Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2021

Tự Lực văn đoàn - Văn học và Cách mạng - Phần 1

Tự Lực văn đoàn
Văn học và Cách mạng - Phần 1

1- Ngòi bút đứng lên
"Người ta không viết cho kẻ nô lệ. Nghệ thuật văn xuôi liên hệ với một thể chế duy nhất mà nó còn giữ được ý nghĩa trọn vẹn: đó là dân chủ. Khi cái này bị đe dọa, thì cái kia cũng bị đe dọa theo. Tranh đấu bằng ngòi bút, nhiều khi cũng chưa đủ. Tới ngày nào bị bắt buộc phải gác bút thì lúc đó nhà văn sẽ phải cầm súng. Như thế, bất cứ anh đến với chữ nghĩa bằng phương tiện gì, dù anh có những tư tưởng như thế nào, văn chương cũng vẫn dồn anh ra mặt trận. Viết tức là một cách nào đó muốn có tự do, và nếu anh đã bắt đầu, thì dầu muốn dầu không, anh phải dấn thân [1]".
Những lời Jean-Paul Sartre viết năm 1948 trên đây tại Paris, phản ảnh thực tại của phong trào văn học và cách mạng duy nhất ở Việt Nam: Tự Lực văn đoàn.
Khởi đầu, họ chỉ là những thanh niên yêu văn chương nghệ thuật, mới tập viết văn hoặc đang học vẽ, nhưng chỉ trong vài năm, họ đã trở thành những tên tuổi hàng đầu của nền văn học và hội họa nước nhà. Họ đã tạo được một phong trào đổi mới văn chương tư tưởng, cải tiến xã hội chưa từng thấy. Ẩn dưới chiều sâu của cuộc cải cách văn chương và xã hội là mục đích giải phóng dân tộc khỏi vòng nô lệ.
Khi chính quyền thực dân dùng sự kiểm duyệt khắt khe để triệt hạ sức phản kháng bằng ngòi bút, những người cầm đầu Tự Lực văn đoàn đã bỏ văn nghệ để cầm súng. Đó là lịch sử của nhóm Tự Lực, quy tụ chung quanh bốn thành viên chính: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí. Đây cũng lịch sử của một tình bạn lạ lùng giữa Khái Hưng và Nhất Linh, từ những bước đầu thành lập Tự Lực văn đoàn. Nguyễn Gia Trí là người ra đi cuối cùng, sau khi các bạn đã lần lượt nằm xuống.
Ta thử tưởng tượng: dưới thời Pháp bị Đức đô hộ, Paris có một tờ báo trào phúng hàng tuần, kiểu Le Canard enchainé (Con vịt bị xích) ngoài những tiểu thuyết của Stendhal, Balzac… còn in tranh hài hước của Picasso, Braque… kèm với những bài xã luận chính trị nảy lửa bàn về quyền làm người, để chống lại chế độ Đức quốc xã đang thống trị trên nước Pháp.
Tờ báo tưởng tượng này chính là ảnh thực của hai tờ tuần báo Phong Hóa Ngày Nay, trong thời điểm 1932-1940, tại Hà Nội, đã quy tụ những ngòi bút tài ba nhất của thế hệ: Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam… và của các họa sĩ hàng đầu: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân… cùng những tác giả nổi tiếng khác, hợp lực cộng tác để xây dựng một nền văn nghệ quốc ngữ mới, đưa dân tộc ra khỏi hai vòng nô lệ: nô lệ hủ tục và nô lệ thực dân, với những mục đích chính:
- Phát triển và đổi mới nền văn học quốc ngữ.
- Phê bình đạo lý Khổng Mạnh, chống chế độ đại gia đình, loại bỏ hủ tục, mê tín, dị đoan.
- Xây dựng một xã hội tân tiến.
- Tranh đấu chống thực dân, đòi tự do dân chủ.
Họ đã liên kết văn chương với hội họa vào cuộc tranh đấu chống chính quyền thuộc địa, trên bình diện văn hóa, trước. Khi cuộc chiến bằng ngòi bút bị bức tường kiểm duyệt chận lại, họ quay sang cầm súng, sau. Đó là thực chất của phong trào Tự Lực văn đoàn.
Trong tám năm, từ 1932 đến 1940, Tự Lực văn đoàn hoạt động không ngừng trên khuôn khổ của hai tờ tuần báo:
Phong Hóa, số 1 (ra ngày 16-6-1932), do Trần Khánh Giư (Khái Hưng) chấp bút từ số 1 đến số 13 (8-9-32). Từ Phong Hóa số 14 (22-9-32) Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) làm Giám đốc tới số 190 (5-6-36) thì bị rút giấy phép, phải đình bản hẳn.
Ngày Nay từ số 1 (30-1-35) đến số 224 (7-9-40) do Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam, Trần Khánh Giư, Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) thay phiên nhau làm Giám đốc.
Con đường đấu tranh của Tự Lực văn đoàn, thể hiện trên ba bình diện: Chính trị, trào phúng và văn chương, từ Phong Hóa số 14 (22-9-1932) đến Ngày Nay số 224 (7-9-1940), là số cuối cùng.
Toàn bộ sưu tập Phong Hóa Ngày Nay đã được công bố, từ ngày 12-9-2012, trên một số website trong và ngoài nước, qua các thư viện điện tử: Người Việt Online, Diễn Đàn.org, Viện Việt Học… ở hải ngoại, và thư viện một số đại học trong nước. Nhờ cố gắng của năm người: Phạm Phú Minh, chủ biên báo mạng Diendantheky, Nguyễn Trọng Hiền, con trai họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Tường Giang, nhà thơ, con trai nhà văn Thạch Lam; Phạm Thị Thảo bút hiệu Phạm Thảo Nguyên, con dâu nhà thơ Thế Lữ và Thành Tôn, nhà thơ.[2]
Nhờ bộ sưu tập này, không những chúng ta có thể đọc trực tiếp những tác phẩm văn chương của Khái Hưng, Nhất Linh, những bài nghiên cứu chính trị của Hoàng Đạo, xem tranh hài hước châm biếm khuynh đảo của Nguyễn Gia Trí, để hiểu rõ công lao xây dựng văn chương quốc ngữ và tranh đấu cách mạng của Tự Lực văn đoàn.
Năm 1938, Mặt trận bình dân (Le Front populaire) do Léon Blum cầm đầu, mất quyền lãnh đạo nước Pháp, chính sách cai trị ở thuộc địa khe khắt hơn, Nhất Linh cùng Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính.
Tháng 9 năm 1939, đại chiến thứ nhất bùng nổ, chính quyền thực dân bắt giam những người đối lập và phát động chính sách kiểm duyệt nghiệt ngã. Ngày Nay không còn đất vẫy vùng, những người cầm đầu Tự Lực văn đoàn quyết định bỏ bút, cầm súng.
Năm 1940, tổ chức cách mạng của họ bị phát giác. Những người chủ chốt bị truy nã. Ba thành viên nòng cốt: Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Gia Trí và Trần Khánh Giư (Khái Hưng), lần lượt bị bắt trong tháng 9 và tháng 10/1941. Riêng thủ lãnh Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) trốn thoát sang Tàu.
Cho tới nay, khi viết về Tự Lực văn đoàn, các tác giả thường chỉ chuyên chú đến khía cạnh văn chương, không mấy ai để ý đến khía cạnh chính trị và trào phúng, là hai địa bàn quan trọng khác, tạo thành thế chân vạc trong chiến lược giải phóng dân tộc bằng ngòi bút của Tự Lực văn đoàn.
Đặc biệt phần trào phúng, bắt đầu trên Phong Hóa từ số 14 (22-9-1932) và trở thành căn cước thứ thứ ba của tờ báo, bên cạnh chính trị và văn chương. Khi Phong Hóa bị rút giấy phép phải đình bản hẳn sau số 190 (5-6-1936), toàn bộ ban biên tập chuyển sang báo Ngày Nay số 16 (12-7-36), và trên đầu tờ báo (exergue) này, Nhất Linh chia nội dung làm hai phần:
1- Ngày Nay Tiểu Thuyết
2- Ngày Nay Trông Tìm.
Gần hai tháng sau, tới Ngày Nay số 25 (3-9-36), Nhất Linh lại đổi exergue một lần nữa, ông chia báo làm ba phần:
1- Ngày Nay Trông Tìm.
2- Ngày Nay Trào Phúng
3- Ngày Nay Tiểu Thuyết.
Chữ Trông tìm tuy có nghĩa tìm kiếm khoa học, mở rộng hiểu biết, nhưng ở đây thầm ngụ ý chính trị. Mục Trông tìm do Hoàng Đạo phụ trách, với những bài chính luận, trình bày cho độc giả hiểu thế nào là tự do và dân chủ, và ông viết những bài xã luận quyết liệt, đòi các quyền: tự do ngôn luận, tự do lập đảng và quyền làm người.
Điều này chứng tỏ kể từ tháng 9 năm 1936, Nhất Linh đã đưa vị trí tranh đấu chính trị, do Hoàng Đạo phụ trách, lên hàng đầu. Ông đặt châm biếm, trào phúng, do Nguyễn Gia Trí phụ trách, sang hàng thứ nhì, và đưa văn chương tiểu thuyết… của Khái Hưng, Nhất Linh xuống hàng thứ ba. Không phải ông coi thường văn học, mà do đòi hỏi của tình thế: Sự thay đổi này gắn bó mật thiết với tình hình chính trị: Ngày 3-5-1936, Mặt Trận Bình Dân (Le Front Populaire) lên cầm quyền ở Pháp, có chính sách cởi mở đối với những nước thuộc địa, quyền tự do báo chí được nới rộng hơn, bỏ cơ quan kiểm duyệt; Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí bèn lợi dụng tình thế, viết và vẽ mạnh hơn, trực tiếp phê bình chính sách đàn áp của thực dân và cương quyết đòi tự do dân chủ. Báo Ngày Nay trong giai đoạn này, đã thực hiện những số "để đời" với bút vẽ trào phúng của Nguyễn Gia Trí.
Tự Lực văn đoàn đã đạt những thành quả không thể chối cãi được trong thời điểm 1932-1938:
Về mặt văn học, khai phá nền văn chương quốc ngữ: giới thiệu và phổ biến Thơ Mới, đặt nền móng cho Tiểu thuyết và Truyện ngắn Việt Nam, trên báo Phong Hóa.
Về mặt tranh đấu chính trị, nổi trội nhất là ba năm, từ 1936 đến 1938, trên báo Ngày Nay: khi Hoàng Đạo, trở thành lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn và Nguyễn Gia Trí, công khai vẽ tranh châm biếm với bút hiệu RIGT (trước đó vẽ không ký tên hoặc ký nhiều tên khác nhau), chủ ý kết hợp ý nghĩa châm biếm trong tranh với nội dung chính trị của Hoàng Đạo. Từ đó, Nguyễn Gia Trí phụ trách toàn bộ hý họa và minh họa tờ Ngày Nay. Phải nhận rõ công việc này mới có thể hiểu tại sao Nguyễn Gia Trí bị đánh đập tàn nhẫn khi bị Pháp bắt năm 1941, và vai trò quan trọng của ông trong Tự Lực văn đoàn.
Thế Lữ, rút dần khỏi Tự Lực văn đoàn, ra làm kịch với Đoàn Phú Tứ từ năm 1937. Tháng 10-1938, ông lập ban kịch Thế Lữ.
Sang năm 1939, Nhất Linh, Khái Hưng vì hoạt động chính trị, viết ít hơn trước, Nguyễn Gia Trí bận công tác đảng, vắng mặt, Tô Ngọc Vân thay thế. Chất lượng tranh hài hước trên Ngày Nay kém sút đi nhiều, bởi vì Tô Ngọc Vân là họa sĩ tài ba, nhưng ông vẽ tranh châm biếm không sắc bén như Nguyễn Gia Trí.
Cuối năm 1939, sau khi chiến tranh thế giới bùng nổ, chính quyền thuộc địa thay đổi thái độ, truy lùng và bắt bớ đối lập, gia tăng kiểm duyệt. Ngày Nay bị cắt nhiều đoạn, nhiều bài.
Các thành viên chính của Tự Lực phải lui vào bóng tối, chỉ còn một mình Thạch Lam xoay sở, ít người viết, tờ báo nghèo nàn đi. Đây là thời kỳ Tự Lực văn đoàn bắt đầu tan rã.
Ngày 7-9-1940 Ngày Nay ra số 224, số báo cuối cùng.
Mùa thu năm 1940, Nhất Linh chạy sang Tàu.
Ngày 16-9-1941, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí bị bắt.
Ngày 31-10-1941, Khái Hưng bị bắt. Cả ba bị giam ở Vụ Bản đến năm 1943.
Ngày 27-6-1942 Thạch Lam mất vì bệnh lao.
Hoạt động văn học của Tự Lực văn đoàn chấm dứt. Nhưng hoạt động cách mạng còn kéo dài thêm một thời gian nữa.
Từ trước đến nay, sự nghiên cứu Tự Lực văn đoàn thường chỉ xoay quanh và đề cao Nhất Linh, coi ông là người đã "sáng tạo" ra Tự Lực văn đoàn, nhất là sau khi ông tự vẫn, sự độc tôn Nhất Linh không còn giới hạn.
Sự thực, Tự Lực văn đoàn là một tập hợp bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, Thạch Lam, Thế Lữ, và Tú Mỡ, nhưng chỉ có bốn cột trụ: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí. Nếu thiếu một trong bốn người này thì Phong Hóa Ngày Nay, không thể là Phong Hóa Ngày Nay như chúng ta đã biết.
Trong cuốn sách này, chúng tôi dựa vào những điều đã viết và vẽ trên hai tuần báo Phong Hóa Ngày Nay, trong tám năm, từ tháng 9-1932 đến tháng 9-1940, và trên báo Ngày Nay kỷ nguyên mới từ số 1 (5-5-1945) đến số 16 (18-8-1945), một phần những số báo Việt Nam chúng tôi có được và trọn bộ báo Chính Nghĩa, cùng những tài liệu rời khác, để thử tìm lại:
- Hành trình của Tự Lực văn đoàn, con đường văn nghệ và cách mạng.
- Làm sáng tỏ vai trò của Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí.
- Giới thiệu các tác phẩm cuối cùng của Khái Hưng, sau khi Tự Lực văn đoàn tan rã.
- Sự bôn ba hải ngoại của Nhất Linh, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí từ 1946 đến 1950.
Khi nói đến Tự Lực văn đoàn hay Phong Hóa Ngày Nay, là chúng ta nói đến một tổ chức văn nghệ nhất quán của một nhóm người có tư tưởng đổi mới xã hội và giải phóng dân tộc.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là người lãnh đạo Tự Lực văn đoàn và đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính, sau cùng hòa nhập với Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Khái Hưng là cột trụ chính, quán xuyến tất cả những tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay, Ngày Nay kỷ nguyên mới, Việt Nam, Chính Nghĩa. Ông cũng là người xây dựng nền móng tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại Việt Nam.
Hoàng Đạo là người khai trương lý thuyết dân chủ, nhân quyền một cách có hệ thống và toàn diện, lý thuyết của Hoàng Đạo vượt xa Phan Châu Trinh, bởi ông thâm hiểu Tây học và luật học.
Thạch Lam khích động lòng yêu nước, nhưng không trực tiếp hoạt động.
Thế Lữ và Tú Mỡ không tham gia chính trị, giữ khoảng cách với văn đoàn, khi hiểm nguy.
Xuân Diệu chỉ là thành viên từ cuối 1938, năm 1939 góp bài ít hẳn đi, năm 1940, ngừng hẳn.
Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí ở trong tổ chức văn hóa và chính trị này từ lúc phát sinh đến hồi kết thúc cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo, là bốn cột trụ xây dựng Tự Lực văn đoàn, một tổ chức tranh đấu giải phóng dân tộc bằng con đường nghệ thuật và tư tưởng.

Chú thích:
[1] Jean-Paul Sartre, Qu’est-ce que la littérature, Folio Essais, 1993, t. 72.
[2] Theo Phạm Phú Minh trong bài Việc điện toán hóa báo Phong Hóa Ngày Nay: Những ý nghĩ lãng mạn giữa một ngày mùa đông, in trong Kỷ yếu Triển lãm và Hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực văn đoàn, Nxb Người Việt, Cali, 2014, trang 290-295.
2- Sự thành lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa
Phần I
Bìa Phong Hóa số 154
Nhất Linh hầu như không trực tiếp đem đời sống thực vào tác phẩm, ngược lại Khái Hưng viết một số tiểu thuyết, truyện ngắn phản ánh những biến cố đã xẩy ra, nhờ đó, chúng ta có thể tìm lại được những mảnh đời trôi nổi của ông và các bạn, trong đó có giai đoạn đầu tiên thành lập Tự Lực văn đoàn.
Nhưng trước khi đi xa hơn, chúng ta tên biết qua những mốc chính:
- Phong Hóa số 1 ra ngày 16-6-1932)
- Phong Hóa số 14 (22-9-1932) hoàn toàn đổi mới. Số báo này được Nhất Linh và Hoàng Đạo công nhận là số báo đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.
- Phong Hóa số 190 (5-6-1936) là số cuối cùng, sau đó bị rút giấy phép, đình bản hẳn.
- Ngày Nay số 1, ra ngày 30-1-1935.
- Ngày Nay số 16 (12-7-1936) ra đời một tháng sau khi Phong Hóa bị đóng cửa, Tự Lực văn đoàn đưa toàn bộ biên tập Phong Hóa sang Ngày Nay.
- Bốn năm sau, Ngày Nay ra số 224 (7-9-1940) là số báo cuối cùng.
Việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn bắt buộc phải khởi đi từ hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay. Nhưng trước hết phải trả lời những nghi vấn:
- Tự Lực văn đoàn thành lập từ bao giờ?
- Trước hay sau khi Phong Hóa số 14 xuất hiện?
- Tôn chỉ của văn đoàn là gì?
- Ai viết lại lịch sử tờ Phong Hóa?
Đó là những câu hỏi mà chúng tôi tìm cách trả lời trong phần I này.
Tự Lực văn đoàn có trước Phong Hóa số 14
Bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56 (ra ngày 21-7-1933), trong hai khung quảng cáo, ở trang 5: Tự Lực Văn Đoàn sắp ra Hồn bướm mơ tiên và Tự Lực Văn Đoàn sắp in Vàng và Máu.
Lần đầu tiên xuất hiện bốn chữ 
Tự Lực văn đoàn trên Phong Hóa số 56
Trên báo Phong Hóa số 87 (ra ngày 2-3-1934), trang 2, có bài Tuyên ngôn Tự Lực Văn Đoàn, nội dung như sau:
Tự Lực Văn Đoàn
Tự Lực Văn Đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương.
Người trong Văn Đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực Văn Đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được Văn Đoàn nhận và đặt dấu hiệu.
Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo, gửi đến để Văn Đoàn xét. Nếu hai phần ba người trong Văn Đoàn có mặt ở hội đồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sức cổ động giúp. Tự Lực Văn Đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách.
Sau này nếu có thể được, Văn Đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của Đoàn.
Tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn 
1- Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giaâu thêm văn sản trong nước.
2- Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày một hay hơn lên.
3- Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
4- Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam.
5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho ngũòi khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái.
7- Trọng tự do cá nhân.
8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9- Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.
10- Theo một điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác.
Tự Lực Văn Đoàn
Vậy ta có thể xem ngày 21-7-1933 (ngày bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56) hay ngày 2-3-1934 (ngày công bố bản tuyên ngôn Tự Lực Văn Đoàn trên Phong Hóa số 87) là ngày Tự Lực Văn Đoàn thành lập được không?
- Câu trả lời là Không.
Bởi vì, Tự Lực văn đoàn có trước hai số báo này.
Phong Hóa số 154 (20-9-1935) xác nhận hai lần rằng: Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa, như ta sẽ thấy dưới đây:
Phong Hóa số 154, 20-9-1935
1- Phong Hóa số 154, trang 2, trong bài viết tựa đề: 22-9-32 Kỷ niệm ngày báo ra 22-9-35, có câu:
"Có một điều ai cũng nhận thấy là vào thời kỳ báo Phong Hóa ra đời (kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực văn đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H.[chúng tôi in đậm] trong làng báo có một khuynh hướng mới về mặt nhà nghề: tờ báo viết để quần chúng xem và tờ báo mong sống vì độc giả" [1].
Bài này ký tên Phong Hóa, chắc Nhất Linh viết chứ không phải Khái Hưng (bởi vì Khái Hưng đã làm báo Phong Hóa từ số 1, như ta sẽ thấy ở dưới), và câu: kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực văn đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H.  nghĩa rằng: Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa từ số 14. Nói khác đi, Tự Lực văn đoàn đã có trước Phong Hóa số 14 và Tự Lực văn đoàn nhìn nhận Phong Hóa số 14 là số báo khởi đầu của văn đoàn.
2- Vẫn trên PH số 154, trang 2, dưới tấm hình chụp báo PH số 14, ghi câu: "Đây là ảnh chụp số báo 14 (số bắt đầu thời kỳ Tự Lực văn đoàn đứng chủ trương báo Phong Hóa [chúng tôi in đậm] ra đúng ngày tứ ly là ngày mọi việc đều không nên). Vì khổ to dễ nhầu nát, khó giữ nên đến số 20 thì thu lại bằng khổ bây giờ)".
Lời ghi dưới hình chụp số Phong Hóa 14, 
in ở Phong Hóa số 154, trang 2
Câu này xác định một lần nữa việc Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa.
Tóm lại, xin nhấn mạnh: Tự Lực văn đoàn có trước Phong Hóa số 14 và Tự Lực văn đoàn chủ trương Phong Hóa từ số 14.
3- Vẫn Phong Hóa số 154, trang 2, trong bài Bên đường dừng bước, Tứ Ly viết:
"Cách đây ba năm, một đêm thu giá lạnh, tôi và Nhất Linh từ biệt Khái Hưng ở báo quán, nện gót trên đường vắng mà về. Lúc đó, vào khoảng hai giờ sáng (…) chúng tôi thấy trong lòng nhẹ nhàng vui vẻ… Sáng hôm ấy, số đầu (tức là số 14) Phong Hóa ra đời (…) [chúng tôi in đậm].
Ba năm qua… Hôm nay tạm dừng chân đứng lại, chúng tôi nhìn con đường đã đi; chúng tôi ra báo ngày 22 tháng 9 năm 1932là một ngày rất xấu: ngày tứ ly. Không phải là một sự vô tình, chính là định ý cưỡng lại cái thuyết số mệnh nó bắt dân ta nằm dí một nơi, đương lúc mọi người cùng tiến" [2].
Câu: "Chúng tôi ra báo ngày 22-9-1932, là một ngày rất xấu: ngày tứ ly, chứng tỏ cái tên Tứ Ly cũng phát xuất cùng với sự "ra đời" của báo Phong Hóa, kể từ số 14, và phải đến báo Ngày Nay, mới đổi thành Hoàng Đạo.
Nhà in báo Phong Hóa
Vẫn trên Phong Hóa số 154, trang 3, trong bài Nói chuyện cũ, Nhất Linh mô tả nhà in, in báo Phong Hóa như sau:
"Cái nhà in in báo Phong Hóa lúc đó cũng là "một sự lạ chưa từng thấy" trên hoàn cầu. Nó có cái tên nhũn nhặn là Imprimerie Moderne, dịch nôm là "nhà in tân thời". Cái nhà in tân thời đó nói cho đúng ra nó là cái bếp, hay cũng na ná như cái bếp. Những lúc chúng tôi xuống chữa bài, luôn luôn có hơi khói mầu lam đưa thoảng qua: nhà in trông mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Tầu. Nhiều khi những mùi thịt bò xào, mùi chả trứng cũng theo gió bay vào thơm nức cả. Những mùi thơm quý hóa đó chỉ vào quãng mười, mười một giờ mới có. Lúc đói bụng vừa chữa bài, vừa ngửi những hơi thơm đó, có phần cũng dễ chịu.
Mùa rét đến thì cái nhà bếp đó biến thành bắc băng cực. Gió lùa vào các cửa sổ đã vỡ hết mặt kính làm cho chúng tôi không thể nào chữa bài được một cách cẩn thận. Chúng tôi không thể nào quên được cái đêm trước ngày số báo Tết năm 1934 xuất bản. Lúc đó vào quãng mười hai giờ đêm. Chúng tôi ở nhà báo sắp sửa về đi ngủ, thì có giấy nói gọi báo tin máy không thể in được nữa. Xuống nhà in mới biết vì trời rét quá mực đỏ in bià số Tết đóng cục lại.
Chúng tôi thấy giá cả chân tay, và trông cái máy in mà thương hại. Mỗi lần người cai cho máy chạy thử, là nó cứ rung rung như người rét run cầm cập. Sau cùng ông chủ nhà in bảo lấy ra một cái hỏa lò đầy than hồng đặt xuống gầm máy để sưởi cho nó. Quả nhiên máy lại chạy được. Chúng tôi lấy làm lạ rằng máy cũng biết ấm như người; trông cái buồng máy lúc đó y như hệt cái buồng đàn bà đẻ".
Đó là diện mạo nhà in Imprimerie Moderne, rất nghèo khổ lúc ban đầu, nhưng sau sẽ thay đổi, chúng tôi sẽ nói đến những biến chuyển của nhà in này trong một chương sau.
Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn 
Bản Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn có 9 điểm, chỉ hai điểm đầu là quan trọng nhất, tiếc rằng không mấy ai chú ý, đó là:
1- Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giàu thêm văn sản trong nước.
2- Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày một hay hơn lên.
Nói khác đi, Tự Lực văn đoàn chủ trương không dịch sách văn chương nước ngoài, chỉ dịch hay soạn những sách có tư tưởng, làm cho Người và Xã hội, ngày một hay hơn lên, tức là chỉ nên dịch sách triết học, lý luận và khoa học. Đó là điểm rất quan trọng mà Tự Lực văn đoàn đã nghĩ ra từ đầu và họ đã giữ đúng quy ước này: Trên Phong Hóa Ngày Nay chỉ có một vài bài thơ dịch và hầu như không dịch truyện ngoại quốc nào trừ Giòng suối xuân của Tourguenev. Quyết định này nằm trong chủ đích tự lực, không chỉ tự lực vật chất, tức là không nhận tiền trợ cấp của chính quyền thuộc địa mà còn phải tự lập cả tinh thần, tức là nhà văn phải lấy nguồn gốc văn hóa dân tộc làm căn bản để sáng tạo ra một nền văn chương quốc ngữ mới, không sao chép các tác giả ngoại quốc được dịch sang tiếng Việt.
Vì Tự Lực văn đoàn không dịch truyện Pháp sang tiếng Việt, nên người Việt muốn viết văn phải tự đào sâu và khám phá tiếng mẹ đẻ của mình.
Nhờ quan niệm này, Tự Lực văn đoàn trở thành đầu tàu kéo theo một thế hệ nhà văn lớn nối tiếp như Nguyên Hồng (Bỉ vỏ, 1937; Bẩy Hựu 1940) Vũ Trọng Phụng (Giông tố, 1937; Số đỏ 1938), Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời, 1940)…
Về phía hội họa, cũng nhờ giáo sư Victor Tardieu, giám đốc trường Mỹ thuật Đông Dương, dạy học trò phải dựa trên nền móng văn hóa dân tộc để sáng tác, mà ông đã đào tạo nên một thế hệ họa sĩ tài ba, như Mai Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, thành danh tại Pháp; Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí… thành danh ở Việt Nam. Khác hẳn với chính sách của người Anh ở Ấn Độ, dạy học trò bỏ hẳn nghệ thuật Ấn Độ để học mỹ thuật Tây phương, nên đã không đào tạo được những danh họa người Ấn. Bây giờ, trên các sàn đấu giá "quốc tế" người ta tranh nhau mua tranh (giả hay thật) của các danh họa Việt Nam, bởi vì cả Á Châu, chỉ có trường Mỹ thuật Đông dương là "sản xuất" ra những họa sĩ có tình cách đặc thù.
Văn học miền Nam, thời kỳ phát triển 1954-75, mặc dù có nhiều sách dịch, nhưng những nhà văn tên tuổi như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng… cũng không hề mô phỏng văn chương Pháp, họ tự tạo con đường riêng bằng cách khai phá tiếng Việt và văn chương Việt. Thanh Tâm Tuyền học Nguyễn Du. Dương Nghiễm Mậu, nhà văn "mới nhất" về cấu trúc truyện cũng như tư tưởng, đã coi Khái Hưng là thầy.
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng vậy: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… là những người tự tìm tòi, tự khám phá, làm giàu tiếng Việt, họ không sao chép văn chương ngoại quốc, nhờ đó, tác phẩm của họ mới có giá trị lâu dài.
Hiện nay, tình hình thay đổi hẳn, người viết văn Việt Nam đứng trước một rừng tiểu thuyết ngoại quốc dịch sang tiếng Việt, họ bối rối, hoang mang, hoặc tự hào là mới, cứ thế phỏng theo, từ cách viết, cách dàn xếp câu chuyện đến văn phong (đôi khi ngờ nghệch vì dịch ẩu). Cả đến cái gọi là tân kỳ cũng thế: không hiểu chúng ta có thể học được gì ở sự tân kỳ của một Houellebecq, nhà văn "lớn" của Pháp hiện nay, ngoài sự kiêu kỳ, thô bạo và sex? Sự hướng ngoại thái quá và sự khinh thường văn chương Việt Nam, vì không biết hoặc không thèm đọc các tác giả Việt, là trở ngại không nhỏ cho việc phát triển văn chương.
Qua tình trạng này, ta lại thấy Tự Lực văn đoàn đã nhìn rõ vấn đề từ thập niên 1930.
Báo Tiếng Cười
Trước khi làm Phong Hóa, Nhất Linh chủ trương báo Tiếng Cười.
Vẫn trong bài Nói truyện cũ, trên Phong Hóa số 154, Nhất Linh, kể lại rằng:
"Đầu tiên muốn trống [chống] lại cái vẻ đạo mạo, già khụ của các tờ tuấn báo quốc ngữ, chúng tôi định cho ra một số báo lấy tên là "Tiếng Cười". Tờ "Tiếng Cười" đó đã được giấy phép xuất bản của chính phủ, nhưng không thể ra đời được, vì một lẽ giản dị là không kịp thu xếp xong trước ngày hết hạn giấy phép. "Tiếng Cười" vì thế đổi thành Tiếng khóc."
"Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự cho là "tham lam vô độ".
Sau này trong bài tiểu sử Nhất Linh, do Nguyễn Ngu Í soạn ở Sài Gòn, năm 1966, có câu: "xin ra tờ báo trào phúng "Tiếng Cười", nhưng vì gặp cảnh không tiền nên "tráng sĩ đành năm co". Quá hạn, bị rút giấy phép" [3]
Vậy báo Tiếng Cười không ra được vì không có tiền, chứ không phải vì chính quyền thuộc địa không cho phép như lời Tú Mỡ viết trong hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn [4] được nhiều người chép lại.
Nhưng nếu không có tiền làm báo Tiếng Cười, thì lấy tiền đâu ra để làm báo Phong Hóa? Tại sao "tự nhiên" lại có tiền? Đó là vấn đề cần tìm hiểu, chúng tôi sẽ trả lời trong kỳ tới.
Một điều lạ là trong số báo Phong Hóa 154 này, chỉ có Hoàng Đạo và Nhất Linh lên tiếng, còn Khái Hưng? Khái Hưng làm thinh. Tại sao?
Vì thắc mắc muốn tìm hiểu lý do, nên chúng tôi đã đọc kỹ những số Phong Hóa đầu tiên, từ số 1 đến số 13 (mà từ trước đến nay thường được coi là tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh, vì ít người đọc, sắp chết, nên bán lại cho Nguyễn Tường Tam).
Việc đọc này dẫn đến kết quả bất ngờ:
Khái Hưng bao biện hầu hết các trang báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, với những bút hiệu khác nhau. Việc này rất khó hiểu. Nếu ta tin những điều được truyền tụng, đại ý: Nhất Linh mua lại tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh đang gặp khó khăn sắp đóng cửa, mà báo Phong Hóa lại do Khái Hưng viết từ số 1. Tại sao người ta lại bảo đó là tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh, và không nhắc nhở gì đến Khái Hưng? Rồi Khái Hưng cũng không giải thích gì thêm về sự ra đời của Tự Lực văn đoàn trong số báo Phong Hóa đặc biệt 154 đã nói ở trên.
Phải đọc hay đọc lại báo Ngày Nay số 16 ra ngày 12-7-1936, ta mới thấy xuất hiện truyện dài Những ngày vui trong đó Khái Hưng đã tiểu thuyết hóa việc thành lập Tự Lực văn đoàn và báo Phong Hóa qua lối viết hóm hỉnh của ông, với những chi tiết hiếm quý, chưa từng thấy.
Ngày Nay số 16 (12-7-1936) là một số báo quan trọng, tương tự như Phong Hóa số 14 trước đây. Bởi vì, sau số 190 (5-6-1936), Phong Hóa bị đình bản hẳn, Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào Ngày Nay số 16, như một sự phản hồi.
Kịch Chết trên Ngày Nay số 16
Ngày Nay số 16, trang đầu in vở kịch chính trị ngắn tựa đề Chết của Khái Hưng do Nguyễn Gia Trí minh họa, như một bài xã luận, xác định lập trường sau khi Phong Hóa chết. Khái Hưng viết rất kín đáo nên ty kiểm duyệt không hiểu để… kiểm duyệt.
Tác phẩm mô tả cái chết của Lực (tượng trưng cho tờ Phong Hóa). Trước khi chết Lực dốc sức tàn, trăng trối với các bạn:
"Công việc chúng ta cùng nhau theo đuổi… trong bốn năm ròng… anh em đều hiểu rõ… hiểu rõ như tôi… Nay đã có cơ sở vững bền… và nó sẽ vững bền vì chúng ta muốn thế (…) Điều quan trọng mà tôi… mà anh em nhiều lần nhắc đến… hẳn anh em còn nhớ. Là công cuộc chúng ta theo đuổi… vẫn tiến hành như thường… dù xẩy ra việc gì mặc lòng… dù một người trong bọn ta chết đi… người chết đi là ai cũng vậy (…) Chỉ cái chết của ý tưởng… là đáng sợ…là đáng phàn nàn… Còn cái chết của người!"
Thông điệp thật rõ ràng và quyết liệt: trong bốn năm ròng [từ PH số 1 (16-6-1932) đến PH số 190 (5-6-1936)] chúng ta đã tranh đấu, đã có cơ sở vững vàng, nay tờ báo chết, mọi việc phải tiếp tục tiến hành như thường.
Kịch Chết chồng chất hai ý nghĩa: tờ báo chết hay chính một người trong chúng ta có chết đi, thì người khác vẫn phải tiếp tục. Và Phong Hóa liền được thay thế bằng Ngày Nay. Kịch Chết mang lời di chúc có tính cách triết học của bậc đàn anh: "Chỉ cái chết của ý tưởng là đáng sợ… còn cái chết của con người!" (có nghĩa lý gì).
Cùng với những dòng chữ quyết liệt này, Khái Hưng đã ghi lại lịch sử sự thành lập báo Phong Hóa trong tiểu thuyết Những ngày vui, mà chúng tôi sẽ trình bày trong kỳ tới.

Chú thích:
[1] Trích bài: 22/9/32 Kỷ niệm ngày báo ra 22/9/35, tiểu đoạn Hai thời kỳ, in trên Phong Hóa số 154 (20-9-35), trang 2.
[2] Tứ Ly, Bên đường dừng bước, Phong Hóa số 154, ra ngày 20-9-1935, trang 2-3.
[3] Trích Sống Và Viết với… của Nguyễn Ngu Í, do Ngòi Xanh (chữ của Nguyễn Ngu Í) xuất bản năm 1966, tại Sài Gòn, Xuân Thu chụp và in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm.
[4] Bài hồi ký này in trong Tạp chí Văn học số 5-6/1988 và số 1/1989); in lại trong Tự Lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 125-158.
2- Sự thành lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa
Phần II
Những ngày vui của Khái Hưng
Trở lại Ngày Nay số 16 (12-2-36) là tờ báo mà Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như để chứng tỏ: Chúng tôi chưa chết đâu. Trên tờ báo này, liền theo kịch Chết của Khái Hưng đăng ở trang nhất thay bài xã luận, là hai tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng và Lạnh lùng của Nhất Linh [1].
Lạnh lùng là một trong những tác phẩm chủ yếu của Nhất Linh, chúng tôi sẽ có dịp trở lại. Những ngày vui là tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, được viết trong bối cảnh Phong Hóa bị đe dọa đóng cửa; chắc hẳn với mục đích ghi lại "sự tích" Tự Lực văn đoàn, nếu một mai, tờ Ngày Nay cũng bị đóng cửa nốt.
Những ngày vui đăng trên Ngày Nay từ số 16 (12-7-1936) đến số 29 (11-10-1936), được nhà xuất bản Đời Nay in thành sách năm 1941. Nhà Phượng Giang tái bản ở Sài Gòn năm 1958. Bản in trên Ngày Nay số 20, Nguyễn Gia Trí vẽ cảnh Leung-Fat-Fa đang đứng bán hàng.
Việc Nhất Linh cho in lại tác phẩm thứ yếu này của Khái Hưng, dường như ngoài ý ghi ơn ân nhân Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, người đã thầm kín giúp vốn để cải tổ Phong Hóa, còn muốn tưởng niệm Khái Hưng, vinh danh Nguyễn Gia Trí và nhớ lại những ngày vui thành lập Tự Lực văn đoàn thủa trước.
Những ngày vui khi đăng trên báo Ngày Nay năm 1936, do Nguyễn Gia Trí minh họa. Bản Phượng Giang sửa vài chỗ, nhưng việc sửa chữa này có từ năm 1941, trên bản Đời Nay hay là Nhất Linh sửa năm 1958? Nhưng những chỗ sửa không quan trọng mấy. Tóm lại, Những ngày vui đã được ba nhân vật chính: Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh viếtminh họa  in lại, có thể với mục đích để lại dấu vết việc "khai sinh" Tự Lực văn đoàn cho đời sau.
Những ngày vui, Ngày Nay số 20
Tóm tắt cốt truyện Những ngày vui
Phương [Khái Hưng] là con trưởng một gia đình giàu, Lan vợ chàng, con quan, nhà giàu chẳng kém gì nhà chàng. Những năm 1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, đường đi rộng rãi, nhà cửa cao ráo, sáng sủa, bởi Phương đã cải tiến đời sống của dân làng. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, dân quê túng thiếu, vợ chồng chàng tìm cách giúp đỡ để nâng cao đời sống của họ. Thấy việc buôn sơn do người Tàu và người Nhật độc quyền, Phương nghĩ ra cách kinh doanh mới: trồng cây sơn và lập xưởng pha sơn để lấy lại nguồn lợi cho dân. Phương chuyển những nơi trồng mía, khoai, sắn, sang trồng sơn, lập nhà máy chế tạo. Chàng bỏ ra gần mười vạn bạc vốn, nhưng vì chưa có kinh nghiệm lại bị sự cạnh tranh kịch liệt của người Tàu và Nhật. Kết quả, bốn năm sau, đồn điền cùng các xưởng thợ, nhà máy của chàng đều bị chủ nợ tịch biên bán đấu giá. Phương khánh kiệt gia tài, phải về sống nhờ trong từ đường nhà vợ tại Lũng Thượng [2]. May được người bạn minh hương là Nguyễn Văn Tiên Léang fat Houa (khi in thành sách sửa là Leung-Fat-Fa) giúp đỡ. Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên - khi còn nghèo khổ đã được Phương giúp cho mấy trăm bạc - muốn trả ơn chàng. Leung-Fat-Fa có một cuộc đời đầy thăng trầm, sóng gió, nhưng cuối cùng được hưởng gia tài của cha, người Tàu, chủ một hiệu tạp hóa lớn ở Hà Nội. Anh mượn Phương làm sổ sách, lương 30 đồng. Phương nhận lời, đưa gia đình rời Lũng Thượng về Hà Nội.
Đến Hà Nội, Phương đang đi lang thang tìm nhà thuê, thì gặp lại Duy họa sĩ [Nguyễn Gia Trí] bạn thân, Duy cho biết đã thuê nhà sẵn cho Phương rồi. Nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Hiện đã có Điển, thầu khoán, đến ở cùng.
Sở dĩ Duy có tiền, vì chàng đang làm đại lý bán xe hơi cho một hãng ô tô lớn, lương 50 đồng, cộng thêm hoa hồng mỗi chiếc xe bán được khoảng hai, ba chục bạc. Mỗi tháng Duy kiếm được từ trăm rưởi trở lên, hơn tiền bán tranh nhiều, vì thế Duy mới có tiền thuê nhà cho bạn ở để làm báo [3].
"Ngoài công việc bán ô tô, nếu còn thừa thời giờ Duy vẽ tranh. Còn Điển và Phương tuy Phương bận bán hàng tạp hóa - sẽ cùng nhau theo đuổi công việc soạn văn, dịch sách, gửi đăng các tạp chí trước khi cho xuất bản" [4].
Phương và Điển viết văn, dịch sách, Duy vẽ. Nhưng thức suốt bao đêm mà tác phẩm của hai "nhà văn" chẳng được báo nào đăng.
Một hôm Duy dõng dạc tuyên bố: "Bài vở các anh cứ để đấy, sẽ có chỗ đăng". Duy đã dụ được ông chủ hãng xe hơi ra một tờ báo nhà để quảng cáo các loại ô tô, khỏi cần gửi đăng quảng cáo ở các báo khác. Ông chủ bằng lòng, cho anh mỗi tháng 200 đồng tương đương với số tiền ông phải bỏ ra đăng quảng cáo trên báo.
"Thế rồi ngày mồng một tháng mười, như lời "kính cáo" gửi cho các bạn đồng nghiệp. Tự Động ra số đầu "chào quốc dân". Báo "Tự Dộng" là tờ báo đầu tiên bọn Phương làm với số tiền trợ cấp của ông chủ hãng ô tô. Nhưng báo Tự Động không khá được, mặc dù Duy đã hết sức trổ tài "hùng biện", đi các tỉnh để thuyết phục những vị chức sắc có tiền mua báo.
Bỗng Phượng [Nhất Linh] xuất hiện (trong sách đổi tên là Phúc). Phượng là giáo sư cử nhân mới ở Pháp về, nổi tiếng với những "projet" dựng báo rất "hoành tráng" được chàng rao giảng khắp Hà thành. Phượng thuyết phục Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên. Phượng thao thao bất tuyệt với Duy. Nhưng vì không có tiền để lăng-xê, Tự Động vẫn hoàn toàn bế tắc, nếu không có biến cố bất ngờ xảy ra: Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên bị bệnh nặng, thầy thuốc bó tay. Tiên gọi hai bạn Phương, Duy đến đề nghị biếu một vạn để làm báo. Phương từ chối. Tiên bèn nghĩ cách khác:
"… Tôi biết tôi sắp chết. Vậy trong chúc thư tôi nói cho các anh vay số một vạn bạc, bao giờ có tiền thì các anh trả lại cho vợ con tôi. Không bao giờ có tiền thì coi như món nợ ấy không có… Vậy các anh bằng lòng như thế nhé?"
Duy sợ Phương từ chối liền trả lời:
- Như thế thì có lẽ được.
Tiên vui mừng giơ hai tay ra bắt tay hai người…
Hai tuần lễ sau, báo Con Người của bọn Phương, Duy ra đời" (sđd, trang 166).
Đây là tiểu thuyết, vậy có phần hư cấu. Nhưng chúng ta có thể loại bỏ dễ dàng những điều hư cấu để chỉ giữ lại những điểm phù hợp với thực tế:
1- Khoảng 1928-1930, có thể Khái Hưng đã giúp dân cải tổ lại làng mình theo lối mới. Ông viết lại kinh nghiệm này trong 7 bài xã luận in trên Phong Hóa, từ số 80 (5-1-1934) đến số 87 (2-3-1934), tựa đề Một bản chương trình, chủ trương xây dựng lại nông thôn.
2- Việc Khái Hưng buôn sơn là có thật, ông buôn với người bạn Nhật, việc này ông kể lại trong truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932).
3- Về căn nhà Duy thuê cho Phương: Nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Có thể là trụ sở đầu tiên của Phong Hóa, ở phố Đường Thành, như Khái Hưng có nhắc lại ở một chỗ khác trong Những ngày vui; mà cũng có thể là căn nhà số 1 Boulevard Carnot, trụ sở chính thức của báo Phong Hóa từ số 1 (16-6-1932) đến số 126 (30-11-1934), tòa soạn và trị sự mới chuyển về số 80 Avenue du Grand Bouddha (Quan Thánh).
4- Việc Duy dụ được ông chủ bán xe hơi, bỏ tiền ra làm báo, phù hợp với việc ông Phạm Hữu Ninh (hiệu trưởng trường Thăng Long) hay ông Nguyễn Xuân Mai (Giám đốc sáng lập tờ Phong Hóa) "trợ cấp" cho bọn Phương 200 mỗi tháng để làm báo.
5- Có tiền 200 đồng, Phương Duy làm tờ Tự Động. Chữ Tự Động này có hai nghĩa: chỉ tờ Phong Hóa từ số 1 đến số 13, khi Khái Hưng một mình tự biên tự diễn, và Tự Động cũng chính là Tự Lực, hạt nhân đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.
6- Bỗng Phượng xuất hiện, Phượng là giáo sư cử nhân ở Pháp về, với những dự định làm báo lớn lao, thì đúng là Nhất Linh. Nhưng chưa có tiền, phải đợi đến khi Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, để di chúc cho một vạn, thì báo Con người mới ra được. Con người chính là tờ Phong Hóa từ số 14 trở đi. Số tiền 10.000 đồng là cái vốn để Nhất Linh cải biến hoàn toàn tờ Phong Hóa.
Nếu cái chết đột ngột của Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên và việc anh để lại số tiền lớn lao cho Tự Lực làm báo, không được tự nhiên mấy, khiến ta có thể nghi ngờ, thì tôi xin đưa ra giả thuyết thứ nhì: tiền này phải chăng là tiền riêng của bà Khái Hưng, vì gia đình cụ thân sinh ra bà, Tuần phủ Lê Vân Đính, rất giàu, có biệt thự ở Sầm Sơn; bà lại được mẹ cho một số ruộng ở Hải Hậu?[5] Kể cả việc Khái Hưng thuê biệt thự 80 Quan Thánh làm cơ sở cho Phong Hóa Ngày Nay (và trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng sau này) có thể cũng do vốn của bà Khái Hưng chăng? Dù sao chăng nữa, việc Phong Hóa có tiền để cái tổ tờ báo, là do nguồn Khái Hưng.
Theo Những ngày vui thì Tự Động số 1, in 5.000 số, tiền in: 75 đồng, lương tòa soạn kiêm trị sự bốn người hết 100 đồng. Linh tinh: 50 đồng. Tổng cộng, chi: 225 đồng.
Tiền bán báo (trừ hoa hồng): 30 đồng. Tiền phụ cấp của hãng ô tô: 200 đồng. Tổng cộng: thu 230 đ. Lãi: 5 đồng (sđd, trang 112).
Việc Tự Động số đầu ra 5.000, chắc là hư cấu, sự thật chắc chỉ có 3.000 số, vì Nhất Linh, trong bài Nói truyện cũ, trên Phong Hóa số 154, đã trích dẫn trong phần I, cho biết: "Lúc chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng, ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự cho là "tham lam vô độ".
Còn tiền chi tiêu được kê khai có thể đúng với Phong Hóa thời kỳ đầu, từ số 1 đến số 13, khi còn nhận trợ cấp hàng tháng của ông Phạm Hữu Ninh hay ông Nguyễn Xuân Mai.
Trên Phong Hóa số 58 (4-8-1933), có biên bản về Phong Hóa số 47 (19-5-1933) cho biết: Phong Hóa 47 phát hành 10.150 số. Như vậy, nếu Phong Hóa 14 (22-9-1932) in 3000 số, thì chưa đầy một năm sau, báo đã in hơn gấp ba lần số phát hành đầu tiên.
Chân dung Khái Hưng
Những ngày vui mô tả ba người: Khái Hưng "trong vai" Phương, Nguyễn Gia Trí trong vai Duy, Nhất Linh trong vai Phượng (khi in thành sách đổi là Phúc).
Chúng ta biết rất ít về quãng đời trước khi làm báo của Khái Hưng. Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, một trong những người gần gũi Khái Hưng trong giai đoạn 1945-1946, viết:
"Cuộc đời của Khái Hưng Trần Khánh Giư có thể gọi là kỳ lạ. Anh đã đậu Tú tài ban Triết học, độ ấy còn rất hiếm, nhưng không ra làm quan hay một công chức cao cấp nào, một việc rất dễ cho anh - ông thân sinh là Tuần phủ và nhạc phụ là Tổng Đốc. Tại sao không chạy một chân tri huyện, mà lại xoay sang làm nghề dạy học và nghề làm báo nghèo kiết bấp bênh? Một lần, tôi có gạn hỏi thì anh chỉ cười đáp:
- "Cũng chẳng hiểu tại sao cả. Thích làm báo thì làm báo chớ sao?"
Đó cũng là câu trả lời chung của mấy anh em.
Nghe nói, nhà tiểu thuyết xã hội, lãng mạn trước kia đã từng đi… buôn, làm đại lý cho một hãng dầu xăng, chắc muốn giàu to. Song chắc đầu óc nghệ sĩ không thích hợp lắm với lối buôn bán quắt quéo, nên chỉ thua lỗ (cũng may, nếu phát tài thì Việt Nam không có nhà văn Khái Hưng!).
Từ Ninh Giang [6] anh lên Hà Nội, làm giáo sư trường tư thục Thăng Long. Ngay hồi đó anh đã viết cho tờ Duy Tân những truyện vui hay xã thuyết, cùng với nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, nhà văn Tchya [7] Đái Đức Tuấn, một số bài nữa đăng trên tờ Phong Hóa (cũ, trước khi sang tay Nhất Linh quản lý) và tờ Văn Học tạp chí của anh em Dương Bá Trạc.
Nhất Linh sau đó lại vào dạy trường Thăng Long. Hai người hiểu nhau rất nhanh, rất tâm đắc, có cái nhìn chung về xã hội, về văn học" [8]
Đấy là Khái Hưng dưới mắt Nguyễn Tường Bách, người em út trong gia đình Nhất Linh.
Trong Những ngày vui, Khái Hưng mô tả mình trong vai Đỗ Như Phương, nói quá lên một chút về gia cảnh: "Phương là con trưởng một gia đình cự phú", còn gia tài chàng được hưởng chắc là không sai mấy: một cái ấp ở Phú Thọ rộng ba nghìn mẫu vừa ruộng vừa đồi và vài tòa nhà cho thuê ở Hà Nội" và cả về người vợ cũng thế: "Lan, vợ chàng là con quan, nhà cũng giàu có chẳng kém gì nhà chàng" (sđd, trang14).
Hành động và tư tưởng của Phương thì đúng là Khái Hưng: ngay từ hồi trẻ, Phương đã hoạch định một chương trình xã hội để nâng cao đời sống dân quê, trước hết về nhà cửa đường phố:
"Chàng nhờ một người bạn kiến trúc sư vẽ kiểu nhà thích hợp với dân quê, rồi bắt các nông phu điền tốt trong ấy làm theo. Nếu có quá tốn kém thì chàng chu cấp cho ít nhiều.
Hồi mấy năm 1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, khi ngắm qua những đường đi rộng rãi, những phố xá sạch sẽ, và những lớp nhà lợp ngói, lợp tranh cao ráo, sáng sủa, hay khi tò mò để mắt tới những đứa trẻ y phục gọn gàng cắp sách đi học" (Những ngày vui, trang 15).
Đọc những dòng này ta có thể tưởng tượng cảnh làng Cổ Am, quê Khái Hưng, trước khi bị Pháp dội 57 quả bom ngày 16-2-1930 và hiểu tại sao Khái Hưng chống Pháp.
Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế [1929] ập tới, thóc lúa bị đình trệ không bán được, giá thóc gạo mỗi ngày một hạ, nông phu không kiếm đủ tiền ăn và tiền nộp thuế, nên bắt buộc phải trả lại ruộng cho chủ. Đất bỏ hoang, Phương bèn tính đến phương sách thứ hai: chàng quay ra trồng sơn ở đồn điền, bỏ vào 10 vạn rồi vay thêm ngân hàng bằng cách ký quỹ đồn điền. Lại thất bại. Phương mất cả đồn điền, thêm nợ nần, phải trở về sống nhờ ở từ đường nhà vợ.
Trong lúc khó khăn này, chàng được Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa, giúp đỡ, Phương đưa gia đình về Hà Nội, làm thủ quỹ cho hiệu Leung-Fat-Fa. Leung-Fat-Fa là hiệu tạp hóa lớn ở phố hàng Ngang của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa. Khái Hưng đã giải thích việc này như sau:
"Lòng tử tế của Tiên tỏ ra rằng Tiên là một người Tàu, người Tàu thuộc thời Xuân Thu Chiến Quốc hay Tiền Hán, Hậu Hán. Không phải lòng tử tế của bọn phi thường, nhưng lòng tử tế Tàu kia.
Đối với Phương, Tiên tự coi như người chịu ơn sâu, đời đời không thể trả hết, và mấy trăm bạc Phương giúp chàng ngày xưa, chàng đặt ngang hàng với bát cơm của bà Phiếu Mẫu giúp Hàn Tín khi anh tể tướng còn hàn vi" (trang 94).
Như vậy, trong Những ngày vui, những nét đời thật của Khái Hưng lộ khá rõ, được sửa đổi và thêm thắt đôi chút, nhưng giữ nguyên nền chính: Khái Hưng và vợ đều là con quan. Ông đã từng lập xưởng kinh doanh sơn ở Phú Thọ và bị lỗ vốn. Việc buôn sơn được ông nhắc đến trong truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin. Sau đó ông ra Hà Nội dạy trường Thăng Long, gặp Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh… Việc Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa cho tiền để làm báo, được Khái Hưng coi là lòng tử tế của người Tàu, trả ơn bát cơm Phiếu Mẫu mà ông đã giúp Tiên ngày trước.
Chân dung Nguyễn Gia Trí
Vào truyện Những ngày vui, Khái Hưng tả cảnh ba người bạn Ngạc, Điển, Duy và Xuyến, tình nhân của Ngạc, đi ô tô đến Lũng Thượng để dự lễ tiệc do Phương mời. Giữa đường, xe chết máy, Ngạc lúi húi cúi xuống hý hoáy tìm cách sửa. Trong khi ấy Duy đem bút chì và giấy ra vẽ.
"Ngạc ngửng lên trông thấy, gắt:
- Trời ơi, anh còn vẽ được!
- Truyện! Chín năm "Mỹ thuật" của người ta!
Ngạc thì thầm bảo Điển:
- Động một tý là nó giở chín năm trường Mỹ thuật của nó ra.
Xuyến vừa soi gương bôi sáp môi vừa hỏi:
- Anh Duy học chín năm ở Beaux Arts thực đấy à?
Duy, giọng tự phụ:
- Lại chả thực!
Mà kể thì cũng thực.
Là vì học gần hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với giáo sư, Duy cáu tiết bỏ trường, tuy chàng là một thanh niên rất có hy vọng học.
Hai năm sau, một hôm gặp Duy đi lang thang trên đường vùng quê với đủ các họa cụ đeo trên lưng, ông đốc trường Mỹ thuật liền hỏi (thiếu mấy chữ) Duy nên lại vào trường tòng học.
Duy vâng lời. Nhưng đến năm thứ ba, được dăm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy, Duy lại bỏ học.
Rồi ít lâu lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã trường Mỹ Thuật, vì chàng trúng tuyển kỳ thi ra.[9]
Tính góp lại, thời kỳ học tập của Duy vừa đúng chín năm.
- Vô lý! Chín năm!
- Ấy là kể cả nghỉ hè nữa đấy chứ nếu không thì làm quái gì đủ chín năm.
Xuyến nghiêng đầu sửa mái tóc, mỉm cười hỏi:
- Anh học vẽ chín năm; chắc phải giỏi. Nhưng anh bắt đầu vào trường từ năm anh lên mấy?
- Từ năm mười bẩy, lúc ấy tôi vừa đậu thành chung. Vị chi năm nay tôi hăm bẩy. [...]
- Này, nhưng chữa xe làm gì nữa, lại đây xem tranh của tôi hơn. Các anh phải biết "Một công trình tuyệt tác!"
Điển và Ngạc chán nản ngồi xuống vệ đường dưới bóng một cây đề lớn. Duy đem tranh lại khoe:
- Đó, các anh coi: Dã man không? Vô nhân đạo không?" [10]
Duy vẽ cảnh: hai người đàn bà lưng cúi gò, vai khoác dây thừng, kéo cái bừa do một người đàn ông đẩy.
Duy vẽ hai người đàn bà kéo bừa trên Ngày Nay số 16.
Đoạn văn trên đây rất quan trọng, vì nó cho ta biết thêm về tiểu sử Nguyễn Gia Trí. Tuy nhiên nếu đặt nó vào bối cảnh năm 1932, khi Phong Hóa sắp ra đời, thì lúc đó Nguyễn Gia Trí chưa ra trường, Khái Hưng không thể đưa vào miệng Duy câu: "Truyện! Chín năm "Mỹ thuật" của người ta!" Câu này chỉ có thể nói năm 1936, khi Khái Hưng viết truyện này.
Nhưng nếu bỏ qua chi tiết vô lý này, ta có thể rút ra một số thông tin về Nguyễn Gia Trí.
Khái Hưng sinh năm 1896, Nhất Linh sinh 1906, còn Nguyễn Gia Trí, thường ghi sinh năm 1908; nhưng không ai biết chắc. Năm ông đỗ vào trường Mỹ Thuật cũng mù mờ: Sách Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1925-1990) ghi Nguyễn Gia Trí học khóa IV (1928-1933) rồi bỏ dở, trở lại học khóa VII (1931-1936). Theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền [11], ta được biết: tình cờ đi xem hội chợ (1935) thấy tranh sơn mài của Trần Quang Trân đẹp, ông bèn quay về trường, học sơn mài. Theo Lê Phổ [12], Nguyễn Gia Trí học cùng lớp với Lê Thị Lựu, tức là khóa III (1927-1932).
Theo Những ngày vui, Nguyễn Gia Trí vào trường Mỹ thuật năm 17 tuổi. Học chín năm (kể cả thời gian nghỉ). Những điều này chắc đã được Nguyễn Gia Trí kiểm lại, cho phép ta rút ra những nhận xét sau đây:
1- Việc ông ra trường năm 1936, phù hợp với hoạt động của ông trong Tự Lực văn đoàn, vì kể từ năm 1936, Nguyễn Gia Trí vẽ tranh công khai và quyết liệt hơn thời kỳ chưa ra trường.
2- Vì ông ra trường năm 1936, và ông học 9 năm (kể cả những lúc bỏ dở), vậy ông vào trường năm 1927, cùng lớp với Lê Thị Lựu, đúng như lời Lê Phổ.
3- Năm 1927, ông 17 tuổi, vậy ta có thể cho rằng: Nguyễn Gia Trí sinh năm 1910.
4- Theo Những ngày vui, Nguyễn Gia Trí bỏ học hai lần, vì cãi nhau với giáo sư (Tardieu). Lần đầu, năm thứ hai (1928) và lần sau năm thứ ba (1929). Tổng cộng thời gian "học" là 9 năm, vậy ông nghỉ học 4 năm trong khoảng từ 1928 đến 1936, vì mỗi khóa trường Mỹ thuật là 5 năm.
Như thế, vai trò của Nguyễn Gia Trí trong Tự Lực văn đoàn, không chỉ ở mức độ cộng tác thường xuyên mà còn ở chỗ khác nữa: có thể nhờ tiền bán tranh và sống độc thân, nên Nguyễn Gia Trí luôn luôn lo việc "kinh tài" cho Tự Lực văn đoàn và Quốc Dân Đảng. Trước tiên cho Phong Hóa, lúc mới thành lập, như Khái Hưng viết trong Những ngày vui. Rồi từ 1939-1940 ông mua và tích trữ vũ khí cho đảng Đại Việt Dân Chính, bị Pháp bắt quả tang để trong phòng vẽ, theo lời họa sĩ Hoàng Tích Chù [13]. Sau cùng, ông góp phần "nuôi" các đồng chí trong thời kỳ bôn ba ở Hương Cảng, những năm 1948-50, vẫn bằng hội họa của mình.
Chân dung Nhất Linh
Trong Những ngày vui, Nhất Linh xuất hiện sau Nguyễn Gia Trí, trong vai Phượng. Khi in thành sách, đổi thành Phúc, có lẽ để tránh nhầm với Phương, nhưng lại làm trệch ý Khái Hưng: cố ý đặt tên Phượng đi với Phương như hai giọt nước, giống Khái Hưng và Nhất Linh ở ngoài đời.
Và đây là đoạn Phượng đến gặp Duy, "chủ nhiệm" báo Tự Động để bàn chuyện "mở báo":
" - Chào ông chủ nhiệm.
Duy nghĩ thầm:
- Thôi chết tôi rồi. Ông này mà đến chơi thì chắc chắn là mất hết một buổi sáng nghe chuyện mở báo.
Như đọc được tư tưởng của Duy, ông khách hỏi luôn:
- Ông bận? Nếu ông bận, xin để khi khác tôi lại đến.
Duy muốn đáp: "Vâng quả thực tôi bận", nhưng chàng chỉ mỉm một nụ cười rất tự nhiên giơ tay mời:
- Ông ngồi chơi. Thưa không, tôi không bận gì hết. Tôi rất vui lòng tiếp chuyện ông.
- Thưa ông hôm nay nghỉ?
- Vâng, hôm nay thứ năm.
- Báo của ông ra hôm nay, tôi vừa mua một số đây.
Vừa nói chàng vừa giơ ra một tập báo. Rồi cười nói tiếp:
- Ông đã biết đấy, tôi rất thích nghề báo, và báo nào tôi cũng mua, cũng đọc. Tôi đọc cả những truyện kiếm hiệp, kiếm tiên nữa. Nhưng tôi không mua năm báo nào hết. Tội gì phải không, thưa ông? Mình ở Hà Nội, nghe trẻ rao ngoài phố, gọi vào mua một số. Như thế có phải tiện không? Mà lại tránh được cái nạn mất báo, khỏi phải mất công viết thư lên tòa soạn đòi số khác…
Chàng kéo một thôi về cái lẽ mất báo, về cách xếp đặt vụng về trong ban trị sự của hết thẩy các tòa báo chữ Pháp, chữ Việt.
- Rồi ông xem, khi nào báo của tôi ra đời, ông sẽ thấy cách tổ chức khôn khéo hoàn toàn. Hiện giờ tôi đương ở thời kỳ điều tra, nhận xét, khảo cứu.
Chàng rút ra một quyển sổ con, nói tiếp:
- Đây này, ở cả trong này, "projet" mở báo ở cả trong này.
Duy rùng mình, lo sợ vì biết thế nào Phúc cũng đem cái kế hoạch mở báo ra nói cho mình nghe trong khoảng ít ra là một giờ đồng hồ. Ở Hà Nội, và ở tỉnh lỵ các thành phố Phúc đã đi qua, dễ trong hầu hết các giới trí thức, ít ai không một lần được nghe Phúc bàn về cái kế hoạch mở báo của chàng.
Phúc là một vị giáo sư khoa học có giá trị tại trường trung học. Chàng đã tòng học bốn năm ở bên Pháp và đã đậu cử nhân khoa học. Về nước, chàng được bổ ngay giáo sư và lương tháng kể cũng khá cao, có lẽ đến gần ba trăm bạc.
Nhưng trong thời kỳ học tập bên Pháp cũng như ngày nay trong thời kỳ dạy học, chàng chỉ chuyên nghiên cứu có một thứ báo chí. Chàng nói với hết thảy các bạn bè và những chỗ quen biết rằng nghề gõ đầu trẻ, chàng chỉ theo tạm, nghề chính của chàng là nghề viết báo, mở báo kia" (Những ngày vui trang 148-150).
Và Phúc còn thao thao bất tuyệt về nghề báo trong sáu trang sách nữa.
Phúc thì đúng là Nhất Linh rồi: Giáo sư cử nhân mới ở Pháp về. Luôn luôn mơ tưởng việc làm báo và đi đâu cũng tuyên truyền việc lập báo. Mặc dù lương giáo sư khá cao, gần ba trăm bạc, nhưng Nhất Linh vẫn không đủ tiền để ra báo.
Cuối cùng, phải nhờ đến số tiền 10.000 của Nguyễn Văn Tiên Leung Fat Fa, Nhất Linh mới có thể thực hiện được giấc mộng, kể từ Phong Hóa số 14.
Những thành viên đầu tiên của Tự Lực văn đoàn
Theo sự sắp đặt nhân vật trong Những ngày vui, thì Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng là hai người đầu tiên trong "nhóm" Tự Lực. Nhất Linh đến sau, việc này hư thực như thế nào, khó biết được, mà cũng không quan trọng.
Chỉ biết ba hạt nhân đầu của Tự Lực văn đoàn là Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh. Tự Lực văn đoàn đã manh nha trong thời gian từ tháng 6-1932 đến tháng 9-1932, nghĩa là từ Phong Hóa số 1 (16-6-1932) đến số 13 (8-9-1932) tức là thời kỳ chuẩn bị ra báo Phong Hóa số 14.
Khi đọc kỹ Phong Hóa, chúng ta sẽ thấy rõ hai thời kỳ này, như đã được Khái Hưng mô tả trong Những ngày vui:
Từ số 1 đến số 13: Phong Hóa do Khái Hưng chủ trì.
Từ số 14 trở đi (nhờ số tiền 10.000 đồng) Nhất Linh tổ chức lại tờ báo, mở rộng với nhiều người cộng tác và ông làm Giám đốc.
Nhưng hai thời kỳ này không hoàn toàn phân cách, bởi vì nếu tinh ý, ta sẽ thấy có những thành viên của văn đoàn đã xuất hiện trên Phong Hóa ngay từ những số đầu:
- Phong Hóa số 2 (23-6-1932), bìa tranh trừu tượng, ký tên Đông Sơn bằng chữ Hán, bìa này giữ đến số 10 (18-8-1932). Nếu Đông Sơn là Nhất Linh, thì không thể nói Nhất Linh chỉ "vào" Phong Hóa từ số 14, mà "vào" từ số 2.
- Phong Hóa số 3 (30-6-1932) có hý họa ký tên Đông Sơn bằng chữ quốc ngữ, cũng thế, Nhất Linh "vào" từ số 3 chăng?
Vậy ta phải hiểu như thế nào? Theo tôi, những điều Khái Hưng viết trong Những ngày vui phù hợp với thực tế hơn, còn những điều Nhất Linh và Tứ Ly viết trên Phong Hóa số 154, chỉ có tính cách tượng trưng, tuyên ngôn, tuyên cáo, cho nên ta hiểu tại sao Khái Hưng làm thinh, không tuyên bố gì trên số báo Phong Hóa 154 này. (Xem Sự thành lập Tự Lực văn đoàn, phần I)
Bởi vì, nếu Nhất Linh chỉ "vào" Phong Hóa từ số 14, thì tranh bìa ký tên Đông Sơn chữ Hán từ số 2 và hý họa ký tên Đông Sơn quốc ngữ trong số 3, là của ai?
Trừ khi Đông Sơn lúc đầu là Nguyễn Gia Trí?
Tranh bìa Đông Sơn, ký chữ Hán, Phong Hóa số 2
Tranh Đông Sơn ký chữ 
quốc ngữ trong Phong Hóa số 3
Tóm lại, trừ khi có khám phá mới, tôi tạm coi Đông Sơn là tên chung của Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh trong thời kỳ đầu. Đến khi nào thì tách riêng và trở thành tên của Nhất Linh? Đó là một câu hỏi chưa thể giải đáp.
Về văn, Nhất Linh dường như không viết gì cho Phong Hóa từ số 1 đến số 13, nếu xét giọng văn và tư tưởng. Ông chính thức xuất hiện cùng với Tứ Ly (Hoàng Đạo) và Tú Mỡ, trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932), số báo chính thức của Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam cũng viết từ số 14, với tên TL và số 15, với tên Việt Sinh.
Trường hợp Thế Lữ khá phức tạp, ông có ba bài in trên Phong Hóa những số đầu, ký tên Nhất Chi Mai: tạp văn Quần trắng áo lam (Phong Hóa số 4, 7-7-1932), tường thuật Một buổi diễn kịch làm phúc (Phong Hóa số 5, 14-7-1932) và truyện ngắn Bả phồn hoa (Phong Hóa số 6, 21-7-1932); nhưng lúc đó ông chưa nổi danh, nên không ai biết. Bẵng đi nửa năm, trên Phong Hóa không thấy tên Nhất Chi Mai nữa. Đến Phong Hóa số 27, 23-12-1932, mới có bài ông, lần này ký tên Thế Lữ, dưới truyện ngắn Thây ma xuống gác. Hơn một năm sau, ông xin được vào làm việc trong tòa soạn Phong Hóa, từ số 91 (30-3-1934). Bút hiệu Nhất Chi Mai chỉ trở lại trên vài số báo Phong Hóa cuối cùng và một cách chính thức, trên báo Ngày Nay.
Tóm lại, ta có thể tạm kết luận: những thành viên đầu tiên làm báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, là Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí, lúc đó chắc chưa có ý định lập "văn đoàn" gì cả. Kể từ Phong Hóa số 14 có Nhất Linh, Hoàng Đạo, Tú Mỡ và Thạch Lam mới trở thành một nhóm hay một "văn đoàn" và tới số 27, có thêm Thế Lữ.
Nhưng đây chỉ là kết luận tạm thời, kỳ tới, sau khi khảo sát nội dung và hình thức những số báo Phong Hóa đầu tiên do Khái Hưng phụ trách (từ số 1 đến số 13), tôi sẽ đưa ra một kết luận rõ ràng hơn.

Chú thích:
[1] Lạnh lùng đã in mấy trang đầu trên Phong Hóa số 151 (31-8-1935), rồi ngừng. Nhất Linh cho in Đi Tây ký tên Lãng Du thay thế. Gần một năm sau, Lạnh lùng xuất hiện lại trên Ngày Nay (từ số 16, 12-7-1936 đến số 37, 6-12-1936).
[2] Lũng Thượng thuộc Yên Lạc, Vĩnh Yên, nơi có đồn điền của gia đình Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân của Việt Nam Quốc Dân Đảng, bạn thân của Nhất Linh.
[3] Những ngày vui, Phượng Giang 1958, trang 95-97. Chúng tôi trích bản in trong sách, vì bản này đã sửa chữa những lỗi chính tả.
[4] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 99.
[5] Theo lời Trần Khánh Triệu (con nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh) trong bài Papa tòa báo, in trên Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng tháng 12/1997, in lại trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.
[6] Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.
[7] Chữ TCHYA có thuyết nói là Tôi chẳng yêu ai.
[8] Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách, Tưởng nhớ Khái Hưng, Người bạn, Người anh thân mến, Nhà văn, Chiến sĩ cách mạng, in trong Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, cuốn 1, Hồn bướm mơ tiên, Nguyễn Thạch Kiên soạn, Nxb Phượng Hoàng, Hoa Kỳ, 1997, t. 157-158.
[9] Đoạn này tôi trích ở báo Ngày Nay số 16, vì cho đó là bản gốc, khi in thành sách, được sửa lại như sau:
"Là vì học gần hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với ông giáo, Duy bỏ học. Nhưng ít lâu chàng lại xin vào lần thứ hai. Ông giáo vì mến tài nên bằng lòng. Nhưng đến năm thứ ba, được năm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy, Duy lại bỏ học. Rồi ít lâu lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã trường Mỹ Thuật, vì chàng trúng tuyển kỳ thi ra". Nhưng có lẽ đoạn trong sách đúng với thực tại hơn: Nguyễn Gia Trí đã bỏ học, nhưng đi xem hội chợ, thấy tranh sơn mài của Trần Quang Trân lại quay trở về học tiếp sơn mài đến lúc ra trường năm 1936 (theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền, in trong loạt bài Những lá thư Nguyễn Gia Trí gửi Phạm Tăng, trên mạng vanviet.info và thuykhue.free.fr ).
[10] Đoạn này cũng trích Những ngày vui, in trên Ngày Nay số 16. Bản Phượng Giang 1958, trang 7-9, có sửa vài chữ so với bản in trên báo.
[11] Xem bài Những bức thư Nguyễn Gia Trí gửi cho Phạm Tăng, site: vanviet.info và thuykhue.free.fr
[12] Lê Phổ trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên RFI, in lại trong sách Lê Thị Lựu ấn tượng hoàng hôn, nxb Tổng Hợp TP HCM, Bảo tàng Mỹ Thuật TPHCM, 2018).
[13] Trong bài Nguyễn Gia Trí, bậc đạo sư của sơn mài nghệ thuật của Hoàng Hưng, in trong sách Những người lao động sáng tạo, nxb Lao Động, 1998.
4- Khái Hưng và Phong Hóa
Đọc Phong Hóa chúng ta sẽ thấy về mặt bài vở: Phong Hóa từ số 1 (16-6-1932) đến số 13 (8-9-1932) do Khái Hưng phụ trách, từ số 14 (22-9-1932) trở đi, Nhất Linh đổi mới tờ báo, mời thêm những người viết, người vẽ mới và làm Giám đốc.
Theo Những ngày vui của Khái Hưng, sở dĩ có sự cải tiến này là nhờ số tiền 10.000 đồng của ân nhân người Minh hương Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa di tặng. Nói khác đi, số tiền Nhất Linh có để phát triển tờ báo là của một người Minh hương, trước chịu ơn Khái Hưng, cho hoặc cho vay.
Trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) có đăng quảng cáo xà phòng thơm Mondia, Đại lý độc quyền là Lune-Fat, 22 Hàng Bạc Hà Nội. Phải chăng đây là cửa hiệu của gia đình Leung-Fat-Fa?
Phong Hóa số 14
Chúng tôi xin tóm tắt lại câu chuyện ra được kể trong Những ngày vui:
Duy [Nguyễn Gia Trí] xoay xở, gạ ông chủ hãng xe hơi bỏ tiền ra in báo để đăng quảng cáo khỏi tốn tiền. Ông chủ cho bọn Phương [Khái Hưng] Duy mỗi tháng 200 đồng để làm báo Tự Động. Tự Động là tờ báo đầu tiên [tức là Phong Hóa từ số 1 đến số 13] do Phương, Điển viết, Duy vẽ. Điển chắc là nhân vật hư cấu vì chẳng thấy bài nào có thể gọi là của Điển trên báo Phong Hóa. Được trợ cấp 200 đồng, cộng thêm tiền Duy làm "áp phe" và vẽ tranh, nên Tự Động ra được, nhưng báo ế, không biết sống chết lúc nào, mặc dù Duy cố hết sức xin quảng cáo các nhà giàu, cũng không ai bỏ tiền ra. Cuối cùng, nhờ di sản của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa, mới có tờ Con người [tức là Phong Hóa kể từ số 14].
Về cái tên Tự Động
Phương [Khái Hưng] chất vấn Duy [Nguyễn Gia Trí]:
"Phương hỏi:
- Thế báo anh tên là gì?
- Ô tô.
Điển lăn ra cười:
- Trời ơi! Trên báo Ô tô của anh mà chúng tôi gửi đăng văn, đăng truyện dài, truyện ngắn, thì thánh cũng phải tức cười.
- Việc gì mà tức cười? Thế trên báo Nông Lâm người ta đăng toàn truyện văn chương và truyện kiếm hiệp thì sao? Vả lại mai tôi mới nộp đơn xin ra báo. Nếu các anh không thích cái tên Ô tô thì tôi sẽ đổi nó ra "Tự động". Không ai hiểu tự động là cái quái quỷ gì, thế là được rồi. Rồi trong bài phi lộ, ta sẽ nói lờ mờ mấy câu cho độc giả hiểu lầm ra nghĩa tự do, tự lập gì đó. Thế là báo chạy như mớ tôm tươi ngay. Các anh tha hồ viết.
Phương và Điển vẫn tưởng đó là một câu chuyện đùa bỡn. Nhưng hai chàng kinh ngạc xiết bao khi, một tuần lễ sau, cùng nhận được giấy gọi ra sở liêm phóng khai căn cước và lý lịch. Đến đây, Phương mới biết mình nghiễm nhiên trở nên chủ bút tờ báo "Tự động". Giá không có cái dấu ngoặc hàng chữ Pháp (Auto Revue), thì có lẽ chàng cũng quên bẵng nghĩa chữ "Tự động".
Rồi nhờ về thế lực và sự vận động của chủ hãng xe lớn, hai tháng sau, báo "Tự Động" được phép ra đời để góp tiếng với các bạn đồng nghiệp Nam Trung Bắc" [1]
Đoạn văn này phản ảnh một số việc thực: nhờ thế lực của ông Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai (tên hai người được ghi trên đầu báo Phong Hóa) mà báo Tự Động (tức Phong Hóa) xin được giấy phép ra đời. Khái Hưng là chủ bút. Đây là tờ báo đầu tiên của nhóm Tự Động, cũng là giai đoạn đầu của tờ Phong Hóa, Khái Hưng viết gần hết các bài trên báo với những bút hiệu khác nhau.
Tự Động là tên báo, nhưng sự thực là tên văn đoàn Tự Lực nói trại đi. Vậy "nhóm Tự Động" hay nhóm Tự Lực, lúc đầu chỉ có hai người: Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí.
Đến khi Tự Động trở thành báo Con Người (tức là Phong Hóa từ số 14 trở đi), Nhất Linh mới cải tổ tờ báo, làm Giám đốc, mượn thêm những người mới. 
Tự động xa, tranh Gia Trí, Ngày Nay số 28
Tòa soạn Tự Động, tranh Gia Trí, Ngày Nay số 28
Sự vận động cho báo Tự Động (tức Phong Hóa số1) được Khái Hưng mô tả như sau:
"Trên các bức tường ở các nơi ngã ba, ngã tư thành phố Hà Nội, người ta thấy dán những tờ yết thị màu vàng rộng bản có hai chữ lớn "Tự Động".
Lại gần người ta sẽ nhận rõ, vẽ mầu đỏ, hai bàn ty gân guốc nắm chặt cái "volant" và viết đè lên trên những dòng chữ đen sau này:
Tuần báo ra ngày thứ năm
Có đủ các mục về chính trị, xã hội, thương mại, văn chương và phụ nữ, do các nhà văn có chân tài soạn…
Số đầu ra ngày 1/10/19… sẽ có những bài:
1) Mấy lời phi lộ, của Tự Động.
2) Mỹ thuật và ô tô của họa sĩ Nguyễn Văn Duy.
3) Tôi làm thầu khoán, phóng sự của Trần Đình Điển.
4) Nhan sắc của cô Đỗ Mộng Nga.
5) Đêm thu mơ màng, truyện ngắn của cô Song Thu.
6) Một đờitruyện dài của Đỗ Như Phương.
Và nhiều bài rất hay rất mới rất vui của toàn các văn sĩ đã có tiếng tăm trong làng báo và làng văn.
Đón xem sẽ biết" (Những ngày vui, trang 103).
Khái Hưng còn đưa vào miệng người đi đường (bình phẩm bức quảng cáo) những lời sau đây:
"Một người láu lỉnh đáp:
- Phải, tự động xa, tự động xa. Nhớ ngày Nam Phong mới ra đời, ông Phạm Quỳnh cũng gọi xe ô tô là tự động xa. Biết đâu tự động đây lại không là tự động xa, và tờ báo Tự Động lại không chỉ là một tờ báo quảng cáo ô tô!
Tiếng cười lại phá lên một lần nữa. Một chàng đeo kính trắng ý chừng muốn khoe rằng ta giỏi chữ nho, giảng nghĩa:
- Tự động là tự mình động đậy, tự mình chuyển động, không phải theo ai, không nhờ sức ngoài, không chịu ảnh hưởng ở ngoài sai khiến. Hai chữ "tự động" của người ta hay lắm đấy chứ. Báo Tự động của người ta là một tờ báo tự lập, không sống về phụ cấp của chính phủ hay của một nhà tư bản nào [chúng tôi in đậm] Tự hoạt động để sống một cách vẻ vang" (Những ngày vui, trang 104-105).
Với giọng nửa đùa nửa thực, Khái Hưng xác định vai trò của Nguyễn Gia Trí trong tờ báo với bài Mỹ thuật và ô tô của họa sĩ Nguyễn văn Duy. Rồi ông lái hai chữ Tự Lực thành Tự Động để chế nhạo Phạm Quỳnh dùng chữ nho, đồng thời khoe Phong Hóa là "tờ báo tự lập, không sống về phụ cấp của chính phủ hay của một nhà tư bản nào" để chứng tỏ hai chữ Tự Lực đã có từ thời kỳ đầu tiên và quyết định tự lập, không xin tiền trợ cấp của chính phủ hay một nhà tư bản nào, cũng vậy.
Khái Hưng lại kể lúc mọi người đang bình phẩm tờ quảng cáo, thì "trong khi ấy ở phố Đường Thành hẻo lánh, các nhân viên toà soạn báo Tự Động làm việc để xuất bản số đầu kịp vào ngày đã định[2]
Như vậy trụ sở đầu tiên của Phong Hóa ở phố Đường Thành chăng? Hay đây là địa chỉ Khái Hưng đặt ra? Còn căn nhà năm phòng mà Duy (Nguyễn Gia Trí) thuê cho Phương (Khái Hưng) để làm báo, là nhà nào? Nhà Đường Thành hay là nhà số 1, đường Carnot, tòa soạn và trị sự báo Phong Hóa từ số 1 đến số 126 (30-11-1934), trước khi dời về 80 Quan Thánh? Nhiều câu hỏi chưa tìm được lời giải đáp.
Khái Hưng viết: "Thế rồi ngày mồng một tháng mười, như lời "kính cáo" gửi cho các bạn đồng nghiệp. Tự Động ra số đầu "chào quốc dân[3]
Lời kính cáo chào quốc dân này nhại lại Mấy lời kính cáo quốc dân in trên trang nhất báo Phong Hóa số 1 (16-6-1932), như ta sẽ thấy ở dưới.
Phong Hóa từ số 1 đến số 13, Khái Hưng ngự trị
Hai nhà nghiên cứu nhìn thấy vai trò của Khái Hưng trên Phong Hóa từ số 1 là Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng.
Phạm Thế Ngũ ghi: "Năm 1932, tờ Phong Hóa của mấy đồng nghiệp cùng dạy học ở trong trường [Thăng Long] ra đời, do Phạm Hữu Ninh, người sáng lập trường Thăng Long làm quản lý, Trần Khánh Giư, giáo sư trường Thăng Long làm chủ bút[4].
Thanh Lãng viết: "Tuần báo Phong Hóa của ông Phạm Hữu Ninh, ngay từ số 1 ra tháng Juin 1932, cũng đã có một nội dung khác hẳn các báo đương thời cả về văn cũng như về ý tưởng. Trần Khánh Giư (Khái Hưng) là cây bút cốt cán, giữ nhiều mục quan trọng trên Phong Hóa suốt từ số 1 cho đến số 14[5]
Nhưng hai ông dừng lại ở hai câu này, không tìm hiểu thêm. Còn phần lớn những người viết khác chỉ chép đi chép lại rằng Nhất Linh, giáo sư cử nhân học ở Pháp về, mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh không có độc giả, sắp chết.
Như trên đã nói, mặc dù Khái Hưng viết: "Duy vẽ tranh. Còn Điển và Phương theo đuổi công việc soạn văn, dịch sách" (trang 99), ta cũng có thể đoán chắc răng Điển là nhân vật tưởng tượng, Khái Hưng đưa ra để làm như có hai người viết chứ không phải mình ông tự biên tự diễn, trên Phong Hóa từ số 1 đến số 13.
Còn một điều quan trọng nữa là cả Khái Hưng lẫn Nhất Linh trong thời kỳ đầu đều chưa ký tên Khái Hưng, Nhất Linh. Trần Khánh Giư chỉ bắt đầu ký tên T. Khái Hưng, trên Phong Hóa số 15 (29-9-1932) dưới truyện ngắn Cái thù ba mươi năm. Nguyễn Tường Tam lần đầu ký tên Nhất Linh dưới bài thơ Điệu thơ cụt trên Phong Hóa số 16 (6-10-1932), còn truyện ngắn vẫn ký Ngô Tâm Tư, rồi Bảo Sơn. Mãi đến Phong Hóa số 91 (30-3-34), lần đầu tiên bút hiệu Nhất Linh mới được ký dưới truyện vừa Thế rồi một buổi chiều.
Cho nên nếu chỉ dựa vào bút hiệu Khái Hưng, Nhất Linh, ta không thể điều tra được những bước đầu xây dựng Tự Lực văn đoàn, ai làm gì. Sự chọn tên của Khái Hưng trong Những ngày vui cũng có ý nghĩa: Khái Hưng, Nhất Linh, luôn luôn đi đôi như Phương với Phượng. Khi Khái Hưng lấy tên Nhị Linh cũng trong ý ấy: dù hơn Nhất Linh 10 tuổi, và khai phá tiểu thuyết, truyện ngắn trước Nhất Linh, nhưng ông vẫn ký tên Nhị Linh, để công nhận vai trò chủ soái Tự Lực văn đoàn của Nhất Linh.
Phong Hóa số 1 ra ngày 16-6-1932 [6]. Nội dung gồm có các bài:
Mấy lời kính cáo quốc dân, ký tên Phong Hóa Tuần Báo; Phong Tục (bản điện tử thiếu một trang, nên không rõ tên tác giả); Mục Bia Phong Hóa có ba bài: Sở Khanh của Kỳ Hoa, Năm năm chăn gối của Bi Thời Khách, Chữ tình trong lúc biến của Trần Đỗ; Tân học cựu học chỉ là hai tiếng, của Trần Khánh Giư; Tranh Hai đám rước sư tử không ký tên; Mục Hài văn ký tên Quần Đệ Tử [7]. Và các mục: Văn Đàn; Sử ký và địa dưPhụ nữTin vắn nước Nam và Thế giới, Khoa học thường thức. Đoản thiên tiểu thuyết Mưu sâu đã dắp [rắp] của Kỳ Hoa; và quân sự tiểu thuyết Trận đánh phương nam (không ký tên, có chỗ ký Kỳ Hoa).
Tóm lại, trong số 1 này, ngoài hai bài ký tên thật Trần Khánh Giư, những bài còn đều lại ký tên khác, nhưng nếu tinh ý, ta sẽ thấy giọng văn và tư tưởng vẫn là Khái Hưng.
Bìa Phong Hóa số 1
Trên Phong Hóa số 1, trang đầu, có bài Mấy lời kính cáo quốc dân ký Phong Hóa Tuần Báo, lời lẽ như sau:
"… Xã hội Việt Nam ta đương ở vào buổi giao thời, cái giở [dở] của mình chưa giũ [rũ] sạch, cái hay của mình chưa nhận thấu, đương lúc ấy, tờ "Phong Hóa tuần báo" ra đời tưởng cũng không phải là sinh chẳng gặp thời vậy.
Vườn còn hoang, cỏ còn rậm, muốn sửa sang cho thành một cảnh tráng quan há không phải là bổn phận chung của cả Quốc dân? Phong Hóa Tuần Báo nay tự nhận chút đỉnh trách nhiệm, sửa sang vườn cũ, cây xưa, biết cái hay thì nêu ra để người lấy đấy mà trau rồi [dồi], biết cái giở [dở] cũng nêu ra để người nhớ lấy mà ruồng bỏ, âu cũng là gánh vác việc công ích trong muôn một.
Đã không thiên tín, lại chẳng chấp mê, chọn lọc hai đường tân cựu so sánh cho đúng hoàn cảnh hiện thời, bỏ điều giở, vạch điều hay của lễ nghi phong tục để cùng Quốc Dân tấn thủ thi hành, đó là tôn chỉ của tờ Phong Hóa Tuần Báo".
Những lời này phù hợp với quan niệm trung dung, hòa hợp cũ mới của Khái Hưng, và "dọn cỏ vườn hoang" sẽ là mục "Hạt đậu dọn" Khái Hưng phụ trách trên Phong Hóa dưới tên Nhát dao cạo, để sửa sai các câu văn trên báo khác. Bài Mấy lời kính cáo quốc dân cùng giọng với bài tiểu luận Tân học cựu học chỉ là hai tiếng viết về Phan Khôi và Phạm Quỳnh, dung hòa ý tưởng của hai nhà văn đối lập tư tưởng tân cựu, ký tên Trần Khánh Giư.
Tóm lại, ba bài Mấy lời kính cáo quốc dân (giải thích lý do ra báo), Phong tục (giải thích tên Phong Hóa: giáo hóa và phong tục) và bài thơ Cùng các bạn Phong Hóa, trong mục Văn Đàn (nói lên mục đích và tôn chỉ tờ báo) ký tên Phong Hóa, đều do Khái Hưng viết; và tôi chắc chắn cái tên Phong Hóa cũng do Khái Hưng đặt, bởi vì ba bài viết này đều đồng quy ở điểm giáo hóa và phong tục.
Mục Văn Đàn còn có bài thơ A une jeune mariée của Victor Hugo, dịch sang tiếng Việt là Lời mẹ khuyên con lúc xuất giá, do Đào Thiện Ngôn dịch; và một số bài thơ ký tên Kỳ Hoa, như Ngu Cơ và Chiêu Quân, nhất là bài hát nói Tu là cõi phúc, đã chớm nở tư tưởng thoát tục trong Hồn bướm mơ tiên. Vì vậy, ta có thể đoán chắc rằng: Đào Thiện Ngôn và Kỳ Hoa cũng vẫn là Khái Hưng, bởi vì chỉ mình Khái Hưng mới có kiến thức Đông phương sâu sắc, có tầm triết học Thái Tây, có tư tưởng thấm nhuần Nho Phật, có tài làm thơ và dịch thơ chữ Pháp và chữ Hán, có khuynh hướng lịch sử và cực lực bênh vực nữ quyền.
Mục Sử ký và địa dư có bài Con tiên cháu rồng kể chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ ký tên Kỳ Hoa, chứng tỏ khuynh hướng lịch sử đã bắt đầu. Mục Phụ nữ có bài Làm thân con gái đời thượng cổ của Trần Khánh Giư, mở đầu chiến dịch khôi phục nữ quyền trong tiểu luận. Tiếp đến là đoản thiên tiểu thuyết Mưu sâu đã dắp [rắp] của Kỳ Hoa (truyện một người chồng lập mưu đổ cho vợ tội ngoại tình để đuổi đi) chứng tỏ ông đã bắt đầu dùng tiểu thuyết để bênh vực người phụ nữ, mà đỉnh cao sẽ là Nửa chừng xuân, đăng trên Phong Hóa từ số 36 (1-3-1933).
Sau cùng là quân sự tiểu thuyết Trận đánh phương nam, không ký tên (có lần ký Kỳ Hoa) phóng tác theo tiểu thuyết kiếm hiệp Tây phương, cho ta thấy ông đã tập viết tiểu thuyết lịch sử và đỉnh cao sẽ là Tiêu Sơn tráng sĩ, bắt đầu đăng trên Phong Hóa từ số 129 (21-12-1934).
Kỳ Hoa có lẽ là bút hiệu Khái Hưng định chọn lúc đầu. Kỳ Hoa và Đào Thiện Ngôn sẽ biến mất sau Phong Hóa số 7, thay thế bằng những bút hiệu khác.
Trên Phong Hóa số 1, hầu như những tư tưởng chính xây dựng tờ Phong Hóa của Khái Hưng đã được bộc lộ: cho thấy hầu như toàn bộ tư tưởng ôn hòa và phong cách sáng tác đan cài văn chương, lịch sử và văn hóa Việt của ông. Tóm lại, năm 1932, trên Phong Hóa giai đoạn đầu của Tự Lực văn đoàn, Khái Hưng bao dàn gần hết bài vở, cũng như với hai tờ Việt Nam và Chính Nghĩa, ở giai đoạn chót của Tự Lực văn đoàn, năm 1946. Ông đã "luyện văn" trên tờ Phong Hóa từ số 1 đến số 13, bằng nhiều thể loại khác nhau, với những chủ đề khác nhau.
Phong Hóa số 2 (23-6-1932), báo ra ngày thứ năm, bìa có tranh trừu tượng, ký tên chữ Hán, nghĩa là Đông Sơn [8]. Nội dung gồm có:
Bài xã luận: Muốn phá hủy hãy kiến thiết đã của Trần Khánh Giư. Mục Bia Phong Hóa có bài Nam vô tửu như kỳ vô phong của Kỳ Hoa. Hý họa không ký tên. Hài văn ký Quần Đệ Tử.
Ý nghĩa Bồi thường trong sự hình phạt ở Á Đông của Trần Khánh Giư. Mục Văn đàn: gồm một bài hát nói Mừng Phong Hóa của Thảo Thượng Phong và một bài thơ cổ của Tăng Tử đời Tống vịnh Ngu Cơ, do Kỳ Hoa dịch, rất hay.
Mục Sử ký và địa dư có bài Thần núi thần sông (chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh) của Kỳ Hoa. Sau cùng là đoản thiên tiểu thuyết Mùa hoa gạo của Kỳ Hoa và Trận đánh phương nam, tiểu thuyết quân sự cũng của Kỳ Hoa.
Bìa Phong Hóa số 2
Tranh bìa này chắc Nguyễn Gia Trí vẽ, ký tên Đông Sơn chữ Hán, vì lúc này, trên nguyên tắc, chưa có Nhất Linh.
Lần đầu tiên tờ báo ghi tên tòa soạn và trị sự: Số 1, đường Carnot trên trang bìa. Và cũng lần đầu tiên ghi: Nguyễn Xuân Mai, Giám đốc và Phạm Hữu Ninh, Quản lý nhà in Thụy Ký (chữ nhỏ ở trang sau chót). Hai ông này sẽ giữ địa vị quan trọng trong một thời gian dài, như ta sẽ thấy ở dưới. Nhưng hầu như ít ai chú ý đến tên Nguyễn Xuân Mai, mà chỉ giữ lại tên Phạm Hữu Ninh vì ông là hiệu trưởng trường Thăng Long.
Trong số 2 này, vẫn gần như chỉ có một mình Khái Hưng tự biên tự diễn, ông ký thêm tên Thảo Thượng Phong dưới bài hát nói và tên này cũng chỉ xuất hiện vài số rồi biến mất. Nhưng đáng chú ý là hai bài:
- Xã luận: Muốn phá hủy hãy kiến thiết đã của Trần Khánh Giư, lời lẽ mạnh bạo, thuyết phục, nêu lên những hủ lậu của lối sống cũ, cần phải đổi mới, nhưng cũng chống lại sự a dua quá đáng của một số người theo mới: "Những cái mới không hẳn đã là hay, những cái cũ không chắc đã là dở, theo mới bỏ cũ vị tất đã là đi không phải đường. Song giá khi nào học những cái mới được tường tận đã, được hoàn toàn đã, thấu hết được tinh thần đã, hãy nên ruồng rẫy những cái cũ thì hợp đạo hơn". Trần Khánh Giư đưa ra thí dụ: xưa kia còn học chữ nho thì đứa trẻ nào trong làng cũng ê a dăm ba chữ của thầy đồ, bây giờ chuyển sang quốc ngữ, mấy làng mới có được một trường học, nạn mù chữ mạnh hơn. Quan điểm này - hoàn toàn khác với khẩu hiệu "theo mới hoàn toàn theo mới" của Hoàng Đạo-Khái Hưng đã dùng làm nền tảng để xây dựng nhân vật Mai trong Nửa chừng xuân, khác hẳn nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh.
- Đoản thiên tiểu thuyết Mùa hoa gạo ký Kỳ Hoa, là tự truyện về quãng đời đi học của Khái Hưng: thủa nhỏ học 5 năm chữ Hán (từ 5 tuổi đến 10 tuổi) rồi mới học chữ Tây. Thi bằng Sơ Học năm 14 tuổi, vì đỗ cao nên được vào trường Bảo Hộ (ngoài đời Khái Hưng học trường Albert Sarraut). Mùa hoa gạo sẽ được ông viết lại thành hồi ký Thế giới cũ Mực tầu giấy bản ký tên Nhị Linh, về thời học chữ nho, đăng trên Phong Hóa từ số 24 (2-12-1932).
Phong Hóa số 3 (30-6-1932) ngoài những mục thường thức, còn có:
Xã luận: Một câu hỏi của Trần Khánh Giư, biện hộ cho việc con gái cần phải đi học để có kiến thức, nâng cao giá trị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Bài Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội (đăng hai kỳ, kỳ đầu ký Thảo Thượng Phong, kỳ sau ký Trần Đỗ). Bài này có lẽ là thử nghiệm truyện ngắn hiện đại đầu tiên của Khái Hưng, viết theo lối phóng sự hư cấu về một tiệm hút thuốc phiện. Phương pháp mô tả của ông đã thành hình: tiệm hút ở ngõ Sầm Công được Khái Hưng soi tỏ mọi khía cạnh: người và vật.
Mục Bìa Phong Hóa có bài Hoạn Thư của Kỳ Hoa. Mục Hài văn của Quần Đệ Tử, mục Thực hay hư của Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù. Mục Gương thể thao của Nguyễn Tuấn Giao. Mục Chuyện Phong HóaVì tình nên phải… của Khúc Giang.
Và trên Phong Hóa số 3 này có tranh hài hước ký tên Đông Sơn quốc ngữ lần đầu. Có thể vẫn là của Nguyễn Gia Trí, vì Nhất Linh chưa "vào", và có quảng cáo Nguyễn Tường Tam dạy trường Thăng Long, giáo sư cử nhân Vật lý. Cũng trong số báo này có thêm bút hiệu Khúc Giang, là tên một bài thơ của Đỗ Phủ.
Phong Hóa số 4 (7-7-1932)
Xã luận: Nghề và tiếng của Trần Khánh Giư. Tùy bút Quần trắng áo lam của Nhất Chi Mai (bàn về mốt áo lam quần trắng của các bà các cô đang thịnh hành) đây là bài văn đầu tiên của Nhất Chi Mai tức Thế Lữ được đăng trên Phong Hóa, viết theo thể văn tùy bút khá mới, nhưng không ai để ý. Mọi người chỉ coi như Thế Lữ có mặt, từ lúc truyện ngắn Thây ma xuống gác ký tên Ng. Thế Lữ, được đăng trên Phong Hóa số 27 (23-12-1932).
Mục Bìa Phong Hóa có bài Cái ngông cái rởm của người đời của Khúc Giang Đào Thiện Ngôn. Qua bút hiệu này ta biết Khúc Giang chính là Đào Thiện Ngôn, đều là Khái Hưng.
Tiểu luận Một cái khí giới của ông bố An Nam của Trần Khánh Giư, đả phá chế độ phụ quyền. Mục Phụ nữ có bài Hồ Xuân Hương của Kỳ Hoa. Thực hay hư của Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù. Bài Quang cảnh một tiệm thuốc phiện ở Hà Nội (tiếp theo), lần này không ký Thảo Thượng Phong mà ký Trần Đỗ. Như vậy Trần Đỗ cũng là bút hiệu của Khái Hưng. Hài văn của Quần Đệ Tử. Có tật giật mình, tranh của Hbat. Mục Văn đàn, có ba bài thơ: Qua thành tỉnh Sơn, Thăm cảnh hồ Gươm, Đêm hè xem sách, không đề tên tác giả và một đoản văn của Chateaubriand do Đào Thiện Ngôn dịch, tất cả đều "của" Khái Hưng. Có tranh hài hước chế nhạo việc đánh bài, không ký tên. Mục Sử ký và địa dư, có bài Đức Thánh Gióng của Kỳ Hoa.
Phong Hóa từ số 5 (14-7-1932) đến số 10 (18-8-1932)
Phong Hóa số 5 có bài Một buổi diễn kịch làm phúc, tường thuật của Nhất Chi Mai và Phong Hóa số 6, có truyện Bả phồn hoa của Nhất Chi Mai, sau đó không thấy bài của Nhất Chi Mai nữa.
Tóm lại, từ số 1 đến số 10, Khái Hưng bao dàn gần như hết cả tờ báo với những tên khác nhau. Ông đã ký những tên: Trần Khánh Giư, Kỳ Hoa, Đào Thiện Ngôn, Trần Đỗ, Thảo Thượng Phong, Khúc Giang, Hưng Bang, K.G., Ngô Đình Chiên, Bán Than [9], Hứa Do, K.G. Đào Quang Triệu, T.K. Giư, Lão Ôn, Trần Lang, Nhà Nho, Quần Đệ Tử, Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù… Những bút hiệu này, hoặc do phá ba chữ Trần Khánh Giư, để lắp lại theo một trật tự khác, hoặc sử dụng hai chữ đầu K.G rồi biến chế thêm, hoặc dùng những sự tích liên quan đến tướng Trần Khánh Dư trong lịch sử, cùng quê với ông, hoặc thầm kín nói lên tính chất nhà nho "người hiền" như Hứa Do của chính mình, hoặc cho thấy Khái Hưng có humour, thích pha trò, tự giễu. Ông chỉ bắt đầu ký tên T. Khái Hưng trên Phong Hóa số 15 (29-9-1932) dưới đoản thiên tiểu thuyết Cái thù ba mươi năm, tác phẩm đầu tiên bộc lộ ngôn ngữ tiểu thuyết của Khái Hưng.
Phong Hóa số 11 
Phong Hóa số 14
Phong Hóa số 11 (25-8- 1932), là ngõ quặt, bắt đầu sự cải tiến. Về hình thức, bỏ lối trình bày khổ nhỏ của tập san, chuyển sang khổ lớn của báo hàng ngày (như Phong Hóa số 14). Và có bài quảng cáo trên trang nhất, như sau:
Một sự cải cách lớn của báo Phong Hóa
Phong Hóa tuần báo tạm ra bốn trang giá bán 0p,03 [3 xu] để đủ thời giờ dự định một cuộc hoán cải rất lớn lao.
Vài tuần nữa tờ báo Phong Hóa sẽ được vừa lòng độc giả về hết các phương diện văn chương, mỹ thuật, tư tưởng.
Xin độc giả vững tâm chờ đợi. Phong Hóa tuần báo sẽ không phụ tấm lòng yêu mến của độc giả.
Qua lời quảng cáo này, ta có thể hiểu, kể từ số 11, Phong Hóa đã có số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa, nên Tự Lực văn đoàn mới quyết định đổi mới tờ Phong Hóa, theo cách tổ chức của Nhất Linh.
Nhưng Tự Lực văn đoàn lúc đó có những ai? Đã là một văn đoàn chưa? Dựa vào Những ngày vui, thì lúc đó "nhóm Tự Động" hay Tự Lực chỉ có Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh.
Phong Hóa số 12 (1-9-1932) trình bày giống hệt như Phong Hóa số 11, bài quảng cáo cũng như thế, trên trang nhất.
Phong Hóa số 13 (8-9-1932), đăng bài quảng cáo mới, ở giữa trang nhất, "hoành tráng" và "nhà nghề" hơn, chắc đã có bàn tay Nhất Linh nhúng vào:
"Một cuộc hoán cải lớn lao trong báo Phong Hóa!
Một sự lạ trong làng báo!
Một cái mới!
Đến ngày thứ năm 22 Sept.1932
Báo Phong Hóa sẽ ra số mới 8 hay 12 trang (khổ nhật trình). Mỗi số 0p07 [7 xu]".
Bàn một cách vui vẻ về các vấn đề
cần thiết; xã hội , chính trị, kinh tế
Nói rõ về hiện tượng trong nước.
Có 15 tranh vui, nhiều chuyện vui v.v...
Cần thiết…
Hoạt động…
Vui vẻ…
Mãi… Mãi…
Ai cần xem báo! Ai thích đọc báo!
Nên đọc Phong Hóa
Kính cáo độc giả:
Báo Phong Hóa tạm nghỉ một kỳ (15 Septembre) để có đủ thời giờ sửa soạn số ngày 22 Septembre".
Phong Hóa số 13
Vật ta có thể tóm tắt lại tình hình như sau:
Phong Hóa từ số 1 đến số 10: Khái Hưng viết, báo có khổ nhỏ của tạp chí (24×33).
Phong Hóa số 11, đổi mới hình thức, khổ lớn như báo hàng ngày và đăng quảng cáo: báo Phong Hóa sẽ có cải cách lớn.
Phong Hóa số 12 và 13, rút gọn nội dung bài vở, để chuẩn bị cho số 14.
Phong Hóa số 14: tờ báo đã cải cách, do Tự Lực văn đoàn chủ trương, ra đời.
Từ số 20 trở đi, trở lại khổ tạp chí.
Nhưng vẫn còn câu hỏi: Tự Lực văn đoàn thành lập lúc nào mà "chủ trương" báo Phong Hóa số 14 như lời Nhất Linh và Hoàng Đạo tuyên bố trên Phong Hóa số 154? (Xem Sự thành lập Tự Lực văn đoànphần I). Có thể có hai câu trả lời:
1- Từ Phong Hóa số 1 đến Phong Hóa số 13.
2- Từ Phong Hóa số 10 đến Phong Hóa số 13.
Tôi chọn câu trả lời số 2, bởi vì, trên Phong Hóa từ số 1 đến số 10, chỉ có mình Khái Hưng viết. Đến Phong Hóa số 11, sự thay đổi rất rõ ràng. Vậy ta có thể coi là Nhất Linh đã "vào" Phong Hóa, trễ lắm là từ số 11; và nhờ tiền của Leung-Fat-Fa, ông mới có phương tiện tổ chức lại tờ báo, mời Tú Mỡ, gọi các em vào giúp, mượn thêm họa sĩ vẽ hý họa.
Như vậy, ta có thể "chính thức" nhìn nhận rằng:
Nhóm Tự Lực đã thành hình trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-1932) đến Phong Hóa số 13 (8-9-1932), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932.
Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh
Đáng lẽ bài này kết thúc ở đây, nhưng chúng tôi vẫn còn muốn tìm hiểu thêm một vấn đề nữa: Nguyễn Xuân Mai là ai?
Cho đến nay, hầu như mọi người đều tin rằng Phong Hóa chỉ bắt đầu từ số 14, khi Nhất Linh làm giám đốc. Nhưng nếu đọc kỹ Phong Hóa từ những số đầu, thì mọi sự không hoàn toàn như thế: Phong Hóa là một tờ báo có sự quản trị liên tục, từ số 1 đến số 13, do Khái Hưng viết với những bút hiệu khác nhau; rồi từ số 14 trở đi, Nhất Linh mở rộng, đổi mới và làm Giám đốc, nhưng Ban quản trị không hề thay đổi: tên hai ông Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai luôn luôn có trên đầu báo, từ số 14 (22-9-1932) đến số 126 (30-11- 1934). Vậy họ là ai?
Nếu Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của ông Phạm Hữu Ninh, thì tại sao tên ông Ninh và ông Mai vẫn còn tồn tại trên mặt báo, sau số 14? Không những vai trò của Phạm Hữu Ninh không dừng ở Phong Hóa số 13, mà còn kéo dài nhiều năm sau. Vì từ số 14 (22-9-1932) trở đi, trên đầu báo, dưới tên Phong Hóa, luôn luôn có hàng chữ này:
"Fondateur Directeur politique [Sáng lập, Giám đốc chính trị] Nguyễn Xuân Mai, Directeur [Giám đốc] Nguyễn Tường Tam, Administrateur Gérant [Quản lý Trị sự] Phạm Hữu Ninh" Đến số 126 (30-11-1934), khi toà soạn dọn về 80 Quan Thánh, những dòng chữ này mới bỏ hẳn, chỉ giữ lại: Nguyễn Tường Tam Directeur.
Việc này dẫn đến hai câu hỏi:
- Một tờ báo có cần Giám đốc chính trị không?
- Phạm Hữu Ninh là hiệu trưởng trường Thăng Long, còn Nguyễn Xuân Mai là ai?
Trên bìa Phong Hóa từ số 1 đến số 13, không thấy ghi tên Phạm Hữu Ninh, Nguyễn Xuân Mai trên đầu báo. Nhưng từ Phong Hóa số 2 (23-6-1932), ở trang cuối ghi hàng chữ nhỏ tiếng Pháp: Le Directeur Nguyễn Xuân Mai - Imprimerie Thụy Ký Hà Nội - Le gérant Phạm Hữu Ninh [Giám đốc Nguyễn Xuân Mai - Nhà in Thụy Ký Hà Nội - Quản lý Phạm Hữu Ninh].
Đây là lần đầu tiên tên hai ông xuất hiện, Nguyễn Xuân Mai được ghi là Giám đốc nhà in Thụy Ký, còn Phạm Hữu Ninh làm quản lý.
Phong Hóa số 11 (25-8-1932), nhà in đổi tên là Moderne, hai ông vẫn làm giám đốc và quản lý. Và đến Phong Hóa số 14, khi Nhất Linh làm Giám đốc, thì Nguyễn Xuân Mai trở thành nhà Sáng Lập và Giám đốc chính trị. Tại sao?
Tú Mỡ kể lại chuyện ra báo trong hồi ký như sau:
"Mãi đến khi anh Tam rủ tôi vào báo Tiếng Cười thì cá mới thực gặp nước; tôi mến phục anh Tam có con mắt tinh đời, biết người, biết của, nên vui sướng nhận lời cộng tác với anh. (…)
Chúng tôi đã sáng tác được nhiều cho báo Tiếng Cười. Nhưng vẫn chưa được giấy phép ra báo. Anh Tam có đi thăm dò tin tức, thì ở sở báo chí của phủ Thống sứ người ta bảo rằng: "còn xét!“. Một tháng, hai tháng, ba tháng, vẫn cứ "còn xét". Chúng tôi bảo nhau: cái kiểu kéo dài "còn xét" này, có nghĩa là nó không muốn cho phép. Nhưng nó xỏ lá không muốn công khai từ chối vì không có lý do chính đáng" [10]
Câu này sai, vì Nhất Linh viết trong bài Nói truyện cũ trên Phong Hóa số 154 (20-9-1935) rằng: "Tờ "Tiếng Cười" đó đã được giấy phép xuất bản của chính phủ, nhưng không thể ra đời được, vì một lẽ giản dị là không kịp thu xếp xong trước ngày hết hạn giấy phép". Và trong bài tiểu sử Nhất Linh do Nguyễn Ngu Í soạn năm 1966, cho biết thêm: Tiếng Cười không ra được vì không có tiền.
Điều này chứng tỏ Tú Mỡ không biết rõ chuyện báo Tiếng Cười, ông chỉ nghe kể lại, rồi bịa thêm câu: "sở báo chí phủ Thống sứ bảo: còn xét", được rất nhiều người chép lại.
Nhưng đoạn dưới đây, có một điều tin được:
"Anh Tam đâu có chịu bó tay. Anh xoay và đã xoay rất cừ. Bấy giờ, nhân dịp có tờ Phong Hóa của anh Phạm Hữu Ninh, quản trị, anh Nguyễn Xuân Mai, giám đốc chính trị, loại báo vô thưởng vô phạt, đang sống dở chết dở vì không ai buồn đọc, sắp sửa phải đình bản. Anh Tam đề nghị với hai anh nhượng lại tờ báo cho mình làm chủ bút, hai anh vẫn đứng tên quản trị và giám đốc chính trị làm vì, mỗi tháng lĩnh mấy chục bạc lương (tức là tiền cho thuê báo). Tất cả đều hỉ hả: anh Ninh và anh Mai trút được gánh nặng mà báo khỏi đình bản; anh Tam sẵn có tờ báo thay cho tờ Tiếng Cười, chắc là không được phép xuất bản" [11]
Điểm có thể tin được ở đây trong lời Tú Mỡ là: Nhất Linh chỉ "thuê" giấy phép làm báo, cho nên hai ông Ninh và Mai vẫn "chính thức" đứng tên. Việc này giải thích lý do tại sao trên đầu Phong Hóa số 14 lại ghi: Nguyễn Xuân Mai là người Sáng lập và Giám đốc chính trị; Nguyễn Tường Tam, Giám đốc và Phạm Hữu Ninh, Quản lýChỉ tới số 126, khi tòa soạn đã dọn về 80 Quan Thánh, thì trên đầu báo mới bỏ hết tên ba người, nhưng tên Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh, lại xuất hiện lại, trên báo thêm một thời gian nữa, đến Phong Hóa số 139 (8-3-1935) mới chấm dứt hẳn [12].
Cũng nên ghi thêm: kể từ Phong Hóa số 136 (15-2-1935) Nguyễn Tường Tam không có tên trên bảng quảng cáo các giáo sư cử nhân trường Thăng Long. Nhưng ông chỉ ngừng dạy một thời gian, vì đến năm 1937, trên báo Ngày Nay số 74 (29-8-1937), lại quảng cáo tên ông trong ban giáo sư nhà trường, như vậy ông còn dạy học trong niên khóa 1937-1938 nữa.
Phong Hóa Ngày Nay bị biển thủ
Nhà in, nhà xuất bản và tờ báo là ba cơ quan khác nhau. Báo Phong Hóa, từ số 1(6-6-1932) đến số 190 (5-6-1936) đã thay đổi tên nhà in nhiều lần, thoạt tiên là Thụy Ký, rồi Imprimerie Moderne (62 Hàng Bạc), Lê Văn Tân, Trung Bắc Tân Văn và Tân Dân [13]. Chắc chỉ đổi tên, chứ vẫn là một nhà in, vì ông Nguyễn Xuân Mai luôn luôn là Giám đốc và ông Phạm Hữu Ninh quản lý. Từ Phong Hóa số 134 (30-1-1935) trở về sau mới chuyển sang Nguyễn Tường Tam quản lý nhà in Tân Dân đến số 190, số chót.
Còn báo Ngày Nay ra sau, lần lượt do Nguyễn Tường Cẩm (anh Nhất Linh), Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Trần Khánh Giư (Khái Hưng) và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Giám đốc. Tên nhà in báo Ngày Nay cũng thay đổi từ Imprimerie d’Extrême Orient sang TBTV (Trung Bắc Tân Văn) rồi lại trở về với tên Thụy Ký [14], và "những nhà in" này đều do Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân và Nguyễn Kim Hoàn (em rể Nhất Linh, chồng bà Nguyễn Thị Thế) thay phiên nhau quản lý.
Qua chuyện nhà in, bật ra mấy câu hỏi có tính cách xác định:
- Tên nhà in hai báo Phong Hóa Ngày Nay, tuy thay đổi nhiều lần, nhưng có phải vẫn chỉ là một nhà in Thụy Ký mà ông giám đốc là Nguyễn Xuân Mai hay không?
- Sau Phạm Hữu Ninh đến Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Kim Hoàn kế tiếp nhau quản lý (các) nhà in. "Các" nhà in này tuy thay đổi tên nhưng cuối cùng vẫn trở về với tên đầu tiên Thụy Ký, trước khi "bán lại" cho Ngày Nay.
- Ngày Nay số 208 quảng cáo: "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà" và từ Ngày Nay số 209, báo đề in ở Imprimerie spéciale de la Revue Ngày Nay. Vậy báo Ngày Nay chỉ có nhà in riêng bắt đầu từ số 208, và nhà in này cũng tên là Ngày Nay.
- Tại sao một tờ báo lớn như Ngày Nay và một nhà xuất bản lớn như Đời Nay lại chỉ có nhà in riêng khá chậm như vậy?
- Bởi vì Tự Lực văn đoàn bị một người biển thủ. Việc này bà Nguyễn Thị Thế có nói đến trong hồi ký: "Các anh mải mê sáng tác, soạn bài vở nên giao việc trông nom ấn loát và quảng cáo cho một người bạn vì quá tin nên không kiểm soát gì cả. Trong hai năm ông ta thụt két mất một số tiền lớn; sau này có người mách các anh soát lại sổ sách mới rõ, thật là chua cay"[15]. Nhưng bà không nói rõ ai thụt két và trong thời gian nào. Khi rà lại Phong Hóa và Ngày Nay để tìm dấu vết vụ này, chúng tôi thấy rằng:
Kể từ Phong Hóa số 140 (15-3-1935), ông Nguyễn Văn Thức làm Quản lý báo Phong Hóa và Ngày Nay, tên ông được đề liên tục trên đầu báo, trong hai năm rưỡi.
Bỗng nhiên, đến Ngày Nay số 74 (29-8-1937), dưới bài diễn văn của Nhất Linh Ý nghĩa xã hội của Ánh Sáng, trên một cột nhỏ, phải chú ý mới thấy, có in mấy dòng Cùng các độc giả Ngày Nay và những nhà đăng quảng cáo, dưới dạng bố cáo như sau:
"Ông Nguyễn Văn Thức, người thủ khố (Caissier comptable) của báo Ngày Nay bỗng dưng bỏ việc mấy hôm nay không đến tòa báo. Vậy chúng tôi không coi ông ấy là người làm công của chúng tôi nữa. Tiền nong, thư từ về việc quảng cáo, xin các bạn gửi cho ông TRẦN TIÊU, 80 Grand Bouddha, Hà Nội".
Vậy, Trần Tiêu, em ruột Khái Hưng đã thay Nguyễn Văn Thức làm quản lý báo Ngày Nay (Nguyễn Thị Thế ghi Hoàng Đạo) trong một thời gian, sau đó Nguyễn Trọng Trạc lên thay thế, rồi sau báo Ngày Nay không đề tên Giám đốc, Quản lý nữa. Kể từ Ngày Nay số 166 (17-6-1939) ông Nguyễn Kim Hoàn, làm quản lý nhà in Thụy Ký đến số báo chót.
Vì vụ biển thủ này, cho nên báo Ngày Nay không có tiền để lập nhà in riêng và nhà xuất bản Đời Nay cũng bị khó khăn theo, cho nên mãi đến năm 1940, tức là tới lúc các thành viên chính đã phải trốn tránh và Tự Lực văn đoàn bắt đầu tan rã, thì Ngày Nay số 209 (25-5-1940), mới in được ở nhà in riêng, và quảng cáo trên báo câu đối: Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà.
Tại sao ông Nguyễn Xuân Mai lại là người sáng lập Phong Hóa?
Câu hỏi: ông Nguyễn Xuân Mai, Giám đốc Sáng lập và Giám đốc Chính trị tờ Phong Hóa, là ai? Vẫn chưa trả lời được. Đọc lời chia buồn của Phong Hóa khi được tin cụ Thượng Đính mất, tôi được biết một thông tin quý giá giúp tôi giải mã câu hỏi này.
Bản Tin buồn đăng trên Phong Hóa số 183 (17-4-1936), bắt đầu như sau:
"Bản báo được tin cụ Lê Vân Đính, Tuần phủ chí sĩ, thân phụ ông Lê Vân Nham, nhạc phụ ông Thụy Ký và ông Trần Khánh Giư đã mệnh chung ở Dịch Diệp (Nam Định) ngày 7 tháng tư…"
Nhờ mấy dòng này mà ta biết ông Thụy Ký là người anh đồng hao của Khái Hưng.
Vì vậy, chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết: tờ Phong Hóa, được ông Thụy Ký (Nguyễn Xuân Mai), không những giúp đỡ Khái Hưng in báo từ số 1, mà khi Nhất Linh mở rộng tờ báo, từ số 14, ông Thụy Ký Nguyễn Xuân Mai còn bao che cả việc chính trị (vì ông có thế lực?), cho nên trên đầu tờ Phong Hóa, từ số 14, luôn luôn đề Nguyễn Xuân Mai, Giám đốc Sáng lập và Giám đốc Chính trị. Như thế, công của ông trong việc xây dựng tờ Phong Hóa thực không nhỏ, và ông quả là người Sáng lập ra tờ báo.
Fondateur Directeur Politique Nguyễn Xuân Mai
Nhà in Thụy Ký, trong suốt 8 năm, do ông Nguyễn Xuân Mai làm chủ, ban đầu mượn ông Phạm Hữu Ninh, tiếp đến anh em Nguyễn Tường làm quản lý và chỉ đến bốn tháng cuối cùng, Tự Lực văn đoàn mới mua được nhà in mới (hay mua lại nhà in Thụy Ký) để có nhà in riêng, tức là nhà in Ngày Nay, in báo Ngày Nay từ số 209 (25-5-1940), đến 224 (7-9-1940) là số chót. Nhưng năm 1940, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí đã tham gia cách mạng rồi.
Tóm lại, sau những khảo sát đầu tiên, chúng tôi xin tạm kết luận:
Báo Phong Hóa (số 1, ra ngày 6-6-1932) do Nguyễn Xuân Mai, giám đốc nhà xuất bản Thụy Ký sáng lập và in ấn; Trần Khánh Giư và Nguyễn Gia Trí chủ trương; Trần Khánh Giư đặt tên là Phong Hóa và viết hầu như toàn diện bài vở từ số 1 đến số 13 (8-9-1932). Tên Tự Lực cũng đã có trong thời kỳ này.
Kể từ Phong Hóa số 11, nhờ số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa di tặng, mới có quyết định mở rộng và đổi mới theo kế hoạch của Nguyễn Tường Tam.
Tự Lực văn đoàn
 đã thành hình trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-32) đến Phong Hóa số 13 (8-9-32), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932, để chuẩn bị cho số báo 14 (22-9- 1932) là số báo chính thức của văn đoàn.

Chú thích:
[1] Những ngày vui, bản Phượng Giang, 1958, trang 101-102.
[2] Những ngày vui, bản Phượng Giang, trang 105.
[3] Những ngày vui, trang 108.
[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III, Anh Phương Sài Gòn, 1965, Đại Nam Hoa Kỳ, in lại, trang 432.
[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, Ba thế hệ của nền văn học mới (1862-1945) Nxb Trình Bày, 1967, trang 609.
[6] Khổ tạp chí, 16 trang, giá 10 xu, chưa có bìa. Khung in Giá báo, đề: Ngân phiếu và thư tín xin gửi: M. Phạm Hữu Ninh, Quản lý Phong Hóa Tuần Báo, số 1 đường Carnot Hà Nội.
[7] Mục Hài văn ký tên Quần Đệ Tử từ số 1 tới số 7; số 8 ký Bán Than; số 9 ký Bi Thời Khách. Từ số 10, đổi tên thành Nụ Cười, vẫn do Khái Hưng viết, ký tên Lão Ôn; số 11 và 12 ký tên Nhà Nho; số 13 ký tên Ba Phải. Đặc biệt số 6, có bài thơ phỏng cổ Chinh Phụ Ngâm: Lời than của chị em dưới sóm [xóm] của Quần Đệ Tử, rất hay.
[8] Bìa này giữ đến số 10. Dưới tranh bìa, đề hàng chữ to: Tòa soạn và trị sự số 1, Đường Carnot [nay là Phan Đinh Phùng] Hà Nội. Giá bán 10 xu. Ở tận cùng trang cuối, ghi hàng chữ nhỏ: Le directeur Nguyễn Xuân Mai - Imprimerie Thụy Ký Hà Nội- Le gérant: Phạm Hữu Ninh.
[9] Tướng Trần Khánh Dư ngày trước có lúc bị biếm phải làm nghề bán than.
[10] Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn, hồi ký của Tú Mỡ, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1 năm 1989, in lại trong cuốn Tự Lực văn đoàn trong tiến trình văn học dân tộc, Mai Hương tuyển chọn và biên soạn, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 125-158).
[11] Tú Mỡ, Trong bếp núc của Tự Lực Văn Đoàn, sách đã dẫn.
[12] Kể từ Phong Hóa số 127 (7-12-34) tên Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh không còn trên đầu báo, nhưng cuối báo vẫn đề tên ông Phạm Hữu Ninh quản lý nhà in Tân Dân, tới số 134 (30-1-1935). Từ số 135 (8-2-1935) nhà in Tân Dân do Nguyễn Tường Tam quản lý. Đến số 137 (22-2-35) và số 138 (1-3-1935), lại thấy tên ông Nguyễn Xuân Mai xuất hiện trên đầu báo, với danh nghĩa: Sáng lập. Tới Phong Hóa số 139 (8-3-1935) mới bỏ hẳn tên hai ông Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh.
[13] Nhà in Thụy Ký, do ông Phạm Hữu Ninh quản lý, đổi tên là Imprimerie Moderne 62 Hàng Bạc kể từ Phong Hóa số 11 (25-8-1932). Tiếp đó, sẽ có những tên: Lê Cường, (do Nguyễn Tường Tam quản lý, in Phong Hóa số 14) nhưng từ số 15, lại trở về tên Moderne, rồi trở thành: Lê Văn Tân, Trung Bắc Tân Văn và Tân Dân, đều do ông Phạm Hữu Ninh quản lý. Đến Phong Hóa 134 (30-1-1935), nhà in Tân Dân mới do Nguyễn Tường Tam quản lý.
[14] Ngày Nay số 1 (30-1-1935) in ở Imprimerie d’Extrême-Orient, do Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc báo và Quản lý cả nhà in. Được năm số thì ông Cẩm nghỉ. Nguyễn Tường Tam thay thế. Ngày Nay số 26 (20-9-1936) nhà in có tên là TBTV (Trung Bắc Tân Văn), số 27 (27-9-1936) lấy lại tên Thụy Ký, rồi từ số 31 (25-10-1936), lại đổi tên TBTV, đến số 38 (13-12-1936), trở về tên Thụy Ký, vẫn do Nguyễn Tường Tam làm Quản lý. Tới Ngày Nay số 68 (18-7-1937), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) lên làm Giám đốc tờ báo, đồng thời Quản lý nhà in Thụy Ký cho tới số 165 (10-6-1939). Từ Ngày Nay số 166 (17-6-1939), không đề tên giám đốc tờ báo nữa, chỉ còn tên Nguyễn Kim Hoàn (chồng bà Nguyễn Thị Thế, em gái Nhất Linh) làm quản lý nhà in Thụy Ký cho tới số 208 (18-5-1940). Và từ Ngày Nay số 209, báo đề in ở Imprimerie spéciale de la Revue Ngày Nay, tức là nhà in riêng của Ngày Nay cho tới số cuối cùng 224, vẫn do ông Nguyễn Kim Hoàn quản lý.
[15] Hồi ký Nguyễn Thị Thế, bản Văn Hóa Ngày Nay, 1996, Hoa Kỳ, trang 120.
5- Nhất Linh và Phong Hóa
Phong Hóa số 14, ra ngày 22-9-1932, được coi là tờ báo đầu tiên của Tự Lực văn đoàn. Tuy nhiên sự thay đổi, như ta đã thấy trong chương Khái Hưng và Phong Hóa, bắt đầu từ trước.
Ngay từ số 11 (25-8- 32), Phong Hóa đã đổi dạng từ tạp chí sang nhật trình, theo kiểu Phong Hóa số 14 (22-9-32): Bỏ tranh bìa, in 4 trang lớn, giá 8 xu. Trang nhất đăng bài quảng cáo sau đây:
"Một sự cải cách lớn của báo Phong Hóa
Phong Hóa tuần báo tạm ra 4 trang giá bán 0p.03 [3 xu] [1] để đủ thời giờ dự định một cuộc hoán cải rất lớn lao.
Vài tuần nữa tờ báo Phong Hóa sẽ được vừa lòng độc giả về hết các phương diện văn chương, mỹ thuật, tư tưởng.
Xin độc giả vững tâm chờ đợi. Phong Hóa tuần báo sẽ không phụ tấm lòng yêu mến của độc giả."
Tiếp tục quảng cáo như thế trên số 12 (1-9-1932). Số 13 (8-9-1932), in thêm khẩu hiệu: Một cuộc hoán cải lớn lao trong báo Phong Hóa! Một sự lạ trong làng báo! Một cái mới!
Và có lời Kính cáo độc giả: Báo Phong Hóa tạm nghỉ một kỳ (15-9) để có đủ thời giờ sửa soạn số ngày 22 Septembre.
Ngày 22-9-1932, Phong Hóa số 14 ra đời.
Chấm dứt thời kỳ độc diễn của Khái Hưng. Nhất Linh xuất hiện với nhiều ngòi bút mới. Ê-kíp làm việc trong một tháng để hoàn thành số ra mắt.
Trang đầu Phong Hóa số 14
Những thành viên của Tự Lực văn đoàn đều có mặt trên số 14 này: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Tú Mỡ, trừ Thế Lữ, đến sau.
Từ số 14 (22-9-1932) đến số 20 (4-11-1932), trong hai tháng, qua 8 số báo hàng tuần, Phong Hóa đã, từng bước, từng bước, dấn thân vào việc cải tiến xã hội, chối bỏ cái cũ, cái hủ lậu để bước vào thời đại mới, xây dựng nền văn chương quốc ngữ, hiện đại hóa tiểu thuyết ở miền Bắc, mà Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm khởi đầu.
Sự đổi mới của Phong Hóa
Phong Hóa số 14, khổ nhật trình, 8 trang, giá 7 xu [2]. Trang nhất, trên đầu báo đề hai địa chỉ: Tòa soạn: 25 Boulevard Henri d’Orléans [nay là Phùng Hưng] và Trị sự: 1 Boulevard Carnot; cùng với tên ba người: Fondateur Directeur politique: Nguyễn Xuân Mai. Directeur: Nguyễn Tường Tam. Administrateur gérant: Phạm Hữu Ninh. (Sáng lập và Giám đốc chính trị: Nguyễn Xuân Mai. Giám đốc: Nguyễn Tường Tam. Quản lý Trị sự: Phạm Hữu Ninh).
Nguyễn Tường Tam đổi mới tờ báo từ hình thức đến nội dung: phong phú, hấp dẫn, nhiều hý họa và minh họa. Ông đã thực hiện được ý định muốn có một tờ báo như tờ Le Rire (Tiếng Cười) của Pháp [3].
Nguyễn Tường Tam có hai em hậu thuẫn: Nguyễn Tường Long, làm tham tá lục sự ở trong Nam, ra Bắc, xuất hiện trên số 14, ký tên Tứ Ly và Tòng Lương [Tường Long nói lái], Thạch Lam, con thứ sáu trong gia đình Nguyễn Tường, góp mặt trên số đầu với một truyện rất ngắn, ký tên TL [Tường Lân viết tắt]. Tú Mỡ, quen Nhất Linh vì làm cùng sở tài chính từ cuối năm 1923, được mời phụ trách mục thơ trào phúng trên báo cùng với Bán Than (Khái Hưng).
Từ trước đến nay, người ta vẫn tưởng: Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh, và có sự gián đoạn lớn giữa tờ báo của ông Ninh và tờ Phong Hóa. Nhưng không phải vậy, Phong Hóa từ số 1 đến số 14 là sự liên tục về mặt quản trị và biên tập, như chúng tôi đã trình bày trong những chương trước: hai hạt nhân đầu của Tự Lực văn đoàn là Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí, làm Phong Hóa với sự trợ giúp phương tiện của hai ông Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh. Khi nhận được tiền di tặng của Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, từ số 11, Phong Hóa mới thông báo cùng độc giả dự định đổi mới, qua hai số chuyển tiếp 12 và 13, Phong Hóa hoàn toàn đổi mới từ số 14.
Nhất Linh tổ chức lại tờ báo, phát triển những mục mà Khái Hưng đã tạo ra từ số 1, mời thêm người viết, mở rộng những mục cũ, tạo mục mới, xác định đường hướng của tờ báo, dùng hý họa và văn chương tấn công vào thành trì cổ hủ và lạc hậu của đạo Nho và sự thối nát của guồng máy thuộc địa. Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa ở số 190, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí mở thêm mặt trận tranh đấu chính trị: đòi hỏi tự do dân chủ, trên báo Ngày Nay, kể từ số 16 (12-7-1936).
Nhất Linh cải tiến Phong Hóa
Nhất Linh cải tiến Phong Hóa bằng cách: Phát triển những mục cũ do Khái Hưng đặt ra và thêm vào những mục mới:
Bài xã luận có từ số 1, luôn luôn ký trên Trần Khánh Giư. Đó là bài chính, dài, ở trang đầu, dùng nhiều thể loại khác nhau, chủ đề khác nhau, coi như văn bản "chỉ đạo" của chủ bút; từ số 11, bài xã luận này được thu gọn lại, in ở cột báo đầu cùng, bên trái.
Từ số 14 trở đi, trở thành bài viết ngắn, in nghiêng, mục đích cổ vũ hay giải thích chủ trương, chủ đề của số báo, do Nhị Linh (Khái Hưng), Nhất Linh, và Tứ Ly (Hoàng Đạo) phụ trách.
- Mục Thực hay hư, có từ số 2, chưa ký tên. Từ số 3 trở đi ký những tên khác nhau của Khái Hưng, như Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù, Sào Phủ, Hứa Do, Tô Tô Phôn [4].
Đến số 14, Nhất Linh chia mục này thành ba mục: Từ nhỏ đến lớn (nói về việc), Từ cao đến thấp (nói về người) (sau sẽ chập làm một, lấy tên Người và Việc) và Bàn ngang (nói ngược). Ba mục này giao cho Tứ Ly (Hoàng Đạo) phụ trách.
- Mục Tin nước Nam và thế giới có từ số 1, không ký tên. Đến số 14 đổi thành Những việc chính cần biết trong tuần lễ này, số đầu do Thiện Căn viết, đây là bút hiệu của Hoàng Tích Chu. Sở dĩ Nhất Linh, Khái Hưng mời Hoàng Tích Chu bởi vì ông là một trong những nhà báo tân tiến đầu tiên của Việt Nam, đã đi Pháp hai lần, học nghề báo, trước Nhất Linh. Với chủ trương thay đổi văn chương quốc ngữ, Phong Hóa cần Hoàng Tích Chu. Chẳng may Hoàng Tích Chu mất sớm (25-1-1933) ở tuổi 36, nên ông chỉ viết cho Phong Hóa có hai vở kịch và một bài phóng sự, nhưng ông đã để lại dấu ấn sâu đậm. Chúng tôi sẽ trở lại với Hoàng Tích Chu trong một chương sau.
- Mục Hài văn có từ Phong Hóa số 1, do Khái Hưng viết, ký Quần Đệ Tử từ số 1 tới số 7; số 8 ký Bán Than; số 9 ký Bi Thời Khách. Từ số 10, đổi tên thành Nụ Cười, vẫn do Khái Hưng viết, ký tên Lão Ôn; số 11 và 12 ký tên Nhà Nho; số 13 ký tên Ba Phải. Đặc biệt trong số 6, có bài thơ phỏng Chinh Phụ Ngâm: Lời than của chị em dưới sóm [xóm] của Quần Đệ Tử, rất hay.
Từ số 14, mục Hài văn đổi thành Vui… Cười… do nhiều người viết, đôi khi cả độc giả cũng tham dự.
- Mục Khoa học có từ số 1.
- Mục Văn đàn có từ số 1 do Khái Hưng viết dưới những bút hiệu khác nhau, như: Phong Hóa, Đào Thiện Ngôn, Kỳ Hoa, Thảo Thượng Phong, Ngô Đình Chiên, Trần Lang và TKH (Trần Khái Hưng), chuyên dịch thơ, dịch văn và sáng tác.
Kể từ số 14, Văn đàn đổi thành Văn học, vẫn do Khái Hưng phụ trách dưới bút hiệu Văn Lực.
Ngoài ra, Nhất Linh đưa thêm vào hai mục mới:
Giòng nước ngược, thơ trào phúng, do Tú Mỡ phụ trách, thỉnh thoảng có thơ của Bán Than (Khái Hưng).
- Mục Những hạt đậu dọn, do Nhát Giao [Dao] Cạo (Khái Hưng) nhặt sạn chữ nghĩa trên các báo khác.
Phong Hóa số 14 có những bài sau đây:
Xã luận: Biết dân quê… của Nguyễn Đông Sơn (Nhất Linh), nội dung bênh vực dân quê. Mục Văn Học có bài tiểu luận bàn về thi ca, tựa đề Thơ của Văn Lực (Khái Hưng). Mục Khoa học có bài Giống tôm ở nhờ của Văn Ký. Mục Những việc chính cần biết trong tuần lễ này của Thiện Căn (Hoàng Tích Chu).
Phần hý họa gồm có: Tranh Người An Nam mình kinh doanh của Đông Sơn. Tranh Mồm mép hàng giầy của Tô, với nhân vật hình dạng giống Lý Toét, nhưng chưa đề tên. Tranh Dạy khôn của Nal, [có khi ký Nul (Số Không) hay Tú Nuy (tạm dịch là Truổng Cời)]. Tranh Nhà giáo quen tay của Tứ Ly. Ba tranh Trong vườn bách thú, Một ngài nhãng trí, Hai ngài nhãng trí, và tranh minh họa truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin của Khái Hưng đều ký tên Mac. Truyện hài hước bằng tranh Ông Hàn đi săn… Ông Hàn kể truyện, không ký tên. Tranh Ông Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời, của Tứ Ly giễu Tản Đà say rượu, đi kèm với bài thơ: Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu của Bán Than.
Phần sáng tác gồm có: Truyện ngắn Nùng Chi Lan của Tòng Lương (Tường Long nói lái). Mục Văn vui có truyện Lệ Hồng quyên sinh của T.L (Tường Lân). Truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin của Trần Khánh Giư (Khái Hưng). Truyện trinh thám: Giết chồng… báo thù chồng của Ngô Tâm Tư (Nhất Linh). Mục Giòng nước ngược với ba bài thơ Tự thuật, Kiệu bay, Thi lấy được của Tú Mỡ và bài Phụ nữ với quần vợt của Bán Than.
Phong Hóa 14 là số ra mắt, Tự Lực văn đoàn muốn "phô trương lực lượng" với số tranh hài hước kỷ lục, bài viết phong phú, chủ đích giới thiệu các ngòi bút mới và trình bày hai yếu tố hài hước và văn chương như cốt lõi của tờ báo.
Phong Hóa số 15 (29-9-1932), có chủ đề đả phá sự sầu thảm với ba sự kiện đáng chú ý:
- Lần đầu tiên Trần Khánh Giư ký T. Khái Hưng. Nguyễn Tường Tam vẫn ký Ngô Tâm Tư.
- Lần đầu tiên có tên Việt Sinh, bút hiệu của Thạch Lam trên Phong Hóa.
- Lần đầu tiên có hình Lý Toét trên báo, ở đầu mục Vui Cười, ký DS (Đông Sơn).
Bài xã luận: Sầu thảm nhiều rồi của Việt Sinh, công kích lối văn lâm ly đẫm nước mắt đang thịnh hành thời đó, như Tuyết Hồng lệ sử, Tố Tâm, v.v... Tranh hài hước Một đám ma vui, trên trang nhất, của Đông Sơn, đưa tiễn những tác phẩm sầu thảm, hậu thuẫn cho bài của Việt Sinh. Tứ Ly trong mục Từ cao đến thấp chế giễu chuyện cô gái Bắc Ninh lên Hà Nội tự tử, Bán Than phụ họa với bài thơ Nước Hồ Gươm trong Giòng nước ngược châm biếm chuyện tự hủy mình. Khi một "chủ đề" được đưa ra, ở đây là "văn chương sầu thảm" và bị "đánh hội đồng" như thế thì "khổ chủ" khó ngóc đầu lên được, đó là chiến thuật của Nhất Linh trên Phong Hóa: một khi đề đã ra rồi, anh em mặc sức tấn công bằng tranh và lời.
Phần sáng tác có truyện ngắn Tiếng chó sủa của Ngô Tâm Tư, chuyện hai vợ chồng đào của, lối viết còn khá thô sơ. Truyện ngắn Đi Nam Kỳ của T.K.G. (Khái Hưng) do Tứ Ly minh họa, cũng chưa có gì mới. Nhưng truyện ngắn Cái thù ba mươi năm, của T. Khái Hưng, bút hiệu này lần đầu tiên ra mắt độc giả, đã xác định một phong cách truyện ngắn có cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ điêu luyện.
Phong Hóa số 16 (6-10-1932): Bút hiệu Nhất Linh xuất hiện lần đầu, dưới bài tiểu luận Nam nữ bình quyền và bài thơ Điệu thơ cụt. Nhưng truyện ngắn vẫn ký Ngô Tâm Tư.
Trong số này có bài xã luận Tinh thần khủng hoảng của Tòng Lương (Tường Long) nói về vấn đề thanh niên bị khủng hoảng tinh thần vì muốn bỏ cái cũ mà chưa thu thập được cái mới.
Bài tiểu luận Nam nữ bình quyền của Nhất Linh, nhìn cái tựa, ta tưởng Nhất Linh bênh vực phụ nữ, hóa ra không. Theo ông, người chồng (hống hách), thật ra chỉ là Giám quốc bù nhìn. Chị em mới thực nắm chức Thủ tướng, ông viết: "bọn đàn ông có quyền bao nhiêu cũng vẫn chưa đủ đàn áp được cái thân liễu yếu, chỉ nhờ cái "yếu" ấy mà sức mạnh vô song". Có thể do kinh nghiệm gia đình chăng? Mẹ và vợ ông đều là những "thủ tướng". Nhưng không phải gia đình nào người đàn bà cũng làm thủ tướng! Bài này đi đôi với hý họa Nam nữ bình quyền, vẽ người đàn ông đánh phấn, không ký tên, chắc cũng của Nhất Linh.
Truyện ngắn Cái hoa chanh của Ngô Tâm Tư hay hơn truyện Tiếng chó sủa trong số 15.
Và truyện ngắn Sóng gió Đồ Sơn của T. Khái Hưng đã thấp thoáng không khí lãng mạn Tự Lực văn đoàn.
Cũng trên Phong Hóa số 16, lần đầu Nguyễn Tường Cẩm, anh Nhất Linh, viết bài Thomas Bata, nhà đóng giầy trứ danh mới từ trần.
Phong Hóa số 17 (13-10-1932) có tranh Đồng tử quân của Đông Sơn, vẽ một đội quân đồng tử (cùng chết) cầm ống thuốc phiện thay súng xông trận cảm tử. Có truyện ngắn Tiếng gọi cõi âm của Ngô Tâm Tư, do Cô Tô minh họa và truyện ngắn Cái thống đời Tống của T. Khái Hưng do Tứ Ly minh họa.
Đặc biệt là bài Để còn hỏi ông nghè Nguyễn Mạnh Tường của Văn Lực (Khái Hưng), tác giả hỏi ý kiến ông tiến sĩ văn chương về việc đổi mới văn chương quốc ngữ, có nên lấy chữ Hán hay chữ Pháp làm mẫu, theo lối Ronsard, thế Kỷ XVI, đã cải cách thi ca Pháp, và Corneille, Racine, Molière, thế Kỷ XVII, chấn chỉnh bi kịch và hài kịch, đều lấy văn Hy La làm mẫu không?
Phong Hóa số 18 (20-10-1932) có truyện Tình tuyệt vọng của Khái Hưng do Tứ Ly minh họa, và bài thơ Tình tuyệt vọng Khái Hưng dịch Arvers. Với bài thơ này, Khái Hưng đã nổi tiếng trên văn đàn, trong nhiều thập niên, vì tính cách lạng mạn "mới" không than khóc, phù hợp với tâm trạng thanh niên nam nữ lúc bấy giờ.
Đặc biệt có bài Trường Mỹ thuật Đông Pháp, không ký tên, nhưng chắc của Nhất Linh. Bài này cho biết nhiều nét về trường Mỹ Thuật Đông Dương trong những ngày đầu, mà chỉ Nhất Linh, đã từng học qua, mới có thể viết được. Đây là bài đầu tiên viết về trường Mỹ thuật trên Phong Hóa. Chúng tôi sẽ trở lại với trường Mỹ thuật Đông Dương, trong một chương khác.
Bài Bàn về quốc văn của Nguyễn Mạnh Tường trả lời bài Văn Lực đã đăng trong số 17, có nhiều ý kiến rất hay, chúng tôi cũng sẽ trở lại với Nguyễn Mạnh Tường trong một kỳ tới.
Trong số 18 này, lần đầu tiên có truyện ngắn Cái bánh ngọt của Trần Tiêu, em ruột Khái Hưng, và cũng là lần đầu tiên có tranh của Trần Quang Trân, ký Ngạc Mai.
Phong Hóa số 19 (27-10-32), có bài xã luận Tiếng cười của Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nhất Linh, là bài viết thứ hai của ông, rồi ngừng. Có tranh Ấy họ đá… nhau, chế giễu cảnh đá banh của Tứ Ly. Ba Ếch xuất hiện lần đầu trong truyện Ba Ếch đi xe hoả. Có truyện ngắn Ada Kwaben của Khái Hưng, vở hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem của H.T.C. (Hoàng Tích Chu), cùng bài Nguyễn Mạnh Tường trả lời Văn Lực (Khái Hưng).
Phong Hóa số 20 (4-11-1932), tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên xuất hiện lần đầu trên Phong Hóa, mở một kỷ nguyên mới: Tự Lực văn đoàn đã hoàn tất giai đoạn hình thành để bước sang giai đoạn phát triển. Từ nay Phong Hóa trở thành tờ báo lớn nhất đất Bắc, có ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách văn chương và sự đổi mới xã hội ở trong nước.
Những họa sĩ vẽ tranh hài hước
Về tranh, từ Phong Hóa số 4 đến số 12, ngoài vài tranh không ký tên, số nào cũng có tranh ký tên H.bat. Rồi từ số 13 trở đi, xuất hiện nhiều tên khác. Phải chăng tất cả những tranh đó đều của Nguyễn Gia Trí?
Tuy nhiên, Phong Hóa có tranh bìa ký tên Đông Sơn chữ Hán từ số 2 và số 3, có một hý họa ký tên Đông Sơn chữ quốc ngữ, mà trên nguyên tắc, lúc đó Nhất Linh chưa "vào", vậy ai vẽ? Nguyễn Gia Trí hay Nhất Linh? Nếu là tên chung của hai người thì lúc nào trở thành tên riêng của Nhất Linh?
Phong Hóa số 14, trên trang nhất, có hý họa "Người An Nam mình kinh doanh" ký tên Đông Sơn, vẽ một chiếc xe hàng khốn khổ, chất lèn hành khách và hàng hóa đồ đạc lên tới mui xe. Tranh này được coi là của Nhất Linh.
Khi làm Phong Hóa, ban đầu chắc Nhất Linh chỉ có chủ đích dùng tranh hài hước để giải trí và thu hút độc giả, chế giễu những cái cổ hủ của nhà nho, những cái lỗi thời trong phong tục (chủ trương này bị nhiều người hiểu lầm và đánh giá sai). Nhưng dần dần, tranh và văn hài sẽ chuyển sang chống chế độ quan trường thối nát. Trên Phong Hóa số 150 (24-5-1935) Tứ Ly trong mục "Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh chuồn, đã phỏng vấn giả tưởng Tổng đốc Vi Văn Định, sau đó bị đóng cửa ba tháng. Từ đó, tranh biếm họa trên Phong Hóa thẳng thừng ra mặt chống thực dân mà Nguyễn Gia Trí là "thủ phạm" chính.
Nguyễn Cát Tường là người vào Phong Hóa rất sớm, đã vẽ trên Phong Hóa từ số 13 (8-9-1932), ký tên A.S. Lemur [5] có thể vì còn là học trò, không được quyền vẽ báo và ký tên như một họa sĩ chuyên nghiệp. Sự kiện này giải thích tại sao Nguyễn Gia Trí trong thời gian từ 1932 đến 1936, thường vẽ tranh không ký tên, hoặc ký tên lung tung, không giữ tên nào rõ ràng và lâu dài. Nguyễn Cát Tường chỉ trở lại Phong Hóa từ số 27 (23-12-1932).
Bắt đầu từ Phong Hóa số 18 (20-10-1932), có tranh của Trần Quang Trân ký Ngym.
Tiếp đến các họa sĩ Trần Bình Lộc, Nguyễn Tường Lân (họa sĩ, trùng tên với Thạch Lam), Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, v.v...
Trên số 1, Khái Hưng chưa chủ trương đem tranh hài hước vào Phong Hóa. Phải đến khi Nhất Linh xuất hiện, hý họa mới thực sự trở thành phong cách thể hiện đời sống, phê bình xã hội và lôi cuốn độc giả. Từ số 14 đến số 20, Nhất Linh, Nguyễn Gia Trí, và Tứ Ly là ba họa sĩ chính đảm nhiệm các bức hý họa và minh họa trên Phong Hóa, tạo thành một "lực lượng" chống phá thành trì cổ hủ, phụ họa với ba ngòi bút châm biếm và hài hước: Tứ Ly, Tú Mỡ và Bán Than (Khái Hưng).
"Lực lượng" này đã được Thạch Lam thống kê trên Phong Hóa 154 (20-9-1935), số kỷ niệm ba năm Phong Hóa như sau: Từ số 14 đến số 154, Phong Hóa ra được 139 số báo, 2224 trang; với 1.390 tranh hoạt kê; 832 tranh minh họa; tổng cộng 2224 tranh.
Tại sao Phong Hóa lại có thể "sản xuất" ra một lượng tranh hùng hậu như thế? Là do thế này: Giám đốc Phong Hóa Nguyễn Tường Tam, học trường Mỹ Thuật Đông Dương khóa đầu (1925) cùng với: Nam Sơn, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Mai Thứ, Lê Văn Đệ… được hơn một năm thì bỏ; nhưng ông vẫn được coi là họa sĩ "toàn diện": Ông ở trong danh sách ban giám khảo chấm giải cho phòng triển lãm 1935, cùng với: giáo sư Tardieu, các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Nam Sơn, Trần Quang Trân, Trần Văn Cẩn, Trần Bình Lộc, v.v... (Phong Hóa số 13, 22-2-1935). Thế Lữ, cũng học Mỹ Thuật, nhưng chắc chỉ theo lớp dự bị thi vào trường, rồi bỏ, nên không có tên trong danh sách sinh viên [6].
Hoàng Đạo không học trường Mỹ Thuật, nhưng vẽ rất hay. Thạch Lam không vẽ nhưng yêu hội họa, sau ông phụ trách mục mỹ thuật trên Phong Hóa Ngày Nay. Khái Hưng, Tú Mỡ đều biết vẽ cả. Cho nên ngoài hai "họa sĩ chính quy" Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh, các thành viên khác của Tự Lực văn đoàn đều là "họa sĩ nghiệp dư", rồi họa sĩ ở ngoài cũng vẽ tranh gửi đăng hoặc dự thi hội họa Phong Hóa, chưa kể các họa sĩ khác được chính thức mời vào.
Nhất Linh vẽ ký tên Đông Sơn, Hoàng Đạo ký tên Tứ Ly và Nguyễn Gia Trí không ký tên, hoặc ký nhiều tên: Tô (tên chó Tây), Cô Tô (cô chó Tây), LTô, Nal, Nul (Số Không), Hoth, Mac, Mạc, Daladin (của Aladin), Tú Nuy [Truổng cời] và nhiều tên khác nữa, trước khi lấy tên "chính thức" là Rigt nghĩa là Gia Trí Cười (gt ri viết ngược) hay Lẽ phải (Right).
Bút hiệu Đông Sơn, có từ Phong Hóa số 2 bằng chữ Hán trên tranh bìa. Đến số 3, có tranh Đông Sơn ký chữ quốc ngữ, chắc do Nguyễn Gia Trí đặt ra vì lúc đó Nhất Linh chưa vào. Tôi tạm đoán: hai người cùng ký tên Đông Sơn trong một thời gian, sau đó tên này mới tách ra thành tên riêng của Nhất Linh.
Bút hiệu Đông Sơn, ký dưới bức tranh hài hước Người Annam mình kinh doanh, in trên trang nhất số 14, vẽ một chiếc xe hàng, bánh xe vá chằng chịt, lèn hành khách, hàng hóa, đồ đạc, như cá hộp, có người lăn xuống đất, bị người khác nôn mửa lên mặt. Trong số hành khách ngồi chen chúc trên mui có hình (giống như) Lý Toét. Bên đường có cột cây số giống hệt mộ bia. Chuyến xe hàng ghi chạy đường Hà Nội - Chín Suối, có 25 chỗ ngồi nhất định.
Đây là bức tranh đầu tiên, tiêu biểu cho thể loại hài hước trên Phong Hóa: Mô tả cảnh lầm than của dân tộc mình dưới ách thực dân, và tự giễu cái nghèo, cái bon chen, ham sống, sống tủi nhục của kiếp người nô lệ.
Người Annam mình kinh doanh, Phong Hóa số 14
Vẫn trên Phong Hóa số 14, trang 3, có hai tranh: Mồm mép hàng giầy, ký Tô, vẽ người bán giầy có khuôn mặt và bộ dạng giống Lý Toét. Bên cạnh có bức tranh Giậy khôn ký Nul, vẽ cảnh một thằng nhỏ bị xe cán đứt đôi, một ông nhà quê, cầm dù giống Lý Toét đi qua, cúi xuống mắng: Lần sau có đi nên cẩn thận!.
Số 15, có tranh Một đám ma vui… của Đông Sơn, đưa tiễn những thứ u buồn sầu não, đang làm chủ tình hình lúc bấy giờ. Dẫn đầu là hàng kèn trống và lá cờ hiệu: Sầu thảm nhiều rồi, đằng sau là những người đi đưa ma và một rừng phướn ghi tên những tác phẩm, những chủ trương, những con người sầu não, phải tống táng đi, như: Sợi tơ lòng, Nho phong, Giọt lệ phòng văn, Tân sầu Nguyễn Tiến Lãng, Một tụi chán đời, Duyên nợ phù sinh
Tóm lại, Nho Phong cũng bị cha đẻ Nhất Linh đem ra đưa đám, như những tác phẩm cổ lỗ sĩ khác.
Một đám ma vui cùa Đông Sơn, Phong Hóa số 15
Trên đầu mục Vui cười lần đầu tiên có chân dung Lý Toét, ký DS (Đông Sơn).
Bức hý họa Trên xe điện, không ký tên, mô tả cảnh người mình ngồi tàu điện: khạc nhổ, vén quần gãi sồn sột, nói oang oang, cãi lộn, nôn mửa… ở dưới ghi: Không nên như những người này.
Số 16, vẽ tiếp hai tranh Những chỗ ngồi trên xe điện, ký LTô, tranh bên trái: một người phụ nữ có tuổi bước vào toa tàu, không ai nhường chỗ. Bức tranh bên phải, cũng cảnh ấy, nhưng một thiếu nữ trẻ đẹp bước vào, các cậu tranh nhau xun xoe: Mời cô ngồi, mời cô ngồi đây! Bức tranh Cũng tắm bể ký Hoth, cực kỳ châm biếm. Một bức tranh khác, không ký tên, vẽ ông Lý đi qua hàng nước, cô hàng mời: Mời ông vào xơi nước chanh nước đá. Ông Lý (lễ phép): Tôi không dám mời cô xơi.
Tóm lại, tranh hài hước trên Phong Hóa, thời kỳ đầu, mang tính mua vui, tự trào và giáo dục. Phanh phui đời sống xã hội dưới chế độ thuộc địa, chế giễu sự quê mùa, dốt nát, khốn khổ của dân ta, chịu phận dân tộc bị trị, hoang mang và lạc lõng không theo kịp đời sống mới.
Tranh và thơ chế giễu Tản Đà
Ông Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời
Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu
Phong Hóa số 14, trang 4, có ba tranh hai hước, nhưng đáng chú ý là tranh của Tứ Ly: Ông Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời, vẽ Tản Đà có râu, say rượu ngất ngư bên đống chai không. Lại có bài thơ Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu của Bán Than (Khái Hưng) phụ họa, như sau:
Trong phòng khách cụ Trời
Cậu nhỏ dâng văn bôi
Sẩy tay đánh rơi vỡ:
Nguyễn Khắc Hiếu ra đời!
Từ khi Hiếu xuất thế
Vẫn nhớ cảnh thiên tiên.
Bữa cơm thường phải rượu
Nhưng túi lại rỗng tiền.
Rượu ngon thức nhắm ngon,
Giọng văn lại càng giòn:
Khối tình con, tình lớn
Giấc mộng lớn, mộng con.
Thích chí nằm ngâm nga
Tiếng động vang Ngân hà.
Trời hỏi: "ai ngâm thế?"
Muôn tâu, ấy Tản Đà
Trời nổi trận lôi đình
Rằng: "cái thằng tiên ranh
Ta đầy xuống hạ giới
Để hắn chịu nhục hình
Ai ngờ hắn vẫn nhàn
Ngày tháng ngâm thơ tràn
Các ngươi ai có cách
Bắt hắn phải gian nan"
Chư tiên đồng thanh nói:
"Tội nặng nhất trần phàm
Là bắt anh Khắc Hiếu
Làm chủ báo An Nam"
Bán Than
Sự chế giễu Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trên Phong Hóa có vẻ như được Tản Đà khuyến khích. Tứ Ly kể lại câu chuyện sau [7]:
Trên Phong Hóa số 14, Tứ Ly vẽ bức tranh Ông Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời giễu Nguyễn Khắc Hiếu say rượu, có râu. Mấy hôm sau Tản Đà đến toà soạn chơi, mày râu nhẵn nhụi, Tứ Ly chột dạ, bèn đăng lời Cải chính trên Phong Hóa số 15: "Trong số báo trước (số 14) Phong Hóa có đăng hình ông Nguyễn Khắc Hiếu, lỡ nét bút thành vẽ nhà thi sĩ có râu. Vậy cái lỗi, vẽ rắn thêm chân ấy, bản báo xin cam chịu với ông Lý Bạch thời nay. Lại xin các cô "tình nhân không quen biết" của ông Hiếu cứ vui lòng mà viết thư trả lời về Hàng Bông cho ổng: ổng chẳng có râu đâu, các cô đừng sợ sệt". Nhưng, vẫn theo lời Tứ Ly kể tiếp: Một buổi tiếp chuyện ông Hiếu, thấy ông nói rằng: Một tờ báo hay cải chính là tờ báo hư!" làm chàng càng chột dạ, sợ ổng lại để râu, mình lại phải cải chính, cứ thế mãi, thì còn gì "giá trị" tờ Phong Hóa!
Phong Hóa số 16, Trong mục Giòng nước ngược, đề tài Cảm thu, lại có bài Điệu thơ cụt ký Nhất Linh và bài Cảm thu ký Bán Than. Chúng ta nên để ý đến bài Điệu thơ cụt, vì đây là lần đầu tiên bút hiệu Nhất Linh xuất hiện trên mặt báo và bài này còn được ghi là Thơ mới (khác với bài Cảm thu của Bán Than là thơ cũ, làm theo thể thất ngôn bát cú) có âm điệu gần như thơ tự do. Chúng ta cũng nên biết lúc đó Thơ mới vừa ra đời, được giới thiệu lần đầu ở ngoài Bắc, trên báo Phong Hóa Xuân đầu tiên, số 31 (24-1-1933). Vậy bài Điệu thơ cụt của Nhất Linh là một bài Thơ mới, mới nhất, bài đầu tiên hết của Tự Lực văn đoàn:
Lũ khỉ trong bách thú
Nhớ rừng xưa kêu rú
Nhà văn cảm thu về
Dặn [Rặn] dăm bài tuyệt cú
Cán bút đương ngậm ngùi
Tưởng tuyết rơi tơi bời!
Ai ngờ trời nắng gắt,
Chảy mồ hôi!
Lại toan tả đàn nhạn,
Trong sương bay tán loạn
Sẩy nghe tiếng còi tầu,
Nguồn thơ cạn!
Nhạn tuyết không có rồi,
May còn lá ngô rơi,
Ai ngờ ngoài đường cái,
Cây xanh tươi!
Muốn cảm thu một chút,
Hay đâu hứng đã cụt
Nghĩ mãi không ra văn,
Đành dừng bút!
Nhất Linh
Bán Than cũng phụ họa Nhất Linh, với bài Cảm thu, dưới đây:
Ô kìa đã quá nửa thu rồi
Cảm tác nay xin có mấy lời
Một rặng cây xanh hun gió nóng
Hai bàn tay trắng đổ mồ hôi
Nào đâu mặt tuyết ngô đồng rụng
Chỉ thấy bên đường đám cỏ tươi
Trai gái quanh hồ cười khúc khích
Sầu riêng thi sĩ lệ đầy vơi
.
Bán Than
Cả hai bài đều nhại tuyệt tác Cảm thu của Tản Đà mà chúng ta đều thuộc lòng: Từ vào thu đến nay, gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, trăng thu bạch, khói thu xây thành, lá thu rơi rụng đầu ghềnh, sông thu đưa nhánh bao ngành biệt ly, nhạn về én lại bay đi, đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm, lá sen tàn tạ trong đầm, nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa
Nhưng ta thấy: Khái Hưng vẫn ký Bán Than, bút hiệu dùng trong mục Giòng nước ngược với Tú Mỡ, bởi vì Khái Hưng, tuy kém Tản Đà 7 tuổi, nhưng là bạn của Tản Đà từ nhiều năm trước, không cần giữ lễ.
Nhất Linh, kém Tản Đà 17 tuổi, cho nên tuy chế nhạo Tản Đà, nhưng vẫn kính nể bậc đàn anh, ông đã ký cái tên đẹp nhất: Nhất Linh, lần đầu trình làng dưới bài thơ mới đầu tiên của ông, một cách gián tiếp tôn vinh Tản Đà: Sự tế nhị và nhã độ của Nhất Linh nằm ở chỗ đó.
Tứ Ly cũng vậy, tuy chế giễu Tản Đà, nhưng vẫn sợ ổng (chơi khăm). Tứ Ly coi Tản Đà là Lý Bạch thời nay: còn có danh hiệu nào cao quý hơn!
Cho nên dù bị chế giễu bao nhiêu, Tản Đà không bao giờ giận Tự Lực văn đoàn.
Khi Tản Đà túng thiếu, Khái Hưng Nhất Linh đã mời ông cộng tác, dịch thơ Đường và khi Tản Đà mất ngày 7-6-1939, Ngày Nay số 165 (10-6-1939) thông tin: Tản Đà tạ thế. Mở sổ quyên giúp gia đình thi sĩ. Ngày Nay số 166 (17-6-1939) số báo tiễn biệt Tản Đà, Khái Hưng viết bài Cái duyên của Tản Đà, một trong những bài tiễn đưa hay nhất, của một người bạn gần 20 năm quen biết, gần gũi, hiểu và yêu thi sĩ, với những lời lẽ hết sức chân thành cảm động.
Rất nhiều người không hiểu ý nghĩa cái cười trên Phong Hóa Ngày Nay, nên có những lời buộc tội phiến diện, đôi khi khiếm nhã, như trường hợp Thanh Lãng, chúng tôi sẽ nói tới sau.
Phan Khôi là người đầu tiên viết bài bênh vực tiếng cười, trên Phong Hóa, trong mục Văn học, trong bài Cái địa vị khôi hài trên văn đàn, ông viết:
"Người mình hình như chưa hiểu đến cái hay của sự khôi hài là dường nào, cũng chưa hiểu đến cái ích lợi của văn khôi hài và người có tài khôi hài ra sao. (…) Nhưng phải biết rằng ai có tài thông minh tuyệt thế thì mới nói được câu chuyện diễu có duyên hay là làm được bài văn bông lơn có duyên, chớ phải dễ dầu gì đâu mà khinh thị.(…) Văn khôi hài nó thường làm cho cảm động người ta một cách rất mạnh mà người ta không biết. Giả như ông mỗ có cái tật xấu gì đó, có kẻ làm bài hài văn, ám chỉ mà công kích cái tật xấu ấy của ông, trong lúc ông mỗ đọc đến, ông phải tức cười nôn ruột mà không giận được, rồi có lẽ lần lần tự nhiên ông mỗ bỏ cái tật xấu ấy đi bao giờ mà ông không hay. Đó mới thật là một bài hài văn hay đó, và cái công dụng của nó là như thế." (Phong Hoá số 26, 16-12-1932)
Phan Khôi đã nói rõ công dụng của tiếng cười và giá trị "giáo dục" của tiếng cười.
Ta nên phân biệt tính cách trào phúng trên Phong Hóa làm hai loại, với hai đối tượng khác nhau: trào phúng phỉ báng sự nô lệ Pháp, chế giễu các quan trường bồi Tây, tố cáo sự đán áp của chính quyền thực dân: đó là trào phúng cách mạng.
Còn sự chọc cười những cố tật của các nhà văn nhà báo "cổ" như cụ Hoàng Tăng Bí, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố… hay chế giễu sự gàn, bướng trong "lý luận Phan Khôi" của Tứ Ly, là lối khôi hài Phan Khôi vừa kể ở trên, không thể coi là phạm thượng. Đó là trào phúng sửa sai.
Chúng ta cũng đừng quên: Khái Hưng là bạn thân của Phan Khôi, gặp nhau ở nhiều điểm, nhất là ở chủ trương chống nho giáo, đổi mới ngôn ngữ và giải phóng phụ nữ. Khái Hưng là người đã giới thiệu Phan Khôi và thơ mới sớm nhất trên Phong Hóa. Đến những ngày thật căng thẳng trong tháng 7 năm 1946, Phan Khôi ra Hà Nội, không ở nhà con, mà bị Việt Minh bắt tại 80 Quan Thánh, nhà Khái Hưng.

Chú thích:
[1] 0p03 là 0 piastre 03, hay 0 đồng 03, tức 3 xu.
[2] In ở nhà in Lê Cường do Nguyễn Tường Tam quản lý. Tên nhà in Lê Cường chỉ xuất hiện một lần duy nhất, từ số 15, lại trở về với tên nhà in Moderne.
[3] Le Rire (Tiếng Cười) (1894-1971) là báo trào phúng ra hàng tuần, biếm họa những nhân vật trong chính trường, những giai nhân tài tử nổi tiếng và in tác phẩm của các nhà văn trẻ.
[4] Mục Thực hay hư ký tên Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù từ số 3 đến số 6; số 7 ký Sào Phủ; số 8 và số 9 ký Hứa Do; số 10 ký Nghịch Nhĩ; số 11, ký Hứa Do; số 12 ký Tô Tô Phôn, số 13, ký Nghịch Nhĩ; những bút hiệu này đều có giọng văn, lối viết và tư tưởng của Khái Hưng.
[5] AS Le Mur (Artist Student Le Mur) là dịch tên Tường sang tiếng Pháp và đề thêm AS là sinh viên mỹ thuật.
[6] Thời đó muốn thi vào trường Mỹ Thuật Đông Dương, thường phải học một năm dự bị, và phải qua kỳ thi tuyển. Theo Đặng Hữu Thụ, trường Mỹ thuật Đông Dương có hai ban: Kiến trúc và Hội họa. Muốn thi vào ban Kiến trúc, thí sinh phải có bằng Cao đẳng tiểu học Pháp Việt (tức là bằng Thành chung hay bằng Trung học), còn thí sinh thi vào ban Hội họa, không bắt buộc phải có văn bằng gì. (Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển Thượng, tác giả tự xuất bản, Melun, Pháp, 1999, trang 146 và 151).
[7] Trong mục Từ cao đến thấp, trên báo PH số 18 (20-10-1932).
Sự tiếp nhận Tự Lực văn đoàn
Trương Chính là nhà phê bình đầu tiên có những nhận định sâu sắc, đầy chất sáng tạo về Tự Lực văn đoàn. Tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), phần viết về Khái Hưng, Nhất Linh cũng đầy đủ và chân xác hơn nhiều người viết sau. Ông đã đánh giá Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Trống mái, Gia đình, bằng cái nhìn của một nhà phê bình hiện đại. Những bài viết của ông đến nay vẫn không bị lỗi thời.
Trong thời kỳ miền Bắc triệt hạ Quốc Dân Đảng vì lý do chính trị và bản Đề cương văn hóa của Trường Chinh đã khóa trái văn học trong bốn bức tường hiện thực xã hội chủ nghĩa, loại bỏ những tác phẩm lớn của nền văn học thời kỳ 1932-1945, trong đó có những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn: Trương Chính vẫn đứng vững như cây tùng. Những bài viết của ông về Khái Hưng, Nhất Linh vẫn được in lại trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (Nxb Xây Dựng, 1957) và Tổng tập văn học Việt Nam (Nxb Khoa Học Xã Hội, 1997).
Trương Tửu cùng thời với Phong Hóa. Ông ở trong nhóm Nguyễn Vỹ và thơ Bạch Nga, đối lập với Tự Lực văn đoàn. Nhưng Trương Tửu có tính bốc đồng, khi khen Đoạn tuyệt thì hết lời mà khi chê Lạnh lùngĐời mưa gió cũng thái quá. Điểm này chứng tỏ ông là một người cổ hủ (muốn đàn bà phải giữ đạo tiết hạnh, không chịu được Khái Hưng, Nhất Linh bênh vực một cô gái điếm) và ông cũng không tinh tế lắm vì không nhận ra được giá trị vượt trội của Lạnh lùng bên cạnh Đoạn tuyệt, mặc dù ông được coi là nhà phê bình "mới nhất" vì là người đầu tiên đưa phê bình mác-xít vào Việt Nam. Sau này, ông là lý thuyết gia của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, viết những bài lý luận nảy lửa đòi hỏi tự do dân chủ và dìu dắt sinh viên đại học, đó chính là vết son ông để lại cho đời sau.
Vũ Ngọc Phan: Bộ Nhà văn hiện đại, 5 tập (1941-1942) của Vũ Ngọc Phan có giá trị dẫn đường trong một thời gian dài. Tuy còn nhiều điểm ông đưa ra cần phải bàn lại hoặc đã lỗi thời, nhưng nhìn chung, bộ sách này là tác phẩm phê bình lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Vũ Ngọc Phan đã vẽ được bộ mặt trung thực của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ. Ông giữ được lòng trung thực khi phê bình, không bè phái, không thiên vị bạn bè, không xu nịnh. Khi miền Bắc "đánh" Nhân Văn, ông im lặng, không về hùa. Ông lui về nghiên cứu ca dao. Đó là một nhân cách.
Điểm đáng tránh: vì người ta coi ông là thầy, nên cứ chép nguyên những gì ông viết, thí dụ Vũ Ngọc Phan bảo Khái Hưng là nhà văn lý tưởng, nhà văn phong tục (có lẽ vì ông biết Khái Hưng đặt tên cho tờ Phong Hóa), Nhất Linh là tiểu thuyết gia luận đề, mọi người cũng cứ chép lại như thế, cả đến Nhất Linh cũng tin mình viết tiểu thuyết luận đề là dở!
Tuy nhiên công của Vũ Ngọc Phan không nhỏ: nếu bộ Nhà văn hiện đại bị cấm ở Bắc, thì ở trong Nam, học sinh trung học vẫn được đọc và học bộ sách này; sau có thêm bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ.
Dương Quảng Hàm soạn Việt Nam văn học sử yếu năm 1941, là một trong những cuốn văn học sử đầu tiên của ta, Tự Lực văn đoàn được đưa vào chương bảy, tức là chương chót. Là sách yếu lược, tóm tắt những gì chính yếu cho lịch sử văn học gần ngàn năm, nên chỗ đứng của văn học quốc ngữ chỉ chiếm vài trang. Tuy nhiên giáo sư Dương Quảng Hàm đã có những lựa chọn và phân chia chính đáng: ông chia văn học nửa đầu thế kỷ XX làm hai phái tân cựu và nói rõ đặc tính của mỗi phái, nêu tên những nhà văn tiêu biểu. Thí dụ khi viết về Thơ mới, ông chọn ba nhà thơ tiêu biểu: Hàn Mặc Tử, Thế Lữ và Xuân Diệu, là một lựa chọn tinh tường. Phần về Tự Lực văn đoàn, từ trang 453 đến trang 456, sau khi nó rõ tôn chỉ và đường hướng văn chương của họ, ông giới thiệu mấy tác phẩm chính của Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, rồi xác định công việc của Tự Lực văn đoàn đã làm. Tuy sơ lược, nhưng những ý kiến của giáo sư Dương Quảng Hàm có giá trị đến ngày nay. Sách viết và in dưới thời Pháp thuộc, nên ông không thể nhắc đến tinh thần chống Pháp của Tự Lực văn đoàn. Nhưng ông không nhắc đến Hoàng Đạo, Thạch Lam, là một thiếu sót.
Phạm Thế Ngũ viết bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, một công trình đồ sộ, ba cuốn, in từ 1961 đến 1965 tại Sài Gòn. Đây là bộ văn học sử đầy đủ và đúng đắn hơn cả. Cuốn ba, dành cho văn học hiện đại 1862-1945, ông đã nghiên cứu khá kỹ hai trào lưu tân cựu lớn nhất của văn học quốc ngữ: nhóm Đông Dương-Nam Phong (Nguyễn Văn Vĩnh-Phạm Quỳnh) và nhóm Phong Hóa - Ngày Nay (Tự Lực văn đoàn). Về nhóm Tự Lực, ông nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh, Khái Hưng, và Thạch Lam. Ông có nhắc đến tính cách trào phúng của Phong Hóa nói chung, nhưng ông không nhận ra giá trị văn trào phúng của Hoàng Đạo. Nhất Linh cho biết: những đoạn Vũ Ngọc Phan viết về Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng đã bị kiểm duyệt của Pháp hồi đó (1942) xoá bỏ [1]. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu tại sao những nhà nghiên cứu thập niên 40, như Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, không hoặc không dám nhắc nhở đến tính cách phản kháng chính trị của Tự Lực văn đoàn; nhưng tại sao, những nhà nghiên cứu sau này như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng cũng bỏ qua?
Ngoài ra, Phạm Thế Ngũ phạm một số sai lầm:
1- Phần về Tự Lực văn đoàn, được mở đầu bằng câu: "Nói đến Tự Lực văn đoàn, người ta không thể không trước hết nói đến Nguyễn Tường Tam người đã hầu như một mình đứng ra sáng lập ra nó" [2]. Một người nghiên cứu thận trọng không thể viết như thế, bởi vì cả phần Tự Lực văn đoàn sau đó, không thấy chỗ nào ông chứng minh được rằng: Nguyễn Tường Tam một mình đứng ra sáng lập Tự Lực văn đoàn cả. Nhưng câu này đã được người ta chép lại rất nhiều, từ đó nảy sinh sự độc tôn vai trò của Nhất Linh trong Tự Lực, bởi vì người ta tưởng Nhất Linh làm tất cả. Thậm chí Vu Gia còn viết: "Lúc đầu, Khái Hưng vẫn tiếp tục viết những bài nghị luận, vì ông cho đó là sở trường của ông. Nhưng ông Nhất Linh khuyên ông nên viết truyện ngắn, truyện dài có tính cách văn nghệ thì hơn. Mãi ông mới chịu thí nghiệm loại này, và sự thành công của ông mỗi ngày một rõ rệt[3]. Câu này tiêu biểu cho cách viết suy diễn từ một ý của người đi trước. Nghe người ta kể, hay chính Tú Mỡ, Thế Lữ kể rằng Nhất Linh "bảo" Tú Mỡ làm thơ trào phúng, Nhất Linh "bảo" Thế Lữ viết truyện trinh thám… thì có thể được, nhưng suy ra rằng: Nhất Linh cũng "bảo" Khái Hưng viết truyện ngắn, truyện dài, thì không được nữa rồi. Sai một ly đi một dặm. Nhất là khi những người viết sau, chỉ dựa vào những điều người đi trước đã viết hoặc chỉ dựa trên những giai thoại do vài người ở gần hay ở trong Tự Lực văn đoàn kể lại (có khi hoàn toàn bịa đặt) thì nhất định đưa đến sai lầm.
2- Ông lại viết: "Trong tập Những ngày vui viết về sau, Khái Hưng có cho biết họ có ý định khi đó lập một thứ "pléiade" với "bảy vì sao". Đó là Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam (cũng ký các biệt hiệu khác Nhị Linh, Bảo Sơn, Đông Sơn), Khái Hưng tức Trần Khánh Dư, Tú Mỡ tức Hồ Trọng Hiếu…" (trang 433-434). Tôi đã dò cả bản trên báo lẫn bản in sách Những ngày vui, không thấy chỗ nào Khái Hưng nhắc đến hai chữ Thất tinh. Việc này tôi sẽ viết rõ hơn trong chương Chúc thư văn học của Nhất Linh, ở đây chỉ đưa ra nhận xét: Phạm Thế Ngũ không đọc Những ngày vui của Khái Hưng. Rồi ông lại tưởng Nhị Linh là bút hiệu của Nhất Linh, thực ra Nhị Linh là Khái Hưng. Sự nhầm lẫn này khiến tất cả những bài viết của Khái Hưng ký Nhị Linh, nhiều lắm, đều được đưa vào "sổ" Nhất Linh. Mà không chỉ mình Phạm Thế Ngũ, nhiều người cũng tưởng như thế, có lẽ họ chép lại cái sai của ông.
3- Ông viết: "Có điều phải ghi nhận là trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là người có câu văn tinh vi, rèn giũa hơn cả. Đọc ông, người ta có cái cảm tưởng thấy cái khó tính của người chuyên "đãi hạt sạn" trên Phong Hóa Ngày Nay, và không muốn chấp nhận nơi mình một sự dễ dàng lỏng lẻo nào cả." (trang 486-487)
Ông lại tưởng ngòi bút chuyên "đãi hạt sạn" trên Phong Hóa Ngày Nay là Thế Lữ, cho nên ông xác định trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là người có câu văn tinh vi, rèn giũa hơn cả, bởi vì ông cũng lại không biết, người đãi sạn trên Phong Hóa có bút hiệu Nhát Dao Cạo và Hàn Đãi Đậu là Khái Hưng, một thứ ngự sử văn đàn ở Bắc, giống như Phan Khôi ở trong Nam.
Những sai lầm này khiến ông không nhìn nhận đúng mức vai trò của các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn. Ông cũng không nhắc đến Hoàng Đạo vì ông không nhìn thấy giá trị văn chương hài hước của Hoàng Đạo, sau Hoàng Tích Chu, là người đã khai phá lối viết hoạt kê châm biếm trong văn học Việt Nam và là lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn, người đầu tiên viết những bài lý luận nghiên cứu chặt chẽ và sâu sắc về quyền công dân, luật lao động, về xã hội dân sự, đòi hỏi tự do dân chủ và quyền làm người.
Nhật Thịnh và cuốn Chân dung Nhất Linh
Cuốn Chân dung Nhất Linh của Nhật Thịnh gần như là tác phẩm duy nhất viết về Nhất Linh (còn một cuốn nữa của Lê Hữu Mục, tôi chưa được đọc), do Văn xuất bản tại Sài Gòn, 1966, bản Đại Nam chụp lại ở hải ngoại không đề năm. Nhật Thịnh có công đọc và giới thiệu khá đầy đủ tác phẩm và tìm hiểu cuộc đời, cái chết của Nhất Linh. Ông cũng đã gặp Nguyễn Tường Thiết, con út Nhất Linh để hỏi những thông tin và xin tài liệu hình ảnh khi soạn sách. Ông lại thuộc lớp người có thể tiếp xúc với Nhất Linh lúc sinh thời, nên cuốn sách được nhiều người tin cậy, nhiều nơi trích dẫn và được coi là cuốn sách đầy đủ nhất về Nhất Linh.
Nhưng Nhật Thịnh không quen việc viết biên khảo, nên ông mắc những lỗi lầm quan trọng mà giới chuyên môn không làm:
1- Ông không để ý đến nguồn dẫn chứng, rất ít khi ông viết rõ, trích ở sách nào. Vì vậy, những tài liệu ông đưa ra, nhất là về đoạn cuối đời Nhất Linh, đôi khi rất quý, nhưng lại không có số hiệu tham chiếu (note de référence), nên không tiện dụng.
2- Ông hay chép lại cái sai của người khác mà không kiểm chứng, ngay câu mở đầu: "Nhất Linh (Nhị Linh hay Bách Linh) là bút hiệu của Nguyễn Tường Tam" là đã thấy sai rồi: Không! Nhị Linh là bút hiệu của Khái Hưng. Cái sai này ông chép lại Phạm Thế Ngũ và còn thêm vào hai chữ Bách Linh nữa! Bách Linh là tên Thạch Lam (ít khi ký). Lê Ta (Thế Lữ) trong bài Lê Ta làm báo (Phong Hóa số 104, 29-6-34) kể lại câu chuyện: Ông ở trọ Bạch Mai, đang đói, được Bách Linh gọi về ở chung nhà Hàng Bông, làm báo một tuần bốn ngày, lương 30 đồng một tháng, v.v...
3- Nhật Thịnh hay thêm thắt, để đề cao sự khám phá của mình về cái tên Nhất Linh, ông viết: "Để đả phá cái quan niệm sai lầm đó [tin rằng mọi việc đều linh thiêng, thần thánh] ông tự cho ông cũng là một cái gì linh thiêng và tự nhận là Nhất Linh, Nhị Linh. Khái Hưng bắt chước ông ký tên Nhất Linh, Nhị Linh hay Tam Linh, Bách Linh." (trang 19, bản Đại Nam). Vẫn trong "tinh thần" cho rằng Khái Hưng là "đồ đệ" của Nhất Linh, ông bảo Khái Hưng bắt chước Nhất Linh, ký cả bốn tên: Nhất Linh, Nhị Linh, Tam Linh, Bách Linh. Sao tham lam quá vậy? Tam Linh là bút hiệu của Nhất Linh, còn Bách Linh tôi đã nói ở trên rồi. Đó là nhưng sai lầm vì không biết. Nhưng cái sai lầm chính trong cuốn Chân dung Nhất Linh là về phương pháp:
4- Nhật Thịnh viết biên khảo như viết tiểu thuyết vậy, đó là phương pháp biên khảo hư cấu.
Thí dụ trong chương VI tựa đề Nhóm Tự Lực văn đoàn, ông viết như sau:
"Hồi Nhất Linh còn dạy ở trường Thăng Long, ông để ý tới một bài khảo luận ngắn trên báo Văn Học, ký tên Bán Than. Chắc anh chàng này có họ với ông Trần Khánh Dư đời Trần, tác giả bài:
Một gánh kiền khôn ruổi xuống ngàn,
Hỏi chi bán đấy? Gửi rằng than
Đột nhiên ông nhớ tới giáo sư Trần Khánh Giư, một người kín đáo, dễ thương, từ đó hai người biết nhau. Nhất Linh thấy Khái Hưng có khả năng hiếm có về văn chương (…) Họ cùng một tinh thần chống Pháp, thấy cần phải sát cánh nhau hơn. Họ thảo luận để thành lập một ban biên tập gồm những người cầm bút có tinh thần hoạt kê và triệt để chống hủ tục, dị đoan" (trang 128).
Về Hoàng Đạo, ông cũng viết như thế:
"Hoàng Đạo lấy tên là Tứ Ly. Đó là tên một giờ xấu mọi người đều tránh nhưng ông không kiêng mà còn đặt cho mình cái tên xấu đó. Sau ông bị bọn mật thám Pháp theo dõi và làm khó dễ, bởi ông hay viết những bài công kích người Pháp ở Việt Nam. Để tránh những sự lôi thôi có hại cho tờ Phong Hóa, ông đổi tên là Hoàng Đạo (giờ Hoàng Đạo), trái với Tứ Ly để trêu người Pháp. Vì thế năm 1936, ông bị phát phối đi Đà Nẵng. Trường hợp ông giống như Cao Bá Quát" (trang 128).
Ông tường thuật mọi chuyện một cách rất tự nhiên, như ông đã từng mục kích, ông biết cả Nhất Linh, Hoàng Đạo nghĩ gì, nói gì. Ông còn kể lời Trương Bảo Sơn thuật lại rằng:
"Trong khi đi dạy học, anh [Nhất Linh] để dành tiền làm báo, anh kiếm người cộng sự làm báo, tất cả tâm chí anh chỉ để vào có một mục đích là làm báo. Đến khi anh gặp dịp ông Phạm Hữu Ninh nhường cho làm tờ Phong Hóa, anh em không ai ngạc nhiên thấy anh bỏ cái nghề hàng tháng (nghề dạy học) đương cung cấp cho anh ba trăm đồng bạc lương để làm một nghề chỉ đem lại cho anh có 30 đồng bạc, nghĩa là 1/10 số lương cũ" (trang 34).
Những lời kể trên đây - dù ghi là của Trương Bảo Sơn - cũng không tin được, bởi vì Nhất Linh làm báo từ năm 1932, nhưng ông vẫn dạy học (theo bảng quảng cáo tên các giáo sư trường Thăng Long in trên Phong Hóa). Ông chỉ ngừng dạy trong hai niên khóa 1935-1936 và 1936-1937, rồi ông trở lại dạy niên khóa 1937-1938 (vẫn theo quảng cáo trên Phong Hóa). Hơn nữa Trương Bảo Sơn chỉ gặp Nhất Linh lần đầu ở chiến khu Vĩnh Yên: "Lần đầu tiên tôi được gặp ông [Nguyễn Tường Tam], tiếp xúc với ông là ở Chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong tỉnh Vĩnh Yên, sau khi ông từ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên Hiệp kháng chiến, trên đường ông đi sang Trung Hoa" [4].
Vậy thì làm sao Trương Bảo Sơn có thể biết được những việc xảy ra khoảng 1930-1932? Mà lại sai như thế thì chắc chắn không do Nhất Linh kể lại cho ông Sơn nghe trong thời kỳ sống chung với nhau ở Hương Cảng rồi.
Cũng vẫn theo cách đó, Nhật Thịnh viết về tuổi thơ của Nhất Linh, đi học như thế nào, ở trường làm gì, bạn bè đối đãi ra sao, hệt như Nhất Linh kể lại. Đặc biệt là đoạn Nhất Linh "theo cách mạng" như sau:
"Ông hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt nam Quốc dân đảng, xin gia nhập đảng và tìm đường vào Nam hoạt động. Ngày 4-3-1926 ông tiếp xúc với Vũ Đình Di và Trần Huy Liệu…" (trang 29), nghĩa là cứ như thật, còn ghi rõ cả ngày tháng gặp gỡ nữa. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói Nguyễn Tường Tam xin gia nhập đảng của Nguyễn Thái Học cả. (Nếu có thật thì Hoàng Văn Đào đã viết lại rồi).
Ông còn ngây thơ nữa, ví dụ truyện Đi Tây Nhất Linh viết ký tên Lãng Du, có nhiều chỗ ông bịa, nhất là việc ông xin đi Pháp, gửi đến 10 lá đơn mà không được trả lời, phải nhờ cô nhân tình… thế này thế kia, mà Nhật Thịnh tin là thật, trích lại. Sự thật Nhất Linh xin được học bổng của các quan ở Huế cấp cho đi du học.
Vì vậy, cuốn sách của Nhật Thịnh có những giới hạn, đọc như tiểu thuyết thì rất hấp dẫn nhưng khó dùng trong việc nghiên cứu.
Hiện nay có nhiều sinh viên ngoại quốc làm luận án văn chương Việt. Trong bản luận án về Nhất Linh của cô Maria Strakovova, một sinh viên Tiệp Khắc, thấy trích dẫn Nhật Thịnh khá nhiều. Sinh viên Nhật nghiên cứu Việt học cũng có, họ làm việc rất cẩn thận. Aki Tanaka nghiên cứu và làm luận án về Khái Hưng, đã sang Việt Nam ở nhiều năm học tiếng Việt và để thấm nhuần văn hóa Việt nữa. Cho nên chúng ta phải hết sức cẩn thận trong việc nghiên cứu, không họ cười cho.
Hiện nước ta giàu mạnh lên là tốt, nhưng không thể tiếp tục lối sống ấu trĩ về văn hóa mãi được, kiểu một cuốn sách có vài câu phê bình chủ tịch Hồ Chí Minh như cuốn Một cơn gió bụi của học giả Trần Trọng Kim, in ra là bị tịch thu liền. Tôi cho đó không những biểu dương sự ấu trĩ tinh thần mà còn là sự tụt hậu sâu xa; cũng như không thể cung cấp cho sinh viên những loại tài liệu về Tự Lực văn đoàn, qua bộ sách quý hóa của giáo sư Thanh Lãng dưới đây:
Thanh Lãng và Bản lược đồ văn học Việt Nam
Thanh Lãng là giáo sư Đại học Văn khoa, tiến sĩ văn chương Pháp, một trong những giáo sư văn khoa hàng đầu ở miền Nam; ảnh hưởng của ông rất lớn vì ông dạy các đại học văn khoa Huế, Sài Gòn, từ 1957 đến 1975, ngoài việc giảng dạy ông còn viết nhiều sách nghiên cứu.
Bộ sách Bảng lược đồ văn học Việt Nam, hai tập, của ông được dùng ở Đại học văn khoa và là một trong những cuốn sách được xem là "khuôn mẫu" cho người nghiên cứu. Tự Lực văn đoàn nằm trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, phần Văn Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932.
Năm 1972, khi in bộ sách Phê bình văn học thế hệ 1932, ông đưa phần này lên đầu, có sửa chữa đôi chút và phân chia tiểu đoạn rõ ràng hơn, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung câu chữ. Hiện nay, phần viết này lại được đưa lên mạng Chim Việt Cành Nam. Vì vậy chúng tôi thấy cần phải nhìn lại quan điểm của giáo sư Thanh Lãng về Tự Lực văn đoàn.
Chọn năm 1932 làm khởi điểm cho một nền văn học mới, Thanh Lãng viết:
"Thực vậy, chung quanh những năm 32, nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra, giúp vào việc sửa soạn và xô đẩy, hầu như một cách ức bách, sự thành hình một hướng đi mới, một lối sống mới, một lối hành động mới, một lối cảm xúc mới, một lối suy tư mới… một lối viết mới với những nhà lãnh đạo mới.
Lý do rất phức tạp, thuộc đủ mọi chiều hướng: chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, tâm lý…" [5]
Ông kể ra bốn lý do chính đã đưa đến sự đổi mới này:
1- Những biến động chính trị: Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên và bị đàn áp. Nhiều đảng phái mới ra đời. Đáng kể hơn cả là Đông Dương Cộng sản Đảng.
2- Việc vua Bảo Đại hồi loan.
3- Những cải cách của nội các Bảo Đại.
4- Lối sống xé rào của vị vua trẻ.
Về điểm số 1: sự đổi mới văn học là do những biến động chính trị, không cần bàn vì ông có lý hay không, không quan trọng. Nhưng ba điểm sau, cần phải bàn lại.
Sự đổi mới phát xuất từ khi vua Bảo Đại về nước?
Để chứng minh rằng gốc gác của việc canh tân là do lòng mong muốn của chính phủ Pháp, ông dẫn lời Albert Sarraut, cựu Toàn quyền Đông Dương, lúc đó là Bộ trưởng Thuộc Địa, khi tiễn vua Bảo Đại lấy tàu về nước, ở Marseille, nói:
"Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Thượng sẽ gánh một gánh rất nặng nề, là phải làm một vị Đế vương tân thời, song phải tuân theo cổ tục, Ngài phải làm cho một nước cổ hóa ra một nước kim…" (Sđd, trang 599).
Và ông cho rằng, việc vua về nước đã làm thay đổi mọi sự, đặc biệt nhà vua đã thay đổi nội các:
"Nội các cũ gồm các quan già bị bãi bỏ và theo đạo dụ chỉ ngày mồng 2 tháng 5 năm 1933, vua Bảo Đại công bố thành phần một nội các mới gồm những vị Thượng Thư rất trẻ: Ngô Đình Diệm, Bộ Lại, ba mươi mốt tuổi; Phạm Quỳnh, Bộ Quốc Dân Giáo Dục, bốn mươi tuổi, Hồ Đắc Khải, Bộ Tài Chánh, ba mươi tám tuổi, Bùi Bằng Đoàn, Bộ Tư Pháp, bốn mươi sáu tuổi, Thái Văn Toản, Bộ Công Tác, bốn mươi bảy tuổi" (trang 602).
Ông cũng cho rằng việc vua Bảo Đại hồi loan làm cho lòng dân khắp nơi hoan hỷ, và đã có ảnh hưởng lớn về mặt chính trị:
"Thật vậy, không những người Pháp làm ra mặt hoan hỉ, không những người dân đơn sơ tỏ ra vui mừng vì có được một vị vua đầu tiên văn minh tân tiến, mà cả đến dư luận báo chí toàn quốc đều tỏ nỗi hân hoan và hiên ngang trong dịp vua Bảo Đại hồi loan (…)
Ấy khía cạnh và ảnh hưởng chính trị của việc vua Bảo Đại hồi loan là như vậy"
Đến như việc canh cải học chánh, sửa đổi đường lối giáo dục, vua Bảo Đại cũng có nhiều ý kiến đáng lưu ý, gây được nhiều dư luận thuận lợi cho nhà vua" (trang 602-603).
Sau khi trích dẫn dài rộng bài viết trên Văn học tạp chí số 4 tháng 8 và 9-1932, ca tụng việc ngự giá hồi loan và để chứng minh cho việc vua Bảo Đại được toàn dân ủng hộ, ông viết tiếp:
"Tuần báo Phong Hóa cũng có nhiều bài nói về việc vua Bảo Đại hồi loan, nhất là việc loan truyền những chỉ dụ của nhà vua đối với công cuộc canh tân xứ sở.
Tất cả cái chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ" (trang 605).
Sau việc ngự giá hồi hương, Thanh Lãng nói đến những cải cách của nhà vua.
Những cải cách của nội các Bảo Đại
Để chứng tỏ nhà vua thực hiện việc cải cách, ông trích lời huấn dụ ngày 10-9-32 của Bảo Đại:
"Ta sẽ tuyển dụng cũng như thời xưa là do thí khảo, đề mục luân lý kinh văn và cũng có khoa học về chính trị phép luật tân thời, hễ ai được thắng phân số là trúng tuyển. (…)
… Nhân có chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt thầy có mô phạm tân thời, cứ cơ sở vững bền ấy, ta sẽ sửa lại bộ Học sẽ gọi bằng bộ Quốc dân Giáo dục, để biểu minh chú ý.
Ta muốn sắp đặt việc giáo dục của quốc dân theo nền vững bền gia đình giáo dục và luân lý đời xưa." (trang 604-605).
Bài dụ rất dài, nhưng chúng tôi tạm trích dẫn vài câu như vậy, để độc giả thấy cái tinh thần hồ hởi của giáo sư Thanh Lãng khi viết những dòng trên đây.
Những dòng này, nếu giáo sư Thanh Lãng viết cuối năm 1932 (vua Bảo Đại về nước tháng 9-1932) thì còn hiểu được, nhưng ông viết ở Sài Gòn, năm 1966-67, thì thật không thể hiểu nổi.
Toàn dân vui mừng và tin tưởng khi vị vua trẻ về nước là điều tự nhiên. Nam Phong số 186 (tháng 7-1933) Số đặc biệt để nghênh giá đức Bảo Đại Hoàng Đế, có những cái tựa hết sức gợi cảm: Vị quốc vương tân thời thứ nhất của nước Nam; Đô thành Huế là trung tâm điểm của chính trị Pháp Việt. Triều đình mới; Triều đình mới của Việt Nam hoạt động; Những lời chỉ dụ của Hoàng Đế; Các báo Pháp ca tụng đức Bảo Đại…
Nhưng những lời lẽ "phúng dụ" này không sống lâu hơn vài tháng. Những niềm tin cũng theo nhau chết yểu: Phong Hóa đăng tin vua về nước vài tháng rồi tịt. Nam Phong sau số đặc biệt, cũng ngừng luôn. Bởi vì người Pháp có cho vua làm những điều ông mong muốn đâu?
Chỉ hơn một năm sau, sự thực phũ phàng lộ rõ: Người Pháp chỉ đưa vua về để làm bù nhìn. Họ nói miệng chứ không cho vua tự ý cải cách bất cứ điều gì. Rút cục, nhà vua chỉ xin được họ nới rộng việc canh giữ cụ Phan Bội Châu và đặt tên lại cho bộ Học là Bộ Quốc dân Giáo dục mà thôi, bởi vì về việc học, “chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt thầy có mô phạm tân thời" rồi.
Năm 1995, khi chúng tôi phỏng vấn giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người đã từng kèm toán vua ở Paris, ông ngậm ngùi nhắc lại chuyện ông về thăm vua năm 1934, ông nói với vua: "Những người thanh niên Việt Nam nhiều người nhìn vào Ngài về cải cách này, cải cách kia, thì phải làm cái gì, chứ mà ai cũng để ý tới, nhất là thanh niên Việt Nam. Ông chỉ giả lời tôi một câu, lúc ấy ông chỉ nói: Làm thì làm với ai? Làm với ai?". Rồi năm 1942, ông về Huế, lại đến thăm vua lần nữa: "Thấy bộ ông ấy buồn lắm. Trông thấy ông ấy buồn lắm và ông ấy không dám nói một cái gì hết cả!"[6]. Đó mới là sự thực.
Nếu giáo sư Thanh Lãng đã nhìn thấy "Tất cả cái chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ" thì thực là ông quá ngây thơ hoặc ông quá nông cạn. Năm 1932, học giả Phạm Quỳnh cũng đã tin như thế, ông bỏ Nam Phong để về Huế làm Thượng thư, rồi cũng không làm được gì cả, nhưng ông ở lại Huế, có lẽ vì không nỡ để vua một mình. Ông Ngô Đình Diệm chỉ ở lại ít lâu, biết mình không có thực quyền, cũng đã từ chức. Vì thế khi Nhật đảo chính Pháp, trao lại chính quyền cho Bảo Đại, nhà vua đã mời hai học giả Trần Trọng Kim và Hoàng Xuân Hãn về Huế, lập chính phủ. Hoàng Xuân Hãn kể lại: "Ông Bảo Đại đã nói với cụ Kim cũng như với tôi là: "Từ trước đến giờ các anh muốn nước Việt Nam độc lập, bây giờ có cơ hội thì lại chối, mình không chịu [nhận] độc lập, thế rồi sau này nói thế nào [với quốc dân]?" Vì câu ấy, mới convaincre [thuyết phục] được cụ." [7] Xem như vậy, người Pháp chưa hề có ý định để cho ta độc lập dù họ có lập ra mấy chính phủ mới cũng thế thôi. Chỉ đến khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, với những nhà trí thức chân chính, trong bốn tháng, đã làm được những việc cải cách thực sự, nhất là về giáo dục.
Vậy mà giáo sư Thanh Lãng viết về chính phủ Trần Trọng Kim như thế này: "Chính phủ Trần Trọng Kim đã nhờ vào thế lực của Nhật, lật được ách thống trị của Pháp để tuyên bố độc lập, nhưng nền độc lập của chánh thể Trần Trọng Kim không được ai để ý, thậm chí có người còn không biết đến" (trang 637). Cách viết của Thanh Lãng là như thế, đầy những lỗi "tày đình": Chính phủ Trần Trọng Kim lật được ách thống trị của Pháp? Lật như thế nào? Bao giờ?
Lối sống xé rào của vị vua trẻ
Để chứng minh "công lao" của nhà vua trong việc "cải cách", giáo sư Thanh Lãng viết:
"Bởi vì vua Bảo Đại, như ta thấy, tỏ ra rất ham cải cách, bỏ các thói tục cổ hủ như tục lạy lục. Lần đầu tiên, một nhà vua Việt Nam đã dám du tuần khắp nước một cách bình dị như vua Bảo Đại. Cũng lần đầu tiên, một vua Việt Nam lấy có một vợ mà người vợ ấy vừa là con gái bình dân, vừa là người công giáo, một tôn giáo dầu sao vẫn chưa được triều đình, nhất là hoàng tộc ưa thích. Vua Bảo Đại đã hành động theo sở thích chứ không hành động theo lễ giáo, hay tập tục cũ, dưới sự thúc bách của hoàng tộc" (trang 632).
Và ông đưa ra một kết luận xanh rờn:
"Đi trước cả Khái Hưng, Nhất Linh trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt, Bảo Đại đã tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc thê, mà nhất là trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ trương tự do cá nhân trước cả Tự Lực văn đoàn" (trang 632-632).
Giáo sư Thanh Lãng đã lầm lộn một hành động cá nhân với sự tranh đấu cho một xã hội: vua Bảo Đại lấy một vợ là chuyện riêng của ông ấy, vả lại ông đi Pháp từ lúc 9 tuổi, được vợ chồng ông cựu công sứ Charles nuôi, thấm nhuần văn hóa Pháp, thì chuyện lấy một vợ chẳng có gì là lạ. Chỉ khi nào nhà vua ra được đạo dụ cấm đa thê, thì lúc đó ông mới cải tiến xã hội Việt Nam. Ông làm vua, đã không có quyền cai trị dân tộc mình, mà lại còn không được tự do lấy vợ nữa, thì sống làm gì? Giáo sư Thanh Lãng có nghĩ đến điều đó chăng?
Tệ hại nhất là ông giáo sư còn cho rằng: vua Bảo Đại đã làm tất cả mọi việc trước Tự Lực văn đoàn: "Bảo Đại đã tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc thê, mà nhất là trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ trương tự do cá nhân trước cả Tự Lực văn đoàn."
Không! Vua Bảo Đại đã bị Pháp bó chân bó tay từ năm 1933 rồi. Việc xã hội Việt Nam cải tiến, không hề nhờ Bảo Đại, mà phần lớn là nhờ tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, nhờ văn trào phúng của Hoàng Đạo, văn nghị luận của Hoàng Đạo, tranh hý họa của Nguyễn Gia Trí, những người ấy đã hy sinh cả cuộc đời để theo đuổi cuộc tranh đấu này. Nếu Thanh Lãng không nhìn ra, thì cũng đừng bội bạc xóa bỏ.
Nhưng tác hại sâu xa nhất là việc Thanh Lãng hiểu lầm, hoặc cố ý xuyên tạc chủ trương của Phong Hóa Ngày Nay. Trong phần giới thiệu bộ mặt của nền văn học mới, tất cả nhận định của ông về báo Phong Hóa, đều xoay quanh một điểm: Phong Hóa hạ bệ tất cả.
Phong Hóa hạ bệ tất cả
Để giới thiệu Phong Hóa, câu đầu Thanh Lãng viết rất nồng nhiệt:
"Trước khi được đặt dưới quyền điều khiển của Nguyễn Tường Tam, tuần báo Phong Hóa của ông Phạm Hữu Ninh, ngay từ số 1 ra tháng Juin 1932, cũng đã có một nội dung khác hẳn các báo đương thời cả về văn cũng như về ý tưởng. Trần Khánh Giư (Khái Hưng) là cây bút cốt cán, giữ nhiều mục quan trọng trên Phong Hóa suốt từ số 1 cho đến số 14.
Nhưng từ số 14 ra cuối tháng Septembre1932, khi mà Nguyễn Tường Tam đứng ra điều khiển tờ báo này với sự cộng tác thường xuyên của Khái Hưng, Tú Mỡ, Tứ Ly (Hoàng Đạo)… thì báo Phong Hóa quả là trái bom nổ giữa làng báo" (trang 610).
Sau lời giới thiệu "hoành tráng" đó, giáo sư Thanh Lãng bắt đầu công phá. Trước hết, ông nhắc lại công lao của Nam Phong:
"Thực vậy, trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ công việc của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế ra mọi người đều dùng. Người ta coi Nam Phong như bậc thầy" (trang 611).
Ông ca tụng Nam Phong như vậy, để tung ra câu kế tiếp:
"Vậy mà năm 1932, vừa bắt đầu ra đời, tuần báo Phong Hóa đã đánh thẳng vào Nam Phong, đánh các người lãnh đạo Nam Phong, đánh chính báo Nam Phong, đánh ngay cả chủ trương về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, tức là quốc dân bênh vực có trên hai chục năm." (trang 611)
Không thể tuyên bố như thế về một tờ báo, dù là tờ Nam Phong, nhất là người đó lại là một giáo sư đại học về văn chương. Bởi vì chính sự suy nghĩ và suy xét, không cho phép ta công kênh bất cứ một tờ báo nào lên hàng thầy của một dân tộc cả. Mà đại học là ngưỡng cửa mở cho sinh viên vào suy nghĩ, suy luận, trước khi công nhận bất cứ điều gì. Đành rằng Nam Phong có những giá trị không thể chối cãi được, nhưng không ai có thể nói rằng: Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo.
Việc định tội ở đây rất rõ ràng: Sau khi kể công trời biển của Nam Phong, Thanh Lãng giáng một đòn chí tử: Đánh vào Nam Phong, đánh vào các lãnh đạo của Nam Phong, tức là đánh vào quốc dân bởi vì Nam Phong là thầy quốc dân! Một thứ lập luận như vậy, làm sao có thể chấp nhận được ở thời buổi tự do dân chủ, tự do báo chí.
Sự cấm phạm thượng, là nguyên tắc của hai chế độ: quân chủ chuyên chế và độc tài toàn trị. Việt Nam đã có kinh nghiệm nhỡn tiền: sau bao nhiêu năm (miền Bắc từ 45, cả nước sau 75) bị cấm cười, các nhà văn hài hước bị tuyệt chủng, bây giờ nếu muốn gây giống lại, thì phải cho in tác phẩm của Hoàng Đạo, chủ soái của loại văn hài hước châm biếm này.
Tôi không nghĩ giáo sư Thanh Lãng chịu ảnh hưởng Vua Chúa hay Xít-Ta-Lin; là linh mục nên có lẽ ông bị ảnh hưởng của Giáo hội nhiều hơn. Thái độ của ông nhắc ta nhớ lại thời kỳ Giáo hội Trung cổ cấm cười, sách hài hước bị khóa trái trong phòng cấm của thư viện, tẩm thuốc độc, kẻ nào to gan dám lẻn vào đọc lén sẽ bị đầu độc chết cứng mà Umberto Eco miêu tả trong Le nom de la rose (Tên đóa hồng). Giáo sư Thanh Lãng đậu tiến sĩ văn chương Pháp, tất ông cũng đã đọc qua Rabelais. Từ thế kỷ XVI, Rabelais đã đem cả mọi tầng lớp trí thức, quý tộc, vua chúa, cha cố, ra chế giễu, đặc biệt ông coi những giáo sư đại học Sorbonne là bọn sâu bọ rắn rết cả. Vậy giáo sư Thanh Lãng cũng cấm à?
Tôi đã đọc Nam Phong và Phong Hóa và không thấy chỗ nào Phong Hóa đánh ngay cả chủ trương về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, như giáo sư Thanh Lãng viết, bởi vì Nam Phong chẳng bênh vực một chủ trương tư tưởng và nghệ thuật nào cả.
Còn lãnh đạo tờ Nam Phong thì chỉ có Phạm Quỳnh, mà Phong Hóa (tức Tứ Ly và Nguyễn Gia Trí, đàn em) có viết hay vẽ tranh chế giễu Phạm Quỳnh, cũng chỉ bông đùa, có khi dùng Phạm Quỳnh làm ô dù che giấu những bài khác đánh thẳng vào bọn quan lại bồi Tây thứ thiệt. Họ thừa hiểu công lao Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn chương quốc ngữ, và họ luôn luôn thầm kính trọng. Trái lại, họ hay đùa nhả với Nguyễn Tiến Lãng, "lãnh tụ" Nam Phong sau khi Phạm Quỳnh vào Huế, vì Nguyễn Tiến Lãng cùng tuổi với họ (sinh năm 1909) là con rể Phạm Quỳnh, lại chuyên viết văn tiếng Tây (vì ông Lãng viết tiếng Việt rất dở), lại thích viết truyện sầu thảm u buồn (Eurydice), được toàn quyền Robin (người đã ra lệnh thả bom Cổ Am) cấp học bổng vào trường Albert Sarraut, rồi năm 1934 làm bí thư cho Robin, v.v... ngần ấy thứ đủ cho họ lấy Nguyễn Tiến Lãng ra làm bung xung, chế giễu.
Giáo sư Thanh Lãng, là người hiếm hoi có đủ bộ Phong Hóa, từ những năm 60, nhưng dường như ông chỉ đọc những chỗ "chửi", như ta sẽ thấy ở dưới, để thốt ra những lời như vậy.
Điểm ông chú ý ở đây, không phải là văn chương Tự Lực văn đoàn, không phải sự khai sáng văn chương quốc ngữ của họ, cũng không phải sự tranh đấu chống thực dân, đòi tự do dân chủ của họ, mà ông chỉ chú ý trích dẫn những câu họ chế giễu các cụ, ví dụ trong báo Xuân, có những câu:
- Mừng cụ Hoàng Tăng Bí tăng phúc, tăng lộc, tăng thọ, tăng bí.
- Mừng cụ Nguyễn Văn Vĩnh đầu năm học xem tử vi, cuối năm xem thầy số.
- Mừng cụ Huỳnh Thúc Kháng dùng chữ Nho nhiều bằng năm bằng mười năm ngoái...
Để buộc tội họ là "công kích cá nhân" (trang 614).
Sau khi giới thiệu Phong Hóa với những lời láng mượt: "Tuần báo Phong Hóa là luồng gió mới, làm xáo trộn tất cả trật tư xã hội, thổi tung những lớp bụi bặm phủ đầy trên lâu đài văn hóa cũ một lần nữa bay mù trời" (trang 611). Ông tấn công ngay: "Phong Hóa bắt đầu mở chiến dịch khiêu khích, hạ bệ hai lãnh tụ của hai cơ quan ngôn luận lớn nhất của thế hệ trước, tức Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí" (trang 612).
Và Thanh Lãng đã dành 14 trang sách khổ lớn (từ trang 612 đến 624) để trích dẫn và kể tội Phong Hóa đã "phạm thượng", đã "chửi" người đi trước như thế nào. Ông còn nhấn thêm: "Những điều mà Phong Hóa đánh đấm chẳng phải đánh đấm vu vơ đâu. Nó nằm trong chủ trương, đường lối của cả nhóm. Một bản tuyên ngôn của Tự Lực văn đoàn đã nói lên điều nhận định của tôi." (trang 622), rồi ông cho in lại cả bản Tuyên ngôn và bản Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn để "chứng tỏ" điều đó. Hai văn bản này (đã in trong chương Sự thành lập Tự Lực văn đoàn, phần I), những người viết về Tự Lực đều biết, chưa thấy ai coi đó là văn bản chủ trương việc "đánh đấm" ai cả.
Phản ứng của Nguyễn Văn Vĩnh
Thanh Lãng luôn luôn dùng những chữ khuếch đại để xác định "tội trạng" của Phong Hóa:
"Từ bao nhiêu lâu, khắp từ Nam chí Bắc, dư luận đâu đâu cũng có Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là hai ông tổ của văn học thế hệ 1913-1932. Vậy mà Phong Hóa số 14, 22 Sept. 1932, đã đặt vè để chế giễu hai ông chủ bút Đông Dương và Nam Phong tạp chí". (trang 612).
"Như vậy, đối với thế hệ cũ, chẳng riêng gì con người họ bị bêu xấu, cơ quan ngôn luận của họ bị chế diễu mà chính cả đường lối của họ từng được cả quốc dân ca ngợi nay cũng bị nhạo báng" (trang 619).
Thực quả linh mục Thanh Lãng không biết cười. Ông kém xa Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, những người bị Phong Hóa chế giễu. Phan Khôi, trên Phong Hóa số 26 (16-12-1932) trong bài Cái địa vị khôi hài trên văn đàn, không những bênh vực tiếng cười mà còn nói rõ công dụng giáo hóa của tiếng cười, chúng tôi đã trích dẫn kỳ trước. Nguyễn Văn Vĩnh cũng không giận mà còn bênh vực Phong Hóa trên Annam nouveau như sau:
"Báo ấy đã tả những tính cách buồn cười và nhiều khi vẽ phác ra bằng những nét bút rất có ý nhị. Họ chỉ hơi ác thôi. Nhưng không hề gì, mà chính chúng tôi đây cũng vui lòng để họ riễu cợt, vì khoa hài hước có quyền làm thế, nhất là ở xứ này, ở một dân tộc thích chế nhạo như dân tộc ta". (Annam nouveau, 9-6-35)
Khi Nguyễn Văn Vĩnh từ trần, Phong Hóa số 186 (8-5-1936) loan tin: Về dịp ông Nguyễn Văn Vĩnh tạ thế các báo hàng ngày nghỉ một kỳ và các tuần báo ra chậm một ngày để tỏ lòng thương tiếc. Và có bài viết sau đây:
"Ông Nguyễn Văn Vĩnh đã tạ thế
Ông mất ở bên Lào, trong khi đang theo đuổi trong các rừng rậm cái công việc của một người đi tìm vàng.
Tại sao ông lại rời bỏ Hà Nội và tờ báo "Annam mới" sang bên đó làm việc ấy, người ta đã biết rõ rồi. Người ta còn bàn luận nhiều và than thở về sự thất bại trong các công việc của ông nữa.
Nhưng sự thất bại đó không làm gì. Cái mục đích của cuộc đời ông Vĩnh không phải ở sự thành công. Nếu như một người khác, chỉ yêu cầu một địa vị chắc chắn và an nhàn thì ông Vĩnh đã thừa có thể. Nhưng ông Vĩnh là một người ưa hoạt động, đời ông là một cuộc đời hoạt động cho đến cùng, nên đối với cái kết quả của các việc, ông không quan tâm đến.
Ông là người Annam đầu tiên hiểu rằng cuộc đời an nhàn mà các cụ ta xưa mong ước, là một cuộc đời đáng chán, đáng buồn. Ông đầu tiên hiểu rằng chỉ có hoạt động, thì một cuộc đời mới có ý vị và đáng sống, chỉ sự hoạt động mới làm cho con người ta trở nên có giá trị và giúp ích cho mọi người.
Đời ông đã sống, tuy có thất bại trong công việc làm ăn, nhưng vẫn là một cuộc đời đầy đủ muôn phần. Ông chết đi chúng ta mất một người đáng trọng, đáng kính, mất một cái "nghị lực hoạt động" là sự đáng quý nhất trong đời bây giờ.
Chúng ta lại mất một nhà văn và một nhà báo nữa. Những công việc ông đã làm trong văn chương và báo giới, chúng tôi không cần nhắc lại. Chúng tôi chỉ nói rằng ông là người An-nam đầu tiên đã đoán biết cái sức mạnh vô cùng của báo chí, cái sức mạnh vô cùng của chữ quốc ngữ - đã dùng hai cái lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới cho đồng bào.
Chúng ta lại nên biết nữa rằng, tuy có nhiều sự cám dỗ mãnh liệt, mà ông vẫn trung thành với nghề nghiệp cho đến tận bây giờ.
Một sự như thế cũng đáng để cho ta phải nên phục ông rồi.
Huống chi thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà không chán nản, ông thực đáng làm gương cho bọn thiếu niên ta nữa.
Ông mất đi đó là một tin buồn chung cho mọi người biết nghĩ.
Chúng tôi ngậm ngùi thương tiếc kính viếng ông, và xin có lời trân trọng chia buồn cùng tang quyến.
Tự Lực văn đoàn
Bài này chắc Tứ Ly viết, vì Tứ Ly là người chế giễu ông Vĩnh nhiều nhất, nhưng cũng hiểu ông Vĩnh sâu xa nhất, Tứ Ly đã nhận diện được những nét chính trong tư tưởng và hành động của Nguyễn Văn Vĩnh:
- Thành công không phải là mục đích cuộc đời của Nguyễn Văn Vĩnh.
Đời ông là hoạt động cho đến cùng, còn kết quả không quan trọng.
- Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng cuộc đời an nhàn của các cụ, là đáng chán, đáng buồn.
- Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng chỉ có hoạt động, mới làm cho con người có giá trị.
- Ông là người Việt đầu tiên đã nhìn thấy sức mạnh vô cùng của báo chícủa chữ quốc ngữ. và đã dùng hai lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới cho đồng bào.
Thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà không chán nản, ông thực đáng làm gương cho bọn thiếu niên.
Ngoài Tứ Ly, mấy ai thấy rõ Nguyễn Văn Vĩnh như thế? Những nhận định này đã có và sẽ có trong những bài viết của Tứ Ly, như một thứ chân lý sống và tranh đấu cho tuổi trẻ. Tứ Ly hiểu Nguyễn Văn Vĩnh một cách sâu sắc hơn Thanh Lãng rất nhiều, bởi Thanh Lãng chỉ đưa ra được những lời tôn vinh huê dạng và rỗng nghĩa.
Về việc chế giễu Tản Đà, Thanh Lãng cũng viết những câu thái quá:
"Nhưng chẳng hiểu tại sao Phong Hóa lại như có thù riêng gì với thi sĩ Tản Đà! Trong suốt mấy tháng cuối năm 32 đầu năm 33, chẳng mấy số báo mà Phong Hóa buông tha nhà thơ sông Đà núi Tản" (trang 616). "Họ chửi ông đủ điều, họ làm thơ họa vận để rêu ruốc ông" (trang 617), rồi Thanh Lãng chép lại bài thơ Tứ Ly họa thơ Tản Đà để "rêu ruốc". Sự thật thì Tản Đà làm thơ mắng mỏ Phong Hóa trước, rồi Tứ Ly mới họa lại! (Phong Hóa số 29).
Khi bàn về thơ mới cũng lại moi tội Phong Hóa:
"Phong Hóa đánh thơ cũ bằng cách đánh thẳng vào Tản Đà được coi là linh hồn, là hiện thân của thơ cũ. Hầu như chẳng có mấy số mà Phong Hóa không có bài chế diễu nhà thơ sông Đà núi Tản, mà chế diễu một cách tàn nhẫn". (trang 670).
Việc Tản Đà tôi đã nói trong bài trước rồi, chỉ xin nhắc lại: Tản Đà không giận mà còn có vẻ khuyến khích việc chế giễu này, đôi khi thấy lâu lâu "nó" không trêu mình cũng buồn, nên thi sĩ làm thơ khiêu khích "nó" trước, để "nó" trả lời cho vui.
Lối viết của Thanh Lãng rất một chiều: thấy Nhất Linh bị buộc tội "bốc" người nhà, bị đánh hội đồng vì đã viết bài giới thiệu thơ Thế Lữ, Thanh Lãng cũng nện thêm. Hoặc ông không nhắc gì đến vụ Thạch Lam bị Phan Trần Chúc đăng tin úp mở đổ tội "ăn cắp cravate bị cảnh sát bắt", vụ này ầm ĩ lên, khiến Hội Nhà báo phải họp "đại hội đồng" để hòa giải cuộc bút chiến giữa Tân Việt Nam (Phan Trần Chúc) và Ngày Nay (Thạch Lam và Thế Lữ); hội đồng tuyên bố Phan Trần Chúc có lỗi, có cả biên bản của Trần Huy Liệu và Nguyễn Trọng Trạc (Ngày Nay số 83, 31-10-37).
Vậy việc bút chiến là đặc tính chung của báo chí thời đó, có lẽ cũng để bán báo nữa. Khi họ cãi nhau thì bên tám lạng bên nửa cân, chẳng ai chịu thua ai cả. Nhưng Thanh Lãng chỉ chăm chú bới lông tìm lỗi của Phong Hóa.
Không phân biệt thể loại văn chương
Thanh Lãng viết một câu rất đáng chú ý:
"Nhưng điều đáng chú ý là sự ra đời của mấy truyện như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, Tôi kéo xe của Tam Lang. Từ cách xây dựng truyện đến cách đặt vấn đề, cách mô tả tâm lý các truyện mà nhất là lời văn dễ dãi, linh động; ba tác phẩm này như vạch ra một vạch lớn phân đôi hai thế hệ trước (13-32) và thế hệ sau (32-45)" (trang 625)
Như vậy, Thanh Lãng coi ba tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, tiểu thuyết (1932), Kép Tư Bền, truyện ngắn (1935) và Tôi kéo xe, phóng sự (1932, in 1935) đều là truyện cả, bởi vì ông không phân biệt được các thể loại khác nhau và các nhà văn khác nhau.
Tam Lang viết phóng sự, phóng sự thuộc loại tài liệu sống của nhà báo. Còn truyện ngắn và tiểu thuyết là sản phẩm của nhà văn. Vậy không thể coi cả ba thể văn này đều là truyện được.
Phóng sự có thể sống động rất hay, nhưng chưa phải là cái hay của một tiểu thuyết, bởi vì nhà phóng sự chưa quán xuyến được mặt hậu của chữ nghĩa, tức là chưa liên lạc được chữ nghĩa với tư tưởng nằm sau chữ nghĩa, nói rõ hơn: nhà phóng sự chỉ mô tả những gì xảy ra, nhà văn qua những sự việc mô tả, nói lên những bộ mặt khác của xã hội và con người. Thạch Lam cũng bắt đầu bằng viết phóng sự. Trường hợp điển hình là Vũ Trọng Phụng, ông bắt đầu bằng phóng sự, nhưng chỉ từ khi ông viết Giông tố và nhất là kiệt tác Số đỏ, ông mới trở thành nhà văn đích thực, nhà văn lớn. Bởi vì qua Xuân tóc đỏ và những nhân vật khác trong truyện, ông đã vẽ nên toàn diện xã hội Việt Nam lai căng, đạo đức giả, đồi trụy dưới thời Pháp thuộc. Tiếc rằng Thanh Lãng cũng như Phạm Thế Ngũ, khi viết về Vũ Trọng Phụng đều không kể đến Số đỏ. Những nhà viết phóng sự hay như Tam Lang, Trọng Lang không bao giờ vượt qua được ngưỡng cửa nhà báo để trở thành nhà văn.
Về nhà văn, cũng không thể so sánh Nguyễn Công Hoan với Khái Hưng, vì Nguyễn Công Hoan là nhà văn viết truyện hiện thực đường thẳng (réalisme linéaire), nghĩa là tác phẩm không có nghĩa kép, đọc đâu hiểu đấy, còn Khái Hưng là nhà văn có nhiều tầng tư tưởng, những tác phẩm hay của ông thường ẩn ý nghĩa triết học, có thể đọc nhiều cách, mỗi cách đọc đưa đến một cách hiểu khác. Hồn bướm mơ tiên là một kiệt tác và là tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ đa diện đầu tiên của nước ta.
Khi Thanh Lãng lấy Hồn bướm mơ tiênKép Tư Bền và Tôi kéo xe, ba tác phẩm thể loại khác nhau, có giá trị nghệ thuật và tư tưởng khác nhau, để làm mốc vạch phân đôi hai thế hệ (1912-32) và (1932-45) vì ông cho đó là ba cuốn truyện giống nhau từ cách xây dựng truyện đến cách đặt vấn đề, là ông chưa thấu rõ bản chất văn chương. Trong chương viết về tiểu thuyết sau đó, ông cũng đưa tất cả những cuốn phóng sự vào mục tiểu thuyết, thậm chí với Vũ Trọng Phụng, ông đưa hết phóng sự mà không đưa Số đỏ vào.
Vì không phân biệt được thể loại, cho nên Thanh Lãng đã coi những mục tản mạn, tin vặt, hài hước, cãi cọ, trên Phong Hóa là những bài phê bình, như ta sẽ thấy dưới đây.
Không hiểu thế nào là phê bình
Trong chương II tựa đề Lịch sử phê bình thế hệ 1932, Thanh Lãng chia văn học ra làm bốn khối, A,B,C,D, và ông xếp: Khối A là khối bị cho là cựu học, khối B là Tự Lực văn đoàn, Khối C là khối đối lập, phản công Phong Hóa, và Khối D là khối duy vật.
Theo ông: "Văn phê bình từ 1932 đến cuối năm 1934 là văn phê bình của hai khối A và khối B, tức phê bình của tất cả các nhà văn không thuộc nhóm Phong Hóa với các nhà văn của khối Phong Hóa tức Tự Lực văn đoàn" (trang 645).
Vẫn lối ngoa ngữ, ông viết: "Hầu hết các nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị khối Phong Hóa chế diễu, toàn bộ các báo, ngoại trừ báo Phong Hóa, đều bị khối Phong Hóa bêu xấu" (trang 645).
Vì ông không phân biệt được các thể loại khác nhau cho nên ông đã đưa Tự Lực văn đoàn vào khối phê bình B, và vào phần Lịch sử phê bình.
Nhưng Tự Lực văn đoàn làm gì có phê bình? Thỉnh thoảng Khái Hưng, Nhất Linh viết bài tựa sách, đâu có thể gọi là phê bình? Ông khen "Thế Lữ viết truyện hay, soạn kịch cũng khéo, phê bình có tài" (trang 645). Nhưng Thế Lữ chỉ làm đạo diễn và diễn viên chứ có viết kịch bao giờ đâu? Thế Lữ giữ mục điểm sách, điểm báo chung với Thạch Lam trên Phong Hóa, hai người này thân nhau, Thạch Lam cũng hay viết tào lao, còn Thế Lữ vì xấu tính, hay moi những nhà thơ cùng trang lứa với ông như Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Vỹ… ra chỉ trích và thường tìm sách dở để chê bai, thì đâu có thể gọi là phê bình?
Nhưng đáng ngại hơn là luận điệu xuyên tạc của Thanh Lãng:
"Lập trường [của Tự Lực] không phải là cái thứ lập trường hòa hoãn, nước đôi. Họ muốn tiến tới bất cứ giá nào, dầu phải tàn nhẫn, phải đập phá, phải chém giết. Mà thực họ đã tàn nhẫn với tất cả cái gì mà họ coi là cũ, họ đập phá hết tất cả cái gì mà họ cho là ngáng trở bước đi tới của họ, và lắm khi họ chẳng ngại đổ máu để giật phần thắng lợi." (trang 648).
Thật lạ lùng cái giọng "máu me" của vị linh mục khi viết về một văn đoàn! Với một tiền đề như vậy, tất nhiên ta đã thấy rõ quan niệm của Thanh Lãng về Tự Lực.
Ông muốn kể tội họ "gây gổ và tuyên chiến với các nhà văn lão thành", nhưng vì vẫn không phân biệt được thể loại và giá trị các tác phẩm, nên ông viết:
"Trong những mục hoặc như mục Mực Tầu Giấy Bản hoặc như Từ Nhỏ đến Nhớn, hoặc như Bàn Ngang, hoặc như Từ Cao đến Thấp hoặc như Giòng nước ngược, hoặc như Cuộc Điểm Báo, thật là nơi dụng võ thường xuyên của các cây bút như Tứ Ly, như Nhị Linh, Tam Linh, Tứ Linh tức Nhất Linh, như Tú Mỡ, như Thạch Lam, như Lê Ta tức Thế Lữ.
Chẳng có một số Phong Hóa nào mà chẳng có một vài nhà văn, nhất là các nhà văn thuộc thế hệ trước, chẳng bị đem ra chế diễu. Lối phê bình của Phong Hóa qua các mục nói trên, về các nhà văn đàn anh, thường là lối phê bình châm chọc, chế diễu, thường thuộc đời tư hơn là lập trường văn nghệ." (trang 648-649)
Ông lầm, không ai coi các mục ông kê khai trên đây là phê bình cả, đó chỉ là những mục thường thức, mục đích chính là tóm tắt những thông tin trong tuần, nói phiếm, bàn ngang, có khi kể chuyện ngồi lê đôi mách, thường thấy trên các báo, thỉnh thoảng cãi cọ, bút chiến, cốt lấp đầy chỗ trống, để giải trí và câu độc giả, cả thơ trào phúng của Tú Mỡ cũng vậy.
Còn Mực tầu giấy bản là tập hồi ký Khái Hưng viết về những năm học chữ Nho của mình, ký tên Nhị Linh, không ăn nhằm gì đến chuyện phê bình.
Về phê bình, Khái Hưng viết rất rõ trong bài Cùng ông Nguyễn Công Hoan:
"Tôi thưa ngay cùng ông rằng tôi không phải là một nhà phê bình. Về tiểu thuyết thì đừng nói phê bình nữa, đến ngồi bàn tán xuống với anh em bạn thân, tôi cũng không từng dám khen tác phẩm này, chê tác phẩm kia. Là vì tôi cũng viết tiểu thuyết, viết tiểu thuyết như ông, như Nhất Linh, như Lan Khai, như cô Đoàn Tâm Đan, như ông Hồ Biểu Chánh. Tội lắm kia, mình khen thì anh em cho là khen mát, mà mình chê thì họ lại cho là ghen tỵ, nhất đối với một tác phẩm đã may mắn được công chúng hoan nghênh" (Phong Hóa số 177, 6-3-1936).
Võ Phiến không được sáng suốt như thế, ông đã viết bộ Văn Học miền Nam, nói xấu nhiều người nên bị Nguyễn Văn Trung, trên báo Khởi Hành "bắt" rút bộ Văn Học miền Nam về!
Rồi Thanh Lãng lại nhầm tuồng cổ với phê bình khi ông chứng minh Tự Lực đã "đánh đấm" các vị tiền bối như thế nào, ông đánh vào vở Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly với những lời lẽ hết sức nặng nề: "Nhưng không ở đâu Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu được mô tả một cách tồi tàn, gàn dở, quê kệch, nhất là đê hèn như trong vở tuồng "Tuồng cổ tân thời" (Phong Hóa số 38, 39, 40, 41, 42)."Không thích cười là quyền của ông nhưng gán những chữ tồi tàn, gàn dở, quê kệch, đê hèn để bảo Tuồng cổ tân thời mô tả Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu là quá tệ, bởi vì một giáo sư văn chương đánh giá sai một tác phẩm đã là kém rồi, bằng những chữ quá trớn như vậy là rất đáng ngại.
Sau khi "tiêu diệt" vở kịch Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly, ông kê khai một danh sách dài các bài "chửi" trên Phong Hóa, với lời giới thiệu:
"Để thêm tài liệu ta có thể tìm đọc những bài chửi Dương Bá Trạc (Phong Hóa số 120), chửi Nguyễn Tiến Lãng (Phong Hóa số 105, 137) chửi ông Lê Diễm ở báo Tân Thiều niên (Phong Hóa số 112, chửi Thái Phỉ ở Ngọ Báo (Phong Hóa, số 110), chửi Nguyễn Khắc Hiếu, v.v..." (trang 653). Cái danh sách này kéo dài từ trang 653 đến trang 655. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình thế hệ 1932.
Trong phần thứ ba ông dành cho khối C, tức là khối phản công Phong Hóa, lần này "đầy đủ" hơn, tức là ông dành toàn diện 8 trang sách khổ lớn từ 655 đến trang 663; vừa ghi danh sách vừa trích dẫn cẩn thận những đoạn các báo này "chửi" Phong Hóa, mà ông cho là đích đáng lắm. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình thế hệ 1932.
Không hiểu tại sao giáo sư Thanh Lãng lại mất thì giờ làm công việc này, thay vì tìm ghi danh sách những số báo có truyện ngắn, truyện dài, kịch, thơ, xã luận… có giá trị trên Phong Hóa, để độc giả dễ dàng tìm biết mà đọc, thì ông lại chỉ ghi danh sách những bài "chửi", chỉ cho học trò đọc những chỗ chửi.
Hàng trăm truyện ngắn của Khái Hưng chưa ai ghi lại đầy đủ, sao ông không làm việc ấy?
Thực chưa từng thấy ai coi phê bình văn học là những lời "chửi" như vậy, và lại có thể có một lối viết văn học sử nào kỳ quặc như thế cả.
Nhưng tệ hại nhất là ông cho rằng Phong Hóa bị đóng cửa vì có nhiều tờ báo mới ra đời, họ "liên hiệp lại để phản công Phong Hóa. Phải chăng vì vậy mà Phong Hóa phải chết để đầu thai dưới một tên khác "Ngày Nay"?" (trang 656). Lời độc này là giọt nước tràn ly, chứng tỏ khi thực dân bắt Phong Hóa phải đóng cửa, ông sửa lại là Phong Hóa bị báo chí phản công đánh chết. Vô tình hay hữu ý, ông đã nhắm mắt vỗ tay hành động của thực dân, vì ông căm thù văn chương trào phúng như các giáo sĩ thời trung cổ?
Tú Mỡ và sự vu khống Nguyễn Tường Tam
Tự Lực văn đoàn không những chỉ bị bôi nhọ trong sách giáo khoa đại học của Thanh Lãng ở miền Nam, mà sự vu khống Nhất Linh còn được xuất cảng ra ngoài.
Có người cho rằng Nhất Linh hâm mộ Hitler. Một trong những người tung tin đó là Tú Mỡ.
Việc này khá trầm trọng, không thể bỏ qua.
Trước hết, chúng tôi xin lưu ý độc giả đến cái dấu ấn của Tự Lực văn đoàn.
Tự Lực văn đoàn in dấu ấn này lần đầu tiên trên Phong Hóa số 56 (21-7-1933), nhưng không giải thích gì cả, từ Phong Hóa số 89 (16-3-34) trở đi, dấu ấn được in trên tựa báo Phong Hóa.
Dấu ấn Tự Lực Văn đoàn và Annam 
xuất bản cục, Phong Hóa số 56 (21-7-1933), tr 2.
Tựa báo Phong Hóa kể từ số 89 (16-3-1934)
Đến Phong Hóa số 87 (2-3-34), trong mục Cuộc điểm báo và điểm sách mùa xuân của Nhất Nhị Linh (Nhất Linh và Khái Hưng), hai ông phản đối bìa cuốn sách Tuổi xuân với ngày xuân "dám" ghi bốn chữ: "Tiên phong văn đoàn", tức là "dám" bắt chước Tự Lực văn đoàn, nhân thể kể luôn "tội" cuốn Tân quốc dân:
"Nói đến Tiên phong văn đoàn lại nhớ đến cuốn Tân quốc dân. Ngoài bìa có đặt một cái dấu ấn na ná như cái dấu của Tự Lực văn đoàn: cũng chỉ có con chim và mấy ngấn nước. Chỉ khác có một tý là con chim ở cuốn Tân quốc dân, có lòi thêm cái đuôi. Chẳng trách thiên hạ vẫn thường nói, bắt chước lòi đuôi[8].
Nhờ câu này, ta mới biết: dấu ấn Tự Lực văn đoàn vẽ con chim và mấy ngấn nước.
Có người "nhìn ra" là chim ó (diều hâu) tuy hình này không xác định chim gì cả.
Có kẻ tưởng đó là dấu chữ thập có móc (croix gammée) hay chữ vạn của đảng Hiller, trong số đó có Phòng nhì Pháp, ý này giúp họ có thêm lý do hạ thấp giá trị Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Dấu ấn Tự Lực văn đoàn và Croix gammée Đức quốc xã
Nhưng tệ nhất là mấy lời Tú Mỡ viết về Nhất Linh trong bài Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn. Bài hồi ký này được rất nhiều sách in lại, hoặc trích dịch, vì hai lý do:
- Tú Mỡ là một trong những thành viên Tự Lực văn đoàn từ đầu.
- Tú Mỡ đã từng nhận là rất thân với "anh Tam", nên những điều Tú Mỡ "nhận định" về "anh Tam" sau đây, hoàn toàn tin được, ông viết:
"Bị lôi cuốn vào guồng Việt Nam Quốc Dân Đảng, anh Tam muốn đóng vai lãnh tụ. Tôi thấy trước đây anh có đọc "Mein Kamf" của Hít-le và giờ đây anh muốn bắt chước Hít-le từ y phục, cử chỉ đến đầu óc quốc xã" [9]
Ảnh hưởng tai hại của câu này rất rộng lớn, đặc biệt trong cuốn Đại Việt, indépendance et révolution au Việt Nam, L’échec de la troisième voie (1938-1955) - Đại Việt, cách mạng và độc lập ở Việt Nam, Sự thất bại của con đường thứ ba (1938-1955) của François Guillemot [10] trong đó, tác giả đã dùng "thông tin" của Phòng nhì Pháp, phối hợp với lời viết trên đây của Tú Mỡ, để "xác định" ba lần: Nguyễn Tường Tam là "người sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã" (fervent admirateur du nazisme)! (ở các trang 68, 78 và 90) trong quyển sử của ông.
Về thông tin của Phòng nhì Pháp, François Guillemot dựa vào bản báo cáo của Phòng nhì đề ngày 29-1-1949 [11]. Bản báo cáo này có câu:
"Đảng Đại Việt gồm những phần tử thân VNQDĐ ngày trước và những thành viên hoạt động nhất là các Ô. Nguyễn Tường Tam, thời đó sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã, hiện lãnh đạo Việt Nam QDĐ hải ngoại ở Quảng Đông, Nguyễn Tường Long, người em vừa mới mất ở Quảng Đông, Nguyễn Gia Trí, họa sĩ…" [12]
Những "thông tin" này của Công an Pháp viết tháng giêng 1949, không có gì mới cả, trừ sự sai lầm: Nguyễn Tường Tam thời đó sùng bái chủ nghĩa Đức Quốc xã, thời đó là thời nào?
Tuy nhiên, François Guillemot đã dựa vào những "thông tin" này để đưa ra nhận định sau đây về Nguyễn Tường Tam:
"Là nhà văn nổi tiếng và nhà bỉnh bút có tài, tuy nhiên nhân vật phức tạp này là người thất bại trong chính trị. Việc Công an truy lùng và trình bày ông, thời đó, như một người "sùng bài chủ nghĩa Đức quốc xã", có thể cho chúng ta chìa khóa để hiểu sự thất bại của nhà văn về mặt ý thức hệ. Dường như, đối với chúng ta, khúc ngoặt theo chủ nghĩa quốc gia xã hội năm 1940 của ông, sẽ như một vết sẹo trên hành trình chính trị của ông. Sự tham gia này lần theo thời gian trở thành cơn ác mộng khó xóa. Cái "lỗi lầm tuổi trẻ" này phát xuất, từ một trí thức không những sành sỏi mà còn thơ mộng và lý tưởng, sẽ là một gánh nặng" [13]
Và trong chú thích số 40, Guillemot đặt thêm câu hỏi: "Sự hòa nhập Đại Việt Dân Chính năm 1945 trong lòng Việt Nam Quốc Dân Đảng phải chăng có mục đích bí mật để sửa sai những bước đầu tai hại trong chính trị?" [14]
Như vậy, theo lập luận của François Guillemot, việc Nguyễn Tường Tam "sùng bái chủ nghiã Đức quốc xã" đã dẫn đến sự thất bại chính trị của đảng ông. Việc "sùng bái" này, có lúc được xác định vào năm 1940, có lúc được coi là "lỗi lầm tuổi trẻ".
Chữ hay được người ta dùng nhất là "thời ấy" (à l’époque, cette époque). Vậy cái thời ấy là thời nào, ta cần phải xét lại cho rõ.
Việc mật thám Pháp không đọc Phong Hóa và Ngày Nay, còn hiểu được, nhưng tại sao sử gia François Guillemot không kiểm chứng lại? Ông đã viết một cuốn sách lịch sử công phu, rất có giá trị về Đại Việt Quốc Dân Đảng, mà lại cho rằng một trong những lãnh tụ của đảng này sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã, dẫn đến sự thất bại của đảng này, chỉ qua "thông tin" lười biếng của Phòng nhì Pháp và lời viết vu vơ của Tú Mỡ, mà không đọc trực tiếp Phong Hóa và Ngày Nay để kiểm chứng thực hư thế nào.
Bởi vì, dù chỉ đọc lướt qua, ta cũng có thể thấy những tranh hài hước hay những bài viết chống Hitler, có tựa đập vào mắt. Và "cái thời đó", thời mà phòng nhì Pháp cho rằng Nguyễn Tường Tam sùng bái Chủ nghĩa Đức quốc xã, là những thời sau đây:
1- Năm 1934, Phong Hóa số 104 (29-6-34), trang 4, đăng bài: Hit-Le tướng công Y-Ta-li phó hội, của Lê Ta (Thế Lữ) chế giễu Hitler đi phó hội sang Ý gặp Mussolini, bài văn hài hước viết theo lối Đông chu liệt quốc và Tam quốc chí.
2- Ngày Nay số 11 (7-5-35) trang 3, đăng bức ảnh Trên sân khấu Âu Châu, giễu Tướng Hitler đóng tuồng, dưới đề: Ảnh chụp khí Hitler đang khoa đao và hò hét như một ông tướng Tàu.
Hitler, Ngày Nay số 11, 7-5-1935, trang 3
3- Ngày Nay số 32 (1-11-36) có dịch một đoạn bài viết của Drieu de la Rochelle trong báo Marianne, giới thiệu một thứ trường dạy cầm đầu (Une école de chefs) trong "nước Đức mới": Kể rằng "nước Đức mới" lập ra không biết bao nhiêu cơ quan huấn luyện thanh niên như: Thanh niên đoàn Hitler (Jeunesse de Hitler), Tự ý lao động (Volontaires du travail), Trại tập làm việc… để luyện cho thanh niên có thân thể cường tráng và có tinh thần kỷ luật.
Đó là bài duy nhất, không công kích Hitler, Ngày Nay in với dụng ý cổ động thanh niên nên rèn luyện thân thể theo đúng cẩm nang "10 điều tâm niệm" của Hoàng Đạo đã bắt đầu đăng trên Ngày Nay hai tháng trước, từ số 25 (3-9-1936).
4- Ngày Nay số 53 (4-4-37) có tranh bìa ký Ritg TRAN AG (Nguyễn Gia Trí) chế giễu Hitler và thực dân: vẽ Hitler đem hoa đến cầu hôn cô Mỵ Nương Đông Dương của thực dân Pháp.
Bìa Ngày Nay số 53 (4-4-1937) 
của Ritg (Nguyễn Gia Trí)
5- Ngày Nay số 108 (1-5-38), trong mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa Phát xít, phân tích cặn kẽ đường lối chính trị độc tài của Mussolini.
6- Ngày Nay số 109 (8-5-38) vẫn trong mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa quốc gia xã hội, phân tích và kết án không nhân nhượng chủ nghĩa Hitler và chính sách xâm lược của Đức quốc xã.
Hai bài chính luận này Hoàng Đạo, lý thuyết gia Tự Lực văn đoàn, viết tháng 5-1938, trong thời kỳ Nguyễn Tường Tam thành lập đảng Hưng Việt; sau đổi thành Đại Việt Dân Chính.
Chủ trương của đảng này là tiếp tục tư tưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học, theo chủ nghĩa duy dân của Tôn Dật Tiên, không dính dáng đến chủ nghĩa Quốc gia xã hội của Hitler. Những điều này sau sẽ đăng công khai trên các báo: Ngày Nay kỷ nguyên mới, Việt Nam và Chính Nghĩa.
7- Ngày Nay số 154 (25-3-39), trang nhất có tranh hài hước: Cuộc bảo hộ nước Tiệp Khắc trong trí tưởng tượng của người Annam, không ký tên, chế giễu Hitler xâm nhập Tiệp Khắc.
Ngày Nay số 154 (25-3-1939)
8- Ngày Nay số 167 (24-6-39), trang 12, in bài Ông Hitler đã làm những người Anh thân Đức tỉnh ngộ, lược dịch một bài báo trên Paris Match, nói về tình trạng một số tờ báo Anh như tờ Times trước thân Đức, bây giờ đã đổi giọng chống Đức và một số chính khách Anh, như ông Montaga Norman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng hay Hầu tước Lothian, Đại sứ Anh ở Washington, cùng một số người tai mắt và quý tộc Anh, trước theo Đức, nay đã "tỉnh ngộ", có người đã phải xin lỗi.
9- Ngày Nay số 201 (2-3-40) có bài thơ trào phúng Diêm vương kén tướng của Tú Mỡ, ví Hitler như Diêm vương, sai hung thần, ác tướng đem quân lên chinh phục cõi trần:
"Đem võ lực ra oai tác ác,
Cử binh đi cướp nước tranh quyền.
Hoàn cầu đang hưởng bình yên.
Bỗng đâu binh lửa dấy lên đùng đùng".
Bài thơ Diêm vương kén tướng của 
Tú Mỡ, Ngày Nay số 201 (2-3-1940)
Tú Mỡ cộng tác liên tục với Phong Hóa và Ngày Nay từ những ngày đầu. Nhưng dường như ông không đọc các bài viết và tranh chống Hitler trên hai tờ báo này. Ngày 12 tháng 8 năm 1968 ông "nhớ" và viết rằng Nguyễn Tường Tam sùng bái Hiler! [15]
Có lẽ vì quá ngây thơ, thấy Nhất Linh đọc Mein Kamf, nên Tú Mỡ – khi phải tìm tội Nhất Linh – đã vội gán cho bạn nhãn hiệu Hitler. Bởi Tú Mỡ đã từng nói: "Anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy."[16]nên bài hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn, dù có những giai thoại sai lầm, vẫn được người ta tin và trích dẫn, trong đó có sử gia François Guillemot, đã đưa việc này vào cuốn sử có giá trị mà ông đã bỏ nhiều năm nghiên cứu về Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Sự vu khống Nhất Linh Nguyễn Tường Tam sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã là một vết nhơ, không những cho Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn mà còn cho cả các phong trào cách mạng dân tộc nữa.

Chú thích:
[1] Theo chú thích của Nxb Thăng Long, khi tái bản bộ Nhà văn hiện đại ở Sài Gòn năm 1960, trang 904.
[2] Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập ba, Anh Phương ấn quán, Sài Gòn, 1965, Đại Nam chụp in lại, trang 430.
[3] Vu Gia, Nhất Linh đời văn đời người (trích), in lại trong Nhất Linh cây bút cột trụ của Tự Lực văn đoàn, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 74-75.
[4] Trương Bảo Sơn Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (in trong cuốn Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Thế Kỷ, Cali, 2004, t. 69).
[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ văn học Việt Namquyển hạ, Ba thế hệ của nền văn học mới (1862-1945), Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1967, phần Văn Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932 trang 589.
[6] Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 128.
[7] Thụy Khuê, Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 160.
[8] Cuộc điểm báo và điểm sách mùa xuân, của Nhất-Nhị-Linh (Phong Hóa số 87, 2-3-1934).
[9] Tú Mỡ, Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn, Hồi ký của Tú Mỡ, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1 năm 1989.
[10] Nhà xuất bản Les Indes savantes, Paris, 2012.
[11] Bản báo cáo này lưu trữ trong hồ sơ CAOM, GGI 65492 của Haut Commissaire de France en Indochine, Direction de la Police et de la Sureté fédérales, Secret, Les partis nationalistes vietnamiens (Cao Ủy Pháp ở Đông Dương, Nha Giám đốc Cảnh sát Công an trung ương, Mật, hồ sơ Những đảng phái quốc gia Việt Nam.
[12] "Le Đại Việt était composé d’anciens sympathisants VNQDĐ et ses membres les plus agissants furent MM. Nguyễn Tường Tam, à l’époque fervent admirateur du nazisme et actuellement chef du VNQDĐ d’outre-mer à Canton, Nguyễn Tường Long, frère du précédent et récemment décédé à Canton, Nguyễn Gia Trí, artiste peintre… " (sđd trang 68).
[13] "Ce personnage complexe, écrivain renommé et chroniqueur de talent, a cependant un raté dans sa vie politique. La Sureté qui le présentait à cette époque comme "un fervent admirateur du nazisme", nous donne peut être la clé de l’échec de l’écrivain sur le plan idéologique. Il nous semble que le virage national-socialiste qu’il prit en 1940 resta comme une cicatrice sur son parcours politique. Cette engagement était devenu au fil du temps comme un mauvais rêve difficile à effacer. Cette "erreur de jeunesse" émanant pourtant d’un intellectuel averti, mais aussi romantique et idéaliste, pesa sans doute d’un lourd fardeau" (sđd, trang 90).
[14] "La dissolution du ĐVDC en 1945, au sein du QDĐ a-t-elle pour objet secret, la correction d’un début en politique plutôt compromettant?" (sđd, trang 90).
[15] Trong tập hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn, in lại trên Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1 năm 1989.
[16] Cuộc Phỏng vấn các nhà văn, của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội, 1943, trang 134-144.
Sự hình thành nền văn học Quốc ngữ
Muốn hiểu Tự Lực văn đoàn đã làm được những gì cho nền văn học quốc ngữ, ta phải xem lại tình trạng nền văn học này, trước khi có Tự Lực văn đoàn, sau đó mới có thể trả lời câu hỏi: Tự Lực văn đoàn đã làm được gì cho nền văn học quốc ngữ.
Ai cũng biết, tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc từ thời tiền sử đến ngày nay. Tiếng Việt còn được gọi là Quốc âm. Để ghi lại quốc âm, ta có hai cách: hoặc dùng chữ Nôm (mượn dạng chữ Hán) hoặc dùng chữ Quốc ngữ (mẫu tự La tinh).
Văn tự chính thức được dùng trong nước từ xưa vẫn là chữ Hán đến đầu thế kỷ XX.
Chữ nôm, bắt đầu có từ cuối đời Lý, đến đầu đời Trần (thế kỷ XII) được Hàn Thuyên phổ biến; trở nên thịnh hành đầu đời Lê, với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông. Chữ nôm đã từng được làm văn tự chính thức dưới thời nhà Hồ (thế kỷ XV) và nhà Tây Sơn (thế kỷ XVIII), nhưng sang nhà Nguyễn, chữ Hán trở lại địa vị chính thống.
Văn chương chữ nôm bắt đầu thịnh hành với Nguyễn Trãi (1380-1442), đạt đỉnh cao nghệ thuật với Nguyễn Du (1766-1820), nhưng hầu như toàn bộ sáng tác chữ nôm của ta là những áng văn vần. Đó là tình trạng của nhiều nước, không riêng gì Việt Nam. Có lẽ vì văn vần dễ nhớ, người biết chữ hay không biết chữ cũng có thể thuộc được.
Khi Pháp xâm chiếm nước ta, Nam Kỳ trở thành thuộc địa trước tiên. Năm 1867, Pháp chiếm xong Nam Kỳ. Năm 1878 chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức, sau tiếng Pháp. Năm 1915 là năm cuối cùng có thi Hương ở Bắc, và năm 1918, khoa thi Hương cuối cùng ở Huế.
Pháp chủ trương loại bỏ chữ Hán để thay dần bằng chữ Pháp, học trò bậc tiểu học, mỗi tuần học 2 giờ chữ Hán, 12 giờ Pháp văn, không được học chữ Nôm, phải học chữ quốc ngữ.
Chữ quốc ngữ, dùng ngữ tự La tinh, đối vối người Pháp dễ nhận mặt chữ, dễ "đọc" và dễ học hơn chữ nôm, đã được các nhà truyền giáo Dòng Tên Bồ Đào Nha và các thầy giảng người Việt đặt ra từ thế kỷ XVII.
Trần Văn Chi, người đã đọc Gia Định Báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, cho biết:
"Tên gọi chữ quốc ngữ [thấy] lần đầu tiên vào năm 1867 trên Gia Định báo. Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ Tây bị lược khỏi tên gọi để chỉ còn lại là chữ quốc ngữ, có nghĩa là văn tự tiếng Việt[1].
Chữ Tây quốc ngữ, bốn tiếng này cho chúng ta hiểu rõ sâu xa nguồn gốc thứ chữ mà dân ta bị ép buộc phải học, và tại sao các nhà văn hóa thời ấy, dù chống lại thứ chữ "ngoại lai" này, nhưng họ vẫn phải xây dựng nó thành "chữ nước ta", như lời giải thích của Phạm Quỳnh, phát biểu ở Pháp năm 1922, mà chúng ta sẽ thấy ở dưới.
Theo linh mục Đỗ Quanh Chính, giáo sĩ Francesco de Pina là người Âu đầu tiên nói thạo tiếng Việt, ông theo cách ghi tiếng Nhật của các giáo sĩ Dòng Tên ở Nhật, để viết tiếng Việt theo mẫu tự la tinh a, b, c… Từ năm 1620, các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An đã soạn thảo một cuốn sách giáo lý bằng "chữ Đàng Trong". Chính Francesco de Pina đã dạy Alexandre de Rhodes tiếng Việt khi ông này đến Đà Nẵng tháng 12/1624. Ngày 15/12/1625 Francesco de Pina bị chết đuối ở Vịnh Đà Nẵng, thi hài ông được đem về chôn tại Đà Nẵng. Alexandre de Rhodes, dựa vào tư liệu de Pina để lại và dùng hai bộ từ điển của Amaral và Barbosa để soạn bộ Từ điển Việt Bồ La (Roma, 1651). Vẫn theo linh mục Đỗ Quang Chính, hai văn bản bằng quốc ngữ, sớm nhất, của người Việt, được biết đến là của thầy Văn Tín, và thầy Benito Thiện với Lịch sử nước Annam 1659) [2].
Nói như vậy, không có nghĩa là các giáo sĩ người Âu và các thầy giảng người Việt đã soạn xong thứ chữ quốc ngữ mà chúng ta dùng ngày nay.
Chữ quốc ngữ của các nhà truyền giáo - còn phôi thai, nghèo nàn, thô thiển, chỉ dành cho giáo sĩ người Âu mới đến Việt Nam học để giảng đạo - không đủ chữ để diễn tả việc đời, việc người, thiếu những danh từ văn chương, khoa học, triết học. Cho nên ban đầu, dù không muốn học thứ chữ "ngoại lai" ấy, dân ta vẫn bắt buộc phải xây dựng một nền quốc văn bằng quốc ngữ để thay thế cho nền văn học Hán Nôm đã bị sa thải, như đã nói ở trên.
Việc xây dựng chữ quốc ngữ thành một ngôn ngữ toàn diện, bình dân và bác học như ngày nay, là nhờ công lao của người Việt, những học giả, nhà văn như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký… trong những năm cuối thế kỷ XIX, và Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh nối tiếp đầu thế kỷ XX, chính họ đã góp phần hình thành và xây dựng chữ quốc ngữ hiện đại với những mốc đầu tiên:
1876 xuất hiện bài ký Chuyến đi Bắc Kỳ của Trương Vĩnh Ký, hai năm trước khi chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức ở trong Nam.
1887 tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời.
1895 phát hành Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, cuốn từ điển đầu tiên bằng chữ quốc ngữ của Việt Nam (soạn từ 1889 đến 1893, in 1895).
Bởi vì Nam kỳ phải dùng chữ quốc ngữ trước, nên người Việt trong Nam phải tập viết quốc ngữ trước. Trong giai đoạn đầu, Trương Vĩnh Ký - Huỳnh Tịnh Của đã có công khai phá, sửa cách viết quốc ngữ của các giáo sĩ Dòng Tên cho chính xác hơn. Trương Vĩnh Ký soạn sử, viết truyện cổ tích, bằng thứ chữ quốc ngữ bình dân, thuần Việt, để ai cũng có thể học và hiểu nhanh chóng. Huỳnh Tịnh Của soạn từ điển. Về mặt sáng tác, Nguyễn Trọng Quản đi tiên phong với tập truyện vừa Truyện thầy Lazaro Phiền, in năm 1887.
Giáo sư Nguyễn Văn Trung là người đầu tiên đã khám phá ra Nguyễn Trọng Quản (Truyện thầy Lazaro Phiền do Vương Hồng Sển cung cấp cho ông) và báo chí, văn chương quốc ngữ phát xuất từ miền Nam, trong bộ Hồ sơ Lục Châu học, soạn trong thập niên 1980-90, viết xong cuối năm 1990. Bản in ronéo bộ sách này được chuyền tay hơn 20 năm trong giới nghiên cứu, nhiều người sử dụng nhưng không đề xuất xứ. Mãi tới năm 2015, mới được in thành sách (nhà xuất bản Trẻ). Sự khám phá của Nguyễn Văn Trung đã làm thay đổi toàn diện quan niệm văn học sử từ trước đến giờ. Bởi vì, trước đó, các nhà nghiên cứu - phần lớn là người Bắc - đã bỏ qua mảng văn học quan trọng này và xác định Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (viết 1922, in 1925) là tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên.
Trương Vĩnh Ký (1837-1898)
Học giả Trương Vĩnh Ký xứng đáng với danh vị nhà trí thức đầu tiên đã xây dựng nền móng cho Việt học bằng chữ quốc ngữ. Vừa là nhà văn, nhà biên khảo, nhà phê bình, uyên bác cả Hán học lẫn Tây học, ông đã giữ địa vị bắc cầu giữa quá khứ Hán Nôm và nền văn học quốc ngữ. Ngoài việc làm từ điển Pháp Việt, Việt Pháp, viết sách sử ký, địa dư, sách về ngữ học, chú trọng đến các vấn đề mẹo, luật trong tiếng Việt, tiếng Pháp; Trương Vĩnh Ký còn phiên âm, phiên dịch, chú giải những sách cơ bản từ chữ Nôm, chữ Hán sang chữ quốc ngữ. Ông đã phiên âm: Việt Nam quốc sử diễn ca, Kiều, Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, v.v... và phiên dịch: Minh tâm bửu giám, Tam tự kinh, Trung Dung, Đại Học, v.v...
Về văn, Trương Vĩnh Ký khai sinh lối viết "bạch thoại", tự nhiên và sống động như lời nói, khác hẳn với lối văn biền ngẫu của người đương thời, mà sau này Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển chịu ảnh hưởng và đưa vào văn học.
Tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam, do chính quyền thuộc địa sáng lập ở Nam Kỳ năm 1865 là tờ Gia Định báo, do Ernest Potteaux đứng tên, Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Trương Minh Ký. Sau này người ta buộc tội Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh "phản quốc" vì họ làm báo cho Tây. Chúng ta nên biết trong thời kỳ ấy, không có có tờ báo nào là không do Tây "làm chủ " vì chỉ Tây mới được quyền đứng tên chủ báo và được chính phủ thuộc điạ công nhận. Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh không làm báo cho Tây, thì chúng ta không có nền văn học quốc ngữ như ngày nay.
Sang thế kỷ XX, báo chí trong Nam bắt đầu với tờ Nông cổ mín đàm của Canavaggio, với Lương Khắc Ninh chủ bút, số 1 ra ngày 1-8-1901. Trong số 1 này, bắt đầu đăng bản dịch Tam Quốc Chí của Trương Vĩnh Ký. Nông cổ mín đàm phát hành với số lượng nhỏ vào những năm đầu. Theo lời rao in trên số 96 (2-7-1903) thì Nông cổ mín đàm có 350 người mua. Tiếp đến là Đại Việt tân báo (1905) của Ernest Babut do Đào Nguyên Phổ chủ bút. Rồi Lục tỉnh tân văn (1909) của Pierre Jeantet, do Trần Nhất Thăng, Trần Chánh Chiếu… thay phiên nhau làm chủ bút.
Điều đáng chú ý là sự phát triển của báo chí và văn học quốc ngữ, đi cùng với ý nguyện viết lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. Bài viết bằng chữ quốc ngữ sớm nhất còn lưu lại của Benito Thiện năm 1659 ở ngoài Bắc là bài Lịch sử nước Annam. Rồi năm 1822, trong Nam có truyện Annam Đàng Trong Đàng Ngoài của T. Bỉnh. Sau đó Trương Vĩnh Ký viết một loạt sách sử bằng tiếng Pháp cho học trò các trường Bảo hộ, đến năm 1915 xuất hiện trường thiên tiểu thuyết lịch sử Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử.
Phải chăng việc phát triển sách lịch sử ở thời kỳ văn học quốc ngữ phôi thai, chính là khuynh hướng yêu nước, xuất hiện dưới hình thức gián tiếp, của các nhà văn hóa đương thời?
Giai đoạn sau, từ 1915 trở đi, sự phát triển nền văn học quốc ngữ xẩy ra một cách toàn diện trên mọi thể loại: Thi ca, tiểu luận, phê bình và tiểu thuyết [3].
Trương Vĩnh Ký
Khi Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của qua đời vào những năm cuối cùng thế kỷ XIX (Huỳnh Tịnh Của mất năm 1897, Trương Vĩnh Ký mất năm 1898) nền văn học quốc ngữ, mà hai ông đã góp phần xây dựng những viên gạch đầu tiên, sẽ khởi sắc trong những thập niên đầu thế kỷ XX, với những tên tuổi mới như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh…
Về tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh trong Nam, rồi tiếp đến Tự Lực văn đoàn ngoài Bắc là những "tác nhân" chính đã đổi mới và hoàn chỉnh nền văn chương quốc ngữ như chúng ta có hiện giờ.
Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh (1985-1958)
Từ những thế kỷ trước, chúng ta đã có những bài văn, những tác phẩm, gọi là truyện ký hay truyện kỳ, như Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, rồi đến những truyện nôm viết bằng thơ như Trê Cóc, Trinh Thử… đến Hoa Tiên, Song Tinh, Kiều, Lục Vân Tiên, v.v... hoặc tiểu thuyết lịch sử như Nam triều công nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí…
Đầu thế kỷ XX xuất hiện nhiều lịch sử tiểu thuyết ở trong Nam, như Phan Yên ngoại sử của Trương Duy Toản (1910), Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Thiên Trung tức Trần Chánh Chiếu (1910), Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử (1915) v.v...
Năm 1912, Hồ Biểu Chánh viết Ai làm được, tác phẩm tiểu thuyết làm thay đổi hẳn cục diện văn chương, trên ba bình diện:
1- Đây là cuốn tiểu thuyết hư cấu hiện đại đầu tiên và có lẽ cũng là cuốn tiểu thuyết quốc ngữ viết theo lối Tây phương đầu tiên của thế kỷ XX. Bởi vì tất cả những tác phẩm trước đây đều viết theo lối kể truyện của Tàu. Vẫn biết Nguyễn Trọng Quản là người viết tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên theo lối Tây, nhưng tác phẩm của ông chỉ có giá trị mở đầu, chữ quốc ngữ của ông còn thô sơ, và ông vẫn thuật lại một truyện do người khác kể lại cho ông. Phải tới Hồ Biểu Chánh, chúng ta mới có tiểu thuyết gia hiện đại đích thực, với thứ ngôn ngữ sống động hàng ngày, với sự mô tả đầy biến hóa. Nhờ lượng viết đồ sộ, 64 cuốn tiểu thuyết, với nhiều chủ đề khác nhau, một mình Hồ Biểu Chánh đã vẽ nên toàn thể bộ mặt xã hội miền Nam dưới thời Pháp thuộc và sau này, mà ở Bắc không một tiểu thuyết gia nào làm được. Có nghĩa rằng chỉ một mình Hồ Biểu Chánh có khả năng miêu tả mọi loại người giàu nghèo, sang hèn, lương thiện, trộm cắp, mọi giai tầng quý tộc, trưởng giả, cùng đinh, đói khổ, mọi loại dân từ thành thị đến thôn quê… ở miền Nam, trong khi những nhà văn Bắc thường chỉ chuyên về một hạng người nào đó, một giai tầng nào đó, như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam thường là loại người có học, trung lưu, thành thị; Trần Tiêu, Ngô Tất Tố chiếu vào đời sống người dân quê; Vũ Trọng Phụng, vào hạng người trụy lạc thành thị, Nguyễn Hồng, vào thế giới trộm cắp, v.v... tất cả những tác phẩm của họ chập lại mới tạo nên toàn thể bộ mặt xã hội miền Bắc.
2- Hồ Biểu Chánh là nhà văn tiên phong trong tiểu thuyết hiện thực xã hội, ông đã tạo dựng một phong cách tiểu thuyết xã hội hiện thực, lối Nam, khác hẳn tiểu thuyết hiện thực xã hội lối Bắc của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, sau này.
Theo sự kê khai của Hồ Biểu Chánh trong cuốn hồi ức Đời của tôi về văn nghệ (bản đánh máy), thì trong toàn bộ 64 cuốn tiểu thuyết của ông, có 11 cuốn cảm tác theo tiểu thuyết Pháp, một cuốn theo tiểu thuyết Nga.
Tác phẩm của ông, dù có dựa trên sườn truyện của Hector Malot hay Victor Hugo, nhưng chúng đã rất xa nguyên bản để tạo ra không khí xã hội, ngôn ngữ và tính chất Việt Nam.
Cùng thời với Hồ Biểu Chánh, ở Bắc, Phạm Duy Tốn viết những truyện ngắn theo lối Tây phương: Bực mình (1914), Sống chết mặc bay (1918), Con người Sở Khanh (1919) và Hoàng Ngọc Phách viết tiểu thuyết Tố Tâm (1925). Nhưng Phạm Duy Tốn, chỉ có một truyện Sống chết mặc bay (1918) là đích đáng. Còn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, cũng chỉ có giá trị nhất thời, vì lối văn biền ngẫu và cốt truyện sầu thảm, nên 10 năm sau đã bị coi là cổ hủ.
3- Cho đến bấy giờ, nước ta chỉ có truyện kể (récit) nghĩa là người viết kể lại một câu chuyện đã nghe được, hay chuyện của chính mình. Ở đây không nói đến trường hợp xưng tôi trong tiểu thuyết mới, chữ tôi đó có nghĩa bản thể, nghĩa là nhà văn chỉ viết những cảm nhận có tính cách bản thể của mình, bởi vì họ đã từ bỏ vai trò thượng đế, nên không thể "vào vai" người khác được. Còn chữ tôi mà ta nói đến ở đây, là cái tôi bình dân dễ hiểu của tất cả mọi người.
Hồ Biểu Chánh là người khai phá lối viết hư cấu, hiện đại, trong lối viết này, nhà văn bỏ hẳn lối kể chuyện cổ điển, để nhập vào các nhân vật, để sự mô tả, và ngôn ngữ của nhân vật nói lên câu chuyện và những gì xảy ra chung quanh.
Từ 1922 đến 1932, Hồ Biểu Chánh đã in được 18 cuốn tiểu thuyết.
Khi Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng ra đời năm 1932, tức là 20 năm sau Ai làm được, văn xuôi quốc ngữ Việt Nam đã đạt tới mức trưởng thành. Bởi vì Hồn bướm mơ tiên không chỉ là một cuốn tiểu thuyết hiện thực mà còn đa chiều, ẩn giấu ý nghĩa triết học trong đời sống con người, tu cũng như tục. Hồn bướm mơ tiên trở thành một giá trị văn học có tầm vóc lớn, về mặt bút pháp cũng như tư tưởng.
Con đường tìm kiếm của Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh kể lại con đường khai phá này trong hồi ký như sau:
"Năm 1906 ra khỏi nhà trường, nhận thấy các ấn quán ở Sài Gòn mướn người dịch truyện Tàu và thơ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ đặng in mà bán. Từ thành thị ra thôn quê, nhơn dân đua nhau mà đọc. Có vài tờ tuần báo cũng được người ta chú ý.
Thầm nghĩ, người mình mà biết chuyện bên Tàu không bổ ích cho bằng biết truyện trong nước mình. Tính viết chuyện văn vắn cho đăng vào mấy tờ tuần báo để đồng bào đọc thử. Viết khó khăn hết sức, vì thiếu nho học nên không tìm ra lời mà tả trí ý cho người ta thông cảm được. Phải học chữ Nho. Trót ba năm, nhờ vài ông bạn lớn tuổi ban đêm làm ơn dạy giùm cho đọc được sách Tàu.
Năm 1910, lựa những chuyện hay trong Tình Sử và Kim Cổ Kỳ Quan dịch ra Quốc văn nhan đề "Tân soạn cổ tích" đặng tập viết cho suông. Cũng viết theo thể văn "Thượng lục hạ bát" thành một chuyện dài nhan đề "U tình lục" chuyện tình của người trong nước mình. Hai quyển này được mấy bạn hùn tiền in thử thì không ai chê.
Lúc đó cụ Trần Chánh Chiếu cho xuất bản quyển "Hoàng Tố Oanh hàm oan" là tiểu thuyết đầu tiên trong Lục tỉnh, truyện tình tả nhơn vật trong xứ và viết theo điệu văn xuôi. Đọc quyển này, cảm thấy viết truyện dùng văn xuôi dễ cảm hóa người đọc hơn, bởi vậy năm 1912, đổi xuống làm việc tại Cà Mau mới viết thử quyển "Ai làm được" là quyển thứ nhứt viết văn xuôi tại Cà Mau với nhơn vật cũng ở Cà Mau" [4].
Hồ Biểu Chánh tập viết quốc ngữ từ năm 1906.
Ông sinh ngày 1-10-1885. Từ 8 đến 12 tuổi, học nhữ nho. 13 tuổi, học trường Tiểu học tổng Vĩnh Lợi, rồi lên trường tỉnh Gò Công, trường trung học Mỹ Tho (1902-1903), trường Pháp Chasseloup-Laubat (1904-1905). Năm 1905 ông đậu bằng thành chung.
Nhỏ học chữ Nho, lớn học chữ Tây, vẫn chưa đủ; năm 1906, khi quyết định viết văn quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh vẫn phải học thêm chữ Nho và dịch sách chữ Hán ra quốc ngữ, trước khi viết văn. Đến năm 1912, ông mới viết tiểu thuyết đầu tiên Ai làm được. Hồ Biểu Chánh và Khái Hưng đều học trường Pháp, hành trình cùng học chữ nho của họ, có gì rất giống nhau.
Nguyễn Văn Vĩnh - Phạm Quỳnh - Phạm Duy Tốn
Phạm Quỳnh (1892-1945)
Miền Bắc bị Pháp chiếm sau, nên việc học quốc ngữ chậm hơn. Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh vừa đi Pháp về, được mời làm chủ bút tờ Đại Nam đăng cổ tùng báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Bắc kỳ, do Schneider sáng lập. Năm 1910, Nguyễn Văn Vĩnh vào Nam làm chủ bút Lục Tỉnh tân văn. Rồi đến năm 1913, ông lại trở ra Hà Nội làm chủ bút Đông Dương tạp chí, vẫn do Schneider sáng lập.
Phan Khôi xuất hiện từ 1907 trên Đăng cổ tùng báo.
Tới 1917, Phạm Quỳnh ra làm chủ bút tờ Nam Phong với sự cộng tác của Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi. Được hai năm, vì bất đồng ý kiến với Phạm Quỳnh, Phan Khôi bỏ Nam Phong vào Sài Gòn viết cho Lục Tỉnh tân văn.
Tản Đà xuất hiện lần đầu năm 1913 trên Đông Dương tạp chí. Năm 1916, in thi tập đầu tiên: Khối tình con. Năm 1921, chủ trương tạp chí Hữu Thanh.
Năm 1917, Phủ Toàn quyền quyết định ra báo Nam Phong, với ba phần: Pháp văn, Hán văn và Quốc ngữ; Nguyễn Bá Trác phụ trách phần Hán văn và Phạm Quỳnh phần Quốc ngữ.
Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là hai nhà dịch thuật và biên khảo, đã xây dựng nền móng văn học quốc ngữ ở miền Bắc trên hai tờ Đông Dương và Nam Phong tạp chí.
Cùng thời điểm đó, Phạm Duy Tốn viết truyện ngắn Sống chết mặc bay in trên Nam Phong số 18 (tháng 12-1918), tác phẩm quốc ngữ hiện đại đầu tiên, ở Bắc.
Theo Phạm Quỳnh, tuy chính quyền thuộc địa chủ trương "mở mang" quốc ngữ, nhưng, sự phục hưng tiếng Việt qua quốc ngữ không được người Pháp biết đến, kể cả những người đã "Việt hóa" nhất, họ chỉ học tiếng Việt cốt để nói dăm ba câu chuyện hàng ngày, chứ họ không cần biết đến văn chương, văn hóa Việt Nam. Chính quyền thuộc địa vẫn ngầm giữ ý định sẽ thay thế Hán văn bằng Pháp văn, và họ định cho học trò học tiếng Pháp từ lớp vỡ lòng, gạt hẳn tiếng Việt ra ngoài, như đối với các thuộc địa Châu Phi.
Năm 1922, thừa dịp được toàn quyền Maurice Long cử sang Pháp diễn thuyết tại các trường lớn, Phạm Quỳnh (cùng đi với Nguyễn Văn Vĩnh) đã đọc bốn bài diễn văn bảo vệ quốc âm, thỉnh nguyện chính quyền Pháp giữ lại tiếng Việt trong các trường tiểu học.
Những bài diễn thuyết này được đăng báo ở Pháp trước, rồi in trên Nam Phong phần Pháp văn và sau này in lại trong cuốn Những bài tiểu luận Pháp Việt mới (Nouveaux essais franco-annamites), nxb Bùi Huy Tín, Huế, 1938.
1. Ngày 25-5-1922, Phạm Quỳnh bắt đầu với bài Sự tiến hóa của tiếng An-nam (L’évolution de la langue annamite[5], đọc tại Trường Sinh ngữ Đông phương (École des Langues Orientales vivantes) Paris, ông đã nói về tình trạng ngôn ngữ ở Việt Nam (xin tóm tắt những ý chính):
Trải ngàn năm bị Tàu đô hộ, văn chương Việt Nam chia làm hai loại: bác học (chữ Hán) và bình dân (chữ Nôm). Tiếng nói dân tộc bị coi thường, chữ Nôm bị khinh rẻ. Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du, một đại văn hào xuất hiện, đưa thứ ngôn ngữ thông tục lên hàng kiệt tác với Truyện Kiều. Công Nguyễn Du đối với quốc âm cũng giống như công của Ronsard, Rabelais đối với tiếng Pháp. Chữ quốc ngữ, do các linh mục Tây Phương đặt ra với mục đích truyền giáo, nhờ Trương Vĩnh Ký và Paulus Của cải thiện, được truyền bá rộng rãi ở Nam Kỳ, cuối thế kỷ XIX.
Rồi ông kể đến tác dụng của Tân thư:
Khoảng 1900, sau khi Tàu thua Nhật, người Tàu bắt đầu du học Âu Mỹ; khi về nước, họ đã dịch đủ loại sách Tây phương, từ Darwin, Kant, đến Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot, sang chữ Hán. Đó là những Tân thư. Các nhà nho Việt đọc Tân thư và dịch lại những danh từ khoa học, kỹ thuật, triết học, mà người Hoa đã dịch sang chữ Hán.
Sau cùng ông nói đến việc làm của thế hệ Tây học:
Khi lớp người Tây học (chúng tôi) bắt đầu dịch các sách Tây Phương sang tiếng Việt, thì đã có sẵn kho danh từ Hán-Việt do các bậc đàn anh, dịch từ chữ Hán sang.
Và ông nhấn mạnh:
"Chữ quốc ngữ hiện đại hình thành và giàu mạnh, là nhờ sự cộng tác chặt chẽ giữa hai phái Nho học và Tây học".
Tiếp đó, ông giải thích sự hình thành chữ quốc ngữ hiện đại, như sau:
Nói là mượn tiếng Tàu thì cũng không đúng hẳn: Thực ra, để tạo ra chữ mới, tiếng Việt cũng như tiếng Cao Ly, Nhật, quan thoại, đều mượn chữ Hán, hệt như người Âu mượn chữ La tinh, Hy Lạp. Khi các bạn viết: électro-dynamique thì cũng giống như chúng tôi dùng từ Hán-Việt vậy. Tại sao phải dùng từ Hán Việt? Ví dụ intuition dịch là trực giác, trực là thẳng, giác là thấy, dễ hiểu hơn là phiên âm thành anh-tuy-di-on hay giải nghĩa dài dòng sang tiếng Việt. Nhưng có những tiếng có thể dịch thẳng sang tiếng Việt, như l’aréoplane thành tàu bay hoặc automobile phiên âm thành ô tôla gare thành nhà ga. Về tên riêng, chúng tôi phiên âm tên Napoléon thành những từ Hán Việt Nã Phá Luân, bởi ba chữ này có âm vang chiến đấu; Washington thành Hoa Thịnh Đốn vì âm vang thanh nhã hợp với đất kinh thành [6].
2. Ngày 31/5/1922 ông diễn thuyết ở Ecole Nationale de la France d’Outre-Mer, thường được gọi là Trường Thuộc địa (Ecole Coloniale) với đề tài: Sự tiến hóa về đường tinh thần của người Việt Nam từ khi nước Pháp đặt Bảo hộ (L’évolution intellectuelle et morale des Annamites depuis l’établissement du Protectorat français)Trường Thuộc địa là trường dạy những người Pháp sẽ sang Việt Nam làm công chức trong chính quyền thuộc địa.
Phạm Quỳnh nói cho "các quan cai trị tương lai" biết rằng: nếu các bạn muốn thành công thì nên học tiếng Việt, tìm hiểu văn hóa Việt. Mọi sự đàn áp đều đưa đến hậu quả khôn lường.
Nước Pháp đến nước chúng tôi đã nửa thế kỷ. Chuyện đã rồi, chúng tôi đành phải chịu.
"Nhưng đối với lớp đàn anh chúng tôi, thì chẳng qua quý quốc cũng chỉ là một giống "xâm lược" mà thôi". "Trừ là một dân tộc hèn mạt suy đốn, chứ có bao giờ người dân một nước lại giương tay ra đón lấy kẻ ngoại quốc đến cưỡng chiếm nước mình".
Và ông nhấn mạnh:
"Sự căm thù khiến chúng tôi coi việc học tiếng Pháp và học vần quốc ngữ do người Tây phương đem lại là một cái nhục".
Nhưng dần dần, sĩ phu của chúng tôi cũng phải thừa nhận sự yếu kém của nước mình, và họ đã tìm đọc những tư tưởng tiến bộ của J.J. Rousseau, Montesquieu qua những cuốn Tân thư của Trung Hoa, từ đó phát xuất phong trào Đông Du. Họ muốn trông cậy vào Tàu, Nhật để đuổi Pháp ra khỏi xứ sở, mà biến cố 1908 [Trung kỳ dân biến] là cao điểm.
Ông kết luận bài diễn văn hết sức khôn khéo:
"Chúng tôi là một dân tộc cổ kính có một nền văn hóa lâu đời, ngày nay muốn hội nhập vào thế giới hiện đại, nhưng dứt khoát không muốn từ bỏ nền văn minh, cái quá khứ mà tổ tiên đã để lại qua nhiều thế kỷ. Chúng tôi muốn là chính mình. Muốn giữ lấy bản sắc của mình, giữ lấy cái quốc hồn quốc túy của dân tộc mình.
Vì sự tình cờ của lịch sử, chúng tôi phải chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Chúng tôi muốn được nước Pháp giúp đỡ trong công cuộc cải cách, bởi nước Pháp là một cường quốc, thông qua lịch sử, luôn luôn góp phần vào công cuộc tranh đấu giải phóng con người".
3. Ngày 5/7/1922, Phạm Quỳnh diễn thuyết ở Hội Ái hữu Đông phương (Société française des amis de l’Orient) với đề tài: Thi ca Việt Nam (La poésie annamite).
Bài này giới thiệu hai mảng thi ca quan trọng nhất của Việt Nam là ca dao và Truyện Kiều. Vào đề, ông nói ngay:
"Thi ca của dân tộc nào là đặc biệt của dân tộc ấy, không thể dịch ra tiếng nước khác được. Dịch tức là diệt. Mà muốn dịch, lại phải thông thạo cả hai thứ tiếng. Tôi có thể tự hào biết rõ tiếng nước tôi, nhưng làm sao tôi biết hết những tinh vi trong tiếng Pháp, vậy tôi dịch phải sai nhiều lắm. Muốn thưởng thức thơ nước tôi, các bạn chỉ có cách học tiếng Việt".
Sau đó ông dịch một số câu ca dao và giải thích những cái hay tuyệt vời không thể dịch sang tiếng Pháp được, ví dụ hai chữ chiều chiều dịch thành soir soir thì làm sao nói được nỗi buồn với dư âm day dứt tiềm ẩn trong âm thanh chiều chiều.
Ông tìm mọi cách để thuyết phục chính quyền Pháp một lần nữa: đừng bắt học trò Việt Nam phải học tiếng Pháp từ nhỏ như học trò ở các thuộc địa Châu Phi, bởi vì nước chúng tôi có một nền văn chương chữ Nôm kiệt xuất qua ca dao và truyện Kiều, và tôi đã mang sang Pháp một bản dịch truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh đây này, các ông xem đi, tôi khuyên các sinh viên sinh ngữ, ngoài tiếng Việt hàng ngày, nên học văn chương Việt Nam, học thêm chữ Nho, để hiểu những danh từ Hán Việt và hiểu tiếng Việt.
"Muốn thưởng thức thơ nước tôi, các bạn chỉ có cách học tiếng Việt".
4. Ngày 22/7/1922, Phạm Quỳnh diễn thuyết tại Hội Hàn Lâm Luân lý Chính trị học (Académie des Sciences morales et politiques) đề tài: Một vấn đề giáo dục giống nòi. Nước Pháp phải giáo hóa người An Nam như thế nào? (Un problème d’éducation des races. Comment doit-être faite l’éducation des Annamites par la France?). Đây là bài quan trọng nhất, bàn thẳng vào chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam, từ những dòng đầu, ông đã nhắc khéo đến vị thế, quyền lực và sự uyên bác của các vị Hàn lâm:
"Tòa Hàn Lâm của Đại Pháp, là nơi tẩu trạch [7] những ngài học vấn uyên thâm, khôn ngoan tài trí của quý quốc…" [8]
Tiếp đó, ông nhận xét tình hình: Chúng tôi đã bị Pháp đô hộ hơn 40 năm nay. Bởi yếu thế về chính trị, nên đã không "đủ sức chống lại một kẻ xâm lược vừa giỏi vừa mạnh hơn nhiều". Chúng tôi thua trận vì: "nước chúng tôi là gốc ở một cái văn minh rất cổ ở Á Châu, trong bao nhiêu thế kỷ tựa hồ như cách biệt với thế giới bên ngoài".
Trước Hàn Lâm Viện Pháp, Phạm Quỳnh xác định một lần nữa: Pháp là kẻ xâm lược, sau nông nỗi mất nước buổi đầu, những phần tử ưu tú của đất nước chúng tôi mới nhận thức được sự yếu kém về học thuật của mình, muốn được thấm nhuần "cái học thuật và cái văn minh nhân đạo" của nước Pháp. Chúng tôi là một dân tộc bị áp bức, trông chờ nước Pháp - cái nôi của nhân quyền và giải phóng con người - giúp đỡ, học hỏi để trở thành một nước tân tiến.
Tóm lại: chúng tôi rất mong được giáo hóa, nhưng quý quốc định giáo hóa chúng tôi như thế nào? Sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi, dường như quý quốc chưa tìm được giải pháp nào ổn thỏa.
Nếu chúng tôi là một dân tộc vô văn hóa, hay một dân tộc mới, vừa xuất hiện trên mảnh đất tân bồi nào đó, không có quá khứ, không có lịch sử, thì việc "giáo hóa" có thể đơn giản là "Tây hóa" cho thành người Pháp.
Nhưng dân Việt Nam chúng tôi, không thể ví như tờ giấy trắng được. Dân tộc chúng tôi là một quyển sách cổ (un vieux parchemin) đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay; không có thuốc gì xóa hẳn được thứ chữ ấy đi. Không ai có quyền tự do muốn viết gì vào đấy thì viết được. Quyển sách cổ ấy, có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang, nhưng không thể đem in một thứ chữ nước ngoài lên trên các dòng chữ cũ được".
Giả thử có một ngày bao nhiêu trẻ con An Nam đều biết nói mấy câu tiếng Tây "ba rọi" (petit nègre), nhưng lại quên tiếng nước mình, vì không còn được dạy ở trường nữa, thì đó có phải là thời tiến bộ của nước tôi không?
Hiện nay, chưa có nghị định nào bắt người An Nam phải học thuần tiếng Pháp cả, nhưng chữ An Nam chỉ có một địa vị rất nhỏ ở cuối bậc tiểu học mà thôi. Thử hỏi chính phủ Pháp có thể trông cậy vào những người An Nam học ở bên Tây, đỗ kỹ sư, tiến sĩ, mà quên cả tiếng mẹ đẻ, thì đối với dân mình, chỉ là những người xa lạ, làm sao có thể truyền bá cái văn minh Tây phương cho họ được?
Vậy nền giáo dục của chính phủ Bảo hộ, muốn có kết quả tốt thì phải đào tạo được những người Việt Nam chân chính, vừa có cái học thái tây, vừa biết giữ gìn ngôn ngữ, phong tục của nước mình. Vì dân tộc tôi mà tôi tha thiết mong các danh sư của Viện Hàn Lâm Pháp soi xét vần đề này [9].
Bốn bài diễn văn của Phạm Quỳnh đọc năm 1922 tại Paris đã có tác dụng. Chính phủ Pháp bỏ ý định cho trẻ con học toàn tiếng Pháp từ lớp vỡ lòng.
Phạm Thế Ngũ viết: "Đến năm 1924, vì nhiều nguyên nhân chính trị, và cũng vì chiến dịch vận động của Phạm Quỳnh, người Pháp lần đầu ở Bắc và Trung, lập ra một bậc Ấu học ở Việt Nam trong ba năm hoàn toàn học bằng tiếng Việt để thi lấy bằng Sơ học yếu lược.(…)
Phạm Quỳnh coi đó là một thắng lợi trong công cuộc vận động giáo dục, thực hành chủ nghĩa quốc gia về đường văn hóa. Cũng như một thắng lợi khác nữa của ông là việc mở một khoa "Ngôn ngữ và văn chương Hán Việt" ở trường Cao đẳng mà ông đã được cử phụ trách giảng dạy, một thứ mầm mống của Đại học văn khoa sau này" [10].
Như vậy, Phạm Quỳnh có công thuyết phục Pháp lập bậc tiểu học tiếng Việt. Nhờ ông, Pháp đã giữ lại tiếng Việt ở bậc tiểu học, cái công đó không phải là nhỏ.
Tóm lại, sau Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, đến phiên Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, xây dựng, phát triển và phổ biến chữ quốc ngữ.
Nam Phong quay lại những giá trị của Nho học, Phật học, dịch những sách chữ Nho có giá trị như Vũ trung tùy bút, và bắt đầu giới thiệu triết học Tây phương. Danh từ triết học được mở rộng với Nam Phong thập niên 1920-1930. Năm 1942, Hoàng Xuân Hãn cho in từ điển Danh từ khoa học, chúng ta mới tương đối có đủ chữ quốc ngữ để dùng trong học thuật.
Về mặt sáng tác, Nam Phong số 18 (tháng 12-1918), đã đăng truyện vừa Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, với cái tít: Một lối văn mới, cùng lời giới thiệu trân trọng của Phạm Quỳnh. Sống chết mặc bay là truyện ngắn hiện đại đầu tiên ở miền Bắc, viết theo lối hiện thực tả chân. Nhưng Phạm Duy Tốn viết ít, và ông mất sớm (ngày 25-2-1924) vì bệnh lao, nên lối văn rất mới của ông chưa kịp phát triển, chưa tạo được một phong trào, trong khi đó giọng điệu lãng mạn, than mây khóc gió, phát triển, nở rộ trên Nam Phong và làm chủ văn đàn miền Bắc.
Tuyết Hồng lệ sử
Trên Nam Phong, từ số 77 (tháng 11-1923) đến số 84 (tháng 10-1924), Phạm Quỳnh cho đăng Tuyết Hồng lệ sử của Từ Trẩm Á, do Mai Khê dịch, một truyện tình đầy nước mắt, được Đoàn Hiệp "người sao lục" giới thiệu như một truyện mới (xảy ra đầu năm 1909), văn mới. Đây là cuốn nhật ký của người thanh niên tên Mộng Hà, Từ Trẩm Á "tình cờ" có được, nên gửi đến độc giả.
Nhật ký bắt đầu từ tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1909), Mộng Hà, được một người bạn giới thiệu cho một chỗ dạy học, tại trường của Thạch Si. Chàng lại được cụ Thôi đề nghị cho ở trọ nếu chàng nhận kèm đứa cháu tên Bằng Lang, 8 tuổi. Mẹ Bằng Lang là Bạch Lê Ảnh, con dâu cụ Thôi, góa chồng, trẻ, đẹp, giỏi thơ văn.
Rồi "ngày xuân lần lửa, én lại oanh về, ngọn gió lơ phơ, giọt mưa lấm tấm, trông ra cây lê thì hoa đã rụng đầy vườn: đa tình ta lại cười ta, yêu hoa là tính, thương hoa là tình", Mộng Hà bắt chước Giả Bảo Ngọc trong Hồng lâu mộng, nhặt những cánh hoa rụng đem chôn. Lê Ảnh, nép sau dậu cây, sụt sùi nước mắt. Hai tâm hồn đồng điệu gặp nhau trở thành tri kỷ. Họ trao đổi thơ từ, ngâm vịnh. Nhưng Lê Ảnh biết mình không thể lấy được Mộng Hà [11], bèn làm mối chàng cho Quân Thiến, cô em chồng, cũng trẻ đẹp, tài hoa, không kém. Quân Thiến chỉ muốn sống tự do, không thích ràng buộc gia đình, nhưng phải nghe lời chị dâu và cha. Lê Ảnh thấy sự hy sinh của mình vô ích, còn làm em chồng đau khổ, nàng thổ huyết chết, để lại thư tuyệt mệnh cho Mộng Hà và Quân Thiến. Đọc thư chị dâu, Quân Thiến thổ huyết chết theo, chưa kịp cưới. Mộng Hà cũng định chết theo, nhưng người anh khuyên chàng nên đi du học, giúp nước. Truyện Tuyết Hồng lệ sử chấm dứt ở đây. Trước Tuyết Hồng lệ sử, Từ Trẩm Á đã viết truyện Ngọc lê hồn, với đoạn kết: Mộng Hà, trong khi đi xung trận để bảo vệ tổ quốc, bị thương nặng, nằm trên một cánh đồng, gặp một người đi ngang, chàng rút tập nhật ký của mình trao lại và nhờ phổ biến, rồi mới chết. Người này trao lại cho Từ Trẩm Á.
Tuyết Hồng lệ sử văn chương trau chuốt, có rất nhiều thơ (dịch) hay. Lối văn biền ngẫu xen lẫn tả thực, có chỗ hấp dẫn. Tuy nhiên nằm trong lối sáng tác cổ điển, có những giả tạo đến độ kỳ khôi: yêu nhau đến chết như thế, sao không đem nhau đi trốn cho rồi, hơi đâu "hy sinh" cho mệt xác. Mà hy sinh cho người yêu lấy em chồng, ra vào gặp nhau, làm sao "hy sinh" nổi. Rồi bất cứ gì cũng khóc, cũng ốm liệt giường, cũng thổ huyết chết.
Lúc đó người ta thích đọc loại truyện như vậy, đó là cái gu thời đại, Tuyết Hồng lệ sử là sách gối đầu giường cho một thế hệ nam nữ. Cái tai hại là thất tình mua sách đọc rồi thi nhau đi tự tử.
Hoàng Ngọc Phách - Nhất Linh
Tố Tâm và Nho phong
Năm 1922, Hoàng Ngọc Phách viết Tố Tâm (in 1925), cũng là một truyện tình đẫm lệ thời thượng: Tố Tâm - Đạm Thủy yêu nhau tha thiết nhưng, Đạm Thủy đã trót hứa hôn. Mẹ Tố Tâm bệnh nặng, bắt con gái phải lấy chồng trước khi bà chết. Tố Tâm vâng lời. Bà mẹ chữa khỏi bệnh, còn nàng, một tháng sau khi về nhà chồng, thổ huyết chết, để lại những bức thư tình đớn đau tuyệt vọng.
Tố Tâm viết hay, câu văn cổ nhưng cấu trúc truyện chặt chẽ, cũng là cuốn tiểu thuyết gối đầu giường của thanh niên thời ấy. Trong một thời gian dài, Tố Tâm được coi là tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Việt Nam, không đúng, vì Hồ Biểu Chánh đi trước Hoàng Ngọc Phách.
Năm 1924, Nguyễn Tường Tam viết Nho phong (in năm 1926), cùng lối viết như Tố Tâm, nhưng không có chết chóc. Nho Phong bút pháp mới hơn, nhưng không hay bằng Tố Tâm. Lê Nương trong Nho phong là người đàn bà, đã cam phận, đã chịu đựng, đã hy sinh. Tuy nàng có trổi dậy, chống lại cuộc hôn nhân dàn xếp, chứ không chịu trận như Tố Tâm; nhưng cuối cùng nàng vẫn mong sự "vinh quy bái tổ muộn màng" của một thời đại đã qua. Nhất Linh cho Nho phong là cổ, nên sau này ông không in lại. Trên Phong Hóa số 15 (29/9/1932), Đông Sơn (Nhất Linh) đã thẳng tay đưa ma Nho phong cùng với những tác phẩm than khóc khác trong bức tranh trào phúng Một đám ma vui.
Đông Hồ - Tương Phố
Linh Phượng của Đông Hồ
Nam Phong số 128 (tháng 4-1928), đăng Linh Phượng, tập lệ ký của Lâm Trác Chi tức Đông Hồ với lời giới thiệu ân cần của Thượng Chi (Phạm Quỳnh).
Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969), sống ở Hà Tiên, là một trong những người tha thiết cổ võ cho quốc ngữ, thường gửi bài cho Nam Phong. Ông là người Nam nhưng viết văn tiếng Bắc, văn ông gọn và mới. Linh Phượng là tên vợ và cũng là tên bài lệ ký viết về người vợ mới chết, gửi đăng ngay, nên có sức nóng bốc ra từ chữ. Lệ ký này đớn đau mà khô ráo vì lệ không rơi ra ngoài. Mặc dù bài văn có nhiều cái chết, nhưng không giả tạo, tác phẩm mộc mạc, chân thành, ít thấy trong số văn thơ than khóc thời bấy giờ. Ông kể lại từ lúc vợ chớm bệnh đến lúc chết, đám tang, chôn cất, thăm mộ, bằng một giọng tự nhiên, không làm văn và cũng không khóc than thảm thiết. Vợ mất ngày 19-4-1928, nàng lấy chồng năm 1921, sinh con gái đầu lòng Mỹ Tuyên, rồi sinh thêm hai lần nữa, con trai, đều chết. Đứa bé sau vừa chết 20 ngày thì mẹ cũng chết theo.
"Tôi thay quần áo cho nàng. Than ôi! Từ ngày về với tôi - năm 18 tuổi, năm nay 25 tuổi - bảy năm nay tôi chưa hề biết thay áo chải đầu cho lần nào. Bây giờ tôi biết thay áo, chải đầu cho thì nàng đã chẳng còn rồi".
Bài lệ ký Linh Phượng, chân thật, giản dị, tự nhiên, có lẽ vì vậy nên độc giả thời ấy cho là tầm thường, không nổi tiếng như Giọt lệ thu của Tương Phố.
Giọt lệ thu, Tương Phố
Tương Phố (1896-1973), tên thật là Đỗ Thị Đàm, sinh tại Bắc Giang, nguyên quán Hưng Yên, trước học trường Nữ Hộ sinh, Hà Nội rồi bỏ dở, sau học trường Nữ Sư phạm. Theo những gì bà viết trong Giọt lệ thu, ta được biết: Năm 17 tuổi (1915), bà kết duyên với TVD [Thái Văn Du, em quan Thượng thư Thái Văn Toản]. Năm 1916, vừa mới sinh con trai đầu lòng, chồng lên đường sang Pháp học y khoa ở Marseille. Con vừa đầy tháng, bà bế con ra Bắc sống với cha. Cuối năm 1919, chồng bị bệnh phổi, phải trở về Huế, chưa gặp lại vợ con, đã mất ngày 25-7-1920.
Bài Giọt lệ thu ở dưới đề: Viết ở sông Thương mùa thu năm Quý Hợi (1923). Năm 1925, bà tái giá với quan tuần phủ Phạm Khắc Thành. Năm 1928, bà gửi bài Giọt lệ thu cho Nam Phong, được đăng trên số 131 (tháng 7-1928), với lời giới thiệu ưu ái của Thượng Chi (Phạm Quỳnh). Tương Phố trở thành "ngôi sao" trên nền thơ hồi ấy.
Giọt lệ thu là một bài văn xen lẫn thơ, viết theo lối Tuyết Hồng lệ sử, kể lại câu chuyện tình của bà, mở đầu như sau:
Trời thu ảm đạm một mầu
Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em
Trăng thu bóng ngả bên thềm
Tình thu ai để duyên em bẽ bàng!,
Anh ơi! thu về như gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang, em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại; hỏi ba sinh hương lửa, thời ân ái kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau? Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu, chăn gối vừa êm, lửa hương mới bén, sát cầm dìu dặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn bình tan gương vỡ cho người dở duyên! Than ôi! minh dương đôi ngả, gió mây hội ấy, anh đi đi mãi, năm tháng thường về, người không dấu vết. Em muốn tìm anh, tìm chẳng thấy…"
Thơ Tương Phố hay, cái hay cổ điển. Văn bà chải chuốt, đối xứng. Thơ văn của bà chưa thoát khỏi những mẫu mực của thế kỷ XIX.
Năm 1930, bà gửi bài Tái tiếu sầu ngâm đăng trên Nam Phong số 147 (tháng 2-1930), trong mục văn uyển, bài này làm sau khi tái giá, diễn tả phận mình, gái góa, con côi, phải lấy chồng [làm quan nhưng có lẽ già và khó] để có chỗ nương thân, nhưng không tìm được hạnh phúc:
E dè buổi gió chiều mưa,
Con côi mẹ góa, dễ nhờ nương đâu?
Bước đi âu cũng thương nhau,
Dừng chân đứng lại cơ mầu dở dang.
Dây loan chắp nối đoạn tràng,
Ngâm câu "tái tiếu" hai hàng lệ sa!
Năm 1931, bà gửi bài Khúc thu hận, đăng trên Nam Phong số 164 (tháng 7-1931), thuộc dòng thơ ai oán, khóc than thân phận bẽ bàng:
Kể từ độ phong trần lạc bước
Mười lăm năm mặt nước cánh bèo
Gieo lòng theo ngọn thủy triều
Lên đênh thôi cũng mặc chiều nước sa!
Con măng sữa này đà mười sáu,
Chốn hầu môn nương náu đức dầy,
Sách đèn cơm áo bấy nay,
Vì con nuốt hết chua cay cuộc đời!
(Bệnh viện Nam thành, thu năm Tân vị - 1931)
Có nhiều chỗ khó hiểu trong đời bà: Năm 1916, khi chồng đi du học, tại sao bế con ra Bắc ngay mà không ở lại nhà chồng, như phong tục hồi ấy? Rồi khi chồng bị lao, trở về nước cuối năm 1919, mãi đến giữa năm 1920, mới mất, tại sao bà không đưa con về Huế thăm chồng? Bà có chuyện lục đục với nhà chồng chăng, hay vì lý do gì khác? Năm 1925, bà tái giá. Im lặng trong ba năm. Không hiểu tại sao, bài Giọt lệ thu lại được gửi đi năm 1928, có phải vì bài Linh Phượng của Đông Hồ đã thúc đẩy?
Dù sao chăng nữa, sự than van cách biệt Nam Bắc với chồng khi còn sống, dường như giả tạo, tự mình gây ra, bởi vì nếu muốn, bà đã giải quyết được. Vậy ta có thể coi cái chết của người chồng chỉ là cái cớ để Tương Phố làm thơ, mùa thu hay khóc lóc đều giả tạo. Thơ Tương Phố nối tiếp truyền thống Chinh phụ ngâmCung oán ngâm khúc, bằng chữ quốc ngữ, đưa ra mối sầu của người góa phụ khóc chồng.
Trong buổi giao thời ấy, văn thơ quốc ngữ còn bị giam trong vần điệu, bị chi phối bởi những hình ảnh sáo mòn, tình cảm giả tạo.
Tự Lực văn đoàn đã phiêu lưu trên con đường học tập viết văn quốc ngữ, quyết đánh đổ niêm luật trong thơ, sự đối xứng trong văn, chôn những chết chóc triền miên, diệt những sướt mướt trong tư tưởng đương thời, chủ trương đổi mới ngôn ngữ, thành lập một nền văn chương quốc ngữ hiện đại và trong sáng cho tiếng Việt: Sự khác biệt sau xa giữa Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng (1932), cho thấy bước tiến khổng lồ mà Tự Lực văn đoàn đã thực hiện được, ngay từ năm đầu tiên xuất hiện.

Chú thích:

[1] Trần Văn Chi, Gia Định Báo, in trong Kỷ yếu và triển lãm hội thảo Trương Vĩnh Ký do Ban tổ chức xuất bản tại Cali, năm 2019.
[2] Theo Đỗ Quanh Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn, 1972.
[3] Theo bài Sự hình thành và phát triển nền văn học quốc ngữ trong thế kỷ XX của Thụy Khuê, in trên báo Văn Học số 165-166 (tháng 1 và 2 năm 2000), California, viết theo tài liệu trong Hồ sơ Lục Châu học của Nguyễn Văn Trung.
[4] Trích hồi ký Đời của tôi về văn nghệ của Hồ Biểu Chánh, bản đánh máy.
[5] Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số 69 (3/1923) và số 70 (4/1923).
[6] Để biết thêm về Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác và Nam Phong, xin xem Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, chương 22: Vụ án Nam Phong, nxb Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ, 2012. In trên mạng: thuykhue.free.fr
[7] Tẩu trạch là chỗ đất thấp có nước và cỏ, chữ của Phạm Quỳnh, bản tiếng Pháp ông viết sanctuaire (chính điện, hay thánh địa).
[8] Trích theo bản dịch sang tiếng Việt của Phạm Quỳnh, in trong Nam Phong số 71 (5/1923).
[9] Ở đây cũng vậy, chúng tôi chỉ tóm tắt những ý chính trong bài diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm của Phạm Quỳnh, Những đoạn in nghiêng là nguyên văn tiếng Pháp, chúng tôi dịch sang tiếng Việt.
[10] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, quyển 3, Anh Phương Ấn quán, 1965, Sài Gòn, Đại Nam, Hoa Kỳ chụp in lại, trang 150.
[11] Vì nàng là góa phụ, đã có con.
Đổi mới ngôn ngữ và tư tưởng 
Từ câu văn trong Phép giảng tám ngày của Alexandre de Rhodes [1]:
Ta cầu cũ [2] [cùng] đức chúa blời [trời] giúp sức cho ta biết tó tưầng [tỏ tường] đạo chúa lạ nhuầng [nhường] nào, vì bậy [vậy] ta phải hay ở thế nầy chẳng có ai sóũ [sống] lâu; vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuẩi [tuổi] chẳng có nhềo [nhiều]” [3]
đến câu văn quốc ngữ ngày nay, không ai chối cãi được công lao của các thầy giảng người Việt những thế kỷ trước, của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và các học giả cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong những bước đầu xây dựng và phát triển nền văn học quốc ngữ.
Tuy nhiên, ta cũng phải công nhận lối viết “gió chiều hoa sớm, bể ái chứa chan, phượng họa loan ca, tình thơ bát ngát” của Tuyết Hồng lệ sửGiọt lệ thu… vì được Nam Phong phổ biến, đã “làm chủ văn đàn”, khiến những người viết văn làm thơ thập niên 1920-1930, phần lớn đều rập theo “con đường bi thảm” ấy.
Sự khóc than trở thành “lẽ sống”, là “nỗi đau thời đại”. Câu văn biền ngẫu (đối xứng) là mẫu mực của cái đẹp. Cũng vì lẽ đó mà Tự Lực văn đoàn chế giễu Nam Phong, bởi nơi đây tập trung những ngòi bút nho học, chưa thoát khỏi câu văn cổ điển, là điểm phát xuất lối văn bi thảm, ảnh hưởng sâu sắc Trà hoa nữ (La dame aux camélias) (1848) của Alexandre Dumas fils và Tuyết hồng lệ sử (1909) của Từ Trẩm Á.
Tóm lại, Nam Phong vừa quảng bá học thuật (triết học Đông Tây) và phát triển chữ quốc ngữ, lại vừa kìm hãm sự đổi mới, vì học giả Phạm Quỳnh, người chủ chốt, viết một thứ quốc ngữ nặng từ Hán Việt, và các cộng tác viên Nam Phong vẫn còn chuộng văn biền ngẫu. Tình trạng mâu thuẫn này được chính các nhà văn, dịch giả trong Nam Phong giải thích như sau:
Trả lời phỏng vấn của Lê Thanh, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục (người dịch bộ Luận ngữ và bộ Mạnh Tử cùng với Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trên Nam Phong) cho biết về nội bộ tờ báo:
Khi ấy, ông Phạm Thượng Chi đứng chủ nhiệm kiêm chủ bút; về Hán văn có ông Tiêu Đẩu [Nguyễn Bá Trác], sau khi ông này vào kinh làm việc, có ông Sở Cuồng [Lê Dư] vào thay; ông Đông Châu [Nguyễn Hữu Tiến] làm việc dịch thuật Hán Văn, còn tôi, ngoài việc dịch thơ đăng vào mục Văn uyển chuyên về mặt văn chương, viết những bài nghị luận về văn học, triết lý, viết những mục du ký, hài văn…” [4]
Sau đó, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục cho biết quan điểm của ông về cách viết tiếng Việt:
Tiếng Nam ta cũng như tiếng Tầu, là tiếng độc âm, cái đặc sắc của nó là sự đối ngẫu trong câu văn. Mình sao nhãng sự cân đối là mình bỏ mất cái đặc sắc của văn chương mình” [5]
Trúc Khê (Ngô Văn Triện), một nhà văn trẻ hơn, người đã dịch Ngọc Lê Hồn của Từ Trẩm Á sang quốc ngữ, kể lại lối viết của ông hồi ấy:
Thế mà nay trời bầy vân cẩu, đất đổi tang thương, nhà tan một khắc, mình giạt đôi phương… văn tiểu thuyết của tôi hồi trước viết kỳ cục đến thế! Vì tôi đã dịch cuốn tiểu thuyết Ngọc Lê Hồn của Từ Trẩm Á, nên chịu ảnh hưởng lối văn của nhà văn sĩ này. Và ông cho biết thêm: Mãi đến năm 1938, khi ra Hà Nội, đọc được những tiểu thuyết mới, ông mới viết các cuốn Nát ngọc, Hồn về, Trăm lạng vàng, khác hẳn lối văn ngày trước [6].
Tuy nhiên có một trường hợp đặc biệt mà chúng ta không thể quên, là học giả Trần Trọng Kim và Việt Nam sử lược, cuốn lược sử đầy đủ và trung thực nhất vì ông dựa vào hai bộ chính sử của nước ta là Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện, khác với một số người viết sau ưu tiên dựa vào sách của các sử gia thực dân như Maybon, Taboulet, Thomazi… để đưa ra một số điểm được cho là “mới”, nhưng sau khi khảo sát, thì đó chỉ là những sự ngụy tạo lịch sử.
Điểm quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là học giả Trần Trọng Kim đã viết Việt Nam sử lược ngay từ năm 1916 [7] (in năm 1918), không những đây là quyển sử đầy đủ đầu tiên của nước ta viết bằng quốc ngữ [8] mà ông còn viết với thứ chữ quốc ngữ hiện đại, bỏ hẳn lối văn biền ngẫu, vì thế Việt Nam sử lược mới có thể đến được với toàn dân và ở lại lâu dài đến thế; rất đáng buồn là hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cuốn sử lược nào trung thực có thể thay thế được.
Trước tình trạng đó, một vấn đề cấp thiết được đặt ra: cần phải đổi mới ngôn ngữ và văn chương. Nhưng phải đổi mới như thế nào? Thực hiện sự đổi mới không dễ dàng, bởi vì cả thành trì cũ vẫn còn ngự trị trong đầu óc người viết và người đọc.
Chủ trương đổi mới của Khái Hưng
Khái Hưng mở đầu phong trào đổi mới trên Phong Hóa, với bài xã luận Một câu hỏi, ký tên Trần Khánh Giư, in trên Phong Hóa số 3 (30-6-1932), trực tiếp đặt câu hỏi: tại sao không cho con gái đi học? Ông lên án chế độ cũ, không cho con gái đi học để dễ đàn áp. Bởi “Có học mới biết xét đoán mà hấp thụ lấy một lý tưởng hoàn mỹ. Có học mới biết lựa chọn cái hay, ruồng bỏ cái dở, có học mới biết so sánhBài đầu tiên của Khái Hưng trên Phong Hóa bênh vực phụ nữ, phản ảnh tư tưởng đổi mới xã hội từ nguồn cội của ông. Trước Khái Hưng, Phan Khôi đã nêu vấn đề này trên Phụ Nữ Tân Văn từ giữa năm 1929, vì vậy, có sự đồng tình giữa hai nhà văn, và họ còn gặp nhau ở một điểm nữa, đó là việc xây dựng nền thơ mới, như ta sẽ thấy, trong một chương sau.
Chủ trương đổi mới ngôn ngữ của Khái Hưng, bắt đầu bằng sự đào thải căn bệnh “buồn khổ” trước, rồi mới thay đổi cách viết câu văn sau.
1- Đào thải bệnh sầu não, tự tử
Ảnh hưởng các vụ tự tử tràn lan trên sách truyện thời ấy, con người lấy tự tử làm phương tiện giải thoát, rồi trở thành mốt thời thượng.
Trên Phong Hóa số 6 (21-7-1932), Khái Hưng viết bài “Các vở kịch và cái nạn phụ nữ quyên sinh” ký tên Phong Hóa, chỉ trích một vở kịch đang được trình diễn, lấy tự tử làm vũ khí bảo vệ danh dự người phụ nữ, bởi vì, theo lập luận thời ấy, nếu không “dùng” tự tử thì “vở kịch sẽ không thể là vở bi kịch được. Bi kịch phải có tự tửKhái Hưng nhắc lại đoản thiên tiểu thuyết Cái rổ bông của Tchya: “Lê Sinh chẳng muốn sống, ra hồ Hoàn Kiếm tự tử. Bỗng thấy trong đám cỏ có cái rổ bông đựng một đứa con mới đẻ: sự chết gặp sự sống. Lòng thương nhân loại, cái nhân loại bé nhỏ, hèn yếu, khốn nạn như vừa lọt vào trong trái tim của anh chán đời”, làm thí dụ. Và ông kết luận: “Vậy trước khi quyên sinh, ta hãy tìm xem có đứa hài nhi nào để cứu không, có còn chỗ thương nào để buộc cho nhân loại không, ta sẽ thấy rằng dẫu ta sống đến mấy trăm tuổi, các việc ta nên làm vẫn chưa hết”.
Trong bài xã luận “Đừng âu sầu phiền não in trên Phong Hóa số 10 (18-8-32), mở đầu cho chiến dịch “tiễu trừ sầu não” của Tự Lực văn đoàn, Khái Hưng ký tên Phong Hóa, viết:
Cái bệnh khóc lóc lướt mướt, phiền não âu sầu vẫn là cái bệnh chung của con nhà ngâm vịnh. Nhất là bọn ngâm vịnh dở dang ở nước ta gần nay lại càng quá lắm. Động cầm bút viết thơ là thấy rung rủng những ôi! những thôi! những sầu, những thảm. Nào than thân thì: “Trần thế lòng ta chán sạch rồi”, nào than tình thì “nhớ tình nhân lệ sầu như sương”, nào than phong hóa suy đồi, than quốc hồn tiêu diệt thì bao giờ cũng phải lôi mấy câu sáo rích ra, những “ôi! dân hai mươi triệu, nước bốn nghìn năm”, những “ôi, con rồng cháu tiên, chồi Hồng mầm Lạc!”
Hơn một tháng sau, trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932) trong bài tiểu luận viết về Thơ ký tên Văn Lực, Khái Hưng chủ trương bỏ tất cả những hình thức sáo mòn, sao chép thơ cổ điển.
Rồi Phong Hóa số 15 (29-9-1932) đưa ra chủ đề “chôn” sầu thảm, để nhấn mạnh và phụ họa với những điều Khái Hưng đã viết trên Phong Hóa số 10, Việt Sinh (Thạch Lam) viết bài xã luận Sầu thảm nhiều rồi và Đông Sơn (Nhất Linh) vẽ tranh hài hước Một đám ma vui, tất cả tập trung đánh vào thành trì cái cũ, cái chết chóc, thi đua tự tử.
2- Đổi mới văn chương
Khái Hưng, mở đầu mục Văn Học trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932), bằng bài tiểu luận viết về Thơ, ký Văn Lực, chủ trương bỏ hết niêm luật gò bó trong thơ cổ điển, bỏ tất cả những thành ngữ sáo mòn: “Tả người mỹ nữ thì bao giờ cũng phải: nghiêng nước nghiêng thành, nhạn sa cá nhẩy, xanh như liễu, gầy như mai, làn thu thủy nét xuân sơn. Tả thời gian thì phải: vùn vụt như tên bay, bóng ngựa qua cửa sổ. (…) Sự giản tiện nhất cho ta là phê một chữ bỏ. Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ. Nghĩa là tóm tắt: Đừng bắt trước [chước] cổ nhân. Thơ ta phải mới: mới văn thể, mới ý tưởng.
Trên Phong Hóa số 15 (20-9-1932), mục Văn học có bài Quốc văn nó đi như sao Văn Lực [Khái Hưng] viết về đề tài quốc văn: Ông đặt vấn đề cần phải đổi mới văn chương, với câu hỏi: Tại sao ta ít sách? Và ông trả lời, vì hai lẽ:
1- Ngày trước văn tầu, các cụ thích, các cụ viết. Ngày nay văn tây, ta học. Ta học để lấy mảnh bằng. Còn văn ta? Ta bỏ. Ta khinh. Chán!
2- Thiếu ý sáng kiến, lối văn mới ta không có (…) ta viết bá láp, lăng nhăng. Hoặc ta theo người xưa: lòng thòng.
Còn ý tưởng? Càng tệ. Càng cũ. Không mấy khi giám bước ra ngoài lũy tre trí thức nước Lỗ (Khổng Mạnh) và nước Sở (Lão Tử).
Quốc văn muốn giàu phải có nhiều lối. Nhiều lối mới. Lối cũ nào không hợp thời: ta phích!
Lại có tư tưởng mới.
Mới lên.
Nào chúng ta dúng tay vào việc. (Phỏng theo lối văn Hoàng Tích Chu).
Văn Lực
Đọc đoạn văn trên, với lối viết câu một chữ, hai chữ, ba chữ… ta tưởng là văn Mai Thảo. Không! Đó là văn Khái Hưng và ông còn ghi rõ, ông viết phỏng theo lối văn Hoàng Tích Chu.
Điều này chứng tỏ Khái Hưng thích lối văn mới của Hoàng Tích Chu, và ông sẽ nối tiếp con đường này, sau khi Hoàng Tích Chu qua đời, để đặt nền móng cho một nền văn chương quốc ngữ mới, gọn gàng, trong sáng, trên Phong Hóa.
Nhất Linh phỏng vấn Nguyễn Mạnh Tường
Không phải tình cờ mà Nguyễn Mạnh Tường ở trong số rất ít người đã suy nghĩ về cách đổi mới văn chương quốc ngữ.
Ông sinh ngày 16-9-1909 tại phố Hàng Đào, Hà Nội và mất ngày 13-6-1997, tại phố Tăng Bạt Hổ, Hà Nội. Trước tiên ông là người nổi tiếng học giỏi. Năm 1925, 16 tuổi, ông đậu tú tài triết học hạng ưu, được học bổng sang Montpellier du học. Trong thời điểm Nhân Văn Giai Phẩm, ông nổi tiếng với bài “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm lãnh đạodiễn thuyết ứng khẩu trong sáu tiếng tại Mặt trận Tổ quốc ngày 30-10-1956, sau viết lại thành văn bản. Đây là bài chính luận sâu sắc nhất, phân tích những sai lầm trong cải cách ruộng đất ở thôn quê, cải tạo tư sản và quản lý mậu dịch ở thị thành, chỉ ra nguồn cội sai lầm đến từ chế độ chính trị không dân chủ và đề nghị thay đổi: thực hiện thể chế nhà nước pháp quyền dưới chế độ dân chủ.
Trở lại thập niên ba mươi, năm 1927, Nguyễn Mạnh Tường đỗ cử nhân văn chương, năm 1930, đậu cử nhân Luật. Tháng 5-1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ Luật, đề tài: Cá nhân trong xã hội Việt Nam cổ - Tổng luận Luật Hồng Đức [9]Tháng 6-1932, bảo vệ luận án tiến sĩ Văn chương, bài chính là Giá trị bi kịch trong tuồng của Alfred de Musset [10] và bài bổ túc: An Nam trong các tác phẩm của Jules Boissière [11].
Tháng 9-1932, Nguyễn Mạnh Tường về nước, cùng lúc với Bảo Đại. Pháp muốn ông làm Thượng thư, nhưng ông từ chối, nên bị làm khó dễ. Ba tháng sau ông quay trở lại Pháp [12] và đi Âu Châu trong năm năm, đến năm 1936, mới trở về Hà Nội [13].
Nguyễn Tường Tam sang Pháp du học trong khoảng 1927-1930. Sau khi đỗ cử nhân Vật Lý, ông trở về Hà Nội cuối năm 1930. Nguyễn Mạnh Tường về Hà Nội tháng 10-1932, sau khi đã đến Sài Gòn và diễn thuyết về văn chương ở đây.
Được tin, Nguyễn Tường Tam đến thăm bạn cũ:
Ông Nguyễn Mạnh Tường là người Annam đầu tiên đỗ bằng văn khoa tiến sĩ, lại là người đỗ luật khoa tiến tiến sĩ còn trẻ nhất từ xưa tới nay (…)
Tôi đến thăm ông, nửa là tình bạn, nửa lấy tư cách nhà báo - đến thăm ông để ôn lại cuộc đời lý thú còn cùng nhau học một tỉnh [Montpellier], trọ một nhà, để gợi những sự vui buồn trước, những kỷ niệm đáng ghi trong quãng đời niên thiếu.
Mới đầu không định phỏng vấn, chỉ chuyện trò, rồi thành câu chuyện, vì thế, trên Phong Hóa số 16 (6-10-1932) có bài Nói chuyện với ông Nguyễn Mạnh Tường, ý chính dựa trên hai câu hỏi:
Tại sao ông lại chọn Alfred de Musset làm đề tài cho luận án văn chương?
Nguyễn Mạnh Tường trả lời (xin tóm tắt): Đề tài luận án văn chương và luận án luật khoa của tôi có mối liên lạc với nhau, cùng chủ đích làm sao cho người Annam và người Pháp hiểu nhau hơn. Tôi chọn Musset là tác giả tiêu biểu cho văn chương Pháp và tôi đem cái hay trong luật của ta [luật Hồng Đức] giới thiệu với người Pháp. Tôi còn làm thêm một luận án nữa về thi sĩ Jules Boissière, để tỏ rằng Pháp “cũng có người hiểu ta, mến ta, mà cái tình người một nước đối với người nước khác có thể gây nên những áng văn chương tuyệt tác như vậy.
Câu hỏi chính thứ nhì:
Về đây, ông muốn làm trạng sư hay dạy học?
Nguyễn Mạnh Tường trả lời, đại ý:
Tôi muốn dạy học và viết sách để truyền bá tư tưởng, trong khi chờ đợi sách ra thì tôi diễn thuyết.
Bài nói chuyện này đã “gợi ý” cho Khái Hưng viết bài “chất vấn” ông nghè Nguyễn Mạnh Tường trong số báo kế tiếp và bài trả lời của Nguyễn Mạnh Tường tạo thành cuộc đối thoại về vấn đề đổi mới quốc văn.
Khái Hưng trao đổi với Nguyễn Mạnh Tường
Trên báo Phong Hóa số 17 (13-10-1932), trong mục Văn Học, Văn Lực (Khái Hưng) viết bài Để còn hỏi ông nghè Nguyễn Mạnh Tường, chất vấn Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề: Phải đổi mới văn học, nhưng đổi mới bằng cách nào?
Trước hết, Khái Hưng trở lại sự đổi mới trong văn học Pháp, ông viết:
Từ thế kỷ XVI, Ronsard đã cải cách thi ca Pháp, đặt ra nhiều điệu mới, thế kỷ XVII, Corneille, Racine, Molière chấn chỉnh bi kịch và hài kịch, đều lấy văn Hi-La ra làm mẫu. Vậy nếu ta cũng thử đem Pháp văn mà bổ khuyết cho quốc văn, thì ông nghĩ sao?
Sau khi duyệt lại nền văn thơ cổ điển của ta, Khái Hưng nhận thấy rằng: Văn thơ ta rập theo lối Trung Hoa, đã trở thành quy củ, có những ưu điểm và khuyết điểm nhất định, nhưng có một điều: Pháp văn từ thời Montaigne (thế kỷ XVI) đến nay đã biến chuyển rất nhiều, nhưng nếu đem văn chương nước ta, thời Lý Thường Kiệt (thế kỷ XI), thời Lê Thánh Tôn (thế kỷ XV), ra so sánh với thơ Nguyễn Khuyến, sẽ thấy chữ nghĩa dùng không khác nhau một ly.
Và ông đưa ra ba câu hỏi:
- Ta không chịu cải cách, vì thiếu sáng kiến hay vì sợ cái mới?
- Ta có nên dựa vào văn Tàu và văn Tây để xây dựng một nền văn chương giàu có hơn không?
- Bao giờ ta mới có một nền quốc văn xứng đáng?
Nguyễn Mạnh Tường trả lời ba câu hỏi của Khái Hưng trong hai bài Bàn về quốc văn, in trong mục Văn Học (Phong Hóa số 18, 20-10-32 và số 19, 27-10-32), ông đi trực tiếp vào vấn đề:
- Quốc văn có nên dùng các văn chương ngoại quốc, nhất là văn Pháp và Trung Hoa làm mẫu chăng?
- Tôi trả lời không ngần ngừ: nên lắm.
Văn minh của loài người có bắt chước mới có tiến.
Ông lập luận tiếp: Bất cứ dân tộc nào, nền văn minh nào, cũng chỉ có thể tiến bộ nhờ những kinh nghiệm học hỏi của những dân tộc khác. Bắt chước, là sự cần thiết của nhân loại. Nhưng khó khăn là phải biết bắt chước như thế nào? Về văn chương, bắt chước là phỏng theo các lối văn, các cách viết mới, thích hợp với sự cần thiết của dân tộc. Bắt chước không có nghĩa là viết y hệt như tiếng Pháp, tiếng Hoa, mà phải viết chữ Annam, và viết như thế nào? Những nhà văn cổ điển của Pháp bắt chước La-Hy, nhưng họ đã uốn theo nề nếp phong tục của dân Pháp. Nhà văn Việt Nam có thể theo ý tưởng của nhà văn Pháp, Trung Hoa, nhưng đừng viết nguyên văn chữ Pháp, chữ Tàu, mà phải viết chữ Annam, và đem cái ý tưởng Pháp, Hoa ấy, hòa quyện trong tâm hồn Việt Nam, mới được.
Bao giờ ta mới có được nền quốc văn đích đáng?
Cái đó tôi không biết được. Có lẽ phải đợi hai thế kỷ.
Rồi ông phân tích: Các nhà văn Pháp đã bắt đầu bắt chước từ khi bị La Mã chinh phục. Trong suốt thời Trung Cổ, các nhà văn Pháp chỉ viết văn bằng tiếng La Tinh. Đến thời Phục Hưng, cuộc canh tân của nhóm Thất hiền [14] cũng bị ít nhiều thất bại. Phần lớn công trình trước tác của Ronsard không ai hiểu nổi. Phải đợi đến thế kỷ XVII mới thực sự có một nền văn chương Pháp.
- Trong thời kỳ xây dựng nền quốc văn thì văn chương bình phẩm [phê bình] quan trọng như thế nào?
- Văn bình phẩm có tầm quan trọng của nó, vì nó có thể kiến chỉnh [xây dựng và chỉnh đốn] cái sở thích của công chúng và dẫn đạo sự bắt chước của nhà văn. Nhà bình phẩm chỉ cho nhà văn cách bắt chước thế nào, thì được vẻ tân kỳ, đặc biệt, tránh khó hiểu và thích hợp với tri thức Annam. Nhưng trở nên một nhà bình phẩm cũng không phải dễ dàng, phải có kiến thức sâu rộng. Nhà văn cũng vậy, phải biết nhiều, học rộng. Có học mới có thể viết được.
Điều tôi muốn khuyên các văn sĩ tương lai là đừng quên việc dịch văn. Dịch văn là một cách tập viết văn rất công hiệu. Muốn hiểu một áng văn, cách tốt nhất là đem dịch áng văn ấy sang tiếng Việt. Dịch, không những là cố hiểu, và còn phải chuyển điều mình đã hiểu sang quốc văn. Văn chương Pháp phần lớn nhờ vào các dịch giả của thế kỷ XVI. Amyot, lưu danh trên văn đàn Pháp, chỉ là một dịch giả mà thôi. Và tôi [Nguyễn Mạnh Tường], tôi dám chắc rằng ông Nguyễn Văn Vĩnh sẽ là một nhà dịch văn đáng ghi tên trong lịch sử văn chương nước Nam. Tôi muốn nói thêm một điều nữa, là chỉ nên bắt chước cái lối viết mà thôi, còn ý tứ, tư tưởng, trong bài văn, là phải của mình. Một phần lớn văn chương của Ronsard không lưu truyền cho hậu thế, bởi vì không những ông ta bắt chước văn thể, mà lại còn sao chép y hệt tư tưởng của cổ nhân. “Nhiều người cho rằng có một nền văn chương cổ điển và một nền văn chương lãng mạn. Lầm. Chỉ có độc nhất một nền văn chương: ở tay người viết, viết ra, viết cho người đọc, đọc, mà thôi. Nếu có khác nhau là ở chỗ: “nhà cổ điển ngắm kẻ khác để tả người, còn nhà lãng mạn thì tự ngắm mình để tả người”.
Tiếc rằng, sau hai bài viết này, Nguyễn Mạnh Tường trở lại Âu Châu năm năm, nên không góp phần vào việc đổi mới ngôn ngữ và xây dựng nền văn chương quốc ngữ, trong giai đoạn chủ yếu này. Khi ông về nước năm 1936, Tự Lực văn đoàn đã hầu như hoàn tất “sứ mạng” đổi mới.
Hoàng Tích Chu
Hoàng Tích Chu và cuộc đổi mới ngôn ngữ
Hoàng Tích Chu (1897-1933) là nhà báo, ông là người đã thực hành việc đổi mới ngôn ngữ ở miền Bắc, sau Phạm Duy Tốn.
Hoàng Tích Chu được coi là “ông tổ văn mới” [15]; kém Khái Hưng một tuổi; đã đi Pháp hai lần để học nghề làm báo. Là anh của họa sĩ Hoàng Tích Chù (1912-2003) và kịch tác gia Hoàng Tích Linh (1919-1990), người đã tham gia Nhân Văn Giai Phẩm.
Hoàng Tích Chu cho rằng: nói tiếng Việt là một chuyện, nhưng khi phải viết tiếng Việt thành một câu văn quốc ngữ lại là chuyện khác. Ông kể lại chuyện: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh đều tập viết quốc ngữ bằng cách dịch chữ Pháp và chữ Hán. Phạm Quỳnh dùng nhiều chữ Hán, nên câu văn nặng nề. Nguyễn Văn Vĩnh dịch thoát ý, dùng nhiều tiếng thuần Việt nên câu văn nhẹ nhàng, sáng sủa hơn.
Hoàng Tích Chu cũng tập viết quốc ngữ bằng cách viết hai cuốn sách khi ông ở Pháp từ 1923 đến 1926.
Từ 1921 Hoàng Tích Chu đã viết cho Nam Phong và báo Khai Hóa của Bạch Thái Bưởi. Năm 1923, ông vào Sài Gòn xuống tàu làm phụ bếp, qua Hồng Công, Thượng Hải rồi sang Pháp học toán để sinh sống, và học nghề báo trực tiếp bằng cách đọc báo hàng ngày. Ông học được ở Pierre Bertrand lối viết ngắn, gọn và ông nhận thấy “báo giới nước Pháp trọng nhất người viết giỏi mục việc vặt, viết được việc vặt tức là viết được thời sự, viết được các bài đại luận.
Trong thời gian ở Pháp ông viết hai cuốn sách: Quân chủ với Âu Châu sau trận chiến tranh năm 1914 và Tự do ngôn luận trong hồi cách mệnh nước Pháp. Viết xong hai cuốn sách này, ông thấy mình viết văn dễ dàng hơn. Sách đem về in ở Sài Gòn, Hoàng Tích Chu kể lại: “Diệp Văn Kỳ đã bình phẩm trên Đông Pháp thời báo là nó “cộc”, vì có khi một câu chỉ có một, hai, ba chữ. Ông lại chê là nó “vụn”, vụn vì mỗi câu một ý.
Năm 1926, ông về nước cùng với Đỗ Văn [16]. Năm 1927, ông trở lại Pháp, nghe các buổi diễn thuyết về nghề báo và dự các buổi thuyết giảng ở đại học. Năm 1929, trở về nước, ông được mời làm chủ bút Hà Thành Ngọ Báo của Bùi Xuân Học, ông lập mục “Câu chuyện hàng ngày” và thực hiện sự cải tổ quốc ngữ, chủ trương viết văn trong sáng, ngắn gọn, nhưng độc giả đã quen với lối văn dài dòng, cân đối, không thích, viết thư chỉ trích. Một làn sóng chống lối văn Hoàng Tích Chu nổi lên. Ông bị xỉ vả là “văn cộc”, “văn chó mửa”, chẳng ra Tàu cũng chẳng ra Tây. Thục Điểu (Ngô Tất Tố) là một trong những người kịch liệt đả kích. Nhưng Phan Khôi hết sức ủng hộ [17].
Tháng 11-1929, Hoàng Tích Chu, Phùng Bảo Thạch và Tạ Đình Bính (cha Tạ Trọng Hiệp) bỏ Hà Thành Ngọ Báo, sáng lập Đông Tây tuần báo, tờ báo đổi mới đầu tiên trên đất Bắc. Thành công. Ngày 28-5-1932, Đông Tây ra hàng ngày, nhưng chỉ hai tháng sau, thì bị đình bản (25-7-1932). Hoàng Tích Chu cộng tác với Thời Báo, đến số 20, lại bị cấm.
Phong Hóa mời Hoàng Tích Chu
Phong Hóa số 14 ra đời, tháng 9 năm 1932, hai tháng sau khi Đông Tây của Hoàng Tích Chu bị đình bản.
Khái Hưng, Nhất Linh, mời Hoàng Tích Chu cộng tác, nên mới có bài Những việc chính cần biết trong tuần lễ này của Thiện Căn, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32), mà tôi đoán chắc là của Hoàng Tích Chu. Sau đó, trên Phong Hóa số 19 (27-10-32) còn có vở hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem của H.T.C. và trên Phong Hóa số 22 (18-11-32) lại có hài kịch Mọt đục cứt sắt của H. Thiện Căn. Tiếp đến Phong Hóa số 25 (9-12-32) có bài Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát Tót, Juillet) của HTC.
Trừ khi có ai chứng minh được HTC là tên người khác, tôi chắc chắn đó là tên của Hoàng Tích Chu, vì ở thời ấy, không mấy ai viết được tiếng Việt, mới và hay như vậy.
Ba tác phẩm này cho phép ta xác định lối viết và sự cách tân quốc ngữ của Hoàng Tích Chu. Và có thể quả quyết cả Khái Hưng lẫn Nhất Linh đều chịu ảnh hưởng của Hoàng Tích Chu.
Nhất Linh đi Pháp du học sau Hoàng Tích Chu, ông cũng đã “học” nghề làm báo ở Pháp bằng cách đọc báo Pháp như Hoàng Tích Chu.
Nhất Linh đem cái hài hước của báo Pháp vào Phong Hóa nhưng ông chưa nghĩ đến việc đổi mới ngôn ngữ. Khái Hưng chủ xướng việc đổi mới ngôn ngữ nhưng chưa nghĩ đến việc đem tranh hài hước vào báo Phong Hóa. Hai nhà văn này luôn luôn đi đôi và bổ sung cho nhau.
Việc đổi mới ngôn ngữ trên Phong Hóa là do Khái Hưng tìm tòi và chủ xướng, ông chịu ảnh hưởng của Hoàng Tích Chu. Ngoài ra, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và Thế Lữ, đều phải tự học để có thể viết bất cứ mục nào cũng được, theo đúng nguyên tắc làm báo của Hoàng Tích Chu: “người viết giỏi mục việc vặt, viết được việc vặt tức là viết được thời sự, viết được các bài đại luận”.
Chỉ cần so sánh văn Khái Hưng trên Phong Hóa số 1 (16-6-1932) với văn ông trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932), ta đã thấy có chuyển biến sâu xa, đến Phong Hóa số 20 (4-11-1932), với Hồn bướm mơ tiên lần đầu xuất hiện, Khái Hưng đã sáng tạo cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, khai sáng một ngôn ngữ văn chương mới lạ, hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu, đẫm nước mắt, thời ấy.
Kịch hài hước của Hoàng Tích Chu
Phong Hóa số 19 (27-10-1932) đăng một hài kịch, có tên bí hiểm và dài lòng thòng:
D.P.T.M.N.T.UT.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem. Vở kịch, được đề Kịch Phong Hóa là một cách giới thiệu trang trọng, với minh họa của Mac (chắc Nguyễn Gia Trí).
Các nhân vật trong vở kịch này có một nét đặc biệt: toàn bọn “râu quặp”, có vợ thuộc loại “sư tử cáihai dấu hiệu này, sẽ trở thành “muôn thủa” như Tú Bà và Sở Khanh.
Bảy vị tu mi, họp kín trong một phòng hội đồng, lập hội, đặt tên là “Đông Pháp Tu Mi Nam Tử Úy Thê Ái Hữu Tương Tế Hội (nói vắn tắt là hội sợ vợ). Nhưng phải giữ bí mật, nên họ phải viết tắt D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H.
Trong bài diễn văn khai hội, vị chủ tịch tương lai, viện dẫn nhiều trường hợp vĩ nhân kim cổ không thoát khỏi cảnh ngộ bị vợ sư tử đàn áp:
… Để đến nỗi vị đế vương thay trời trị nước, mà về đến tư cung cũng xếp cả uy quyền dưới chân hoàng hậu, tay đại tướng cầm vạn mã thiên binh, nơi chiến trường hét ra lửa, mà về nơi trướng gấm phòng loan, cụp hết oai phong lẫm liệt trước mắt phu nhân. Chuyện xưa còn ghi chép: Trụ Vương mất nước, Từ Hải bỏ mình, cũng chỉ vì sợ vợ. Ôi! nghĩ đến mà tủi, mà nhục, đáng khóc ra huyết! Cử tọa gạt nước mắt rồi vỗ tay.
Hoàng Tích Chu, không những chỉ dùng chữ thuần Việt, mà còn đem cái cười, cái châm biếm vào đời sống, làm đảo lộn trật tự Khổng Mạnh, vén màn cho ta thấy cái khôi hài của nước mắt, sự hèn mọn của quyền uy. Trong một xã hội bị áp bức, người dân không có quyền cười. Tha hồ khóc lóc, than van thả cửa, nhưng cười là trái phép, thường bị kiểm duyệt, bị cấm, nhất là cái cười này lại chiếu vào các bậc vua chúa, anh hùng.
Trên Phong Hóa số 22 (18-11-1932) có hài kịch Mọt đục cứt sắt của H. Thiện Căn. Số báo 22 này dùng toàn lực tấn công vào các ông nghị. Vở kịch có bốn vai: Bá Phú, đại phú ở Hà Nội; Tư Lợi, bạn bòn tiền của Bá Phú; Chủ bút báo Con Đỉa, bồi bút và thằng nhỏ con ở của Bá Phú.
Tư Lợi và Chủ Bút đến dụ Bá Phú bỏ tiền ra ứng cử nghị viên thành phố. Mọt đục cứt sắt đánh thẳng vào sự lừa bịp trong bầu cử: Chủ bút báo Con Đỉa dụ Bá Phú ra tranh cử: Y sẽ viết giùm chương trình tranh cử (Bá Phú vô học) với các mánh khóe mị dân, hứa hẹn hão, cốt sao dụ được người ngu tin cậy bỏ phiếu cho mình. Y sẽ cò mồi, viết bài tán tụng công đức Bá Phú và viết bài đánh phe đối thủ. Khi đã trúng nghị viên rồi, thì tha hồ ăn đút lót, làm giàu. Mọt đục cứt sắt không chỉ vén màn lên hài kịch bầu cử dân biểu thời thuộc địa, mà dường như đã nói lên bộ mặt trái của tất cả những cuộc bầu cử, kể cả ở các nước dân chủ ngày nay.
Hoàng Tích Chu là người mở đầu cho lối viết châm biếm hiện đại mà Hoàng Đạo sẽ là người nối tiếp.
Chân dung Lý Toét của Hoàng Tích Chu
Phong Hóa số 25 (9-12-1932) có bài Cụ Lý Toét đi xem Hội chợ của HTC, đăng cùng trang 7 với bài Ba Ếch đi xem Hội chợ của Nhất Linh. Đây là lần đầu tiên nhân vật Lý Toét - đã có hình vẽ trên Phong Hóa từ số 14 (22-9- 32) số 15 (29-9-1932) và số 16 (6-10-1932) - nhưng chưa có tên, nay mới biết tên là Lý Toét. Không những có tên mà còn được mô tả cả tính tình, ngôn ngữ và hoàn cảnh xã hội. (Lý Toét và Xã Xệ sẽ có một chương riêng).
Hoàng Tích Chu mô tả Lý Toét như vầy:
Đã hai năm nay, cụ Lý Toét có ra Hà Nội một lần để xem “Cát Tót” [14 Juillet]. Nay nhân dịp hội chợ, bác cả Toe, con giai cụ, lại nhắn cụ ra chơi dối già, một lần nữa (…)
Lúc vào cửa, cụ Lý Toét bị chen, trên đầu thì xổ cả khăn, tung cả búi tóc, dưới chân thì họ xéo tụt cả giầy, khốn đốn mới qua được cái cửa quay. (…) Bới lại cái “búi chấy”, quấn lại cái khăn lượt mầu nước dưa cho chỉnh, cụ lý đi nghênh ngáo mọi nơi. Mỗi hàng một vẻ, lộng lẫy, rực rỡ như động tiên, cụ chẳng biết nên xem đâu trước, đâu sau, ngơ ngẩn cả người như mán về đồng bằng vậy. (…) Đi qua dan hàng máy hát, réo rắt dọng hát chèo, sen tiếng nhị, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng thanh la, nghe rõ mồm một. Cụ ngây cả người không biết tiếng hát ở đâu mà ra. Một lát thấy im. Trong cửa hàng có một người ra rút cái giây, kéo một cái hộp đen treo ở giữa cửa xuống, rồi ngấy ngoáy một lúc, lại rút cái giây treo cái hộp lủng lẳng lên, rồi lại nghe thấy tiếng hát sẩm. Cụ lẩm bẩm: “Họ có phép quỷ thuật”.
Đến trước cái cửa kính một hiệu kia, cụ thấy rõ ràng một ông tây mũ áo chỉnh tề, ngồi chễm chọe, sung quanh mình bầy la liệt nào vải, nào nhiễu, nào dạ đủ các thứ mùi. Cụ hỏi bác cả Toe: “Quan lớn đây chừng là chủ hiệu này? Bác cả đáp: “Đó là một người gỗ, mặt bằng sứ, mắt bằng thủy tinh, để mặc áo”. Bấy giờ cụ mới mở mắt to tướng, có ý nhìn kỹ, thì quả không thấy “quan lớn cậy cựa”.
Vừa rồi, không có tiếng người mà có tiếng hát. Bây giờ rõ ràng người hẳn hoi, lại không phải người thật.
Ai còn biết đường nào mà mò”.
Không những Hoàng Tích Chu mô tả hình dạng, y phục, tâm lý Lý Toét, tạo ra bức hình mẫu cho những họa sĩ chuyên nghiệp hay nghiệp dư dựa vào để vẽ tranh Lý Toét sau này, mà ông còn đưa cả ngày Cát Tót [14 Juillet] thiêng liêng của mẫu quốc ra làm trò cười: đối chất cái quê mùa (chân thật) của Lý Toét với cái văn minh (giả dối) của Tây phương: Máy hát có tiếng hát mà không có người. Người bày ra tủ kính lại là người giả!
Sự “nghĩ thầm” trong bụng của Lý Toét, trước những “sản phẩm tiến bộ” của Tây phương như máy hát, người mẫu, do Hoàng Tích Chu “nghĩ ra”, được thực hiện trên bức tranh dưới đây, vẽ Lý Toét ra tỉnh đứng trước cái máy nước công cộng, trên Phong Hóa số 48 (26-5-1933), đó là bức tranh Lý Toét đầu tiên, có ghi tên, tranh này không ký, nhưng có nhiều khả năng là của Nguyễn Gia Trí.
Ngay từ lúc bước chân vào cửa hội chợ Cát Tót, Lý Toét đã bị khốn đốn, tơi bời trên đầu thì xổ cả khăn, tung cả búi tóc, dưới chân thì họ xéo tụt cả giày. Tả nỗi khốn khổ bị giẫm đạp của người dân Việt khi bước chân vào cửa Cát-Tót (tức cửa Đại Pháp) như thế là kín đáo nhất hạng. Tả cái văn minh mẫu quốc như thế là tuyệt cú mèo.
Tiếc thay, nhiều người không hiểu, cho rằng Phong Hóa cốt đưa cái cười ra để cho dân chúng tiêu khiển, quên việc đấu tranh giành độc lập. Ngược lại, chất hài hước thâm thúy, đặc biệt trong bài đầu tiên mô tả chân dung Lý Toét của Hoàng Tích Chu, sẽ là kim chỉ nam, hướng dẫn các họa sĩ vẽ Lý Toét sau này, nhất là Nguyễn Gia Trí đã biến sự hài hước thành một vũ khí lợi hại chống Pháp.
Nhất Linh, trong bài Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ, đăng trên Ngày Nay số 198 (3-2-1940) cho biết: “Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tiếng Dân mà người đưa ra tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng HiếuTiếp đó, ông viết: “Đầu tiên là Tứ Ly đem [tên] Lý Toét vào Phong Hóa (số 35 ngày 24-2-1933) trong bài Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức”. Không hiểu sao Nhất Linh lại không nhắc đến bài Cụ Lý Toét đi xem Hội chợ của Hoàng Tích Chu, trên Phong Hóa số 25? Nhất Linh quên hay ông chỉ muốn dành riêng Lý Toét cho những thành viên của Tự Lực văn đoàn? Bởi vì, dù Tú Mỡ có đưa tên Lý Toét trên báo Tiếng Dân, năm 1930, thì chỉ là sự tình cờ, trùng tên, vì lúc đó chưa hề có nhân vật Lý Toét. Còn bài của Hoàng Tích Chu (trên Phong Hóa số 25 này) đăng cùng trang và song song với bài viết của Nhất Linh về Ba Ếch, là có chủ đích xác định chân dung hai nhân vật hài hước chính trên báo Phong Hóa (lúc đó chưa có Xã Xệ).
Riêng bài Cuộc chợ phiên của Phong Hóa của Tứ Ly (trên Phong Hóa số 35) là một phóng sự hài hước về hội chợ do Phong Hóa tổ chức, mượn Lý Toét, Ba Ếch làm cớ để chế giễu nhiều người, chủ yếu là Phạm Quỳnh và ban biên tập Nam Phong, với các cụ nhà nho như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật…
Sau cùng, chủ trương đổi mới ngôn ngữ và tư tưởng của Tự Lực văn đoàn, không chỉ có tính cách thuần túy văn chương mà còn ngụ ý nghĩa chính trị nữa.
Năm 1930 là năm đầy thảm họa cho các tổ chức cách mạng chống Pháp cả tư sản lẫn vô sản.
Ngày 16-2-1930, thống sứ Robin ra lệnh cho máy bay dội 57 trái bom, tàn phá làng Cổ Am để trừng phạt việc dân chúng nổi dậy giết tri huyện Vĩnh Bảo Hoàng Gia Mô, đồng thời tiêu diệt “trọn ổ” các yếu nhân Việt Nam Quốc Dân Đảng đã tổ chức vụ nổi dậy này.
Ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị chém ở Yên Bái.
Hai sự kiện này không thể không gây ấn tượng kinh hoàng trong lòng người Việt nói chung, Khái Hưng và Nhất Linh nói riêng.
Nên 28 năm sau, khi thành lập tạp chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn, không phải tình cờ mà Nhất Linh chọn số 1, ra ngày 17-6-1958, đúng ngày giỗ Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ.
Vì vậy, năm 1932, khi đánh vào thành trì “khóc lóc, tự tử” hèn yếu của thanh niên bằng tiếng cười và lối văn trong sáng, Tự Lực văn đoàn, không chỉ muốn mua vui, cũng không hề có ý định làm cho người đọc quên chuyện mất nước, mà họ đã có chủ ý cách mạng từ đầu: muốn kiến tạo một tầng lớp thanh niên có khí phách, theo chân Nguyễn Thái Học.

Chú thích:
[1] In lần đầu năm 1651, tại La Mã.
[2] Chữ cũ [cùng] còn dấu huyền (-) chồng lên trên dấu ngã (~) nữa, nhưng nhà in không có sẵn hai dấu chồng nhau như thế nên phải bỏ khuyết một dấu (chú thích của Phạm Quỳnh).
[3] Trích theo bài Khảo về quốc ngữ, của Phạm Quỳnh, Nam Phong số 122, trang 333.
[4] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội 1943, trang 55-56.
[5] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội 1943, trang 63.
[6] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh, trang 81.
[7] Trần Trọng Kim trả lời phỏng vấn của Lê Thanh, trong Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội 1943, trang 17.
[8] Trước đó có hai cuốn Cours d’histoire d’annamite của Trương Vĩnh Ký, bằng tiếng Pháp, rất sơ lược, in năm 1875 và 1877.
[9] Nguyên văn tiếng Pháp: L’Individu dans la vieille cité annamite - Essai de synthèse sur le Code de Lê.
[10] Nguyên văn tiếng Pháp Essai sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset.
[11] Nguyên văn tiếng Pháp: L’Annam dans la littérature française, Jules Boissières. Jules Boissières là công chức cao cấp trong chính quyền thuộc địa, làm phụ tá cho toàn quyền Paul Bert, có đầu óc ôn hòa, chủ trương hợp tác Pháp Việt, ông mất tại Hà Nội năm 1897, sau Paul Bert một năm, ở tuổi 34.
[12] Theo Nguyễn Văn Hoàn trong bài Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, báo Hồn Việt, tháng 10-2009, mạng Viet-studies.
[13] Nguyễn Mạnh Tường được các đại học Âu Châu mời đi thăm Âu Châu trong năm năm, diễn thuyết và viết sách. Năm 1936, ông trở về Hà Nội, dạy Pháp văn ở trường Bảo hộ và trường Cao đẳng Công chính. Năm 1940, ông ngừng dậy học, mở văn phòng Luật sư. Tháng 10-1945, chính phủ Hồ Chí Minh lập Đại học Văn Khoa, ông được mời dậy Văn chương Tây phương. Tháng 4-1946, ông tham gia hội nghị Đà Lạt cùng nhiều trí thức khác, Nguyễn Tường Tam làm trưởng phái đoàn. Tháng 10-1956, sau bài diễn thuyết Những sai lầm trong cải cách ruộng đất; ông bị đuổi khỏi đại học, đói khát, sống nhờ sự giúp đỡ của học trò, bè bạn và những người không quen biết trong gần ba mươi năm. Ông là tác giả khoảng 16 tác phẩm Pháp-Việt. (Xem Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Chương 23, Nguyễn Mạnh Tường, nxb Tiếng Quê Hương, 2012, Hoa Kỳ. Hay mạng: thuykhue.free.fr).
[14] Thất hiền là nhóm Pléiade, bảy nhà thơ Pháp thế kỷ XVI, gồm: Ronsard, Bellay, Jodelle, Belleau, Baïf, Peletier, Tyard, chủ trương đổi mới ngôn ngữ và thi ca Pháp, đưa văn chương Pháp ra khỏi vòng lệ thuộc tiếng La tinh.
[15] Theo Chương Đài, Hoàng Tích Chu, ông tổ văn mới, báo Tràng An, Huế, ra ngày 30-10-1936.
[16] Đỗ Văn là một trong những người đầu tiên sang Pháp học cách trình bày sách báo và trở thành nhà trình bày sách báo nổi tiếng thời bấy giờ.
[17] Tất cả những chi tiết trên đây đều lấy ở bài Một dịp cho tôi nói về lối văn Hoàng Tích Chu của Hoàng Tích Chu, do Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính và giới thiệu trên Talawas.
Hành trình đổi mới của Khái Hưng và Nhất Linh
Bỏ những khóc lóc sướt mướt, chưa đủ.
Bỏ lối văn biền ngẫu, chưa đủ.
Đổi mới ngôn ngữ như Hoàng Tích Chu viết câu ngắn gọn, vẫn chưa đủ.
Nhà văn còn phải đổi mới cả kỹ thuật viết tiểu thuyết, từ cổ điển bước sang hiện đại.
Ở đây, tôi dùng chữ hiện đại mà không dùng chữ lãng mạn, để tránh hiểu lầm. Bởi vì lãng mạn dịch từ chữ romantisme, chữ này để chỉ trào lưu tư tưởng Âu châu, xuất hiện giữa thế kỷ XVIII ở Anh, ở Đức rồi truyền sang Pháp, Ý, Tây Ban Nha trong thế kỷ XIX. Lãng mạn chủ trương tự do diễn tả cảm giác cá nhân của cái tôi, chống lại lý tưởng phổ quát cổ điển của cái ta, tức cái chung chung của nhân loại. Phát xuất từ Anh với tiểu thuyết của Richardson, thơ của Ossian, định hình ở Đức với Goethe, Novalis và Holderlin, rồi truyền sang Pháp với Lamartine, Victor Hugo, Alfred de Vigny, Alfred de Musset…
Cuộc đổi mới văn học ở Việt Nam, thập niên ba mươi thế kỷ XX, không có tính cách chuyển thể từ cổ điển sang lãng mạn, bởi vì bối cảnh văn chương và tư tưởng Việt Nam không giống bối cảnh Âu châu. Sự phân chia trường phái ở châu Âu không có nghĩa gì khi áp dụng vào văn chương Việt Nam. Cuộc cách mạng văn học ở nước ta, thời đó, chỉ đơn giản là để lập ra một nền văn chương quốc ngữ hiện đại mà chúng ta chưa có.
Thế nào là hiện đại? Chữ moderne của Pháp có hai nghĩa: thứ nhất, những gì thuộc về thời nay và thứ hai, những gì tân tiến. Ta thường dịch là hiện đại, như thế thiếu mất nghĩa tân tiến. Cho nên có lẽ nên phiên âm là mô đéc thì đúng ý hơn và nếu ta dùng chữ hiện đại thì phải hiểu trong nghĩa hiện đại và và tân tiến.
Không cần lý thuyết dài dòng, chỉ cần trích văn của hai nhà văn Pháp nổi tiếng trong thế kỷ XIX: Stendhal (1783-1842) và Balzac (1799-1850), ta sẽ thấy rõ sự khác biệt giữa hai lối viết cổ điển và hiện đại này.
Trong truyện Le Père Goriot (Già Goriot) in năm 1835, Balzac mở đầu tác phẩm bằng câu:
"Bà già Vauquier, sinh ở Conflans, từ 40 năm nay trông nom một nhà trọ cho thị dân khá giả, ở Paris, tại phố mới Sainte-Geneviève, giữa khu La tinh và ngoại ô Saint-Marcel".
Balzac thường kể chuyện, ông chỉ rõ xuất xứ: quê quán nơi sinh, địa chỉ, nghề nghiệp của nhân vật trước khi vào truyện. Lối viết này được coi là cổ điển.
Stendhal, khác hẳn, trong tiểu thuyết La Chartreuse de Parme (Tu viện thành Parme) in năm 1839, ông mở đầu tác phẩm bằng câu:
"Ngày 15, tháng năm, 1796, Tướng Bonaparte cầm đầu đoàn quân trẻ tuổi vượt cầu Lodi tiến vào Milan, tỏ cho thế giới biết - sau nhiều thế kỷ - César và Alexandre đã có người kế vị".
Stendhal không giới thiệu xuất xứ nhân vật mà đi thẳng vào truyện: Cảnh Bonaparte tiến quân mở ra trước mắt ta như một hiện hữu. Ông cũng không kể chuyện, mà ông mô tả, nên văn ông sống động hơn nhiều. Stendhal được coi là người khai phá lối viết hiện đại ở Pháp.
Cách viết này, ở nước ta, Hồ Biểu Chánh đi tiên phong với truyện Ai làm được viết năm 1912, in lần đầu năm 1915, và Phạm Duy Tốn tiếp nối với truyện ngắn Sống chết mặc bay, in trên Nam Phong số 18, tháng 12-1918. Đó là chuyện tình cờ chứ chưa chắc Phạm Duy Tốn đã đọc Hồ Biểu Chánh. Sự nghiệp tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đồ sộ, nhưng ông ở trong Nam, ít có ảnh hưởng ra Bắc, nhất là người Bắc vẫn có lối kiêu kỳ coi thường văn chương Nam bộ. Phạm Duy Tốn khai phá lối viết tả chân xã hội ở Bắc trong 4 truyện ngắn: Câu chuyện thương tâm (Bực mình) (Đông Dương tạp chí số 55, 1914), Sống chết mặc bay (Nam Phong số 18, tháng 12-1918), Con người sở khanh (Nam Phong số 20, tháng 2-1919) và Nước đời lắm nỗi (Nam Phong số 23, tháng 5- 1919). Trong số đó, Sống chết mặc bay là một tuyệt tác, còn ba truyện kia vẫn viết theo lối kể chuyện; Phạm Duy Tốn lại mất sớm (1924) vì bệnh lao, nên không tạo được một phong trào.
Để thấy rõ cái mới của Hồ Biểu Chánh và Phạm Duy Tốn, ta chỉ cần so sánh văn hai ông với những người cùng thời:
- Tân Dân Tử, trong Gia Long Tẩu Quốc, in năm 1915, viết:
"Đức Nguyễn Ánh lạc bước phong trần.
Nơi Phật tự gặp người phò tá.
Đất Việt Ba Kỳ, trời Nam một góc, tang thương mấy độ, cuộc hưng vong dường thể chiêm bao; sự tích ngày xưa, gương trị loạn còn ghi lịch sử".
- Nguyễn Chánh Sắt, trong tiểu thuyết Nghĩa hiệp kỳ duyên, tức Chăng Cà Mun, in năm 1919, viết:
"Lần hồi ngày lụn tháng qua, bóng thiều quang đưa rất lẹ; thoắt chút mà Phi Đáng đã 18 tuổi đầu, hình dung yểu điệu, cốt cách phương phi, bá mị thiên kiều, ngư trầm lạc nhạn. Mà ba mươi đời cái kiếp hồng nhan bạc mạng là lẽ tự nhiên".
- Hoàng Ngọc Phách, trong Tố Tâm, viết 1922, in 1925 viết:
"Thôi, hôm nay là ngày từ biệt của ngòi bút chung tình này, từ đây sẽ vắng tanh tin nhạn, bao nhiêu chuyện tình xưa nghĩa cũ, sẽ theo mây bay gió thổi mà mơ màng như giấc chiêm bao. Những khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa, khi gió thổi bên màn, khi em soi gương thấy bóng…"
- Nguyễn Tường Tam trong Nho Phong, viết 1924, in 1926 viết:
"Lê Nương năm ấy tuổi mới trăng tròn""Nhưng bóng hoa thấp thoáng, dáng liễu thanh tân, làm cho chàng cũng phải nhiều phen man mác trong lòng".
Khi Hồ Biểu Chánh cầm bút, cục diện văn chương Việt Nam thay đổi hẳn, ông vào truyện Ai làm được bằng câu:
"Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà ngồi, ngó quanh quất không thấy khách ăn uống, duy có một người trai trạc chừng mười bẩy, mười tám tuổi, đương ngồi tại bàn gần cửa mà viết".
Và trong Sống chết mặc bay, Phạm Duy Tốn mở đầu bằng câu:
"Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng***, thuộc phủ***, xem chừng núng thế lắm: hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn; kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ [đóng cọc], bì bõm dưới bùn lầy, ngập quá khĩu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột lột[1].
Ta thấy ngay: những câu văn trích trong Gia Long tẩu quốc, Chăng cà mun, Tố Tâm, Nho Phong, trên đây, đều có thể gạch bỏ, mà không thiệt hại gì cho tác phẩm. Ngược lại, câu văn của Hồ Biểu Chánh và Phạm Duy Tốn, không thể bỏ được. Bởi vì lối viết hiện đại đi thẳng vào thực chất của vấn đề, không có những lời kể lể cà kê, huê dạng.
Điểm thứ nhì, Hồ Biểu Chánh và Phạm Duy Tốn mô tả trực tiếp con người (Khiếu Nhàn) hoặc bối cảnh (vỡ đê), không qua lời kể của tác giả (hay của nhân vật chính). Khi Hồ Biểu Chánh viết: "Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà ngồi" là ông đã xóa cái tôi kể chuyện cổ điển.
Ví dụ câu: "Lê Nương tuổi mới trăng tròn" của Nguyễn Tường Tam, nếu được viết lại theo lối mô-đéc của Hồ Biểu Chánh, thì sẽ có thể là: "Cái Lê, quần bò, áo thun bó sát, ưỡn ẹo vừa đi vừa huýt sáo", chẳng hạn.
Tóm lại, để nhập vào cách viết hiện đại, nhà văn phải bỏ câu văn bóng bẩy, hoa hòe, biền ngẫu, kiểu Tố Tâm: Những khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa, khi gió thổi bên màn", bỏ lối kể chuyện, kiểu Nho Phong: Lê Nương năm ấy tuổi mới trăng tròn, để mô tả trực tiếp sự vật, để sự vật (hay nhân vật) tự sống, tự hành động. Đó là cái mới trong tiểu thuyết hiện đại.
Khái Hưng, Nhất Linh, hai nhà văn cột trụ của Tự Lực văn đoàn, đã phải dứt bỏ lối viết cổ này, để đổi mới văn học. Khái Hưng mở đầu với Hồn bướm mơ tiên, Nhất Linh kết thúc với Bướm trắng, trước khi bỏ văn chương đi làm cách mạng. Đó là hai tác phẩm nền móng, đi tiên phong và đoạn hậu, cũng là hai kiệt tác. Họ đã chỉ cần tám năm để xây dựng một nền tiểu thuyết hiện đại. Trái hẳn với lo lắng của Phạm Quỳnh: văn học ta còn kém xa đến ba trăm năm, so với văn học châu Âu.
Con đường khai phá của Khái Hưng
Hiện nay, vì thiếu tư liệu, tôi chưa tìm được bài văn nào của Khái Hưng viết trước khi làm Phong Hóa, nên tạm coi sự nghiệp văn chương ông bắt đầu từ khi làm Phong Hóa số 1.
Đoản thiên tiểu thuyết Mưu sâu đã dắp [rắp] đăng trên Phong Hóa số 1(16-6-1932) ký tên Kỳ Hoa là truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng. Truyện này bắt đầu bằng câu:
"Trong một ngôi chùa cổ có tiếng ở gần đất Thăng Long bỗng một hôm có câu tục tằn thốt ra: "Thế mà mày vẫn mở mồm khoe ra là trinh phụ. Rõ quân đê mạt không biết xấu. Có đường có nẻo thì bước ngay. Từ rầy đừng có mong nhìn mặt tao. Đồ đĩ dại nên tự sử [xử] lấy là hơn".
Câu này chứng tỏ Khái Hưng đã nhập vào lối viết hiện đại, ngay từ tác phẩm đầu tay. Ông dùng cảnh và đối thoại để mở đầu, bỏ lối kể chuyện, không giới thiệu xuất xứ nhân vật.
Mưu sâu đã rắp là truyện một người thiếu phụ bị chồng (cờ bạc, mê gái) ruồng bỏ, lập mưu hãm hại. Cấu trúc truyện còn sơ sài, câu văn đôi chỗ còn cân đối, nhưng Mưu sâu đã rắp có ba yếu tố căn bản của tiểu thuyết: dùng sự mô tả, tính bất ngờ và tính bi đát.
Trên Phong Hóa số 2 (23-6-32) có đoản thiên tiểu thuyết Mùa hoa gạo ký tên Kỳ Hoa. Đây là một tự truyện về quãng đời học chữ nho của Khái Hưng từ 5 đến 10 tuổi. Sau ông viết lại truyện này thành Thế giới cũ mực tầu giấy bản ký tên Nhị Linh, đăng trên Phong Hóa từ số 24 (2-12-32) đến số 35 (24-2-33). Tác phẩm vẽ lại khung cảnh trẻ con học chữ nho thời xưa và cho biết phương pháp dạy của thầy đồ: Cậu bé Linh (Nhị Linh) đã bị đánh bao nhiêu roi quắn đít, đã phải học thuộc lòng Tứ thư, Ngũ kinh, học làm câu đối… như thế nào. Đó là một trang tuổi thơ đầu thế kỷ XX, sống động và bi hài.
Sau đó ông viết đoản thiên Tôi không ngờ ký tên Bán Than trên Phong Hóa số 7 (28-7-32), tự truyện về thời kỳ mới viết văn, nhưng chưa làm báo, cho biết ông ở phố Henri d’Orléans. Chi tiết này giúp ta đoán được, căn phòng đó có thể là cơ sở đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, và sẽ trở thành tòa soạn Phong Hóa, cùng lúc với trụ sở chính ở số 1 đường Carnot, trong gần bốn tháng, từ Phong Hóa số 14 (22-9-32) đến Phong Hóa số 30 (13-1-33).
Trên Phong Hóa 14 (22-9-32), số báo đầu tiên do Tự Lực văn đoàn chủ trương, Khái Hưng viết truyện Kong-Ko Đai-Jin, lần đầu ký tên thật Trần Khánh Giư và cũng là lần đầu hai chữ "chuyện ngắn" xuất hiện trên báo Phong Hóa, thay cho bốn từ Hán Việt "đoản thiên tiểu thuyết". Truyện này chứng tỏ Trần Khánh Giư bắt đầu "thấy mình viết được", nên ông ký tên thật, để xác nhận tác phẩm của mình.
Truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin, Phong Hóa số 14
Kong-Ko Đai-Jin [2] viết về chuyến đi buôn sơn của tác giả với người bạn Nhật, hiệp sĩ, tên là Độ Bộ Thất Lang, theo đạo Kong-Ko Đai-Jin.
Tác phẩm bắt đầu bằng câu:
"Chiếc thuyền nan còn cách bến Phố Én độ mười thước thì bỗng lọt vào tai chúng tôi câu hát:
"Sông Thao nước đục người đen, Ai lên phố Én thì quên đường về".
Giọng hát véo von lanh lảnh, theo sau chuỗi cười ròn như tiếng nhạc ngựa…"
Với câu văn này, Khái Hưng đã bỏ hẳn lối viết cổ điển, bước vào văn cách hiện đại bằng âm thanh và quang cảnh. Tuy vẫn có giọng của người xưng tôi, nhưng tôi ở đây cũng là một nhân vật như những nhân vật khác, và cách mô tả hoàn toàn mới lạ, sống động:
"Nhìn ra phía ngoài thì một cái bàn tay to, đen, đương từ từ mở cánh cửa, rồi thò vào cái đầu đội mũ cát két, che kín mắt… rồi cả người rón rén bước qua ngưỡng cửa. Một người cao lớn, lực lưỡng dữ tợn. Tôi rùng mình, rợn tóc gáy… Người ấy giơ tay, vẫy một cái: tức thì một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy người mặc toàn một loạt quần áo nâu, lần lượt theo sau, bước vào… Tôi thấy chân tay tôi run lẩy bẩy, trống ngực đánh thình thình… Quay lại nhìn Độ Bộ để định hỏi ý kiến, thì ông không phải là ông bạn già thường nhật nữa, mà rõ ra một vị Samourai quả quyết sắp xuất trận: mắt ông không chớp, chăm chăm nhìn tên "cát két", tay trái chống cạnh sườn, tay phải, quấn chiếc "mùi xoa", cầm con giao con giơ lên trước ngực, trông có vẻ mãnh liệt uy phong".
Bây giờ đọc những dòng này, ta tưởng không có gì đặc biệt, thật ra, từ lối viết du dương trầm bổng trong Tố Tâm "Những khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa" cách đấy vài năm, đến giọng tả chân bí hiểm trong Kong-Ko Đai-Jin: "một cái bàn tay to, đen, đương từ từ mở cánh cửa, rồi thò vào cái đầu đội mũ cát-két, che kín mắt", Khái Hưng đã thực hiện một bước tiến lớn lao. Và tôi chắc chắn Khái Hưng đã đọc Hồ Biểu Chánh. Nghệ thuật mô tả của ông thực sành sỏi: thay vì viết bẩy người mặc áo nâu, ông đếm: "một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy người mặc toàn một loạt quần áo nâu". Cách đếm này có tác dụng mạnh mẽ như ma xó, quái đản hơn mấy chữ bẩy người mặc áo nâu rất nhiều. Khái Hưng đã nắm vững bí quyết làm người đọc giật mình. Một lối văn mới vừa xuất hiện.
Cách mở truyện bằng ca dao trong Kong-Ko Đai-Jin cũng sẽ trở lại trong Hồn bướm mơ tiên. Vì vậy, Kong-Ko Đai-Jin chính là truyện ngắn hiện đại đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, tiếp nối cách viết Ai làm được của Hồ Biểu Chánh và Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Nội dung truyện ngắn này còn cho biết Khái Hưng đã từng "đi buôn sơn" với Độ Bộ Thất Lang, một hiệp sĩ Samourai, từ khi chưa bước vào nghề văn; như vậy Khái Hưng quen người Nhật rất sớm. Ông biết khá sâu văn hóa Nhật Bản trong truyện ngắn Ada Kwaben, in trên Phong Hóa số 19. Sự kiện này giải thích tại sao Tự Lực văn đoàn thân Nhật: bởi vì Khái Hưng đã có mối liên hệ với người Nhật qua tình bạn và sự tìm hiểu nền văn hóa Nhật, từ trước khi làm báo Phong Hóa. Mối liên hệ này, về sau, sẽ bị người ta khai thác, bóp méo để buộc tội Tự Lực văn đoàn.
Trên Phong Hóa những số 15, 16, 17 và 18, số nào cũng có một hay hai truyện ngắn của Khái Hưng viết theo lối mới: Đi Nam Kỳ, ký T.K.H. (Trần Khái Hưng), Cái thù ba mươi năm, ký T. Khái Hưng (đây là truyện ngắn đầu tiên ký tên T. Khái Hưng), Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng, Cái thống đời Tống, ký T. Khái Hưng, nhất là truyện Tình tuyệt vọng ký Khái Hưng, rất nổi tiếng, nhờ bài thơ Tình tuyệt vọng Khái Hưng dịch thơ Arvers [3].
Đặc biệt, trên Phong Hóa số 19 (27-10-1932) có truyện ngắn Ada Kwaben, mở đầu như sau:
"Một giờ đêm tại Hạp bắc. Suốt hai dẫy phố Tsin-Tsang cửa đóng kín mít. Ngoài đường tối đen như mực. Tuy thế trận không còn dữ dội như buổi sáng, song tiếng súng nghe vẫn liên thanh. Thỉnh thoảng quả trái phá rơi, làm rung động một góc thành. Theo liền tiếng tường nhà đổ, tiếng mái nhà sụp".
Với truyện ngắn này, Khái Hưng đã bỏ lại sau lưng những do dự ban đầu, ông đã hoàn thành lối viết mới của mình: chính xác, đầy tự tin, mạnh mẽ. Ada Kwaben là truyện một mối tình Hoa Nhật bị tan vỡ vì cuộc chiến giữa hai nước, xảy ra trong trận đánh Hạp bắc. Văn phong sắc bén, ngắn gọn, viết về sự va chạm hai nền văn minh Hoa Nhật, làm lộ thái độ cực đoan về danh dự và lòng yêu nước của người Nhật Bản trong động tác harakiri. Ada Kwaben, người con gái Nhật yêu kiều, vì thấm nhuần đạo đức Samurai, đã trở nên mù quáng, giết người yêu, đồng thời giết cả mối tình của nàng và mối tình giữa hai dân tộc. Ada Kwaben xác định Khái Hưng là nhà văn Việt Nam tiên phong có tác phẩm mang tính cách triết học, có tính bi đát về thân phận con người.
Sự tiến triển bút pháp của Khái Hưng trong gần 4 tháng, từ Phong Hóa số 1 (16-6-1932) đến Phong Hóa số 19, với Ada Kwaben và Phong Hóa số 20, với Hồn bướm mơ tiên, là một phép lạ. Không cần hai thế kỷ như Nguyễn Mạnh Tường tiên đoán cho một nền văn học hiện đại của Việt Nam. Tự Lực văn đoàn do Khái Hưng khởi xướng đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt văn chương Việt Nam, trong một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều.
Hồn bướm mơ tiên, tranh của Đông Sơn, Phong Hóa số 20
Hồn bướm mơ tiên đăng trên Phong Hóa từ số 20 (4-11-1932) đến số 29 (6-1-1933) do Đông Sơn (Nhất Linh) minh họa, là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, được Trần Thanh Mại nhiệt tình chào đón như một kiệt tác. Liền theo đó là Nửa chừng xuân, đăng trên Phong Hóa từ số 36 (1-3-1933) đến số 63 (8-9-1933). Hai tác phẩm đầu tiên của Khái Hưng và Tự Lực văn đoàn, sẽ làm thay đổi diện mạo nền văn chương quốc ngữ.
Khái Hưng với sức viết sung mãn, mỗi tuần ngoài những mục thường thức (nhặt sạn trên báo, dịch văn thơ, viết phê bình, xã luận, làm thơ, văn trào phúng…) còn viết ít nhất một truyện dài và một, hai truyện ngắn hay kịch. Khái Hưng không những là người anh cả về mặt sáng tác trên Phong Hóa mà còn "làm chủ" văn đàn thời bấy giờ.
Hành trình của Nhất Linh
Con đường đổi mới của Nhất Linh khó khăn hơn.
Nhất Linh đã có tác phẩm in ra từ trước khi làm Phong Hóa. Tiểu thuyết Nho Phong, viết năm 1924, in 1926, trước khi ông đi Pháp du học, sáng tác theo lối cổ điển. Tiếp đến tập truyện ngắn Người quay tơ, in năm 1927, cấu trúc mới hơn nhiều, nhưng cách viết vẫn chưa dứt khỏi lối văn kể chuyện: "Tôi đương mang tấm lòng như thế, thời đến một nơi gọi là Từ Lâm".
Và Nhất Linh đã phải vất vả lắm mới vượt qua được lối viết này.
Giết chồng… báo thù chồng, Phong Hóa số 14
Nhất Linh bắt đầu sáng tác trở lại trên Phong Hóa bằng truyện trinh thám.
Giết chồng… báo thù chồng, ký tên Ngô Tâm Tư, là truyện ngắn đầu tiên, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932). Để gợi sự chú ý của độc giả, bên cạnh tít, ông đề thêm ba chữ: chuyện Trinh thám với hai chú thích: (Truyện một người con gái nhà quê Annam tự đi trinh thám để báo thù chồng)  (Truyện có thật xẩy ra độ ngoài ba mươi năm nay. Lần đầu, một người đàn bà Annam đi trinh thám một cách khôn khéo nhẹ nhàng, êm thấm như không). Những lời chú này, chắc để gây sự chú ý của độc giả, nhưng lại làm giảm tính bất ngờ của truyện trinh thám.
Liệt, người phụ nữ có chồng bị giết, tìm cách trả thù: nàng tự điều tra và tìm ra hung thủ, rồi chịu làm vợ y để thu thập đủ chứng cớ đưa y vào tù. Truyện này bố cục chặt chẽ, văn phong mới hơn Người quay tơ, nhân vật nữ quyết định và hành động, nắm vận mệnh của mình, nhưng vẫn viết theo lối cổ điển: giới thiệu quê quán nhân vật bằng cách kể chuyện:
"Cô [Liệt] nức tiếng là xinh nhất làng Nghi Hồng! Một làng thuộc phủ Ninh Giang, đôi khi quán sớm chợ chiều, cái sắc đẹp tươi tắn, cái vẻ duyên mặn mà của cô đã làm sêu [xiêu] lòng bao khách đi đường".
Cá tính mạnh mẽ của cô Liệt báo hiệu sự xuất hiện của cô Loan trong Đoạn tuyệt sau này, tuy nhiên Giết chồng… báo thù chồng, vẫn còn nằm trong quỹ đạo cổ điển, cả về văn phong lẫn cốt truyện.
Những truyện tiếp theo trên Phong Hóa các số 15, 16, 17, đều ký Ngô Tâm Tư, như Tiếng chó sủa (Phong Hóa số 15, 29-9-32), truyện hai vợ chồng đi đào của, suýt bị kẻ gian phỗng tay trên, nhưng cuối cùng họ bầy mưu, bắt được thủ phạm. Vẫn viết theo lối kể chuyện, mở đầu bằng câu: Thôn Quan Dương là một cái thôn nhỏ dựa vào sườn đồi (…) Ở đầu thôn Quan Dương có một cái sơn trại nho nhỏ, mái danh [gianh] còn mới. Chủ cái nhà đó là một người ở nơi khác…" nhưng Ngô Tâm Tư đã tạo được không khí bí mật của trinh thám.
Truyện Cái hoa chanh (Phong Hóa số 16, 6-10-32) cũng vẫn theo lối cũ, mở đầu bằng câu: "Hai vợ chồng dân kia mới lấy nhau thương yêu nhau lắm. Vợ chồng mới cùng nhay ân ái được năm ngày, thì bỗng có giấy quan về gọi người chồng ra lính đánh giặc".
Người chồng đi lính, để vợ mới cưới ở nhà. Nàng có thai, bị gia đình chồng vu tội ngoại tình, đuổi đi. Chồng về, tin là thực. Nàng sinh một đứa bé trai, bàn tay nó nắm chặt không chịu mở. Tin đồn đến tai người chồng, chàng đến thăm, bảo: "Con ơi! con có phải là con của cha thì mở tay ra". Đứa bé mở nắm tay, trong lòng bàn tay bé bỏng có một đóa hoa chanh. Trong truyện này, Ngô Tâm Tư muốn cách tân cổ tích, ông đưa cái hoa chanh vào như một yếu tố mới lạ, có tính cách lãng mạn hoang đường.
Đến truyện Tiếng gọi ở cõi âm (Phong Hóa số 17, 13-10-1932), Ngô Tâm Tư đã tiến dần vào lối viết hiện thực, đã tạo được không khí âm u, ma quái. Nhân vật chính vẫn là tôi, một người kể chuyện, nhưng cái tôi này đã trở thành một nhân vật, đến viếng một người bạn mới chết, thắt cổ tự tử. Mẹ bạn cho biết: Vì bà nội chết phải giờ "trùng" nên bà "về" gọi cháu theo. Không tin dị đoan, tôi bèn ở lại, điều tra. Đêm hôm đó, có tiếng gọi "cháu ơi" ngoài cổng, bà mẹ và cô con gái cực kỳ sợ hãi:
"Người con gái, mặt tái ngắt, nhìn mẹ, thở không ra hơi, kêu rú lên như để trả lời tiếng gọi ngoài ngõ! rồi vùng tay ra, bước nhanh ra cửa: một bóng trắng thoáng qua sân, một tiếng động ngoài ngõ.
Trong nhà người mẹ ngã gục xuống phản, giơ hai tay như với lấy bóng cột, kêu lên một tiếng rồi ngất đi. Tôi vùng đứng dậy, một tay cầm lấy cây đèn, một tay giắt con giao [dao] con, lên tiếng gọi người nhà. Không ai trả lời, tôi chẳng nghĩ gì nữa, bước nhanh ra ngoài sân, chạy ào ào làm ngọn đèn lung lay nhìn không rõ. Ngoài cổng như có tiếng người ngã.
Đến nơi, trong bóng tối, tôi thoáng thấy có vật gì trăng trắng nằm dài ở bực cửa. Tay phải cầm chắc con giao, tay trái cầm cây đèn rơ [dơ] lên soi. Người con gái nằm sấp trên mặt đất như cái thây chết. Dưới mái tóc rũ rợi, một dòng máu đen chảy lai láng ra đất. Tôi trông thấy giật nẩy mình, cây đèn cầm ở tay rơi xuống vỡ tan. Giời tối đen lại, tôi trông ra ngõ, không thấy ai, mà có tiếng người gọi "cháu ơi" ngay ở ngoài ngõ. Hay là tôi mê hoảng chăng? Không có lẽ nào không có người mà có tiếng gọi được. Tôi định tâm, tay cầm vững con giao, mở phăng cổng nhìn ra, tứ phía vắng vẻ, không thấy một bóng người, một luồng gió lạnh thổi qua làm tôi rùng mình sởn óc…
Tôi trở vào, nhắc đầu người con gái xem thì hơi thở đã lạnh, lúc tôi ngửng lên toan gọi người nhà, thấy một con mèo đen to ngồi lù lù trên mái cổng".
Ngô Tâm Tư đã tạo được lối viết hiện thực của riêng ông, sự mô tả đã nhuần nhuyễn trong phong cách pha trộn giữa truyện ma và trinh thám. Ngô Tâm Tư không giải thích, nhưng làm cho ta hiểu: con ma, thật ra chỉ là con mèo; tiếng mèo kêu trong đêm giống hệt tiếng người, làm kinh hoảng hai mẹ con đã bị thần hồn nát thần tính. Người con gái, hoảng chạy, tay cầm dao, ngã sấp lên lưỡi bén mà chết. Tiếng gọi ở cõi âm là một thành công.
Vẫn viết tiếp trinh thám, nhưng Nhất Linh đổi tên, kể từ Phong Hóa số 24 (2-12-32), ông bắt đầu loạt truyện ký tên Bảo Sơn, với truyện ngắn Con hai bố: Người mẹ trước khi chết viết thư kể lại cho con biết người bố không phải là bố ruột. Sự bí mật này dẫn đến những tình cảnh éo le, khó giải quyết. Tiếp theo là Vết máu… (Phong Hóa số 26, 6-12- 32), truyện một ông huyện điều tra cái án giết người với lập luận sắc bén và hợp lý.
Truyện trinh thám của Nhất Linh có sắc thái đặc biệt, chặt chẽ, lô-gic, hay hơn trinh thám của Thế Lữ rất nhiều. Nhưng sau đó ông ngừng, không viết trinh thám nữa. Tại sao?
Tôi tạm giải thích như sau: bởi vì Thế Lữ gửi đăng truyện ngắn Thây ma xuống thang gác, in trên Phong Hóa số 27 (23-12- 1932), nên Nhất Linh thấy đã có người "thay thế" mình, nên ông bỏ trinh thám, từ sau truyện Vết máu… đăng trên Phong Hóa số 26.
Nhất Linh là giám đốc Phong Hóa, ông đã nhìn thấy: muốn thu hút độc giả, phải có gì lôi cuốn, và không gì lôi cuốn hơn truyện trinh thám, nhất là lúc bấy giờ Sherlock Holmes của Conan Doyle đang làm mưa gió trên thị trường trinh thám toàn cầu. Phạm Cao Củng cũng là một trong những cây bút trinh thám thời đó. Ông viết trinh thám theo lối phân tích tâm lý, tìm hiểu môi trường xã hội, dùng lời khai của nhân chứng để giải mã bí mật, kiểu Georges Simenon (Simenon đã từng đến sở liêm phóng 36, Quai des Orfèvres ở Paris, để học nghề), nên truyện của Phạm Cao Củng rất giá trị. Nhất Linh có mời Phạm Cao Củng, nhưng không hiểu vì lý do gì, ông chỉ tham gia mục Giòng nước ngược, ký tên Phạm Thị Cả Mốc, thỉnh thoảng làm thơ xướng họa cùng Tú Mỡ. Phải đến Phong Hóa số 187 (15-5-1936) Phạm Cao Củng mới xuất hiện lần đầu trên Phong Hóa với Chiếc tất nhuộm bùn.
Trở về cuối năm 1932, khi Thế Lữ gửi truyện Thây ma xuống thang gác đến Phong Hóa, chắc Nhất Linh thấy trúng ý mình nên đăng ngay.
Bỏ truyện trinh thám sang truyện tình cảm
Khi đã có người viết trinh thám thay mình, Nhất Linh mới chuyển sang truyện tình cảm. Vì vậy, liên tiếp trên hai số Phong Hóa 28 (30-12-32) và 29 (6-1-33) có truyện ngắn Nước chảy đôi giòng và Cô áo tím ký tên Bảo Sơn, rất lãng mạn: Nước chảy đôi giòng kể chuyện Lê Sinh, tình cờ đi đò đêm, gặp người con gái chèo đò xinh đẹp, chàng say đắm tỏ tình… Mười năm sau, chàng đã có vợ con, tình cờ lại gặp nàng trên một chuyến đò, nàng cũng đã có chồng, con… "Lê Sinh bùi ngùi, cúi mặt ngắm giòng nước chảy, ngắm mấy cái rác trôi theo giòng nước, tan tác mỗi cái trôi về một phía… khác nào hình ảnh cuộc đời của Lê Sinh với cuộc đời của người con gái chở đò, mỗi bên đi về một ngả, không bao giờ gặp nhau".
Truyện Cô áo tím, cũng trong không khí thơ mộng: mấy cậu thanh niên rủ nhau đi chùa Bút Tháp, xem tượng. Có một bức tượng gỗ đẹp tuyệt trần, làm các cậu xao xuyến tâm hồn. Ra cửa, lại gặp một người con gái mặc áo tím cùng mẹ đi vãng cảnh chùa, nàng đẹp giống như bức tượng… Truyện Cô áo tím có hậu, vì người đẹp sẽ làm vợ một chàng trong bọn. Tuy nhiên hai truyện ngắn này, tuy văn hay, nhưng tâm lý hời hợt, đánh dấu việc Nhất Linh bỏ truyện trinh thám để bước vào địa hạt tình cảm, đúng lúc Phong Hóa đã đăng xong Hồn bướm mơ tiên và sắp đăng Nửa chừng xuân của Khái Hưng.
Thêm một sự kiện đáng chú ý nữa là trên Phong Hóa số 31 (24-1- 33) số Xuân, có truyện ngắn Dưới bóng hoa đào của Khái Hưng và Bảo Sơn viết chung, lần đầu. Truyện này hay hơn hai truyện trước của Bảo Sơn. Sau đó, Bảo Sơn viết Bóng người trên sương mù (Phong Hóa số 32, 3-2-33) trên nền cổ tích, rất thành công; cùng với Hồn hoa (Phong Hóa số 32) và Gái vùng lim (Phong Hóa số 33, 10-2- 33) cả hai vào loại trung bình.
Đến Phong Hóa số 37 (10-3-33) có Nắng mới trong rừng xuân, bắt đầu khởi sắc, truyện người con gái bị bệnh lao, trốn người yêu về quê. Người yêu từ Hà Nội về thăm. Biết mình sắp chết, chỉ có một ngày đi chơi với chàng, nàng đã sống hết mình. Sau này Nhất Linh sẽ mở rộng và đào sâu đề tài này trong Bướm trắng.
Những truyện ngắn trên đây, đều có không khí tình yêu nhẹ nhàng lãng mạn, Bảo Sơn chưa thay đổi được chủ đề và cách viết, nên sau Nắng mới trong rừng xuân, ông trải qua một thời kỳ bế tắc: ngừng viết truyện ngắn, chuyển sang làm thơ và viết tiểu luận.
Bắt đầu trên Phong Hóa xuân (số 31, 24-1-33), với hai bài thơ mới, Gượng vui  Cái vui ở đời ký tên Tân Việt. Đến số Phong Hóa 36 (1-3-33) có bài thơ Im lặng ký tên Tân Việt, và bài tiểu luận Thế nào là thơ mới ký tên Nhất Linh. Thơ cũng bình thường, tiểu luận không có gì đặc sắc, vì Nhất Linh không rành lý thuyết thơ. Trên Phong Hóa số 38 (17-3- 33) lại có bài thơ dài Hai thế giới ký tên Nhất Linh, cảm hứng từ truyện Mực tầu giấy bản của Khái Hưng về hai thế giới cũ, mới.
Vì bài thơ xã luận Dân quê (Phong Hóa số 39, 24-3- 33) ký tên Tân Việt, tố cáo đời sống tối tăm của dân quê, Phong Hóa suýt bị đóng cửa, nên Nhất Linh quyết định không làm thơ nữa.
Trong vòng một năm, kể từ tháng 3-1933 đến tháng 3-1934, ông chỉ viết thêm có ba truyện ngắn, ký tên Bảo Sơn, đó là: Đầu đường xó chợ (Phong Hóa số 51, 16-6-33) viết theo lối hiện thực xã hội, tả cảnh nghèo đói, khá vụng về vì không phải sở trường của ông; Tháng ngày qua (Phong Hóa số 52, 23-6-33) và Ngày thu… (Phong Hóa số 52, 23-6-33) hai truyện tình cảm lãng mạn, không khí cũng giống những truyện đã viết trước.
Không hiểu chuyện gì đã xảy ra?
Ta chỉ có thể phỏng đoán: Nhất Linh bị bế tắc. Và Khái Hưng đã cầm tay đưa bạn trở lại bàn viết, bằng cách viết chung với Nhất Linh. Cho nên, sau khi Nửa chừng xuân vừa chấm dứt ở Phong Hóa số 65 (22-9-33), người ta thấy trên Phong Hóa số 66 (29-9-33) xuất hiện tiểu thuyết Gánh hàng hoa của Khái Hưng và Bảo Sơn. Và khi Gánh hàng hoa chấm dứt ở số 88 (9-3-34), liền sau đó, lại thấy Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh, đăng trên Phong Hóa số 89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34).
Tôi cho rằng sự viết chung này đã giúp Nhất Linh thoát khỏi lối kể chuyện cổ điển để nhập vào tiểu thuyết hiện đại. Nhiều người không tìm hiểu kỹ, lại tưởng Nhất Linh là tác giả chính của hai tập truyện này. Nhưng nếu để ý ta sẽ thấy, về tư tưởng, Liên trong Gánh hàng hoa gần gũi với tâm hồn cao thượng và sự hy sinh hạnh phúc cá nhân của Lan, Mai trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân hơn là sự tranh đấu cho tự do và hạnh phúc cá nhân của Loan, Nhung, trong Đoạn tuyệt, Lạnh lùng. Đến truyện Đời mưa gió, Tuyết thể hiện sự tự do toàn diện từ thân xác đến tâm hồn, hòa hợp tư tưởng tuyệt vời giữa hai ngòi bút Khái Hưng Nhất Linh, chúng ta có một tuyệt tác.
Nguyễn Vỹ là người biết sự "bí mật" này, ông kể lại như sau:
"Trong thời gian này [tức là thời gian dạy ở trường Thăng Long], Nguyễn Tường Tam cũng có viết tiểu thuyết trong Phong Hóa với bút hiệu Nhất Linh, nhưng phải nhờ Khái Hưng sửa chữa nhiều. Những tác phẩm song hành ấy đều ký cả hai tên: Khái Hưng và Nhất Linh, theo lời Nguyễn Tường Tam nói với tôi. Cũng một đôi quyển truyện của Nguyễn Tường Tam đã được Khái Hưng sửa lại, nhưng Khái Hưng không đề tên mình. Nguyễn Tường Tam, Cử nhân khoa học, bắt đầu viết tiểu thuyết dưới sự hướng dẫn của nhà văn Khái Hưng.[4]
Và sau khi Đời mưa gió ký tên Khái Hưng và Nhất Linh chấm dứt trên Phong Hóa số 112 (24-8-34), Nguyễn Tường Tam, lần thứ hai ký tên Nhất Linh, dưới truyện vừa Nắng thu, in trên Phong Hóa số 113 (31-8-34), một truyện khá tầm thường; nhưng đến Phong Hóa số 124 (16-11-34), tiểu thuyết Đoạn Tuyệt ra đời, một thành công lớn. Bắt đầu một giai đoạn mới của Tự Lực văn đoàn.
Thế rồi một buổi chiều
Nhưng trước khi có Đời mưa gió ký tên Nhất Linh và Khái Hưng, Nguyễn Tường Tam đã viết truyện Thế rồi một buổi chiều, ký tên Nhất Linh, mà tập I được in thành phụ bản Phong Hóa số 91, 30-3-34. Đây là lần đầu tiên người ta thấy tên Nhất Linh ký dưới một truyện vừa, như muốn xác định: ông đã tìm thấy đường đi của mình.
Thế rồi một buổi chiều, phụ trương Phong Hóa số 91
Sụ kiện Nguyễn Tường Tam ký tên Nhất Linh dưới truyện Thế rồi một buổi chiều, một năm rưỡi sau khi in truyện ngắn đầu tiên Giết chồng… báo thù chồng (Phong Hóa số 14, 22-9-1932), cần được tìm hiểu. Sự thể có lẽ như thế này: trong một thời gian dài, ông ký tên Ngô Tâm Tư, rồi Bảo Sơn, vì thấy mình vẫn chưa bỏ được lối viết cổ điển. Thế rồi một buổi chiều ra đời, đánh dấu việc Nhất Linh đã thoát cổ điển.
Tác phẩm bắt đầu như sau:
"Lê Dũng rảo bước trên con đường làng.
Ban trưa, đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn.
Bên đường, cạnh mấy gốc thông già, mấy người con gái xúm quanh một cái giếng khơi đương kéo gầu lấy nước. Dũng khát ráo cả cổ, nhưng vẫn không giám ngừng lại xin nước uống, sợ người ta nhận biết mặt mình. Chàng cắm đầu đi, văng vẳng nghe sau lưng tiếng gió reo trong rặng thông, tiếng cười nói của mấy cô con gái và tiếng nước trong chảy từ gầu xuống giếng sâu".
Lời văn giản dị mà sâu lắng, có hồn. Bỏ tôi, bỏ lối kể chuyện, Nhất Linh thực sự bước vào tiểu thuyết hiện đại với những dòng quốc ngữ trên đây: Dũng hiện ra, trong bối cảnh làng quê yên bình, thơ mộng, nhưng lòng chàng nổi sóng. Một cuộc đối chất triền miên: giữa nội tâm và ngoại cảnh; giữa những đứa trẻ và những cô gái quê hồn nhiên, vô tội, với Dũng, một thanh niên bị ruồng bắt, có tội. Nhất Linh mô tả một Dũng, cách mạng, đang trốn, mà không dùng một chữ nào lộ liễu, liên quan đến kháng chiến. Nói mà không nói. Những lời vô âm này, chỉ người Việt đọc mới hiểu. Kiểm duyệt Pháp không hiểu. Dũng đi trốn cũng là Nhất Linh đi trốn. Nhưng ở đây, Nhất Linh không kể chuyện "tôi đi trốn" như thế nào, mà ông để những cử chỉ và suy nghĩ của Dũng làm việc đó. Nhất Linh đã "vào trong" Dũng. Ông đã nhập tiểu thuyết hiện đại. Dũng sẽ trở thành nhân vật chính trong Đoạn tuyệt và Đôi bạn.
Những truyện ngắn khác viết từ trước đến giờ, Ngô Tâm Tư và Bảo Sơn vẫn chỉ kể lại những câu chuyện khác nhau, dưới hình thức trinh thám hoặc tình cảm, cho nên chưa được "công nhận". Chỉ khi Nguyễn Tường Tam thấy mình đã hóa thân trong nhân vật, ông mới ký tên Nhất Linh. Sự ký tên này như để nói: Tôi bây giờ mới đích thực là nhà văn Nhất Linh. Việc này không dễ dàng, bởi có nhiều nhà văn suốt đời không ra khỏi cái tôi kể chuyện.
Thế rồi một buổi chiều là tác phẩm đầu tiên Nhất Linh hoàn toàn thoát khỏi cổ điển, bước vào hiện đại. Dũng bị lùng bắt, cùng đường, chạy vào chùa sư nữ, được ni cô giấu ở gác khánh sau chùa. Mối tình giữa ni cô và Dũng, có chút ảnh hưởng Hồn bướm mơ tiên.
Nhưng sự khác biệt sâu xa giữa Khái Hưng và Nhất Linh đã lộ rõ trong tác phẩm nhỏ bé này: Khái Hưng nhìn ra ngoài, nhìn vào người khác để nhận xét con người, với đôi mắt đầy thương cảm, ông đưa ra những mẫu người hy sinh, chịu đựng. Nhất Linh nhìn mình, nhìn vào nội tâm của mình để viết, để tìm cách cho cá nhân thoát khỏi sự tù hãm của xã hội lỗi thời. Sự khác biệt sâu xa giữa hai nhà văn này là như thế. Nhưng từ Hạnh và Bướm trắng, Khái Hưng và Nhất Linh lại đi cùng một con đường, nghĩa là cùng chĩa ngòi bút vào nội tâm con người.
Ở những bước đầu, Khái Hưng đã cầm tay, hướng dẫn Nhất Linh ra khỏi lối viết cổ điển. Tới đây ta mới hiểu được tại sao Nhất Linh "cho" Khái Hưng người con trai thứ hai của mình, như một ân tình, một cảm tạ, bởi vì sự hòa hợp giữa hai người đã trọn vẹn, trong tác phẩm. Mà tác phẩm là phần tinh túy nhất của con người.

Chú thích:
[1] Nam Phong số 18 (tháng 12-1918).
[2] Kong-Ko Đai-Jin (Konkokyo) là tên một đạo mới, do Bunjiro Kawate (1814-1883) thành lập năm 1859, thoát thai từ Thần đạo.
[3] Đi Nam Kỳ, ký T.K.H. (Trần Khái Hưng) và Cái thù ba mươi năm, ký T. Khái Hưng, in trên Phong Hóa số 15 (29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng (in lại trong Anh phải sống) trên Phong Hóa số 16 (6-10-1932). Cái thống đời Tống, ký T. Khái Hưng, trên Phong Hóa số 17 (13-10-1932). Tình tuyệt vọng, ký Khái Hưng trên Phong Hóa số 18 (20-10-1932).
[4] Nguyễn Vỹ, Văn thi sĩ tiền chiến, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, trang 129.
Hoàng Đạo và Thạch Lam
Hoàng Đạo
Là cây bút tài hoa nhất trong ba anh em Nguyễn Tường: viết gì cũng được, viết hay ngay từ đầu, không cần qua thời kỳ "luyện văn", Hoàng Đạo thản nhiên bước vào lối viết hiện đại, ngay trong truyện ngắn đầu tay Nùng Chi Lan ký Tòng Lương, đăng trên Phong Hóa số 14 (22-9-32), câu đầu như sau:
"Đêm đã muốn tàn. Trong rừng sâu, dần dần sáng rõ. Bến đò yên lặng, chỉ nghe thấy tiếng chim xa gõ mõ, giọt sương nặng rơi ty tách" đã mở ra một bối cảnh thơ mộng khác thường, thiên nhiên đậm hồn nhân sinh, thoát xa cổ điển; kèm sự cách tân ngôn ngữ rất đặc biệt của người làm thơ, nhờ chữ muốn. Hoàng Đạo không viết: "Đêm đã tàn", để chỉ một trạng thái, mà ông viết: "Đêm đã muốn tàn", để chỉ một hành động, tức là ông đã biến đêm thành một chủ thể sống động như con người. Rồi câu kế tiếp: Trong rừng sâu, dần dần sáng rõ, không "đúng văn phạm", đáng lẽ phải viết: "Trong rừng sâu, trời dần dần sáng rõ", nhưng ông đã bỏ chữ trời đi, lại cũng là một thủ pháp của thơ. Vì không có trời, nên ta không biết ánh sáng từ đâu tới, ai rọi, không khí trở thành bí mật hoang đường, đúng hệt như những gì ta cảm nhận khi bước vào rừng sâu. Nếu Hoàng Đạo tiếp tục viết truyện ngắn thì chưa biết, lối sáng tạo câu, chữ của ông sẽ đưa văn chương tới đâu.
Nùng Chi Lan ký tên Tòng Lương (Tường Long nói lái), tuy cốt truyện còn thô sơ, nhưng nhiều câu văn như thơ, đẹp lạ lùng, ý tưởng lại rất bạo, rất mới, với những câu: "tôi thương cô, tôi yêu cô" hay "Chàng hồi tưởng lại cái môi thoa son… mà ngậm ngùi nhớ tiếc…" ở vào thời điểm ấy, viết như thế là "sexy" lắm.
Bông hoa thủy tiên
Trên Phong Hóa số 31 (24-1-1933), số báo Xuân đầu tiên, do Tự Lực văn đoàn đặt ra, có truyện ngắn Bông hoa thủy tiên của Tứ Ly, ít ai để ý, nhưng là truyện ngắn tân kỳ nhất của Tự Lực văn đoàn và của văn học Việt Nam lúc bấy giờ.
Bông hoa thủy tiên là một bài thơ trong không gian liêu trai Lưu Nguyễn. Tứ Ly giao hòa kỷ niệm với hiện thực. Đêm ba mươi Tết, Vân sinh đứng cạnh giò thủy tiên chàng vừa tỉa xong ban chiều, sực nhớ lời Lê Dung dặn sau giao thừa nhớ đến xông nhà nàng:
"… Chàng liền khoác áo tơi mở cửa bước ra. Cơn gió mạnh làm chàng rùng mình.
Chàng đi theo mấy dãy phố vắng tanh, lần đến nhà Lê Dung. Bước vào cái cổng ngỏ, chàng không thấy hai chậu hoàng lan ở bên ngõ mà chàng thường đứng xem. Hơi lấy làm lạ, chàng định kiến nhìn kỹ lại cảnh vật chung quanh, giật mình lẩm bẩm: "có lẽ ta nhầm… không phải nhà Lê Dung".
Nhưng con đường sỏi chàng đang đứng như chàng đã qua lại nhiều lần rồi. Chàng ngửng đầu lên nhìn qua mấy cây tường vi lá lăn tăn, thấy một tòa nhà trắng chung bóng in xuống dưới cái ao bán nguyệt trước mặt, lung linh như thực như hư. Chàng sực nhớ rằng xưa kia chàng đã từng vin cành tường vi hái hoa, tắm mát ở dưới ao nước trong, liều giảo [rảo] bước lên thềm, đi qua một giẫy lan can bằng xứ, chàng vừa định gõ cửa vào, thì cánh cửa từ từ mở ra…"
Những gì Vân sinh đang sống trong giây phút này, là mộng hay thực, không thể biết được, vì sự pha trộn thực mộng ở đây đã nhuần nhuyễn đến mức thượng thừa: Chàng đi theo mấy giãy phố vắng tanh, không biết là chàng có đi thật, hay chỉ đi trong mộng du; bởi vì đã bước vào cổng ngõ nhà Lê Dung rồi, mà chàng không thấy hai chậu hoàng lan, rồi chàng định kiến lại, và tự hỏi hay là ta nhầm?
Tiếp theo đó, chàng lại gần như chắc chắn: con đường sỏi chàng đang đứng như chàng đã qua lại nhiều lần rồi, vậy con đường này nằm trong trí chàng chứ không phải là con đường thật. Rồi đến quang cảnh tiếp theo, khi chàng ngửng đầu lên nhìn qua mấy cây tường vi lá lăn tăn, thấy một tòa nhà trắng chung bóng in xuống dưới cái ao bán nguyệt trước mặt, lung linh như thực như hư thì đúng là hư ảo, bởi vì chàng sực nhớ rằng xưa kia chàng đã từng vin cành tường vi hái hoa, tắm mát ở dưới ao nước trong. Sự giao thoa thực ảo tài hoa và tế nhị như vậy chỉ có thể từ bàn tay một bậc thày chữ nghĩa, nhưng không, đó là từ ngòi bút của người thanh niên viết truyện ngắn lần thứ nhì trong đời.
Khó có thể hiểu, mới vài năm trước, tiếng Việt còn ở mức "từ đây sẽ vắng tanh tin nhạn", mà bây giờ, Tứ Ly thao túng chữ nghĩa như vào chốn không người.
Nói rõ hơn, trong Bông hoa thủy tiên, Tứ Ly đã dùng thứ chữ nước đôi để ảo hóa một cảnh thực và thực hóa một cảnh ảo: Vân sinh tưởng đã đến nhà Lê Dung, bước qua cái cổng ngỏ, chàng không thấy chậu hoàng lan, bèn nhìn kỹ chung quanh, lẩm bẩm: "Có lẽ ta nhầm…", nhưng trí nhớ cãi lại: con đường này ta đã qua lại nhiều lần. Rồi chàng nhìn xuyên qua đám tường vi, thấy một tòa nhà trắng in hình dưới ao bán nguyệt. Tất là mơ rồi. Nhưng không. Trí nhớ lại mách: xưa ta đã từng vin cành tường vi hái hoa, ta đã từng tắm mát dưới ao nước trong… Ở đây, tưởng tượng giao hòa với thực cảnh, quá khứ lồng trong hiện tại, tạo ra một không gian tuyệt vời, đắm say, mê sảng. Chúng ta vừa bị lôi cuốn theo Vân Sinh vào khung cảnh mơ màng, hư hư thực thực trên cung quảng với những mỹ nữ dạo khúc nghê thường, nhưng chỉ một thoáng sau, những nàng tiên trở lại thực thân, chỉ là đóa thủy tiên vừa nở thành tiên nữ. Thần tiên. Mộng ảo. Đừng tỉnh lại. Đừng hỏi: có thật không? Hỏi vậy là vô ích, bởi lúc nào quá khứ cũng sống trong hiện tại, nhắc ta cảnh ấy, cảnh nọ, ta đã trải qua, không kiếp này thì kiếp trước…
Bông hoa thủy tiên chính là truyện Tú Uyên Giáng Kiều, trong tiếng Việt hiện đại của Tự Lực văn đoàn, mà Tứ Ly vừa sáng tạo, cũng là truyện ngắn huyền ảo (fantastique) hiện đại đầu tiên của nước ta, viết trước Nhập Thiên Thai của Vũ Khắc Khoan hơn hai mươi năm; thanh thoát, tế nhị, không lời lẽ cầu kỳ, lập luận phiền phức như Khoan tôi, cũng không kiểu cách như Marquez máu mê, tàn bạo.
Tiếc rằng tác phẩm sau in lại trong tập Tiếng đàn (1941) đã bị sửa hoàn toàn, trở thành một truyện ngắn hiện thực, bằng cách thêm vào đầu truyện một đoạn rất dài, viết về Vân: ngồi trong nhà một đêm giao thừa, bên bàn thờ khói hương nghi ngút, Vân rất yêu hoa thủy tiên, chàng chọn hoa như thế nào, ủ hoa như thế nào, v.v... thừa thãi và thiếu nghệ thuật. Cái tựa Bông hoa thủy tiên bị đổi thành Hoa thủy tiên, tức là đổi một bông hoa thủy tiên đã nở ra các nàng tiên thành hoa thủy tiên chung chung, không có nghĩa gì. Vân sinh [người học trò tên Vân] bị đổi thành Vân và Lê Dung đổi thành Dung; và mở đầu truyện bằng câu:
"Vân ngồi yên lặng để sự bình tĩnh thấm vào người. Điếu thuộc là hút dở để trên đĩa sứ bốc khói lên thành vệt xanh lam…"
Trong khi Bông hoa thủy tiên bắt đầu bằng câu:
"Vân sinh mở cửa sổ cho khói pháo bay ra.
Trời tối, hai dẫy phố mầu đen sẫm in lên vùng trời sâu thẳm".
Những sự thay đổi này làm mất tính cách liêu trai trong tác phẩm, biến một truyện có tính cách tiên phong đầy chất sáng tạo trở thành bình thường như các truyện ngắn cùng thời. Tôi không nghĩ Hoàng Đạo làm, vì năm 1941, Hoàng Đạo đã phải trốn, rồi sau bị bắt. Vậy Thạch Lam làm chăng? Không có lẽ, vì Thạch Lam sành văn, và lúc đó ông đã chớm lao rồi. Sau này, nếu có dịp in lại truyện này, ta nên lấy lại bản gốc trên Phong Hóa số 31 (24-1-33).
Phong Hóa số 34 (17-2-33) có truyện Cánh buồm trắng của Tứ Ly, viết theo lối tình cảm lãng mạn, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhưng sau đó, không thấy ông viết tiếp, mãi tới báo Ngày Nay, mới có thêm vài truyện ngắn nữa.
Tứ Ly có làm ít nhất một bài thơ, trên Phong Hóa số 32 (3-2-33). Bài thơ mới rất dài tựa đề Trên sông Đáy, lấy người kỹ nữ bến Tầm Dương của Bạch Cư Dị làm phông cho một buổi hát cô đầu bên sông:
Đêm hôm ấy trăng trong vừa mọc
Cảnh trăng thu như cảm xúc tới hồn thơ
Hai anh em dạo gót thẫn thờ
Kìa đã đến bên bờ sông Đáy
Theo giòng nước gió thu hây hẩy
Như vàng gieo, gợn chạy lăn tăn.
Bên nhịp cầu mấy chiếc thuyền nan,
Nằm ngủ ở dưới bóng trăng êm ái.
Nghe ca nương than thở thân phận tủi hổ của mình, hai người khách cũng là hai anh em (Hoàng Đạo, Nhất Linh chăng?) khuyên nàng đừng buồn vì thời nay ca hát không còn là cái nhục. Tuy là thơ "tuyên truyền" (ca nương thấy báo chí kêu gào "ngũ luân, ngũ thường" mà đời nàng không có gì hợp với luân thường cả, hai anh em bèn lựa lời khuyên giải) nhưng lời thơ đẹp, nhạc và ý hay hơn thơ Tân Việt (Nhất Linh) và thơ Phạm Huy Thông lúc bấy giờ.
Tuồng cổ tân thời
Nhất Linh chủ trương một tờ báo hài hước, nhưng ông không viết được hài hước, Thạch Lam cũng không có óc khôi hài. Khái Hưng có duyên hơn. Tú Mỡ làm thơ hài hước chuyên nghiệp, bài bản, đọc qua vài bài là thấy chán. Tất cả mới lạ trong tiếng cười, dựa trên vai hai người: Hoàng Đạo trong văn và Nguyễn Gia Trí trong tranh. Cả hai đều có óc sáng tạo phi thường. Nguyễn Gia Trí sẽ nói đến sau. Tác phẩm hài hước có giá trị trong thời kỳ đầu tiên này là của Tứ Ly với Tuồng cổ tân thời.
Tuồng cổ tân thời, Phong Hóa số 38 (17-3-1933)
Tuồng cổ tân thời, in trên 5 số Phong Hóa, bắt đầu từ Phong Hóa số 38 (17-3-1933), đến số 42 (4-4-33), sau này bị Thanh Lãng lên án với những lời tàn tệ: "Nhưng không ở đâu Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu được mô tả một cách tồi tàn, gàn dờ, quê kệch, nhất là đê hèn như trong vở tuồng "Tuồng cổ tân thời" (Xem chương Sự tiếp nhận Tự Lực văn đoàn).
Thực ra, đây là một tác phẩm độc đáo, soạn theo lối tuồng cổ, mô tả trận thư hùng Tân Cổ giao tranh: Một bên Hoàng tiên sinh oai phong lẫm lẫm, một bên là bọn Phong Hóa nhố nhăng nổi loạn. Các vị tiền bối thua trận, chạy có cờ.
Không phải Tứ Ly viết tuồng hú họa mà chơi, đây là một vở tuồng có nghiên cứu đàng hoàng. Khái Hưng đã từng cho rằng: viết kịch là khó, khó nhất trong mọi thể loại, vì tất cả đều ngụ trong lời nói. Viết tuồng có lẽ khó hơn, và viết Tuồng Cổ, tức Hát Bội, còn khó hơn vạn bội. Vậy mà người thanh niên Tây học này, dám xông vào Tuồng Cổ. Tức là ông phải nghiên cứu kỹ về tuồng cổ.
Tuồng cổ hay hát bội có hai điệu: một là cách nói và một là cách hát.
Cách nói cũng lại có hai điệu:
Hường là những câu nói chính, phải thét to, đặt theo thể nói lối.
Tán là những câu phụ, đệm cho những câu hường, nói nhỏ, đặt theo thể văn xuôi.
Cách nói dùng vào những việc sau đây:
- Giáo đầu: lời mở đầu của trùm phường, chào khán giả, tóm lược câu chuyện.
- Xưng danh.
- Nói chuyện hoặc kể việc.
Cách hát, cũng có hai điệu: hát Nam và hát Bắc.
Hát Nam câu làm theo thể thơ song thất lục bát, thể văn riêng của ta.
Hát Bắc, là những câu làm theo thể thơ, thể phú mượn của người Tầu.
Hát Bắc dùng để đặt các câu: Bạch (lời nói của một vai mới ra trò, làm theo thể thơ), Loạn (câu bổ ý, làm theo thể thơ hoặc phú), Xướng (trần tình) làm theo thể phú, Than (tỏ tình bi ai, làm theo thể thơ. Ngâm (là bài thơ, một vai đọc ra để tỏ tình mình) [1]
Hoàng Đạo đã sáng tác vở tuồng cổ này theo đúng quy luật phức tạp của hát bội, và có lẽ ông muốn nhại vở tuồng cổ Tân diễn Đệ bát tài tử hoa tiên ký của Hoàng Tăng Bí.
Sân khấu mở vào dinh cơ cụ Hoàng [2] với hai vị tham mưu Tả Vĩnh, Hữu Hiếu, và mấy tên lâu la. Dưới đây xin chọn mấy trích đoạn:
"Chủ trại Hoàng Tăng Bí ra ngồi nghĩ việc quan.
Chủ trại ngồi bạch tán: "Như ta nay: Hồng Hoàng chủ trại, tên gọi Hoàng Tăng. Nặng đôi vai gánh chữ nho phong, bền một dạ ghi điều cổ lễ".
Thét: Nhưng rứa mà, đất bằng nổi sóng, gây việc can qua, Phong Hóa đâu mới nẩy nòi ra, đem hết thẩy mọi người công kích, đặng làm trò múa rối vui chơi. Văn ta hay, cứ chế rỡn hoài, không hề thấy một lời khen tặng. Cười nhạt, nói: ha ha! Thét hường: một đầm mấy con cá lớn, xổ lầu ngại lúc voi xô.
Tán: Rứa như ta, từ thủa múa cây bút sắt, dư luận cầm cân, trong cẩm nang sẵn có mưu thần, trừ Phong Hóa âu ta phải dụng a!"
Và đây là chân dung Nguyễn Văn Vĩnh:
"Tả tham mưu Nguyễn Văn Vĩnh ra bạch:
Người đời thay ý kiến, như chong chóng quay - quay thế mà nghĩ cũng hay hay; tít mù tắt hết ngày hết tháng.
"Tán: Ta tên Văn Vĩnh, chủ báo Annam, đường văn minh đi bước tiên phong, tư tưởng mới giốc lòng truyền bá.
Thét hường: Rứa mà khi nhàn rỗi, còn thú đánh tổ tôm. Lại giỏi nghể bấm độn cát hung, tìm long mạch cùng là xem số, quyết, đem tài thi thố mà phò chủ trại Hoàng. Theo phương trâm "quốc túy bảo tồn", cho thiên hạ biết ta thủ cựu."
Và đây là Hữu tham mưu Nguyễn Khắc Hiếu:
"Hữu tham mưu Hiếu rót rượu uống.
Tán: "Say chuếnh choáng non xanh còn chẳng thấy, thời mưu cao kế diệu biết đâu tìm, hay bây giờ bọn ta hóa ra chim, theo giấc mộng bay về nơi tiên cảnh, hay bây giờ ta đem rượu cúc rủ quân thù đặng chén say sưa, bao giờ cho say đứ say đừ, khi ấy sẽ ra tay trừ khử!"
Nói đến đây, Hữu tham mưu túy lúy, gục xuống bàn không còn biết gì nữa. Chủ trại nhìn hữu tham mưu ra ý thương hại. Ngâm:
"Thử thị Đà giang phi Xích Bích
Dã vô Gia Cát giữ Chu Lang"
Sau khi giới thiệu các nhân vật và sự bàn bạc chiến lược dẹp quân thù bên Hoàng trại chủ, đến phần II, mới nói đến bên Phong Hóa: Tứ Ly ngồi chễm chệ trên thành hút thuốc lá, đội mũ Khổng Minh, còn Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) oai phong cầm bút thần ra giao chiến:
Nhát Dao Cạo ra khiêu chiến:
"Như ta nay:
Tán: Sắc như nước, bóng như gương, ngọn bút thần soi mới bả văn chương, lấy giao, cạo những lời vô nghĩa.
Bớ bọn kia: Chẳng biết thân ván cùn bút rỉ, dám khoe khoang mẫn thế ưu thời. Điều lỗi lầm ta vạch mắt cho coi, lời chỉ giáo như nước trôi đầu vịt".
Các vị đầu lĩnh bên Hoàng trại chủ sợ mất vía, chẳng ai dám ra tỷ thí, có Nguyễn Phùng liều mạng, được vài hèo, thua chạy có cờ, phu nhân bèn ra tiếp sức:
"Cô Việt An, than:
Chàng ôi, tài thao lược chàng còn phải chạy, tài mọn này thiếp đâu dám xông pha, âu là ta nên trở lại nhà, duyên văn tự từ rầy thôi hết dám.
Nhát Dao Cạo đứng ngâm:
"Anh hùng đáng mặt anh hùng.
Việt An mất vía, Nguyễn Phùng rẽ cương.
Hỏi ai còn dám tranh cường.
Còn ai dám viết văn chương lạ đời".
Nguyễn Công Tiễu nhân danh nhà khoa học, liều chết xông ra, cũng chỉ được vài hèo rồi thua chạy. Lê Công Đắc liều mình tiếp chiến.
Việt Sinh ra bạch:
Anh Nhát Dao Cạo! hãy dừng tay lại, để mỗ ra tài.
Lê Công Đắc và Việt Sinh giao tranh, Đắc thua chạy.
Việt Sinh đứng tán:
Ngẫm xem cuộc thế như đám mây chiều, gió chạy mây theo, thiên hình vạn trạng. (…)
Ngâm:
Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương
Nguyễn Tiến Lãng ra bạch Thét
Bớ Việt Sinh! Ai khiến mi thương, ai cầu mi sửa.
Như ta đây hay than hay thở, trông hoa xoan rụng lòng ta không nỡ, thấy ve sầu kêu nước mắt khó cầm, thì sao ngươi không cứ mặc ta khóc thầm, mặc ta kéo thiếu niên vào cõi đời sầu khổ".
Vở kịch viết theo đúng quy luật tuồng hát bội. Chữ nghĩa đối chát. Cách mô tả nhân vật gần như toàn bích:
Hoàng Tăng Bí: Nặng đôi vai gánh chữ nho phong, bền một dạ ghi điều cổ lễ.
Nguyễn Văn Vĩnh: Đường văn minh đi bước tiên phong, tư tưởng mới giốc lòng truyền bá.
Tản Đà: Say chuếnh choáng non xanh còn chẳng thấy, thời mưu cao kế diệu biết đâu tìm.
Khái Hưng: Sắc như nước, bóng như gương, ngọn bút thần soi mới bả văn chương, lấy dao, cạo những lời vô nghĩa.
Tứ Ly vẽ chân dung tài tình gần được như… Nguyễn Du. Tác phẩm giễu cái cổ nhưng phục tài người cũ. Dùng biền ngẫu để nhại biền ngẫu: gậy ông đập lưng ông. Lấy giọng các cụ bỏ miệng các cụ để các cụ tự giễu, đó là lối cưỡng bách tự trào, có hiệu ứng công phá mãnh liệt.
Tứ Ly mở đầu lối hài hước độc đáo bằng tuồng hát bội, hình thức này chưa có ở Việt Nam lúc bấy giờ. Tuồng cổ tân thời trở thành "cổ điển" ngay từ khi mới ra đời, ngày nay chúng ta đọc vẫn còn thích thú. Thích hơn đọc tuyệt tác Sơn hậu:
"Phàn Định Công bạch:
Xuống xa so đức Thuấn
Lên vai nối nhân Nghiêu
Dân không lời kẻ ức kêu vang
Ngục chẳng tiếng người oan than khóc"
Nguyễn Tường Long dùng hai bút hiệu chính: Tứ Ly (mặc dù là) giờ xấu nhất, quyết đứng lên cải tổ Phong Hóa, và Hoàng Đạo (giờ tốt nhất) để phụng sự Ngày Nay. Còn tên thật Tường Long biến thành Tòng Lương, Tùng Lương hoặc Tứ Linh, Tống Sĩ…
Tứ Ly - Hoàng Đạo là người có tư tưởng canh tân nhất về mọi phương diện trong Tự Lực văn đoàn. Nhưng phải đợi đến khi Phong Hóa bị đóng cửa; uất ức, Tứ Ly mới trở thành Hoàng Đạo, lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn và Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Trong Tứ Ly còn có chữ Tứ, ý chỉ người con thứ tư trong gia đình Nguyễn Tường. Trên Phong Hóa số 17 (13-10-1932) khi Khái Hưng ký tên Nhị Linh, để công nhận Nhất Linh là chủ soái văn đoàn, thì Nhất Linh cũng vội ký tên Tam Linh, để tỏ ý mình là em đứng sau Nhị Linh. Hoàng Đạo, ký tên Tứ Linh, trên Phong Hóa số 20 (4-11-1932) xác nhận mình là em hai vì sao bắc đẩu. Tất cả những tế nhị này chứng tỏ, họ không màng chiếu trên chiếu dưới, họ sống với nhau trong tình huynh đệ tương kính, và khi Nhất Linh cho Khái Hưng một đứa con, thì sự kết nghĩa trở thành thiêng liêng, cao thượng. Và họ ở với nhau như vậy, trọn đời.
Thạch Lam
Vào làm việc ở Phong Hóa ở tuổi 22, Việt Sinh làm phụ tá cho chủ bút Khái Hưng trông coi bài vở, đọc, lựa, trả lời thư độc giả, viết tin thời sự hàng tuần [3], sau điểm báo và điểm sách xen kẽ với Lê Ta (Thế Lữ), nhưng ông đã học nghề văn bằng cách viết phóng sự.
Nguyễn Tường Lân, bắt đầu viết trên Phong Hóa từ số 14, ký T.L [Tường Lân viết tắt], từ Phong Hóa 15, ký Việt Sinh. Đến Phong Hóa số 98 (18-5-34), lần đầu tiên ký tên Thạch Lam dưới một bài điểm báo. Và đến Phong Hóa số 109 (3-10-34), số đặc biệt có chủ đề Sóng lam cát trắng, bút hiệu Thạch Lam được ký dưới bài tùy bút đầu tiên Sóng lam cát trắng và bài tạp bút Bên làn sóng, mô tả cảnh và người tắm bể Đồ Sơn.
Văn bản đầu tiên, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) là Lệ Hồng quyên sinh, ký tên T.L, kể chuyện cô Lệ Hồng suốt ngày chỉ buồn rầu nghĩ đến tự tử, bắt đầu bằng câu:
"Lệ Hồng đã ngoài đôi mươi, lúc nào cô cũng buồn, nét mặt đăm đăm như chìm đắm vào trong một thế giới đầy những gió trăng hoa mộng, riêng cái sác [xác] thịt còn vướng víu đến cõi trần bạc bẽo vô duyên này. Từ đó, cô mới có cái ý tưởng lìa sác thịt bay lên thế giới mộng ảo. Cho được như ý muốn, chỉ có quyên sinh".
Lệ Hồng bốn lần quyên sinh không chết: lần đầu, cô mua hoa hồng về chất đầy phòng, sáng sau ngủ dậy vẫn thấy mình chưa chết. Lần thứ hai, cô mua thuốc phiện về nếm thử, thấy đắng quá, vứt đi. Lần thứ ba cô ra hồ Hoàn Kiếm định trầm mình, trông nước xanh lè, rêu bám thành váng có mấy con đỉa lượn lờ, sợ quá, sợ đỉa, sợ rét, cô lại không biết bơi, đành về nhà, mắc dây lưng lụa lên cửa sổ, thòng cổ vào, nhưng dây đứt, cô rơi xuống đất khá đau…
Lúc đó, Phong Hóa phát động chiến dịch chống sầu thảm, Thạch Lam tiếp tay Khái Hưng với bài xã luận Sầu thảm nhiều rồi, ký tên Việt Sinh, chủ trương "quét sạch" sầu thảm bằng tiếng cười trên Phong Hóa số 15 (29-9-32). Sau đó, ông viết truyện ngắn thứ hai Nữ sĩ Lệ Hoa (Phong Hóa số 16, 6-10-32) ký tên Việt Sinh, để chế giễu cô Lệ Hoa, chỉ viết truyện bi thảm bịa đặt.
Hai truyện ngắn Lệ Hồng quyên sinh và Nữ sĩ Lệ Hoa là bài tập, chưa có gì đáng kể.
Bài ký Một năm Cao đẳng, in trên Phong Hóa từ số 17 (13-10-32) đến số 23 (25-11-32), khá hơn, viết về giai đoạn học trường Canh Nông, cho thấy mấy nét đặc biệt của Thạch Lam: Chú ý đến chi tiết, đến hoàn cảnh, đến thái độ của bạn cùng lớp, đến cử chỉ, sự vui buồn của họ… Tuy lời văn còn vụng về, nhưng sự thành thực và óc quan sát đã có trong bài ký này.
Hà Nội ban đêm
Ngòi bút Việt Sinh nổi trội hơn với loạt phóng sự dài Hà Nội ban đêm viết chung với Tràng Khanh (từ Phong Hóa số 37, 10-3-33 đến Phong Hóa số 60, 18-8-33). Theo Nguyễn Tường Bách thì Tràng Khanh là một người bạn hay đi chơi đêm, về kể chuyện cho Việt Sinh viết lại.
Hà Nội ban đêm, Phong Hóa số 37 (10-3-33)
Hà Nội ban đêm bộc lộ khuynh hướng xã hội của Thạch Lam: người thanh niên 23 tuổi đã cúi xuống thân phận tối tăm của những cô gái điếm: phần lớn đều là gái quê, muốn trốn cuộc hôn nhân ép buộc, hoặc bị lấy chồng tàn tật, bị sở khanh quyến rũ rồi bỏ, bị đối xử tàn nhẫn trong gia đình, bị những mụ tú bà tân thời dụ dỗ ra tỉnh để được mặc áo đẹp, lấy chồng sang… Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu cảnh đời, khi ngang trái, khi giả tạo, dối gian… Tác giả vén màn lên nhiều khía cạnh khác nhau trong đời sống nhà săm [chambre] ổ điếm, cách tiếp khách của mỗi "tổ chức", mỗi tú bà, cả những "nạn nhân" cũng sáng tạo nhiều thủ đoạn để rút tiền khách làng chơi. Hà Nội ban đêm là bức tranh đen tối đầu tiên về Hà Nội ngàn năm văn vật. Thạch Lam đã nhận được những lời phê phán gắt gao vì dám "bôi nhọ" Hà thành.
Ở đây xin nói qua về lịch sử văn phóng sự: Tam Lang bắt đầu với phóng sự Tôi kéo xe, in trên Ngọ Báo khoảng tháng 6-1932. Lúc đó Phong Hóa số 1 mới ra đời. Chín tháng sau, Việt Sinh bắt đầu phóng sự Hà Nội ban đêm trên Phong Hóa số 37 (10-3-1933) và hơn năm sau, Vũ Trọng Phung viết Cạm bẫy người trên Nhật Tân số 2 (9-8-1933). Đó là những phóng sự đầu tiên, với ba phong cách hoàn toàn khác nhau, đều chiếu vào những khía cạnh đen tối nhất của xã hội: Tam Lang lật mặt trái nghề kéo xe. Việt Sinh chiếu vào ngõ ngách của nghề làm điếm và Vũ Trọng Phụng điều tra nghề cờ bạc bịp.
Sáng tạo thể văn tùy bút
Tình cờ Việt Sinh (Thạch Lam) trở thành người sáng tạo ra tùy bút hiện đại.
Việt Sinh được Nhất Linh chỉ định (hay tự chọn) viết phóng sự? Không thể biết được.
Nhưng, như ta sẽ thấy, phóng sự của Thạch Lam khác hẳn với các loại phóng sự khác cùng thời, nó là một thứ tùy bút văn chương.
Ngay từ Phong Hóa số 33 (10-2-33) phóng sự Trên đồi Lim, ngày giỗ Tổ đã hiện dần những nét riêng của Thạch Lam. Ngày 13 tháng giêng là ngày giỗ Tổ (Hùng Vương), được tổ chức ở cả một vùng đồi Lim. Dân thành thị, thôn quê đổ về xem hội, quần áo quê, tỉnh, mỗi kiểu một vẻ. Họ về xem các cuộc chơi: con gái, đánh đu, hát đúm. Tiếng hát là ngôi sao sáng của ngày hội:
"Ai nấy yên lặng một lát, lắng tai nghe Tiếng hát cất lên dịu dàng, thong thả - các cô con gái nhìn nhau, con mắt say sưa, bao nhiêu tinh thần đều để vào câu hát, các cô ngâm dài ra và gióng tiếng cho đều:
Hỡi người nhân tình đấy ơi…
Áo hoa ướt đầm, này ấy, ai ơi… dòng nước xuôi…
Tiếng hát khi lên cao, xuống thấp, trong và sang sảng, ngân dài ra như dư âm văng vẳng của tiếng chuông…"
Bài phóng sự được Đông Sơn (Nhất Linh) minh họa, cho thấy cảnh hội bầy ra trước mắt, đông vui, tình tứ, từ sáng đến chiều. Bỗng trời đêm giáng xuống, mọi sự thay đổi, nhẹ nhàng trắng biến thành đen:
"Trời đã bắt đầu gần tối, sương mù xuống bao bọc lấy đồi Lim làm tiếng nói nghe như khẽ và xa. Còn cô con gái thấy đứng một mình là nguy hiểm, cứ quanh quẩn sát lấy nhau, kéo khăn vuông lên rồi thu hai tay vào bọc đứng yên lặng.
Trong bóng tối nhấp nhoáng, ta lại thấy bóng người sô đẩy nhau, một cô hàng cá bị hai người chòng ghẹo, gỡ mãi không ra, thúng cá đổ tung, mấy con cá giếc lấp lánh sáng trên cỏ ướt sương.
Trong cái không khí yên lặng của đêm xuân đầm ấm, ta nghe thấy tiếng thì thầm to nhỏ, tiếng quần áo sột soạt, những lời âu yếm van xin, thỏ thẻ trong sương mù…"
Tất cả nhạy cảm và tế nhị của Thạch Lam đã hiện ra trong câu văn ngắn ngủi này: Lợi dụng bóng đêm, phần tối của con người hiện ra, đồng lõa, trong không gian hững hờ, trong bất lực hoàn toàn của mấy con cá giếc nhỏ bé, vô tội.
Không một nhà báo viết phóng sự nào làm như thế, bởi vì họ chưa phải là nhà văn.
Phong Hóa số 34 (17-2-33) có bài Nghe hát quan họ một đêm ở Lũng giang: tiếp tục sau một ngày trẩy hội, đêm về nghe hát đúm. Việt Sinh vẫn không viết phóng sự như mọi người, nghĩa là như một nhà báo chép lại các sự kiện mình thấy, mà ông viết với ngòi bút của một nhà văn nhạy cảm, lắng nghe từng tiếng động, từng hơi thở, chụp lại từng bức tranh, bởi ông chú ý đến thân phận con người, đến cảnh sống của những cô gái quan họ, ông đến đó để tìm hiểu và ghi lại tâm sự, nỗi buồn của họ.
Tiếp đó, tới Phong Hóa số 77 (15-12-33), Việt Sinh sáng tạo ra ra một loại phóng sự khác, trong bài Xòe của các cô nàng, viết về múa Xoè của người Mường ở Hòa Bình. Ông cho biết: hai anh em ông Đinh Công Nhiếp và Đinh Công Niết, Chánh quan lang đã lấy điệu "múa xòe giải lụa" ở vùng Phong Thổ, dạy các cô Mường Hòa Bình:
"Xỏe giải lụa" hay là "múa quạ" đều chú trọng vào cái vẻ linh động của giải lụa mùi hay cánh quạt mở ra gấp lại cho khéo, giống như cánh con bươm bướm chờn vờn trên bông hoa. (…) Nếu ta là khách quý lên chơi chốn quê hương các cô nàng, các cô nàng sẽ đem những điệu múa ấy ra mừng, tay tung giải lụa, miệng chúm chím ca:
"… Chào quan như ngọc lưu ly…
Như tiên hạ giới biết đi đằng nào…
Chào quan như tấm lụa đào…
Như tiên hạ giới, như sao trên giời…
Chào quan có bấy nhiêu lời…
Như tiên hạ giới, như người trên cung…
Bấy nhiêu lời cũng đủ diễn cho ta biết cái thi vị lạ lùng u uẩn của vùng đồi cây rậm, của những suối réo dưới khe đá hay những rừng sim rộng rãi bao la mà chiều chiều, các cô nàng đeo giỏ đi hái hoa. Không phải vì nghĩa lý của câu hát, nhưng vì cái giọng hát thanh thanh mà nhẹ nhàng, buồn bã mà lạnh lùng, như tiếng vượn kêu trong rừng khuya".
Nhưng tiếc thay: "Sau khi biểu diễn trước Hoàng Thượng, thấy công chúng hoan nghênh, ông Đinh Công Huy [cựu Án sát tỉnh Hòa Bình] mang các cô nàng lên sân khấu rạp Quảng Lạc diễn lấy tiền giúp… hội Quảng Lạc. Rồi bọn xòe ấy có lẽ đi Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, diễn như một ganh hát tuồng!"
Việt Sinh luôn luôn nhẹ nhàng, se sẽ luồn vào hồn ta những nhận xét có vẻ hững hờ mà đớn đau như thế. Trong bài Phong dao Mường (Phong Hóa số 78, 22-12-33), ông sưu tầm được bài Mười yêu của người Mường, âu yếm và tha thiết hơn bài Mười thương của người Việt:
Một yêu khăn lượt vòng giây,
Hai yêu yêu cả đôi giầy bàn chân.
Ba yêu xé lụa may quần.
Bốn yêu xé nhiễu may chăn đắp cùng
Năm yêu yêu lạ yêu lùng.
Sáu yêu em muốn cùng chung một nhà,
Bảy yêu phận đẹp duyên hòa,
Tám yêu yêu cả mẹ cha nhà chàng…
Chín yêu se sợi chỉ vàng,
Mười yêu chỉ cốt lấy chàng mà thôi!"
Và đây là lời anh chàng bị người yêu phụ tình:
"Yêu em em nỡ lấy chồng
Để anh về chốn nhà không anh chờ
Chờ em biết đến bao giờ
Quạ kêu khe suối, giăng mờ đầu non…"
Các cô Mường đều nói được tiếng Việt nên không có sự "bất đồng ngôn ngữ"
Bài Xoè của các cô nàng pha trộn văn chương và nghiên cứu, cho thấy nhà biên khảo có thể nhận xét vũ điệu bằng con mắt nhà thơ, để tạo ra một thể văn mới, đó là tùy bút văn chương. Thạch Lam đã ảnh hưởng sâu sắc đến tùy bút Nguyễn Tuân sau này, đặc biệt khi ông viết bài Xòe trong tập tùy bút Sông Đà (1960).
Đầu năm 1935, khi Nhất Linh quyết định ra báo Ngày Nay, ông giao cho Nguyễn Tường Cẩm, người anh, làm chủ nhiệm và Thạch Lam làm chủ bút (số 1 ra ngày 30-1-35), Thạch Lam không phải phụ trách những mục thường xuyên như viết tin hàng tuần, điểm báo, điểm sách nữa, mới có thì giờ và tự do hơn trong công việc, có điều kiện để mở rộng tài năng của mình trên ba phương diện:
- Trở thành cây bút chuyên về mỹ thuật của Tự Lực văn đoàn.
- Viết truyện ngắn giá trị đầu tiên: Đói.
- Thực hiện phóng sự lịch sử: Bóng người Yên Thế.
để mở đầu cho thời kỳ phóng sự trên báo Ngày Nay, với những ngòi bút: Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em út Nhất Linh) và nhất là Trọng Lang, người sẽ trở thành cây bút số một về phóng sự của Ngày Nay. Chúng tôi sẽ nói đến giai đoạn này trong một chương sau.
Đói, là truyện ngắn đầu tiên của Việt Sinh trên Ngày Nay, xuất hiện một lối viết mới: hiện thực tâm lý xã hội: "Cơn đói lại sôi nổi dạy như cưa ruột, xé gan, mãnh liệt át hẳn cả nỗi buồn… Sinh thấy người lả đi, mệt nhọc dựa vào lưng ghế… chàng muốn chống cự lại, muốn quên đi, nhưng không được, cái cảm giác đói đã lan cả khắp người như nước triều tràn trên bãi cát… Mỗi lần cơn gió, mỗi lần chàng ngửi thấy mùi ngậy béo, cái mùi thơm của chiếc bánh cóng… Mũi tự nhiên nở ra, hít mạnh vào, cái mùi thơm thấu tận ruột gan, như thấm nhuần vào xương tủy".
Bây giờ ta tưởng là thường, nhưng đó chính là những chữ quốc ngữ đầu tiên soi vào lục phủ ngũ tạng con người bị cái đói hành hạ, những chữ của một kẻ xẻ ruột để tìm xem, trước cái đói, còn có cái gì quan trọng hơn, như thể diện, nhân cách?
- Không. Tất tất cả mọi vấn đề khác đều không còn giá trị gì. Chỉ một cái đói bao trùm, làm chủ, nó xuyên suốt tâm hồn và thể xác. Đó là tuyệt phẩm đầu tiên, in trên Ngày Nay số 7 (5-4-35) và số 8, (16-4-35), định vị Thạch Lam trong Tự Lực văn đoàn và trong văn học Việt.

Chú thích:
[1] Theo Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc Gia giáo dục xuất bản, 1960, trang 163-166.
[2] Cụ Hoàng Tăng Bí, (1883-1939), một trong những nhà nho sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục; sau cộng tác với Trung Bắc Tân Văn.
[3] Theo Thế Lữ, Lê Ta làm báo, Phong Hóa số 103 (22-6-34) đến Phong Hóa số 113 (31-8-34).
9/6/2021
Thụy Khuê
Theo http://vanviet.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...