Thứ Sáu, 9 tháng 4, 2021

Truyện ngắn: Chuyện ông Bốc

Truyện ngắn: Chuyện ông Bốc

1. Ngôi nhà ba gian hai trái, mái lá. Cột kèo, hoành rui đều bằng tre. Loại tre gai ba mắt, to thẳng. Được ngâm kỹ, đen bóng như sừng, rắn chắc như gỗ lim. Tường nhà trát bua bằng vôi rơm, cốt tre.
Bắt vần với hiên nhà là hai gian bếp mái rạ. Bếp được ngăn đôi. Một nửa dùng để dung nấu. Trong bếp có ba ông đầu rau. Bên trên là cái giàn gác. Chứa đầy những rổ rá, sảo thóc, sảo sề, đượm bồ hóng đen kịt. Một nửa dùng làm phòng ăn. Một cái trạng bát bằng tre. Dưới gầm trạng có cái chĩnh tương. Mấy cái vại con dùng để muối dưa cà theo mùa, bằng gốm sành.
Một đầu bếp liền với hồi nhà là cái giếng khơi. Nước trong vắt nhìn rõ tận đáy. Đầu kia, cơi ra cái vẩy. Bên dưới xếp đầy những bó củi rong bằng chằn chặn.
Công trình nhà và bếp được đặt giữa một vườn tre, rộng gần ba sào Bắc bộ. Vuông vức nằm ỏ bìa làng.
Chủ nhân của ngôi nhà là ông Bốc. Tên đầy đủ trong sổ hộ tịch xã là Nguyễn Văn Bốc sinh năm 1950. Quê làng Thịnh Xá, xã Thịnh Đức.
2. Những người cao tuổi ở làng Thịnh Xá còn nhớ và bảo ông Bốc không phải là người làng này. Cũng chẳng có một ai biết được quê quán ông  ở nơi nào. Người ta chỉ biết vào năm 1953. Trong đợt tản cư để tránh cuộc càn quét lớn của giặc Pháp, gia đình ông Huân gặp một đứa bé chừng ba tuổi đứng khóc ở ven đường.
Lúc này hoàng hôn buông tím trời chiều. Gió bấc thổi thông thốc trên cánh đồng còn trơ cuống rạ từng cơn rét tê tái. Ông Huân bế thằng bé đem theo. Những mong tìm được cha mẹ của nó. Nhưng mãi đến ngày hòa bình cũng chẳng tìm thấy. Sau cải cách ruộng đất, hy vọng tìm được cha mẹ của thằng bé không còn nữa. Ông lên xã làm khai sinh cho nó.
Từ khi nuôi thằng bé, nó chỉ quen ăn bốc. Các con của ông gọi nó là cu Bốc mà thành tên. Và ông khai sinh cho nó luôn cái  tên đã gọi quen hàng ngày.
Bốc chính thức có một gia đình. Trên Bốc có hai chị một anh. Dưới Bốc có hai đứa em sinh đôi, kém Bốc chừng một tuổi. Trước ngày hòa bình, bà Huân sinh thêm một đứa con trai nữa. Tuổi thơ của Bốc trôi đi êm đềm trong tình yêu thương của bố mẹ, của các anh chị và các em.
Gia đình ông Huân đông miệng ăn. Thuộc diện nghèo nhất trong làng. Các chị, anh của Bốc chỉ học đến nửa chừng là bỏ. Để làm đỡ bố mẹ. Bốc cũng vậy.
Năm 17 tuổi, anh Bốc là một chàng trai cao lớn vạm vỡ. Mặt vuông chữ điền. Sống mũi thẳng, dáng vẻ nghiêm nghị. Đôi mắt sáng, trong veo như ánh nắng ban mai. Lúc này, hai chị gái đã đi lấy chồng. Anh Hòa, trên Bốc lại yếu. Anh bị thọt một chân. Ông bà Huân cứ nay ốm mai đau. Anh Bốc trở thành lao động chính. Gần như là trụ cột của gia đình.
Anh là một thợ cầy giỏi. Hợp tác xã có con trâu đực, sừng cánh vênh. Hai mắt đỏ gườm gườm. Không có một thợ cầy nào bắc nổi ách nó. Thế mà anh Bốc thuần phục được con trâu ương bướng. Dưới tay anh, nó kéo cầy băng băng. Trâu khác cày được một đường. Nó đi đường rưỡi. Sau vụ cầy bừa, công điểm của anh bao giờ cũng cao gấp rưỡi các thợ cầy khác.
Đâu chỉ có việc cày bừa. Mùa gặt. Người ta gặt được một sào. Anh cắt được sào rưỡi. Rồi phạt bờ cuốc góc. Năng suất của anh luôn cao gấp rưỡi, gấp hai mọi người.
Thời ấy, công việc của nhà nông chỉ dùng sức người. Nhà nào có người khỏe mạch, công điểm sẽ cao. Và được chia hoa lợi nhiều.
Ông bà Huân rất mừng vì có đứa con khỏe mạnh sốc vác. Trong thâm tâm của ông bà, đã không nghĩ Bốc là đứa con nuôi. Ông bà yêu thương nó như những đứa con ông bà dứt ruột đẻ ra. Và anh Bốc cũng rất yêu thương bố mẹ, các anh chị em của mình.
Đến năm 19 tuổi, anh Bốc tòng quân. Cuộc kháng chiến chống Mĩ bước vào thời kỳ cam go quyết liệt. Gia đình ông Huân chưa có người đóng góp. Ông bà vui lòng tiễn đưa đứa con cưng lên đường ra trận.
3. Anh Bốc đi liền một mạch. Đến cuối năm 1975, anh khoác ba lô về làng. Cả làng xôn xao. Anh có giấy báo tử từ năm 1972. Dân làng đã làm lễ truy điệu cho anh. Từ đầu làng, người ta vây kín anh. Người nắm tay, người sờ vai. Người ta lột cả chiếc mũ anh đang đội, để xem kỹ. Đúng là anh Bốc thật rồi.
Niềm vui khôn tả. Làng có thêm một người nữa trở về. Quả là một sự bất ngờ kỳ diệu. Chiến tranh mà. Mọi điều đều có thể xảy ra.
Ông bà Huân đều đã khuất núi cả. Anh Hòa được ba con. Đứa lớn 8 tuổi. Đứa út lên một. Các em, ai cũng đã lập gia đình. Người hai con, người một con. Vợ chồng cậu út thì vừa mới cưới. Đất cát của cha mẹ đã được phân chia xong. Phận nào, phận nấy. Anh Bốc chưa có phần. Khi chia đất, anh đã có giấy báo tử.
Anh Bốc ở nhà anh trưởng. Ngôi nhà cấp 4 bốn gian, của cha mẹ để lại. Đã cắt đi một gian. Để chia vào phần đất của vợ chồng chú út. Chật trội. Có sao đâu. Sự hẫng hụt lớn nhất của anh là thiếu vắng đi bóng hình của mẹ cha. Và sự sum họp của cả gia đình. Trước kia, anh chị em quây quần chung một mâm cơm. Chung mảnh chăn đơn, một ổ rơm ấm nồng trong mùa đông rét buốt. Giờ mỗi người một mái nhà, một nồi cơm riêng biệt. Âu cũng là quy luật cả. Như đàn chim chung một tổ. Khi đủ lông cánh, mỗi con một phương, một tổ.
Anh Bốc tháo tấm ảnh của mình trên bàn thờ. Cất tấm bằng Tổ quốc ghi công đi. Đợi ngày trả lại trên.
Một buổi tối. Anh trưởng gọi các em trai, em dâu sang họp. Anh trình bày dài. Tóm lại ý của anh như sau.
Cha mẹ nghèo, anh em lại đông. Gia tài của cha mẹ để lại chỉ có gần một sào đất. Khi cha mẹ chia đất cho anh em thì chú Bốc đã có giấy báo tử rồi. May cho gia đình ta. Đấy là một sự nhầm lẫn. Chú Bốc còn sống trở về. Giờ cha mẹ không còn. Anh có hai việc muốn bàn. Việc đầu tiên có hai cách. Thứ nhất là anh em góp tiền vào để mua cho chú Bốc một miếng đất khác. Cách hai là chia lại đất. Chọn cách nào thì anh em cùng bàn. Đến việc thứ hai là cưới vợ cho chú Bốc.
Im lặng khá lâu. Những gương mặt cháy nắng đầy suy tư và cả những tính toán. Mãi rồi cậu út phá tan bầu không khí nặng nề.
- Theo em. Anh Bốc cứ hẵng lấy vợ trước đã. Còn việc kia tính sau.
- Không được. Phải lo nhà ở cho chú Bốc trước. Chú ấy lấy vợ về, vợ chồng chú ấy biết ở vào đâu? Anh trưởng ném một câu hỏi ra giữa cuộc họp.
Anh trưởng nói phải. Vợ chồng con cái nhà anh đã rất chật trội. Còn thì ai cũng vừa chân ướt chân ráo ra ở riêng. Chỉ mới làm được một gian ở tạm. Đất cha mẹ chia cho, vẻn vẹn được vài thước. Phân định đâu vào đấy cả rồi. Giờ làm sao giỡ ra chia lại được. Còn góp tiền vào để tậu đất. Lấy đâu ra. Đi vay. Biết vay ai được bây giờ.
Bốc đứng lên.
- Thưa anh chị và các em. Em vừa về. Việc vợ con em chưa tính đến. Còn chỗ ở thì cũng chưa cần đâu ạ.
- Không được! Chú đâu còn trẻ. Phải tính đến ngay. Anh trưởng vẫn cương quyết.
Chị dâu đưa mắt nhìn chồng bằng một ánh mắt như có lửa. Như muốn quát. Im đi. Anh trưởng co rúm người lại khi nhận được cái nhìn của vợ. Anh có lòng hào hiệp. Nhưng yếu đuối. Chị vợ thì béo nung núc. Tham làm quàu quạu suốt ngày. Sức anh yếu vậy. Nhưng mọi việc nặng nhẹ trong nhà ngoài đồng, anh vẫn phải nai lưng ra làm. Ai cũng thương anh.
Vợ chồng mấy cậu em xúm lại thì thào với nhau. Rồi cô dâu út mạnh dạn lên tiếng.
- Khi chia đất, cha mẹ đã chia cho anh chị phần nhiều hơn. Còn mấy thước vườn đấy. Có thể cất tạm cho anh Bốc gian nhà ra đấy.
- Không được! Thầy mẹ đã chia cho vợ chồng tôi rồi. Ai cắt thì cắt. Tôi nhất quyết là không. Với lại... Chú Bốc có phải do thầy mẹ sinh ra đâu. Chỉ là một đứa con lạc vào nhà ta. Chị nói một thôi trong hơi thở hồng hộc.
Bốp! Anh trưởng nhoài cái thân hình bé nhỏ, tát thẳng vào mặt vợ. Chị ta ôm mặt chạy ra cổng khóc ầm lên lu loa “ối giời đất ơi! Có ai khổ như cái thân tôi thế này không?”.
4. Tiếng gà gáy râm ran. Bà Mong trở mình. Toàn thân bà đau ê ẩm. Đêm qua. Khoảng nửa đêm, bà thức giấc. Rồi bà không làm sao ngủ được nữa. Nằm trằn trọc bà nghĩ lan man. Tuổi ngày một cao. Sự cô quạnh. Chẳng biết kiếp trước bà ăn ở ra làm sao. Để kiếp này bà ra nông nổi này.
Ngày ấy, cô Mong là một cô gái xinh đẹp nết na của làng. Mười tám tuổi, cô đi làm dâu. Anh Hậu, chồng cô là một thanh niên khỏe mạnh đẹp trai. Nổi tiếng khắp các nơi vật trong vùng.
Kháng chiến bùng nổ. Anh Hậu ra nhập Vệ quốc đoàn. Cô Mong ở nhà tham gia du kích, rào làng kháng chiến.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Hậu bị pháo địch xén mất một bàn chân khi tấn công lên đồi A1. Hòa bình lập lại. Anh trở về với đời thường, bên người vợ hiền. Cưới nhau đã hơn mười năm trời. Anh chị vẫn chưa được một mụn con nào. Người ta năm trước cưới. Năm sau con bế con bồng. Nỗi khát khao của anh chị đến cháy ruột gan.
Nhiều đêm nằm bên chồng. Chị Mong tỉ tên “Hay là để tôi đi lấy vợ hai cho mình. May ra...”. Anh Hậu bịt chặt mồm vợ lại. Mãi rồi anh chị xin con nuôi. Mong lấy có chỗ dựa khi tuổi già. Hai lần nhận con. Đứa nào anh chị cũng chăm bẵm bằng tất cả tình yêu thương. Đứa đầu lên 6 tuổi thì bị viêm màng não. Nó chê anh chị, nó bỏ đi sớm. Đứa thứ hai nuôi từ lúc còn đỏ hỏn. Đến năm 13 tuổi lại bị đuối nước. Anh chị lại trắng tay. Đau đớn là vậy. Một số kẻ rỗi hơi còn rủa anh chị là hạng người “Cô quả”.
Đâu đã hết. Vào một ngày đông giá, anh Hậu đột ngột qua đời sau một cơn tai biến mạch máu não. Thế là anh bỏ chị giữa đường.
Tiếng gà gáy đổ dồn. Bà Mong ngồi bật dậy. Cứ nằm mà nghĩ ngợi thì càng thấy khổ thêm. Bà vẫn phải sống. Mấy luống rau đang đến kỳ thu hoạch. Hôm nay có buổi chợ phiên. Bà mở cửa. Hơi gió lạnh ùa vào làm bà khẽ rùng mình. Rửa qua cái mặt. Bà xuống bếp, nhấc đôi quang xảo lên vai.
Bà vừa mở cổng thì một thân người đổ uỵch xuống trước mặt. Bà hốt hoảng muốn la lên. Nhưng cứ líu lưỡi lại. Trống ngực đập thình thịch. Dưới ánh sáng nhờ nhờ, bà nhận ra.
- Cậu Bốc! Sao cậu lại nằm ở đây? Anh Bốc đứng dậy dụi mắt ngơ ngác lúng túng. Chưa biết trả lời bà ra sao. Bà Mong vứt đôi quang gánh khỏi vai. Bà kéo anh vào trong nhà. Anh Bốc kể hết cho bà nghe câu chuyện của gia đình anh xảy ra tối hôm quan.
Nghe xong, bà Mong ngồi thừ người ra. Ngày trước, bà cũng đã có ý muốn xin lại anh để nuôi. Nhưng ông bà Huân nhất quyết không cho. Giờ đây, lẽ nào lại là duyên trời sắp đặt. Bà nắm lấy tay anh Bốc. Quả quyết thiết tha.
- Anh em nhà cậu đều không phải là những người hẹp hòi cả đâu. Nhưng ở đời, cái khó nó bó mất cái khôn. Thôi thì... tình cảnh của cậu... hoàn cảnh của tôi... cậu hãy dọn sang đây với tôi. Tôi thành thực xin cậu đấy.
5. Người cán bộ hộ tịch xã vẫn cương quyết.      
- Thôn Thịnh Xá chỉ có một nguyễn Văn Bốc. Nhập ngũ ngày... tháng... năm... hy sinh ngày... tháng... năm...
- Nhưng tôi chưa chết! Tôi đã trở về!         
- Phải! Anh đã trở về. Nhưng những giấy tờ này của anh không hợp lệ. Anh ta nhìn như xoáy vào anh Bốc. Biết đâu. Anh là kẻ đào ngũ. Giấy tờ này là của người khác!
Anh Bốc đứng phắt dậy. Hai hàm răng nghiến vào nhau. Cằm bạnh ra. Toàn thân nóng bừng bừng. Mắt nảy lửa. Những ngón tay anh nắm chặt lại.
Người cán bộ xã biết mình đã lỡ lời. Mặt tái xanh, co rúm người lại. Tưởng như nắm đấm kia sắp ráng xuống đầu mình.
Anh Bốc giơ nắm đấm lên. Nhưng bất thình lình đấm thẳng xuống mặt bàn.
Rầm! Nói láo! Anh hầm hầm bỏ ra về.
Anh về đến nhà. Cơn uất ức chưa nguồi. Bà Mong nhỏ nhẹ.
- Kể ra tay cán bộ ấy cũng ăn nói hàm hồ bậy bạ. Nhưng cũng không thể trách người ta được. Nguyên tắc vẫn là nguyên tắc. Sao giấy tờ của cậu lại mang tên là Văn Bắc.
Anh Bốc ngồi lặng.
Những ngày ở đơn vị huấn luyện. Đến khi vào chiến trường. Mỗi lần điểm danh, cả đơn vị lại cười ầm lên khi nghe đến cái tên Bốc. Một lần lạc đơn vị. Ở đơn vị thu dung. Khi lấy lại trích ngang, anh đã khai lại tên của mình là Văn Bắc. Và từ đấy anh có tên là Văn Bắc. Tất cả những giấy khen, bằng khen dũng sĩ diệt Mĩ. Những huân huy chương chiến công, chiến sĩ vẻ vang của anh trên các chiến trường đều mang tên Văn Bắc. Sự thể là vậy. Có lẽ tại cái số của anh. Lúc còn bé, mất cha mẹ, gia đình là bởi loạn ly. Đi chiến đấu trở về, người yêu đi lấy chồng là do anh đã có giấy báo tử. Anh em chia rẽ mất lòng nhau là tại cái nghèo cái khó. Giờ những công lao, thành tích của anh trên chiến trường, không được công nhận là tại anh. Trách ai được giờ đây.
- Thôi bỏ đi. Cả làng này, chẳng một ai bảo cậu là kẻ đào ngũ đâu mà sợ.
- Vâng. Đành vậy! Đành ôm lấy. cái ấm ức. Và anh yên lòng. Như anh đã yên lòng ở với bà Mong. Bà Mong nhiều lần muốn anh làm con nuôi bà. Nhưng trong lòng anh có nhiều lý do để không muốn vậy. Anh chỉ muốn nương nhờ bà tạm thời. Tích cóp lấy ít tiền để tìm một chỗ an cư. Nhưng cứ mỗi ngày, anh cảm nhận thêm được tình yêu thương của bà, như tình yêu thương của cha mẹ nuôi đã dành cho anh. Rồi những hôm bà Mong trái nắng trở giời. Anh rùng mình nghĩ. Nếu như lúc này không có anh ở bên cạnh, bà Mong sẽ ra sao đây. Và thời gian cứ bồi đắp cho tình yêu thương của hai người. Tuy anh chẳng một lần dám gọi mẹ. Như bà Mong chưa một lần gọi anh là con. Nhưng ở trong lòng của hai người, tình mẹ con đã hình thành. Và cứ ngày một sâu nặng.
Bà Mong luôn giục anh tìm lấy một người. Để bà đứng ra lo việc cưới xin cho. Nhưng anh chỉ biết vâng! Và để đấy.
- Chả nhẽ cậu vẫn không quên được cô Soan? Anh im lặng. Hình ảnh của Soan đã thật sự khắc sâu trong tim anh mất rồi. Anh và Soan đã cùng nắm lấy tay nhau. Cùng ngước mắt lên bầu trời chi chít những vì sao lấp lánh mà thề nguyện. Làm sao anh quên được lời thề đó.
6. - Sao anh không lấy vợ? Câu hỏi nhẹ như làn gió thoảng giữa tiếng lào xào trong lúc chợ đông. Ông Bốc giật bắn mình, nhận ra. Vẫn là gương mặt ấy. Với ánh mắt thăm thẳm da diết ngày xưa ấy. Giờ chỉ khác đi vài nếp nhăn và mớ tóc bạc phủ lòa xòa trên vầng trán.
- Trời ơi! Soan! Ông lắp bắp chỉ gọi được vậy. Tim ông đập rộn, xôn xao. Từ cái buổi hai người gặp nhau trước ngày ông lên đường. Đã mấy chục năm trời. Những năm tháng ông lăn lộn trên khắp các chiến trường gian nan khốc liệt. Sự sống và cái chết chỉ trong tơ tóc. Hình ảnh của Soan. Tình yêu của em với lời thề sắt son đã giúp cho ông có thêm sức mạnh. Để ông sống và chiến đấu.
Ngày ông trở về. Soan đã đi lấy chồng. Ông chết lặng. Trong tim ông có một dòng máu rỉ ra. Rồi dòng máu ấy cũng đông cứng lại. Khi ông được tin Soan đang có một gia đình êm ấm.
Ngày nối ngày, tháng tiếp tháng, năm theo năm. Anh Bốc ngày nào ở làng. Đến Văn Bắc ở chiến trường. Giờ đây đã là ông Bốc rồi. Những mất mát, những đắng cay tủi hờn cũng đã qua đi. Ông bằng lòng với tất cả những gì ông đã làm. Và những gì ông đã có.
Ngày ông trở về. Gia tài chỉ có một chiếc ba lô. Vài bộ quân phục. Với những bằng khen giấy khen. Những huân huy chương của ông.
Ơn trời. Bà cụ Mong, người đàn bà khổ hạnh. Đã mở lòng đón ông, cho ông được nương nhờ. Chẳng biết ông trời vô tình hay hữu ý. Đã ghép hai kiếp người lại. Để ông được đến đáp lại công ơn của bà Mong. Được chăm sóc phụng dưỡng bà. Bà mất đi. Đã để lại cho ông một gia tài. Một mái nhà cho ông trú năng trú mưa. Một vườn tre, nguồn nguyên liệu cho ông đan lát khi rảnh việc. Ông trời còn phú cho ông cái sức khỏe. Ông đi làm mướn khắp trong vùng. Từ phu hồ, đào đất, tháo dỡ nhà cửa… Ông nhận làm tất. Cũng có thu nhập. Mấy năm gần đây lại có thêm loại hình dịch vụ mới. Một số gia đình có con em đi công tác cả. Khi sang cát cho cha mẹ đã nhờ ông làm giúp. Ông rủ thêm vài người cùng làm. Ông làm sạch sẽ tươm tất. Họ trả thù lao tương đối hậu hĩnh.
Ông không giàu. Nhưng cũng chẳng thiếu thốn thứ gì.
Giờ bà Soan hỏi ông vậy. Ông biết trả lời bà sao đây. Bà đâu có hiểu cho. Trong lòng ông chỉ có bà mà thôi không. Ngày còn trẻ, cũng có người thương ông. Cũng có người muốn giới thiệu mai mối cho ông chỗ này chỗ kia. Nhưng ông không làm sao bắt lòng mình thay đổi  được.
- Còn bà. Cuộc sống của bà thế nào? Ông trả lời bà bằng một câu hỏi.
- Vợ chồng em khỏe. Chúng em có tất cả 11 cháu nội ngoại rồi! Bà Soan vẫn cầm cái rổ trên tay, mâm mê như một khách xem hàng.
Có khách đến mua hàng. Bà Soan trả lại cái rổ. Nhìn ông vời vợi da diết. Nói một câu chỉ đủ cho mình ông nghe.
- Thôi! Em về đây!
7. Mặt trời đang lặn rồi chìm hẳn xuống phía sau dãy núi mờ xa. Bóng tối xâm chiếm dần lấy không gian. Vài con chim mải miết bay về tổ. Những người đi làm đồng đang lục tục về nhà. Ông Bốc đi lững thững trên đường. Ông dừng lại trước một cảnh tượng.
Hai bố con ông Biện đang hùng hổ quát tháo “Đồ mất dạy! Đồ hư đốn!” “Cút khỏi nhà của tao ngay”. Hai người đàn ông lực lưỡng. Người kéo, người đẩy một phụ nữ ra khỏi nhà. Quần áo đồ đạc bị vứt ra ngoài đường. Rồi khóa chặt cửa lại. Tiếng trẻ con khóc ré lên.
Người bị đuổi ra khỏi nhà là chị Lân, con dâu ông Biện. Chồng chị vừa mất do tai nạn giao thông. Chắc cũng sắp đến ngày giỗ đầu.
Những người khác chỉ đứng nhìn rồi lảng đi. Ai cũng biết, đừng dại gì mà dây vào bố con nhà ông Biện.
Chị Lân nhặt nhạnh những quần áo bị vứt tung tóe ra đường. Nước mắt chị lã chã rơi xuống mặt đường. Đứa bé đã thôi khóc. Nó lấm lét nhìn ông, nhìn bác như hai ông hộ pháp đang đứng chặn trước cửa nhà nó.
Gói ghém đồ đạc thành một bó. Chị Lân nắm lấy tay con. “Đi thôi con!”. Ông Bốc rảo bước theo mẹ con chị. Đến ngã ba đường, ông đứng chặn trước mặt chị Lân
- Trời tối rồi! Mẹ con chị đi đâu bây giờ? Chị Lân im lặng. Đứa bé nép sát vào chị.
- Chị hãy nghe lời tôi! Giờ hãy về nhà tôi! Sau hẵng hay. Nói rồi ông dắt tay đứa bé đi nhanh. Chị Lân bước theo như một cái máy.
Mẹ con chị Lân ngồi khép nép cạnh mép giường. Chị nói trong nước mắt .
- Chồng cháu vừa mất. Mồ chưa xanh cỏ. Không biết đã bao lần, hết bố chồng đến anh chồng giở trò gạ gẫm cháu. Đều bị cháu cự tuyệt. Họ trở mặt quay ra cùng thù cháu. Luôn tìm cớ gây sự để đuổi cháu đi.
- Cô phải nhờ đến luật pháp chứ. Mẹ con cô được quyền thừa kế cơ mà.
- Đất cát của bố chồng mua, nhà cửa ông ấy làm sẵn. Vợ chồng cháu chỉ việc ở ông ạ. Chị Lân vẫn chưa hết nức nở.
Ông Bốc thở dài. Ông xếp cho mẹ con chị Lân ở riêng gian trái, cũng là một căn buồng.
Hôm sau, ông Biện chặn ông Bốc giữa đường.
- Sao ông lại cho chúng nó ở đấy?
- Chúng nó! Bố con ông đã đuổi đi cơ mà. Cho chúng nó ở hay không là quyền của tôi. Ông có quyền gì mà ngăn cấm? Ông Biện cứng lưỡi, cút thắng.
Mẹ con chị Lân có nơi trú ngụ. Ngày ngày, cháu Mai con chị Lân vẫn đến lớp mẫu giáo. Chị vẫn đi làm ở công ty. Cuộc sống bình thản trôi như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Trong lòng chị dần dần lấy lại cảm giác bình yên. Bố mất sớm. Mẹ đi lấy chồng. Vừa chớm lớn, chị đã phải luôn cảnh giác. Phải chống chọi lại người bố dượng luôn tìm cách giở trò sàm sỡ. Chị đi lấy chồng. Nghĩ từ đây được yên thân. Nào ngờ chồng gặp tai ương, bỏ chị. Để chị ra nông nỗi này.
Khi theo chân ông Bốc về là trong một tình thế bắt buộc. Những ngày sau, chị luôn có cảm giác rờn rợn gai gai. Lẽ nào tránh Hổ lại gặp phải Báo. Chị lấy chồng về làng này mới được vài năm. Chị chỉ biết ông Bốc là một người đàn ông không vợ con. Giờ sống chung nhà với ông. Làm sao tránh khỏi bất an. Chị tự nhủ chỉ ở vài hôm. Nhưng vài hôm trôi qua đi, lại đến vài hôm nữa. Dần dần chị cảm nhận được. Ẩn chứa bên trong cái dáng vẻ lầm lụi khắc khổ kia là một tấm lòng nhân hậu, giàu tình cảm. Chị bắt đầu cảm mến yêu quý ông. Bé Mai cũng nhanh chóng yêu quý ông hết mức. Đi học về là nó quấn quýt lấy ông. Những khi ông cháu chơi đùa, tiếng cười của ông, của cháu reo vào lòng chị những âm thanh xao xuyến lạ.
Những ngày đầu, chị luôn phải cài chặt cửa buồng. Nhưng rồi chị thấy không cần phải thế làm gì. Nhiều đêm. Khi con đã ngủ say, chị vẫn nằm thao thức. Ông trời sao khéo sắp đặt đến éo le. Không biết ở nhà ngoài, ông Bốc còn thức không.
8. Trời đang hửng sáng.
- Thôi cô vào nhà đi! Lau nước mắt đi! Đừng khóc nữa! Tôi chỉ đi một thời gian thôi mà. Một thời gian là bao lâu cơ chứ. Có một nỗi sợ hãi ám ảnh chị Lân suốt đêm qua.
Tối hôm qua. Khi bé Mai đã ngủ, ông Bốc gọi chị ra nhà ngoài. Ông giao cho chị toàn bộ giấy tờ nhà đất. Và một bản di chúc của ông trao quyền thừa kế cho mẹ con chị. Một cuốn sổ tiết kiệm với giấy ủy quyền cho chị được rút tiền ở ngân hàng. Các giấy tờ đều đã được công chứng. Ông bảo là nhờ chị giữ hộ. Nhưng ông đi nhiều nơi. Thời gian cũng dài. Không biết đến khi nào mới về. Ông làm sẵn để nếu có điều gì bất trắc xảy ra thì chị cứ làm theo sự ủy thác của ông.
Điều ông vừa nói. Chị đâu ngờ tới được. Cũng chẳng thể nào từ chối được. Trong chị có bao cảm xúc trào dâng. 
Cả đêm, chị không hề chợp mắt. Nhiều lần chị ra đứng trước ngưỡng cửa buồng. Nhưng chị không làm sao bước ra nhà ngoài được.
- Ông đi một thời gian rồi phải về... với mẹ con em đấy nhé! Chị Lân nói nhanh trong làn nước mắt. Rồi chị chạy vội vào trong nhà.
Ông Bốc đi được một thời gian, mọi người mới biết ông không có nhà. Người ta hỏi chị Lân xem ông đi đâu. Chị trả lời là không biết.
Người làng Thịnh Xá lại có những câu chuyện xì xào to nhỏ với nhau về ông Bốc. Người ta cứ đặt ra những câu hỏi. Để hỏi nhau. Vì sao ông lại bỏ nhà ra đi. Ông đi đâu. Sao mãi không về. Có người bảo chắc là ông đi tìm gia đình. Chương trình như chưa hề có cuộc chia ly, đã giúp bao gia đình đoàn tụ. Người cho rằng ông tìm về đơn vị cũ để đổi lại tên trên các giấy tờ. Mấy ông trong hội Cựu chiến binh thì khăng khăng là ông đi tìm đồng đội. Và ai cũng đinh ninh ý của mình là đúng. Ồn ào, đôi khi đến mức to tiếng với nhau. Có người đỏ mặt tía tai lên. Nhưng rồi chuyện về ông Bốc cũng lại chìm vào tĩnh lặng. Cuộc sống thì vẫn trôi đi ngày một hối hả. Ai cũng bận rộn với công việc của mình. Có mấy ai biết. Cứ mỗi khi hoàng hôn buông, mẹ con chị Lân lại ra đứng ở bìa làng. Mẹ con chị như đang ngóng trông chờ đợi một ai.    
Đỗ Công Tiềm
Theo https://www.facebook.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...