Tự Lực văn đoàn
Văn học và Cách mạng - Phần 1
1- Ngòi bút
đứng lên"Người
ta không viết cho kẻ nô lệ. Nghệ thuật văn xuôi liên hệ với một thể chế duy
nhất mà nó còn giữ được ý nghĩa trọn vẹn: đó là dân chủ. Khi cái này bị đe dọa,
thì cái kia cũng bị đe dọa theo. Tranh đấu bằng ngòi bút, nhiều khi cũng chưa
đủ. Tới ngày nào bị bắt buộc phải gác bút thì lúc đó nhà văn sẽ phải cầm súng.
Như thế, bất cứ anh đến với chữ nghĩa bằng phương tiện gì, dù anh có những tư
tưởng như thế nào, văn chương cũng vẫn dồn anh ra mặt trận. Viết tức là một
cách nào đó muốn có tự do, và nếu anh đã bắt đầu, thì dầu muốn dầu không, anh
phải dấn thân [1]".
Những lời Jean-Paul Sartre viết năm 1948
trên đây tại Paris, phản ảnh thực tại của phong trào văn học và cách mạng duy
nhất ở Việt Nam: Tự Lực văn đoàn.
Khởi đầu, họ chỉ là những thanh niên yêu
văn chương nghệ thuật, mới tập viết văn hoặc đang học vẽ, nhưng chỉ trong vài
năm, họ đã trở thành những tên tuổi hàng đầu của nền văn học và hội họa nước
nhà. Họ đã tạo được một phong trào đổi mới văn chương tư tưởng, cải tiến xã hội
chưa từng thấy. Ẩn dưới chiều sâu của cuộc cải cách văn chương và xã hội là mục
đích giải phóng dân tộc khỏi vòng nô lệ.
Khi chính quyền thực dân dùng sự kiểm
duyệt khắt khe để triệt hạ sức phản kháng bằng ngòi bút, những người cầm đầu Tự
Lực văn đoàn đã bỏ văn nghệ để cầm súng. Đó là lịch sử của nhóm Tự Lực, quy tụ
chung quanh bốn thành viên chính: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia
Trí. Đây cũng lịch sử của một tình bạn lạ lùng giữa Khái Hưng và Nhất Linh, từ
những bước đầu thành lập Tự Lực văn đoàn. Nguyễn Gia Trí là người ra đi cuối
cùng, sau khi các bạn đã lần lượt nằm xuống.
Ta thử tưởng tượng: dưới thời Pháp bị
Đức đô hộ, Paris có một tờ báo trào phúng hàng tuần, kiểu Le Canard
enchainé (Con vịt bị xích) ngoài những tiểu thuyết của Stendhal,
Balzac… còn in tranh hài hước của Picasso, Braque… kèm với những bài xã luận
chính trị nảy lửa bàn về quyền làm người, để chống lại chế độ Đức quốc xã đang
thống trị trên nước Pháp.
Tờ báo tưởng tượng này chính là ảnh thực
của hai tờ tuần báo Phong Hóa Ngày Nay, trong thời điểm 1932-1940,
tại Hà Nội, đã quy tụ những ngòi bút tài ba nhất của thế hệ: Khái Hưng, Nhất
Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam… và của các họa sĩ hàng đầu: Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc
Vân… cùng những tác giả nổi tiếng khác, hợp lực cộng tác để xây dựng một nền
văn nghệ quốc ngữ mới, đưa dân tộc ra khỏi hai vòng nô lệ: nô lệ hủ tục và nô
lệ thực dân, với những mục đích chính:
- Phát triển và đổi mới nền văn học quốc
ngữ.
- Phê bình đạo lý Khổng Mạnh, chống chế
độ đại gia đình, loại bỏ hủ tục, mê tín, dị đoan.
- Xây dựng một xã hội tân tiến.
- Tranh đấu chống thực dân, đòi tự do
dân chủ.
Họ đã liên kết văn chương với hội họa
vào cuộc tranh đấu chống chính quyền thuộc địa, trên bình diện văn hóa, trước.
Khi cuộc chiến bằng ngòi bút bị bức tường kiểm duyệt chận lại, họ quay sang cầm
súng, sau. Đó là thực chất của phong trào Tự Lực văn đoàn.
Trong tám năm, từ 1932 đến 1940, Tự Lực
văn đoàn hoạt động không ngừng trên khuôn khổ của hai tờ tuần báo:
Phong Hóa, số 1 (ra ngày 16-6-1932), do Trần
Khánh Giư (Khái Hưng) chấp bút từ số 1 đến số 13 (8-9-32). Từ Phong Hóa số
14 (22-9-32) Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) làm Giám đốc tới số 190 (5-6-36) thì
bị rút giấy phép, phải đình bản hẳn.
Ngày Nay từ số 1 (30-1-35) đến số 224
(7-9-40) do Nguyễn Tường Cẩm, Nguyễn Tường Tam, Trần Khánh Giư, Nguyễn Tường
Lân (Thạch Lam) thay phiên nhau làm Giám đốc.Con đường đấu tranh của Tự Lực văn đoàn,
thể hiện trên ba bình diện: Chính trị, trào phúng và văn
chương, từ Phong Hóa số 14 (22-9-1932) đến Ngày Nay số 224 (7-9-1940), là
số cuối cùng.
Toàn bộ sưu tập Phong Hóa Ngày
Nay đã được công bố, từ ngày 12-9-2012, trên một số website trong và
ngoài nước, qua các thư viện điện tử: Người Việt Online, Diễn Đàn.org,
Viện Việt Học… ở hải ngoại, và thư viện một số đại học trong nước. Nhờ cố
gắng của năm người: Phạm Phú Minh, chủ biên báo mạng Diendantheky, Nguyễn Trọng
Hiền, con trai họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường, Nguyễn Tường Giang, nhà thơ, con
trai nhà văn Thạch Lam; Phạm Thị Thảo bút hiệu Phạm Thảo Nguyên, con dâu nhà
thơ Thế Lữ và Thành Tôn, nhà thơ.[2]
Nhờ bộ sưu tập này, không những chúng ta
có thể đọc trực tiếp những tác phẩm văn chương của Khái Hưng, Nhất Linh, những
bài nghiên cứu chính trị của Hoàng Đạo, xem tranh hài hước châm biếm khuynh đảo
của Nguyễn Gia Trí, để hiểu rõ công lao xây dựng văn chương quốc ngữ và tranh
đấu cách mạng của Tự Lực văn đoàn.
Năm 1938, Mặt trận bình dân (Le Front
populaire) do Léon Blum cầm đầu, mất quyền lãnh đạo nước Pháp, chính sách cai
trị ở thuộc địa khe khắt hơn, Nhất Linh cùng Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia
Trí, lập đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính.
Tháng 9 năm 1939, đại chiến thứ nhất
bùng nổ, chính quyền thực dân bắt giam những người đối lập và phát động chính
sách kiểm duyệt nghiệt ngã. Ngày Nay không còn đất vẫy vùng,
những người cầm đầu Tự Lực văn đoàn quyết định bỏ bút, cầm súng.
Năm 1940, tổ chức cách mạng của họ bị
phát giác. Những người chủ chốt bị truy nã. Ba thành viên nòng cốt: Nguyễn
Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Gia Trí và Trần Khánh Giư (Khái Hưng), lần lượt
bị bắt trong tháng 9 và tháng 10/1941. Riêng thủ lãnh Nguyễn Tường Tam (Nhất
Linh) trốn thoát sang Tàu.
Cho tới nay, khi viết về Tự Lực văn
đoàn, các tác giả thường chỉ chuyên chú đến khía cạnh văn chương,
không mấy ai để ý đến khía cạnh chính trị và trào
phúng, là hai địa bàn quan trọng khác, tạo thành thế chân vạc trong chiến
lược giải phóng dân tộc bằng ngòi bút của Tự Lực văn đoàn.
Đặc biệt phần trào phúng,
bắt đầu trên Phong Hóa từ số 14 (22-9-1932) và trở thành căn cước thứ thứ ba
của tờ báo, bên cạnh chính trị và văn chương.
Khi Phong Hóa bị rút giấy phép phải đình bản hẳn sau số 190
(5-6-1936), toàn bộ ban biên tập chuyển sang báo Ngày Nay số 16 (12-7-36), và
trên đầu tờ báo (exergue) này, Nhất Linh chia nội dung làm hai phần:
1- Ngày Nay Tiểu Thuyết
2- Ngày Nay Trông Tìm.
Gần hai tháng sau, tới Ngày Nay số 25
(3-9-36), Nhất Linh lại đổi exergue một lần nữa, ông chia báo làm ba phần:
1- Ngày Nay Trông Tìm.
2- Ngày Nay Trào Phúng
3- Ngày Nay Tiểu Thuyết.
Chữ Trông tìm tuy có
nghĩa tìm kiếm khoa học, mở rộng hiểu biết, nhưng ở đây thầm ngụ ý chính
trị. Mục Trông tìm do Hoàng Đạo phụ trách, với những bài
chính luận, trình bày cho độc giả hiểu thế nào là tự do và dân
chủ, và ông viết những bài xã luận quyết liệt, đòi các quyền: tự do
ngôn luận, tự do lập đảng và quyền làm người.
Điều này chứng tỏ kể từ tháng 9
năm 1936, Nhất Linh đã đưa vị trí tranh đấu chính trị, do
Hoàng Đạo phụ trách, lên hàng đầu. Ông đặt châm biếm, trào phúng, do
Nguyễn Gia Trí phụ trách, sang hàng thứ nhì, và đưa văn chương tiểu
thuyết… của Khái Hưng, Nhất Linh xuống hàng thứ ba. Không phải ông coi
thường văn học, mà do đòi hỏi của tình thế: Sự thay đổi này gắn bó mật thiết
với tình hình chính trị: Ngày 3-5-1936, Mặt Trận Bình Dân (Le Front Populaire)
lên cầm quyền ở Pháp, có chính sách cởi mở đối với những nước thuộc địa, quyền
tự do báo chí được nới rộng hơn, bỏ cơ quan kiểm duyệt; Nhất Linh, Khái Hưng,
Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí bèn lợi dụng tình thế, viết và vẽ mạnh
hơn, trực tiếp phê bình chính sách đàn áp của thực dân và cương quyết đòi tự do
dân chủ. Báo Ngày Nay trong giai đoạn này, đã thực hiện những
số "để đời" với bút vẽ trào phúng của Nguyễn Gia Trí.
Tự Lực văn đoàn đã đạt những thành quả
không thể chối cãi được trong thời điểm 1932-1938:
Về mặt văn học, khai phá nền văn chương
quốc ngữ: giới thiệu và phổ biến Thơ Mới, đặt nền móng cho Tiểu
thuyết và Truyện ngắn Việt Nam, trên báo Phong Hóa.
Về mặt tranh đấu chính trị, nổi trội
nhất là ba năm, từ 1936 đến 1938, trên báo Ngày Nay: khi Hoàng Đạo, trở thành
lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn và Nguyễn Gia Trí, công khai vẽ tranh châm
biếm với bút hiệu RIGT (trước đó vẽ không ký tên hoặc ký nhiều tên khác nhau),
chủ ý kết hợp ý nghĩa châm biếm trong tranh với nội dung chính trị của Hoàng
Đạo. Từ đó, Nguyễn Gia Trí phụ trách toàn bộ hý họa và minh họa tờ Ngày
Nay. Phải nhận rõ công việc này mới có thể hiểu tại sao Nguyễn Gia Trí bị
đánh đập tàn nhẫn khi bị Pháp bắt năm 1941, và vai trò quan trọng của ông trong
Tự Lực văn đoàn.
Thế Lữ, rút dần khỏi Tự Lực văn đoàn, ra
làm kịch với Đoàn Phú Tứ từ năm 1937. Tháng 10-1938, ông lập ban kịch Thế Lữ.
Sang năm 1939, Nhất Linh, Khái Hưng vì
hoạt động chính trị, viết ít hơn trước, Nguyễn Gia Trí bận công tác đảng, vắng
mặt, Tô Ngọc Vân thay thế. Chất lượng tranh hài hước trên Ngày Nay kém
sút đi nhiều, bởi vì Tô Ngọc Vân là họa sĩ tài ba, nhưng ông vẽ tranh châm biếm
không sắc bén như Nguyễn Gia Trí.
Cuối năm 1939, sau khi chiến tranh thế
giới bùng nổ, chính quyền thuộc địa thay đổi thái độ, truy lùng và bắt bớ đối
lập, gia tăng kiểm duyệt. Ngày Nay bị cắt nhiều đoạn, nhiều
bài.
Các thành viên chính của Tự Lực phải lui
vào bóng tối, chỉ còn một mình Thạch Lam xoay sở, ít người viết, tờ báo nghèo
nàn đi. Đây là thời kỳ Tự Lực văn đoàn bắt đầu tan rã.
Ngày 7-9-1940 Ngày Nay ra
số 224, số báo cuối cùng.
Mùa thu năm 1940, Nhất Linh chạy sang
Tàu.
Ngày 16-9-1941, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia
Trí bị bắt.
Ngày 31-10-1941, Khái Hưng bị bắt. Cả ba
bị giam ở Vụ Bản đến năm 1943.
Ngày 27-6-1942 Thạch Lam mất vì bệnh
lao.
Hoạt động văn học của Tự Lực văn đoàn
chấm dứt. Nhưng hoạt động cách mạng còn kéo dài thêm một thời gian nữa.
Từ trước đến nay, sự nghiên cứu Tự Lực
văn đoàn thường chỉ xoay quanh và đề cao Nhất Linh, coi ông là người đã
"sáng tạo" ra Tự Lực văn đoàn, nhất là sau khi ông tự vẫn, sự độc tôn
Nhất Linh không còn giới hạn.
Sự thực, Tự Lực văn đoàn là một tập hợp
bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, Thạch Lam, Thế Lữ,
và Tú Mỡ, nhưng chỉ có bốn cột trụ: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia
Trí. Nếu thiếu một trong bốn người này thì Phong Hóa Ngày Nay,
không thể là Phong Hóa Ngày Nay như chúng ta đã biết.
Trong cuốn sách này, chúng tôi dựa vào
những điều đã viết và vẽ trên hai tuần báo Phong Hóa Ngày Nay,
trong tám năm, từ tháng 9-1932 đến tháng 9-1940, và trên báo Ngày Nay kỷ nguyên
mới từ số 1 (5-5-1945) đến số 16 (18-8-1945), một phần những số báo Việt Nam
chúng tôi có được và trọn bộ báo Chính Nghĩa, cùng những tài liệu rời khác, để
thử tìm lại:
- Hành trình của Tự Lực văn đoàn, con
đường văn nghệ và cách mạng.
- Làm sáng tỏ vai trò của Khái Hưng,
Nhất Linh, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí.
- Giới thiệu các tác phẩm cuối cùng của
Khái Hưng, sau khi Tự Lực văn đoàn tan rã.
- Sự bôn ba hải ngoại của Nhất Linh,
Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí từ 1946 đến 1950.
Khi nói đến Tự Lực văn đoàn hay Phong
Hóa Ngày Nay, là chúng ta nói đến một tổ chức văn nghệ nhất quán của một nhóm
người có tư tưởng đổi mới xã hội và giải phóng dân tộc.
Nhất Linh Nguyễn Tường Tam là người lãnh
đạo Tự Lực văn đoàn và đảng Hưng Việt, sau đổi thành Đại Việt Dân Chính, sau
cùng hòa nhập với Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Khái Hưng là cột trụ chính, quán xuyến
tất cả những tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay, Ngày Nay kỷ nguyên mới, Việt Nam,
Chính Nghĩa. Ông cũng là người xây dựng nền móng tiểu thuyết và truyện ngắn
hiện đại Việt Nam.
Hoàng Đạo là người khai trương lý thuyết
dân chủ, nhân quyền một cách có hệ thống và toàn diện, lý thuyết của Hoàng Đạo
vượt xa Phan Châu Trinh, bởi ông thâm hiểu Tây học và luật học.
Thạch Lam khích động lòng yêu nước,
nhưng không trực tiếp hoạt động.
Thế Lữ và Tú Mỡ không tham gia chính
trị, giữ khoảng cách với văn đoàn, khi hiểm nguy.
Xuân Diệu chỉ là thành viên từ cuối
1938, năm 1939 góp bài ít hẳn đi, năm 1940, ngừng hẳn.
Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí ở trong tổ
chức văn hóa và chính trị này từ lúc phát sinh đến hồi kết thúc cùng với Nhất
Linh và Hoàng Đạo, là bốn cột trụ xây dựng Tự Lực văn đoàn, một tổ chức tranh
đấu giải phóng dân tộc bằng con đường nghệ thuật và tư tưởng.
Chú thích:
[1] Jean-Paul Sartre, Qu’est-ce que
la littérature, Folio Essais, 1993, t. 72.
[2] Theo Phạm Phú Minh trong bài Việc
điện toán hóa báo Phong Hóa Ngày Nay: Những ý nghĩ lãng mạn giữa một ngày mùa
đông, in trong Kỷ yếu Triển lãm và Hội thảo về báo Phong Hóa
Ngày Nay và Tự Lực văn đoàn, Nxb Người Việt, Cali, 2014, trang 290-295.
2- Sự thành
lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa
Phần IBìa Phong Hóa số 154Nhất Linh hầu như không trực tiếp đem
đời sống thực vào tác phẩm, ngược lại Khái Hưng viết một số tiểu thuyết, truyện
ngắn phản ánh những biến cố đã xẩy ra, nhờ đó, chúng ta có thể tìm lại được
những mảnh đời trôi nổi của ông và các bạn, trong đó có giai đoạn đầu
tiên thành lập Tự Lực văn đoàn.
Nhưng trước khi đi xa hơn, chúng ta tên
biết qua những mốc chính:
- Phong Hóa số 1 ra ngày 16-6-1932)
- Phong Hóa số 14 (22-9-1932) hoàn
toàn đổi mới. Số báo này được Nhất Linh và Hoàng Đạo công nhận là số báo
đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.
- Phong Hóa số 190 (5-6-1936) là số cuối
cùng, sau đó bị rút giấy phép, đình bản hẳn.
- Ngày Nay số 1, ra ngày 30-1-1935.
- Ngày Nay số 16 (12-7-1936) ra đời một
tháng sau khi Phong Hóa bị đóng cửa, Tự Lực văn đoàn đưa toàn bộ biên tập Phong
Hóa sang Ngày Nay.
- Bốn năm sau, Ngày Nay ra số 224
(7-9-1940) là số báo cuối cùng.
Việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn bắt buộc
phải khởi đi từ hai tờ Phong Hóa và Ngày Nay. Nhưng trước hết phải trả lời
những nghi vấn:
- Tự Lực văn đoàn thành lập từ bao giờ?
- Trước hay sau khi Phong Hóa số 14 xuất
hiện?
- Tôn chỉ của văn đoàn là gì?
- Ai viết lại lịch sử tờ Phong Hóa?
Đó là những câu hỏi mà chúng tôi tìm
cách trả lời trong phần I này.
Tự Lực văn
đoàn có trước Phong Hóa số 14
Bốn chữ Tự Lực văn đoàn được
in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56 (ra ngày 21-7-1933), trong hai khung quảng
cáo, ở trang 5: Tự Lực Văn Đoàn sắp ra Hồn bướm mơ tiên
và Tự Lực Văn Đoàn sắp in Vàng và Máu.Lần đầu tiên xuất hiện bốn chữ Tự Lực
văn đoàn trên Phong Hóa số 56Trên báo Phong Hóa số 87 (ra ngày
2-3-1934), trang 2, có bài Tuyên ngôn Tự Lực Văn Đoàn, nội dung như
sau:
Tự Lực Văn
Đoàn
Tự Lực Văn
Đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt
có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sức giúp nhau để
đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính
cách văn chương.
Người trong
Văn Đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực Văn Đoàn và bao nhiêu tác phẩm
của mình đều được Văn Đoàn nhận và đặt dấu hiệu.
Những sách
của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn là bản thảo, gửi đến để Văn Đoàn
xét. Nếu hai phần ba người trong Văn Đoàn có mặt ở hội đồng xét là có giá trị
và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sức cổ động
giúp. Tự Lực Văn Đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách.
Sau này nếu
có thể được, Văn Đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn để
thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của Đoàn.
Tôn chỉ của Tự
Lực Văn Đoàn
1- Tự sức
mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài,
nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm giaâu thêm
văn sản trong nước.
2- Soạn hay
dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày
một hay hơn lên.
3- Theo chủ
nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người
khác yêu chủ nghĩa bình dân.
4- Dùng một
lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách Annam.
5- Lúc nào
cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6- Ca tụng
những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho ngũòi khác
đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả, quý phái.
7- Trọng tự
do cá nhân.
8- Làm cho
người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9- Đem phương
pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.
10- Theo một
điều trong chín điều này cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều
khác.
Tự Lực Văn
Đoàn
Vậy ta có thể xem ngày 21-7-1933 (ngày
bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số
56) hay ngày 2-3-1934 (ngày công bố bản tuyên ngôn Tự Lực Văn
Đoàn trên Phong Hóa số 87) là ngày Tự Lực Văn Đoàn thành lập được
không?
- Câu trả lời là Không.
Bởi vì, Tự Lực văn đoàn có trước hai
số báo này.
Phong Hóa số 154 (20-9-1935) xác nhận
hai lần rằng: Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa, như ta
sẽ thấy dưới đây:Phong Hóa số 154, 20-9-19351- Phong Hóa số 154, trang 2, trong bài
viết tựa đề: 22-9-32 Kỷ niệm ngày báo ra 22-9-35, có câu:
"Có một
điều ai cũng nhận thấy là vào thời kỳ báo Phong Hóa ra đời (kể từ số 14
trở đi, lúc Tự Lực văn đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H.) [chúng tôi in đậm] trong
làng báo có một khuynh hướng mới về mặt nhà nghề: tờ báo viết để quần chúng xem
và tờ báo mong sống vì độc giả" [1].
Bài này ký tên Phong Hóa, chắc Nhất Linh
viết chứ không phải Khái Hưng (bởi vì Khái Hưng đã làm báo Phong Hóa từ số 1,
như ta sẽ thấy ở dưới), và câu: kể từ số 14 trở đi, lúc Tự Lực văn
đoàn bắt đầu chủ trương báo P.H. có nghĩa rằng:
Tự Lực văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa từ số 14. Nói khác đi, Tự Lực văn đoàn
đã có trước Phong Hóa số 14 và Tự Lực văn đoàn nhìn nhận Phong
Hóa số 14 là số báo khởi đầu của văn đoàn.
2- Vẫn trên PH số 154, trang 2, dưới tấm
hình chụp báo PH số 14, ghi câu: "Đây là ảnh chụp số báo 14 (số
bắt đầu thời kỳ Tự Lực văn đoàn đứng chủ trương báo Phong Hóa [chúng
tôi in đậm] ra đúng ngày tứ ly là ngày mọi việc đều không
nên). Vì khổ to dễ nhầu nát, khó giữ nên đến số 20 thì thu lại bằng khổ bây
giờ)".Lời ghi dưới hình chụp số Phong Hóa 14, in
ở Phong Hóa số 154, trang 2Câu này xác định một lần nữa việc Tự Lực
văn đoàn chủ trương báo Phong Hóa.
Tóm lại, xin nhấn mạnh: Tự Lực văn
đoàn có trước Phong Hóa số 14 và Tự Lực văn đoàn chủ
trương Phong Hóa từ số 14.
3- Vẫn Phong Hóa số 154, trang 2, trong
bài Bên đường dừng bước, Tứ Ly viết:
"Cách
đây ba năm, một đêm thu giá lạnh, tôi và Nhất Linh từ biệt Khái Hưng ở báo
quán, nện gót trên đường vắng mà về. Lúc đó, vào khoảng hai giờ sáng (…) chúng
tôi thấy trong lòng nhẹ nhàng vui vẻ… Sáng hôm ấy, số đầu (tức là số
14) Phong Hóa ra đời (…) [chúng tôi in đậm].
Ba năm qua…
Hôm nay tạm dừng chân đứng lại, chúng tôi nhìn con đường đã đi; chúng tôi ra
báo ngày 22 tháng 9 năm 1932, là một ngày rất xấu: ngày tứ ly.
Không phải là một sự vô tình, chính là định ý cưỡng lại cái thuyết số mệnh nó
bắt dân ta nằm dí một nơi, đương lúc mọi người cùng tiến" [2].
Câu: "Chúng tôi ra báo
ngày 22-9-1932, là một ngày rất xấu: ngày tứ ly, chứng
tỏ cái tên Tứ Ly cũng phát xuất cùng với sự "ra đời" của báo Phong
Hóa, kể từ số 14, và phải đến báo Ngày Nay, mới đổi thành Hoàng Đạo.
Nhà in báo
Phong Hóa
Vẫn trên Phong Hóa số 154, trang 3,
trong bài Nói chuyện cũ, Nhất Linh mô tả nhà in, in báo Phong
Hóa như sau:
"Cái nhà
in in báo Phong Hóa lúc đó cũng là "một sự lạ chưa từng thấy" trên
hoàn cầu. Nó có cái tên nhũn nhặn là Imprimerie Moderne, dịch nôm là "nhà
in tân thời". Cái nhà in tân thời đó nói cho đúng ra nó là cái bếp, hay
cũng na ná như cái bếp. Những lúc chúng tôi xuống chữa bài, luôn luôn có hơi
khói mầu lam đưa thoảng qua: nhà in trông mờ ảo như một bức tranh thủy mặc Tầu.
Nhiều khi những mùi thịt bò xào, mùi chả trứng cũng theo gió bay vào thơm nức
cả. Những mùi thơm quý hóa đó chỉ vào quãng mười, mười một giờ mới có. Lúc đói
bụng vừa chữa bài, vừa ngửi những hơi thơm đó, có phần cũng dễ chịu.
Mùa rét đến
thì cái nhà bếp đó biến thành bắc băng cực. Gió lùa vào các cửa sổ đã vỡ hết
mặt kính làm cho chúng tôi không thể nào chữa bài được một cách cẩn thận. Chúng
tôi không thể nào quên được cái đêm trước ngày số báo Tết năm 1934 xuất bản.
Lúc đó vào quãng mười hai giờ đêm. Chúng tôi ở nhà báo sắp sửa về đi ngủ, thì
có giấy nói gọi báo tin máy không thể in được nữa. Xuống nhà in mới biết vì
trời rét quá mực đỏ in bià số Tết đóng cục lại.
Chúng tôi
thấy giá cả chân tay, và trông cái máy in mà thương hại. Mỗi lần người cai cho
máy chạy thử, là nó cứ rung rung như người rét run cầm cập. Sau cùng ông chủ
nhà in bảo lấy ra một cái hỏa lò đầy than hồng đặt xuống gầm máy để sưởi cho
nó. Quả nhiên máy lại chạy được. Chúng tôi lấy làm lạ rằng máy cũng biết ấm như
người; trông cái buồng máy lúc đó y như hệt cái buồng đàn bà đẻ".
Đó là diện mạo nhà in Imprimerie
Moderne, rất nghèo khổ lúc ban đầu, nhưng sau sẽ thay đổi, chúng tôi
sẽ nói đến những biến chuyển của nhà in này trong một chương sau.
Tôn chỉ của
Tự Lực văn đoàn
Bản Tôn chỉ của Tự Lực
văn đoàn có 9 điểm, chỉ hai điểm đầu là quan trọng nhất, tiếc rằng không mấy ai
chú ý, đó là:
1- Tự sức
mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước
ngoài, nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích để làm
giàu thêm văn sản trong nước.
2- Soạn hay
dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội chủ ý làm cho Người và cho Xã hội ngày
một hay hơn lên.
Nói khác đi, Tự Lực văn đoàn chủ
trương không dịch sách văn chương nước ngoài, chỉ dịch hay
soạn những sách có tư tưởng, làm cho Người và Xã hội, ngày một hay hơn
lên, tức là chỉ nên dịch sách triết học, lý luận và khoa học. Đó
là điểm rất quan trọng mà Tự Lực văn đoàn đã nghĩ ra từ đầu và họ đã giữ đúng
quy ước này: Trên Phong Hóa Ngày Nay chỉ có một vài bài thơ dịch và hầu
như không dịch truyện ngoại quốc nào trừ Giòng suối
xuân của Tourguenev. Quyết định này nằm trong chủ đích tự lực,
không chỉ tự lực vật chất, tức là không nhận tiền trợ cấp của chính
quyền thuộc địa mà còn phải tự lập cả tinh thần, tức là nhà văn
phải lấy nguồn gốc văn hóa dân tộc làm căn bản để sáng tạo ra
một nền văn chương quốc ngữ mới, không sao chép các tác
giả ngoại quốc được dịch sang tiếng Việt.
Vì Tự Lực văn đoàn không dịch truyện
Pháp sang tiếng Việt, nên người Việt muốn viết văn phải tự đào sâu và khám
phá tiếng mẹ đẻ của mình.
Nhờ quan niệm này, Tự Lực văn đoàn trở
thành đầu tàu kéo theo một thế hệ nhà văn lớn nối tiếp như Nguyên Hồng (Bỉ
vỏ, 1937; Bẩy Hựu 1940) Vũ Trọng Phụng (Giông tố,
1937; Số đỏ 1938), Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời,
1940)…
Về phía hội họa, cũng nhờ giáo sư Victor
Tardieu, giám đốc trường Mỹ thuật Đông Dương, dạy học trò phải dựa trên nền
móng văn hóa dân tộc để sáng tác, mà ông đã đào tạo nên một thế hệ họa
sĩ tài ba, như Mai Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu, thành danh tại Pháp;
Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí… thành danh ở Việt Nam.
Khác hẳn với chính sách của người Anh ở Ấn Độ, dạy học trò bỏ hẳn nghệ thuật Ấn
Độ để học mỹ thuật Tây phương, nên đã không đào tạo được những danh họa người
Ấn. Bây giờ, trên các sàn đấu giá "quốc tế" người ta tranh nhau mua
tranh (giả hay thật) của các danh họa Việt Nam, bởi vì cả Á Châu, chỉ có trường
Mỹ thuật Đông dương là "sản xuất" ra những họa sĩ có tình cách đặc
thù.
Văn học miền Nam, thời kỳ phát triển
1954-75, mặc dù có nhiều sách dịch, nhưng những nhà văn tên tuổi như Mai Thảo,
Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Hoàng… cũng không hề mô phỏng văn
chương Pháp, họ tự tạo con đường riêng bằng cách khai phá tiếng Việt và văn
chương Việt. Thanh Tâm Tuyền học Nguyễn Du. Dương Nghiễm Mậu, nhà văn "mới
nhất" về cấu trúc truyện cũng như tư tưởng, đã coi Khái Hưng là thầy.
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới cũng
vậy: Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài… là những người tự tìm tòi, tự
khám phá, làm giàu tiếng Việt, họ không sao chép văn chương ngoại quốc, nhờ đó,
tác phẩm của họ mới có giá trị lâu dài.
Hiện nay, tình hình thay đổi hẳn, người
viết văn Việt Nam đứng trước một rừng tiểu thuyết ngoại quốc dịch sang tiếng
Việt, họ bối rối, hoang mang, hoặc tự hào là mới, cứ thế phỏng theo, từ cách
viết, cách dàn xếp câu chuyện đến văn phong (đôi khi ngờ nghệch vì dịch ẩu). Cả
đến cái gọi là tân kỳ cũng thế: không hiểu chúng ta có thể học được gì ở sự tân
kỳ của một Houellebecq, nhà văn "lớn" của Pháp hiện nay, ngoài sự
kiêu kỳ, thô bạo và sex? Sự hướng ngoại thái quá và sự khinh thường văn chương
Việt Nam, vì không biết hoặc không thèm đọc các tác giả Việt, là trở ngại không
nhỏ cho việc phát triển văn chương.
Qua tình trạng này, ta lại thấy Tự Lực
văn đoàn đã nhìn rõ vấn đề từ thập niên 1930.
Báo Tiếng
Cười
Trước khi làm Phong Hóa, Nhất Linh chủ
trương báo Tiếng Cười.
Vẫn trong bài Nói truyện
cũ, trên Phong Hóa số 154, Nhất Linh, kể lại rằng:
"Đầu
tiên muốn trống [chống] lại
cái vẻ đạo mạo, già khụ của các tờ tuấn báo quốc ngữ, chúng tôi định cho ra một
số báo lấy tên là "Tiếng Cười". Tờ "Tiếng Cười" đó đã được
giấy phép xuất bản của chính phủ, nhưng không thể ra đời được, vì một lẽ giản
dị là không kịp thu xếp xong trước ngày hết hạn giấy phép. "Tiếng
Cười" vì thế đổi thành Tiếng khóc."
"Lúc
chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng,
ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự
cho là "tham lam vô độ".
Sau này trong bài tiểu sử Nhất Linh, do
Nguyễn Ngu Í soạn ở Sài Gòn, năm 1966, có câu: "xin ra tờ báo trào
phúng "Tiếng Cười", nhưng vì gặp cảnh không tiền nên "tráng sĩ
đành năm co". Quá hạn, bị rút giấy phép" [3]
Vậy báo Tiếng Cười không
ra được vì không có tiền, chứ không phải vì chính quyền thuộc
địa không cho phép như lời Tú Mỡ viết trong hồi ký Trong bếp núc của Tự
Lực văn đoàn [4] được
nhiều người chép lại.
Nhưng nếu không có tiền làm báo Tiếng
Cười, thì lấy tiền đâu ra để làm báo Phong Hóa? Tại sao "tự nhiên"
lại có tiền? Đó là vấn đề cần tìm hiểu, chúng tôi sẽ trả lời trong kỳ tới.
Một điều lạ là trong số báo Phong Hóa
154 này, chỉ có Hoàng Đạo và Nhất Linh lên tiếng, còn Khái Hưng? Khái Hưng làm
thinh. Tại sao?
Vì thắc mắc muốn tìm hiểu lý do, nên
chúng tôi đã đọc kỹ những số Phong Hóa đầu tiên, từ số 1 đến số 13 (mà từ trước
đến nay thường được coi là tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh, vì ít người
đọc, sắp chết, nên bán lại cho Nguyễn Tường Tam).
Việc đọc này dẫn đến kết quả bất ngờ:
Khái Hưng bao
biện hầu hết các trang báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, với những bút hiệu khác nhau. Việc này
rất khó hiểu. Nếu ta tin những điều được truyền tụng, đại ý: Nhất Linh
mua lại tờ báo của ông Phạm Hữu Ninh đang gặp khó khăn sắp đóng cửa, mà
báo Phong Hóa lại do Khái Hưng viết từ số 1. Tại sao người ta lại bảo đó là tờ
báo của ông Phạm Hữu Ninh, và không nhắc nhở gì đến Khái Hưng? Rồi Khái Hưng
cũng không giải thích gì thêm về sự ra đời của Tự Lực văn đoàn trong số báo
Phong Hóa đặc biệt 154 đã nói ở trên.
Phải đọc hay đọc lại báo Ngày
Nay số 16 ra ngày 12-7-1936, ta mới thấy xuất hiện truyện dài Những
ngày vui trong đó Khái Hưng đã tiểu thuyết hóa việc thành lập Tự
Lực văn đoàn và báo Phong Hóa qua lối viết hóm hỉnh của ông, với những chi tiết
hiếm quý, chưa từng thấy.
Ngày Nay số
16 (12-7-1936)
là một số báo quan trọng, tương tự như Phong Hóa số 14 trước
đây. Bởi vì, sau số 190 (5-6-1936), Phong Hóa bị đình bản hẳn, Tự
Lực văn đoàn dồn toàn lực vào Ngày Nay số 16, như một sự phản hồi.Kịch Chết trên Ngày Nay số 16Ngày Nay số 16, trang đầu in vở kịch
chính trị ngắn tựa đề Chết của Khái Hưng do Nguyễn Gia Trí
minh họa, như một bài xã luận, xác định lập trường sau khi Phong Hóa chết. Khái
Hưng viết rất kín đáo nên ty kiểm duyệt không hiểu để… kiểm duyệt.
Tác phẩm mô tả cái chết của Lực (tượng
trưng cho tờ Phong Hóa). Trước khi chết Lực dốc sức tàn, trăng trối với các
bạn:
"Công
việc chúng ta cùng nhau theo đuổi… trong bốn năm ròng… anh em đều hiểu rõ… hiểu
rõ như tôi… Nay đã có cơ sở vững bền… và nó sẽ vững bền vì chúng ta muốn thế
(…) Điều quan trọng mà tôi… mà anh em nhiều lần nhắc đến… hẳn anh em còn nhớ.
Là công cuộc chúng ta theo đuổi… vẫn tiến hành như thường… dù xẩy ra việc gì
mặc lòng… dù một người trong bọn ta chết đi… người chết đi là ai cũng vậy (…)
Chỉ cái chết của ý tưởng… là đáng sợ…là đáng phàn nàn… Còn cái chết của
người!"
Thông điệp thật rõ ràng và quyết liệt:
trong bốn năm ròng [từ PH số 1 (16-6-1932) đến PH số 190 (5-6-1936)] chúng ta
đã tranh đấu, đã có cơ sở vững vàng, nay tờ báo chết, mọi việc phải tiếp tục
tiến hành như thường.
Kịch Chết chồng chất
hai ý nghĩa: tờ báo chết hay chính một người trong chúng ta có chết đi, thì
người khác vẫn phải tiếp tục. Và Phong Hóa liền được thay thế bằng Ngày Nay.
Kịch Chết mang lời di chúc có tính cách triết học của bậc đàn
anh: "Chỉ cái chết của ý tưởng là đáng sợ… còn cái chết của con
người!" (có nghĩa lý gì).
Cùng với những dòng chữ quyết liệt này,
Khái Hưng đã ghi lại lịch sử sự thành lập báo Phong Hóa trong tiểu thuyết Những
ngày vui, mà chúng tôi sẽ trình bày trong kỳ tới.
Chú thích:
[1] Trích bài: 22/9/32 Kỷ niệm
ngày báo ra 22/9/35, tiểu đoạn Hai thời kỳ, in trên
Phong Hóa số 154 (20-9-35), trang 2.
[2] Tứ Ly, Bên đường dừng bước,
Phong Hóa số 154, ra ngày 20-9-1935, trang 2-3.
[3] Trích Sống Và Viết với…
của Nguyễn Ngu Í, do Ngòi Xanh (chữ của Nguyễn Ngu Í) xuất bản năm 1966, tại
Sài Gòn, Xuân Thu chụp và in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm.
[4] Bài hồi ký này in trong Tạp chí
Văn học số 5-6/1988 và số 1/1989); in lại trong Tự Lực văn đoàn trong
tiến trình văn học dân tộc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang
125-158.
2- Sự thành
lập Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa
Phần II
Những ngày
vui của
Khái Hưng
Trở lại Ngày Nay số 16 (12-2-36) là tờ
báo mà Tự Lực văn đoàn dồn toàn lực vào sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh
viễn, như để chứng tỏ: Chúng tôi chưa chết đâu. Trên tờ báo
này, liền theo kịch Chết của Khái Hưng đăng ở trang nhất thay
bài xã luận, là hai tiểu thuyết Những ngày vui của Khái Hưng
và Lạnh lùng của Nhất Linh [1].
Lạnh lùng là một trong những tác phẩm chủ
yếu của Nhất Linh, chúng tôi sẽ có dịp trở lại. Những ngày vui là
tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, được viết trong bối cảnh Phong Hóa bị đe dọa
đóng cửa; chắc hẳn với mục đích ghi lại "sự tích" Tự Lực văn đoàn,
nếu một mai, tờ Ngày Nay cũng bị đóng cửa nốt.
Những ngày
vui đăng trên
Ngày Nay từ số 16 (12-7-1936) đến số 29 (11-10-1936), được nhà xuất bản Đời Nay
in thành sách năm 1941. Nhà Phượng Giang tái bản ở Sài Gòn năm 1958. Bản in
trên Ngày Nay số 20, Nguyễn Gia Trí vẽ cảnh Leung-Fat-Fa đang đứng bán hàng.
Việc Nhất Linh cho in lại tác phẩm thứ
yếu này của Khái Hưng, dường như ngoài ý ghi ơn ân nhân Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn
Tiên, người đã thầm kín giúp vốn để cải tổ Phong Hóa, còn muốn tưởng niệm Khái
Hưng, vinh danh Nguyễn Gia Trí và nhớ lại những ngày vui thành
lập Tự Lực văn đoàn thủa trước.
Những ngày
vui khi đăng trên
báo Ngày Nay năm 1936, do Nguyễn Gia Trí minh họa. Bản Phượng Giang sửa vài
chỗ, nhưng việc sửa chữa này có từ năm 1941, trên bản Đời Nay hay là Nhất Linh
sửa năm 1958? Nhưng những chỗ sửa không quan trọng mấy. Tóm lại, Những
ngày vui đã được ba nhân vật chính: Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất
Linh viết, minh họa và in lại, có
thể với mục đích để lại dấu vết việc "khai sinh" Tự Lực văn đoàn cho
đời sau.Những ngày vui, Ngày Nay số 20Tóm tắt cốt
truyện Những ngày vui
Phương [Khái Hưng] là con trưởng một gia
đình giàu, Lan vợ chàng, con quan, nhà giàu chẳng kém gì nhà chàng. Những năm
1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, đường đi rộng
rãi, nhà cửa cao ráo, sáng sủa, bởi Phương đã cải tiến đời sống của dân làng.
Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, dân quê túng thiếu, vợ chồng chàng tìm
cách giúp đỡ để nâng cao đời sống của họ. Thấy việc buôn sơn do người Tàu và
người Nhật độc quyền, Phương nghĩ ra cách kinh doanh mới: trồng cây sơn và lập
xưởng pha sơn để lấy lại nguồn lợi cho dân. Phương chuyển những nơi trồng mía,
khoai, sắn, sang trồng sơn, lập nhà máy chế tạo. Chàng bỏ ra gần mười vạn bạc
vốn, nhưng vì chưa có kinh nghiệm lại bị sự cạnh tranh kịch liệt của người Tàu
và Nhật. Kết quả, bốn năm sau, đồn điền cùng các xưởng thợ, nhà máy của chàng
đều bị chủ nợ tịch biên bán đấu giá. Phương khánh kiệt gia tài, phải về sống
nhờ trong từ đường nhà vợ tại Lũng Thượng [2].
May được người bạn minh hương là Nguyễn Văn Tiên Léang fat Houa (khi in thành
sách sửa là Leung-Fat-Fa) giúp đỡ. Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên - khi còn nghèo
khổ đã được Phương giúp cho mấy trăm bạc - muốn trả ơn chàng. Leung-Fat-Fa có
một cuộc đời đầy thăng trầm, sóng gió, nhưng cuối cùng được hưởng gia tài của
cha, người Tàu, chủ một hiệu tạp hóa lớn ở Hà Nội. Anh mượn Phương làm sổ sách,
lương 30 đồng. Phương nhận lời, đưa gia đình rời Lũng Thượng về Hà Nội.
Đến Hà Nội, Phương đang đi lang thang
tìm nhà thuê, thì gặp lại Duy họa sĩ [Nguyễn Gia Trí] bạn thân, Duy cho biết đã
thuê nhà sẵn cho Phương rồi. Nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một
tháng. Hiện đã có Điển, thầu khoán, đến ở cùng.
Sở dĩ Duy có tiền, vì chàng đang làm
đại lý bán xe hơi cho một hãng ô tô lớn, lương 50 đồng, cộng thêm hoa
hồng mỗi chiếc xe bán được khoảng hai, ba chục bạc. Mỗi tháng Duy kiếm
được từ trăm rưởi trở lên, hơn tiền bán tranh nhiều, vì thế Duy mới có
tiền thuê nhà cho bạn ở để làm báo [3].
"Ngoài
công việc bán ô tô, nếu còn thừa thời giờ Duy vẽ tranh. Còn Điển và
Phương - tuy
Phương bận bán hàng tạp hóa - sẽ cùng nhau theo đuổi công việc
soạn văn, dịch sách, gửi đăng các tạp chí trước khi cho xuất bản" [4].
Phương và Điển viết văn, dịch sách, Duy
vẽ. Nhưng thức suốt bao đêm mà tác phẩm của hai "nhà văn" chẳng được
báo nào đăng.
Một hôm Duy dõng dạc tuyên bố: "Bài
vở các anh cứ để đấy, sẽ có chỗ đăng". Duy đã dụ được ông
chủ hãng xe hơi ra một tờ báo nhà để quảng cáo các loại ô tô, khỏi cần
gửi đăng quảng cáo ở các báo khác. Ông chủ bằng lòng, cho anh mỗi tháng
200 đồng tương đương với số tiền ông phải bỏ ra đăng quảng cáo trên
báo.
"Thế rồi
ngày mồng một tháng mười, như lời "kính cáo" gửi cho
các bạn đồng nghiệp. Tự Động ra số đầu "chào quốc
dân". Báo
"Tự Dộng" là tờ báo đầu tiên bọn Phương làm với số tiền trợ cấp
của ông chủ hãng ô tô. Nhưng báo Tự Động không khá
được, mặc dù Duy đã hết sức trổ tài "hùng biện", đi các tỉnh để
thuyết phục những vị chức sắc có tiền mua báo.
Bỗng Phượng [Nhất Linh] xuất hiện (trong
sách đổi tên là Phúc). Phượng là giáo sư cử nhân mới ở Pháp
về, nổi tiếng với những "projet" dựng báo rất
"hoành tráng" được chàng rao giảng khắp Hà thành. Phượng thuyết phục
Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên. Phượng thao thao bất tuyệt với Duy. Nhưng
vì không có tiền để lăng-xê, Tự Động vẫn hoàn toàn bế tắc, nếu
không có biến cố bất ngờ xảy ra: Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên bị bệnh nặng,
thầy thuốc bó tay. Tiên gọi hai bạn Phương, Duy đến đề nghị biếu một
vạn để làm báo. Phương từ chối. Tiên bèn nghĩ cách khác:
"… Tôi
biết tôi sắp chết. Vậy trong chúc thư tôi nói cho các anh vay số một vạn bạc,
bao giờ có tiền thì các anh trả lại cho vợ con tôi. Không bao giờ có tiền thì
coi như món nợ ấy không có… Vậy các anh bằng lòng như thế nhé?"
Duy sợ Phương
từ chối liền trả lời:
- Như thế thì
có lẽ được.
Tiên vui mừng
giơ hai tay ra bắt tay hai người…
Hai tuần lễ sau,
báo Con Người của bọn Phương, Duy ra đời" (sđd, trang 166).
Đây là tiểu thuyết, vậy có phần hư cấu.
Nhưng chúng ta có thể loại bỏ dễ dàng những điều hư cấu để chỉ giữ lại những
điểm phù hợp với thực tế:
1- Khoảng 1928-1930, có thể Khái Hưng đã
giúp dân cải tổ lại làng mình theo lối mới. Ông viết lại kinh nghiệm này trong
7 bài xã luận in trên Phong Hóa, từ số 80 (5-1-1934) đến số 87 (2-3-1934), tựa
đề Một bản chương trình, chủ trương xây dựng lại nông thôn.
2- Việc Khái Hưng buôn sơn là có thật,
ông buôn với người bạn Nhật, việc này ông kể lại trong truyện ngắn Kong-Ko
Đai-Jin, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932).
3- Về căn nhà Duy thuê cho Phương: Nhà
có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Có thể là trụ sở đầu
tiên của Phong Hóa, ở phố Đường Thành, như Khái Hưng có nhắc lại ở một chỗ khác
trong Những ngày vui; mà cũng có thể là căn nhà số 1 Boulevard
Carnot, trụ sở chính thức của báo Phong Hóa từ số 1 (16-6-1932) đến số 126
(30-11-1934), tòa soạn và trị sự mới chuyển về số 80 Avenue du Grand Bouddha (Quan
Thánh).
4- Việc Duy dụ được ông chủ bán xe hơi,
bỏ tiền ra làm báo, phù hợp với việc ông Phạm Hữu Ninh (hiệu trưởng trường
Thăng Long) hay ông Nguyễn Xuân Mai (Giám đốc sáng lập tờ Phong Hóa) "trợ
cấp" cho bọn Phương 200 mỗi tháng để làm báo.
5- Có tiền 200 đồng, Phương Duy làm
tờ Tự Động. Chữ Tự Động này có hai nghĩa:
chỉ tờ Phong Hóa từ số 1 đến số 13, khi Khái Hưng một mình tự biên tự diễn,
và Tự Động cũng chính là Tự Lực, hạt nhân
đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.
6- Bỗng Phượng xuất hiện, Phượng là giáo
sư cử nhân ở Pháp về, với những dự định làm báo lớn lao, thì đúng là Nhất Linh.
Nhưng chưa có tiền, phải đợi đến khi Leung-Fat-Fa Nguyễn Văn Tiên, để di chúc
cho một vạn, thì báo Con người mới
ra được. Con người chính là tờ Phong Hóa từ
số 14 trở đi. Số tiền 10.000 đồng là cái vốn để Nhất Linh cải biến hoàn toàn tờ
Phong Hóa.
Nếu cái chết đột ngột của Leung-Fat-Fa
Nguyễn Văn Tiên và việc anh để lại số tiền lớn lao cho Tự Lực làm
báo, không được tự nhiên mấy, khiến ta có thể nghi ngờ, thì tôi xin đưa ra giả
thuyết thứ nhì: tiền này phải chăng là tiền riêng của bà Khái Hưng, vì gia đình
cụ thân sinh ra bà, Tuần phủ Lê Vân Đính, rất giàu, có biệt thự ở Sầm Sơn; bà
lại được mẹ cho một số ruộng ở Hải Hậu?[5] Kể
cả việc Khái Hưng thuê biệt thự 80 Quan Thánh làm cơ sở cho Phong Hóa Ngày Nay
(và trụ sở Việt Nam Quốc Dân Đảng sau này) có thể cũng do vốn của bà Khái Hưng
chăng? Dù sao chăng nữa, việc Phong Hóa có tiền để cái tổ tờ báo, là do nguồn
Khái Hưng.
Theo Những ngày vui thì
Tự Động số 1, in 5.000 số, tiền in: 75 đồng, lương tòa soạn kiêm trị sự bốn
người hết 100 đồng. Linh tinh: 50 đồng. Tổng cộng, chi: 225 đồng.
Tiền bán báo (trừ hoa hồng): 30 đồng.
Tiền phụ cấp của hãng ô tô: 200 đồng. Tổng cộng: thu 230 đ. Lãi: 5 đồng (sđd,
trang 112).
Việc Tự Động số đầu ra 5.000, chắc là hư
cấu, sự thật chắc chỉ có 3.000 số, vì Nhất Linh, trong bài Nói truyện
cũ, trên Phong Hóa số 154, đã trích dẫn trong phần I, cho biết: "Lúc
chúng tôi sắp nhận làm báo Phong Hóa thì các tuần báo không có vẻ thịnh vượng,
ít tờ xuất bản được tới hai nghìn số. Chúng tôi lúc đó mong ba nghìn và đã tự
cho là "tham lam vô độ".
Còn tiền chi tiêu được kê khai có thể
đúng với Phong Hóa thời kỳ đầu, từ số 1 đến số 13, khi còn nhận trợ cấp hàng
tháng của ông Phạm Hữu Ninh hay ông Nguyễn Xuân Mai.
Trên Phong Hóa số 58 (4-8-1933), có biên
bản về Phong Hóa số 47 (19-5-1933) cho biết: Phong Hóa 47 phát hành 10.150 số.
Như vậy, nếu Phong Hóa 14 (22-9-1932) in 3000 số, thì chưa đầy một năm sau, báo
đã in hơn gấp ba lần số phát hành đầu tiên.
Chân dung
Khái Hưng
Những ngày
vui mô tả
ba người: Khái Hưng "trong vai" Phương, Nguyễn Gia Trí trong vai Duy,
Nhất Linh trong vai Phượng (khi in thành sách đổi là Phúc).
Chúng ta biết rất ít về quãng đời trước
khi làm báo của Khái Hưng. Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, một trong những
người gần gũi Khái Hưng trong giai đoạn 1945-1946, viết:
"Cuộc
đời của Khái Hưng Trần Khánh Giư có thể gọi là kỳ lạ. Anh đã đậu Tú tài ban
Triết học, độ ấy còn rất hiếm, nhưng không ra làm quan hay một công chức cao
cấp nào, một việc rất dễ cho anh - ông thân sinh là Tuần phủ và nhạc phụ là
Tổng Đốc. Tại sao không chạy một chân tri huyện, mà lại xoay sang làm nghề dạy
học và nghề làm báo nghèo kiết bấp bênh? Một lần, tôi có gạn hỏi thì anh chỉ
cười đáp:
- "Cũng
chẳng hiểu tại sao cả. Thích làm báo thì làm báo chớ sao?"
Đó cũng là
câu trả lời chung của mấy anh em.
Nghe nói, nhà
tiểu thuyết xã hội, lãng mạn trước kia đã từng đi… buôn, làm đại lý cho một
hãng dầu xăng, chắc muốn giàu to. Song chắc đầu óc nghệ sĩ không thích hợp lắm
với lối buôn bán quắt quéo, nên chỉ thua lỗ (cũng may, nếu phát tài thì Việt
Nam không có nhà văn Khái Hưng!).
Từ Ninh Giang [6] anh lên Hà Nội, làm giáo sư trường
tư thục Thăng Long. Ngay hồi đó anh đã viết cho tờ Duy Tân những truyện vui hay
xã thuyết, cùng với nhà văn Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, nhà văn Tchya [7] Đái Đức Tuấn, một số bài nữa đăng
trên tờ Phong Hóa (cũ, trước khi sang tay Nhất Linh quản lý) và tờ Văn Học tạp
chí của anh em Dương Bá Trạc.
Nhất Linh sau
đó lại vào dạy trường Thăng Long. Hai người hiểu nhau rất nhanh, rất tâm đắc,
có cái nhìn chung về xã hội, về văn học" [8]
Đấy là Khái Hưng dưới mắt Nguyễn Tường
Bách, người em út trong gia đình Nhất Linh.
Trong Những ngày vui, Khái
Hưng mô tả mình trong vai Đỗ Như Phương, nói quá lên một chút về gia
cảnh: "Phương là con trưởng một gia đình cự phú", còn
gia tài chàng được hưởng chắc là không sai mấy: một cái ấp ở Phú Thọ
rộng ba nghìn mẫu vừa ruộng vừa đồi và vài tòa nhà cho thuê ở Hà
Nội" và cả về người vợ cũng thế: "Lan, vợ chàng là con quan,
nhà cũng giàu có chẳng kém gì nhà chàng" (sđd, trang14).
Hành động và tư tưởng của Phương thì
đúng là Khái Hưng: ngay từ hồi trẻ, Phương đã hoạch định một chương trình xã
hội để nâng cao đời sống dân quê, trước hết về nhà cửa đường phố:
"Chàng
nhờ một người bạn kiến trúc sư vẽ kiểu nhà thích hợp với dân quê, rồi bắt các
nông phu điền tốt trong ấy làm theo. Nếu có quá tốn kém thì chàng chu cấp cho
ít nhiều.
Hồi mấy năm
1928-1930, ai về chơi đồn điền của Phương cũng phải kinh ngạc, khi ngắm qua
những đường đi rộng rãi, những phố xá sạch sẽ, và những lớp nhà lợp ngói, lợp
tranh cao ráo, sáng sủa, hay khi tò mò để mắt tới những đứa trẻ y phục gọn gàng
cắp sách đi học" (Những
ngày vui, trang 15).
Đọc những dòng này ta có thể tưởng tượng
cảnh làng Cổ Am, quê Khái Hưng, trước khi bị Pháp dội 57 quả bom ngày 16-2-1930
và hiểu tại sao Khái Hưng chống Pháp.
Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế [1929] ập
tới, thóc lúa bị đình trệ không bán được, giá thóc gạo mỗi ngày một hạ, nông
phu không kiếm đủ tiền ăn và tiền nộp thuế, nên bắt buộc phải trả lại ruộng cho
chủ. Đất bỏ hoang, Phương bèn tính đến phương sách thứ hai: chàng quay ra trồng
sơn ở đồn điền, bỏ vào 10 vạn rồi vay thêm ngân hàng bằng cách ký quỹ
đồn điền. Lại thất bại. Phương mất cả đồn điền, thêm nợ nần, phải trở về sống
nhờ ở từ đường nhà vợ.
Trong lúc khó khăn này, chàng được Nguyễn
Văn Tiên Leung-Fat-Fa, giúp đỡ, Phương đưa gia đình về Hà Nội, làm thủ
quỹ cho hiệu Leung-Fat-Fa. Leung-Fat-Fa là hiệu tạp hóa lớn ở phố hàng
Ngang của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa. Khái Hưng đã giải thích việc
này như sau:
"Lòng tử
tế của Tiên tỏ ra rằng Tiên là một người Tàu, người Tàu thuộc thời Xuân Thu
Chiến Quốc hay Tiền Hán, Hậu Hán. Không phải lòng tử tế của bọn phi thường,
nhưng lòng tử tế Tàu kia.
Đối với
Phương, Tiên tự coi như người chịu ơn sâu, đời đời không thể trả hết, và mấy
trăm bạc Phương giúp chàng ngày xưa, chàng đặt ngang hàng với bát cơm của bà
Phiếu Mẫu giúp Hàn Tín khi anh tể tướng còn hàn vi" (trang 94).
Như vậy, trong Những ngày vui,
những nét đời thật của Khái Hưng lộ khá rõ, được sửa đổi và thêm thắt đôi chút,
nhưng giữ nguyên nền chính: Khái Hưng và vợ đều là con quan. Ông đã từng lập
xưởng kinh doanh sơn ở Phú Thọ và bị lỗ vốn. Việc buôn sơn được ông nhắc đến
trong truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin. Sau đó ông ra Hà Nội dạy
trường Thăng Long, gặp Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh… Việc Nguyễn Văn
Tiên Leung-Fat-Fa cho tiền để làm báo, được Khái Hưng coi
là lòng tử tế của người Tàu, trả ơn bát cơm Phiếu Mẫu mà ông đã giúp Tiên ngày
trước.
Chân dung
Nguyễn Gia Trí
Vào truyện Những ngày vui,
Khái Hưng tả cảnh ba người bạn Ngạc, Điển, Duy và Xuyến, tình nhân của Ngạc, đi
ô tô đến Lũng Thượng để dự lễ tiệc do Phương mời. Giữa đường, xe chết máy, Ngạc
lúi húi cúi xuống hý hoáy tìm cách sửa. Trong khi ấy Duy đem bút chì và giấy ra
vẽ.
"Ngạc
ngửng lên trông thấy, gắt:
- Trời ơi,
anh còn vẽ được!
- Truyện!
Chín năm "Mỹ thuật" của người ta!
Ngạc thì thầm
bảo Điển:
- Động một tý
là nó giở chín năm trường Mỹ thuật của nó ra.
Xuyến vừa soi
gương bôi sáp môi vừa hỏi:
- Anh Duy học
chín năm ở Beaux Arts thực đấy à?
Duy, giọng tự
phụ:
- Lại chả
thực!
Mà kể thì
cũng thực.
Là vì học gần
hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với giáo sư, Duy cáu tiết bỏ
trường, tuy chàng là một thanh niên rất có hy vọng học.
Hai năm sau,
một hôm gặp Duy đi lang thang trên đường vùng quê với đủ các họa cụ đeo trên
lưng, ông đốc trường Mỹ thuật liền hỏi (thiếu mấy chữ) Duy nên lại vào trường tòng
học.
Duy vâng lời.
Nhưng đến năm thứ ba, được dăm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy, Duy lại bỏ
học.
Rồi ít lâu
lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã trường Mỹ Thuật, vì chàng
trúng tuyển kỳ thi ra.[9]
Tính góp lại,
thời kỳ học tập của Duy vừa đúng chín năm.
- Vô lý! Chín
năm!
- Ấy là kể cả
nghỉ hè nữa đấy chứ nếu không thì làm quái gì đủ chín năm.
Xuyến nghiêng
đầu sửa mái tóc, mỉm cười hỏi:
- Anh học vẽ
chín năm; chắc phải giỏi. Nhưng anh bắt đầu vào trường từ năm anh lên mấy?
- Từ năm mười
bẩy, lúc ấy tôi vừa đậu thành chung. Vị chi năm nay tôi hăm bẩy. [...]
- Này, nhưng
chữa xe làm gì nữa, lại đây xem tranh của tôi hơn. Các anh phải biết "Một
công trình tuyệt tác!"
Điển và Ngạc
chán nản ngồi xuống vệ đường dưới bóng một cây đề lớn. Duy đem tranh lại khoe:
- Đó, các anh
coi: Dã man không? Vô nhân đạo không?" [10]
Duy vẽ cảnh: hai người đàn bà lưng cúi
gò, vai khoác dây thừng, kéo cái bừa do một người đàn ông đẩy.Duy vẽ hai người đàn bà kéo bừa trên
Ngày Nay số 16.Đoạn văn trên đây rất quan trọng, vì nó
cho ta biết thêm về tiểu sử Nguyễn Gia Trí. Tuy nhiên nếu đặt nó vào bối cảnh
năm 1932, khi Phong Hóa sắp ra đời, thì lúc đó Nguyễn Gia Trí chưa ra trường,
Khái Hưng không thể đưa vào miệng Duy câu: "Truyện! Chín năm "Mỹ
thuật" của người ta!" Câu này chỉ có thể nói năm 1936, khi
Khái Hưng viết truyện này.
Nhưng nếu bỏ qua chi tiết vô lý này, ta
có thể rút ra một số thông tin về Nguyễn Gia Trí.
Khái Hưng sinh năm 1896, Nhất Linh sinh
1906, còn Nguyễn Gia Trí, thường ghi sinh năm 1908; nhưng không ai biết chắc.
Năm ông đỗ vào trường Mỹ Thuật cũng mù mờ: Sách Trường Đại học Mỹ thuật
Hà Nội (1925-1990) ghi Nguyễn Gia Trí học khóa IV (1928-1933) rồi bỏ
dở, trở lại học khóa VII (1931-1936). Theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ
Truyền [11],
ta được biết: tình cờ đi xem hội chợ (1935) thấy tranh sơn mài của Trần Quang
Trân đẹp, ông bèn quay về trường, học sơn mài. Theo Lê Phổ [12],
Nguyễn Gia Trí học cùng lớp với Lê Thị Lựu, tức là khóa III (1927-1932).
Theo Những ngày vui, Nguyễn
Gia Trí vào trường Mỹ thuật năm 17 tuổi. Học chín năm (kể cả thời gian nghỉ).
Những điều này chắc đã được Nguyễn Gia Trí kiểm lại, cho phép ta rút ra những
nhận xét sau đây:
1- Việc ông ra trường năm 1936, phù hợp
với hoạt động của ông trong Tự Lực văn đoàn, vì kể từ năm 1936, Nguyễn Gia Trí
vẽ tranh công khai và quyết liệt hơn thời kỳ chưa ra trường.
2- Vì ông ra trường năm 1936, và ông học
9 năm (kể cả những lúc bỏ dở), vậy ông vào trường năm 1927, cùng lớp với Lê Thị
Lựu, đúng như lời Lê Phổ.
3- Năm 1927, ông 17 tuổi, vậy ta có thể
cho rằng: Nguyễn Gia Trí sinh năm 1910.
4- Theo Những ngày vui,
Nguyễn Gia Trí bỏ học hai lần, vì cãi nhau với giáo sư (Tardieu). Lần đầu, năm
thứ hai (1928) và lần sau năm thứ ba (1929). Tổng cộng thời gian
"học" là 9 năm, vậy ông nghỉ học 4 năm trong khoảng từ 1928 đến 1936,
vì mỗi khóa trường Mỹ thuật là 5 năm.
Như thế, vai trò của Nguyễn Gia Trí
trong Tự Lực văn đoàn, không chỉ ở mức độ cộng tác thường xuyên mà còn ở chỗ
khác nữa: có thể nhờ tiền bán tranh và sống độc thân, nên Nguyễn Gia Trí luôn
luôn lo việc "kinh tài" cho Tự Lực văn đoàn và Quốc Dân Đảng. Trước
tiên cho Phong Hóa, lúc mới thành lập, như Khái Hưng viết trong Những
ngày vui. Rồi từ 1939-1940 ông mua và tích trữ vũ khí cho đảng Đại Việt Dân
Chính, bị Pháp bắt quả tang để trong phòng vẽ, theo lời họa sĩ Hoàng Tích Chù [13].
Sau cùng, ông góp phần "nuôi" các đồng chí trong thời kỳ bôn ba ở
Hương Cảng, những năm 1948-50, vẫn bằng hội họa của mình.
Chân dung
Nhất Linh
Trong Những ngày vui, Nhất
Linh xuất hiện sau Nguyễn Gia Trí, trong vai Phượng. Khi in thành sách, đổi
thành Phúc, có lẽ để tránh nhầm với Phương, nhưng lại làm trệch ý Khái Hưng: cố
ý đặt tên Phượng đi với Phương như hai giọt nước, giống Khái Hưng và Nhất Linh
ở ngoài đời.
Và đây là đoạn Phượng đến gặp Duy,
"chủ nhiệm" báo Tự Động để bàn chuyện "mở
báo":
" - Chào
ông chủ nhiệm.
Duy nghĩ
thầm:
- Thôi chết
tôi rồi. Ông này mà đến chơi thì chắc chắn là mất hết một buổi sáng nghe chuyện
mở báo.
Như đọc được
tư tưởng của Duy, ông khách hỏi luôn:
- Ông bận?
Nếu ông bận, xin để khi khác tôi lại đến.
Duy muốn đáp:
"Vâng quả thực tôi bận", nhưng chàng chỉ mỉm một nụ cười rất tự nhiên
giơ tay mời:
- Ông ngồi
chơi. Thưa không, tôi không bận gì hết. Tôi rất vui lòng tiếp chuyện ông.
- Thưa ông
hôm nay nghỉ?
- Vâng, hôm
nay thứ năm.
- Báo của ông
ra hôm nay, tôi vừa mua một số đây.
Vừa nói chàng
vừa giơ ra một tập báo. Rồi cười nói tiếp:
- Ông đã biết
đấy, tôi rất thích nghề báo, và báo nào tôi cũng mua, cũng đọc. Tôi đọc cả
những truyện kiếm hiệp, kiếm tiên nữa. Nhưng tôi không mua năm báo nào hết. Tội
gì phải không, thưa ông? Mình ở Hà Nội, nghe trẻ rao ngoài phố, gọi vào mua một
số. Như thế có phải tiện không? Mà lại tránh được cái nạn mất báo, khỏi phải
mất công viết thư lên tòa soạn đòi số khác…
Chàng kéo một
thôi về cái lẽ mất báo, về cách xếp đặt vụng về trong ban trị sự của hết thẩy
các tòa báo chữ Pháp, chữ Việt.
- Rồi ông
xem, khi nào báo của tôi ra đời, ông sẽ thấy cách tổ chức khôn khéo hoàn toàn.
Hiện giờ tôi đương ở thời kỳ điều tra, nhận xét, khảo cứu.
Chàng rút ra
một quyển sổ con, nói tiếp:
- Đây này, ở
cả trong này, "projet" mở báo ở cả trong này.
Duy rùng
mình, lo sợ vì biết thế nào Phúc cũng đem cái kế hoạch mở báo ra nói cho mình
nghe trong khoảng ít ra là một giờ đồng hồ. Ở Hà Nội, và ở tỉnh lỵ các thành
phố Phúc đã đi qua, dễ trong hầu hết các giới trí thức, ít ai không một lần
được nghe Phúc bàn về cái kế hoạch mở báo của chàng.
Phúc là một
vị giáo sư khoa học có giá trị tại trường trung học. Chàng đã tòng học bốn năm
ở bên Pháp và đã đậu cử nhân khoa học. Về nước, chàng được bổ ngay giáo sư và
lương tháng kể cũng khá cao, có lẽ đến gần ba trăm bạc.
Nhưng trong
thời kỳ học tập bên Pháp cũng như ngày nay trong thời kỳ dạy học, chàng chỉ
chuyên nghiên cứu có một thứ báo chí. Chàng nói với hết thảy các bạn bè và
những chỗ quen biết rằng nghề gõ đầu trẻ, chàng chỉ theo tạm, nghề chính của
chàng là nghề viết báo, mở báo kia" (Những ngày vui trang
148-150).
Và Phúc còn thao thao bất tuyệt về nghề
báo trong sáu trang sách nữa.
Phúc thì đúng là Nhất Linh rồi: Giáo sư
cử nhân mới ở Pháp về. Luôn luôn mơ tưởng việc làm báo và đi đâu cũng tuyên
truyền việc lập báo. Mặc dù lương giáo sư khá cao, gần ba trăm bạc, nhưng Nhất
Linh vẫn không đủ tiền để ra báo.
Cuối cùng, phải nhờ đến số tiền 10.000
của Nguyễn Văn Tiên Leung Fat Fa, Nhất Linh mới có thể thực hiện được giấc
mộng, kể từ Phong Hóa số 14.
Những thành
viên đầu tiên của Tự Lực văn đoàn
Theo sự sắp đặt nhân vật trong Những
ngày vui, thì Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng là hai người đầu tiên trong
"nhóm" Tự Lực. Nhất Linh đến sau, việc này hư thực như thế nào, khó
biết được, mà cũng không quan trọng.
Chỉ biết ba hạt nhân đầu của Tự Lực văn
đoàn là Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh. Tự Lực văn đoàn đã manh nha
trong thời gian từ tháng 6-1932 đến tháng 9-1932, nghĩa là từ Phong
Hóa số 1 (16-6-1932) đến số 13 (8-9-1932) tức là thời kỳ chuẩn bị ra
báo Phong Hóa số 14.
Khi đọc kỹ Phong Hóa, chúng ta sẽ thấy
rõ hai thời kỳ này, như đã được Khái Hưng mô tả trong Những ngày vui:
Từ số 1 đến số 13: Phong Hóa do Khái
Hưng chủ trì.
Từ số 14 trở đi (nhờ số tiền 10.000
đồng) Nhất Linh tổ chức lại tờ báo, mở rộng với nhiều người cộng tác và ông làm
Giám đốc.
Nhưng hai thời kỳ này không hoàn toàn
phân cách, bởi vì nếu tinh ý, ta sẽ thấy có những thành viên của văn đoàn đã
xuất hiện trên Phong Hóa ngay từ những số đầu:
- Phong Hóa số 2 (23-6-1932), bìa tranh
trừu tượng, ký tên Đông Sơn bằng chữ Hán, bìa này giữ đến số 10 (18-8-1932).
Nếu Đông Sơn là Nhất Linh, thì không thể nói Nhất Linh chỉ "vào"
Phong Hóa từ số 14, mà "vào" từ số 2.
- Phong Hóa số 3 (30-6-1932) có hý họa
ký tên Đông Sơn bằng chữ quốc ngữ, cũng thế, Nhất Linh "vào" từ số 3
chăng?
Vậy ta phải hiểu như thế nào? Theo tôi,
những điều Khái Hưng viết trong Những ngày vui phù hợp với
thực tế hơn, còn những điều Nhất Linh và Tứ Ly viết trên Phong Hóa số 154, chỉ
có tính cách tượng trưng, tuyên ngôn, tuyên cáo, cho nên ta hiểu tại sao Khái
Hưng làm thinh, không tuyên bố gì trên số báo Phong Hóa 154 này. (Xem Sự
thành lập Tự Lực văn đoàn, phần I)
Bởi vì, nếu Nhất Linh chỉ
"vào" Phong Hóa từ số 14, thì tranh bìa ký tên Đông Sơn chữ Hán từ số
2 và hý họa ký tên Đông Sơn quốc ngữ trong số 3, là của ai?
Trừ khi Đông Sơn lúc đầu là Nguyễn Gia
Trí?Tranh Đông Sơn ký chữ quốc ngữ trong
Phong Hóa số 3Tóm lại, trừ khi có khám phá mới, tôi
tạm coi Đông Sơn là tên chung của Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh trong thời kỳ
đầu. Đến khi nào thì tách riêng và trở thành tên của Nhất Linh? Đó là một câu
hỏi chưa thể giải đáp.
Về văn, Nhất Linh dường như không viết
gì cho Phong Hóa từ số 1 đến số 13, nếu xét giọng văn và tư tưởng. Ông chính
thức xuất hiện cùng với Tứ Ly (Hoàng Đạo) và Tú Mỡ, trên Phong Hóa số
14 (22-9-1932), số báo chính thức của Tự Lực văn đoàn. Thạch
Lam cũng viết từ số 14, với tên TL và số 15, với tên Việt Sinh.
Trường hợp Thế Lữ khá phức tạp, ông có
ba bài in trên Phong Hóa những số đầu, ký tên Nhất Chi Mai: tạp văn Quần
trắng áo lam (Phong Hóa số 4, 7-7-1932), tường thuật Một
buổi diễn kịch làm phúc (Phong Hóa số 5, 14-7-1932) và truyện
ngắn Bả phồn hoa (Phong Hóa số 6, 21-7-1932); nhưng lúc đó ông
chưa nổi danh, nên không ai biết. Bẵng đi nửa năm, trên Phong Hóa không thấy
tên Nhất Chi Mai nữa. Đến Phong Hóa số 27, 23-12-1932, mới có bài ông, lần này
ký tên Thế Lữ, dưới truyện ngắn Thây ma xuống gác. Hơn một năm sau,
ông xin được vào làm việc trong tòa soạn Phong Hóa, từ số 91 (30-3-1934). Bút
hiệu Nhất Chi Mai chỉ trở lại trên vài số báo Phong Hóa cuối cùng và một cách
chính thức, trên báo Ngày Nay.
Tóm lại, ta có thể tạm kết luận: những
thành viên đầu tiên làm báo Phong Hóa, từ số 1 đến số 13, là Khái Hưng và
Nguyễn Gia Trí, lúc đó chắc chưa có ý định lập "văn đoàn" gì cả. Kể
từ Phong Hóa số 14 có Nhất Linh, Hoàng Đạo, Tú Mỡ và Thạch Lam mới trở thành
một nhóm hay một "văn đoàn" và tới số 27, có thêm Thế Lữ.
Nhưng đây chỉ là kết luận tạm thời, kỳ
tới, sau khi khảo sát nội dung và hình thức những số báo Phong Hóa đầu tiên do
Khái Hưng phụ trách (từ số 1 đến số 13), tôi sẽ đưa ra một kết luận rõ ràng
hơn.
Chú thích:
[1] Lạnh lùng đã in mấy trang đầu trên Phong Hóa
số 151 (31-8-1935), rồi ngừng. Nhất Linh cho in Đi Tây ký tên
Lãng Du thay thế. Gần một năm sau, Lạnh lùng xuất hiện lại
trên Ngày Nay (từ số 16, 12-7-1936 đến số 37, 6-12-1936).
[2] Lũng Thượng thuộc Yên Lạc, Vĩnh
Yên, nơi có đồn điền của gia đình Đỗ Đình Đạo, một yếu nhân của Việt Nam Quốc
Dân Đảng, bạn thân của Nhất Linh.
[3] Những ngày vui, Phượng
Giang 1958, trang 95-97. Chúng tôi trích bản in trong sách, vì bản này đã sửa
chữa những lỗi chính tả.
[4] Những ngày vui, bản
Phượng Giang, trang 99.
[5] Theo lời Trần Khánh Triệu (con
nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh) trong bài Papa tòa báo, in
trên Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng tháng 12/1997, in lại trong Nhất
Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.
[6] Ninh Giang thuộc tỉnh Hải Dương.
[7] Chữ TCHYA có thuyết nói là Tôi
chẳng yêu ai.
[8] Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách, Tưởng
nhớ Khái Hưng, Người bạn, Người anh thân mến, Nhà văn, Chiến sĩ cách mạng,
in trong Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, cuốn 1, Hồn bướm mơ tiên, Nguyễn
Thạch Kiên soạn, Nxb Phượng Hoàng, Hoa Kỳ, 1997, t. 157-158.
[9] Đoạn này tôi trích ở báo Ngày Nay
số 16, vì cho đó là bản gốc, khi in thành sách, được sửa lại như sau:
"Là vì
học gần hết năm thứ hai và sau một cuộc cãi lý kịch liệt với ông giáo, Duy bỏ
học. Nhưng ít lâu chàng lại xin vào lần thứ hai. Ông giáo vì mến tài nên bằng
lòng. Nhưng đến năm thứ ba, được năm tháng, vì một điều chẳng quan hệ mấy,
Duy lại bỏ học. Rồi ít lâu lại vào học. Lần sau cùng, Duy chính thức từ giã
trường Mỹ Thuật, vì chàng trúng tuyển kỳ thi ra". Nhưng có lẽ đoạn trong sách đúng
với thực tại hơn: Nguyễn Gia Trí đã bỏ học, nhưng đi xem hội chợ, thấy tranh
sơn mài của Trần Quang Trân lại quay trở về học tiếp sơn mài đến lúc ra trường
năm 1936 (theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền, in trong loạt bài Những
lá thư Nguyễn Gia Trí gửi Phạm Tăng, trên mạng vanviet.info và thuykhue.free.fr ).
[10] Đoạn này cũng trích Những
ngày vui, in trên Ngày Nay số 16. Bản Phượng Giang 1958, trang
7-9, có sửa vài chữ so với bản in trên báo.
[11] Xem bài Những bức thư
Nguyễn Gia Trí gửi cho Phạm Tăng, site: vanviet.info và thuykhue.free.fr
[12] Lê Phổ trả lời phỏng vấn của Thụy
Khuê trên RFI, in lại trong sách Lê Thị Lựu ấn tượng hoàng hôn, nxb
Tổng Hợp TP HCM, Bảo tàng Mỹ Thuật TPHCM, 2018).
[13] Trong bài Nguyễn Gia Trí,
bậc đạo sư của sơn mài nghệ thuật của Hoàng Hưng, in trong
sách Những người lao động sáng tạo, nxb Lao Động, 1998.
4- Khái Hưng
và Phong Hóa
Đọc Phong Hóa chúng ta sẽ thấy về mặt
bài vở: Phong Hóa từ số 1 (16-6-1932) đến số 13 (8-9-1932) do Khái Hưng phụ
trách, từ số 14 (22-9-1932) trở đi, Nhất Linh đổi mới tờ báo, mời thêm những
người viết, người vẽ mới và làm Giám đốc.
Theo Những ngày vui của
Khái Hưng, sở dĩ có sự cải tiến này là nhờ số tiền 10.000 đồng của ân nhân
người Minh hương Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa di tặng. Nói
khác đi, số tiền Nhất Linh có để phát triển tờ báo là của một người Minh hương,
trước chịu ơn Khái Hưng, cho hoặc cho vay.
Trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) có đăng
quảng cáo xà phòng thơm Mondia, Đại lý độc quyền là Lune-Fat, 22 Hàng Bạc Hà
Nội. Phải chăng đây là cửa hiệu của gia đình Leung-Fat-Fa?Phong Hóa số 14Chúng tôi xin tóm tắt lại câu chuyện ra
được kể trong Những ngày vui:
Duy [Nguyễn Gia Trí] xoay xở, gạ ông
chủ hãng xe hơi bỏ tiền ra in báo để đăng quảng cáo khỏi tốn tiền. Ông
chủ cho bọn Phương [Khái Hưng] Duy mỗi tháng 200 đồng để làm báo Tự
Động. Tự Động là tờ báo đầu tiên [tức là Phong Hóa từ số 1 đến số 13] do
Phương, Điển viết, Duy vẽ. Điển chắc là nhân vật hư cấu vì chẳng thấy bài nào
có thể gọi là của Điển trên báo Phong Hóa. Được trợ cấp 200 đồng, cộng thêm
tiền Duy làm "áp phe" và vẽ tranh, nên Tự Động ra
được, nhưng báo ế, không biết sống chết lúc nào, mặc dù Duy cố hết sức xin
quảng cáo các nhà giàu, cũng không ai bỏ tiền ra. Cuối cùng, nhờ di sản
của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa, mới có tờ Con
người [tức là Phong Hóa kể từ số 14].
Về cái tên Tự
Động
Phương [Khái Hưng] chất vấn Duy [Nguyễn
Gia Trí]:
"Phương
hỏi:
- Thế báo anh
tên là gì?
- Ô tô.
Điển lăn ra
cười:
- Trời ơi!
Trên báo Ô tô của anh mà chúng tôi gửi đăng văn, đăng truyện dài, truyện ngắn,
thì thánh cũng phải tức cười.
- Việc gì mà
tức cười? Thế trên báo Nông Lâm người ta đăng toàn truyện văn chương và truyện
kiếm hiệp thì sao? Vả lại mai tôi mới nộp đơn xin ra báo. Nếu các anh không
thích cái tên Ô tô thì tôi sẽ đổi nó ra "Tự động". Không ai hiểu tự
động là cái quái quỷ gì, thế là được rồi. Rồi trong bài phi lộ, ta sẽ nói lờ mờ
mấy câu cho độc giả hiểu lầm ra nghĩa tự do, tự lập gì đó. Thế là báo chạy như
mớ tôm tươi ngay. Các anh tha hồ viết.
Phương và
Điển vẫn tưởng đó là một câu chuyện đùa bỡn. Nhưng hai chàng kinh ngạc xiết bao
khi, một tuần lễ sau, cùng nhận được giấy gọi ra sở liêm phóng khai căn cước và
lý lịch. Đến đây, Phương mới biết mình nghiễm nhiên trở nên chủ bút tờ báo
"Tự động". Giá không có cái dấu ngoặc hàng chữ Pháp (Auto Revue), thì
có lẽ chàng cũng quên bẵng nghĩa chữ "Tự động".
Rồi nhờ về
thế lực và sự vận động của chủ hãng xe lớn, hai tháng sau, báo "Tự
Động" được phép ra đời để góp tiếng với các bạn đồng nghiệp Nam Trung
Bắc" [1]
Đoạn văn này phản ảnh một số việc thực:
nhờ thế lực của ông Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai (tên hai người được ghi
trên đầu báo Phong Hóa) mà báo Tự Động (tức Phong Hóa) xin
được giấy phép ra đời. Khái Hưng là chủ bút. Đây là tờ báo đầu tiên của
nhóm Tự Động, cũng là giai đoạn đầu của tờ Phong Hóa, Khái Hưng
viết gần hết các bài trên báo với những bút hiệu khác nhau.
Tự Động là tên báo, nhưng sự thực là tên
văn đoàn Tự Lực nói trại đi. Vậy "nhóm Tự Động" hay
nhóm Tự Lực, lúc đầu chỉ có hai người: Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí.
Đến khi Tự Động trở thành báo Con
Người (tức là Phong Hóa từ số 14 trở đi), Nhất Linh mới cải tổ tờ báo,
làm Giám đốc, mượn thêm những người mới. Tòa soạn Tự Động, tranh Gia Trí, Ngày
Nay số 28Sự vận động cho báo Tự
Động (tức Phong Hóa số1) được Khái Hưng mô tả như sau:
"Trên
các bức tường ở các nơi ngã ba, ngã tư thành phố Hà Nội, người ta thấy dán
những tờ yết thị màu vàng rộng bản có hai chữ lớn "Tự Động".
Lại gần người
ta sẽ nhận rõ, vẽ mầu đỏ, hai bàn ty gân guốc nắm chặt cái "volant"
và viết đè lên trên những dòng chữ đen sau này:
Tuần báo ra
ngày thứ năm
Có đủ các mục
về chính trị, xã hội, thương mại, văn chương và phụ nữ, do các nhà văn có chân
tài soạn…
Số đầu ra
ngày 1/10/19… sẽ có những bài:
1) Mấy lời
phi lộ, của Tự Động.
2) Mỹ thuật
và ô tô của họa
sĩ Nguyễn Văn Duy.
3) Tôi làm
thầu khoán, phóng sự
của Trần Đình Điển.
4) Nhan sắc của cô Đỗ Mộng Nga.
5) Đêm thu mơ
màng, truyện
ngắn của cô Song Thu.
6) Một
đời, truyện dài
của Đỗ Như Phương.
Và nhiều bài
rất hay rất mới rất vui của toàn các văn sĩ đã có tiếng tăm trong làng báo và
làng văn.
Đón xem sẽ
biết" (Những
ngày vui, trang 103).
Khái Hưng còn đưa vào miệng người đi
đường (bình phẩm bức quảng cáo) những lời sau đây:
"Một
người láu lỉnh đáp:
- Phải, tự
động xa, tự động xa. Nhớ ngày Nam Phong mới ra đời, ông Phạm Quỳnh cũng gọi xe
ô tô là tự động xa. Biết đâu tự động đây lại không là tự động xa, và tờ báo Tự
Động lại không chỉ là một tờ báo quảng cáo ô tô!
Tiếng cười
lại phá lên một lần nữa. Một chàng đeo kính trắng ý chừng muốn khoe rằng ta
giỏi chữ nho, giảng nghĩa:
- Tự động là
tự mình động đậy, tự mình chuyển động, không phải theo ai, không nhờ sức ngoài,
không chịu ảnh hưởng ở ngoài sai khiến. Hai chữ "tự động" của người
ta hay lắm đấy chứ. Báo Tự động của người ta là một tờ báo tự lập,
không sống về phụ cấp của chính phủ hay của một nhà tư bản nào [chúng tôi in đậm] Tự hoạt động
để sống một cách vẻ vang" (Những ngày vui, trang 104-105).
Với giọng nửa đùa nửa thực, Khái Hưng
xác định vai trò của Nguyễn Gia Trí trong tờ báo với bài Mỹ thuật và
ô tô của họa sĩ Nguyễn văn Duy. Rồi ông lái hai
chữ Tự Lực thành Tự Động để chế nhạo Phạm
Quỳnh dùng chữ nho, đồng thời khoe Phong Hóa là "tờ báo tự
lập, không sống về phụ cấp của chính phủ hay của một nhà tư bản nào" để
chứng tỏ hai chữ Tự Lực đã có từ thời kỳ đầu tiên và quyết
định tự lập, không xin tiền trợ cấp của chính phủ hay một nhà tư bản nào, cũng
vậy.
Khái Hưng lại kể lúc mọi người đang bình
phẩm tờ quảng cáo, thì "trong khi ấy ở phố Đường Thành hẻo lánh, các
nhân viên toà soạn báo Tự Động làm việc để xuất bản số đầu kịp vào ngày đã định" [2]
Như vậy trụ sở đầu tiên của Phong Hóa ở
phố Đường Thành chăng? Hay đây là địa chỉ Khái Hưng đặt ra? Còn căn nhà năm
phòng mà Duy (Nguyễn Gia Trí) thuê cho Phương (Khái Hưng) để làm báo,
là nhà nào? Nhà Đường Thành hay là nhà số 1, đường Carnot, tòa soạn và trị sự
báo Phong Hóa từ số 1 đến số 126 (30-11-1934), trước khi dời về 80 Quan Thánh?
Nhiều câu hỏi chưa tìm được lời giải đáp.
Khái Hưng viết: "Thế
rồi ngày mồng một tháng mười, như lời "kính cáo" gửi
cho các bạn đồng nghiệp. Tự Động ra số đầu "chào quốc dân" [3]
Lời kính cáo chào quốc dân này
nhại lại Mấy lời kính cáo quốc dân in trên trang nhất báo
Phong Hóa số 1 (16-6-1932), như ta sẽ thấy ở dưới.
Phong Hóa từ
số 1 đến số 13, Khái Hưng ngự trị
Hai nhà nghiên cứu nhìn thấy vai trò của
Khái Hưng trên Phong Hóa từ số 1 là Phạm Thế Ngũ và Thanh Lãng.
Phạm Thế Ngũ ghi: "Năm 1932, tờ
Phong Hóa của mấy đồng nghiệp cùng dạy học ở trong trường [Thăng Long] ra
đời, do Phạm Hữu Ninh, người sáng lập trường Thăng Long làm quản lý, Trần Khánh
Giư, giáo sư trường Thăng Long làm chủ bút" [4].
Thanh Lãng viết: "Tuần báo Phong
Hóa của ông Phạm Hữu Ninh, ngay từ số 1 ra tháng Juin 1932, cũng đã có một nội
dung khác hẳn các báo đương thời cả về văn cũng như về ý tưởng. Trần Khánh Giư
(Khái Hưng) là cây bút cốt cán, giữ nhiều mục quan trọng trên Phong Hóa suốt
từ số 1 cho đến số 14" [5]
Nhưng hai ông dừng lại ở hai câu này,
không tìm hiểu thêm. Còn phần lớn những người viết khác chỉ chép đi chép lại
rằng Nhất Linh, giáo sư cử nhân học ở Pháp về, mua lại tờ Phong Hóa của Phạm
Hữu Ninh không có độc giả, sắp chết.
Như trên đã nói, mặc dù Khái Hưng viết:
"Duy vẽ tranh. Còn Điển và Phương theo đuổi công việc soạn văn, dịch
sách" (trang 99), ta cũng có thể đoán chắc răng Điển là nhân vật tưởng
tượng, Khái Hưng đưa ra để làm như có hai người viết chứ không
phải mình ông tự biên tự diễn, trên Phong Hóa từ số 1 đến số
13.
Còn một điều quan trọng nữa là cả Khái
Hưng lẫn Nhất Linh trong thời kỳ đầu đều chưa ký tên Khái Hưng, Nhất Linh. Trần
Khánh Giư chỉ bắt đầu ký tên T. Khái Hưng, trên Phong Hóa số 15 (29-9-1932)
dưới truyện ngắn Cái thù ba mươi năm. Nguyễn Tường Tam lần đầu
ký tên Nhất Linh dưới bài thơ Điệu thơ cụt trên Phong Hóa số
16 (6-10-1932), còn truyện ngắn vẫn ký Ngô Tâm Tư, rồi Bảo Sơn. Mãi đến Phong
Hóa số 91 (30-3-34), lần đầu tiên bút hiệu Nhất Linh mới được
ký dưới truyện vừa Thế rồi một buổi chiều.
Cho nên nếu chỉ dựa vào bút hiệu Khái
Hưng, Nhất Linh, ta không thể điều tra được những bước đầu xây dựng Tự Lực văn
đoàn, ai làm gì. Sự chọn tên của Khái Hưng trong Những ngày vui cũng
có ý nghĩa: Khái Hưng, Nhất Linh, luôn luôn đi đôi như Phương với Phượng. Khi
Khái Hưng lấy tên Nhị Linh cũng trong ý ấy: dù hơn Nhất Linh 10 tuổi, và khai
phá tiểu thuyết, truyện ngắn trước Nhất Linh, nhưng ông vẫn ký tên Nhị Linh, để
công nhận vai trò chủ soái Tự Lực văn đoàn của Nhất Linh.
Phong Hóa số
1 ra ngày
16-6-1932 [6].
Nội dung gồm có các bài:
Mấy lời kính
cáo quốc dân, ký tên
Phong Hóa Tuần Báo; Phong Tục (bản điện tử thiếu một trang,
nên không rõ tên tác giả); Mục Bia Phong Hóa có ba bài: Sở
Khanh của Kỳ Hoa, Năm năm chăn gối của Bi Thời
Khách, Chữ tình trong lúc biến của Trần Đỗ; Tân học
cựu học chỉ là hai tiếng, của Trần Khánh Giư; Tranh Hai đám
rước sư tử không ký tên; Mục Hài văn ký tên Quần Đệ
Tử [7].
Và các mục: Văn Đàn; Sử ký và địa dư; Phụ nữ; Tin
vắn nước Nam và Thế giới, Khoa học thường thức. Đoản thiên tiểu
thuyết Mưu sâu đã dắp [rắp] của Kỳ Hoa; và quân
sự tiểu thuyết Trận đánh phương nam (không ký tên, có chỗ ký Kỳ
Hoa).
Tóm lại, trong số 1 này, ngoài hai bài
ký tên thật Trần Khánh Giư, những bài còn đều lại ký tên khác, nhưng nếu tinh
ý, ta sẽ thấy giọng văn và tư tưởng vẫn là Khái Hưng.Bìa Phong Hóa số 1Trên Phong Hóa số 1, trang đầu, có
bài Mấy lời kính cáo quốc dân ký Phong Hóa Tuần Báo, lời lẽ
như sau:
"… Xã hội Việt Nam
ta đương ở vào buổi giao thời, cái giở [dở] của mình chưa
giũ [rũ] sạch, cái hay của mình chưa nhận thấu, đương lúc ấy,
tờ "Phong Hóa tuần báo" ra đời tưởng cũng không phải là sinh chẳng
gặp thời vậy.
Vườn còn
hoang, cỏ còn rậm, muốn sửa sang cho thành một cảnh tráng quan há không phải là
bổn phận chung của cả Quốc dân? Phong Hóa Tuần Báo nay tự nhận
chút đỉnh trách nhiệm, sửa sang vườn cũ, cây xưa, biết cái hay thì nêu ra để
người lấy đấy mà trau rồi [dồi], biết cái giở [dở] cũng
nêu ra để người nhớ lấy mà ruồng bỏ, âu cũng là gánh vác việc công ích trong
muôn một.
Đã không
thiên tín, lại chẳng chấp mê, chọn lọc hai đường tân cựu so sánh cho đúng hoàn
cảnh hiện thời, bỏ điều giở, vạch điều hay của lễ nghi phong tục để cùng
Quốc Dân tấn thủ thi hành, đó là tôn chỉ của tờ Phong Hóa Tuần Báo".
Những lời này phù hợp với quan niệm
trung dung, hòa hợp cũ mới của Khái Hưng, và "dọn cỏ vườn
hoang" sẽ là mục "Hạt đậu dọn" Khái Hưng
phụ trách trên Phong Hóa dưới tên Nhát dao cạo, để sửa sai các câu
văn trên báo khác. Bài Mấy lời kính cáo quốc dân cùng giọng
với bài tiểu luận Tân học cựu học chỉ là hai tiếng viết về
Phan Khôi và Phạm Quỳnh, dung hòa ý tưởng của hai nhà văn đối lập tư tưởng
tân cựu, ký tên Trần Khánh Giư.
Tóm lại, ba bài Mấy lời kính cáo
quốc dân (giải thích lý do ra báo), Phong tục (giải
thích tên Phong Hóa: giáo hóa và phong tục) và bài
thơ Cùng các bạn Phong Hóa, trong mục Văn Đàn (nói
lên mục đích và tôn chỉ tờ báo) ký tên Phong Hóa, đều do Khái Hưng viết; và tôi
chắc chắn cái tên Phong Hóa cũng do Khái Hưng đặt, bởi vì ba bài viết này đều
đồng quy ở điểm giáo hóa và phong tục.
Mục Văn Đàn còn có bài
thơ A une jeune mariée của Victor Hugo, dịch sang tiếng Việt
là Lời mẹ khuyên con lúc xuất giá, do Đào Thiện Ngôn dịch; và một
số bài thơ ký tên Kỳ Hoa, như Ngu Cơ và Chiêu
Quân, nhất là bài hát nói Tu là cõi phúc, đã chớm
nở tư tưởng thoát tục trong Hồn bướm mơ tiên. Vì vậy, ta có
thể đoán chắc rằng: Đào Thiện Ngôn và Kỳ Hoa cũng vẫn là Khái Hưng, bởi vì chỉ
mình Khái Hưng mới có kiến thức Đông phương sâu sắc, có tầm triết học Thái Tây,
có tư tưởng thấm nhuần Nho Phật, có tài làm thơ và dịch thơ chữ Pháp và chữ
Hán, có khuynh hướng lịch sử và cực lực bênh vực nữ quyền.
Mục Sử ký và địa dư có
bài Con tiên cháu rồng kể chuyện Lạc Long Quân và Âu Cơ ký tên
Kỳ Hoa, chứng tỏ khuynh hướng lịch sử đã bắt đầu. Mục Phụ nữ có
bài Làm thân con gái đời thượng cổ của Trần Khánh Giư, mở đầu
chiến dịch khôi phục nữ quyền trong tiểu luận. Tiếp đến là đoản thiên tiểu
thuyết Mưu sâu đã dắp [rắp] của Kỳ Hoa (truyện một người chồng
lập mưu đổ cho vợ tội ngoại tình để đuổi đi) chứng tỏ ông đã bắt đầu dùng tiểu
thuyết để bênh vực người phụ nữ, mà đỉnh cao sẽ là Nửa chừng xuân,
đăng trên Phong Hóa từ số 36 (1-3-1933).
Sau cùng là quân sự tiểu thuyết Trận
đánh phương nam, không ký tên (có lần ký Kỳ Hoa) phóng tác theo tiểu thuyết
kiếm hiệp Tây phương, cho ta thấy ông đã tập viết tiểu thuyết lịch sử và đỉnh
cao sẽ là Tiêu Sơn tráng sĩ, bắt đầu đăng trên Phong Hóa từ số
129 (21-12-1934).
Kỳ Hoa có lẽ là bút hiệu Khái Hưng định
chọn lúc đầu. Kỳ Hoa và Đào Thiện Ngôn sẽ biến mất sau Phong Hóa số 7, thay
thế bằng những bút hiệu khác.
Trên Phong Hóa số 1, hầu như những tư
tưởng chính xây dựng tờ Phong Hóa của Khái Hưng đã được bộc lộ: cho thấy hầu
như toàn bộ tư tưởng ôn hòa và phong cách sáng tác đan cài văn chương, lịch sử
và văn hóa Việt của ông. Tóm lại, năm 1932, trên Phong Hóa giai đoạn đầu của Tự
Lực văn đoàn, Khái Hưng bao dàn gần hết bài vở, cũng như với hai tờ Việt Nam và
Chính Nghĩa, ở giai đoạn chót của Tự Lực văn đoàn, năm 1946. Ông đã "luyện
văn" trên tờ Phong Hóa từ số 1 đến số 13, bằng nhiều thể loại khác nhau,
với những chủ đề khác nhau.
Phong Hóa số
2 (23-6-1932),
báo ra ngày thứ năm, bìa có tranh trừu tượng, ký tên chữ Hán, nghĩa là Đông Sơn [8].
Nội dung gồm có:
Bài xã luận: Muốn phá hủy hãy
kiến thiết đã của Trần Khánh Giư. Mục Bia Phong Hóa có
bài Nam vô tửu như kỳ vô phong của Kỳ Hoa. Hý họa không ký
tên. Hài văn ký Quần Đệ Tử.
Ý nghĩa Bồi
thường trong sự hình phạt ở Á Đông của Trần Khánh Giư. Mục Văn đàn: gồm
một bài hát nói Mừng Phong Hóa của Thảo Thượng Phong và một
bài thơ cổ của Tăng Tử đời Tống vịnh Ngu Cơ, do Kỳ Hoa dịch, rất hay.
Mục Sử ký và địa dư có
bài Thần núi thần sông (chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh) của Kỳ
Hoa. Sau cùng là đoản thiên tiểu thuyết Mùa hoa gạo của Kỳ Hoa
và Trận đánh phương nam, tiểu thuyết quân sự cũng của Kỳ Hoa.Bìa Phong Hóa số 2Tranh bìa này chắc Nguyễn Gia Trí vẽ, ký
tên Đông Sơn chữ Hán, vì lúc này, trên nguyên tắc, chưa có Nhất Linh.
Lần đầu tiên tờ báo ghi tên tòa soạn và
trị sự: Số 1, đường Carnot trên trang bìa. Và cũng lần đầu tiên ghi: Nguyễn
Xuân Mai, Giám đốc và Phạm Hữu Ninh, Quản lý nhà in Thụy Ký (chữ nhỏ ở
trang sau chót). Hai ông này sẽ giữ địa vị quan trọng trong một thời gian dài,
như ta sẽ thấy ở dưới. Nhưng hầu như ít ai chú ý đến tên Nguyễn Xuân Mai, mà
chỉ giữ lại tên Phạm Hữu Ninh vì ông là hiệu trưởng trường Thăng Long.
Trong số 2 này, vẫn gần như chỉ có một
mình Khái Hưng tự biên tự diễn, ông ký thêm tên Thảo Thượng Phong dưới bài hát
nói và tên này cũng chỉ xuất hiện vài số rồi biến mất. Nhưng đáng chú ý là hai
bài:
- Xã luận: Muốn phá hủy hãy kiến
thiết đã của Trần Khánh Giư, lời lẽ mạnh bạo, thuyết phục, nêu lên
những hủ lậu của lối sống cũ, cần phải đổi mới, nhưng cũng chống lại sự a dua
quá đáng của một số người theo mới: "Những cái mới không hẳn đã là
hay, những cái cũ không chắc đã là dở, theo mới bỏ cũ vị tất đã là đi không
phải đường. Song giá khi nào học những cái mới được tường tận đã, được hoàn
toàn đã, thấu hết được tinh thần đã, hãy nên ruồng rẫy những cái cũ thì hợp đạo
hơn". Trần Khánh Giư đưa ra thí dụ: xưa kia còn học chữ nho thì đứa
trẻ nào trong làng cũng ê a dăm ba chữ của thầy đồ, bây giờ chuyển sang quốc
ngữ, mấy làng mới có được một trường học, nạn mù chữ mạnh hơn. Quan điểm này
- hoàn toàn khác với khẩu hiệu "theo mới hoàn toàn theo mới" của
Hoàng Đạo-Khái Hưng đã dùng làm nền tảng để xây dựng nhân vật Mai trong Nửa
chừng xuân, khác hẳn nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt của
Nhất Linh.
- Đoản thiên tiểu thuyết Mùa hoa
gạo ký Kỳ Hoa, là tự truyện về quãng đời đi học của Khái
Hưng: thủa nhỏ học 5 năm chữ Hán (từ 5 tuổi đến 10 tuổi) rồi mới học chữ Tây.
Thi bằng Sơ Học năm 14 tuổi, vì đỗ cao nên được vào trường Bảo Hộ (ngoài đời
Khái Hưng học trường Albert Sarraut). Mùa hoa gạo sẽ được ông
viết lại thành hồi ký Thế giới cũ Mực tầu giấy bản ký tên Nhị
Linh, về thời học chữ nho, đăng trên Phong Hóa từ số 24 (2-12-1932).
Phong Hóa số
3 (30-6-1932)
ngoài những mục thường thức, còn có:
Xã luận: Một câu hỏi của
Trần Khánh Giư, biện hộ cho việc con gái cần phải đi học để có
kiến thức, nâng cao giá trị người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Bài Quang cảnh một tiệm hút
thuốc phiện ở Hà Nội (đăng hai kỳ, kỳ đầu ký Thảo Thượng
Phong, kỳ sau ký Trần Đỗ). Bài này có lẽ là thử nghiệm truyện ngắn hiện
đại đầu tiên của Khái Hưng, viết theo lối phóng sự hư cấu về một tiệm
hút thuốc phiện. Phương pháp mô tả của ông đã thành hình: tiệm hút ở ngõ Sầm
Công được Khái Hưng soi tỏ mọi khía cạnh: người và vật.
Mục Bìa Phong Hóa có
bài Hoạn Thư của Kỳ Hoa. Mục Hài văn của Quần
Đệ Tử, mục Thực hay hư của Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù. Mục Gương
thể thao của Nguyễn Tuấn Giao. Mục Chuyện Phong Hóa: Vì
tình nên phải… của Khúc Giang.
Và trên Phong Hóa số 3 này có tranh hài
hước ký tên Đông Sơn quốc ngữ lần đầu. Có thể vẫn là của Nguyễn Gia Trí, vì
Nhất Linh chưa "vào", và có quảng cáo Nguyễn Tường Tam dạy trường
Thăng Long, giáo sư cử nhân Vật lý. Cũng trong số báo này có thêm bút hiệu Khúc
Giang, là tên một bài thơ của Đỗ Phủ.
Phong Hóa số
4 (7-7-1932)
Xã luận: Nghề và tiếng của
Trần Khánh Giư. Tùy bút Quần trắng áo lam của Nhất Chi Mai
(bàn về mốt áo lam quần trắng của các bà các cô đang thịnh hành) đây là bài văn
đầu tiên của Nhất Chi Mai tức Thế Lữ được đăng trên Phong Hóa, viết theo thể
văn tùy bút khá mới, nhưng không ai để ý. Mọi người chỉ coi như Thế Lữ có mặt,
từ lúc truyện ngắn Thây ma xuống gác ký tên Ng. Thế Lữ, được
đăng trên Phong Hóa số 27 (23-12-1932).
Mục Bìa Phong Hóa có
bài Cái ngông cái rởm của người đời của Khúc Giang Đào Thiện
Ngôn. Qua bút hiệu này ta biết Khúc Giang chính là Đào
Thiện Ngôn, đều là Khái Hưng.
Tiểu luận Một cái khí giới của
ông bố An Nam của Trần Khánh Giư, đả phá chế độ phụ quyền. Mục Phụ
nữ có bài Hồ Xuân Hương của Kỳ Hoa. Thực hay
hư của Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù. Bài Quang cảnh một tiệm thuốc
phiện ở Hà Nội (tiếp theo), lần này không ký Thảo Thượng Phong mà ký
Trần Đỗ. Như vậy Trần Đỗ cũng là bút hiệu của Khái Hưng. Hài văn của
Quần Đệ Tử. Có tật giật mình, tranh của Hbat. Mục Văn
đàn, có ba bài thơ: Qua thành tỉnh Sơn, Thăm cảnh hồ Gươm, Đêm hè
xem sách, không đề tên tác giả và một đoản văn của Chateaubriand do Đào
Thiện Ngôn dịch, tất cả đều "của" Khái Hưng. Có tranh hài hước chế
nhạo việc đánh bài, không ký tên. Mục Sử ký và địa dư, có bài Đức Thánh
Gióng của Kỳ Hoa.
Phong Hóa từ
số 5 (14-7-1932) đến
số 10 (18-8-1932)
Phong Hóa số 5 có bài Một buổi
diễn kịch làm phúc, tường thuật của Nhất Chi Mai và Phong Hóa số 6, có
truyện Bả phồn hoa của Nhất Chi Mai, sau đó không thấy bài của
Nhất Chi Mai nữa.
Tóm lại, từ số 1 đến số 10, Khái Hưng
bao dàn gần như hết cả tờ báo với những tên khác nhau. Ông đã ký những tên:
Trần Khánh Giư, Kỳ Hoa, Đào Thiện Ngôn, Trần Đỗ, Thảo Thượng Phong, Khúc Giang,
Hưng Bang, K.G., Ngô Đình Chiên, Bán Than [9],
Hứa Do, K.G. Đào Quang Triệu, T.K. Giư, Lão Ôn, Trần Lang, Nhà Nho, Quần Đệ
Tử, Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù… Những bút hiệu này, hoặc do phá ba chữ Trần Khánh
Giư, để lắp lại theo một trật tự khác, hoặc sử dụng hai chữ đầu K.G rồi biến
chế thêm, hoặc dùng những sự tích liên quan đến tướng Trần Khánh Dư trong lịch
sử, cùng quê với ông, hoặc thầm kín nói lên tính chất nhà nho "người
hiền" như Hứa Do của chính mình, hoặc cho thấy Khái Hưng có humour, thích
pha trò, tự giễu. Ông chỉ bắt đầu ký tên T. Khái Hưng trên Phong Hóa số 15
(29-9-1932) dưới đoản thiên tiểu thuyết Cái thù ba mươi năm, tác
phẩm đầu tiên bộc lộ ngôn ngữ tiểu thuyết của Khái Hưng.Phong Hóa số 14Phong Hóa số
11 (25-8-
1932), là ngõ quặt, bắt đầu sự cải tiến. Về hình thức, bỏ lối trình bày khổ nhỏ
của tập san, chuyển sang khổ lớn của báo hàng ngày (như Phong Hóa số 14). Và có
bài quảng cáo trên trang nhất, như sau:
Một sự cải
cách lớn của báo Phong Hóa
Phong Hóa tuần
báo tạm ra bốn trang giá bán 0p,03 [3 xu] để đủ thời giờ dự định một cuộc hoán
cải rất lớn lao.
Vài tuần nữa
tờ báo Phong Hóa sẽ được vừa lòng độc giả về hết các phương diện văn chương, mỹ
thuật, tư tưởng.
Xin độc giả
vững tâm chờ đợi. Phong Hóa tuần báo sẽ không phụ tấm lòng yêu mến của độc giả.
Qua lời quảng cáo này, ta có thể hiểu,
kể từ số 11, Phong Hóa đã có số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên
Leung-Fat-Fa, nên Tự Lực văn đoàn mới quyết định đổi mới tờ Phong Hóa,
theo cách tổ chức của Nhất Linh.
Nhưng Tự Lực văn đoàn lúc đó có những
ai? Đã là một văn đoàn chưa? Dựa vào Những ngày vui, thì lúc đó
"nhóm Tự Động" hay Tự Lực chỉ có Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nhất
Linh.
Phong Hóa số 12 (1-9-1932) trình bày
giống hệt như Phong Hóa số 11, bài quảng cáo cũng như thế, trên trang nhất.
Phong Hóa số 13 (8-9-1932), đăng bài
quảng cáo mới, ở giữa trang nhất, "hoành tráng" và "nhà
nghề" hơn, chắc đã có bàn tay Nhất Linh nhúng vào:
"Một cuộc hoán cải lớn lao trong
báo Phong Hóa!
Một sự lạ
trong làng báo!
Một cái mới!
Đến ngày thứ
năm 22 Sept.1932
Báo Phong Hóa
sẽ ra số mới 8 hay 12 trang (khổ nhật trình). Mỗi số 0p07 [7 xu]".
Bàn một cách
vui vẻ về các vấn đề
cần thiết; xã
hội , chính trị, kinh tế
Nói rõ về
hiện tượng trong nước.
Có 15 tranh
vui, nhiều chuyện vui v.v...
Cần thiết…
Hoạt động…
Vui vẻ…
Mãi… Mãi…
Ai cần xem
báo! Ai thích đọc báo!
Nên đọc Phong
Hóa
Kính cáo độc
giả:
Báo Phong Hóa
tạm nghỉ một kỳ (15 Septembre) để có đủ thời giờ sửa soạn số ngày 22
Septembre".Phong Hóa số 13Vật ta có thể tóm tắt lại tình hình như
sau:
Phong Hóa từ số 1 đến số 10: Khái Hưng
viết, báo có khổ nhỏ của tạp chí (24×33).
Phong Hóa số 11, đổi mới hình thức, khổ
lớn như báo hàng ngày và đăng quảng cáo: báo Phong Hóa sẽ có cải cách
lớn.
Phong Hóa số 12 và 13, rút gọn nội dung
bài vở, để chuẩn bị cho số 14.
Phong Hóa số 14: tờ báo đã cải
cách, do Tự Lực văn đoàn chủ trương, ra đời.
Từ số 20 trở đi, trở lại khổ tạp chí.
Nhưng vẫn còn câu hỏi: Tự Lực văn đoàn
thành lập lúc nào mà "chủ trương" báo Phong Hóa số 14 như lời Nhất
Linh và Hoàng Đạo tuyên bố trên Phong Hóa số 154? (Xem Sự thành lập Tự
Lực văn đoàn, phần I). Có thể có hai câu trả lời:
1- Từ Phong Hóa số 1 đến Phong Hóa số
13.
2- Từ Phong Hóa số 10 đến Phong Hóa số
13.
Tôi chọn câu trả lời số 2, bởi vì, trên
Phong Hóa từ số 1 đến số 10, chỉ có mình Khái Hưng viết. Đến Phong Hóa số 11,
sự thay đổi rất rõ ràng. Vậy ta có thể coi là Nhất Linh đã "vào"
Phong Hóa, trễ lắm là từ số 11; và nhờ tiền của Leung-Fat-Fa, ông mới có phương
tiện tổ chức lại tờ báo, mời Tú Mỡ, gọi các em vào giúp, mượn thêm họa sĩ vẽ hý
họa.
Như vậy, ta có thể "chính
thức" nhìn nhận rằng:
Nhóm Tự Lực
đã thành hình trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-1932) đến Phong
Hóa số 13 (8-9-1932), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932.
Nguyễn Xuân
Mai và Phạm Hữu Ninh
Đáng lẽ bài này kết thúc ở đây, nhưng
chúng tôi vẫn còn muốn tìm hiểu thêm một vấn đề nữa: Nguyễn Xuân Mai là ai?
Cho đến nay, hầu như mọi người đều tin
rằng Phong Hóa chỉ bắt đầu từ số 14, khi Nhất Linh làm giám đốc. Nhưng nếu đọc
kỹ Phong Hóa từ những số đầu, thì mọi sự không hoàn toàn như thế: Phong Hóa là
một tờ báo có sự quản trị liên tục, từ số 1 đến số 13, do Khái Hưng
viết với những bút hiệu khác nhau; rồi từ số 14 trở đi, Nhất Linh mở rộng, đổi
mới và làm Giám đốc, nhưng Ban quản trị không hề thay đổi:
tên hai ông Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai luôn luôn có trên đầu báo, từ số
14 (22-9-1932) đến số 126 (30-11- 1934). Vậy họ là ai?
Nếu Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của
ông Phạm Hữu Ninh, thì tại sao tên ông Ninh và ông Mai vẫn còn tồn tại trên mặt
báo, sau số 14? Không những vai trò của Phạm Hữu Ninh không dừng ở Phong Hóa số
13, mà còn kéo dài nhiều năm sau. Vì từ số 14 (22-9-1932) trở đi, trên đầu báo,
dưới tên Phong Hóa, luôn luôn có hàng chữ này:
"Fondateur Directeur politique [Sáng lập, Giám đốc chính trị] Nguyễn
Xuân Mai, Directeur [Giám đốc] Nguyễn Tường Tam, Administrateur
Gérant [Quản lý Trị sự] Phạm Hữu Ninh" Đến số
126 (30-11-1934), khi toà soạn dọn về 80 Quan Thánh, những dòng chữ
này mới bỏ hẳn, chỉ giữ lại: Nguyễn Tường Tam Directeur.
Việc này dẫn đến hai câu hỏi:
- Một tờ báo có cần Giám đốc
chính trị không?
- Phạm Hữu Ninh là hiệu trưởng trường
Thăng Long, còn Nguyễn Xuân Mai là ai?
Trên bìa Phong Hóa từ số 1 đến số 13,
không thấy ghi tên Phạm Hữu Ninh, Nguyễn Xuân Mai trên đầu báo. Nhưng từ Phong
Hóa số 2 (23-6-1932), ở trang cuối ghi hàng chữ nhỏ tiếng Pháp: Le
Directeur Nguyễn Xuân Mai - Imprimerie Thụy Ký Hà Nội - Le gérant
Phạm Hữu Ninh [Giám đốc Nguyễn Xuân Mai - Nhà in Thụy Ký Hà Nội - Quản
lý Phạm Hữu Ninh].
Đây là lần đầu tiên tên hai ông xuất
hiện, Nguyễn Xuân Mai được ghi là Giám đốc nhà in Thụy Ký, còn Phạm
Hữu Ninh làm quản lý.
Phong Hóa số 11 (25-8-1932), nhà in đổi
tên là Moderne, hai ông vẫn làm giám đốc và quản lý. Và đến Phong Hóa số 14,
khi Nhất Linh làm Giám đốc, thì Nguyễn Xuân Mai trở thành
nhà Sáng Lập và Giám đốc chính trị. Tại sao?
Tú Mỡ kể lại chuyện ra báo trong hồi ký
như sau:
"Mãi đến
khi anh Tam rủ tôi vào báo Tiếng Cười thì cá mới thực gặp nước; tôi mến phục
anh Tam có con mắt tinh đời, biết người, biết của, nên vui sướng nhận lời cộng
tác với anh. (…)
Chúng tôi đã
sáng tác được nhiều cho báo Tiếng Cười. Nhưng vẫn chưa được giấy phép ra báo.
Anh Tam có đi thăm dò tin tức, thì ở sở báo chí của phủ Thống sứ người ta bảo
rằng: "còn xét!“. Một tháng, hai tháng, ba tháng, vẫn cứ "còn
xét". Chúng tôi bảo nhau: cái kiểu kéo dài "còn xét" này, có
nghĩa là nó không muốn cho phép. Nhưng nó xỏ lá không muốn công khai từ chối vì
không có lý do chính đáng" [10]
Câu này sai, vì Nhất Linh viết trong
bài Nói truyện cũ trên Phong Hóa số 154 (20-9-1935)
rằng: "Tờ "Tiếng Cười" đó đã được giấy phép xuất bản của
chính phủ, nhưng không thể ra đời được, vì một lẽ giản dị là không kịp thu xếp
xong trước ngày hết hạn giấy phép". Và trong bài tiểu sử Nhất
Linh do Nguyễn Ngu Í soạn năm 1966, cho biết thêm: Tiếng Cười không ra được vì
không có tiền.
Điều này chứng tỏ Tú Mỡ không biết rõ
chuyện báo Tiếng Cười, ông chỉ nghe kể lại, rồi bịa thêm câu: "sở báo
chí phủ Thống sứ bảo: còn xét", được rất nhiều người chép lại.
Nhưng đoạn dưới đây, có một điều tin
được:
"Anh Tam
đâu có chịu bó tay. Anh xoay và đã xoay rất cừ. Bấy giờ, nhân dịp có tờ Phong
Hóa của anh Phạm Hữu Ninh, quản trị, anh Nguyễn Xuân Mai, giám đốc chính trị,
loại báo vô thưởng vô phạt, đang sống dở chết dở vì không ai buồn đọc, sắp sửa
phải đình bản. Anh Tam đề nghị với hai anh nhượng lại tờ báo cho mình làm chủ bút,
hai anh vẫn đứng tên quản trị và giám đốc chính trị làm vì, mỗi tháng lĩnh mấy
chục bạc lương (tức là tiền cho thuê báo). Tất cả đều hỉ hả: anh Ninh và anh
Mai trút được gánh nặng mà báo khỏi đình bản; anh Tam sẵn có tờ báo thay cho tờ
Tiếng Cười, chắc là không được phép xuất bản" [11]
Điểm có thể tin được ở đây trong lời Tú
Mỡ là: Nhất Linh chỉ "thuê" giấy phép làm báo, cho nên hai ông Ninh
và Mai vẫn "chính thức" đứng tên. Việc này giải thích lý do tại sao
trên đầu Phong Hóa số 14 lại ghi: Nguyễn Xuân Mai là người Sáng lập và Giám đốc
chính trị; Nguyễn Tường Tam, Giám đốc và Phạm Hữu Ninh, Quản lý. Chỉ
tới số 126, khi tòa soạn đã dọn về 80 Quan Thánh, thì trên đầu báo mới bỏ hết
tên ba người, nhưng tên Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh, lại xuất hiện lại,
trên báo thêm một thời gian nữa, đến Phong Hóa số 139 (8-3-1935) mới chấm dứt
hẳn [12].
Cũng nên ghi thêm: kể từ Phong Hóa số
136 (15-2-1935) Nguyễn Tường Tam không có tên trên bảng quảng cáo các giáo sư
cử nhân trường Thăng Long. Nhưng ông chỉ ngừng dạy một thời gian, vì đến năm
1937, trên báo Ngày Nay số 74 (29-8-1937), lại quảng cáo tên ông trong ban giáo
sư nhà trường, như vậy ông còn dạy học trong niên khóa 1937-1938 nữa.
Phong Hóa
Ngày Nay bị biển thủ
Nhà in, nhà xuất bản và tờ báo là ba cơ
quan khác nhau. Báo Phong Hóa, từ số 1(6-6-1932) đến số 190 (5-6-1936) đã thay
đổi tên nhà in nhiều lần, thoạt tiên là Thụy Ký, rồi Imprimerie Moderne (62
Hàng Bạc), Lê Văn Tân, Trung Bắc Tân Văn và Tân Dân [13].
Chắc chỉ đổi tên, chứ vẫn là một nhà in, vì ông Nguyễn Xuân
Mai luôn luôn là Giám đốc và ông Phạm Hữu Ninh quản lý. Từ Phong Hóa số 134
(30-1-1935) trở về sau mới chuyển sang Nguyễn Tường Tam quản lý nhà in Tân Dân
đến số 190, số chót.
Còn báo Ngày Nay ra sau, lần lượt do
Nguyễn Tường Cẩm (anh Nhất Linh), Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Trần Khánh Giư
(Khái Hưng) và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Giám đốc. Tên nhà in báo Ngày
Nay cũng thay đổi từ Imprimerie d’Extrême Orient sang TBTV (Trung Bắc Tân Văn)
rồi lại trở về với tên Thụy Ký [14],
và "những nhà in" này đều do Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Lân và
Nguyễn Kim Hoàn (em rể Nhất Linh, chồng bà Nguyễn Thị Thế) thay phiên nhau quản
lý.
Qua chuyện nhà in, bật ra mấy câu hỏi có
tính cách xác định:
- Tên nhà in hai báo Phong Hóa Ngày Nay,
tuy thay đổi nhiều lần, nhưng có phải vẫn chỉ là một nhà in Thụy
Ký mà ông giám đốc là Nguyễn Xuân Mai hay không?
- Sau Phạm Hữu Ninh đến Nguyễn Tường
Tam, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Kim Hoàn kế tiếp nhau quản lý (các) nhà in.
"Các" nhà in này tuy thay đổi tên nhưng cuối cùng vẫn trở về với tên
đầu tiên Thụy Ký, trước khi "bán lại" cho Ngày Nay.
- Ngày Nay số 208 quảng cáo: "Ngày
Nay ngày nay in nhà in nhà" và từ Ngày Nay số 209, báo đề in
ở Imprimerie spéciale de la Revue Ngày Nay. Vậy báo Ngày Nay
chỉ có nhà in riêng bắt đầu từ số 208, và nhà in này cũng tên là Ngày Nay.
- Tại sao một tờ báo lớn như Ngày Nay và
một nhà xuất bản lớn như Đời Nay lại chỉ có nhà in riêng khá chậm như vậy?
- Bởi vì Tự Lực văn đoàn bị một người
biển thủ. Việc này bà Nguyễn Thị Thế có nói đến trong hồi ký: "Các anh
mải mê sáng tác, soạn bài vở nên giao việc trông nom ấn loát và quảng cáo cho
một người bạn vì quá tin nên không kiểm soát gì cả. Trong hai năm ông ta thụt
két mất một số tiền lớn; sau này có người mách các anh soát lại sổ sách mới rõ,
thật là chua cay"[15]. Nhưng
bà không nói rõ ai thụt két và trong thời gian nào. Khi rà lại Phong Hóa và
Ngày Nay để tìm dấu vết vụ này, chúng tôi thấy rằng:
Kể từ Phong Hóa số 140 (15-3-1935), ông
Nguyễn Văn Thức làm Quản lý báo Phong Hóa và Ngày Nay, tên ông được đề liên tục
trên đầu báo, trong hai năm rưỡi.
Bỗng nhiên, đến Ngày Nay số 74
(29-8-1937), dưới bài diễn văn của Nhất Linh Ý nghĩa xã hội của Ánh
Sáng, trên một cột nhỏ, phải chú ý mới thấy, có in mấy dòng Cùng
các độc giả Ngày Nay và những nhà đăng quảng cáo, dưới dạng bố cáo như sau:
"Ông
Nguyễn Văn Thức, người thủ khố (Caissier comptable) của báo Ngày Nay bỗng dưng
bỏ việc mấy hôm nay không đến tòa báo. Vậy chúng tôi không coi ông ấy là người
làm công của chúng tôi nữa. Tiền nong, thư từ về việc quảng cáo, xin các bạn
gửi cho ông TRẦN TIÊU, 80 Grand Bouddha, Hà Nội".
Vậy, Trần Tiêu, em ruột Khái Hưng đã
thay Nguyễn Văn Thức làm quản lý báo Ngày Nay (Nguyễn Thị Thế ghi Hoàng Đạo)
trong một thời gian, sau đó Nguyễn Trọng Trạc lên thay thế, rồi sau báo Ngày
Nay không đề tên Giám đốc, Quản lý nữa. Kể từ Ngày Nay số 166 (17-6-1939) ông
Nguyễn Kim Hoàn, làm quản lý nhà in Thụy Ký đến số báo chót.
Vì vụ biển thủ này, cho nên báo Ngày Nay
không có tiền để lập nhà in riêng và nhà xuất bản Đời Nay cũng bị khó khăn
theo, cho nên mãi đến năm 1940, tức là tới lúc các thành viên chính đã phải
trốn tránh và Tự Lực văn đoàn bắt đầu tan rã, thì Ngày Nay số 209 (25-5-1940),
mới in được ở nhà in riêng, và quảng cáo trên báo câu đối: Ngày Nay
ngày nay in nhà in nhà.
Tại sao ông
Nguyễn Xuân Mai lại là người sáng lập Phong Hóa?
Câu hỏi: ông Nguyễn Xuân Mai, Giám đốc
Sáng lập và Giám đốc Chính trị tờ Phong Hóa, là ai? Vẫn chưa trả lời được. Đọc
lời chia buồn của Phong Hóa khi được tin cụ Thượng Đính mất, tôi được biết một
thông tin quý giá giúp tôi giải mã câu hỏi này.
Bản Tin buồn đăng trên
Phong Hóa số 183 (17-4-1936), bắt đầu như sau:
"Bản báo được tin cụ
Lê Vân Đính, Tuần phủ chí sĩ, thân phụ ông Lê Vân Nham, nhạc phụ ông Thụy Ký và
ông Trần Khánh Giư đã mệnh chung ở Dịch Diệp (Nam Định) ngày 7
tháng tư…"Nhờ mấy dòng này mà ta biết ông Thụy Ký
là người anh đồng hao của Khái Hưng.
Vì vậy, chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết:
tờ Phong Hóa, được ông Thụy Ký (Nguyễn Xuân Mai), không những giúp đỡ Khái Hưng
in báo từ số 1, mà khi Nhất Linh mở rộng tờ báo, từ số 14, ông Thụy Ký Nguyễn
Xuân Mai còn bao che cả việc chính trị (vì ông có thế lực?), cho nên trên đầu
tờ Phong Hóa, từ số 14, luôn luôn đề Nguyễn Xuân Mai, Giám đốc Sáng lập
và Giám đốc Chính trị. Như thế, công của ông trong việc xây dựng tờ Phong
Hóa thực không nhỏ, và ông quả là người Sáng lập ra tờ báo.Fondateur Directeur Politique Nguyễn Xuân MaiNhà in Thụy Ký, trong suốt 8 năm, do ông
Nguyễn Xuân Mai làm chủ, ban đầu mượn ông Phạm Hữu Ninh, tiếp đến anh em Nguyễn
Tường làm quản lý và chỉ đến bốn tháng cuối cùng, Tự Lực văn đoàn mới mua được
nhà in mới (hay mua lại nhà in Thụy Ký) để có nhà in riêng, tức là nhà in Ngày
Nay, in báo Ngày Nay từ số 209 (25-5-1940), đến 224 (7-9-1940) là số chót.
Nhưng năm 1940, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí đã tham gia
cách mạng rồi.
Tóm lại, sau những khảo sát đầu tiên,
chúng tôi xin tạm kết luận:
Báo Phong Hóa (số 1, ra ngày 6-6-1932)
do Nguyễn Xuân Mai, giám đốc nhà xuất bản Thụy Ký sáng lập và in ấn; Trần Khánh
Giư và Nguyễn Gia Trí chủ trương; Trần Khánh Giư đặt tên là Phong Hóa và viết
hầu như toàn diện bài vở từ số 1 đến số 13 (8-9-1932). Tên Tự Lực cũng đã có
trong thời kỳ này.
Kể từ Phong Hóa số 11, nhờ số tiền
10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên Leung-Fat-Fa di tặng, mới có quyết định mở rộng
và đổi mới theo kế hoạch của Nguyễn Tường Tam.
Tự Lực văn
đoàn đã
thành hình trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-32) đến Phong Hóa số
13 (8-9-32), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932,
để chuẩn bị cho số báo 14 (22-9- 1932) là số báo chính thức của văn đoàn.
Chú thích:
[1] Những ngày vui, bản Phượng
Giang, 1958, trang 101-102.
[2] Những ngày vui, bản
Phượng Giang, trang 105.
[3] Những ngày vui, trang
108.
[4] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên, tập III, Anh Phương Sài Gòn, 1965, Đại Nam Hoa
Kỳ, in lại, trang 432.
[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ
văn học Việt Nam, quyển hạ, Ba thế hệ của nền văn học mới (1862-1945) Nxb Trình
Bày, 1967, trang 609.
[6] Khổ tạp chí, 16 trang, giá 10 xu,
chưa có bìa. Khung in Giá báo, đề: Ngân phiếu và thư tín xin gửi: M. Phạm Hữu
Ninh, Quản lý Phong Hóa Tuần Báo, số 1 đường Carnot Hà Nội.
[7] Mục Hài văn ký
tên Quần Đệ Tử từ số 1 tới số 7; số 8 ký Bán Than; số 9 ký Bi Thời Khách. Từ số
10, đổi tên thành Nụ Cười, vẫn do Khái Hưng viết, ký tên Lão Ôn; số
11 và 12 ký tên Nhà Nho; số 13 ký tên Ba Phải. Đặc biệt số 6, có bài thơ phỏng
cổ Chinh Phụ Ngâm: Lời than của chị em dưới sóm [xóm] của Quần
Đệ Tử, rất hay.
[8] Bìa này giữ đến số 10. Dưới tranh
bìa, đề hàng chữ to: Tòa soạn và trị sự số 1, Đường Carnot [nay là Phan Đinh
Phùng] Hà Nội. Giá bán 10 xu. Ở tận cùng trang cuối, ghi hàng chữ nhỏ: Le
directeur Nguyễn Xuân Mai - Imprimerie Thụy Ký Hà Nội- Le gérant: Phạm Hữu Ninh.
[9] Tướng Trần Khánh Dư ngày trước có
lúc bị biếm phải làm nghề bán than.
[10] Trong bếp núc của Tự Lực văn
đoàn, hồi ký của Tú Mỡ, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988 và số 1
năm 1989, in lại trong cuốn Tự Lực văn đoàn trong tiến trình văn học
dân tộc, Mai Hương tuyển chọn và biên soạn, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội,
2000, trang 125-158).
[11] Tú Mỡ, Trong bếp núc của
Tự Lực Văn Đoàn, sách đã dẫn.
[12] Kể từ Phong Hóa số 127 (7-12-34)
tên Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh không còn trên đầu báo, nhưng cuối báo vẫn
đề tên ông Phạm Hữu Ninh quản lý nhà in Tân Dân, tới số 134 (30-1-1935). Từ số
135 (8-2-1935) nhà in Tân Dân do Nguyễn Tường Tam quản lý. Đến số 137 (22-2-35)
và số 138 (1-3-1935), lại thấy tên ông Nguyễn Xuân Mai xuất hiện trên đầu báo,
với danh nghĩa: Sáng lập. Tới Phong Hóa số 139 (8-3-1935) mới bỏ hẳn tên hai
ông Nguyễn Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh.
[13] Nhà in Thụy Ký, do ông Phạm Hữu
Ninh quản lý, đổi tên là Imprimerie Moderne 62 Hàng Bạc kể từ Phong Hóa số 11
(25-8-1932). Tiếp đó, sẽ có những tên: Lê Cường, (do Nguyễn Tường Tam quản lý,
in Phong Hóa số 14) nhưng từ số 15, lại trở về tên Moderne, rồi trở thành: Lê
Văn Tân, Trung Bắc Tân Văn và Tân Dân, đều do ông Phạm Hữu Ninh quản lý. Đến
Phong Hóa 134 (30-1-1935), nhà in Tân Dân mới do Nguyễn Tường Tam quản lý.
[14] Ngày Nay số 1 (30-1-1935) in ở
Imprimerie d’Extrême-Orient, do Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc báo và Quản lý cả
nhà in. Được năm số thì ông Cẩm nghỉ. Nguyễn Tường Tam thay thế. Ngày Nay số 26
(20-9-1936) nhà in có tên là TBTV (Trung Bắc Tân Văn), số 27 (27-9-1936) lấy
lại tên Thụy Ký, rồi từ số 31 (25-10-1936), lại đổi tên TBTV, đến số 38
(13-12-1936), trở về tên Thụy Ký, vẫn do Nguyễn Tường Tam làm Quản lý. Tới Ngày
Nay số 68 (18-7-1937), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) lên làm Giám đốc tờ báo,
đồng thời Quản lý nhà in Thụy Ký cho tới số 165 (10-6-1939). Từ Ngày Nay số 166
(17-6-1939), không đề tên giám đốc tờ báo nữa, chỉ còn tên Nguyễn Kim Hoàn
(chồng bà Nguyễn Thị Thế, em gái Nhất Linh) làm quản lý nhà in Thụy Ký cho tới
số 208 (18-5-1940). Và từ Ngày Nay số 209, báo đề in ở Imprimerie
spéciale de la Revue Ngày Nay, tức là nhà in riêng của Ngày Nay cho
tới số cuối cùng 224, vẫn do ông Nguyễn Kim Hoàn quản lý.
[15] Hồi ký Nguyễn Thị Thế, bản Văn Hóa
Ngày Nay, 1996, Hoa Kỳ, trang 120.
5- Nhất Linh
và Phong Hóa
Phong Hóa số 14, ra ngày 22-9-1932, được
coi là tờ báo đầu tiên của Tự Lực văn đoàn. Tuy nhiên sự thay đổi, như ta đã
thấy trong chương Khái Hưng và Phong Hóa, bắt đầu từ trước.
Ngay từ số 11 (25-8- 32), Phong Hóa đã
đổi dạng từ tạp chí sang nhật trình, theo kiểu Phong Hóa số 14 (22-9-32): Bỏ
tranh bìa, in 4 trang lớn, giá 8 xu. Trang nhất đăng bài quảng cáo sau đây:
"Một sự cải cách lớn của báo
Phong Hóa
Phong Hóa
tuần báo tạm ra 4 trang giá bán 0p.03 [3 xu] [1] để
đủ thời giờ dự định một cuộc hoán cải rất lớn lao.
Vài tuần nữa
tờ báo Phong Hóa sẽ được vừa lòng độc giả về hết các phương diện văn chương, mỹ
thuật, tư tưởng.
Xin độc giả
vững tâm chờ đợi. Phong Hóa tuần báo sẽ không phụ tấm lòng yêu mến của độc giả."
Tiếp tục quảng cáo như thế trên số 12
(1-9-1932). Số 13 (8-9-1932), in thêm khẩu hiệu: Một cuộc hoán cải lớn
lao trong báo Phong Hóa! Một sự lạ trong làng báo! Một cái mới!
Và có lời Kính cáo độc
giả: Báo Phong Hóa tạm nghỉ một kỳ (15-9) để có đủ thời giờ sửa soạn số
ngày 22 Septembre.
Ngày 22-9-1932, Phong Hóa số 14 ra đời.
Chấm dứt thời kỳ độc diễn của Khái Hưng.
Nhất Linh xuất hiện với nhiều ngòi bút mới. Ê-kíp làm việc trong một tháng để
hoàn thành số ra mắt.Trang đầu Phong Hóa số 14Những thành viên của Tự Lực văn đoàn đều
có mặt trên số 14 này: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch
Lam và Tú Mỡ, trừ Thế Lữ, đến sau.
Từ số 14 (22-9-1932) đến số 20
(4-11-1932), trong hai tháng, qua 8 số báo hàng tuần, Phong Hóa đã, từng bước,
từng bước, dấn thân vào việc cải tiến xã hội, chối bỏ cái cũ, cái hủ lậu để
bước vào thời đại mới, xây dựng nền văn chương quốc ngữ, hiện đại hóa tiểu
thuyết ở miền Bắc, mà Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm khởi đầu.
Sự đổi mới
của Phong Hóa
Phong Hóa số 14, khổ nhật trình, 8
trang, giá 7 xu [2].
Trang nhất, trên đầu báo đề hai địa chỉ: Tòa soạn: 25 Boulevard Henri d’Orléans
[nay là Phùng Hưng] và Trị sự: 1 Boulevard Carnot; cùng với tên ba người:
Fondateur Directeur politique: Nguyễn Xuân Mai. Directeur: Nguyễn Tường Tam.
Administrateur gérant: Phạm Hữu Ninh. (Sáng lập và Giám đốc chính trị: Nguyễn
Xuân Mai. Giám đốc: Nguyễn Tường Tam. Quản lý Trị sự: Phạm Hữu Ninh).
Nguyễn Tường Tam đổi mới tờ báo từ hình
thức đến nội dung: phong phú, hấp dẫn, nhiều hý họa và minh họa. Ông đã thực
hiện được ý định muốn có một tờ báo như tờ Le Rire (Tiếng Cười) của Pháp [3].
Nguyễn Tường Tam có hai em hậu thuẫn:
Nguyễn Tường Long, làm tham tá lục sự ở trong Nam, ra Bắc, xuất hiện trên số
14, ký tên Tứ Ly và Tòng Lương [Tường Long nói lái], Thạch Lam, con thứ sáu
trong gia đình Nguyễn Tường, góp mặt trên số đầu với một truyện rất ngắn, ký
tên TL [Tường Lân viết tắt]. Tú Mỡ, quen Nhất Linh vì làm cùng sở tài chính từ
cuối năm 1923, được mời phụ trách mục thơ trào phúng trên báo cùng với Bán Than
(Khái Hưng).
Từ trước đến nay, người ta vẫn tưởng:
Nhất Linh mua lại tờ Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh, và có sự gián đoạn lớn giữa
tờ báo của ông Ninh và tờ Phong Hóa. Nhưng không phải vậy, Phong Hóa từ số 1
đến số 14 là sự liên tục về mặt quản trị và biên tập, như chúng tôi đã trình
bày trong những chương trước: hai hạt nhân đầu của Tự Lực văn đoàn là Khái Hưng
và Nguyễn Gia Trí, làm Phong Hóa với sự trợ giúp phương tiện của hai ông Nguyễn
Xuân Mai và Phạm Hữu Ninh. Khi nhận được tiền di tặng của Leung-Fat-Fa Nguyễn
Văn Tiên, từ số 11, Phong Hóa mới thông báo cùng độc giả dự định đổi mới, qua
hai số chuyển tiếp 12 và 13, Phong Hóa hoàn toàn đổi mới từ số 14.
Nhất Linh tổ chức lại tờ báo, phát triển
những mục mà Khái Hưng đã tạo ra từ số 1, mời thêm người viết, mở rộng những
mục cũ, tạo mục mới, xác định đường hướng của tờ báo, dùng hý họa và văn chương
tấn công vào thành trì cổ hủ và lạc hậu của đạo Nho và sự thối nát của guồng
máy thuộc địa. Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa ở số 190, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia
Trí mở thêm mặt trận tranh đấu chính trị: đòi hỏi tự do dân chủ, trên báo Ngày
Nay, kể từ số 16 (12-7-1936).
Nhất Linh cải
tiến Phong Hóa
Nhất Linh cải tiến Phong Hóa bằng cách:
Phát triển những mục cũ do Khái Hưng đặt ra và thêm vào những mục mới:
- Bài xã luận có từ số 1,
luôn luôn ký trên Trần Khánh Giư. Đó là bài chính, dài, ở trang
đầu, dùng nhiều thể loại khác nhau, chủ đề khác nhau, coi như văn bản "chỉ
đạo" của chủ bút; từ số 11, bài xã luận này được thu gọn lại, in ở cột báo
đầu cùng, bên trái.
Từ số 14 trở đi, trở thành bài
viết ngắn, in nghiêng, mục đích cổ vũ hay giải thích chủ
trương, chủ đề của số báo, do Nhị Linh (Khái Hưng), Nhất Linh, và Tứ Ly (Hoàng
Đạo) phụ trách.
- Mục Thực hay hư, có
từ số 2, chưa ký tên. Từ số 3 trở đi ký những tên khác nhau của Khái Hưng, như
Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù, Sào Phủ, Hứa Do, Tô Tô Phôn [4].
Đến số 14, Nhất Linh chia mục này thành
ba mục: Từ nhỏ đến lớn (nói về việc), Từ cao đến
thấp (nói về người) (sau sẽ chập làm một, lấy tên Người và
Việc) và Bàn ngang (nói ngược). Ba mục này giao cho Tứ Ly
(Hoàng Đạo) phụ trách.
- Mục Tin nước Nam và thế giới có
từ số 1, không ký tên. Đến số 14 đổi thành Những việc chính cần biết
trong tuần lễ này, số đầu do Thiện Căn viết, đây là bút hiệu của Hoàng Tích
Chu. Sở dĩ Nhất Linh, Khái Hưng mời Hoàng Tích Chu bởi vì ông là một trong
những nhà báo tân tiến đầu tiên của Việt Nam, đã đi Pháp hai lần, học nghề báo,
trước Nhất Linh. Với chủ trương thay đổi văn chương quốc ngữ, Phong Hóa cần
Hoàng Tích Chu. Chẳng may Hoàng Tích Chu mất sớm (25-1-1933) ở tuổi 36, nên ông
chỉ viết cho Phong Hóa có hai vở kịch và một bài phóng sự, nhưng ông đã để lại
dấu ấn sâu đậm. Chúng tôi sẽ trở lại với Hoàng Tích Chu trong một chương sau.
- Mục Hài văn có từ
Phong Hóa số 1, do Khái Hưng viết, ký Quần Đệ Tử từ số 1 tới số 7; số 8 ký Bán
Than; số 9 ký Bi Thời Khách. Từ số 10, đổi tên thành Nụ Cười, vẫn
do Khái Hưng viết, ký tên Lão Ôn; số 11 và 12 ký tên Nhà Nho; số 13 ký tên Ba
Phải. Đặc biệt trong số 6, có bài thơ phỏng Chinh Phụ Ngâm: Lời than
của chị em dưới sóm [xóm] của Quần Đệ Tử, rất hay.
Từ số 14, mục Hài văn đổi
thành Vui… Cười… do nhiều người viết, đôi khi cả độc giả cũng
tham dự.
- Mục Khoa học có từ số
1.
- Mục Văn đàn có từ số
1 do Khái Hưng viết dưới những bút hiệu khác nhau, như: Phong Hóa, Đào Thiện
Ngôn, Kỳ Hoa, Thảo Thượng Phong, Ngô Đình Chiên, Trần Lang và TKH (Trần Khái Hưng),
chuyên dịch thơ, dịch văn và sáng tác.
Kể từ số 14, Văn đàn đổi
thành Văn học, vẫn do Khái Hưng phụ trách dưới bút hiệu Văn Lực.
Ngoài ra, Nhất Linh đưa thêm vào hai mục
mới:
- Giòng nước ngược, thơ
trào phúng, do Tú Mỡ phụ trách, thỉnh thoảng có thơ của Bán Than (Khái Hưng).
- Mục Những hạt đậu dọn, do
Nhát Giao [Dao] Cạo (Khái Hưng) nhặt sạn chữ nghĩa trên các báo khác.
Phong Hóa số
14 có những bài
sau đây:
Xã luận: Biết dân quê… của
Nguyễn Đông Sơn (Nhất Linh), nội dung bênh vực dân quê. Mục Văn Học có
bài tiểu luận bàn về thi ca, tựa đề Thơ của Văn Lực (Khái
Hưng). Mục Khoa học có bài Giống tôm ở nhờ của
Văn Ký. Mục Những việc chính cần biết trong tuần lễ này của
Thiện Căn (Hoàng Tích Chu).
Phần hý họa gồm có: Tranh Người An Nam
mình kinh doanh của Đông Sơn. Tranh Mồm mép hàng giầy của
Tô, với nhân vật hình dạng giống Lý Toét, nhưng chưa đề tên. Tranh Dạy
khôn của Nal, [có khi ký Nul (Số Không) hay Tú Nuy (tạm dịch là Truổng
Cời)]. Tranh Nhà giáo quen tay của Tứ Ly. Ba tranh Trong
vườn bách thú, Một ngài nhãng trí, Hai ngài nhãng trí,
và tranh minh họa truyện ngắn Kong-Ko Đai-Jin của Khái Hưng
đều ký tên Mac. Truyện hài hước bằng tranh Ông Hàn đi săn… Ông Hàn kể
truyện, không ký tên. Tranh Ông Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời,
của Tứ Ly giễu Tản Đà say rượu, đi kèm với bài thơ: Trời đầy Nguyễn
Khắc Hiếu của Bán Than.
Phần sáng tác gồm có: Truyện ngắn Nùng
Chi Lan của Tòng Lương (Tường Long nói lái). Mục Văn vui có
truyện Lệ Hồng quyên sinh của T.L (Tường Lân). Truyện
ngắn Kong-Ko Đai-Jin của Trần Khánh Giư (Khái Hưng). Truyện
trinh thám: Giết chồng… báo thù chồng của Ngô Tâm Tư (Nhất
Linh). Mục Giòng nước ngược với ba bài thơ Tự thuật,
Kiệu bay, Thi lấy được của Tú Mỡ và bài Phụ nữ với quần vợt của
Bán Than.
Phong Hóa 14 là số ra mắt, Tự Lực văn đoàn
muốn "phô trương lực lượng" với số tranh hài hước kỷ lục, bài viết
phong phú, chủ đích giới thiệu các ngòi bút mới và trình bày hai yếu tố hài
hước và văn chương như cốt lõi của tờ báo.
Phong Hóa số
15 (29-9-1932),
có chủ đề đả phá sự sầu thảm với ba sự kiện đáng chú ý:
- Lần đầu tiên Trần Khánh Giư ký T. Khái
Hưng. Nguyễn Tường Tam vẫn ký Ngô Tâm Tư.
- Lần đầu tiên có tên Việt Sinh, bút
hiệu của Thạch Lam trên Phong Hóa.
- Lần đầu tiên có hình Lý Toét trên báo,
ở đầu mục Vui Cười, ký DS (Đông Sơn).
Bài xã luận: Sầu thảm nhiều
rồi của Việt Sinh, công kích lối văn lâm ly đẫm nước mắt đang thịnh
hành thời đó, như Tuyết Hồng lệ sử, Tố Tâm, v.v... Tranh hài hước Một đám
ma vui, trên trang nhất, của Đông Sơn, đưa tiễn những tác phẩm sầu thảm,
hậu thuẫn cho bài của Việt Sinh. Tứ Ly trong mục Từ cao đến thấp chế
giễu chuyện cô gái Bắc Ninh lên Hà Nội tự tử, Bán Than phụ họa với bài thơ Nước
Hồ Gươm trong Giòng nước ngược châm biếm chuyện tự
hủy mình. Khi một "chủ đề" được đưa ra, ở đây là "văn chương sầu
thảm" và bị "đánh hội đồng" như thế thì "khổ chủ" khó
ngóc đầu lên được, đó là chiến thuật của Nhất Linh trên Phong Hóa: một khi đề
đã ra rồi, anh em mặc sức tấn công bằng tranh và lời.
Phần sáng tác có truyện ngắn Tiếng chó
sủa của Ngô Tâm Tư, chuyện hai vợ chồng đào của, lối viết
còn khá thô sơ. Truyện ngắn Đi Nam Kỳ của T.K.G. (Khái Hưng)
do Tứ Ly minh họa, cũng chưa có gì mới. Nhưng truyện ngắn Cái
thù ba mươi năm, của T. Khái Hưng, bút hiệu này lần đầu tiên ra mắt
độc giả, đã xác định một phong cách truyện ngắn có cấu trúc chặt chẽ, ngôn ngữ
điêu luyện.
Phong Hóa số
16 (6-10-1932):
Bút hiệu Nhất Linh xuất hiện lần đầu, dưới bài tiểu luận Nam nữ bình
quyền và bài thơ Điệu thơ cụt. Nhưng truyện ngắn vẫn
ký Ngô Tâm Tư.
Trong số này có bài xã luận Tinh
thần khủng hoảng của Tòng Lương (Tường Long) nói về vấn đề thanh niên
bị khủng hoảng tinh thần vì muốn bỏ cái cũ mà chưa thu thập được cái mới.
Bài tiểu luận Nam nữ bình quyền của
Nhất Linh, nhìn cái tựa, ta tưởng Nhất Linh bênh vực phụ nữ, hóa ra không. Theo
ông, người chồng (hống hách), thật ra chỉ là Giám quốc bù nhìn. Chị em mới thực
nắm chức Thủ tướng, ông viết: "bọn đàn ông có quyền bao nhiêu cũng vẫn
chưa đủ đàn áp được cái thân liễu yếu, chỉ nhờ cái "yếu" ấy mà sức
mạnh vô song". Có thể do kinh nghiệm gia đình chăng? Mẹ và vợ ông
đều là những "thủ tướng". Nhưng không phải gia đình nào người đàn bà
cũng làm thủ tướng! Bài này đi đôi với hý họa Nam nữ bình quyền, vẽ
người đàn ông đánh phấn, không ký tên, chắc cũng của Nhất Linh.
Truyện ngắn Cái hoa chanh của
Ngô Tâm Tư hay hơn truyện Tiếng chó sủa trong số 15.
Và truyện ngắn Sóng gió Đồ Sơn của
T. Khái Hưng đã thấp thoáng không khí lãng mạn Tự Lực văn đoàn.
Cũng trên Phong Hóa số 16, lần đầu
Nguyễn Tường Cẩm, anh Nhất Linh, viết bài Thomas Bata, nhà đóng giầy
trứ danh mới từ trần.
Phong Hóa số
17 (13-10-1932)
có tranh Đồng tử quân của Đông Sơn, vẽ một đội quân đồng tử
(cùng chết) cầm ống thuốc phiện thay súng xông trận cảm tử. Có truyện
ngắn Tiếng gọi cõi âm của Ngô Tâm Tư, do Cô Tô minh họa và
truyện ngắn Cái thống đời Tống của T. Khái Hưng do Tứ Ly minh
họa.
Đặc biệt là bài Để còn hỏi ông
nghè Nguyễn Mạnh Tường của Văn Lực (Khái Hưng), tác giả hỏi ý kiến ông
tiến sĩ văn chương về việc đổi mới văn chương quốc ngữ, có nên lấy chữ Hán hay
chữ Pháp làm mẫu, theo lối Ronsard, thế Kỷ XVI, đã cải cách thi ca Pháp, và
Corneille, Racine, Molière, thế Kỷ XVII, chấn chỉnh bi kịch và hài kịch, đều
lấy văn Hy La làm mẫu không?
Phong Hóa số
18 (20-10-1932)
có truyện Tình tuyệt vọng của Khái Hưng do Tứ Ly minh họa, và
bài thơ Tình tuyệt vọng Khái Hưng dịch Arvers. Với bài thơ
này, Khái Hưng đã nổi tiếng trên văn đàn, trong nhiều thập niên, vì tính cách
lạng mạn "mới" không than khóc, phù hợp với tâm trạng thanh niên nam
nữ lúc bấy giờ.
Đặc biệt có bài Trường Mỹ thuật
Đông Pháp, không ký tên, nhưng chắc của Nhất Linh. Bài này cho biết nhiều
nét về trường Mỹ Thuật Đông Dương trong những ngày đầu, mà chỉ Nhất Linh, đã
từng học qua, mới có thể viết được. Đây là bài đầu tiên viết về trường Mỹ thuật
trên Phong Hóa. Chúng tôi sẽ trở lại với trường Mỹ thuật Đông Dương, trong một
chương khác.
Bài Bàn về quốc văn của
Nguyễn Mạnh Tường trả lời bài Văn Lực đã đăng trong số 17, có nhiều ý kiến rất
hay, chúng tôi cũng sẽ trở lại với Nguyễn Mạnh Tường trong một kỳ tới.
Trong số 18 này, lần đầu tiên có truyện
ngắn Cái bánh ngọt của Trần Tiêu, em ruột Khái Hưng, và cũng
là lần đầu tiên có tranh của Trần Quang Trân, ký Ngạc Mai.
Phong Hóa số
19 (27-10-32),
có bài xã luận Tiếng cười của Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nhất
Linh, là bài viết thứ hai của ông, rồi ngừng. Có tranh Ấy họ đá… nhau,
chế giễu cảnh đá banh của Tứ Ly. Ba Ếch xuất hiện lần đầu trong truyện Ba
Ếch đi xe hoả. Có truyện ngắn Ada Kwaben của Khái Hưng, vở
hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem của
H.T.C. (Hoàng Tích Chu), cùng bài Nguyễn Mạnh Tường trả lời Văn Lực (Khái
Hưng).
Phong Hóa số
20 (4-11-1932),
tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên xuất hiện lần đầu trên Phong Hóa,
mở một kỷ nguyên mới: Tự Lực văn đoàn đã hoàn tất giai đoạn hình thành để bước
sang giai đoạn phát triển. Từ nay Phong Hóa trở thành tờ báo lớn nhất đất Bắc,
có ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách văn chương và sự đổi mới xã hội ở trong
nước.
Những họa sĩ
vẽ tranh hài hước
Về tranh, từ Phong Hóa số 4 đến số 12,
ngoài vài tranh không ký tên, số nào cũng có tranh ký tên H.bat. Rồi từ số 13
trở đi, xuất hiện nhiều tên khác. Phải chăng tất cả những tranh đó đều của
Nguyễn Gia Trí?
Tuy nhiên, Phong Hóa có tranh bìa ký tên
Đông Sơn chữ Hán từ số 2 và số 3, có một hý họa ký tên Đông Sơn chữ quốc ngữ,
mà trên nguyên tắc, lúc đó Nhất Linh chưa "vào", vậy ai vẽ? Nguyễn
Gia Trí hay Nhất Linh? Nếu là tên chung của hai người thì lúc nào trở thành tên
riêng của Nhất Linh?
Phong Hóa số 14, trên trang nhất, có hý
họa "Người An Nam mình kinh doanh" ký tên Đông Sơn, vẽ một
chiếc xe hàng khốn khổ, chất lèn hành khách và hàng hóa đồ đạc lên tới mui xe.
Tranh này được coi là của Nhất Linh.
Khi làm Phong Hóa, ban đầu chắc Nhất
Linh chỉ có chủ đích dùng tranh hài hước để giải trí và thu hút độc giả, chế
giễu những cái cổ hủ của nhà nho, những cái lỗi thời trong phong tục (chủ
trương này bị nhiều người hiểu lầm và đánh giá sai). Nhưng dần dần, tranh và
văn hài sẽ chuyển sang chống chế độ quan trường thối nát. Trên Phong Hóa số 150
(24-5-1935) Tứ Ly trong mục "Những cuộc điều tra phỏng vấn không
tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh chuồn, đã phỏng vấn giả tưởng Tổng
đốc Vi Văn Định, sau đó bị đóng cửa ba tháng. Từ đó, tranh biếm họa trên Phong
Hóa thẳng thừng ra mặt chống thực dân mà Nguyễn Gia Trí là "thủ phạm"
chính.
Nguyễn Cát Tường là người vào Phong Hóa
rất sớm, đã vẽ trên Phong Hóa từ số 13 (8-9-1932), ký tên A.S. Lemur [5] có
thể vì còn là học trò, không được quyền vẽ báo và ký tên như một họa sĩ chuyên
nghiệp. Sự kiện này giải thích tại sao Nguyễn Gia Trí trong thời gian từ 1932
đến 1936, thường vẽ tranh không ký tên, hoặc ký tên lung tung, không giữ tên
nào rõ ràng và lâu dài. Nguyễn Cát Tường chỉ trở lại Phong Hóa từ số 27
(23-12-1932).
Bắt đầu từ Phong Hóa số 18 (20-10-1932),
có tranh của Trần Quang Trân ký Ngym.
Tiếp đến các họa sĩ Trần Bình Lộc,
Nguyễn Tường Lân (họa sĩ, trùng tên với Thạch Lam), Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn,
v.v...
Trên số 1, Khái Hưng chưa chủ trương đem
tranh hài hước vào Phong Hóa. Phải đến khi Nhất Linh xuất hiện, hý họa mới thực
sự trở thành phong cách thể hiện đời sống, phê bình xã hội và lôi cuốn độc giả.
Từ số 14 đến số 20, Nhất Linh, Nguyễn Gia Trí, và Tứ Ly là ba họa sĩ chính đảm
nhiệm các bức hý họa và minh họa trên Phong Hóa, tạo thành một "lực lượng" chống
phá thành trì cổ hủ, phụ họa với ba ngòi bút châm biếm và hài hước: Tứ Ly,
Tú Mỡ và Bán Than (Khái Hưng).
"Lực lượng" này đã được Thạch
Lam thống kê trên Phong Hóa 154 (20-9-1935), số kỷ niệm ba năm Phong Hóa như
sau: Từ số 14 đến số 154, Phong Hóa ra được 139 số báo, 2224 trang; với 1.390
tranh hoạt kê; 832 tranh minh họa; tổng cộng 2224 tranh.
Tại sao Phong Hóa lại có thể "sản
xuất" ra một lượng tranh hùng hậu như thế? Là do thế này: Giám đốc Phong
Hóa Nguyễn Tường Tam, học trường Mỹ Thuật Đông Dương khóa đầu (1925) cùng với:
Nam Sơn, Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Mai Thứ, Lê Văn Đệ… được hơn một năm thì
bỏ; nhưng ông vẫn được coi là họa sĩ "toàn diện": Ông ở trong danh
sách ban giám khảo chấm giải cho phòng triển lãm 1935, cùng với: giáo sư
Tardieu, các họa sĩ Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Nguyễn Nam Sơn, Trần Quang Trân, Trần
Văn Cẩn, Trần Bình Lộc, v.v... (Phong Hóa số 13, 22-2-1935). Thế Lữ, cũng học Mỹ
Thuật, nhưng chắc chỉ theo lớp dự bị thi vào trường, rồi bỏ, nên không có tên
trong danh sách sinh viên [6].
Hoàng Đạo không học trường Mỹ Thuật,
nhưng vẽ rất hay. Thạch Lam không vẽ nhưng yêu hội họa, sau ông phụ trách mục
mỹ thuật trên Phong Hóa Ngày Nay. Khái Hưng, Tú Mỡ đều biết vẽ cả. Cho nên
ngoài hai "họa sĩ chính quy" Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh, các thành
viên khác của Tự Lực văn đoàn đều là "họa sĩ nghiệp dư", rồi họa sĩ ở
ngoài cũng vẽ tranh gửi đăng hoặc dự thi hội họa Phong Hóa, chưa kể các họa sĩ
khác được chính thức mời vào.
Nhất Linh vẽ ký tên Đông Sơn, Hoàng Đạo
ký tên Tứ Ly và Nguyễn Gia Trí không ký tên, hoặc ký nhiều tên: Tô (tên chó
Tây), Cô Tô (cô chó Tây), LTô, Nal, Nul (Số Không), Hoth, Mac, Mạc, Daladin
(của Aladin), Tú Nuy [Truổng cời] và nhiều tên khác nữa, trước khi lấy tên
"chính thức" là Rigt nghĩa là Gia Trí Cười (gt ri
viết ngược) hay Lẽ phải (Right).
Bút hiệu Đông Sơn, có từ Phong Hóa số 2
bằng chữ Hán trên tranh bìa. Đến số 3, có tranh Đông Sơn ký chữ quốc ngữ, chắc
do Nguyễn Gia Trí đặt ra vì lúc đó Nhất Linh chưa vào. Tôi tạm đoán: hai người
cùng ký tên Đông Sơn trong một thời gian, sau đó tên này mới tách ra thành tên
riêng của Nhất Linh.
Bút hiệu Đông Sơn, ký dưới
bức tranh hài hước Người Annam mình kinh doanh, in trên trang
nhất số 14, vẽ một chiếc xe hàng, bánh xe vá chằng chịt, lèn hành khách, hàng
hóa, đồ đạc, như cá hộp, có người lăn xuống đất, bị người khác nôn mửa lên mặt.
Trong số hành khách ngồi chen chúc trên mui có hình (giống như) Lý Toét. Bên
đường có cột cây số giống hệt mộ bia. Chuyến xe hàng ghi chạy đường Hà Nội -
Chín Suối, có 25 chỗ ngồi nhất định.
Đây là bức tranh đầu tiên, tiêu biểu cho
thể loại hài hước trên Phong Hóa: Mô tả cảnh lầm than của dân tộc mình dưới ách
thực dân, và tự giễu cái nghèo, cái bon chen, ham sống, sống tủi nhục của kiếp
người nô lệ.Người Annam
mình kinh doanh, Phong Hóa số
14 Vẫn trên Phong Hóa số 14, trang 3, có
hai tranh: Mồm mép hàng giầy, ký Tô, vẽ người bán giầy có khuôn
mặt và bộ dạng giống Lý Toét. Bên cạnh có bức tranh Giậy
khôn ký Nul, vẽ cảnh một thằng nhỏ bị xe cán đứt đôi, một ông nhà quê,
cầm dù giống Lý Toét đi qua, cúi xuống mắng: Lần sau có đi nên cẩn
thận!.Số 15, có tranh Một đám ma vui…
của Đông Sơn, đưa tiễn những thứ u buồn sầu não, đang làm chủ tình hình lúc bấy
giờ. Dẫn đầu là hàng kèn trống và lá cờ hiệu: Sầu thảm nhiều rồi, đằng
sau là những người đi đưa ma và một rừng phướn ghi tên những tác
phẩm, những chủ trương, những con người sầu não, phải tống táng đi, như: Sợi
tơ lòng, Nho phong, Giọt lệ phòng văn, Tân sầu Nguyễn Tiến Lãng, Một tụi chán đời,
Duyên nợ phù sinh…
Tóm lại, Nho Phong cũng
bị cha đẻ Nhất Linh đem ra đưa đám, như những tác phẩm cổ lỗ sĩ khác.Một đám ma vui cùa Đông Sơn, Phong Hóa số 15Trên đầu mục Vui cười lần
đầu tiên có chân dung Lý Toét, ký DS (Đông Sơn).Bức hý họa Trên xe điện,
không ký tên, mô tả cảnh người mình ngồi tàu điện: khạc nhổ, vén quần gãi sồn
sột, nói oang oang, cãi lộn, nôn mửa… ở dưới ghi: Không nên như những
người này.
Số 16, vẽ tiếp hai tranh Những
chỗ ngồi trên xe điện, ký LTô, tranh bên trái: một người phụ nữ có
tuổi bước vào toa tàu, không ai nhường chỗ. Bức tranh bên phải, cũng cảnh ấy,
nhưng một thiếu nữ trẻ đẹp bước vào, các cậu tranh nhau xun xoe: Mời cô
ngồi, mời cô ngồi đây! Bức tranh Cũng tắm bể ký Hoth,
cực kỳ châm biếm. Một bức tranh khác, không ký tên, vẽ ông Lý đi qua hàng nước,
cô hàng mời: Mời ông vào xơi nước chanh nước đá. Ông Lý (lễ
phép): Tôi không dám mời cô xơi.
Tóm lại, tranh hài hước trên Phong Hóa,
thời kỳ đầu, mang tính mua vui, tự trào và giáo dục. Phanh phui đời sống xã hội
dưới chế độ thuộc địa, chế giễu sự quê mùa, dốt nát, khốn khổ của dân ta, chịu
phận dân tộc bị trị, hoang mang và lạc lõng không theo kịp đời sống mới.
Tranh và thơ
chế giễu Tản ĐàTrời đầy
Nguyễn Khắc HiếuPhong Hóa số 14, trang 4, có ba tranh
hai hước, nhưng đáng chú ý là tranh của Tứ Ly: Ông Nguyễn Khắc Hiếu với
việc đời, vẽ Tản Đà có râu, say rượu ngất ngư bên đống chai không. Lại có
bài thơ Trời đầy Nguyễn Khắc Hiếu của Bán Than (Khái Hưng) phụ
họa, như sau:
Trong phòng
khách cụ Trời
Cậu nhỏ dâng
văn bôi
Sẩy tay đánh
rơi vỡ:
Nguyễn Khắc
Hiếu ra đời!
Từ khi Hiếu
xuất thế
Vẫn nhớ cảnh
thiên tiên.
Bữa cơm
thường phải rượu
Nhưng túi lại
rỗng tiền.
Rượu ngon
thức nhắm ngon,
Giọng văn lại
càng giòn:
Khối tình
con, tình lớn
Giấc mộng
lớn, mộng con.
Thích chí nằm
ngâm nga
Tiếng động
vang Ngân hà.
Trời hỏi:
"ai ngâm thế?"
Muôn tâu, ấy
Tản Đà
Trời nổi trận
lôi đình
Rằng:
"cái thằng tiên ranh
Ta đầy xuống
hạ giới
Để hắn chịu
nhục hình
Ai ngờ hắn
vẫn nhàn
Ngày tháng
ngâm thơ tràn
Các ngươi ai
có cách
Bắt hắn phải
gian nan"
Chư tiên đồng
thanh nói:
"Tội
nặng nhất trần phàm
Là bắt anh
Khắc Hiếu
Làm chủ báo
An Nam"
Bán Than
Sự chế giễu Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trên
Phong Hóa có vẻ như được Tản Đà khuyến khích. Tứ Ly kể lại câu chuyện sau [7]:
Trên Phong Hóa số 14, Tứ Ly vẽ bức tranh Ông
Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời giễu Nguyễn Khắc Hiếu say rượu, có râu.
Mấy hôm sau Tản Đà đến toà soạn chơi, mày râu nhẵn nhụi, Tứ Ly chột dạ, bèn
đăng lời Cải chính trên Phong Hóa số 15: "Trong
số báo trước (số 14) Phong Hóa có đăng hình ông Nguyễn Khắc Hiếu, lỡ nét bút
thành vẽ nhà thi sĩ có râu. Vậy cái lỗi, vẽ rắn thêm chân ấy, bản báo xin cam
chịu với ông Lý Bạch thời nay. Lại xin các cô "tình nhân không quen
biết" của ông Hiếu cứ vui lòng mà viết thư trả lời về Hàng Bông cho ổng:
ổng chẳng có râu đâu, các cô đừng sợ sệt". Nhưng, vẫn theo lời Tứ
Ly kể tiếp: Một buổi tiếp chuyện ông Hiếu, thấy ông nói rằng: Một tờ
báo hay cải chính là tờ báo hư!" làm chàng càng chột dạ, sợ ổng
lại để râu, mình lại phải cải chính, cứ thế mãi, thì còn gì "giá trị"
tờ Phong Hóa!
Phong Hóa số 16, Trong mục Giòng
nước ngược, đề tài Cảm thu, lại có bài Điệu
thơ cụt ký Nhất Linh và bài Cảm thu ký
Bán Than. Chúng ta nên để ý đến bài Điệu thơ cụt, vì đây là lần đầu
tiên bút hiệu Nhất Linh xuất hiện trên mặt báo và bài này còn được ghi là Thơ
mới (khác với bài Cảm thu của Bán Than là thơ
cũ, làm theo thể thất ngôn bát cú) có âm điệu gần như thơ tự do. Chúng
ta cũng nên biết lúc đó Thơ mới vừa ra đời, được giới thiệu
lần đầu ở ngoài Bắc, trên báo Phong Hóa Xuân đầu tiên, số 31 (24-1-1933). Vậy
bài Điệu thơ cụt của Nhất Linh là một bài Thơ
mới, mới nhất, bài đầu tiên hết của Tự Lực văn đoàn:
Lũ khỉ trong
bách thú
Nhớ rừng xưa
kêu rú
Nhà văn cảm
thu về
Dặn [Rặn] dăm bài tuyệt cú
Cán bút đương
ngậm ngùi
Tưởng tuyết
rơi tơi bời!
Ai ngờ trời
nắng gắt,
Chảy mồ hôi!
Lại toan tả
đàn nhạn,
Trong sương
bay tán loạn
Sẩy nghe
tiếng còi tầu,
Nguồn thơ
cạn!
Nhạn tuyết
không có rồi,
May còn lá
ngô rơi,
Ai ngờ ngoài
đường cái,
Cây xanh
tươi!
Muốn cảm thu
một chút,
Hay đâu hứng
đã cụt
Nghĩ mãi
không ra văn,
Đành dừng
bút!
Nhất Linh
Bán Than cũng phụ họa Nhất Linh, với
bài Cảm thu, dưới đây:
Ô kìa đã quá
nửa thu rồi
Cảm tác nay
xin có mấy lời
Một rặng cây
xanh hun gió nóng
Hai bàn tay
trắng đổ mồ hôi
Nào đâu mặt
tuyết ngô đồng rụng
Chỉ thấy bên
đường đám cỏ tươi
Trai gái
quanh hồ cười khúc khích
Sầu riêng thi
sĩ lệ đầy vơi.
Bán Than
Cả hai bài đều nhại tuyệt tác Cảm
thu của Tản Đà mà chúng ta đều thuộc lòng: Từ vào thu đến nay,
gió thu hiu hắt, sương thu lạnh, trăng thu bạch, khói thu xây thành, lá thu rơi
rụng đầu ghềnh, sông thu đưa nhánh bao ngành biệt ly, nhạn về én lại bay đi,
đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm, lá sen tàn tạ trong đầm, nặng mang giọt lệ
âm thầm khóc hoa…
Nhưng ta thấy: Khái Hưng vẫn ký Bán
Than, bút hiệu dùng trong mục Giòng nước ngược với Tú Mỡ, bởi
vì Khái Hưng, tuy kém Tản Đà 7 tuổi, nhưng là bạn của Tản Đà từ
nhiều năm trước, không cần giữ lễ.
Nhất Linh, kém Tản Đà 17 tuổi, cho nên
tuy chế nhạo Tản Đà, nhưng vẫn kính nể bậc đàn anh, ông đã ký cái tên đẹp
nhất: Nhất Linh, lần đầu trình làng dưới bài thơ mới đầu
tiên của ông, một cách gián tiếp tôn vinh Tản Đà: Sự tế nhị và nhã độ của Nhất
Linh nằm ở chỗ đó.
Tứ Ly cũng vậy, tuy chế giễu Tản Đà,
nhưng vẫn sợ ổng (chơi khăm). Tứ Ly coi Tản Đà là Lý Bạch thời nay: còn
có danh hiệu nào cao quý hơn!
Cho nên dù bị chế giễu bao nhiêu, Tản Đà
không bao giờ giận Tự Lực văn đoàn.
Khi Tản Đà túng thiếu, Khái Hưng Nhất
Linh đã mời ông cộng tác, dịch thơ Đường và khi Tản Đà mất ngày 7-6-1939, Ngày
Nay số 165 (10-6-1939) thông tin: Tản Đà tạ thế. Mở sổ quyên
giúp gia đình thi sĩ. Ngày Nay số 166 (17-6-1939) số báo tiễn biệt Tản Đà, Khái
Hưng viết bài Cái duyên của Tản Đà, một trong những bài tiễn đưa
hay nhất, của một người bạn gần 20 năm quen biết, gần gũi, hiểu và yêu thi sĩ,
với những lời lẽ hết sức chân thành cảm động.
Rất nhiều người không hiểu ý nghĩa cái
cười trên Phong Hóa Ngày Nay, nên có những lời buộc tội phiến diện, đôi khi
khiếm nhã, như trường hợp Thanh Lãng, chúng tôi sẽ nói tới sau.
Phan Khôi là người đầu tiên viết bài
bênh vực tiếng cười, trên Phong Hóa, trong mục Văn học, trong bài Cái
địa vị khôi hài trên văn đàn, ông viết:
"Người
mình hình như chưa hiểu đến cái hay của sự khôi hài là dường nào, cũng chưa
hiểu đến cái ích lợi của văn khôi hài và người có tài khôi hài ra sao. (…)
Nhưng phải biết rằng ai có tài thông minh tuyệt thế thì mới nói được câu chuyện
diễu có duyên hay là làm được bài văn bông lơn có duyên, chớ phải dễ dầu gì đâu
mà khinh thị.(…) Văn khôi hài nó thường làm cho cảm động người ta một cách rất
mạnh mà người ta không biết. Giả như ông mỗ có cái tật xấu gì đó, có kẻ làm bài
hài văn, ám chỉ mà công kích cái tật xấu ấy của ông, trong lúc ông mỗ đọc đến,
ông phải tức cười nôn ruột mà không giận được, rồi có lẽ lần lần tự nhiên ông
mỗ bỏ cái tật xấu ấy đi bao giờ mà ông không hay. Đó mới thật là một bài hài
văn hay đó, và cái công dụng của nó là như thế." (Phong Hoá số 26, 16-12-1932)
Phan Khôi đã nói rõ công dụng của tiếng
cười và giá trị "giáo dục" của tiếng cười.
Ta nên phân biệt tính cách trào phúng
trên Phong Hóa làm hai loại, với hai đối tượng khác nhau: trào phúng phỉ báng
sự nô lệ Pháp, chế giễu các quan trường bồi Tây, tố cáo sự đán áp của chính
quyền thực dân: đó là trào phúng cách mạng.
Còn sự chọc cười những cố tật của các
nhà văn nhà báo "cổ" như cụ Hoàng Tăng Bí, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố… hay chế giễu sự gàn, bướng trong "lý luận Phan
Khôi" của Tứ Ly, là lối khôi hài Phan Khôi vừa kể ở trên, không thể coi là
phạm thượng. Đó là trào phúng sửa sai.
Chúng ta cũng đừng quên: Khái Hưng là
bạn thân của Phan Khôi, gặp nhau ở nhiều điểm, nhất là ở chủ trương chống nho
giáo, đổi mới ngôn ngữ và giải phóng phụ nữ. Khái Hưng là người đã giới thiệu
Phan Khôi và thơ mới sớm nhất trên Phong Hóa. Đến những ngày thật căng thẳng
trong tháng 7 năm 1946, Phan Khôi ra Hà Nội, không ở nhà con, mà bị Việt Minh
bắt tại 80 Quan Thánh, nhà Khái Hưng.
Chú thích:
[1] 0p03 là 0 piastre 03, hay 0 đồng
03, tức 3 xu.
[2] In ở nhà in Lê Cường do Nguyễn
Tường Tam quản lý. Tên nhà in Lê Cường chỉ xuất hiện một lần duy nhất, từ số
15, lại trở về với tên nhà in Moderne.
[3] Le Rire (Tiếng Cười) (1894-1971)
là báo trào phúng ra hàng tuần, biếm họa những nhân vật trong chính trường,
những giai nhân tài tử nổi tiếng và in tác phẩm của các nhà văn trẻ.
[4] Mục Thực hay hư ký
tên Nghịch Nhĩ Đào Đình Dù từ số 3 đến số 6; số 7 ký Sào Phủ; số 8 và số 9 ký
Hứa Do; số 10 ký Nghịch Nhĩ; số 11, ký Hứa Do; số 12 ký Tô Tô Phôn, số 13, ký
Nghịch Nhĩ; những bút hiệu này đều có giọng văn, lối viết và tư tưởng của Khái
Hưng.
[5] AS Le Mur (Artist Student Le Mur)
là dịch tên Tường sang tiếng Pháp và đề thêm AS là sinh viên mỹ thuật.
[6] Thời đó muốn thi vào trường Mỹ
Thuật Đông Dương, thường phải học một năm dự bị, và phải qua kỳ thi tuyển. Theo
Đặng Hữu Thụ, trường Mỹ thuật Đông Dương có hai ban: Kiến trúc và Hội họa. Muốn
thi vào ban Kiến trúc, thí sinh phải có bằng Cao đẳng tiểu học Pháp Việt (tức
là bằng Thành chung hay bằng Trung học), còn thí sinh thi vào ban Hội họa,
không bắt buộc phải có văn bằng gì. (Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời
Tây học cho đến năm 1954, Quyển Thượng, tác giả tự xuất bản, Melun,
Pháp, 1999, trang 146 và 151).
[7] Trong mục Từ cao đến thấp,
trên báo PH số 18 (20-10-1932).
Sự tiếp nhận
Tự Lực văn đoàn
Trương
Chính là nhà phê
bình đầu tiên có những nhận định sâu sắc, đầy chất sáng tạo về Tự Lực văn đoàn.
Tác phẩm Dưới mắt tôi (1939), phần viết về Khái Hưng, Nhất
Linh cũng đầy đủ và chân xác hơn nhiều người viết sau. Ông đã đánh giá Hồn
bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt, Lạnh
lùng, Trống mái, Gia đình, bằng cái nhìn của một nhà phê bình hiện đại.
Những bài viết của ông đến nay vẫn không bị lỗi thời.
Trong thời kỳ miền Bắc triệt hạ Quốc Dân
Đảng vì lý do chính trị và bản Đề cương văn hóa của Trường
Chinh đã khóa trái văn học trong bốn bức tường hiện thực xã hội chủ nghĩa, loại
bỏ những tác phẩm lớn của nền văn học thời kỳ 1932-1945, trong đó có những tác
phẩm của Tự Lực văn đoàn: Trương Chính vẫn đứng vững như
cây tùng. Những bài viết của ông về Khái Hưng, Nhất Linh vẫn được in lại
trong Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (Nxb Xây Dựng, 1957)
và Tổng tập văn học Việt Nam (Nxb Khoa Học Xã Hội, 1997).
Trương
Tửu cùng thời với
Phong Hóa. Ông ở trong nhóm Nguyễn Vỹ và thơ Bạch Nga, đối lập với Tự Lực văn
đoàn. Nhưng Trương Tửu có tính bốc đồng, khi khen Đoạn tuyệt thì
hết lời mà khi chê Lạnh lùng, Đời mưa gió cũng
thái quá. Điểm này chứng tỏ ông là một người cổ hủ (muốn đàn bà phải giữ đạo
tiết hạnh, không chịu được Khái Hưng, Nhất Linh bênh vực một cô gái điếm) và
ông cũng không tinh tế lắm vì không nhận ra được giá trị vượt trội của Lạnh
lùng bên cạnh Đoạn tuyệt, mặc dù ông được coi là nhà phê
bình "mới nhất" vì là người đầu tiên đưa phê bình mác-xít vào Việt
Nam. Sau này, ông là lý thuyết gia của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, viết
những bài lý luận nảy lửa đòi hỏi tự do dân chủ và dìu dắt sinh viên đại học,
đó chính là vết son ông để lại cho đời sau.
Vũ Ngọc Phan: Bộ Nhà văn hiện
đại, 5 tập (1941-1942) của Vũ Ngọc Phan có giá trị dẫn đường trong một
thời gian dài. Tuy còn nhiều điểm ông đưa ra cần phải bàn lại hoặc đã lỗi thời,
nhưng nhìn chung, bộ sách này là tác phẩm phê bình lớn nhất của Việt Nam trong
thế kỷ XX. Vũ Ngọc Phan đã vẽ được bộ mặt trung thực của văn học Việt Nam nửa
đầu thế kỷ. Ông giữ được lòng trung thực khi phê bình, không bè phái, không
thiên vị bạn bè, không xu nịnh. Khi miền Bắc "đánh" Nhân Văn, ông im
lặng, không về hùa. Ông lui về nghiên cứu ca dao. Đó là một nhân cách.
Điểm đáng tránh: vì người ta coi ông là
thầy, nên cứ chép nguyên những gì ông viết, thí dụ Vũ Ngọc Phan bảo Khái Hưng
là nhà văn lý tưởng, nhà văn phong tục (có lẽ vì ông biết Khái Hưng đặt tên cho
tờ Phong Hóa), Nhất Linh là tiểu thuyết gia luận đề, mọi người cũng cứ chép lại
như thế, cả đến Nhất Linh cũng tin mình viết tiểu thuyết luận đề là dở!
Tuy nhiên công của Vũ Ngọc Phan không
nhỏ: nếu bộ Nhà văn hiện đại bị cấm ở Bắc, thì ở trong Nam,
học sinh trung học vẫn được đọc và học bộ sách này; sau có thêm bộ Việt
Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ.
Dương Quảng
Hàm soạn Việt
Nam văn học sử yếu năm 1941, là một trong những cuốn văn học sử đầu
tiên của ta, Tự Lực văn đoàn được đưa vào chương bảy, tức là chương chót. Là
sách yếu lược, tóm tắt những gì chính yếu cho lịch sử văn học gần ngàn năm, nên
chỗ đứng của văn học quốc ngữ chỉ chiếm vài trang. Tuy nhiên giáo sư Dương
Quảng Hàm đã có những lựa chọn và phân chia chính đáng: ông chia văn học nửa
đầu thế kỷ XX làm hai phái tân cựu và nói rõ đặc tính của mỗi phái, nêu tên
những nhà văn tiêu biểu. Thí dụ khi viết về Thơ mới, ông chọn ba nhà thơ tiêu
biểu: Hàn Mặc Tử, Thế Lữ và Xuân Diệu, là một lựa chọn tinh tường. Phần về Tự
Lực văn đoàn, từ trang 453 đến trang 456, sau khi nó rõ tôn chỉ và đường hướng
văn chương của họ, ông giới thiệu mấy tác phẩm chính của Nhất Linh, Khái Hưng,
Thế Lữ, rồi xác định công việc của Tự Lực văn đoàn đã làm. Tuy sơ lược, nhưng
những ý kiến của giáo sư Dương Quảng Hàm có giá trị đến ngày nay. Sách viết và
in dưới thời Pháp thuộc, nên ông không thể nhắc đến tinh thần chống Pháp của Tự
Lực văn đoàn. Nhưng ông không nhắc đến Hoàng Đạo, Thạch Lam, là một thiếu sót.
Phạm Thế Ngũ viết bộ Việt Nam
văn học sử giản ước tân biên, một công trình đồ sộ, ba cuốn, in từ
1961 đến 1965 tại Sài Gòn. Đây là bộ văn học sử đầy đủ và đúng đắn hơn cả. Cuốn
ba, dành cho văn học hiện đại 1862-1945, ông đã nghiên cứu khá kỹ hai trào lưu
tân cựu lớn nhất của văn học quốc ngữ: nhóm Đông Dương-Nam Phong (Nguyễn Văn
Vĩnh-Phạm Quỳnh) và nhóm Phong Hóa - Ngày Nay (Tự Lực văn đoàn). Về nhóm Tự Lực,
ông nghiên cứu các tác phẩm tiêu biểu của Nhất Linh, Khái Hưng, và Thạch Lam.
Ông có nhắc đến tính cách trào phúng của Phong Hóa nói chung, nhưng ông không
nhận ra giá trị văn trào phúng của Hoàng Đạo. Nhất Linh cho biết: những đoạn Vũ
Ngọc Phan viết về Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng đã
bị kiểm duyệt của Pháp hồi đó (1942) xoá bỏ [1].
Vì vậy, chúng ta có thể hiểu tại sao những nhà nghiên cứu thập niên 40, như
Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, không hoặc không dám nhắc nhở đến tính cách phản
kháng chính trị của Tự Lực văn đoàn; nhưng tại sao, những nhà nghiên cứu sau
này như Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng cũng bỏ qua?
Ngoài ra, Phạm Thế Ngũ phạm một số sai
lầm:
1- Phần về Tự Lực văn đoàn, được mở đầu
bằng câu: "Nói đến Tự Lực văn đoàn, người ta không thể không trước
hết nói đến Nguyễn Tường Tam người đã hầu như một mình đứng ra sáng lập ra
nó" [2]. Một
người nghiên cứu thận trọng không thể viết như thế, bởi vì cả phần Tự Lực văn
đoàn sau đó, không thấy chỗ nào ông chứng minh được rằng: Nguyễn Tường
Tam một mình đứng ra sáng lập Tự Lực văn đoàn cả. Nhưng
câu này đã được người ta chép lại rất nhiều, từ đó nảy sinh sự độc tôn vai trò
của Nhất Linh trong Tự Lực, bởi vì người ta tưởng Nhất Linh làm tất cả. Thậm
chí Vu Gia còn viết: "Lúc đầu, Khái Hưng vẫn tiếp tục viết những
bài nghị luận, vì ông cho đó là sở trường của ông. Nhưng ông Nhất Linh khuyên
ông nên viết truyện ngắn, truyện dài có tính cách văn nghệ thì hơn. Mãi ông mới
chịu thí nghiệm loại này, và sự thành công của ông mỗi ngày một rõ rệt" [3]. Câu
này tiêu biểu cho cách viết suy diễn từ một ý của người đi trước. Nghe người ta
kể, hay chính Tú Mỡ, Thế Lữ kể rằng Nhất Linh "bảo" Tú Mỡ làm thơ
trào phúng, Nhất Linh "bảo" Thế Lữ viết truyện trinh thám… thì có thể
được, nhưng suy ra rằng: Nhất Linh cũng "bảo" Khái Hưng viết truyện
ngắn, truyện dài, thì không được nữa rồi. Sai một ly đi một dặm. Nhất là khi
những người viết sau, chỉ dựa vào những điều người đi trước đã viết hoặc chỉ
dựa trên những giai thoại do vài người ở gần hay ở trong Tự Lực văn đoàn kể lại
(có khi hoàn toàn bịa đặt) thì nhất định đưa đến sai lầm.
2- Ông lại viết: "Trong tập
Những ngày vui viết về sau, Khái Hưng có cho biết họ có ý định khi đó lập một
thứ "pléiade" với "bảy vì sao". Đó là Nhất Linh tức Nguyễn
Tường Tam (cũng ký các biệt hiệu khác Nhị Linh, Bảo Sơn, Đông Sơn), Khái Hưng
tức Trần Khánh Dư, Tú Mỡ tức Hồ Trọng Hiếu…" (trang 433-434). Tôi
đã dò cả bản trên báo lẫn bản in sách Những ngày vui, không
thấy chỗ nào Khái Hưng nhắc đến hai chữ Thất tinh. Việc này tôi sẽ
viết rõ hơn trong chương Chúc thư văn học của Nhất Linh, ở đây
chỉ đưa ra nhận xét: Phạm Thế Ngũ không đọc Những ngày vui của
Khái Hưng. Rồi ông lại tưởng Nhị Linh là bút hiệu của Nhất Linh, thực ra Nhị
Linh là Khái Hưng. Sự nhầm lẫn này khiến tất cả những bài viết của Khái Hưng ký
Nhị Linh, nhiều lắm, đều được đưa vào "sổ" Nhất Linh. Mà không chỉ
mình Phạm Thế Ngũ, nhiều người cũng tưởng như thế, có lẽ họ chép lại cái sai
của ông.
3- Ông viết: "Có điều phải
ghi nhận là trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là người có câu văn
tinh vi, rèn giũa hơn cả. Đọc ông, người ta có cái cảm tưởng thấy cái khó tính
của người chuyên "đãi hạt sạn" trên Phong Hóa Ngày Nay, và không muốn
chấp nhận nơi mình một sự dễ dàng lỏng lẻo nào cả." (trang
486-487)
Ông lại tưởng ngòi bút chuyên
"đãi hạt sạn" trên Phong Hóa Ngày Nay là Thế Lữ,
cho nên ông xác định trong tất cả các nhà văn Tự Lực, Thế Lữ có lẽ là
người có câu văn tinh vi, rèn giũa hơn cả, bởi vì ông cũng lại không
biết, người đãi sạn trên Phong Hóa có bút hiệu Nhát Dao Cạo và
Hàn Đãi Đậu là Khái Hưng, một thứ ngự sử văn đàn ở Bắc, giống như Phan Khôi ở
trong Nam.
Những sai lầm này khiến ông không nhìn
nhận đúng mức vai trò của các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn. Ông cũng không
nhắc đến Hoàng Đạo vì ông không nhìn thấy giá trị văn chương hài hước của Hoàng
Đạo, sau Hoàng Tích Chu, là người đã khai phá lối viết hoạt kê châm biếm trong văn
học Việt Nam và là lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn, người đầu tiên viết những
bài lý luận nghiên cứu chặt chẽ và sâu sắc về quyền công dân, luật lao động, về
xã hội dân sự, đòi hỏi tự do dân chủ và quyền làm người.
Nhật Thịnh và
cuốn Chân dung Nhất Linh
Cuốn Chân dung Nhất Linh của
Nhật Thịnh gần như là tác phẩm duy nhất viết về Nhất Linh (còn một cuốn nữa của
Lê Hữu Mục, tôi chưa được đọc), do Văn xuất bản tại Sài Gòn, 1966, bản Đại Nam
chụp lại ở hải ngoại không đề năm. Nhật Thịnh có công đọc và giới thiệu khá đầy
đủ tác phẩm và tìm hiểu cuộc đời, cái chết của Nhất Linh. Ông cũng đã gặp
Nguyễn Tường Thiết, con út Nhất Linh để hỏi những thông tin và xin tài liệu
hình ảnh khi soạn sách. Ông lại thuộc lớp người có thể tiếp xúc với Nhất Linh
lúc sinh thời, nên cuốn sách được nhiều người tin cậy, nhiều nơi trích dẫn và
được coi là cuốn sách đầy đủ nhất về Nhất Linh.
Nhưng Nhật Thịnh không quen việc viết
biên khảo, nên ông mắc những lỗi lầm quan trọng mà giới chuyên môn không làm:
1- Ông không để ý đến nguồn dẫn chứng,
rất ít khi ông viết rõ, trích ở sách nào. Vì vậy, những tài liệu ông đưa ra,
nhất là về đoạn cuối đời Nhất Linh, đôi khi rất quý, nhưng lại không có số hiệu
tham chiếu (note de référence), nên không tiện dụng.
2- Ông hay chép lại cái sai của người
khác mà không kiểm chứng, ngay câu mở đầu: "Nhất Linh (Nhị Linh
hay Bách Linh) là bút hiệu của Nguyễn Tường Tam" là đã thấy sai
rồi: Không! Nhị Linh là bút hiệu của Khái Hưng. Cái sai này ông chép lại Phạm
Thế Ngũ và còn thêm vào hai chữ Bách Linh nữa! Bách Linh là tên Thạch Lam (ít
khi ký). Lê Ta (Thế Lữ) trong bài Lê Ta làm báo (Phong Hóa số
104, 29-6-34) kể lại câu chuyện: Ông ở trọ Bạch Mai, đang đói, được Bách Linh
gọi về ở chung nhà Hàng Bông, làm báo một tuần bốn ngày, lương 30 đồng một tháng,
v.v...
3- Nhật Thịnh hay thêm thắt, để đề cao
sự khám phá của mình về cái tên Nhất Linh, ông viết: "Để đả phá cái
quan niệm sai lầm đó [tin rằng mọi việc đều linh thiêng, thần thánh] ông
tự cho ông cũng là một cái gì linh thiêng và tự nhận là Nhất Linh, Nhị Linh.
Khái Hưng bắt chước ông ký tên Nhất Linh, Nhị Linh hay Tam Linh, Bách
Linh." (trang 19, bản Đại Nam). Vẫn trong "tinh thần"
cho rằng Khái Hưng là "đồ đệ" của Nhất Linh, ông bảo Khái Hưng bắt
chước Nhất Linh, ký cả bốn tên: Nhất Linh, Nhị Linh, Tam Linh, Bách Linh. Sao
tham lam quá vậy? Tam Linh là bút hiệu của Nhất Linh, còn Bách Linh tôi đã nói
ở trên rồi. Đó là nhưng sai lầm vì không biết. Nhưng cái sai lầm chính trong
cuốn Chân dung Nhất Linh là về phương pháp:
4- Nhật Thịnh viết biên khảo như viết
tiểu thuyết vậy, đó là phương pháp biên khảo hư cấu.
Thí dụ trong chương VI tựa đề Nhóm
Tự Lực văn đoàn, ông viết như sau:
"Hồi
Nhất Linh còn dạy ở trường Thăng Long, ông để ý tới một bài khảo luận ngắn trên
báo Văn Học, ký tên Bán Than. Chắc anh chàng này có họ với ông Trần Khánh Dư
đời Trần, tác giả bài:
Một gánh kiền
khôn ruổi xuống ngàn,
Hỏi chi bán
đấy? Gửi rằng than
Đột nhiên ông
nhớ tới giáo sư Trần Khánh Giư, một người kín đáo, dễ thương, từ đó hai người
biết nhau. Nhất Linh thấy Khái Hưng có khả năng hiếm có về văn chương (…) Họ
cùng một tinh thần chống Pháp, thấy cần phải sát cánh nhau hơn. Họ thảo luận để
thành lập một ban biên tập gồm những người cầm bút có tinh thần hoạt kê và
triệt để chống hủ tục, dị đoan" (trang 128).
Về Hoàng Đạo, ông cũng viết như thế:
"Hoàng
Đạo lấy tên là Tứ Ly. Đó là tên một giờ xấu mọi người đều tránh nhưng ông không
kiêng mà còn đặt cho mình cái tên xấu đó. Sau ông bị bọn mật thám Pháp theo dõi
và làm khó dễ, bởi ông hay viết những bài công kích người Pháp ở Việt Nam. Để
tránh những sự lôi thôi có hại cho tờ Phong Hóa, ông đổi tên là Hoàng Đạo (giờ
Hoàng Đạo), trái với Tứ Ly để trêu người Pháp. Vì thế năm 1936, ông bị phát
phối đi Đà Nẵng. Trường hợp ông giống như Cao Bá Quát" (trang 128).
Ông tường thuật mọi chuyện một cách rất
tự nhiên, như ông đã từng mục kích, ông biết cả Nhất Linh, Hoàng Đạo nghĩ gì,
nói gì. Ông còn kể lời Trương Bảo Sơn thuật lại rằng:
"Trong khi đi dạy học, anh [Nhất
Linh] để dành tiền làm báo, anh kiếm người cộng sự làm báo, tất cả tâm
chí anh chỉ để vào có một mục đích là làm báo. Đến khi anh gặp dịp ông Phạm Hữu
Ninh nhường cho làm tờ Phong Hóa, anh em không ai ngạc nhiên thấy anh bỏ cái
nghề hàng tháng (nghề dạy học) đương cung cấp cho anh ba trăm đồng bạc lương để
làm một nghề chỉ đem lại cho anh có 30 đồng bạc, nghĩa là 1/10 số lương
cũ" (trang 34).
Những lời kể trên đây - dù ghi là của
Trương Bảo Sơn - cũng không tin được, bởi vì Nhất Linh làm báo từ năm 1932,
nhưng ông vẫn dạy học (theo bảng quảng cáo tên các giáo sư trường Thăng Long in
trên Phong Hóa). Ông chỉ ngừng dạy trong hai niên khóa 1935-1936 và
1936-1937, rồi ông trở lại dạy niên khóa 1937-1938 (vẫn theo quảng cáo trên
Phong Hóa). Hơn nữa Trương Bảo Sơn chỉ gặp Nhất Linh lần đầu ở chiến khu Vĩnh
Yên: "Lần đầu tiên tôi được gặp ông [Nguyễn Tường Tam], tiếp
xúc với ông là ở Chiến khu của Việt Nam Quốc Dân Đảng trong tỉnh Vĩnh Yên, sau
khi ông từ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên Hiệp kháng chiến,
trên đường ông đi sang Trung Hoa" [4].
Vậy thì làm sao Trương Bảo Sơn có thể
biết được những việc xảy ra khoảng 1930-1932? Mà lại sai như thế thì chắc chắn
không do Nhất Linh kể lại cho ông Sơn nghe trong thời kỳ sống chung với nhau ở
Hương Cảng rồi.
Cũng vẫn theo cách đó, Nhật Thịnh viết
về tuổi thơ của Nhất Linh, đi học như thế nào, ở trường làm gì, bạn bè đối đãi
ra sao, hệt như Nhất Linh kể lại. Đặc biệt là đoạn Nhất Linh "theo cách
mạng" như sau:
"Ông hưởng ứng lời kêu gọi của
Nguyễn Thái Học, lãnh tụ Việt nam Quốc dân đảng, xin gia nhập đảng và tìm đường
vào Nam hoạt động. Ngày 4-3-1926 ông tiếp xúc với Vũ Đình Di và Trần Huy
Liệu…" (trang 29), nghĩa là cứ như thật, còn ghi rõ cả ngày tháng
gặp gỡ nữa. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói Nguyễn Tường Tam xin gia nhập
đảng của Nguyễn Thái Học cả. (Nếu có thật thì Hoàng Văn Đào đã viết lại rồi).
Ông còn ngây thơ nữa, ví dụ truyện Đi
Tây Nhất Linh viết ký tên Lãng Du, có nhiều chỗ ông bịa, nhất là việc
ông xin đi Pháp, gửi đến 10 lá đơn mà không được trả lời, phải nhờ cô nhân
tình… thế này thế kia, mà Nhật Thịnh tin là thật, trích lại. Sự thật Nhất Linh
xin được học bổng của các quan ở Huế cấp cho đi du học.
Vì vậy, cuốn sách của Nhật Thịnh có
những giới hạn, đọc như tiểu thuyết thì rất hấp dẫn nhưng khó dùng trong việc
nghiên cứu.
Hiện nay có nhiều sinh viên ngoại quốc
làm luận án văn chương Việt. Trong bản luận án về Nhất Linh của cô Maria
Strakovova, một sinh viên Tiệp Khắc, thấy trích dẫn Nhật Thịnh khá nhiều. Sinh
viên Nhật nghiên cứu Việt học cũng có, họ làm việc rất cẩn thận. Aki Tanaka
nghiên cứu và làm luận án về Khái Hưng, đã sang Việt Nam ở nhiều năm học tiếng
Việt và để thấm nhuần văn hóa Việt nữa. Cho nên chúng ta phải hết sức cẩn thận
trong việc nghiên cứu, không họ cười cho.
Hiện nước ta giàu mạnh lên là tốt, nhưng
không thể tiếp tục lối sống ấu trĩ về văn hóa mãi được, kiểu một cuốn sách có vài
câu phê bình chủ tịch Hồ Chí Minh như cuốn Một cơn gió bụi của
học giả Trần Trọng Kim, in ra là bị tịch thu liền. Tôi cho đó không những biểu
dương sự ấu trĩ tinh thần mà còn là sự tụt hậu sâu xa; cũng như không thể cung
cấp cho sinh viên những loại tài liệu về Tự Lực văn đoàn, qua bộ sách quý hóa
của giáo sư Thanh Lãng dưới đây:Thanh Lãng
và Bản lược đồ văn học Việt Nam
Thanh Lãng là giáo sư Đại
học Văn khoa, tiến sĩ văn chương Pháp, một trong những giáo sư văn khoa hàng
đầu ở miền Nam; ảnh hưởng của ông rất lớn vì ông dạy các đại học văn khoa Huế,
Sài Gòn, từ 1957 đến 1975, ngoài việc giảng dạy ông còn viết nhiều sách nghiên
cứu.
Bộ sách Bảng lược đồ văn học
Việt Nam, hai tập, của ông được dùng ở Đại học văn khoa và
là một trong những cuốn sách được xem là "khuôn mẫu" cho người nghiên
cứu. Tự Lực văn đoàn nằm trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, phần Văn
Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932.
Năm 1972, khi in bộ sách Phê
bình văn học thế hệ 1932, ông đưa phần này lên đầu, có sửa chữa đôi chút và
phân chia tiểu đoạn rõ ràng hơn, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung câu chữ. Hiện
nay, phần viết này lại được đưa lên mạng Chim Việt Cành Nam. Vì vậy chúng tôi
thấy cần phải nhìn lại quan điểm của giáo sư Thanh Lãng về Tự Lực văn đoàn.
Chọn năm 1932 làm khởi điểm cho một nền
văn học mới, Thanh Lãng viết:
"Thực vậy, chung quanh những năm
32, nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra, giúp vào việc sửa soạn và xô đẩy, hầu
như một cách ức bách, sự thành hình một hướng đi mới, một lối sống mới, một lối
hành động mới, một lối cảm xúc mới, một lối suy tư mới… một lối viết mới với
những nhà lãnh đạo mới.
Lý do rất
phức tạp, thuộc đủ mọi chiều hướng: chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, tâm
lý…" [5]
Ông kể ra bốn lý do chính đã đưa đến sự
đổi mới này:
1- Những biến động chính trị: Việt Nam
Quốc Dân Đảng nổi lên và bị đàn áp. Nhiều đảng phái mới ra đời. Đáng kể hơn cả
là Đông Dương Cộng sản Đảng.
2- Việc vua Bảo Đại hồi loan.
3- Những cải cách của nội các Bảo Đại.
4- Lối sống xé rào của vị vua trẻ.
Về điểm số 1: sự đổi mới văn học là do
những biến động chính trị, không cần bàn vì ông có lý hay không, không quan
trọng. Nhưng ba điểm sau, cần phải bàn lại.
Sự đổi mới
phát xuất từ khi vua Bảo Đại về nước?
Để chứng minh rằng gốc gác của việc canh
tân là do lòng mong muốn của chính phủ Pháp, ông dẫn lời Albert Sarraut, cựu
Toàn quyền Đông Dương, lúc đó là Bộ trưởng Thuộc Địa, khi tiễn vua Bảo Đại lấy
tàu về nước, ở Marseille, nói:
"Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Thượng
sẽ gánh một gánh rất nặng nề, là phải làm một vị Đế vương tân thời, song phải
tuân theo cổ tục, Ngài phải làm cho một nước cổ hóa ra một nước kim…"
(Sđd, trang 599).
Và ông cho rằng, việc vua về nước đã làm
thay đổi mọi sự, đặc biệt nhà vua đã thay đổi nội các:
"Nội các cũ gồm các quan già bị
bãi bỏ và theo đạo dụ chỉ ngày mồng 2 tháng 5 năm 1933, vua Bảo Đại
công bố thành phần một nội các mới gồm những vị Thượng Thư rất trẻ: Ngô Đình
Diệm, Bộ Lại, ba mươi mốt tuổi; Phạm Quỳnh, Bộ Quốc Dân Giáo Dục, bốn mươi
tuổi, Hồ Đắc Khải, Bộ Tài Chánh, ba mươi tám tuổi, Bùi Bằng Đoàn, Bộ Tư Pháp,
bốn mươi sáu tuổi, Thái Văn Toản, Bộ Công Tác, bốn mươi bảy tuổi" (trang
602).
Ông cũng cho rằng việc vua Bảo Đại hồi
loan làm cho lòng dân khắp nơi hoan hỷ, và đã có ảnh hưởng lớn về mặt chính
trị:
"Thật
vậy, không những người Pháp làm ra mặt hoan hỉ, không những người dân đơn sơ tỏ
ra vui mừng vì có được một vị vua đầu tiên văn minh tân tiến, mà cả đến dư luận
báo chí toàn quốc đều tỏ nỗi hân hoan và hiên ngang trong dịp vua Bảo Đại hồi
loan (…)
Ấy khía cạnh
và ảnh hưởng chính trị của việc vua Bảo Đại hồi loan là như vậy"
Đến như việc
canh cải học chánh, sửa đổi đường lối giáo dục, vua Bảo Đại cũng có nhiều ý
kiến đáng lưu ý, gây được nhiều dư luận thuận lợi cho nhà vua" (trang 602-603).
Sau khi trích dẫn dài rộng bài viết trên
Văn học tạp chí số 4 tháng 8 và 9-1932, ca tụng việc ngự giá hồi loan và để
chứng minh cho việc vua Bảo Đại được toàn dân ủng hộ, ông viết tiếp:
"Tuần
báo Phong Hóa cũng có nhiều bài nói về việc vua Bảo Đại hồi loan, nhất là việc
loan truyền những chỉ dụ của nhà vua đối với công cuộc canh tân xứ sở.
Tất cả cái
chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô hào canh tân, xây
dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ" (trang 605).
Sau việc ngự giá hồi hương, Thanh Lãng
nói đến những cải cách của nhà vua.
Những cải
cách của nội các Bảo Đại
Để chứng tỏ nhà vua thực hiện việc cải
cách, ông trích lời huấn dụ ngày 10-9-32 của Bảo Đại:
"Ta sẽ
tuyển dụng cũng như thời xưa là do thí khảo, đề mục luân lý kinh văn và cũng có
khoa học về chính trị phép luật tân thời, hễ ai được thắng phân số là trúng
tuyển. (…)
… Nhân có
chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt thầy có mô phạm tân thời, cứ cơ
sở vững bền ấy, ta sẽ sửa lại bộ Học sẽ gọi bằng bộ Quốc dân Giáo dục, để biểu
minh chú ý.
Ta muốn sắp
đặt việc giáo dục của quốc dân theo nền vững bền gia đình giáo dục và luân lý
đời xưa." (trang
604-605).
Bài dụ rất dài, nhưng chúng tôi tạm
trích dẫn vài câu như vậy, để độc giả thấy cái tinh thần hồ hởi của giáo sư
Thanh Lãng khi viết những dòng trên đây.
Những dòng này, nếu giáo sư Thanh Lãng
viết cuối năm 1932 (vua Bảo Đại về nước tháng 9-1932) thì còn hiểu được, nhưng
ông viết ở Sài Gòn, năm 1966-67, thì thật không thể hiểu nổi.
Toàn dân vui mừng và tin tưởng khi vị
vua trẻ về nước là điều tự nhiên. Nam Phong số 186 (tháng 7-1933) Số
đặc biệt để nghênh giá đức Bảo Đại Hoàng Đế, có những cái tựa hết sức
gợi cảm: Vị quốc vương tân thời thứ nhất của nước Nam; Đô thành Huế là
trung tâm điểm của chính trị Pháp Việt. Triều đình mới; Triều đình mới của Việt
Nam hoạt động; Những lời chỉ dụ của Hoàng Đế; Các báo Pháp ca tụng đức Bảo Đại…
Nhưng những lời lẽ "phúng dụ"
này không sống lâu hơn vài tháng. Những niềm tin cũng theo nhau chết yểu: Phong
Hóa đăng tin vua về nước vài tháng rồi tịt. Nam Phong sau số đặc biệt, cũng
ngừng luôn. Bởi vì người Pháp có cho vua làm những điều ông mong muốn đâu?
Chỉ hơn một năm sau, sự thực phũ phàng
lộ rõ: Người Pháp chỉ đưa vua về để làm bù nhìn. Họ nói miệng chứ không cho vua
tự ý cải cách bất cứ điều gì. Rút cục, nhà vua chỉ xin được họ nới rộng việc
canh giữ cụ Phan Bội Châu và đặt tên lại cho bộ Học là Bộ Quốc dân Giáo dục mà
thôi, bởi vì về việc học, “chánh phủ Bảo hộ đã tổ chức học vụ hay tốt, đặt
thầy có mô phạm tân thời" rồi.
Năm 1995, khi chúng tôi phỏng vấn giáo
sư Hoàng Xuân Hãn, người đã từng kèm toán vua ở Paris, ông ngậm ngùi nhắc lại
chuyện ông về thăm vua năm 1934, ông nói với vua: "Những người
thanh niên Việt Nam nhiều người nhìn vào Ngài về cải cách này, cải cách kia,
thì phải làm cái gì, chứ mà ai cũng để ý tới, nhất là thanh niên Việt Nam. Ông
chỉ giả lời tôi một câu, lúc ấy ông chỉ nói: Làm thì làm với ai? Làm với
ai?". Rồi năm 1942, ông về Huế, lại đến thăm vua lần nữa: "Thấy
bộ ông ấy buồn lắm. Trông thấy ông ấy buồn lắm và ông ấy không dám nói một cái
gì hết cả!"[6]. Đó
mới là sự thực.
Nếu giáo sư Thanh Lãng đã nhìn thấy
"Tất cả cái chủ trương của vua Bảo Đại cũng như của Pháp lúc ấy là hô
hào canh tân, xây dựng một nước Việt Nam mới, cởi bỏ được cái tập tục cũ" thì
thực là ông quá ngây thơ hoặc ông quá nông cạn. Năm 1932, học giả Phạm Quỳnh
cũng đã tin như thế, ông bỏ Nam Phong để về Huế làm Thượng thư, rồi cũng không
làm được gì cả, nhưng ông ở lại Huế, có lẽ vì không nỡ để vua một mình. Ông Ngô
Đình Diệm chỉ ở lại ít lâu, biết mình không có thực quyền, cũng đã từ chức. Vì
thế khi Nhật đảo chính Pháp, trao lại chính quyền cho Bảo Đại, nhà vua đã mời
hai học giả Trần Trọng Kim và Hoàng Xuân Hãn về Huế, lập chính phủ. Hoàng Xuân
Hãn kể lại: "Ông Bảo Đại đã nói với cụ Kim cũng như với tôi là: "Từ
trước đến giờ các anh muốn nước Việt Nam độc lập, bây giờ có cơ hội thì lại
chối, mình không chịu [nhận] độc lập, thế rồi sau này nói thế
nào [với quốc dân]?" Vì câu ấy, mới convaincre [thuyết
phục] được cụ." [7] Xem
như vậy, người Pháp chưa hề có ý định để cho ta độc lập dù họ có lập ra mấy
chính phủ mới cũng thế thôi. Chỉ đến khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời, với
những nhà trí thức chân chính, trong bốn tháng, đã làm được những việc cải cách
thực sự, nhất là về giáo dục.
Vậy mà giáo sư Thanh Lãng viết về chính
phủ Trần Trọng Kim như thế này: "Chính phủ Trần Trọng Kim đã nhờ vào
thế lực của Nhật, lật được ách thống trị của Pháp để tuyên bố độc lập, nhưng
nền độc lập của chánh thể Trần Trọng Kim không được ai để ý, thậm chí có người
còn không biết đến" (trang 637). Cách viết của Thanh Lãng là như thế,
đầy những lỗi "tày đình": Chính phủ Trần Trọng Kim lật được
ách thống trị của Pháp? Lật như thế nào? Bao giờ?
Lối sống xé
rào của vị vua trẻ
Để chứng minh "công lao" của
nhà vua trong việc "cải cách", giáo sư Thanh Lãng viết:
"Bởi vì
vua Bảo Đại, như ta thấy, tỏ ra rất ham cải cách, bỏ các thói tục cổ hủ như tục
lạy lục. Lần đầu tiên, một nhà vua Việt Nam đã dám du tuần khắp nước một cách
bình dị như vua Bảo Đại. Cũng lần đầu tiên, một vua Việt Nam lấy có một vợ mà
người vợ ấy vừa là con gái bình dân, vừa là người công giáo, một tôn giáo dầu
sao vẫn chưa được triều đình, nhất là hoàng tộc ưa thích. Vua Bảo Đại đã hành
động theo sở thích chứ không hành động theo lễ giáo, hay tập tục cũ, dưới sự
thúc bách của hoàng tộc" (trang 632).
Và ông đưa ra một kết luận xanh rờn:
"Đi
trước cả Khái Hưng, Nhất Linh trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn
tuyệt, Bảo Đại đã tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc
thê, mà nhất là trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ
trương tự do cá nhân trước cả Tự Lực văn đoàn" (trang 632-632).
Giáo sư Thanh Lãng đã lầm lộn một hành
động cá nhân với sự tranh đấu cho một xã hội: vua Bảo Đại lấy một vợ là
chuyện riêng của ông ấy, vả lại ông đi Pháp từ lúc 9 tuổi, được vợ chồng ông
cựu công sứ Charles nuôi, thấm nhuần văn hóa Pháp, thì chuyện lấy một
vợ chẳng có gì là lạ. Chỉ khi nào nhà vua ra được đạo dụ cấm
đa thê, thì lúc đó ông mới cải tiến xã hội Việt Nam. Ông làm vua, đã không
có quyền cai trị dân tộc mình, mà lại còn không được tự do lấy vợ nữa, thì sống
làm gì? Giáo sư Thanh Lãng có nghĩ đến điều đó chăng?
Tệ hại nhất là ông giáo sư còn cho rằng:
vua Bảo Đại đã làm tất cả mọi việc trước Tự Lực văn đoàn: "Bảo Đại đã
tranh đấu thành công cho việc tự do kết hôn, cho chế độ, độc thê, mà nhất là
trong việc đánh thẳng vào chế độ đại gia đình. Bảo Đại đã chủ trương tự do cá
nhân trước cả Tự Lực văn đoàn."
Không! Vua Bảo Đại đã bị Pháp bó chân bó
tay từ năm 1933 rồi. Việc xã hội Việt Nam cải tiến, không hề nhờ Bảo Đại, mà
phần lớn là nhờ tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, nhờ văn trào phúng của
Hoàng Đạo, văn nghị luận của Hoàng Đạo, tranh hý họa của Nguyễn Gia Trí, những
người ấy đã hy sinh cả cuộc đời để theo đuổi cuộc tranh đấu này. Nếu Thanh Lãng
không nhìn ra, thì cũng đừng bội bạc xóa bỏ.
Nhưng tác hại sâu xa nhất là việc Thanh
Lãng hiểu lầm, hoặc cố ý xuyên tạc chủ trương của Phong Hóa Ngày Nay. Trong
phần giới thiệu bộ mặt của nền văn học mới, tất cả nhận định của ông về báo
Phong Hóa, đều xoay quanh một điểm: Phong Hóa hạ bệ tất cả.
Phong Hóa hạ
bệ tất cả
Để giới thiệu Phong Hóa, câu đầu Thanh
Lãng viết rất nồng nhiệt:
"Trước
khi được đặt dưới quyền điều khiển của Nguyễn Tường Tam, tuần báo Phong Hóa của
ông Phạm Hữu Ninh, ngay từ số 1 ra tháng Juin 1932, cũng đã có một nội dung
khác hẳn các báo đương thời cả về văn cũng như về ý tưởng. Trần Khánh Giư (Khái
Hưng) là cây bút cốt cán, giữ nhiều mục quan trọng trên Phong Hóa suốt từ số 1
cho đến số 14.
Nhưng từ số
14 ra cuối tháng Septembre1932, khi mà Nguyễn Tường Tam đứng ra điều khiển tờ
báo này với sự cộng tác thường xuyên của Khái Hưng, Tú Mỡ, Tứ Ly (Hoàng Đạo)…
thì báo Phong Hóa quả là trái bom nổ giữa làng báo" (trang 610).
Sau lời giới thiệu "hoành
tráng" đó, giáo sư Thanh Lãng bắt đầu công phá. Trước hết, ông nhắc lại
công lao của Nam Phong:
"Thực
vậy, trong suốt mười mấy năm trường, Nam Phong hầu như giữ công việc của một
Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra là
đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người
tuân theo, chữ Nam Phong chế ra mọi người đều dùng. Người ta coi Nam Phong như
bậc thầy" (trang 611).
Ông ca tụng Nam Phong như vậy, để tung
ra câu kế tiếp:
"Vậy mà
năm 1932, vừa bắt đầu ra đời, tuần báo Phong Hóa đã đánh thẳng vào Nam Phong,
đánh các người lãnh đạo Nam Phong, đánh chính báo Nam Phong, đánh ngay cả chủ
trương về tư tưởng và nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, tức là quốc dân
bênh vực có trên hai chục năm." (trang 611)
Không thể tuyên bố như thế về một tờ
báo, dù là tờ Nam Phong, nhất là người đó lại là một giáo sư đại học về văn
chương. Bởi vì chính sự suy nghĩ và suy xét, không cho phép ta công kênh bất cứ
một tờ báo nào lên hàng thầy của một dân tộc cả. Mà đại học là ngưỡng cửa mở
cho sinh viên vào suy nghĩ, suy luận, trước khi công nhận bất cứ điều gì. Đành
rằng Nam Phong có những giá trị không thể chối cãi được, nhưng không ai có thể
nói rằng: Điều gì Nam Phong viết ra đều là hay, văn Nam Phong viết ra
là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi
người tuân theo.
Việc định tội ở đây rất rõ ràng: Sau khi
kể công trời biển của Nam Phong, Thanh Lãng giáng một đòn chí tử: Đánh vào Nam
Phong, đánh vào các lãnh đạo của Nam Phong, tức là đánh vào quốc dân bởi vì Nam
Phong là thầy quốc dân! Một thứ lập luận như vậy, làm sao có thể chấp nhận được
ở thời buổi tự do dân chủ, tự do báo chí.
Sự cấm phạm thượng, là nguyên tắc của
hai chế độ: quân chủ chuyên chế và độc tài toàn trị. Việt Nam đã có kinh nghiệm
nhỡn tiền: sau bao nhiêu năm (miền Bắc từ 45, cả nước sau 75) bị cấm cười, các
nhà văn hài hước bị tuyệt chủng, bây giờ nếu muốn gây giống lại, thì phải cho
in tác phẩm của Hoàng Đạo, chủ soái của loại văn hài hước châm biếm này.
Tôi không nghĩ giáo sư Thanh Lãng chịu
ảnh hưởng Vua Chúa hay Xít-Ta-Lin; là linh mục nên có lẽ ông bị ảnh hưởng của
Giáo hội nhiều hơn. Thái độ của ông nhắc ta nhớ lại thời kỳ Giáo hội Trung cổ
cấm cười, sách hài hước bị khóa trái trong phòng cấm của thư viện, tẩm thuốc
độc, kẻ nào to gan dám lẻn vào đọc lén sẽ bị đầu độc chết cứng mà Umberto Eco
miêu tả trong Le nom de la rose (Tên đóa hồng). Giáo sư Thanh
Lãng đậu tiến sĩ văn chương Pháp, tất ông cũng đã đọc qua Rabelais. Từ thế kỷ
XVI, Rabelais đã đem cả mọi tầng lớp trí thức, quý tộc, vua chúa, cha cố, ra
chế giễu, đặc biệt ông coi những giáo sư đại học Sorbonne là bọn sâu bọ rắn rết
cả. Vậy giáo sư Thanh Lãng cũng cấm à?
Tôi đã đọc Nam Phong và Phong Hóa và
không thấy chỗ nào Phong Hóa đánh ngay cả chủ trương về tư tưởng và
nghệ thuật của nhóm Nam Phong bênh vực, như giáo sư Thanh Lãng viết,
bởi vì Nam Phong chẳng bênh vực một chủ trương tư tưởng và nghệ
thuật nào cả.
Còn lãnh đạo tờ Nam Phong thì chỉ có
Phạm Quỳnh, mà Phong Hóa (tức Tứ Ly và Nguyễn Gia Trí, đàn em) có viết hay vẽ
tranh chế giễu Phạm Quỳnh, cũng chỉ bông đùa, có khi dùng Phạm Quỳnh làm ô dù
che giấu những bài khác đánh thẳng vào bọn quan lại bồi Tây thứ thiệt. Họ thừa
hiểu công lao Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn chương quốc ngữ, và
họ luôn luôn thầm kính trọng. Trái lại, họ hay đùa nhả với Nguyễn Tiến Lãng,
"lãnh tụ" Nam Phong sau khi Phạm Quỳnh vào Huế, vì Nguyễn Tiến Lãng
cùng tuổi với họ (sinh năm 1909) là con rể Phạm Quỳnh, lại chuyên viết văn
tiếng Tây (vì ông Lãng viết tiếng Việt rất dở), lại thích viết truyện sầu thảm
u buồn (Eurydice), được toàn quyền Robin (người đã ra lệnh thả bom Cổ Am) cấp
học bổng vào trường Albert Sarraut, rồi năm 1934 làm bí thư cho Robin, v.v... ngần ấy thứ đủ cho họ lấy Nguyễn Tiến Lãng ra làm bung xung, chế giễu.
Giáo sư Thanh Lãng, là người hiếm hoi có
đủ bộ Phong Hóa, từ những năm 60, nhưng dường như ông chỉ đọc những chỗ
"chửi", như ta sẽ thấy ở dưới, để thốt ra những lời như vậy.
Điểm ông chú ý ở đây, không phải là văn
chương Tự Lực văn đoàn, không phải sự khai sáng văn chương quốc ngữ của họ,
cũng không phải sự tranh đấu chống thực dân, đòi tự do dân chủ của họ, mà ông
chỉ chú ý trích dẫn những câu họ chế giễu các cụ, ví dụ trong báo Xuân, có
những câu:
- Mừng cụ Hoàng Tăng Bí tăng phúc, tăng
lộc, tăng thọ, tăng bí.
- Mừng cụ Nguyễn Văn Vĩnh đầu năm học
xem tử vi, cuối năm xem thầy số.
- Mừng cụ Huỳnh Thúc Kháng dùng chữ Nho
nhiều bằng năm bằng mười năm ngoái...
Để buộc tội họ là "công kích cá
nhân" (trang 614).
Sau khi giới thiệu Phong Hóa với những
lời láng mượt: "Tuần báo Phong Hóa là luồng gió mới, làm xáo trộn tất
cả trật tư xã hội, thổi tung những lớp bụi bặm phủ đầy trên lâu đài văn hóa cũ
một lần nữa bay mù trời" (trang 611). Ông tấn công ngay: "Phong
Hóa bắt đầu mở chiến dịch khiêu khích, hạ bệ hai lãnh tụ của hai cơ quan ngôn
luận lớn nhất của thế hệ trước, tức Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp
chí" (trang 612).
Và Thanh Lãng đã dành 14 trang sách khổ
lớn (từ trang 612 đến 624) để trích dẫn và kể tội Phong Hóa đã "phạm
thượng", đã "chửi" người đi trước như thế nào. Ông còn nhấn
thêm: "Những điều mà Phong Hóa đánh đấm chẳng phải đánh đấm vu vơ
đâu. Nó nằm trong chủ trương, đường lối của cả nhóm. Một bản tuyên ngôn của Tự
Lực văn đoàn đã nói lên điều nhận định của tôi." (trang 622), rồi
ông cho in lại cả bản Tuyên ngôn và bản Tôn chỉ của
Tự Lực văn đoàn để "chứng tỏ" điều đó. Hai văn bản này (đã in trong
chương Sự thành lập Tự Lực văn đoàn, phần I), những người viết về
Tự Lực đều biết, chưa thấy ai coi đó là văn bản chủ trương việc "đánh
đấm" ai cả.
Phản ứng của
Nguyễn Văn Vĩnh
Thanh Lãng luôn luôn dùng những chữ
khuếch đại để xác định "tội trạng" của Phong Hóa:
"Từ bao
nhiêu lâu, khắp từ Nam chí Bắc, dư luận đâu đâu cũng có Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm
Quỳnh là hai ông tổ của văn học thế hệ 1913-1932. Vậy mà Phong Hóa số 14, 22
Sept. 1932, đã đặt vè để chế giễu hai ông chủ bút Đông Dương và Nam Phong tạp
chí". (trang
612).
"Như
vậy, đối với thế hệ cũ, chẳng
riêng gì con người họ bị bêu xấu, cơ quan ngôn luận của họ bị chế diễu mà chính
cả đường lối của họ từng được cả quốc dân ca ngợi nay cũng bị nhạo
báng" (trang 619).
Thực quả linh mục Thanh Lãng không biết
cười. Ông kém xa Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, những người bị Phong Hóa chế giễu.
Phan Khôi, trên Phong Hóa số 26 (16-12-1932) trong bài Cái địa vị khôi
hài trên văn đàn, không những bênh vực tiếng cười mà còn nói rõ công dụng
giáo hóa của tiếng cười, chúng tôi đã trích dẫn kỳ trước. Nguyễn Văn Vĩnh cũng
không giận mà còn bênh vực Phong Hóa trên Annam
nouveau như sau:
"Báo ấy đã tả những tính cách
buồn cười và nhiều khi vẽ phác ra bằng những nét bút rất có ý nhị. Họ chỉ hơi
ác thôi. Nhưng không hề gì, mà chính chúng tôi đây cũng vui lòng để họ riễu
cợt, vì khoa hài hước có quyền làm thế, nhất là ở xứ này, ở một dân tộc thích
chế nhạo như dân tộc ta". (Annam nouveau, 9-6-35)
Khi Nguyễn Văn Vĩnh từ trần, Phong Hóa
số 186 (8-5-1936) loan tin: Về dịp ông Nguyễn Văn Vĩnh tạ thế các báo
hàng ngày nghỉ một kỳ và các tuần báo ra chậm một ngày để tỏ lòng thương tiếc.
Và có bài viết sau đây:
"Ông
Nguyễn Văn Vĩnh đã tạ thế
Ông mất ở bên
Lào, trong khi đang theo đuổi trong các rừng rậm cái công việc của một người đi
tìm vàng.
Tại sao ông
lại rời bỏ Hà Nội và tờ báo "Annam mới" sang bên đó làm việc ấy,
người ta đã biết rõ rồi. Người ta còn bàn luận nhiều và than thở về sự thất bại
trong các công việc của ông nữa.
Nhưng sự thất
bại đó không làm gì. Cái mục đích của cuộc đời ông Vĩnh không phải ở sự thành
công. Nếu như một người khác, chỉ yêu cầu một địa vị chắc chắn và an nhàn thì
ông Vĩnh đã thừa có thể. Nhưng ông Vĩnh là một người ưa hoạt động, đời ông là
một cuộc đời hoạt động cho đến cùng, nên đối với cái kết quả của các việc, ông
không quan tâm đến.
Ông là người
Annam đầu tiên hiểu rằng cuộc đời an nhàn mà các cụ ta xưa mong ước, là một
cuộc đời đáng chán, đáng buồn. Ông đầu tiên hiểu rằng chỉ có hoạt động, thì một
cuộc đời mới có ý vị và đáng sống, chỉ sự hoạt động mới làm cho con người ta
trở nên có giá trị và giúp ích cho mọi người.
Đời ông đã
sống, tuy có thất bại trong công việc làm ăn, nhưng vẫn là một cuộc đời đầy đủ
muôn phần. Ông chết đi chúng ta mất một người đáng trọng, đáng kính, mất một
cái "nghị lực hoạt động" là sự đáng quý nhất trong đời bây giờ.
Chúng ta lại
mất một nhà văn và một nhà báo nữa. Những công việc ông đã làm trong văn chương
và báo giới, chúng tôi không cần nhắc lại. Chúng tôi chỉ nói rằng ông là người
An-nam đầu tiên đã đoán biết cái sức mạnh vô cùng của báo chí, cái sức mạnh vô
cùng của chữ quốc ngữ - đã dùng hai cái lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới
cho đồng bào.
Chúng ta lại
nên biết nữa rằng, tuy có nhiều sự cám dỗ mãnh liệt, mà ông vẫn trung thành với
nghề nghiệp cho đến tận bây giờ.
Một sự như
thế cũng đáng để cho ta phải nên phục ông rồi.
Huống chi
thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà không chán nản, ông thực đáng làm gương
cho bọn thiếu niên ta nữa.
Ông mất đi đó
là một tin buồn chung cho mọi người biết nghĩ.
Chúng tôi
ngậm ngùi thương tiếc kính viếng ông, và xin có lời trân trọng chia buồn cùng
tang quyến.
Tự Lực văn
đoàn
Bài này chắc Tứ Ly viết, vì Tứ Ly là
người chế giễu ông Vĩnh nhiều nhất, nhưng cũng hiểu ông Vĩnh sâu xa nhất, Tứ Ly
đã nhận diện được những nét chính trong tư tưởng và hành động của Nguyễn Văn Vĩnh:
- Thành công không phải là mục đích cuộc
đời của Nguyễn Văn Vĩnh.
- Đời ông là hoạt động cho đến cùng, còn
kết quả không quan trọng.
- Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng
cuộc đời an nhàn của các cụ, là đáng chán, đáng buồn.
- Ông là người Việt đầu tiên hiểu rằng
chỉ có hoạt động, mới làm cho con người có giá trị.
- Ông là người Việt đầu tiên đã nhìn
thấy sức mạnh vô cùng của báo chí, của chữ quốc ngữ. và
đã dùng hai lợi khí đó để truyền bá tư tưởng mới cho đồng bào.
- Thất bại mà không ngã lòng, có tuổi mà
không chán nản, ông thực đáng làm gương cho bọn thiếu niên.
Ngoài Tứ Ly, mấy ai thấy rõ Nguyễn Văn
Vĩnh như thế? Những nhận định này đã có và sẽ có trong những bài viết của Tứ
Ly, như một thứ chân lý sống và tranh đấu cho tuổi trẻ. Tứ Ly hiểu Nguyễn Văn
Vĩnh một cách sâu sắc hơn Thanh Lãng rất nhiều, bởi Thanh Lãng chỉ đưa ra được
những lời tôn vinh huê dạng và rỗng nghĩa.
Về việc chế giễu Tản Đà, Thanh Lãng cũng
viết những câu thái quá:
"Nhưng
chẳng hiểu tại sao Phong Hóa lại như có thù riêng gì với thi sĩ Tản Đà! Trong
suốt mấy tháng cuối năm 32 đầu năm 33, chẳng mấy số báo mà Phong Hóa buông tha
nhà thơ sông Đà núi Tản" (trang 616). "Họ chửi ông đủ điều, họ làm thơ
họa vận để rêu ruốc ông" (trang 617), rồi Thanh Lãng chép lại bài
thơ Tứ Ly họa thơ Tản Đà để "rêu ruốc". Sự thật thì Tản Đà làm thơ
mắng mỏ Phong Hóa trước, rồi Tứ Ly mới họa lại! (Phong Hóa số 29).
Khi bàn về thơ mới cũng lại moi tội
Phong Hóa:
"Phong Hóa đánh thơ cũ bằng cách
đánh thẳng vào Tản Đà được coi là linh hồn, là hiện thân của thơ cũ. Hầu như
chẳng có mấy số mà Phong Hóa không có bài chế diễu nhà thơ sông Đà núi Tản, mà
chế diễu một cách tàn nhẫn". (trang 670).
Việc Tản Đà tôi đã nói trong bài trước
rồi, chỉ xin nhắc lại: Tản Đà không giận mà còn có vẻ khuyến khích việc chế
giễu này, đôi khi thấy lâu lâu "nó" không trêu mình cũng buồn, nên
thi sĩ làm thơ khiêu khích "nó" trước, để "nó" trả lời cho
vui.
Lối viết của Thanh Lãng rất một chiều:
thấy Nhất Linh bị buộc tội "bốc" người nhà, bị đánh hội đồng vì đã
viết bài giới thiệu thơ Thế Lữ, Thanh Lãng cũng nện thêm. Hoặc ông không nhắc
gì đến vụ Thạch Lam bị Phan Trần Chúc đăng tin úp mở đổ tội "ăn cắp
cravate bị cảnh sát bắt", vụ này ầm ĩ lên, khiến Hội Nhà báo phải họp
"đại hội đồng" để hòa giải cuộc bút chiến giữa Tân Việt Nam (Phan
Trần Chúc) và Ngày Nay (Thạch Lam và Thế Lữ); hội đồng tuyên bố Phan Trần Chúc
có lỗi, có cả biên bản của Trần Huy Liệu và Nguyễn Trọng Trạc (Ngày Nay số 83,
31-10-37).
Vậy việc bút chiến là đặc tính chung của
báo chí thời đó, có lẽ cũng để bán báo nữa. Khi họ cãi nhau thì bên tám lạng
bên nửa cân, chẳng ai chịu thua ai cả. Nhưng Thanh Lãng chỉ chăm chú bới lông
tìm lỗi của Phong Hóa.
Không phân
biệt thể loại văn chương
Thanh Lãng viết một câu rất đáng chú ý:
"Nhưng
điều đáng chú ý là sự ra đời của mấy truyện như Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng,
Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, Tôi kéo xe của Tam Lang. Từ cách xây dựng
truyện đến cách đặt vấn đề, cách mô tả tâm lý các truyện mà nhất là lời văn dễ
dãi, linh động; ba tác phẩm này như vạch ra một vạch lớn phân đôi hai thế hệ
trước (13-32) và thế hệ sau (32-45)" (trang 625)
Như vậy, Thanh Lãng coi ba tác
phẩm Hồn bướm mơ tiên, tiểu thuyết (1932), Kép Tư Bền,
truyện ngắn (1935) và Tôi kéo xe, phóng sự (1932, in 1935) đều
là truyện cả, bởi vì ông không phân biệt được các thể loại
khác nhau và các nhà văn khác nhau.
Tam Lang viết phóng sự,
phóng sự thuộc loại tài liệu sống của nhà báo. Còn truyện ngắn và tiểu
thuyết là sản phẩm của nhà văn. Vậy không thể coi cả ba thể văn này
đều là truyện được.
Phóng sự có thể sống động rất hay, nhưng
chưa phải là cái hay của một tiểu thuyết, bởi vì nhà phóng sự chưa quán xuyến
được mặt hậu của chữ nghĩa, tức là chưa liên lạc được chữ nghĩa với tư tưởng
nằm sau chữ nghĩa, nói rõ hơn: nhà phóng sự chỉ mô tả những gì xảy ra, nhà văn
qua những sự việc mô tả, nói lên những bộ mặt khác của xã hội và con người.
Thạch Lam cũng bắt đầu bằng viết phóng sự. Trường hợp điển hình là Vũ Trọng
Phụng, ông bắt đầu bằng phóng sự, nhưng chỉ từ khi ông viết Giông tố và
nhất là kiệt tác Số đỏ, ông mới trở thành nhà văn đích thực, nhà
văn lớn. Bởi vì qua Xuân tóc đỏ và những nhân vật khác trong truyện, ông đã
vẽ nên toàn diện xã hội Việt Nam lai căng, đạo đức giả, đồi trụy dưới thời Pháp
thuộc. Tiếc rằng Thanh Lãng cũng như Phạm Thế Ngũ, khi viết về Vũ Trọng Phụng
đều không kể đến Số đỏ. Những nhà viết phóng sự hay như Tam
Lang, Trọng Lang không bao giờ vượt qua được ngưỡng cửa nhà báo để trở thành
nhà văn.
Về nhà văn, cũng không thể so sánh
Nguyễn Công Hoan với Khái Hưng, vì Nguyễn Công Hoan là nhà văn viết truyện hiện
thực đường thẳng (réalisme linéaire), nghĩa là tác phẩm không có nghĩa kép, đọc
đâu hiểu đấy, còn Khái Hưng là nhà văn có nhiều tầng tư tưởng, những tác phẩm
hay của ông thường ẩn ý nghĩa triết học, có thể đọc nhiều cách, mỗi cách đọc
đưa đến một cách hiểu khác. Hồn bướm mơ tiên là một kiệt tác
và là tác phẩm tiểu thuyết quốc ngữ đa diện đầu tiên của nước ta.
Khi Thanh Lãng lấy Hồn bướm mơ
tiên, Kép Tư Bền và Tôi kéo xe, ba tác phẩm
thể loại khác nhau, có giá trị nghệ thuật và tư tưởng khác nhau, để làm
mốc vạch phân đôi hai thế hệ (1912-32) và (1932-45) vì ông cho
đó là ba cuốn truyện giống nhau từ cách xây dựng
truyện đến cách đặt vấn đề, là ông chưa thấu rõ bản chất văn chương. Trong
chương viết về tiểu thuyết sau đó, ông cũng đưa tất cả những cuốn phóng sự vào
mục tiểu thuyết, thậm chí với Vũ Trọng Phụng, ông đưa hết phóng sự mà không
đưa Số đỏ vào.
Vì không phân biệt được thể loại, cho
nên Thanh Lãng đã coi những mục tản mạn, tin vặt, hài hước, cãi cọ, trên Phong
Hóa là những bài phê bình, như ta sẽ thấy dưới đây.
Không hiểu
thế nào là phê bình
Trong chương II tựa đề Lịch sử
phê bình thế hệ 1932, Thanh Lãng chia văn học ra làm bốn khối, A,B,C,D,
và ông xếp: Khối A là khối bị cho là cựu học, khối B là Tự Lực văn đoàn, Khối C
là khối đối lập, phản công Phong Hóa, và Khối D là khối duy vật.
Theo ông: "Văn phê bình từ
1932 đến cuối năm 1934 là văn phê bình của hai khối A và khối B, tức phê bình
của tất cả các nhà văn không thuộc nhóm Phong Hóa với các nhà văn của khối
Phong Hóa tức Tự Lực văn đoàn" (trang 645).
Vẫn lối ngoa ngữ, ông viết: "Hầu
hết các nhà văn tên tuổi của thế hệ trước đều bị khối Phong Hóa chế diễu, toàn
bộ các báo, ngoại trừ báo Phong Hóa, đều bị khối Phong Hóa bêu xấu" (trang
645).
Vì ông không phân biệt được các thể loại
khác nhau cho nên ông đã đưa Tự Lực văn đoàn vào khối phê bình B,
và vào phần Lịch sử phê bình.
Nhưng Tự Lực văn đoàn làm gì có phê
bình? Thỉnh thoảng Khái Hưng, Nhất Linh viết bài tựa sách, đâu có thể gọi là
phê bình? Ông khen "Thế Lữ viết truyện hay, soạn kịch cũng khéo,
phê bình có tài" (trang 645). Nhưng Thế Lữ chỉ làm đạo diễn và diễn
viên chứ có viết kịch bao giờ đâu? Thế Lữ giữ mục điểm sách, điểm báo chung với
Thạch Lam trên Phong Hóa, hai người này thân nhau, Thạch Lam cũng hay viết tào
lao, còn Thế Lữ vì xấu tính, hay moi những nhà thơ cùng trang lứa với ông như
Lưu Trọng Lư, Phạm Huy Thông, Nguyễn Vỹ… ra chỉ trích và thường tìm sách dở để
chê bai, thì đâu có thể gọi là phê bình?
Nhưng đáng ngại hơn là luận điệu xuyên
tạc của Thanh Lãng:
"Lập trường [của Tự
Lực] không phải là cái thứ lập trường hòa hoãn, nước đôi. Họ muốn tiến
tới bất cứ giá nào, dầu phải tàn nhẫn, phải đập phá, phải chém giết. Mà thực họ
đã tàn nhẫn với tất cả cái gì mà họ coi là cũ, họ đập phá hết tất cả cái gì mà
họ cho là ngáng trở bước đi tới của họ, và lắm khi họ chẳng ngại đổ máu để giật
phần thắng lợi." (trang 648).
Thật lạ lùng cái giọng "máu
me" của vị linh mục khi viết về một văn đoàn! Với một tiền đề như vậy, tất
nhiên ta đã thấy rõ quan niệm của Thanh Lãng về Tự Lực.
Ông muốn kể tội họ "gây gổ và
tuyên chiến với các nhà văn lão thành", nhưng vì vẫn không phân biệt
được thể loại và giá trị các tác phẩm, nên ông viết:
"Trong
những mục hoặc như mục Mực Tầu Giấy Bản hoặc như Từ Nhỏ đến Nhớn, hoặc như Bàn
Ngang, hoặc như Từ Cao đến Thấp hoặc như Giòng nước ngược, hoặc như Cuộc Điểm
Báo, thật là nơi dụng võ thường xuyên của các cây bút như Tứ Ly, như Nhị Linh,
Tam Linh, Tứ Linh tức Nhất Linh, như Tú Mỡ, như Thạch Lam, như Lê Ta tức Thế
Lữ.
Chẳng có một
số Phong Hóa nào mà chẳng có một vài nhà văn, nhất là các nhà văn thuộc thế hệ
trước, chẳng bị đem ra chế diễu. Lối phê bình của Phong Hóa qua các mục nói
trên, về các nhà văn đàn anh, thường là lối phê bình châm chọc, chế diễu,
thường thuộc đời tư hơn là lập trường văn nghệ." (trang 648-649)
Ông lầm, không ai coi các mục ông kê
khai trên đây là phê bình cả, đó chỉ là những mục thường thức,
mục đích chính là tóm tắt những thông tin trong tuần, nói phiếm, bàn ngang, có
khi kể chuyện ngồi lê đôi mách, thường thấy trên các báo, thỉnh thoảng cãi cọ,
bút chiến, cốt lấp đầy chỗ trống, để giải trí và câu độc giả, cả thơ trào phúng
của Tú Mỡ cũng vậy.
Còn Mực tầu giấy bản là
tập hồi ký Khái Hưng viết về những năm học chữ Nho của mình, ký tên Nhị Linh,
không ăn nhằm gì đến chuyện phê bình.
Về phê bình, Khái Hưng viết rất rõ trong
bài Cùng ông Nguyễn Công Hoan:
"Tôi thưa ngay cùng ông rằng tôi
không phải là một nhà phê bình. Về tiểu thuyết thì đừng nói phê bình nữa, đến
ngồi bàn tán xuống với anh em bạn thân, tôi cũng không từng dám khen tác phẩm
này, chê tác phẩm kia. Là vì tôi cũng viết tiểu thuyết, viết tiểu thuyết như
ông, như Nhất Linh, như Lan Khai, như cô Đoàn Tâm Đan, như ông Hồ Biểu Chánh.
Tội lắm kia, mình khen thì anh em cho là khen mát, mà mình chê thì họ lại cho
là ghen tỵ, nhất đối với một tác phẩm đã may mắn được công chúng hoan
nghênh" (Phong Hóa số 177, 6-3-1936).
Võ Phiến không được sáng suốt như thế,
ông đã viết bộ Văn Học miền Nam, nói xấu nhiều người nên bị Nguyễn
Văn Trung, trên báo Khởi Hành "bắt" rút bộ Văn Học miền Nam về!
Rồi Thanh Lãng lại nhầm tuồng cổ với phê
bình khi ông chứng minh Tự Lực đã "đánh đấm" các vị tiền bối
như thế nào, ông đánh vào vở Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly với
những lời lẽ hết sức nặng nề: "Nhưng không ở đâu Hoàng Tăng Bí và
Nguyễn Khắc Hiếu được mô tả một cách tồi tàn, gàn dở, quê kệch, nhất là đê hèn
như trong vở tuồng "Tuồng cổ tân thời" (Phong Hóa số 38, 39, 40, 41,
42)."Không thích cười là quyền của ông nhưng gán những chữ tồi
tàn, gàn dở, quê kệch, đê hèn để bảo Tuồng cổ tân thời mô
tả Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu là quá tệ, bởi vì một
giáo sư văn chương đánh giá sai một tác phẩm đã là kém rồi, bằng những chữ quá
trớn như vậy là rất đáng ngại.
Sau khi "tiêu diệt" vở
kịch Tuồng cổ tân thời của Tứ Ly, ông kê khai một danh sách
dài các bài "chửi" trên Phong Hóa, với lời giới thiệu:
"Để thêm
tài liệu ta có thể tìm đọc những bài chửi Dương Bá Trạc (Phong Hóa số 120),
chửi Nguyễn Tiến Lãng (Phong Hóa số 105, 137) chửi ông Lê Diễm ở báo Tân Thiều
niên (Phong Hóa số 112, chửi Thái Phỉ ở Ngọ Báo (Phong Hóa, số 110), chửi
Nguyễn Khắc Hiếu, v.v..." (trang 653). Cái danh sách này kéo dài từ trang
653 đến trang 655. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình thế
hệ 1932.
Trong phần thứ ba ông dành cho khối C,
tức là khối phản công Phong Hóa, lần này "đầy đủ" hơn, tức là ông
dành toàn diện 8 trang sách khổ lớn từ 655 đến trang 663; vừa ghi danh sách vừa
trích dẫn cẩn thận những đoạn các báo này "chửi" Phong Hóa, mà ông
cho là đích đáng lắm. Chúng ta vẫn đang ở trong phần Lịch sử phê bình
thế hệ 1932.
Không hiểu tại sao giáo sư Thanh Lãng
lại mất thì giờ làm công việc này, thay vì tìm ghi danh sách những số báo có
truyện ngắn, truyện dài, kịch, thơ, xã luận… có giá trị trên Phong Hóa, để độc
giả dễ dàng tìm biết mà đọc, thì ông lại chỉ ghi danh sách những bài "chửi",
chỉ cho học trò đọc những chỗ chửi.
Hàng trăm truyện ngắn của Khái Hưng chưa
ai ghi lại đầy đủ, sao ông không làm việc ấy?
Thực chưa từng thấy ai coi phê
bình văn học là những lời "chửi" như vậy, và lại có thể có
một lối viết văn học sử nào kỳ quặc như thế cả.
Nhưng tệ hại nhất là ông cho rằng Phong
Hóa bị đóng cửa vì có nhiều tờ báo mới ra đời, họ "liên hiệp lại
để phản công Phong Hóa. Phải chăng vì vậy mà Phong Hóa phải chết để đầu thai
dưới một tên khác "Ngày Nay"?" (trang 656). Lời độc này là
giọt nước tràn ly, chứng tỏ khi thực dân bắt Phong Hóa phải đóng cửa, ông sửa
lại là Phong Hóa bị báo chí phản công đánh chết. Vô tình hay
hữu ý, ông đã nhắm mắt vỗ tay hành động của thực dân, vì ông căm thù văn chương
trào phúng như các giáo sĩ thời trung cổ?
Tú Mỡ và sự
vu khống Nguyễn Tường Tam
Tự Lực văn đoàn không những chỉ bị bôi
nhọ trong sách giáo khoa đại học của Thanh Lãng ở miền Nam, mà sự vu khống Nhất
Linh còn được xuất cảng ra ngoài.
Có người cho rằng Nhất Linh hâm mộ
Hitler. Một trong những người tung tin đó là Tú Mỡ.
Việc này khá trầm trọng, không thể bỏ
qua.
Trước hết, chúng tôi xin lưu ý độc giả
đến cái dấu ấn của Tự Lực văn đoàn.
Tự Lực văn đoàn in dấu ấn này lần đầu
tiên trên Phong Hóa số 56 (21-7-1933), nhưng không giải
thích gì cả, từ Phong Hóa số 89 (16-3-34) trở đi, dấu ấn được in trên tựa báo
Phong Hóa.Dấu ấn Tự Lực Văn đoàn và Annam Tựa báo Phong Hóa kể từ số 89
(16-3-1934)Đến Phong Hóa số 87 (2-3-34), trong
mục Cuộc điểm báo và điểm sách mùa xuân của Nhất Nhị Linh
(Nhất Linh và Khái Hưng), hai ông phản đối bìa cuốn sách Tuổi xuân với
ngày xuân "dám" ghi bốn chữ: "Tiên phong văn đoàn",
tức là "dám" bắt chước Tự Lực văn đoàn, nhân thể kể luôn
"tội" cuốn Tân quốc dân:
"Nói đến
Tiên phong văn đoàn lại nhớ đến cuốn Tân quốc dân. Ngoài bìa có đặt một cái dấu
ấn na ná như cái dấu của Tự Lực văn đoàn: cũng chỉ có con chim và mấy ngấn
nước. Chỉ khác có một tý là con chim ở cuốn Tân quốc dân, có lòi
thêm cái đuôi. Chẳng trách thiên hạ vẫn thường nói, bắt chước lòi đuôi" [8].
Nhờ câu này, ta mới biết: dấu ấn Tự Lực
văn đoàn vẽ con chim và mấy ngấn nước.
Có người "nhìn ra" là chim ó
(diều hâu) tuy hình này không xác định chim gì cả.
Có kẻ tưởng đó là dấu chữ thập có móc
(croix gammée) hay chữ vạn của đảng Hiller, trong số đó có Phòng nhì Pháp, ý
này giúp họ có thêm lý do hạ thấp giá trị Việt Nam Quốc Dân Đảng.Dấu ấn Tự Lực văn đoàn và Croix gammée
Đức quốc xãNhưng tệ nhất là mấy lời Tú Mỡ viết về
Nhất Linh trong bài Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn. Bài hồi
ký này được rất nhiều sách in lại, hoặc trích dịch, vì hai lý do:
- Tú Mỡ là một trong những thành viên Tự
Lực văn đoàn từ đầu.
- Tú Mỡ đã từng nhận là rất thân với
"anh Tam", nên những điều Tú Mỡ "nhận định" về "anh
Tam" sau đây, hoàn toàn tin được, ông viết:
"Bị lôi
cuốn vào guồng Việt Nam Quốc Dân Đảng, anh Tam muốn đóng vai lãnh tụ. Tôi thấy
trước đây anh có đọc "Mein Kamf" của Hít-le và giờ đây anh muốn bắt
chước Hít-le từ y phục, cử chỉ đến đầu óc quốc xã" [9]
Ảnh hưởng tai hại của câu này rất rộng
lớn, đặc biệt trong cuốn Đại Việt, indépendance et révolution au Việt
Nam, L’échec de la troisième voie (1938-1955) - Đại Việt, cách mạng
và độc lập ở Việt Nam, Sự thất bại của con đường thứ ba (1938-1955) của
François Guillemot [10] trong
đó, tác giả đã dùng "thông tin" của Phòng nhì Pháp, phối hợp với lời
viết trên đây của Tú Mỡ, để "xác định" ba lần: Nguyễn Tường Tam
là "người sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã" (fervent
admirateur du nazisme)! (ở các trang 68, 78 và 90) trong quyển sử của ông.
Về thông tin của Phòng nhì Pháp,
François Guillemot dựa vào bản báo cáo của Phòng nhì đề ngày 29-1-1949 [11].
Bản báo cáo này có câu:
"Đảng
Đại Việt gồm những phần tử thân VNQDĐ ngày trước và những thành viên hoạt động
nhất là các Ô. Nguyễn Tường Tam, thời đó sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã, hiện
lãnh đạo Việt Nam QDĐ hải ngoại ở Quảng Đông, Nguyễn Tường Long, người em vừa
mới mất ở Quảng Đông, Nguyễn Gia Trí, họa sĩ…" [12]
Những "thông tin" này của Công
an Pháp viết tháng giêng 1949, không có gì mới cả, trừ sự sai lầm: Nguyễn Tường
Tam thời đó sùng bái chủ nghĩa Đức Quốc xã, thời đó là
thời nào?
Tuy nhiên, François Guillemot đã dựa vào
những "thông tin" này để đưa ra nhận định sau đây về Nguyễn Tường
Tam:
"Là nhà
văn nổi tiếng và nhà bỉnh bút có tài, tuy nhiên nhân vật phức tạp này là người
thất bại trong chính trị. Việc Công an truy lùng và trình bày ông, thời đó, như
một người "sùng bài chủ nghĩa Đức quốc xã", có thể cho chúng ta chìa
khóa để hiểu sự thất bại của nhà văn về mặt ý thức hệ. Dường như, đối với chúng
ta, khúc ngoặt theo chủ nghĩa quốc gia xã hội năm 1940 của ông, sẽ như một vết
sẹo trên hành trình chính trị của ông. Sự tham gia này lần theo thời gian trở
thành cơn ác mộng khó xóa. Cái "lỗi lầm tuổi trẻ" này phát xuất, từ
một trí thức không những sành sỏi mà còn thơ mộng và lý tưởng, sẽ là một gánh
nặng" [13]
Và trong chú thích số 40, Guillemot đặt
thêm câu hỏi: "Sự hòa nhập Đại Việt Dân Chính năm 1945 trong lòng
Việt Nam Quốc Dân Đảng phải chăng có mục đích bí mật để sửa sai những bước đầu
tai hại trong chính trị?" [14]
Như vậy, theo lập luận của François
Guillemot, việc Nguyễn Tường Tam "sùng bái chủ nghiã Đức quốc xã" đã
dẫn đến sự thất bại chính trị của đảng ông. Việc "sùng bái" này, có
lúc được xác định vào năm 1940, có lúc được coi là "lỗi lầm tuổi
trẻ".
Chữ hay được người ta dùng nhất là
"thời ấy" (à l’époque, cette époque). Vậy cái thời ấy là
thời nào, ta cần phải xét lại cho rõ.
Việc mật thám Pháp không đọc Phong Hóa
và Ngày Nay, còn hiểu được, nhưng tại sao sử gia François Guillemot không kiểm
chứng lại? Ông đã viết một cuốn sách lịch sử công phu, rất có giá trị về Đại
Việt Quốc Dân Đảng, mà lại cho rằng một trong những lãnh tụ của đảng này sùng
bái chủ nghĩa Đức quốc xã, dẫn đến sự thất bại của đảng này, chỉ qua
"thông tin" lười biếng của Phòng nhì Pháp và lời viết vu vơ của Tú
Mỡ, mà không đọc trực tiếp Phong Hóa và Ngày Nay để kiểm chứng thực hư thế nào.
Bởi vì, dù chỉ đọc lướt qua, ta cũng có
thể thấy những tranh hài hước hay những bài viết chống Hitler, có tựa đập vào
mắt. Và "cái thời đó", thời mà phòng nhì Pháp cho rằng Nguyễn
Tường Tam sùng bái Chủ nghĩa Đức quốc xã, là những thời sau
đây:
1- Năm 1934, Phong Hóa số 104 (29-6-34),
trang 4, đăng bài: Hit-Le tướng công Y-Ta-li phó hội, của Lê
Ta (Thế Lữ) chế giễu Hitler đi phó hội sang Ý gặp Mussolini, bài văn hài hước
viết theo lối Đông chu liệt quốc và Tam quốc chí.
2- Ngày Nay số 11 (7-5-35) trang 3, đăng
bức ảnh Trên sân khấu Âu Châu, giễu Tướng Hitler đóng tuồng, dưới
đề: Ảnh chụp khí Hitler đang khoa đao và hò hét như một ông tướng Tàu.Hitler, Ngày Nay số 11, 7-5-1935, trang
33- Ngày Nay số 32 (1-11-36) có dịch một
đoạn bài viết của Drieu de la Rochelle trong báo Marianne, giới
thiệu một thứ trường dạy cầm đầu (Une école de chefs) trong "nước Đức
mới": Kể rằng "nước Đức mới" lập ra không biết bao nhiêu cơ quan
huấn luyện thanh niên như: Thanh niên đoàn Hitler (Jeunesse de Hitler), Tự ý
lao động (Volontaires du travail), Trại tập làm việc… để luyện cho thanh niên
có thân thể cường tráng và có tinh thần kỷ luật.
Đó là bài duy nhất, không công kích
Hitler, Ngày Nay in với dụng ý cổ động thanh niên nên rèn luyện thân thể theo
đúng cẩm nang "10 điều tâm niệm" của Hoàng Đạo đã
bắt đầu đăng trên Ngày Nay hai tháng trước, từ số 25 (3-9-1936).
4- Ngày Nay số 53 (4-4-37) có tranh bìa
ký Ritg TRAN AG (Nguyễn Gia Trí) chế giễu Hitler và thực dân: vẽ Hitler đem hoa
đến cầu hôn cô Mỵ Nương Đông Dương của thực dân Pháp.Bìa Ngày Nay số 53 (4-4-1937) của Ritg
(Nguyễn Gia Trí)5- Ngày Nay số 108 (1-5-38), trong
mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ
nghĩa Phát xít, phân tích cặn kẽ đường lối chính trị độc tài của
Mussolini.
6- Ngày Nay số 109 (8-5-38) vẫn trong
mục Chính trị và đảng phái, Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa quốc gia xã hội, phân tích và kết án không nhân nhượng chủ nghĩa Hitler và chính sách xâm lược của Đức quốc xã.
Hai bài chính luận này Hoàng Đạo, lý
thuyết gia Tự Lực văn đoàn, viết tháng 5-1938, trong thời kỳ Nguyễn Tường Tam
thành lập đảng Hưng Việt; sau đổi thành Đại Việt Dân Chính.
Chủ trương của đảng này là tiếp tục tư
tưởng Việt Nam Quốc Dân Đảng của Nguyễn Thái Học, theo chủ nghĩa duy dân của
Tôn Dật Tiên, không dính dáng đến chủ nghĩa Quốc gia xã hội của Hitler. Những
điều này sau sẽ đăng công khai trên các báo: Ngày Nay kỷ
nguyên mới, Việt Nam và Chính Nghĩa.
7- Ngày Nay số 154 (25-3-39), trang nhất
có tranh hài hước: Cuộc bảo hộ nước Tiệp Khắc trong trí tưởng tượng của
người Annam, không ký tên, chế giễu Hitler xâm nhập Tiệp Khắc.Ngày Nay số 154 (25-3-1939)8- Ngày Nay số 167 (24-6-39), trang 12,
in bài Ông Hitler đã làm những người Anh thân Đức tỉnh ngộ, lược
dịch một bài báo trên Paris Match, nói về tình trạng một số tờ báo Anh như tờ
Times trước thân Đức, bây giờ đã đổi giọng chống Đức và một số chính khách Anh,
như ông Montaga Norman, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng hay Hầu tước Lothian, Đại
sứ Anh ở Washington, cùng một số người tai mắt và quý tộc Anh, trước theo Đức,
nay đã "tỉnh ngộ", có người đã phải xin lỗi.
9- Ngày Nay số 201 (2-3-40) có bài thơ
trào phúng Diêm vương kén tướng của Tú Mỡ, ví Hitler như Diêm
vương, sai hung thần, ác tướng đem quân lên chinh phục cõi trần:
"Đem võ
lực ra oai tác ác,
Cử binh đi
cướp nước tranh quyền.
Hoàn cầu đang
hưởng bình yên.
Bỗng đâu binh
lửa dấy lên đùng đùng".Bài thơ Diêm vương kén tướng của Tú Mỡ, Ngày Nay số 201 (2-3-1940)Tú Mỡ cộng tác liên tục với Phong Hóa và
Ngày Nay từ những ngày đầu. Nhưng dường như ông không đọc các bài viết và tranh
chống Hitler trên hai tờ báo này. Ngày 12 tháng 8 năm 1968 ông "nhớ"
và viết rằng Nguyễn Tường Tam sùng bái Hiler! [15]
Có lẽ vì quá ngây thơ, thấy Nhất Linh
đọc Mein Kamf, nên Tú Mỡ – khi phải tìm tội Nhất Linh – đã vội
gán cho bạn nhãn hiệu Hitler. Bởi Tú Mỡ đã từng
nói: "Anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy."[16], nên
bài hồi ký Trong bếp núc của Tự Lực văn đoàn, dù có những giai
thoại sai lầm, vẫn được người ta tin và trích dẫn, trong đó có sử gia François
Guillemot, đã đưa việc này vào cuốn sử có giá trị mà ông đã bỏ nhiều năm nghiên
cứu về Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Sự vu khống Nhất Linh Nguyễn Tường
Tam sùng bái chủ nghĩa Đức quốc xã là một vết nhơ, không những
cho Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn mà còn cho cả các phong trào cách mạng dân tộc
nữa.
Chú thích:
[1] Theo chú thích của Nxb Thăng Long,
khi tái bản bộ Nhà văn hiện đại ở Sài Gòn năm 1960, trang 904.
[2] Việt Nam văn học sử giản ước
tân biên, tập ba, Anh Phương ấn quán, Sài Gòn, 1965, Đại Nam chụp in
lại, trang 430.
[3] Vu Gia, Nhất Linh đời văn
đời người (trích), in lại trong Nhất Linh cây bút cột trụ của
Tự Lực văn đoàn, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000, trang 74-75.
[4] Trương Bảo Sơn Những kỷ
niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn Tường Tam (in trong cuốn Nhất
Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Thế Kỷ, Cali, 2004, t. 69).
[5] Thanh Lãng, Bảng lược đồ
văn học Việt Nam, quyển hạ, Ba thế hệ của nền
văn học mới (1862-1945), Nxb Trình Bày, Sài Gòn, 1967, phần Văn
Học thế hệ 1932 (1932-1945), Chương I: Đặc tính chung của thế hệ 1932 trang
589.
[6] Thụy Khuê, Nói chuyện với
Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 128.
[7] Thụy Khuê, Nói chuyện với
Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp, Nxb Văn Nghệ, Cali, 2002, trang 160.
[8] Cuộc điểm báo và điểm sách mùa
xuân, của Nhất-Nhị-Linh (Phong Hóa số 87, 2-3-1934).
[9] Tú Mỡ, Trong bếp núc của
Tự Lực văn đoàn, Hồi ký của Tú Mỡ, Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm 1988
và số 1 năm 1989.
[10] Nhà xuất bản Les Indes
savantes, Paris, 2012.
[11] Bản báo cáo này lưu trữ trong hồ
sơ CAOM, GGI 65492 của Haut Commissaire de France en Indochine, Direction de la
Police et de la Sureté fédérales, Secret, Les partis nationalistes vietnamiens
(Cao Ủy Pháp ở Đông Dương, Nha Giám đốc Cảnh sát Công an trung ương, Mật, hồ
sơ Những đảng phái quốc gia Việt Nam.
[12] "Le Đại Việt était composé
d’anciens sympathisants VNQDĐ et ses membres les plus agissants furent MM.
Nguyễn Tường Tam, à l’époque fervent admirateur du nazisme et actuellement chef
du VNQDĐ d’outre-mer à Canton, Nguyễn Tường Long, frère du précédent et
récemment décédé à Canton, Nguyễn Gia Trí, artiste peintre… " (sđd
trang 68).
[13] "Ce personnage complexe,
écrivain renommé et chroniqueur de talent, a cependant un raté dans sa vie
politique. La Sureté qui le présentait à cette époque comme "un fervent
admirateur du nazisme", nous donne peut être la clé de l’échec de
l’écrivain sur le plan idéologique. Il nous semble que le virage national-socialiste
qu’il prit en 1940 resta comme une cicatrice sur son parcours politique. Cette
engagement était devenu au fil du temps comme un mauvais rêve difficile à
effacer. Cette "erreur de jeunesse" émanant pourtant d’un
intellectuel averti, mais aussi romantique et idéaliste, pesa sans doute d’un
lourd fardeau" (sđd, trang 90).
[14] "La dissolution du ĐVDC en
1945, au sein du QDĐ a-t-elle pour objet secret, la correction d’un début en
politique plutôt compromettant?" (sđd, trang 90).
[15] Trong tập hồi ký Trong bếp
núc của Tự Lực văn đoàn, in lại trên Tạp chí Văn Học, Hà Nội, số 5-6 năm
1988 và số 1 năm 1989.
[16] Cuộc Phỏng vấn các nhà văn,
của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội, 1943, trang 134-144.
Sự hình thành
nền văn học Quốc ngữ
Muốn hiểu Tự Lực văn đoàn đã làm được
những gì cho nền văn học quốc ngữ, ta phải xem lại tình trạng nền văn học này,
trước khi có Tự Lực văn đoàn, sau đó mới có thể trả lời câu hỏi: Tự Lực văn
đoàn đã làm được gì cho nền văn học quốc ngữ.
Ai cũng biết, tiếng Việt là
tiếng nói của dân tộc từ thời tiền sử đến ngày nay. Tiếng Việt còn được gọi
là Quốc âm. Để ghi lại quốc âm, ta có hai cách: hoặc dùng chữ Nôm
(mượn dạng chữ Hán) hoặc dùng chữ Quốc ngữ (mẫu tự La tinh).
Văn tự chính thức được dùng trong nước
từ xưa vẫn là chữ Hán đến đầu thế kỷ XX.
Chữ nôm, bắt đầu có từ cuối đời Lý, đến
đầu đời Trần (thế kỷ XII) được Hàn Thuyên phổ biến; trở nên thịnh hành đầu đời
Lê, với Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức
quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông. Chữ nôm đã từng được làm văn tự
chính thức dưới thời nhà Hồ (thế kỷ XV) và nhà Tây Sơn (thế kỷ XVIII), nhưng
sang nhà Nguyễn, chữ Hán trở lại địa vị chính thống.
Văn chương chữ nôm bắt đầu thịnh hành
với Nguyễn Trãi (1380-1442), đạt đỉnh cao nghệ thuật với Nguyễn Du (1766-1820),
nhưng hầu như toàn bộ sáng tác chữ nôm của ta là những áng văn vần. Đó là tình
trạng của nhiều nước, không riêng gì Việt Nam. Có lẽ vì văn vần dễ nhớ, người
biết chữ hay không biết chữ cũng có thể thuộc được.
Khi Pháp xâm chiếm nước ta, Nam Kỳ trở
thành thuộc địa trước tiên. Năm 1867, Pháp chiếm xong Nam Kỳ. Năm 1878 chữ quốc
ngữ trở thành văn tự chính thức, sau tiếng Pháp. Năm 1915 là năm cuối cùng có
thi Hương ở Bắc, và năm 1918, khoa thi Hương cuối cùng ở Huế.
Pháp chủ trương loại bỏ chữ Hán để thay
dần bằng chữ Pháp, học trò bậc tiểu học, mỗi tuần học 2 giờ chữ Hán, 12 giờ
Pháp văn, không được học chữ Nôm, phải học chữ quốc ngữ.
Chữ quốc ngữ, dùng ngữ tự La tinh, đối
vối người Pháp dễ nhận mặt chữ, dễ "đọc" và dễ học hơn chữ nôm, đã
được các nhà truyền giáo Dòng Tên Bồ Đào Nha và các thầy giảng người Việt đặt
ra từ thế kỷ XVII.
Trần Văn Chi, người đã đọc Gia Định Báo,
tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam, cho biết:
"Tên
gọi chữ quốc ngữ [thấy] lần đầu tiên vào năm 1867 trên Gia Định
báo. Tiền thân của tên gọi này là chữ Tây quốc ngữ. Về sau từ
Tây bị lược khỏi tên gọi để chỉ còn lại là chữ quốc ngữ, có
nghĩa là văn tự tiếng Việt" [1].
Chữ Tây quốc
ngữ, bốn
tiếng này cho chúng ta hiểu rõ sâu xa nguồn gốc thứ chữ mà dân ta bị ép buộc
phải học, và tại sao các nhà văn hóa thời ấy, dù chống lại thứ chữ "ngoại
lai" này, nhưng họ vẫn phải xây dựng nó thành "chữ nước ta", như
lời giải thích của Phạm Quỳnh, phát biểu ở Pháp năm 1922, mà chúng ta sẽ thấy ở
dưới.
Theo linh mục Đỗ Quanh Chính, giáo sĩ
Francesco de Pina là người Âu đầu tiên nói thạo tiếng Việt, ông theo cách ghi
tiếng Nhật của các giáo sĩ Dòng Tên ở Nhật, để viết tiếng Việt theo mẫu tự la
tinh a, b, c… Từ năm 1620, các tu sĩ Dòng Tên tại Hội An đã soạn thảo một cuốn
sách giáo lý bằng "chữ Đàng Trong". Chính Francesco de Pina đã dạy
Alexandre de Rhodes tiếng Việt khi ông này đến Đà Nẵng tháng 12/1624. Ngày
15/12/1625 Francesco de Pina bị chết đuối ở Vịnh Đà Nẵng, thi hài ông được đem
về chôn tại Đà Nẵng. Alexandre de Rhodes, dựa vào tư liệu de Pina để lại và
dùng hai bộ từ điển của Amaral và Barbosa để soạn bộ Từ điển Việt Bồ
La (Roma, 1651). Vẫn theo linh mục Đỗ Quang Chính, hai văn bản bằng
quốc ngữ, sớm nhất, của người Việt, được biết đến là của thầy Văn Tín, và thầy
Benito Thiện với Lịch sử nước Annam 1659) [2].
Nói như vậy, không có nghĩa là các giáo
sĩ người Âu và các thầy giảng người Việt đã soạn xong thứ chữ quốc ngữ mà chúng
ta dùng ngày nay.
Chữ quốc ngữ của các nhà truyền giáo -
còn phôi thai, nghèo nàn, thô thiển, chỉ dành cho giáo sĩ người Âu mới đến Việt
Nam học để giảng đạo - không đủ chữ để diễn tả việc đời, việc
người, thiếu những danh từ văn chương, khoa học, triết học. Cho nên ban đầu, dù
không muốn học thứ chữ "ngoại lai" ấy, dân ta vẫn bắt buộc phải xây
dựng một nền quốc văn bằng quốc ngữ để thay thế cho nền văn
học Hán Nôm đã bị sa thải, như đã nói ở trên.
Việc xây dựng chữ quốc ngữ thành
một ngôn ngữ toàn diện, bình dân và bác học như ngày nay, là
nhờ công lao của người Việt, những học giả, nhà văn như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của, Trương Minh Ký… trong những năm cuối thế kỷ XIX, và Nguyễn Văn Vĩnh,
Phạm Quỳnh nối tiếp đầu thế kỷ XX, chính họ đã góp phần hình thành và xây dựng
chữ quốc ngữ hiện đại với những mốc đầu tiên:
1876 xuất hiện bài ký Chuyến đi
Bắc Kỳ của Trương Vĩnh Ký, hai năm trước khi chữ quốc ngữ trở thành
văn tự chính thức ở trong Nam.
1887 tiểu thuyết Thầy Lazaro
Phiền của Nguyễn Trọng Quản ra đời.
1895 phát hành Đại Nam Quấc Âm
Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của, cuốn từ điển đầu tiên bằng chữ quốc ngữ của
Việt Nam (soạn từ 1889 đến 1893, in 1895).
Bởi vì Nam kỳ phải dùng chữ quốc ngữ
trước, nên người Việt trong Nam phải tập viết quốc ngữ trước.
Trong giai đoạn đầu, Trương Vĩnh Ký - Huỳnh Tịnh Của đã có công khai phá, sửa
cách viết quốc ngữ của các giáo sĩ Dòng Tên cho chính xác hơn. Trương Vĩnh Ký
soạn sử, viết truyện cổ tích, bằng thứ chữ quốc ngữ bình dân, thuần Việt, để ai
cũng có thể học và hiểu nhanh chóng. Huỳnh Tịnh Của soạn từ điển. Về mặt sáng
tác, Nguyễn Trọng Quản đi tiên phong với tập truyện vừa Truyện thầy
Lazaro Phiền, in năm 1887.
Giáo sư Nguyễn Văn Trung là người đầu
tiên đã khám phá ra Nguyễn Trọng Quản (Truyện thầy Lazaro Phiền do
Vương Hồng Sển cung cấp cho ông) và báo chí, văn chương quốc ngữ phát xuất từ
miền Nam, trong bộ Hồ sơ Lục Châu học, soạn trong
thập niên 1980-90, viết xong cuối năm 1990. Bản in ronéo bộ sách này được
chuyền tay hơn 20 năm trong giới nghiên cứu, nhiều người sử dụng nhưng không đề
xuất xứ. Mãi tới năm 2015, mới được in thành sách (nhà xuất bản Trẻ). Sự khám
phá của Nguyễn Văn Trung đã làm thay đổi toàn diện quan niệm văn học sử từ
trước đến giờ. Bởi vì, trước đó, các nhà nghiên cứu - phần lớn là người Bắc -
đã bỏ qua mảng văn học quan trọng này và xác định Tố
Tâm của Hoàng Ngọc Phách (viết 1922, in 1925) là tiểu thuyết quốc ngữ
đầu tiên.
Trương Vĩnh
Ký (1837-1898)
Học giả Trương Vĩnh Ký xứng đáng với
danh vị nhà trí thức đầu tiên đã xây dựng nền móng cho Việt học bằng chữ quốc
ngữ. Vừa là nhà văn, nhà biên khảo, nhà phê bình, uyên bác cả Hán học lẫn Tây
học, ông đã giữ địa vị bắc cầu giữa quá khứ Hán Nôm và nền văn học quốc ngữ.
Ngoài việc làm từ điển Pháp Việt, Việt Pháp, viết sách sử ký, địa dư, sách về
ngữ học, chú trọng đến các vấn đề mẹo, luật trong tiếng Việt, tiếng Pháp;
Trương Vĩnh Ký còn phiên âm, phiên dịch, chú giải những sách cơ bản từ chữ Nôm,
chữ Hán sang chữ quốc ngữ. Ông đã phiên âm: Việt Nam quốc sử diễn ca, Kiều,
Lục Vân Tiên, Phan Trần, Gia huấn ca, v.v... và phiên dịch: Minh
tâm bửu giám, Tam tự kinh, Trung Dung, Đại Học, v.v...
Về văn, Trương Vĩnh Ký khai sinh lối
viết "bạch thoại", tự nhiên và sống động như lời nói, khác hẳn với
lối văn biền ngẫu của người đương thời, mà sau này Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng
Sển chịu ảnh hưởng và đưa vào văn học.
Tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam,
do chính quyền thuộc địa sáng lập ở Nam Kỳ năm 1865 là tờ Gia Định báo, do
Ernest Potteaux đứng tên, Trương Vĩnh Ký làm chánh tổng tài và Huỳnh Tịnh Của
làm chủ bút, với sự cộng tác của Tôn Thọ Tường, Trương Minh Ký. Sau này người
ta buộc tội Trương Vĩnh Ký và Phạm Quỳnh "phản quốc" vì họ làm báo
cho Tây. Chúng ta nên biết trong thời kỳ ấy, không có có tờ báo nào là không do
Tây "làm chủ " vì chỉ Tây mới được quyền đứng tên chủ báo và được
chính phủ thuộc điạ công nhận. Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn
Vĩnh, Phạm Quỳnh không làm báo cho Tây, thì chúng ta không có nền văn học quốc
ngữ như ngày nay.
Sang thế kỷ XX, báo chí trong Nam bắt
đầu với tờ Nông cổ mín đàm của Canavaggio, với Lương Khắc
Ninh chủ bút, số 1 ra ngày 1-8-1901. Trong số 1 này, bắt đầu đăng bản dịch Tam
Quốc Chí của Trương Vĩnh Ký. Nông cổ mín đàm phát hành
với số lượng nhỏ vào những năm đầu. Theo lời rao in trên số 96 (2-7-1903)
thì Nông cổ mín đàm có 350 người mua. Tiếp đến là Đại
Việt tân báo (1905) của Ernest Babut do Đào Nguyên Phổ chủ bút.
Rồi Lục tỉnh tân văn (1909) của Pierre Jeantet, do Trần
Nhất Thăng, Trần Chánh Chiếu… thay phiên nhau làm chủ bút.
Điều đáng chú ý là sự phát triển của báo
chí và văn học quốc ngữ, đi cùng với ý nguyện viết lịch sử và tiểu thuyết lịch
sử. Bài viết bằng chữ quốc ngữ sớm nhất còn lưu lại của Benito Thiện năm 1659 ở
ngoài Bắc là bài Lịch sử nước Annam. Rồi năm 1822, trong
Nam có truyện Annam Đàng Trong Đàng Ngoài của T. Bỉnh. Sau đó
Trương Vĩnh Ký viết một loạt sách sử bằng tiếng Pháp cho học trò các trường Bảo
hộ, đến năm 1915 xuất hiện trường thiên tiểu thuyết lịch sử Gia Long
tẩu quốc của Tân Dân Tử.
Phải chăng việc phát triển sách lịch sử
ở thời kỳ văn học quốc ngữ phôi thai, chính là khuynh hướng yêu nước, xuất hiện
dưới hình thức gián tiếp, của các nhà văn hóa đương thời?
Giai đoạn sau, từ 1915 trở đi, sự phát
triển nền văn học quốc ngữ xẩy ra một cách toàn diện trên mọi thể loại: Thi ca,
tiểu luận, phê bình và tiểu thuyết [3].Trương Vĩnh KýKhi Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của qua
đời vào những năm cuối cùng thế kỷ XIX (Huỳnh Tịnh Của mất năm 1897, Trương
Vĩnh Ký mất năm 1898) nền văn học quốc ngữ, mà hai ông đã góp phần xây dựng
những viên gạch đầu tiên, sẽ khởi sắc trong những thập niên đầu thế kỷ XX, với
những tên tuổi mới như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Tản Đà, Phạm Quỳnh…
Về tiểu thuyết, Hồ Biểu Chánh trong Nam,
rồi tiếp đến Tự Lực văn đoàn ngoài Bắc là những "tác nhân" chính đã
đổi mới và hoàn chỉnh nền văn chương quốc ngữ như chúng ta có
hiện giờ.Hồ Biểu ChánhHồ Biểu Chánh
(1985-1958)
Từ những thế kỷ trước, chúng ta đã có
những bài văn, những tác phẩm, gọi là truyện ký hay truyện kỳ, như Lĩnh
Nam chích quái, Việt điện u linh, rồi đến những truyện nôm viết bằng thơ
như Trê Cóc, Trinh Thử… đến Hoa Tiên, Song Tinh, Kiều, Lục
Vân Tiên, v.v... hoặc tiểu thuyết lịch sử như Nam triều công
nghiệp diễn chí, Hoàng Lê nhất thống chí…
Đầu thế kỷ XX xuất hiện nhiều lịch sử
tiểu thuyết ở trong Nam, như Phan Yên ngoại sử của Trương Duy
Toản (1910), Hoàng Tố Oanh hàm oan của Trần Thiên Trung tức
Trần Chánh Chiếu (1910), Gia Long tẩu quốc của Tân Dân Tử
(1915) v.v...
Năm 1912, Hồ Biểu Chánh viết Ai
làm được, tác phẩm tiểu thuyết làm thay đổi hẳn cục diện văn chương, trên
ba bình diện:
1- Đây là cuốn tiểu thuyết hư
cấu hiện đại đầu tiên và có lẽ cũng là cuốn tiểu
thuyết quốc ngữ viết theo lối Tây phương đầu tiên của thế kỷ XX. Bởi
vì tất cả những tác phẩm trước đây đều viết theo lối kể truyện của Tàu. Vẫn
biết Nguyễn Trọng Quản là người viết tiểu thuyết quốc ngữ đầu tiên theo lối
Tây, nhưng tác phẩm của ông chỉ có giá trị mở đầu, chữ quốc ngữ của ông còn thô
sơ, và ông vẫn thuật lại một truyện do người khác kể lại cho ông. Phải tới Hồ
Biểu Chánh, chúng ta mới có tiểu thuyết gia hiện đại đích thực, với thứ ngôn
ngữ sống động hàng ngày, với sự mô tả đầy biến hóa.
Nhờ lượng viết đồ sộ, 64 cuốn tiểu thuyết, với nhiều chủ đề khác nhau, một mình
Hồ Biểu Chánh đã vẽ nên toàn thể bộ mặt xã hội miền Nam dưới thời Pháp thuộc và
sau này, mà ở Bắc không một tiểu thuyết gia nào làm được. Có nghĩa rằng chỉ một
mình Hồ Biểu Chánh có khả năng miêu tả mọi loại người giàu
nghèo, sang hèn, lương thiện, trộm cắp, mọi giai tầng quý tộc,
trưởng giả, cùng đinh, đói khổ, mọi loại dân từ thành thị đến
thôn quê… ở miền Nam, trong khi những nhà văn Bắc thường chỉ chuyên về một hạng
người nào đó, một giai tầng nào đó, như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam thường
là loại người có học, trung lưu, thành thị; Trần Tiêu, Ngô Tất Tố chiếu vào đời
sống người dân quê; Vũ Trọng Phụng, vào hạng người trụy lạc thành thị, Nguyễn
Hồng, vào thế giới trộm cắp, v.v... tất cả những tác phẩm của họ chập lại mới tạo
nên toàn thể bộ mặt xã hội miền Bắc.
2- Hồ Biểu Chánh là nhà văn tiên phong
trong tiểu thuyết hiện thực xã hội, ông đã tạo dựng một phong cách tiểu thuyết
xã hội hiện thực, lối Nam, khác hẳn tiểu thuyết hiện thực xã hội lối Bắc của
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, sau này.
Theo sự kê khai của Hồ Biểu Chánh trong
cuốn hồi ức Đời của tôi về văn nghệ (bản đánh máy), thì trong
toàn bộ 64 cuốn tiểu thuyết của ông, có 11 cuốn cảm tác theo tiểu thuyết Pháp,
một cuốn theo tiểu thuyết Nga.
Tác phẩm của ông, dù có dựa trên sườn
truyện của Hector Malot hay Victor Hugo, nhưng chúng đã rất xa nguyên bản để
tạo ra không khí xã hội, ngôn ngữ và tính chất Việt Nam.
Cùng thời với Hồ Biểu Chánh, ở Bắc, Phạm
Duy Tốn viết những truyện ngắn theo lối Tây phương: Bực mình (1914), Sống
chết mặc bay (1918), Con người Sở Khanh (1919)
và Hoàng Ngọc Phách viết tiểu thuyết Tố Tâm (1925). Nhưng Phạm
Duy Tốn, chỉ có một truyện Sống chết mặc bay (1918) là đích
đáng. Còn Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, cũng chỉ có giá trị
nhất thời, vì lối văn biền ngẫu và cốt truyện sầu thảm, nên 10 năm sau đã bị
coi là cổ hủ.
3- Cho đến bấy giờ, nước ta chỉ có truyện
kể (récit) nghĩa là người viết kể lại một câu chuyện đã
nghe được, hay chuyện của chính mình. Ở đây không nói đến trường hợp xưng tôi trong tiểu
thuyết mới, chữ tôi đó có nghĩa bản thể, nghĩa là nhà văn
chỉ viết những cảm nhận có tính cách bản thể của mình, bởi vì họ đã từ bỏ vai
trò thượng đế, nên không thể "vào vai" người khác được. Còn chữ tôi mà
ta nói đến ở đây, là cái tôi bình dân dễ hiểu của tất cả mọi người.
Hồ Biểu Chánh là người khai phá lối viết
hư cấu, hiện đại, trong lối viết này, nhà văn bỏ hẳn lối kể chuyện cổ điển, để
nhập vào các nhân vật, để sự mô tả, và ngôn ngữ của
nhân vật nói lên câu chuyện và những gì xảy ra chung quanh.
Từ 1922 đến 1932, Hồ Biểu Chánh đã in
được 18 cuốn tiểu thuyết.
Khi Hồn bướm mơ tiên của
Khái Hưng ra đời năm 1932, tức là 20 năm sau Ai làm được, văn
xuôi quốc ngữ Việt Nam đã đạt tới mức trưởng thành. Bởi vì Hồn bướm mơ
tiên không chỉ là một cuốn tiểu thuyết hiện thực mà còn đa chiều, ẩn giấu
ý nghĩa triết học trong đời sống con người, tu cũng như tục. Hồn bướm
mơ tiên trở thành một giá trị văn học có tầm vóc lớn, về mặt bút pháp
cũng như tư tưởng.
Con đường tìm
kiếm của Hồ Biểu Chánh
Hồ Biểu Chánh kể lại con đường khai phá
này trong hồi ký như sau:
"Năm
1906 ra khỏi nhà trường, nhận thấy các ấn quán ở Sài Gòn mướn người dịch truyện
Tàu và thơ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ đặng in mà bán. Từ thành thị ra thôn quê,
nhơn dân đua nhau mà đọc. Có vài tờ tuần báo cũng được người ta chú ý.
Thầm nghĩ,
người mình mà biết chuyện bên Tàu không bổ ích cho bằng biết truyện trong nước
mình. Tính viết chuyện văn vắn cho đăng vào mấy tờ tuần báo để đồng bào đọc
thử. Viết khó khăn hết sức, vì thiếu nho học nên không tìm ra lời mà tả trí ý
cho người ta thông cảm được. Phải học chữ Nho. Trót ba năm, nhờ vài ông bạn lớn
tuổi ban đêm làm ơn dạy giùm cho đọc được sách Tàu.
Năm 1910, lựa
những chuyện hay trong Tình Sử và Kim Cổ Kỳ Quan dịch ra Quốc văn nhan đề
"Tân soạn cổ tích" đặng tập viết cho suông. Cũng viết theo thể văn
"Thượng lục hạ bát" thành một chuyện dài nhan đề "U tình
lục" chuyện tình của người trong nước mình. Hai quyển này được mấy bạn hùn
tiền in thử thì không ai chê.
Lúc đó cụ
Trần Chánh Chiếu cho xuất bản quyển "Hoàng Tố Oanh hàm oan" là tiểu
thuyết đầu tiên trong Lục tỉnh, truyện tình tả nhơn vật trong xứ và viết theo
điệu văn xuôi. Đọc quyển này, cảm thấy viết truyện dùng văn xuôi dễ cảm hóa
người đọc hơn, bởi vậy năm 1912, đổi xuống làm việc tại Cà Mau mới viết thử
quyển "Ai làm được" là quyển thứ nhứt viết văn xuôi tại Cà Mau với
nhơn vật cũng ở Cà Mau" [4].
Hồ Biểu Chánh tập viết quốc ngữ từ
năm 1906.
Ông sinh ngày 1-10-1885. Từ 8 đến 12
tuổi, học nhữ nho. 13 tuổi, học trường Tiểu học tổng Vĩnh Lợi, rồi lên trường
tỉnh Gò Công, trường trung học Mỹ Tho (1902-1903), trường Pháp
Chasseloup-Laubat (1904-1905). Năm 1905 ông đậu bằng thành chung.
Nhỏ học chữ Nho, lớn học chữ Tây, vẫn
chưa đủ; năm 1906, khi quyết định viết văn quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh vẫn phải học
thêm chữ Nho và dịch sách chữ Hán ra quốc ngữ, trước khi viết văn. Đến năm
1912, ông mới viết tiểu thuyết đầu tiên Ai làm được. Hồ Biểu
Chánh và Khái Hưng đều học trường Pháp, hành trình cùng học chữ nho của họ, có
gì rất giống nhau.Nguyễn Văn Vĩnh - Phạm Quỳnh - Phạm Duy TốnPhạm Quỳnh
(1892-1945)
Miền Bắc bị Pháp chiếm sau, nên việc học
quốc ngữ chậm hơn. Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh vừa đi Pháp về, được mời làm chủ
bút tờ Đại Nam đăng cổ tùng báo, tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở
Bắc kỳ, do Schneider sáng lập. Năm 1910, Nguyễn Văn Vĩnh vào Nam làm chủ
bút Lục Tỉnh tân văn. Rồi đến năm 1913, ông lại trở ra Hà Nội làm
chủ bút Đông Dương tạp chí, vẫn do Schneider sáng lập.
Phan Khôi xuất hiện từ 1907 trên Đăng
cổ tùng báo.
Tới 1917, Phạm Quỳnh ra làm chủ bút tờ
Nam Phong với sự cộng tác của Nguyễn Bá Trác và Phan Khôi. Được hai năm, vì bất
đồng ý kiến với Phạm Quỳnh, Phan Khôi bỏ Nam Phong vào Sài Gòn viết cho Lục
Tỉnh tân văn.
Tản Đà xuất hiện lần đầu năm 1913
trên Đông Dương tạp chí. Năm 1916, in thi tập đầu tiên: Khối
tình con. Năm 1921, chủ trương tạp chí Hữu Thanh.
Năm 1917, Phủ Toàn quyền quyết định ra
báo Nam Phong, với ba phần: Pháp văn, Hán văn và Quốc ngữ;
Nguyễn Bá Trác phụ trách phần Hán văn và Phạm Quỳnh phần Quốc ngữ.
Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là hai nhà
dịch thuật và biên khảo, đã xây dựng nền móng văn học quốc ngữ ở miền Bắc trên
hai tờ Đông Dương và Nam Phong tạp chí.
Cùng thời điểm đó, Phạm Duy Tốn viết
truyện ngắn Sống chết mặc bay in trên Nam Phong số 18 (tháng
12-1918), tác phẩm quốc ngữ hiện đại đầu tiên, ở Bắc.
Theo Phạm Quỳnh, tuy chính quyền thuộc
địa chủ trương "mở mang" quốc ngữ, nhưng, sự phục hưng tiếng
Việt qua quốc ngữ không được người Pháp biết đến, kể cả những người đã
"Việt hóa" nhất, họ chỉ học tiếng Việt cốt để nói dăm ba câu chuyện
hàng ngày, chứ họ không cần biết đến văn chương, văn hóa Việt Nam. Chính quyền
thuộc địa vẫn ngầm giữ ý định sẽ thay thế Hán văn bằng Pháp văn, và họ định cho
học trò học tiếng Pháp từ lớp vỡ lòng, gạt hẳn tiếng Việt ra ngoài, như đối với
các thuộc địa Châu Phi.
Năm 1922, thừa dịp được toàn quyền
Maurice Long cử sang Pháp diễn thuyết tại các trường lớn, Phạm Quỳnh (cùng đi
với Nguyễn Văn Vĩnh) đã đọc bốn bài diễn văn bảo vệ quốc âm, thỉnh nguyện chính
quyền Pháp giữ lại tiếng Việt trong các trường tiểu học.
Những bài diễn thuyết này được đăng báo
ở Pháp trước, rồi in trên Nam Phong phần Pháp văn và sau này in lại trong
cuốn Những bài tiểu luận Pháp Việt mới (Nouveaux essais
franco-annamites), nxb Bùi Huy Tín, Huế, 1938.
1. Ngày 25-5-1922, Phạm Quỳnh bắt đầu
với bài Sự tiến hóa của tiếng An-nam (L’évolution de la
langue annamite) [5],
đọc tại Trường Sinh ngữ Đông phương (École des Langues Orientales vivantes)
Paris, ông đã nói về tình trạng ngôn ngữ ở Việt Nam (xin tóm tắt những ý
chính):
Trải ngàn năm bị Tàu đô hộ, văn chương
Việt Nam chia làm hai loại: bác học (chữ Hán) và bình dân (chữ Nôm). Tiếng nói
dân tộc bị coi thường, chữ Nôm bị khinh rẻ. Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, Nguyễn
Du, một đại văn hào xuất hiện, đưa thứ ngôn ngữ thông tục lên hàng kiệt tác
với Truyện Kiều. Công Nguyễn Du đối với quốc âm cũng giống như công
của Ronsard, Rabelais đối với tiếng Pháp. Chữ quốc ngữ, do các linh mục Tây
Phương đặt ra với mục đích truyền giáo, nhờ Trương Vĩnh Ký và Paulus Của cải
thiện, được truyền bá rộng rãi ở Nam Kỳ, cuối thế kỷ XIX.
Rồi ông kể đến tác dụng của Tân
thư:
Khoảng 1900, sau khi Tàu thua Nhật,
người Tàu bắt đầu du học Âu Mỹ; khi về nước, họ đã dịch đủ loại sách Tây
phương, từ Darwin, Kant, đến Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot, sang chữ
Hán. Đó là những Tân thư. Các nhà nho Việt đọc Tân thư và dịch lại những
danh từ khoa học, kỹ thuật, triết học, mà người Hoa đã dịch sang chữ Hán.
Sau cùng ông nói đến việc làm của thế hệ
Tây học:
Khi lớp người Tây học (chúng tôi) bắt
đầu dịch các sách Tây Phương sang tiếng Việt, thì đã có sẵn kho danh từ
Hán-Việt do các bậc đàn anh, dịch từ chữ Hán sang.
Và ông nhấn mạnh:
"Chữ
quốc ngữ hiện đại hình thành và giàu mạnh, là nhờ sự cộng tác chặt chẽ giữa hai
phái Nho học và Tây học".
Tiếp đó, ông giải thích sự hình
thành chữ quốc ngữ hiện đại, như sau:
Nói là mượn tiếng Tàu thì cũng không
đúng hẳn: Thực ra, để tạo ra chữ mới, tiếng Việt cũng như tiếng Cao Ly, Nhật,
quan thoại, đều mượn chữ Hán, hệt như người Âu mượn chữ La tinh, Hy Lạp. Khi
các bạn viết: électro-dynamique thì cũng giống như chúng tôi
dùng từ Hán-Việt vậy. Tại sao phải dùng từ Hán Việt? Ví dụ intuition dịch
là trực giác, trực là thẳng, giác là thấy, dễ hiểu hơn là phiên âm
thành anh-tuy-di-on hay giải nghĩa dài dòng sang tiếng Việt.
Nhưng có những tiếng có thể dịch thẳng sang tiếng Việt, như l’aréoplane thành tàu
bay hoặc automobile phiên âm thành ô tô; la
gare thành nhà ga. Về tên riêng, chúng tôi phiên âm
tên Napoléon thành những từ Hán Việt Nã Phá
Luân, bởi ba chữ này có âm vang chiến đấu; Washington thành Hoa
Thịnh Đốn vì âm vang thanh nhã hợp với đất kinh thành [6].
2. Ngày 31/5/1922 ông diễn
thuyết ở Ecole Nationale de la France d’Outre-Mer, thường được gọi là Trường
Thuộc địa (Ecole Coloniale) với đề tài: Sự tiến hóa về đường tinh thần
của người Việt Nam từ khi nước Pháp đặt Bảo hộ (L’évolution
intellectuelle et morale des Annamites depuis l’établissement du Protectorat
français). Trường Thuộc địa là trường dạy những người Pháp sẽ
sang Việt Nam làm công chức trong chính quyền thuộc địa.
Phạm Quỳnh nói cho "các quan cai
trị tương lai" biết rằng: nếu các bạn muốn thành công thì nên học tiếng
Việt, tìm hiểu văn hóa Việt. Mọi sự đàn áp đều đưa đến hậu quả khôn lường.
Nước Pháp đến nước chúng tôi đã nửa thế
kỷ. Chuyện đã rồi, chúng tôi đành phải chịu.
"Nhưng
đối với lớp đàn anh chúng tôi, thì chẳng qua quý quốc cũng chỉ là một giống
"xâm lược" mà thôi". "Trừ là một dân tộc hèn mạt suy đốn,
chứ có bao giờ người dân một nước lại giương tay ra đón lấy kẻ ngoại quốc đến
cưỡng chiếm nước mình".
Và ông nhấn mạnh:
"Sự căm
thù khiến chúng tôi coi việc học tiếng Pháp và học vần quốc ngữ do người Tây
phương đem lại là một cái nhục".
Nhưng dần dần, sĩ phu của chúng tôi cũng
phải thừa nhận sự yếu kém của nước mình, và họ đã tìm đọc những tư tưởng tiến
bộ của J.J. Rousseau, Montesquieu qua những cuốn Tân thư của
Trung Hoa, từ đó phát xuất phong trào Đông Du. Họ muốn trông cậy vào Tàu, Nhật
để đuổi Pháp ra khỏi xứ sở, mà biến cố 1908 [Trung kỳ dân biến] là cao điểm.
Ông kết luận bài diễn văn hết sức khôn
khéo:
"Chúng tôi là một dân tộc cổ
kính có một nền văn hóa lâu đời, ngày nay muốn hội nhập vào thế giới hiện đại,
nhưng dứt khoát không muốn từ bỏ nền văn minh, cái quá khứ mà tổ tiên đã để lại
qua nhiều thế kỷ. Chúng tôi muốn là chính mình. Muốn giữ lấy bản sắc của mình,
giữ lấy cái quốc hồn quốc túy của dân tộc mình.
Vì sự tình cờ
của lịch sử, chúng tôi phải chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Chúng tôi muốn được
nước Pháp giúp đỡ trong công cuộc cải cách, bởi nước Pháp là một cường quốc,
thông qua lịch sử, luôn luôn góp phần vào công cuộc tranh đấu giải phóng con
người".
3. Ngày 5/7/1922, Phạm Quỳnh
diễn thuyết ở Hội Ái hữu Đông phương (Société française des amis de l’Orient)
với đề tài: Thi ca Việt Nam (La poésie annamite).
Bài này giới thiệu hai mảng thi ca quan
trọng nhất của Việt Nam là ca dao và Truyện Kiều. Vào đề, ông nói ngay:
"Thi ca của dân tộc nào là đặc
biệt của dân tộc ấy, không thể dịch ra tiếng nước khác được. Dịch tức là diệt.
Mà muốn dịch, lại phải thông thạo cả hai thứ tiếng. Tôi có thể tự
hào biết rõ tiếng nước tôi, nhưng làm sao tôi biết hết những tinh vi trong
tiếng Pháp, vậy tôi dịch phải sai nhiều lắm. Muốn thưởng thức thơ
nước tôi, các bạn chỉ có cách học tiếng Việt".
Sau đó ông dịch một số câu ca dao và
giải thích những cái hay tuyệt vời không thể dịch sang tiếng Pháp được, ví dụ
hai chữ chiều chiều dịch thành soir soir thì
làm sao nói được nỗi buồn với dư âm day dứt tiềm ẩn trong âm thanh chiều
chiều.
Ông tìm mọi cách để thuyết phục chính
quyền Pháp một lần nữa: đừng bắt học trò Việt Nam phải học tiếng Pháp
từ nhỏ như học trò ở các thuộc địa Châu Phi, bởi vì nước chúng tôi có một
nền văn chương chữ Nôm kiệt xuất qua ca dao và truyện Kiều, và tôi đã mang sang
Pháp một bản dịch truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh đây này, các ông xem đi, tôi
khuyên các sinh viên sinh ngữ, ngoài tiếng Việt hàng ngày, nên học văn chương
Việt Nam, học thêm chữ Nho, để hiểu những danh từ Hán Việt và hiểu tiếng Việt.
"Muốn thưởng thức thơ nước tôi,
các bạn chỉ có cách học tiếng Việt".
4. Ngày 22/7/1922, Phạm
Quỳnh diễn thuyết tại Hội Hàn Lâm Luân lý Chính trị học (Académie des Sciences
morales et politiques) đề tài: Một vấn đề giáo dục giống nòi. Nước Pháp
phải giáo hóa người An Nam như thế nào? (Un problème d’éducation des
races. Comment doit-être faite l’éducation des Annamites par la France?). Đây
là bài quan trọng nhất, bàn thẳng vào chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam,
từ những dòng đầu, ông đã nhắc khéo đến vị thế, quyền lực và sự uyên bác của
các vị Hàn lâm:
"Tòa Hàn
Lâm của Đại Pháp, là nơi tẩu trạch [7] những
ngài học vấn uyên thâm, khôn ngoan tài trí của quý quốc…" [8]
Tiếp đó, ông nhận xét tình hình: Chúng
tôi đã bị Pháp đô hộ hơn 40 năm nay. Bởi yếu thế về chính trị, nên đã
không "đủ sức chống lại một kẻ xâm lược vừa giỏi vừa mạnh hơn
nhiều". Chúng tôi thua trận vì: "nước chúng tôi là
gốc ở một cái văn minh rất cổ ở Á Châu, trong bao nhiêu thế kỷ tựa hồ như cách
biệt với thế giới bên ngoài".
Trước Hàn Lâm Viện Pháp, Phạm Quỳnh xác
định một lần nữa: Pháp là kẻ xâm lược, sau nông nỗi
mất nước buổi đầu, những phần tử ưu tú của đất nước chúng tôi mới nhận
thức được sự yếu kém về học thuật của mình, muốn được thấm nhuần "cái
học thuật và cái văn minh nhân đạo" của nước Pháp. Chúng tôi là một
dân tộc bị áp bức, trông chờ nước Pháp - cái nôi của nhân quyền và giải phóng
con người - giúp đỡ, học hỏi để trở thành một nước tân tiến.
Tóm lại: chúng tôi rất mong được
giáo hóa, nhưng quý quốc định giáo hóa chúng tôi như thế nào? Sau khi
bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi, dường như quý quốc chưa tìm được
giải pháp nào ổn thỏa.
Nếu chúng tôi là một dân tộc vô văn hóa,
hay một dân tộc mới, vừa xuất hiện trên mảnh đất tân bồi nào đó, không có quá
khứ, không có lịch sử, thì việc "giáo hóa" có thể đơn giản là
"Tây hóa" cho thành người Pháp.
Nhưng dân
Việt Nam chúng tôi, không thể ví như tờ giấy trắng được. Dân tộc chúng tôi là
một quyển sách cổ (un vieux parchemin) đầy những chữ viết bằng một thứ mực
không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay; không có thuốc gì xóa hẳn được thứ chữ ấy
đi. Không ai có quyền tự do muốn viết gì vào đấy thì viết được. Quyển sách cổ
ấy, có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang, nhưng không thể đem in một
thứ chữ nước ngoài lên trên các dòng chữ cũ được".
Giả thử có một ngày bao nhiêu trẻ con An
Nam đều biết nói mấy câu tiếng Tây "ba rọi" (petit nègre), nhưng lại
quên tiếng nước mình, vì không còn được dạy ở trường nữa, thì đó có
phải là thời tiến bộ của nước tôi không?
Hiện nay, chưa có nghị định nào bắt
người An Nam phải học thuần tiếng Pháp cả, nhưng chữ An Nam chỉ có một
địa vị rất nhỏ ở cuối bậc tiểu học mà thôi. Thử hỏi chính phủ Pháp có
thể trông cậy vào những người An Nam học ở bên Tây, đỗ kỹ sư, tiến sĩ, mà quên
cả tiếng mẹ đẻ, thì đối với dân mình, chỉ là những người xa lạ, làm sao có thể
truyền bá cái văn minh Tây phương cho họ được?
Vậy nền giáo dục của chính phủ Bảo hộ,
muốn có kết quả tốt thì phải đào tạo được những người Việt Nam chân chính, vừa
có cái học thái tây, vừa biết giữ gìn ngôn ngữ, phong tục của nước mình. Vì dân
tộc tôi mà tôi tha thiết mong các danh sư của Viện Hàn Lâm Pháp soi xét vần đề
này [9].
Bốn bài diễn văn của Phạm Quỳnh đọc năm
1922 tại Paris đã có tác dụng. Chính phủ Pháp bỏ ý định cho trẻ con học toàn
tiếng Pháp từ lớp vỡ lòng.
Phạm Thế Ngũ viết: "Đến năm
1924, vì nhiều nguyên nhân chính trị, và cũng vì chiến dịch vận động của Phạm
Quỳnh, người Pháp lần đầu ở Bắc và Trung, lập ra một bậc Ấu học ở Việt Nam
trong ba năm hoàn toàn học bằng tiếng Việt để thi lấy bằng Sơ học yếu lược.(…)
Phạm Quỳnh
coi đó là một thắng lợi trong công cuộc vận động giáo dục, thực hành chủ nghĩa quốc gia về đường văn hóa. Cũng như một thắng lợi khác nữa của ông là việc
mở một khoa "Ngôn ngữ và văn chương Hán Việt" ở trường Cao đẳng mà
ông đã được cử phụ trách giảng dạy, một thứ mầm mống của Đại học văn khoa sau
này" [10].
Như vậy, Phạm Quỳnh có công thuyết phục
Pháp lập bậc tiểu học tiếng Việt. Nhờ ông, Pháp đã giữ lại tiếng Việt ở bậc
tiểu học, cái công đó không phải là nhỏ.
Tóm lại, sau Trương Vĩnh Ký và Huỳnh
Tịnh Của, đến phiên Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, xây dựng, phát triển và phổ
biến chữ quốc ngữ.
Nam Phong quay lại những giá trị của Nho
học, Phật học, dịch những sách chữ Nho có giá trị như Vũ trung tùy bút,
và bắt đầu giới thiệu triết học Tây phương. Danh từ triết học được mở rộng với
Nam Phong thập niên 1920-1930. Năm 1942, Hoàng Xuân Hãn cho in từ điển Danh
từ khoa học, chúng ta mới tương đối có đủ chữ quốc ngữ để dùng trong học
thuật.
Về mặt sáng tác, Nam Phong số 18 (tháng
12-1918), đã đăng truyện vừa Sống chết mặc bay của Phạm Duy
Tốn, với cái tít: Một lối văn mới, cùng lời giới thiệu trân trọng
của Phạm Quỳnh. Sống chết mặc bay là truyện ngắn hiện đại đầu
tiên ở miền Bắc, viết theo lối hiện thực tả chân. Nhưng Phạm Duy Tốn viết ít,
và ông mất sớm (ngày 25-2-1924) vì bệnh lao, nên lối văn rất mới của ông chưa
kịp phát triển, chưa tạo được một phong trào, trong khi đó giọng điệu lãng mạn,
than mây khóc gió, phát triển, nở rộ trên Nam Phong và làm chủ văn đàn miền
Bắc.
Tuyết Hồng lệ
sử
Trên Nam Phong, từ số 77 (tháng 11-1923)
đến số 84 (tháng 10-1924), Phạm Quỳnh cho đăng Tuyết Hồng lệ sử của
Từ Trẩm Á, do Mai Khê dịch, một truyện tình đầy nước mắt, được Đoàn Hiệp
"người sao lục" giới thiệu như một truyện mới (xảy
ra đầu năm 1909), văn mới. Đây là cuốn nhật ký của người thanh niên
tên Mộng Hà, Từ Trẩm Á "tình cờ" có được, nên gửi đến độc giả.
Nhật ký bắt đầu từ tháng Giêng năm Kỷ
Dậu (1909), Mộng Hà, được một người bạn giới thiệu cho một chỗ dạy học, tại
trường của Thạch Si. Chàng lại được cụ Thôi đề nghị cho ở trọ nếu chàng nhận
kèm đứa cháu tên Bằng Lang, 8 tuổi. Mẹ Bằng Lang là Bạch Lê Ảnh, con dâu cụ
Thôi, góa chồng, trẻ, đẹp, giỏi thơ văn.
Rồi "ngày xuân lần lửa, én
lại oanh về, ngọn gió lơ phơ, giọt mưa lấm tấm, trông ra cây lê thì hoa đã rụng
đầy vườn: đa tình ta lại cười ta, yêu hoa là tính, thương hoa là tình", Mộng
Hà bắt chước Giả Bảo Ngọc trong Hồng lâu mộng, nhặt những cánh hoa
rụng đem chôn. Lê Ảnh, nép sau dậu cây, sụt sùi nước mắt. Hai tâm hồn đồng điệu
gặp nhau trở thành tri kỷ. Họ trao đổi thơ từ, ngâm vịnh. Nhưng Lê Ảnh biết
mình không thể lấy được Mộng Hà [11],
bèn làm mối chàng cho Quân Thiến, cô em chồng, cũng trẻ đẹp, tài hoa, không
kém. Quân Thiến chỉ muốn sống tự do, không thích ràng buộc gia đình, nhưng phải
nghe lời chị dâu và cha. Lê Ảnh thấy sự hy sinh của mình vô ích, còn làm em
chồng đau khổ, nàng thổ huyết chết, để lại thư tuyệt mệnh cho Mộng Hà và Quân
Thiến. Đọc thư chị dâu, Quân Thiến thổ huyết chết theo, chưa kịp cưới. Mộng Hà
cũng định chết theo, nhưng người anh khuyên chàng nên đi du học, giúp nước.
Truyện Tuyết Hồng lệ sử chấm dứt ở đây. Trước Tuyết
Hồng lệ sử, Từ Trẩm Á đã viết truyện Ngọc lê hồn, với
đoạn kết: Mộng Hà, trong khi đi xung trận để bảo vệ tổ quốc, bị thương nặng,
nằm trên một cánh đồng, gặp một người đi ngang, chàng rút tập nhật ký của mình
trao lại và nhờ phổ biến, rồi mới chết. Người này trao lại cho Từ Trẩm Á.
Tuyết Hồng lệ
sử văn chương
trau chuốt, có rất nhiều thơ (dịch) hay. Lối văn biền ngẫu xen lẫn tả thực, có
chỗ hấp dẫn. Tuy nhiên nằm trong lối sáng tác cổ điển, có những giả tạo đến độ
kỳ khôi: yêu nhau đến chết như thế, sao không đem nhau đi trốn cho rồi, hơi đâu
"hy sinh" cho mệt xác. Mà hy sinh cho người yêu lấy em chồng, ra vào
gặp nhau, làm sao "hy sinh" nổi. Rồi bất cứ gì cũng khóc, cũng ốm
liệt giường, cũng thổ huyết chết.
Lúc đó người ta thích đọc loại truyện
như vậy, đó là cái gu thời đại, Tuyết Hồng lệ sử là sách gối
đầu giường cho một thế hệ nam nữ. Cái tai hại là thất tình mua sách đọc rồi thi
nhau đi tự tử.Hoàng Ngọc Phách - Nhất LinhTố Tâm và Nho phong
Năm 1922, Hoàng Ngọc Phách viết Tố
Tâm (in 1925), cũng là một truyện tình đẫm lệ thời thượng: Tố Tâm - Đạm
Thủy yêu nhau tha thiết nhưng, Đạm Thủy đã trót hứa hôn. Mẹ Tố Tâm bệnh nặng,
bắt con gái phải lấy chồng trước khi bà chết. Tố Tâm vâng lời. Bà mẹ chữa khỏi
bệnh, còn nàng, một tháng sau khi về nhà chồng, thổ huyết chết, để lại những
bức thư tình đớn đau tuyệt vọng.
Tố Tâm viết hay, câu văn cổ nhưng cấu
trúc truyện chặt chẽ, cũng là cuốn tiểu thuyết gối đầu giường của thanh niên
thời ấy. Trong một thời gian dài, Tố Tâm được coi là tiểu
thuyết hiện đại đầu tiên của Việt Nam, không đúng, vì Hồ Biểu Chánh đi trước
Hoàng Ngọc Phách.
Năm 1924, Nguyễn Tường Tam viết Nho
phong (in năm 1926), cùng lối viết như Tố Tâm, nhưng không
có chết chóc. Nho Phong bút pháp mới hơn, nhưng không hay bằng
Tố Tâm. Lê Nương trong Nho phong là người đàn bà, đã cam
phận, đã chịu đựng, đã hy sinh. Tuy nàng có trổi dậy, chống lại cuộc hôn nhân
dàn xếp, chứ không chịu trận như Tố Tâm; nhưng cuối cùng nàng vẫn mong sự
"vinh quy bái tổ muộn màng" của một thời đại đã qua. Nhất Linh
cho Nho phong là cổ, nên sau này ông không in lại. Trên
Phong Hóa số 15 (29/9/1932), Đông Sơn (Nhất Linh) đã thẳng tay đưa ma Nho
phong cùng với những tác phẩm than khóc khác trong bức tranh trào
phúng Một đám ma vui.Đông Hồ - Tương PhốLinh Phượng của Đông Hồ
Nam Phong số 128 (tháng 4-1928),
đăng Linh Phượng, tập lệ ký của Lâm Trác Chi tức Đông Hồ với
lời giới thiệu ân cần của Thượng Chi (Phạm Quỳnh).
Đông Hồ Lâm Tấn Phác (1906-1969), sống ở
Hà Tiên, là một trong những người tha thiết cổ võ cho quốc ngữ, thường gửi bài
cho Nam Phong. Ông là người Nam nhưng viết văn tiếng Bắc, văn ông gọn và mới.
Linh Phượng là tên vợ và cũng là tên bài lệ ký viết về người vợ mới chết, gửi
đăng ngay, nên có sức nóng bốc ra từ chữ. Lệ ký này đớn đau mà khô ráo vì lệ
không rơi ra ngoài. Mặc dù bài văn có nhiều cái chết, nhưng không giả tạo, tác
phẩm mộc mạc, chân thành, ít thấy trong số văn thơ than khóc thời bấy giờ. Ông
kể lại từ lúc vợ chớm bệnh đến lúc chết, đám tang, chôn cất, thăm mộ, bằng một
giọng tự nhiên, không làm văn và cũng không khóc than thảm thiết. Vợ mất ngày
19-4-1928, nàng lấy chồng năm 1921, sinh con gái đầu lòng Mỹ Tuyên, rồi sinh
thêm hai lần nữa, con trai, đều chết. Đứa bé sau vừa chết 20 ngày thì mẹ cũng
chết theo.
"Tôi
thay quần áo cho nàng. Than ôi! Từ ngày về với tôi - năm 18 tuổi, năm nay 25
tuổi - bảy năm nay tôi chưa hề biết thay áo chải đầu cho lần nào. Bây giờ tôi
biết thay áo, chải đầu cho thì nàng đã chẳng còn rồi".
Bài lệ ký Linh Phượng, chân thật, giản
dị, tự nhiên, có lẽ vì vậy nên độc giả thời ấy cho là tầm thường, không nổi
tiếng như Giọt lệ thu của Tương Phố.
Giọt lệ thu, Tương Phố
Tương Phố (1896-1973), tên thật là Đỗ
Thị Đàm, sinh tại Bắc Giang, nguyên quán Hưng Yên, trước học trường Nữ Hộ sinh,
Hà Nội rồi bỏ dở, sau học trường Nữ Sư phạm. Theo những gì bà viết trong Giọt
lệ thu, ta được biết: Năm 17 tuổi (1915), bà kết duyên với TVD [Thái Văn
Du, em quan Thượng thư Thái Văn Toản]. Năm 1916, vừa mới sinh con trai đầu
lòng, chồng lên đường sang Pháp học y khoa ở Marseille. Con vừa đầy tháng, bà
bế con ra Bắc sống với cha. Cuối năm 1919, chồng bị bệnh phổi, phải trở về Huế,
chưa gặp lại vợ con, đã mất ngày 25-7-1920.
Bài Giọt lệ thu ở dưới
đề: Viết ở sông Thương mùa thu năm Quý Hợi (1923). Năm 1925,
bà tái giá với quan tuần phủ Phạm Khắc Thành. Năm 1928, bà gửi bài Giọt
lệ thu cho Nam Phong, được đăng trên số 131 (tháng 7-1928), với lời
giới thiệu ưu ái của Thượng Chi (Phạm Quỳnh). Tương Phố trở thành "ngôi
sao" trên nền thơ hồi ấy.
Giọt lệ thu là một bài văn xen lẫn thơ, viết
theo lối Tuyết Hồng lệ sử, kể lại câu chuyện tình của bà, mở đầu
như sau:
Trời thu ảm
đạm một mầu
Gió thu hiu
hắt thêm rầu lòng em
Trăng thu
bóng ngả bên thềm
Tình thu ai
để duyên em bẽ bàng!,
Anh ơi! thu
về như gợi mối thương tâm. Mỗi độ thu sang, em lại vò lòng than khóc. Nghĩ năm
có một lần thu, nhưng thu năm nay đi, năm sau còn trở lại; hỏi ba sinh hương
lửa, thời ân ái kia dễ mấy kiếp hẹn hò nhau? Chẳng hay cơ trời dâu bể vì đâu,
chăn gối vừa êm, lửa hương mới bén, sát cầm dìu dặt ngón đàn, bỗng ai xô lộn
bình tan gương vỡ cho người dở duyên! Than ôi! minh dương đôi ngả, gió mây hội
ấy, anh đi đi mãi, năm tháng thường về, người không dấu vết. Em muốn tìm anh,
tìm chẳng thấy…"
Thơ Tương Phố hay, cái hay cổ điển. Văn
bà chải chuốt, đối xứng. Thơ văn của bà chưa thoát khỏi những mẫu mực của thế
kỷ XIX.
Năm 1930, bà gửi bài Tái tiếu
sầu ngâm đăng trên Nam Phong số 147 (tháng 2-1930), trong mục văn
uyển, bài này làm sau khi tái giá, diễn tả phận mình, gái góa, con côi, phải
lấy chồng [làm quan nhưng có lẽ già và khó] để có chỗ nương thân, nhưng không
tìm được hạnh phúc:
E dè buổi gió
chiều mưa,
Con côi mẹ góa,
dễ nhờ nương đâu?
Bước đi âu
cũng thương nhau,
Dừng chân
đứng lại cơ mầu dở dang.
Dây loan chắp
nối đoạn tràng,
Ngâm câu
"tái tiếu" hai hàng lệ sa!
Năm 1931, bà gửi bài Khúc thu
hận, đăng trên Nam Phong số 164 (tháng 7-1931), thuộc dòng thơ ai oán,
khóc than thân phận bẽ bàng:
Kể từ độ
phong trần lạc bước
Mười lăm năm
mặt nước cánh bèo
Gieo lòng
theo ngọn thủy triều
Lên đênh thôi
cũng mặc chiều nước sa!
Con măng sữa
này đà mười sáu,
Chốn hầu môn
nương náu đức dầy,
Sách đèn cơm
áo bấy nay,
Vì con nuốt
hết chua cay cuộc đời!
(Bệnh viện Nam thành, thu năm Tân vị
- 1931)
Có nhiều chỗ khó hiểu trong đời bà: Năm
1916, khi chồng đi du học, tại sao bế con ra Bắc ngay mà không ở lại nhà chồng,
như phong tục hồi ấy? Rồi khi chồng bị lao, trở về nước cuối năm 1919, mãi đến
giữa năm 1920, mới mất, tại sao bà không đưa con về Huế thăm chồng? Bà có
chuyện lục đục với nhà chồng chăng, hay vì lý do gì khác? Năm 1925, bà tái giá.
Im lặng trong ba năm. Không hiểu tại sao, bài Giọt lệ thu lại
được gửi đi năm 1928, có phải vì bài Linh Phượng của Đông Hồ
đã thúc đẩy?
Dù sao chăng nữa, sự than van cách biệt
Nam Bắc với chồng khi còn sống, dường như giả tạo, tự mình gây ra, bởi vì nếu
muốn, bà đã giải quyết được. Vậy ta có thể coi cái chết của người chồng chỉ là
cái cớ để Tương Phố làm thơ, mùa thu hay khóc lóc đều giả tạo. Thơ Tương Phố
nối tiếp truyền thống Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc,
bằng chữ quốc ngữ, đưa ra mối sầu của người góa phụ khóc chồng.
Trong buổi giao thời ấy, văn thơ quốc
ngữ còn bị giam trong vần điệu, bị chi phối bởi những hình ảnh sáo mòn, tình
cảm giả tạo.
Tự Lực văn đoàn đã phiêu lưu trên con
đường học tập viết văn quốc ngữ, quyết đánh đổ niêm luật trong thơ,
sự đối xứng trong văn, chôn những chết chóc triền miên, diệt những sướt mướt
trong tư tưởng đương thời, chủ trương đổi mới ngôn ngữ, thành lập một nền văn
chương quốc ngữ hiện đại và trong sáng cho tiếng Việt: Sự khác biệt sau xa
giữa Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách (1925) và Hồn bướm mơ
tiên của Khái Hưng (1932), cho thấy bước tiến khổng lồ mà Tự Lực văn
đoàn đã thực hiện được, ngay từ năm đầu tiên xuất hiện.
Chú thích:
[1] Trần Văn Chi, Gia Định Báo,
in trong Kỷ yếu và triển lãm hội thảo Trương Vĩnh Ký do Ban tổ
chức xuất bản tại Cali, năm 2019.[2] Theo Đỗ Quanh Chính, Lịch
sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn, 1972.[3] Theo bài Sự hình thành và
phát triển nền văn học quốc ngữ trong thế kỷ XX của Thụy Khuê, in trên
báo Văn Học số 165-166 (tháng 1 và 2 năm 2000), California, viết theo tài liệu
trong Hồ sơ Lục Châu học của Nguyễn Văn Trung.[4] Trích hồi ký Đời của tôi
về văn nghệ của Hồ Biểu Chánh, bản đánh máy.[5] Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số
69 (3/1923) và số 70 (4/1923). [6] Để biết thêm về Phạm Quỳnh, Nguyễn
Bá Trác và Nam Phong, xin xem Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái
Quốc, chương 22: Vụ án Nam Phong, nxb Tiếng Quê Hương, Hoa
Kỳ, 2012. In trên mạng: thuykhue.free.fr [7] Tẩu trạch là chỗ đất
thấp có nước và cỏ, chữ của Phạm Quỳnh, bản tiếng Pháp ông viết sanctuaire (chính
điện, hay thánh địa).[8] Trích theo bản dịch sang tiếng
Việt của Phạm Quỳnh, in trong Nam Phong số 71 (5/1923). [9] Ở đây cũng vậy, chúng tôi chỉ tóm
tắt những ý chính trong bài diễn thuyết ở Viện Hàn Lâm của Phạm Quỳnh, Những
đoạn in nghiêng là nguyên văn tiếng Pháp, chúng tôi dịch sang tiếng Việt.[10] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên, quyển 3, Anh Phương Ấn quán, 1965, Sài Gòn, Đại
Nam, Hoa Kỳ chụp in lại, trang 150. [11] Vì nàng là góa phụ, đã có con.
Đổi mới ngôn
ngữ và tư tưởng
“Ta cầu cũ [2] [cùng] đức
chúa blời [trời] giúp sức cho ta biết tó tưầng [tỏ
tường] đạo chúa lạ nhuầng [nhường] nào, vì bậy [vậy] ta
phải hay ở thế nầy chẳng có ai sóũ [sống] lâu; vì
chưng kẻ đến bảy tám mươi tuẩi [tuổi] chẳng có nhềo [nhiều]” [3]đến câu văn quốc ngữ ngày nay, không ai
chối cãi được công lao của các thầy giảng người Việt những thế kỷ trước, của
Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và các học giả cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong những bước đầu xây dựng và phát triển nền văn
học quốc ngữ.Tuy nhiên, ta cũng phải công nhận lối
viết “gió chiều hoa sớm, bể ái chứa chan, phượng họa loan ca, tình thơ bát
ngát” của Tuyết Hồng lệ sử, Giọt lệ thu… vì
được Nam Phong phổ biến, đã “làm chủ văn đàn”, khiến những
người viết văn làm thơ thập niên 1920-1930, phần lớn đều rập theo “con đường bi
thảm” ấy.Sự khóc than trở thành “lẽ sống”, là
“nỗi đau thời đại”. Câu văn biền ngẫu (đối xứng) là mẫu mực của cái đẹp. Cũng
vì lẽ đó mà Tự Lực văn đoàn chế giễu Nam Phong, bởi nơi đây tập
trung những ngòi bút nho học, chưa thoát khỏi câu văn cổ điển, là điểm phát
xuất lối văn bi thảm, ảnh hưởng sâu sắc Trà hoa nữ (La dame
aux camélias) (1848) của Alexandre Dumas fils và Tuyết hồng lệ sử (1909)
của Từ Trẩm Á.Tóm lại, Nam Phong vừa
quảng bá học thuật (triết học Đông Tây) và phát triển chữ quốc ngữ, lại vừa kìm
hãm sự đổi mới, vì học giả Phạm Quỳnh, người chủ chốt, viết một thứ quốc ngữ
nặng từ Hán Việt, và các cộng tác viên Nam Phong vẫn còn
chuộng văn biền ngẫu. Tình trạng mâu thuẫn này được chính các nhà văn, dịch giả
trong Nam Phong giải thích như sau:Trả lời phỏng vấn của Lê Thanh, Tùng Vân
Nguyễn Đôn Phục (người dịch bộ Luận ngữ và bộ Mạnh
Tử cùng với Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, trên Nam Phong) cho
biết về nội bộ tờ báo:“Khi ấy, ông Phạm Thượng Chi đứng chủ
nhiệm kiêm chủ bút; về Hán văn có ông Tiêu Đẩu [Nguyễn Bá Trác], sau
khi ông này vào kinh làm việc, có ông Sở Cuồng [Lê Dư] vào
thay; ông Đông Châu [Nguyễn Hữu Tiến] làm việc dịch thuật Hán
Văn, còn tôi, ngoài việc dịch thơ đăng vào mục “Văn uyển” chuyên
về mặt văn chương, viết những bài nghị luận về văn học, triết lý, viết những
mục du ký, hài văn…” [4]Sau đó, Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục cho
biết quan điểm của ông về cách viết tiếng Việt:“Tiếng Nam ta cũng như tiếng Tầu, là
tiếng độc âm, cái đặc sắc của nó là sự đối ngẫu trong câu văn. Mình sao nhãng
sự cân đối là mình bỏ mất cái đặc sắc của văn chương mình” [5]Trúc Khê (Ngô Văn Triện), một nhà văn
trẻ hơn, người đã dịch Ngọc Lê Hồn của Từ Trẩm Á sang quốc
ngữ, kể lại lối viết của ông hồi ấy:“Thế mà nay trời bầy vân cẩu, đất đổi
tang thương, nhà tan một khắc, mình giạt đôi phương… văn tiểu thuyết của tôi
hồi trước viết kỳ cục đến thế! Vì tôi đã dịch cuốn tiểu thuyết Ngọc Lê Hồn của
Từ Trẩm Á, nên chịu ảnh hưởng lối văn của nhà văn sĩ này”. Và
ông cho biết thêm: Mãi đến năm 1938, khi ra Hà Nội, đọc được những
tiểu thuyết mới, ông mới viết các cuốn Nát ngọc, Hồn về, Trăm
lạng vàng, khác hẳn lối văn ngày trước [6].Tuy nhiên có một trường hợp đặc biệt mà
chúng ta không thể quên, là học giả Trần Trọng Kim và Việt Nam sử lược,
cuốn lược sử đầy đủ và trung thực nhất vì ông dựa vào hai bộ chính sử của nước
ta là Đại Nam thực lục và Đại Nam liệt truyện,
khác với một số người viết sau ưu tiên dựa vào sách của các sử gia thực dân như
Maybon, Taboulet, Thomazi… để đưa ra một số điểm được cho là “mới”, nhưng sau
khi khảo sát, thì đó chỉ là những sự ngụy tạo lịch sử.Điểm quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở
đây là học giả Trần Trọng Kim đã viết Việt Nam sử lược ngay từ
năm 1916 [7] (in
năm 1918), không những đây là quyển sử đầy đủ đầu tiên của nước ta viết bằng
quốc ngữ [8] mà
ông còn viết với thứ chữ quốc ngữ hiện đại, bỏ hẳn lối văn
biền ngẫu, vì thế Việt Nam sử lược mới có thể đến được với
toàn dân và ở lại lâu dài đến thế; rất đáng buồn là hiện nay, chúng ta vẫn chưa
có cuốn sử lược nào trung thực có thể thay thế được.Trước tình trạng đó, một vấn đề cấp
thiết được đặt ra: cần phải đổi mới ngôn ngữ và văn chương. Nhưng
phải đổi mới như thế nào? Thực hiện sự đổi mới không dễ dàng, bởi vì cả thành
trì cũ vẫn còn ngự trị trong đầu óc người viết và người đọc.Chủ trương
đổi mới của Khái HưngKhái Hưng mở đầu phong trào đổi mới
trên Phong Hóa, với bài xã luận Một câu hỏi, ký
tên Trần Khánh Giư, in trên Phong Hóa số 3 (30-6-1932), trực
tiếp đặt câu hỏi: tại sao không cho con gái đi học? Ông lên án chế độ cũ, không
cho con gái đi học để dễ đàn áp. Bởi “Có học mới biết xét đoán mà hấp thụ
lấy một lý tưởng hoàn mỹ. Có học mới biết lựa chọn cái hay, ruồng bỏ cái dở, có
học mới biết so sánh”. Bài đầu tiên của Khái Hưng trên Phong
Hóa bênh vực phụ nữ, phản ảnh tư tưởng đổi mới xã hội từ nguồn cội của
ông. Trước Khái Hưng, Phan Khôi đã nêu vấn đề này trên Phụ Nữ Tân Văn từ
giữa năm 1929, vì vậy, có sự đồng tình giữa hai nhà văn, và họ còn gặp nhau ở
một điểm nữa, đó là việc xây dựng nền thơ mới, như ta sẽ thấy,
trong một chương sau.Chủ trương đổi mới ngôn ngữ của Khái
Hưng, bắt đầu bằng sự đào thải căn bệnh “buồn khổ” trước, rồi mới thay đổi cách
viết câu văn sau.1- Đào thải
bệnh sầu não, tự tửẢnh hưởng các vụ tự tử tràn lan trên
sách truyện thời ấy, con người lấy tự tử làm phương tiện giải thoát, rồi trở
thành mốt thời thượng.Trên Phong Hóa số 6
(21-7-1932), Khái Hưng viết bài “Các vở kịch và cái nạn phụ nữ quyên sinh”
ký tên Phong Hóa, chỉ trích một vở kịch đang được trình diễn, lấy tự tử làm
vũ khí bảo vệ danh dự người phụ nữ, bởi vì, theo lập luận thời ấy, nếu không
“dùng” tự tử thì “vở kịch sẽ không thể là vở bi kịch được. Bi kịch phải có
tự tử”. Khái Hưng nhắc lại đoản thiên tiểu thuyết Cái
rổ bông của Tchya: “Lê Sinh chẳng muốn sống, ra hồ Hoàn Kiếm tự tử.
Bỗng thấy trong đám cỏ có cái rổ bông đựng một đứa con mới đẻ: sự chết gặp sự
sống. Lòng thương nhân loại, cái nhân loại bé nhỏ, hèn yếu, khốn nạn như vừa
lọt vào trong trái tim của anh chán đời”, làm thí dụ. Và ông kết luận: “Vậy
trước khi quyên sinh, ta hãy tìm xem có đứa hài nhi nào để cứu không, có còn
chỗ thương nào để buộc cho nhân loại không, ta sẽ thấy rằng dẫu ta sống đến mấy
trăm tuổi, các việc ta nên làm vẫn chưa hết”.Trong bài xã luận “Đừng âu sầu phiền
não” in trên Phong Hóa số 10 (18-8-32), mở đầu
cho chiến dịch “tiễu trừ sầu não” của Tự Lực văn đoàn, Khái Hưng ký tên
Phong Hóa, viết:“Cái bệnh khóc lóc lướt mướt, phiền
não âu sầu vẫn là cái bệnh chung của con nhà ngâm vịnh. Nhất là bọn ngâm vịnh
dở dang ở nước ta gần nay lại càng quá lắm. Động cầm bút viết thơ là thấy rung
rủng những ôi! những thôi! những sầu, những thảm. Nào than thân thì: “Trần thế
lòng ta chán sạch rồi”, nào than tình thì “nhớ tình nhân lệ sầu như sương”, nào
than phong hóa suy đồi, than quốc hồn tiêu diệt thì bao giờ cũng phải lôi mấy
câu sáo rích ra, những “ôi! dân hai mươi triệu, nước bốn nghìn năm”, những “ôi,
con rồng cháu tiên, chồi Hồng mầm Lạc!””Hơn một tháng sau, trên Phong
Hóa số 14 (22-9-1932) trong bài tiểu luận viết về Thơ ký
tên Văn Lực, Khái Hưng chủ trương bỏ tất cả những hình thức sáo mòn, sao chép
thơ cổ điển.Rồi Phong Hóa số 15
(29-9-1932) đưa ra chủ đề “chôn” sầu thảm, để nhấn mạnh và phụ họa với những
điều Khái Hưng đã viết trên Phong Hóa số 10, Việt Sinh (Thạch
Lam) viết bài xã luận Sầu thảm nhiều rồi và Đông Sơn (Nhất
Linh) vẽ tranh hài hước Một đám ma vui, tất cả tập trung đánh vào
thành trì cái cũ, cái chết chóc, thi đua tự tử.2- Đổi mới
văn chươngKhái Hưng, mở đầu mục Văn Học trên Phong
Hóa số 14 (22-9-1932), bằng bài tiểu luận viết về Thơ, ký
Văn Lực, chủ trương bỏ hết niêm luật gò bó trong thơ cổ điển, bỏ tất cả những
thành ngữ sáo mòn: “Tả người mỹ nữ thì bao giờ cũng phải: nghiêng nước
nghiêng thành, nhạn sa cá nhẩy, xanh như liễu, gầy như mai, làn thu thủy nét
xuân sơn. Tả thời gian thì phải: vùn vụt như tên bay, bóng ngựa qua cửa sổ. (…)
Sự giản tiện nhất cho ta là phê một chữ “bỏ”. Bỏ luật, niêm,
đối, bỏ điển tích, sáo ngữ. Nghĩa là tóm tắt: Đừng bắt trước [chước] cổ
nhân. Thơ ta phải mới: mới văn thể, mới ý tưởng”.Trên Phong Hóa số 15
(20-9-1932), mục Văn học có bài Quốc văn nó đi như sao… Văn
Lực [Khái Hưng] viết về đề tài quốc văn: Ông đặt vấn đề cần
phải đổi mới văn chương, với câu hỏi: Tại sao ta ít sách? Và ông trả lời, vì
hai lẽ:“1- Ngày trước văn tầu, các cụ thích,
các cụ viết. Ngày nay văn tây, ta học. Ta học để lấy mảnh bằng. Còn văn ta? Ta
bỏ. Ta khinh. Chán!2- Thiếu ý sáng
kiến, lối văn mới ta không có (…) ta viết bá láp, lăng nhăng. Hoặc ta theo
người xưa: lòng thòng.Còn ý tưởng?
Càng tệ. Càng cũ. Không mấy khi giám bước ra ngoài lũy tre trí thức nước Lỗ
(Khổng Mạnh) và nước Sở (Lão Tử).Quốc văn muốn
giàu phải có nhiều lối. Nhiều lối mới. Lối cũ nào không hợp thời: ta “phích”!Lại có tư
tưởng mới.Mới lên.Nào chúng ta
dúng tay vào việc. (Phỏng theo lối văn Hoàng Tích Chu)”.Văn LựcĐọc đoạn văn trên, với lối viết câu một
chữ, hai chữ, ba chữ… ta tưởng là văn Mai Thảo. Không! Đó là văn Khái Hưng và
ông còn ghi rõ, ông viết phỏng theo lối văn Hoàng Tích Chu.Điều này chứng tỏ Khái Hưng thích lối
văn mới của Hoàng Tích Chu, và ông sẽ nối tiếp con đường này, sau khi Hoàng
Tích Chu qua đời, để đặt nền móng cho một nền văn chương quốc ngữ mới, gọn
gàng, trong sáng, trên Phong Hóa.Nhất Linh
phỏng vấn Nguyễn Mạnh TườngKhông phải tình cờ mà Nguyễn Mạnh Tường
ở trong số rất ít người đã suy nghĩ về cách đổi mới văn chương quốc ngữ.Ông sinh ngày 16-9-1909 tại phố Hàng
Đào, Hà Nội và mất ngày 13-6-1997, tại phố Tăng Bạt Hổ, Hà Nội. Trước tiên ông
là người nổi tiếng học giỏi. Năm 1925, 16 tuổi, ông đậu tú tài triết học hạng
ưu, được học bổng sang Montpellier du học. Trong thời điểm Nhân Văn Giai Phẩm,
ông nổi tiếng với bài “Qua những sai lầm trong cải cách ruộng đất, xây dựng
quan điểm lãnh đạo”, diễn thuyết ứng khẩu trong sáu tiếng
tại Mặt trận Tổ quốc ngày 30-10-1956, sau viết lại thành văn
bản. Đây là bài chính luận sâu sắc nhất, phân tích những sai lầm trong cải cách
ruộng đất ở thôn quê, cải tạo tư sản và quản lý mậu dịch ở thị thành, chỉ ra
nguồn cội sai lầm đến từ chế độ chính trị không dân chủ và đề nghị thay đổi:
thực hiện thể chế nhà nước pháp quyền dưới chế độ dân chủ.Trở lại thập niên ba mươi, năm 1927,
Nguyễn Mạnh Tường đỗ cử nhân văn chương, năm 1930, đậu cử nhân Luật. Tháng
5-1932, ông bảo vệ luận án tiến sĩ Luật, đề tài: Cá nhân trong xã hội
Việt Nam cổ - Tổng luận Luật Hồng Đức [9]. Tháng
6-1932, bảo vệ luận án tiến sĩ Văn chương, bài chính là Giá trị bi kịch
trong tuồng của Alfred de Musset [10] và
bài bổ túc: An Nam trong các tác phẩm của Jules Boissière [11].Tháng 9-1932, Nguyễn Mạnh Tường về nước,
cùng lúc với Bảo Đại. Pháp muốn ông làm Thượng thư, nhưng ông từ chối, nên bị
làm khó dễ. Ba tháng sau ông quay trở lại Pháp [12] và
đi Âu Châu trong năm năm, đến năm 1936, mới trở về Hà Nội [13].Nguyễn Tường Tam sang Pháp du học trong
khoảng 1927-1930. Sau khi đỗ cử nhân Vật Lý, ông trở về Hà Nội cuối năm 1930.
Nguyễn Mạnh Tường về Hà Nội tháng 10-1932, sau khi đã đến Sài Gòn và diễn
thuyết về văn chương ở đây.Được tin, Nguyễn Tường Tam đến thăm bạn
cũ:“Ông Nguyễn Mạnh Tường là người Annam
đầu tiên đỗ bằng văn khoa tiến sĩ, lại là người đỗ luật khoa tiến tiến sĩ còn
trẻ nhất từ xưa tới nay (…)Tôi đến thăm
ông, nửa là tình bạn, nửa lấy tư cách nhà báo - đến thăm ông để ôn lại cuộc đời
lý thú còn cùng nhau học một tỉnh [Montpellier], trọ một nhà, để gợi những sự
vui buồn trước, những kỷ niệm đáng ghi trong quãng đời niên thiếu”.Mới đầu không định phỏng vấn, chỉ chuyện
trò, rồi thành câu chuyện, vì thế, trên Phong Hóa số 16
(6-10-1932) có bài Nói chuyện với ông Nguyễn Mạnh Tường, ý
chính dựa trên hai câu hỏi:- Tại sao ông lại chọn Alfred de
Musset làm đề tài cho luận án văn chương?Nguyễn Mạnh Tường trả lời (xin tóm tắt):
Đề tài luận án văn chương và luận án luật khoa của tôi có mối liên lạc với
nhau, cùng chủ đích làm sao cho người Annam và người Pháp hiểu nhau hơn. Tôi
chọn Musset là tác giả tiêu biểu cho văn chương Pháp và tôi đem cái hay trong
luật của ta [luật Hồng Đức] giới thiệu với người Pháp. Tôi còn làm thêm một
luận án nữa về thi sĩ Jules Boissière, để tỏ rằng Pháp “cũng có người hiểu
ta, mến ta, mà cái tình người một nước đối với người nước khác có thể gây nên
những áng văn chương tuyệt tác như vậy”.Câu hỏi chính thứ nhì:- Về đây, ông muốn làm trạng sư
hay dạy học?Nguyễn Mạnh Tường trả lời, đại ý:- Tôi muốn dạy học và viết sách
để truyền bá tư tưởng, trong khi chờ đợi sách ra thì tôi diễn thuyết.Bài nói chuyện này đã “gợi ý” cho Khái
Hưng viết bài “chất vấn” ông nghè Nguyễn Mạnh Tường trong số báo kế tiếp và bài
trả lời của Nguyễn Mạnh Tường tạo thành cuộc đối thoại về vấn đề đổi mới quốc
văn.Khái Hưng
trao đổi với Nguyễn Mạnh TườngTrên báo Phong Hóa số
17 (13-10-1932), trong mục Văn Học, Văn Lực (Khái Hưng) viết
bài Để còn hỏi ông nghè Nguyễn Mạnh Tường, chất vấn Nguyễn
Mạnh Tường về vấn đề: Phải đổi mới văn học, nhưng đổi mới bằng cách
nào?Trước hết, Khái Hưng trở lại sự đổi mới
trong văn học Pháp, ông viết:“Từ thế kỷ XVI, Ronsard đã cải cách
thi ca Pháp, đặt ra nhiều điệu mới, thế kỷ XVII, Corneille, Racine, Molière
chấn chỉnh bi kịch và hài kịch, đều lấy văn Hi-La ra làm mẫu. Vậy nếu ta cũng
thử đem Pháp văn mà bổ khuyết cho quốc văn, thì ông nghĩ sao?”Sau khi duyệt lại nền văn thơ cổ điển
của ta, Khái Hưng nhận thấy rằng: Văn thơ ta rập theo lối Trung Hoa, đã trở
thành quy củ, có những ưu điểm và khuyết điểm nhất định, nhưng có một điều:
Pháp văn từ thời Montaigne (thế kỷ XVI) đến nay đã biến chuyển rất nhiều, nhưng
nếu đem văn chương nước ta, thời Lý Thường Kiệt (thế kỷ XI), thời Lê Thánh Tôn
(thế kỷ XV), ra so sánh với thơ Nguyễn Khuyến, sẽ thấy chữ nghĩa dùng
không khác nhau một ly.Và ông đưa ra ba câu hỏi:- Ta không chịu cải cách, vì thiếu sáng
kiến hay vì sợ cái mới?- Ta có nên dựa vào văn Tàu và văn Tây
để xây dựng một nền văn chương giàu có hơn không?- Bao giờ ta mới có một nền quốc văn
xứng đáng?Nguyễn Mạnh Tường trả lời ba câu hỏi của
Khái Hưng trong hai bài Bàn về quốc văn, in trong mục Văn
Học (Phong Hóa số 18, 20-10-32 và số 19, 27-10-32), ông đi
trực tiếp vào vấn đề:“- Quốc văn có nên dùng các văn
chương ngoại quốc, nhất là văn Pháp và Trung Hoa làm mẫu chăng?- Tôi trả lời
không ngần ngừ: nên lắm.Văn minh của
loài người có bắt chước mới có tiến”.Ông lập luận tiếp: Bất cứ dân tộc nào,
nền văn minh nào, cũng chỉ có thể tiến bộ nhờ những kinh nghiệm học hỏi của
những dân tộc khác. Bắt chước, là sự cần thiết của nhân loại. Nhưng
khó khăn là phải biết bắt chước như thế nào? Về văn chương, bắt chước là
phỏng theo các lối văn, các cách viết mới, thích hợp với sự cần thiết của dân
tộc. Bắt chước không có nghĩa là viết y hệt như tiếng Pháp, tiếng Hoa, mà phải
viết chữ Annam, và viết như thế nào? Những nhà văn cổ điển của Pháp bắt chước
La-Hy, nhưng họ đã uốn theo nề nếp phong tục của dân Pháp. Nhà văn Việt Nam có
thể theo ý tưởng của nhà văn Pháp, Trung Hoa, nhưng đừng viết nguyên văn chữ
Pháp, chữ Tàu, mà phải viết chữ Annam, và đem cái ý tưởng Pháp, Hoa ấy, hòa
quyện trong tâm hồn Việt Nam, mới được.- Bao giờ ta mới có được nền
quốc văn đích đáng?- Cái đó tôi không biết được. Có
lẽ phải đợi hai thế kỷ.Rồi ông phân tích: Các nhà văn Pháp đã
bắt đầu bắt chước từ khi bị La Mã chinh phục. Trong suốt thời Trung Cổ, các nhà
văn Pháp chỉ viết văn bằng tiếng La Tinh. Đến thời Phục Hưng, cuộc canh tân của
nhóm Thất hiền [14] cũng
bị ít nhiều thất bại. Phần lớn công trình trước tác của Ronsard không ai hiểu
nổi. Phải đợi đến thế kỷ XVII mới thực sự có một nền văn chương Pháp.- Trong thời
kỳ xây dựng nền quốc văn thì văn chương bình phẩm [phê bình] quan trọng như thế
nào?- Văn bình phẩm có tầm quan trọng của
nó, vì nó có thể kiến chỉnh [xây dựng và chỉnh đốn] cái sở thích của công chúng
và dẫn đạo sự bắt chước của nhà văn. Nhà bình phẩm chỉ cho nhà văn cách bắt
chước thế nào, thì được vẻ tân kỳ, đặc biệt, tránh khó hiểu và thích hợp với
tri thức Annam. Nhưng trở nên một nhà bình phẩm cũng không phải dễ dàng, phải có
kiến thức sâu rộng. Nhà văn cũng vậy, phải biết nhiều, học rộng. Có học mới có
thể viết được.Điều tôi muốn khuyên các văn sĩ tương
lai là đừng quên việc dịch văn. Dịch văn là một cách tập viết văn rất công
hiệu. Muốn hiểu một áng văn, cách tốt nhất là đem dịch áng văn ấy sang tiếng
Việt. Dịch, không những là cố hiểu, và còn phải chuyển điều mình đã hiểu sang
quốc văn. Văn chương Pháp phần lớn nhờ vào các dịch giả của thế kỷ XVI. Amyot,
lưu danh trên văn đàn Pháp, chỉ là một dịch giả mà thôi. Và tôi [Nguyễn Mạnh
Tường], tôi dám chắc rằng ông Nguyễn Văn Vĩnh sẽ là một nhà dịch văn đáng ghi
tên trong lịch sử văn chương nước Nam. Tôi muốn nói thêm một điều nữa, là chỉ
nên bắt chước cái lối viết mà thôi, còn ý tứ, tư tưởng, trong bài
văn, là phải của mình. Một phần lớn văn chương của Ronsard không lưu truyền cho
hậu thế, bởi vì không những ông ta bắt chước văn thể, mà lại còn sao chép y hệt
tư tưởng của cổ nhân. “Nhiều người cho rằng có một nền văn chương cổ điển và
một nền văn chương lãng mạn. Lầm. Chỉ có độc nhất một nền văn chương: ở tay
người viết, viết ra, viết cho người đọc, đọc, mà thôi”. Nếu có
khác nhau là ở chỗ: “nhà cổ điển ngắm kẻ khác để tả người, còn nhà lãng mạn
thì tự ngắm mình để tả người”.Tiếc rằng, sau hai bài viết này, Nguyễn
Mạnh Tường trở lại Âu Châu năm năm, nên không góp phần vào việc đổi mới ngôn
ngữ và xây dựng nền văn chương quốc ngữ, trong giai đoạn chủ yếu này. Khi ông
về nước năm 1936, Tự Lực văn đoàn đã hầu như hoàn tất “sứ mạng” đổi mới.Hoàng Tích ChuHoàng Tích
Chu và cuộc đổi mới ngôn ngữHoàng Tích Chu (1897-1933) là nhà báo,
ông là người đã thực hành việc đổi mới ngôn ngữ ở miền Bắc,
sau Phạm Duy Tốn.Hoàng Tích Chu được coi là “ông tổ
văn mới” [15];
kém Khái Hưng một tuổi; đã đi Pháp hai lần để học nghề làm báo. Là anh của họa
sĩ Hoàng Tích Chù (1912-2003) và kịch tác gia Hoàng Tích Linh (1919-1990),
người đã tham gia Nhân Văn Giai Phẩm.Hoàng Tích Chu cho rằng: nói
tiếng Việt là một chuyện, nhưng khi phải viết tiếng Việt thành một câu văn quốc
ngữ lại là chuyện khác. Ông kể lại chuyện: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh
đều tập viết quốc ngữ bằng cách dịch chữ Pháp và chữ Hán. Phạm
Quỳnh dùng nhiều chữ Hán, nên câu văn nặng nề. Nguyễn Văn Vĩnh dịch thoát ý,
dùng nhiều tiếng thuần Việt nên câu văn nhẹ nhàng, sáng sủa hơn.Hoàng Tích Chu cũng tập viết
quốc ngữ bằng cách viết hai cuốn sách khi ông ở Pháp từ 1923 đến 1926.Từ 1921 Hoàng Tích Chu đã viết cho Nam
Phong và báo Khai Hóa của Bạch Thái Bưởi. Năm 1923,
ông vào Sài Gòn xuống tàu làm phụ bếp, qua Hồng Công, Thượng Hải rồi sang Pháp
học toán để sinh sống, và học nghề báo trực tiếp bằng cách đọc báo hàng ngày.
Ông học được ở Pierre Bertrand lối viết ngắn, gọn và ông nhận thấy “báo giới
nước Pháp trọng nhất người viết giỏi mục việc vặt, viết được việc vặt tức là
viết được thời sự, viết được các bài đại luận”.Trong thời gian ở Pháp ông viết hai cuốn
sách: Quân chủ với Âu Châu sau trận chiến tranh năm 1914 và Tự
do ngôn luận trong hồi cách mệnh nước Pháp. Viết xong hai cuốn sách này,
ông thấy mình viết văn dễ dàng hơn. Sách đem về in ở Sài Gòn, Hoàng Tích Chu kể
lại: “Diệp Văn Kỳ đã bình phẩm trên Đông Pháp thời báo là nó “cộc”, vì có
khi một câu chỉ có một, hai, ba chữ. Ông lại chê là nó “vụn”, vụn vì mỗi câu
một ý”.Năm 1926, ông về nước cùng với Đỗ Văn [16].
Năm 1927, ông trở lại Pháp, nghe các buổi diễn thuyết về nghề báo và dự các
buổi thuyết giảng ở đại học. Năm 1929, trở về nước, ông được mời làm chủ
bút Hà Thành Ngọ Báo của Bùi Xuân Học, ông lập mục “Câu
chuyện hàng ngày” và thực hiện sự cải tổ quốc ngữ, chủ trương viết văn
trong sáng, ngắn gọn, nhưng độc giả đã quen với lối văn dài dòng, cân đối,
không thích, viết thư chỉ trích. Một làn sóng chống lối văn Hoàng Tích Chu nổi
lên. Ông bị xỉ vả là “văn cộc”, “văn chó mửa”, chẳng ra Tàu cũng chẳng ra Tây.
Thục Điểu (Ngô Tất Tố) là một trong những người kịch liệt đả kích. Nhưng Phan
Khôi hết sức ủng hộ [17].Tháng 11-1929, Hoàng Tích Chu, Phùng Bảo
Thạch và Tạ Đình Bính (cha Tạ Trọng Hiệp) bỏ Hà Thành Ngọ Báo, sáng
lập Đông Tây tuần báo, tờ báo đổi mới đầu tiên trên đất Bắc. Thành
công. Ngày 28-5-1932, Đông Tây ra hàng ngày, nhưng chỉ hai
tháng sau, thì bị đình bản (25-7-1932). Hoàng Tích Chu cộng tác với Thời
Báo, đến số 20, lại bị cấm.Phong Hóa mời
Hoàng Tích ChuPhong Hóa số 14 ra đời, tháng 9 năm 1932,
hai tháng sau khi Đông Tây của Hoàng Tích Chu bị đình bản.Khái Hưng, Nhất Linh, mời Hoàng Tích Chu
cộng tác, nên mới có bài Những việc chính cần biết trong tuần lễ này của
Thiện Căn, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32), mà tôi đoán chắc
là của Hoàng Tích Chu. Sau đó, trên Phong Hóa số 19 (27-10-32)
còn có vở hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem của
H.T.C. và trên Phong Hóa số 22 (18-11-32) lại có hài
kịch Mọt đục cứt sắt của H. Thiện Căn. Tiếp đến Phong
Hóa số 25 (9-12-32) có bài Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát Tót,
Juillet) của HTC.Trừ khi có ai chứng minh được HTC là tên
người khác, tôi chắc chắn đó là tên của Hoàng Tích Chu, vì ở thời ấy, không mấy
ai viết được tiếng Việt, mới và hay như vậy.Ba tác phẩm này cho phép ta xác định lối
viết và sự cách tân quốc ngữ của Hoàng Tích Chu. Và có thể quả quyết cả Khái
Hưng lẫn Nhất Linh đều chịu ảnh hưởng của Hoàng Tích Chu.Nhất Linh đi Pháp du học sau Hoàng Tích
Chu, ông cũng đã “học” nghề làm báo ở Pháp bằng cách đọc báo Pháp như Hoàng
Tích Chu.Nhất Linh đem cái hài hước của báo Pháp
vào Phong Hóa nhưng ông chưa nghĩ đến việc đổi mới ngôn ngữ.
Khái Hưng chủ xướng việc đổi mới ngôn ngữ nhưng chưa nghĩ đến việc đem tranh
hài hước vào báo Phong Hóa. Hai nhà văn này luôn luôn đi đôi và bổ
sung cho nhau.Việc đổi mới ngôn ngữ trên Phong
Hóa là do Khái Hưng tìm tòi và chủ xướng, ông chịu ảnh hưởng của Hoàng
Tích Chu. Ngoài ra, Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, và Thế Lữ, đều
phải tự học để có thể viết bất cứ mục nào cũng được, theo đúng nguyên tắc làm
báo của Hoàng Tích Chu: “người viết giỏi mục việc vặt, viết được việc vặt
tức là viết được thời sự, viết được các bài đại luận”.Chỉ cần so sánh văn Khái Hưng trên Phong
Hóa số 1 (16-6-1932) với văn ông trên Phong Hóa số 14
(22-9-1932), ta đã thấy có chuyển biến sâu xa, đến Phong Hóa số
20 (4-11-1932), với Hồn bướm mơ tiên lần đầu xuất hiện, Khái
Hưng đã sáng tạo cuốn tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, khai
sáng một ngôn ngữ văn chương mới lạ, hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu,
đẫm nước mắt, thời ấy.Kịch hài hước
của Hoàng Tích ChuPhong Hóa số 19 (27-10-1932) đăng một hài
kịch, có tên bí hiểm và dài lòng thòng:D.P.T.M.N.T.UT.A.H.T.T.H.
hay là hội Ausecourfem. Vở kịch,
được đề Kịch Phong Hóa là một cách giới thiệu trang trọng, với
minh họa của Mac (chắc Nguyễn Gia Trí).Các nhân vật trong vở kịch này có một nét
đặc biệt: toàn bọn “râu quặp”, có vợ thuộc loại “sư tử
cái”, hai dấu hiệu này, sẽ trở thành “muôn thủa” như Tú Bà và
Sở Khanh.Bảy vị tu mi, họp kín trong một phòng
hội đồng, lập hội, đặt tên là “Đông Pháp Tu Mi Nam Tử Úy Thê Ái Hữu Tương Tế
Hội” (nói vắn tắt là hội sợ vợ). Nhưng phải giữ bí
mật, nên họ phải viết tắt D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H.Trong bài diễn văn khai hội, vị chủ tịch
tương lai, viện dẫn nhiều trường hợp vĩ nhân kim cổ không thoát khỏi cảnh ngộ
bị vợ sư tử đàn áp:“… Để đến nỗi vị đế vương thay trời
trị nước, mà về đến tư cung cũng xếp cả uy quyền dưới chân hoàng hậu, tay đại
tướng cầm vạn mã thiên binh, nơi chiến trường hét ra lửa, mà về nơi trướng gấm
phòng loan, cụp hết oai phong lẫm liệt trước mắt phu nhân. Chuyện xưa còn ghi chép:
Trụ Vương mất nước, Từ Hải bỏ mình, cũng chỉ vì sợ vợ. Ôi! nghĩ đến mà tủi, mà
nhục, đáng khóc ra huyết! Cử tọa gạt nước mắt rồi vỗ tay.”Hoàng Tích Chu, không những chỉ dùng chữ
thuần Việt, mà còn đem cái cười, cái châm biếm vào đời sống, làm đảo lộn trật
tự Khổng Mạnh, vén màn cho ta thấy cái khôi hài của nước mắt, sự hèn mọn của
quyền uy. Trong một xã hội bị áp bức, người dân không có quyền cười. Tha hồ
khóc lóc, than van thả cửa, nhưng cười là trái phép, thường bị kiểm duyệt, bị
cấm, nhất là cái cười này lại chiếu vào các bậc vua chúa, anh hùng.Trên Phong Hóa số 22
(18-11-1932) có hài kịch Mọt đục cứt sắt của H. Thiện Căn. Số
báo 22 này dùng toàn lực tấn công vào các ông nghị. Vở kịch có bốn vai: Bá Phú,
đại phú ở Hà Nội; Tư Lợi, bạn bòn tiền của Bá Phú; Chủ bút báo Con Đỉa,
bồi bút và thằng nhỏ con ở của Bá Phú.Tư Lợi và Chủ Bút đến dụ Bá Phú bỏ tiền
ra ứng cử nghị viên thành phố. Mọt đục cứt sắt đánh thẳng vào
sự lừa bịp trong bầu cử: Chủ bút báo Con Đỉa dụ Bá Phú ra
tranh cử: Y sẽ viết giùm chương trình tranh cử (Bá Phú vô học) với các mánh
khóe mị dân, hứa hẹn hão, cốt sao dụ được người ngu tin cậy bỏ phiếu cho mình.
Y sẽ cò mồi, viết bài tán tụng công đức Bá Phú và viết bài đánh phe đối thủ.
Khi đã trúng nghị viên rồi, thì tha hồ ăn đút lót, làm giàu. Mọt đục
cứt sắt không chỉ vén màn lên hài kịch bầu cử dân biểu thời thuộc địa,
mà dường như đã nói lên bộ mặt trái của tất cả những cuộc bầu cử, kể cả ở các
nước dân chủ ngày nay.Hoàng Tích Chu là người mở đầu cho lối
viết châm biếm hiện đại mà Hoàng Đạo sẽ là người nối tiếp.Chân dung Lý
Toét của Hoàng Tích ChuPhong Hóa số 25 (9-12-1932) có bài Cụ
Lý Toét đi xem Hội chợ của HTC, đăng cùng trang 7 với bài Ba
Ếch đi xem Hội chợ của Nhất Linh. Đây là lần đầu tiên nhân vật Lý Toét
- đã có hình vẽ trên Phong Hóa từ số 14 (22-9- 32) số 15
(29-9-1932) và số 16 (6-10-1932) - nhưng chưa có tên, nay mới biết tên là Lý
Toét. Không những có tên mà còn được mô tả cả tính tình, ngôn ngữ và hoàn cảnh
xã hội. (Lý Toét và Xã Xệ sẽ có một chương riêng).Hoàng Tích Chu mô tả Lý Toét như vầy:“Đã hai năm nay, cụ Lý Toét có ra Hà
Nội một lần để xem “Cát Tót” [14 Juillet]. Nay nhân dịp hội chợ, bác cả Toe, con
giai cụ, lại nhắn cụ ra chơi dối già, một lần nữa (…)Lúc vào cửa,
cụ Lý Toét bị chen, trên đầu thì xổ cả khăn, tung cả búi tóc, dưới chân thì họ
xéo tụt cả giầy, khốn đốn mới qua được cái cửa quay. (…) Bới lại cái “búi
chấy”, quấn lại cái khăn lượt mầu nước dưa cho chỉnh, cụ lý đi nghênh ngáo mọi
nơi. Mỗi hàng một vẻ, lộng lẫy, rực rỡ như động tiên, cụ chẳng biết nên xem đâu
trước, đâu sau, ngơ ngẩn cả người như mán về đồng bằng vậy. (…) Đi qua dan hàng
máy hát, réo rắt dọng hát chèo, sen tiếng nhị, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng
thanh la, nghe rõ mồm một. Cụ ngây cả người không biết tiếng hát ở đâu mà ra.
Một lát thấy im. Trong cửa hàng có một người ra rút cái giây, kéo một cái hộp
đen treo ở giữa cửa xuống, rồi ngấy ngoáy một lúc, lại rút cái giây treo cái
hộp lủng lẳng lên, rồi lại nghe thấy tiếng hát sẩm. Cụ lẩm bẩm: “Họ có phép quỷ
thuật”.Đến trước cái
cửa kính một hiệu kia, cụ thấy rõ ràng một ông tây mũ áo chỉnh tề, ngồi chễm
chọe, sung quanh mình bầy la liệt nào vải, nào nhiễu, nào dạ đủ các thứ mùi. Cụ
hỏi bác cả Toe: “Quan lớn đây chừng là chủ hiệu này? Bác cả đáp: “Đó là một
người gỗ, mặt bằng sứ, mắt bằng thủy tinh, để mặc áo”. Bấy giờ cụ mới mở mắt to
tướng, có ý nhìn kỹ, thì quả không thấy “quan lớn cậy cựa”.Vừa rồi,
không có tiếng người mà có tiếng hát. Bây giờ rõ ràng người hẳn hoi, lại không
phải người thật.Ai còn biết
đường nào mà mò”.Không những Hoàng Tích Chu mô tả hình
dạng, y phục, tâm lý Lý Toét, tạo ra bức hình mẫu cho những họa sĩ chuyên
nghiệp hay nghiệp dư dựa vào để vẽ tranh Lý Toét sau này, mà ông còn đưa cả
ngày Cát Tót [14 Juillet] thiêng liêng của mẫu quốc ra làm trò
cười: đối chất cái quê mùa (chân thật) của Lý Toét với cái văn minh (giả dối)
của Tây phương: Máy hát có tiếng hát mà không có người. Người bày ra tủ kính
lại là người giả!Sự “nghĩ thầm” trong bụng của Lý Toét,
trước những “sản phẩm tiến bộ” của Tây phương như máy hát, người mẫu, do Hoàng
Tích Chu “nghĩ ra”, được thực hiện trên bức tranh dưới đây, vẽ Lý Toét ra tỉnh
đứng trước cái máy nước công cộng, trên Phong Hóa số 48
(26-5-1933), đó là bức tranh Lý Toét đầu tiên, có ghi tên, tranh này không ký,
nhưng có nhiều khả năng là của Nguyễn Gia Trí.Ngay từ lúc bước chân vào cửa hội
chợ Cát Tót, Lý Toét đã bị khốn đốn, tơi bời trên đầu thì
xổ cả khăn, tung cả búi tóc, dưới chân thì họ xéo tụt cả giày. Tả nỗi
khốn khổ bị giẫm đạp của người dân Việt khi bước chân vào cửa Cát-Tót (tức cửa
Đại Pháp) như thế là kín đáo nhất hạng. Tả cái văn minh mẫu quốc như thế là
tuyệt cú mèo.Tiếc thay, nhiều người không hiểu, cho
rằng Phong Hóa cốt đưa cái cười ra để cho dân chúng tiêu
khiển, quên việc đấu tranh giành độc lập. Ngược lại, chất hài hước thâm thúy,
đặc biệt trong bài đầu tiên mô tả chân dung Lý Toét của Hoàng Tích Chu, sẽ là
kim chỉ nam, hướng dẫn các họa sĩ vẽ Lý Toét sau này, nhất là Nguyễn Gia Trí đã
biến sự hài hước thành một vũ khí lợi hại chống Pháp.Nhất Linh, trong bài Lịch sử Lý
Toét, Ba Ếch và Xã Xệ, đăng trên Ngày Nay số 198
(3-2-1940) cho biết: “Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tiếng
Dân mà người đưa ra tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu”. Tiếp
đó, ông viết: “Đầu tiên là Tứ Ly đem [tên] Lý Toét vào
Phong Hóa (số 35 ngày 24-2-1933) trong bài Cuộc chợ phiên của Phong
Hóa tổ chức”. Không hiểu sao Nhất Linh lại không nhắc đến bài Cụ Lý
Toét đi xem Hội chợ của Hoàng Tích Chu, trên Phong Hóa số
25? Nhất Linh quên hay ông chỉ muốn dành riêng Lý Toét cho những thành viên của
Tự Lực văn đoàn? Bởi vì, dù Tú Mỡ có đưa tên Lý Toét trên báo Tiếng Dân,
năm 1930, thì chỉ là sự tình cờ, trùng tên, vì lúc đó chưa hề có nhân vật Lý
Toét. Còn bài của Hoàng Tích Chu (trên Phong Hóa số 25 này)
đăng cùng trang và song song với bài viết của Nhất Linh về Ba Ếch, là có chủ
đích xác định chân dung hai nhân vật hài hước chính trên báo Phong Hóa (lúc
đó chưa có Xã Xệ).Riêng bài Cuộc chợ phiên của
Phong Hóa của Tứ Ly (trên Phong Hóa số 35) là một
phóng sự hài hước về hội chợ do Phong Hóa tổ chức, mượn Lý
Toét, Ba Ếch làm cớ để chế giễu nhiều người, chủ yếu là Phạm Quỳnh và ban biên
tập Nam Phong, với các cụ nhà nho như Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật…Sau cùng, chủ trương đổi mới ngôn ngữ và
tư tưởng của Tự Lực văn đoàn, không chỉ có tính cách thuần túy văn chương mà
còn ngụ ý nghĩa chính trị nữa.Năm 1930 là năm đầy thảm họa cho các tổ
chức cách mạng chống Pháp cả tư sản lẫn vô sản.Ngày 16-2-1930, thống sứ Robin ra lệnh
cho máy bay dội 57 trái bom, tàn phá làng Cổ Am để trừng phạt việc dân chúng
nổi dậy giết tri huyện Vĩnh Bảo Hoàng Gia Mô, đồng thời tiêu diệt “trọn ổ” các
yếu nhân Việt Nam Quốc Dân Đảng đã tổ chức vụ nổi dậy này.Ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12
đồng chí bị chém ở Yên Bái.Hai sự kiện này không thể không gây ấn
tượng kinh hoàng trong lòng người Việt nói chung, Khái Hưng và Nhất Linh nói
riêng.Nên 28 năm sau, khi thành lập tạp
chí Văn Hóa Ngày Nay ở Sài Gòn, không phải tình cờ mà Nhất Linh
chọn số 1, ra ngày 17-6-1958, đúng ngày giỗ Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ.Vì vậy, năm 1932, khi đánh vào thành trì
“khóc lóc, tự tử” hèn yếu của thanh niên bằng tiếng cười và lối văn trong sáng,
Tự Lực văn đoàn, không chỉ muốn mua vui, cũng không hề có ý định làm cho người
đọc quên chuyện mất nước, mà họ đã có chủ ý cách mạng từ đầu: muốn kiến tạo một
tầng lớp thanh niên có khí phách, theo chân Nguyễn Thái Học.
[5] Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số
69 (3/1923) và số 70 (4/1923).
[8] Trích theo bản dịch sang tiếng
Việt của Phạm Quỳnh, in trong Nam Phong số 71 (5/1923).
[10] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn
học sử giản ước tân biên, quyển 3, Anh Phương Ấn quán, 1965, Sài Gòn, Đại
Nam, Hoa Kỳ chụp in lại, trang 150.
Chú thích:
[1] In lần đầu năm 1651, tại La Mã.
[2] Chữ cũ [cùng] còn dấu huyền (-)
chồng lên trên dấu ngã (~) nữa, nhưng nhà in không có sẵn hai dấu chồng nhau
như thế nên phải bỏ khuyết một dấu (chú thích của Phạm Quỳnh).
[3] Trích theo bài Khảo về
quốc ngữ, của Phạm Quỳnh, Nam Phong số 122, trang 333.
[4] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của
Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội 1943, trang 55-56.
[5] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh, Nxb Đổi Mới, Hà Nội
1943, trang 63.
[6] Cuộc phỏng vấn những nhà văn của
Lê Thanh, trang 81.
[7] Trần Trọng Kim trả lời phỏng vấn
của Lê Thanh, trong Cuộc phỏng vấn những nhà văn của Lê Thanh,
Nxb Đổi Mới, Hà Nội 1943, trang 17.
[8] Trước đó có hai cuốn Cours
d’histoire d’annamite của Trương Vĩnh Ký, bằng tiếng Pháp, rất sơ
lược, in năm 1875 và 1877.
[9] Nguyên văn tiếng Pháp: L’Individu
dans la vieille cité annamite - Essai de synthèse sur le Code de Lê.
[10] Nguyên văn tiếng Pháp Essai
sur la valeur dramatique du théâtre d’Alfred de Musset.
[11] Nguyên văn tiếng Pháp: L’Annam
dans la littérature française, Jules Boissières. Jules Boissières là
công chức cao cấp trong chính quyền thuộc địa, làm phụ tá cho toàn quyền Paul
Bert, có đầu óc ôn hòa, chủ trương hợp tác Pháp Việt, ông mất tại Hà Nội năm
1897, sau Paul Bert một năm, ở tuổi 34.
[12] Theo Nguyễn Văn Hoàn trong
bài Kỷ niệm về thầy Nguyễn Mạnh Tường, báo Hồn
Việt, tháng 10-2009, mạng Viet-studies.
[13] Nguyễn Mạnh Tường được các đại học
Âu Châu mời đi thăm Âu Châu trong năm năm, diễn thuyết và viết sách. Năm 1936,
ông trở về Hà Nội, dạy Pháp văn ở trường Bảo hộ và trường Cao đẳng Công chính.
Năm 1940, ông ngừng dậy học, mở văn phòng Luật sư. Tháng 10-1945, chính phủ Hồ
Chí Minh lập Đại học Văn Khoa, ông được mời dậy Văn chương Tây phương. Tháng
4-1946, ông tham gia hội nghị Đà Lạt cùng nhiều trí thức khác, Nguyễn Tường Tam
làm trưởng phái đoàn. Tháng 10-1956, sau bài diễn thuyết Những sai lầm
trong cải cách ruộng đất; ông bị đuổi khỏi đại học, đói khát, sống nhờ sự
giúp đỡ của học trò, bè bạn và những người không quen biết trong gần ba mươi
năm. Ông là tác giả khoảng 16 tác phẩm Pháp-Việt. (Xem Nhân Văn Giai
Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Chương 23, Nguyễn Mạnh Tường, nxb Tiếng Quê
Hương, 2012, Hoa Kỳ. Hay mạng: thuykhue.free.fr).
[14] Thất hiền là
nhóm Pléiade, bảy nhà thơ Pháp thế kỷ XVI, gồm: Ronsard, Bellay,
Jodelle, Belleau, Baïf, Peletier, Tyard, chủ trương đổi mới ngôn ngữ và thi ca
Pháp, đưa văn chương Pháp ra khỏi vòng lệ thuộc tiếng La tinh.
[15] Theo Chương Đài, Hoàng
Tích Chu, ông tổ văn mới, báo Tràng An, Huế, ra ngày 30-10-1936.
[16] Đỗ Văn là một trong những người
đầu tiên sang Pháp học cách trình bày sách báo và trở thành nhà trình bày sách
báo nổi tiếng thời bấy giờ.
[17] Tất cả những chi tiết trên đây đều
lấy ở bài Một dịp cho tôi nói về lối văn Hoàng Tích Chu của
Hoàng Tích Chu, do Lại Nguyên Ân sưu tầm, hiệu đính và giới thiệu trên Talawas.
Hành trình
đổi mới của Khái Hưng và Nhất Linh
Bỏ những khóc lóc sướt mướt, chưa đủ.
Bỏ lối văn biền ngẫu, chưa đủ.
Đổi mới ngôn ngữ như Hoàng Tích Chu viết
câu ngắn gọn, vẫn chưa đủ.
Nhà văn còn phải đổi mới cả kỹ thuật
viết tiểu thuyết, từ cổ điển bước sang hiện đại.
Ở đây, tôi dùng chữ hiện đại mà
không dùng chữ lãng mạn, để tránh hiểu lầm. Bởi vì lãng mạn dịch
từ chữ romantisme, chữ này để chỉ trào lưu tư tưởng Âu châu, xuất
hiện giữa thế kỷ XVIII ở Anh, ở Đức rồi truyền sang Pháp, Ý, Tây Ban Nha trong
thế kỷ XIX. Lãng mạn chủ trương tự do diễn tả cảm giác cá nhân
của cái tôi, chống lại lý tưởng phổ quát cổ điển của cái ta, tức cái chung
chung của nhân loại. Phát xuất từ Anh với tiểu thuyết của Richardson, thơ của
Ossian, định hình ở Đức với Goethe, Novalis và Holderlin, rồi truyền sang Pháp
với Lamartine, Victor Hugo, Alfred de Vigny, Alfred de Musset…
Cuộc đổi mới văn học ở Việt Nam, thập
niên ba mươi thế kỷ XX, không có tính cách chuyển thể từ cổ điển sang lãng
mạn, bởi vì bối cảnh văn chương và tư tưởng Việt Nam không giống bối cảnh
Âu châu. Sự phân chia trường phái ở châu Âu không có nghĩa gì khi áp dụng vào
văn chương Việt Nam. Cuộc cách mạng văn học ở nước ta, thời đó, chỉ đơn giản là
để lập ra một nền văn chương quốc ngữ hiện đại mà chúng ta
chưa có.
Thế nào là hiện đại? Chữ moderne của
Pháp có hai nghĩa: thứ nhất, những gì thuộc về thời nay và thứ
hai, những gì tân tiến. Ta thường dịch là hiện đại, như
thế thiếu mất nghĩa tân tiến. Cho nên có lẽ nên phiên âm
là mô đéc thì đúng ý hơn và nếu ta dùng chữ hiện đại thì
phải hiểu trong nghĩa hiện đại và và tân tiến.
Không cần lý thuyết dài dòng, chỉ cần
trích văn của hai nhà văn Pháp nổi tiếng trong thế kỷ XIX: Stendhal (1783-1842)
và Balzac (1799-1850), ta sẽ thấy rõ sự khác biệt giữa hai lối viết cổ điển và
hiện đại này.
Trong truyện Le Père Goriot (Già
Goriot) in năm 1835, Balzac mở đầu tác phẩm bằng câu:
"Bà già
Vauquier, sinh ở Conflans, từ 40 năm nay trông nom một nhà trọ cho thị dân khá
giả, ở Paris, tại phố mới Sainte-Geneviève, giữa khu La tinh và ngoại ô
Saint-Marcel".
Balzac thường kể chuyện, ông chỉ rõ xuất
xứ: quê quán nơi sinh, địa chỉ, nghề nghiệp của nhân vật trước khi vào truyện.
Lối viết này được coi là cổ điển.
Stendhal, khác hẳn, trong tiểu thuyết La
Chartreuse de Parme (Tu viện thành Parme) in năm 1839, ông mở đầu tác
phẩm bằng câu:
"Ngày
15, tháng năm, 1796, Tướng Bonaparte cầm đầu đoàn quân trẻ tuổi vượt cầu Lodi
tiến vào Milan, tỏ cho thế giới biết - sau nhiều thế kỷ - César và Alexandre đã
có người kế vị".
Stendhal không giới thiệu xuất xứ nhân
vật mà đi thẳng vào truyện: Cảnh Bonaparte tiến quân mở ra trước mắt ta như một
hiện hữu. Ông cũng không kể chuyện, mà ông mô tả, nên văn ông sống động hơn
nhiều. Stendhal được coi là người khai phá lối viết hiện đại ở Pháp.
Cách viết này, ở nước ta, Hồ Biểu Chánh
đi tiên phong với truyện Ai làm được viết năm 1912, in lần đầu
năm 1915, và Phạm Duy Tốn tiếp nối với truyện ngắn Sống chết mặc bay,
in trên Nam Phong số 18, tháng 12-1918. Đó là chuyện tình cờ chứ chưa chắc Phạm
Duy Tốn đã đọc Hồ Biểu Chánh. Sự nghiệp tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh đồ sộ,
nhưng ông ở trong Nam, ít có ảnh hưởng ra Bắc, nhất là người Bắc vẫn có lối
kiêu kỳ coi thường văn chương Nam bộ. Phạm Duy Tốn khai phá lối viết tả chân xã
hội ở Bắc trong 4 truyện ngắn: Câu chuyện thương tâm (Bực
mình) (Đông Dương tạp chí số 55, 1914), Sống chết mặc bay (Nam
Phong số 18, tháng 12-1918), Con người sở khanh (Nam Phong số
20, tháng 2-1919) và Nước đời lắm nỗi (Nam Phong số 23, tháng
5- 1919). Trong số đó, Sống chết mặc bay là một tuyệt tác, còn
ba truyện kia vẫn viết theo lối kể chuyện; Phạm Duy Tốn lại mất sớm (1924) vì
bệnh lao, nên không tạo được một phong trào.
Để thấy rõ cái mới của Hồ Biểu Chánh và
Phạm Duy Tốn, ta chỉ cần so sánh văn hai ông với những người cùng thời:
- Tân Dân Tử, trong Gia Long Tẩu
Quốc, in năm 1915, viết:
"Đức
Nguyễn Ánh lạc bước phong trần.
Nơi Phật tự
gặp người phò tá.
Đất Việt Ba
Kỳ, trời Nam một góc, tang thương mấy độ, cuộc hưng vong dường thể chiêm bao;
sự tích ngày xưa, gương trị loạn còn ghi lịch sử".
- Nguyễn Chánh Sắt, trong tiểu
thuyết Nghĩa hiệp kỳ duyên, tức Chăng Cà Mun, in
năm 1919, viết:
"Lần hồi
ngày lụn tháng qua, bóng thiều quang đưa rất lẹ; thoắt chút mà Phi Đáng đã 18
tuổi đầu, hình dung yểu điệu, cốt cách phương phi, bá mị thiên kiều, ngư trầm
lạc nhạn. Mà ba mươi đời cái kiếp hồng nhan bạc mạng là lẽ tự nhiên".
- Hoàng Ngọc Phách, trong Tố
Tâm, viết 1922, in 1925 viết:
"Thôi,
hôm nay là ngày từ biệt của ngòi bút chung tình này, từ đây sẽ vắng tanh tin
nhạn, bao nhiêu chuyện tình xưa nghĩa cũ, sẽ theo mây bay gió thổi mà mơ màng
như giấc chiêm bao. Những khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa, khi gió
thổi bên màn, khi em soi gương thấy bóng…"
- Nguyễn Tường Tam trong Nho
Phong, viết 1924, in 1926 viết:
"Lê
Nương năm ấy tuổi mới trăng tròn", "Nhưng bóng hoa thấp thoáng, dáng liễu
thanh tân, làm cho chàng cũng phải nhiều phen man mác trong lòng".
Khi Hồ Biểu Chánh cầm bút, cục diện văn
chương Việt Nam thay đổi hẳn, ông vào truyện Ai làm được bằng
câu:
"Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà
ngồi, ngó quanh quất không thấy khách ăn uống, duy có một người trai trạc chừng
mười bẩy, mười tám tuổi, đương ngồi tại bàn gần cửa mà viết".
Và trong Sống chết mặc bay, Phạm
Duy Tốn mở đầu bằng câu:
"Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm
tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng***, thuộc phủ***, xem chừng núng
thế lắm: hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.
Dân phu kể
hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn; kẻ thì thuổng,
người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ [đóng cọc], bì bõm dưới bùn lầy,
ngập quá khĩu chân, người nào người ấy, lướt thướt như chuột lột" [1].
Ta thấy ngay: những câu văn trích
trong Gia Long tẩu quốc, Chăng cà mun, Tố Tâm, Nho Phong, trên
đây, đều có thể gạch bỏ, mà không thiệt hại gì cho tác phẩm. Ngược lại, câu văn
của Hồ Biểu Chánh và Phạm Duy Tốn, không thể bỏ được. Bởi vì lối viết hiện đại
đi thẳng vào thực chất của vấn đề, không có những lời kể lể cà kê, huê dạng.
Điểm thứ nhì, Hồ Biểu Chánh và Phạm Duy
Tốn mô tả trực tiếp con người (Khiếu Nhàn) hoặc bối cảnh (vỡ
đê), không qua lời kể của tác giả (hay của nhân vật chính). Khi Hồ Biểu Chánh
viết: "Khiếu Nhàn bước vào kéo ghế mà ngồi" là ông đã xóa
cái tôi kể chuyện cổ điển.
Ví dụ câu: "Lê Nương tuổi mới
trăng tròn" của Nguyễn Tường Tam, nếu được viết lại theo lối
mô-đéc của Hồ Biểu Chánh, thì sẽ có thể là: "Cái Lê, quần bò, áo
thun bó sát, ưỡn ẹo vừa đi vừa huýt sáo", chẳng hạn.
Tóm lại, để nhập vào cách viết hiện đại,
nhà văn phải bỏ câu văn bóng bẩy, hoa hòe, biền ngẫu, kiểu Tố Tâm: Những
khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa, khi gió thổi bên màn", bỏ
lối kể chuyện, kiểu Nho Phong: Lê Nương năm ấy tuổi mới trăng
tròn, để mô tả trực tiếp sự vật, để sự vật (hay nhân
vật) tự sống, tự hành động. Đó là cái mới trong tiểu thuyết hiện đại.
Khái Hưng, Nhất Linh, hai nhà văn cột
trụ của Tự Lực văn đoàn, đã phải dứt bỏ lối viết cổ này, để đổi mới văn học.
Khái Hưng mở đầu với Hồn bướm mơ tiên, Nhất Linh kết thúc
với Bướm trắng, trước khi bỏ văn chương đi làm cách mạng. Đó
là hai tác phẩm nền móng, đi tiên phong và đoạn hậu, cũng là hai kiệt tác. Họ
đã chỉ cần tám năm để xây dựng một nền tiểu thuyết hiện đại.
Trái hẳn với lo lắng của Phạm Quỳnh: văn học ta còn kém xa đến ba trăm năm, so
với văn học châu Âu.
Con đường
khai phá của Khái Hưng
Hiện nay, vì thiếu tư liệu, tôi chưa tìm
được bài văn nào của Khái Hưng viết trước khi làm Phong Hóa, nên tạm coi sự
nghiệp văn chương ông bắt đầu từ khi làm Phong Hóa số 1.
Đoản thiên tiểu thuyết Mưu sâu
đã dắp [rắp] đăng trên Phong Hóa số 1(16-6-1932) ký tên Kỳ Hoa là
truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng. Truyện này bắt đầu bằng câu:
"Trong
một ngôi chùa cổ có tiếng ở gần đất Thăng Long bỗng một hôm có câu tục tằn thốt
ra: "Thế mà mày vẫn mở mồm khoe ra là trinh phụ. Rõ quân đê mạt không biết
xấu. Có đường có nẻo thì bước ngay. Từ rầy đừng có mong nhìn mặt tao. Đồ đĩ dại
nên tự sử [xử] lấy
là hơn".
Câu này chứng tỏ Khái Hưng đã nhập vào
lối viết hiện đại, ngay từ tác phẩm đầu tay. Ông dùng cảnh và đối thoại để mở
đầu, bỏ lối kể chuyện, không giới thiệu xuất xứ nhân vật.
Mưu sâu đã
rắp là
truyện một người thiếu phụ bị chồng (cờ bạc, mê gái) ruồng bỏ, lập mưu hãm hại.
Cấu trúc truyện còn sơ sài, câu văn đôi chỗ còn cân đối, nhưng Mưu sâu
đã rắp có ba yếu tố căn bản của tiểu thuyết: dùng sự mô tả, tính bất
ngờ và tính bi đát.
Trên Phong Hóa số 2 (23-6-32) có đoản
thiên tiểu thuyết Mùa hoa gạo ký tên Kỳ Hoa. Đây là một tự
truyện về quãng đời học chữ nho của Khái Hưng từ 5 đến 10 tuổi. Sau ông viết
lại truyện này thành Thế giới cũ mực tầu giấy bản ký tên Nhị
Linh, đăng trên Phong Hóa từ số 24 (2-12-32) đến số 35 (24-2-33). Tác phẩm vẽ
lại khung cảnh trẻ con học chữ nho thời xưa và cho biết phương pháp dạy của
thầy đồ: Cậu bé Linh (Nhị Linh) đã bị đánh bao nhiêu roi quắn đít, đã phải học
thuộc lòng Tứ thư, Ngũ kinh, học làm câu đối… như thế nào. Đó là một trang tuổi
thơ đầu thế kỷ XX, sống động và bi hài.
Sau đó ông viết đoản thiên Tôi
không ngờ ký tên Bán Than trên Phong Hóa số 7 (28-7-32), tự truyện về
thời kỳ mới viết văn, nhưng chưa làm báo, cho biết ông ở phố Henri d’Orléans.
Chi tiết này giúp ta đoán được, căn phòng đó có thể là cơ sở đầu tiên của Tự
Lực văn đoàn, và sẽ trở thành tòa soạn Phong Hóa, cùng lúc với trụ sở chính ở
số 1 đường Carnot, trong gần bốn tháng, từ Phong Hóa số 14 (22-9-32) đến Phong
Hóa số 30 (13-1-33).
Trên Phong Hóa 14 (22-9-32), số báo đầu
tiên do Tự Lực văn đoàn chủ trương, Khái Hưng viết truyện Kong-Ko
Đai-Jin, lần đầu ký tên thật Trần Khánh Giư và cũng là lần đầu hai chữ
"chuyện ngắn" xuất hiện trên báo Phong Hóa, thay cho bốn từ
Hán Việt "đoản thiên tiểu thuyết". Truyện này chứng tỏ
Trần Khánh Giư bắt đầu "thấy mình viết được", nên ông ký tên thật, để
xác nhận tác phẩm của mình.Truyện ngắn Kong-Ko
Đai-Jin, Phong Hóa số 14Kong-Ko Đai-Jin [2] viết
về chuyến đi buôn sơn của tác giả với người bạn Nhật, hiệp sĩ, tên là
Độ Bộ Thất Lang, theo đạo Kong-Ko Đai-Jin.
Tác phẩm bắt đầu bằng câu:
"Chiếc
thuyền nan còn cách bến Phố Én độ mười thước thì bỗng lọt vào tai chúng tôi câu
hát:
"Sông
Thao nước đục người đen, Ai lên phố Én thì quên đường về".
Giọng hát véo
von lanh lảnh, theo sau chuỗi cười ròn như tiếng nhạc ngựa…"
Với câu văn này, Khái Hưng đã bỏ hẳn lối
viết cổ điển, bước vào văn cách hiện đại bằng âm thanh và quang
cảnh. Tuy vẫn có giọng của người xưng tôi, nhưng tôi ở đây cũng là một nhân
vật như những nhân vật khác, và cách mô tả hoàn toàn mới lạ, sống động:
"Nhìn ra
phía ngoài thì một cái bàn tay to, đen, đương từ từ mở cánh cửa, rồi thò vào
cái đầu đội mũ cát két, che kín mắt… rồi cả người rón rén bước qua ngưỡng cửa.
Một người cao lớn, lực lưỡng dữ tợn. Tôi rùng mình, rợn tóc gáy… Người ấy giơ
tay, vẫy một cái: tức thì một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy người mặc toàn một
loạt quần áo nâu, lần lượt theo sau, bước vào… Tôi thấy chân tay tôi run lẩy
bẩy, trống ngực đánh thình thình… Quay lại nhìn Độ Bộ để định hỏi ý kiến, thì
ông không phải là ông bạn già thường nhật nữa, mà rõ ra một vị Samourai quả
quyết sắp xuất trận: mắt ông không chớp, chăm chăm nhìn tên
"cát két", tay trái chống cạnh sườn, tay phải, quấn chiếc "mùi
xoa", cầm con giao con giơ lên trước ngực, trông có vẻ mãnh liệt uy
phong".
Bây giờ đọc những dòng này, ta tưởng
không có gì đặc biệt, thật ra, từ lối viết du dương trầm bổng trong Tố Tâm
"Những khi canh tà giăng xế, khi mưa sa trước cửa" cách
đấy vài năm, đến giọng tả chân bí hiểm trong Kong-Ko Đai-Jin: "một
cái bàn tay to, đen, đương từ từ mở cánh cửa, rồi thò vào cái đầu đội mũ
cát-két, che kín mắt", Khái Hưng đã thực hiện một bước tiến lớn lao.
Và tôi chắc chắn Khái Hưng đã đọc Hồ Biểu Chánh. Nghệ thuật mô tả của ông thực
sành sỏi: thay vì viết bẩy người mặc áo nâu, ông đếm: "một,
hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy người mặc toàn một loạt quần áo nâu". Cách
đếm này có tác dụng mạnh mẽ như ma xó, quái đản hơn mấy chữ bẩy người
mặc áo nâu rất nhiều. Khái Hưng đã nắm vững bí quyết làm người đọc
giật mình. Một lối văn mới vừa xuất hiện.
Cách mở truyện bằng ca dao trong Kong-Ko
Đai-Jin cũng sẽ trở lại trong Hồn bướm mơ tiên. Vì
vậy, Kong-Ko Đai-Jin chính là truyện ngắn hiện đại đầu
tiên của Tự Lực văn đoàn, tiếp nối cách viết Ai làm được của
Hồ Biểu Chánh và Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn. Nội dung
truyện ngắn này còn cho biết Khái Hưng đã từng "đi buôn sơn" với
Độ Bộ Thất Lang, một hiệp sĩ Samourai, từ khi chưa bước vào nghề văn; như vậy Khái
Hưng quen người Nhật rất sớm. Ông biết khá sâu văn hóa Nhật Bản trong truyện
ngắn Ada Kwaben, in trên Phong Hóa số 19. Sự kiện
này giải thích tại sao Tự Lực văn đoàn thân Nhật: bởi vì Khái Hưng đã có mối
liên hệ với người Nhật qua tình bạn và sự tìm hiểu nền văn hóa Nhật, từ trước
khi làm báo Phong Hóa. Mối liên hệ này, về sau, sẽ bị người ta khai thác, bóp
méo để buộc tội Tự Lực văn đoàn.
Trên Phong Hóa những số 15, 16, 17 và
18, số nào cũng có một hay hai truyện ngắn của Khái Hưng viết theo lối
mới: Đi Nam Kỳ, ký T.K.H. (Trần Khái Hưng), Cái thù ba
mươi năm, ký T. Khái Hưng (đây là truyện ngắn đầu tiên ký tên T. Khái
Hưng), Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng, Cái thống đời
Tống, ký T. Khái Hưng, nhất là truyện Tình tuyệt vọng ký
Khái Hưng, rất nổi tiếng, nhờ bài thơ Tình tuyệt vọng Khái
Hưng dịch thơ Arvers [3].
Đặc biệt, trên Phong Hóa số 19
(27-10-1932) có truyện ngắn Ada Kwaben, mở đầu như sau:
"Một giờ
đêm tại Hạp bắc. Suốt hai dẫy phố Tsin-Tsang cửa đóng kín mít. Ngoài đường tối
đen như mực. Tuy thế trận không còn dữ dội như buổi sáng, song tiếng súng nghe
vẫn liên thanh. Thỉnh thoảng quả trái phá rơi, làm rung động một góc thành.
Theo liền tiếng tường nhà đổ, tiếng mái nhà sụp".
Với truyện ngắn này, Khái Hưng đã bỏ lại
sau lưng những do dự ban đầu, ông đã hoàn thành lối viết mới của mình: chính
xác, đầy tự tin, mạnh mẽ. Ada Kwaben là truyện một mối tình
Hoa Nhật bị tan vỡ vì cuộc chiến giữa hai nước, xảy ra trong trận đánh Hạp bắc.
Văn phong sắc bén, ngắn gọn, viết về sự va chạm hai nền văn minh Hoa Nhật, làm
lộ thái độ cực đoan về danh dự và lòng yêu nước của người Nhật Bản trong động
tác harakiri. Ada Kwaben, người con gái Nhật yêu kiều, vì thấm nhuần đạo đức
Samurai, đã trở nên mù quáng, giết người yêu, đồng thời giết cả mối tình của
nàng và mối tình giữa hai dân tộc. Ada Kwaben xác định Khái
Hưng là nhà văn Việt Nam tiên phong có tác phẩm mang tính cách triết học, có
tính bi đát về thân phận con người.
Sự tiến triển bút pháp của Khái Hưng
trong gần 4 tháng, từ Phong Hóa số 1 (16-6-1932) đến Phong Hóa số 19, với Ada
Kwaben và Phong Hóa số 20, với Hồn bướm mơ tiên, là một
phép lạ. Không cần hai thế kỷ như Nguyễn Mạnh Tường tiên đoán cho một nền văn
học hiện đại của Việt Nam. Tự Lực văn đoàn do Khái Hưng khởi xướng đã làm thay
đổi hoàn toàn bộ mặt văn chương Việt Nam, trong một khoảng thời gian ngắn hơn
nhiều.Hồn bướm mơ
tiên, tranh của
Đông Sơn, Phong Hóa số 20 Hồn bướm mơ
tiên đăng
trên Phong Hóa từ số 20 (4-11-1932) đến số 29 (6-1-1933) do Đông Sơn (Nhất
Linh) minh họa, là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, được Trần
Thanh Mại nhiệt tình chào đón như một kiệt tác. Liền theo đó là Nửa
chừng xuân, đăng trên Phong Hóa từ số 36 (1-3-1933) đến số
63 (8-9-1933). Hai tác phẩm đầu tiên của Khái Hưng và Tự Lực văn
đoàn, sẽ làm thay đổi diện mạo nền văn chương quốc ngữ.
Khái Hưng với sức viết sung mãn, mỗi
tuần ngoài những mục thường thức (nhặt sạn trên báo, dịch văn thơ, viết phê
bình, xã luận, làm thơ, văn trào phúng…) còn viết ít nhất một truyện dài và
một, hai truyện ngắn hay kịch. Khái Hưng không những là người anh cả về mặt
sáng tác trên Phong Hóa mà còn "làm chủ" văn đàn thời bấy giờ.
Hành trình
của Nhất Linh
Con đường đổi mới của Nhất Linh khó khăn
hơn.
Nhất Linh đã có tác phẩm in ra từ trước
khi làm Phong Hóa. Tiểu thuyết Nho Phong, viết năm 1924, in 1926,
trước khi ông đi Pháp du học, sáng tác theo lối cổ điển. Tiếp đến tập truyện
ngắn Người quay tơ, in năm 1927, cấu trúc mới hơn nhiều, nhưng
cách viết vẫn chưa dứt khỏi lối văn kể chuyện: "Tôi đương mang tấm
lòng như thế, thời đến một nơi gọi là Từ Lâm".
Và Nhất Linh đã phải vất vả lắm mới vượt
qua được lối viết này.Giết chồng…
báo thù chồng, Phong Hóa
số 14 Nhất Linh bắt đầu sáng tác trở lại trên
Phong Hóa bằng truyện trinh thám.
Giết chồng…
báo thù chồng, ký tên
Ngô Tâm Tư, là truyện ngắn đầu tiên, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932). Để
gợi sự chú ý của độc giả, bên cạnh tít, ông đề thêm ba chữ: chuyện
Trinh thám với hai chú thích: (Truyện một người con gái nhà
quê Annam tự đi trinh thám để báo thù chồng) và (Truyện có
thật xẩy ra độ ngoài ba mươi năm nay. Lần đầu, một người đàn bà Annam đi trinh
thám một cách khôn khéo nhẹ nhàng, êm thấm như không). Những lời chú
này, chắc để gây sự chú ý của độc giả, nhưng lại làm giảm tính bất ngờ của
truyện trinh thám.
Liệt, người phụ nữ có chồng bị giết, tìm
cách trả thù: nàng tự điều tra và tìm ra hung thủ, rồi chịu làm vợ y để thu
thập đủ chứng cớ đưa y vào tù. Truyện này bố cục chặt chẽ, văn phong mới
hơn Người quay tơ, nhân vật nữ quyết định và hành động, nắm vận
mệnh của mình, nhưng vẫn viết theo lối cổ điển: giới thiệu quê quán nhân vật bằng
cách kể chuyện:
"Cô [Liệt] nức
tiếng là xinh nhất làng Nghi Hồng! Một làng thuộc phủ Ninh Giang, đôi khi quán
sớm chợ chiều, cái sắc đẹp tươi tắn, cái vẻ duyên mặn mà của cô đã làm
sêu [xiêu] lòng bao khách đi đường".
Cá tính mạnh mẽ của cô Liệt báo hiệu sự
xuất hiện của cô Loan trong Đoạn tuyệt sau này, tuy
nhiên Giết chồng… báo thù chồng, vẫn còn nằm trong quỹ đạo cổ điển,
cả về văn phong lẫn cốt truyện.
Những truyện tiếp theo trên Phong Hóa
các số 15, 16, 17, đều ký Ngô Tâm Tư, như Tiếng chó sủa (Phong
Hóa số 15, 29-9-32), truyện hai vợ chồng đi đào của, suýt bị kẻ gian phỗng tay
trên, nhưng cuối cùng họ bầy mưu, bắt được thủ phạm. Vẫn viết theo lối kể
chuyện, mở đầu bằng câu: Thôn Quan Dương là một cái thôn nhỏ dựa vào
sườn đồi (…) Ở đầu thôn Quan Dương có một cái sơn trại nho nhỏ, mái danh [gianh] còn
mới. Chủ cái nhà đó là một người ở nơi khác…" nhưng Ngô Tâm Tư đã
tạo được không khí bí mật của trinh thám.
Truyện Cái hoa chanh (Phong
Hóa số 16, 6-10-32) cũng vẫn theo lối cũ, mở đầu bằng câu: "Hai vợ
chồng dân kia mới lấy nhau thương yêu nhau lắm. Vợ chồng mới cùng nhay ân ái
được năm ngày, thì bỗng có giấy quan về gọi người chồng ra lính đánh
giặc".
Người chồng đi lính, để vợ mới cưới ở
nhà. Nàng có thai, bị gia đình chồng vu tội ngoại tình, đuổi đi. Chồng về, tin
là thực. Nàng sinh một đứa bé trai, bàn tay nó nắm chặt không chịu mở. Tin đồn
đến tai người chồng, chàng đến thăm, bảo: "Con ơi! con có phải là
con của cha thì mở tay ra". Đứa bé mở nắm tay, trong lòng bàn tay bé
bỏng có một đóa hoa chanh. Trong truyện này, Ngô Tâm Tư muốn cách tân cổ tích,
ông đưa cái hoa chanh vào như một yếu tố mới lạ, có tính cách
lãng mạn hoang đường.
Đến truyện Tiếng gọi ở cõi
âm (Phong Hóa số 17, 13-10-1932), Ngô Tâm Tư đã tiến dần vào lối viết
hiện thực, đã tạo được không khí âm u, ma quái. Nhân vật chính vẫn là tôi, một
người kể chuyện, nhưng cái tôi này đã trở thành một nhân vật, đến viếng một
người bạn mới chết, thắt cổ tự tử. Mẹ bạn cho biết: Vì bà nội chết phải giờ
"trùng" nên bà "về" gọi cháu theo. Không tin dị đoan, tôi bèn
ở lại, điều tra. Đêm hôm đó, có tiếng gọi "cháu ơi" ngoài
cổng, bà mẹ và cô con gái cực kỳ sợ hãi:
"Người
con gái, mặt tái ngắt, nhìn mẹ, thở không ra hơi, kêu rú lên như để trả lời
tiếng gọi ngoài ngõ! rồi vùng tay ra, bước nhanh ra cửa: một bóng trắng thoáng
qua sân, một tiếng động ngoài ngõ.
Trong nhà
người mẹ ngã gục xuống phản, giơ hai tay như với lấy bóng cột, kêu lên một
tiếng rồi ngất đi. Tôi vùng đứng dậy, một tay cầm lấy cây đèn, một tay giắt con
giao [dao] con,
lên tiếng gọi người nhà. Không ai trả lời, tôi chẳng nghĩ gì nữa, bước nhanh ra
ngoài sân, chạy ào ào làm ngọn đèn lung lay nhìn không rõ. Ngoài cổng như có
tiếng người ngã.
Đến nơi,
trong bóng tối, tôi thoáng thấy có vật gì trăng trắng nằm dài ở bực cửa. Tay
phải cầm chắc con giao, tay trái cầm cây đèn rơ [dơ] lên soi. Người con gái nằm
sấp trên mặt đất như cái thây chết. Dưới mái tóc rũ rợi, một dòng máu đen chảy
lai láng ra đất. Tôi trông thấy giật nẩy mình, cây đèn cầm ở tay rơi xuống vỡ
tan. Giời tối đen lại, tôi trông ra ngõ, không thấy ai, mà có tiếng người gọi
"cháu ơi" ngay ở ngoài ngõ. Hay là tôi mê hoảng chăng? Không có lẽ
nào không có người mà có tiếng gọi được. Tôi định tâm, tay cầm vững con giao,
mở phăng cổng nhìn ra, tứ phía vắng vẻ, không thấy một bóng người, một luồng
gió lạnh thổi qua làm tôi rùng mình sởn óc…
Tôi trở vào,
nhắc đầu người con gái xem thì hơi thở đã lạnh, lúc tôi ngửng lên toan gọi
người nhà, thấy một con mèo đen to ngồi lù lù trên mái cổng".
Ngô Tâm Tư đã tạo được lối viết hiện
thực của riêng ông, sự mô tả đã nhuần nhuyễn trong phong cách pha trộn giữa
truyện ma và trinh thám. Ngô Tâm Tư không giải thích, nhưng làm cho ta hiểu:
con ma, thật ra chỉ là con mèo; tiếng mèo kêu trong đêm giống hệt tiếng người,
làm kinh hoảng hai mẹ con đã bị thần hồn nát thần tính. Người con gái, hoảng
chạy, tay cầm dao, ngã sấp lên lưỡi bén mà chết. Tiếng gọi ở cõi
âm là một thành công.
Vẫn viết tiếp trinh thám, nhưng Nhất
Linh đổi tên, kể từ Phong Hóa số 24 (2-12-32), ông bắt đầu loạt truyện ký tên
Bảo Sơn, với truyện ngắn Con hai bố: Người mẹ trước khi chết viết
thư kể lại cho con biết người bố không phải là bố ruột. Sự bí mật này dẫn đến
những tình cảnh éo le, khó giải quyết. Tiếp theo là Vết máu… (Phong
Hóa số 26, 6-12- 32), truyện một ông huyện điều tra cái án giết người với lập
luận sắc bén và hợp lý.
Truyện trinh thám của Nhất Linh có sắc
thái đặc biệt, chặt chẽ, lô-gic, hay hơn trinh thám của Thế Lữ rất nhiều. Nhưng
sau đó ông ngừng, không viết trinh thám nữa. Tại sao?
Tôi tạm giải thích như sau: bởi vì Thế
Lữ gửi đăng truyện ngắn Thây ma xuống thang gác, in trên Phong Hóa
số 27 (23-12- 1932), nên Nhất Linh thấy đã có người "thay thế" mình,
nên ông bỏ trinh thám, từ sau truyện Vết máu… đăng trên Phong
Hóa số 26.
Nhất Linh là giám đốc Phong Hóa, ông đã
nhìn thấy: muốn thu hút độc giả, phải có gì lôi cuốn, và không gì lôi cuốn hơn
truyện trinh thám, nhất là lúc bấy giờ Sherlock Holmes của Conan Doyle đang làm
mưa gió trên thị trường trinh thám toàn cầu. Phạm Cao Củng cũng là một trong
những cây bút trinh thám thời đó. Ông viết trinh thám theo lối phân tích tâm
lý, tìm hiểu môi trường xã hội, dùng lời khai của nhân chứng để giải mã bí mật,
kiểu Georges Simenon (Simenon đã từng đến sở liêm phóng 36, Quai des Orfèvres ở
Paris, để học nghề), nên truyện của Phạm Cao Củng rất giá trị. Nhất Linh có mời
Phạm Cao Củng, nhưng không hiểu vì lý do gì, ông chỉ tham gia mục Giòng
nước ngược, ký tên Phạm Thị Cả Mốc, thỉnh thoảng làm thơ xướng họa cùng Tú
Mỡ. Phải đến Phong Hóa số 187 (15-5-1936) Phạm Cao Củng mới xuất hiện lần đầu
trên Phong Hóa với Chiếc tất nhuộm bùn.
Trở về cuối năm 1932, khi Thế Lữ gửi
truyện Thây ma xuống thang gác đến Phong Hóa, chắc Nhất Linh
thấy trúng ý mình nên đăng ngay.
Bỏ truyện
trinh thám sang truyện tình cảm
Khi đã có người viết trinh thám thay
mình, Nhất Linh mới chuyển sang truyện tình cảm. Vì vậy, liên tiếp trên hai số
Phong Hóa 28 (30-12-32) và 29 (6-1-33) có truyện ngắn Nước chảy đôi
giòng và Cô áo tím ký tên Bảo Sơn, rất lãng
mạn: Nước chảy đôi giòng kể chuyện Lê Sinh, tình cờ đi đò đêm,
gặp người con gái chèo đò xinh đẹp, chàng say đắm tỏ tình… Mười năm sau, chàng
đã có vợ con, tình cờ lại gặp nàng trên một chuyến đò, nàng cũng đã có chồng,
con… "Lê Sinh bùi ngùi, cúi mặt ngắm giòng nước chảy, ngắm mấy cái
rác trôi theo giòng nước, tan tác mỗi cái trôi về một phía… khác nào hình ảnh
cuộc đời của Lê Sinh với cuộc đời của người con gái chở đò, mỗi bên đi về một
ngả, không bao giờ gặp nhau".
Truyện Cô áo tím, cũng trong
không khí thơ mộng: mấy cậu thanh niên rủ nhau đi chùa Bút Tháp, xem tượng. Có
một bức tượng gỗ đẹp tuyệt trần, làm các cậu xao xuyến tâm hồn. Ra cửa, lại gặp
một người con gái mặc áo tím cùng mẹ đi vãng cảnh chùa, nàng đẹp giống như bức
tượng… Truyện Cô áo tím có hậu, vì người đẹp sẽ làm vợ một
chàng trong bọn. Tuy nhiên hai truyện ngắn này, tuy văn hay, nhưng tâm lý hời
hợt, đánh dấu việc Nhất Linh bỏ truyện trinh thám để bước vào địa hạt tình cảm,
đúng lúc Phong Hóa đã đăng xong Hồn bướm mơ tiên và sắp
đăng Nửa chừng xuân của Khái Hưng.
Thêm một sự kiện đáng chú ý nữa là trên
Phong Hóa số 31 (24-1- 33) số Xuân, có truyện ngắn Dưới bóng hoa
đào của Khái Hưng và Bảo Sơn viết chung, lần đầu. Truyện này hay hơn
hai truyện trước của Bảo Sơn. Sau đó, Bảo Sơn viết Bóng người trên
sương mù (Phong Hóa số 32, 3-2-33) trên nền cổ
tích, rất thành công; cùng với Hồn hoa (Phong Hóa số
32) và Gái vùng lim (Phong Hóa số 33, 10-2- 33) cả hai vào
loại trung bình.
Đến Phong Hóa số 37 (10-3-33) có Nắng
mới trong rừng xuân, bắt đầu khởi sắc, truyện người con gái bị bệnh
lao, trốn người yêu về quê. Người yêu từ Hà Nội về thăm. Biết mình sắp chết,
chỉ có một ngày đi chơi với chàng, nàng đã sống hết mình. Sau này Nhất Linh sẽ
mở rộng và đào sâu đề tài này trong Bướm trắng.
Những truyện ngắn trên đây, đều có không
khí tình yêu nhẹ nhàng lãng mạn, Bảo Sơn chưa thay đổi được chủ đề và cách
viết, nên sau Nắng mới trong rừng xuân, ông trải
qua một thời kỳ bế tắc: ngừng viết truyện ngắn, chuyển sang làm thơ và viết
tiểu luận.
Bắt đầu trên Phong Hóa xuân (số 31,
24-1-33), với hai bài thơ mới, Gượng vui và Cái vui ở
đời ký tên Tân Việt. Đến số Phong Hóa 36 (1-3-33) có bài thơ Im
lặng ký tên Tân Việt, và bài tiểu luận Thế nào là thơ mới ký
tên Nhất Linh. Thơ cũng bình thường, tiểu luận không có gì đặc sắc, vì Nhất
Linh không rành lý thuyết thơ. Trên Phong Hóa số 38 (17-3- 33) lại có bài thơ
dài Hai thế giới ký tên Nhất Linh, cảm hứng từ truyện Mực
tầu giấy bản của Khái Hưng về hai thế giới cũ, mới.
Vì bài thơ xã luận Dân quê (Phong
Hóa số 39, 24-3- 33) ký tên Tân Việt, tố cáo đời sống tối tăm của dân quê,
Phong Hóa suýt bị đóng cửa, nên Nhất Linh quyết định không làm thơ nữa.
Trong vòng
một năm, kể từ
tháng 3-1933 đến tháng 3-1934, ông chỉ viết thêm có ba truyện ngắn, ký tên Bảo
Sơn, đó là: Đầu đường xó chợ (Phong Hóa số 51, 16-6-33) viết
theo lối hiện thực xã hội, tả cảnh nghèo đói, khá vụng về vì không phải sở
trường của ông; Tháng ngày qua (Phong Hóa số 52, 23-6-33) và Ngày
thu… (Phong Hóa số 52, 23-6-33) hai truyện tình cảm lãng mạn, không khí
cũng giống những truyện đã viết trước.
Không hiểu chuyện gì đã xảy ra?
Ta chỉ có thể phỏng đoán: Nhất Linh bị
bế tắc. Và Khái Hưng đã cầm tay đưa bạn trở lại bàn viết, bằng cách viết chung
với Nhất Linh. Cho nên, sau khi Nửa chừng xuân vừa chấm dứt ở
Phong Hóa số 65 (22-9-33), người ta thấy trên Phong Hóa số 66 (29-9-33) xuất
hiện tiểu thuyết Gánh hàng hoa của Khái Hưng và Bảo Sơn. Và
khi Gánh hàng hoa chấm dứt ở số 88 (9-3-34), liền sau đó, lại
thấy Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh, đăng trên Phong
Hóa số 89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34).
Tôi cho rằng sự viết chung này
đã giúp Nhất Linh thoát khỏi lối kể chuyện cổ điển để nhập vào tiểu thuyết hiện
đại. Nhiều người không tìm hiểu kỹ, lại tưởng Nhất Linh là tác giả chính của
hai tập truyện này. Nhưng nếu để ý ta sẽ thấy, về tư tưởng, Liên trong Gánh
hàng hoa gần gũi với tâm hồn cao thượng và sự hy sinh hạnh phúc cá
nhân của Lan, Mai trong Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân hơn
là sự tranh đấu cho tự do và hạnh phúc cá nhân của Loan, Nhung, trong Đoạn
tuyệt, Lạnh lùng. Đến truyện Đời mưa gió, Tuyết thể hiện
sự tự do toàn diện từ thân xác đến tâm hồn, hòa hợp tư tưởng tuyệt vời giữa hai
ngòi bút Khái Hưng Nhất Linh, chúng ta có một tuyệt tác.
Nguyễn Vỹ là người biết sự "bí
mật" này, ông kể lại như sau:
"Trong thời gian này [tức
là thời gian dạy ở trường Thăng Long], Nguyễn Tường Tam cũng có viết
tiểu thuyết trong Phong Hóa với bút hiệu Nhất Linh, nhưng phải nhờ Khái Hưng
sửa chữa nhiều. Những tác phẩm song hành ấy đều ký cả hai tên: Khái Hưng và
Nhất Linh, theo lời Nguyễn Tường Tam nói với tôi. Cũng một đôi quyển truyện của
Nguyễn Tường Tam đã được Khái Hưng sửa lại, nhưng Khái Hưng không đề tên mình.
Nguyễn Tường Tam, Cử nhân khoa học, bắt đầu viết tiểu thuyết dưới sự hướng dẫn
của nhà văn Khái Hưng." [4]
Và sau khi Đời mưa gió ký
tên Khái Hưng và Nhất Linh chấm dứt trên Phong Hóa số 112 (24-8-34), Nguyễn
Tường Tam, lần thứ hai ký tên Nhất Linh, dưới truyện vừa Nắng thu,
in trên Phong Hóa số 113 (31-8-34), một truyện khá tầm thường; nhưng đến Phong
Hóa số 124 (16-11-34), tiểu thuyết Đoạn Tuyệt ra đời, một
thành công lớn. Bắt đầu một giai đoạn mới của Tự Lực văn đoàn.
Thế rồi một
buổi chiều
Nhưng trước khi có Đời mưa gió ký
tên Nhất Linh và Khái Hưng, Nguyễn Tường Tam đã viết truyện Thế rồi một
buổi chiều, ký tên Nhất Linh, mà tập I được in thành phụ bản Phong Hóa
số 91, 30-3-34. Đây là lần đầu tiên người ta thấy tên Nhất Linh ký dưới một
truyện vừa, như muốn xác định: ông đã tìm thấy đường đi của mình.Thế rồi một
buổi chiều, phụ trương
Phong Hóa số 91 Sụ kiện Nguyễn Tường Tam ký tên Nhất
Linh dưới truyện Thế rồi một buổi chiều, một năm rưỡi sau khi
in truyện ngắn đầu tiên Giết chồng… báo thù chồng (Phong Hóa
số 14, 22-9-1932), cần được tìm hiểu. Sự thể có lẽ như thế này: trong một thời
gian dài, ông ký tên Ngô Tâm Tư, rồi Bảo Sơn, vì thấy mình vẫn chưa bỏ được lối
viết cổ điển. Thế rồi một buổi chiều ra đời, đánh dấu việc
Nhất Linh đã thoát cổ điển.
Tác phẩm bắt đầu như sau:
"Lê Dũng
rảo bước trên con đường làng.
Ban trưa,
đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài
tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh
nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà
thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng khác,
nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn.
Bên đường,
cạnh mấy gốc thông già, mấy người con gái xúm quanh một cái giếng khơi đương
kéo gầu lấy nước. Dũng khát ráo cả cổ, nhưng vẫn không giám ngừng lại xin nước
uống, sợ người ta nhận biết mặt mình. Chàng cắm đầu đi, văng vẳng nghe sau lưng
tiếng gió reo trong rặng thông, tiếng cười nói của mấy cô con gái và tiếng nước
trong chảy từ gầu xuống giếng sâu".
Lời văn giản dị mà sâu lắng, có hồn.
Bỏ tôi, bỏ lối kể chuyện, Nhất Linh thực sự bước vào tiểu thuyết
hiện đại với những dòng quốc ngữ trên đây: Dũng hiện ra, trong bối cảnh làng
quê yên bình, thơ mộng, nhưng lòng chàng nổi sóng. Một cuộc đối chất triền
miên: giữa nội tâm và ngoại cảnh; giữa những đứa trẻ và những cô gái quê hồn
nhiên, vô tội, với Dũng, một thanh niên bị ruồng bắt, có tội. Nhất Linh mô tả
một Dũng, cách mạng, đang trốn, mà không dùng một chữ nào lộ liễu, liên quan
đến kháng chiến. Nói mà không nói. Những lời vô âm này, chỉ người Việt đọc mới
hiểu. Kiểm duyệt Pháp không hiểu. Dũng đi trốn cũng là Nhất Linh đi trốn. Nhưng
ở đây, Nhất Linh không kể chuyện "tôi đi trốn" như thế nào, mà ông để
những cử chỉ và suy nghĩ của Dũng làm việc
đó. Nhất Linh đã "vào trong" Dũng. Ông đã nhập tiểu thuyết hiện đại.
Dũng sẽ trở thành nhân vật chính trong Đoạn tuyệt và Đôi
bạn.
Những truyện ngắn khác viết từ trước đến
giờ, Ngô Tâm Tư và Bảo Sơn vẫn chỉ kể lại những câu chuyện
khác nhau, dưới hình thức trinh thám hoặc tình cảm, cho nên chưa được
"công nhận". Chỉ khi Nguyễn Tường Tam thấy mình đã hóa thân trong
nhân vật, ông mới ký tên Nhất Linh. Sự ký tên này như để nói: Tôi bây giờ mới
đích thực là nhà văn Nhất Linh. Việc này không dễ dàng, bởi có nhiều nhà văn
suốt đời không ra khỏi cái tôi kể chuyện.
Thế rồi một
buổi chiều là tác
phẩm đầu tiên Nhất Linh hoàn toàn thoát khỏi cổ điển, bước vào hiện đại. Dũng
bị lùng bắt, cùng đường, chạy vào chùa sư nữ, được ni cô giấu ở gác khánh sau
chùa. Mối tình giữa ni cô và Dũng, có chút ảnh hưởng Hồn bướm mơ tiên.
Nhưng sự khác biệt sâu xa giữa Khái Hưng
và Nhất Linh đã lộ rõ trong tác phẩm nhỏ bé này: Khái Hưng nhìn ra ngoài, nhìn
vào người khác để nhận xét con người, với đôi mắt đầy thương cảm, ông đưa ra
những mẫu người hy sinh, chịu đựng. Nhất Linh nhìn mình, nhìn vào nội tâm của mình
để viết, để tìm cách cho cá nhân thoát khỏi sự tù hãm của xã hội lỗi thời. Sự
khác biệt sâu xa giữa hai nhà văn này là như thế. Nhưng từ Hạnh và Bướm
trắng, Khái Hưng và Nhất Linh lại đi cùng một con đường, nghĩa là cùng chĩa ngòi bút vào nội tâm con người.
Ở những bước đầu, Khái Hưng đã cầm tay,
hướng dẫn Nhất Linh ra khỏi lối viết cổ điển. Tới đây ta mới hiểu được tại sao
Nhất Linh "cho" Khái Hưng người con trai thứ hai của mình, như một ân
tình, một cảm tạ, bởi vì sự hòa hợp giữa hai người đã trọn vẹn, trong tác phẩm.
Mà tác phẩm là phần tinh túy nhất của con người.
Chú thích:
[1] Nam Phong số 18 (tháng
12-1918).
[2] Kong-Ko Đai-Jin (Konkokyo)
là tên một đạo mới, do Bunjiro Kawate (1814-1883) thành lập năm 1859, thoát
thai từ Thần đạo.
[3] Đi Nam Kỳ, ký T.K.H. (Trần
Khái Hưng) và Cái thù ba mươi năm, ký T. Khái Hưng, in trên
Phong Hóa số 15 (29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng
(in lại trong Anh phải sống) trên Phong Hóa số 16
(6-10-1932). Cái thống đời Tống, ký T. Khái Hưng, trên Phong
Hóa số 17 (13-10-1932). Tình tuyệt vọng, ký Khái Hưng trên
Phong Hóa số 18 (20-10-1932).
[4] Nguyễn Vỹ, Văn thi sĩ tiền
chiến, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, trang 129.
Hoàng Đạo và
Thạch Lam
Hoàng Đạo
Là cây bút tài hoa nhất trong ba anh em
Nguyễn Tường: viết gì cũng được, viết hay ngay từ đầu, không cần qua thời kỳ
"luyện văn", Hoàng Đạo thản nhiên bước vào lối viết hiện đại, ngay
trong truyện ngắn đầu tay Nùng Chi Lan ký Tòng Lương, đăng
trên Phong Hóa số 14 (22-9-32), câu đầu như sau:
"Đêm đã
muốn tàn. Trong rừng sâu, dần dần sáng rõ. Bến đò yên lặng, chỉ nghe thấy tiếng
chim xa gõ mõ, giọt sương nặng rơi ty tách" đã mở ra một bối cảnh thơ mộng khác
thường, thiên nhiên đậm hồn nhân sinh, thoát xa cổ điển; kèm sự cách tân ngôn
ngữ rất đặc biệt của người làm thơ, nhờ chữ muốn. Hoàng Đạo không
viết: "Đêm đã tàn", để chỉ một trạng thái, mà ông viết: "Đêm
đã muốn tàn", để chỉ một hành động, tức là ông
đã biến đêm thành một chủ thể sống động như con người. Rồi câu
kế tiếp: Trong rừng sâu, dần dần sáng rõ, không "đúng văn
phạm", đáng lẽ phải viết: "Trong rừng sâu, trời dần dần sáng
rõ", nhưng ông đã bỏ chữ trời đi, lại cũng là
một thủ pháp của thơ. Vì không có trời, nên ta không biết ánh sáng
từ đâu tới, ai rọi, không khí trở thành bí mật hoang đường, đúng hệt như những
gì ta cảm nhận khi bước vào rừng sâu. Nếu Hoàng Đạo tiếp tục viết
truyện ngắn thì chưa biết, lối sáng tạo câu, chữ của ông sẽ đưa văn chương tới
đâu.
Nùng Chi Lan ký tên Tòng Lương (Tường Long nói
lái), tuy cốt truyện còn thô sơ, nhưng nhiều câu văn như thơ, đẹp lạ lùng, ý
tưởng lại rất bạo, rất mới, với những câu: "tôi thương cô, tôi yêu
cô" hay "Chàng hồi tưởng lại cái môi thoa son… mà
ngậm ngùi nhớ tiếc…" ở vào thời điểm ấy, viết như thế là
"sexy" lắm.
Bông hoa thủy
tiên
Trên Phong Hóa số 31 (24-1-1933), số báo
Xuân đầu tiên, do Tự Lực văn đoàn đặt ra, có truyện ngắn Bông
hoa thủy tiên của Tứ Ly, ít ai để ý, nhưng là truyện ngắn tân kỳ nhất
của Tự Lực văn đoàn và của văn học Việt Nam lúc bấy giờ.
Bông hoa thủy
tiên là một
bài thơ trong không gian liêu trai Lưu Nguyễn. Tứ Ly giao hòa kỷ niệm với hiện
thực. Đêm ba mươi Tết, Vân sinh đứng cạnh giò thủy tiên chàng vừa tỉa xong ban
chiều, sực nhớ lời Lê Dung dặn sau giao thừa nhớ đến xông nhà nàng:
"… Chàng liền khoác áo tơi
mở cửa bước ra. Cơn gió mạnh làm chàng rùng mình.
Chàng đi theo
mấy dãy phố vắng tanh, lần đến nhà Lê Dung. Bước vào cái cổng ngỏ, chàng không
thấy hai chậu hoàng lan ở bên ngõ mà chàng thường đứng xem. Hơi lấy làm lạ,
chàng định kiến nhìn kỹ lại cảnh vật chung quanh, giật mình lẩm bẩm: "có
lẽ ta nhầm… không phải nhà Lê Dung".
Nhưng con
đường sỏi chàng đang đứng như chàng đã qua lại nhiều lần rồi. Chàng ngửng đầu
lên nhìn qua mấy cây tường vi lá lăn tăn, thấy một tòa nhà trắng chung bóng in
xuống dưới cái ao bán nguyệt trước mặt, lung linh như thực như hư. Chàng sực
nhớ rằng xưa kia chàng đã từng vin cành tường vi hái hoa, tắm mát ở dưới ao
nước trong, liều giảo [rảo] bước
lên thềm, đi qua một giẫy lan can bằng xứ, chàng vừa định gõ cửa vào, thì cánh
cửa từ từ mở ra…"
Những gì Vân sinh đang sống trong
giây phút này, là mộng hay thực, không thể biết được, vì sự pha trộn thực mộng
ở đây đã nhuần nhuyễn đến mức thượng thừa: Chàng đi theo mấy giãy phố
vắng tanh, không biết là chàng có đi thật, hay chỉ đi
trong mộng du; bởi vì đã bước vào cổng ngõ nhà Lê Dung rồi,
mà chàng không thấy hai chậu hoàng lan, rồi chàng định
kiến lại, và tự hỏi hay là ta nhầm?
Tiếp theo đó, chàng lại gần như chắc
chắn: con đường sỏi chàng đang đứng như chàng đã qua lại nhiều lần rồi, vậy
con đường này nằm trong trí chàng chứ không phải là con đường thật. Rồi đến
quang cảnh tiếp theo, khi chàng ngửng đầu lên nhìn qua mấy cây tường vi
lá lăn tăn, thấy một tòa nhà trắng chung bóng in xuống dưới cái ao bán nguyệt
trước mặt, lung linh như thực như hư thì đúng là hư ảo, bởi vì chàng
sực nhớ rằng xưa kia chàng đã từng vin cành tường vi hái hoa, tắm mát ở dưới ao
nước trong. Sự giao thoa thực ảo tài hoa và tế nhị như vậy chỉ có thể
từ bàn tay một bậc thày chữ nghĩa, nhưng không, đó là từ ngòi bút của người
thanh niên viết truyện ngắn lần thứ nhì trong đời.
Khó có thể hiểu, mới vài năm trước,
tiếng Việt còn ở mức "từ đây sẽ vắng tanh tin nhạn", mà
bây giờ, Tứ Ly thao túng chữ nghĩa như vào chốn không người.
Nói rõ hơn, trong Bông hoa thủy
tiên, Tứ Ly đã dùng thứ chữ nước đôi để ảo hóa một cảnh
thực và thực hóa một cảnh ảo: Vân sinh tưởng đã đến nhà Lê
Dung, bước qua cái cổng ngỏ, chàng không thấy chậu
hoàng lan, bèn nhìn kỹ chung quanh, lẩm bẩm: "Có lẽ ta
nhầm…", nhưng trí nhớ cãi lại: con đường này ta đã qua
lại nhiều lần. Rồi chàng nhìn xuyên qua đám tường vi, thấy một tòa nhà
trắng in hình dưới ao bán nguyệt. Tất là mơ rồi. Nhưng không. Trí
nhớ lại mách: xưa ta đã từng vin cành tường vi hái hoa, ta đã
từng tắm mát dưới ao nước trong… Ở đây, tưởng tượng giao hòa với
thực cảnh, quá khứ lồng trong hiện tại, tạo ra một không gian tuyệt vời, đắm
say, mê sảng. Chúng ta vừa bị lôi cuốn theo Vân Sinh vào khung cảnh mơ màng, hư
hư thực thực trên cung quảng với những mỹ nữ dạo khúc nghê thường, nhưng chỉ
một thoáng sau, những nàng tiên trở lại thực thân, chỉ là đóa thủy tiên
vừa nở thành tiên nữ. Thần tiên. Mộng ảo. Đừng tỉnh lại. Đừng hỏi: có thật
không? Hỏi vậy là vô ích, bởi lúc nào quá khứ cũng sống trong hiện tại, nhắc ta
cảnh ấy, cảnh nọ, ta đã trải qua, không kiếp này thì kiếp trước…
Bông hoa thủy
tiên chính
là truyện Tú Uyên Giáng Kiều, trong tiếng Việt hiện đại của Tự Lực văn đoàn, mà
Tứ Ly vừa sáng tạo, cũng là truyện ngắn huyền ảo (fantastique)
hiện đại đầu tiên của nước ta, viết trước Nhập Thiên Thai của
Vũ Khắc Khoan hơn hai mươi năm; thanh thoát, tế nhị, không lời lẽ cầu kỳ, lập
luận phiền phức như Khoan tôi, cũng không kiểu cách như
Marquez máu mê, tàn bạo.
Tiếc rằng tác phẩm sau in lại trong
tập Tiếng đàn (1941) đã bị sửa hoàn toàn, trở thành một truyện
ngắn hiện thực, bằng cách thêm vào đầu truyện một đoạn rất dài, viết về Vân:
ngồi trong nhà một đêm giao thừa, bên bàn thờ khói hương nghi ngút, Vân rất yêu
hoa thủy tiên, chàng chọn hoa như thế nào, ủ hoa như thế nào, v.v... thừa thãi và
thiếu nghệ thuật. Cái tựa Bông hoa thủy tiên bị đổi
thành Hoa thủy tiên, tức là đổi một bông hoa thủy tiên đã nở ra các nàng tiên thành hoa thủy tiên chung
chung, không có nghĩa gì. Vân sinh [người học trò tên Vân] bị
đổi thành Vân và Lê Dung đổi thành Dung;
và mở đầu truyện bằng câu:
"Vân
ngồi yên lặng để sự bình tĩnh thấm vào người. Điếu thuộc là hút dở để trên đĩa sứ bốc khói lên thành vệt xanh lam…"
Trong khi Bông hoa thủy tiên bắt
đầu bằng câu:
"Vân
sinh mở cửa sổ cho khói pháo bay ra.
Trời tối, hai
dẫy phố mầu đen sẫm in lên vùng trời sâu thẳm".
Những sự thay đổi này làm mất tính cách
liêu trai trong tác phẩm, biến một truyện có tính cách tiên phong đầy chất sáng
tạo trở thành bình thường như các truyện ngắn cùng thời. Tôi không nghĩ Hoàng
Đạo làm, vì năm 1941, Hoàng Đạo đã phải trốn, rồi sau bị bắt. Vậy Thạch Lam làm
chăng? Không có lẽ, vì Thạch Lam sành văn, và lúc đó ông đã chớm lao rồi. Sau
này, nếu có dịp in lại truyện này, ta nên lấy lại bản gốc trên Phong Hóa số 31
(24-1-33).
Phong Hóa số 34 (17-2-33) có
truyện Cánh buồm trắng của Tứ Ly, viết theo lối tình cảm lãng
mạn, nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhưng sau đó, không thấy ông viết tiếp, mãi tới
báo Ngày Nay, mới có thêm vài truyện ngắn nữa.
Tứ Ly có làm ít nhất một bài thơ, trên
Phong Hóa số 32 (3-2-33). Bài thơ mới rất dài tựa đề Trên
sông Đáy, lấy người kỹ nữ bến Tầm Dương của Bạch Cư Dị làm phông cho
một buổi hát cô đầu bên sông:
Đêm hôm ấy
trăng trong vừa mọc
Cảnh trăng
thu như cảm xúc tới hồn thơ
Hai anh em
dạo gót thẫn thờ
Kìa đã đến
bên bờ sông Đáy
Theo giòng
nước gió thu hây hẩy
Như vàng
gieo, gợn chạy lăn tăn.
Bên nhịp cầu
mấy chiếc thuyền nan,
Nằm ngủ ở
dưới bóng trăng êm ái.
Nghe ca nương than thở thân phận tủi hổ
của mình, hai người khách cũng là hai anh em (Hoàng Đạo, Nhất Linh chăng?)
khuyên nàng đừng buồn vì thời nay ca hát không còn là cái nhục. Tuy là thơ
"tuyên truyền" (ca nương thấy báo chí kêu gào "ngũ luân,
ngũ thường" mà đời nàng không có gì hợp với luân thường cả,
hai anh em bèn lựa lời khuyên giải) nhưng lời thơ đẹp, nhạc và ý hay hơn thơ
Tân Việt (Nhất Linh) và thơ Phạm Huy Thông lúc bấy giờ.
Tuồng cổ tân
thời
Nhất Linh chủ trương một tờ báo hài
hước, nhưng ông không viết được hài hước, Thạch Lam cũng không có óc khôi hài.
Khái Hưng có duyên hơn. Tú Mỡ làm thơ hài hước chuyên nghiệp, bài bản, đọc qua
vài bài là thấy chán. Tất cả mới lạ trong tiếng cười, dựa trên vai hai người:
Hoàng Đạo trong văn và Nguyễn Gia Trí trong tranh. Cả hai đều có óc sáng tạo
phi thường. Nguyễn Gia Trí sẽ nói đến sau. Tác phẩm hài hước có giá trị trong
thời kỳ đầu tiên này là của Tứ Ly với Tuồng cổ tân thời.Tuồng cổ tân thời, Phong Hóa số 38 (17-3-1933)Tuồng cổ tân
thời, in trên 5 số
Phong Hóa, bắt đầu từ Phong Hóa số 38 (17-3-1933), đến số 42 (4-4-33), sau này
bị Thanh Lãng lên án với những lời tàn tệ: "Nhưng không ở đâu
Hoàng Tăng Bí và Nguyễn Khắc Hiếu được mô tả một cách tồi tàn, gàn dờ, quê
kệch, nhất là đê hèn như trong vở tuồng "Tuồng cổ tân thời" (Xem
chương Sự tiếp nhận Tự Lực văn đoàn).
Thực ra, đây là một tác phẩm độc đáo,
soạn theo lối tuồng cổ, mô tả trận thư hùng Tân Cổ giao tranh: Một bên Hoàng
tiên sinh oai phong lẫm lẫm, một bên là bọn Phong Hóa nhố nhăng nổi loạn. Các
vị tiền bối thua trận, chạy có cờ.
Không phải Tứ Ly viết tuồng hú họa mà
chơi, đây là một vở tuồng có nghiên cứu đàng hoàng. Khái Hưng đã từng cho rằng:
viết kịch là khó, khó nhất trong mọi thể loại, vì tất cả đều ngụ trong lời nói.
Viết tuồng có lẽ khó hơn, và viết Tuồng Cổ, tức Hát Bội, còn khó hơn vạn bội.
Vậy mà người thanh niên Tây học này, dám xông vào Tuồng Cổ. Tức là ông phải
nghiên cứu kỹ về tuồng cổ.
Tuồng cổ hay hát bội có
hai điệu: một là cách nói và một là cách hát.
Cách nói cũng lại có hai điệu:
Hường là những câu nói chính, phải thét to,
đặt theo thể nói lối.
Tán là những câu phụ, đệm cho những
câu hường, nói nhỏ, đặt theo thể văn xuôi.
Cách nói dùng vào những việc sau đây:
- Giáo đầu: lời mở đầu của trùm phường,
chào khán giả, tóm lược câu chuyện.
- Xưng danh.
- Nói chuyện hoặc kể việc.
Cách hát, cũng có hai điệu: hát Nam và hát Bắc.
Hát Nam câu làm theo thể thơ song thất
lục bát, thể văn riêng của ta.
Hát Bắc, là những câu làm theo thể thơ,
thể phú mượn của người Tầu.
Hát Bắc dùng để đặt các câu: Bạch (lời
nói của một vai mới ra trò, làm theo thể thơ), Loạn (câu bổ ý,
làm theo thể thơ hoặc phú), Xướng (trần tình) làm theo thể
phú, Than (tỏ tình bi ai, làm theo thể thơ. Ngâm (là
bài thơ, một vai đọc ra để tỏ tình mình) [1]
Hoàng Đạo đã sáng tác vở tuồng cổ này
theo đúng quy luật phức tạp của hát bội, và có lẽ ông muốn nhại vở tuồng
cổ Tân diễn Đệ bát tài tử hoa tiên ký của Hoàng Tăng Bí.
Sân khấu mở vào dinh cơ cụ Hoàng [2] với
hai vị tham mưu Tả Vĩnh, Hữu Hiếu, và mấy tên lâu la. Dưới đây xin chọn mấy
trích đoạn:
"Chủ trại Hoàng Tăng Bí ra ngồi nghĩ việc
quan.
Chủ trại ngồi bạch tán: "Như
ta nay: Hồng Hoàng chủ trại, tên gọi Hoàng Tăng. Nặng đôi vai gánh chữ nho
phong, bền một dạ ghi điều cổ lễ".
Thét: Nhưng rứa mà, đất bằng nổi
sóng, gây việc can qua, Phong Hóa đâu mới nẩy nòi ra, đem hết thẩy mọi người
công kích, đặng làm trò múa rối vui chơi. Văn ta hay, cứ chế rỡn hoài, không hề
thấy một lời khen tặng. Cười nhạt, nói: ha ha! Thét hường: một
đầm mấy con cá lớn, xổ lầu ngại lúc voi xô.
Tán: Rứa như ta, từ thủa múa cây
bút sắt, dư luận cầm cân, trong cẩm nang sẵn có mưu thần, trừ Phong Hóa âu ta
phải dụng a!"
Và đây là chân dung Nguyễn Văn Vĩnh:
"Tả tham mưu Nguyễn Văn Vĩnh ra bạch:
Người đời
thay ý kiến, như chong chóng quay - quay thế mà nghĩ cũng hay hay; tít mù tắt
hết ngày hết tháng.
"Tán: Ta tên Văn Vĩnh, chủ
báo Annam, đường văn minh đi bước tiên phong, tư tưởng mới giốc lòng truyền bá.
Thét hường: Rứa mà khi nhàn rỗi,
còn thú đánh tổ tôm. Lại giỏi nghể bấm độn cát hung, tìm long mạch cùng là xem
số, quyết, đem tài thi thố mà phò chủ trại Hoàng. Theo phương trâm "quốc
túy bảo tồn", cho thiên hạ biết ta thủ cựu."
Và đây là Hữu tham mưu Nguyễn Khắc Hiếu:
"Hữu tham mưu Hiếu rót rượu uống.
Tán: "Say chuếnh choáng
non xanh còn chẳng thấy, thời mưu cao kế diệu biết đâu tìm, hay bây giờ bọn ta
hóa ra chim, theo giấc mộng bay về nơi tiên cảnh, hay bây giờ ta đem rượu cúc
rủ quân thù đặng chén say sưa, bao giờ cho say đứ say đừ, khi ấy sẽ ra tay trừ
khử!"
Nói đến đây, Hữu tham mưu túy lúy, gục
xuống bàn không còn biết gì nữa. Chủ trại nhìn hữu tham mưu ra ý thương hại. Ngâm:
"Thử thị
Đà giang phi Xích Bích
Dã vô Gia Cát
giữ Chu Lang"
Sau khi giới thiệu các nhân vật và sự
bàn bạc chiến lược dẹp quân thù bên Hoàng trại chủ, đến phần II, mới nói đến
bên Phong Hóa: Tứ Ly ngồi chễm chệ trên thành hút thuốc lá, đội mũ Khổng Minh,
còn Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) oai phong cầm bút thần ra giao chiến:
Nhát Dao Cạo ra khiêu chiến:
"Như ta
nay:
Tán: Sắc như nước, bóng như
gương, ngọn bút thần soi mới bả văn chương, lấy giao, cạo những lời vô nghĩa.
Bớ bọn kia:
Chẳng biết thân ván cùn bút rỉ, dám khoe khoang mẫn thế ưu thời. Điều lỗi lầm
ta vạch mắt cho coi, lời chỉ giáo như nước trôi đầu vịt".
Các vị đầu lĩnh bên Hoàng trại chủ sợ
mất vía, chẳng ai dám ra tỷ thí, có Nguyễn Phùng liều mạng, được vài hèo, thua
chạy có cờ, phu nhân bèn ra tiếp sức:
"Cô Việt An, than:
Chàng ôi, tài
thao lược chàng còn phải chạy, tài mọn này thiếp đâu dám xông pha, âu là ta nên
trở lại nhà, duyên văn tự từ rầy thôi hết dám.
Nhát Dao Cạo đứng ngâm:
"Anh hùng đáng
mặt anh hùng.
Việt An mất
vía, Nguyễn Phùng rẽ cương.
Hỏi ai còn
dám tranh cường.
Còn ai dám
viết văn chương lạ đời".
Nguyễn Công Tiễu nhân danh nhà khoa học,
liều chết xông ra, cũng chỉ được vài hèo rồi thua chạy. Lê Công Đắc liều mình
tiếp chiến.
Việt Sinh ra
bạch:
Anh Nhát Dao
Cạo! hãy dừng tay lại, để mỗ ra tài.
Lê Công Đắc và Việt Sinh giao tranh, Đắc
thua chạy.
Việt Sinh
đứng tán:
Ngẫm xem cuộc
thế như đám mây chiều, gió chạy mây theo, thiên hình vạn trạng. (…)
Ngâm:
Lò cừ nung
nấu sự đời
Bức tranh vân
cẩu vẽ người tang thương
Nguyễn Tiến
Lãng ra bạch Thét
Bớ Việt Sinh!
Ai khiến mi thương, ai cầu mi sửa.
Như ta đây
hay than hay thở, trông hoa xoan rụng lòng ta không nỡ, thấy ve sầu kêu nước
mắt khó cầm, thì sao ngươi không cứ mặc ta khóc thầm, mặc ta kéo thiếu niên vào
cõi đời sầu khổ".
Vở kịch viết theo đúng quy luật tuồng hát
bội. Chữ nghĩa đối chát. Cách mô tả nhân vật gần như toàn bích:
Hoàng Tăng Bí: Nặng đôi vai gánh
chữ nho phong, bền một dạ ghi điều cổ lễ.
Nguyễn Văn Vĩnh: Đường văn minh
đi bước tiên phong, tư tưởng mới giốc lòng truyền bá.
Tản Đà: Say chuếnh choáng non
xanh còn chẳng thấy, thời mưu cao kế diệu biết đâu tìm.
Khái Hưng: Sắc như nước, bóng
như gương, ngọn bút thần soi mới bả văn chương, lấy dao, cạo những lời vô nghĩa.
Tứ Ly vẽ chân dung tài tình gần được
như… Nguyễn Du. Tác phẩm giễu cái cổ nhưng phục tài người cũ. Dùng biền ngẫu để
nhại biền ngẫu: gậy ông đập lưng ông. Lấy giọng các cụ bỏ miệng các cụ để các
cụ tự giễu, đó là lối cưỡng bách tự trào, có hiệu ứng công phá mãnh
liệt.
Tứ Ly mở đầu lối hài hước độc đáo bằng
tuồng hát bội, hình thức này chưa có ở Việt Nam lúc bấy giờ. Tuồng cổ
tân thời trở thành "cổ điển" ngay từ khi mới ra đời, ngày
nay chúng ta đọc vẫn còn thích thú. Thích hơn đọc tuyệt tác Sơn hậu:
"Phàn Định
Công bạch:
Xuống xa so
đức Thuấn
Lên vai nối
nhân Nghiêu
Dân không lời
kẻ ức kêu vang
Ngục chẳng
tiếng người oan than khóc"
Nguyễn Tường Long dùng hai bút hiệu
chính: Tứ Ly (mặc dù là) giờ xấu nhất, quyết đứng lên cải tổ Phong Hóa,
và Hoàng Đạo (giờ tốt nhất) để phụng sự Ngày Nay. Còn tên thật
Tường Long biến thành Tòng Lương, Tùng Lương hoặc Tứ Linh, Tống Sĩ…
Tứ Ly - Hoàng Đạo là người có tư tưởng
canh tân nhất về mọi phương diện trong Tự Lực văn đoàn. Nhưng phải đợi đến khi
Phong Hóa bị đóng cửa; uất ức, Tứ Ly mới trở thành Hoàng Đạo, lý thuyết gia của
Tự Lực văn đoàn và Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Trong Tứ Ly còn có chữ Tứ, ý chỉ người
con thứ tư trong gia đình Nguyễn Tường. Trên Phong Hóa số 17 (13-10-1932) khi
Khái Hưng ký tên Nhị Linh, để công nhận Nhất Linh là chủ soái văn đoàn, thì
Nhất Linh cũng vội ký tên Tam Linh, để tỏ ý mình là em đứng sau Nhị Linh. Hoàng
Đạo, ký tên Tứ Linh, trên Phong Hóa số 20 (4-11-1932) xác nhận mình là em hai
vì sao bắc đẩu. Tất cả những tế nhị này chứng tỏ, họ không màng chiếu trên
chiếu dưới, họ sống với nhau trong tình huynh đệ tương kính, và khi Nhất Linh
cho Khái Hưng một đứa con, thì sự kết nghĩa trở thành thiêng liêng, cao thượng.
Và họ ở với nhau như vậy, trọn đời.
Thạch Lam
Vào làm việc ở Phong Hóa ở tuổi 22, Việt
Sinh làm phụ tá cho chủ bút Khái Hưng trông coi bài vở, đọc, lựa, trả lời thư
độc giả, viết tin thời sự hàng tuần [3],
sau điểm báo và điểm sách xen kẽ với Lê Ta (Thế Lữ), nhưng ông đã học nghề văn
bằng cách viết phóng sự.
Nguyễn Tường Lân, bắt đầu viết trên
Phong Hóa từ số 14, ký T.L [Tường Lân viết tắt], từ Phong Hóa 15, ký Việt Sinh.
Đến Phong Hóa số 98 (18-5-34), lần đầu tiên ký tên Thạch Lam dưới một bài điểm báo. Và
đến Phong Hóa số 109 (3-10-34), số đặc biệt có chủ đề Sóng lam cát
trắng, bút hiệu Thạch Lam được ký dưới bài tùy bút đầu tiên Sóng
lam cát trắng và bài tạp bút Bên làn sóng, mô tả cảnh
và người tắm bể Đồ Sơn.
Văn bản đầu tiên, in trên Phong Hóa số
14 (22-9-32) là Lệ Hồng quyên sinh, ký tên T.L, kể chuyện cô Lệ
Hồng suốt ngày chỉ buồn rầu nghĩ đến tự tử, bắt đầu bằng câu:
"Lệ Hồng
đã ngoài đôi mươi, lúc nào cô cũng buồn, nét mặt đăm đăm như chìm đắm vào trong
một thế giới đầy những gió trăng hoa mộng, riêng cái sác [xác] thịt còn vướng víu đến cõi
trần bạc bẽo vô duyên này. Từ đó, cô mới có cái ý tưởng lìa sác thịt bay lên
thế giới mộng ảo. Cho được như ý muốn, chỉ có quyên sinh".
Lệ Hồng bốn lần quyên sinh không chết:
lần đầu, cô mua hoa hồng về chất đầy phòng, sáng sau ngủ dậy vẫn thấy mình chưa
chết. Lần thứ hai, cô mua thuốc phiện về nếm thử, thấy đắng quá, vứt đi. Lần
thứ ba cô ra hồ Hoàn Kiếm định trầm mình, trông nước xanh lè, rêu bám thành
váng có mấy con đỉa lượn lờ, sợ quá, sợ đỉa, sợ rét, cô lại không biết bơi,
đành về nhà, mắc dây lưng lụa lên cửa sổ, thòng cổ vào, nhưng dây đứt, cô rơi
xuống đất khá đau…
Lúc đó, Phong Hóa phát động chiến dịch
chống sầu thảm, Thạch Lam tiếp tay Khái Hưng với bài xã luận Sầu thảm
nhiều rồi, ký tên Việt Sinh, chủ trương "quét sạch" sầu thảm bằng
tiếng cười trên Phong Hóa số 15 (29-9-32). Sau đó, ông viết truyện ngắn thứ
hai Nữ sĩ Lệ Hoa (Phong Hóa số 16, 6-10-32) ký tên Việt Sinh,
để chế giễu cô Lệ Hoa, chỉ viết truyện bi thảm bịa đặt.
Hai truyện ngắn Lệ Hồng quyên
sinh và Nữ sĩ Lệ Hoa là bài tập, chưa có gì đáng kể.
Bài ký Một năm Cao đẳng, in
trên Phong Hóa từ số 17 (13-10-32) đến số 23 (25-11-32), khá hơn, viết về giai
đoạn học trường Canh Nông, cho thấy mấy nét đặc biệt của Thạch Lam: Chú ý đến
chi tiết, đến hoàn cảnh, đến thái độ của bạn cùng lớp, đến cử chỉ, sự vui buồn
của họ… Tuy lời văn còn vụng về, nhưng sự thành thực và óc quan sát đã có trong
bài ký này.
Hà Nội ban
đêm
Ngòi bút Việt Sinh nổi trội hơn với loạt
phóng sự dài Hà Nội ban đêm viết chung với Tràng Khanh (từ
Phong Hóa số 37, 10-3-33 đến Phong Hóa số 60, 18-8-33). Theo Nguyễn Tường Bách
thì Tràng Khanh là một người bạn hay đi chơi đêm, về kể chuyện cho Việt Sinh
viết lại.Hà Nội ban
đêm, Phong Hóa
số 37 (10-3-33) Hà Nội ban
đêm bộc lộ
khuynh hướng xã hội của Thạch Lam: người thanh niên 23 tuổi đã cúi xuống thân
phận tối tăm của những cô gái điếm: phần lớn đều là gái quê, muốn trốn cuộc hôn
nhân ép buộc, hoặc bị lấy chồng tàn tật, bị sở khanh quyến rũ rồi bỏ, bị đối xử
tàn nhẫn trong gia đình, bị những mụ tú bà tân thời dụ dỗ ra tỉnh để được mặc
áo đẹp, lấy chồng sang… Bao nhiêu câu chuyện, bao nhiêu cảnh đời, khi ngang
trái, khi giả tạo, dối gian… Tác giả vén màn lên nhiều khía cạnh khác nhau
trong đời sống nhà săm [chambre] ổ điếm, cách tiếp khách của mỗi "tổ
chức", mỗi tú bà, cả những "nạn nhân" cũng sáng tạo nhiều thủ
đoạn để rút tiền khách làng chơi. Hà Nội ban đêm là bức tranh
đen tối đầu tiên về Hà Nội ngàn năm văn vật. Thạch Lam đã nhận được những lời
phê phán gắt gao vì dám "bôi nhọ" Hà thành.
Ở đây xin nói qua về lịch sử văn phóng
sự: Tam Lang bắt đầu với phóng sự Tôi kéo xe, in trên Ngọ Báo khoảng
tháng 6-1932. Lúc đó Phong Hóa số 1 mới ra đời. Chín tháng sau, Việt Sinh bắt
đầu phóng sự Hà Nội ban đêm trên Phong Hóa số 37 (10-3-1933)
và hơn năm sau, Vũ Trọng Phung viết Cạm bẫy người trên Nhật
Tân số 2 (9-8-1933). Đó là những phóng sự đầu tiên, với ba phong cách hoàn toàn
khác nhau, đều chiếu vào những khía cạnh đen tối nhất của xã hội: Tam Lang lật
mặt trái nghề kéo xe. Việt Sinh chiếu vào ngõ ngách của nghề làm điếm và Vũ
Trọng Phụng điều tra nghề cờ bạc bịp.
Sáng tạo thể
văn tùy bút
Tình cờ Việt Sinh (Thạch Lam) trở thành
người sáng tạo ra tùy bút hiện đại.
Việt Sinh được Nhất Linh chỉ định (hay
tự chọn) viết phóng sự? Không thể biết được.
Nhưng, như ta sẽ thấy, phóng sự của
Thạch Lam khác hẳn với các loại phóng sự khác cùng thời, nó là một thứ tùy bút văn chương.
Ngay từ Phong Hóa số 33 (10-2-33) phóng
sự Trên đồi Lim, ngày giỗ Tổ đã hiện dần những nét riêng của
Thạch Lam. Ngày 13 tháng giêng là ngày giỗ Tổ (Hùng Vương), được tổ chức ở cả
một vùng đồi Lim. Dân thành thị, thôn quê đổ về xem hội, quần áo quê, tỉnh, mỗi
kiểu một vẻ. Họ về xem các cuộc chơi: con gái, đánh đu, hát đúm. Tiếng hát là
ngôi sao sáng của ngày hội:
"Ai nấy
yên lặng một lát, lắng tai nghe Tiếng hát cất lên dịu dàng, thong thả - các cô
con gái nhìn nhau, con mắt say sưa, bao nhiêu tinh thần đều để vào câu hát, các
cô ngâm dài ra và gióng tiếng cho đều:
Hỡi người
nhân tình đấy ơi…
Áo hoa ướt
đầm, này ấy, ai ơi… dòng nước xuôi…
Tiếng hát khi
lên cao, xuống thấp, trong và sang sảng, ngân dài ra như dư âm văng vẳng của
tiếng chuông…"
Bài phóng sự được Đông Sơn (Nhất Linh)
minh họa, cho thấy cảnh hội bầy ra trước mắt, đông vui, tình tứ, từ sáng đến
chiều. Bỗng trời đêm giáng xuống, mọi sự thay đổi, nhẹ nhàng trắng biến thành
đen:
"Trời đã
bắt đầu gần tối, sương mù xuống bao bọc lấy đồi Lim làm tiếng nói nghe như khẽ
và xa. Còn cô con gái thấy đứng một mình là nguy hiểm, cứ quanh quẩn sát lấy
nhau, kéo khăn vuông lên rồi thu hai tay vào bọc đứng yên lặng.
Trong bóng
tối nhấp nhoáng, ta lại thấy bóng người sô đẩy nhau, một cô hàng cá bị hai
người chòng ghẹo, gỡ mãi không ra, thúng cá đổ tung, mấy con cá giếc lấp lánh
sáng trên cỏ ướt sương.
Trong cái
không khí yên lặng của đêm xuân đầm ấm, ta nghe thấy tiếng thì thầm to nhỏ,
tiếng quần áo sột soạt, những lời âu yếm van xin, thỏ thẻ trong sương mù…"
Tất cả nhạy cảm và tế nhị của Thạch Lam
đã hiện ra trong câu văn ngắn ngủi này: Lợi dụng bóng đêm, phần tối của con
người hiện ra, đồng lõa, trong không gian hững hờ, trong bất lực hoàn toàn của
mấy con cá giếc nhỏ bé, vô tội.
Không một nhà báo viết phóng sự nào làm
như thế, bởi vì họ chưa phải là nhà văn.
Phong Hóa số 34 (17-2-33) có bài Nghe
hát quan họ một đêm ở Lũng giang: tiếp tục sau một ngày trẩy hội, đêm
về nghe hát đúm. Việt Sinh vẫn không viết phóng sự như mọi người, nghĩa là như
một nhà báo chép lại các sự kiện mình thấy, mà ông viết với ngòi bút của một
nhà văn nhạy cảm, lắng nghe từng tiếng động, từng hơi thở, chụp lại từng bức
tranh, bởi ông chú ý đến thân phận con người, đến cảnh sống của những cô gái
quan họ, ông đến đó để tìm hiểu và ghi lại tâm sự, nỗi buồn của họ.
Tiếp đó, tới Phong Hóa số 77 (15-12-33),
Việt Sinh sáng tạo ra ra một loại phóng sự khác, trong bài Xòe của các
cô nàng, viết về múa Xoè của người Mường ở Hòa Bình. Ông cho biết: hai
anh em ông Đinh Công Nhiếp và Đinh Công Niết, Chánh quan lang đã lấy điệu
"múa xòe giải lụa" ở vùng Phong Thổ, dạy các cô Mường Hòa Bình:
"Xỏe giải lụa" hay là "múa quạ" đều chú trọng vào cái vẻ linh động
của giải lụa mùi hay cánh quạt mở ra gấp lại cho khéo, giống như cánh con bươm
bướm chờn vờn trên bông hoa. (…) Nếu ta là khách quý lên chơi chốn quê hương
các cô nàng, các cô nàng sẽ đem những điệu múa ấy ra mừng, tay tung giải lụa,
miệng chúm chím ca:
"… Chào
quan như ngọc lưu ly…
Như tiên hạ
giới biết đi đằng nào…
Chào quan như
tấm lụa đào…
Như tiên hạ
giới, như sao trên giời…
Chào quan có
bấy nhiêu lời…
Như tiên hạ
giới, như người trên cung…
Bấy nhiêu lời
cũng đủ diễn cho ta biết cái thi vị lạ lùng u uẩn của vùng đồi cây rậm, của
những suối réo dưới khe đá hay những rừng sim rộng rãi bao la mà chiều chiều,
các cô nàng đeo giỏ đi hái hoa. Không phải vì nghĩa lý của câu hát, nhưng vì
cái giọng hát thanh thanh mà nhẹ nhàng, buồn bã mà lạnh lùng, như tiếng vượn
kêu trong rừng khuya".
Nhưng tiếc thay: "Sau khi
biểu diễn trước Hoàng Thượng, thấy công chúng hoan nghênh, ông Đinh Công
Huy [cựu Án sát tỉnh Hòa Bình] mang các cô nàng lên sân khấu
rạp Quảng Lạc diễn lấy tiền giúp… hội Quảng Lạc. Rồi bọn xòe ấy có lẽ đi Hải
Phòng, Nam Định, Thái Bình, diễn như một ganh hát tuồng!"
Việt Sinh luôn luôn nhẹ nhàng, se sẽ
luồn vào hồn ta những nhận xét có vẻ hững hờ mà đớn đau như thế. Trong
bài Phong dao Mường (Phong Hóa số 78, 22-12-33), ông sưu tầm
được bài Mười yêu của người Mường, âu yếm và tha thiết hơn
bài Mười thương của người Việt:
Một yêu khăn
lượt vòng giây,
Hai yêu yêu
cả đôi giầy bàn chân.
Ba yêu xé lụa
may quần.
Bốn yêu xé
nhiễu may chăn đắp cùng
Năm yêu yêu
lạ yêu lùng.
Sáu yêu em
muốn cùng chung một nhà,
Bảy yêu phận
đẹp duyên hòa,
Tám yêu yêu
cả mẹ cha nhà chàng…
Chín yêu se
sợi chỉ vàng,
Mười yêu chỉ
cốt lấy chàng mà thôi!"
Và đây là lời anh chàng bị người yêu phụ
tình:
"Yêu em
em nỡ lấy chồng
Để anh về
chốn nhà không anh chờ
Chờ em biết
đến bao giờ
Quạ kêu khe
suối, giăng mờ đầu non…"
Các cô Mường đều nói được tiếng Việt nên
không có sự "bất đồng ngôn ngữ"
Bài Xoè của các cô nàng pha
trộn văn chương và nghiên cứu, cho thấy nhà biên khảo có thể nhận xét vũ điệu
bằng con mắt nhà thơ, để tạo ra một thể văn mới, đó là tùy bút văn chương.
Thạch Lam đã ảnh hưởng sâu sắc đến tùy bút Nguyễn Tuân sau
này, đặc biệt khi ông viết bài Xòe trong tập tùy bút Sông
Đà (1960).
Đầu năm 1935, khi Nhất Linh quyết định
ra báo Ngày Nay, ông giao cho Nguyễn Tường Cẩm, người anh, làm chủ nhiệm và
Thạch Lam làm chủ bút (số 1 ra ngày 30-1-35), Thạch Lam không phải phụ trách
những mục thường xuyên như viết tin hàng tuần, điểm báo, điểm sách nữa, mới có
thì giờ và tự do hơn trong công việc, có điều kiện để mở rộng tài năng của mình
trên ba phương diện:
- Trở thành cây bút chuyên về mỹ thuật
của Tự Lực văn đoàn.
- Viết truyện ngắn giá trị đầu
tiên: Đói.
- Thực hiện phóng sự lịch sử: Bóng
người Yên Thế.
để mở đầu cho thời kỳ phóng sự trên
báo Ngày Nay, với những ngòi bút: Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em út Nhất
Linh) và nhất là Trọng Lang, người sẽ trở thành cây bút số một về phóng sự của
Ngày Nay. Chúng tôi sẽ nói đến giai đoạn này trong một chương sau.
Đói, là truyện ngắn đầu tiên của Việt Sinh
trên Ngày Nay, xuất hiện một lối viết mới: hiện thực tâm lý xã hội: "Cơn
đói lại sôi nổi dạy như cưa ruột, xé gan, mãnh liệt át hẳn cả nỗi buồn… Sinh
thấy người lả đi, mệt nhọc dựa vào lưng ghế… chàng muốn chống cự lại, muốn quên
đi, nhưng không được, cái cảm giác đói đã lan cả khắp người như nước triều tràn
trên bãi cát… Mỗi lần cơn gió, mỗi lần chàng ngửi thấy mùi
ngậy béo, cái mùi thơm của chiếc bánh cóng… Mũi tự nhiên nở ra, hít mạnh vào,
cái mùi thơm thấu tận ruột gan, như thấm nhuần vào xương tủy".
Bây giờ ta tưởng là thường, nhưng đó
chính là những chữ quốc ngữ đầu tiên soi vào lục phủ ngũ tạng con người bị cái
đói hành hạ, những chữ của một kẻ xẻ ruột để tìm xem, trước cái đói, còn có cái
gì quan trọng hơn, như thể diện, nhân cách?
- Không. Tất tất cả mọi vấn đề khác đều
không còn giá trị gì. Chỉ một cái đói bao trùm, làm chủ, nó
xuyên suốt tâm hồn và thể xác. Đó là tuyệt phẩm đầu tiên, in trên Ngày Nay số 7
(5-4-35) và số 8, (16-4-35), định vị Thạch Lam trong Tự Lực văn đoàn và trong
văn học Việt.
Chú thích:
[1] Theo Việt Nam văn học sử
yếu của Dương Quảng Hàm, Bộ Quốc Gia giáo dục xuất bản, 1960, trang
163-166.
[2] Cụ Hoàng Tăng Bí, (1883-1939), một
trong những nhà nho sáng lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục; sau cộng tác với
Trung Bắc Tân Văn.
[3] Theo Thế Lữ, Lê Ta làm
báo, Phong Hóa số 103 (22-6-34) đến Phong Hóa số 113 (31-8-34).
9/6/2021Thụy Khuê
Thụy Khuê





















































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét