Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong
ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong lịch sử ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu đã luôn dành chú ý sâu sắc tới các từ ngữ - những đơn vị mang chức năng chính là gọi tên (hoặc biểu thị quan hệ) và dùng để kiến tạo câu, đồng thời phản ánh lối tri nhận và cách ứng xử của cộng đồng người nói qua ý nghĩa của chúng. Trong nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa, ngôn ngữ trong tác phẩm nghệ thuật thường rất được quan tâm ở các bình diện hình thức, ngữ nghĩa và phong cách nghệ thuật. Từ ngữ trong các ca khúc (CK) cũng được xem là đối tượng trong mối quan tâm đặc biệt này. 1.2. Âm nhạc là một trong những loại hình nghệ thuật có vai trò rất lớn trong việc giáo dục tri thức đời sống và nhân cách cho thiếu nhi (TN), mang đến sự cảm nhận, tâm lý tự tin và cởi mở, khả năng nhận cảm, trí tưởng tượng, tình yêu, niềm vui và sự cảm nhận tinh tế về cái đẹp, cái cao cả và cả cái xấu, cái ác… Ở Việt Nam, các CK tiếng Việt dành cho TN (gọi tắt là “ca khúc thiếu nhi”) được coi như một phương tiện giáo dục hiệu quả trong nhà trường, đặc biệt là ở bậc Tiểu học và Trung học cơ sở. Một phần của sự hấp dẫn trong các CK là ở ca từ của các tác phẩm. Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong các CK tiếng Việt dành cho TN là một hướng nghiên cứu mang nhiều ý nghĩa, không chỉ từ phương diện nghệ thuật âm nhạc, tâm lý học, mà đặc biệt hữu ích đối với Ngôn ngữ học trong những nghiên cứu liên ngành với Giáo dục học. 1.3. Nghiên cứu các CK tiếng Việt đã được thực hiện trong nhiều công trình với những hướng tìm hiểu khác nhau. Tuy vậy, việc tìm hiểu chuyên biệt về đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN vẫn chưa có. Nghiên cứu các từ ngữ chỉ sự vật trong các CK này có thể giúp hiểu rõ hơn về ca từ trong văn bản nghệ thuật, về cách gọi các sự vật trong văn bản, có thể gợi ý hướng để hiểu sâu hơn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Xuất phát từ những lý do trên, “Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi” được chọn làm đề tài nghiên cứu trong luận án. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN trên các phương diện: cấu tạo, cách gọi sự vật (còn gọi là “danh pháp” hay “chỉ sự vật”), ngữ nghĩa, vai trò giáo dục. Từ đó, giúp hiểu rõ và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng từ ngữ nói trên trong CK tiếng Việt dành cho TN Việt Nam hiện nay.2.2. Nhiệm vụ - Hệ thống hóa một số khái niệm lý thuyết về: cơ sở ngôn ngữ học (từ vựng - ngữ nghĩa, trường nghĩa, phong cách học...) và một số vấn đề tâm lý học, giáo dục học... làm cơ sở lý luận để triển khai đề tài. - Khảo sát, thống kê, phân loại,… các từ ngữ chỉ sự vật trong CK dành cho thiếu nhi. - Miêu tả đặc điểm của các từ ngữ (chỉ sự vật) về đặc điểm cấu tạo, cách gọi sự vật và đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật, trong các CK dành cho thiếu nhi. - Tìm hiểu vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong CK dành cho thiếu nhi. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu các từ ngữ chỉ sự vật (con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng...) trong CK tiếng Việt dành cho TN từ năm 1945 đến nay, từ các phương diện đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa và cách gọi sự vật. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung nghiên cứu: luận án chỉ nghiên cứu các từ ngữ chỉ sự vật trong CK TN về ba phương diện: + Thứ nhất, đặc điểm cấu tạo từ ngữ và cách sử dụng từ ngữ để gọi sự vật; + Thứ hai, đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật; + Thứ ba, vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong CK thiếu nhi. - Phạm vi khảo sát: những CK tiêu biểu được sáng tác từ 1945 đến nay viết bằng tiếng Việt, dành cho thiếu nhi. Cụ thể là: Tổng tập bài hát TN Việt Nam bao gồm: Giai điệu thần tiên (các tập 1,2,3,4, Hội Âm nhạc Hà Nội, Nxb GD Việt Nam, 2013; 50 bài hát nhi đồng được yêu thích, Nxb Âm nhạc; Trẻ thơ hát, Cù Minh Nhật tuyển soạn, Nxb Âm nhạc)… Tổng cộng là 736 bài. Các tuyển tập bài hát trên được chọn làm đối tượng nghiên cứu, bởi đây là các công trình sưu tập tương đối đầy đủ các sáng tác TN từ năm 1945 đến nay và đã được Hội đồng Âm nhạc thẩm định. Đồng thời, lượng bài hát trong các tuyển tập sau khi được lựa chọn với tiêu chí phù hợp với lứa tuổi TN (từ mầm non đến bậc THCS). 4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp nghiên cứu 4.1.1. Phương pháp miêu tả Phương pháp miêu tả được dùng để phân tích những đặc tính của từ ngữ. Từ đó, tổng hợp thành các quy luật chung của các từ ngữ chỉ sự vật về mặt gọi tên, ngữ nghĩa và cách sử dụng. 4.1.2. Phương pháp phân tích nghĩa Phương pháp phân tích nghĩa được sử dụng chủ yếu căn cứ vào mối quan hệ giữa các từ ngữ, ngữ cảnh trong văn bản và hoàn cảnh sử dụng. Phương pháp này cũng được sử dụng khi phân tích sự biến đổi nghĩa của từ gắn với sự liên tưởng, nghĩa bề mặt ngôn từ với nghĩa biểu trưng. 4.2. Thủ pháp nghiên cứu 4.2.1. Thủ pháp hệ thống hóa Thủ pháp hệ thống hóa được sử dụng để xác định các biểu thức ngôn ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi. 4.2.2. Thủ pháp thống kê, phân loại Thủ pháp thống kê, phân loại được dùng để xác định các loại đối tượng và quy luật xuất hiện của từng loại (trong tương quan với các loại khác). Ngoài ra, luận án còn theo hướng tiếp cận liên ngành: tham khảo các tri thức của nhiều ngành khoa học khác: Âm nhạc, Văn hóa học, Tâm lý học, Giáo dục học..., khi phân tích ngữ liệu và lý giải các sự kiện trong luận án. 5. Đóng góp của luận án: 5.1. Về lý luận Luận án là công trình nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống về đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật (cấu tạo, ngữ nghĩa và cách gọi sự vật) trong một thể loại nhất định: ca khúc. Từ đó, góp phần làm rõ thêm mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy được thể hiện qua đặc điểm của từ ngữ trong văn bản nghệ thuật. Những kết quả của luận án có thể giúp ích cho Từ vựng học, Phong cách học và khuyến khích hướng nghiên cứu liên ngành. 5.2. Về thực tiễn Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho việc biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về đặc điểm tiếng Việt trong phong cách nghệ thuật; là lời gợi ý lựa chọn và giải thích từ ngữ cho các tác giả trong sáng tác và giáo viên trong dạy - học các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi. 6. Bố cục của luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi Chương 4: Vai trò giáo dục của việc sử dụng các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Những nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt Xuất phát từ việc vận dụng lí thuyết hệ thống - cấu trúc của F. de. Saussure, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay hướng sự quan tâm của mình sang hướng nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các đơn vị ngôn ngữ gắn với một đối tượng cụ thể. Theo đó, những nghiên cứu thuộc hướng đi này một mặt sẽ làm sáng tỏ cấu trúc nội tại và các mối quan hệ của các đơn vị ngôn ngữ trên phạm vi ngữ liệu cụ thể; mặt khác sẽ là minh chứng để khẳng định hệ thống lý luận ngôn ngữ. Các từ ngữ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt cũng được tìm hiểu trên nhiều phạm vi tư liệu. Tìm hiểu các từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Qua quá trình thu thập tư liệu liên quan đến từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt, luận án nhận thấy có hai hướng tìm hiểu cơ bản: thứ nhất, nghiên cứu về một trường hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt để chỉ ra đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ; thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó. Hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu về một trường từ hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt được tiến hành theo nhiều lớp từ ngữ dựa vào đặc trưng của các tiểu nhóm từ ngữ. Nói cách khác, hướng nghiên cứu này gồm các nghiên cứu về các tiểu trường khác nhau như: nghiên cứu về từ ngữ chỉ người, từ ngữ chỉ động vật, từ ngữ chỉ thực vật, từ ngữ chỉ đồ vật,… Để tiến hành tìm hiểu, các nhà nghiên cứu đã dựa trên ngữ liệu là khảo sát trong kho từ vựng tiếng Việt và thông qua các tác phẩm văn chương. - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ người là nội dung nghiên cứu được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu như: tác giả Phạm Tất Thắng [103] đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm của lớp từ tên riêng chỉ người (chính danh) trong tiếng Việt. Dựa vào một số khái niệm cơ bản của danh xưng học và vấn đề nghiên cứu danh xưng ở Việt Nam, tác giả đã chỉ ra: tên chính danh người Việt được cấu tạo dưới hình thức một tổ hợp định danh; thành tố và danh tố là những tổ hợp được dùng để định danh tên người. Từ đó, tác giả phân loại và miêu tả đặc điểm cấu tạo của 5 kiểu tên gọi có độ dài ứng với từ 2 đến 6 thành tố và ứng với 5 kiểu tên gọi đó có 13 khuôn cấu trúc khác nhau. Với tư cách là đơn vị định danh tên người Việt, chính danh được là đơn vị có nghĩa. Ý nghĩa của tên người thường mang tính chất biểu trưng hay giá trị biểu trưng. Tìm hiểu chính danh trong quá trình hoạt động, tác giả nhận thấy: chính danh người Việt được sử dụng một cách linh hoạt hơn so với các hiện tượng ngôn ngữ khác cùng loại. Tác giả Nguyễn Đức Tồn [114], [115], [117] đã hướng sự quan tâm của mình về đối tượng này ở các nội dung như: đặc điểm danh học và ngữ nghĩa của nhóm từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” hay tên gọi bộ phận cơ thể trong tiếng Việt với việc biểu trưng tâm lý - tình cảm,… Bên cạnh việc chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa tác giả còn làm rõ đặc trưng văn hóa tư duy của người Việt. Tác giả Phạm Thị Hòa [55] nghiên cứu về hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người, tập trung vào các động từ nhiều nghĩa có nghĩa nói năng. Tác giả đã xác định các nghĩa khác nhau của từ và phân tích tìm ra hiện tượng nhiều nghĩa của động từ nói năng. Đối với các động từ nhiều nghĩa thì cơ chế chuyển nghĩa chủ yếu là hoán dụ, chẳng hạn: nói, bảo, báo, kể,…; đối với động từ vật lý khi chuyển sang nghĩa nói năng, đặc trưng chung là cơ chế ẩn dụ. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền [59] nghiên cứu về trường từ vựng chỉ con người Tây Nguyên trong sáng tác của nhà văn Nguyên Ngọc. Thông qua các lớp từ ngữ chỉ người khảo sát, tác giả lần lượt lý giải những đặc điểm ý nghĩa gắn với đặc trưng văn hóa tư duy của con người Tây Nguyên. Chọn tư liệu là tục ngữ Việt, tác giả Đỗ Thị Kim Liên [78] tìm hiểu về những từ ngữ thể hiện quan niệm về nữ giới. Thông qua các kết quả nghiên cứu, hình tượng người phụ nữ Việt Nam mang đặc trưng thời đại hiện lên một cách chi tiết và chân thực. - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật, thực vật là một trong những nội dung được quan tâm đặc biệt. Minh chứng cho điều này là có rất nhiều các công trình nghiên cứu ra đời. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật có thể kể đến các tác giả như: Nguyễn Bích Hà [50], Hoàng Trọng Canh [9] [10], Nguyễn Văn Nở [93], Đỗ Thị Hòa [62], Trịnh Thị Cẩm Lan [72], Triều Nguyên [91], Nguyễn Thị Bạch Dương [48]... Tác giả Hoàng Trọng Canh khi khảo sát lớp từ ngữ chỉ nghề biển đã đưa ra một số tiêu chí để nhận diện các lớp từ chỉ nghề biển, trong đó có các từ chỉ loài vật sống ở biển. Từ kết quả khảo sát, phân loại và phân tích 1911 từ nghề biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, tác giả chỉ ra đặc điểm cấu tạo của lớp từ này trong phương ngữ và thông qua đó khẳng định thế giới thực tại trong con mắt của người Nghệ Tĩnh (qua chính tên gọi và cách gọi tên). Tác giả Nguyễn Văn Nở [93] trong công trình “Biểu trưng trong tục ngữ người Việt” đã tìm ra cơ chế tạo nghĩa biểu trưng và chỉ ra phần lớn hình ảnh động vật được dùng với nghĩa biểu trưng. Cơ chế để tạo nên nghĩa biểu trưng này là dựa vào mối quan hệ liên tưởng tương đồng về đặc điểm hay thuộc tính của chúng. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật trong truyện đồng thoại, tác giả Nguyễn Thị Bạch Dương [48] dựa trên 812 truyện đồng thoại Việt Nam và tiến hành thống kê, phân loại, xác lập và mô tả đặc điểm của các tiểu trường thuộc trường từ vựng động vật. Từ việc phân tích những đặc điểm cơ bản của trường từ vựng ĐV, tác giả đã chỉ ra những giá trị nổi bật của trường từ vựng trong truyện đồng thoại về các phương diện phát triển ngôn ngữ, nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ đối với trẻ em. - Nghiên cứu về từ ngữ chỉ thực vật trong tiếng Việt có thể kể đến các tác giả như: Cao Thị Thu [111], Bùi Minh Toán [112], [113], Đặng Thị Hảo Tâm [99],... Tác giả Cao Thị Thu [111] dựa vào “Từ điển tiếng Việt” đã tiến hành khảo sát 657 tên gọi thực vật phổ biến, phân tích các đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ này. Nghiên cứu nhóm từ ngữ chỉ thực vật trong tác phẩm văn học, tác giả Bùi Minh Toán [111] đã khảo sát 58 từ thuộc trường từ vựng chỉ cỏ cây trong truyện Kiều và phân loại thành 3 tiểu trường: tiểu trường tên gọi khái quát của cỏ cây, tiểu trường tên gọi cụ thể các loài cỏ cây và tiểu trường tên gọi các bộ phận của cỏ cây. Dựa trên kết quả phân tích, nhận định, tác giả nhận thấy các từ thuộc ba tiểu trường trên đã tạo nên những tín hiệu thẩm mỹ sâu sắc và qua đó “có thể nhận thấy một đặc điểm trong cách tri nhận và cảm thụ của người Việt Nam thông qua cỏ cây để thể hiện con người, hay nhìn nhận con người như cỏ cây, là cỏ cây. Điều này có sự thống nhất với tín hiệu cỏ cây ở nhiều lĩnh vực khác trong kho tàng văn hóa dân tộc”. Cũng dựa trên tư liệu là tác phẩm văn học, tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [94] đã vận dụng lý thuyết trường nghĩa để nhận diện, miêu tả các tiểu trường TV trong thơ Nôm đường luật. Với việc xác lập các tiêu chí phân loại trường nghĩa như đặc điểm sinh học của thực vật (đặc điểm tự nhiên) và đặc điểm tâm lý - văn hóa, tác giả đã phân loại và xác lập được 5 tiểu trường thuộc trường từ vựng ngữ nghĩa TV, đồng thời nhận diện các hiện tượng chuyển nghĩa trong từng tiểu loại. Nghiên cứu về Tổng tập văn học thơ Nôm Việt Nam. - Nghiên cứu các từ ngữ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội cũng là nội dung thu hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như: Nguyễn Văn An [5], Nguyễn Phương Anh [6], Hoàng Trọng Canh [9], Lê Thị Hà [51], Chu Thị Hảo [56], Trần Thị Mai [84], Trịnh Sâm [98], Đặng Thị Hảo Tâm [100], Hồ Xuân Tuyên [124], Đinh Thị Trang [125],... Nghiên cứu về từ ngữ chỉ nghề Gốm - Thổ Hà, tác giả Nguyễn Văn An [5] đã tiến hành thống kê, phân loại và phân tích đặc điểm định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ nghề gốm. Từ đó, tác giả đã chỉ ra nét đặc trưng văn hóa của người dân vùng Kinh Bắc. Tác giả Hoàng Trọng Canh [9] lại hướng tới việc phân tích đặc điểm định danh và ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ công cụ phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của người Nghệ - Tĩnh. Tác giả Đặng Thị Hảo Tâm [100] khi tìm hiểu về trường từ vựng - ngữ nghĩa món ăn trên cơ sở thống kê, phân loại đã chỉ ra các đặc điểm cấu tạo, đặc điểm ngữ nghĩa của tên gọi các món ăn,... từ đó rút ra nhận định về ý niệm con người. Hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó. Có thể kể đến các tác giả thuộc hướng nghiên cứu này như: Chănphômavông [14], Nguyễn Thúy Khanh [70], Phan Văn Quế [96], Nguyễn Thanh Tùng [123], Nguyễn Thế Truyền [126], Nguyễn Ngọc Vũ [130],… Tác giả Nguyễn Thúy Khanh [70] đã tiến hành khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Việt so sánh với nhóm từ chỉ tên gọi động vật trong tiếng Nga để tìm ra nét đặc trưng văn hóa tư duy của mỗi dân tộc. Từ kết quả phân lập và phân loại 623 tên gọi động vật trong tiếng Việt, tác giả đã lần lượt đi sâu phân tích đặc điểm định danh, đặc điểm ngữ nghĩa của các từ, cấu trúc chung của toàn trường, những đặc điểm của quá trình chuyển nghĩa và ý nghĩa biểu trưng trong tiếng Việt (có so sánh với tiếng Nga). Từ các kết quả phân tích, tác giả đưa ta những nhận định về sự tương đồng giữa các đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh con vật cũng chính là đặc trưng ngữ nghĩa của các từ chỉ động vật. Chúng đều có xu hướng ưa dùng cách chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ. Sự khác biệt trong cách định danh giữa tiếng Việt và tiếng Nga là ở chỗ định hướng tư duy phạm trù ở người Nga mạnh hơn. Tác giả Nguyễn Thế Truyền [126] đã có những nghiên cứu trong việc tìm hiểu điểm khác biệt về định danh sự vật giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Tác giả đã khảo sát 652 tên gọi các loài chim trong tiếng Hán và 318 tên gọi các loài chim trong tiếng Việt; phân tích những điểm giống và khác nhau về đặc điểm cấu trúc định danh của tên gọi các loài chim trong hai ngôn ngữ. Từ những phân tích cụ thể, tác giả đưa ra nhận xét: những tên gọi này chủ yếu cấu tạo theo phương thức ghép chính phụ, bao gồm yếu tố chỉ loại và yếu tố khu biệt. Số lượng yếu tố khu biệt rất đa dạng (14 yếu tố) như đặc trưng màu sắc cơ thể, hình thức/ hình dạng, môi trường sống, tiếng kêu/ hót... đã thể hiện sâu sắc đặc trưng văn hóa dân tộc của mỗi nước. Cùng quan tâm đến với so sánh từ ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt, tác giả Nguyễn Ngọc Vũ [130] lại hướng đến đối tượng là từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ và ca dao. Tác giả đã xác lập 243 từ ngữ chỉ bộ phận người trong tiếng Hán và 301 từ ngữ chỉ bộ phận người trong tiếng Việt. Từ việc phân tích và đưa ra các mô hình ánh xạ ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm, tác giả đưa ra sơ đồ hình ảnh và sơ đồ lan tỏa của từ ngữ xuất hiện nhiều nhất; đồng thời lý giải những nét đặc trưng văn hóa - dân tộc của người Hán và người Việt. Như vậy, các công trình nghiên cứu về trường từ vựng chỉ sự vật và định danh sự vật trong tiếng Việt đã được khai thác ở nhiều nội dung khác nhau từ phương diện lý thuyết thuần túy cho đến nguồn ngữ liệu thực tiễn. Những nghiên cứu này chủ yếu đi theo hướng tìm hiểu nghĩa biểu trưng của tên gọi sự vật hoặc tìm hiểu đặc điểm tri nhận của con người thông qua một số trường cụ thể. Vì vậy, khi tìm hiểu đặc điểm tri nhận của một dân tộc, những hình tượng mang tính biểu trưng cho tư duy và văn hóa của dân tộc được các nhà nghiên cứu thường phân tích qua những biểu trưng sự vật trong các tác phẩm văn học. 1.1.2. Những nghiên cứu về ngôn ngữ trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 1.1.2.1. Nghiên cứu về ngôn ngữ trong ca khúc Trước tiên, phải kể đến công trình của Dương Viết Á: Ca từ trong âm nhạc Việt Nam (2005). Công trình được đánh giá là “bản tổng kết về ca từ Việt Nam về các mối quan hệ giữa ca từ với âm nhạc” [1, tr.8]. Trong công trình này tác giả Dương Viết Á từ việc khẳng định ca từ “bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học trong âm nhạc bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi tác phẩm, tiêu đề cho đến cái lớn nhất: kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch,… và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc” [1, tr.13], đã xác định khái niệm lời ca và quan hệ giữa loại hình ngôn ngữ và lời ca. Có hàng loạt các công trình nghiên cứu về ca từ nhạc Trịnh Công Sơn: Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Thu Hiền, Đại học Sư phạm Hà Nội (2007) với đề tài Quan niệm nhân sinh trong ca từ Trịnh Công Sơn; Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đại học Sư phạm Hà Nội (2008) với đề tài Hệ thống biểu tượng trong ca từ Trịnh Công Sơn; Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hàn Thị Thu Hường (2010), Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên với nội dung nghiên cứu là Phương thức so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn… Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích cụ thể, rõ ràng và đưa ra các minh chứng khẳng định vai trò, tầm quan trọng của ca từ trong sáng tác nghệ thuật. Trong công trình “Đặc điểm ngôn ngữ của ca từ trong diễn xướng dân gian” (2015), tác giả Phạm Thị Mai Thu dựa trên kết quả nghiên cứu về đặc điểm từ vựng - ngữ nghĩa, cách sử dụng từ ngữ trong loại hình diễn xướng dân gian hát chầu văn đã chỉ ra sự phong phú, đặc sắc của các bản chầu văn nói riêng và đóng góp vào việc tìm hiểu ca từ nói chung. Đồng thời, công trình còn cung cấp cho các tác giả sáng tác Chầu văn có vốn tri thức để xây dựng ca từ. Điều đó đã góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong loại hình truyền thống này [111]. Tác giả Bùi Vĩnh Phúc trong “Trịnh Công Sơn - Ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật” đã nhận định: Không ai nghe nhạc Trịnh Công Sơn mà lại không thấy những nét kỳ ảo trong ngôn ngữ của người nhạc sĩ. Những nét kỳ ảo trong thế giới của anh đã khiến cho cái thế giới ấy trở nên có khi đẹp đẽ, lung linh nhiều màu sắc, có khi nhòe nhạt thấp thoáng những nét nghệ thuật hơn. Trong thế giới của anh ngôn ngữ làm ra tất cả, ngôn ngữ sinh ra thế giới... [99]. Tóm lại, có rất nhiều tác giả với các công trình nghiên cứu về ca từ ở nhiều khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên biệt về đặc điểm của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca từ (ca khúc TN) hầu như chưa có. Vì thế, có thể xem đề tài của luận án là sự kế tục những kết quả sưu tầm và tuyển chọn, nghiên cứu trước đây, đồng thời đi vào một hướng nghiên cứu hứa hẹn có thể có những kết quả mới. 1.1.2.2. Nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi Tác giả Đỗ Thị Minh Chính trong luận văn Thạc sĩ “Từ đồng dao đến những bài hát - đồng dao cho tuổi thơ trong nhà trường ngày nay” [25] đã nhận xét: Trong lĩnh vực âm nhạc, nhiều nhạc sĩ đã viết nhạc, viết lời dựa trên những bài đồng dao truyền thống nên đã gợi lại được những ký ức xưa cũ, những điệu hồn dân tộc, từ đó khơi gợi nguồn mạch dân tộc đang dần ngủ quên. Chính những bài hát được cách điệu ngôn ngữ được sáng tạo nghệ thuật đã mở ra cho TN một thế giới nhiều sắc màu, trong đó có sự sẻ chia cảm xúc điều mà ngôn ngữ thông thường không dễ truyền đạt. Đó là những lời ca với âm điệu tha thiết như “Chị yêu em bé: Chị ru em ngủ em nằm cho ngoan. Mẹ đi công tác cha vào cơ quan. Lời ru ngọt ngào à ơi à ơi ngủ ngon em nhé, em ngủ cho ngoan…” [NL2, tr.175] hay “Ơn nghĩa sinh thành” được tác giả viết đượm chất giáo dục nhưng lại bằng ca từ nhẹ nhàng, nhạc điệu đi vào lòng người: “Một lòng thờ mẹ, kính cha. Chăm ngoan, học tốt mãi là con ngoan. Một lòng thờ mẹ kính cha. Một đời hiếu nghĩa con là con ngoan. À í a à ơi…” [NL2, tr.176]. Tác giả cũng nhận xét: Ngôn ngữ trong đồng dao được tác giả miêu tả là thứ ngôn ngữ mộc mạc, thuần khiết như chính tâm hồn trẻ nhỏ. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là ngôn ngữ nghệ thật - thứ ngôn ngữ đã được gọt giũa để đạt được tính thẩm mỹ. Ngôn ngữ ca dao nói chung giàu màu sắc, giàu hình ảnh, mượt mà và thấm đượm cảm xúc với những đặc trưng đậm chất khẩu ngữ, gần với ngôn ngữ tự nhiên. Vì là thể loại phục vụ con trẻ, ngôn ngữ đồng dao không cầu kỳ, chỉ cần ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ, thiên về cách nói chuyện hàng ngày, gần gũi với các sinh hoạt của trẻ nhỏ: “Bà Ba béo/ Bán bánh bèo/ Bị bắt bỏ bóp/ Ba bốn bận” [NL1, tr.284]; “Đi cầu đi quán/ Đi bán mực tươi/ Mua rươi về nấu/ Rồi nấu canh sâu/ Kết cấu rất ngon” [NL3, tr.89]. Các nghiên cứu khác như: Lê Ngọc Hậu (2002), Ca từ trong ca khúc cho giới trẻ ở nước ta hiện nay, luận văn thạc sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội [59]; Nguyễn Thị Kim Soa (2011), Tìm hiểu một số ca khúc Việt Nam sử dụng chất liệu dân ca Nghệ Tình, luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương [103]… Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, có thể thấy: Việc nghiên cứu về ngôn ngữ trong CK mới chỉ xuất hiện trong các giáo trình, công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực âm nhạc. Phần ngôn ngữ của CK mới chỉ được xem xét như một trong những yếu tố đáng lưu ý. Một số luận văn, luận án cũng đã đề cập đến vấn đề này, nhưng vẫn chỉ coi đó là một trong những nhân tố tác động đến văn hóa. Việc tìm hiểu ngôn ngữ trong CK tiếng Việt là vấn đề còn bỏ ngỏ và cần được sự tìm hiểu chuyên sâu hơn. Nhìn lại chặng đường âm nhạc TN Việt Nam từ những ngày đầu tân nhạc Việt Nam cho đến Cách mạng Tháng Tám và về sau này, có thể thấy nhiều nhạc sĩ viết cho TN và đã có những đóng góp đáng kể cho âm nhạc TN Việt Nam. Đó là những bài ca nổi tiếng: Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng, Hành khúc Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (Phong Nhã), Reo vang bình minh, Thiếu nhi thế giới liên hoan (Lưu Hữu Phước), Chiếc đèn ông sao, Cánh én tuổi thơ (Phạm Tuyên... Số lượng các CK viết cho TN là rất lớn nhưng ca từ chưa thực sự được quan tâm. Đặc biệt, việc nghiên cứu đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN là vấn đề còn bỏ ngỏ. Vì vậy, thực hiện đề tài “Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi” có thể xem là mới và mang tính thời sự. 1.2. Cơ sở lý luận 1.2.1. Cơ sở ngôn ngữ học 1.2.1.1. Từ và ngữ a) Từ Từ trong tiếng Việt cũng giống như từ trong nhiều ngôn ngữ khác là đơn vị cơ bản và tồn tại sẵn có trong ngôn ngữ. Trong hệ thống các đơn vị của ngôn ngữ, từ được xem là đơn vị giữ vai trò trung tâm bởi đơn vị này có mối quan hệ rất mật thiết với các đơn vị khác trong cùng hệ thống,… Xuất phát từ mục đích, tiêu chí, phương diện khác nhau, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về từ.Tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật và Nguyễn Minh Thuyết trong công trình “Dẫn luận ngôn ngữ học” quan niệm “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về hình thức và ý nghĩa” [40, tr.61]. Tác giả Đỗ Hữu Châu trong công trình “Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt” đã nhận định: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến về hình thức ngữ âm theo các quan hệ hình thái học (như quan hệ về số, về giống,…) và cú pháp trong câu, nằm trong một kiểu cấu tạo nhất định, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, ứng với những nghĩa nhất định, sẵn có đối với mọi thành viên của xã hội Việt Nam, lớn nhất trong hệ thống tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [17, tr.16]. Qua những quan niệm khác nhau về từ nói trên cho thấy quan niệm về từ chưa có sự thống nhất tuy nhiên các tác giả đều có chung nhận định về một số đặc điểm cơ bản của từ tiếng Việt như sau: Thứ nhất, đó là tính bất biến về hình thức ngữ âm của từ tiếng Việt. Các thành phần trong từ (thành phần ngữ âm, thành phần ngữ pháp, thành phần cấu tạo, thành phần ý nghĩa) không độc lập đối lập nhau mà quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau thành một thể gọi là từ. Thứ hai, trong các thành phần của từ - trừ thành phần ngữ âm - không phải riêng của từ thì các thành phần như: cấu tạo, ngữ pháp và ý nghĩa xuất hiện trong từ này cũng như có thể xuất hiện trong một số từ khác. Hay, các thành phần cấu tạo, ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ có tính đồng loạt chứ không phải có tính riêng biệt. Ví dụ: từ xe hơi cũng có thành phần cấu tạo chung với các từ xe đạp, xe gấu, xe ô tô, xe tăng,… hay từ chim Câu có các thành phần cấu tạo chung với các từ chim Chích, chim Sâu, chim Chèo Bẻo, chim Sẻ,… Có thể chia sẻ quan niệm về từ của tác giả Đỗ Hữu Châu nói trên, lấy đó làm cơ sở tìm hiểu đối tượng này trong luận án. - Từ xét về cấu tạo: Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ” [17, tr.26], để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt của ngôn ngữ. Các yếu tố và hình thức cấu tạo từ gồm: yếu tố cấu tạo từ, đơn vị cấu tạo từ, phương thức tạo từ. Yếu tố cấu tạo từ là “những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo các từ theo phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [19, tr.27]. Phương thức cấu tạo từ “là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ” [19, tr.27]. Tiếng Việt sử dụng ba hình thức tạo từ: từ hóa hình vị, ghép hình vị và láy hình vị. Từ hóa hình vị là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó. Chẳng hạn: những từ như: ông, bà, chị, nhà, xe, áo, hoa, trời, mây,… là những từ hình thành do từ hóa các hình vị ông, bà, chị, nhà, xe, áo, hoa, trời, mây,… Ghép hình vị là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới. Chẳng hạn: phương thức ghép tác động vào các hình vị xe và đạp cho từ xe đạp,… Láy hình vị là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh. Chẳng hạn, phương thức láy tác động vào hình vị đỏ cho ta hình vị láy đo làm thành từ đo đỏ. Các kiểu từ xét theo cấu tạo gồm: từ đơn, từ ghép và từ láy. + “Từ đơn là những từ một hình vị. Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [17, tr.39]. Căn cứ vào số lượng âm tiết sẽ có (từ đơn đơn âm và từ đơn đa âm) [21, tr.46]. Từ đơn đơn âm như: ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, thầy, cô, mèo, chuột, trâu, hổ, hoa, lá, lúa, khoai, bút, vở, phấn, xe, nhà, trường, sông, núi, gió, mưa, Bắc, Nam, rồng, tiên,… Từ đơn đa âm như: ô - tô, Xu - ka, Đô - rê - mon, Nô - bi - ta, ti - vi, wu - shu, ghi - ta, rô - bốt,… + Từ ghép là những từ được cấu tạo theo phương thức ghép, “được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [17, tr.54]. Các loại từ ghép chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loại gồm: Từ ghép phân nghĩa “là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật, hoạt động, tính chất) và một hình vị có tác dụng phân loại lớn đó thành những loại nhỏ hơn cùng những loại độc lập đối với nhau, và độc lập với loại lớn. Các từ ghép phân nghĩa lập thành những hệ thống gồm một số từ thống nhất với nhau nhờ hình vị chỉ loại lớn” [17, tr.56]. Ví dụ: chim Sâu, chim Chích chòe, chim Sẻ, cá Rô, cá Cờ, xe đạp, đèn đỏ, đèn đường, đèn phi cơ, Sao Kim, bút mực, nón lá, tiên nữ,… Từ ghép hợp nghĩa “là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Các từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện tượng, tính chất,…) nhỏ hơn, trái lại chúng biểu thị những loại rộng hơn, lớn hơn, bao trùm hơn so với các loại từng hình vị tách riêng” [19, tr.59]. Ví dụ: cháu con, bố mẹ, thầy cô, trâu bò, cỏ hoa, đất trời, biển núi, mưa gió, ngày đêm, phút giây, ngày tháng, bão giông, phấn son, Nam Bắc, làng xóm,… + Từ láy “là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (…) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [17, tr.40]. Ví dụ: thích thú, mượt mà, đủng đỉnh, lom khom, lững thững,… - Từ xét về mặt từ loại: Từ loại chính là lớp từ được phân chia ra trong một ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của chúng. Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, từ loại tiếng Việt gồm 9 loại: danh từ, vị từ, quán từ, lượng từ, đại từ, liên từ, giới từ, trợ từ, thán từ. Trong đó: danh từ: “là những biểu thị sự vật, hiện tượng và khái niệm” [41, tr.532]. Danh từ được chia thành danh từ chung và danh từ riêng. Danh từ chung lại được chia thành danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp. Danh từ tổng hợp là những danh từ “chỉ gộp một tổng thể sự vật, chất liệu có đặc điểm chung nào đó” [92, tr.40]. Chẳng hạn: ông bà, thầy cô, bố mẹ, nhà cửa, núi sông, nắng mưa, giày dép, mũ nón, xe cộ, tre nứa, cá tôm,… Danh từ không tổng hợp gồm “danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ sự vật, danh từ chỉ chất liệu và danh từ chỉ sự vật trừu tượng” [92, tr.41]. Chẳng hạn: cái, con, chiếc, tờ, tấm, cục, hòn, thầy, cô, em, chị, cá, tôm, lúa, phượng, bút, sách, mây, trời, đất, đá, nước, bùn, vôi, hi vọng, niềm tin, tâm hồn, tự do,… b) Ngữ Xét theo quan hệ của các đơn vị trong cụm từ, Diệp Quang Ban chia cụm từ thành ba loại: cụm từ tự do, cụm từ cố định và ngữ (cụm từ nửa cố định). Theo tác giả Diệp Quang Ban, cụm từ tự do là “những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này” [7, tr.6]. Ví dụ: sẽ học tốt hơn, đừng nói chuyện nữa… Cụm từ cố định là “những kiến trúc cho sẵn gồm hai từ trở lên, có tính bền vững về từ vựng và ngữ pháp” [7, tr.6]. Ví dụ: cưỡi ngựa xem hoa, nước đổ lá khoai,… Như vậy, ngữ là một trong ba tổ hợp từ thuộc cụm từ - đơn vị lớn hơn từ. Khi xét các quan hệ giữa các bộ phận trong cụm từ, ngữ là tổ hợp từ thường có quan hệ chính phụ. Tức là, trong ngữ từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính. Các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là thành tố phụ. Quan hệ của ngữ khác với quan hệ của các tổ hợp từ khác cũng thuộc cụm từ như tổ hợp từ có quan hệ bình đẳng, tổ hợp từ có quan hệ chủ vị. Ví dụ: cái bàn này, chim hót… - Ngữ xét về cấu tạo: Ngữ có cấu tạo gồm: thành tố chính và thành tố phụ. Thành tố chính là “thành tố giữ vai trò quan trọng về ngữ pháp đối với cụm từ” [7, tr.16]. Các từ có thể làm thành tố chính của ngữ như: danh từ, động từ, tính từ, số từ và đại từ. Thành tố phụ là thành tố giữ vai trò điều kiện cần để tồn tại ngữ. Thành tố phụ có các đặc điểm như: về vị trí thành tố phụ có thể đứng trước hoặc đứng sau thành tố chính trong ngữ; về từ loại các từ làm thành tố phụ trong các ngữ có thể thuộc lớp từ có tính chất hư, cũng có thể thuộc lớp từ thực hoàn toàn. - Ngữ xét về mặt từ loại: Ngữ thường được gọi theo từ loại của thành tố chính trong ngữ. Theo tác giả Diệp Quang Ban, ngữ được chia ra thành: (1) Ngữ có danh từ làm thành tố chính, gọi là ngữ danh từ. Ví dụ: hai con thằn lằn con, chú mèo con, chú bộ đội, cô công nhân, tấm ảnh Bác Hồ,… (2) Ngữ có động từ làm thành tố chính, gọi là ngữ động từ. Ví dụ: đã đọc rồi, vừa đọc, đọc được,… (3) Ngữ có tính từ làm thành tố chính, gọi là ngữ tính từ. Ví dụ: tốt hơn, rất tốt, tốt quá,… (4) Ngữ có số từ làm thành tố chính, gọi là ngữ số từ. Ví dụ: hơn ba mươi một chút, độ ba mươi, ba mươi hơn,… (5) Ngữ có đại từ làm thành tố chính, gọi là ngữ đại từ. Ví dụ: tất cả chúng ta đây, hai chúng tôi, hai đứa mình,… [7, tr.15 - 16]. c) Phân loại danh từ và danh ngữNhìn từ góc độ từ loại, các từ ngữ chỉ sự vật thường là các danh từ/ ngữ danh từ chỉ sự vật, đôi khi gặp trường hợp danh từ bị danh động từ hoặc danh tính từ. Các danh từ/ ngữ danh từ chỉ sự vật là những danh từ/ ngữ danh từ chỉ người, động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng, khái niệm, ví dụ: sinh viên, ông bà, em bé, mèo, chuột cống, hoa phong lan, bánh, cặp sách, ô tô, xe gấu, xã hội, văn hóa, Hằng Nga, bà tiên,… Loại danh từ này có thể được chia thành nhiều nhóm nhỏ, chẳng hạn: Danh từ chỉ vật thể: ông, bà, thầy giáo, học sinh, con chim, trâu, hoa lan, hoa phượng, ô tô, sách, vở, trường, nhà máy, trời, mây, đất, sông, biển… Danh từ chỉ sự vật trừu tượng, sự vật siêu nhiên: đời người, tuổi thơ, tuổi hồng, tuổi trẻ, hành tinh, nàng tiên, bà tiên… Danh động từ/ danh tính từ là những danh từ dùng để chỉ khái niệm trừu tượng có nguồn gốc động từ hoặc tính từ. Điểm đặc biệt của loại danh từ này là tính chất lỏng lẻo của quan hệ giữa các bộ phận cấu tạo từ. Loại danh từ này được tạo ra bằng cách kết hợp các hình vị có ý nghĩa ngữ pháp với động từ hoặc tính từ để chuyển từ loại của từ. Ví dụ: cuộc vui, cuộc sống, niềm vui, niềm tin, nỗi nhớ, nỗi buồn, cái đẹp, cái ăn, lòng yêu nước, tính sáng tạo, tính cần cù… - Phân loại danh từ Trong nội bộ, danh từ được chia thành danh từ riêng và danh từ chung. Danh từ riêng là những danh từ “dùng để gọi một sự vật duy nhất, cá biệt” [14, tr.80]. Theo đó thì danh từ riêng có thể là bất kỳ đó là nhân danh hay địa danh, tên sách báo hay tên tổ chức, tên gọi thời đại,… Ví dụ: Lỳ, Sáo, Hồ Chí Minh, Hà Nội, Sài Gòn,…Danh từ riêng nêu tên gọi sự vật. Nhưng nhiều khi giữa sự vật và tên gọi của chúng hầu như không có một mối quan hệ có lý do nào, khó hiểu được vì sao sự vật này gọi thế này, sự vật kia gọi thế kia và ngược lại. Danh từ chung chiếm số lượng khá lớn trong từ loại danh từ. Danh từ chung “là tên gọi chung của các sự vật, thực thể cùng loại có chung những đặc tính nghĩa - ngữ pháp” [94, tr.40]. Danh từ chung được chia thành: danh từ tổng hợp và danh từ không tổng hợp. Danh từ tổng hợp không chỉ riêng từng sự vật mà dùng để chỉ gộp một loạt cả tổng thể gồm nhiều sự vật hoặc đồng loại với nhau có chung một số điểm nào đấy. Ví dụ: cây cối, thầy cô, trường lớn, bầu bí, sách vở, trăng sao,… Về mặt cấu tạo, danh từ tổng hợp ở tiếng Việt đều thuộc vào loại song tiết. Về mặt ý nghĩa, trong nhóm danh từ tổng hợp không thể xuất phát từ ý nghĩa từ vựng của từng từ để quy lên một ý nghĩa khái quát nào chung cho cả nhóm. Điểm duy nhất chung cho cả nhóm là danh từ nào cũng chỉ sự vật một cách tổng hợp. Danh từ không tổng hợp gồm các danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ người, danh từ chỉ đồ đạc và chỉ khái niệm trừu tượng, danh từ chỉ động vật và thực vật, danh từ chỉ chất liệu. Chẳng hạn: Danh từ chỉ đơn vị là “tiểu loại danh từ dùng để chỉ đơn vị đo lường, đơn vị tính toán” [11, tr.117]. Đó là các danh từ kiểu như: chiếc, đứa, con, cây, thước, cân, xu, giờ, miếng, đàn, tá,… Các danh từ đơn vị không dùng riêng một mình mà cần từ phụ. Tuy nhiên, số lượng từ phụ kết hợp được với danh từ đơn vị lại rất ít; Danh từ chỉ người là các danh từ chỉ “quan hệ thân thuộc, chỉ chức vụ nghề nghiệp, học hàm, học vị cũng như những danh từ chỉ các lớp người như “đàn ông”, “đàn bà”…[11, tr.141]; Danh từ chỉ khái niệm trừu tượng là các danh từ “dùng để biểu đạt những khái niệm vốn đã được trừu tượng hóa, hình thành trong khi phản ánh thực tại (địa hạt tinh thần, xã hội, chính trị)” [92, tr.49]. Chẳng hạn: tình bạn, tình yêu, niềm tin, thắng lợi, tâm hồn, thế giới,…; Danh từ chỉ chất liệu là “những danh từ biểu thị các thực thể không định hình như nguyên liệu, nhiên liệu, thực phẩm” [92, tr.48]. Chẳng hạn như: nước, đất, đá, vôi, cát, dầu… - Phân loại danh ngữ Các danh ngữ được cấu tạo có thành tố trung tâm là danh từ. Danh ngữ được gồm các tiểu nhóm như sau: + Danh ngữ có danh từ riêng ở vị trí trung tâm rất ít xuất hiện. Tuy nhiên, danh từ riêng có thể tạo thành các danh ngữ (dùng kèm với một thành phần phụ) nhưng cách kết hợp này khác hẳn với các tiểu loại danh từ khác. Chẳng hạn: danh từ riêng đôi khi đi kèm với “cả”, “tất cả” hoặc kết hợp với “những, các”; kết hợp với số từ; kết hợp với “cái” hoặc cách kết hợp “loại từ + danh từ riêng” như: thằng Bờm, con Sáo Sậu, cái Bống, cái Cò,… ở vị trí phía trước hoặc kết hợp với “này, ấy” ở phía sau. + Danh ngữ có danh từ đơn vị thường có cấu tạo: danh từ đơn vị ở vị trí giữa số từ và danh từ. Ví dụ: một con vịt, hai con thằn lằn, một bông hoa, một áng mây,… Nếu đằng sau danh từ đơn vị không thấy có một danh từ nào khác (danh từ đơn vị là trung tâm) thì thường đó là vì qua văn cảnh mới biết rõ có sự vật gì, chất liệu gì. + Danh ngữ có chứa danh từ chỉ người là trung tâm có đặc điểm: 1/ chúng phần lớn có thể đứng liền sau “tất thảy”, “tất cả”; 2/ chúng không bao giờ đứng sau “cả”; 3/ phần lớn các danh từ chỉ người đứng liền sau: danh từ số lượng và danh từ đơn vị; 4/ chúng không có khả năng kết hợp trực tiếp với từ “cái”. Muốn kết hợp phải thêm loại từ. + Danh ngữ chứa danh từ chỉ đồ đạc và chỉ khái niệm trừu tượng có đặc điểm: 1/ chúng vừa có thể kết hợp trực tiếp với “tất cả”, “tất thảy” vừa có thể kết hợp với “cả”; 2/ chúng có thể kết hợp nước đôi với số từ; 3/ hệ thống loại từ và cách dùng của loại từ thuộc nhóm danh ngữ này thường được dùng lâm thời, chẳng hạn: lá, hòn, viên,… + Danh ngữ có trung tâm là danh từ chỉ chất liệu có đặc điểm: 1/ có thể đứng liền sau “tất cả”, “tất thảy”; 2/ không thể trực tiếp kết hợp với “cả”; 3/ nó cũng không kết hợp trực tiếp với “mỗi”, “từng”, “vài” hoặc số từ. Muốn kết hợp được phải thêm danh từ chỉ đơn vị vào giữa. 1.2.1.2. Nghĩa của từ ngữ a) Khái niệm “nghĩa” - Một số quan niệm về nghĩa của từ. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nghĩa. Theo A.A.Reformatski, “Nghĩa, đó là quan hệ của từ với sự vật, hiện tượng mà nó biểu thị, đó là quan hệ của sự kiện ngôn ngữ với sự kiện ngoài ngôn ngữ” [dẫn theo (47, tr.128)]. Tác giả Ju.D.Aprecjan lại cho rằng “Nội dung ngữ nghĩa của từ không phải là cái gì tự thân. Nó hoàn toàn bị quy định bởi những mối quan hệ được hình thành trong hệ thống những sự đối lập của từ này với các từ khác cùng thuộc trường ấy” [dẫn theo (47, tr.128)]. Kế thừa và khắc phục hầu hết những thành tựu và hạn chế của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả Đỗ Hữu Châu đã xây dựng tháp nghĩa hình học không gian để giải thích cho khái niệm nghĩa của từ. Có thể nói đây là cách hiểu khá hoàn hảo cho thuật ngữ “nghĩa của từ”. Đỉnh cao nhất của hình tháp là từ (trừu tượng) với hai thành phần hình thức và ý nghĩa. Mỗi đỉnh của đáy là những nhân tố góp phần làm thành ý nghĩa, lần lượt là sự vật, hiện tượng, những hiểu biết của tư duy (khái niệm), nhân tố người sử dụng (nhân tố lịch sử - xã hội), các chức năng tín hiệu học, cấu trúc của ngôn ngữ. Ưu điểm: 1) Tách được những thực thể đang xem xét (từ ngữ, các nhân tố) ra khỏi nhau; 2) Vạch ra được những quan hệ giữa chúng. Từ mối quan hệ giữa từ và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ với khái niệm hình thành nghĩa biểu niệm, từ nhân tố người dùng hình thành ý nghĩa phong cách, liên hội, mối quan hệ với chức năng hình thành giá trị chức năng, mối quan hệ với cấu trúc (với từ khác) sẽ tạo thành ý nghĩa cấu trúc, và từ quan hệ giữa ý nghĩa với các thành phần hình thức mà hình thành các ý nghĩa cấu tạo từ, các ý nghĩa ngữ pháp. Qua tìm hiểu các quan điểm về nghĩa của từ, có thể đưa ra cách hiểu chung: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện. Nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố, trong đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng. Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ. - Các loại nghĩa của từ ngữ: + Nghĩa biểu vật là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ. Điều cần chú ý là ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự nhiên. Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc. Điều này có thể chứng minh dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong một ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ. + Nghĩa biểu niệm là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ. Do ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ nên có thể gọi là cấu trúc biểu niệm. + Nghĩa biểu thái: bao gồm những nhân tố đánh giá như: lớn, bé, to, nhỏ, mạnh, yếu,...; nhân tố cảm xúc như: lo lắng, bồn chồn, dễ chịu, khó chịu, sợ hãi,...; nhân tố thái độ như: trọng, khinh, yêu, ghét,... mà từ gợi ra cho người nói và người nghe. Nghĩa ngữ pháp là những ý nghĩa khái quát, chung của hàng loạt từ có cùng từ loại. Ví dụ: ý nghĩa sự vật (của danh từ); ý nghĩa hoạt động (của động từ)… Tóm lại, nghĩa biểu vật là sự phản ánh, ánh xạ các thuộc tính bên ngoài của sự vật được gắn vào ngôn ngữ. Nghĩa biểu niệm là tập hợp một hoặc nhiều nét nghĩa tương ứng với nghĩa biểu vật và giữa các nét nghĩa có mối quan hệ nhất định với nhau; nghĩa biểu thái là tập hợp những ý nghĩa biểu thị thái độ của con người gán cho sự vật. b) Trường từ vựng - ngữ nghĩa - Khái niệm trường từ vựng - ngữ nghĩa Tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ học ở nước ngoài và căn cứ vào thực tế sử dụng tiếng Việt, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam đưa ra quan điểm của mình về trường nghĩa. Tác giả Đỗ Hữu Châu được xem là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lý thuyết trường. Ông nhận thấy nguyên nhân khiến giá trị lý thuyết trường của J. Trier chỉ dừng ở mức độ những gợi ý là do: “sự không phân biệt ý nghĩa với khái niệm, các lớp ý nghĩa, từ với khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về ranh giới giữa các trường khái niệm và các vùng khái niệm của từ với nhau” [18, tr.250]. Kế thừa lý thuyết về trường từ vựng kết hợp với kết quả nghiên cứu ngữ nghĩa học hiện đại, hướng nghiên cứu đi từ toàn bộ đến yếu tố và ngược lại là con đường có thể dẫn dắt đến những “sự khái quát hóa hữu ích cho việc tìm ra các quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ” [18, tr.250]. Bởi vì, trong ngữ nghĩa học, lý thuyết về trường hay lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa “là cách tiếp cận trong việc phân tích cấu trúc từ vựng của một ngôn ngữ, theo đó các yếu tố từ vựng riêng lẻ được xem xét với tư cách là các thành viên của một mạng từ vựng” [8, tr.299]. Từ góc độ người tiếp nhận và sử dụng ngôn ngữ, mỗi người luôn “tiếp nhận từ vựng gắn bó chặt chẽ với việc tập hợp các đơn vị từ vựng theo từng nhóm có quan hệ gần gũi về nghĩa” [47, tr.185]. Như vậy, “trong cách hiểu hẹp, trường từ vựng có thể chỉ gồm một chủ đề cụ thể, như trường từ ngữ về động vật, hay trường từ ngữ liên quan đến một từ cụ thể” [8, tr.299]. Luận án này chia sẻ quan niệm được nhiều sự đồng thuận: Trường từ vựng - ngữ nghĩa là một tập hợp các từ ngữ có mối quan hệ đồng nhất nào đó về mặt ngữ nghĩa. Hay, trường từ vựng là tập hợp nhóm các từ ngữ có mối quan hệ nhất định về mặt ngữ nghĩa. - Phân loại trường từ vựng + Cơ sở xác định trường: Các từ trong mỗi hệ thống có quan hệ với nhau về mặt ý nghĩa và cả những sự khác biệt nhất định do nguyên tắc hợp nhất riêng của từng trường. Hệ quả của nhiều quan niệm và cách phân loại khác nhau về trường nghĩa là sự tồn tại song hành của nhiều kiểu trường nghĩa. Tuy nhiên, giữa các kiểu trường nghĩa này vẫn có sự thống nhất ở bản chất trường nghĩa. Theo Đỗ Hữu Châu, có bốn loại trường dựa vào quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường và giữa các trường với nhau. Dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) có trường nghĩa ngang với hai loại là trường tuyến tính và trường liên tưởng. Dạng quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) có trường nghĩa dọc với hai loại là trường biểu vật và trường biểu niệm. Sau đây, có thể lần lượt trình bày bốn loại trường từ vựng - ngữ nghĩa là: trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính và trường liên tưởng. + Các loại trường từ vựng Trường biểu vật “là những tập hợp từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Muốn đưa các nghĩa biểu vật của từ về trường thích hợp chúng ta phải chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu” [18, tr.172]. Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau. Có những từ gắn bó lỏng lẻo hơn, vì thế mà có khả năng đi vào nhiều trường. Chẳng hạn những từ: bò, bới, cắn, cào, gào, gáy, gặm, kêu… có khả năng đi vào một trong hai trường, thậm chí cả hai trường (trường chỉ hoạt động của người và trường chỉ hoạt động của động vật). Những từ nằm trong tiểu trường chỉ bộ phận cơ thể cũng xảy ra tình trạng tương tự vì không có tiêu chí cụ thể để nhận diện và xác định giữa nghĩa của từ nguyên chỉ bộ phận cơ thể người và từ nguyên chỉ bộ phận cơ thể động vật. Ví dụ: bắp, bẹn, da, cẳng, mép, móng, mồm… Các từ trong một trường biểu vật thường tuân theo qui tắc chuyển nghĩa theo một hướng nhất định. Khi từ ngữ chuyển trường thì ngoài nghĩa riêng của từ ngữ, nó mang theo cả những ấn tượng, những liên tưởng có được từ trường cũ. Trường biểu niệm: là tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm. Trong mỗi trường có một hoặc một số từ điển hình. Đó là các từ chỉ duy nhất đi vào một cấu trúc biểu niệm. Cũng có những từ có khả năng đi vào nhiều cấu trúc biểu niệm, chúng thuộc về nhiều cấu trúc biểu niệm khác nhau. Nói cách khác, chúng là những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi. Ví dụ, khái niệm đưa thức ăn vào cơ thể để nuôi sống cơ thể sẽ có các từ tương ứng như: ăn, xơi, hốc, đớp, tọng, xực, liếm, mổ, ngoạm, nhai… Những từ này sẽ có khả năng xuất hiện đồng thời trong hai trường từ vựng ((trường từ vựng người và trường từ vựng động vật). Bên cạnh đó, đồng nghĩa với nhóm từ chỉ hoạt động ăn như trên nhưng các từ: tớp, tợp (há miệng đớp nhanh lấy (thường nói về động vật)). Trường tuyến tính: với một từ làm gốc và tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu). Những nghiên cứu về trường từ vựng trong ngôn ngữ cho thấy các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản. Trường liên tưởng: là “một cách nhóm họp các yếu tố từ vựng riêng lẻ (từ hoặc tổ hợp của các từ có chung một nghĩa từ vựng) bộc lộ những đặc điểm chung hay những hình thái chung, như đặc điểm về tuổi tác, về giống loài, đặc điểm về màu sắc, về hình thể…” [8, tr.500]. Các từ liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân. Ví dụ: nhắc đến thỏ, dựa trên kinh nghiệm cá nhân của mỗi người sẽ có những liên tưởng sau đây: vẻ đẹp, sự quý giá (thỏ ngọc); tính nhanh nhẹn (giống như sóc và đối lập với rùa); tính nhút nhát; sự ngây thơ, trong sáng, hiền lành (thỏ non)… - Hiện tượng chuyển nghĩa của trường. Trong quá trình sử dụng từ ngữ có thể có thêm nghĩa mới. Đó là sự chuyển biến ý nghĩa biểu vật của từ. Sự chuyển trường nghĩa là hiện tượng “một từ ngữ thuộc một trường ý niệm này được chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác” [18, tr.68]. Do nhu cầu giao tiếp ngày càng đa dạng và phức tạp của con người, một đơn vị từ vựng (từ đơn hoặc từ phức) lúc mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật. Khi nghĩa biểu vật của từ thay đổi thì nghĩa biểu niệm của từ cũng có nhiều khả năng thay đổi. Từ đó, nghĩa biểu thái của từ cũng có thể thay đổi theo. Ví dụ: (1) “Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi chân đi học. Đường ngang dọc đường dẫn tới nơi. Chân nhớ đường, cất bước đi, đường yêu chân in dấu lại. Đường và chân là đôi bạn thân” [NL5, tr.36]. Các từ ngữ thuộc trường chỉ hoạt động, tình cảm của người như: đi, chơi, học, dẫn tới, nhớ, yêu, in dấu, đôi bạn thân đã chuyển trường. Các sự vật vốn vô tri như: chân (bộ phận của cơ thể con người), đường (không gian tổ chức giao thông) đã được vật hóa trở thành những đối tượng có tình cảm, tâm hồn như con người. Cách nhìn và cảm nhận thế giới dưới ánh mắt trẻ thơ trở nên sống động. Vạn vật như sống động, có hồn, có phách với những đặc điểm rất “ngây thơ” và dí dỏm. Nếu mở rộng phạm vi từ ngữ thì càng thấy rõ sự chuyển nghĩa, chuyển trường có căn nguyên sâu xa từ đặc điểm tri nhận của một cộng đồng ngôn ngữ, một dân tộc. Trong quá trình gọi hoặc biểu thị khái niệm các sự vật hiện tượng tồn tại trong đời sống về mặt ngôn từ thì chủ yếu các danh từ hoặc danh ngữ được dùng với chức năng định danh. Các từ ngữ khi được sử dụng trong một phạm vi luôn tạo ra các mối quan hệ nội tại và ngoại tại. Các quan hệ nội tại tạo ra các nghĩa biểu vật, trường biểu niệm. Các quan hệ ngoại tại tạo ra các trường tuyến tính và trường liên tưởng. Tuy nhiên, các trường này không tồn tại riêng biệt mà luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Điều này tạo ra mối quan hệ bền chắc trong từ nói riêng và hệ thống từ vựng nói chung cả về mặt hình thức lần ngữ nghĩa. Xuất phát từ nhiệm vụ được đặt ra, luận án này tập trung vào trường từ vựng - ngữ nghĩa có mối quan hệ đồng nhất có tính khái quát cao là cùng chỉ sự vật, gồm các tiểu trường cụ thể hơn: con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng… trong CK tiếng Việt dành cho TN. Theo từ điển tiếng Việt biểu tượng dt. Biểu hiện. Vật dùng để nêu ra, để cụ thể hóa một ý. Sư tử là biểu tượng của sức mạnh vật chất (đngh. Tượng trưng). Tìm hiểu về ngữ nghĩa của từ ngữ và sự chuyển nghĩa, không thể không nhắc đến “biểu tượng ngôn ngữ”. Xét về bản chất, biểu tượng là kết quả của sự ẩn dụ, từ việc gọi hoặc biểu thị khái niệm các sự vật hiện tượng cụ thể, chuyển sang gọi hoặc biểu thị khái niệm các sự vật hiện tượng trừu tượng. 1.2.1.3. Phong cách ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật a) Phong cách ngôn ngữ Ngôn ngữ là một hệ thống bao gồm toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ dùng để tạo nên các hình thức phát biểu. Những phương tiện ngôn ngữ này tồn tại trong ý thức của mỗi thành viên dùng ngôn ngữ đó - tất nhiên với những mức độ phong phú, sâu sắc khác nhau ở những cá nhân khác nhau. Những cách lựa chọn, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ dựa vào truyền thống, chuẩn mực được gọi là phong cách chức năng của ngôn ngữ. Dựa trên các kiểu chức năng của ngôn ngữ, Đinh Trọng Lạc đã chia thành 6 kiểu phong cách: hành chính - công vụ, khoa học, báo chí - công luận, phong cách chính luận, sinh hoạt hàng ngày và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật là khuôn mẫu để xây dựng văn bản trong lĩnh vực nghệ thuật. Đối với các tác phẩm nghệ thuật (trong đó có các CK tiếng Việt dành cho TN), trong quá trình sáng tác các tác giả thường hình thành một phong cách riêng thông qua các sáng tạo về hình tượng nhân vật, ngôn từ sử dụng… Như vậy, phong cách sáng tác (phong cách nghệ thuật) là một phạm trù thẩm mĩ, chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của tác giả, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện trong các văn bản nghệ thuật.b) Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật Trong tác phẩm Phong cách học tiếng Việt hiện đại [27], tác giả Nguyễn Hữu Đạt đã khái quát một số đặc điểm ngôn ngữ của “phong cách nghệ thuật”: - Đặc điểm chức năng ngôn ngữ: nổi bật nhất là chức năng tác động của hình tượng, mang lại cho người đọc một sự chia sẻ, cảm thông, làm cho người đọc có thể vui với cái vui của nhân vật, buồn với cái buồn của nhân vật... nhờ vào hình ảnh và hình tượng. Khi thực hiện chức năng nổi bật nhất là tác động, ngôn ngữ có thể theo các hướng sau: tác động theo hướng giải trí; tác động theo hướng nhận thức, giáo dục; tác động theo hướng thẩm mỹ (đặc điểm về tính hình tượng; đặc điểm về tính thẩm mỹ; đặc điểm về tính tổng hợp; đặc điểm về sử dụng từ ngữ). Trong đó: sử dụng nhiều từ láy, từ tượng hình, tượng thanh; hiện tượng tách từ nhằm cấp nghĩa cho vỏ âm thanh của từ; thường xuyên sử dụng các đơn vị thành ngữ, tục ngữ, quán ngữ; về mặt câu, thường sử dụng các loại câu mở rộng thanh phần định ngữ, trạng ngữ và các loại kết cấu đảo [29, tr.208 - 240]. Từ ngữ là phương tiện được tiếp nhận hiển nhiên nhất, đơn vị thực hiện đầy đủ các chức năng ngôn ngữ vừa phản ánh hiện thực khách quan vừa bộc lộ thái độ chủ quan của người dùng. Trong văn bản nghệ thuật, từ ngữ được sử dụng là tất cả từ ngữ thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt với sắc thái tu từ nghệ thuật. Cụ thể: Từ ngữ trong văn bản nghệ thuật có điểm coi là tổng hòa các phong cách khác bằng những thủ pháp riêng của từng thể loại và từng truyền thống văn học của mỗi dân tộc, mỗi giai đoạn. Tuy nhiên cũng có thể thấy có một số biểu hiện tương đối rõ rệt của từ ngữ thuộc văn bản nghệ thuật như sau: Không mang tính thông tục; chủ yếu gồm các thuật ngữ, các từ ngữ chuyên môn hóa của các lĩnh vực: văn hóa, văn học nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, chính trị, quân sự, hành chính, pháp luật, triết học, kinh tế,… Nhìn chung, các từ ngữ này có tính hệ thống và theo chuẩn mực; về mặt nghĩa, các từ ngữ ở đây nói chung mang tính khái quát, trừu tượng hoặc gợi cảm, hình tượng,… tùy theo phạm vi riêng của mỗi phong cách chức năng; về mặt nguồn gốc, thì phần nhiều là các từ gốc Hán và gốc Ấn Âu. Các từ ngữ Hán Việt có vị trí rất đặc biệt: có mặt ở khắp mọi địa hạt của các phong cách khác nhau và điều quan trọng là đã đem lại cho tiếng Việt cái sắc thái trang trọng và bác học của chúng. c) CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi - một loại văn bản nghệ thuật đặc thù Phong cách chính là con người sáng tác. Nhà văn Pháp Buyphông nói: “Phong cách ấy là con người”. Nó hình thành từ thế giới quan, nhân sinh quan, chiều sâu và sự phong phú của tâm hồn, của vốn sống, sở thích, cá tính cũng như biệt tài trong sử dụng cách hình thức, phương tiện nghệ thuật của người sáng tác. Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, mỗi khi lời ca vang lên, người nghe sẽ cảm nhận được những thanh âm và ngôn từ nhí nhảnh, đáng yêu… của tâm hồn trẻ thơ với những “câu chuyện” rất giản đơn mà yêu thương như: “Đưa cơm cho mẹ đi cày”, “Đếm sao”, “Hai con thằn lằn con”.... Gắn với những CK ấy người nghe sẽ nhớ đến tác giả đó chính là Hàn Ngọc Bích, Hoàng Long, Hoàng Lân, Phạm Tuyên… Phong cách nghệ thuật không đơn thuần chỉ là những nét lặp đi lặp lại thành quen thuộc của tác giả hay một loại văn bản. Đó trước hết là phải đảm bảo có tính nghệ thuật cao và mang lại sự hấp dẫn đối với người tiếp nhận. Đó phải là sự lặp lại một cách hệ thống có quy luật. Trong cách cảm nhận độc đáo về thế giới và hệ thống bút pháp nghệ thuật thì cách sử dụng ngôn ngữ phải phù hợp với cách cảm nhận ấy. Cho nên, không phải bất kỳ người sáng tác nào cũng có phong cách, tạo được phong cách. Phong cách thường được tạo nên bởi một cây bút sâu sắc trên nhiều phương diện: thế giới quan, nhân sinh quan, vốn sống, kinh nghiệm… tài năng và bản lĩnh nghệ thuật. Nghệ thuật là lĩnh vực của cải độc đáo. Phong cách là nét riêng không trùng lặp. Sự thật có thể là một, nhưng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của nhà văn phải có màu sắc khác nhau và độc đáo. L. Tônxtôi nói: “Khi ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm văn học nghệ thuật của một tác giả mới, thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh ta là con người thế nào đây nhỉ? Anh ta có gì khác với tất cả những người mà tôi đã biết, và anh ta có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới mẻ về việc vần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào?” (L.Tônxtôi toàn tập). Mỗi CK TN là một câu chuyện nhỏ và riêng của người nhạc sĩ muốn gửi gắm cho trẻ thơ nhưng qua đó cũng phản ánh tâm hồn và tình yêu của người nhạc sĩ. Những thanh âm cuộc sống và đời sống trẻ thơ qua cái nhìn của nhạc sĩ dường như vui tươi hơn và nhiều hàm ý, dần dà mang tính “biểu tượng”. Đó có thể là biểu tượng về tình yêu, sự ngưỡng mộ: biểu tượng “mặt trời”, “bàn tay mẹ”,… nhưng cũng có thể là biểu tượng cho quê hương, cho sức sống, cho tấm lòng yêu chuộng hòa bình qua các biểu tượng: “cây tre, cây lúa, chim bồ câu”… Thậm chí đó còn là biểu tượng cho tính cách xấu: “con búp bê dì ghẻ, con mèo lười”… 1.2.1.4. Phương thức định danh trong ngôn ngữ và cách gọi (chỉ) sự vật hiện tượng trong lời nói a) Định danh - chức năng số một của từ ngữ Định danh được những người nói tiếng Việt hiểu như sau: Theo từ điển tiếng Việt: định danh đgt. Gọi tên sự vật, hiện tượng (nói về một chức năng của từ ngữ). Chức năng định danh của từ. Theo cách hiểu thông thường, định danh là cách người bản ngữ gọi sự vật hiện tượng trong quá trình phát hiện (hay nhận thức) ra chúng. Kết quả là mang lại cho ngôn ngữ những từ ngữ mới (chức năng chủ yếu của từ ngữ là định danh).Trong ngôn ngữ học, khái niệm định danh được các tác giả khái quát theo nhiều cách khác nhau: Theo G.V.Consanski, định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một ký hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (signifikat) phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của các đối tượng và quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” (dẫn theo [118, tr.164]). Quan niệm này cho thấy định danh là một nhu cầu của ngôn ngữ và thể hiện khả năng tư duy của con người, giúp ích cho tư duy của con người. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng, tên gọi (name) là “Một hình thức ngôn ngữ dùng để phân biệt ra một người, một chỗ, một vật duy nhất. Về ngữ pháp, mỗi tên gọi là một danh ngữ. Tên gọi gồm có nhân danh và địa danh. Các tên cũng có thể đặt cho tàu thủy, tàu hỏa, máy bay, đường sắt, sách, báo,... cho những cái mà con người cho là quan trọng. Thực tiễn đặt tên có sự khác nhau đáng kể giữa các ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học nhân chủng thường quan tâm nghiên cứu những thực tiễn này” [47, tr.59]. Về vấn đề đặt tên, tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: “Đặt tên là quá trình phân biệt, dùng biểu thức ngôn ngữ làm tên gọi cho sự vật, hiện tượng, quan hệ và khái niệm căn cứ vào tính chất của chúng. Người ta không diễn đạt được những sự vật “vì chính nó” một cách nội tại và tuyệt đối. Do không thể đặt tên đối tượng “chỉ chính nó và từ chính nó”, người ta gọi nó như nó xuất hiện trước mắt mình và liên quan đến mình, như mình nhận thức nó. Mọi hình thức đặt tên đều biểu hiện cái nhìn về sự vật được gọi dưới cách gọi tên, đơn giản hoặc phức tạp, đã hoặc chưa từ vựng hóa, trong đó người nói bày tỏ lập trường và quan điểm của mình về đối tượng được đặt tên” [47, tr. 155]. Khi lựa chọn các thuộc tính cơ bản để định danh phải là những thuộc tính gắn với sự vật trong mọi hoàn cảnh, thuộc tính đó biểu thị bản chất của sự vật định danh và phân biệt nó với sự vật khác,... Tuy nhiên trong trường hợp khi định danh các đối tượng có chung những thuộc tính cơ bản nào đó trong chất của mình và chỉ khác nhau ở những thuộc tính không cơ bản, người ta sẽ phải chọn những thuộc tính có giá trị khu biệt làm cơ sở cho tên gọi mà không chọn đặc trưng cơ bản. Như vậy, định danh là chức năng số một của từ ngữ. Hiểu một cách đơn giản thì đây chính là chức năng gọi tên: gọi những sự vật, hiện tượng, thuộc tính hoặc hành động,... Yêu cầu của một tên gọi là: Thứ nhất, phải khái quát, trừu tượng, phải mất khả năng gợi đến những đặc điểm, những thuộc tính riêng rẽ tạo thành đối tượng vì nó là sản phẩm của tư duy trừu tượng; Thứ hai, các tên gọi có tác dụng phân biệt đối tượng này với đối tượng khác trong cùng một loại hay phân biệt các loại nhỏ trong cùng một loại lớn. “Tất cả các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ đều có chức năng biểu nghĩa, nhưng phải là đơn vị có cấp độ từ trở lên (từ, cụm từ, câu) mới có thể định danh” [57, tr.212]. Ở cấp độ từ, các thực từ mới có chức năng định danh còn các thán từ, liên từ, giới từ,... không có chức năng này. Vì vậy, đối tượng của lý thuyết định danh là nghiên cứu, miêu tả những quy luật về cách cấu tạo các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ, về sự tác động qua lại giữa tư duy - ngôn ngữ - hiện thực - khái niệm - tên gọi. Cơ sở của định danh xuất phát từ mối quan hệ giữa hiện thực - khái niệm - tên gọi. b) Cách gọi (chỉ) sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản Định danh và gọi sự vật hiện tượng rất gần nhau, về cả cách thức lẫn đồng sở chỉ. Tuy nhiên, chúng ở trong sự đối lập có tính nguyên tắc: ngôn ngữ/ lời nói. Chúng đều có hình thức thể hiện là các đơn vị ngôn ngữ: từ và ngữ. Định danh tạo ra những tên gọi trong từ vựng chung của ngôn ngữ, của cộng đồng. Gọi sự vật trong tạo lập văn bản giao tiếp hằng ngày là sự ứng dụng và sáng tạo, linh hoạt và tùy ý, từ cái chung, là hiện tượng thuộc về lời nói (văn bản do cá nhân con người nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể) trong đối lập tương đối với ngôn ngữ (hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo). Cách gọi sự vật hiện tượng (còn gọi là “danh pháp” hay “chỉ sự vật”) trong tạo lập văn bản mang tính cá nhân, phụ thuộc vào loại văn bản và hoàn cảnh giao tiếp, nên đa dạng hơn rất nhiều lần so với định danh. Tuy nhiên, đây không phải là một sự đối lập tuyệt đối: Cách gọi sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản có thể lan truyền và được nhiều cá nhân sử dụng - có thể trở thành tên gọi của sự vật hiện tượng. Việc sử dụng khái niệm gọi sự vật trong nghiên cứu ca từ của CK tiếng Việt dành cho TN có căn cứ sau: Thứ nhất, hiện tượng một sự vật được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau đã trở thành đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ dưới góc nhìn Phong cách học hoặc Ngôn ngữ học xã hội. Phần lớn những cách gọi được đề cập đến liên quan đến nhận thức, tình thái, vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp... có tính nhất thời, ở người tạo lập văn bản. Từ đây để triển khai nội dung nghiên cứu và trong các mục luận án của luận án, xin sử dụng cụm từ “cách gọi (chỉ) sự vật”, trong quá trình khảo sát, phân loại và mô hình hóa các biểu thức gọi sự vật. Thứ hai, khi nói đến một khách thể mới hoặc gọi một khách thể (theo cách của mình, đặc biệt trong văn bản nghệ thuật như ca từ), người ta sử dụng những hình thức đã biết để biểu hiện một nội dung mới diễn ra hoặc bằng cách tổ chức lại những đơn vị, yếu tố đã có sẵn theo mô hình nhất định. Cách gọi sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản phải khiến ai cũng hiểu được, lại phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, văn cảnh và những đặc điểm ngữ dụng học. Các phương thức định danh và cách gọi sự vật còn cùng bị những đặc điểm loại hình ngôn ngữ quy định. Trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập như tiếng Việt, trật tự từ đã được xem như một trong những phương tiện rất quan trọng để biểu thị các ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp. Sự thể hiện vai trò của trật tự từ có thể được thấy rõ ở loại cụm từ trong đó các thành tố kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ. Là một trong ba loại quan hệ kết hợp thường gặp trong các tổ hợp tự do (tường thuật; đẳng lập; chính phụ), cụm từ chính phụ là một kết cấu ngữ pháp trong đó có một thành tố trung tâm làm nòng cốt và xung quanh nó (theo một trật tự nhất định), là các thành tố khác có vị trí thứ yếu, có vai trò xác định cho thành tố chính hoặc thể hiện những nét nghĩa tình thái nhất định. Trong nghiên cứu các ngôn ngữ này, các nhà nghiên cứu thường gọi loại đơn vị cụm từ như đang nói là "ngữ" (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ), hoặc "từ tổ", "đoản ngữ". Đáng chú ý là hầu như không ai không phản đối rằng cụm từ được dùng để định danh, biểu thị sự vật hiện tượng, phẩm chất, quá trình... Trong ý nghĩa khái quát của cụm từ chính phụ, ngoài ý nghĩa từ vựng của các thành tố, không thể không chú ý đến ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa được tạo nên trên cơ sở một kiểu liên hệ nào đó giữa các thành tố. Ý nghĩa thứ hai này chi phối rõ rệt đến tổ chức của cụm từ, đến sự kết hợp, sắp xếp các thành tố. Như đã được nói đến, trong các ngôn ngữ ở Việt Nam, cách biểu thị quan hệ chính phụ là trật tự của các thành tố, đồng thời của các hư từ. Một số trong các quy tắc phổ biến của trật tự này là: thành tố đứng ở vị trí sau có vai trò phụ cho thành tố đứng trước. Tiếng Việt còn có một cách gọi sự vật nữa “rất phổ biến và cực kỳ quan trọng” là phương thức “chuyển nghĩa của từ” [115, tr.51]. Trong sinh hoạt hàng ngày, tùy theo những nhu cầu diễn đạt khác nhau, do tác động của những nhân tố giao tiếp, mà có sự chuyển hóa chức năng giữa các đơn vị ngôn ngữ. Trước hết là sự chuyển hóa chức năng của các hình thức phát ngôn. Trong giao tiếp, một tên gọi được dùng đi dùng lại nhiều lần sẽ trở nên mòn đi, không còn khả năng gây ra những hiện tượng như lúc mới xuất hiện nữa. Tuy nhiên, trong lời nói, sự vật lại cần nêu ra tính cụ thể, có thể cảm giác được của chúng. Vì thế, khi mà tên gọi của sự vật, hiện tượng không còn tính cụ thể sinh động nữa thì ngôn ngữ phải tìm cách thay thế tên gọi cũ bằng một cách gọi mới hay bằng một tổ hợp miêu tả. Hiện tượng một từ ngữ có thể chuyển hóa các chức năng biểu vật, biểu niệm hay tình thái qua cách gọi trong văn bản xuất phát từ nhu cầu phản ánh của chủ thể (người nói), trong quá trình hướng tới người nghe. Đối với các sự vật trong CK dành cho TN, cách gọi sự vật có thể theo hướng miêu tả (nhấn mạnh hay bỏ qua đặc tính này hay khác) hoặc chuyển nghĩa. Chẳng hạn: “mẹ” có thể được gọi là “ai hai sương một nắng”, “bàn tay mẹ”, “vầng trán mẹ”, “ánh trăng dịu hiền”, “chim chích chòe” có thể được gọi là “con chim chích chòe”, “chim chích”, “chích chòe”, “những chú chim xinh xắn”, “những con chim hót vang”… Đó cũng là cái làm nên phong cách nghệ thuật. 1.2.1.5. Từ ngữ trong cách gọi (chỉ) sự vật a) Khái niệm “sự vật” Theo từ điển tiếng Việt: sự vật dt. Cái tồn tại được nhận thức có ranh giới rõ ràng, phân biệt với những cái tồn tại khác. Những sự vật mới. Nhìn sự vật trong quá trình phát triển. Như vậy, “sự vật” là “cái tồn tại” dưới dạng vật chất (sự vật cụ thể) hoặc trong quan niệm của con người (sự vật trừu tượng), được nhận thức có ranh giới so với những “cái tồn tại” khác. Ranh giới này nhận thức được là do chúng thường có chiều kích nhất định, chiếm chỗ trong không gian (hoặc trong tâm trí của người nói). Định nghĩa về “sự vật” (và đi kèm với sự vật là “thuộc tính”) là một vấn đề phức tạp. Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào rõ ràng và được thống nhất thừa nhận. Trong khi chờ đợi có được định nghĩa như thế, cần phải xác định được những đối tượng thuộc ngoại diên khái niệm “sự vật” và những đối tượng thuộc ngoại diên khái niệm “thuộc tính”. Sự vật và thuộc tính là hai khái niệm khác nhau. Trong thế giới khách quan có vô số sự vật và thuộc tính. Sự vật nào cũng có nhiều thuộc tính, thuộc tính nào cũng tồn tại ở một hoặc ở một lớp sự vật. Thuộc tính dùng đề chỉ những đặc điểm như “trắng, đen, tốt, xấu, ít, nhiều...”, còn khái niệm “sự vật” dùng để chỉ “cái” có màu trắng này hoặc cái màu đen kia, cái tốt này hoặc cái xấu kia. Thuộc tính giúp sự vật này phân biệt với sự vật khác. Nhờ có thuộc tính mà chúng ta mới biết được một sự vật nào đó là gì, nó giống và khác với các sự vật khác như thế nào. Hay: lớp sự vật nào đó là gì, lớp này giống và khác với các lớp sự vật khác như thế nào. Trong luận án này, sự vật được xác định là những cái thường có chiều kích nhất định, chiếm chỗ trong không gian (hoặc trong tâm trí của người nói): con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng… b) Đặc điểm của từ ngữ gọi (chỉ) sự vật Xét về mặt từ loại, đó có thể là các danh từ và ngữ, các từ ngữ xưng gọi và các từ ngữ chỉ số lượng. Có thể phân nhóm các từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt như sau: Các từ ngữ chỉ người: người, ông, bà, thầy, cô, bố, mẹ, chúng ta, tôi, Bác Hồ, Li, dân mình, thầy cô, cô giáo của em, cái thằng Tí sún, cháu ngoan Bác Hồ, những thần đồng đất Việt, những người bạn quý mến của chúng ta… Các từ ngữ chỉ động vật: cá, tôm, chim, lợn, cua, trâu, bầy chim, chị Chìa Vôi, chú heo, bồ câu trắng, những con chim, một đàn chim nhỏ, dàn đồng ca mùa hạ… Các từ ngữ chỉ thực vật: cây, cỏ, khoai, nấm, phượng, bàng, cỏ cây, cỏ non, hoa gạo, lúa vàng, ngàn cây, ngàn hoa tươi, đôi khóm tre ngà, ngàn muôn hoa lá… Các từ ngữ chỉ đồ vật: sách, vở, bút, phấn, cặp sách, ba lô, buồm, búp bê, chiếc mũ, cờ, tấm chân dung Bác Hồ, những trang sách hồng nhỏ,… Các từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên như: mưa, gió, nắng, bão dông, trăng, ánh nắng, gió đông, nắng ban mai, vòm trời xanh, những vầng trăng khuyết… Các từ ngữ chỉ khái niệm trừu tượng như: ấm no, cội nguồn, tuổi trẻ, tình yêu, tình bạn, công ơn, kháng chiến, giấc mơ ngoan, những công ơn Bác Hồ,… 1.2.2. Cơ sở âm nhạc và tâm lý - giáo dục học 1.2.2.1. Cơ sở âm nhạc a) Khái niệm “ca từ” Theo tác giả Dương Viết Á, “ca từ” là “một thuật ngữ với nội dung khái niệm khá rộng, kể từ nhỏ như tên gọi, tiêu đề, đề từ, ghi chú, chỉ dẫn… đến lớn như lời ca, kịch bản của nhạc cảnh, nhạc kịch, kịch hát truyền thống…” [1, tr.221]. Trong nghệ thuật âm nhạc, ngoài phần âm thanh đóng vai trò chính, còn phải kể đến ngôn ngữ. Đó là phần ngôn ngữ văn học trong tác phẩm âm nhạc (lời ca trong ca khúc, hợp xướng; kịch bản trong nhạc cảnh, nhạc kịch; tên gọi, tiêu đề của những bài hát, bản nhạc hoặc của từng chương nhạc…). Tất cả phần ngôn ngữ trong âm nhạc, được gọi chung là “ca từ”. Trong âm nhạc, ca từ (lời của bài hát) giữ một vai trò quan trọng. Ca từ bổ sung tính cụ thể cho hình tượng âm nhạc, hay nó làm nhiệm vụ như là người hướng dẫn, mở đường, phiên dịch, dẫn giải cho người thưởng thức bằng thứ ngôn ngữ phổ biến mà con người đã được học tập, rèn luyện, nâng cao từ khi lọt lòng mẹ. Một người Việt Nam không biết ngoại ngữ nghe một bài hát bằng tiếng Nga, hay tiếng của một nước khác cũng coi như nghe một bản nhạc không lời, chỉ bởi ca từ đó không phải là tiếng Việt. Ca từ mở cửa cho hình tượng âm nhạc đi vào lòng người thưởng thức. Sở dĩ như vậy, vì ngôn ngữ (bằng lời) là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Có thể ví ca từ như đôi cánh nâng hình tượng âm nhạc bay cao hơn, xa hơn. Trên thực tế, có nhiều tác phẩm âm nhạc phần âm thanh và phần ca từ tương sinh như xác với hồn, làm nên sức sống của tác phẩm. Nhưng cũng trong nhiều tác phẩm, khi bóc tách ca từ ra khỏi nền nhạc, vẫn mang chất thơ. Khi áp dụng khái niệm trên vào đề tài “Đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi”, tác giả luận án xin giới hạn nghiên cứu phần ca từ gồm: phần tiêu đề, đề từ, ghi chú, chỉ dẫn và phần lời ca. b) Mối quan hệ giữa ca từ và ca khúc Ca khúc còn gọi là bài hát (tiếng Pháp: chanson) thường dùng để chỉ một thể loại của thanh nhạc, hơn thế nữa nó là một trong những thể loại đơn giản của thanh nhạc. - Thứ nhất, đặc điểm đầu tiên của CK là có lời ca. Vì vậy trong ca khúc, ca từ giúp cho người nghe dễ tiếp thu tác phẩm, có nơi, có lúc người ta thưởng thức lời ca là chính. Ca từ trong CK là cả một "nghệ thuật", là vấn đề gây nhiều tranh cãi, bàn luận. - Thứ hai, vì là tác phẩm viết cho người trình diễn nên CK thường có âm vực (độ rộng của cao độ) phù hợp với tầm cữ giọng hát - âm vực của CK rất khiêm nhường so với âm vực các tác phẩm khí nhạc. Thông thường, CK viết cho TN có âm vực trong vòng 1 quãng 8, với người lớn thông thường là quãng 12. - Thứ ba, CK thường có giai điệu rõ ràng, mô phỏng âm điệu tiếng nói, ít trúc trắc, nhảy quãng. Để lời ca được ngân vang đều đặn thì sự nối tiếp các lời ca trong CK thường không quá nhanh. - Thứ tư, CK thường thể hiện những xúc động điển hình, truyền đạt những thông điệp quan trọng với tình huống tiêu biểu. Có lẽ cũng chính đặc điểm đó mà với cùng một giai điệu, CK có thể gồm nhiều lời ca. 1.2.2.2. Cơ sở tâm lý - giáo dục học a) Quan niệm “thiếu nhi” Trong xã hội, trẻ em là một nhóm xã hội có vị trí và vai trò đặc biệt. Nghiên cứu về trẻ em từ lâu đã được nhiều người quan tâm và xem xét từ nhiều góc độ. Từ góc độ tâm lý học, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã có rất nhiều những đóng góp trong việc làm rõ đặc điểm tâm sinh lý ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em. Đây được xem là những nghiên cứu có giá trị “xương sống” trong việc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ. Xuất phát từ những kết quả khác nhau trong nghiên cứu tâm lý trẻ em, có thể nhận thấy các tác giả khá đồng nhất trong việc phân định lứa tuổi của trẻ em theo hoạt động chủ đạo như sau: Từ lọt lòng đến khoảng 15 tháng, được gọi là tuổi hài nhi với hoạt động chủ đạo là hoạt động tiếp xúc cảm trực tiếp với mẹ và người lớn; Từ 15 tháng đến 3 tuổi, được gọi là tuổi ấu nhi, với hoạt động chủ đạo là hoạt động với đồ vật; Từ 3 tuổi đến 6 tuổi, được gọi là tuổi mẫu giáo với hoạt động chủ đạo là vui chơi mà trò chơi đóng vai theo chủ đề là trung tâm; Từ 6 tuổi đến 12 tuổi, được gọi là tuổi nhi đồng hay đầu tuổi học, với hoạt động chủ đạo là học tập, tương ứng với bậc tiểu học; Từ 12 tuổi đến 15 tuổi, được gọi là tuổi thiếu niên hay giữa tuổi học, hoạt động chủ đạo là giao tiếp cá nhân - thân tình, tương ứng với bậc trung học cơ sở; Từ 15 tuổi đến khoảng 18 tuổi, được gọi là tuổi thanh niên mới lớn hay cuối tuổi học, với hoạt động chủ đạo là học tập - nghề nghiệp, tương ứng với bậc trung học phổ thông. Có thể thống nhất với cách phân chia lứa tuổi TN đã nêu và định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, TN là “trẻ em thuộc các lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng” [140, tr.994]. Khái niệm trẻ em được nhìn nhận tại Điều 1, Chương 1, Luật Trẻ em “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Lứa tuổi chi phối đặc điểm về tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, tình cảm, cảm xúc và ngôn ngữ của TN. Đây được xem là các đặc điểm quan trọng trong việc giáo dục TN nói chung và phát triển ngôn ngữ cho TN nói riêng. b) Đặc điểm tư duy, tưởng tượng và trí nhớ của thiếu nhi - Đặc điểm tư duy “Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết” [67, tr.76]. Có ba mốc quan trọng đánh dấu đặc điểm tư duy của trẻ em: Thứ nhất, tư duy của trẻ em mẫu giáo: chuyển từ kiểu tư duy trực quan - hành động sang kiểu tư duy trực quan - hình tượng; Thứ hai, tư duy của học sinh tiểu học: hình thức tư duy chủ yếu của trẻ em là tư duy trực quan, tư duy cụ thể. Sau đó, càng về cuối tuổi tư duy của các em chuyển dần sang tư duy hình tượng và tư duy trừu tượng; Thứ ba, tư duy của học sinh Trung học cơ sở (THCS): Trẻ em ở lứa tuổi này đang lĩnh hội hàng loạt những tri thức khoa học, những khái niệm trừu tượng, mới mẻ, vì thế óc phê phán, suy luận cùng với khả năng phân tích, tổng hợp phát triển mạnh. Như vậy, chức năng nhận thức, đặc điểm tư duy của TN chi phối cách viết, cách triển khai đề tài, lựa chọn ngôn ngữ, hình tượng nhân vật của các nhạc sĩ. Ví dụ, một cách lý giải mang tính chất ngây thơ, hồn nhiên nhưng phù hợp với nhận thức, tưởng tượng của trẻ nhỏ về đặc điểm của loài vật như ví dụ sau: “Cháu vẽ ông mặt trời. Miệng ông cười thật tươi, như miệng cười cô giáo” [NL1, tr.30]. Cách miêu tả chi tiết, giải thích miệng ông mặt trời như miệng cười cô giáo của nhạc sĩ Tân Huyền sẽ giúp các em hình dung ra nụ cười của ông mặt trời gần gũi, hiền hòa như nụ cười của cô giáo. Hình ảnh vừa mang tính tạo hình vừa mang tính biểu cảm, tạo cảm giác cao. Các em TN có được nhận thức phù hợp với lứa tuổi TN. - Đặc điểm tưởng tượng “Tưởng tượng là một quá trình tâm lý, phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có” [67, tr.86]. Khi xem xét tới đặc điểm tưởng tượng của trẻ em, có thể xem xét ba mốc quan trọng đánh dấu khả năng tưởng tượng của TN như sau: Ở lứa tuổi mẫu giáo, trí tưởng tưởng của các em có một số đặc điểm như sau: trí tưởng tượng chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong; trí tưởng tượng có chủ định và không chủ định; Ở lứa tuổi tiểu học, tưởng tượng của các em rất phát triển. Tưởng tượng ở độ tuổi này cao hơn hẳn độ tuổi mẫu giáo, tuy vậy, tưởng tượng của các em còn rất tản mát; Ở lứa tuổi Trung học cơ sở, tưởng tượng của các em phát triển hơn rất nhiều so với lứa tuổi học sinh tiểu học. Càng về cuối cấp, khả năng tưởng tượng của các em càng phong phú, những biểu tượng của tưởng tượng tái tạo càng gần hiện thực hơn. Đặc biệt, tưởng tượng sáng tạo của học sinh Trung học cơ sở biểu hiện rõ khi các em làm thơ, làm văn, khi vẽ, khi kể chuyện… Nhiều nghiên cứu về tâm lý TN trong giai đoạn này đã chỉ ra rằng, khuynh hướng chủ yếu trong sự phát triển của tưởng tượng ở TN Tiểu học là tiến dần đến phản ánh đúng đắn và khái quát hiện thực khách quan. Chính vì thế, trong các ca khúc, ngoài những chi tiết chân thực về các sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan, các tác giả thường chắp cánh tưởng tượng cho TN bằng nhiều chi tiết không hẳn là thực tế nhưng vẫn có thể coi là hợp lý, tăng thêm thú vị, hấp dẫn cho các CK. - Đặc điểm trí nhớ Trí nhớ phản ánh các sự vật, hiện tượng đã tác động trước đây mà không cần có sự tác động trực tiếp của bản thân chúng trong hiện tại. “Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, gìn giữ và tái tạo sau đó ở trong óc những cái mà con người đã cảm giác, tri giác, rung động, hành động hay suy nghĩ trước đây” [67, tr.91]. Lứa tuổi TN có 3 giai đoạn gắn với sự phát triển trí nhớ: Thứ nhất, ở lứa tuổi mẫu giáo, các em phát triển mạnh từ nhớ không chủ định cho đến nhớ chủ định. Năng lực ghi nhớ và nhớ lại của TN phát triển khá mạnh. Thứ hai, ở lứa tuổi Tiểu học, các em thiên về ghi nhớ trực quan hình ảnh, ghi nhớ máy móc và học thuộc lòng các tri thức sách vở. Càng về cuối độ tuổi thì ghi nhớ từ ngữ và ghi nhớ hình tượng càng phát triển.Thứ ba, ở lứa tuổi Trung học cơ sở, năng lực ghi nhớ của các em tăng lên rõ rệt. Các em đã bắt đầu sử dụng một cách có ý thức những thủ thuật ghi nhớ. c, Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ em Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của con người. Nhờ có sự tham gia của ngôn ngữ vào việc tổ chức, điều chỉnh các hoạt động tâm lý mà tâm lý của con người khác hẳn về chất so với tâm lý của động vật - đó là một công cụ góp phần làm cho tâm lý con người mang tính mục đích, tính xã hội và tính khái quát cao… Quan sát sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em, các nhà nghiên cứu tâm lý, nghiên cứu ngôn ngữ nhận thấy song hành với quá trình phát triển từ vựng của TN là nhận thức về các sự vật hiện tượng được gọi tương ứng. Trên thực tế, người lớn vẫn thường bắt đầu việc dạy TN bằng việc “dạy các tên gọi”. Cụ thể hơn, việc học từ vựng của TN bắt đầu từ những từ đơn tiết và tiếp đến là từ ghép và cụm từ, ngữ. Đặc biệt sự gia tăng số lượng từ ghép trong vốn từ của đứa trẻ chứng tỏ sự phát triển của khả năng khái quát hóa vì trong tiếng Việt nhiều từ ghép được cấu tạo từ các từ đơn thường mang ý nghĩa trừu tượng hơn khi so sánh với từ đơn. Dựa vào đặc điểm này, có rất nhiều các CK TN đề cập đến tên gọi các loại động vật, thực vật, đồ chơi... Ví dụ: CK “Con chim vành khuyên” của nhạc sĩ Hoàng Vân, tác giả đã nhắc đến rất nhiều loài chim khác nhau và các loài chim này có quan hệ họ hàng với nhau như: bác Chào mào, cô Sơn ca, anh Chích chòe, chị Sáo nâu, Vành khuyên... Các CK dành cho TN là một trong những kênh thông tin giúp TN sớm và thường xuyên được tiếp xúc trong không gian gia đình và lớp học (từ Mầm non đến Trung học cơ sở). Trong các CK dành cho TN, nhân vật được xây dựng là các sự vật (người, động vật, thực vật,...). Do đó, các đơn vị từ vựng về sự vật xuất hiện rất nhiều và chiếm số lượng lớn trong tiếng Việt. Vì vậy, phát triển ngôn ngữ cho TN thông qua các CK dành cho các em là rất đáng chú ý, bởi việc học từ vựng của TN được bắt đầu với nhiều đơn vị gọi sự vật sẽ được thực hiện tự nhiên và hiệu quả. d, Đặc điểm tình cảm của trẻ em Theo các nhà tâm lý học, “Tình cảm là một mức độ cao hơn xúc cảm, là một thuộc tính ổn định của nhân cách, phản ánh thái độ ổn định của con người đối với những người khác, với các sự vật, hiện tượng của hiện thực” [67, tr.122]. Quan điểm giáo dục này cũng được thể hiện rõ trong các CK tiếng Việt dành cho TN. Xu hướng nổi bật trong xây dựng hình tượng là mối quan hệ gần gũi giữa các sự vật và cảm hứng chủ đạo là khẳng định, chú ý, đề cao những thuộc tính, đặc điểm tốt. Những sự vật mang ấn tượng xấu xí hoặc không tốt cũng được các tác giả nhìn nhận theo quan điểm gạn đục khơi trong, khơi gợi những cảm xúc tích cực, ví dụ: lợn - thật thà, hổ - khỏe mạnh... Đó cũng là cách các tác giả âm nhạc đề cao và nêu gương, phê phán, phủ định, để hướng tới nhân cách lý tưởng. Như vậy, tìm hiểu một số phương diện như đặc điểm tư duy, ngôn ngữ, tưởng tượng và tình cảm của TN sẽ là một trong những tiền đề quan trọng để tiến hành nghiên cứu đặc điểm từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN. 1.3. Tiểu kết 1/ Các công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt và từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi tiến hành tổng quan theo hai hướng: Thứ nhất, nghiên cứu về một trường hoặc một nhóm từ ngữ tiếng Việt để chỉ ra đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa; Thứ hai, nghiên cứu đối sánh giữa một nhóm từ tiếng Việt với nhóm từ tương đương thuộc các ngôn ngữ khác để chỉ ra sự khác biệt đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ẩn đằng sau lớp ngôn từ đó. Kết quả tổng quan cho thấy, các nghiên cứu về từ ngữ chỉ sự vật trong tiếng Việt đã được khai thác từ lý thuyết đến thực tiễn, từ nghiên cứu từ ngữ của tiếng Việt đến so sánh với các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, việc nghiên cứu từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiểu nhi thì chưa có. 2/ Lý thuyết về từ, ngữ, nghĩa của từ, sự chuyển nghĩa của từ, trường từ vựng, định danh, cách gọi sự vật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật đã được trình bày với các quan điểm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam. Trên cơ sở trình bày các quan điểm, luận án đã xác lập khung lý thuyết và xác định hệ thống lý luận riêng cho luận án. Sự vật được xác định là những cái thường có chiều kích nhất định, chiếm chỗ trong không gian (hoặc trong tâm trí của người nói): con người, đồ vật, động vật, thực vật, hiện tượng… Luận án quan niệm từ ngữ chỉ sự vật trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi là các danh từ và ngữ (cụm danh từ) dùng để gọi tên sự vật và phân nhóm các từ ngữ chỉ sự vật thành các nhóm căn cứ vào chức năng: chỉ người; chỉ động vật; chỉ thực vật; chỉ đồ vật; chỉ hiện tượng tự nhiên; chỉ khái niệm trừu tượng... Gọi sự vật trong tạo lập văn bản giao tiếp hằng ngày là sự ứng dụng, sáng tạo, linh hoạt và tùy ý, từ cái chung, là hiện tượng thuộc về lời nói trong đối lập tương đối với ngôn ngữ. Cách gọi sự vật hiện tượng trong tạo lập văn bản mang tính cá nhân, phụ thuộc vào loại văn bản và hoàn cảnh giao tiếp, nên đa dạng hơn rất nhiều lần so với định danh. Để triển khai nội dung nghiên cứu và trong các mục luận án của luận án, xin sử dụng cụm từ “cách gọi (chỉ) sự vật”. 3/ Luận án cũng xác định các vấn đề lý luận thuộc tâm lý học lứa tuổi và về loại ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, nhằm: chỉ ra yêu cầu đối với các nhạc sĩ khi viết ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, đồng thời cũng xác định: ca khúc có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức, điều chỉnh các hoạt động tâm lý của thiếu nhi, hướng thiếu nhi tới những hoạt động mang tính mục đích, tính xã hội, tính chân thiện mĩ… Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật trong các ca khúc là khả năng tác động của hình tượng mang phong cách các nhạc sĩ, đem đến một sự chia sẻ, cảm thông và vui buồn, ngợi ca hay giận dữ... qua những hình tượng nghệ thuật được tạo trong ca khúc. Khi sáng tạo ra các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi, các nhạc sĩ phải hình dung mình đang giúp thiếu nhi nói lên bằng lời (trong các tiết tấu và giai điệu), tức là xuất phát từ góc nhìn của các ca sĩ và người nghe nhỏ tuổi này. Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ CÁCH GỌI SỰ VẬT QUA CÁC TỪ NGỮ TRONG CA KHÖC TIẾNG VIỆT DÀNH CHO THIẾU NHI 2.1. Đặc điểm cấu tạo của các từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2.1.1. Khái quát về kết quả thống kê - phân loại 2.1.1.1. Số liệu khảo sát Theo khảo sát của chúng tôi, các biểu thức ngôn ngữ chỉ (gọi) sự vật (BTGSV) trong CK tiếng Việt dành cho TN gồm từ (từ đơn, từ phức) và ngữ. Trong 736 CK tiếng Việt dành cho TN thuộc 12 tập, chúng tôi đã thống kê được 2174 từ ngữ chỉ sự vật với 5209 lượt sử dụng. Trong số 2174 đơn vị từ ngữ này thì biểu thức là từ có 494 trường hợp, xuất hiện 2737 lượt và biểu thức là ngữ có 1680 trường hợp với 2472 lượt dùng. Riêng trong số 494 đơn vị chỉ sự vật có cấu tạo là từ thì 188 trường hợp là từ đơn với 1939 lượt sử dụng và 306 trường hợp là từ ghép, xuất hiện 798 lượt. Có thể hình dung kết quả khảo sát bằng bảng tổng kết sau: Bảng 2.1a: Bảng tổng kết số liệu thống kê các biểu thức ngôn ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi (Số lượng và tỷ lệ % tính theo số đơn vị từ, ngữ)
Kiểu loại SL% | Từ | Ngữ | Tổng số | |
Từ đơn | Từ ghép | |||
Số lượng | 188 | 306 | 1680 | 2174 |
Tỷ lệ | 8.65 | 14.07 | 77.28 | 100 |
Bảng 2.1b: Bảng tổng kết số lượt dùng tính theo tần số sử dụng
Tần số sử dụng SL% | Từ | Ngữ | Tổng số | |
Từ đơn | Từ ghép | |||
Số lượt dùng | 1939 | 798 | 2472 | 5209 |
Tỷ lệ | 37.22 | 15.32 | 47.46 | 100 |
2.1.1.2. Nhận xét chung - Các từ ngữ chỉ sự vật trong CK tiếng Việt dành cho TN khá đa dạng về mặt cấu tạo. Số lượng từ ghép và ngữ khá cao, trong đó ngữ gần như áp đảo. Tần số xuất hiện của từ ngữ chỉ sự vật xuất hiện gấp hơn 2.43 lần số từ ngữ chỉ sự vật (5209 lượt/ 2174 từ ngữ). Số lượng từ và ngữ tương đối ngang bằng về tần số xuất hiện. Trong số các từ, từ đơn ít nhất, nhưng tần số xuất hiện rất cao. - Các biểu thức là ngữ xuất hiện với số lượng rất lớn trong các CK tiếng Việt dành cho TN. Nguyên do có thể vì tính hữu dụng của loại đơn vị này: trong quá trình gọi sự vật, ngữ có thể được xem là thích hợp để miêu tả sự vật trong ngôn ngữ văn nghệ, nhiều chi tiết và mang thêm nét nghĩa tình thái. 2.1.2. Đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2.1.2.1. Các từ chỉ sự vật là từ đơn Phần lớn từ chỉ sự vật có cấu tạo là từ đơn (danh từ chung). Các từ đơn trong CK tiếng Việt dành cho TN có tần xuất sử dụng lớn. Chẳng hạn: các từ chỉ người chỉ có 41/188 từ đơn nhưng số lần xuất hiện là 1358/1939 lượt, chiếm 70,03% tổng số lượt từ xuất hiện. Các từ đơn có tần xuất sử dụng rất lớn như: em (811 lượt), mẹ (198 lượt), con (123 lượt), ai (105 lượt), bé (103 lượt), ta (88 lượt), bạn (65 lượt), gió (62 lượt), hoa (59 lượt), cây (49 lượt), cháu (47 lượt), lúa (31 lượt), trâu 18 (lượt), búp bê (17 lượt),… Có thể thấy, các từ đơn được sử dụng với số lượt nhiều nhất thuộc về các từ đơn chỉ người. Đặc biệt là từ “em” được sử dụng với tần số rất lớn. Điều này có thể là để phù hợp với tâm lý, tư duy của TN - luôn nhận và coi mình là “nhỏ bé”. (2) Em đi trong tươi xanh, chim hòa bình tung cánh [NL7, tr.28]. (3) Nắng vừa lên em đi mẫu giáo [NL2, tr.26]. Các lớp từ đơn thuộc các lớp khác xuất hiện với số lượt trung bình và thấp, thậm chí nhiều sự vật chỉ được nhắc đến 1 lần như: cừu, dê, sậy, nồi, vung, chậu, chăn, chỉ,…Ví dụ: (4) Thỏ thua rùa bạn có biết không? [NL6, tr.129]... Như vậy, kết quả phân loại có 188 từ chỉ sự vật là từ đơn với số lần xuất hiện là 1939 lượt. Số lượng từ đơn có sự chênh lệch: các lớp từ chỉ đồ vật chiếm số lượng lớn nhất 54/188 từ; lớp từ chỉ người chiếm số lượng thứ hai 41/188 từ; lớp từ chỉ sự vật trừu tượng chiếm số lượng rất thấp 8/188 từ. Các lớp từ còn lại chiếm số lượng trung bình. Nguyên nhân của hiện tượng xuất phát từ môi trường sống và sự tri nhận của TN với sự vật. Các sự vật gần gũi luôn có xu hướng được sử dụng với số lượng lớn; các sự vật có tính trừu tượng, khái quát TN ít dùng. 2.1.2.2. Các từ chỉ sự vật là từ ghép Dựa trên kết quả phân loại từ ghép (ghép đẳng lập, ghép chính phụ), chúng tôi nhận thấy: có 77/ 306 từ ghép đẳng lập với tần số xuất hiện 232/ 798 lượt xuất hiện như: ông bà, ông cha, thầy cô, ba mẹ/ ba má/ bố mẹ/ cha mẹ, anh em, chị em, anh chị, đất trời, sông núi, mây trời, mây mưa, gió nắng, sương gió, núi sông, ngày đêm, hoa trái, hoa quả, tre nứa, tép tôm, mũ nón, giày dép,… Ví dụ: (5) Xuân đang về núi sông reo mừng em hát ca tưng bừng. Những hàng cây thắm lộc xuân đâm chồi, nhuộm xanh xanh chân trời [NL10, tr.143]. (6) Tiền bà trong túi rơi ra tép tôm nhặt được trả bà mua rau [NL3, tr.4]. Các từ ghép chính phụ trong các CK tiếng Việt dành cho TN có 229/ 306 là từ ghép chính phụ (mô hình: C - P) với 566/ 798 lượt xuất hiện như: thầy giáo, cô giáo, bạn trai, bạn gái, chim én, chim sâu, ong nâu, bạch mẫu đơn, tre ngà, ba lô, ghế đá, xe lửa, xe tăng, biển khơi, nắng mai, quân tiên phong, chim Sơn Ca,… Ví dụ:(7) Thầy giáo cho điểm tốt, khen con rất là ngoan [NL5, tr.73]. (8) Chích chòe hót chuyền sang cây tre, ta lắng mà nghe. Chích chòe! Chích chích chích chích! Chích chòe [NL5, tr.66]. (9) Giữ ngư trường lãnh thổ cho Trường Sa mãi mãi vững bền [NL8, tr.131]. Lý do các biểu thức cấu tạo là từ ghép xuất hiện với số lượng lớn và thường chỉ loại sự vật thuộc bậc dưới, có phạm vi nhỏ hơn so với yếu tố chính bởi: 1/ đây là cách gọi thông thường; 2/ để gọi tên các sự vật một cách chính xác và cụ thể thường sử dụng cách kết hợp giữa yếu tố chính với các yếu tố phụ để thực hiện chức năng khu biệt. Trong tư liệu khảo sát, có thể thấy từ láy không được dùng để gọi sự vật. Lý do: thứ nhất, kết quả khảo sát tư liệu không ghi nhận từ láy được dùng để gọi sự vật; thứ hai, các từ láy thường là các từ miêu tả cảm xúc hoặc mô phỏng âm thanh, màu sắc, hình dáng... Ví dụ: (10) Xe đạp xanh nghiêng nghiêng đường dài [NL8, tr. 95]. (11) Lúa nghe gió hát mênh mông hạt vàng mênh mông hạt vàng [NL 12, tr. 55]. Trong ví dụ 10 và 11 các từ láy nghiêng nghiêng, mênh mông được cấu tạo từ cách láy toàn thể, cách láy bộ phận phụ âm đầu và được dùng để mô tả hình dáng của sự vật “xe đạp” và hoạt động của “gió”. 2.1.3. Đặc điểm cấu tạo của các ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2.1.3.1. Kết quả khảo sát Như đã nói ở mục 2.1.1.1, có 1680 ngữ/ 2174 từ ngữ chỉ sự vật đã thống kê, chiếm 77.28% với 2472/ 5209 lượt xuất hiện chiếm 47.46%. Xét về mặt cấu tạo, các ngữ này là các ngữ danh từ cấu tạo gồm một yếu tố chính và có từ một yếu tố phụ trở lên. Xét về mặt cấu tạo của các yếu tố: Các ngữ có cấu tạo gồm 2 và 3 yếu tố chiếm số lƣợng rất lớn. Chẳng hạn: bác Li, mọi nhà, người lớn, ông Bụt, thằng Nha, Tí sún, bác Gấu, cái tép, chú ve, vườn cây, ngàn hoa, cái thang, chiếc dù, trang giấy, cơn gió, cái quạt, chị gió, ngàn sông, hồn ta, đời con, bạn Nam Bắc, bầy con nít, bé măng non, đàn em nhỏ, đàn chim Việt, cái bầy liếu điếu, con chim chích chòe, chú bê lạ lùng, đàn gà con, một đàn chim, cây tre Việt Nam, chùm lá Trạng Nguyên, một đóa hoa, cái đu xinh, chiếc khăn quàng, mõ ông Chánh, bão tháng bảy, cái nắng hè, từng tia nắng, chiếc nón lá, đôi nơ trắng, cơn mưa xanh, con sóng vàng,… Lý giải nguyên nhân các ngữ có cấu trúc 2 đến 3 yếu tố xuất hiện với số lượng lớn và số lần xuất hiện cao là bởi ba lí do: thứ nhất, vì các sự vật cần gọi không quá phức tạp để TN tri nhận và gọi đối tượng; thứ hai, việc kết hợp các yếu tố không phức tạp: ghép yếu tố chính với các yếu tố chỉ đặc điểm, tính chất,… sẽ khu biệt và gọi được sự vật mà không gây nhầm lần; thứ ba, TN (đặc biệt là TN ở bậc Mầm non và Tiểu học) đã có vốn ngữ năng đủ cho giao ở mức thông thường nhưng do môi trường giao tiếp hẹp (gia đình, nhà trường, khu vui chơi nên việc vận dụng vốn ngôn ngữ này còn ở mức độ thấp. Ví dụ: (12) Thằng Nhai có cái bánh gai, cái bánh to tướng bằng hai cái đình. Thằng Nhai đem tặng thương binh, ra tới đầu đình lại gặp thằng Nhai [NL9, tr.61]. (13) Một đàn chim tung cánh. Đón mây trời hiền lành [NL3, tr.68]. Các ngữ gồm từ 4 yếu tố đến 6 yếu tố chiếm số lượng thấp và số lần xuất hiện không nhiều. Chẳng hạn, bao lớp người lên đàng, bông hoa nghìn việc tốt, những con ong chuyên cần, những nhân tài thời kỳ đổi mới, đàn gà con lông vàng, một lão mèo hung hăng, ba cây bông hoa tươi màu vàng, những cây dễ thương, con búp bê dì ghẻ, một chiếc áo len, những tấm khăn hồng, muôn ngàn tia nắng mới, muôn trùng sông núi, những con sóng biển đông, những ân tình thủy chung son sắc, những mộng mơ tuổi hồng,… Nguyên nhân các ngữ có cấu trúc từ 4 yếu tố trở lên chiếm số lượng thấp bởi: thứ nhất, các kết cấu của ngữ từ 4 yếu tố trở lên mặc dù khu biệt đối tượng cần gọi rất chi tiết nhưng lại yêu cầu TN có vốn sử dụng ngôn từ tốt; thứ hai, các ngữ này thường gắn sự tri nhận cảm của chủ thể gọi. Khảo sát của chúng tôi cho thấy, các ngữ từ 4 yếu tố trở lên chủ yếu xuất hiện ở các CK dành cho TN có độ tuổi cuối giai đoạn Tiểu học và giai đoạn Trung học cơ sở. Có xuất hiện các ngữ từ 4 yếu tố trở lên ở bậc Mầm non và Tiểu học, tuy nhiên, các ngữ này thường mang tính mô tả đối tượng được gọi. Ví dụ: (14) Người giáo viên hôm nay, vươn tới ngày mai khơi nguồn kiến thức. náo nức niềm vui trái tim thời đại [NL8, tr.76]. (15) Đó là con búp bê dì ghẻ! A búp bê búp bê búp bê [NL6, tr.16]. (16) Con đường học trò con đường học trò đưa em qua những mộng mơ tuổi hồng [NL6, tr.38]. 2.1.3.2. Cấu trúc ngữ xét về các bậc cấu tạo a) Ngữ có cấu trúc một bậc (hai yếu tố) Ví dụ phân tích ngữ: cha yêu viên kẹo
^---------------l ^-------------lTương tự, các biểu thức: anh lính, người đó, mẹ dịu hiền, bé ngoan, chim trắng, gà ta, mẹ gà, kiến con, thỏ con, chuột ông, chuột cha, cây xanh, huệ trắng, khoai bùi, vườn rau, áo mới, ngựa tre, chổi nhỏ, chổi to, viên kẹo, cha yêu viên kẹo chiều thu, chiều hè, núi cao, mưa hè, lòng cháu, tình người, hai đứa, cái tép, cái tôm, đàn vịt, cây xanh, vườn rau, chiếc võng, viên kẹo, con đường, con sông,... đều là ngữ có cấu trúc một bậc. Theo kết quả khảo sát, có 516/ 1680 ngữ có cấu tạo một bậc, chiếm xấp xỉ 30.72%; tần số xuất hiện của các ngữ chỉ sự vật là 869/ 2472 lượt, chiếm xấp xỉ 35.86%. Ví dụ: (17) Như đàn chim tung cánh tới chân trời xa. Như biển đông sóng vỗ muôn lời ca [NL8, tr.96]. (18) Em mong sao trên trái đất mỗi con người, như em đây là chim trắng chim hòa bình [NL2, tr.74]. b) Ngữ có cấu trúc hai bậc (ba yếu tố) Ví dụ phân tích ngữ: chú gà trống^--------l ^---------------lTương tự, các biểu thức: lời Bác Hồ, tay mẹ hiền, con cá rô phi, chim loan phượng, chú gà trống, chú thỏ con, gốc cây đa, lá cờ Việt Nam, cơn mưa rào, lăng Bác Hồ, lời Bác dạy, cả bầu trời,… đều là ngữ có cấu trúc hai bậc. Kết quả khảo sát có 430/ 1680 là ngữ có cấu trúc hai bậc, chiếm xấp xỉ 25.60%; tần số xuất hiện của các ngữ có cấu trúc hai bậc là 732/ 2472 lượt, chiếm xấp xỉ 29.61%. Ví dụ: (19) Em khắc ghi trọn đời lời Bác Hồ dạy bảo thiếu nhi góp công dựng non như bấy lâu Bác hằng mong ước [NL10, tr.57]. (20) Nhành lúa la đà, hạt vàng óng ánh [NL5, tr.77]. c) Ngữ có cấu trúc trên hai bậc (bốn, năm... yếu tố) - Dạng 1: Ngữ chỉ sự vật gồm 4 yếu tố Ví dụ phân tích ngữ: cái thằng Tí sún cái thằng Tí sún ^--------------l ^-----------------l^----------------------------lTương tự, các biểu thức: những búp măng non, một bầy tướng Mỹ, bàn tay thợ cấy, mấy con kiến nâu, những chú chim sẻ, những đàn chim nhỏ, một lão mèo hung hăng, một bông hoa hồng, những bông hoa nhỏ, muôn vạn chồi xanh, những hàng dừa xanh, một chiếc áo len, những tấm khăn hồng, đôi khóm tre ngà, một chiếc xe đạp, trang sách học trò, những đám mây đen, từng giọt sương mai, mỗi tầng sâu kiến thức,… đều là ngữ chỉ sự vật gồm 4 yếu tố. Theo kết quả khảo sát có 382/ 1680 ngữ chỉ sự vật gồm 4 yếu tố, 22.74%; tần số xuất hiện của các ngữ này là 467/ 2472 lượt, 35.6%. Ví dụ ngữ cảnh: (21) Bên lăng Bác Hồ có đôi khóm tre ngà [NL5, tr.64]. (22) Mấy con kiến nâu vác hạt cơm nguội [NL6, tr.39].- Dạng 2: Ngữ chỉ sự vật gồm 5 yếu tố Ví dụ phân tích ngữ: những con sóng biển Đông
những con sóng biển Đông ^--------------l ^-------------l ^---------------------------l ^---------------------------------l
Tương tự, các biểu thức: những cháu ngoan Bác Hồ, bao lớp người lên đàng, những cánh tay măng non, bao cánh chim tung trời, đàn gà con lông vàng, những hàng dừa xõa tóc, những cây bàng đảo xa, những trang sách hồng nhỏ, cả vườn hoa Nam Bắc,… đều là ngữ chỉ sự vật gồm 5 yếu tố. Theo kết quả khảo sát, có 248/ 1680 ngữ gồm 5 yếu tố, 14.76%; tần số xuất hiện của các ngữ chỉ sự vật này là 283/ 2472 lượt, 11.45%. Ví dụ: (23) Chúng ta như những chú ong chuyên cần [NL9, tr.73]. (24) Những cháu ngoan Bác Hồ nối nghiệp Đảng tiên phong, xây nước non đời đời sáng tươi huy hoàng [NL11, tr.48]. - Dạng 3: Ngữ chỉ sự vật gồm 6 yếu tố Ví dụ phân tích ngữ: những bóng cây xanh sân trường
những bóng cây xanh sân trường ^-------------l ^------------------l ^-------------l
^-----------------------------l l------------------------------------------------^Tương tự, các biểu thức: anh em keo sơn một nhà, đàn chim hòa vang tiếng hát, những ngôi sao thức ngoài kia, những bông hoa vừa hé nở,… đều là ngữ chỉ sự vật gồm 6 yếu tố. Theo kết quả khảo sát, có 104/1680 ngữ chỉ sự vật gồm 6 yếu tố xuất hiện chiếm tỷ lệ 6.19%; tần số xuất hiện của ngữ là 121/ 2472 lượt, chiếm tỷ lệ 4.89%. Tỷ lệ xuất hiện của các ngữ là 1.06 lần. Ví dụ: (25) Khi ông mặt trời thức dậy, mẹ lên rẫy, em đến trường cùng đàn chim hòa vang tiếng hát [NL7, tr.69]. Bảng 2.2: Bảng tổng hợp khảo sát các mô hình ngữ chỉ sự vật
TT
Ngữ chỉ sự vật
Số ngữ
Số lần xuất hiện
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1
Ngữ hai yếu tố
516
30.72
869
35.86
2
Ngữ ba yếu tố
430
25.60
732
29.61
3
Ngữ bốn yếu tố
382
22.74
467
18.89
4
Ngữ năm yếu tố
248
14.76
283
11.45
5
Ngữ sáu yếu tố
104
6.19
121
4.89
Tổng
1680
100%
2472
100%
Nhận xét: - Sự phân loại các bậc và số lượng yếu tố trong ngữ cho thấy trong CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, sự mở rộng thành phần miêu tả là lối được ưa dùng. Số bậc được tạo nên theo quy tắc: số lượng yếu tố - 1.- Trong CK tiếng Việt dành cho TN, các ngữ hai, ba và bốn yếu tố được dùng phổ biến hơn so với các ngữ năm và sáu yếu tố. Đây có thể là những mô hình thích hợp với ngôn ngữ CK dành cho thiếu nhi. 2.1.4. Nguồn gốc của từ ngữ chỉ sự vật trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, không phải ngôn ngữ nào cũng luôn chỉ sử dụng những ngôn từ vốn có sẵn mà luôn có sự biến động. Một trong những đặc điểm của sự biến động ấy là khả năng mở rộng vốn từ tự thân và thu hút nhiều yếu tố của các ngôn ngữ khác để làm đầy những khái niệm mới cần gọi tên, do đó việc tiếp nhận các ngôn ngữ khác là tất yếu. Tiếng Việt trong quá trình phát triển đã tiếp nhận một số lượng lớn các từ ngữ của các ngôn ngữ khác để làm giàu vốn từ vựng của mình. Xét về phương diện nguồn gốc, chúng tôi nhận thấy các khái niệm có thể được tạo ra bằng một trong ba cách sau đây: - Sử dụng đơn vị từ vựng có sẵn trong ngôn ngữ, thường là các phương ngữ trong một ngôn ngữ; - Sáng tạo mới hoàn toàn bằng những yếu tố đã có sẵn; - Vay mượn ngôn ngữ khác; Hai trường hợp đầu là từ thuần Việt và trường hợp thứ ba là các tên gọi được vay mượn. Trong tiếng Việt, ngoài các tên gọi có nguồn gốc Hán còn có một số tên gọi được vay mượn các ngôn ngữ Ấn Âu, mà chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp… Khi xem xét các từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, chúng tôi nhận thấy bên cạnh các từ ngữ có nguồn gốc thuần Việt thì có không ít những từ ngữ có nguồn gốc Hán, từ ngữ gốc Ấn - Âu. 2.1.4.1. Những từ ngữ chỉ sự vật có nguồn gốc thuần Việt Trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, nhạc sĩ đã sử dụng 645 từ ngữ với 1381 lượt xuất hiện từ thuần Việt để gọi sự vật như: người, bố, mẹ, mày, mầy, tao, tớ, bống, Bờm, bé tôm, thằng Bờm, thằng Nhai, thằng Nha, anh đàn ông, cô gái, chồng, vợ, ếch, ve, cua, cá, gà, kiến, lợn, nai, ngựa, sên, cua cá, chuột anh, chuột cha, chuột ông, chuột bà, chú ếch, chú khỉ con, sáo sậu, trâu, bí, bầu, mướp, chuối, dừa, dứa, đu đủ, cây thòng long, cây bí đao, cây cối, bụi chuối, cây cau, giàn mướp, cây bưởi, thóc, cơm, gánh củi, ruộng, cuốc, cày, nhà, lưới, áo, bát, nồi cơm nếp, đất, đá, lửa, núi, núi đồi, suối, sóng, mưa, sấm, trời, chớp lửa, sao, nước,… Ví dụ: (26) Xắc củ cải dãi cho nàng, chàng phách chàng chê. Tao với mầy thả ma với quỷ, hú hồn chạy ra [NL5, tr.80]. (27) Chú khỉ con, có cái đuôi lon ton, tay chân dài rất thông trong dáng thiệt mi - nhon. Nhưng sao chú hay nhăn nhó? Đang đói bụng hay chưa thuộc bài [NL8, tr.12]. (28) Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn Bầu ơi, thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn [NL2, tr.60]. 2.1.4.2. Những từ ngữ vay mượn Trong quá trình phát triển, tiếng Việt đã tiếp nhận một số lượng lớn các từ ngữ của các ngôn ngữ khác, trước hết đó là tiếng Hán và một số tiếng Ấn - Âu. Khi từ ngữ ngoại lai xâm nhập vào tiếng Việt, các từ này đã được Việt hóa về các mặt như: ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp. Tuy nhiên, mức độ Việt hóa diễn ra không đồng đều đối với tất cả các từ ngoại lai đã nêu. Thậm chí, tùy vào từng giai đoạn tiếp xúc ngôn ngữ mà quá trình vay mượn có đặc điểm riêng. a) Vay mượn tiếng Hán Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời và có sự tiếp xúc tương đối đặc biệt (1000 năm Bắc thuộc). Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã chấp nhận một số lượng rất lớn của tiếng Hán để làm giàu cho vốn từ vựng của mình. Đồng thời, xét về mặt loại hình, tiếng Việt và tiếng Hán cùng thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Vì vậy, khả năng xâm nhập của tiếng Hán vào tiếng Việt là rất lớn. Khi xâm nhập vào tiếng Việt, tiếng Hán trong kho từ vựng tiếng Việt sẽ được mã hóa theo hai con đường: thứ nhất, mượn hoàn toàn từ Hán cả âm lẫn nghĩa; thứ hai, mượn từ Hán nhưng đọc theo âm Hán Việt. Kết quả khảo sát các từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN có 1358 từ ngữ với 3583 lượt tiếng Hán xuất hiện, chẳng hạn: dân, anh, ông ngoại, bà ngoại, ông nội, bà nội, giặc, anh em, cô giáo, thầy giáo, bạn thân, chiến sĩ, chú mục đồng, anh thương binh, đoàn quân, đồng loại, nhân dân, nhi đồng, đoàn thiếu nhi, anh bộ đội, bạn thiếu nhi, bộ đội Trường Sơn, con Hồng Lạc, thanh niên xung phong, gạc, nai, rùa, thỏ, voi, bách thú, loan phượng, thiên nga, họa mi, tắc kè, vàng anh, bạn hải yến, bạn sơn ca, chim bồ câu trắng, đa, hoa, phượng, hoa cỏ, hoa đào, hoa phượng, hoa hồng nhung, linh chi, lục bình, muôn hoa xinh, nàng bạch mẫu đơn, diều, đèn, kèn, mực, sách, cờ sao, cờ vinh quang, chong chóng, ông Địa, nhân, tài (tài năng), cuộc đời, niềm tin, hy vọng, công ơn, chiến thắng, niềm khát vọng,… Ví dụ: (29) Ra đón anh thương binh về làng ta thêm giáo viên cho chúng mình. Học tập tiến cùng nhanh [NL9, tr.61]. (30) Ơi bạn Hải Yến! Này bạn Sơn ca! Ơi bạn đường gần! Này bạn đường xa! Thi đua chúng ta cùng múa. Thi đua chúng ta cùng ca [NL12, tr.143]. (31) Bình minh thức dậy cùng đi đến trường. A! con rùa! A! con rùa! La lá la la la la. Con rùa! [NL6, tr.42]. b) Vay mượn ngôn ngữ Ấn - Âu Khảo sát từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi, chúng tôi nhận thấy có 171 từ ngữ với 245 lượt từ ngữ có gốc Ấn - Âu, chẳng hạn: Đô - Rê - Mon, điện thoại, tê - lê - phôn, gấu Mi -sa, xe đạp, súng thép, xe lửa, xe ô - tô, rô - bô, xe tăng, búp bê, con búp bê, ba lô, ô tô, mèo máy đô - rê - môn,… Ví dụ:(32) Tạm biệt búp bê thân yêu! Tạm biệt gấu Mi - sa nhé! Tạm biệt thỏ trắng xinh xinh! Mai tôi vào lớp một rồi. Nhớ lắm! Quên sao được trường mầm non thân yêu [NL1, tr. 45]. (33) Bạn mới của em là mèo máy Đô - Rê - mon. Dáng đi lon ton có khuôn mặt tròn. Không biết ăn vụng, không biết bắt chuột. Nhưng với bạn bè chơi rất ngoan. Đô - Rê - Mon có cái đuôi thon. Đô - Rê - Mon trông rất vui nhộn. Đô - Rê - Mon vui hát véo von. Đô - rê - mon có nụ cười son [NL8, tr. 24]. Các tiểu trường không xuất hiện từ ngữ Ấn - Âu, bởi các ngôn ngữ Ấn - Âu mới du nhập vào Việt Nam. Vì vậy, về mặt thời gian tiếp xúc giữa tiếng Việt và ngôn ngữ Ấn - Âu chưa sâu. Đồng thời, hoạt động tiếp xúc này chỉ diễn ra ở một số phương diện, chưa ăn sâu vào ý thức hệ của cộng đồng người Việt; ngoài ra, tiếng Việt và ngôn ngữ Ấn - Âu khác hẳn nhau về mặt loại hình nên từ ngữ Ấn - Âu không dễ dàng nhập hệ. 2.2. Đặc điểm của cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi 2.2.1. Khái quát về kết quả khảo sát Có thể quy các từ ngữ chỉ sự vật trong các CK tiếng Việt dành cho TN vào ba loại sau: Loại một là những từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo chỉ gồm một yếu tố, mang nghĩa đen, được dùng là cơ sở để cấu tạo các đơn vị chỉ sự vật khác. Tạm quy ước gọi đó là những “đơn vị cơ sở” hay “phương thức cơ sở”. Ví dụ: ông, bà, bố, mẹ, tôi, em, anh, thầy, cô, cá, tôm, chuột, trâu, lợn, thỏ, sâu, sơn, lúa, ngô, bầu, bí, xoài, dừa, mai, sông, sao, biển, xuân, thu, nắng, gió, sóng, sương, mưa, nước, đất, cát, đá, võng, tơ, tàu, thuyền, sáo, pháo, Bắc, Nam, xóm, thôn, trường, nhà, sân, phố, mương, ngõ, vườn, rừng, cây, cỏ, quả, tết, mơ, hiếu, đời, Rồng, Tiên, Cuội, Hằng,… Loại hai là những từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo từ hai yếu tố trở lên. Các từ ngữ thuộc cách gọi sự vật này có một yếu tố mang chức năng quy loại, biểu thị đặc trưng khu biệt khi chỉ sự vật. Tạm quy ước gọi đó là những “đơn vị phức” hay “phương thức phức”. Ví dụ: mẹ hiền, ông cha, thầy cô, anh Sáu, ba bò, ba mẹ, bác chào mào, bác Gấu, bạn Hải Yến, bạn rùa, tre ngà, áo xanh xanh, non sông thân yêu, chiều hoàng hôn vương nắng, mùa xuân của đồng gió lay, cát bụi quê hương, đất nở hoa, dòng nước xanh, Hai Bà Trưng, Miền Nam em, Nam Bắc Trung, ngã Ba Đồng Lộc, đất nở hoa, dòng nước xanh, một bầu trời trong xanh huy hoàng, nghìn con mắt trong vườn nhà em, những ân tình thủy chung son sắt,… Loại ba là những từ ngữ chỉ sự vật có cấu tạo gồm một yếu tố hoặc hai yếu tố theo quan hệ chính phụ. Các từ ngữ thuộc cách gọi sự vật này thường được rút gọn tối đa dựa vào các đặc điểm. Tạm quy ước gọi đó là những “đơn vị rút gọn” hay “phương thức rút gọn”. Ví dụ: thầy, cô, Mèn, bống, chòe, chồn, đông, xuân, thu, cá bống, xe gấu, đèn sao, đông về… Theo tư liệu khảo sát, các từ ngữ thuộc phương thức cơ sở (PTCS) chiếm tỷ lệ tương đối: số từ ngữ xuất hiện 347 biểu thức (BT), chiếm 12.6%; tần xuất xuất hiện 1964 lượt, 37.7%; tỷ lệ giữa số từ ngữ và tần số xuất hiện là 5,7 lần. Mặc dù chiếm tỷ lệ thấp về mặt số lượng, nhưng các từ ngữ dùng để chỉ sự vật thuộc phương thức cơ sở lại chiếm số lượng lớn về tần số xuất hiện trong các CK TN. Phương thức gọi sự vật này có vai trò tạo nên những yếu tố độc lập dùng để chỉ một sự vật, đồng thời cũng tạo nên các yếu tố trong các ngữ chỉ sự vật khác. Các từ ngữ thuộc phương thức phức chiếm số lượng rất lớn: 1849 BT, chiếm 85.1%; tần xuất xuất hiện 3118 lượt, chiếm 59.9%. Những biểu thức này về mặt hình thái cấu trúc và mặt ngữ nghĩa có sự ổn định tương đối. Các từ ngữ thuộc phương thức rút gọn chiếm số lượng rất thấp: BT, tỷ lệ 2,3%; tần xuất xuất hiện là 127 lượt, chiếm 2.4%. Kết quả thống kê và phân loại đã trình bày ở trên có thể hình dung bằng bảng tổng kết 2.2 dưới đây: Bảng 2.3: Cách gọi sự vật qua các từ ngữ trong các ca khúc tiếng Việt dành cho thiếu nhi
Cách gọi sự
vật
Số từ ngữ
Tỷ lệ (%)
Tần số
Tỷ lệ (%)
Phương thức
cơ sở
374
12.6
1964
37.7
Phương thức
phức
1849
85.1
3118
59.9
Phương thức
rút gọn
51
2.3
127
2.4
Tổng số
2174
100
5209
100
Nhận xét: - Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, cách gọi sự vật ít nhiều gắn với sự phân loại về đặc điểm. Quá trình gọi thường gồm hai bước, đó là quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt. Nếu một trong hai bước này có biến thể thì một sự vật hay sẽ được gọi khác nhau. - Khi gọi, trong số rất nhiều đặc trưng của một sự vật, người ta thường chỉ chọn những đặc trưng tiêu biểu, phản ánh những đặc trưng nhất định của một biểu vật. Tuy nhiên, khi chỉ những đối tượng có chung những thuộc tính cơ bản nào đó mà chỉ khác nhau ở những thuộc tính không cơ bản, người ta sẽ không chọn các đặc trưng cơ bản mà phải chọn đến loại đặc trưng không cơ bản, nhưng có giá trị khu biệt, làm cơ sở để gọi. - Sự vật hiện tượng là vô vàn và luôn có nhu cầu được dán nhãn (gọi tên) theo những cách khác nhau. Ngoài cách gọi thường gặp đơn giản nhất là dùng phương thức cơ sở (gọi bằng một yếu tố), để đáp ứng nhu cầu gọi theo cách mới, có thể dùng lối ẩn dụ, liên tưởng, hoặc kết hợp các danh từ chung với các yếu tố chỉ đặc điểm của sự vật để gọi tên. Như vậy, để gọi sự vật, còn có phương thức phức (PTP) và phương thức rút gọn. 2.2.2. Miêu tả cách gọi sự vật qua từ ngữ trong CK tiếng Việt dành cho thiếu nhi Để thực hiện miêu tả cách gọi sự vật qua từ ngữ, luận án đã tiến hành quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt các lớp từ ngữ gọi sự vật. Kết quả phân loại thành hai nhóm sự vật lớn có sự phân biệt trong cách gọi tên. Thứ nhất, nhóm từ ngữ chỉ người - là nhóm từ ngữ gọi tên người hoặc từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người với đặc trưng khu biệt là nhóm sự vật có đặc trưng tư duy và là chủ thể của xã hội, thiên nhiên. Thứ hai, nhóm từ ngữ chỉ sự vật ngoài con người (không phải người). Đây là nhóm từ ngữ chỉ động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên, sự vật trừu tượng với đặc trưng khu biệt là nhóm sự vật đảm bảo cân bằng sự sống và có mối quan hệ mật thiết với đời sống con người. Do đây là hai nhóm sự vật lớn có sự phân biệt trong cách gọi tên, sau đây xin miêu tả cách gọi tên sự vật trong sự phân biệt hai nhóm này. 2.2.2.1. Phương thức cơ sở a) Nhận xét chung: Phương thức cơ sở là phương thức sử dụng các biểu thức gọi sự vật (BTGSV) căn cứ vào dạng thức “cơ sở” của chúng (không thêm bớt gì, thường là một yếu tố). Trong 736 CK thuộc 12 tuyển tập CK tiếng Việt dành cho TN, có 374/ 2174 BTGSV loại này, với tần số 1964/ 5208 lượt. Các từ ngữ thuộc phương thức này phần lớn là các danh từ chung. Ví dụ: người, dân, bác, mẹ, thầy, cô, anh, cá, chim, tôm, cua, lúa, tre, măng, xoài, dứa, mây, mưa, sông, núi, đất, nước, áo, cờ, nhà, trường, tượng, một, hai, nghìn, yêu, mơ, nghĩa, nhớ, con, cây, hoa, cái,…; các danh từ riêng xuất hiện với số lượng và tần số rất thấp như: Lì, Sáo, Tôm, Tép, Nam, Bắc... Các danh từ chung mang nét nghĩa chung cho một nhóm đối tượng - tên gọi chung cho nhóm sự vật. Các danh từ riêng thường cụ thể hóa đối tượng được gọi. Dựa trên các đặc điểm này, có thể đi sâu phân tích một số trường hợp sử dụng để làm rõ đặc trưng của phương thức cơ sở. b) Các mô hình BTGSV được tạo nên bằng phương thức cơ sở: Loại 1: BTGSV là người Các BTGSV là người là các danh từ chung như: người, dân, ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ/ má, anh, chị, cô, dì, chú, bác,…; các danh từ chỉ tên riêng như: Lì, Sáo, Cuội, Hằng, Bống, Bờm, Xí,…; các đại từ nhân xưng như: tôi, tớ, mình, nó, chúng mình, bọn mình...Ví dụ: (34) Bao nhiêu sao sáng bấy nhiêu anh hùng vì dân, mà Bác Hồ ngôi sao sáng vô ngần [NL7, tr.34]. (35) Ôi hòa bình mà ta tha thiết lòng biết ơn Người suốt đời vì dân hi sinh [NL11, tr.33-34]. (36) Miền Nam gọi là ba, miền Bắc gọi là bố, mà ba cũng như bố, mà bố cũng là ba [NL11, tr.117]. (37) Em hỏi mẹ là em biết rồi, bà bạc tóc vì thương em [NL2, tr.21]. (38) Mình đố con gì nó kêu lâu lâu? [NL6, tr.38]. (39) Làng khen Sáo báo tin tài, làm xúm xít đứng quanh Lì [NL9, tr.55]. Nhận xét: Các mô hình BT chỉ người được tạo nên bằng phương thức cơ sở. Các danh từ này được dùng với ba tư cách: Thứ nhất, danh từ chung chỉ người là danh từ người và dân xuất hiện trong các CK tiếng Việt dành cho TN không chỉ một người không xác định hoặc nhóm người. Tuy nhiên, duy nhất danh từ chung Người được viết hoa để chỉ Bác Hồ. Thứ hai, các danh từ chung là các danh từ thân tộc, đại từ nhân xưng được sử dụng rất phổ biến. Điều này phù hợp với môi trường sống, sự tương tác, sự tri nhận, cảm nhận và thái độ của TN. Môi trường sinh hoạt gia đình và nhà trường là hai môi trường chính mà TN chịu sự tác động và chi phối. Thứ ba, các danh từ chung để chỉ chung cho một giống/ loài/ loại nào đó, ví dụ như: người, cá, tôm, sáo, tôm, tép, bưởi, sách, bút, núi, sông,… Khi được sử dụng với tư cách thứ 3, danh từ này được viết hoa. Điều này phù hợp với nhận định của tác giả Đỗ Hữu Châu: “Danh từ riêng (tên riêng) chỉ được dùng để gọi cá thể chứ không được dùng để gọi cho loại của cá thể thì tên chung (danh từ chung) lại vừa được dùng để gọi cả loại, vừa được dùng để gọi cá thể trong loại” [26, tr.67]. Loại 2: BTGSV là động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng tự nhiên/ sự vật trừu tượng. Các BTGSV là động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng tự nhiên/ sự vật trừu tượng rất phong phú và đa dạng. Tuy vậy, các danh từ chung được sử dụng để gọi sự vật thuộc loại 2 là các danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại như: bướm, bê, chim, én, trâu, ve, cá, chim, chòe, chuồn, chuột, công, cua, cừu, ếch, én, gà, gấu, heo/ lợn, nghé, ngựa, sóc, sáo, sâu, tằm, thỏ, tôm, trâu, ve, vượn, cây, chanh, đa, hoa, khế, lúa, mai, me, mít, na, sen, sung, tre, trúc, bắp (ngô), bầu, bèo, bí, cỏ, cọ, huệ, khoai, lan, măng, nấm, ngô, phượng, sậy, cặp, cầu, chậu, chiêng, chông, cờ, củi, cùm, đàn, đạn, dây, diều, đu, gậy, ghế, giày, giỏ, guốc, gươm, kèn, kẹo, khăn, khèn, kim, lưới, mo, mũ, mùng, phấn, pháo, nắng, mưa, gió, mây, trời, đất, tình, nghĩa, chí, danh... Ví dụ: (40) Cho ánh nắng ban mai là những sớm bình minh. Cho những đêm trăng đẹp là chị Hằng tươi xinh. Cây cho trái và cho hoa, sông cho tôm và cho cá, đồng ruộng cho bông lúa, chim tặng lời reo ca [NL4, tr.106]. (41) Phượng đứng nhìn mỉm cười. Che nắng, cho đàn em thơ [NL8, tr.75]. (42) Nào bàn nào ghế, nào sách nào vở. Nào mực nào bút, nào phấn nào bảng, cả tiếng chim vui, trên cành cây cao, cả lá cờ sao trong nắng thu vàng, yêu sao yêu thế trường của chúng em [NL2, tr.42]. (43) Bố là thuyền nan cho em vượt sóng [NL2, tr.16]. (44) Ta sống không ươn hèn, rèn tâm trí bền! Luyện tập thành nhân, vì nghĩa vì dân, chí tốt danh thơm vững vàng! [NL10, tr.17]. Nhận xét: Các BT là động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng tự nhiên/ sự vật trừu tượng đa dạng về mặt hình thức và chủng loại. Tuy vậy, các BT thuộc loại 2 là các danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại. Các danh từ chung thuộc loại này có các đặc điểm như: - Thứ nhất, các danh từ chung chỉ giống/ loài/ loại của động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên và sự vật trừu tượng đại diện cho cả nhóm đối tượng. - Thứ hai, các danh từ này có xu hướng được dùng để gọi một cá nhân cụ thể. - Thứ 3, các BT thuộc loại 2 là cơ sở, nền tảng cho các phương thức phức và gọi chính xác một cá thể sự vật. Bảng 2.4: Mô hình phương thức cơ sở
Sử dụng danh từ chung để gọi
sự vật
Ví dụ:
Người
Người, dân, ông, bà, cha/ ba/
bố, mẹ/ má, anh, chị, cô, dì, chú, bác, Lì, Sáo, Cuội, Hằng, Bống, Bờm, Xí,
tôi, tớ, mình, nó, chúng mình, bọn mình...
Động vật/ thực vật/ đồ vật/
hiện tượng tự nhiên/ sự vật trừu tượng
Bướm, bê, chim, én, trâu, ve,
cá, chim, chòe, chuồn, chuột, ngựa, sóc, sáo, thỏ, tôm, trâu, ve, vượn, cây,
chanh, đa, hoa, khế, lúa, mai, me, cọ, huệ, khoai, lan, măng, nấm, ngô, phượng,
sậy, cặp, cầu, chậu, chiêng, dây, diều, đu, gậy, ghế, giày, giỏ, guốc, gươm,
mo, mũ, mùng, phấn, pháo, nắng, mưa, đất, tình, nghĩa, chí, danh...
2.2.2.2. Phương thức phức a) Nhận xét chung kết quả khảo sát - Phương thức phức sử dụng các biểu thức gọi sự vật (BTGSV) gồm ít nhất 2 yếu tố trở lên. - Theo kết quả khảo sát, có 1849 từ ngữ với 3119 lượt xuất hiện thuộc phương thức phức và được hình thành theo hai cách: Thứ nhất, kết hợp hai hay nhiều yếu tố có quan hệ đẳng lập như: ông bà, cha mẹ, tôm tép, bầu bí, bàn ghế,…; có thể hai hay nhiều yếu tố có quan hệ chính phụ hoặc phụ chính như: chú bộ đội, sáo nâu, hoa phượng, nắng hè, nương dâu, các thầy, các cô, ba bò, bầy chim, cái bàn, bốn mùa… Thứ hai, kết hợp nhiều yếu tố để tạo thành các cụm danh từ như: bà bạc tóc, bộ đội Trường Sơn, đàn chim bồ câu trắng, hàng cây xanh thắm, nàng bạch mẫu đơn, ba lô con cóc, nắng sân trường,… Theo khảo sát, các BTGSV chủ yếu được hình thành như sau: 1/ Một hoặc một số danh từ chung chỉ người/ động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng/ sự vật trừu tượng kết hợp với một hoặc một số danh từ chung chỉ người/ động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng/ sự vật trừu tượng; 2/ Một hoặc một số danh từ chung chỉ người/ động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng/ sự vật trừu tượng kết hợp với một hoặc nhiều đặc điểm của sự vật để gọi sự vật. Đây là điều kiện để mô hình hóa phương thức gọi sự vật. - Dựa vào số lượng các yếu tố phụ có thể chia các biểu thức tạo nên theo phương thức phức thành hai loại: + Biểu thức chỉ sự vật có một yếu tố phụ. Ví dụ: mẹ em, trâu cày, lúa vàng, nước đục, chú Cuội,… + Biểu thức chỉ sự vật có trên một yếu tố phụ. Ví dụ: cô lái máy cày, lũ giặc Tống cướp nước, dòng nước xanh, chim sáo nâu, con hươu cao cổ, bác gấu búp bê, đàn gà con lông vàng, một mớ tóc tơ xanh rờn, cô Tiên dịu hiền nhân ái, những người bạn quý mến của Bác Hồ, đội viên hợp tác xã măng non,… Về mặt nghĩa: Các yếu tố chính thường chỉ loại lớn, ví dụ: người và không phải con người (động vật, thực vật, đồ vật, hiện tượng tự nhiên, sự vật trừu tượng). Trong các biểu thức phức, các yếu tố chính là các danh từ chung chỉ họ, giống, loài, loại. Các yếu tố phụ là các yếu tố biểu thị đặc điểm, tạo ra sự khu biệt cho nội dung khái niệm được nói tới. Với các biểu thức gồm nhiều đặc điểm thì sự khu biệt của đối tượng càng rõ. Ví dụ: biểu thức gọi cô lái máy cày gồm yếu tố chính là cô và 3 yếu tố phụ chỉ đặc điểm: hành động (lái), đối tượng (máy), hoạt động (cày). Các đặc điểm này khu biệt chính xác đối tượng. Một số yếu tố phụ chỉ đặc điểm: + Màu sắc, ví dụ: cò trắng, lúa vàng, tuổi hồng, hàng cây xanh thắm, bầu trời trắng xanh,… + Tuổi tác, ví dụ: em thơ, gà con, cỏ non, đời trẻ,… + Hoạt động, ví dụ: sâu đo, cô lái máy cày,… + Sở hữu, ví dụ: thầy em, bố em, mẹ em, quê ta, Đảng ta,… + Tên riêng, ví dụ: núi Hy Cương, sông Thao, cô Tiên, chú Cuội,... + Dạng thức tồn tại, ví dụ: đào tươi, biển sâu, hè về, gió đồng,… + Khoảng cách, ví dụ: đường xa, biển sâu,… + Đường nét, họa tiết, ví dụ: áo hoa, chiếc dù,… + Trạng thái, ví dụ: gió lành, xuân mới, nước đục, nước trong,… + Tiếng động, ví dụ: lao xao, rì rào,… Đối với các biểu thức thuộc phương thức phức gồm trên 3 yếu tố thì yếu tố phụ thường là sự kết hợp của hai yếu tố trở lên, chẳng hạn: biểu thức gọi sự vật khăn quàng tươi màu cờ, trong đó: yếu tố chính chỉ sự vật là đồ vật khăn, yếu tố phụ gồm 4 đặc điểm: đặc điểm 1 công dụng (quàng), đặc điểm hai trạng thái (tươi), đặc điểm màu sắc chung (màu), đặc điểm màu sắc cụ thể dựa trên cách thức tương đồng (màu cờ). b) Các mô hình BTGSV được tạo nên bằng phương thức phức b1) Các biểu thức chỉ người Loại 1: Danh từ chung + danh từ chung - Danh từ chung chỉ người + danh từ chung chỉ người Danh từ chung chỉ loài (người) cùng với các danh từ chỉ giống của con người có thể kết hợp với nhau để chỉ một tập thể người (gồm từ hai cá thể trở lên). Khi đó, BT chỉ người đóng vai trò là tên chung và viết thường. Các danh từ này xuất hiện với số lượng khá lớn. Thường gặp là kết hợp giữa các danh từ thân tộc; hoặc danh từ thân tộc kết hợp với em, ta, mình... Ví dụ: (45) Em yêu chiếc khăn quàng là hết lòng yêu thương mến nhau. Em yêu chiếc khăn quàng là lòng em luôn kính yêu cha mẹ [NL6, tr.24]. Trong ví dụ 45, biểu thức “cha mẹ” thể hiện sự bao gộp và chỉ chung đối tượng sống bên cạnh TN. Đây là biểu thức thường thấy trong cách gọi của TN. Các ví dụ khác như: ông bà, anh chị, anh em, thầy cô,... (46) Bà em ngồi kể chuyện ngày xưa [NL8, tr.102]. (47) Không đùa không nghịch, trêu đánh nhau nên bố em thường nêu gương [NL9, tr.118]. Trong ví dụ 46, 47 yếu tố chung em, trong bà em, bố em thể hiện sự đánh dấu chủ quyền của TN. Em trong trường hợp này mang hai giá trị: 1. nhân vật coi mình là đối tượng nhỏ bé và tự xưng với những người thân và những người mà TN yêu quý; 2. nhân vật đang dần ý thức cá nhân trong các mối quan hệ. Ví dụ khác: bà em, ông em, bố em, mẹ em, chị em... (48) Tiếng ca dân mình, gạo trắng trăng thanh [NL9, tr.107]. Từ dân mình trong các ví dụ 48 được TN dùng để hô gọi một nhóm đối tượng chung. - Danh từ chung chỉ người + danh từ chỉ sự vật ngoài con người Cách gọi sự vật này phản ánh mối quan hệ giữa hai đối tượng và phản ánh nhận thức của TN trong tri nhận các đối tượng theo quan hệ tương đồng hay tương cận giữa các đối tượng. Về mặt hình thức, cách gọi này thể hiện sự chuyển nghĩa khi từ tham gia vào một tổ hợp kép để gọi đối tượng. (49) Trong BT “mẹ Bống”, Bống vốn là tên gọi một giống thuộc loài động vật (cá) được dùng theo phép hoán dụ để chỉ một con người cụ thể (mẹ Bống). Phương thức chỉ sự vật này phổ biến trong toàn dân. Trong các CK tiếng Việt dành cho TN, các BT chỉ người thuộc phương thức này cũng có số lượng tương đối. Ví dụ: (50) Trưng Nữ Vương lau phấn son mưu thù nhà. Mài gươm vang khúc toàn thắng hùng ca. Thu về giang sơn cho lừng uy gái Nam [NL11, tr.75]. Trong BT “gái Nam”, “Nam” vốn là từ dùng chỉ phương hướng, vị trí theo định vị không gian. Từ sự hiểu biết đó, TN dễ dàng khám phá và hiểu biết về đối tượng được nhắc tới, hơn nữa còn mang lại một cảm nhận thú vị, gây hứng thú cho các em. Xuất phát từ hình thái ẩn dụ hoặc hoán dụ, trong BTGSV chỉ người được gọi theo phương thức này. Các yếu tố trong BT trên có một số quan hệ như: Quan hệ tương đồng về địa bàn sinh sống: bạn Nam Bắc, gái Nam,… Quan hệ về sự ngưỡng mộ, ước mong về những nhân vật thuộc thế giới siêu nhiên: chị Hằng, chú Cuội, ông Bụt, bà Tiên,… Quan hệ về mục đích, chức năng,… và được khúc xạ phương thức ẩn dụ hoặc hoán dụ: bàn tay, cành hoa, chim sáo, chim sơn ca, chim trắng, đài hoa, họa mi vàng, hoa lá, loài chim, mái tóc,… Đối tượng: dân (từ chỉ đối tượng cụ thể thuộc loài người và sống trong trong một khu vực địa lí, hành chính). Yếu tố này thường dùng để khu biệt nhóm đối tượng hoặc loài/ loại. Đối với một số trường hợp để hiểu các BTGSV thuộc phương thức này cần phải căn cứ vào ngữ cảnh của CK để lý giải. Chẳng hạn: BTGSV “mặt trời” được dùng để chỉ Bác Hồ. Để hiểu rõ biểu trưng (hình tượng) này, cần có những hiểu biết về mặt trời trong tự nhiên (sưởi ấm trái đất, mang ánh sáng cho vạn vật sinh sôi,…). - Danh từ chung chỉ người + từ ngữ chỉ đặc điểm Trong tư liệu khảo sát có nhiều BTGSV có các yếu tố chỉ đặc điểm để khu biệt đối tượng về nguồn gốc, số thứ tự, giới tính, tuổi tác, hình dáng, tình cảm/ cảm xúc, địa danh, nghề nghiệp,… Theo kết quả khảo sát, các BTGSV thuộc mô hình được phân chia thành các kết hợp: + Đặc điểm về nguồn gốc: con Lạc, cháu Hồng, con Hồng Lạc, con cháu Tiên Rồng, nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng,… Ví dụ: (51) Là bài ca non sông đất nước luôn trồng người mơ ước trăm năm. Tập tầm vông ca múa quay vòng là bài ca con cháu Tiên Rồng [NL10, tr.34]. + Đặc điểm về thứ tự: anh hai, anh ba, chị cả, bà năm, dì út, chị hai, em út… Ví dụ: (52) Chị hai xinh tang tình là chị hai đứng đứng nơi nào ư qua lới như cũng xinh [NL5, tr.21]. Vị trí, thứ tự trong nhà được lấy để gọi người là cách được dùng khá phổ biến khi gọi TN. Thái Nguyên, tháng 11/2020Vũ Thị Hương
|
TT |
Ngữ chỉ sự vật |
Số ngữ |
Số lần xuất hiện |
||
|
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
Số lượng |
Tỷ lệ (%) |
||
|
1 |
Ngữ hai yếu tố |
516 |
30.72 |
869 |
35.86 |
|
2 |
Ngữ ba yếu tố |
430 |
25.60 |
732 |
29.61 |
|
3 |
Ngữ bốn yếu tố |
382 |
22.74 |
467 |
18.89 |
|
4 |
Ngữ năm yếu tố |
248 |
14.76 |
283 |
11.45 |
|
5 |
Ngữ sáu yếu tố |
104 |
6.19 |
121 |
4.89 |
|
Tổng |
1680 |
100% |
2472 |
100% |
|
Cách gọi sự
vật
Số từ ngữ
Tỷ lệ (%)
Tần số
Tỷ lệ (%)
Phương thức
cơ sở
374
12.6
1964
37.7
Phương thức
phức
1849
85.1
3118
59.9
Phương thức
rút gọn
51
2.3
127
2.4
Tổng số
2174
100
5209
100
Sử dụng danh từ chung để gọi sự vật |
Ví dụ: |
Người |
Người, dân, ông, bà, cha/ ba/ bố, mẹ/ má, anh, chị, cô, dì, chú, bác, Lì, Sáo, Cuội, Hằng, Bống, Bờm, Xí, tôi, tớ, mình, nó, chúng mình, bọn mình... |
Động vật/ thực vật/ đồ vật/ hiện tượng tự nhiên/ sự vật trừu tượng |
Bướm, bê, chim, én, trâu, ve, cá, chim, chòe, chuồn, chuột, ngựa, sóc, sáo, thỏ, tôm, trâu, ve, vượn, cây, chanh, đa, hoa, khế, lúa, mai, me, cọ, huệ, khoai, lan, măng, nấm, ngô, phượng, sậy, cặp, cầu, chậu, chiêng, dây, diều, đu, gậy, ghế, giày, giỏ, guốc, gươm, mo, mũ, mùng, phấn, pháo, nắng, mưa, đất, tình, nghĩa, chí, danh... |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét