thiếu nhi thế giới, thiếu nhi Việt Nam, bạn khắp nơi, Trường Sơn, Việt Nam, thế giới, khắp nơi, mọi miền… Ví dụ:
(60) Hoa phong lan đêm rừng đi cùng ông đánh giặc. Hoa vào Nam ra Bắc theo bộ đội Trường Sơn trên ba lô đã vá, trên chiếc mũ đã sờn [NL6, tr.79].
(61) Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng. Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam [NL11, tr.40].
(62) Mùa xuân đẹp quá, bạn khắp nơi mau cùng lại đây chơi! A, mùa xuân đẹp quá, cùng nắm tay nhau, cùng đùa vui. Thật thắm tươi khi mùa xuân đến mọi nơi. Đẹp biết bao tình thân ái trên đời [NL10, tr.30].
+ Đặc điểm nghề nghiệp:
+ Vị trí/ thời gian/ tình thái: chú bộ đội hải quân, người giáo viên hôm nay, người lính đảo, chú bộ đội anh hùng,… Ví dụ:
(63) Từ thành phố Bác Hồ em nhớ về quần đảo Trường Sa. Giữ biển trời bao la chú bộ đội hải quân mến thương [NL8, tr.131].
+ Đặc điểm tuổi tác/ hoạt động:
+ Hoạt động: bà lão qua đường, người đi chúc Tết,… Ví dụ:
(64) Bà lão qua đường [NL5, tr.58].
(65) Này là đoàn Lân đón Tết. Kìa là người đi chúc Tết. Em bỗng thấy nôn nao [NL6, tr.124].
+ Đặc điểm từ xưng hô:
+ Tên riêng: Đó là các ngữ như cháu Bác Hồ Chí Minh, con bác Ba Tèo, con bác Ly,… Ví dụ:
(66) Khi trong phương đông vừa hé anh dương, khăn quàng trên vai chúng em tới trường. Em yêu khăn em càng gắng học hành, sao cho xứng cháu Bác Hồ Chí Minh [NL5, tr.11].
(67) Lỳ là một em chăn trâu con bác Ly Lỳ lầm lì giống, giống tính ông lầm lì [NL9, tr.55].
+ Đặc điểm hoạt động:
+ Đồ vật/ nơi chốn/ hiện tượng: Đó là các ngữ như cô lái máy cày, mẹ dãi dầu mưa nắng, người cho em tất cả, người hi sinh cho Bắc Nam, lớp thanh niên xây dựng đất nước… Ví dụ:
(68) Ơi chú hành quân, cô lái máy cày có nghe phấp phới tiếng diều lượn bay [NL6, tr.120]. Phương thức phức có thể kết hợp danh từ chung chỉ người với với 3 yếu tố chỉ đặc điểm. Đó là cách thức/ hoạt động/ trạng thái, hiện tượng/ địa danh. Ví dụ: người khơi nguồn nước, người khơi suối nước, người hi sinh cho Nam Bắc,… Ví dụ:
(69) Cô là người gieo ánh sáng. Cho chồi em xanh tươi. Cô là người khơi suối nước. Cho sông em lớn trôi [NL4, tr.92].
Loại 2: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chỉ người Phương thức phức có thể kết hợp danh từ đơn vị/ số từ với danh từ chỉ người: Các từ ngữ chỉ đơn vị/ số lượng: những, các, mỗi, mọi, lũ, bọn, đàn, các,…, nhiều, một, hai, ba… Các từ này có thể xuất hiện đơn lẻ hoặc cùng xuất hiện để kết hợp với các danh từ chỉ người. Trong tư liệu khảo sát, các BTGSV thuộc loại này với 2 cách kết hợp:
- Kết hợp giữa danh từ đơn vị/ số từ với danh từ chung chỉ người: các bạn, đàn anh, hai em, đàn em, mỗi con người, lũ tây, lớp chúng ta, nhiều người,… Ví dụ:
(70) Để loài người chung sống trong hòa bình. Để đàn em được vui ca học hành [NL7, tr. 22].
(71) Em mong sao trên trái đất mỗi con người, như em đây là chim trắng chim hòa bình [NL2, tr.74].
- Kết hợp giữa danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + yếu tố chỉ đặc điểm. Cách kết hợp này có thể gồm: Thứ nhất, mô hình: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + 1 yếu tố chỉ đặc điểm. Các BT thuộc mô hình trên như: các bạn trai, đàn em thân yêu, đàn em thơ, lũ giặc tham tàn, loài người mến yêu, một anh giữa, một anh béo, bao người vất vả… Ví dụ:
(72) Trường làng em bên cạnh đình, vừa sạch mát lại vừa xinh. Sớm chiều đàn em thơ ríu rít tới đây vui học chung [NL9, tr.22].
(73) Một anh béo trông thật đến hay [NL1, tr.38]. Thứ hai, mô hình gồm: Danh từ đơn vị/ số từ + danh từ chung chỉ người + 2 yếu tố chỉ đặc điểm.
Các BT thuộc mô hình trên như: lớp cháu con giữ gìn nước nhà, người bạn hiền thương mến, từng lớp trai làng đi chinh chiến…Ví dụ: (74) Những em bé ngoan [NL9, tr.118].
(75) Mai sau là lớp thanh niên dựng xây đất nước, rồi mai sau là lớp cháu con giữ gìn quê nhà [NL9, tr.52].
b1) Các biểu thức chỉ sự vật ngoài con người
- Danh từ chung chỉ họ (giống) + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài khác
Các BTGSV theo mô hình này như: chim sâu, chuồn chuồn ớt, chuồn ngô, chim sâu, bọ ngựa, cỏ may, cỏ trinh nữ, hoa gạo, hoa bão táp, hoa phong ba, lá Trạng Nguyên, rừng thu, thông rừng, Phong lan Trường Sơn, hoa lục bình, hoa ngâu, tre Việt Nam, cỏ Bồ Đề, lúa vầng trăng, cây bí đao, áo ai, áo cha, áo em, khăn em, áo cha anh, áo giáp sắt, đò chú cuội, còi xe lửa, mo cây cau, quạt Bác Hồ… Ví dụ trường hợp: (76) chuốn ngô
Yếu tố chung chỉ giống/ loài/ loại động vật: chuồn (loài động vật thuộc họ côn trùng);
Yếu tố chỉ loài giống/ loài thực vật: ngô (danh từ chỉ cây lương thực).
(77) phong lan Trường Sơn
Yếu tố chỉ loài giống/ loài thực vật: phong lan (danh từ chỉ loài hoa mọc trên cây và thường ở rừng. Danh từ chỉ địa danh: Trường Sơn (nơi hoa phong lan thường sống).
(78) áo chú bộ đội
Danh từ chung chỉ loại đồ vật: áo (danh từ chỉ vật mặc từ cổ trở xuống, chủ yếu che lưng và ngực; Danh ngữ chỉ sự vật khác: chú bộ đội (cụm từ chỉ người là nam giới và làm trong quân đội).
- Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài
Các BT thuộc mô hình này như: anh dế, bác Chào mào, bạn rùa, bạn Sơn Ca, cha thằn lằn, chàng ve sầu, chị ong, chú chuột, chú Dã tràng, chú dế, chú gà, chú heo, chú mèo, chú ve, mẹ gà, chị gió, ông Tý, ông Mèo,… Ví dụ trường hợp
(79): chị ong, trong đó từ xưng hô: chị (danh từ thân tộc chỉ người con gái cùng thế hệ trong gia đình, trong dòng họ nhưng thuộc hàng trên, trong quan hệ với “em”); ong (chỉ động vật thuộc giống sâu bọ cánh màng, có ngòi đốt ở đuôi, thường đục lỗ và làm tổ trong các thân cây khô, đặc biệt là tre, nứa.
- Từ xưng hô + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài + 1 đặc điểm
Ví dụ trường hợp (80): chị sáo nâu
Từ xưng hô: chị (danh từ thân tộc được dùng để xưng hô); yếu tố chung chỉ giống/ loài/ loại: sáo (chỉ loài chim nhỏ, lông đen có điểm trắng ở cánh thường sống thành bầy đàn); đặc điểm: nâu (là tính từ chỉ màu sắc - màu trung gian giữa đen và đỏ hoặc giữa vàng và đỏ sẫm).
Xin dẫn một số BT thuộc mô hình này: chị ong vàng, chú bê lạ lùng, chú chim trên cành, chú ếch lười, chú giun gầy, con chim rừng, mẹ cún con, chú thỏ vàng, chú trâu vàng, chú gấu bông...
- Danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1, 2, 3... đặc điểm
Các BT thuộc mô hình này: măng mọc thẳng, dừa xanh xanh Bình Định, bèo đông xuân, đào hồng tươi, lúa đồng sâu, lúa đồng xanh, lúa thâm canh, tràm xanh xanh Hậu Giang, biển xanh, đất đỏ, đêm đen, mây trắng, nắng hồng, ban mai vàng, xuân thắm, khói trắng, nắng xanh, cát trắng, biển rộng, đảo xa, sóng cả, suối xa, đêm dài, bùn sâu, đá mòn, mùa vui, xuân vui, gió lạnh, gió mát, mây dịu dàng, đất mới, nước long lanh, nồi cơm nếp, rơm nếp thơm, xe đạp xanh, bếp than hồng, lửa hồng, máy bơm, nón lá, nón mê, sách mới, cờ sao vàng, diều vàng nắng, que bắc vai, …
Tương tự, các biểu thức:
(81): cúc vàng nở
Yếu tố chỉ giống/ loài/ loại: cúc (danh từ chỉ loài hoa có các hoa mọc trên một đế chung trông như một hoa; Đặc điểm: 1. vàng (tính từ chỉ màu sắc); 2. nở (tính từ chỉ trạng thái của sự vật).
(82) bếp than hồng.
Từ ngữ chỉ loại vật dùng để nấu: bếp than (bếp là dụng cụ dùng để đun nấu với vật dùng để duy trì lửa là than); đặc điểm: hồng (tính từ được sử dụng với nghĩa chuyển với nội dung miêu tả bếp than đang cháy); việc chỉ các vật dùng để nấu ăn có thể dựa vào các đặc điểm trạng thái, tính chất, hoạt động,… để gọi tên.
(83) biển xanh
Danh từ chung chỉ hiện tượng tự nhiên: biển; đặc điểm: xanh (tính từ chỉ màu sắc). Các đặc điểm rất đa dạng như đã nói ở đầu gồm: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, cảm xúc, thái độ, màu sắc, hình dáng,… - Danh từ chỉ đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ một đặc điểm
Các BTGSV thuộc mô hình này: bông hoa tươi, đóa hoa thắm, đóa hoa xinh, bông hoa này, cây bàng xanh, dãy phượng đỏ, đồi chè xanh, đồng lúa chín, lũy tre làng, chiếc áo dài, chiếc áo hoa, chiếc khăn quàng, chiếc nón lá, đôi mái chèo, đòn bánh tét, manh áo vá, dải đất Việt Nam, khắp trời Nam, khắp trời Việt Nam, dòng sông bé, dòng sông hiền hòa, dòng suối mát, dòng suối nhỏ,...
Ví dụ biểu thức (84): bông lúa non
Danh từ đơn vị: bông (danh từ đơn vị đứng trước sự vật dùng để chỉ cá thể sự vật). Các danh từ đơn vị cùng loại như: bông, chiếc, tờ, tấm, miếng, cây, con, dòng, hạt, lá, ngọn, quả,...; Danh từ chung chỉ giống/ loài: lúa (danh từ chỉ giống cây dùng làm lương thực,…); Đặc điểm: non (tính từ chỉ tính chất ở giai đoạn mới mọc chưa phát triển đầy đủ). (85): dòng suối mát Danh từ đơn vị: dòng; Danh từ chung chỉ loại: suối; Đặc điểm tính chất: mát.
- Danh từ chỉ số lượng + đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm
Ví dụ biểu thức (86): ba đóa hoa tươi
Số từ: ba (từ chỉ số lượng xác định - số (ghi bằng 3) đứng liền sau chữ số hai trong các số tự nhiên; đơn vị: đóa (từ đơn vị chỉ riêng cho hoa với nghĩa trang trọng); yếu tố chung chỉ loài: hoa (là từ dùng để chỉ một bộ phận trên cây hạt kín, có màu sắc và mùi vị); Tính chất: tươi (là từ chỉ trạng thái còn mới, chưa bị mất nước, chưa khô).
Các BT thuộc mô hình: 5 điều Bác dạy, ba gánh lá xanh, bao hàng cây xinh xinh, bao nhiêu chú chim ri, bao cô cá rô phi, đôi khóm tre ngà, hai chiếc máy bay, hai chú cún con, hai con thằn lằn con, mấy con kiến nâu, một đàn chim nhỏ, một đóa hoa tươi,...
- Danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại + từ ngữ chỉ hai đặc điểm
Ví dụ biểu thức (87): biển rộng lớn
Danh từ chung chỉ loại: biển; đặc điểm: rộng và lớn.
Các biểu thức khác thuộc mô hình này như: biển rộng lớn, hồ mát lạnh, bình minh hé sáng, gió lộng nhẹ, nắng vàng tươi nước trong xanh, trăng non hay già,…
Bảng 2.5:
Mô hình phương thức phức
|
TT |
Nhóm (chỉ)
|
Ví dụ
|
A |
Phương thức phức chỉ người
|
|
|
1 |
Danh từ chung chỉ
người + danh từ chung chỉ người
|
bà em, ông em, bố em,
mẹ em, cha mẹ, anh chị, thầy cô, ông bà, bố mẹ, dân mình, người ta,…
|
|
2 |
Danh từ chung chỉ
người + danh từ chỉ sự vật ngoài con người
|
mẹ Bống, gái Nam, bạn
Nam Bắc, chị Hằng, chú Cuội, ông Bụt, bà tiên, con Lạc, cháu Hồng,
|
|
3 |
Danh từ chung chỉ
người + từ ngữ chỉ đặc điểm
|
Anh hai, anh ba, bạn
nam, bạn nữ, người lính đảo, chú bộ đội anh hùng, mẹ hiền,…
|
|
4 |
Danh từ đơn vị/ số từ
+ Danh từ chỉ người
|
các bạn, đàn anh, hai
em, đàn em, mỗi con người, lũ tây, lớp chúng ta, nhiều người, các bạn trai,
đàn em thân yêu, đàn em thơ,
|
|
5 |
Danh từ đơn vị/ số từ
+ danh từ chung chỉ người + yếu tố chỉ đặc điểm
|
các bạn trai, đàn em
thân yêu, đàn em thơ, lũ giặc tham tàn, loài người mến yêu, một anh giữa, một
anh béo, bao người vất vả…
|
B |
Phương thức phức chỉ sự vật ngoài con người
|
|
|
6 |
Danh từ chung chỉ họ
(giống) + danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài khác
|
chim sâu, chuồn chuồn
ớt, chuồn ngô, chim sâu, bọ ngựa, cỏ may, cỏ trinh nữ, hoa gạo, hoa bão táp,
hoa phong ba, lá Trạng Nguyên, rừng thu, thông rừng, Phong lan Trường Sơn,
hoa lục bình, hoa ngâu, tre Việt Nam, cỏ Bồ Đề, lúa vầng trăng, cây bí đao,
áo ai, áo cha, áo em, khăn em, áo cha anh, áo giáp sắt, đò chú cuội, còi xe
lửa, mo cây cau, quạt Bác Hồ…
|
|
7 |
Từ xưng hô + danh từ
chung chỉ họ/ giống/ loài
|
anh dế, bác Chào mào,
bạn rùa, bạn Sơn Ca, cha thằn lằn, chàng ve sầu, chị ong, chú chuột, chú Dã
tràng, chú dế, chú gà, chú heo, chú mèo, chú ve, mẹ gà, chị gió, ông Tý, ông
Mèo,…
|
|
8 |
Từ xưng hô + danh từ
chung chỉ họ/ giống/ loài + từ ngữ chỉ đặc điểm
|
chị ong vàng, chú bê
lạ lùng, chú chim trên cành, chú ếch lười, chú giun gầy, con chim rừng, mẹ
cún con, chú thỏ vàng, chú trâu vàng, chú gấu bông...
|
|
9 |
Danh từ chung chỉ họ/
giống + từ ngữ chỉ 1,2,3…đặc điểm
|
măng mọc thẳng, dừa
xanh xanh Bình Định, bèo đông xuân, đào hồng tươi, lúa đồng xanh, biển xanh,
đất đỏ, đêm đen, mây trắng, nắng hồng, ban mai vàng, xuân thắm, đảo xa, sóng
cả, suối xa, đêm dài, bùn sâu, đá mòn, mùa vui, xuân vui, gió lạnh, đất mới,
nước long lanh, nồi cơm nếp, rơm nếp thơm, xe đạp xanh, bếp than hồng, lửa
hồng, máy bơm, nón lá, nón mê, sách mới,…
|
|
10 |
Danh từ chỉ đơn vị +
danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm
|
bông hoa tươi, đóa hoa
thắm, đóa hoa xinh, bông hoa này, cây bàng xanh, dãy phượng đỏ, đồi chè xanh,
đồng lúa chín, lũy tre làng, chiếc áo dài, chiếc khăn quàng, chiếc nón lá,
đôi mái chèo,...
|
|
11 |
Danh từ chỉ số lượng + đơn vị + danh từ chung chỉ họ/ giống + từ ngữ chỉ 1 đặc điểm |
5 điều Bác dạy, ba
gánh lá xanh, bao hàng cây xinh xinh, bao nhiêu chú chim ri, đôi khóm tre
ngà, hai chiếc máy bay, hai chú cún con, hai con thằn lằn con, một đàn chim
nhỏ, một đóa hoa tươi,...
|
|
12 |
Danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại + từ ngữ chỉ 2 đặc điểm |
biển rộng lớn, hồ mát
lạnh, trăng lưỡi liềm, bình minh hé sáng, gió ru êm, gió lộng nhẹ, nắng vàng
tươi,…
|
2.2.2.3. Phương thức rút gọn
Phương thức rút gọn (còn gọi là “tỉnh lược”, “gọi tắt”) là phương thức sử dụng các biểu thức gọi sự vật (BTGSV) bằng cách giữ lại các yếu tố chính và lược đi các yếu tố phụ. Kết quả khảo sát có 51 từ ngữ với 127 lượt và chia thành hai nhóm:
Nhóm 1: Từ ngữ 1 yếu tố
Khi gọi sự vật theo phương thức này, yếu tố chỉ đặc điểm được sử dụng để chỉ sự vật theo loài/ giống/ loại. Cơ sở của việc rút gọn dựa trên các phương thức gọi sự vật ở dạng đầy đủ. Vì vậy, khi gọi sự vật theo phương thức rút gọn, người nghe/ người đọc vẫn hiểu đúng đối tượng được nói tới. Ở phạm vi nhất định, phương thức này giúp cho sự vật trở nên gần gũi, thể hiện được tình cảm, thái độ của đối tượng gọi sự vật.
Việc lựa chọn những đặc điểm nổi bật để gọi sự vật: thầy, cô, Mèn, chũi, bống, chòe, chuồn, đông, xuân, thu… thường phù hợp với sự hình dung, liên tưởng của TN. Đặc điểm này phản ánh thói quen gọi tắt tên sự vật. Tuy nhiên, khảo sát sự vật được gọi theo phương thức này, có thể thấy, người và động vật là những sự vật được gọi nhiều nhất. Ví dụ:
Rút gọn tên: chích chòe ® chòe, cá bống ® bống, dế Mèn ® Mèn, chuồn chuồn ® chuồn… Ví dụ:
(88) Nhìn vòm trời xanh Chòe nhớ [NL12, tr.36].
(89) Mèn ta liền đáp: “Em Dế đây, xin chào anh Sáu” [NL12, tr.35]. Dùng từ chỉ nghề nghiệp như: cô giáo ® cô, thầy giáo ® thầy; thầy giáo cô giáo ® thầy cô…
(90) Một bông hồng em dành tặng cô. Một bài ca hát riêng tặng thầy [NL8, tr.89].
(91) Cô vỗ về an ủi, chao ôi sao thiết tha [NL4, tr.83].
Nhóm 2: Từ ngữ 2 yếu tố theo quan hệ chính - phụ
Bên cạnh phương thức rút gọn gồm một yếu tố chỉ đặc điểm thì phương thức gọi rút gọn gồm hai yếu tố theo quan hệ chính – phụ giúp cho TN dễ dàng hình dung sự vật hơn.
Ví dụ: đèn ông sao ® đèn sao, xe có trọng tải lớn như sức con gấu ® xe gấu, mùa đông về ® đông về, mây bay la đà ® mây la đà, mây bay mịt mù ® mây mịt mù, chim bồ câu ® chim câu, chim chích bông ® chim chích, chim chích chòe ® chích chòe, nấm linh chi ® linh chi…
(92) Cháu có nghe nói Linh Chi là vị thuốc, cháu có biết không? [NL6, tr.98].
(93) Ơi thân yêu quý, mai ngày em lớn lên em cũng lái xe gấu như bố em cho mà xem [NL12, tr.142].
Việc lược bớt một số đặc điểm để gọi sự vật trong các nhóm từ có sự khác nhau. Nhìn chung các đặc điểm được rút gọn thường là những đặc điểm chung, mang tính phổ quát.
Cách gọi sự vật theo phương thức rút gọn trong các CK tiếng Việt dành cho TN gần với khẩu ngữ, tạo cho sự vật điểm nhấn, điểm khác biệt gây kích thích, hứng thú tiếp nhận.
Sau đây là bảng tổng hợp các mô hình trong phương thức rút gọn tạo nên các BTGSV:
Bảng 2.6:
Mô hình phương thức rút gọn
|
Nhóm |
Ví dụ |
Từ ngữ 1 yếu tố |
Chích chòe ® chòe, cá bống ® bống, dế Mèn ® Mèn, chuồn chuồn ® chuồn… |
Từ ngữ 2 yếu tố theo quan hệ chính - phụ |
Đèn ông sao ® đèn sao, xe có trọng tải lớn như sức con gấu ® xe gấu, mùa đông về ® đông về, mây bay la đà ® mây la đà, mây bay mịt mù ® mây mịt mù, chim bồ câu ® chim câu, chim chích bông ® chim chích, chim chích chòe ® chích chòe, nấm linh chi ® linh chi… |
2.3. Tiểu kết
1/ Khảo sát và miêu tả đặc điểm 2174 từ ngữ với 5209 lượt chỉ sự vật, có thể thấy xét về mặt cấu tạo, từ ngữ chỉ sự vật vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chia thành: từ (từ đơn và từ ghép) 494 đơn vị với 2737 lượt; ngữ gồm 1680 đơn vị với 2472 lượt, trong đó: Từ đơn có 188 đơn vị với 1939 lượt xuất hiện. Các lớp từ đơn chỉ sự vật được sử dụng với tần số cao để phù hợp với tâm thế luôn coi mình là “trung tâm” và “nhỏ bé” của người hát (trẻ em). Từ ghép có 306 đơn vị với 798 lượt xuất hiện. Các biểu thức là từ ghép có nghĩa nhỏ hơn các nghĩa của yếu tố chính và có chức năng khu biệt đối tượng được gọi. Các từ ghép và ngữ được sử dụng với tần số cao và ổn định. Các đặc điểm thường gán cho sự vật chủ yếu là: màu sắc, hình dáng, kích thước, hoạt động…
Từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo là ngữ gồm 1680 đơn vị, xuất hiện 2472 lượt và được cấu tạo từ 2 yếu tố đến 6 yếu tố. Sự phân loại trên phản ánh: các ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi luôn có xu hướng mở rộng thành phần miêu tả là lối được ưa dùng. Các ngữ gồm 2, 3 và 4 yếu tố xuất hiện nhiều nhất.
Có nhiều từ ghép và ngữ là những kết hợp tự do, bất thường như: bà bạc tóc, cô lái máy cày, chuột cha, cây thòng bong,…
2/ Với phương thức gọi sự vật, các biểu thức được sử dụng trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi chủ yếu được tạo thành từ 3 phương thức chính và các mô hình cụ thể (2174 biểu thức đặc trưng cho 5209 đơn vị).
Phương thức cơ sở: gồm 374 biểu thức, chiếm 12.6% và dùng danh từ chung chỉ họ/ giống/ loài/ loại để chỉ sự vật. Trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, danh từ này được dùng với hai tư cách: thứ nhất, đó là các danh từ chung để chỉ chung cho một giống/ loài/ loại nào đó; thứ hai, sử dụng với tư cách là tên riêng. Đây là phương thức có vai trò nòng cốt tạo nên các yếu tố trong các từ ngữ chỉ sự vật khác.
Phương thức phức gồm 1849 biểu thức, chiếm 85.1%. Các đơn vị này được sử dụng theo cách kết hợp hai hay nhiều yếu tố có nghĩa với nhau, hoặc kết hợp nhiều yếu tố để thành các cụm danh từ có tính cố định. Các yếu tố kết hợp được dùng trong các biểu thức gọi sự vật gồm: danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại, từ xưng hô, từ chỉ đơn vị, từ chỉ số lượng, từ chỉ đặc điểm,…
Phương thức rút gọn gồm 51 từ ngữ chiếm 2,3%. Cách gọi sự vật theo phương thức rút gọn nhằm lược bỏ các yếu tố phụ và tổ hợp các yếu tố chính để làm thành các tổ hợp mới (rút gọn và kết hợp) tạo cho sự vật điểm nhấn, mang đậm màu sắc khẩu ngữ.
3/ Cấu trúc của các biểu thức gọi sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi không mang tính ràng buộc khuôn mẫu. Phần lớn các biểu thức này được tạo nên theo kiểu mở rộng thành phần miêu tả. Bằng cách này, các từ ngữ được dùng để gọi đã giúp những hình ảnh sự vật trở nên sống động phong phú đa dạng, để người hát và người nghe ghi nhớ, cùng khám phá thế giới quanh ta và chính mình, như sẽ nói đến ở chương sau.
Chương 3
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA CÁC TỪ NGỮ CHỈ SỰ VẬT TRONG CA KHÖC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI
3.1. Khái quát về các nhóm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi
Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ sự vật có số lượng lớn, khá đa dạng về chủng loại, tạo nên các nhóm khác nhau. Theo kết quả khảo sát, phân loại có thể chia các từ ngữ chỉ sự vật thành 6 nhóm: người; động vật; thực vật; đồ vật; hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu trượng. Kết quả thống kê:
Bảng 3.1:
Các nhóm từ ngữ chỉ sự vật
TT
Nhóm
Số lượng và tần số
xuất hiện
Số lượng
Tỷ lệ %
Tần số
Tỷ lệ %
1
Người
569
26.17
2222
42.65
2
Thực vật
420
19.32
671
12.88
3
Hiện tượng tự nhiên
411
18.91
801
15.38
4
Động vật
327
15.04
636
12.21
5
Đồ vật
303
13.94
483
9.27
6
Sự vật trừu
tượng
144
6.62
397
7.61
Tổng
2174
100%
5209
100%
|
TT |
Nhóm |
Số lượng và tần số
xuất hiện |
|||
|
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Tần số |
Tỷ lệ % |
||
|
1 |
Người |
569 |
26.17 |
2222 |
42.65 |
|
2 |
Thực vật |
420 |
19.32 |
671 |
12.88 |
|
3 |
Hiện tượng tự nhiên |
411 |
18.91 |
801 |
15.38 |
|
4 |
Động vật |
327 |
15.04 |
636 |
12.21 |
|
5 |
Đồ vật |
303 |
13.94 |
483 |
9.27 |
|
6 |
Sự vật trừu
tượng |
144 |
6.62 |
397 |
7.61 |
|
Tổng |
2174 |
100% |
5209 |
100% |
|
Nhận xét:
- Các từ ngữ xuất hiện trong các nhóm là không tương đồng nhau. Cụ thể:
+ Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện cao: người; thực vật; hiện tượng tự nhiên. Nhóm chỉ người xuất hiện với số lượng và số lượt lớn nhất trong tổng số: số lượng 569/ 2174 từ ngữ, chiếm 26.17%; số lượt xuất hiện 2222/ 5209 từ ngữ, chiếm 42.65%.
+ Các nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện trung bình: động vật, thực vật và đồ vật. Nhóm chỉ động vật có số lượng 327/ 2174, chiếm 15.04%; số lượt xuất hiện 636/ 5209, chiếm 12.21%. Nhóm chỉ thực vật số lượng 420/ 2174, chiếm 19.32%; số lượt xuất hiện 671/ 5209, chiếm 12.88%. Nhóm chỉ đồ vật: số lượng 303/ 2174, chiếm 13.94%; số lượt xuất hiện 483/ 5209, chiếm 9.27%.
+ Nhóm có số lượng, số lượt từ ngữ xuất hiện thấp là nhóm chỉ sự vật trừu tượng: số lượng 144/ 2174, chiếm 6.62%; số lượt xuất hiện 397/ 5209, chiếm 7.61%.
- Sự xuất hiện của các từ ngữ trong các nhóm chỉ sự vật trong CK TN với số lượng, số lượt khác nhau có thể chịu sự chi phối của các nhân tố:
+ Nhân tố thực tế: Môi trường sinh hoạt của TN chủ yếu ở gia đình và nhà trường. Điều này lý giải tại sao trong các CK các từ ngữ chỉ người và thế giới tự nhiên lại xuất hiện với số lượng và số lượt cao nhất.
+ Nhân tố thi pháp nghệ thuật: Sự “nhân hóa” cho các sự vật ngoài con người còn cho phép các từ ngữ thuộc các nhóm sự vật ngoài con người được tăng lên. Điều này được thực hiện qua việc các nhạc sĩ thường sử dụng các yếu tố chỉ người có trong các mô hình gọi sự vật ngoài con người.
+ Nhân tố lối miêu tả: Các nhạc sĩ thường lấy một hoặc một số đặc điểm nổi bật để gọi sự vật, tạo nên lối đặc tả và làm nên sự thích thú được nghe, được hát. Để làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN, luận án sẽ đi sâu phân tích các đặc điểm từ ngữ trong các nhóm.
3.2. Từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi
3.2.1. Từ ngữ chỉ “người”
3.2.1.1. Từ ngữ chỉ “người” trong gia đình
Khi xem xét đặc điểm ngữ nhóm từ ngữ chỉ người trong CK tiếng Việt dành cho TN, có thể nhận thấy các từ ngữ này thuộc hai phạm vi: gia đình và xã hội (ngoài gia đình). Tuy nhiên, có rất nhiều các từ ngữ được sử dụng chung cho cả hai phạm vi trên. Ngoài ra, có thể ghi nhận rất nhiều hiện tượng chuyển nghĩa.
Các từ ngữ chỉ người trong CK tiếng Việt được dùng với hai chức năng: gọi người trong gia đình và xưng gọi trong hội thoại. Hai chức năng này được biểu hiện cụ thể ở hai loại quan hệ đó là trong gia đình và ngoài gia đình.
a. Từ ngữ gọi người trong gia đình
Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, những bài có chủ đề gia đình chiếm số lượng tương đối lớn. Cách gọi người thân của TN rất đa dạng. Đó có thể là cách gọi đơn giản: ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, dì, thím, mợ, anh, chị, em, cha (bố), mẹ, con… nhưng đó cũng có thể là cách gọi “gán cho” những đặc điểm riêng mà chỉ “con trẻ” nói: bé Bông, cả nhà ta, bà - vườn cổ tích, bà bạc tóc, bố - tàu lửa, bố - xe hơi, con - con ba, con - con mẹ…
Theo kết quả khảo sát, các danh từ chung chỉ người trong gia đình, họ hàng, thân thuộc của người Việt được phân thành 3 bậc với hai mối quan hệ là cùng thế hệ và các quan hệ khác thế hệ (quy ước lấy “tôi” làm mốc để gọi).
Bảng 3.2:
Các từ ngữ chỉ người trong gia đình theo quan hệ thứ bậc
TT |
Thứ bậc |
Số lượng |
Tỷ lệ |
Ví dụ |
1 |
Bậc 1: thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ go - “tôi” |
38 |
1.57 |
ông, bà, ông bà, ông bà nội, ông em, bà em, ông nội, bà - vườn cổ tích,… |
2 |
Bậc 2: thế hệ trước, là hoặc ngang hàng với người trực tiếp sinh ra ego |
180 |
8.28 |
bố/ cha/ ba, mẹ/ má, ba má, ba má em, mẹ em, bác em, chú, dì, mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, bố - tàu lửa,… |
3 |
Bậc 3: cùng một thế hệ trong gia đình (trước hoặc sau) với ego |
51 |
2.35 |
anh, chị, anh chị, anh chị, anh cả, anh hai, em út, chị em, anh em,… |
- Từ ngữ chỉ người bậc 1 - thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ của “tôi”
Trong quan hệ gia đình, ông và bà thường được xác định là bậc 1. Các từ này phản ánh kết cấu truyền thống trong gia đình người Việt: “tam đại đồng đường” (ba thế hệ cùng sống chung).
Xuất phát điểm của từ ngữ chỉ người trong phạm vi gia đình là bậc 1 chỉ gồm 2 từ: ông, bà (với nghĩa gốc: từ ông được dùng để chỉ: Người đàn ông thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ [81, tr.927]; bà: Người đàn bà thuộc thế hệ sinh ra cha hoặc mẹ [81, tr.42]). Ví dụ:
(94) Ông dành những lúc thảnh thơi dang tay mời cháu bé. Dung dăng dung dẻ dắt trẻ đi chơi. Ði chơi đi chơi đi chơi [NL2, tr.22].
Hay:
(95) Bà là vườn cổ tích, là bóng mát tuổi thơ. Cháu nằm nghe bà kể ngỡ vào giấc mơ [NL6, tr.7].
Với nghĩa gốc, các từ ông, bà thường xuất hiện độc lập. Sắc thái tình cảm khi sử dụng các từ này thường cố định - một sự mặc định: ông và bà là sự đầm ấm, mang màu sắc cổ tích, và nguồn cội trong khu vườn tuổi thơ dưới một mái nhà). Ông bà là những người lớn tuổi nhất trong nhà, luôn gần gũi các cháu. Ví dụ:
(96) Rằng là em bé rất ngoan. Thường hay khám tay sạch các anh. Làm vệ sinh hay quét nhà, và múa hát cho vui ông bà [NL1, tr. 39]. (97) Một sợi rơm vàng là hai sợi vàng rơm. Bà bện chổi to bà làm chổi nhỏ [NL1, tr.5].
Gắn với những cảm nhận ngô nghê nhưng chân thành, sâu nặng, ân tình, các nhạc sĩ thường dùng những cách khác nhau gọi ông bà. Có thể coi đây là cách gọi phức hợp, chẳng hạn: ông bà, ông bà cháu, ông nội, bà nội, ông bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bà em, ông em, ông nội, bà - vườn cổ tích … Ví dụ:
(98) Chẳng thấy ông nội đâu, mà giọng ông nói đấy. Áp tai vào ống nghe, đỡ nhớ ông quá trời” [NL8, tr.58].
(99) Bé hay bày trò vui, làm mẹ ba đều thích. Tập cúi đầu lễ phép, ông bà nội rất thương. Bé tên một cành sen, xòe nụ hoa tươi thắm [NL8, tr.54].
Các kết hợp: bà - vườn cổ tích, bà - bóng mát tuổi thơ,… xuất hiện trong các CK tiếng Việt dành cho TN thể hiện sự riêng khác của nhóm từ ngữ bậc 1 với các nhóm đối tượng khác.
- Từ ngữ chỉ người bậc 2 - thế hệ trước, là hoặc ngang hàng với người trực tiếp sinh ra “tôi”
Trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các nhạc sĩ thường dùng một số cách để gọi bố, mẹ, bác, cô, dì, chú,… Theo kết quả khảo sát, các từ bố/ cha/ ba, mẹ/ má xuất hiện với tần xuất lớn. Điều này phù hợp với mối tương tác của TN trong phạm vi gia đình.
Sử dụng các danh từ chung để gọi: Cha (ba/ bố) là “người đàn ông có con, trong quan hệ với con” [81, tr.179]. Mẹ (má) được dùng với hai nghĩa: 1/ Người đàn bà có con trong quan hệ với con; 2/ Từ dùng để gọi người đàn bà đáng bậc mẹ (hàm ý coi trọng) [81, tr.806]; Bác được dùng với nghĩa 2 nghĩa: 1/ Anh của cha/ mẹ hoặc chị dâu của cha/ mẹ; 2/ Từ dùng để chỉ người lớn tuổi với ý tôn trọng, hoặc chỉ người nhiều tuổi hơn cha mẹ mình [81, tr.44]. Ví dụ:
(100) Con vòi bố mua cho con cây súng gỗ. Bố chỉ mua cho chiếc ô tô bằng nhựa [NL10, tr.44].
(101) Một phần cho mẹ. Một phần cho cha [NL4, tr.219].
Các từ “bố”/ “cha”, “mẹ”/ “má”, “ba mẹ”, trong các ví dụ trên được dùng gọi trực tiếp. Sử dụng các tổ hợp (ngữ) để gọi bác, bố, mẹ, chú, cô, dì,… thường có cơ sở là sự phân tích và liên tưởng. Các kết hợp này thường từ các danh từ chỉ quan hệ thân tộc với các danh từ khác chỉ sự vật. Đó là các ngữ : mẹ hiền, bác em, má em, bố mẹ em, cha mẹ, mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, mẹ - vầng mây, mẹ - biển rộng, bố - tàu lửa, bố - xe hơi, bố - con ngựa,… Các ngữ này được cấu thành từ các danh từ kết hợp với các danh từ chung (bố - mẹ - em); hoặc chuyển nghĩa: mẹ - đài hoa, mẹ - gió mát, bố - tàu lửa, bố - xe hơi,… Các sự vật được chuyển nghĩa đều gắn với những đặc trưng riêng khác: dịu dàng, mạnh mẽ, nghiêm khắc...
- Từ ngữ chỉ người bậc 3 - cùng một thế hệ trong gia đình (trước hoặc sau) với “tôi”
Trong bức tranh tuổi thơ của TN, anh, chị, em... được sử dụng rất nhiều. TN bước vào một thế giới với tất cả sự trẻ trung, tươi mới. Đó còn là sự nhường nhịn của anh chị cho em đồ chơi đẹp, hay đó là buổi trông em cho bố mẹ ra đồng,… Ví dụ:
(102) Làm anh khó đấy, phải đâu chuyện đùa, với em bé gái phải người lớn cơ. Mẹ mua chiếc bánh nhường em phần hơn, có đồ chơi đẹp, cũng nhường em luôn [NL2, tr.23].
b. Từ ngữ chỉ người trong gia đình được dùng với chức năng xưng gọi
Trong phạm vi gia đình, TN luôn dùng cách xưng con, cháu để đáp lại ông bà, cha mẹ.
Theo kết quả khảo sát, các từ con, cháu trong các cặp quan hệ: ông bà - cháu, bố mẹ - con, mẹ - con… xuất hiện với tần suất cao (con: 43 lượt, cháu: 27 lượt). Vì những lý do trên, có thể tách ra và coi đây là một trường hợp đặc biệt để phân tích.
Trong quan hệ họ hàng, bậc 2 và bậc 3 mang hai tư cách chính: thứ nhất, là con đối với cha mẹ (được thể hiện trong mối quan hệ: ông bà - ba mẹ/ bác/ cô/ dì/ chú…); thứ hai là ba/ mẹ/ bác/ cô/ dì/ chú - con/ cháu.
Hai từ này được dùng với các nét nghĩa:
Con được dùng với hai nghĩa: 1/ “người thuộc thế hệ sau, trong quan hệ với người trực tiếp sinh ra” [81, tr.264]; 2/ Từ xưng gọi lâm thời dùng thay “cháu” khi đối tượng thuộc thế hệ thứ ba (cháu) gọi thế hệ thứ 1 (ông, bà) hoặc thế hệ thứ hai (đồng hàng với bố mẹ - không trực tiếp sinh ra). Từ con được dùng khá phổ biến trong xưng gọi, tạo ra các cặp xưng hô: ông/ bà - con; bác - con; chú/ cô/ dì/… - con.
Cháu được dùng với nghĩa: “người thuộc thế hệ sau nhưng không phải là con, trong quan hệ với người thuộc thế hệ trước” [81, tr.184]. Ví dụ:
(103) Ba thương con vì con giống mẹ. Mẹ thương con vì con giống ba [NL1, tr.7].
Bác được dùng với hai nghĩa: “1/ Từ dùng để chỉ người lớn tuổi với ý tôn trọng, hoặc chỉ người nhiều tuổi hơn cha mẹ mình; 2/ Từ dùng trong đối thoại để gọi người coi như bậc bác của mình với ý kính trọng” [81, tr.43]. Theo tư liệu khảo sát, ngoài hai nghĩa trên, từ Bác đôi khi được thay thế bằng từ “Người” để chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên trong phạm vi xã hội, xu hướng gọi người cụ thể diễn ra phổ biến. Mỗi một ngữ gọi sự vật tự mang trong mình một nội dung cụ thể và với các sắc thái khác nhau. Chẳng hạn, Bác Hồ, Bác Hồ Chí Minh, Cháu bác Hồ Chí Minh,… hoặc tạo ra các ngữ gọi tên: Bác như sao sáng mùa thu, Bác như là vầng trăng,… Ví dụ:
(104) Đất nước mình bao nhiêu hoa đẹp, Bác vun trồng giờ nở hoa dâng Bác [NL5, tr.38].
(105) Bác như sao sáng mùa thu, Bác như là vầng trăng. Vui trong vinh quang Bác Hồ Chí Minh [NL9, tr.121].
Như vậy, các từ ngữ chỉ người trong gia đình có các đặc điểm nổi bật:1. Trong ca khúc TN thường được dùng với chức năng để xưng gọi; 2. Từ ngữ chỉ người ở bậc trên (ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ, bác, chú, dì, cô…) nhiều hơn từ chỉ người bậc dưới (con, cháu); 3. Các từ ngữ này thường được dùng với sắc thái mến yêu; 4. Chỉ ở các bậc trên (ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ, chú, dì, cô…) mới có sự phân biệt rõ ràng về giới tính (nam/ nữ).
3.2.1.2. Từ ngữ chỉ người trong quan hệ xã hội ngoài gia đình
a. Từ ngữ chỉ người ngoài gia đình
So với quan hệ gia đình, các quan hệ ngoài gia đình phức tạp với nhiều. Tuy nhiên, đối với TN biên độ quan hệ xã hội hẹp hơn. Các quan hệ xã hội với TN chủ yếu trong một số hoàn cảnh trong nhà trường và sinh hoạt cộng đồng, địa điểm vui chơi. Kéo theo đó là các mối quan hệ: thầy cô - học trò, bạn bè,… Ngoài ra, trong quá trình tương tác ngoài xã hội, TN tạo ra các mối quan hệ với các nhân vật như: chú công an, cô công nhân, chú bộ đội, chú phi công, cô lái máy cày,… Thậm chí, các mối quan hệ khác nhiều khi chỉ có “tính ảo”, tức là TN hiểu về những con người trong xã hội qua câu chuyện của ông bà, lời dạy của bố mẹ, thầy cô,… đôi khi chỉ là cách nhận biết qua quan sát hoặc đối thoại. Khảo sát trong các CK tiếng Việt dành cho TN, kết quả như sau:
Bảng 3.3:
Các từ ngữ chỉ người trong quan hệ xã hội
|
STT |
Hoàn cảnh |
Số lượng |
Tỷ lệ |
Ví dụ |
|
1 |
Nhà trường |
191 |
8.79 |
thầy, cô, thầy cô, thầy em, cô giáo như mẹ hiền, bạn bè,Bác… |
|
2 |
Sinh hoạt cộng đồng, địa điểm vui chơi |
109 |
5.01
|
chú bộ đội, cô công nhân, phi công, thợ cầy, thợ cấy, công an, bác sĩ,… |
Nhận xét:
- Phạm vi tương tác của trẻ em trong xã hội ở hai hoàn cảnh chính:
1. nhà trường;
2. các địa điểm vui chơi, sinh hoạt cộng đồng (công viên, thảo cầm viên,…).
Hoàn cảnh nhà trường xuất hiện nhiều hơn trong tương tác của TN với xã hội.
- Trong các CK, thường được dùng để gọi là các từ chỉ nghề nghiệp: công nhân, bộ đội, phi công, bác sĩ, thợ cầy, thợ cấy, thầy giáo, cô giáo,… Các từ này được sử dụng với các nghĩa đặc trưng chỉ nghề nghiệp cụ thể. Chẳng hạn: “Công nhân” được dùng chỉ người lao động chân tay làm việc ăn lương; “Cô giáo” được dùng chỉ “người phụ nữ dạy học”. “Thợ cấy” được dùng chỉ người lao động chân tay làm nghề cấy. Ví dụ:
(106) Kìa cô công nhân đi về xưởng máy. Kìa chú bộ đội 1 - 2 bước đều [NL8, tr.157].
(107) Ôi thỏ con ơi mau theo em đến trường. Chớ để cô giáo chờ trông [NL8, tr.90].
- Thường được gặp là các từ ngữ chỉ nghề nghiệp: công nhân, bộ đội, phi công, bác sĩ, thợ cầy, thợ cấy, thầy giáo, cô giáo,… Ví dụ:
(108) Em yêu đồng lúa quê em bát ngát con sóng vàng. Em yêu đồng lúa quê em yêu bàn tay thợ cấy [NL 6, tr. 65].
(109) Dựng cột điện cao trước sân đình làng, mắc những đường dây dài theo xóm nhỏ. Chú thợ điện về mang nguồn ánh sáng [NL 10, tr.64].
Gắn với ngữ cảnh của ca khúc, TN có sự liên hệ rất rõ ràng về nghề nghiệp. Chẳng hạn, công nhân gắn với nhà máy, thầy cô với mái trường, thợ cầy - thợ cấy với cánh đồng, phi công với bầu trời, bộ đội với biên cương/ đảo xa…
b. Từ ngữ chỉ người ngoài gia đình được dùng để xưng gọi
Các từ dùng để xưng gọi: tôi, tớ, tao, mày, bạn bè, thầy cô,… xuất hiện với tần số khá cao. Điểm đặc biệt là các từ xưng gọi dùng trong hoàn cảnh gia đình được sử dụng để xưng gọi ngoài xã hội khá phổ biến. Đặc biệt, cặp xưng hô: bác - cháu; con - thầy/ cô xuất hiện với mật độ tương đối dày đặc. Trong các quan hệ này, các từ xưng gọi không còn nguyên nghĩa gốc mà dùng với nghĩa phái sinh.
(110) Con nghe lời Bác luôn dạy dỗ theo gót anh hùng đem cờ hoa đến ngày toàn thắng [NL11, tr42].
Mối quan hệ thầy / cô... - trò thường được gặp qua cách xưng gọi: thầy giáo/ cô giáo/ thầy cô/ thầy cô giáo - em/ chúng em/ con/ chúng con/ học sinh. Theo kết quả khảo sát, lớp từ này xuất hiện với 2 nhóm ý nghĩa khác nhau:
+ Cách xưng gọi cụ thể: thầy giáo, cô giáo, em, chúng em… Đây là các danh từ chỉ loại thể có tác dụng thay thế, dùng trong nhóm từ chỉ người và các nhóm khác. Ví dụ:
(111) Nắng vừa lên em đi mẫu giáo. Chim chuyền cành hót chào chúng em. Cô giáo khen em chăm học [NL2, tr.26].
+ Cách xưng gọi bao gộp: thầy cô, thầy cô giáo, đoàn học sinh… Các danh từ chỉ loại thể có tác dụng gọi tổng loại, có tác dụng thay thế và dùng để phân biệt nhóm từ chỉ người với các nhóm khác. Ví dụ:
(112) Thầy cô và mái trường cho đàn em tới bến [NL4, tr.181].
113) Đoàn học sinh đi trong nắng hè tươi sáng [NL9, tr.80].
Như vậy, kết quả khảo sát các danh từ chung chỉ người trong quan hệ xã hội, có thể nhận thấy để gọi các đối tượng ngoài xã hội TN thường gọi cụ thể, đầy đủ - đôi khi khá dài dòng về đối tượng. Vì vậy, các danh từ chung chỉ người trong quan hệ xã hội có xu hướng ghép với các danh từ chung bậc hai (bác, chú, cô,…) và bậc ba (anh, chị) trong quan hệ gia đình, họ hàng để tạo thành các tổ hợp: chú bộ đội, cô công nhân, chú phi công, anh bộ đội,… Các tổ hợp này được biểu thị hai ý nghĩa phân biệt khá rõ là giới tính (nam - nữ) và tuổi tác (trong độ tuổi lao động). Ví dụ:
(114) Pin! Pin! Pin! Chiếc xe buýt ngừng trước nhà em đón cô công nhân đi vào nhà máy [NL6, tr. 62].
3.2.2. Từ ngữ chỉ động vật và bộ phận cơ thể động vật
3.2.2.1. Từ ngữ chỉ động vật
Các từ ngữ gọi động vật có thể được chia thành: động vật được thuần dưỡng và động vật hoang dã. Mỗi nhóm động vật này lại bao gồm rất nhiều lớp động vật khác nhau. Kết quả khảo sát cụ thể:
Bảng 3.4:
Các từ ngữ chỉ động vật theo phạm vi sinh trưởng
STT
Nhóm động vật
Số lượng
Tỷ lệ %
Ví dụ
1
Động vật thuần dưỡng
Động vật nuôi trong gia đình
104
41.9
gà, vịt, ngan, ngỗng, chim câu, ong, ong chăm chỉ, cá, tôm,
cá chép, cá quả, tép, trâu, nghé, bò, mèo, dê,…
Động vật nuôi trong tổ chức xã hội
59
23.8
hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn, chim công, cò, rắn,
tắc kè, rùa,…
2
Động vật hoang dã
Động vật hoang dã sống gần gũi với loài người
57
23.0
chim chích, chim chích bông, bướm, đom đóm, kiến, châu chấu,
cào cào, chuột, thằn lằn, rắn, rùa, tắc kè, ếch, nhái, cóc,…
Động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên
28
11.3
cò, chim chèo bẻo, hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn,…
Tổng
248
100%
STT
Nhóm động vật
Số lượng
Tỷ lệ %
Ví dụ
1
Động vật thuần dưỡng
Động vật nuôi trong gia đình
104
41.9
gà, vịt, ngan, ngỗng, chim câu, ong, ong chăm chỉ, cá, tôm,
cá chép, cá quả, tép, trâu, nghé, bò, mèo, dê,…
Động vật nuôi trong tổ chức xã hội
59
23.8
hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn, chim công, cò, rắn,
tắc kè, rùa,…
2
Động vật hoang dã
Động vật hoang dã sống gần gũi với loài người
57
23.0
chim chích, chim chích bông, bướm, đom đóm, kiến, châu chấu,
cào cào, chuột, thằn lằn, rắn, rùa, tắc kè, ếch, nhái, cóc,…
Động vật hoang dã trong môi trường tự nhiên
28
11.3
cò, chim chèo bẻo, hổ, báo, hươu, nai, voi, thỏ, khỉ, vượn,…
Tổng
248
100%
Nhận xét:
- Từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng lớn hơn từ ngữ chỉ động vật hoang dã. Cụ thể: từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng là 163/ 248 từ ngữ, chiếm 67.5%; từ ngữ chỉ động vật hoang dã là 65 từ ngữ, chiếm 34.3%.
- Trong nhóm từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng, từ ngữ chỉ động vật nuôi trong gia đình xuất hiện với số lượng lớn 104/ 248 từ ngữ, chiếm 41.9%; từ ngữ chỉ động vật nuôi trong tổ chức xã hội 59/ 248 từ ngữ, chiếm 23.8%. Trong nhóm từ ngữ chỉ động vật hoang dã, từ ngữ chỉ động vật hoang dã sống gần gũi với loài người chiếm số lượng lớn 57/ 248 từ ngữ, chiếm 11.3%.
- Điểm nổi bật và riêng khác trong CK tiếng Việt dành cho TN là số lượng các từ ngữ chỉ động vật là các loài thú, bò sát sống trong tự nhiên và thuần dưỡng được nhắc tới ở những hoàn cảnh khác nhau. Nếu như các từ ngữ chỉ động vật là thú, bò sát được thuần dưỡng xuất hiện trong các CK viết về chủ đề “đi chơi công viên” thì từ ngữ chỉ động vật là thú, bò sát trong môi trường tự nhiên chỉ xuất hiện trong các câu chuyện của bà, của mẹ.
a) Từ ngữ chỉ động vật thuần dưỡng
Các từ ngữ chỉ động vật được thuần dưỡng bao gồm hầu hết các lớp từ ngữ chỉ loài trong hệ động vật. Đặc điểm của các từ ngữ này:
Thứ nhất, động vật thuộc nhóm này thường là các loài thú nhỏ, thú tính thấp như: mèo, trâu, bò, chó, lợn, dê, hươu, nai, thỏ,… Đây cũng là lý do, các loài thú này xuất hiện như người bạn thân thiết của TN và được TN nhắc đến rất nhiều trong các ca khúc. Đặc biệt các loài thú lớn nếu xuất hiện thì chỉ xuất hiện trong các CK viết về việc TN đi chơi trong công viên, sở thú,… nơi mà những con thú được nuôi nhốt và kiểm soát. Ví dụ:
(115) Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu. Phú ông xin đổi một xâu cá mè [NL6, tr.122].
(116) Chú khỉ con thích leo cây cao. Chú hổng sợ té đau chú đang tập thể thao. Chú khỉ con có cái đuôi lon ton, tay chân dài rất thông trong dáng thiệt mi - nhon [NL8, tr. 12].
(117) Chú thỏ con, ơi chú thỏ con, có bộ lông lông trắng như bông. Mắt của chú, đôi mắt của chú màu hồng nhạt như là viên kẹo [NL10, tr.55].
Thứ hai, các loài thú nuôi là những con vật gần gũi trong đời sống hàng ngày của trẻ. Chúng trở thành những “người bạn nhỏ” của trẻ; Và vì thế, các loài thú nuôi với TN vẫn có sự đồng điệu và gần gũi đến lạ kỳ. Trong thế giới tuổi thơ của các em, các em có thể tâm tình với vật nuôi nhưng cũng có thể hào hứng nói lên mơ ước được hóa thành “những người bạn tâm tình”, “những chàng dũng sĩ”, “những anh hùng”…
Thứ ba, những động vật thuộc lớp chim: gà, vịt, ngan, ngỗng, chim chích, chim câu… xuất hiện tương đối nhiều trong các ca khúc, bởi các con vật này gắn với đời sống, phục vụ đời sống và thân thiện với con người, nhất là trẻ em. Vì lẽ đó, những bài học về thế giới động vật đầu tiên của trẻ em, những trò chơi, khúc hát đầu đời của TN thường liên quan đến chim, cò, gà, vịt… Ví dụ:
(118) Con vịt cạp cạp. Con gà cục cục. Con chó gâu gâu. Mình đố con gì nó kêu lâu lâu? [NL6, tr.38].
Lớp từ ngữ chỉ loài chim xuất hiện nhiều nhất trong lớp từ chỉ động vật do: gà, con vịt, con ngan… vốn là những con vật thường xuyên gặp, đồng thời, Việt Nam là nước nhiệt đới, các loài chim rất đa dạng; Đặc biệt, chim câu là biểu tượng cho hòa bình, tự do và lòng nhân ái vì vậy chúng đi vào đời sống của các con như một biểu tượng cố định và bất biến.
(119) Sáng nào em đi học chim câu cũng chào em bằng những tiếng thân quen nghe sao thương mến thế [NL5, tr.78]. Các động vật thuộc lớp côn trùng và thân mềm, gặm nhấm: ong, trai, ốc, chuột,…
Các động vật này xuất hiện trong các CK TN với mật độ thưa, song khá phong phú về loài. Ví dụ:
(120) Chú mèo con lông trắng tinh. Mắt tròn xoe và trông rất xinh. Meo! Meo! A! con mèo nó rất ngoan. Bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt [NL8, tr.76].
(121) Bướm dạo là bướm ối a nó bay i i [NL5, tr.29].
Các lớp từ ngữ thuộc lớp tôm, cá; động vật lưỡng cư; bò sát; côn trùng và thân mềm gặm nhấm xuất hiện không nhiều như các lớp động vật trên.
b) Từ ngữ chỉ động vật trong tự nhiên
Động vật trong tự nhiên bao gồm các loài thú lớn như: hổ, báo, voi, khỉ, vượn,… Các từ ngữ chỉ động vật trong tự nhiên bao gồm các loài thú nhỏ như: chó, mèo, vịt,… Đặc biệt, các loài thú lớn xuất hiện trong CK không phải được TN gọi một cách trực tiếp thông qua trực quan mà thường được cảm nhận thông qua các câu truyện kể của bà, của mẹ. Dưới lăng kính của các câu truyện cổ tích, các bài đồng dao,… các con thú lớn xuất hiện trong CK TN với tư cách là “những người bạn nhỏ” của các em. Ví dụ:
(122) Khắp chốn Tây Nguyên cần nhiều voi. Góp sức xây buôn làng đẹp tươi [NL2, tr.67].
Trong ca khúc, các con vật vốn “trong rừng thẳm” với bản tính tưởng như “hung hãn” thì lại rất thân thương, hiền lành khi chung sống với con người.
Thế giới động vật trong cảm nhận của TN nhuốm màu hồng huyền ảo mà ở đó những con vật hung dữ bỗng hiền dịu, thân thương đến lạ kì. Có lẽ thế giới ấy chỉ có ở trong tuổi thơ của mỗi người và là nơi cho TN tha hồ kết bạn.
Các loài động vật như: cá, tôm, cá chép, cá quả, tép, cái bống… rất phong phú và đa dạng trong ca khúc. Có đủ loài cá từ biển, cá đồng, cá sông, cá ruộng đều xuất hiện trong các CK TN. Vì vậy, tên gọi chúng đi vào các CK TN với hệ thống phong phú, đa dạng. Ví dụ: (123) Hai vây xinh xinh cá vàng bơi trong bể nước [NL2, tr.61].
(124) Cây cho trái và cho hoa, sông cho tôm và cho cá, đồng ruộng cho bông lúa chín, chim tặng lời reo ca [NL4, tr.106]. Các động vật thuộc lớp côn trùng và thân mềm, gặm nhấm: ong, bướm, đom đóm, kiến, trai, ốc, châu chấu, cào cào, chuột,…
Các loài động vật này (trừ loài kiến) xuất hiện trong các CK TN khá phong phú về loài. Đây là những động vật vốn gần gũi với TN nên tên gọi của chúng dễ dàng đi vào đồng dao với các đặc điểm nổi bật của mình. Ví dụ:
(125) Mỗi khi chuột gặp mèo, chuột sợ chết queo [NL8, tr.16].
(126) Bướm dạo là bướm ối a nó bay i i [NL5, tr.29].
Các lớp từ ngữ thuộc lớp tôm, cá; động vật lưỡng cư; bò sát; côn trùng và thân mềm gặm nhấm xuất hiện không nhiều như các lớp động vật trên.
- Động vật thuộc lớp cá, tôm như: cá, tôm, cá chép, cá quả, tép, cái bống, chú dã tràng,… Các loại thủy hải sản này cũng rất phong phú và đa dạng trong CK TN. Có đủ loài cá từ biển, cá đồng, cá sông, cá ruộng đều xuất hiện trong các CK TN. Vì vậy, tên gọi chúng đi vào các CK TN với hệ thống phong phú, đa dạng. Ví dụ:
(127) Nghiêng cánh Phượng hồng, rơi tiếng ve buồn có chú Dã tràng se cát. Mùa hè, mùa hè đến tạm biệt ngôi trường yêu mến [NL8, tr.116].
(128) Cây cho trái và cho hoa, sông cho tôm và cho cá, đồng ruộng cho bông lúa chín, chim tặng lời reo ca [NL4, tr.106].
Động vật thuộc lớp bò sát và lớp động vật lưỡng cư cũng được TN nhắc tới rất nhiều như: thằn lằn, rắn, rùa, cá sấu…, ếch, nhái, cóc,… Đặc biệt, cóc và ếch đã trở thành những nhân vật quen thuộc và nổi tiếng trong văn học dân gian. Trong nhiều tác phẩm, chúng đã trở thành biểu tượng nghệ thuật. Ví dụ:
(129) Chậm như rùa! Thật chậm như rùa! Mỗi bước rùa đi ì à ì ạch [NL6, tr.129].
(130) Con ếch ộp ộp. Con mèo meo meo [NL6, tr.38].
3.2.2.2. Từ ngữ chỉ bộ phận của động vật
Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật rất đa dạng, gồm 79 từ ngữ chiếm 3.63%: cánh, vây, cổ, mỏ, mồm, miệng, bụng, mắt, chân, đuôi, lông, mắt, râu, đầu, trán, vai, mặt, đuôi đỏ, đầu vàng, cánh chim, mắt tròn, đuôi vờn, cánh chim, cánh én, mật ong, màu cam, cái đầu, đôi cánh, những cánh chim, bốn chân, hai chân, hai mắt, hai tay, đôi mắt, hai vây, miếng vá đen… Sự xuất hiện của các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật là căn cứ trên tâm lý của TN trong việc gọi tên các loài động vật. Có thể nhận xét chung:
- Các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật gồm từ và ngữ. Nếu các từ đơn: chân, lông, mắt,… thường gọi chung cho các loài, thì các ngữ: bốn chân, hai vây, hai mắt,… Đặc biệt, ngữ gọi tên miếng vá đen (mèo) lại thể hiện đặc trưng riêng biệt, cá thể hóa cho sự vật.
(131) Kìa con bướm vàng! Kìa con bướm vàng! Xòe đôi cánh, xòe đôi cánh. Bươm bướm bay năm ba vòng, bươm bướm bay năm ba vòng, bay vòng quanh, bay vòng quanh [NL1, tr.31].
(132) Chú mèo con lông trắng xinh. Mắt tròn xoe và trông rất xinh. Meo, meo. A con mèo nó rất ngoan, bắt chuột đôi chân nhanh thoăn thoắt [NL6, tr.29].
- Hiện tượng đồng sở chỉ trong cách sử dụng các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể động vật: mỏ, miệng và mồm. Mỗi từ này đều mang một nét nghĩa riêng biệt về phạm vi biểu vật. Sự xuất hiện của các từ ngữ này làm phong phú vốn từ ngữ và phản ánh sự hiểu biết quy loại. Chẳng hạn: đối với loài chim đó là mỏ; đối với loài lợn, mèo, chó, nai… đó là mõm (đôi khi mồm, thậm chí là miệng cho loài chim, để thể hiện tình thái yêu quý).
(133) Gà ta siêng năng đi cùng đi khắp. Cái chân bới nhanh cái mỏ nhặt gấp [NL12, tr.55]
(134) Kìa chú ếch con có hai mắt tròn. Ngồi bên bờ giếng miệng kêu uệch uệch! [NL6, tr.29]
3.2.3. Từ ngữ chỉ thực vật và bộ phận thực vật
3.2.3.1. Từ ngữ chỉ thực vật
Dựa theo phạm vi sinh trưởng, có thể chia các từ ngữ chỉ thực vật thành hai nhóm: thứ nhất, từ ngữ chỉ thực vật nuôi trồng; thứ hai, từ ngữ chỉ thực vật trong tự nhiên.
Bảng 3.5:
Các từ ngữ chỉ thực vật theo phạm vi sinh trưởng
STT
Nhóm thực vật
Số lượng
Tỷ lệ %
Ví dụ
1
Thực vật nuôi trồng
Thực vật là cây thực phẩm
105
45.5
lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ, lạc, gừng, bí, bầu, dừa Bình
Định, xoài Hậu Giang, ái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm,…
Thực vật là cây cảnh
19
8.2
phong lan, phong lan Trường Sơn, hoa Sứ, nàng Bạch Mẫu
Đơn,…
Thực vật là cây nguyên liệu sản xuất và phục vụ đời sống
con người
29
12.6
mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ, phượng thắm,
hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng thắm sân trường,
cánh phượng hồng,…
2
Thực vật tự nhiên, hoang dã
78
33.7
cây tre, cây cọ, cây lau, cây sậy, tre Việt Nam, lim,
thông, xoan,…
Tổng
231
100%
|
STT |
Nhóm thực vật |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Ví dụ |
|
|
1
|
Thực vật nuôi trồng |
||||
|
Thực vật là cây thực phẩm |
105 |
45.5 |
lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ, lạc, gừng, bí, bầu, dừa Bình
Định, xoài Hậu Giang, ái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm,… |
||
|
Thực vật là cây cảnh |
19 |
8.2 |
phong lan, phong lan Trường Sơn, hoa Sứ, nàng Bạch Mẫu Đơn,… |
||
|
|
|
||||
|
Thực vật là cây nguyên liệu sản xuất và phục vụ đời sống
con người |
29 |
12.6 |
mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ, phượng thắm,
hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng thắm sân trường,
cánh phượng hồng,… |
||
|
2 |
Thực vật tự nhiên, hoang dã |
78 |
33.7 |
cây tre, cây cọ, cây lau, cây sậy, tre Việt Nam, lim,
thông, xoan,… |
|
|
Tổng |
231 |
100% |
|
||
Trong vòng tuần hoàn của sự sống, cùng với động vật, thực vật là một trong những “đối tượng động” và có tác động trực tiếp tới cuộc sống của con người. Ngay từ khi còn bé, TN đã được chiêm ngưỡng vẻ đẹp muôn màu của lá, của hoa và thưởng thức một thứ hương “đằm ngọt” của quả. Từ trong những câu chuyện cổ tích của bà với cô Tấm dịu hiền ẩn mình trong quả thị hay là ngọn cỏ lá cây ngày ngày nâng bước chân em,… Thế giới thực vật đầu tiên mà TN tiếp xúc đó chính là những cây lương thực, thực phẩm rồi đến các cây ăn quả trong vườn nhà. Điều này thể hiện rõ trong CK tiếng Việt dành cho TN.
a) Từ ngữ chỉ thực vật nuôi trồng
- Từ ngữ chỉ thực vật làm thực phẩm
Cây lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu ăn để tồn tại của con người: lúa, ngô, khoai, sắn, gạo, đỗ, lạc, gừng, các loại rau,… Đây là loại thực vật không thể thiếu đối với con người. Nó nuôi sống con người và con người phải nuôi trồng nó nên giữa con người và loài thực vật này có mối quan hệ gắn bó, thân thiết. Xét về số lượng từ ngữ, số lượng từ ngữ chỉ loài thực vật này ít hơn nhưng tần suất lại xuất hiện dày hơn. Bởi trong đó có một số từ ngữ xuất hiện với tần suất rất cao, đó là các từ ngữ dùng để gọi thực vật thuộc loại ngũ cốc: khoai, lúa, bí, bầu, cà, đỗ, ngô…Trong cảm nhận của TN, các loài thực vật lúa, ngô, bầu, bí, khoai, sắn… không chỉ đơn thuần là sự vật mang chức năng phục vụ nhu cầu ăn uống của con người mà với TN mỗi sự vật đó đều có những vai trò và linh hồn khác nhau. Dưới con mắt của TN, thực vật được dán mác, gọi với các đặc điểm rất riêng. Đó là: cây lòng thòng là cây bí đao, đồng lúa hát, đồng lúa mới, lúa vàng mênh mông, bông lúa trĩu nặng, trái bầu xanh, trái bí xanh, cây cà, những chiếc nấm,… Ví dụ:
(135) Cho em hái dưa, hái dừa, hái xoài, đào khoai. Gửi sang Đông Đức tặng bạn của em [NL11, tr.36].
(136) Em đi giữa biển vàng. Nghe mênh mang trên đồng lúa hát, bông lúa trĩu ở trong lòng tay như đựng đầy mưa gió nắng như nặng giọt mồ hôi của bao người nuôi lúa lớn lúa ơi! [NL4, tr.78].
- Từ ngữ chỉ thực vật là cây hoa, cây cảnh: hoa hồng, quỳnh, cây mít, hoa mai, hoa sứ,… Từ ngữ chỉ thực vật này xuất hiện số lượng nhiều nhưng tần suất các từ ngữ lại thấp hơn hai loại trên. Ví dụ:
(137) Mai chia tay phượng ơi, tuổi thơ năm tháng không nguôi [NL8, tr.127].
(138) Nắng nằm trong búp xanh. Tết nở ra năm cánh. Như ông sao lấp lánh. Gọi mùa xuân đầu cành. Hoa mai - Hoa mai - Hoa mai - Hoa mai [NL6, tr.77].
Trong các ví dụ 137, 138 cây phượng, hoa mai là các loại cây hoa và cây cảnh gắn với những mùa cụ thể trong năm. Nếu cây phượng và cụ thể là hoa phượng thường được gắn với mùa hè thì hoa mai lại gắn với mùa xuân, gắn với sự thanh mát, tươi mới.
- Từ ngữ chỉ cây nguyên liệu sản xuất và phục vụ đời sống con người Các từ ngữ chỉ cây ăn quả: mít, dừa, dưa, ổi, hồng, bưởi, chanh, cam, đu đủ… Đây là các loài thực vật quen thuộc và gần gũi nhất đối với TN nông thôn. Nó là những loài thực vật sống ngay trong vườn nhà, lại cho hoa quả hấp dẫn đối với TN. Và đối với TN không có điều kiện tiếp xúc với đời sống tự nhiên trực tiếp thì thông qua các “thứ quà quê” các em cảm nhận và nhận biết về chúng. Đặc biệt là nhiều loài cây, trong đó một số loại xuất hiện với tần suất cao: cam, dừa, mít, hồng, chuối, dưa… Dưới con mắt của TN, mỗi cây trồng dường nó có linh hồn hoặc gắn với nó là các sự kiện, sự tích đẹp: cây dễ thương, cây dễ sợ, nàng Bạch Mẫu Đơn, cây lòng thong là cây bí đao, đỗ con xinh xẻo,… Ví dụ:
(139) Má trồng toàn những cây dễ thương. Nào là hoa là rau là lúa. Còn ba trồng toàn cây dễ sợ. Cây xù xì cây lại có gai. Cái gai bưởi đụng nhằm thì chảy máu. Trái sầu riêng rơi xuống thì đầu u, nhựa hột điều dính vào là rách áo. Cây dừa cao cao ôi là cao [NL4, tr.133]. (140) Chặt cây dừa là chừa cây cau. Cây thong long là cây bí đao. Cây thấp thì nấp cây cao. Cây lách chới với cây lau. Rập rành rồi ra tay nào, tay nào chạy ra [NL5, tr.80].
(141) Bánh chưng xanh bên dưa hấu đỏ. Nhành mai vàng bên cành đào tươi. Tết năm nay bé thêm một tuổi. Chúc ông bà sức khỏe tuổi già [NL8, tr.98].
b) Thực vật tự nhiên, hoang dã
Thế giới tự nhiên với muôn hình vạn trạng, ngoài các cây trồng trong phạm vi gia đình và cây lương thực, thì các thực vật còn lại được xếp vào nhóm thực vật trồng tự nhiên. Kết quả khảo sát, các từ ngữ chỉ thực vật tự nhiên, hoang dã có 78 từ ngữ, chiếm xấp xỉ 33.7%; xuất hiện ở phạm vi rộng và thường gắn với thái độ, cảm nhận theo các hướng: nhỏ bé, kiên cường, kỳ vĩ, mạnh mẽ với sức sống dẻo dai: cây tre, cây cọ, cây lau, cây sậy, tre Việt Nam, lim, thông, phượng, xoan, tre,…
Cụ thể là:
Các loại cây sống trong tự nhiên khá gần gũi với cuộc sống đời thường. Thậm chí, có những loài cây trở thành người bạn thân thiết của người Việt (sau này có một số loài cây tự nhiên thành ra cây trồng) xuất hiện khá nhiều trong các CK TN: tre, lau, sậy, cỏ,… Ví dụ: (142) Tre ơi, tre ơi, tre cho bóng mát, ta ngồi ta hát, ta hát tre nghe [NL4, tr.175].
Từ ngữ chỉ cây thân gỗ: lim, thông, phượng, xoan, đa… Lí do các loài thực vật này xuất hiện với tần xuất thấp vì tương tác hay sự tiếp xúc của TN về nhóm sự vật này ít và do đây là cá loài thực vật sống nhiều trong rừng, mọc hoang và không xuất hiện nhiều trong vườn nhà nên số lượng từ ngữ chỉ loài thực vật này trong CK TN rất ít. Chỉ riêng trường hợp “cây phượng” và “hoa phượng” được nhắc tới nhiều nhất và gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau: phượng thắm, hoa phượng đỏ, hoa phượng đỏ thắm, cánh phượng hồng, cánh phượng thắm sân trường, cánh phượng hồng, dãy phượng đỏ tươi như đang đón chờ đoàn ta,… Ví dụ:
(143) Này hàng xoan xanh tươi tỏa bóng mát. Này dãy phi lao ngăn từng cơn gió cát [NL12, tr.78].
(144) Mạnh như cây đa. Yếu như cây sậy. Nhưng không phải lúc nào sậy cũng thua đa [NL6, tr.47].
3.2.3.2. Từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật
Nhóm các từ ngữ chỉ bộ phận thực vật có 105 từ ngữ chiếm xấp xỉ 4.83% gồm: cành, nhành, cánh, quả, hoa, nụ, chồi, rễ, thân, gai, mầm, hạt, lá, cánh hoa, cành hồng, thân xù xì, cái gai bưởi, gai hồng, cánh hoa phượng, cánh bèo, nụ hồng, cái gai bưởi, búp măng non, bông lúa trĩu, bông lúa non, bông hoa tươi hồng, chùm lá Trạng Nguyên, hai đóa hoa tươi, hai sợi rơm vàng, một đóa hoa tươi, triệu hạt lúa vàng, từng chiếc lá nhỏ, muôn vạn chồi xanh, hạt mồng tơi, hạt thóc, hạt dưa, vòm cây phượng vĩ,…
Các từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật ít xuất hiện ở dạng là các danh từ chung: lá, hoa, cành, mầm, chồi,… mà thường xuất hiện dưới mô hình cấu trúc phức: cánh hoa phượng, triệu hạt lúa, muôn vạn chồi xanh, hạt thóc,…
Các từ ngữ chỉ bộ phận thực vật khi xuất hiện ít biểu hiện tính cụ thể riêng của loài và mang đặc tính biểu trưng cụ thể về nét nghĩa. Các từ ngữ chỉ bộ phận này không thể tách khỏi ngữ cảnh chung được đề cập tới. Hay, các từ này chỉ có thể được hiểu đúng nghĩa gọi tên một thực vật nào đó khi được đặt trong ngữ cảnh.
Tuy nhiên, các đơn vị là ngữ gọi tên trong đó chứa các từ chỉ bộ phận của thực vật phần lớn thường là những ngữ kết hợp với các từ chỉ đơn vị: triệu bông hoa, triệu hạt lúa, một đóa hoa tươi,… Đây là điểm riêng khác của nhóm từ ngữ chỉ bộ phận của thực vật dùng để gọi sự vật. Cách gọi này thể hiện đặc trưng nét nghĩa “nhỏ bé” và thường “cộng hưởng” để làm nên đặc tính riêng của loài thực vật. Ví dụ:
(145) Cây xù xì cây lại có gai. Cái gai bưởi đụng nhằm thì chảy máu [NL4, tr.132].
(146) Hãy ngủ ngủ cho ngoan, ngoan như dòng nước ngọt nước ngọt quê hương cho lúa trên đồng sóng lúa mênh mông [NL8, tr.60]...
3.2.4. Từ ngữ chỉ đồ vật và các chi tiết của đồ vật
3.2.4.1. Từ ngữ chỉ đồ vật
Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các từ ngữ chỉ đồ vật: giầy, váy, áo, ba lô, mũ, áo ba lỗ, áo trắng, giầy, dép, sách, bút, vở, bảng, bi, đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe, chổi rơm, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo, đèn sao phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi,...
Khảo sát và phân loại phạm vi sử dụng và chức năng của đồ vật, các từ ngữ chỉ đồ vật trong CK tiếng Việt dành cho TN có thể được chia thành hai loại.
Bảng 3.6:
Các từ ngữ chỉ đồ vật theo phạm vi sử dụng
|
STT |
Phạm vi sử dụng |
Số lượng |
Tỷ lệ % |
Ví dụ |
|
1 |
Đồ vật trong gia đình
|
87 |
4.00 |
giầy, váy, áo, ba lô, mũ, giầy, dép, bi, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo, đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe, chổi rơm,... |
|
2 |
Đồ vật ngoài gia đình
|
157 |
7.22 |
sách, bút, vở, bảng, phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, thuyền, tàu, lưới, đò, chiêng, chuông,… |
a) Từ ngữ chỉ đồ vật trong gia đình
Các đồ vật trong phạm vi gia đình xuất hiện trong tất cả các hoạt động sinh hoạt của con người. Trên cơ sở tư liệu khảo sát, có thể phân loại các từ ngữ chỉ đồ vật trong phạm vi gia đình theo 3 nhóm sau:
- Đồ vật cá nhân phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người: giầy, váy, áo, ba lô, mũ…; Đồ chơi: bi, bóng, cúp, kèn, cờ, pháo,…; Đồ vật chung trong sinh hoạt: đũa, chổi, đèn, bàn, ghế, tủ, chuông, quạt, sàng, than, xe... Ví dụ:
(147) Hoa vào Nam ra Bắc theo bộ đội Trường Sơn trên ba lô đã vá, trên chiếc mũ đã sờn [NL6, tr.79].
(148) Lỳ hay chơi pháo, pháo tập tàng và rất mê [NL7, tr.61].
(149) Quả gì mà lăn lông lốc xin thưa rằng quả bóng [NL3, tr.45].
(150) Chúng ta đi rất oai hùng theo nhịp ca. Kèn thúc lên rồi thiếu niên tiền phong [NL11, tr.62].
(151) Tùng rinh rinh tùng rinh tùng rinh rinh. Đám rước đèn em dạo bước trên dòng kênh xanh [NL9, tr.65]
b) Từ ngữ chỉ đồ vật ngoài gia đình
- Các từ ngữ chỉ đồ vật dùng ngoài gia đình có thể phân loại thành 2 nhóm:
+ Đồ dùng học tập: sách, bút, vở, bảng, phấn, ghế, bảng, cây bút chì màu đỏ tươi, chiếc khăn quàng màu đỏ tươi, chiếc máy tính bảng của em, trang sách hồng, trang vở trắng, một cái túi xinh xinh, túi của bé… Các từ ngữ chỉ đồ dùng ngoài gia đình của TN luôn gắn với những đặc điểm về hình dáng, màu sắc và gắn với một tình cảm riêng khác. Bởi đó là những đồ vật gắn bó với các em khi đến trường - ngôi nhà thứ hai. Ở đó, các đồ vật trên vừa là công cụ nhưng vừa là “người bạn thân” của trẻ. Từ trong những chiếc cặp xinh xinh, những trang sách hồng tươi trẻ được học với bao mới lạ. Thế giới dường như thu nhỏ trong trang sách và bao điều thú vị từ lời cô dạy. Ví dụ:
(152) Em yêu trường em, với bao bạn thân và cô giáo hiền như yêu quê hương, cắp sách đến trường trong muôn vàn yêu thương. Nào bàn, nào ghế, nào sách, nào vở. Nào mực, nào bút, nào phấn, nào bảng. Cả tiếng chim vui trên cành cây cao [NL2, tr.43].
+ Đồ vật dùng trong nghề nghiệp: thuyền, tàu, lưới, đò, chiêng, chuông,…
Ví dụ:
(153) Cốc cốc cốc! Ai gọi đó? Nếu là thỏ cho xem tai. Nếu là nai cho xem gạc. Là lá la la la la la. Kìa chị gió đi đâu về mà vội thế chị gió ơi! Cốc cốc cốc xin mời vào cùng sửa soạn đón trăng bên hè. Rồi ngày mai khi ra biển quạt buồm lên thuyền lướt khơi [NL4, tr.170].
(154) Con đò chờ em bên sông. Khua mái chèo vẫy gọi ánh trăng [NL8, tr.148].
3.2.4.2. Từ ngữ chỉ các bộ phận của đồ vật
Những từ ngữ chỉ các chi tiết của đồ vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN thường được nhắc tới: cánh diều, cánh buồm, dây diều, lưỡi cần câu, trang sách, trang vở, sợi rơm mùa, ngọn nến, ống nghe, tấm áo, ánh đuốc thiêng của Lê Văn Tám, những tà áo trắng,…Có 59 từ ngữ chỉ các chi tiết của đồ dùng, 2.71%. Ví dụ:
(155) Em đón cái chữ vào tay thương nụ hoa thương như mầm cây mọc trên trang vở [9, tr.69].
(156) Vạt áo thân thương. Có đổi màu qua mưa nắng [NL12, tr.113].
3.2.5. Từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng
Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng có thể chia thành hai loại. Kết quả cụ thể:
Bảng 3.7:
Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng
STT | Hiện tượng và sự vật | Số lượng | Tỷ lệ % | Ví dụ |
1 | Hiện tượng tự nhiên
| 411 | 18.91 | sông, suối, núi, đồi, đất, đá, nước, nắng, mưa, bão, gió, sương, trăng, chị gió, ông mặt trời, ông mặt trời lóng lánh, bầu trời xanh xanh, bờ biển Đông bao la,… |
2 | Sự vật trừu tượng
| 144 | 6.62 | giấc mơ Phù Đổng, niềm khát vọng, những mộng mơ tuổi hồng, hòa bình tươi vui, tuổi mộng mơ, những khung trời tuổi thơ, những nhọc nhằn gian khó, thời thơ ấu, dòng sông tuổi thơ,… |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét