Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2021

Ánh đèn bên nhà hàng xóm

Ánh đèn bên nhà hàng xóm

Vợ ngăn cản không được, đâm ra giận hờn. Nàng tuyên bố xanh rờn “Nếu còn giao du với người ấy nữa thì sẽ cạch!”. Và nàng thực hiện thật. Chồng bát còn có khi xô, trước kia những khi giận nhau bao giờ tôi cũng tìm ra cách làm lành ngay. Nhưng lần này tôi lặng thinh. Thành thử một cuộc “chiến tranh lạnh” đã xảy ra giữa tôi với nàng. Tối đến, bao giờ nàng cũng chờ tôi đã ngủ rồi thì mới vào giường. Và ngược lại. Thực ra, nàng giận tôi cũng có cái lý đúng. Như những người có cùng một nhãn quan, một cách sống. Đành rằng nàng thuộc về số nhiều. Nhưng chưa phải là tất cả. ít nhất trên đời này vẫn còn có tôi. Nàng có quyền riêng. Và tôi cũng vậy. Nàng không thể bắt tôi theo nàng được.
Tôi vẫn thân thiết với Y. Tôi gọi thế cho tiện, cũng là đã nhiễm cái thói của nhiều người ở trong làng vẫn quen mồm gọi Y là thằng, là cu! Người ta thường nói với nhau trong những câu chuyện phiếm “Nhà cu Y vừa bán được đàn lợn vào đúng lúc giá cao”. Hay trong một lời khen “Thằng Y thế mà khéo chiều vợ ra phết”. Một sự cần đến “Việc này phải có tay của cu Y thì mới xong được”. Rồi có người rành rành là ít tuổi hơn Y nhiều, nhưng vẫn lớn tiếng sai con “Sang nhà cu Y hỏi xem mai có làm hộ hay không thì bảo”. Đại loại là như vậy. Người ta nói ở đằng sau và có khi ngay ở trước mặt Y. Nhưng hình như Y chẳng hề bận tâm. Mà vẫn chỉ cười khì. Một tiếng cười đến là lành của một người đã bước vào cái tuổi ngoài sáu mươi.
Tôi thân thiết với Y. Lẽ thứ nhất là Y là người hàng xóm, là tối lửa tắt đèn có nhau, là cái tình cái nghĩa của từ ngàn đời nay. Lẽ thứ hai Y là người ham đọc. Y thường hay sang nhà tôi mượn sách. Còn có lý do nào nữa thì tôi cũng chưa lý giải được. Chỉ biết lâu không thấy Y lại đằng nhà tôi thì tôi sang bên nhà Y. Chúng tôi thường ngồi với nhau đến khuya. Đến khi các loại côn trùng nghỉ tấu lên bản hòa ca ri rả. Tất cả chìm sâu vào cõi lặng. Chỉ còn tôi với Y vẫn thức, vẫn ngồi bên nhau và nói chuyện...
Xưa, Y là một đứa trẻ bị thiệt thòi ngay từ thuở mới lọt lòng. Mẹ Y, một cô gái quê mãi dưới mạn Thái Bình. Năm đói kém đã trôi dạt đến làng này, vào làm mướn trong gia đình ông Cự Phú. Ông chủ lúc đó đã có tuổi, nhưng vẫn còn khỏe và rất phong tình. Ông hay để ý đến cô gái có khuôn mặt tròn tròn, da trắng như trứng gà bóc, đôi mắt bồ câu luôn ngơ ngác buồn.
Từ vô tình đến cố ý, cô gái trẻ đem lòng yêu ông chủ. Rồi cô ngã vào vòng tay ông, lòng phơi phới nghĩ tới một cuộc đổi đời. Nhưng khi cô bước chân vào được nhà này, ông chủ đã có ba bà vợ. Người vợ Cả không biết sinh nở. Bà Hai có ba cô con gái. Bà Ba năm cậu con trai. Quyền thu quyền phát trong nhà rơi vào tay bà Ba cả.
Còn với Cô, vẫn không hơn được cái thân phận của một con ở. Đã vậy, còn phải chịu thêm sự ghen tuông đến cay nghiệt của người đàn bà đầy uy quyền. Nhưng mẹ Y còn trẻ, lại là người biết nhẫn nhục và giàu nước mắt. Những giọt nước mắt trong veo với một tình yêu nồng đượm làm cho ông chủ lay động, khơi dậy một chút lương tâm ở một người mà cửa miệng lúc nào cũng như có gang thép. Ông cho dỡ hai gian bếp chuyển đến dựng lên trên mảnh vườn ở cuối làng của một nhà vừa gán nợ cho ông. Mẹ con Y được chuyển đến đấy ở. Cũng là một cơ ngơi, một giang sơn riêng. Yên ổn một bề.
Trong ký ức của Y vẫn còn in đậm cái thời thơ bé. Hai mẹ con sống lẻ loi ở khu vườn hoang vắng. Tối đến, đom đóm bay từng đàn dập dềnh trêu người như lũ ma chơi. Đêm đêm, tiếng cóc nhái ộp oạp, tiếng giun dế rên rỉ não nề. Nằm nhìn lên mái nhà chỉ thấy một màu đen kịt từ nóc nhà đến rui mè, xà ngang, xà dọc.
Khi giỗ ngày Tết, Y cũng được mẹ mang về đằng nhà của bố. Y lẽo đẽo bám theo me. Mẹ Y lặng lẽ lẫn vào đám người ăn kẻ ở trong nhà. Y chưa bao giờ dám bước qua cái ngưỡng cửa của tòaà nhà trên. Mà chỉ thập thò ở ngoài cửa để nhìn vào. Cả một thế giới xa lạ bày ra trước mắt. Nào là những hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng, những sập gụ tủ chè bóng lộn...
Những người chị, người anh cùng bố với Y, coi Y như người dưng nước lã. Họ thì luôn tươi roi rói, sạch sẽ xinh đẹp, quần là áo lượt thơm tho. Cùng cái gốc của một người cha sinh ra mà với Y lúc nào cũng lem luốc bẩn thỉu. Ai cũng xa lạ với Y. Ngay cả với người cha đẻ của mình, Y cũng chỉ nen nét nhìn trộm từ đằng xa. Hình như Y chưa được cha bồng bế bao giờ.
Những khi đến đây, Y chỉ thui thủi chơi ở góc sân, ngoài vườn hay bên cạnh bờ ao. Vẩn vơ buồn vui một mình. Còn có mấy con chó là có vẻ thân thiện vẫn bầu bạn với Y. Hình như chúng vẫn coi Y là một cậu chủ nhỏ. Dường như loài chó chẳng biết phân biệt bao giờ.
Đến năm Y tám tuổi thì một sự kiện lớn đã xảy ra. Tất cả nhà cửa đất cát, ruộng vườn của bố Y bị tịch thu. Nhưng bà Ba đã nhanh tay hơn cả đội cải cách. Bà đã kịp bán tống bán tháo hết những thứ quý giá trong nhà rồi cùng với năm người con trai cuốn gói vào Nam. Còn bố Y với những người trong gia đình thì không đi.
Mẹ Y không bị quy thành địa chủ. Nhưng nằm trong diện “liên quan với địa chủ”. Với Y lúc đó, Y vẫn nhớ. Tâm trạng Y vui buồn lẫn lộn. Y cũng được theo đội thiếu nhi của làng đi tập hát sòn... sòn... sòn đô sòn... được đi đánh trống cổ động hô vang “Đả đảo địa chủ!” Cũng lây vào cái không khí hừng hực sục sôi của những con người nghèo khổ, giờ như được trời cho của, được chia nhà cửa, ruộng vườn, được đứng lên làm chủ. Nhưng trong lòng Y cũng có chạnh buồn. Bao nhiêu nhà lớn nhà bé, tòa ngang dẫy dọc của bố Y. Người ta chia nhau hết cả. Mẹ con Y không được hưởng một tí gì.
Y cũng đi xem mọi người đấu tố địa chủ. Nhìn bố bị trói, Y như một người được hả cơn hận. Nhưng ở trong lòng Y như có một cái gì đâm vào nhoi nhói, Y nuốt nước bọt, thấy đăng đắng nơi cổ họng.
Sau sửa sai, cuộc sống của làng xóm trở lại bình thường. Mẹ con Y vẫn được ở khu vườn cũ. Rồi Y được đi học. Y là một đứa trẻ sáng dạ, luôn đứng đầu lớp. Y bỏ xa những đứa bạn ở làng, lên học cấp III trường huyện.
Y tốt nghiệp lớp 10. Nhưng tất cả các trường Đại học đều đóng chặt cửa trước mặt Y.
Y sống lầm lụi cùng với những uất ức. Y đâm ra căm giận cái “lý lịch” của mình. Căm giận tất cả. Ở trong lòng Y đang cháy rực lên bao hoài bão. Vậy mà...
Đúng giai đoạn ấy, cuộc kháng chiến bước vào thời kì quyết liệt. Trai làng náo nức ra trận hết lớp này đến lớp khác. Y nhiều lần làm đơn, đã cắt tay lấy máu để viết đơn, nhưng đều bị từ chối, cũng bởi cái lý lịch của bố Y. Lại còn thêm “có anh ruột đã theo địch vào Nam”. Y nhận thấy mình như là một người bị bỏ rơi. Đã bao lần Y thèm muốn được đứng vào hàng ngũ của những người ra đi. Khát khao được có những nụ cười, những cái vẫy tay với lời chào tạm biệt ngay giữa sân đình làng. Một nỗi cô đơn, một nỗi buồn hoang vắng bao phủ lên lòng Y. Hình như người mẹ đã thấu hiểu được tận cõi lòng của Y. Và chính bà cũng đã tìm mọi cách để giúp Y.
Y được toại nguyện.
Hôm Y lên đường, người mẹ mổ gà làm mâm cơm cúng tổ tiên gia thần, cầu mong cho Y ra đi được chân cứng đá mềm. Bố Y cũng đến ăn cơm. Giờ ông đã là một ông già hiền lành. Lúc chia tay, hai bàn tay khô quắt như que củi cứ nắm chặt lấy tay Y. Trong khóe mắt ông ứa ra những giọt nước mắt long lanh “Con ra đi chuyến này, cố gắng để mang lại vinh quang về cho gia đình ta!”.
Y được điều về một đơn vị vận tải. Nhưng Y muốn được ra mặt trận, muốn được xông pha nơi lửa đạn, để thỏa cái chí nam nhi. Cán bộ đơn vị biết được ý nguyện của Y đã kịp thời động viên “Trong cuộc kháng chiến trường kỳ lớn lao này của dân tộc, làm bất kể một công việc gì phục vụ cho kháng chiến đều là vinh quang cả!”
Y yên tâm công tác. Y có thân hình cao lớn như hộ pháp, cơ bắp cuồn cuộn chắc như gỗ lim. Công việc dù nặng đến đâu Y cũng làm cứ nhẹ như tên. Núi cao, suối sâu đều cúi đầu khuất phục dưới chân Y. Vai mang nặng nhưng lòng Y nhẹ tênh.
Đơn vị cũng nhiều lần phải đọ súng với bọn biệt kích và thám báo. Trong chiến đấu, Y là một người quả cảm. Y luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Được cấp trên khen ngợi, đồng đội tin yêu.
Ở giữa rừng Trường Sơn, những buổi chiều tà, hoàng hôn buông tím những đỉnh núi mờ sương. Những đêm mịt mùng, tiếng vượn hú gọi bầy dai dẳng... Trong lòng Y trỗi dậy những nỗi niềm khắc khoải. Y bỗng thấy nhớ đến cồn cào. Cuộc chiến cứ ngày một khốc liệt.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 Y ra quân, khoác ba lô, lòng hân hoan, ngẩng cao đầu bước trên đường làng.
Bố Y cùng với những người mẹ Cả, mẹ Hai của Y đều đã khuất núi. Người mẹ đẻ thì già sọm, gầy nhom như một que củi. Y ôm chầm lấy mẹ, khóc nức nở như một đứa trẻ. Người mẹ lặng đi, không biết là thực hay mơ đây. Những ngón tay thô ráp nứt nẻ cứ lần rờ lên mặt, lên khắp người Y. Mãi rồi bà mới nức lên nghẹn ngào “Thằng cu Y, con tôi đã về đây thật rồi!”.
Y lấy những Huân chương và giấy khen Y được tặng thưởng, đem treo lên nơi thờ bố. Giá bố còn sống đến ngày hôm nay. Lòng Y ngậm ngùi một nỗi niềm hoài cảm. Thấy như mình là một người có lỗi. Và cứ bâng khuâng mãi bởi một sự trống trải đến lạ ở trong lòng. Sau ngày hòa bình, Y cũng chủ tâm đi tìm những người anh cùng bố với Y. Nhưng không thấy tăm hơi. Loạn ly từng ấy năm trời. Bao nhiêu cuộc đời, gia đình tan nát. Mất mát làm sao mà tránh được.
Y bồi hồi ngồi vào bàn học, lần giở những cuốn sách đã phủ đầy bụi. Vẫn còn kịp để cho Y tiếp tục thực hiện hoài bão.
Mùa thi năm ấy, lòng Y trẻ lại phơi phới. Y ngồi lẫn vào với những cô tú, cậu tú mặt còn đầy lông tơ, háo hức làm bài.
Y đợi ngày nhập trường Đại học. Trong đầu lúc nào cũng sáng lên cái viễn cảnh của một ngày mai. Y sẽ trở thành một người có học thức, có tài năng. Y sẽ có một địa vị, một chỗ đứng trong xã hội. Và sẽ cống hiến. Thương yêu mẹ đến vô ngần, Y nhất định phải đem niềm vui, hạnh phúc, sự đầy đủ về cho mẹ. Nhất định là thế. Lòng Y cứ phơi phới. Thế là giữa lúc cao hứng, trong lòng bỗng nảy sinh một thèm muốn. Muốn có ngay một sự đổi đời nho nhỏ. Một chiếc xe đạp mới toanh ở trên Cửa hàng bách hóa huyện. Tiếng líp kêu ro ro. Những chiến nan hoa loang loáng dưới nắng mới vui mắt làm sao.
Người mẹ tần tảo ky cóp bao ngày dành dụm được một ít tiền. Nhưng vẫn chưa đủ. Trong chuồng còn có con lợn vài chục cân mà người mẹ nuôi gần một năm rồi. Đinh ninh trong bụng là để cưới vợ cho Y. Nhưng với Y lúc này, cái xe đạp cần hơn. Người mẹ đành chiều con.
Y chọc tiết phăng rồi cạo lông, mổ phanh, làm lòng sạch sẽ. Vừa làm vừa huýt lên một điệu nhạc vui vui. Xếp lòng xếp thịt vào hai cái thúng, Y te tẩy gánh lên chợ huyện bán. Nhưng Y vừa nhễ nhại gánh thịt ra đến đầu làng thì bị giữ lại. Tất nhiên là Y phản đối. Lợn là của nhà, đâu phải là hàng cấm. Y có biết đâu, Y đã làm một việc động trời. Những năm đó, nhà nước quản lý rất chặt mặt hàng lương thực, thực phẩm. Giằng co xô xát đã xảy ra. Y không giữ được bình tĩnh.
Kết cục thịt lợn, lòng lợn của Y bị tịch thu. Y bị giữ rồi giải lên công an huyện. Hơn nữa, Y phải ra tòa với tội danh “hành hung gây trọng thương đối với người thi hành công vụ”.
Y vào tù.
Ra tù, Y về đến nhà thì cỏ đã mọc xanh rì lên mộ của mẹ. Đêm ấy, Y ngồi bên mộ mẹ suốt cả đêm. Sáng ra, Y bỏ làng đi biệt.
Chẳng một ai biết được Y đi đâu. Được một thời gian Y lại về làng. Nằm khèo mãi ở nhà, Y lại đi. Y đi biền biệt. Nhưng nhiều tin tức của Y vẫn bay về làng. Có người gặp Y đi làm cửu vạn ở thành phố. Có thời gian người làng lại thấy Y đang làm lơ xe. Có người chứng kiến Y thường đi áp tải những chuyến hàng lớn. Một thời gian, người làng lại xôn xao với cái tin Y đang làm một tướng cướp. Chỉ nghe đến vậy mà nhiều chị em đã thấy kinh hãi. Rồi có tin Y lại đã ngồi tù. Và có cả tin Y đã chết.
Thời gian trôi đi. Người làng chẳng còn ai nhắc tới Y nữa thì Y lại lù lù dẫn xác về làng. Đầu Y trọc hếu, râu ria xồm xoàm. Người xăm đầy những hình thù kỳ quái. Y đem về làng những lối sống của dân “anh chị” nơi thành thị, của những kẻ du thủ du thực. Y bông phèng, ngang tàng và bất cần. Với tất cả mọi người, dù là trong họ ngoài làng, dù là thân sơ hay kẽ ngạch chân tường, chỉ cần trái mắt Y một tí bằng cái móng tay cũng đủ làm cái cớ cho Y nổi khùng, lành làm gáo vỡ làm muôi ngay. Người trong làng, những nông dân cả đời chân lấm tay bùn, đôn hậu chất phát. Họ nể Y, sợ, coi khinh, đều có cả. Ai cũng bụng bảo dạ. Đừng dại gì mà dây với loại người đó. Còn với Y. Y luôn nghĩ tất cả đều sợ mình. Dường như ý nghĩ ấy làm cho Y cảm thấy vui vui trong lòng. Và càng táo tợn hung hăng như một con thú dữ. Y chỉ biết hăm dọa, nói chuyện bằng tay bằng chân với tất cả mọi người.
Nhưng cũng rất lạ, mỗi khi đứng trước phụ nữ hay trẻ con, bao giờ Y cũng nhũn như con chi chi. Ở làng cũng có người con gái động lòng trắc ẩn, muốn thương Y, muốn làm bạn với Y. Nhưng chẳng hiểu sao Y lại không thích người ta. Cũng có đám Y muốn lắm. Nhưng lại là xa vời vợi với Y.
Tháng bẩy năm ấy, dòng Thiên Đức bỗng nhiên trở tính. Nước sông dâng cao đỏ ngầu, sủi bọt sôi réo cuồn cuộn chảy như thác. Có mười ba xóm nằm ở ngoài chân đê. Trước kia, ông chủ tịch xã xin được trên rồi hô hào nhân dân mười ba xóm đắp bằng được con bối. Từ đó cư dân của mười ba xóm thoát khỏi cảnh ngập lụt hàng năm.
Giờ con bối đang gồng hết sức mình để che trở cho xóm làng. Trời vẫn cứ đổ mưa tầm tã. Nước sông vẫn ngày một dâng cao. Dân của mười ba xóm sống lại tinh thần khí thế của ngày đầu đắp lên con bối này, ngày đêm vật lộn với mưa gió, chặt tre đóng cọc, đào đất đắp giữ bằng được con bối. Nhất quyết không để cho vỡ bối. Nước sông dâng cao bao nhiêu, con bối lại được đắp cao lên bấy nhiêu.
Thế nước to quá, có nguy cơ đe dọa đến cả tuyến đê chính. Mọi người vẫn đội mưa gió mà đào đắp. Giữa lúc này, nhân dân của mười ba xóm nhận được lệnh “Khẩn cấp sơ tán để phá bối nhằm giải thoát cho dòng chảy”.
Mọi người hối hả chạy lợn, chạy gà, kê cất... Một số người vẫn kiên trì đóng cọc, vác đất... mong đợi hoãn lệnh. Nhưng vẫn phải phá bối.
Thoáng chốc, nhà cửa ruộng vườn của mười ba xóm chìm chung vào với dòng nước hung dữ. Dù là có chuẩn bị, nhưng mọi người vẫn bàng hoàng kinh sợ trước cơn hồng thủy.
Nhất thủy, nhì hỏa, thứ ba mới đến đạo tặc. Đánh giá của ngời xưa đâu có sai. Sau khi nước rút, mười ba xóm xơ xác một cách thảm hại. Đã vậy, một nỗi hoảng sợ hoang mang bao chùm lên xóm làng. Số là đã xảy ra một cuộc xô xát giữa những người thực thi nhiệm vụ phá bối với một số người làng quá khích kiên quyết giữ con bối lại. Điều không mong muốn đã xảy ra. Một người thi hành nhiệm vụ bị thiệt mạng. Một số người làng đã bị bắt. Nhưng thủ phạm gây ra án mạng thì vẫn chưa tìm ra.
Y ngồi một mình, lặng lẽ. Y nghĩ rất lung. Những ý nghĩ xô bồ nhưng rành mạch. Y nghĩ đến nhà tù. Y có ngờ đâu cuộc đời của Y lại phải trải qua những ngày tháng như vậy. Những tháng ngày hành hạ đầy đọa đời Y. Nhiều khi Y cảm thấy chán sống. Và Y lại cứ tiếc. Giá như những ngày ở chiến trường, những ngày tháng đẹp đẽ của đời Y, một viên đạn mang đi cái mạng sống của Y, thay cho một người khác sống để trở về thì có lẽ lại hay hơn. Y thường có ý nghĩ tội tội như thế! Và lúc này, chẳng hiểu sao hình ảnh của nhà tù lại hiện ra cứ rõ mồn một trong đầu của Y.
Sự việc vừa qua ở làng, Y đứng ngoài cuộc. Nhưng Y chứng kiến tường tận cả. Người gây ra án mạng là một cậu thanh niên phổi bò. Chiếc xà beng là tang vật gây án, cậu thanh niên đó đã kịp mang đi giấu. Và trước mặt Y lại cứ hiện ra đến là rõ nét một gương mặt còn non trẻ đầy hoảng loạn. Một ánh mắt tuyệt vọng như ánh mắt của người sắp chết đuối mà chẳng biết bám víu được vào đâu. Ánh mắt ấy sao lại cứ như là van xin, như là muốn cầu cứu ở Y.
Tuần sau, người thanh niên ấy sẽ lên Hà Nội để dự thi Đại học. Một người hẳn là đang ấp ủ nhiều mơ ước, hẳn là có nhiều triển vọng... Y cũng từng đã mơ ước. Ôi! Định mệnh sao đến là nghiệt ngã đối với một kiếp người. Mà cuộc đời thì lại quá là nhỏ bé. Tang vật gây án, giờ Y đang có ở trong tay.
- Thôi. Mặc kệ. Người nào làm nên tội thì người đó phải chịu tội.
- Nhưng cậu thanh niên ấy còn quá trẻ.
- Thì đã sao. Cậu thanh niên ấy chắc đang ấp ủ nhiều mơ ước và khát vọng. Sau này chắc sẽ là một người có ích.
- Ta cũng đã từng ước mơ. Từng là một người có ích đó sao. Ta đã từng ra trận, sẵn sang xả thân.
- Nhưng lại đã từng đánh người, từng bẻ khóa trèo tường, đã từng cướp giật, đã làm hại bao người…
- Thì ta đã vào tù.
- Nhưng lại mang nhiều thói xấu ở trong tù về hành hạ mọi người…
- Nhưng mà giờ đây ta đã giã từ được, đã biết xám hối. Ta chỉ muốn được sống bình yên và tự do…
Một cuộc giằng xé dữ dội trong lòng Y. Đã qua ba đêm liền Y thức trắng.
Rồi Y quả quyết.
Sáng sớm, nắng chan hòa, tiếng chim hót ríu ran, Y lên thẳng đồn công an “trình diện” với tang vật gây án. Những người đang bị giam giữ được thả. Có một thoáng ngơ ngác. Nhưng nhân chứng và tội chứng đã rõ như ban ngày cả rồi.
Y lại vào tù. Lòng Y thanh thản lại.
Thời gian vẫn bình thản trôi.
Mãn hạn tù, Y về làng. Lần này Y mang về một người phụ nữ còn trẻ cùng với đứa con gái chừng bốn tuổi. Đứa bé nom quặt quẹo ốm nheo ốm nhách. Người mẹ cũng chẳng hơn là bao. Dáng người dong dỏng, da xanh bóng như người bị đói lâu ngày. Hai mắt mở to, buồn thăm thẳm.
Người làng lại có dịp xì xào nhỏ to với nhau. Nhiều người cứ thắc mắc không hiểu Y có vợ từ bao giờ. Lẽ nào Y lại cưới vợ trong tù. Còn đứa trẻ có phải là con của Y hay không. Vân vân và vân vân. Thói đời nhiều khi vốn thế. Người ta cứ hay tưởng như vậy là có quan tâm đến nhau, có trách nhiệm với nhau.
Rồi mọi người cũng được thỏa mãn một chút tò mò. Người phụ nữ Y mang về tên là Nguyễn Thị Xim. Đứa con chị tên Anh Thư. Mọi người còn được biết thêm. Bố của Anh Thư đã chết ở trong tù. Trước lúc lâm chung, người tù xấu số có nhờ cậy Y một việc. Và Y đã hứa, đã thực hiện bằng được.
Một ngày lành tháng tốt, Y đưa chị Xim lên xã làm thủ tục đăng ký kết hôn. Tối về Y sửa một mâm cơm đạm bạc làm lễ tổ tiên của cả hai bên. Y và chị Xim chính thức nên vợ nên chồng
Y sống những ngày tháng êm đềm. Và có thể nói là rất hạnh phúc. Những năm tháng qua đã mang đi của Y mọi khát vọng, hoài bão. Nhưng vẫn còn để lại cho Y cái sức khỏe. Để Y có mà dùng vào trong cuộc mưu sinh. Y xoay trần ra làm lụng tối ngày. Khu vườn hoang xưa kia giờ đã là một vườn cây nào na, nào bưởi... Cây nào cây nấy quả sai lúc lỉu trĩu cành. Và với những luống rau xanh mướt.
Ngoài ra, Y còn đi làm mướn khắp trong vùng. Thôi thì từ đi làm phu hồ đến đào đất, dỡ tường... Y làm tất. Chị Xim có yếu đuối nhưng cũng là một người chăm chỉ và cũng biết lo toan. Cuộc sống trong cái gia đình nhỏ bé chắp vá này thật đầm ấm và đang ngày một khấm khá lên. Họ đang có ý thức dành dụm, để một ngày gần đây, cất lấy một căn nhà mới cho rộng rãi thêm.
Thời gian trôi, êm ả và thật đẹp. Bỗng dưng, cái bỗng dưng thường bất thình lình đổ xuống đầu người, chị Xim ngã bệnh. Y đưa vợ lên bệnh viện tỉnh, đến tận tuyến Trung ương. Các thầy thuốc đều lắc đầu. Chị đã đến giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư phổi.
Chị Xim qua đời. Lại như một trận giông tố kinh hoàng đổ vào cuộc đời Y. Y vươn mình ra để chịu đựng, chống chọi và tồn tại.
Thời gian vẫn cứ trôi.
Giờ đây trên mái tóc của Y đã điểm nhiều sợi bạc.
Y vẫn sống ở ngôi nhà cũ, ngôi nhà của người cha dựng cho từ lúc Y mới chào đời. Xưa nó từng che chở cho hai mẹ con Y. Và giờ nó vẫn chơ gan trước nắng mưa, gió bão để che chở cho Y và Anh Thư. Tôi nhận rõ, Y đang cố gắng để sống. Trong tất cả mọi sự phi thường thì sự phi thường đáng trân trọng nhất là nghị lực sống của con người. “Tôi cứ nghĩ mà thương bé Anh Thư quá thầy giáo à!”. Không biết đã bao nhiêu lần rồi, Y vẫn cứ thốt lên một lời ấy với tôi. Lòng tôi nao nao. Tôi cũng thương Anh Thư nào có kém gì. Thật là tội nghiệp. Con bé học giỏi và ngoan đến lạ. Hình như nó cũng biết thân biết phận. Nó nào có dám trách ai. Hình như cả hai cha con họ đều vậy. Họ chỉ còn biết yêu thương lấy nhau để mà sống, để tồn tại. Và có lẽ chính họ mới ý thức được sự sống quý giá biết chừng nào.
Truyện trò với Y, tôi chẳng biết chán là gì. Phần lớn chúng tôi nói chuyện về những cuốn sách cùng đọc, cùng tâm đắc. Đôi khi Y có tâm sự về cuộc đời Y. Những câu chuyện chẳng khác gì những trang sách liêu trai, giang hồ. Và Y cũng bộc bạch nhiều nỗi niềm sâu kín, Những nỗi niềm mà Y chẳng biết san xẻ cùng ai.
Trước mắt vợ tôi và không ít người, Y chỉ là một người đã từng vào tù ra tội, đã từng phạm pháp, làm những việc rất xấu. Ngay cả với chị Xim hiền lành yếu đuối, khi còn sống thì cũng bị miệt thị ra mặt. Bởi chị từng là vợ của một kẻ tử tù, giờ lại lần nữa làm vợ của một thằng ở tù về. Còn với bé Anh Thư, nó bé bỏng ngây thơ và trong trắng đến thế, người ta cũng đã sớm có vẻ khinh rẻ. Cũng bởi từ một ý nghĩ. Cha của nó đã từng ngồi tù. Điều đáng buồn hơn là cái thái độ ấy của người lớn đã ảnh hưởng không nhỏ đến cả những đứa trẻ. Là thầy giáo chủ nhiệm, tôi luôn bênh vực Anh Thư. Nhưng hình như hiệu quả không được như mong muốn. Cuộc đời vốn vậy. Làm sao có thể thay đổi khác đi ngay một lúc được.
- Tôi chỉ mong làm sao sống được đến lúc Anh Thư học xong Đại học là tôi có thể yên tâm mà nhắm mắt được thầy giáo ạ! Lúc chia tay, bao giờ Y cũng chỉ có một câu ấy với tôi.
- Bác còn khỏe chán! Trời sẽ phù hộ cho bác. Tôi cười rõ to. Và Y cũng cười theo. Ở trong đáy mắt Y ánh lên những tia sáng lấp lánh. Tôi rưng rưng ở trong lòng. Và từ đáy lòng, tôi cũng mong làm sao cho Y sống được đến lúc Anh Thư bước vào cổng một trường Đại học. Một mái trường mà Y đã từng mơ ước. Và mong sao Y mãi mãi có sức khỏe như thế này. Khỏe để nuôi Anh Thư, gả chồng cho Anh Thư. Hưởng cái hạnh phúc vô bờ của tuổi già là được bế bồng cưng nựng những đứa cháu yêu. Còn giờ đây mong ước vẫn chỉ là mong ước.
Đêm nay, tôi đứng trên ban công nhìn sang bên nhà hàng xóm. Trong ngôi nhà nhỏ bé kia vẫn còn ánh đèn le lói sáng. Chắc Anh Thư đang học bài. Và người cha cũng còn thức. Có một cái gì đó cứ mênh mang ở trong tôi.
Đêm đã rất khuya.
Trên cao, những vì sao đang thiêm thiếp. Còn có ánh đèn ở nhà bên là vẫn thức.
Đỗ Công Tiềm
https://www.facebook.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...