Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2021

Tự Lực văn đoàn - Văn học và Cách mạng - Phần 2

Tự Lực văn đoàn
Văn học và Cách mạng - Phần 2

Tú Mỡ và Thế Lữ
Tú Mỡ
Tú Mỡ
Tú Mỡ kể lại với Lê Thanh năm 1943: Ông tên thật là Hồ Trọng Hiếu, sinh ngày 14-3-1900 tại phố Hàng Hòm, Hà Nội. Năm tuổi học chữ nho với ông nội, học hết Tam Tự Kinh, Dương Tiết, thì ông nội chết, cha cho học tư trường cụ giáo Quý, rồi các trường Hàng Bông, Hàng Vôi, đến hết bậc tiểu học. Đậu bằng sơ học Pháp Việt năm 1914. Học trường Bưởi, cùng lớp với Hoàng Ngọc Phách. Tú Mỡ làm thơ từ năm thứ ba, 16 tuổi, bắt đầu vịnh cái chuông xe điện, vịnh các viên giám thị… để nhạo báng. Năm sau (1917) mê thơ Tản Đà, Tú Xương. Từ "thầy" Tú Xương, lấy biệt hiệu Tú Mỡ.
Đỗ bằng thành chung năm 1918, vào làm sở Phi-Năng (Finance, Tài chính). Sau hai năm làm việc, thấy những điều "trái tai gai mắt", chuyển sang làm thơ trào phúng. Bài thơ đầu tiên là "Bốn cái mong của thầy phán" gửi đăng tạp chí Việt Nam Thanh Niên:
"Làm nghề thầy ký với thầy thông
Sống ở bên đời có bốn mong:
Mong tháng chóng qua tiền chóng lĩnh,
Mong giờ mau hết, việc mau xong,
Mề-đay mong được dăm mười chiếc
Lương bổng mong tăng sáu bẩy đồng.
Hãy tạm thời nay mong thế thế.
Còn bao mong nữa xếp bên lòng".
Về thời kỳ Phong Hóa, Tú Mỡ kể lại với Lê Thanh:
"Trước hết, chúng tôi chỉ có mấy người, đầu có anh Tam, anh Long (anh anh Tam, tức là Hoàng Đạo) anh Lân em anh Tam, tức là Thạch Lam) và tôi.
Mấy tháng sau mới có Khái Hưng và một năm sau, anh Thế Lữ.
Anh Tam thuê một cái nhà ở dưới ấp Thái Hà để mấy anh em làm việc. Tôi đi làm thì chớ, về là đến đấy bàn bạc về cái "tôn chỉ" của tờ báo và soạn bài vở dự bị cho đủ in trong sáu tháng. Anh Tam vừa viết vừa vẽ… Anh đặt ra mục này mục nọ, giao cho mỗi người. Anh có cái óc làm việc rất khoa học, anh đã giao cho ai việc gì thì chỉ chuyên làm việc ấy.
Nhiều lúc tôi ngỏ ý viết những bài thuộc về loại khác, anh khuyên chỉ nên chuyên về một lối. Có lẽ là một điều rất hay cho chúng tôi.
Tôi có thể nói anh Tam là người đã tạo ra Tú Mỡ vậy[1]
Đoạn văn trên đây có lẽ ông viết rất thực tình, chứng tỏ ông là người hiền lành có sao nói vậy. Tuy nhiên cũng lại cho thấy Tú Mỡ không biết rõ anh em Nguyễn Tường nên ông tưởng Nhất Linh là em Hoàng Đạo; và trí nhớ của ông không tốt, những việc xảy ra trước đó có 11 năm (Phong Hóa số 14 ra ngày 22-9-32), mà ông đã nhớ nhầm, những điều ông tưởng: mấy tháng sau mới có Khái Hưng, hay tôi đi làm về là đến đấy bàn bạc về cái tôn chỉ tờ báo đều sai cả, vì theo lời Trần Khánh Triệu thuật lại thì Tú Mỡ ở xa, trong tuần đi làm, cuối tuần mới ghé qua tòa soạn.
Nhất Linh, quen với ông từ trước, cần người làm thơ trào phúng, nên đã mời ông vào làm báo Phong Hóa, ngay từ số 14, là số báo đầu tiên do Tự Lực văn đoàn chủ trương. Có lẽ Tú Mỡ lầm tờ Phong Hóa số 14, với tờ Tiếng Cười, trước đó Nhất Linh đã định ra nhưng không thành vì thiếu tiền. Và Tú Mỡ cũng không biết Khái Hưng đã "ở trong" Phong Hóa từ số 1.
Vì vậy, chúng ta nên thận trọng khi dùng những lời tự thuật, ngay cả của những người đã từng "ở trong văn đoàn".
Tác phẩm thành công và nổi tiếng nhất của Tú Mỡ là Tự thuật "Thất ngôn thập bát cú!" bài thơ đầu tiên của ông đăng trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932) cùng với bài Phụ nữ với quần vợt của Bán Than (Khái Hưng), trong mục Giòng nước ngược:
Tự thuật
Ở sở Phi Năng có một thầy,
Người cao rong rỏng lại gầy gầy.
Mặc thường xoàng xĩnh, ưa lành sạch,
Ăn chỉ thều thào, thích tịnh chay.
Tom chát quanh năm vài bốn bận,
Say sưa mỗi tháng một đôi ngày.
Tính vui trò truyện cười như phá,
Lòng thẳng căm hờn nói toạc ngay.
Xiên sỏ vào tay hơi khá khá
Ở ăn thì nết cũng hay hay!
Yêu người chân thật, người hòa hiệp,
Ghét kẻ chui luồn, kẻ quắt quay,
Võ vẽ hay làm văn quốc ngữ,
Si sô ít nói tiếng âu tây.
Bạn mà bàn đến thi cùng cử
Thời vội van luôn: Tớ lạy mày!
Tú Mỡ
Giòng nước ngược, Phong Hóa số 20
Thơ Tú Mỡ không có cá tính đặc biệt, ông bắt chước được nhiều giọng, khi Tú Xương, khi Xuân Hương, khi Tản Đà… Ông là nhà thơ bẩm sinh, đặt bút ra thơ. Đôi khi làm nhiều quá, dễ dãi hóa nhàm. Nhưng một tờ báo trào phúng không thể thiếu thơ trào phúng, đó chính là lý do Nhất Linh mời Tú Mỡ đầu tiên.
Ở những số báo đặc biệt có chủ đề: chống cái cũ, chế giễu nghị viên, chống kiểm duyệt, chống thực dân… thơ Tú Mỡ góp phần giải tỏa những căng thẳng trong sự đối đầu, biến những lập luận khô khan thành tiếng cười thư giãn, hài hước hóa những bạo lực, đàn áp.
Khi Mẹ Mốc (Phạm Thị Cả Mốc tức nhà văn trinh thám Phạm Cao Củng) ở Nam Định, "hâm mộ" tài năng, gửi rau muống (giả làm rau sắng) tặng nhà thơ, với lời hò hẹn, đăng trên Phong Hóa số 20 (4-11-32):
Đọc thơ bạn tơ vò chín khúc
Người chưa quen bỗng chốc nên quen
Thẹn mình má phấn răng đen
Quê mùa đâu xứng mối duyên tình cờ.
khiến cho "bà Tú Mỡ" nổi cơn ghen, câu chuyện trở nên thú vị.
Tóm lại, Khái Hưng, Phạm Cao Củng, cũng có thể làm được thơ như vậy.
Nhưng Tú Mỡ là nụ cười thường trực cần có, trên Phong Hóa Ngày Nay.
Thế Lữ
Thế Lữ
Theo tiểu sử Thế Lữ đọc cho Xuân Diệu ghi [2], ông sinh ngày 6-10-1907, tại Thái Hà Ấp, Hà Nội, tên thật là Nguyễn Đình Lễ, sau đổi là Thứ Lễ, vì là con thứ hai. Quê cha làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; quê mẹ Nam Định. Cha làm sếp ga Lạng Sơn, mẹ bán vải, lụa trên tàu hỏa. Hai người gặp và lấy nhau nhưng gia đình không nhận, bà nội bắt cha ông phải lấy người khác làm vợ Cả. Thủa nhỏ, Thế Lữ sống với cha và bà Cả đến 9 tuổi ở Lạng Sơn, sau đó về với mẹ đẻ, buôn bán ở Hải Phòng. Mẹ cưới cô Nguyễn Thị Khương cho ông khoảng 1927 [3]. Ông học đến năm thứ ba ban thành chung thì bỏ (1929).
Ông kể: "1929-30, tôi lên Hà Nội thi vào trường Mỹ thuật, không đỗ loại chính thức, cho nên theo học với tư cách "bàng thính tự do". Tưởng rằng vào trường Mỹ thuật thì tự do thoải mái, ai ngờ cũng phân biệt giáo sư Tây, giáo sư ta, tôi vẽ giỏi, tuy nhiên, qua một ông giáo lối dạy hết sức gò gập "vẽ trang trí thì chép nhiều mẫu cổ để cho nhiễm vào mình" và với người giám hiệu Pháp khi đó khinh học sinh Mỹ thuật Việt Nam, chưa đầy một năm, tôi thôi học vẽ." [4]
Câu này ông thêm thắt nên sai rất nhiều. Khi lên Hà Nội, năm 1929, ông chỉ có thể ghi tên vào học lớp dự bị thi vào trường Mỹ thuật. Bởi vì trường Mỹ thuật Đông Dương có hai ban: Kiến trúc và Hội họa. Muốn thi vào ban Kiến trúc, thí sinh phải có bằng Cao đẳng tiểu học (tức bằng Thành chung), còn thí sinh thi vào ban Hội họa, không bắt buộc phải có văn bằng gì cả [5]. Hàng năm trường mở kỳ thi tuyển vào mùa hè ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Phnom-Pênh và Vientiane. Khóa đầu 1925, không có lớp dự bị, các thí sinh thi trực tiếp vào trường, kể từ năm 1926, trường mở lớp dự bị một năm cho học trò học trước khi dự cuộc thi tuyển vào trường.
Thế Lữ lên Hà Nội năm 1929, vậy ông chỉ mới theo lớp dự bị thi vào trường Mỹ thuật. Lớp này do một hướng dẫn viên (moniteur) phụ trách, Nam Sơn hướng dẫn lớp này từ năm 1927. Nhưng trong bài hồi ký tự thuật, ông lại nói ông học lối bàng thính tự do tức là ông dịch chữ auditeur libre. Trường Mỹ thuật Đông dương không có lối học này và không thấy sách nào ghi lại. Điều đó dễ hiểu, vì mỗi kỳ thi tuyển ở khắp Đông dương, chỉ khoảng 10 người đỗ. Hầu hết những cựu sinh viên trường Mỹ thuật Đông dương, như Lê Phổ, Nguyễn Tường Tam, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân… đều ghi ơn giáo sư Tardieu (xem chương: Trường Mỹ thuật Đông dương trong một kỳ tới). Và theo lời kể lại của họa sĩ Vũ Cao Đàm, thì ba giáo sư chính, nhất là giáo sư Tardieu, hiệu trưởng, chăm học trò như chăm con (phải học cật lực từ sáng đến chiều), còn thì giờ đâu lo cho học trò bàng thính?
Nhưng những điều Thế Lữ kể đã được nhiều người chép lại, nên sau này người ta cứ hiển nhiên ghi người này người kia, như Phạm Duy, Văn Cao… học lối bàng thính tự do là sai cả.
Tóm lại, Thế Lữ chỉ mới học lớp dự bị thi tuyển vào trường Mỹ thuật, chưa được một năm thì bỏ. Lớp này do moniteur hướng dẫn. Ông chưa đỗ vào trường, nên chưa được học các giáo sư thực thụ như Victor Tardieu hay Inguimberty… vậy mà ông kể: Tưởng rằng vào trường Mỹ thuật thì tự do thoải mái, ai ngờ cũng phân biệt giáo sư Tây, giáo sư ta, tôi vẽ giỏi, tuy nhiên, qua một ông giáo lối dạy hết sức gò gập "vẽ trang trí thì chép nhiều mẫu cổ để cho nhiễm vào mình" và với người giám hiệu Pháp khi đó khinh học sinh Mỹ thuật Việt Nam, chưa đầy một năm, tôi thôi học vẽ ".
Than là mình học giỏi nhưng bị phân biệt giáo sư Tây, giáo sư ta, giám hiệu khinh học sinh Việt Nam… Giám hiệu này là ai? Có phải Tardieu không?
Đây là lối viết bịa đặt để kể tội Tây, bằng bất cứ cách nào. Thật đáng buồn và xấu hổ, nhất là lại được nhiều người chép lại.
Vẫn theo bài Hồi ký tự thuật, từ hồi còn học dự bị trường Mỹ thuật, Thế Lữ đã viết ba truyện: Một chuyện báo thù ghê gớm, Tiếng hú hồn của mụ ké và Tiếng nói thầm của người chết, đưa nhà Tân Dân in, ký tên Nguyễn Thế Lữ (Thứ Lễ nói lái).
Ông bỏ Hà Nội về Hải Phòng khoảng 1930, bắt đầu làm văn, thơ. Rồi ông bị lao, mẹ cho ông ra Đồ Sơn hai năm để dưỡng bệnh. Trong thời gian này, nhân đi chơi Chùa Hang, cảm hứng không khí hang dơi ở đây, về Hải Phòng, ông viết truyện Vàng và máu, (khoảng 1932) gửi đăng Hà Thành Ngọ Báo.
Bút hiệu Nhất Chi Mai
Thế Lữ gửi bài cho Phong Hóa rất sớm, với bút hiệu Nhất Chi Mai, từ giữa năm 1932, lúc còn ở Hải Phòng. Phong Hóa số 4 (7-7-32) đã đăng bài Quần trắng, áo lam. Tiếp đó là Một buổi diễn kịch làm phúc (Phong Hóa số 5, 14-7-32) và đoản thiên tiểu thuyết Bả phồn hoa (Phong Hóa số 6, 21-7-32).
Quần trắng, áo lam viết về mốt áo dài lam quần trắng của phụ nữ, đang thịnh hành thời ấy. Lời văn Nhất Chi Mai rất mới và bay bướm: "các bà các cô tha thướt quần trắng áo lam. Trận gió mát thoảng qua trắng lam bay lộn đã khéo khiến cho các bà, các cô tương tự như tiên nữ ở chốn non bồng".
Một buổi diễn kịch làm phúc tường thuật buổi diễn tuồng cải lương "Tủi cho hoa", tối thứ bảy 9-7-1932 ở nhà hát Tây Hà Nội (nhà Hát Lớn), lấy tiền giúp nạn lụt miền Trung. Bài này cho thấy sự đam mê của Thế Lữ đối với kịch trường, ngay từ năm 1932, đã có những nhận xét sắc sảo của một nhà đạo diễn.
Đoản thiên tiểu thuyết Bả phồn hoa là một truyện ngắn hiện thực xã hội, viết theo lối kể chuyện, giọng văn sắc sảo, chứng tỏ thời ấy Thế Lữ viết văn đã có tay nghề. Sau đó, không thấy bút hiệu Nhất Chi Mai xuất hiện trên Phong Hóa nữa.
Thế Lữ xuất sắc trong những bài thơ mới đầu tiên 
Thế Lữ trở lại Phong Hóa từ số 27 (23-12-32) với truyện trinh thám Thây ma xuống thang gác. Truyện này gửi đến tòa soạn đúng lúc Nhất Linh đang muốn bỏ trinh thám, nên được đăng ngay. Ba tuần sau, Phong Hóa số 30 (13-1-33) đăng truyện Con châu chấu ma, hay hơn truyện trước.
Thế Lữ "vào" Tự Lực văn đoàn như thế nào?
Trong bài Phóng bút của Lê Ta [6]ông kể lại: "Lần đầu tiên tôi gặp anh [Tú Mỡ] là ngày tòa soạn còn ở đường Henri d’Orléans, một cái nhà không có vẻ tòa báo một chút nào hết". Ta lại biết rằng, địa chỉ này (nay là phố Phùng Hưng) chỉ tồn tại từ Phong Hóa số 14 (22-9-32) đến Phong Hóa số 32 (3-2-33). Vậy Thế Lữ đến tòa soạn để lĩnh tiền nhuận bút, vì ông vừa có hai bài được đăng trên Phong Hóa số 27 và số 30, chứ không phải do Tú Mỡ giới thiệu, như nhiều nơi thuật lại.
Sau đó, Thế Lữ gửi đăng liên tiếp ba bài thơ. Bài đầu Con người vơ vẩn đăng trên Phong Hóa Xuân, số 31 (24-1- 33) (đề tặng Trần Bình Lộc) có bốn câu thật hay, sau này rất nổi tiếng:
Cơn gió thổi… là bàng rơi lác đác
Rơi theo loạt nước đọng trên cành.
Những cây khô đã chết cả mầu xanh
Trong cái phút lạnh lùng tê tái ấy
Phong Hóa số 37 (10-3- 33) có Lựa tiếng đàn, bài thơ thứ hai của Thế Lữ, làm tặng các bạn trường Mỹ thuật Hà Nội, có những câu:
Các anh hãy để giọng buồn, thương, ta thán
Cho bọn tôi là một lũ nhạc công
Trăm ngàn năm rút mãi sợi tơ lòng
Cả những khúc sầu vui việc thiên hạ
Phong Hóa số 42 (14-4-33) đăng Người phóng đãng bài thơ thứ ba của Thế Lữ, có những câu:
Gió thổi, tối dần, đường vắng vẻ
Thi hứng nồng nàn, tôi cứ tiến lên…
Cho đến khi Hà Nội sáng chưng đèn
Mới sực nhớ đêm nay không chỗ trọ.
Và Phong Hóa số 44 (28-4-33) đăng Tiếng chuông chùa, bài thứ tư, lời thơ hay hơn trước, nhịp điệu và âm nhạc mới lạ:
Sương lam deo cái buồn mênh mông trên đồng vắng
Nắng chiều xuân rung rinh trong cảnh trời yên lặng
Bỗng thong thả rơi một tiếng chuông chùa
Ở chân trời hay trong cõi hư vô
Bốn bài thơ này xác nhận Thế Lữ là nhà thơ tài hoa nhất trong thời điểm mở đầu của thơ mới. Những trích đoạn trên đây cho thấy Thế Lữ đã dùng những cảm xúc lạ, những chữ mới, âm nhạc mới rất khác người, để làm những câu thơ như: Những cây khô đã chết cả màu xanh hay Sương lam deo cái buồn mênh mông trên đồng vắng, trong lúc thơ còn quen với những câu rất ước lệ Trời thu xanh ngắt một mầu của Tương Phố.
Bài thơ Con người vơ vẩn, tuy được đăng trên số xuân (số 31), số đặc biệt lần đầu giới thiệu Thơ mới của Phong Hóa, với Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Tân Việt (Nhất Linh) và Thanh Tâm, nhưng nó được xếp vào một chỗ rất khiêm nhượng, tuy Thế Lữ có những câu thơ hay hơn những người được đề cao. Sau đó, ông gửi thêm ba bài kế tiếp: Lựa tiếng đàn (Phong Hóa số 37), Người phóng đãng (Phong Hóa số 42) và Tiếng chuông chùa (Phong Hóa số 44), bấy giờ Nhất Linh mới nhận thấy tiềm năng thơ của Thế Lữ, nên ông viết bài Nguyễn Thế Lữ, một nhân vật mới trong làng thơ mới, in trên Phong Hóa số 54 (7-7-33), giới thiệu rất nhiệt thành.
Thực ra, Nhất Linh chỉ muốn khuyến khích một tài năng mới; nhưng ông bị báo chí đổ xô chỉ trích là thiên vị "người nhà" (Thế Lữ có bài in trên Phong Hóa), bởi vì lúc đó, những bài thơ hay nhất của Thế Lữ chưa in trên Phong Hóa, như bài Hổ nhớ rừng được Nhất Linh trích dẫn và nhắc đến nhiều lần trong bài viết, cũng chưa thấy xuất hiện. Phải đến Phong Hóa số 69 (20-10-33) mới có Tiếng trúc tuyệt vời, rồi số 85, báo Xuân (11-2-34), mới có: Tiếng sáo Thiên thai, Cây đàn muôn điệu, và Phong Hóa số 95 (27-4-34), mới có Hổ nhớ rừng. Cho nên, Nhất Linh bị công kích cũng là phải.
Annam Xuất Bản Cục in Vàng và Máu
Nếu thơ Thế Lữ xuất sắc ngay từ đầu, thì truyện ngắn không được như thế. Ông có bốn truyện được đăng trên Phong Hóa: Thây ma xuống thang gác (Phong Hóa số 27), Con châu chấu ma (Phong Hóa số 30), Cô Bụt (Phong Hóa, số 44), và Giòng máu đứt quãng (Phong Hóa số 53).
Trong bốn truyện này, chỉ có hai là khá: Con châu chấu ma và Giòng máu đứt quãng. Tuy vậy, Phong Hóa số 56 (21-7-1933) đã vội quảng cáo: sắp in Vàng và máu của Thế Lữ và Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng do Annam xuất bản cục xuất bản.
Quảng cáo sắp in Vàng và máu, Phong Hóa 56
Quảng cáo sắp in Hồn bướm mơ tiên, Phong Hóa 56
Điều này rất lạ, vì hai lẽ: trên Phong Hóa, người ta chưa nghe nói đến Vàng và máu bao giờ, cả tên Thế Lữ cũng còn rất mới, trong khi Khái Hưng đã là một tên tuổi lớn (lúc đó, Phong Hóa đã đăng xong Hồn bướm mơ tiên, sắp hoàn tất Nửa chừng xuân, cả hai truyện đều được độc giả hết sức hoan nghênh).
Tất cả xảy ra rất nhanh, tưởng như Thế Lữ sắp trở thành một "cột trụ" của Tự Lực văn đoàn, với sự đãi ngộ thượng đẳng. Nhưng rồi mọi sự có vẻ như khựng lại. Phải gần một năm sau, Vàng và máu mới được in ra. Tại sao?
Xét kỹ lại những biến chuyển này, ta có thể hiểu như sau:
Tự Lực văn đoàn - hạt nhân đầu tiên có từ Phong Hóa số 1 (xem chương: Sự thành lập Phong Hóa và Tự Lực văn đoàn) - được thành hình trước Phong Hóa số 14, với Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Tú Mỡ. Nhưng "văn đoàn" này mới chỉ ở trong vòng thân mật của ban biên tập, mới chỉ là văn đoàn nói miệng, chưa thể trình làng, vì chưa có tác phẩm.
Phải đợi đến khi Phong Hóa đăng xong hai tiểu thuyết nền móng Hồn bướm mơ tiên, từ số 20 (4-11-32) đến số 29 (6-1-33) và Nửa chừng xuân, từ số 36 (1-3-33) đến số 63 (8-9-33), thì họ mới tính đến chuyện in sách để có tác phẩm.
Vì thế Annam Xuất Bản Cục ra đời, quảng cáo trên Phong Hóa số 45 (5-5-33), địa chỉ: số 1 Avenue Carnot, cũng là địa chỉ tòa soạn Phong Hóa. Annam Xuất Bản Cục là tiền thân của nhà xuất bản Đời Nay.
Khi Tự Lực văn đoàn đã có nhà xuất bản, đã in tác phẩm rồi, thì mới có thể ra mắt độc giả. Vì vậy, trên Phong Hóa số 56 (21-7-33), lần đầu xuất hiện hai khung quảng cáo, ở trang 5: Tự Lực Văn Đoàn sắp ra Hồn bướm mơ tiên và Tự Lực Văn Đoàn sắp in Vàng và máu.
Hồn bướm mơ tiên là phải rồi, nhưng tại sao Vàng và máu? Truyện này chưa từng xuất hiện trên Phong Hóa?
Sự thật có thể chỉ đơn giản như thế này: Thế Lữ đem đến tòa soạn truyện Vàng và máu. Hoặc Khái Hưng hay Nhất Linh khám phá ra Vàng và máu, trên Ngọ Báo, nhưng không được chú ý. Hai ông đọc thích quá, định cho in ngay cùng với Hồn bướm mơ tiên.
Nhưng Vàng và máu không đủ dày, phải có thêm vài truyện ngắn nữa mới thành sách được. Kẹt một điều: sự cách biệt giá trị quá xa giữa Vàng và máu và hai truyện Thế Lữ mới viết: Thây ma xuống thang gác và Con chấu chấu ma, khó có thể nghĩ là cùng một tác giả. Vì vậy, ta có thể đoán là đã có sự trao đổi (chắc là khá gay go) giữa Khái Hưng và Nhất Linh về việc nên đưa Thế Lữ vào văn đoàn chưa? Hay phải dừng lại, đợi Thế Lữ có những tác phẩm khá hơn? May mắn là Thế Lữ đã sáng tác những bài thơ có giá trị để xác định mình.
Cho nên đến số Xuân (11-2-34), Phong Hóa 85, mới thấy in quảng cáo: Tự Lực văn đoàn đã xuất bản: Hồn bướm mơ tiên (tái bản), Vàng và máuAnh phải sống và Nửa chừng xuân.
Và sau khi đã xuất bản bốn tác phẩm giá trị, Tự Lực văn đoàn mới có lý do để chính thức ra mắt với bản tuyên ngôn Tự Lực văn đoàn, in trên Phong Hóa số 87 (2-3-34), dưới đây.
Bản tuyên ngôn Tự Lực văn đoàn trên Phong Hóa số 87
Tất cả đều xảy ra theo một trình tự đã sắp sẵn: Phải có tác phẩm thì mới có văn đoàn!
Riêng Thế Lữ còn phải qua thử thách một thời gian nữa mới được nhận vào làm việc ở Phong Hóa từ số 91 (30-3-34). Ông kể lại "sự chờ đợi" này trong loạt bài Lê Ta làm báo [7]bằng giọng nửa đùa nửa thật: trong gần hai năm ông phải học làm báo mà không thể xin được vào "tờ báo lớn nhất" thời bấy giờ, như thế nào. Có thể vì thế mà Thế Lữ trở thành cay đắng, như lời Nguyễn Vỹ nói với Nhất Linh sau đây:
"Tôi nghe nhiều anh em nói Thế Lữ nó vẫn than phiền rằng anh [Nhất Linh] coi nó như "parent pauvre" (người bà con nghèo) anh và Khái Hưng hất hủi nó phải không?
- Láo! Thế Lữ nó hưởng đầy đủ mọi thứ quyền lợi cũng như tôi và Khái Hưng. Nhưng tính nết của Thế Lữ không thích hợp lắm với tôi. Khái Hưng thường cãi nhau với hắn. Ngoài ra, chẳng có gì Thế Lữ hay Tú Mỡ phàn nàn bọn này cả. Sau Thế Lữ tách ra làm ban kịch với Đoàn Phú Tứ, Tự Lực văn đoàn vẫn ủng hộ về tinh thần. Nhưng không phải của Tự Lực văn đoàn vì Khái Hưng không đồng ý kiến.
- Còn anh?
- Tôi cũng không thích ban kịch của Thế Lữ.
- Tại sao Thế Lữ nó đả kích tôi trong Phong Hóa?
- Thế Lữ đâu có ưa anh. Anh nên nhớ rằng trong Phong Hóa, Khái Hưng và tôi không đả kích anh bao giờ nhé. Trừ những mẩu chuyện khôi hài và những tranh vẽ đùa thôi.
- Ai cũng biết" [8].
Thế Lữ đã mô tả rất kỹ con người Thạch Lam (Bách Linh) người bạn thân đã cho ông ở chung, đã chia sẻ cơm áo, đã "vận động" cho ông vào Phong Hóa. Thế Lữ vẽ một chân dung khá đặc sắc về Thạch Lam, đầy đủ tính tình, sống động, và còn cho thấy không khí tòa báo hồi đó: xin được vào "yết kiến" ông Giám đốc Nhất Linh không phải chuyện đùa! Thế Lữ còn viết bài phóng sự thứ hai Phóng bút của Lêta in trên Phong Hóa số 154 (22-9-35) số kỷ niệm ba năm Phong Hóa, tả cảnh bên trong tòa báo, dĩ nhiên là có tô điểm thêm chân dung mỗi nhân vật, tính tình, kể lại những cuộc cãi vã và giàn hòa giữa Khái Hưng Nhất Linh và đời sống hàng ngày trong tòa báo. Đó là những tư liệu quý về đời sống bên trong Tự Lực văn đoàn.
Vàng và máu
Vàng và máu, truyện hay nhất của Thế Lữ, viết trong lúc xuất thần, lời văn độc đáo sau này không thấy xuất hiện lại. Mở đầu như sau:
"Kể từ châu Cao Lâm ở phiía đông và miền bản Slay ở phía tây mà đến, từ mạn bản Pắc đi xuống, và từ bản Hạ trở lên, cách non mười dặm chung quanh chỉ có quả núi Văn Dú là cao lớn nhất".
Sự xác định vị trí bằng tọa độ, chỉ dùng trong hàng hải, cho lính đi hành quân, phi cơ chiến đấu, tình báo… chưa từng thấy trong văn chương. Tọa độ Văn Dú làm ta giật mình. Toàn thể tác phẩm đều dùng lối văn như thế: Không có ma. Không có đầu lâu. Không cả bóng tối… Đó chính là nghệ thuật. Vàng và máu là tác phẩm kinh dị độc đáo nhất của Thế Lữ và của văn học Việt Nam. Một kiệt tác. Sự kinh dị tỏa ra từ cách viết tiếng Việt, không khí nằm trong mỗi chữ, chứ không phải do những câu văn có những chữ oan khiên, khủng khiếp, kiểu: "mỗi cảnh vật đều có một sự tích oan khiên hay khủng khiếp… tôi nghe tiếng ngọn suối ban đêm như than khóc" hay là lấy đầu lâu, sọ người ra dọa, như trong truyện Bên đường Thiên Lôi, hoặc các truyện ngắn khác của Thế Lữ.
Thế Lữ là nhà kể chuyện có tài. Ông có tài đặt tên truyện, lạ lùng, rùng rợn, lôi cuốn: Con châu chấu ma, Cái xác đuổi người, Lưỡi tầm sét, Bên đường Thiên Lôi… Nhưng Thế Lữ chỉ là người kể chuyện: Thây ma xuống thang gác là chuyện đám học trò dọa ma nhau, tuy có không khí rùng rợn do anh chủ nhà cố tình kể chuyện ma để hù các bạn.
Cái xác đuổi người (Phong Hóa số 66, 29-9-33) cũng là chuyện sinh viên nội trú dựng xác chết lên để dọa bạn.
Con châu chấu ma (Phong Hóa số 30, 13-1-33), hay hơntạo được không khí bí mật của trinh thám: chính thằng nhỏ phát giác xác chết, khám phá ra sự thật. Tuy kết luận hơi gượng ép, khó tin: nạn nhân ném câu liêm để đuổi con trâu, vô tình ném ngược, bị lưỡi liêm cắt cổ!
Giòng máu đứt quãng (Phong Hóa số 53, 30-6-33) viết về một án mạng bí mật, không thể tìm ra thủ phạm, phải dùng cách điều tra kiểu Sherlock Holmes, để giải thích một cách "khoa học": thủ phạm là con mèo nhảy vọt qua, làm xác chết bật dậy thành quỷ nhập tràng!
Lưỡi tầm sét (Phong Hóa số 91, 30-3-34) và số 92, 7-7-34), kể chuyện một người con gái bị sét đánh lột hết quần áo (mà không chết!).
Lối viết của Thế Lữ rất khéo, rất lôi cuốn, ông biết cách kéo dài sự chờ đợi trong căng thẳng, nhưng thường làm ta thất vọng vì sự giải thích vô lý, không có gì là khoa học cả. Nhờ uy tín của Tự Lực văn đoàn, ông trở thành cây bút trinh thám có sách bán chạy nhất thời đó.
Những nhà trinh thám có tác phẩm trụ được lâu dài, như Agatha Christie hay Georges Simenon, còn là nhà văn xã hội nữa. Câu truyện án mạng của họ, không những dựa trên tình tiết ly kỳ, mà Agatha Christie còn mô tả xã hội trưởng giả, quý tộc Anh, Georges Simenon điều tra môi trường bình dân tăm tối của xã hội Pháp và Bỉ.
Tác phẩm hay nhất của Thế Lữ là Vàng và máu, trở thành một giá trị vĩnh cửu nhờ lối viết bí mật, khác thường và Thế Lữ còn là nhà thơ sáng giá nhất trong buổi bình minh của thơ mới.
Kể từ khi vào làm việc cho Phong Hóa từ số 91, Thế Lữ chọn bút hiệu Lê Ta, ký dưới các bài điểm sách, điểm báo và phóng sự. Bút hiệu này, có lẽ cảm hứng từ bức tranh Ba ông táoTáo Ta, Táo Tây, Táo Tàu, (không ký tên, có lẽ của Nguyễn Gia Trí) in trên bìa Phong Hóa số 84 (2-2-34). Sau này chữ Lê Ta được Thế Lữ giải thích là do chữ Lễ nghĩa là  thêm dấu ngã, mà ngã là ta, cho nên có Lê Ta, có vẻ gượng ép. Chuyện ông ngẫu hứng từ bức tranh Ba ông Táo có vẻ tự nhiên hơn.
Tên Lê Tây ông chỉ ký hai lần, dưới bài Chợ phiên Kiến An phóng sự của Lê Ta và Lê Tây (Ngày Nay số 145, 14-1-39) và Tin Hải Phòng (Bức thư tốc hành của Lê Tây gửi cho Lê Ta) (Ngày Nay số 169, 8-7-39).
Trên Phong Hóa số 72 (10-11-33) có bài thơ Đoàn lực sĩ của Nhất Chi Mai. Đó là lần đầu tiên Thế Lữ dùng lại bút hiệu Nhất Chi Mai. Bút hiệu này còn xuất hiện trên Phong Hóa hai lần nữa: trong bài Từ viện dân biểu cho đến ô tô hàng, Phong Hóa số 122 (2-11-34) và phóng sự Đi thăm mấy ngôi mả sống ở Thái Bình, Phong Hóa số 124 (16-11-34).
Khi Nhất Linh quyết định ra báo Ngày Nay, giao cho Thạch Lam làm chủ bút, Thế Lữ được cử làm việc với Thạch Lam ngay từ Ngày Nay số 1 (30-1-35). Lúc đó, ông ký lại tên Nhất Chi Mai với lời đề ở dưới: Phóng viên của Ngày Nay. Thời gian này, ông viết một số phóng sự, có hai bài hay là Buôn người (Ngày Nay từ số 2 (10-2-35) đến số 8 (16-4-35) viết về đường dây mẹ mìn bắt cóc người buôn sang Tàu ở Móng Cáy, và Ngày Nay điều tra Ăn cướp, viết chung với Trọng Lang, từ Ngày Nay số 7 (5-4-35) đến số 13 (21-5-35).
Đó là những đóng góp giá trị của Thế Lữ nhưng không mấy ai biết đến.
Cái dở của Tự Lực văn đoàn
Cái dở của Tự Lực văn đoàn là tính bè phái, mà ba cây bút trẻ Tứ Ly (Hoàng Đạo), Việt Sinh (Thạch Lam) và Lê Ta (Thế Lữ) là tiêu biểu. Hai ông anh, Khái Hưng, Nhất Linh, thường đứng ngoài, trừ những vụ phải trả lời trực tiếp những bài đánh Phong Hóa "có tầm cỡ".
Bắt đầu từ ba mục Từ nhỏ đến lớn, Từ cao đến thấp, Bàn ngang, do Tứ Ly phụ trách, đôi khi công kích cá nhân, rồi tới những bức tranh châm biếm, những lời chế giễu đùa cợt.
Từ Phong Hóa số 35 (24-2-33), có thêm mục mới Bức tranh vân cẩu do Việt Sinh [Thạch Lam] phụ trách, thỉnh thoảng gây sự, bút chiến với các báo khác. Mới đầu là đùa vui, sau sang đùa nhả, quá trớn. Dĩ nhiên là bị trả đũa, lại càng nóng máu, anh em bênh nhau, cãi cối cãi chầy, không ra thể thống gì cả. Có lần Hoàng Đạo đã đe đánh phe "đối nghịch". Thực là:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Nhưng tệ nhất là từ khi có các mục: Cuộc điểm sách, Cuộc điểm báo, do Lê Ta phụ trách chung với Việt Sinh.
Cách phê bình của Lê Ta rất đặc biệt: Trên Phong Hóa số 91 (30-3-34) trong bài Cuộc điểm sách, lần đầu tiên khai bút, Lê Ta, đánh cuốn văn xuôi Trên núi voi của Lưu Trọng Lư tơi bời: "Gấp sách lại, tôi còn thấy rơm rớm nước mắt: đó là vì tôi đã quá cười" và ông kết luận: "Kể không hiểu thì cả truyện lẫn văn của ông Lư không ai hiểu đứt đi rồi. Nhưng còn như yêu văn ông, thì thú thực, tôi không thể nào yêu được".
Lại cũng như thế, đối với Tchya, trong bài điểm sách trên Ngày Nay số 79 (8-10-37), ký Người Điểm Sách, nhưng đọc thì biết là của Thế Lữ, đầu bài ông phê ngay: “Thần hổ "truyện dài rùng rợn" của Tchya, các bạn đã có người đọc rồi chứ. Thật không có câu chuyên nào ngớ ngẩn bằng". Chẳng có nhà phê bình đứng đắn nào lại nhằm những cuốn sách mà mình cho là "tồi tệ" nhất, đem ra điểm sách để "giới thiệu" với độc giả. Thế Lữ làm như vậy với những nhà thơ cùng thời như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông… với những người ông ghét, và cả với những người mới làm thơ chưa có tiếng tăm gì, ông cũng tìm những cuốn thơ dở của họ đưa ra chỉ trích. Như thế sao gọi là phê bình?
Tự Lực văn đoàn mang tiếng xấu chẳng khen ai cả, phần lớn vì những bài "điểm sách" của Lê Ta.
Nhà văn, ngoài tài năng, còn phải có "đạo đức nghề nghiệp" nữa.

Chú thích:
[1] Lê Thanh, Cuộc Phỏng vấn các nhà văn, Nxb Đổi Mới, Hà Nội, 1943, trang 134-144.
[2] Trong bài Hồi ký tự thuật của Thế Lữ do Xuân Diệu ghi, in trong cuốn Thế Lữ, cuộc đời trong nghệ thuật, Hoài Việt sưu tầm và biên soạn, nxb Hội Nhà Văn, 1991, từ trang 1 đến trang 20.
[3] Có nơi ghi năm 1924, ông 17 tuổi. Con đầu lòng là đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, sinh năm 1928.
[4] Hồi ký tự thuật của Thế Lữ do Xuân Diệu ghi (sđd, trang 13).
[5] Theo Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, Quyển Thượng, tác giả tự xuất bản, Melun, Pháp, 1999, đoạn viết về Trường Mỹ thuật Đông dương, trang 146 và 151.
[6] In trên Phong Hóa số 154 (20-2-35).
[7] In trên Phong Hóa từ số 103 (29-6-1934) đến Phong Hóa số 113 (31-8-1934).
[8] Nguyễn Vỹ, Văn thi sĩ tiền chiến, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1969, trang 161.
Tự Lực Văn Đoàn có những ai?
Cách đây hơn hai mươi năm, nhà văn Đặng Trần Huân (1929-2003), một người rất quan tâm đến Tự Lực văn đoàn, viết:
"Chỉ mới thành lập năm 1933 mà tổ chức Tự Lực Văn Đoàn tưởng như đã xa xưa lắm vì cho tới nay có lẽ vẫn chưa có ai trả lời được là văn đoàn này gồm có những ai? Về sau có thêm bớt ai không? Những người liên quan tới TLVĐ có một số còn sống nhưng mỗi người nói một cách, có khi mâu thuẫn nhau, chẳng biết đâu mà tin. Một văn đoàn có tác phẩm để đời khá nhiều, ảnh hưởng sâu đậm tới văn hoá Việt Nam, thế mà lai lịch của nó tới nay vẫn mù mờ như huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử hay Mỵ Châu Trọng Thủy vậy. Độc giả giở sách báo cũ hay hồi ký ra để tìm hiểu thì càng mung lung hơn và bắt đầu đi vào mê lộ" [1].
Đặng Trần Huân viết rất đúng và tình trạng mù mờ này dường như vẫn còn kéo dài đến ngày nay, có lẽ bởi vì người Việt ít khi chịu nghiên cứu đến nơi đến chốn một vấn đề gì. Khi soạn sách lại hay dùng giai thoại đã đọc được trên sách này sách kia, rồi viết lại như sự thực, đó là lối nhà văn Nhật Thịnh [2] thường làm trong cuốn Chân dung Nhất Linh, kể cả nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên cũng không tránh khỏi. Còn Đặng Trần Huân, tuy ông than phiền như vậy, nhưng sau khi tài liệu Mấy lời nói đầu của Nhất Linh được công bố năm 2002, ông có viết thêm một bài khác, tựa đề Viết thêm về Nhất Linh và Tự Lực Văn Đoàn [3], ngỏ ý thỏa mãn với những điều Nhất Linh viết trong di cảo này, và xác nhận (như hầu hết mọi người) rằng Tự Lực văn đoàn gồm bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Tú Mỡ, Thạch Lam, Thế Lữ và Xuân Diệu, mà không cần tìm hiểu kỹ càng hơn.
Như chúng tôi đã trình bày trong các chương trước, tất cả mọi vấn đề đều không đơn giản như vậy. Muốn trả lời câu hỏi: Tự Lực văn đoàn đích thực có những ai?, chúng ta cần phải khảo sát lại, bởi vì một tài liệu, dù chính Nhất Linh viết ra, cũng cần được đọc và phân tích cặn kẽ.
Bài Mấy lời nói đầu của Nhất Linh
Tài liệu đáng chú ý nhất, liên quan tới việc Tự Lực văn đoàn có những ai, được Nguyễn Tường Thiết, con trai út Nhất Linh công bố khoảng năm 2000, là bài Mấy lời nói đầu cho cuốn Đời làm báo, bản chụp dưới đây:
Đời làm báo - Mấy lời nói đầu của Nhất Linh
Nếu đọc kỹ Mấy lời nói đầu, viết cho cuốn sách Đời làm báo, ta sẽ thấy văn bản này không trả lời câu hỏi: Tự Lực văn đoàn có những ai? Ở đây, Nhất Linh chỉ kê khai tên những người đã cộng tác với hai báo Phong Hóa và Ngày Nay, và trong số đó, người nào được ông xác nhận là thành viên Tự Lực văn đoàn thì bên cạnh tên, ông chua thêm mấy chữ: có chân trong Tự Lực Văn Đoàn, để ở trong ngoặc.
Mấy lời nói đầu là bài tựa cuốn Đời làm báo Nhất Linh dự định viết, hay đã viết nhưng bị thất lạc. Năm 2002, bài này được in trong phần phụ lục cuốn Việt Nam một thế kỷ qua (Hồi ký cuốn một) [4] của Nguyễn Tường Bách và năm 2006, in trong phần phụ lục cuốn Nhất Linh cha tôi [5] của Nguyễn Tường Thiết. Văn bản này được lưu trữ trên trang mạng sưu tập Phong Hóa và Ngày Nay của Thư viện Người Việt và Thư viện Diendan.org, trong bài Bút Hiệu của Tự Lực Văn Đoàn.
Nhà văn Nguyễn Tường Thiết cho tôi biết: ông đã tìm thấy Mấy lời nói đầu trong một xấp giấy rời, thuộc phần di cảo của cha, nhưng ông không thấy trang nào khác về cuốn Đời làm báo. Như vậy có hai trường hợp: Hoặc Nhất Linh mới viết tựa, chưa viết sách. Hoặc Nhất Linh đã viết sách mà bị thất lạc. Sự thất lạc này đã từng xảy ra với bản thảo Xóm Cầu Mới, và phải mười năm sau, Nguyễn Tường Thiết mới tìm lại được [6].
Mấy lời nói đầu chỉ là một bản nháp, chưa hoàn chỉnh; Nhất Linh viết theo trí nhớ, nhiều chỗ gạch xóa, có chỗ (tháng, năm) bỏ trống hoặc viết dở, chắc ông đợi khi nào có tài liệu đầy đủ trước mắt, sẽ điền vào sau. Và chắc Nhất Linh cũng không thể ngờ có ngày chúng ta sẽ đem ra phân tích, bởi đối với ông "nó" chỉ là bản nháp, chưa thể trình làng được. Ta cần hiểu rõ bối cảnh như thế, trước khi dùng.
Tuy không giúp ta biết rõ danh sách những người ở trong Tự Lực văn đoàn, nhưng Mấy lời nói đầu vẫn rất quan trọng, bởi vì nó giúp ta khám phá ra một số thông tin đến nay vẫn chưa được soi rạng. Chúng tôi đánh máy lại những dòng Nhất Linh viết tay, chỉ bỏ những chữ ông đã xóa. Và đây là nguyên văn:
Mấy lời nói đầu
Đây là cuốn Ký ức về đời làm báo của tôi về hai tờ báo khôi hài, châm biếm, văn chương: Tờ Phong Hóa (193… -193…) và tờ Ngày Nay (193 -194 ) và về những người trong tòa soạn hai tờ báo đó:
Nguyễn Tường Tam tức Nhất Linh, Đông Sơn, Tam Linh, Lãng Du, Bảo Sơn, Tân Việt. Giám đốc và chủ bút báo PH từ số 14 cho đến khi báo bị đóng cửa và Ngày Nay từ số… cho đến… (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Trần Khánh Giư tức Khái Hưng, Nhị Linh, Hàn đãi… đậu. Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-1937) (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Nguyễn Tường Long tức Tứ Ly, Hoàng Đạo, Tường Vân, chủ bút báo Ngày Nay từ số… (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Nguyễn Đình Lễ tức Thế Lữ, Lê Ta (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Nguyễn Tường Lân tức Thạch Lam, Việt Sinh, Thiện Sĩ, chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2- 38) (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Hồ Trọng Hiếu tức Tú Mỡ (có chân trong Tự Lực văn đoàn)
Nguyễn Tường Cẩm, Giám đốc tờ Ngày Nay từ số 1 đến số…
Nguyễn Tường Bách; Giám đốc tờ Ngày Nay trong khi Khái Hưng và Hoàng Đạo ở trại giam và Nhất Linh ở hải ngoại từ số…
(Trong số 8 người này, có hai người đã qua đời và 5 người biệt tăm tích, vậy còn lại có một, tức mình Nhất Linh).
Tuy là cuốn sách về báo và người viết báo, nhưng những người viết báo đó lại là những người viết văn (tiểu thuyết, thơ…) nên trong cuốn Ký ức này, không thể không nói đến phần viết văn của những người viết báo.
Tác giả.
Dưới đây là tên những người không ở trong tòa soạn nhưng thường có bài đăng ở hai tờ báo:
Lê Thạch Kỳ tức Chàng Thứ 13 (viết bài khôi hài về khoa học)
Đỗ Đức Thu (tiểu thuyết)
Xuân Diệu (có chân trong Tự Lực văn đoàn) (thơ mới)
Huy Cận (thơ mới)
Trọng Lang (phóng sự)
Bùi Hiển (truyện ngắn)
Tô Hoài (truyện ngắn)
Đinh Hùng (tranh khôi hài)
Nguyễn Công Hoan (truyện ngắn)
Vi Huyền Đắc (kịch)
Phạm Thị Cả Mốc (tên thật là Phạm Cao Củng) thơ khôi hài
Mụ báo Sài Gòn (tên thật: không có)
Bút Sơn ở Sài Gòn (người đã đẻ ra Xã Xệ) (tên thật chưa biết). Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn ông cho biết tên thật.
Nguyễn Khắc Hiếu (dịch Đường Thi)
Nhất Sách (tranh khôi hài)
Các họa sĩ đã từng vẽ giúp:
Nguyễn Gia Trí
Tô Ngọc Vân
Trần Bình Lộc
Nguyễn Cát Tường
Trần Văn Cẩn
Lưu Văn Sìn
Nhận xét đầu tiên: Nhất Linh quên tên khá nhiều người đã cộng tác với Phong Hóa Ngày Nay như: Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông, Huyền Kiêu, Nguyễn Bính, Thanh Tịnh, Tế Hanh, Phạm Văn Hạnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Xuân Khoát… cả Lưu Trọng Lư cũng viết mấy bài. Nguyễn Xuân Khoát, ngoài nhạc bản, còn có loạt bài nghiên cứu: Kho tàng âm nhạc Việt Nam. Nhưng Nhất Linh lại nhớ có Tô Hoài, mà Tô Hoài không có bài nào trên Phong Hóa Ngày Nay cả (vì ông này mãi tới năm 1940 mới bắt đầu viết cho Hà Nội Tân Văn, lúc đó Ngày Nay đã đóng cửa). Nhất Linh cũng nhắc tên Đinh Hùng vẽ tranh khôi hài nhưng tôi tìm không thấy tranh nào ký tên Đinh Hùng. Bùi Hiển có truyện ngắn Nằm vạ in trên Ngày Nay số cuối cùng 224 (7-9-40) với lời giới thiệu của Thạch Lam, đây là một trong những truyện ngắn hay nhất của ông. Nguyễn Công Hoan, chỉ có một truyện ngắn duy nhất Chiều khách, in trên Phong Hóa số 25 (9-12-32). Rồi thôi. Năm 1936, ông cho in tiểu thuyết Cô giáo Minh (Tân Dân, Hà Nội) cốt truyện giống Đoạn tuyệt, nhưng kết luận mẹ chồng nàng dâu hòa hợp với nhau. Phong Hóa "bình phẩm" là giống, Nguyễn Công Hoan tức giận chê Đoạn tuyệt. Lời qua tiếng lại trên mấy số báo (Phong Hóa số 177, 180, 188). Có lẽ Khái Hưng nói đúng hơn cả: chẳng cần tranh luận, khi hai cuốn sách giống nhau, cuốn nào sống lâu hơn, là có giá trị hơn. Bây giờ Đoạn tuyệt đã trở thành tác phẩm cổ điển, ít ai nhớ đến Cô giáo Minh.
Trở lại bài Mấy lời nói đầu của Nhất Linh trên đây, chúng tôi thấy có mấy điểm quan trọng:
1- Nhất Linh không xác định các thành viên của Tự Lực văn đoàn là ai, ông chỉ ghi trong ngoặc như chú thích "có chân trong Tự Lực văn đoàn".
2- Qua câu: "đời làm báo của tôi về hai tờ báo khôi hài, châm biếm, văn chương: Tờ Phong Hóa (193… -193…) và tờ Ngày Nay (193 -194 )" Nhất Linh đã nhớ đúng tính chất của hai tờ Phong Hóa Ngày Nay: khôi hài, châm biếm, văn chương.
Điểm này cốt yếu cho việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn, vì từ trước đến nay, người ta chỉ chú trọng đến khía cạnh văn chương và bỏ rơi khía cạnh khôi hài châm biếm.
3- Nhờ câu: "Trong số 8 người [làm trong tòa soạn] này, có hai người đã qua đời và 5 người biệt tăm tích, vậy còn lại có một, tức là mình Nhất Linh", ta có thể đoán chắc rằng, Nhất Linh đã viết Mấy lời nói đầu khi ông ở Hương Cảng, sau khi Hoàng Đạo mất. Vì lúc đó ông chưa biết rõ số phận những người đã từng làm việc trong tòa soạn hai tờ báo này, ai còn ai mất. Ông chỉ biết chắc hai em ruột ông: Thạch Lam và Hoàng Đạo đã qua đời [7], năm người còn lại, ông ghi là "biệt tăm tích", kể cả Nguyễn Tường Bách, người em út đã sang Tàu và ở cùng với ông một thời gian (việc ông "quên" Nguyễn Tường Bách, là có lý do khác, sẽ nói đến sau).
Mấy lời nói đầu cũng không thể viết sau khi Nhất Linh trở về nước cuối năm 1950 [8], vì khi về đến Hà Nội, ông đã có thể biết về số phận Tú Mỡ và Thế Lữ, dù ông và họ, lúc ấy mỗi người một chiến tuyến, chắc không liên lạc lại với nhau nữa.
Sau cùng, ông cũng không thể viết những dòng này trong những ngày cuối đời ở Sài Gòn, vì ở miền Nam, thập niên 1960, mọi người đều biết rõ số phận những thành viên trong tòa soạn Phong Hóa - Ngày Nay, kể cả những người ở lại ngoài Bắc.
4- Nhất Linh không nhớ Thạch Lam làm Chủ bút báo Ngày Nay từ số 1, và cũng không nhớ ông làm Giám đốc báo Ngày Nay từ bao giờ. Nhưng ông lại nhớ rất rõ hai việc:
- Khái Hưng làm Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-1937).
- Nguyễn Tường Lân làm chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2-1938).
Hai điểm này rất quan trọng, bởi vì nó cho chúng ta hiểu rõ hơn hành trình cách mạng của Nhất Linh.
Khi quyết định ra báo Ngày Nay, Nhất Linh để Nguyễn Tường Cẩm, anh ông, làm Giám đốc, và Thạch Lam làm chủ bút, từ số 1 (30-1-35) đến số 5 (10-3-35), sau đó Nguyễn Tường Cẩm rút ra, có thể vì không đủ kinh nghiệm làm báo. Từ số 6 (2-4-35), Nguyễn Tường Tam thay thế Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc, Nguyễn Tường Lân vẫn làm chủ bút, mượn thêm Nguyễn Văn Thức làm Quản lý, nhưng ông Thức sẽ biển thủ, làm cho Phong Hóa Ngày Nay bị lụn bại tài chính (Xem chương 3: Khái Hưng và Phong Hóa).
Tóm lại, Ngày Nay từ số 1 đến số 15 (3-4-36) trong hơn một năm, gặp nhiều khó khăn vì in nhiều hình ảnh nên bị lỗ, chỉ ra được 15 số báo.
Khi Phong Hóa số 190 (5- 6-36) bị đóng cửa vĩnh viễn, toàn bộ ban biên tập Phong Hóa dồn sang Ngày Nay số 16 (12-7-36) và Nhất Linh đã hoàn toàn thay đổi từ nội dung đến hình thức tờ báo như ông đã làm với Phong Hóa số 14. Vậy Ngày Nay số 16 là một cái mốc rất quan trọng. Nhưng tại sao Nhất Linh lại không nhớ đến cái mốc này?
Để hiểu rõ lý do, chúng ta cần nhìn lại mấy sự kiện quan trọng được công bố trên báo Ngày Nay năm 1937:
- Tháng 7-1937: Hội Ánh Sáng được phép thành lập với sự đỡ đầu của Thống Sứ Yves Châtel [9]Ánh Sáng là tổ chức làm nhà rẻ tiền cho dân nghèo, do hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp viết bài và vẽ kiểu. Chương trình nhà Ánh Sáng được quảng bá hàng tuần trên báo Ngày Nay từ năm 1936.
- Tối 16-8-37, Nguyễn Tường Tam diễn thuyết ở Nhà Hát Lớn Hà Nội về ý nghĩa xã hội của Hội Ánh Sáng.
Đến đây, mới thấy hé lộ chủ đích chính trị của Nhất Linh: Việc gây quỹ nhà Ánh Sáng có lẽ chỉ là giải pháp ngoài mặt giúp đỡ dân nghèo, bên trong là phương tiện xây dựng đảng Hưng Việt, giúp ông có thể đi sâu vào quần chúng, bằng những buổi hội họp, diễn thuyết tổ chức văn nghệ để quyên tiền, ở khắp nơi, lại công khai nhận được sự bảo trợ của chính quyền bảo hộ. Tóm lại, Nhà Ánh Sáng cũng là cơ hội để ông đi các tỉnh vận động mà không bị phòng nhì Pháp chú ý.
Vì thế, chương trình nhà Ánh Sáng chỉ được Tự Lực văn đoàn cổ động mạnh mẽ trong 2 năm, rồi họ từ chức quản trị ngay từ năm 1939, nhường cho một ban quản trị khác [10], vì lúc đó họ đã chuyển hẳn sang hoạt động cách mạng rồi và chính quyền bảo hộ cũng nhìn thấy, nên đã đình chỉ việc cấp giấy phép xây nhà rẻ tiền. Việc này chúng tôi sẽ đào sâu hơn trong chương viết về Nhà Ánh Sáng.
Tóm lại, mục đích của Nhất Linh trong thời điểm này là sẽ làm chính trị và lập đảng, nên ông chỉ nhớ những mốc chính trị mà thôi:
- Hai tuần sau khi Nhất Linh diễn thuyết ở nhà Hát Lớn, thì ngày 29-8-37, báo Ngày Nay số 74 bắt đầu đăng loạt bài Vấn đề thuộc địa của Hoàng Đạo, và in những biếm họa của Nguyễn Gia Trí, chỉ trích mạnh mẽ chính sách cai trị của thực dân.
Cũng trên số báo này, trường Thăng Long lại quảng cáo tên Nguyễn Tường Tam trong danh sách giáo sư cử nhân cho niên khóa 37-38. Nhất Linh tuy làm báo, nhưng không bỏ hẳn dạy học. Theo quảng cáo của trường Thăng Long đăng trên Phong Hóa năm 1933, thì ông vẫn dạy, đến năm 1935 mới ngừng, rồi tiếp tục dạy lại năm 1937 [11].
Vậy Nguyễn Tường Tam chỉ ngừng dạy trong hai niên khóa 1935-1936 và 1936-37, rồi ông trở lại dạy niên khóa 1937-38, vào đúng lúc ông phát triển phong trào nhà Ánh Sáng.
Phải chăng Nhất Linh trở lại dạy Thăng Long chỉ để gặp gỡ thanh niên và thuyết phục họ đi theo cách mạng? Phải chăng đây là một kế hoạch đã chuẩn bị từ rất lâu, từ ngày 17-6-1930, khi Nguyễn Thái Học và các đồng chí lên đoạn đầu đài: Khái Hưng, Nhất Linh đã trở thành những giáo sư đầu tiên của trường Thăng Long gieo mầm ái quốc cho học sinh. Và sau này trường Thăng Long sẽ tiếp nối truyền thống này, trở thành ổ cách mạng với những Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp…
Trở lại câu hỏi đã nêu ra ở trên: Tại sao Nhất Linh lại nhớ rõ hai việc:
- Khái Hưng làm Giám đốc Ngày Nay từ số 80 (10-10-37).
- Nguyễn Tường Lân làm chủ bút báo Ngày Nay từ số 99 (27-2- 38).
Bây giờ ta có thể trả lời, bằng nhận xét sau đây:
- Trên đầu báo Ngày Nay số 77 (19-9-37) còn thấy ghi Nguyễn Tường Tam là Giám đốc; nhưng sang số 78 (26-9-37) ông trở thành người sáng lập, với dòng chữ sau đây: Nguyễn Tường Tam, Sáng lập chủ nhân. Trần Khánh Giư, Giám Đốc. Nguyễn Tường Lân, Quản lý.
- Và tới Ngày Nay số 80 (10-10-37), Nhất Linh rút hẳn tên mình khỏi tờ báo, chỉ đề: Giám đốc Trần Khánh Giư.
Đó là một quyết định quan trọng, nên hơn mười năm sau, Nhất Linh còn nhớ rõ và ghi lại trong bài Mấy lời nói đầu.
- Rồi tới Ngày Nay số 99 (27-2-38), tức là hơn bốn tháng sau, lại rút cả tên Trần Khánh Giư. Sau đó, chỉ đề ngân phiếu gửi về M. le Directeur du Ngày Nay.
Hai quyết định này rất quan trọng nên Nhất Linh nhớ rõ, vì đó là hai ngày: Nhất Linh và Khái Hưng ngừng để tên công khai trên báo Ngày Nay. Nên ta có thể xác định:
Kể từ tháng 2-1938, Nhất Linh và Khái Hưng đã lập đảng Hưng Việt, sau đổi tên thành Đại Việt Dân Chính. Vì thế hai người lần lượt rút tên là Giám đốc báo Ngày Nay để tránh hậu họa cho tờ báo.
Việc này, Nguyễn Tường Bách và Hoàng Văn Đào chỉ ghi đại lược: năm 1938, Nguyễn Tường Tam lập đảng, nhưng không ai nói rõ ngày tháng. Còn Nguyễn Vỹ lại cho rằng, từ 1936 Khái Hưng đã lập Việt Nam Dân Chính Đảng, rồi kéo Nhất Linh theo [12], điều này cũng không biết đúng sai như thế nào, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này trong chương: Việt Nam Quốc Dân Đảng (1939-1945). Ở đây ta chỉ có thể xác định rằng:
Kể từ tháng 2-1938, Nhất Linh và Khái Hưng đã bỏ tên trên đầu báo Ngày Nay, để ra lập đảng và họ vẫn sát cánh nhau như lúc làm báo.
Bài Tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í
Tài liệu đáng tin cậy hơn cả về Nhất Linh và Tự Lực văn đoàn là bài Nhất Linh (1906-1963) của Nguyễn Ngu Í [13]. Chính trong bài này, Nhất Linh đã xác định tên những người trong Tự Lực văn đoàn.
Bài này chia làm hai phần:
1- Phỏng vấn Nhất Linh, ở dưới ghi: Thủ đô nước Việt đầu mùa mưa 1954, Nguyễn Ngu Í thực hiện cho mục "Gia đình văn nghệ" của báo Phương Đông, mấy ngày trước khi ký hiệp định Genève. Đến năm 1961, một phần được Nguyễn Ngu Í trích in trên báo Bách Khoa [14].
2- Tiểu sử Nhất Linh, với lời chú thích: "Tiểu sử này, do chính Nhất Linh đọc cho tôi viết và đã xem lại trước khi in, tôi xin giữ trọn vẹn và không thêm đoạn đời từ thu 1954 đến thu 1963, để giữ chút kỉ niệm về anh. Khi tái bản sẽ in bổ túc." [15] Như vậy, phần tiểu sử này, do Nhất Linh đọc cho Nguyễn Ngu Í viết, bảy năm sau khi trả lời bài Phỏng vấn.
Nhất Linh tự vận ngày 7-7-1963. Nguyễn Ngu Í qua đời tháng 8 năm 1977 tại Sài Gòn, sách của ông chưa kịp tái bản, nên ta không có phần tiểu sử Nhất Linh từ 1954 đến 1963, như ông đã hứa.
Bài Nhất Linh (1906-1963), cho tới nay là tài liệu đầy đủ và ít sai lầm nhất, nhờ sự làm việc cẩn trọng của Nguyễn Ngu Í, và vì Nhất Linh đã đọc lại phần tiểu sử trước khi in. Trước hết chúng tôi lưu ý đến hai câu trong bài Tiểu sử Nhất Linh này:
- "Về nước năm 1930, cùng Hoàng Đạo, Thạch Lam xin ra tờ báo trào phúng "Tiếng cười", nhưng vì gặp cảnh không tiền nên "tráng sĩ đành năm co". Quá hạn, bị rút giấy phép".
- "Đã có vốn ít nhiều, lại có thêm đồng chí, nên dầu làm báo lúc bấy giờ có khổ như cái gì, cũng quyết không lui. Sẵn có tờ "Phong Hóa" ra tới số 13, lối văn cổ không được hoan nghênh, và người bỏ tiền ra muốn giao lại, anh [Nhất Linh] bèn lãnh lấy, có Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí phụ lực (1932). Sau đó vài tháng, thêm Thế Lữ." [16]
Điểm đáng chú ý nhất ở đây là lời Nhất Linh: Tự Lực văn đoàn có bảy người Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Thế Lữ.
Một mặt khác, như chúng tôi đã trình bày trong chương Sự thành lập Phong Hóa và Tự Lực văn đoàn: Nhờ những điều Khái Hưng kể lại trong tiểu thuyết Những ngày vui, ta được biết: Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí là hai sáng lập viên đầu tiên, làm báo Phong Hóa từ số 1.
Bài Tiểu sử Nhất Linh, còn ghi thêm một số thông tin khác:
- Từ khi về nước năm 1930, Nhất Linh đã có ý định cùng hai em Hoàng Đạo và Thạch Lam, làm báo trào phúng.
- Nhất Linh xin được phép ra tờ báo "Tiếng cười", nhưng vì không có tiền nên đành "nằm co", đến lúc quá hạn, bị rút giấy phép.
Câu "Đã có vốn ít nhiều, lại có thêm đồng chí" dẫn đến nghi vấn: vốn ở đâu ra?
Câu hỏi này lại được Khái Hưng trả lời trong tiểu thuyết Những ngày vui: Nhờ số tiền 10.000 đồng của Nguyễn Văn Tiên Léang fat Houa trước khi qua đời, di tặng.
Nguyễn Ngu Í ghi tiếp: "Anh [Nhất Linh] bèn lãnh lấy [tờ báo] có Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí phụ lực (1932). Sau đó vài tháng thêm Thế Lữ."
Câu này, một lần nữa lại nêu rõ đích danh những thành viên xây dựng báo Phong Hóa từ số 14 (22-9-32) sau thêm Thế Lữ, thành viên thứ bảy.
Và Khái Hưng trong Những ngày vui coi Nguyễn Gia Trí là bạn đồng hành từ những ngày đầu, trước cả Nhất Linh.
Cả bà Nguyễn Thị Thế cũng nhớ: "Trong thời kỳ này (1933) anh Tam lập nhóm Tự Lực văn đoàn cùng Khái Hưng, Hồ Trọng Hiếu, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam và Nguyễn Gia Trí sau có thêm Nguyễn Cát Tường tức họa sĩ Le Mur[17]. Bà Thế cũng không nhớ sai, vì Nguyễn Cát Tường vẽ cho Phong Hóa một bức biếm họa trên số 13, rồi trở lại vẽ Phong Hóa từ số 27 (cùng với Thế Lữ). Nhưng Cát Tường chỉ là một trong những họa sĩ cộng tác với Phong Hóa, không phải là họa sĩ chính và là người sáng lập như Nguyễn Gia Trí cùng với Khái Hưng.
Sau này, người ta hay tự tiện bỏ tên Nguyễn Gia Trí ra ngoài, có lẽ vì nghĩ ông là họa sĩ. Điều này hết sức sai lầm, vì Phong Hóa Ngày Nay nếu không có Nguyễn Gia Trí, cũng không hoàn toàn là Phong Hóa Ngày Nay.
Tóm lại, sau khi kết hợp tài liệu của Nhất Linh và Khái Hưng, chúng ta có thể quả quyết rằng:
- Tự Lực văn đoàn có bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ.
- Tự Lực văn đoàn thành lập trong khoảng thời gian từ Phong Hóa số 11 (25-8-32) đến Phong Hóa số 13 (8-9-32), tức là những ngày cuối tháng tám đầu tháng chín năm 1932.
- Bốn chữ Tự Lực văn đoàn được in lần đầu trên báo Phong Hóa số 56 (21-7-33).
- Bản tuyên ngôn Tự Lực văn đoàn được in trên báo Phong Hóa số 87 (2-3-1934).
Nhưng vẫn còn một câu hỏi chưa được giải đáp:
Nhất Linh, trong bản Tiểu sử không nhắc đến Xuân Diệu, tại sao?
Trường hợp Xuân Diệu
Xuân Diệu
Phong Hóa đi tiên phong trong việc giới thiệu Thơ mới, ngay từ số 16 (16-10-32), Nguyễn Tường Tam đã làm bài thơ mới đầu tiên Điệu thơ cụt, ký tên Nhất Linh. Rồi trên báo Xuân Phong Hóa (số 31, 24-1-33), Thơ mới chính thức được "lăng-xê" với chín bài: Phan Khôi với Tình già; Lưu Trọng Lư, với bốn bài: Trên bãi biển, Giấc mộng tình, Lại nhớ Vân, Vì sương thu đổ; Tân Việt (Nhất Linh), hai bài: Gượng vui, Cái vui ở đời; và Ngày xuân vắng khách của Thanh Tâm. Thế Lữ tham dự với bài thơ đầu tiên Con người vơ vẩn.
Phạm Huy Thông bắt đầu có thơ in trên Phong Hóa từ số 62 (1-9-33). Vũ Đình Liên, từ số 98 (18-5-34). Nguyễn Bính, từ Phong Hóa số 116 (21-9-34) và năm 1937, ông được giải thưởng khuyến khích thơ của Tự Lực văn đoàn, với tập Tâm hồn tôi. Như vậy sự công nhận của Tự Lực văn đoàn đã nâng đỡ nhà thơ trong bước đầu rất nhiều.
Xuân Diệu có bài Những bàn tay ấy đăng trên Phong Hóa số 158 (18-5-35), với những câu thơ tuyệt đẹp:
Một tối vòm trời chẳng bợn mây,
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,
Hoa nghiêng xuống cỏ trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu: một tối đây [18]
Những lời huyền bí bốc lên trăng
Những ý bao la tỏa xuống trần
Nhưng tiếng ái tình hoa bảo gió,
Gió đào thỏ thẻ bảo hoa xuân.
Bóng chiều đi vụt. Bỗng, đêm nay,
Tôi lại đa mang hận tháng ngày.
Dưới ánh trăng cười tôi kiếm mãi
Dấu bàn tay ấy ở trên tay.
Sau Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu là người thứ nhì đưa sự Giao cảm giữa con người và thiên nhiên vào thơ, mà Baudelaire gọi là Correspondances. Xuân Diệu được chấp nhận ngay như một tài năng trẻ, nhạy cảm, có ngôn ngữ thơ mới lạ.
Xuân Diệu lúc đó đang học tú tài I ở Hà Nội, có hai bài thơ được đăng tiếp theo là Nụ cười xuân (Phong Hóa số 182, 10-4- 36) và Vì sao (Phong Hóa số 185, 1-5-36), được Thế Lữ nâng đỡ.
Bài Vì sao có bốn câu, sau này sẽ rất nổi tiếng:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu, một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bắng nắng nhạt,
Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu
Trọn năm 1937, Xuân Diệu trở về Huế học thi Tú Tài II, chỉ gửi đăng có hai bài: truyện ngắn Mèo hoang (Ngày Nay số 81, 17-10-37) và bài thơ Phải nói (Ngày Nay số 84, 7-11-37). Thời gian này Xuân Diệu kết thân với Huy Cận.
Năm 1938, Xuân Diệu ra Hà Nội ở chung với Huy Cận. Xuân Huy góp bài cho Phong Hóa nhiều nhất, nhưng Xuân Diệu được ưu đãi hơn. Mỗi tuần Xuân Diệu gửi cho Phong Hóa một bài văn xuôi, thỉnh thoảng mới có thơ. Văn xuôi của Xuân Diệu khá nhạt nhẽo nhưng vẫn được Thạch Lam, lúc đó làm chủ bút, đăng.
Tập Thơ Thơ của Xuân Diệu được quảng cáo: sẽ in, trên Ngày Nay số 96 (30-1-38), nhưng phải đến cuối năm 1938, Tự Lực văn đoàn mới in xong. Sang năm 1939, Xuân Diệu góp bài ít hẳn đi. Và năm 1940, đỗ tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho, nên gần ông như ngừng hẳn, không gửi bài nữa.
Sự đóng góp của Xuân Diệu cho tờ Ngày Nay không hơn những đóng góp của các nhà thơ, nhà văn có tài khác như: Nguyễn Bính, Huy Cận, Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Đỗ Đức Thu… Xuân Diệu được chọn vào Tự Lực văn đoàn vì thơ ông bạo và lạ hơn, là phải. Tuy nhiên, về thơ, Huy Cận, Nguyễn Bính sâu sắc hơn. Về văn, Nguyên Hồng với Bỉ vỏ và Những ngày thơ ấu đã là một tài năng lớn, chưa kể Trọng Lang về phóng sự, Vi Huyền Đắc về kịch.
Vậy sự quyết định đưa ai vào Tự Lực văn đoàn thời ấy ra sao? Không rõ. Có lẽ vì lúc ấy, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, bận lo chính trị, không còn thì giờ để ý đến văn chương như trước nữa.
Chúng ta tin vào mấy chữ của Nhất Linh trong bài Mấy lời nói đầu: “Xuân Diệu (có chân trong Tự Lực Văn Đoàn), nhưng Nhất Linh nhớ nhầm khá nhiều. Còn Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam cũng ghi Xuân Diệu có chân trong Tự Lực văn đoàn [19], không biết ông lấy thông tin ở đâu.
Vậy Xuân Diệu có thể là thành viên thứ tám của Tự Lực văn đoàn, kể từ 31-12-38, ngày phát hành tập Thơ Thơ [20].
Ta lại biết, mỗi thành viên, khi in sách, đều được hân hạnh đề thêm mấy chữ: Trong Tự Lực văn đoàn, dưới tên tác giả.
Vậy mà, theo Đặng Trần Huân, cuốn Thơ Thơ không có năm chữ này, ông viết: “Năm 1938, khi nhà xuất bản Đời Nay của Tự Lực văn đoàn in "Thơ Thơ" và đoản văn "Phấn Thông Vàng" cũng chưa thấy dòng chữ Trong TLVĐ, ghi dưới tên tác giả Xuân Diệu” [21].
Thế mới kỳ lạ. Tuy nhiên Đặng Trần Huân viết như thế, thì ta có thể tin rằng ông đã có hoặc đã nhìn thấy bìa này.
Chúng tôi bèn tìm trên Internet, quả nhiên thấy được sách Thơ Thơ do Đời Nay in năm 1938, của Thư viện Quốc gia Pháp (BNF) với bìa sau đây, dưới tên Xuân Diệu không có chữ Trong Tự Lực văn đoàn:
Bên trong sách này có một trang ghi tám chữ: Xuân Diệu Thơ Thơ Tự Lực Văn Đoàn, nhưng với thứ chữ in khác và bỏ dấu không đúng, có lẽ do người Pháp làm việc số hóa cuốn sách đã thêm vào.
Vậy Xuân Diệu có thực sự ở trong Tự Lực văn đoàn hay không?
Việc này vẫn còn tồn nghi.
Riêng cuốn Phấn Thông Vàng, Đời Nay không in, có lẽ vì dở.
Nhưng Xuân Diệu chưa phải người chót đã được vào hay chưa được vào Tự Lực văn đoàn, Đỗ Tốn là thành viên thứ tám hay thứ chín.    

Chú thích:
[1] Đặng Trần Huân, Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn, in trong cuốn Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, phần 1, do Nguyễn Thạch Kiên sưu tập, giới thiệu và xuất bản, Phượng Hoàng, California, 1997, t. 273-274.
[2] Nhà văn Nhật Thịnh đã qua đời ngày 5-6-2020 tại Sacramento, California, Hoa Kỳ.
[3] Bài này đăng trên báo Đại Chúng số 105, ra ngày 1-9-2002.
[4] Việt Nam một thế kỷ qua, Nxb Thạch Ngữ, Hoa Kỳ, 1998, tái bản năm 2002, in trong phần phụ lục.
[5] Nhất Linh cha tôi, Nxb Văn Mới, California, Hoa Kỳ, 2006.
[6] Sự thất lạc được Nguyễn Tường Thiết kể lại trong bài Lời nhà xuất bản in ở cuối tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, tập 2, (Phượng Giang, Sài Gòn 1973). Trong câu chuyện riêng với chúng tôi, ông kể rõ nguyên nhân sự thất lạc, liên hệ tới một nhà văn nữ nổi tiếng (đã qua đời). Vậy nếu có dịp, mong ông viết ra, vì câu chuyện đã thuộc về văn học sử.
[7] Thạch Lam mất năm 1942 vì bệnh lao ở Hà Nội, và Hoàng Đạo mất năm 1948, trên chuyến xe lửa từ Hồng Kông đến Quảng Châu.
[8] Theo Nguyễn Tường Thiết, Nhất Linh cha tôi, Văn Mới, California, 2006, t. 13.
[9] Ngày Nay số 66 (4-7-37).
[10] Theo bài Đính chính in trên báo Ngày Nay kỷ nguyên mới số 2 (12-5-45).
[11] Trên Phong Hóa số 62 (1-9-33), trường Thăng Long quảng cáo: Nguyễn Tường Tam Directeur des cours (Giám học). Trên Phong Hóa số 110 (10-10-34), danh sách giáo sư niên khóa 34-35 vẫn có tên Nguyễn Tường Tam đứng đầu. Đến Phong Hóa số 154 (20-9-35), trong danh sách toàn thể các giáo sư trường Thăng Long, mới không còn tên Nguyễn Tường Tam nữa.
[12] Nguyễn Vỹ, Tuấn chàng trai nước Việt, quyển II, tác giả xuất bản, 1970, t. 250.
[13] In trong cuốn Sống Và Viết với… của Nguyễn Ngu Í, do Ngòi Xanh xuất bản năm 1966, tại Sài Gòn, Xuân Thu chụp và in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm.
[14] Bách Khoa số 109 (15-7-1961), trang 84.
[15] Nguyễn Ngu Í, Sống Và Viết với… t. 23, chú thích 1.
[16] Nguyễn Ngu Í, Sống Và Viết với… t. 21.
[17] Nguyễn Thị Thế, Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường, Văn Hóa Ngày Nay, Santa Ana, 1996, trang 117.
[18] Bản Phong Hóa 158 ghi: một tối đây, sau này sửa thành một tối đầy, hay hơn.
[19] Thi nhân Việt Nam, Đông Nam Á chụp lại, từ bản Nguyễn Đức Phiên, 1943, Hà Nội, t. 115.
[20] Dựa theo quảng cáo in trên Ngày Nay số 143 (31-12-38).
[21] Đặng Trần Huân, Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn, in trong cuốn Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùngQuyển 1, Hồn bướm mơ tiên, t. 280).
Đỗ Tốn và Chúc thư văn học của Nhất Linh
Đỗ Tốn và Đỗ Đình Đạo
Tên tuổi Đỗ Tốn, gắn liền với Hoa vông vang, một tác phẩm mà những người trưởng thành khoảng giữa thế kỷ XX, không mấy ai là không biết, không đọc. Nhưng chúng ta lại có rất ít tài liệu về Đỗ Tốn. Nhờ Bạch Thái Quốc [1], tôi có được một số thông tin về Đỗ Tốn và mối thâm giao giữa hai gia đình Nguyễn Tường và Đỗ Đình. Bạch Thái Quốc thường kể với tôi về Đỗ Tốn, người cậu ruột hào hoa, sống phiêu bồng như một lãng tử, thần tượng của mấy đứa cháu nhỏ.
Đỗ Tốn, Đỗ Đình Đạo có mối liên hệ chặt chẽ với gia đình Nhất Linh.
Đỗ Tốn (1921-1973) tên thật là Đỗ Đình Tốn, con ông Đỗ Đình Thông. Đỗ Đình Đạo, con ông Đỗ Đình Tiến, em ruột ông Thông. Hai người là anh em con chú con bác. Họa sĩ Tạ Tỵ tưởng họ là hai anh em ruột [2].
Gia đình họ Đỗ nổi tiếng giàu sang, phú quý: Đỗ Đình Tốn và Đỗ Đình Đạo là cháu nội quan Đô thống Đỗ Đình Thuật.
Bà Đỗ Đình Thông, mẹ Đỗ Tốn và bà Nguyễn Tường Nhu, mẹ Nhất Linh, rất thân nhau. Bà Thông đã giúp đỡ bà Nhu trong thời kỳ hoạn nạn, chồng mất ở tuổi 37 tuổi, một mình xoay sở nuôi mẹ chồng và bảy người con.
Đỗ Đình Đạo (17/7/1911-29/7/1954) cũng là một thần tượng của tuổi thanh niên thời ấy, Nhất Linh đã dùng hình ảnh ông để vẽ chân dung Dũng trong Đoạn tuyệt và Đôi bạn: đẹp trai, tài hoa, đàn giỏi, yêu nước, nguyên Tư Lệnh Đệ Tam chiến khu Vĩnh Yên của Quốc Dân Đảng, làm cách mạng cùng với Nhất Linh ngay từ những ngày đầu. Đồn điền của gia đình họ Đỗ ở Vĩnh Yên, không những đã là nền cho nhiều tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, mà còn là chỗ hội họp và ẩn náu, ban đầu của tổ chức cách mạng Đại Việt Dân Chính, sau trở thành Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Tạ Tỵ viết: "Đỗ Tốn cho tôi biết trong những vụ hè họ thường hội họp và hoạt động ở đồn điền của gia đình họ Đỗ, ngụy trang bằng những cuộc đi săn ở Bắc Giang[3].
Khi Đại Việt Dân Chính bị Pháp khủng bố những năm 1940-1941, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng lần lượt bị bắt, giam ở Vụ Bản, Hòa Bình.
Đỗ Tốn trốn được sang Tàu, ở chung với thủ lãnh Nguyễn Tường Tam và các đồng chí trong ba năm (1942-1945) tại Quảng Châu.
Trong thời gian này ông viết Hoa vông vang. Phải chăng vì Đỗ Tốn gặp người vợ tương lai là Nguyễn Thị Như Băng (16/8/1925-19/6/2017)? Và Hoa vông vang phản ảnh mối tình thơ mộng đó?
Như Băng sinh tại Lạng Sơn, sang Trung Hoa từ năm 14 tuổi; sau học trường quân sự về ngành vô tuyến điện; hoạt động trong Quốc Dân Đảng và là đồng chí của Đỗ Tốn. Họ kết hôn năm 1945.
Năm 1945, Đỗ Tốn trở về nước.
Về Hà Nội, ông hoạt động và viết báo với Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Tường Bách.
Đỗ Tốn viết truyện ngắn Ả Hầu, đăng trên báo Việt Nam số 64, số Tết (30-1-46), kể lại chuyện ba năm, cùng các đồng chí và đảng trưởng sống trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, đói khát, trốn tránh, nhờ người phụ nữ tên Ả Hầu, là "bà ở" tình nguyện không công, nhịn ăn, nuôi các "ông chủ" trẻ làm cách mạng. Ả Hầu là một tác phẩm giá trị, đầy tính nhân bản lại có nhiều thông tin. Chúng tôi sẽ trở lại với Ả Hầu, khi viết về thời điểm Nhất Linh, Đỗ Tốn ở bên Tàu.
Tạ Tỵ kể lại: "Tôi biết Đỗ Tốn từ ngày ở Hà Nội. Anh là con một điền chủ có trang trại rất lớn ở miền trung du Bắc Việt (…). Đỗ Tốn có gương mặt trí thức với bộ râu quai nón lúc nào cũng mọc lởm chởm chạy vòng theo khuôn mặt trông rất nghệ sĩ. Vóng dáng tầm thước mảnh mai, ăn nói dịu dàng mực thước, luôn luôn kéo theo nụ cười, nửa thân mật, nửa kiêu bạc. Vốn con nhà giàu nên anh tiêu xài rất sang. Khi nào gặp, anh lôi vào quán rượu Taverne Royale ở góc phố Tràng Tiền uống bất kể giá đắt rẻ. Anh thường cưỡi chiếc xe mô tô, coi có vẻ thể tháo gia, nhưng tình thực lúc đó, tuy mới trên dưới 30, anh đã nghiện." [4]
Sau 1954, Tạ Tỵ gặp lại Đỗ Tốn ở Phòng Báo Chí Quân Đội (Quốc Gia Việt Nam) mới thành lập. Đỗ Tốn từ Bảo Chính Đoàn (thuộc Đại Việt Quốc Dân Đảng) được chuyển sang:
"Phòng báo chí mới thâu nhận thêm một trung úy từ Bảo Chính Đoàn chuyển qua. Đó là nhà văn Đỗ Tốn, tác giả Hoa vông vang (…) Trong những tháng đầu, Đỗ Tốn làm việc bình thường như mọi sĩ quan khác, nhưng những khi rảnh rỗi, anh thường nói chuyện thì thầm với Lê Đình Thạch [Trưởng Phòng Báo Chí] về vấn đề đánh bạc làm sao cho khỏi thua. Đỗ Tốn, ngoài vấn đề nghiện hút, (cả Phòng chưa ai biết, ngoài tôi, nhưng tôi không nói) còn mê đánh bạc, cái mê này cũng không thua gì mê thuốc phiện"[5]. Bạch Thái Quốc cũng xác nhận như thế. Có lẽ đó là những lý do khiến sau này Đỗ Tốn không viết thêm được gì nữa.
Khi Nhất Linh tự vận ngày 7-7-63, Đỗ Tốn là một trong những đồng chí cuối cùng đến viếng thi hài người lãnh đạo.
Đỗ Tốn chết trong hoàn cảnh cực kỳ cô đơn, tăm tối, năm 1973, khi đang làm Phó Quản Đốc đài Tiếng Nói Quân Đội với cấp bậc Thiếu Tá.
Đỗ Đình Đạo, sau thời gian lưu vong ở Quảng Châu và Hương Cảng cùng với Nhất Linh, ông trở về nước, trong nhóm Quốc Dân Đảng cộng tác với chính phủ Bảo Đại.
Sau 1954, ông ở lại miền Bắc, tiếp tục hoạt động, và bị đầu độc chết ngày 29-7-1954. Các báo thời đó, đổ cho Thụy An giết người tình. Người ta dùng thoại này để đánh Thụy An, trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Cả Hoàng Văn Đào trong cuốn Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng kết tội bà. Nhưng cái chết này có lẽ liên quan tới hoạt động chính trị của Đỗ Đình Đạo: ông là Tư lệnh Đệ Tam Chiến Khu Quốc Dân Đảng, cầm quân đánh nhau với Việt Minh trong thời kỳ hai đảng nội chiến 1945-1946. Sau đó, ông trốn sang Tàu rồi trở về nước năm 1950, làm Giám Đốc Quân Thứ Lưu Động của Quốc Dân Đảng. Theo Hoàng Văn Đào:
"Đỗ Đình Đạo mưu củng cố lực lượng võ trang Đoàn Quân Thứ Lưu Động, và liên lạc kết hợp với các bộ phận quân sự Điạ phương quân, với mục đích chiếm một chiến khu, rồi mở một mặt trận lưu động, tổ chức một cuộc hành quân bằng đường bộ, kéo cờ VNQDĐ tiến sâu vào khu vực CS qua Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa thẳng tới Trung Việt[6]
Hoàng Văn Đào cho rằng: "Thụy An phản bội, tiếp tay với thực dân Pháp và CS đầu độc Đỗ Đình Đạo" [7]. Nhưng đây cũng chỉ là những giả định, vô bằng cớ.
Dù sao chăng nữa, vì hoạt động chính trị và quân sự của ông, cái chết của Đỗ Đình Đạo gần như đã được định trước. Và có lẽ ta sẽ không bao giờ biết rõ sự thực bởi vì những người liên hệ đến việc này đều đã qua đời [8].
Nhắc lại Đỗ Đình Đạo, là để nhớ lại hình ảnh một người làm cách mạng, đối lập với Việt Minh mà chân dung dường như đã được Nhất Linh tiểu thuyết hóa.
Khi trốn sang Tàu, Nguyễn Tường Tam đổi tên là Nguyễn Tường Dũng [9]. Ông lấy lại tên Dũng, nhân vật trong các tiểu thuyết Thế rồi một buổi chiềuĐoạn tuyệt và Đôi bạn ngày trước.
Nguyễn Ngu Í hỏi: Dũng có thật không? Nhất Linh trả lời: "Tôi "tạo" Dũng sau khi đọc một tin tòa án: một nhà cách mạng bi xử đày Côn Đảo[10].
Trong một dịp nói chuyện, tôi hỏi Nguyễn Tường Thiết: anh nghĩ nhân vật Dũng của Nhất Linh là ai? Anh Thiết trả lời: Tôi cho Dũng là sự tổng hợp ba người: Nhất Linh, Khái Hưng và Đỗ Đình Đạo. Nhận xét của Nguyễn Tường Thiết rất sâu sắc, cho thấy sự ràng buộc sâu xa giữa ba nhà cách mạng: Nhất Linh, Khái Hưng và Đỗ Đình Đạo. Hơn thế nữa, những nhân vật này đã pha trộn cuộc đời, cách mạng và tiểu thuyết trong tác phẩm duy nhất là chính đời họ.
Đỗ Tốn, thành viên thứ tám của Tự Lực Văn Đoàn?
Trong bài trước, tôi đã nói về trường hợp tồn nghi của Xuân Diệu, bởi vì bản Thơ thơ đầu tiên do Đời Nay in năm 1938, do Thư viện Quốc gia Pháp (BNF) lưu trữ, không có những chữ Trong Tự Lực văn đoàn. Ở đây ta bàn về trường hợp Đỗ Tốn.
Năm 1942, Đỗ Tốn dường như đã được Nhất Linh tuyển chọn vào Tự Lực văn đoàn với tập truyện ngắn Hoa vông vang, do chính Nhất Linh viết tựa, đoạn kết có câu:
"Xem những truyện trong tập "Hoa vông vang" tôi không thể không đem Đỗ Tốn ra so sánh với một nhà viết truyện ngắn khác: Thạch Lam. Tôi thấy hai nhà văn này có nhiều chỗ giống nhau và tôi tin Đỗ Tốn sẽ là một Thạch Lam thứ hai trong văn giới nước ta".
Nhất Linh, Quảng Châu tháng 12 năm 1942".
Nhận xét của Nhất Linh về văn chương Đỗ Tốn rất tinh tường. Vậy ta có thể kết luận rằng năm 1942, tại Quảng Châu, Đỗ Tốn, 21 tuổi, đã viết tập truyện ngắn Hoa vông vang, Nhất Linh đọc thấy hay, gợi nhớ đến bút pháp Thạch Lam, người em mới mất (ngày 27-6-1942), nên ông đã kết nạp Đỗ Tốn vào Tự Lực văn đoàn.
Đỗ Tốn cho biết: Hoa vông vang được Đời Nay xuất bản lần đầu năm 1945 [11]. Trên báo Ngày Nay Kỷ nguyên mới, số 2, ra ngày 12/5/45, có in quảng cáo: Đời Nay đã xuất bản: Hoa vông vang của Đỗ Tốn, Hoa niên của Tế Hanh và Cô bé đuôi cá, Hoàng Đạo dịch. Nhà xuất bản Đời Nay lúc đó do Khái Hưng và Hoàng Đạo trông nom.
Chúng tôi tìm được bản Hoa vông vang do Đời Nay in năm 1945, trong Thư viện Quốc gia Pháp (BNF) không có những chữ Trong Tự Lực văn đoàn, giống như cuốn Thơ Thơ của Xuân Diệu:
Chúng tôi cũng lại có hai bản Hoa vông vang dưới đây, mua tại Hoa Kỳ, không đề năm, chụp lại bản Đời Nay và bản Phượng Giang, in ở Sài Gòn:
Bìa Hoa Vông Vang của Đời Nay và của Phượng Giang
Trên bìa bản Đời Nay, Sài Gòn, dưới tên Đỗ Tốn có ghi năm chữ: Trong Tự Lực văn đoàn, nhưng trên bìa bản Phượng Giang, Sài Gòn, năm chữ này đã biến mất.
Vậy ta phải hiểu như thế nào?
Nguyễn Thạch Kiên, nhà văn, thành viên Quốc Dân Đảng viết về việc Nhất Linh tái bản Hoa vông vang ở Sài Gòn như sau:
"Làm báo, viết văn, tôi cần nhiều tài liệu. Một người anh em, biết tính tôi cẩn thận và yêu sách báo, bèn giao cho tôi quản lý tất cả những số báo Chính Nghĩa và Việt Nam, cơ quan tranh đấu của VNQĐD do Khái Hưng chủ biên trong thời gian 1945-1946.
Một thời gian sau, nghe tin tôi còn giữ được một số sách báo của Tự Lực văn đoàn; nhà văn Đỗ Tốn đã đích thân tới tìm gặp và xin tôi tập truyện "Hoa vông vang" của anh (Xin những hai cuốn) để giao cho ông Nhất Linh tái bản.
Vài hôm sau, Đỗ Tốn lại tìm tôi để hỏi xin tờ báo Việt Nam số Xuân Bính Tuất [1946], trong đó có đăng bài của anh, một truyện ngắn nhan đề "Ả Hầu".
Tôi vui lòng tặng cho Đỗ Tốn tờ báo này và khuyên Đỗ Tốn nên dùng truyện ngắn Ả Hầu để viết đầy đủ về cô gái Trung hoa ấy; tiếp nối những ngày cô còn kẹt lại, sống tại Liễu Châu sau khi các anh em cách mạng Việt Nam về nước, năm 1945-1946.
Đỗ Tốn cho là phải và đã viết thành truyện dài nhan đề "Người thiếu nữ kỳ dị", được in thành sách vào cuối thập niên 60" [12]
Theo những lời trên đây của Nguyễn Thạch Kiên thì chính Đỗ Tốn đã xin ông bản Hoa vông vang do Đời Nay in năm 1945, để đưa cho Nhất Linh tái bản. Và trong danh sách của Đời Nay, Sài Gòn (in trên bìa sách Viết và đọc tiểu thuyết của Nhất Linh, năm 1961) cũng thấy có ghi cuốn Người thiếu nữ kỳ dị của Đỗ Tốn.
Khi về Hà Nội rồi vào Sài Gòn, năm 1951 Nhất Linh mở nhà xuất bản, giữ cả tên Đời Nay lẫn Phượng Giang. Nên có lẽ khi in lại tập Hoa vông vang lần đầu, dưới tên nhà xuất bản Đời Nay, Nhất Linh đã để những chữ Trong Tự Lực văn đoàn, vì ông nhớ theo ký ức là ông đã đưa hay đã đề nghị đưa Đỗ Tốn vào Tự Lực văn đoàn. Nhưng khi tái bản Hoa vông vang, dưới tên nhà xuất bản Phượng Giang, Nhất Linh lại bỏ những nhữ Trong Tự Lực văn đoàn đi, chắc với sự đồng ý của Đỗ Tốn. Tại sao? Tôi tạm đưa ra giả thuyết: Có thể vì Đỗ Tốn không viết thêm tác phẩm nào có tầm cỡ, để xứng đáng ở trong Tự Lực văn đoàn nữa, hay vì một lý do gì khác, cho nên năm chữ Trong Tự Lực văn đoàn đã bị Nhất Linh và Đỗ Tốn đồng ý bỏ đi.
Tóm lại, ta có thể hiểu rằng: năm 1942, Nhất Linh "hứa" kết nạp Đỗ Tốn vào Tự Lực văn đoàn, nhưng Hoa vông vang do nhà Đời Nay in năm 1945, không ghi Đỗ Tốn là thành viên của Tự Lực văn đoàn. Trường hợp Xuân Diệu cũng vậy, Nhất Linh "hứa" cho Xuân Diệu vào Tự Lực văn đoàn, nhưng khi Đời Nay in Thơ Thơ, cũng không thấy ghi Xuân Diệu có trong Tự Lực văn đoàn.
Tuy nhiên, Nhất Linh đã không lầm: Xuân Diệu và Đỗ Tốn là nhà thơ, nhà văn có tài.
Đỗ Tốn là trường hợp đặc biệt: người của một tác phẩm. Chân giá trị của Hoa vông vang là nói ra những điều không thể nói. Người đọc tác phẩm này, ở tuổi 20 hay 70, dù ở thời nào cũng đều thấy một chút mình trong đó. Đó là tính cách cổ điển của một tác phẩm; vừa ra đời đã vượt thời gian để trở thành cổ điển cho nhiều đời sau.
Ngày nay, người ta yêu bạo hơn; về tình ái, người ta nói phắt hoặc làm lẹ những gì "phải làm", văn chương về tình yêu cũng vậy, trắng trợn, đôi khi đến độ lõa lồ. Nhưng tôi chắc vẫn có, vẫn còn những đóa vông vang đâu đó, là những rung động ban đầu của con người khi mới lớn, không thể nào mất được khi con người còn đó, nhưng không mấy ai viết, bởi vì rất khó đó thôi. Còn những sấn sổ xông vào là giai đoạn thoái trào của tình yêu để thỏa mãn dục vọng.
Đỗ Tốn mô tả giai đoạn yêu đầu của cái anh chàng ngày nào cũng đến trường "đứng đợi nàng về để lẳng lặng đi theo sau". Khi đến nhà, nàng quay lại đóng cổng rồi đưa mắt lên nhìn trộm, thì sung sướng "đến run cả người", "đến chết mất". Hôm nào được đôi mắt đen lánh của nàng nhìn lại thì hát nghêu ngao rầm cả nhà! Nàng đi lễ nhà thờ thì sáng chủ nhật nào cũng dậy sớm đi lễ! Có khi đứng nói chuyện với bờ thang, ông chú bắt gặp bảo: "Đứng cười một mình thế thì chó nó cũng biết".
Đỗ Tốn là như thế, là viết những điều chưa ai viết, những điều ta đã trải qua, mà không mấy ai viết được: "yên lặng xem những ngón tay chị cong cong nhanh nhẹn đưa kim: tôi trông rõ trên những đốt cuối cùng có những sợi lông tơ mọc lưa thưa trên da trắng muốt, từ thân thể chị tỏa ra một hương thơm nồng ấm mùi da thịt. Tôi ngồi yên lặng không nói" (Điệu thu ca). Tôi ở đây là cậu em họ của chị.
Chỉ cần có hai hình ảnh "những ngón tay cong cong" và "những sợi lông tơ mọc lưa thưa" là đủ. Viết về tình dục "cao siêu" như thế chỉ có… Nhất Linh. Nhưng Cô Mùi trong Xóm Cầu Mới ra đời sau Hoa vông vang, nên không thể nói Đỗ Tốn chịu ảnh hưởng Nhất Linh.
Ảnh hưởng cuốn truyện nhỏ bé của Đỗ Tốn kéo dài nhiều thập kỷ trong văn chương Việt Nam: Hoa vông vang đã sống lại với Tố Chân, truyện ngắn của Nguyễn Mộng Giác, rồi với mối tình Diễm-Ngữ trong truyện dài Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác, bốn mươi năm sau.
Tất cả những lúng túng, rụt rè, cử chỉ thừa thãi… còn đó, như chưa hề có dấu vết thời gian che phủ đến tận hôm nay. Đóa vông vang của Đỗ Tốn cũng như Lá diêu bông của Hoàng Cầm, hiện hữu nhờ âm vang của chữ, nhờ sự tế nhị tuyệt vời trong cảm xúc. Ta không cần biết loài hoa, loài lá ấy như thế nào, nhưng vẫn cứ yêu, bởi ta lụy tình chữ.
Không chỉ với tình yêu, cả với hoa lá, mùi hương, mùi tiệm nhảy… và cả đến mùi con người, trong Hoa vông vang, cũng thế: "Trong lúc tiễn đưa tôi ra cổng, ông Kình đã lại luồn bàn tay vớ vẩn đưa trong nách và mắt lại chớp lia lịa, miệng há hốc một cách khoan khoái" (Một kiếp sống).
Chính sự tinh vi, sâu sắc của Đỗ Tốn đã khiến Nhất Linh đề nghị đưa Đỗ Tốn vào Tự Lực văn đoàn, ngay từ tác phẩm đầu tay Hoa vông vang, như ông đã từng làm với Thế Lữ, khi đọc Vàng và máu, mười năm trước.
Chúc thư văn học của Nhất Linh: mở rộng Tự Lực văn đoàn
Văn bản dưới đây Nhất Linh viết trong đêm giao thừa năm Quý Tỵ, 1953, trang trọng in trong Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay, tập 8, Sài Gòn, số xuân 1959, trang 12 và được in lại trên báo Văn số 14 (7-7-1964), số Tưởng niệm Nhất Linh [13].
Bài chúc thư này được Nhất Linh chép tay làm năm bản: Hai bản do Đỗ Đức Thu và Nhất Linh giữ, ba bản gửi ba thành viên tương lai. Bản in trên Văn là bản số 3 của Nguyễn Thị Vinh, chúng tôi xin in lại dưới đây:
Chúc thư văn học, Văn số 14 (7-7-1964)
Bài này tựa đề là Giao Thừa năm Quý Tỵ 1953, được Nhất Linh coi là chúc thư văn học trong đó ông nói rõ dự định mở rộng Tự Lực văn đoàn đến thế hệ sau. Dưới đây là nguyên văn, được đánh máy lại theo bản viết tay:
Giao thừa năm Quý Tỵ 1953
Trong hương trầm của đêm 30 tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, lại nghĩ tới những nhân tài mới khả dĩ đem lại một nguồn sinh lực rồi rào [dồi dào] hơn làm cho Tự Lực văn đoàn thay đổi và mới trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm súc này - và cũng là chúc thư luôn thể - với một bài thơ để gửi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của đoàn. Trong bẩy tám nhà văn mới chọn lựa được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn là nhân viên Tự Lực văn đoàn và tôi tin là anh Đỗ Đức Thu cùng mấy anh mất tích sau này trở về; cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó có đủ số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam.
Những lúc ngoảnh về quá khứ, kiểm điểm công việc mình đã làm, tôi thấy rõ ràng công việc tốt đẹp, lâu bền và có ích nhất của đời tôi là sự thành lập được Tự Lực văn đoàn và công việc sáng tác.
Nhưng Tự Lực văn đoàn không thể để ngừng lại ở số người cũ và đứng yên; người qua, nhưng đoàn phải đổi mới và tiến mãi. Ngoài sự cố gắng của anh em cũ còn lại, tôi mong những nhà văn tương lai của đoàn, trước và sau khi gia nhập, cùng đem hết tâm hồn và tài năng để làm rạng rỡ tên tuổi của đoàn mình, coi mình với văn đoàn là một, giữ được tinh thần cố hữu, trước kia đã sáng tỏ giữa mấy anh em quá cố: giúp đỡ nhau, cùng nhau suốt đời phụng sự văn nghệ và đoàn mình, nghiệp văn thực đã chung một kiếp người, đoàn văn cùng chung tiếng để đời mãi kiếp sau.
Đã bẩy năm tôi mới lại có dịp làm thơ và thơ tôi vốn không hay ho gì nhưng lòng và ý thành thực là đủ rồi:
Tự Lực, vườn văn mới trội tên
Bỗng dưng thời thế đảo huyên thiên
Thương dăm lá cũ vèo rơi xuống
Mừng mấy mầm tươi vụt nhú lên
Mạch cũ, nhựa non dồn dập chảy
Vườn hoa xuân mới điểm tô thêm
NGƯỜI QUA, SÁCH MỌT, ĐỜI THAY ĐỔI
TỰ LỰC,
 DANH CHUNG, TIẾNG VẪN TRUYỀN!
Nhất Linh
2 giờ sáng, mồng 1 tết năm Quý Tỵ 14-2-1953"
Từ Hồng Kông trở về Hà Nội, cuối năm 1950 [14], Nhất Linh tuyên bố không thuộc đảng phái nào, không hoạt động chính trị. Tháng 4/1951, ông vào Nam, mở nhà xuất bản Đời Nay và Phượng Giang, tái bản những sách Tự Lực văn đoàn, và in sách của một số người viết trẻ. Năm 1953 ông lên Ðà Lạt ở ẩn, sống với hoa lan ven suối Ða Mê.
Lá chúc thư viết đêm giao thừa Quý Tỵ (14-2-53) như để kết toán đoạn đường cũ và dựng con đường mới: ông hy vọng sẽ lập lại một Tự Lực văn đoàn với những người viết trẻ.
Năm năm sau, 1958, ông rời Ðà Lạt về Sài Gòn, chủ trương tờ Văn Hóa Ngày Nay, số 1 ra ngày 17-6-1958, đến số 11, ra ngày 21-4-1959, thì đình bản.
Văn Hóa Ngày Nay số 1
Trong bài viết mở đầu ở số 1, tựa đề Văn Hóa Ngày Nay với văn hóa Việt Nam, Nhất Linh khai bút bằng câu:
"Văn Nghệ Việt Nam hơn mười năm nay vẫn ở trong một tình trạng ngưng đọng, chưa tìm được lối đi", như một cách trả lời báo Sáng Tạo (ra đời tháng 10-1956) đã chủ trương… chôn sống Tự Lực văn đoàn (y hệt như Phong Hóa đối với Nam Phong ngày trước). Và đó cũng là lý do giải thích tại sao Nhất Linh không coi văn nghệ hôm nay (của nhóm Sáng Tạo) là một thành quả và ông muốn xây dựng một nền văn nghệ muôn thủa với Văn Hóa Ngày Nay.
Nhưng tại sao Nhất Linh lại công bố Lá chúc thư trên Văn Hóa Ngày Nay số xuân 1959?
Khiến khi đọc lá chúc thư này, ta thấy có mấy điều không ổn, sau đây:
Ngày 14-2-1953 khi Nhất Linh viết lá chúc thư, thì cả ba người Nguyễn Thị Vinh, Duy Lam, Tường Hùng mà ông chắc chắn xứng đáng là nhân viên Tự Lực văn đoàn đều chưa có tác phẩm trình làng:
- Nguyễn Thị Vinh, bắt đầu viết từ khi còn ở Hương Cảng (1948) nhờ Nhất Linh nâng đỡ. Về Sài Gòn, được Phượng Giang in tập truyện ngắn Hai chị em từ năm 1953.
- Tường Hùng có tập Gió mát, Phượng Giang in năm 1954.
- Duy Lam chỉ được công chúng biết đến trên Văn Hóa Ngày Nay, tức là từ tháng 6-1958.
Vậy nếu Nhất Linh đọc văn của hai người cháu, trong chỗ riêng tư, thấy họ xứng đáng là nhân viên Tự Lực văn đoàn, thì đó chỉ là việc trong gia đình; đối với công chúng, họ chưa thể gọi là nhà văn.
Một mặt khác, ta lại biết, năm 1953, Nhất Linh rất cô đơn, ông muốn làm báo mà không có ai, bạn cũ chỉ còn Nguyễn Gia Trí, nhưng Nguyễn Gia Trí là họa sĩ, vì thế, trong lá chúc thư này, ông đã nhắc đến Đỗ Đức Thu, như một người "trong" Tự Lực văn đoàn: tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh [trong văn đoàn] mất tích sau này trở về; cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác [chúng tôi nhấn mạnh] để sự quyết định có căn cứ".
Đỗ Đức Thu do Tự Lực văn đoàn khám phá. Trên Ngày Nay số 16 (12-7-36) đã trích đăng truyện Ba của Đỗ Đức Thu, đoạt giải khuyến khích Tự Lực văn đoàn năm 1935. Ba tháng sau, Ngày Nay đăng truyện ngắn Nước, ba ông… (Ngày Nay số 30, 18-10-36) một truyện kinh dị đặc sắc. Từ đó Đỗ Đức Thu hiện diện đều đặn trên báo Ngày Nay, nhưng Đỗ Đức Thu không phải là thành viên của Tự Lực văn đoàn, vì không thấy nơi nào nói đến điều đó cả, và ông cũng không có sách in, dưới tên Đỗ Đức Thu, ghi năm chữ "Trong Tự Lực văn đoàn".
Cho nên khi viết lá chúc thư này, vắng bóng tất cả các thành viên khác, Nhất Linh chỉ còn có Đỗ Đức Thu bên cạnh, nên ông đã coi Đỗ Đức Thu như một thành viên thực thụ, và mong họ Đỗ sẽ đồng ý "bỏ phiếu" cho ba "nhà văn" Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng  Duy Lam, để có một văn đoàn; tuy nhiên, ông cũng đã cẩn thận đặt điều kiện: "tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về; cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác để sự quyết định có căn cứ". Tức là ba người này chỉ được "bỏ phiếu công nhận" khi đã có "những tác phẩm xứng đáng". Nhưng việc này chưa từng xảy ra, nên những năm sau không thấy Nhất Linh phát biểu gì thêm về họ nữa.
Nếu bản chúc thư viết năm 1953, chỉ giữ trong gia đình, thì không có chuyện gì. Nhưng năm 1959, Nhất Linh công bố trên báo Xuân Văn Hóa Ngày Nay, khiến dư luận có cớ để đàm tiếu.
Vẫn trên báo Văn Hóa Ngày Nay số 1 (17-6-58) Nhất Linh còn làm hai việc khó hiểu nữa:
1- Ông đăng truyện ngắn Cúng Cơm của Đỗ Đức Thu, với lời giới thiệu: "Sau hơn mười lăm năm, nhà văn lão thành Đỗ Đức Thu trong Tự Lực văn đoàn mới lại có truyện đăng trên báo…" Và dưới tên tác giả, ông đề thêm hàng chữ: (Trong Tự Lực Văn Đoàn).
2- Ông viết lời giới thiệu truyện Gia đình tôi của Duy Lam, với những lời khen thái quá khiến ta nghi ngờ sự đánh giá tác phẩm của Nhất Linh:
"… Duy Lam, một nhà văn mới bước chân vào làng văn lần đầu tiên cách đây sáu năm bằng truyện "Chồng con tôi" (có đăng ở kỳ này) tuy Duy Lam chỉ có một truyện đăng báo nhưng đã sáng tác được rất nhiều truyện và viết đủ mọi giọng; giọng Dostoievski như trong "Chồng con tôi" và giọng Dickens, Mansfield, Tolstoi, như trong các truyện khác. Tất cả những truyện này sẽ đăng dần trong Văn Hóa Ngày Nay".
Nhờ câu văn này mà ta biết, tại sao Nhất Linh "chọn" Duy Lam ngay từ năm 1953, hóa ra ông dựa vào truyện Chồng con tôi đăng trên Báo Mới, và sáu năm sau ông cho đăng lại truyện này trên Văn Hóa Ngày Nay, số 1, với lời giới thiệu nồng nhiệt trên đây.
Ở đầu truyện Chồng con tôi, ông còn có lời giới thiệu nồng hậu nữa: "Đây là một truyện ngắn có giọng Dostoievski (…) đọc truyện này ta không thể không nghĩ đến Sợi tóc của Thạch Lam".
Tôi đã đọc kỹ Chồng con tôi và thấy không có gì là giọng Dostoievski cả. Còn giọng DickensMansfield, Tolstoi, của Duy Lam trong các truyện khác thì tôi chưa được thấy.
Chồng con tôi rất giả tạo, không thể nào so sánh với Sợi tóc của Thạch Lam đượcDuy Lam dựng một truyện rất khó tin: một người mẹ có một đứa con ghét bố, người bố ấy lại ghét mẹ mình và ngược đãi vợ, và người vợ cũng ghét chồng (không phải vì thế mà thành Dostoievski)Rồi người chồng chết. Một hôm, đứa bé ốm nặng, người mẹ chạy đến phòng mạch mời bác sĩ, mặc sự nài nỉ, van xin, bác sĩ bỏ đi, người nữ khán hộ tàn ác nói: nó có sắp chết cũng phải mang nó đến đây. (Bác sĩ không đi khám tại nhà). Thất vọng ra về, trên đường, người mẹ được một người đàn bà thương hại, tìm hộ bác sĩ khác, bởi vì bà này nửa tháng trước có đứa con bị chết, nguyên do vì bà vội vàng đến nhà người bạn mua bát họ, để con chơi một mình ở nhà, không đóng cửa sổ, thằng bé nghịch ngợm nhảy qua cửa sổ rơi xuống sân chết!
Không chỉ có cốt truyện vá víu, chi tiết rời rạc từng mảnh, mà tâm lý các nhân vật đều giả tạo, không có gì ăn khớp với nhau, Duy Lam không biết gì về tâm lý của người mẹ, nên đưa ra những chi tiết kỳ khôi, viết những câu kỳ lạ: "Khi con tôi bắt đầu ốm, tôi đã biết là nó sẽ chết".
Tóm lại ông đã bày ra bao nhiêu cảnh trớ trêu, nhưng không tạo được cảm giác thương tâm nào cho người đọc ngoài sự bực mình vì thấy hoàn toàn vô lý.
Chẳng nên trách Nhất Linh khen cháu thái quá, vì lúc đó ông cần khuyến khích họ để có một ê kíp giỏi làm Văn Hóa Ngày Nay; nhưng chung quanh ông chỉ có Đỗ Đức Thu và Bình Nguyên Lộc là hai nhà văn có kinh nghiệm, còn những người trẻ như Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng, Duy Lam, mới viết được mấy truyện ngắn nhẹ nhàng, họ không thể thay thế Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, cho nên Nhất Linh chỉ cầm cự được 11 số, rồi Văn Hóa Ngày Nay phải đình bản.
Sự hiểu lầm bản chúc thư văn học của Nhất Linh
Vì bản chúc thư này, và có lẽ vì cả những điều Nhất Linh giới thiệu Duy Lam nồng nhiệt quá trên Văn Hóa Ngày Nay, mà Đặng Trần Huân (và nhiều người khác) có lý do phê phán. Đặng Trần Huân viết trong bài Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn [15] như sau: "Trong số người mà Nhất Linh đề nghị thâu nhận vào TLVĐ chỉ có Nguyễn Thị Vinh là người ngoài còn Duy Lam và Tường Hùng là hai người cháu gọi Nhất Linh là bác ruột. Nếu chỉ kể sáu hội viên nguyên thủy thì một nửa thành phần đã là ba anh em ruột Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam".
Người ta thường hay có ý so sánh như vậy. Nhưng so sánh như vậy là sai, bởi vì Nhất Linh, Hoàng ĐạoThạch Lam, là ba nhà văn tài ba có tác phẩm minh chứng. Còn Duy Lam và Tường Hùng lại khác. Đặng Trần Huân phê phán như vậy là hơi cố chấp, bởi vì ông thừa biết rằng: Nhất Linh đã "cho" ba người này vào Tự Lực văn đoàn đâu? Ông chỉ mới giao hẹn: "sẽ bỏ phiếu bầu khi ba nhà văn đó có đủ một số sáng tác để sự quyết định có căn cứ", và lại chỉ bỏ phiếu "khi mấy anh mất tích sau này trở về" thế thì còn lâu!
Hoàng Đạo và Thạch Lam, hai em Nhất Linh - không phải Nhất Linh "cho vào" - mà họ đã ở trong nhóm những người làm báo Phong Hóa số 14, và sau đó họ xác định tài năng bằng tác phẩm văn học.
Đặng Trần Huân còn trách Tự Lực văn đoàn công bố tôn chỉ và đường lối, trên Phong Hóa số 87 (2-3-33) "nhưng lại không công bố thành phần gồm có những ai, bí mật như một đảng cách mạng[16]
Trong bản tuyên ngôn của Tự Lực văn đoàn có câu: "Người trong văn đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực văn đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được văn đoàn nhận và đặt dấu hiệu[17]Như vậy là rõ ràng lắm, không hề có chuyện bí mật như một đảng cách mạng như lời chỉ trích của Đặng Trần Huân.
Sự lựa chọn "nhân viên" của Tự Lực văn đoàn năm 1932, cũng không hề thiên vị anh em, như người ta chê trách: Nguyễn Tường Cẩm, người anh, được Nhất Linh giao chức chủ nhiệm Ngày Nay mấy số đầu, và Nguyễn Tường Bách, người em út rất có văn tài, đều bắt đầu viết trên Phong Hóa, nhưng không ai được vào Tự Lực văn đoàn cả. Trần Tiêu, em Khái Hưng, viết cho Phong Hóa từ số 18, cũng là một cây bút giá trị, nhưng cũng không được anh đưa vào Tự Lực văn đoàn. Những chỗ ghi Trần Tiêu trong Tự Lực văn đoàn đều sai cả.
Ra hải ngoại, trên bìa cuốn Na Uy và tôi, (Nxb Anh Em, 1994), bà Nguyễn Thị Vinh tự tiện đề thêm bốn chữ Tự Lực văn đoàn dưới tên tác giả. Và theo Đặng Trần Huân, bà còn tuyên bố [18] rằng bà làm như vậy vì bà thấy chủ trương của Tự Lực văn đoàn hay. Quái lạ, nếu ai thấy "chủ trương của Tự Lực văn đoàn hay" cũng làm như bà thì còn ra thể thống gì nữa?
Riêng Duy Lam, tôi mua được hai cuốn sách của ông in ở Mỹ, Gia đình tôi và Em phải sống, do Văn Hóa Ngày Nay xuất bản năm 1996, dưới tên Duy Lam đều có ghi: Trong Tự Lực văn đoàn. Đây là một sự lạm dụng, Duy Lam làm việc này sau khi Nhất Linh mất ba mươi ba năm, thật đáng tiếc. Bởi vì nếu Nhất Linh "cho" ông vào văn đoàn, thì khi hai cuốn sách đầu tiên của ông là Chồng con tôi và Gia đình tôi, in năm 1960 và 1962, Nhất Linh còn sống, đã phải có những chữ Trong Tự Lực văn đoàn.
Duy Lam bắt đầu nổi tiếng khi Văn Hóa Ngày Nay đăng Gia đình tôi, từng kỳ trên báo, truyện vui, có duyên, về gia đình ông; nữ sinh Trưng Vương, Gia Long thời ấy rất thích. Nhưng Gia đình tôi (in năm 1962) chưa đủ chất lượng để Nhất Linh có thể "kết nạp". Chồng con tôi (in 1960), như đã nói ở trên, khá tầm thường. Sau đó ông viết truyện Cái lưới (1964) vẫn về gia đình ông, nhưng hoàn toàn đối lập với Gia đình tôi, mô tả một gia đình bất hạnh vì người cha cộc cằn, độc đoán. Tất cả những tác phẩm này chưa thật đặc sắc. Trong gia đình bà Nguyễn Thị Thế, chỉ có bà và Thế Uyên là hai nhà có thể vào Tự Lực văn đoàn.
Thất tinh trong Tự Lực Văn Đoàn
Khi nói đến Tự Lực văn đoàn, người ta hay dùng chữ: Thất Tinh (bảy vì sao) để chỉ: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Thạch Lam, Tú Mỡ và Xuân Diệu. Đếm vậy là cho đúng con số bảy, nhưng không đúng sự thực.
Chữ Thất tinh, nếu có, đã chỉ xuất hiện trong thời kỳ đầu của Tự Lực văn đoàn, lúc các sao đang sáng, vì đến cuối năm 1938, khi Xuân Diệu được kết nạp (hay không), các sao kia đã lặn dần vì công việc cách mạng rồi, chỉ còn Thạch Lam ở lại thường trực tòa soạn. Tóm lại, trong bảy vì "tinh tú" không thể có Xuân Diệu.
Phạm Thế Ngũ, trong bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961-1965), là người viết câu này:
"Trong tập Những Ngày Vui viết về sau, Khái Hưng có cho biết họ có ý định khi đó lập một thứ Pléiade" với "bẩy vì sao". Đó là: Nhất Linh tức Nguyễn Tường Tam (cũng ký các biệt hiệu khác Nhị Linh, Bảo Sơn, Đông Sơn) Khái Hưng tức Trần Khánh Dư, Tú Mỡ tức Hồ Trọng Hiếu, Thế Lữ tức Nguyễn Thứ Lễ (cũng ký tên Lê Ta), Hoàng Đạo tức Nguyễn Tường Long (lúc đầu bút hiệu là Tứ Ly) Thạch Lam tức Nguyễn Tường Lân (lúc đầu cũng ký tên Việt Sinh) và Nguyễn Gia Trí, nhà hội họa chuyên môn" [19].
Đoạn văn này có hai điểm sai, tôi đều đã nói rồi, nhưng ở đây cần nhắc lại.
Điểm thứ nhất: ông tưởng Nhị Linh là bút hiệu của Nhất Linh.
Điểm thứ hai, ông viết: "Trong tập Những ngày vui viết về sau, Khái Hưng có cho biết họ có ý định khi đó lập một thứ Pléiade" với "bảy vì sao"".
Tuy ông liệt kê đúng tên bảy vì sao này, nhưng tôi đã đọc kỹ tác phẩm Những ngày vui, rà bản đăng trên báo Ngày Nay năm 1936 và cả bản Phượng Giang, do Nhất Linh in lại năm 1958 ở Sài Gòn, cũng không thấy chỗ nào nói đến Pléiade. Điều này chứng tỏ Phạm Thế Ngũ chưa đọc Những ngày vui.
Nhưng chuyện Thất tinh đã được "truyền tụng". Không hiểu từ Phạm Thế Ngũ hay từ đâu, khiến Nhật Thịnh, trong Chân dung Nhất Linh đã tiểu thuyết hóa thành câu chuyện sau đây:
"Đầu năm 1932, Nhất Linh cùng Khái Hưng và Thế Lữ đi viếng động Tam Thanh ở Lạng Sơn. Ba người bàn tính nên đặt tên hiệu cho đoàn. Nhất Linh:
- Mình phải chọn cho nhóm một cái tên gần như nhóm Pléiade, Parnasse ở Pháp. Chẳng lẽ là mình cứ gọi là nhóm "Phong Hóa" mãi sao?
Khái Hưng tán thành:
- Hay là mình đặt quách cho nhóm cái tên "Thất Tinh". Nhóm "Pléiade" có bẩy người, thì bọn mình cũng thế, có thua gì đâu.
Đó là Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Nguyễn Gia Trí (…)
Thế Lữ sau khi nghe Khái Hưng đề nghị nên đặt tên nhóm là "Thất Tinh", có lẽ vì ông quên vai trò đóng góp của Nguyễn Gia Trí, đã vội bẻ lại:
- Bẩy đâu, sáu chứ! Này nhé: Nhất Linh, Tú Mỡ, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Khái Hưng, Thế Lữ, vị chi là sáu tất cả.
Nhất Linh chêm:
Các cậu quên Nguyễn Gia Trí rồi à? Thiếu hắn ta thì bọn mình "bất trí" hết[20].
Như vậy, nếu hai chữ Thất tinh được truyền lại, thì chỉ do hai nguồn:
- Chính các thành viên Tự Lực văn đoàn, trong lúc chuyện gẫu, đã tự tôn mình là Pléiade.
- Công chúng, vì khâm phục tài năng của nhóm Tự Lực văn đoàn, nên đã tôn họ là Thất tinh.
Trong cả hai trường hợp, chữ Thất tinh đều chỉ bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ. Vì đó là bảy người đã có công trong việc xây dựng hai tờ Phong Hóa Ngày Nay, thực hiện sự đổi mới văn học, xác định con đường tranh đấu xã hội, tạo dựng uy tín cho Tự Lực văn đoàn. Ngoài ra, bốn thành viên chính: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng và Nguyễn Gia Trí, đã tham gia Quốc Dân Đảng, tổ chức cách mạng chống Pháp. Vậy chữ Thất Tinh, nếu có, chỉ để vinh danh bảy người: Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ và Thế Lữ.

Chú thích:
[1] Bạch Thái Quốc, nguyên trưởng ban Việt ngữ đài RFI, cháu nội nhà kinh doanh Bạch Thái Bưởi. Mẹ Bạch Thái Quốc là bà Bạch Thái Chín, nhũ danh Đỗ Kim Khuê, em gái Đỗ Tốn. Bà qua đời ngày 21-5-2020, ở California, hưởng thọ 99 tuổi.
[2] Tạ Tỵ trong bài "Vài cảm nghĩ về cuốn hồi ký gia đình Nguyễn Tường của nữ sĩ Nguyễn Thị Thế" viết: Đỗ Tốn và Đỗ Đình Đạo là anh em ruột, thực ra là anh em con chú con bác ruột, bài Tựa cuốn Hồi ký của Nguyễn Thị Thế, Văn Hóa Ngày Nay tái bản lần thứ ba, 1996, trang 24.
[3] Tạ Tỵ, Vài cảm nghĩ về cuốn hồi ký gia đình Nguyễn Tường của nữ sĩ Nguyễn Thị Thế", Tựa cuốn Hồi ký của Nguyễn Thị Thế, Văn Hóa Ngày Nay tái bản lần thứ ba, 1996, trang 24.
[4] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Hồi ký, Thằng Mõ, 1990, Hoa Kỳ, trang 198.
[5] Tạ Tỵ, Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi, Hồi ký, Thằng Mõ, 1990, Hoa Kỳ, trang 198.
[6] Hoàng Văn Đào, Lịch sử đấu tranh cận đại 1927-1954, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 421.
[7] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 421.
[8] Về việc Thụy An và Đỗ Đình Đạo, xin xem: Thụy Khuê, Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Tiếng Quê Hương 2012, t.175-180, hoặc trên mạng: thuykhue.free.fr ) và Trần Gia Phụng, Vụ án mạng chính trị gia Đỗ Đình Đạo và nghi án 60 năm, trên mạng Danchimviet.info, đăng ngày 20/7/2014.
[9] Hoàng Văn Đào, Lịch sử đấu tranh cận đại 1927-1954, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt, California, tái bản kỳ 4, 2006, t. 184.
[10] Nguyễn Ngu Í, Sống và viết với… t. 13.
[11] Đỗ Tốn, Vài lời nói thêm, Hoa vông vang, Đời Nay, Sài Gòn, t. 181.
[12] Nguyễn Thạch Kiên, Đốt lò hương ấy, bài tựa sách Khái Hưng Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 1, Hồn bướm mơ tiên, Phượng Hoàng, California, 1997, trang 25-26.
[13] In lại trên báo Văn số 14 (7-7-1964) số Tưởng niệm Nhất Linh, cả bản chép tay và đánh máy. In lại trong Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường - Nhất Linh, Hoàng Đạo Thạch Lam của Nguyễn Thị Thế, Nxb Văn Hóa Ngày Nay tái bản lần thứ ba, năm 1996, tại Santa Ana, California, trang 259; và trong Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực văn đoàn, Người Việt, California 2014, trang 76-77.
[14] Nguyễn Tường Thiết, trong Nhất Linh cha tôi, Văn Mới, California, 2006, t. 13, ghi Nhất Linh về Hà Nội cuối năm 1950. Tiểu sử của Nguyễn Ngu Í ghi ông về năm 1951.
[15] Đặng Trần Huân, Huyền thoại Tự Lực Văn Đoàn, in trong cuốn Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùngQuyển 1, Hồn bướm mơ tiên, t. 282.
[16] Đặng Trần Huân, bđd, trang 274.
[17] Trích bài Tự Lực Văn Đoàn, Phong Hóa số 87, 2-3-1934.
[18] Trên Phụ Nữ Diễn Đàn số 132, tháng 2-1995.
[19] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III, Anh Phương Ấn quán, Sài Gòn, Đại Nam, California, in lại trang 433-434.
[20] Nhật Thịnh, Chân dung Nhất Linh, Đại Nam in lại ở Mỹ, không đề năm, trang 127, 129, 130.
Trại Cẩm Giàng
Phần I
Nói đến cái nôi của Tự Lực văn đoàn là phải kể hai địa điểm: Trại Cẩm Giàng và số 80 Quan Thánh.
Cẩm Giàng là nơi chi nhánh gia đình Nguyễn Tường từ Hội An ra Bắc, định cư và lập nghiệp.
80 Quan Thánh là tòa soạn báo Phong Hóa Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay, từ 1934 đến 1946.
Tìm lại Cẩm Giàng cũng là nhận diện công lao của một người phụ nữ phi thường: Bà Nguyễn Tường Nhu nhũ danh Lê Thị Sâm, người mẹ góa trẻ, một mình nuôi bảy con và một mẹ chồng, trong đó có ba người là thành viên xây dựng Tự Lực văn đoàn.
Những tư liệu về Tự Lực văn đoàn và gia đình Nguyễn Tường
Trước khi đi vào phần viết về gia đình Nguyễn Tường, chúng tôi muốn giới thiệu với độc giả, những tài liệu đúng đắn, có thể dùng được và cả loại tài liệu hư cấu, nhưng đã trá hình như tài liệu thật.
Ở miền Nam, tạp chí Văn làm bốn số đặc biệt về Tự Lực văn đoàn: Văn số 14 (7-7-1964) Tưởng niệm Nhất Linh; Văn số 22 (15-11-64) Tưởng niệm Khái Hưng, Văn số 36 (15-6-65) Tưởng niệm Thạch Lam và Văn số 107-108 (15-6-68) Tưởng niệm Hoàng Đạo.
Bốn số báo này có nhiều bài viết giá trị, nghiên cứu, nhận định, hồi ức, của các tác giả, đã từng nghiên cứu hoặc gặp gỡ Tự Lực văn đoàn, như: Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Văn Trung, Thế Uyên, Thư Trung, Trần Khánh Triệu, Hồ Hữu Tường, Dương Nghiễm Mậu, Mai Chi, Nguyễn Thạch Kiên, Đinh Hùng, Đỗ Đức Thu, Huyền Kiêu, Võ Hồng, Mai Thảo. Riêng Nguyễn Văn Xuân có viết trong số Văn Tưởng niệm Hoàng Đạo hai bài cực lực chỉ trích và hạ bệ Hoàng Đạo đồng thời cả Tự Lực văn đoàn, chúng tôi sẽ nói đến sau. Nhìn chung, bốn số báo Văn trên đây, đã có thể làm nền cho việc nghiên cứu Tự Lực văn đoàn.
Ra hải ngoại, gia đình Nguyễn Tường cung cấp thêm nhiều tài liệu giá trị khác. Trước hết về Nhất Linh, có một số bài in trong cuốn Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ (Nxb Thế Kỷ, 2004, Cali) do Phạm Phú Minh biên soạn. Năm 2013, báo Người Việt tổ chức cuộc hội thảo về Tự Lực văn đoàn ở California, trong hai ngày 6 và 7 tháng 7 năm 2013, sau đó những bài viết được tập hợp và in trong tập Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực văn đoàn (Nxb Người Việt, 2014) do Phạm Phú Minh biên soạn.
Đáng chú ý hơn cả là những bài của con cháu Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam viết về những người phụ nữ trong gia đình Nguyễn Tường, những người con dâu đã gánh vác gia đình thay chồng vắng mặt vì hoạt động chính trị, hoặc chết yểu như Thạch Lam.
Nhưng tác phẩm giá trị là cuốn Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam của Nguyễn Thị Thế, đến nay vẫn là tập tài liệu ngắn gọn, đầy đủ nhất về gia đình Nguyễn Tường mà người nghiên cứu không thể bỏ qua.
Nguyễn Thị Thế là người con gái độc nhất của ông bà Nguyễn Tường Nhu, con thứ năm, bà là em Nhất Linh, Hoàng Đạo, chị Thạch Lam và mẹ của hai nhà văn Duy Lam và Thế Uyên. Bà đã viết cuốn Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam [1] thuật lại những thăng trầm của gia đình bà trong nửa thế kỷ.
Ngoài ra, còn phải kể đến bộ hồi ký của Nguyễn Tường Bách, người con út: Việt Nam những ngày lịch sử [2] và Việt Nam một thế kỷ qua (hai tập) [3] bao quát chuyện gia đình và thế sự.
Và nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út Nhất Linh, tác giả hai cuốn hồi ký Nhất Linh cha tôi [4] và Căn nhà An Đông của mẹ tôi [5], cung cấp những thông tin và kỷ niệm về gia đình ông, sách đã in lại ở trong nước.
Về những bài viết, Thế Uyên có ba bài Người bác (viết về Nhất Linh)[6]Tìm kiếm Thạch Lam [7]Hoàng Đạo hay sự trở về quê cũ và Đọc và đặt lại vị trí Hoàng Đạo [8], đều là những bài có giá trị, đã in trên báo Văn nói ở trên.
Trần Khánh Triệu (tức Nguyễn Tường Triệu) con ruột Nhất Linh, con nuôi Khái Hưng, là người cung cấp nhiều thông tin nhất về Khái Hưng, qua hai bài Ba tôi, Papa toàn báo [9].
Nguyễn Tường Nhung [10] (vợ Trung tướng Ngô Quang Trưởng) viết hai bài Mẹ tôi, bà Thạch Lam Nguyễn Tường Lân và Bà nội và trại Cẩm Giàng, đều có những chi tiết hiếm quý về mẹ và bà.
Và nhà thơ Nguyễn Tường Giang [11] con út Thạch Lam trong tập Khói hồ bay (thơ, văn) viết ba bài Thạch Lam cha tôi trong trí tưởngMộ bia và Buổi chiều đi chơi với Thạch Lam, ký ức tâm tưởng sâu sắc về người cha mất mấy ngày sau khi ông chào đời.
Các tác phẩm nói trên, vừa là những sử liệu, vừa là tác phẩm văn chương, chứng tỏ văn tài của gia đình Nguyễn Tường và điểm đáng quý nhất, ngoài giá trị văn chương, là sự thẳng thắn và chân thật của gia đình này, không thể tìm thấy được ở một số bài viết của các nhà văn, nhà thơ "bên ngoài" khi họ viết về Tự Lực văn đoàn, thi sĩ Anh Thơ là một trường hợp.
Trong cuốn Nhất Linh người nghệ sĩ người chiến sĩ do Phạm Phú Minh biên soạn và gia đình Nguyễn Tường giúp sức, do Người Việt xuất bản năm 2004 tại Cali, trong có bài Nữ sĩ Anh Thơ viết về Nhất Linh do nhà văn Phạm Phú Minh trích dẫn từ cuốn hồi ký Từ bến sông Thương của Anh Thơ. Cuốn hồi ký này, tôi đã mua và đọc từ thập niên 90, đến năm 2004, khi sách Nhất Linh người thi sĩ người chiến sĩ ra đời, tôi vẫn ngạc nhiên một cách thích thú vì thấy những trang sách của Anh Thơ được Phạm Phú Minh góp lại thành một bài viết dài như những trang tiểu thuyết về Nhất Linh và gia đình, với những chi tiết lạ, không thấy ở đâu.
Nhưng từ khi tìm hiểu về Tự Lực văn đoàn, tôi mới thấy được những gì ẩn sau sự "thật thà ngây thơ khôn khéo" có thể đánh lừa được tất cả mọi người, kể cả những người trong gia đình Nhất Linh, của loại tư liệu hoàn toàn hư cấu này.
Thi sĩ Anh Thơ (1921-2005) được giải khuyến khích thơ Tự Lực văn đoàn năm 1939. Khi phong trào đổi mới bắt đầu ở Việt Nam, Anh Thơ là một trong những người đầu tiên dành cho Tự Lực văn đoàn nhiều trang hồi ức trong tập Từ bến sông Thương do nxb Văn Học, Hà Nội, in năm 1986, khiến người đọc cảm động, nghĩ rằng Anh Thơ còn nhớ đến người xưa.
Về giải thưởng Tự Lực văn đoàn năm 1939, theo lời Thạch Lam, mặc dù số tiểu thuyết và thơ gửi đến dự thi nhiều hơn hai năm trước (37 và 38), vậy mà chỉ có tiểu thuyết được giải thưởng, đó là hai cuốn: Làm lẽ của Mạnh Phú Tư và Cái nhà gạch của Kim Hà. Không có giải kịch và thơ. (Năm 1938, không có giải thưởng gì hết, vì không có tác phẩm hay). Hai tập thơ Bức tranh quê của Anh Thơ và Nghẹn ngào của Tế Hanh chỉ được ban giám khảo chú ý, và "muốn khuyến khích phái nữ lưu, ban giám khảo định tặng riêng tác giả tập Bức tranh quê một số tiền là 30 đồng. Còn đối với tập thơ Nghẹn ngào, nếu tác giả bằng lòng, sẽ lựa các bài đăng trên báo Ngày Nay" (theo Ngày Nay số 208, 18-5-40). Tóm lại, vì Anh Thơ là con gái (lại mới 18 tuổi) nên đặc biệt được tặng tiền, còn Tế Hanh chỉ được đăng thơ trên báo Ngày Nay thôi. Xem thế việc được Ngày Nay đăng thơ đã là một thứ "giải thưởng" rồi.
Ngày Nay số 208, tuyên bố kết quả, kèm với bài của Thạch Lam viết về Những tác phẩm dự thí giải thưởng văn chương Tự lực văn đoàn 1939 Tiểu thuyết, kịch và phóng sự. Ngày Nay số 209 (25-5-40), lại có bài Giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn Thi ca của Nhất Linh viết về thơ của Anh Thơ và Tế Hanh; tuy ông có chê nhiều chỗ, nhưng như vậy đã là trân trọng lắm.
Cho nên, tôi rất ngạc nhiên khi thấy trong hồi ký Từ bến sông Thương, Anh Thơ viết:
"Mặc dầu giải thưởng từ năm1939 nhưng đến tờ báo số 200 ra ngày 25 tháng 5.1941, mới có bài nhận xét của ban giám khảo. Nhất Linh viết: Bức tranh quê của cô Anh Thơ…"
Nghĩa là Anh Thơ trích dẫn đúng bài viết của Nhất Linh mà tại sao lại đổi số báo từ 209 (25-5-40) ra số 200 ra ngày 25 tháng 5.1941, tức là cùng ngày nhưng đúng một năm sau. Còn số báo 200 của Ngày Nay thì đã ra ngày 24-2-1940 kia mà! Tôi cho là cô ghi nhầm ngày.
Nhưng đọc đến trang 106, mới hiểu là cô không nhầm, bởi vì cô chép lại lá thư này:
"Ma-đơ-moa den (Mademoiselle) Anh Thơ,
Thi phẩm "Bức tranh quê" đã in xong ngày 5 Mars 1941. (…) Sáu mươi lăm cuốn sách quý này, cần có chữ ký của tác giả. Chúng tôi trân trọng kính mời cô đến thứ năm này hoặc sớm hơn nữa càng hay, xin mời cô đến chơi tại nhà xuất bản ký vào những cuốn đó để gửi cho những người đã đặt tiền mua trước" (trang 106)
Cô Anh Thơ còn viết tiếp: "Ngày 25 tháng 4 năm 1941" trên chuyến xe lửa tốc hành thứ nhất, từ một tỉnh lỵ bé nhỏ miền trung du, tôi đã đến kinh đô giữa một ngày hè tươi đẹp, để ký vào tác phẩm đầu tiên của mình" (trang 112).
Vậy có lẽ cô đã đổi ngày bài Nhất Linh viết về cô và Tế Hanh in trên Ngày Nay số 209 (25-5-40) thành ngày 25-5-41 để cho phù hợp với chuyện cô được mời lên tòa soạn ký sách ngày 25-4-41.
Rồi từ trang 114 đến trang 119, cô kể lại câu chuyện cô tới nhà xuất bản được ông Giám đốc đón ở đầu cầu thang, mời cô uống nước trà và tận tay ông giở từng trang sách cho cô ký. "… thấy tôi vừa ký lại vừa giở sách, ông sốt ruột, đến trước bàn, mở giúp tôi từng tập, vui vẻ nói: "Cô để tôi mở giúp và tập ký nhanh tay cho quen".
Cảnh thật đẹp và thơ mộng, nhưng tiếc thay, cô lại không biết ông Nhất Linh đã trốn sang Tàu từ mùa thu năm 1940.
Cô kể tiếp, vài năm sau, tức là vào khoảng 1942, 43, cô trở thành phóng viên báo Đông Tây, cô đến phỏng vấn bà Nhất Linh. Đoạn này, từ trang 199 đến trang 205, có mấy chỗ rất lý thú, xin trích lại sau đây.
Cô tưởng bà Nhất Linh là gái tân thời như cô Loan trong Đoạn tuyệt, nhưng không ngờ bà lại là "một bà tuổi đã nạ dòng, răng vẩu, mặc quần đen áo đen, dáng tất bật". Bà Nhất Linh nói:
"Xin lỗi cô, tôi phải vừa bán hàng, vừa tiếp khách, vì hôm nay tuy chủ nhật, nhưng nhà tôi và các cháu đều bận đi thăm khu nhà "Ánh Sáng" ở bên Phúc Xá, nên chả có ai trông hàng cô ạ".
Khi viết câu này, cô vẫn không biết năm 1942, 43, ông Nhất Linh đã ở bên Tàu được 2, 3 năm rồi và cô cũng không biết chương trình nhà Ánh Sáng đã bị bỏ từ năm 1939. Cao hứng, cô kể tiếp chuyện cô đang phỏng vấn bà Nhất Linh thì:
"Có tiếng còi ô tô, rồi một chiếc ô tô rất lịch sự chạy đốn đỗ trước cửa hàng. Một bày thiếu nữ, mặc quần áo lơ muya, màu sắc rực rỡ như đàn bướm, phất phới, uà vào cửa hàng, tiếng gọi ríu rít:
- Anh Nhất Linh ơi, đi thôi.
Bà Nhất Linh nhìn họ, một cái nhìn "kẻ cả", miệng vẫn cười:
Anh ấy đi từ sáng sớm rồi. Các cô xuống ngay nhà "Ánh Sáng" thì sẽ gặp.
- Thế ạ! Thôi chúng cháu đi!"
Câu này có ác ý, cô chê bà Nhất Linh già và ông Nhất Linh lăng nhăng, nhưng bậy nhất là câu này:
"Tôi hỏi bà:
- Tôi có nghe ông bà đem cho bạn nuôi một con trai. Vậy bà có vui lòng về việc ấy không?
- Tôi phải chiều theo ý tốt của nhà tôi, vì anh Khái Hưng là bạn thân nhất của nhà tôi, mà lại không có con, trong khi chúng tôi có những bẩy cháu." (trang 202).
Cô lại cũng không biết rằng Nhất Linh cho Khái Hưng người con trai thứ nhì Nguyễn Tường Triệu (sinh 15-11-1932) vào khoảng 1934, 1935. Lúc đó, ông bà Nhất Linh có thể chưa có người con trai thứ ba Nguyễn Tường Thạch (sinh năm 1935) thì làm gì đã có những bẩy cháu!
Cô Anh Thơ đã chuyển một động tác cao quý giữa hai người bạn, thành tầm thường: thừa con cho bớt!
Sau đó cô tiếp tục "phỏng vấn" bà Khái Hưng. Rồi cô kể Thạch Lam không bằng lòng cho cô phỏng vấn vợ. Chắc cô cũng không biết Thạch Lam đã mất (năm 1942). Và cô bảo Hoàng Đạo còn độc thân, cô lại cũng không biết Hoàng Đạo cưới vợ từ năm 1933 và năm 42, 43 đang bị tù ở Vụ Bản.
Cái lối viết "hồi ký" như thế không phải là hiếm, nhưng vì Anh Thơ là nhà thơ "có tên tuổi" và Nhất Linh còn tên tuổi hơn, cho nên cô cứ việc hư cấu, tưởng chuyện qua lâu rồi, không ai biết, bằng chứng là hồi ký của Anh Thơ được "đánh giá cao" được nhiều nơi trích dẫn, đến cả gia đình Nguyễn Tường và Phạm Phú Minh cũng lầm tưởng cô viết thật tình, nên đã cho in lại trong cuốn sách Nhất Linh người chiến sĩ, người nghệ sĩ.
Gia đình Nguyễn Tường từ Hội An ra Bắc
Quan Binh Bộ Thượng thư Nguyễn Tường Vân, là nhân vật nổi tiếng đầu tiên của dòng họ Nguyễn Tường, có công được ghi vào sử sách [12]
Ông theo vua Gia Long từ buổi đầu [13] lập nhiều công trạng, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Binh, ông mất cùng năm với vua Gia Long (1820).
Nguyễn Tường Vân có hai con trai được ghi tên trong Liệt truyện.
Con trưởng Nguyễn Tường Vĩnh, đỗ phó bảng năm Minh Mạng thứ 19 (1838), làm quan tới chức Án sát Định Tường, rồi Khánh Hòa, sau thăng Tuần phủ Định Tường, bị ốm chết ở đây.
Con thứ Nguyễn Tường Phổ, đậu cử nhân năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), đậu tiến sĩ khóa Nhâm Dần (1842), làm trong Hàn Lâm viện biên tu (quan viết sử), rồi thăng tri phủ Hoằng An (thuộc tỉnh Vĩnh Long), có tiếng thanh liêm.[14]
Nguyễn Tường Phổ sinh Nguyễn Tường Tiếp (còn có tên là Trấp). Theo Liệt truyện, Tường Tiếp đỗ tú tài, làm đến chức Đồng tri phủ.
Nguyễn Tường Tiếp, là người đầu tiên đã đem gia đình ra Bắc, khi ông nhậm chức Đồng tri phủ huyện Thủy Nguyên [15].
Nguyễn Tường Tiếp là cha Nguyễn Tường Nhu, là ông của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Trong vài trang Hồi ký của Nhất Linh: Đời thi sĩ, ở phần chú thích 1, Nhất Linh có ghi: "Trích ra đây bài thơ thầy tôi làm khi rời huyện Chí Linh[16].
Như vậy ông Nguyễn Tường Nhu đã từng sống ở Chí Linh.
Một mặt khác, Nguyễn Thị Thế (em Nhất Linh), và Nguyễn Tường Nhung (con gái Thạch Lam), đều ghi ông nội và cụ nội làm tri huyện Cẩm Giàng.
Như vậy, ông Nguyễn Tường Tiếp, ông nội Nhất Linh, đã làm tri huyện ở ba nơi: Thủy Nguyên (Hải Phòng), Chí Linh (Hải Dương) và Cẩm Giàng (Hải Phòng).
Tại Cẩm Giàng, Nguyễn Tường Nhu (còn có tên là Chiếu) (1881-1918) kết duyên cùng cô Lê Thị Sâm, con trưởng Tổng Lãnh Binh Lê Quang Thuật, gốc Huế, ra Bắc đã ba đời.
Cuộc nhân duyên này sinh bảy người con:
Nguyễn Tường Thụy (1903-1974).
Nguyễn Tường Cẩm (1904-1947).
Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) (1906 -1963) sinh tại Cẩm Giàng.
Nguyễn Tường Tư tức Long (Hoàng Đạo) (1907- 1948) sinh tại Cẩm Giàng.
Nguyễn Thị Năm tức Thế (1909-1997) sinh tại Thái Hà Ấp.
Nguyễn Tường Sáu tức Vinh tức Lân (Thạch Lam) (1910- 1942) sinh tại Thái Hà Ấp.
Nguyễn Tường Bẩy tức Bách (1916- 2013) sinh tại Cẩm Giàng.
Ông Nguyễn Tường Nhu làm thông phán (thông ngôn) tòa sứ, ông mất năm 1918 ở tuổi 37.
Theo hồi ký Nguyễn Thị Thế [17], đầu thế kỷ XX ông bà Nguyễn Tường Nhu cư ngụ tại Ấp Thái Hà, nơi ông Nhu làm việc.
Xem lại năm và nơi sinh của các con, ta thấy: Nhất Linh, sinh năm 1906 và Hoàng Đạo sinh năm 1907, tại Cẩm Giàng; Nguyễn Thị Thế sinh năm 1909 và Thạch Lam sinh năm 1910 tại Thái Hà Ấp. Nguyễn Tường Bách sinh năm 1916 tại Cẩm Giàng.
Vậy gia đình Nguyễn Tường Nhu lên Hà Nội trễ lắm là năm 1909, cư ngụ tại Thái Hà Ấp nơi ông Nhu làm thông ngôn, có thể trong dinh Hoàng Cao Khải, lúc đó đã về hưu.
Đến năm 1914, dọn về số 10 Hàng Bạc. Bốn người con lớn (Thụy, Cẩm, Tam và Tư tức Long) đều học tư ở trường Mã Mây, gần nhà. Được ít lâu, ông Nhu bị mất việc, ở Hà Nội không nhờ cậy được ai, bà Nhu thu xếp đưa chồng con về nhà mẹ ở Cẩm Giàng để tìm cách buôn bán.
Theo hồi ký Nhất Linh: "Năm mười tuổi [tôi] phải rời bỏ Hà Nội về huyện Cẩm Giàng[18].
Nhất Linh chắc không dùng tuổi ta, vậy có thể xác nhận đó là năm 1916, gia đình rời Hà Nội về Cẩm Giàng. Tại Cẩm Giàng, bà Nguyễn Tường Nhu sinh thêm người con út, Nguyễn Tường Bách (1916).
Ông Nguyễn Tường Nhu
Nhất Linh là người duy nhất viết về cha, người đã sửa cho ông bài thơ đầu tiên, làm khi phải rời Hà Nội về Cẩm Giàng. Nhớ Hà Nội, cậu bé Nhất Linh 10 tuổi, tả cảnh Hồ Gươm như sau:
"Chung quanh cây cối rườm rà
Giữa hồ có một chùa ta đây này.
Thầy tôi biết ngay là thơ không xuôi nên đổi ra:
Giữa hồ có một chùa là Ngọc Sơn.
Tôi còn bé nhưng cũng biết ngay câu thơ của thầy tôi hay hơn. (…)
Thầy tôi vốn hay làm thơ và thích thơ đúng niêm luật.
(Trích ra đây bài thơ thầy tôi làm khi rời huyện Chí Linh:
Lên ngựa chia tay luống ngại ngùng
Tình xưa bát ngát với non sông
Ai về nhắn nhủ giang sơn ấy
Sự tới nghìn thu vẫn đỉnh chung[19]
Thơ của cha Nhất Linh ẩn "chí lớn":
Ai về nhắn nhủ giang sơn ấy,
Sự tới nghìn thu vẫn đỉnh chung.
Và sau này trong truyện Thương chồng, viết năm 1949, tại Hương Cảng, Nhất Linh kể lại đoạn đời cha mẹ mình những ngày còn hàn vi, người cha tên Bích, cũng đã từng lên Yên Thế gặp Đề Thám:
"Sau khi đã lên gặp Đề Thám và biết rõ ràng, chàng chán nản hết cả mọi sự. Gặp anh em đến nhà, chàng cùng anh em chỉ nói những chuyện vẩn vơ hoặc làm thơ làm phú than thân trách phận sinh không gặp thời; vì họ nói chuyện với nhau bao giờ cũng nói thì thầm nên Nhung tưởng chồng vẫn hằng lo những việc "đại sự" mình là đàn bà không được dự bàn vào. Tình thế ấy khiến người vợ kính phục chồng và giúp người chồng có thể điềm nhiên ngồi nhàn nhã ở nhà mà không sợ ngượng với vợ cùng họ hàng nhà vợ[20]
Thương chồng là truyện duy nhất phản ảnh rất rõ cảnh ngộ gia đình Nhất Linh: ông Nhu thất nghiệp liên miên, bà Nhu phải học cân gạo, với sự phụ giúp của anh người nhà tên Tráng. Trong hồi ký, Nguyễn Thị Thế cũng viết những dòng xúc động về anh Tráng này, là người giúp việc chân thành của bà Nhu, chết yểu.
Việc gặp Đề Thám có lẽ chỉ xảy ra trong "suy tính" của ông Bích, bởi vì Nhất Linh kết luận: "đầu óc chàng lúc đó không để ý đến chuyện gì cả nhưng hai con mắt chàng, có lẽ vì thói quen từ lâu, nên có vẻ như đương trầm ngâm suy tính những việc "đại sự" không bao giờ đến trong đời chàng[21].
Tóm lại, trong truyện Thương chồng, Nhất Linh đã vẽ chân dung người cha, bất lực với hoàn cảnh, nhàn nhã ở nhà, hoàn toàn để mặc vợ xoay sở, tranh đấu với đời.
Nguyễn Thị Thế không viết gì về cha khi ông còn sống, nhưng bà viết về cái chết của cha:
"Một hôm thầy tôi đi Hà Nội đem tiền học lên cho các anh. Ông gặp ông Công Sứ Hải Trường hồi xưa thầy tôi có làm thông ngôn cho ông ấy một thời gian. Bây giờ ông ta đổi sang tỉnh Sầm Nứa bên Lào, ông hỏi thầy tôi có muốn sang làm không, lương cao và nếu mẹ tôi có muốn sang buôn bán cũng dễ. Thế là thầy tôi nhận lời ngay." (Hồi ký Nguyễn Thị Thế, trang 48).
Ông Nguyễn Tường Nhu sang làm thông ngôn cho ông Công sứ Hải Trường ở Sầm Nứa, được tám tháng, thì bị bệnh, qua đời ngày 23-10 năm Mậu Ngọ (26-11-1918) [22], ở tuổi 37.
Bà Nguyễn Tường Nhu nhũ danh 
Lê Thị Sâm, ảnh Nguyễn Tường Giang
Bà Nguyễn Tường Nhu lập nghiệp tại Cẩm Giàng
Như trên đã nói, khoảng năm 1916, ông Nhu mất việc ở Hà Nội, gia đình phải dọn về Cẩm Giàng, nhờ vả bên ngoại. Bà Nhu xin được một mảnh đất ở giữa phố huyện Cẩm Giàng, một bên là mấy hiệu khách lớn, sau lưng là đường xe hỏa, bà dựng căn nhà đầu tiên, "một căn nhà tre năm gian, lợp lá gồi, hai gian mở cửa ra phố để bán các thứ lặt vặt và thuốc lào" (Nguyễn Thị Thế, trang 32) rồi đón chồng con ở nhà bà ngoại về.
Bà Nhu trộn thuốc lào rất ngon, nên việc buôn bán khá phát đạt. Cửa hiệu của bà tên là Cẩm Lợi, sau này con dâu bà là Phạm Thị Nguyên, vợ Nguyễn Tường Tam, sẽ lấy lại tên Cẩm Lợi làm tên cửa hiệu bán cau khô.
Bà Phạm Thị Nguyên sẽ trở thành bà Cẩm Lợi trong hai cuốn hồi ký Nhất Linh cha tôi và Căn nhà An Đông của mẹ tôi của nhà văn Nguyễn Tường Thiết, con út Nhất Linh.
Đến vụ gặt tháng mười, bà Nhu đi cân gạo bán, đời sống càng thêm sung túc. Từ đây, việc cân gạo, cân thóc để bán lại, sẽ trở thành nghề để nuôi con. Thụy, Cẩm, trọ ở Hà Nội, học trường Bưởi; Tam, Tư, học trường Huyện, rồi xuống Hải Dương trọ học.
Vài năm sau, vì một biến cố [23], bà Nhu đành phải xin mẹ một miếng đất khác để dỡ nhà về đó:
"Nhà mới mẹ tôi làm mặt trước trông ra vườn rau bà ngoại: mặt sau làm thêm một căn nhà ba gian trông ra chợ. Chái nhà làm nơi đun bếp nấu ăn"(Nguyễn Thị Thế, trang 54).
Đó là căn nhà thứ hai. Lần này bà Nhu dựng nhà trong đất của mẹ, phải chung đụng với mấy người em, nên có sự bất hòa. Bà Nhu tiếp tục tần tảo buôn bán nuôi chồng, con. Cuộc sống khó khăn, cửa hàng vắng dần khách, bà để hai chị em Thế và Vinh (Thạch Lam) mới chín, tám tuổi trông hàng, bà cùng anh Tráng (người làm trung thành) đi cân gạo ở các tỉnh, có khi một, vài tháng mới về nhà. (Nguyễn Thị Thế, trang 46).
Những hình ảnh về Cẩm Giàng và hai đứa trẻ trông hàng ban đêm được Thạch Lam viết lại trong truyện ngắn hay nổi tiếng Hai đứa trẻ. Và ở Hương Cảng, sau khi Hoàng Đạo mất, năm 1949, Nhất Linh viết truyện ngắn Thương chồng, với lời đề tặng: "Thân tặng Mẹ, để kỷ niệm những ngày nghèo khó ở Cẩm Giàng, mẹ phải thức khuya dậy sớm đi cân gạo để nuôi chúng con ăn họcN.L.
Nhất Linh mô tả cử chỉ và tâm trạng người mẹ, ngày đầu tiên "thực tập" nghề cân gạo như sau: "Nhung giơ tay xê dịch quả cân: tuy chưa quen nhìn gạo mà biết được đúng số cân nhưng nàng cũng đoán hai bị gạo của bác Đạt độ bốn mươi cân. Nàng xê quả cân đến nấc năm mươi vẫn thấy cân bổng lên; nàng vừa xê quả cân vừa lẩm bẩm:
Bác Đạt còn khỏe nhỉ gánh nổi hơn năm mươi cân tây gạo" (Thương chồng, trang 11).
Bác Đạt phản đối vì gạo của bác chỉ độ bốn mươi cân thôi! Hóa ra vì bác tựa người vào đòn gánh mà đòn lại chống lên mặt cân, nên gạo của bác mới nặng thế! Và Nhung đã đoán đúng: bốn mươi cân. Sự thông minh của người đàn bà này sẽ là kim chỉ nam dẫn đường cho nàng trong cuộc đời còn lại. Hình ảnh người phụ nữ cân gạo nuôi gia đình, bàng bạc trong tác phẩm của Nhất Linh, ngoài cô Nhung trong Thương chồng, sẽ còn có cô Mùi trong Xóm Cầu Mới.
Góa phụ nuôi con
Năm 1918, Bà Nhu sang Lào chôn cất chồng rồi trở về Cẩm Giàng, lo cho bảy con và một mẹ chồng.
Một năm sau, bà đưa di cốt chồng về chôn tại thôn Trữ La, huyện Cẩm Giàng.
Năm 1919, Nguyễn Thị Thế đang học lớp nhì trường Huyện, mới 10 tuổi phải nghỉ học, giúp bà và mẹ. Những năm sau đó, đầy khó khăn, nợ nần chồng chất, nhưng bà Nhu không bao giờ chùn bước phấn đấu để các con trai được học hành đến nơi đến chốn.
Khi hai người con đầu lòng Thụy và Cẩm, đậu bằng Cao Tiểu [24], làm giáo viên tiểu học, nhà đỡ túng hơn, nhưng bà Nhu vẫn đi cân gạo.
Năm 1923, Thụy, người con cả, lên làm đốc học trường tiểu học Tân Đệ (Thái Bình), bà đưa các con về Tân Đệ ở với Thụy trong một thời gian, nhưng vẫn tiếp tục buôn bán.
Nguyễn Tường Cẩm, người con thứ nhì, thi đỗ vào trường Cao đẳng Canh Nông, học xong ba năm, ra làm Tham tá Canh Nông, thường phải đổi đi nhiều nơi, thỉnh thoảng mới về Hà Nội.
Năm 1923, Nguyễn Tường Tam đậu bằng Cao tiểu, xin được việc làm ở sở Tài Chính [25].
Bà Nhu dọn về Hà Nội. Nguyễn Tường Tam viết Nho phong (1924), in tại Nghiêm Hàm ấn quán, năm 1926. Sau đó viết Người quay tơ (1927).
Cũng trong thời gian này, Nguyễn Tường Tam đặt lại tên cho các em: Ngày trước người cha đặt tên các con là: Thụy, Cẩm, Tam, Tư, Năm, Sáu, Bẩy. Nguyễn Thị Thế kể lại: "Năm đó, tôi nhớ anh Tam đã viết Nho Phong và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ [Thụy, Cẩm, Tam, Long, Vinh, Bách, Thế (Ba con rồng bằng gấm đẹp muôn đời)]. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối" (Nguyễn Thị Thế, trang 39). Sau này Nguyễn Tường Vinh đổi tên một lần nữa, thành Nguyễn Tường Lân (trùng tên với họa sĩ Nguyễn Tường Lân).
Anh em Nguyễn Tường học rất giỏi, thường tự học, nhảy lớp, nên luôn luôn bị thiếu tuổi khi xin nhập học, do đó phải làm giấy khai sinh giả để lên tuổi: Nhất Linh sinh ngày 25-7-1906, nhưng giấy khai sinh ghi ngày 1-2-1905 [26].
Bình thường phải học bốn năm trung học, mới đỗ bằng Cao Tiểu, nhưng Thụy, Cẩm, Tam chỉ học ba năm; Long, hai năm và Lân phá kỷ lục, tự học, có một năm [27].
Trại Cẩm Giàng, ảnh Nguyễn Tường Giang
Lập trại Cẩm Giàng
Lập trại Cẩm Giàng là đoạn đường thứ hai của bà Lê Thị Sâm, khi các con đã lần lượt trưởng thành, đi làm, hàng tháng đóng góp tiền giúp mẹ.
Sau khi Nguyễn Tường Tam ở Pháp về, năm 1931, bà dựng trại Cẩm Giàng; định mua đất, thì có người bạn đi buôn trước vay tiền, nay có hai mẫu ruộng muốn gán để trừ nợ. Bà nhận. "Bắt đầu đào ao để lấy đất làm nền nhà. Xung quanh có hàng rào trồng toàn trúc. Nhà làm bằng gỗ lợp rơm, cột vuông, xung quanh nhà bốn mặt đều là hàng hiên rộng. Nhà có ba gian, gian đầu làm phòng khách, ở giữa thờ ông bà, gian trong để ở. Trần nhà lát nứa đập thẳng. Mái lợp rơm rất dầy, tới nửa thước, xén đều rất đẹp. Quanh nhà có lan can gỗ, trông đẹp như nhà Nhật Bản, ai đi qua cũng khen nhà lợp bằng gì mà đẹp thế.
Cây cối rất khó trồng vì đất xấu. Ban đầu mẹ tôi trồng toàn chuối để đất xốp đã. Những đêm có trăng, ánh trăng chiếu xuống vườn sáng như tráng bạc. Cây cối trong vườn lần lần tốt, bờ rào trúc đã gần kín (…) Tôi cũng không ngờ rằng trại Cẩm Giàng sau này sẽ là nơi tụ họp đông đảo của nhóm Tự Lực văn đoàn và thân hữu, nó còn là bối cảnh cho nhiều cuốn tiểu thuyết nổi danh của các nhà văn nổi tiếng bạn bè của anh em tôi" (Nguyễn Thị Thế, trang 108-109).
Trại Cẩm Giàng, như thế, đã được xây dựng từ trước khi có báo Phong Hoá. Sau này sẽ được bà Nhu sửa sang, xây thêm nhà gạch, và sẽ là chỗ hội họp của Tự Lực văn đoàn và các văn hữu. Dường như người mẹ này đã tiên đoán và dự trù tất cả: ở chỗ nào, bà cũng tạo cho các con đầy đủ phương tiện để phát triển đường đi của mình.
Năm 1942, sau khi Thạch Lam mất, bà Nhu đón vợ con Thạch Lam về Cẩm Giàng.
Nhưng cảnh mẹ chồng nàng dâu không dễ sống. Người con dâu đã phải chịu nhiều cay đắng.
Ít lâu sau, bà Nhu quy y, để trại Cẩm Giàng cho Nguyễn Thị Sói, vợ góa Thạch Lam trông nom. Tường Nhung kể: "Phần nhà trên [nhà gạch bà] khóa lại, mấy mẹ con chúng tôi dọn xuống căn nhà Ánh Sáng [nhà tranh]" [28].

Chú thích:
[1] Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam của Nguyễn Thị Thế, nxb Sống in lần đầu (1974), tại Sài Gòn. Văn Hóa Ngày Nay, tái bản lần thứ ba, 1996, tại Hoa Kỳ.
[2] Việt Nam những ngày lịch sử của Nguyễn Tường Bách, Nhóm Nghiên cứu sử địa xuất bản, Montréal, 1981.
[3] Việt Nam một thế kỷ qua I và II, của Nguyễn Tường Bách, Thạch Ngữ, California, 1999 và 2000.
[4] Nhất Linh cha tôi, Văn Mới, California 2006, đã tái bản ở trong nước.
[5] Căn nhà An Đông của mẹ tôi, Văn Mới, California 2012.
[6] In trên báo Văn số 14 (7-7-1964) Tưởng Niệm Nhất Linh, trang 45-72.
[7] In trên Văn số 36 (15-6- 65) Tưởng niệm Thạch Lam.
[8] In trên báo Văn số 107-108 (15-6-68) Tưởng niệm Hoàng Đạo.
[9] In trên báo Văn số 22 (15-11-1964) Tưởng niệm Khái Hưng, trang 17-22. Sau ông viết lại thành bài Papa tòa báo, in trên Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, NXB Người Việt, 2014, California, trang 30-33. Hai bài không hoàn toàn giống nhau.
[10] Bài này in trong tập Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, NXB Người Việt, 2014, California, trang 218-229. Sau sửa lại và viết thêm thành Bà Nội và trại Cẩm Giàng, in trên Internet, nhà thơ Nguyễn Tường Giang gửi cho tôi làm tài liệu. Tiếc rằng Nguyễn Tường Nhung trong Mẹ tôi, bà Thạch Lam và Từ Dung trong bài Mẹ tôi, in trong tập Kỷ yếu, đều không ghi tên mẹ. Sự trọng nam khinh nữ vẫn còn dấu vết đến ngày nay chăng?
[11] Khói hồ bay của Nguyễn Tường Giang, nxb Thạch Ngữ, 2012.
[12] Sách Đại Nam Liệt truyện viết về ông như sau: "Người huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, trước ngụ ở Gia Định"; lại ghi: "Năm Bính Thìn (1796) [Vân] đi thi, trúng cách nhị trường, được bổ lễ sinh ở phủ, nhắc lên viện thị thư." Nguyễn Tường Vân thi kỳ tháng 3 năm Bính Thìn (4-5-1796), tức là thi Chính đồ, mà ông lại trúng cách nhị trường, tức là đỗ sinh đồ, tương đương với tú tài được bổ làm lễ sinh ở phủ.
[13] Năm 1796, Gia Long còn là Nguyễn Vương, đang đánh nhau với Trần Quang Diệu ở Quy Nhơn, đến năm 1802 ông chinh phục toàn thể đất nước và lên ngôi vua.
[14] Năm Tự Đức thứ sáu (1852), được bổ Giáo thụ Điện Bàn (Quảng Nam), ít lâu sau làm Quản lý nhà in phủ Học Chính.
[15] Huyện Thủy Nguyên ở gần Hải Phòng, ngày trước thuộc tỉnh Quảng Yên; năm 1950, thuộc tỉnh Kiến An; ngày nay thuộc thành phố Hải Phòng.
[16] Theo mấy trang Hồi ký của Nhất Linh: Đời thi sĩ, in trong Văn học nghệ thuật của Võ Phiến, Bộ Mới, số 3, tháng 7-1985, California, trang 313.
[17] Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam của Nguyễn Thị Thế, nxb Sống in lần đầu (1974), tại Sài Gòn. Văn Hóa Ngày Nay, tái bản lần thứ ba, 1996, tại Hoa Kỳ.
[18] Trích theo mấy trang Hồi ký của Nhất Linh: Đời thi sĩ, in trong tập san Văn học nghệ thuật của Võ Phiến, Bộ Mới, số 3, tháng 7-1985, California, trang 310.
[19] Trích từ mấy trang Hồi ký của Nhất Linh: Đời thi sĩ, in trong Văn học nghệ thuật của Võ Phiến, Bộ Mới, số 3, tháng 7-1985, California, trang 310.
[20] Thương chồng, Đời Nay, in lại ở Mỹ, không đề năm, trang 25.
[21] Thương chồng, Đời Nay, in lại ở Mỹ, không đề năm, trang 30.
[22] Theo ngày giỗ, do Nguyễn Tường Nhung ghi lại, trong bài Bà nội và trại Cẩm Giàng (tài liệu của Nguyễn Tường Giang).
[23] Một chuyền tàu đêm bắn than vào mái tranh làm cháy cả một dãy nhà, chủ nhân đòi bồi thường, nên sở hỏa xa trả đũa, bắt các nhà cạnh đường rầy phải dời xa đường xe lửa 10 thước (Nguyễn Thị Thế, trang 44).
[24] Bằng Cao Tiểu, tức Cao Đẳng Tiểu Học, hay bằng thành chung, tương đương với bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, thời Việt Nam Cộng hòa. Sau khi đỗ bằng Cao Tiểu, học sinh có thể học lên đệ nhị cấp, để thi tú tài, hoặc đi làm, hoặc thi vào các trường Cao đẳng như: Y dược (ban y dược Đông dương), Thú y, Sư phạm, Canh nông, Công chánh, Thương mại. (Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, quyển thượng, tác giả tự xuất bản, Melun, Pháp, 1999, trang 146).
[25] Cùng sở với Tú Mỡ.
[26] Theo tài liệu của Nguyễn Tường Thiết, gửi qua email 15-5-2020.
[27] Theo Tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í, Sống và viết với… nxb Bách Khoa, Xuân Thu tái bản ỏ Hoa Kỳ, không đề năm, trang 20.
[28] Nguyễn Tường Nhung, Bà nội và trại Cẩm Giàng, tài liệu của Nguyễn Tường Giang.
Trại Cẩm Giàng
Phần II
Bảy anh chị em Nguyễn Tường
Sở dĩ tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn có hấp lực lớn lao với độc giả, vì, ngoài tài năng của các nhà văn, còn có sự hậu thuẫn bằng chất liệu lấy ra từ chính đại gia đình họ: ở Khái Hưng là một gia đình quyền quý, đa thê, mẹ ghẻ, con chồng. Và ở Nhất Linh là nhà nghèo, các con phải tự học để lập thân, là bi kịch mẹ chồng nàng dâu, trọng nam khinh nữ và sự phân chia giai cấp trong chính gia đình ông.
Vì vậy, tìm hiểu gia đình Nguyễn Tường cũng là một cách tìm hiểu cuộc đấu tranh quyết liệt của Tự Lực văn đoàn để thay đổi những xấu xa trong xã hội, xuất phát từ gia đình, trong tác phẩm văn học.
Gia đình Nguyễn Tường có bảy anh chị em.
1- Nguyễn Tường Thụy, con cả, sinh năm 1903, tại Cẩm Giàng. Sau khi đậu bằng Cao tiểu (tức Cao đẳng Tiểu học hay bằng Thành chung, tương đương với bằng Trung Học sau này), ông phải đi dạy học để giúp đỡ mẹ nuôi các em. Ông Thụy được mẹ cưới vợ năm 1926.
Nguyễn Tường Bách, người em út viết về người anh cả:
"Nhà đông anh em, anh là người từ lúc còn trẻ đã phải ra làm giáo viên để chia đỡ gánh nặng trong gia đình, đã góp phần cung dưỡng các em ăn học thành người. Nhất là đối với tôi, anh là người giúp đỡ nhiều nhất. Tôi ở với anh mấy năm, trong khi tôi học tiểu học tại huyện Thư Trì (…) nhờ sự dạy dỗ và săn sóc của anh (…). Ở Thư Trì anh xung đột với viên tri huyện, không chịu làm trái, để chiều lòng tay này. Khi cãi nhau, anh nói độp vào mặt hắn: "Thằng đếch nào cũng chẳng làm gì được thằng nào…” và chẳng bao lâu sau, anh bị nha Học chính đổi đi Bắc Cạn.
Trong thời gian này, người vợ đầu tiên của anh ở lại Hà Nội, lúc sinh con đầu lòng đẻ khó đã chết cả mẹ lẫn con [theo Nguyễn Thị Thế, thì con chết ba tháng sau mẹ] trong khi anh còn ở xa trên mạn ngược. Lúc anh về được đến nhà thì chị Cả đã được chôn cất xong rồi. Tuy còn bé nhưng tôi cũng cảm thấy anh đau thương vô hạn. Tôi hết sức đồng tình với anh, nhất là vì trong nhà bất hòa với tấn kịch mẹ chồng nàng dâu bi đát. Hình như là chị đã mang cả cái oan ức xuống suối vàng, người chị dâu hiền lành ít nói của tôi. Lúc còn sống chị chỉ biết ngậm ngùi một mình." [1]
Đây là bi kịch đầu tiên trong gia đình được Nguyễn Tường Bách ghi lại trên giấy: Sự xung đột mẹ chồng nàng dâu. Sẽ được Nhất Linh tiểu thuyết hóa trong Đoạn tuyệt sau này.
"Trong cuốn nhật ký của anh, ngẫu nhiên tôi đọc được mấy hàng chữ Pháp: "me plonger dans l’étude comme dans une mer de l’oubli…" (ta dấn mình vào học tập như vào một bể cả lãng quên…)". Sau bi kịch đó, Nguyễn Tường Thụy dấn mình tự học, đỗ tú tài, thi vào ngạch công chức Pháp, sau này làm tới chức Giám Đốc Bưu Điện.
Năm 1930, bà Nhu cưới vợ lần thứ hai cho ông Thụy, gia đình giàu có nhất nhì ở phố hàng Gai, người vợ rất đảm đang, buôn bán giỏi. Gia đình ông Thụy giàu sang. Việc này trở thành cái hố chia cách sâu xa giữa người anh cả và các em. Nguyễn Tường Bách viết: "Cuộc đời công chức khá giả của anh so với cuộc đời tương đối lãng mạn của các anh em khác, đã là một nguyên nhân của sự cách biệt giữa anh em. Mà đối với mẹ tôi thì như khó xóa nhòa được những mâu thuẫn, trong đó vần đề mẹ chồng nàng dâu vẫn còn dưới hình thức khác. Vì thế có khi anh cũng buồn và tức. Anh giận mọi người lãnh đạm với anh. Có một lần trong ngày Tết, anh chỉ vào mặt tôi mà nói: "Còn thằng này nữa, tôi đã nuôi nấng dạy dỗ nó mà nó cũng thế cả.” (…) Tới những năm 39-40, chúng tôi bước vào con đường đấu tranh, tuy anh không đả động gì đến hay không can dự gì cả nhưng tôi cảm thấy rõ ràng trong thâm tâm anh, sự tán thành và đồng tình đối với lòng ái quốc" [2]
Những hàng trên đây của Nguyễn Tường Bách không chỉ tóm tắt cuộc đời của người anh cả, hiểu tại sao ông không tham dự vào những hoạt động của các em mà còn vẽ lại bi kịch của một con người, đã vượt qua tất cả những bất công trong một xã hội thối nát từ trong ra ngoài: nhà nghèo phải nghỉ học sớm để kiếm tiền phụ mẹ nuôi em. Đi dạy học bị quan huyện sách nhiễu, cưỡng lại, bị đày lên Bắc Cạn. Ở nhà vợ bị cảnh áp chế mẹ chồng nàng dâu. Vợ con chết. Uất ức, tự học để lập thân. Rồi trở thành nhà giàu, quyền cao chức trọng. Bị anh chị em lạnh nhạt: Cuộc đấu tranh giai cấp cũng nằm trong gia đình. Bắt đầu với người anh cả, sau tới người anh thứ tư Nguyễn Tường Long, qua lời Thế Uyên.
Ông bà Nguyễn Tường Thụy sinh các con: Nguyễn Tường Hùng, Nguyễn Tường Bá, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Tường Lưu, Nguyễn Thị Nhật, Nguyễn Tường Quý, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Tường Cường.
Người con trưởng là nhà văn Tường Hùng, có tác phẩm Gió mát, do Đời Nay in năm 1954 tại Sài Gòn. Tường Hùng cộng tác đắc lực với Nhất Linh trong tạp chí Văn Hóa Ngày Nay. Ông sang Pháp du học ngành kiến trúc, sau này thỉnh thoảng có viết truyện ngắn gửi đăng báo Văn ở Sài Gòn. Tường Hùng có đủ yếu tính văn nghệ của Nhất Linh và Thạch Lam: văn thơ mộng có cấu trúc thơ, ý lạ, nhận xét tinh vi, cảm xúc khác thường. Tiếc rằng ông viết ít, và viết rất tài tử nên không đào sâu vào những ngõ ngách ông đã khơi ra, đọc truyện ông người ta không khỏi có cảm giác như còn dang dở, chưa viết hết.
2- Nguyễn Tường Cẩm, sinh năm 1904 tại Cẩm Giàng. Giống anh, đậu bằng thành chung xong, ông cũng phải đi dạy học để kiếm tiền giúp đỡ mẹ nuôi các em. Sau ông tự học thi đỗ vào trường cao đẳng canh nông, trở thành kỹ sư canh nông.
Cuộc đời tình cảm của ông có nhiều thăng trầm: ba đời vợ. Ông phải thuyên chuyển đi khắp nơi vì nghề canh nông, nhưng có lẽ ở Sài Gòn nhiều hơn cả. Nguyễn Tường Cẩm thích văn chương, đã có bài đăng Phong Hóa, mấy số đầu, như: Thomas Bata, nhà đóng giầy trứ danh mới từ trần (Phong Hóa số 16, 6-10-32), truyện ngắn Bích Châu (Phong Hóa số 67, 6-10-33).
Ông bị bệnh hen nặng. Cuối năm 1934, về Hà Nội chữa bệnh, đúng dịp Nhất Linh định ra báo Ngày Nay có hình ảnh, bèn giao cho ông làm giám đốc Ngày Nay từ số 1 (30-1-35) đến số 5 (10-3-35). Nhưng Ngày Nay bị lỗ lã trầm trọng, cứ ra được vài số lại phải nghỉ. Nhất Linh thay anh làm giám đốc tờ báo, Nguyễn Tường Cẩm trở về với nghề kỹ sư canh nông.
Trong thời gian phụ trách Ngày Nay, ông ký tên Minh Trúc, viết bài Nền Mỹ thuật Việt Nam (Ngày Nay số 3, 20-2-35), nhiệt tình giới thiệu trường Mỹ Thuật Đông Dương và giáo sư Victor Tardieu. Trong gia đình, ông là người trực tiếp sống với dân quê nhiều hơn cả, ông viết bài xã luận Dân quê (Ngày Nay số 4, 1-3-35) cũng là bài xã luận đầu tiên trên Ngày Nay, tố giác đời sống hủ lậu, mê tín và khốn khổ của dân quê và đặt câu hỏi: "Có thể khác thế được không? Họ có thể sống một đời đáng sống hơn được không?". Bài này đi cùng với bài phóng sự Nhà cửa Annam của Việt Sinh (Thạch Lam), là hai bài mở đường cho chương trình Nhà Ánh Sáng của Tự Lực văn đoàn sau này.
Mặc dù Nguyễn Tường Cẩm đã bỏ báo Ngày Nay từ số 6 (2-4-35), và theo lời Nguyễn Tường Bách, ông không dính líu gì đến Quốc Dân Đảng; nhưng đến năm 1947, Nguyễn Tường Cẩm vẫn bị Việt Minh bắt đi mất tích. Ông có một người con trai duy nhất là Nguyễn Tường Tâm, được bà nội nuôi dưỡng.
3- Nguyễn Tường Tam, sinh ngày 25-7-1906, tại huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương. Là chủ soái Tự Lực văn đoàn. Đảng trưởng đảng Hưng Việt, đổi thành Đại Việt Dân Chính sau sáp nhập vào Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Thích văn chương từ nhỏ, mười tuổi đã tập làm thơ. Năm 16 tuổi, có thơ đăng báo Trung Bắc Tân Văn, và năm 18 tuổi, viết bài Mấy lời bình luận về văn chương truyện Kiều, ký Nguyễn Tường Tam, được đăng trên Nam Phong số 79 (tháng 1-1924). Bài này chưa có gì đặc sắc nhưng đưa ra một ý lạ: nên lấy truyện Kiều làm mẫu để viết văn quốc ngữ:
"Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết đến thế nào mà kể được. Ta chỉ nên nhận rằng văn chương Kiều có thể làm cái mẫu rất tốt cho văn chương quốc ngữ, và người nào làm văn cũng nên theo cách làm văn trong truyện Kiều, vì những câu thơ trong truyện đó đã tới được điểm. Tôi xin nói quyết một điều rằng: "Mong được một quyển truyện nào hay hơn truyện Kiều là mộng tưởng". Cái trình độ thơ quốc ngữ [quốc âm] đến như thế là tuyệt đích rồi. Cái phần ngang thì họa may, cái phần hơn thì không có nữa". (Nam Phong số 79, trang 30).
Năm 1923, Nguyễn Tường Tam đậu bằng Cao Tiểu (Thành chung), vào làm việc ở sở Tài Chính, gặp Tú Mỡ, viết Nho Phong (1924), rồi Người quay tơ (1927).
Năm 1924, Nguyễn Tường Tam học một năm Y khoa rồi bỏ [3].
Năm 1925, ông thi đỗ vào trường Mỹ Thuật Đông Dương, khóa đầu tiên, học cùng lớp với Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Lê Văn Đệ, Mai Thứ… Nhờ năm học này mà ông có nhóm bạn họa sĩ và kiến trúc, sau này, họ sẽ hợp tác chặt chẽ với Phong Hóa Ngày Nay, để vẽ hý họa trên báo và đưa mỹ thuật vào đời sống. Chúng tôi sẽ nói đến việc này trong chương viết về trường Mỹ thuật Đông dương và Nhà Ánh Sáng.
Nhưng chỉ học được hơn một năm, Nguyễn Tường Tam bỏ trường Mỹ Thuật. Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í, ông cho biết: "Mang giá, cọ màu, về nhà quê vẽ, tôi thấy đời sống dân khổ quá, tối tăm quá, cần phải làm gì cho lớp đồng bào ấy. Mà giá, cọ, màu không giúp được, thì phải bỏ qua bên" [4]
Lý do bỏ vẽ được trình bày sâu sắc và đầy đủ trong tiểu thuyết Tối tăm! Bùn lầy nước đọng, ký tên Nhất Linh và Khái Hưng, in trên Ngày Nay năm 1936 [5].
Năm 1925, ông cưới cô Phạm Thị Nguyên (1907-1981) [6], nhà bán cau khô ở phố Hàng Bè.
Bà Nguyễn Tường Nhu thuê nhà ở phố Cầu Gỗ, gần đó, để làm đám cưới cho con:
"Đám cưới xong, mẹ tôi lại đi cân gạo cùng các bà bạn. Anh Tam cũng thôi đi làm, xin vào học trường Cao Đẳng hội họa. Chị Tam dọn hàng bán cau ngay ở nhà (…) Anh Cả tôi dạy ở Phượng Xuyên, anh hai vào học Canh Nông, anh Tư học trường Luật. Ngày chủ nhật các anh mới ra gặp nhau. Bà nội và tôi phụ giúp chị Tam bán cau (…) Cau khô được gửi từ Quảng Nam, Quảng Ngãi ra, vỏ cau vàng xấu trông không đẹp, chị tôi phải xây một cái lò cho cau vào, ở dưới đốt diêm sinh dòng dã một ngày cho miếng cau trắng ra. Ôi cái mùi diêm sinh tôi cũng không chịu nổi!" (Nguyễn Thị Thế, trang 96).
Gia cảnh lúc đó khá sung túc, được Nguyễn Thị Thế mô tả như sau:
"Bà nội già yếu vẫn ở trông hàng phụ với chị Tam. Mẹ tôi cũng nghỉ cân gạo vì anh Tư học xong trường Luật ra làm sở kho bạc nên bắt mẹ nghỉ buôn bán cho khỏe. Bà thuê một căn nhà ở Hậu Giám [7] nhà Tây hai từng, đằng trước có đường tầu điện chạy Hà Đông, bên kia là Văn Miếu (…) Về ở với mẹ tôi lúc đó có anh Tư, anh Hai (lúc đó làm ở sở Công Nông) em Sáu, em Bẩy (…) Trong nhà tương đối đầy đủ, anh Tư đi làm bằng xe nhà có người kéo… cơm thì có bếp nấu (…) Gia đình xum họp được hơn hai năm, anh Tư phải đổi vào Sài Gòn. Mẹ tôi không đi theo được, nhưng thấy anh Tư buồn nên cho em Sáu đi theo (…) Được ít lâu sau, anh Hai cũng đổi vào Sài Gòn, sau lấy vợ ở Sài Gòn luôn, nhưng chị Hai lại là người Bắc. Anh tôi thuê một miếng đất, làm nhà gỗ, ba anh em về ở với nhau" (Nguyễn Thị Thế, trang 99-100).
Ở Hà Nội, bà Nhu thuê căn nhà nhỏ ở Đỗ Hữu Vị, mỗi tháng 60 đồng, để ở với Thế và Bách.
Ngày 17-8-1926, bà Nguyễn Tường Tam sinh đôi hai gái đầu lòng: Nguyễn Thị Kim Thư [8] và Nguyễn Thị Kim Thanh. Bé Thanh bị rơi xuống ao chết đuối hồi nhỏ ở Cẩm Giàng [9]. Bà Tam sinh 13 lần nhưng chỉ nuôi được 7 [10]. Sau khi chồng đi du học Pháp trở về, bà sinh các con: Nguyễn Tường Việt (19-9-1931), Nguyễn Tường Triệu (15-11-1932), sẽ là con nuôi Khái Hưng, Nguyễn Tường Thạch (6-10-1935), Nguyễn Thị Kim Thoa (5-3-1938)[11] và nhà văn Nguyễn Tường Thiết (23-10-1940) [12].
Theo tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í: "Vốn tính thích phiêu lưu", năm 1926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu, Vũ Ðình Di định cùng làm báo, nhưng vì Liệu và Di dự đám tang Phan Châu Trinh [cụ Phan mất ngày 24-3-1926, tang lễ ngày 4-4-1926], đã bị bắt, Nguyễn Tường Tam chạy sang Cao Miên vẽ tranh cho các vị quan ở Cao Miên, kiếm tiền đi Pháp. Tường Lân cũng muốn đi du học cùng với anh, nhưng vì xin đi học chữ nên bị bác đơn, còn Tam xin học nghề chụp ảnh nên được chấp nhận [13].
Nguyễn Thị Thế viết: "Bên chị Tam thì anh Tam tôi bỏ học vẽ, vào Sài Gòn được ít tháng, anh về khoe với mẹ tôi là anh vào Sài Gòn rồi đi sang Lào vẽ phông cho rạp hát được ít tiền, anh xin phép mẹ tôi qua Pháp, bà bảo qua bên đó những mấy năm lấy tiền đâu ăn học. Anh bàn là nghe nói trong Huế có một cái hội gọi là Hội Du học Bảo trợ, do các quan đại thần lập ra để cho con cháu các quan đại thần hoặc các vị có công với nước. Vì vậy cả nhà lo giấy tờ xin học bổng, cho cả em Sáu nữa. (…) Chỉ có anh Tam được, còn em Sáu họ nói nhỏ quá không nên cho đi (…) Một tháng ăn tiêu bên Pháp mỗi tháng phải mất một trăm sáu chục đồng. Hội cấp cho tám mươi đồng, còn lại nhà phải lo lấy. Chị Tam lúc đó đã hai con lại phải phụng dưỡng bà nội nên mẹ không bắt chị lo nữa, chỉ thỉnh thoảng gửi thêm một ít tiền để mua sách vở quần áo hoặc gửi thức ăn sang" (Nguyễn Thị Thế, trang 104-105).
Việc này chứng tỏ:
Bà Nhu kiểm soát toàn diện đời sống các con, kể cả khi đã lấy vợ, làm gì cũng xin phép mẹ.
Bà Tam hoàn toàn để chồng tự do bay nhảy: khi ông vào Nam định làm báo, bà đã có mang con đầu lòng, đến tháng 8-1926, bà sinh đôi, vừa coi cửa hàng cau, vừa trông nom bà nội chồng. Rồi khi chồng được mẹ cho phép đi du học, bà được "miễn" việc gửi tiền hàng tháng cho chồng bên Tây tiêu (vì nặng gánh gia đình?).
Nguyễn Tường Tam học ở Montpellier, cùng trọ một nhà với Nguyễn Mạnh Tường [14]. Gần ba năm sau, đỗ bằng cử nhân vật lý, ông trở về nước cuối năm 1930.
Ba mẹ con (bà Nhu, Tam và Thế) cùng về Huế tạ ơn các quan đã cấp học bổng, rồi vào Sài Gòn thăm anh Hai và anh Tư, trở ra Hà Nội đúng ngày 4 Tết (tức ngày 17-2-1931) (theo Nguyễn Thị Thế, trang 106).
Nguyễn Tường Tam với bằng cử nhân, được mời dạy học ở trường tư Thăng Long (do ông Phạm Hữu Ninh sáng lập từ năm 1925), ở đây, gặp Khái Hưng, cùng xây dựng Tự Lực văn đoàn và Phong Hóa Ngày Nay.
Bà Thế viết:
"Sau khi tờ báo đã vững vàng rồi. Các anh thấy mẹ tôi ở Cẩm Giàng có chuyện xích mích với bà hàng xóm xấu miệng, nên thuê nhà ở đường Quan Thánh gần tòa báo, đón mẹ tôi lên ở, cùng với anh Tư, chú Sáu, chú Bẩy và hai vợ chồng tôi.
Tiền nhà anh Tam lo, tiền ăn anh Tư làm tham tá lo, lương được một trăm mười bốn đồng, một tháng. Trại Cẩm Giàng để cho người nhà trông nom". (Nguyễn Thị Thế, trang 117).
Tòa soạn dọn về Quan Thánh từ Phong Hóa số 126 (30-11-1934). Vậy việc đón mẹ lên Hà Nội chỉ có thể xảy ra năm 1935. Còn Hoàng Đạo cưới vợ năm 1933 và ở gửi rể, nên không ở chung với mẹ và các em nữa. Điều này chứng tỏ anh em Nhất Linh, Hoàng Đạo, không hề sao lãng bổn phận gia đình.
4- Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long, sinh ngày 16-11-1907, tại làng Hàn Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Thuở nhỏ học trường huyện, tên cha đặt cho là Nguyễn Tường Tư (chính ra là Tứ, nhưng vì trùng tên một người bạn của cha, nên đổi là Tư). Khoảng 1924, Nguyễn Tường Tam đặt lại tên cho các em, Tư trở thành Long.
Năm 1924, đậu bằng Cao tiểu, học Luật. Tốt nghiệp năm 1927, làm tham tá Ngân khố Hà Nội. Tiếp tục học thêm, đậu tú tài Pháp và chuyển sang ngạch Tư pháp, làm tham tá lục sự từ năm 1929, trong các tòa "Tây án" ở các tỉnh Trung, Nam, Bắc. Lương Hoàng Đạo một trăm mười bốn đồng một tháng, theo Nguyễn Thị Thế. Trong thời gian này, có lần đã được bổ tri huyện, nhưng ông từ chối. Năm 1932, Nguyễn Tường Long đang làm việc ở Sài Gòn được đổi về Hà Nội, giúp anh làm báo và trở thành lý thuyết gia của Tự Lực Văn Đoàn.
Nguyễn Tường Long lập gia đình năm 1933 với cô Marie Nguyễn Bình. Gia đình giàu, có bốn cái nhà ở Hà Nội và một biệt thự ở Sầm Sơn. Cô Marie con một, học trường Pháp. Đám cưới do bà nội chủ trì, vì bà Nhu không tha thiết lắm. Hoàng Đạo đi xem mắt, bằng lòng, ông nhận lời ở rể (Nguyễn Thị Thế, trang 118-119).
Bà Hoàng Đạo (1913-1975), tên khai sinh là Marie Nguyễn Bình, nhà gọi là Nhã, trong gia phả họ Nguyễn Tường ghi tên Nguyễn Thị Nhã. Bà qua đời năm 1975 vì bệnh ung thư tại Sài Gòn. Trên mộ, bà dặn các con ghi tên Nguyễn Nhã, vì không thích chữ Thị. Cha là Nguyễn Bình, làm tham tá công chánh, quốc tịch Pháp. Villa của gia đình ở Sầm Sơn cũng tên Villa Nguyễn Bình. Sau bà đổi sang quốc tịch Việt [15]
Sự giàu sang phú quý của gia đình bà hiện rõ trong bài Mẹ tôi của Từ Dung [16], con út Hoàng Đạo, với những lời ghi về mẹ: thuộc "gia đình quý phái, trưởng giả", bà ngoại là "mệnh phụ đài các", v.v...
Ông bà Nguyễn Tường Long có bốn con: Nguyễn Minh Thu (1934), Nguyễn Tường Ánh (1935) Nguyễn Lan Phương tức Nguyễn Lân (1937) và Nguyễn Từ Dung (1946) [17]. Nhà văn Đặng Thơ Thơ là con bà Minh Thu.
Sự giàu có của gia đình Hoàng Đạo gây chia rẽ vì nó tương phản với cái nghèo của gia đình Nguyễn Thị Thế và Thạch Lam.
Trong bài hồi ức Hoàng Đạo hay sự trở về quê cũ, in trên báo Văn số tưởng niệm Hoàng Đạo (Văn số 107-108, 15-6-68), Thế Uyên, đã nhớ về người bác: "ông là người trong họ tốt nhất và tử tế nhất", nhưng ngay từ nhỏ, cậu bé Thế Uyên đã cảm thấy "cái khoảng cách" giữa các gia đình. Với các con của Nhất Linh, là bạn chơi từ nhỏ, cậu vẫn thấy mình xa cách với "các anh các chị", còn "đối với gia đình Hoàng Đạo, thì không bao giờ có những loại giao thiệp như thế". Gặp nhau ở một ngày giỗ, cậu thấy thích A., con trai duy nhất của Hoàng Đạo, đòi mẹ dẫn lên chơi nhà "bác Long" nhưng mẹ không bằng lòng [nhà Hoàng Đạo ở số 18 Amiral Courbet]. Nài nỉ mãi, mẹ cũng cho đi, nhưng gặp nhau, "tôi cũng e dè nhiều vì A. không hoàn toàn tự nhiên và mẹ tôi luôn luôn lừ mắt. Vài tuần sau, tôi lại đòi đi nữa nhưng mẹ tôi không chịu". Thế là cậu bé đi tìm bạn một mình.
"Tìm được đến cửa nhà, tôi với mãi mới tới cái chuông. Cánh cổng không mở, chỉ có một người đàn bà mở chiếc cửa nhỏ ra ngó tôi rồi gắt: "Mày làm cái gì mà kéo chuông ầm ỹ lên thế! Muốn cái gì?" Một đứa bé lên tám lên chín đi kiếm bạn, tính lại dút dát như tôi làm sao mà diễn tả được, cho một người lớn gọi nó bằng mày với giọng bực dọc như thế, điều mà nó muốn kiếm. Tôi lủi thủi đi về và từ đó về sau tôi xếp A. cùng gia đình vào một thế giới có chuông ở cổng, có chó bẹc giê sủa vang, nghĩa là một thế giới không có chỗ cho một đứa bé đen thui nghịch ngợm như con thuyền chài. Không những không bao giờ tôi trở lại thăm gia đình ấy, ngay cả A. tôi cũng tìm cách lảng tránh trong những ngày gặp ở trại của bà ngoại: mẹ tôi cấm tôi chơi cùng và bác gái cũng không thích để A. giao thiệp[18].
Đoạn văn này của Thế Uyên ghi ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Bởi nó phanh phui trần trụi vấn đề phân chia giai cấp, mà không một lý thuyết nào có thể diễn đạt rõ và hay hơn. Người đọc hời hợt có thể tưởng rằng Thế Uyên "nói xấu" gia đình. Không, ông chỉ nói lên sự thực mà người khác không dám nói, không dám viết ra và đó là dấu ấn của một nhà văn đích thực. Trong suốt thời tuổi trẻ, ông đã xếp "bác Long" vào cái thế giới trưởng giả, nhà có chó béc giê, một thế giới đáng nghi, không thể tiếp xúc. Nhưng từ khi tìm hiểu tác phẩm của Hoàng Đạo, ông lại càng bỡ ngỡ, đặt câu hỏi: "Gia đình thì như vậy mà tranh đấu và tư tưởng lại như thế kia". Câu hỏi này vẫn còn có giá trị hôm nay, với những ai muốn nghiên cứu về Hoàng Đạo: Tại sao một người sống trong hoàn cảnh trưởng giả như thế, mà lại viết được Bùn lầy nước đọng, đào sâu vào nội tạng đen tối trăm mặt của đời sống dân quê, mà lại viết được Vấn đề cần lao, phanh phui tất cả tội ác thực dân trong những đồn điền cao su rừng sâu nước độc?
Thế Uyên đã có một lời kết thật hay:
"Đem so sánh với các cuốn sách tôi đã viết, thì thấy tất cả ba tập tiểu luận đã xuất bản, tôi không dành cho quê hương cũ một số đề tài bằng nửa số đề tài của riêng cuốn Bùn lầy nước đọng và nỗi tha thiết cũng không sao bằng một góc (…) Quê hương đã biến đổi hay chúng ta đã trở thành kẻ tha hương trên chính đất nước mình?"
Lời này Thế Uyên viết tháng 11 năm 1967, thật là cay đắng nhưng không xa sự thực. Không chỉ riêng Hoàng Đạo là người tranh đấu mãnh liệt hơn cả, mà Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam cũng vậy, như thể họ đã chia nhau phận sự viết về quê hương dưới thời Pháp thuộc. Khiến ngày nay, chỉ cần đọc họ, là chúng ta thấy rõ mọi khía cạnh tàn ác, hủ lậu, của một thời đại với những vấn nạn cần phải sửa đổi và họ đã thức thời, đã nhìn ra con đường tranh đấu, trước và trên những người khác. Thế hệ sau ở Sài Gòn, dường như không mấy ai quan tâm đến việc "đất nước" nữa, mà phần nhiều đi vào cá nhân con người, khám phá cuộc hiện sinh, tác phẩm của họ chứng minh nhận xét của Thế Uyên.
Vẫn trên báo Văn, số tưởng niệm Hoàng Đạo, ngoài bài Hoàng Đạo hay sự trở về quê cũ, còn có bài Đọc và đặt lại vị trí Hoàng Đạo cũng của Thế Uyên và bài Hoàng Đạo một vận động lịch sử của Dương Nghiễm Mậu. Đây là hai bài nghiên cứu sâu sắc đầu tiên về Hoàng Đạo.
Nhưng số báo tưởng niệm này bị ba bài viết của nhà nghiên cứu thời danh Nguyễn Văn Xuân áp đảo, mà hai bài có chủ đích hạ bệ Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn:
Vài nét về dòng họ Nguyễn Tường
Từ phong trào Duy Tân đến Tự Lực văn đoàn.
Hoàng Đạo với Con đường sáng.
Bài đầu viết về tiểu sử dòng họ, không có gì đáng phàn nàn.
Trong bài thứ ba viết về tiểu thuyết Con đường sáng, ông Nguyễn Văn Xuân đã không ngần ngại tự khen mình: "Kể ra, có đủ can đảm ngồi đọc lại quyển Con đường sáng, tôi tự thấy vì một công tác phải hoàn thành chứ tình thực không sao tiếp tục nổi. Tôi không hiểu người đọc ngày nay tìm thấy niềm hứng thú nào khi xem quyển ấy tái bản".
Một nhận định chủ quan và kiêu ngạo. Chủ quan vì ông nghĩ hộ người đọc. Kiêu ngạo vì cho rằng mình đầy can đảm và có một "công tác" phải hoàn thành. Công tác gì? Đó là vấn đề.
"Công tác" ấy hiển hiện trong việc ông cố tìm cách vạch ra những "cái dở" của Hoàng Đạo:
"Nói về việc phá rừng, phá rẫy, ông [Hoàng Đạo] có vẻ nhỏ nhoi cạnh Lê Văn Trương".
"Nói về đồng quê, dân quê, nỗi khổ của đồng bào ta thì ông chỉ biết một cách lù mù, tổng quát, bên cạnh một khối những Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài."
Ông Nguyễn Văn Xuân có quyền có những "nhận định" như trên, nhưng ông không nên viết một câu như thế này:
"Và cho đến ngày nay, dù Hoàng Đạo đã chết nhưng bọn Duy ấy, Minh ấy, Yến ấy đã chết chưa? [Duy, Minh, Yến là những nhân vật trong Con đường sáng] Đây là một câu văn thâm độc, trù yểm, đầy thù hận về một người mà ông Xuân không biết, không hiểu tác phẩm, vì ông chưa từng đọc Hoàng Đạo một cách đàng hoàng cẩn thận.
Bài thứ hai Từ phong trào Duy Tân đến Tự Lực văn đoàn, là một bài lập thuyết công phu, có ý thức, tác giả giới thiệu Hoàng Đạo bằng những lời rất hoa mỹ, phỉnh phờ:
"Trong ý muốn tìm hiểu Hoàng Đạo như lý thuyết gia của một văn đoàn lớn, có ảnh hưởng vào một lớp thanh niên học thức (…) đường lối, chủ trương chính sách của văn đoàn đều do một tay ông tung hoành trong nhiều năm trời. (…) Tìm hiểu cho hết tính cách đa dạng và tài năng của Hoàng Đạo (…) cần phải đọc lại hết Phong Hóa Ngày Nay, Chủ Nhật… và tự đặt mình vào thời Pháp thuộc mới thấy rõ ông hơn".
Sau khi đọc lại hết Phong Hóa Ngày Nay, Chủ Nhật (chúng tôi chưa biết Chủ Nhật là báo nào, của ai), ông Xuân nhận thấy rằng: "Mười điều tâm niệm phản ánh tất cả chủ trương, đường lối của Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn và của các biên tập viên hai báo Phong Hóa Ngày Nay: "Mười điều tâm niệm có thể xem như kim chỉ nam để mọi nỗ lực dồn vào và tiến lên bắt kịp nó bằng đủ phương tiện văn học, nghệ thuật và cả hoạt động xã hội nữa (áo tân thời Lemur, nhà ánh sáng, hôi chợ từ thiện, v.v…"
Sau khi tôn vinh Mười điều tâm niệm, ông so sánh từng điểm một trong mười điều này với chính sách của phong trào Duy Tân và ông kết luận:
"Không phải ngẫm nghĩ nhiều, bạn đọc thấy ngay là Tự Lực văn đoàn và Hoàng Đạo là lý thuyết gia, trên nhiều điểm tư tưởng và hành động còn sút kém xa phong trào Duy Tân 1904. (…) Tính chất của Tự Lực, từ tư tưởng đến hành động, gần như mang hẳn tự Tây phương về, quá nặng chủ nghĩa cá nhân tiêu cực (…) Không phát xuất tự quần chúng rồi trở về quần chúng như phong trào Duy Tân. (…) Chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi và lạc lõng của Tự Lực văn đoàn đã tự giam mỗi con người một nơi trong môi trường ích kỷ nên không bao giờ họ biết quần chúng là ai. Lại thêm nhiễm tư tưởng trào phúng của Tự Lực văn đoàn, thanh niên chẳng biết cái gì là không đáng cười cợt. Ác hại là cái cười ấy thường chĩa mũi nhọn về phía những người đáng thương yêu: quần chúng, nên cái nhìn của thanh niên thời ấy đối với quần chúng rất lệch lạc (…) So với phong trào Duy Tân cách nó đã ba mươi năm và cùng đúng một xu hướng với nó, là nguồn gốc của nó, thì mười điều tâm niệm chưa có điểm gì mới hơn mà còn thua sút những điểm căn bản cũ (…) Bây giờ ai cũng thấy Tự Lực văn đoàn chỉ còn vang bóng thời nào… Người ta tìm đọc văn phẩm của Tự Lực văn đoàn như tìm những truyện tình không hạ cấp. Thế thôi!"
Nguyễn Văn Xuân là một nhà nghiên cứu danh tiếng, với tác phẩm Phong trào Duy Tân, ông được người đọc mọi miền kính trọng. Nhưng ông lại nặng đầu óc địa phương, ghét những trào lưu văn học nổi tiếng, đặc biệt Sáng Tạo, vì ông cho rằng Sáng Tạo là nhóm người Bắc di cư độc chiếm văn đàn miền Nam. Trong bài viết này, ông dồn toàn lực đánh Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn.
Ông cho biết cần phải đọc lại hết Phong Hóa Ngày Nay, Chủ Nhật… thì mới có thể thấy rõ Hoàng Đạo, vậy mà sau khi "đọc hết" Phong Hóa Ngày Nay, và Chủ Nhật, ông lại chỉ thấy có mỗi cuốn Mười điều tâm niêm là đáng nói, còn những văn phẩm khác của Tự Lực văn đoàn, theo ông, chỉ là những truyện tình không hạ cấp, nên ông không thèm "đọc thật".
Để phê bình tư tưởng Hoàng Đạo, ông chỉ đọc có cuốn Mười điều tâm niệm, một cuốn sách mỏng, loại guide, viết riêng cho tuổi trẻ, khuyên họ nên rèn thân thể, luyện chí khí. Ông đem cuốn guide này so sánh với phong trào Duy Tân, một sự so sánh khập khiễng giữa hai cái không thể so sánh được: như ta so sánh một bài huấn luyện đức dục thiếu niên với một hành trình cách mạng.
Ông mổ xẻ cuốn guide đó, so sánh "từng điểm" (10 điểm) với phong trào Duy Tân, để quyết đoán rằng: Người được gọi là lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn, thực ra, chẳng có tư tưởng gì cả, những điều đưa ra trong sách còn kém xa phong trào Duy Tân và ông đóng khung họ trong mấy cái khuôn: "chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi", "ích kỷ không bao giờ biết quần chúng là ai", "về tranh hài hước, văn trào phúng thì ngay trong… Nhị thiên đường đã có." "Người ta tìm đọc văn phẩm của Tự Lực văn đoàn như tìm những truyện tình không hạ cấp. Thế thôi!"
Đây là lối đọc một biết mười của một số nhà nghiên cứu mà Thanh Lãng đi đầu.
Hoàng Đạo không chỉ phải chịu những nhận định sai lầm và mù quáng của Thanh Lãng. Tiếp đến là Nguyễn Văn Xuân, nhà nghiên cứu "không đọc" mà kịch liệt miệt thị Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn. Sau cùng, Phạm Thế Ngũ, có lẽ vì ảnh hưởng Thanh Lãng, đã bỏ hẳn Hoàng Đạo ra ngoài, khi viết về Tự Lực văn đoàn, chỉ kể: Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ và Thạch Lam.
5- Nguyễn Thị Thế, không ghi rõ năm nào bà lập gia đình, chỉ vắn tắt: "Trước hôm mẹ tôi đi, tôi thấy chú Sáu và anh Hoàn tới nhà. Tôi cũng chẳng để ý, chỉ thấy anh Hoàn cầm một chén trà hương mời mẹ tôi và nói: "Mẹ nhận con là rể xin phép mẹ uống chén trà này" (Nguyễn Thị Thế, trang 202).
Ba chữ mẹ tôi đi trong câu trên đây, chỉ chuyến về Huế, cuối năm 1930, để cám ơn các quan đã cấp học bổng cho Nguyễn Tường Tam đi Pháp.
Ta lại biết rằng người con trưởng của bà Thế là Nguyễn Kim Tuấn (nhà văn Duy Lam) sinh năm 1932. Vậy bà Thế lấy chồng năm 1931 [19]. Chồng bà là Nguyễn Kim Hoàn, lúc đó làm chủ bút báo Phụ Nữ (Nguyễn Thị Thế, trang 227). Năm 1939, ông Hoàn đổi việc, về làm quản lý nhà in báo Ngày Nay, kể từ số 166 (17-6-1939).
Ông bà Nguyễn Kim Hoàn - Nguyễn Thị Thế sinh các con: Nguyễn Kim Tuấn (Duy Lam) (1932-2021), Nguyễn Kim Dũng (Thế Uyên) (1935-2013), Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Thị Tuyết và Nguyễn Cao Thị Liễu.
Nguyễn Thị Thế có lối thực thà, thẳng thắn và sống động. Cuốn hồi ký đã xác nhận văn tài của bà. Không ai có thể nhận định về hồi ký của Nguyễn Thị Thế hay và đúng hơn Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách:
"Những hình ảnh trung thực và sinh động với ngòi bút chất phác, đã phản ảnh được đời sống của gia đình Nguyễn Tường dưới một khía cạnh riêng, với con mắt nhìn của một người phụ nữ duy nhất trong bảy anh chị em.
Chị tôi đã viết ra những điểm mà anh em trai chúng tôi không thể thấy được hay ít để ý tới.
Người chị thân mật nhất của tôi đã từng săn sóc cho tôi từ lúc còn bé. Cũng như trăm nghìn phụ nữ Việt khác, đã sống một cuộc đời âm thầm so với các anh em trai. Chị chỉ được đi học mấy năm, trong khi chúng tôi ai cũng đỗ đạt khá cao, nhưng chị đã viết bằng tấm lòng mình hơn là bằng ngòi bút.
Những ngày đầu thế kỷ, gia đình gặp cảnh sa sút, phải dọn về quê ngoại phố huyện nhỏ Cẩm Giàng, chung quanh đồng không mông quạnh. Những ngày đông rét mướt, gió bấc thổi trên cánh đồng, trên những căn nhà tranh lụp xụp, mà tối đến, chỉ có vài ngọn đèn dầu le lói. Dân nghèo xác xơ, mà ngay chính nhà chúng tôi, đến ba mươi Tết phải lẩn trốn chủ nợ đến đòi, một cái bánh chưng cũng không có mà ăn. Nhưng đó mới là cái nôi của gia đình Nguyễn Tường. Không có cảnh trạng như vậy thì không có những nhà văn xuất chúng hay những chủ trương cải cách xã hội, và óc cách mạng dân tộc, dân chủ, đã gây ảnh hưởng mạnh trong cả một giao đoạn lịch sử sau này.
Hối ấy, chị là một người vất vả nhất trong gia đình. Coi cửa hàng, nấu, giặt, săn sóc các em. Sáng chị là người dậy sớm nhất và cũng là người ngủ muộn nhất. Nhiều khi không đủ thịt cá ăn, chị cũng nhường cho bà nội già yếu và cho chúng tôi. (…)
Khi thành gia thất, hai vợ chồng vẫn nghèo, nhưng chị vẫn nhịn ăn nhịn mặc để nuôi sống mấy đứa con đi học. Tôi thường lên đê Yên Phụ để thăm gia đình chị và gia đình anh Thạch Lam, hai gia đình nghèo và thiếu thốn thường xuyên. Nhưng chị vẫn quan tâm đến Thạch Lam, có lúc nghèo đến nỗi không đủ mền bông đắp, hai chị em vẫn giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết[20]
Những lời của Nguyễn Tường Bách trên đây đã tóm tắt cuộc đời của người chị duy nhất, nói lên cảnh nghèo khổ của Nguyễn Thị Thế và Thạch Lam, tố cáo sự trọng nam khinh nữ trong gia đình, mà chủ động từ người mẹ. Chính người mẹ, bà Nguyễn Tường Nhu, đã bạc đãi, hất hủi con gái: Vậy chuyện trọng nam khinh nữ phát xuất từ đàn bà, hoặc đàn bà đồng lõa, vì ngu dốt, nhắm mắt tuân theo "truyền thống".
Nguyễn Thị Thế cũng đã viết rất thực về nhiều chuyện gia đình, về người chồng cờ bạc, ghen tuông, nghiện ngập. Nhưng khó nhất là người mẹ cư xử độc ác, bất công với chính con gái. Nguyễn Thị Thế đã không chùn tay, không mảy may giấu diếm, không tô hồng mẹ theo thói thường, vì vậy, bà là một nhà văn đích thực, cũng như Khái Hưng đã vạch trần bộ mặt dì ghẻ con chồng, thảm kịch của chính mình, trong Thoát ly.
6- Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, sinh ngày 7-7-1910 tại Thái Hà Ấp. Thủa nhỏ học trường sơ học Cẩm Giàng tới 14 tuổi. 15 tuổi, đỗ bằng cơ thủy (tiểu học). Tự học một năm thi đậu bằng Thành chung lúc 16 tuổi. Đỗ vào trường Canh nông, học một năm, xin thôi. Vào trường Albert Sarraut. Sau khi đỗ tú tài I, quyết định nghỉ. Từ 1932, bắt đầu làm báo, viết cho Phong Hóa từ số 14 (22-9-1932).
Sau đám cưới Nguyễn Tường Long (1933), vợ chồng bà Nguyễn Thị Thế thuê nhà ở với chú Sáu (Thạch Lam) tại làng Yên Phụ, bên Hồ Tây. Chú Bảy (Nguyễn Tường Bách) học thuốc, ở nội trú. Bà Nhu lại trở về Cẩm Giàng, một mình.
Thạch Lam là người đầu tiên trong gia đình tự cưới vợ, rồi mới đem về trình mẹ, năm 1935. Nhìn ảnh, người vợ đẹp và hiền, tên bà là Nguyễn Thị Sói (như hoa sói và bà cũng thích hoa sói), khi quy y có pháp danh Diệu Tự. Bà sinh năm Ất Tỵ (1905), nguyên quán xóm Thanh Vân, thôn Vân Thị, xã Đa Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Cha là ông Tứ. Lấy Thạch Lam là con thứ Sáu nên các cháu đều gọi là thím Sáu. Khi vào Nam năm 1954, bà khai tên Nguyễn Thị Sáu trong thế vì khai sinh [21].
Về tình cảnh gia đình Thạch Lam, Nguyễn Thị Thế viết:
"Lương mỗi người có ba mươi đồng, với vật giá hồi đó phải ăn tiêu dè sẻn. Anh Tam đã có chị Tam buôn bán phụ vào, anh Tư đi làm có lương, chỉ mình chú Sáu là đói và nghèo nhất. Nhà tranh vách đất, thậm chí đến cái mền cũng không có tiền mua. Một hôm sang sớm kêu chú có việc, thấy nằm đắp cái chăn dạ mỏng, vì lạnh quá đắp thêm cả cái khăn giải bàn và áo mưa nữa. Nhà ờ ven Hồ Tây mùa đông lạnh giá làm sao chịu nổi.
Tôi hỏi thím Sáu cái mền bông đã đặt tiền cùng với chị đâu không đem ra đắp. Thím nói cái mền có ba đồng, đặt trước một đồng rồi, còn lại hai đồng thôi mà em vay không được nên đành bỏ mất, có lấy được đâu.
Sau mẹ tôi phải mua cho chú ấy cái mền bông khác kẻo sợ lạnh quá sinh bệnh." (Nguyễn Thị Thế, trang 120).
Tuy làm báo, Nhất Linh vẫn đi dạy học, ông chỉ nghỉ dạy trong khoảng 1935-1936. Lương ông rất cao 300 đồng một tháng (theo Khái Hưng trong Những ngày vui). Hoàng Đạo cũng làm tham tá đến khi bị bắt (1941). Những sách của Khái Hưng, Nhất Linh bán rất chạy. Giải thưởng văn chương Tự Lực Văn Đoàn lúc đầu là tiền bán sách Nửa chừng xuân của Khái Hưng.
Thạch Lam nghèo vì chỉ lĩnh lương nhà báo, 30 đồng một tháng, và sách của Thạch Lam in ra bán không chạy bằng sách Khái Hưng, Nhất Linh. Và có lẽ còn do một lý do khác: Thạch Lam rất hào phóng với bạn bè, (theo Thế Lữ và Đinh Hùng) và ông nghiện thuốc phiện từ rất trẻ, Đinh Hùng viết: "Anh [Thạch Lam] sẽ viết "Thập niên đăng hỏa" một thiên hồi ký kể lại thời kỳ suốt mười năm anh dan díu với ả Phù dung. Hiện anh đã ly dị cùng ả rồi, nhưng "mười năm đèn lửa biết bao nhiêu tình" [22].
Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, tất cả "lực lượng" Tự Lực văn đoàn dồn vào Ngày Nay, từ số 16 (12-7-36). Ngày Nay tiếp tục ra đến số 224 (7-9-40). Nhưng từ khoảng số 100 trở đi, Khái Hưng cũng dần dần vắng mặt, tờ báo do Thạch Lam trông nom.
Tóm lại, kể từ năm 1938, khi Nhất Linh lập đảng Hưng Việt, thì Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, cũng ít thấy xuất hiện trên báo, Hoàng Đạo vẫn viết nhưng về sau đổi tên thành Tường Vân. Nhất Linh sống trong bí mật, để lại tiểu thuyết Bướm Trắng cho Thạch Lam đăng hàng tuần. Rồi Khái Hưng có việc phải sang Tàu. Kể từ số 211 (8-6-40) Ngày Nay yếu hẳn đi, hầu như không còn người cộng tác. Chỉ còn lại một mình, Thạch Lam kiêm cả tờ báo lẫn nhà xuất bản Đời Nay, quá sức, ông bị lao, lao tâm, lao lực.
Ngày Nay bắt buộc phải đóng cửa ở số 224 (7-9-40). Thạch Lam mất ngày 27-6-1942 [23] tại nhà riêng ở Yên Phụ, cạnh Hồ Tây, ở tuổi 32. Trong chiến tranh, mộ ông ở nghĩa trang Hợp Thiện được chuyển lên Yên Kỳ. Năm 2004, Nguyễn Tường Giang về Hà Nội tìm lại được mộ cha.
Bà Thạch Lam mất tại Sài Gòn ngày 4-2-1970 vì bệnh ung thư bao tử, chôn cất tại nghĩa trang Giác Minh. Sau 1975, nghĩa trang bị giải tỏa, tro cốt bà được đưa về nghĩa trang Yên Kỳ, Bất Bạt, Sơn Tây, gần mộ chồng [24]
Thạch Lam và Nguyễn Thị Sói có ba con: Nguyễn Tường Nhung (1936) (vợ Trung tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên Tư lệnh quân đoàn I, VNCH), Nguyễn Tường Đằng (1939) và Nguyễn Tường Giang (1942) bác sĩ y khoa. Nguyễn Tường Giang ra đời được ba ngày thì cha mất, ông là tác giả tập thơ văn giá trị Khói hồ bay [25]. Cho đến nay, Nguyễn Tường Giang là nhà thơ duy nhất của dòng họ Nguyễn Tường.
7- Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách, người con út, sinh năm 1916 tại Cẩm Giàng. Học tiểu học tại Cẩm Giàng, Thái Bình và trường Hàng Vôi, Hà Nội. Học trường Bưởi một thời gian rồi bỏ. Tự học, đậu tú tài Pháp, ban triết. Năm 1944, tốt nghiệp y khoa bác sĩ. Nguyễn Tường Bách viết bài thơ đầu tiên, Xuân, ký tên Tường Bách, đăng trên Phong Hóa Xuân, số 85 (11-2-1934). Có văn tài, nhưng chọn y khoa, nên chỉ thỉnh thoảng góp bài trên Phong Hóa. Ông viết thường xuyên hơn, trên Ngày Nay.
Khi Thạch Lam mất năm 1942, Nguyễn Tường Bách đang học y khoa, nhưng đã thay anh quản lý nhà xuất bản Đời Nay cho đến khi Khái Hưng, Hoàng Đạo được tha về năm 1943.
Năm 1945, khi Tự Lực văn đoàn quyết định ra lại báo Ngày Nay kỷ nguyên mới (5-5-1945) với Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí; Nguyễn Tường Bách giữ chức Giám đốc. Ngày 19-8-1945, Việt Minh lên nắm chính quyền. Ngày Nay kỷ nguyên mới ra số 16 (18-8-1945) là số chót.
Nguyễn Tường Tam từ Trung Hoa trở về nước tháng 11-1945 [26]. Tháng 3-1946, ông tham dự chính phủ Liên Hiệp (cùng với Nguyễn Tường Long).
Tháng 4-1946, ông cầm đầu phái đoàn Việt Nam đi dự hội nghị Đà Lạt. Hội nghị thất bại. Ông từ chối không dự hội nghị Fontainebleau, lên Đệ Tam Chiến khu Vĩnh Yên, rồi đi Trung Quốc.
Tường Bách theo Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lực lượng Quốc Dân Đảng rút lên Yên Bái. Giao chiến với Việt Minh, Quốc Dân Đảng thua trận. Tháng 7-1946, Tường Bách được lệnh rút sang Trung Hoa cầu viện.
Khi còn tập sự tại bệnh viện Phủ Doãn, Nguyễn Tường Bách gặp Hứa Bảo Liên, một học sinh Hoa kiều, sinh tại Hà Nội, làm việc thiện nguyện tại đây. Khi chạy sang Trung Hoa, gặp lại Hứa Bảo Liên, đang học ban văn chương đại học Côn Minh; cưới nhau cuối năm 1946.
Tháng 8-1948, Hoàng Đạo mất đột ngột trên xe lửa từ Hồng Kông về Quảng Châu.
Năm 1948, Nguyễn Tường Bách và Hứa Bảo Liên lựa chọn theo xã hội chủ nghĩa, chia tay với Nhất Linh, ở lại Trung Quốc. Từ 1950, hành nghề bác sĩ tại Phật Sơn.
Hồi ký Việt Nam những ngày lịch sử [27] và Việt Nam một thế kỷ qua (hai tập) [28] của Nguyễn Tường Bách, thuật lại chuyện gia đình và cuộc tranh đấu trong Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Hồi ký Nguyễn Tường Bách và tôi (1998) của Hứa Bảo Liên, cho biết về cuộc đời thăng trầm của ông bà trong thời gian ở Trung Quốc.
Nguyễn Tường Bách - Hứa Bảo Liên có một trai Nguyễn Hứa Kiên và năm gái: Nguyễn Hứa Lan, Nguyễn Hứa Linh, Nguyễn Hứa Loan, Nguyễn Hứa Anh, Nguyễn Hứa Trân.
Năm 1988, cả gia đình sang định cư Mỹ. Ông mất ngày 11-5-2013, tại California, Hoa Kỳ.
Gia đình tan tác
Cuối năm 1946, chiến tranh Pháp Việt bùng nổ. Đại gia đình Nguyễn Tường tan tác: vừa chạy loạn, vừa tránh sự lùng bắt của Việt Minh.
Vì là mẹ Nguyễn Tường Tam, bà Nhu phải lánh ở chùa Đào Xuyên (Gia Lâm, Hà Nội), phải đổi tên chuyển sang chùa sư nữ Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội). Sau cùng bà về được Hà Nội.
Vợ con Thạch Lam bỏ trại Cẩm Giàng, tản cư đến xóm Đìa, cách Nhã Nam sáu, bảy cây số, trong ba năm. Đời sống rất cơ cực. Bà Thạch Lam phải chôn đốt dĩ vãng, hình ảnh gia đình, đổi họ các con, Nguyễn Tường thành Nguyễn Thạch [29].
Bà Nhất Linh đưa con về lánh ở nhà người anh cả làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, quê mình, nhưng vẫn bị bắt, bị giải đi với con trai cả Nguyễn Tường Việt, 15 tuổi cùng với Nguyễn Tường Cẩm, anh chồng và Phạm Hoàng Tín, em ruột.
Nhờ vụ Pháp bỏ bom, Việt dẫn mẹ chạy thoát, về trú ở nhà người làm công thủa trước, rồi chạy lên mạn ngược. Ông Cẩm và ông Tín bị xích với nhau, nên không dám trốn. Cả hai bị đưa đi mất tích. Bà Nhất Linh Phạm Thị Nguyên phải đổi tên thành Phạm Thị Liên [30].
Năm 1949, bà Nguyễn Tường Nhu thuê người đi tìm vợ con Thạch Lam, họ tìm đến được xóm Đìa, dẫn hai bé trai về Hà Nội, cô con gái cùng mẹ về qua Cẩm Giàng. Sáng hôm sau, Tường Nhung có người bạn cùng tên Nhung đến đón đi chơi:
"Vừa đi nó vừa kéo tay tôi đi qua nhà ga hướng về hướng trại của gia đình tôi. Đi mãi mà tôi chẳng nhìn thấy trại, chỉ thấy toàn là ruộng và ruộng. Đi thêm một quãng nữa, nó dắt tôi lên ngồi trên đường rầy tàu hỏa, rồi nó chỉ tay về trước mặt nói "Trại Cẩm Giàng của mày ở đấy". Rồi nó nói tiếp, khi Việt Minh rút lui họ đặt mìn giật xập hết. Ngay cả trường học của tao với mày cũng bị phá. Vì vậy, ngồi ngay trước cổng trại mà không thấy vết tích gì còn lại, chỉ toàn cỏ hoang. Nếu con Nhung không đưa đến đây thì không thể nào nhận được trước đó là một trang trại rộng lớn, đẹp đẽ có tiếng cả một vùng" [31]
Trại Cẩm Giàng đã trở thành bình địa.
Gia đình Thạch Lam trở về Hà Nội, sống nhờ cô Năm (Nguyễn Thị Thế) một thời gian. Bà Nguyễn Thị Sói đã phải xoay sở, tần ảo buôn bán, nuôi con.
Rồi năm 1953, bà nội Lê Thị Sâm lại "đích thân" đến gặp ông Nguyễn Khắc Thám, Tổng Giám Đốc Bưu Điện, xin cho con dâu vào làm việc ở sở Bưu Điện, từ 1953 đến khi về hưu năm 1967. Từ đó, các con Thạch Lam được sống yên bình đầy đủ, tới khi trưởng thành.
Người mẹ, người bà
Bà Nguyễn Tường Nhu nhũ danh Lê Thị Sâm là một nhân vật ngoại khổ. Không những nuôi chồng, nuôi con, từ khi chồng còn sống, bà còn lo cả đến các cháu, bà không bỏ sót ai.
Khi Nhất Linh cho Khái Hưng người con trai thứ hai là Nguyễn Tường Triệu. Khái Hưng muốn đổi tên chính thức cho con thành Trần Khánh Triệu, nhưng bà nội cấm [32].
Bà mất ngày 16-7 năm Tân Sửu [33] (26-8-1961) ở Sài Gòn. Chôn ở nghĩa trang chùa Giác Minh [34] (Gò Vấp). Sau, các cháu đưa tro cốt bà về nghĩa địa Trữ La, Cẩm Giàng bên cạnh mộ ông.
Một người bình tĩnh lạ thường, khi chồng chết, mẹ chồng khóc lóc, bà thản nhiên bảo: "Người chết đã yên phận rồi, bây giờ bà phải thương các cháu lo sao cho khỏi chết đói, để yên con còn phải lo buôn bán chứ cứ ngồi khóc hoài sao, người chết cũng chả sống lại được, mà người sống thì chết đói". Từ đó bà tôi thôi không khóc và chỉ khóc khi nào mẹ tôi đi vắng" (Nguyễn Thị Thế, trang 53).
Bà dịu dàng với con trai, âu yếm với các cháu. Nhưng bà cũng là người mẹ chồng cay nghiệt, Nguyễn Tường Bách viết:
"…Vì trong nhà bất hòa với tấn kịch mẹ chồng nàng dâu bi đát. Hình như là chị đã mang cả oan ức xuống suối vàng, người chị dâu hiền lành ít nói của tôi" [35]
Bà đầy quyền uy và độc đoán, ai cũng sợ, không dám gần, kể cả người con gái duy nhất:
"Tôi là người rất chịu đựng. Khi nhỏ đã từng chịu đựng mấy đứa em khó tính và bà mẹ nghiêm khắc mà tôi rất sợ ít khi dám dàng mặt. Hễ làm cái gì hỏng là bà cụ cốc lên đầu mắng nhiếc đủ điều. Tôi chỉ nhờ vào tình thương của bà nội tôi thôi, cái bánh cái kẹo gì, bà nội cũng giấu bớt cho tôi (…) Dù tôi đã có chồng có con nhưng vẫn kính sợ mẹ tôi như hồi còn bé, mẹ bảo sao nghe vậy không bao giờ dám nói sai lời" (Nguyễn Thị Thế, trang 222, 243).
Nguyễn Tường Bách, cũng chỉ thương bà nội:
"Cái chết của bà tôi, cái chết làm cho tôi xúc động sâu xa, rất lâu mãi về sau này vẫn không ngớt. Từ lúc còn nhỏ, tôi luôn luôn đồng tình với bà tôi, vì bà sống chịu đựng, cay đắng hơn ai hết trong phần cuối đời, người con trai duy nhất đã mất, tất cả đều do con dâu tần tảo làm ăn. Bi kịch mẹ chồng nàng dâu không một gia đình nào lúc đó tránh khỏi. Niềm an ủi duy nhất của bà là lòng thương mến của các cháu: và sáng nào bà cũng thắp hương, châm ngọn đèn con trên bàn thờ, rồi ngồi yên niệm Phật với chuỗi tràng hạt đen bóng". [36]
Nguyễn Tường Bách không viết gì về mẹ.
Người mẹ của Nhất Linh khác xa người mẹ của Nguyễn Thị Thế, dù cùng một mẹ.
Điều này chứng tỏ sự phân biệt đối xử lạ lùng giữa con trai và con gái: với Nhất Linh, người con "thành công" bà yêu thương và kính trọng, nhưng bà đối xử khác hẳn với người con gái duy nhất, bắt phải bỏ học, quán xuyến việc nội trợ, hầu hạ mẹ và lo cho các em, từ lúc 10 tuổi.
Đối với các cháu, nhất là con Thạch Lam, người con trai thông minh nhất nhà, bà yêu quý, chết yểu: "Bà không bao giờ đánh mắng và rất yêu thương các cháu, nhưng tôi rất sợ bà, nhất là khi phải ngồi ăn cơm chung với bà", Tường Nhung kể lại [37]
Nguyễn Thị Thế mô tả tình anh em bền chặt, vẽ chân dung chính xác các anh và hai em, nhưng đã viết những trang hồi ký cay đắng về Tình mẹ con, thuật lại hình ảnh người mẹ nghiệt ngã, toàn trị trong gia đình, với một ngòi bút thản nhiên, chân thật.
Vần đề trọng nam khinh nữ, không cho con gái đi học, mẹ chồng nàng dâu, của xã hội cũ, là mấu chốt tất cả, trở thành vấn nạn hàng đầu trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, phải đạp đổ. Nguyễn Tường Bách diễn tả đầy đủ thực trạng này trong câu:
"Chính những xung đột nghiệt ngã trong gia đình chúng tôi giữa mấy lớp mẹ chồng nàng dâu, cùng với nhiều nỗi bất hạnh của phụ nữ bị trói buộc trong lễ giáo phong kiến lạc hậu trên xã hội, đã là đề tài cho nhiều tác phẩm sau này - thí dụ như cuốn Đoạn tuyệt của Nhất Linh
[38].

Chú thích:
[1] Hồi ký Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, do Nhóm nghiên cứu lịch sử xuất bản, Montréal, Canada, 1981, trang 44-45.
[2] Hồi ký Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, trang 45.
[3] Theo tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í. Sống và viết với… nxb Bách Khoa, Xuân Thu tái bản ỏ Hoa Kỳ, không đề năm, trang 21.
[4] Trả lời phỏng vấn của Nguyễn Ngu Í, in trong Sống và viết với… nxb Bách Khoa, trang 16.
[5] Ngày Nay từ số 27 (27-9-36) đến số 32 (1-11-36), sau in thành sách chỉ giữ tên Tối Tăm và bỏ tên Khái Hưng.
[6] Bà Nhất Linh mất ngày 6-5-1981, tại Orsay, Pháp.
[7] Bây giờ là đường Nguyễn Thái Học.
[8] Bà Nguyễn Thị Kim Thư mất ngày 6-5-1976.
[9] Theo điện thư của Nguyễn Tường Thiết ngày 15-5-2020.
[10] Theo Trương Bảo Sơn, Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh, in trong Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Thế Kỷ, 2004, trang 81).
[11] Bà Nguyễn Thị Kim Thoa mất ngày 6-2-2006 tại Marseille, Pháp. Sang Pháp từ 1966, bà đã từng trông người già, trong nhiều năm săn sóc ông bà Hoàng Xuân Hãn, đến lúc giáo sư mất, năm 1996. (Theo Chị Thoa của Nguyễn Tường Thiết, in trong Nhất Linh cha tôi, Văn Mới, 2006; nxb Phụ Nữ tái bản trong nước, 2020).
[12] Ngày sinh các con của ông bà Nguyễn Tường Tam chép theo luận án Nguyễn Tường Tam sống và viết của Maria Strakovova, Tiệp Khắc, 2011.
[13] Theo Tiểu sử Nhất Linh của Nguyễn Ngu Í, Sống và viết với… trang 21.
[14] Theo lời dẫn nhập bài Nói chuyện với ông Nguyễn Mạnh Tường, do Nguyễn Tường Tam viếttrên Phong Hóa số 16 (6-10-1932).
[15] Theo điện thư của nhà văn Đặng Thơ Thơ, cháu ngoại Hoàng Đạo, ngày 4-7-2020.
[16] In trong Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, NXB Người Việt, 2014, California, trang 212-217.
[17] Theo bài Mẹ tôi của Từ Dung, in trong Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, nx Người Việt, 2014, California.
[18] Văn, Tưởng niệm Hoàng Đạo, số 107-108 (15-6-68), trang 14-15.
[19] Tiểu sử Nguyễn Thị Thế in bìa sau cuốn hồi ký, ghi bà lập gia đình năm 1933, là sai.
[20] Trích Vài cảm nghĩ về cuốn hồi ký của chị tôi: Nguyễn Thị Thế của Viễn Sơn Nguyễn Tường Bách, in trong Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường của Nguyễn Thị Thế, Văn Hóa Ngày Nay, 1996, Hoa Kỳ, trang 255-256.
[21] Chúng tôi viết theo thông tin của nhà thơ Nguyễn Tường Giang.
[22] Đinh Hùng, Tìm hiểu Thạch Lam thêm một vài khía cạnh, Văn số 36 (15-6-1965), Tưởng niệm Thạch Lam, trang 58.
[23] Những chỗ khác thường viết 28-6-1942, chúng tôi sửa lại theo tư liệu của nhà thơ Nguyễn Tường Giang.
[24] Theo điện thư của Nguyễn Tường Giang ngày 6-7-2020.
[25] Nxb Thạch Ngữ, 2012, Hoa Kỳ.
[26] Nguyễn Tường Bách, Tưởng nhớ Khái Hưng, trong cuốn Khái Hưng, kỷ vật đầu tay và cuối cùngtập 1, Hồn bướm mơ tiên, nxb Phượng Hoàng, California, 1997, trang 166.
[27] Việt Nam những ngày lịch sử của Nguyễn Tường Bách, Nhóm Nghiên cứu sử địa xuất bản, Montréal, 1981.
[28] Việt Nam một thế kỷ qua I và II, của Nguyễn Tường Bách, Thạch Ngữ, California, 1999 và 2000.
[29] Nguyễn Tường Giang, Thạch Lam cha tôi trong trí tưởng, in trong tập Khói hồ bay, trang 303.
[30] Nguyễn Tường Thiết, Bà Cẩm Lợi, in trong Nhất Linh cha tôi, trang 241.
[31] Mẹ tôi, bà Thạch Lam Nguyễn Tường Lân của Nguyễn Tường Nhung, in trong sách Kỷ yếu triển lãm và hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, nxb Người Việt, 2014, California.
[32] Theo lời ông Nguyễn Tường Triệu nói với chúng tôi qua điện thoại, ngày 17-6-2017.
[33] Theo ngày giỗ, do Nguyễn Tường Nhung ghi lại trong bài Bà Nội và trại Cẩm Giàng. Có chỗ ghi 15-8-62.
[34] Nghĩa trang này là nơi chôn thân nhân gia đình Nguyễn Tường: ông Nguyễn Tường Thụy, ông Nguyễn Kim Hoàn (chồng bà Nguyễn Thị Thế) và bà Thạch Lam, đều chôn ở đấy. Sau tro cốt ông bà Nhất Linh được đưa về Hội An. Tro cốt bà Lê Thị Sâm và bà Nguyễn Thị Sói được đưa ra Bắc.
[35] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Nhóm Nghiên cứu sử địa, Montréal, 1981, trang 45.
[36] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam một thế kỷ qua, cuốn I1916-1946, Nxb Thạch Ngữ, 1988, Hoa Kỳ, trang 44.
[37] Bà Nội và trại Cẩm Giàng của Nguyễn Tường Nhung, tài liệu của Nguyễn Tường Giang.
[38] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam một thế kỷ qua, cuốn I, 1916-1946, Nxb Thạch Ngữ, 1988, Hoa Kỳ, trang 44.
Số 80 Quan Thánh
Phần I
Quan Thánh hay Quán Thánh?
Trước khi vào bài, chúng tôi muốn trả lời câu hỏi: Quán Thánh hay Quan Thánh?
Tây Hồ, xưa là Lãng Bạc. Lý Thánh Tông (1023-1072) dựng hành cung ở đây, gọi tên là Dâm Đàm, nhà Lê đổi thành Tây Hồ [1].
Trong bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng (1750-1808), cựu thần nhà Lê, sau theo Tây Sơn, làm khoảng năm 1800, vịnh cảnh Tây Hồ đồng thời ca tụng công đức nhà Tây Sơn [2], có hai câu, nói đến quán Trấn Vũ và bia [ở chùa] Trấn Quốc, sau đây:
"Đền Mục lang hương hỏa chẳng rời, tay lưới phép còn ghi công bắt hổ; quán Trấn vũ nắng mưa nào chuyển, lưỡi gươm thiêng còn để tích giam rùa. (…)
Tòa kim liên sóng nổi mùi hương, bia Trấn quốc tưởng in vùng tĩnh phạm; hàng cổ thụ gió rung bóng lộc, tràng Phụng thiên nhận sẵn thú Nghi Vu.
Dấu Bố cái rêu in nền miếu, cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa".
Phạm Thái (1777-1813) - con Thạch Trung Hầu Phạm Đạt, cựu thần nhà Lê, hai cha con đều cầm quân chống lại nhà Tây Sơn, nhưng thất bại - sáng tác bài Chiến Tụng Tây Hồ phú, nói lên cảnh điêu tàn của Hà thành thời Tây Sơn, đồng thời mắng Nguyễn Huy Lượng là người phản bội, thờ hai chúa. Phạm Thái viết lời dẫn như sau:
"Năm canh thân [1800] mùa hạ, ta đến chơi với bạn ở Tràng An [Hà Nội], nghe bạn ngâm bài "Tụng cảnh Tây hồ". Hỏi ai làm bài ấy mà hay thế? Bạn rằng: Chương lĩnh hầu Hữu Hộ Lượng [Nguyễn Huy Lượng] làm ra. Ta rằng: Chao ôi! Hữu Hộ Lượng a! Xưa hắn làm tôi triều Lê, nay ra làm ngụy, lại còn tụng Tây hồ mà chẳng thẹn mặt, ghét đứa nịnh làm sao! Nhớ xưa có bài thơ "chiến cổ" nay nhân bỉ kẻ làm bài tụng, ta cũng làm bài "chiến tụng" để góp một chút trò cười với đời".
Chiến Tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, có hai câu liên hệ tới đền Trấn võ (tức Trấn vũ) và đường Quán Thánh (sau gọi là Quan Thánh, gần đây đổi lại thành Quán Thánh):
"Lưới Mục lang au nát mất cả giường, gian chẳng bắt nữa hoài công bắt hổ; gươm Trấn võ chỉ còn trơ những sống, giặc không giam mà có sức giam rùa. (…)
Ông Đá dãi dầu hình tượng miếu; Bà Đanh vắng ngắt tiếng chuông chùa.
Nhà tranh đua đều khấn bụt cầu ma, đường Quán Thánh khéo lăng nhăng lít nhít; chợ xao xác những buôn hùm bán quỷ, mái Trường lương nghe lếu láo ỷ o" [3]
Bài phú của Nguyễn Huy Lượng ca tụng cảnh Hà thành nhờ ơn Tây Sơn càng thêm hoa mỹ. Bài phú của Phạm Thái, ngược lại, tả Hà thành điên đảo tàn tạ dưới thời Tây Sơn. Cả hai đều là áng văn chương trác tuyệt, nhưng lời Phạm Thái cay đắng, mỉa mai, thâm trầm hơn lời Nguyễn Huy Lượng.
Ngày nay, vì ý niệm độc tôn vua Quang Trung, trở thành độc tôn Tây Sơn, mặc dù Quang Toản không có công nghiệp gì, người ta ca tụng bài phú của Nguyễn Huy Lượng và chê bai bài phú của Phạm Thái.
Phạm Thái, cũng là nhân vật chính của Khái Hưng trong Tiêu Sơn tráng sĩ.
Theo lời phú của Nguyễn Huy Lượng thì đền Trấn Vũ (hay Trấn Võ) ngày trước là quán Trấn Vũ. Theo lời phú của Phạm Thái, con đường chạy ngang qua quán Trấn Vũ được gọi là đường Quán Thánh.
Và Đại Nam Nhất Thống Chí, ghi rõ quán Trấn Vũ dựng thời nào, thờ ai:
"Quán Chân Vũ: ở phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận, thờ Trấn Thiên Chân Vũ Đại Đế dựng đời Lê Vĩnh Trị [Lê Hy Tông, niên hiệu Vĩnh Trị, 1678-1680], lại đúc tượng đồng cao 8 thước 2 tấc, chu vi 8 thước 7 tấc, nặng 6.600 cân, rất linh ứng. Nguyên tên là quán Trấn Vũ, bản triều năm Minh Mệnh thứ 2 [1821], vua Bắc tuần, cho 50 lạng bạc, năm thứ 21 [1840] đổi tên hiện nay[4]
Chân Vũ Đại Đế là vị thần trong huyền thoại Trung Quốc, trấn giữ sao Bắc Cực, còn gọi là Bắc cực tinh quân. Với Việt Nam, Chân Vũ giúp An Dương Vương diệt tinh (quái vật) ở Tây Hồ.
Sau hòa ước Giáp Thân (1884), nước ta chịu sự bảo hộ của nước Pháp, Hà Nội là đất nhượng địa, nên họ thay đổi tên đương phố thành tên Pháp, bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, và có lẽ trong thời kỳ này, họ đã đổi tên đường Quán Thánh thành Le Grand Bouddha.
Báo Phong Hóa số 123 (9-11-34) quảng cáo: Kể từ 1-11 tòa báo Phong Hóa dọn lại số 80 đường Quan Thánh (80, Avenue du Grand Bouddha). Như vậy, hai tên Pháp Việt được dùng song song cho tới năm 1934 chăng? Những số báo Phong Hóa kế tiếp vẫn còn đề tên Le Grand Bouddha, phải đến Phong Hóa số 127 (7-12-34), mới chuyển hẳn sang tên Việt: 80 đường Quan Thánh.
Từ đó về sau, trên Phong Hóa Ngày Nay, địa chỉ tờ báo luôn luôn đề: 80 Quan Thánh. Và đối với người Hà Nội, tên đường Quan Thánh vẫn còn giữ đến năm 1954.
Vì thế chúng tôi giữ nguyên cách viết này trên Phong Hóa Ngày Nay.
Sự khó khăn khi tìm tài liệu về Khái Hưng
Thư Trung trong bài Khái Hưng, thân thế và tác phẩm, soạn cho báo Văn số 22 (15-11-64) tưởng niệm Khái Hưng, đã viết: "Tìm hiểu thân thế Khái Hưng là một việc khó. Khó vì tài liệu rất hiếm, sơ sài hoặc khó tin. Khó vì những người sống gần gũi với Khái Hưng hiện nay không có được mấy người, trong số lại có những người, vì lý do này hay nguyên cớ khác, không muốn viết về người đã khuất[5].
Nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) đến Hoa Kỳ cuối năm 1992, theo diện HO, mất ngày 13-12-2008 ở California, là đồng chí và đàn em Khái Hưng, cũng là người sưu tầm và giữ được nhiều tài liệu về Khái Hưng, đã giúp Trần Đình Phong, thực hiện báo Văn số 22, tưởng niệm Khái Hưng. Nguyễn Thạch Kiên cho biết: "Ngay từ năm 1945-1946, và sau ngày toàn quốc khói lửa, tôi vẫn còn được "quản lý "một số tài liệu quý, có cả những bài Khái Hưng viết. Tôi còn được biết thêm là ngay từ hồi đó, Khái Hưng đã dịch xong toàn bộ cuốn "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh và đã cho một thân hữu mượn. Người bạn đó là ai, hiện [1966] còn giữ nguyên bộ "Liêu trai chí dị" của Khái Hưng như lúc văn sĩ cho mượn nữa hay không, tôi xin miễn kể. Câu chuyện đã trở thành riêng tây và đã đi vào quá khứ "im lặng như một nấm mồ" rồi [6]."
Sang Hoa Kỳ 1992. Năm 1997-1998, Nguyễn Thạch Kiên in bộ sách Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, 2 cuốn, Nxb Phượng Hoàng, California [7].
Bộ sách này tập hợp tiểu thuyết đầu tiên Hồn bướm mơ tiên cùng với những truyện ngắn và kịch bản cuối cùng của Khái Hưng đã in trên hai tờ Việt Nam và Chính Nghĩa trong hai năm 1945 và 1946, giúp ta biết rõ hoàn cảnh chính trị và nhất là tư tưởng của Khái Hưng trong hai năm cuối đời.
Ngoài ra, Nguyễn Thạch Kiên còn cổ động các đồng chí trong Quốc Dân Đảng, ai còn giữ được kỷ niệm gì về Khái Hưng thì viết ra, vì vậy, bộ sách này hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu về con người Khái Hưng, tìm hiểu toàn diện nhà văn, nhà trí thức, nhà cách mạng.
Khi sang California nói chuyện về Tự Lực văn đoàn, năm 2002, chúng tôi được ông trao tặng bộ sách quý này, đến nay đã mười chín năm. Vì hoàn cảnh thiếu thốn tư liệu ở hải ngoại, chúng tôi đã không thể làm gì được, trước khi sưu tập Phong Hóa Ngày Nay được đưa lên thư viện điện tử năm 2012, bốn năm sau khi Nguyễn Thạch Kiên qua đời.
Viết chương sách này chúng tôi không khỏi ngậm ngùi tri ân ông, nhờ sự sưu tầm của ông mà chúng ta có thêm một số tài liệu mới, so với năm 1964, khi báo Văn số 22 ra đời, đặt mốc đầu tiên cho việc nghiên cứu Khái Hưng.
Một câu của Nguyễn Thạch Kiên làm tôi chú ý khi mở đầu tập sách:
"Địa điểm 80 phố Quan Thánh, Hà Nội là một ngôi biệt thự lịch sử không những của nền văn học Việt Nam cận đại (1930-1946) mà còn là trụ sở của các lực lượng cách mạng "vì quốc gia dân tộc Việt Nam" suốt từ đầu thập niên 30 đến cuối năm 1946 nữa [8]."
Câu này bắt buộc người nghiên cứu không chỉ bằng lòng với sự đọc tác phẩm Tự Lực văn đoàn, mà còn phải tìm hiểu cơ sở hoạt động của họ, thì mới có thể hiểu rõ tư tưởng của họ. Và 80 Quan Thánh là cơ sở chính.
Trước khi tìm về 80 Quan Thánh, chúng ta nên trở lại cơ sở đầu tiên của Tự Lực văn đoàn.
Đâu là những cơ sở đầu tiên của Tự Lực văn đoàn? Đó là vấn đề chưa thể biết tường tận. Ở thời điểm này, tôi chỉ xin đưa ra một số giả thuyết.
1 Avenue Carnot (phố Phan Đình Phùng), 
tháng 12-2017, ảnh Nguyễn Huy Thiệp
Điạ chỉ số 1 Avenue Carnot
Số 1 Boulevard Carnot là địa chỉ chính thức đầu tiên của tòa soạn Phong Hóa trong hơn hai năm từ tháng 6-32 đến tháng 10-34 [9].
Số 1 Boulevard Carnot còn là địa chỉ các nhà xuất bản:
Annam xuất bản cục, nhà xuất bản đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, ra đời năm 1933, được quảng cáo trên Phong Hóa số 45 (5-5-33)[10].
Một năm rưỡi sau, nhà xuất bản Đời Nay sẽ thay thế cho Annam xuất bản cục, được quảng cáo trên Phong Hóa số 114 (7-9-34)[11].
Vậy số 1 Boulevard Carnot là địa chỉ chính thức của Phong Hóa, của Annam xuất bản cục và nhà xuất bản Đời Nay, trong hơn hai năm, từ 16-6-32 đến 19-10-34.
Địa chỉ số 1 Boulevard Carnot sẽ bị bỏ hẳn, khi tòa soạn và trị sự dời về số 80 Avenue du Grand Bouddha (Quan Thánh), kể từ Phong Hóa số 124 (16-11-34).
Số 1 Boulevard Carnot, thực ra, chỉ là địa chỉ gửi thư và ngân phiếu; bởi vì trên Phong Hóa, kể từ số 1, đều ghi: ngân phiếu và thư tín gửi M. Phạm Hữu Ninh, quản lý Phong Hóa Tuần báo, số 1 đường Carnot, Hà Nội.
Tóm lại, số 1 đường Carnot, không phải là nơi làm việc của ban biên tập, vì không thấy ai nói đến nơi này như một tòa soạn thực thụ, mà có thể chỉ là nhà ông Phạm Hữu Ninh.
Vậy ban biên tập làm việc ở đâu?
Địa chỉ đường Quần Ngựa
Trong tiểu thuyết Những ngày vui, Khái Hưng cho biết hạt nhân đầu của nhóm Tự Động (Tự Lực) gồm có ba người: Nguyễn Văn Duy (Nguyễn Gia Trí), Trần Đình Điển (có thể là nhân vật hư cấu, vì không tìm thấy dấu vết trên báo Phong Hóa) và Đỗ Như Phương (Khái Hưng).
Vẫn theo Những ngày vui, khi Phương (Khái Hưng) lên Hà Nội, thì Duy (Nguyễn Gia Trí) đã thuê sẵn cho Phương một căn nhà có 5 phòng, thuê 40 đồng một tháng. Căn nhà này có thể là hư cấu, và cũng có thể nó tượng trưng căn nhà số 1 Boulevard Carnot.
Tuy nhiên, phải có một nơi đầu tiên Khái Hưng ở, khi bỏ Ninh Giang lên Hà Nội, cuối năm 1930 (trong truyện ngắn Tây xông nhà, in trên báo Việt Nam, số Tết Bính Tuất, 1946, Khái Hưng cho biết ông lên Hà Nội cuối năm 1930). Căn nhà này có thể là căn nhà ở đường Quần Ngựa, Khái Hưng ở trước khi dọn đến 80 Quan Thánh, như lời Trần Khánh Triệu viết: "Còn nhớ trong cuốn sách hồng Bông cúc huyền, viết hồi ba tôi ở Quần Ngựa Hà Nội"[12]. Như vậy trước khi dọn đến 80 Quan Thánh, Khái Hưng đã từng ở đường Quần Ngựa (nay là phố Đốc Ngữ (?)).
Đường Quần Ngựa cũng là nơi, khi Nguyễn Gia Trí được tha từ Vụ Bản trở về năm 1943 đã mở xưởng vẽ. Trần Khánh Triệu viết: "Chú Trí vẫn mải mê với tranh sơn mài trên đường Quần Ngựa[13].
Nhưng như trên vừa nói: Khái Hưng năm 1930 đã ở đường Quần Ngựa, và Nguyễn Gia Trí năm 1943, cũng ở đường Quần Ngựa, có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.
Địa chỉ gia đình Nhất Linh rất rõ ràng: Cả nhà ở số 9 phố Hàng Bè, nơi bà Nhất Linh có tiệm bán cau (thừa hưởng cửa hàng buôn tạp hóa của mẹ) đến cuối năm 1946. Sau khi tản cư trốn sự truy lùng của Việt Minh; năm 1947, gia đình hồi cư về Hà Nội, ở số 15, Hàng Bè [14].
Tú Mỡ đưa ra địa chỉ ở Ấp Thái Hà, ông viết: "Anh Tam nộp đơn xin Chính phủ cho phép ra tở bào "Tiếng cười" và chuẩn bị bài vở cho số báo ra mắt. Anh thuê một căn nhà nhỏ trong Ấp Thái Hà, lấy nơi tĩnh mịch để làm việc" [15].
Lời Tú Mỡ, như chúng tôi đã nói, có nhiều chỗ sai, riêng câu: "Anh thuê một căn nhà nhỏ trong Ấp Thái Hà, lấy nơi tĩnh mịch để làm việc", không biết thế nào. Bởi vì, Nhất Linh có thói quen thích ở riêng, ông hay thuê nhà hoặc phòng, để làm việc cho yên tĩnh, sau này ở trong Nam cũng vậy. Nhưng căn nhà ở Thái Hà Ấp, nếu có thuê, chắc Nhất Linh chỉ dùng trong thời gian đầu, lúc dự định ra báo Tiếng Cười. Còn khi tòa soạn dọn về Quan Thánh, Trần Khánh Triệu cho biết: Nhất Linh và Hoàng Đạo viết trong phòng khách của tòa báo ở đường Quan Thánh [16].
Địa chỉ số 25, Boulevard Henri d’Orléans (nay là Phùng Hưng)
25 Bd Henri d’Orléans (nay là Phùng Hưng) 
tháng 12-2017, ảnh Nguyễn Huy Thiệp.
Trên đầu Phong Hóa số 14 (22-9-32) ghi rõ: Tòa soạn: 25 Boulevard Henri d’Orléans, Trị sự: 1 Boulevard Carnot.
Địa chỉ 25 Boulevard Henri d’Orléans (nay là Phùng Hưng) ở ngay đầu ngã tư Phùng Hưng - Đường Thành bây giờ. Vậy 25 Boulevard Henri d’Orléans và căn nhà ở phố Đường Thành mà Khái Hưng hay nhắc đến, chắc là một. Và chính là nơi làm việc của ban biên tập Phong Hóa từ số 14, cũng có thể ngay từ số 1. Vì có những dấu hiệu sau đây:
- Trong Những ngày vui, Khái Hưng viết: "Trong khi ấy thì ở phố Đường Thành hẻo lánh, các nhân viên tòa soạn báo Tự Động làm việc để xuất bản số đầu kịp vào ngày đã định" (trang 105).
- Trong truyện ngắn Tôi không ngờ ký tên Bán Than, in trên PH số 7 (28-7-32), Khái Hưng lại viết: "Hồi ấy tôi thuê một cái buồng nhỏ ở phố Henri d’Orléans".
- Thế Lữ cũng ghi: "Lần đầu tiên tôi gặp anh [Tú Mỡ] là ngày tòa soạn còn ở đường Henri d’Orléans, một cái nhà không có vẻ tòa báo một chút nào hết" [17].
- Phố Đường Thành còn được Khái Hưng nhắc đến nhiều lần, trong truyện dài Xiềng Xích sau này, là nơi ông có những người bạn tốt đã cưu mang ông, khi ông trốn mật thám Pháp, năm 1941.
Nhưng địa chỉ 25 Henri d’Orléans chỉ được in trên mặt báo trong 5 tháng.
Đến Phong Hóa số 32 (3-2-33), tòa soạn lại trở về địa chỉ số 1 đường Carnot, và giữ địa chỉ này trong gần hai năm nữa, đến Phong Hóa số 123 (9-11-34).
Kể từ số 124 (16-11-34), mới ghi: Tòa soạn 80 Avenue Grand Bouddha (đường Quan Thánh).
Và đó cũng là địa chỉ cuối cùng của Khái Hưng ở Hà Nội.
Số 80 Quan Thánh, tháng 12-2017,
ảnh Nguyễn Huy Thiệp.
80 Quan Thánh, qua các giai đoạn đấu tranh
Chúng tôi tạm sơ lược tình hình chính trị rất rắc rối lúc bấy giờ để bạn đọc dễ hiểu hơn:
Nguyễn Tường Tam lập đảng Hưng Việt năm 1938 sau đổi thành Đại Việt Dân Chính. Mật thám Pháp bắt được bản chương trình hành động của đảng này do Nguyễn Tường Tam soạn, họ bắt đầu truy lùng từ năm 1940. Mùa thu 1940, Nhất Linh chia tay với Khái Hưng một đêm bên hồ Tây, trên căn gác nhà Thạch Lam, dưới nhà có Huyền Kiêu, Đinh Hùng. Huyền Kiêu làm bài thơ Tương biệt dạ, tặng hai anh. Khái Hưng vẽ bức tranh Trăng xưa minh họa cho thơ [18]. Từ đó Nhất Linh sống lẩn trốn, rồi chạy thoát sang Trung Hoa.
Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí, bị bắt ngày 16/9/1941.
Khái Hưng bị bắt ngày 31/10/1941 [19] ở 80 Quan Thánh. Cả ba bị giam ở Vụ Bản tới 1943. Thạch Lam qua đời năm 1942. Năm 1943, được tha về nhưng vẫn bị quản thúc, Khái Hưng tiếp tục điều hành nhà in và nhà xuất bản tại 80 Quan Thánh.
Biệt thự 80 Quan Thánh là nhà của Khái Hưng thuê từ cuối năm 1934 để ở và làm trụ sở Phong Hóa Ngày Nay, nhà xuất bản Đời Nay và nhà in Ngày Nay. Kể từ tháng 4-1945, 80 Quan Thánh trở thành trụ sở của báo Việt Nam, báo Chính Nghĩa và của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Cuộc phân liệt giữa Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng xẩy ra năm 1946, tới nay đã 75 năm, chúng ta đã có đủ khoảng cách thời gian để khảo sát vấn đề một cách khách quan, không hận thù, bè phái.
Nói một cách đầy đủ hơn, số 80 Quan Thánh từng là tòa soạn của 5 tờ báo: tuần báo Phong Hóa từ số 124 (16-11-34), tới số 190 (5-6-36), tuần báo Ngày Nay từ số 1 (30-1-35) số 224 (7-9-40), tuần báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới từ số 1 (5-5-45) đến số 16 (18-8-45), nhật báo Việt Nam, từ số 1 (15-11-45) đến tháng 11-1946, và tuần báo Chính Nghĩa từ số 1 (20-5-46) đến số 28 (16-12- 46). Đồng thời còn là địa chỉ của nhà xuất bản Đời Nay, nhà in Ngày Nay, nhà in Việt Nam, sau cùng là nhà in và nhà xuất bản Quan Thánh.
Khái Hưng là người trách nhiệm Phong Hóa từ số 1 và cũng là người cuối cùng trách nhiệm tờ Chính Nghĩa, sau khi các bạn đồng hành đã xa biệt. Trên tờ Chính Nghĩa, hầu như chỉ một mình Khái Hưng viết, cũng như Phong Hóa lúc đầu. Chính Nghĩa là giai đoạn văn học tranh đấu cuối cùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
80 Quan Thánh, báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, trả lại chính quyền cho Việt Nam, vua Bảo Đại lập chính phủ Trần Trọng Kim.
Ngày 20-3-45, báo Bình Minh, cơ quan của Đại Việt Tân Thanh Niên ra đời, do Nguyễn Giang (con Nguyễn Văn Vĩnh) làm chủ nhiệm, Khái Hưng, chủ bút, đăng những thông tin của báo Domei (Nhật) [20].
Ngày 5-5-1945, báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới, số 1 ra đời ở 80 Quan Thánh, với Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo; Nguyễn Tường Bách làm giám đốc và Nguyễn Trọng Trạc, thuộc đảng Xã Hội [chủ trương ôn hòa] coi việc trị sự.
Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới cực lực ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, chào đón nền độc lập mới, kể tội thực dân, không chống Việt Minh. Tờ báo có thêm cộng tác viên mới không ở trong Tự Lực văn đoàn như Vũ Đình Liên, Vũ Ngọc Phan và Tú Mỡ cũng trở lại.
Cuối tháng 7-1945, Hoàng Đạo bị bệnh thương hàn phải nằm bệnh viện, nên chỉ còn Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Bách phụ trách tờ báo.
Trong những ngày tháng tiếp theo, nhiều sự kiện lịch sử quan trọng dồn dập xẩy ra:
Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng.
Ngày 16-8-1945, Nội các Trần Trọng Kim từ chức.
Ngày 18-8-1945, Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới ra số 16, rồi tự đình bản sau ngày Việt Minh lên nắm chính quyền.
Ngày 19-8-1945, Việt Minh lên nắm chính quyền.
Ngày 25-8-1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị.
Ngày 2-9-1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.
Nguyễn Tường Bách viết:
"15-8-1945. Với trang sử mới đã lật, thời kỳ làm báo, làm văn từ 20 năm nay [thực ra là 13 năm] đã coi như kết thúc, với sự đình bản tự nguyện trước thời thế của tờ Ngày Nay vào hôm sau" [21].
80 Quan Thánh, nhật báo Việt Nam
Nguyễn Tường Bách viết:
"Bị dồn vào thế thụ động, các đảng phái quốc gia phải tạm rút lui vào bí mật trừ tại một số địa phương. Tuy vậy, để duy trì tiếng nói của mình trước dân chúng, chúng tôi xuất bản một tờ báo hàng ngày, Việt Nam thời báo. Vẫn do tôi và Khái Hưng chủ trách, trong lúc anh Hoàng Đạo đương phải điều trị bệnh thương hàn[22].
Ngày 15-11-1945, nhật báo Việt Nam ra đời, do Khái Hưng và Nguyễn Tường Bách phụ trách bài vở, Nguyễn Trọng Trạc làm Giám đốc. Việt Nam số 1 có vẻ ôn hòa. Kể từ số 3 (17-11-45) bắt đầu đả kích Việt Minh. Nguyễn Tường Bách giải thích:
"Chúng tôi liền thực hành ngay một hành động rất cách mạng là tiếp thu ngay tờ báo Việt Nam mà không cho Nguyễn Trọng Trạc [ở trong đảng Xã Hội, ôn hòa hơn] biết, đổi làm cơ quan ngôn luận của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đó là tờ báo công khai đầu tiên của phe quốc gia (…) Chủ trương chính của tờ báo cũng là độc lập tự do, chống đế quốc, nhưng lại phê bình chính sách của chính phủ. Tất nhiên trên mặt báo có nhiều bài đấu khẩu với những tờ Cờ Giải phóng và Độc Lập hồi ấy, không kém phần kịch liệt.[23]
Hồng Giang, một thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng viết: "Nhà văn cách mạng Khái Hưng cùng gia đình ở ngay tại tòa báo làm việc không kể ngày đêm. Có những ngày ông gần như một mình bao dàn cả tờ báo 4 trang, không lấy quảng cáo, một đêm chỉ ngủ vài tiếng đồng hồ (…) Hầu hết các bài xã luận trên báo Việt Nam đều do Khái Hưng viết nhưng không ký tên." [24]
Nguyễn Tường Tam về nước tháng 11-1945, cùng với các lãnh đạo đảng phái quốc gia lưu vong bên Tầu như Nguyễn Hải Thần, theo quân đội Tưởng Giới Thạch (quân Đồng minh) về Việt Nam giải giới quân Nhật đã đầu hàng.
Báo Việt Nam chính thức công bố việc Nguyễn Tường Tam về nước trên số 53 (16-1-1946).
Hồ Chí Minh chủ trương liên hiệp các đảng phái.
Nguyễn Tường Tam tham dự chính phủ Liên Hiệp ngày 2-3-1946, cầm đầu phái đoàn Việt Nam dự hội nghị Đà Lạt (18-4-1946 đến 11-5-1946). Hội nghị Đà Lạt thất bại, ông trở lại Vân Nam tháng 6-1946.
Đầu tháng 5-1946, quân đội Trung Hoa bắt đầu rút lui. Từ tháng 6-1946, tình hình giữa Việt Minh và các đảng phái quốc gia căng thẳng. Sau khi quân Tưởng Giới Thạch rút hết, nội chiến đã xảy ra.
Ngày 20-5-1946, Khái Hưng cho ra tuần báo Chính Nghĩa (song song với nhật báo Việt Nam). Chính Nghĩa ra được 28 số, nội dung pha trộn chính luận và văn chương, có những bài viết về các chủ nghĩa chính trị, đả kích chủ nghĩa cộng sản, có những bài viết về lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng, về những anh hùng trong VNQDĐ, về vụ Pháp nem bom Cổ Am… cùng với truyện ngắn và kịch, đó là những sáng tác cuối cùng của Khái Hưng.
Việt Minh bao vây tòa báo Việt Nam, Phan Khôi bị bắt ở 80 Quan Thánh
Theo Nguyễn Công Hoan, tháng 6-1946, trong một buổi mít tinh ở Quảng Nam, Phan Khôi lên diễn đàn đả kích hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Ông được bầu làm chủ nhiệm chi bộ Quốc Dân Đảng ở Quảng Ngãi. Theo Hoàng Văn Chí, Phan Khôi cực lực phản đối việc cán bộ địa phương định phá nhà thờ Hoàng Diệu, và định bắt ông. Phan Khôi viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng, lúc đó đang làm Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ, đòi can thiệp. Hồ Chí Minh giải quyết khéo léo, viết thư mời Phan Khôi ra Hà Nội và giao cho Phan Bôi (em họ Phan Khôi, lúc đó đang làm Thứ trưởng Nội vụ) quản lý. Nhưng Phan Khôi không chịu ở nhà Phan Bôi mà đến ở nhà Khái Hưng, 80 Quan Thánh.
Đêm 12-7-1946, công an bao vây 80 Quan Thánh, Phan Khôi bị bắt và bị đưa lên Việt Bắc [25].
Việc công an bao vây tòa soạn báo Việt Nam, Trần Khánh Triệu chỉ viết vắn tắt, có lẽ vì tối hôm đó ông ở nhà mẹ đẻ:
"Hội nghị Đà Lạt tan vỡ, "Cậu Hàng Bè" [Nhất Linh] từ chức bộ trưởng rồi sang Tàu lần nữa. Các trụ sở Việt Quốc lần lượt bị tảo thanh. Công an xung phong đột nhập tòa báo lục soát, bắt bớ. Các đảng viên cao cấp như bác Hể, bác Đóa, Trí, Dị… bị đem đi biệt tích. Tờ Việt Nam đình bản… Tòa báo ngoài Papa, chỉ còn lèo tèo vài đồng chí lai vãng: anh Bảng, Kính, anh Cống, bác Thắng…" [26]
Nhưng nhà văn Huy Quang Vũ Đức Vinh [27], trong bài "Từ vụ tấn công báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng [28] đã mô tả chi tiết sự việc này. Lúc ấy Vũ Đức Vinh và Trần Đại Việt (sau này trở thành nhà thơ Thanh Nam), mới 15 tuổi, đang học lớp Quốc Gia Thanh Niên Đoàn của Quốc Dân Đảng do cụ Hể [Phạm Văn Hể, Giám đốc trường Cán bộ Quốc Dân Đảng] dạy ở 80 Quan Thánh. Huy Quang Vũ Đức Vinh kể lại chuyện từ đầu đến cuối. Trong bài viết của ông, không có chuyện "hai bên nổ súng bắn nhau" như những chỗ khác thuật lại, kể cả Hoàng Văn Đào. Những lời của Huy Quang Vũ Đức Vinh có lẽ thành thật, đúng đắn hơn cả. Bài viết dài, tôi chỉ xin trích dẫn vài đoạn:
"Chiều hôm đó, sau lớp học thường lệ của cụ Hệ [Hể]. Việt [Thanh Nam] và tôi rủ nhau xuống nhà chữ [nhà in] xem mọi người làm việc. Chúng tôi thích thú theo dõi mấy người thợ xếp chữ lành nghề thoăn thoắt nhặt từng chữ đúc chì trong hộp chữ đưa lên chiếc khuôn gỗ hình chữ nhật cầm trên tay (…) Khi chúng tôi tính ra về thì trời đã xẩm tối. Ngay lúc đó chợt có nhiều tiếng chân người dầm dập từ phía cổng lớn bên đường Hàng Bún chạy vào, rồi cả từ phía cổng nhỏ đường Quan Thánh nữa. Tiếp theo là tiếng chân chạy lên phía cầu thang, và liền sau đó thì tôi thấy các công an xung phong tiến vào nhà chữ, người nào cũng cầm súng trên tay chĩa về phía trước. Có tiếng ra lệnh cho người trong nhà chữ đứng yên tại chỗ và giơ tay lên khỏi đầu. Việt và tôi đứng gần bên nhau. Chúng tôi làm theo lệnh đó như mọi người khác. Khoảng một tiểu đội công an xung phong xâm nhập nhà chữ. Họ bố trí đứng chặn ở cửa chính và các cửa sổ. Các nhân viên trong nhà chữ lúc đó khoảng hơn mười người đều ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xẩy ra. Một lúc sau thì toán công an khác áp giải những người của tòa báo từ trên gác xuống, trong số đó có mấy nhân viên tòa soạn và cả vợ chồng ông Khái Hưng. Tất cả đều phải giơ tay cao và đi trước mũi súng của công an. Trong số những người từ trên gác đi xuống tôi còn thấy một người khách lạ, mặc âu phục trắng, đeo cà vạt đen. Người này khoảng gần 60 tuổi, vóc dáng cao gầy vẻ mặt quắc thước và để râu dài chấm ngực. Vị khách lạ đi vào rồi dừng lại bên dàn hộp chữ cao ở phía bên trái, còn ông bà Khái Hưng đứng sang phía bên phải gần chỗ đặt bàn dao cắt giấy. Tổng số người bị dồn vào nhà chữ lên khoảng gần 20 người. Tất cả đều im lặng. (…) Chợt vị khách lạ lên tiếng nói với nhóm công an là cụ giơ tay đã lâu thấy mỏi và muốn biết cụ có thể bỏ tay xuống được không? Không ai trả lời, nhưng một nhân viên công an đứng gần cụ bỏ ra ngoài, rồi mấy phút sau viên chỉ huy toán công an bước vào. Hắn là một thanh nhiên tuổi trạc 30, thân hình rắn chắc khỏe mạnh, nét mặt sáng sủa thuộc thành phần có học. Hắn nói với vị khách lạ:
- Thưa thầy Phan Khôi. Con là học trò của thầy. Xin thầy bỏ tay xuống. Nhưng sao thầy lại ở trong tòa báo này.
Tôi ngạc nhiên một cách thích thú khi biết vị khách lạ là cụ Phan Khôi, tác giả bài thơ "Tình già" mà tôi mới được đọc cách đó ít lâu. Cụ Phan Khôi từ từ buông tay xuống rồi đáp:
- Tôi mới ở Trung Bộ ra Hà Nội và hôm nay đến thăm ông Khái Hưng, bạn của tôi. Chẳng may tôi bị đau bụng diarrhée, nên ông bạn tôi mời ở lại. Ở đây có nhà xí tốt.
Câu đáp khiến người nghe có thể cười, nhưng lúc đó trước mũi súng chẳng ai cười, ngoại trừ ông Khái Hưng. Ông mỉm cười nhẹ nhàng, gật đầu xác nhận lời nói của cụ Phan Khôi, rồi yêu cầu viên chỉ huy công an cho mọi người bỏ tay xuống với lý do không ai có vũ khí. Nhưng viên chỉ huy này chỉ đồng ý để thêm bà Khái Hưng được buông tay mà thôi. Ông Khái Hưng nhìn sang bà vợ ra hiệu chấp nhận điều đó và bà Khái Hưng bỏ tay xuống. Bà giữ một nét mặt bình thản, đĩnh đạc nhìn thẳng phía trước. Bà vấn tóc trần và mặc chiếc áo dài mầu mỡ gà như thường ngày tôi vẫn gặp. Hình như chỗ ở luôn luôn có nhiều người qua lại nên lúc nào bà cũng mặc áo dài. Bà vóc người mảnh mai, vẻ thanh tú khuê các, chắc cũng xấp xỉ tuổi 50 nhưng khuôn mặt còn phảng phất những nét đài trang của một thời xuân sắc (…)
Tất cả nhân viên tòa báo Việt Nam bị bắt giữ ngày hôm đó được đưa lên hai chiếc xe loại vận tải kín bưng chờ sẵn ở phía cổng sau tòa báo (…) Xe chạy từ tòa báo về ty công an trên đường Trần Hưng Đạo (tức phố Gambetta cũ). Tại đây xe chạy qua hai chiếc cổng sắt lớn vào khu nhà giam rộng lớn phía sau. Một số nhân viên công an đã chờ sẵn và đưa giải chúng tôi từng người vào nhà giam. Riêng bà Khái Hưng được tách ra đưa về một khu khác mà sau này tôi được biết là khu dành cho phụ nữ. Tôi nhìn theo cụ Phan Khôi và ông Khái Hưng, thấy hai người được đưa vào hai phòng giam khác nhau".
Ngày hôm sau, tất cả phải trả lời thẩm vấn, rồi trở về phòng giam thêm một đêm nữa trừ cụ Phan Khôi và những người làm trong nhà chữ, đã được về. Khoảng 2, 3 giờ chiều hôm sau thì tất cả được lên xe chở về tòa soạn:
"Ông Khái Hưng đẩy cánh cổng mở rộng và tất cả chúng tôi đi thẳng vào nhà chữ. Một cảnh tượng đồ đạc bề bộn ngổn ngang phơi bầy trước mắt chúng tôi. Các hộp chữ bị kéo đổ tung tóe. Giấy báo bị rỡ tung. Các ngăn kéo đều bị rút ra khỏi bàn. Nhiều chiếc ghế bị đạp đổ hoặc xô nghiêng. Có những bộ phận máy in bị gỡ xuống sàn nhà (…)
Lên đến trên gác, chúng tôi chia làm ba nhóm. Bà Khái Hưng đi thẳng vào căn phòng [của ông bà] phía cuối. Ông Khái Hưng cùng mấy vị thuộc tòa soạn đi vào căn giữa, không phải để quan sát cảnh hoang tàn bề bộn mà để họp. Việt và tôi đi vào căn phòng phía ngoài [nơi làm lớp học]. Căn phòng này ít đồ đạc nên ít bị lục lọi… Việt và tôi rủ nhau định ra về thì bà Khái Hưng từ phía cửa phòng cuối vẫy chúng tôi qua. Bà nói giọng nhỏ nhẹ, từ tốn và xưng hô với chúng tôi theo liên hệ tuổi tác, bác và cháu. Đặc biệt bà nhờ chúng tôi cố tìm một chiếc bút máy mầu đen. Chúng tôi tìm khá lâu mà không thấy nên có ý bỏ cuộc. Không phải chỉ có giấy tờ, mà còn nhiều cuốn sách, rồi quần áo, chăn gối và đủ mọi thứ đồ đạc lặt vặt khác ngổn ngang trong phòng. Bà Khái Hưng tiếp tục tìm kiếm và nói cho chúng tôi biết sở dĩ bà muốn tìm kiếm chiếc bút vì đó là tặng vật ngày cưới của ông bà. Khi biết điều này, không bảo nhau Việt và tôi lại cặm cụi tìm kiếm. Một lúc sau ông Khái Hưng từ phòng bên bước qua cũng tham gia cuộc tìm kiếm.
Nhưng liền đó, Việt đã tìm thấy chiếc bút nằm nép sau một chồng sách. Việt vừa giơ chiếc bút lên là bà Khái Hưng nhận ngay ra… bảo vật. Mừng rỡ hiện rõ trên nét mặt, bà nhận chiếc bút trên tay Việt với lời cám ơn vồn vã. Rồi cầm chiếc bút trong lòng bàn tay một cách nâng niu trìu mến bà đưa qua cho ông Khái Hưng. Hai vợ chồng nhìn nhau rõ vẻ âu yếm, và tôi thấy ông Khái Hưng đã nắm bàn tay trong đó có chiếc bút[29].
Ở đoạn sau, tác giả ghi thêm những nhận xét về Khái Hưng, vẫn giọng nhẹ nhàng, tế nhị:
"Tôi nhớ nhất cái dáng dấp mảnh khảnh nhưng nhanh nhẹn và nét mặt linh hoạt của ông Khái Hưng mỗi khi ông lên xuống cầu thang, đi từ tòa soạn xuống nhà chữ trong căn nhà hai tầng này. Tôi cũng nhớ tiếng cười khanh khách đầy hào sảng của ông. Sau này tôi đã có dịp đọc thêm và đọc lại những tác phẩm của ông, và tôi càng nhận thấy văn phong của ông phản ảnh thật rõ rệt con người của ông, con người với một tâm hồn vui tươi dí dỏm, hóm hỉnh nhưng khúc triết và sâu sắc. Tôi thấy hình ảnh con người đó hiện lên qua nhiều đoạn văn, nhiều mẩu đối thoại, nhiều tình tiết trong các tác phẩm của ông. Tôi còn nhớ cả cái phong cách tự tin điềm đạm của ông, khi bị công an Việt Minh bắt đứng giơ tay trong nhà chữ và lời yêu cầu của ông cho mọi người được buông tay xuống. Tôi thấy ở đó cái bản lĩnh của người lãnh đạo… Tôi cũng không quên được hình ảnh bà Khái Hưng (…). Tôi thích cái hình ảnh bà Khái Hưng tìm kiếm chiếc bút máy kỷ vật ngày cưới trong khung cảnh căn phòng đầy chứng tích của đổ vỡ hoàng tàn, tưởng như đó là báu vật mà không còn gì khác có thể thay thế (…) Tôi tin chắc trong hành trang của ông bà mang theo trên đường tản cư, thế nào cũng có chiếc bút kỷ vật ngày cưới. Hẳn bà đã giữ kỷ vật đó mãi, trong suốt phần đời còn lại[30].
Sau vụ lục soát và bắt bớ này, theo Hoàng Văn Đào tờ Việt Nam vẫn ra lại như thường, còn Nguyễn Tường Bách và Trần Khánh Triệu cho rằng báo Việt Nam ngừng hẳn. Chúng tôi chỉ có vài số báo Việt Nam (bản điện tử), nên không thể kiểm chứng được. Duy có điều chắc chắn là báo Chính Nghĩa vẫn tiếp tục quảng cáo: Nên đọc báo Việt Nam, cơ quan của Việt Nam Quốc Dân Đảng tới số 27 (9-12-1946) mới ngừng. Và tới số 28 (16-12-1946) là số cuối cùng, Chính Nghĩa, bắt đầu quảng cáo cho báo Thời Phong. Báo Thời Phong là con đường mới của Khái Hưng cùng với Phan Khôi, Hồ Hữu Tường, Tô Ngọc Vân, chủ trương bỏ hẳn chính trị để trở lại với văn nghệ thuần túy, kể từ đầu năm 1947, nhưng chưa kịp thi hành.
Quốc Dân Đảng thua trận
Đầu tháng 7-1946, cuộc chiến bắt đầu giữa Việt Minh và Quốc Dân Đảng ở mặt trận Vĩnh Yên, Việt Trì [31]. Chính phủ Liên hiệp cử đoàn đại biểu hỗn hợp hai bên (Nguyễn Tường Long đại diện Quốc Dân Đảng và Tướng Hoàng Văn Thái đại diện Việt Minh) lên giảng hòa. Việc không thành. Quốc Dân Đảng thua trận. Nguyễn Tường Bách - theo Vũ Hồng Khanh chỉ huy quân Quốc Dân Đảng rút lên Yên Bái - kể lại:
"Mấy ngày sau, bỗng có điện từ Hà Nội lên cho biết lực lượng Chính phủ đã bắt đầu khủng bố các vị trí QDĐ ở Hà Nội, Vĩnh Yên. Yên Bái lại bị tấn công riết. Tình thế nguy hiểm mà tất cả các nhóm Việt Cách đã rút đi hết. Rồi có tin anh Tam đã đáp máy bay đi Côn Minh. Bảo Đại cũng đã làm như thế. Thời cục đã xoay đến chỗ phá liệt gay go. Xem ra lực lượng căn cứ mong manh quá khó mà giữ nổi.
Để gia cường việc ngoại giao với Trung Hoa và đồng minh, chúng tôi đồng ý phái anh Long lên ngay Côn Minh, hợp tác với anh Tam để hành động. Với một số anh em hộ vệ anh Long sang Hà Khẩu, đi đường bộ lên Mông Tự vì quãng đường sắt Hà Khẩu - Mông Tự đã bị phá hủy chưa sửa chữa được, rồi đáp xe hỏa đi Côn Minh"[32].
Tình hình càng ngày càng khẩn cấp. Quốc Dân Đảng ở bước đường cùng.
Cuối tháng 7-1946, Nguyễn Tường Bách cùng bẩy bạn đồng hành được lệnh vượt cầu sắt Lào Cai - Hà Khẩu, sang Vân Nam tìm cách cầu viện.
Khái Hưng, một mình, ở lại. Trần Khánh Triệu viết:
"Hè năm 46, Việt Minh mở chiến dịch càn quét các trụ sở Việt Quốc, thì tờ Việt Nam phải hạ bảng, các đảng viên cao cấp lánh sang Trung Hoa, riêng ba tôi [Khái Hưng] thuộc thành phần những người ở lại bí mật phụ trách bộ tuyên huấn của đảng với bí danh Trần Lâm[33].
Khái Hưng ở lại trong tình thế hết sức nguy hiểm, nhưng ông vẫn tiếp tục làm báo Chính Nghĩa. Tờ báo còn hiện diện đến ngày 16-12-1946, là dấu ấn sau cùng của Khái Hưng, đặc biệt vở kịch Khúc Tiêu Ái Oán, tác phẩm cuối cùng, kết thúc trong số báo chót, như một khúc nhạc tiễn đưa.
Địa chỉ 80 Quan Thánh còn tồn tại tới ngày 19-12-1946, ngày Khái Hưng cùng và gia đình rời Hà Nội tản cư về làng Dịch Diệp, huyện Trực Ninh, quê vợ.
Mấy ngày sau ông bị Việt Minh bắt. Tết Đinh Tỵ (1947) ông được trở về thăm gia đình và sau đó bị đưa đi mất tích" [34].

Chú thích:
[1] Đại Nam Nhất Thống Chí, tập III, nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, trang 190.
[2] Có chỗ chép bài phú này làm năm 1801 để dâng vua Cảnh Thịnh khi ông chạy ra Bắc, là lầm, bởi Cảnh Thịnh đến tháng 2 năm 1802 mới chạy ra Bắc, mà bài Chiến Tụng Tây Hồ phú của Phạm Thái, "họa" lại bản này làm năm Canh Thân (1800), như lời Phạm Thái ghi.
[3] Chép theo bản Đào Minh Phấn sao lục in trên Nam Phong số 113, Janvier 1927, trang 50-56.
[4] Đại Nam Nhất Thống Chí, tập III, nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, trang 219.
[5] Thư Trung, Khái Hưng, thân thế và tác phẩm, Văn số 22 (15-11-1964), Sài Gòn, trang 3.
[6] Nguyễn Thạch Kiên, Lời nói đầu, tập truyện Bóng giai nhân của Khái Hưng in năm 1966 tại Sài Gòn, in lại trong tập Khái Hưng, Kỷ Vật đầu tay và cuối cùng, cuốn hai, Phượng Hoàng, Cali, 1998, trang 552-553.
[7] Cuốn 1: Hồn bướm mơ tiên, có hai phần: phần 1, truyện Hồn Bướm mơ tiên và phần 2, tập hợp bài của nhiều tác giả viết về Khái Hưng. Cuốn 2: Bóng giai nhân, cũng có hai phần: phần 1, là tập truyện ngắn Bóng giai nhân, (đã được Nguyễn Thạch Kiên in lần đầu, giữa năm 1966 tại Sài Gòn dưới tên Lời nguyền) gồm các truyện ngắn: Bóng giai nhân, Lời nguyền, Hổ, Tây xông nhà, Quan công sứ, Nhung, Khói hương, Người anh hùng, Tiếng người xa; và ba vở kịch: Câu chuyện văn chương, Dưới ánh trăng, Khúc tiêu ái oán. Phần 2, gồm bài của nhiều tác giả viết về Khái Hưng. Trong tập Bóng giai nhân do Nguyễn Thạch Kiên in còn thiếu vở kịch Đoàn kết, sau được Viên Linh in trên Khởi Hành số 225-226 (tháng 10 và 11, năm 2015).
[8] Nguyễn Thạch Kiên, Đốt lò hương ấy… in trong Khái Hưng, Kỷ Vật đầu tay và cuối cùng, tập một, Phượng Hoàng, Cali, 1997, trang 10.
[9] Số 1 Boulevard Carnot là địa chỉ tòa soạn và trị sự, được ghi trên báo Phong Hóa từ số 1 (16-6-1932) đến số 13 (8-9-1932). Kể từ số 14 (22-9-1932) đến số 31 (24-1-1933), số Xuân, dưới tên tờ báo, ghi hai địa chỉ: Tòa soạn: 25 Boulevard Henri d’Orléans (nay là Phùng Hưng) và Trị sự: 1 Boulevard Carnot (nay là Phan Đình Phùng). Từ số 32 (3-2-1933) đến số 120 (19-10-1934), trở lại địa chỉ duy nhất: Tòa soạn: số 1 Boulevard Carnot.
[10] Nguyên văn quảng cáo: "Kể từ ngày 15-4-1933 quyền xuất bản Phong Hóa thuộc về Société annamite d’Edition et de Publicité (Annam xuất bản cục)". Địa chỉ số 1 Avenue Carnot.
[11] Nguyên văn quảng cáo: "Ngày 15-9-1934 bắt đầu bán Đẹp của Nguyễn Cát Tường, Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Trần Quang Trân". Đẹp có lẽ là một cuốn sách tranh và cũng là ấn bản đầu tiên của Đời Nay. Đến PH số 118 (5-10-1934) mới ghi địa chỉ nhà xuất bản này ở số 1 Boulevard Carnot.
[12] Ba tôi của Trần Khánh Triệu, Văn số 22 (15-11-1964), số tưởng niệm Khái Hưng.
[13]Papa tòa báo của Trần Khánh Triệu, Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997), in lại trong Nhất Linh người nghệ sĩ - người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.
[14] Theo lời nhà văn Nguyễn Tường Thiết nói với tôi qua điện thoại.
[15] Trong bếp núc Tự Lực văn đoàn, hồi ký của Tú Mỡ, tạp chí Văn Học số 5, 6-1988 và số 1-1989, in lại trong Nhất Linh cây bút cột trụ của Tự Lực Văn Đoàn do Mai Hương tuyển chọn, nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000. Và trích in trong Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004, trang 109-119.
[16] Papa tòa báo, Trần Khánh Triệu, Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997), in lại trong Nhất Linh người nghệ sĩ-người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California 2004, trang 164.
[17] Phóng bút của Lê Ta (Thế Lữ), in trên Phong Hóa số 154 (20-2-1935).
[18] Thơ và tranh được in trong giai phẩm Đời Nay Xuân 1941, in lại trong Văn Hóa Ngày Nay, tập 5, trang 85, và trong Văn số 22 (15-11-1964) tưởng niệm Khái Hưng cùng với bài viết của Đinh Hùng kể lại kỷ niệm này.
[19] Theo François Guillemot, Đại Việt, indépendance et révolution au Việt Nam (Đại Việt, độc lập và cách mạng Việt Nam), Les Indes Savantes, Paris, 2012, trang 87.
[20] Tài liệu của Aki Tanaka gửi cho tôi ngày 3-9-2020.
[21] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam một thế kỷ qua, cuốn một, Thạch Ngữ, California, 1998, tái bản lần thứ nhất, 2002, trang 163.
[22] Nguyễn Tường Bách, Tưởng nhớ Khái Hưng (in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, do Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) thực hiện, Quyển 1, Nxb Phượng Hoàng, California, 1997, trang 166.
[23] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Nhóm nghiên cứu sử địa, Montréal, 1981, trang 78.
[24] Hồng Giang, Nhớ về văn hào Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, do Nguyễn Thạch Kiên (1926-2008) thực hiện, Quyển 1, Nxb Phượng Hoàng, California, 1997, trang 469, 470.
[25] Theo Nguyễn Công Hoan, Hành động và tư tưởng phản động của Phan Khôi cho đến thời kỳ toàn quốc kháng chiến, Văn Nghệ số đặc biệt thứ 2 chống Nhân Văn Giai Phẩm, số 12 (5-1958).
[26] Trần Khánh Triệu, Papa nhà báo, in trong Nhất Linh người nghệ sĩ - người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004, trang 170.
[27] Huy Quang Vũ Đức Vinh là người cùng với Nguyễn Văn Giang, chủ trương tờ Đất Mới từ tháng 7-1975, một trong những tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Mỹ. Tháng 4-1976, có thêm Thanh Nam và Túy Hồng cộng tác.
[28] Từ vụ tấn công báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng của Huy Quang Vũ Đức Vinh, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 1, do Nguyễn Thạch Kiên sưu tầm và biên soạn, Nxb Phượng Hoàng, California, 1998, trang 315-341.
[29] Huy Quang Vũ Đức Vinh, Từ vụ tấn công báo Việt Nam 1946, Nhớ về nhà văn Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, tập 1, do Nguyễn Thạch Kiên sưu tầm và biên soạn, nxb Phượng Hoàng, Cali, 1998, trang 325-336.
[30] Huy Quang Vũ Đức Vinh, sđd, trang 338-341.
[31] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Nhóm nghiên cứu sử địa, Montréal, 1981, trang 93-94.
[32] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Nhóm nghiên cứu sử địa, Montréal, 1981, trang 94-99.
[33] Trần Khánh Triệu, Ba tôi, Văn số 22, trang 18.
[34] Theo Trần Khánh Triệu, Papa nhà báo, in trong Nhất Linh người nghệ sĩ - người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004, trang 170.
Số 80 Quan Thánh
Phần II: Khái Hưng
Từ Cổ Am đến Hà Nội
Nhất Linh không trực tiếp dính líu với cách mạng chống Pháp trước khi thành lập Tự Lực văn đoàn, vì khi ông du học Pháp về cuối năm 1930, Toàn quyền Pierre Pasquier đã dẹp xong cuộc cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Khái Hưng là người ở trong cuộc từ năm 1930.
Ngày mồng một Tết Canh Ngọ (30-1-1930), Trần Khánh Giư bị cảnh sát (mật thám) Pháp đến khám nhà. Ông thuật lại việc này trong truyện ngắn Tây xông nhà, đăng trên báo Việt Nam, số Tết Bính Tuất, 1946:
Viên "quan" Tây đó là Heineshilk - ấy là tôi [Khái Hưng] theo vần đọc mà viết ra, chứ chưa thấy tên hắn in trên giấy bao giờ - theo lời đồn, người gốc Áo, bị án tử hình, trốn sang Pháp, xung lính lê dương (légionnaire), đi Maroc, rồi sang Việt Nam. Đúng chức của y là Chef de police (Cảnh sát trưởng), nhưng y không thích người ta gọi đúng chức vụ, mà thích được gọi là Quan đại (Monsieur le délégué, tức ông đại lý).
Vậy, chín giờ tối ngày mồng một Tết 1930, Trần Khánh Giư, con trưởng quan Tổng đốc Trần Mỹ, bị viên đại lý cảnh sát trưởng đến khám nhà.
"Tối hôm mồng một Tết ấy, giữa lúc chúng tôi đương xum họp vui cười xung quanh bàn bất với gia đình, thì một người lính cảnh sát lên gác nói cho chúng tôi biết có "quan đại" đến". Khánh Giư băn khoăn tự hỏi: "Đến chúc Tết mình chăng?", "Mà hắn đến chơi mình giờ này (9 giờ tối) có lẽ để đôi bên hàng phố khỏi thấy sự tự hạ mình của hắn đi chúc Tết một người Việt Nam". Nhưng không phải. Người lính nói tiếp:
"Thưa ông, quan nói nếu ông không bằng lòng để quan khám ngay tối hôm nay thì sáng mai quan đến sớm cũng được".
À ra thế! Đến để khám nhà! (Nhà con quan Tổng đốc).
"Một lát sau, lão đại lý, trong bộ trào phục đầy kim tuyến, cao lớn, sừng sững hiện ra trước ánh đèn măng xông. Theo sau hắn là viên Tri phủ Ninh Giang với cái bài ngà chức tước vừa tô son lại, lủng lẳng trước ngực. Theo sau viên Tri phủ là viên thông ngôn toà đại lý, cặp mắt hấp háy chớp trong đôi mục kỉnh cận thị. Theo sau viên thông ngôn là hai viên cảnh sát với cái bao súng lục oai nghiêm đeo bên sườn."
Sau vài lời xin lỗi vì đến khám nhà giờ này là trái luật, nhưng vì "lòng tốt" muốn tránh tiếng cho gia đình khỏi bị hàng phố thấy cảnh khám nhà. Đoạn y ra lệnh cho Tri phủ:
"Bây giờ thì chúng ta đi làm bổn phận của chúng ta.
Việc bổn phận của họ là rút hết ngăn kéo ra, mở hết các tủ ra, lục tung hết các sách vở, quần áo, vứt tứ tung ra đầy sàn gác. Khi vớ được mấy tập ảnh của tôi, mắt lão đại lý sáng rực lên sau đôi kính cặp mũi:
- À! Tôi biết rồi, ông là một nghệ sĩ nhiếp ảnh. Hẳn ông có đủ các ảnh kỷ niệm gia đình.
Vừa nói hắn vừa mở vừa chăm chú tìm tòi. Rồi hắn thì thầm hỏi ông Phủ:
- Ông có biết mặt nó không?
- Thưa không.
Lão Đại lý lắc đầu chán nản. Bỗng hắn quay phắt về phiá tôi sừng sộ:
- Ông biết tôi tìm ảnh ai không?
- Không, tôi biết sao được.
- Thôi ông đừng vờ. Ảnh tên C. đâu, ông phải trỏ ngay cho tôi biết, nếu không tôi sẽ có cách.
Tôi thừa hiểu bọn thực dân đương đi lùng kiếm ảnh của C, một nhà cách mạng quan trọng người vùng này. Nhưng tôi cũng hỏi:
- C nào thế, thưa quan đại?
- C nào? Ông muốn biết C nào à? C trưởng ban ám sát của cái đảng mà ông rất quen thuộc. Không những tôi biết ông có ảnh của C, mà tôi còn mới được tin hắn trốn về đây ăn Tết với ông nữa kia. (…)
Từ hôm ấy tôi mới bắt đầu một chương trình khiêu khích của tôi. Tự nhiên tôi trở nên một nhà viết báo để thỉnh thoảng gửi bài đăng chơi trên Annam Nouveau hay Trung Bắc tân văn.
Trong những bài vớ vẩn ấy, tôi không hề đả động tới lão đại, nhưng mỗi lần thân ra nhà Bưu Chính gửi thư, tôi lại vui sướng hóm hỉnh nhìn đùa lão chủ sự để nghĩ thầm: "Thế nào chốc nữa thầy trò chúng mày chẳng mở thư của tao ra xem trước!"
Và cũng từ hôm ấy dân phố Ninh Giang nghiễm nhiên thấy tôi trở nên tay kình địch ghê gớm của "Quan Đại". Cuối năm ấy, tôi bỏ nghề buôn để theo nghề văn" [1]
Màn khám nhà tối mồng một Tết Canh Ngọ (30-1-1930) là màn đầu tiên.
Sang tháng 2, bắt đầu cuộc cách mạng rộng lớn của Việt nam Quốc Dân Đảng mà xã Cổ Am, nằm trong địa hạt ba huyện: Ninh Giang, Vĩnh Bảo và Phụ Dực, giáp giới nhau, có phần đóng góp quan trọng. Ninh Giang và Vĩnh Bảo thuộc tỉnh Hải Dương [2], Phụ Dực thuộc tỉnh Thái Bình. Xã Cổ Am, quê Khái Hưng, thuộc huyện Vĩnh Bảo.
Ngày 10-2-1930, Việt Nam Quốc Dân Đảng phát động Tổng Khởi Nghĩa ở Yên Bái, tấn công Yên Bái, Hưng Hóa, Lâm Thao, Sơn Tây, Đáp Cầu, Phả Lại, Kiến An, ném bom Hà Nội (nhà Arnoux chánh mật thám, Hỏa Lò và sở Cảnh sát).
Ở vùng Thái Bình, Hải Dương, Việt Nam Quốc Dân Đảng chọn hai huyện Phụ Dực, Vĩnh Bảo, có hai tri huyện Trương Trọng Hiền (Phụ Dực) và Hoàng Gia Mô (Vĩnh Bảo) rất tham tàn, bắt nhiều đảng viên Quốc Dân Đảng.
Ngày 15-2-1930, Hòa Quang Huy, Đào Văn Thê và Nguyễn Văn Hộ chỉ huy 40 đồng chí võ trang đánh úp huyện Phụ Dực, tri huyện Trương Trọng Hiền trốn thoát.[3]
Ở Vĩnh Bảo, Trần Quang Diệu (viết đúng chính tả là Riệu) lập mưu cho tri huyện Hoàng Gia Mô chạy sang Ninh Giang cầu cứu và trên đường về, y bị nghĩa quân đón bắt, xử tử.
Báo Chính Nghĩa số 9 (29-7-46) có bài Trần Quang Riệu, ký tên T, nhưng chắc chắn là Khái Hưng, vì lúc đó hầu như chỉ còn mình Khái Hưng viết, tường thuật chi tiết cuộc nổi dậy ở Vĩnh Bảo và giải thích tội ác của gia đình họ Hoàng:
"Vĩnh Bảo khi ấy ở dưới quyền viên tri huyện Hoàng Gia Mô, con Hoàng Mạnh Trí, cháu Hoàng Cao Khải, dòng dõi một gia đình đã nổi tiếng với ngoại bang là gia nô, tẩu cẩu [chó săn] của người Pháp. (…) Trong một bài thơ mừng thọ hắn của báo Nam Phong, cũng không lấy gì khen hắn được ngoài câu "Pháp, Nam hai nước, một công thần!" Than ôi! Một người có thể nào vừa là công thần của nước Pháp, lại vừa là công thần của nước Nam?"
Người ta tưởng công to của Hoàng Cao Khải là giúp Pháp dẹp cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, đánh Đề Thám. Không. Không phải. Không có Hoàng Cao Khải, Pháp vẫn thắng cuộc. Cái công to của họ Hoàng là ở chỗ khác, Khái Hưng viết tiếp:
"Hắn có công với người Pháp là để cho người Pháp tha hồ xuyên tạc, tha hồ thực hành sai hiệp định 1884 ở Bắc kỳ. Bỏ phủ Kinh lược, dồn cả quyền bính viên Kinh lược vào cho viên Thống sứ Bắc kỳ; để các công sứ Pháp cướp hết quyền các quan tỉnh Việt Nam, trước còn nguyên trong việc hành chính, sau lấn sang cả quyền Tư pháp; cắt đứt hẳn Bắc Kỳ, Trung kỳ ra thành hai nước nhỏ, chịu mỗi bên một chính thể một luật pháp, nói tóm lại, làm cho Bắc kỳ thuộc thẩm quyền trực trị của Pháp, đó mới là cái công to của hắn đối với người Pháp. Và chỉ có những việc ấy, hắn mới xứng đáng được cái tên "mãi quốc cầu vinh" mà thôi!
Theo cái gia giáo của những ông cha ấy, tự nhiên Hoàng Gia Mô cũng là một tay thần tử rất trung thành của "Mẫu quốc" và rất tận tâm lùng bắt các tay cách mạng ở trong hạt Vĩnh Bảo. Trừ những người hắn đã nộp đi không kể, nguyên hôm huyện vỡ, anh em còn gỡ ra ở trong khám giam huyện hơn hai chục người!"
Những lời kể tội trên đây đều đúng với sự thực lịch sử: Khi Toàn quyền Paul Doumer sang Đông Dương (1897), đã xóa bỏ những điều Pháp ký trong hòa ước Giáp Thân (1884) chủ yếu Việt Nam chỉ nhận sự bảo hộ của Pháp. Y bỏ chức Kinh Lược sứ, vị quan coi toàn cõi Bắc kỳ của triều đình để thay thế bằng chức Thống sứ (Résident Supérieur) của Pháp. Và ở mỗi tỉnh, y đặt một viên Công sứ (Résident) để cai trị trực tiếp: Tống đốc, Tuần phủ đều ở dưới quyền Công sứ. Y biến đối chế độ bảo hộ, thành chế độ thuộc địa trên toàn thể nước ta (chúng tôi sẽ nói rõ hơn trong chương Ngày Nay tranh đấu)Hoàng Cao Khải là viên Kinh lược sứ cuối cùng đã tận tụy giúp Paul Doumer thi hành chính sách phản trắc này.
Trần Quang Riệu, con một nhà gia thế ở Cổ Am, đến buôn bán ở phố huyện Vĩnh Bảo, "kết thân" với quan huyện. Bề ngoài tay bắt mặt mừng, "nhưng trong trí anh vẫn coi nó là loài cẩu trệ! Nhất là khi thấy các bạn đồng chí cứ lần lượt bị nó bắt bớ, tra tấn một cách rất dã manlòng anh căm giận lắm, chỉ mong có một ngày sẽ băm thây, xẻ xác nó ra để báo thù!
Thì cái ngày ấy đã đến nơi: Đảng viên đâu đấy đã nhận được lệnh Tổng Công Kích, anh cùng các đồng chí còn sót lại trong hạt, liền họp nhau để bàn việc đánh Vĩnh Bảo".
Trần Quang Riệu báo cho Hoàng Gia Mô biết có 200 quân cách mạng sẽ tấn công Vĩnh Bảo, và bày kế cho y: quân ở đây quá ít, Quan lớn nên sang cầu cứu bên đồn Ninh Giang. Mô nghe lời, vừa lên ô tô đi khỏi, thì Riệu và các đồng chí chiếm huyện, bắc loa diễn thuyết dụ lính huyện ra hàng, kéo cờ đảng lên. Mô sang Ninh Giang, nhưng viên quan hai coi đồn từ chối [4] viên binh, Mô quay trở về Vĩnh Bảo, bị quân cách mạng phục kích bắt được, xử tử. Nhưng Quốc Dân Đảng chỉ giữ được Vĩnh Bảo hơn một ngày.[5]
Ngày 16-2-1930, Pháp trả thù, ném 57 trái bom xuống Cổ Am [6].
Quân cách mạng ở các nơi khác cũng dần dần bị tiêu diệt.
Ngày 20-2-1930, Nguyễn Thái Học bị bắt ớ Ấp Cổ Vịt (Bắc Ninh)[7].
Ngày 17-6-1930, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí bị chém đầu ở Yên Bái.
Trần Quang Riệu bị bắt ở Thái Nguyên tháng 5-1930, bị chém cùng với ba đồng chí tại Hải Dương, ngày 23-6-1931 [8].
Cuối năm 1930, Khái Hưng lên Hà Nội. Tháng 6 năm 1932, Khái Hưng cùng Nguyễn Gia Trí chủ trương báo Phong Hóa, với sự trợ giúp của Nguyễn Xuân Mai, Phạm Hữu Ninh.
15 năm sau, Khái Hưng viết bài đầu tiên trên báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới số 2 (12-5-45), tựa đề: Bọn thực dân Pháp vô nhân đạo đã diễn một tấn thảm kịch trên sân khấu Cổ Am.
16 năm sau, Khái Hưng viết bài Tây xông nhà, trên báo Việt Nam, số Tết Bính Tuất 1946, và bài Trần Quang Riệu trên báo Chính Nghĩa số 9 (29-7-46).
Dưới đây là toàn bài đã đăng trên báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới.
Bọn thực dân Pháp vô nhân đạo đã diễn một tấn thảm kịch trên sân khấu Cổ Am
Màn thứ nhất
Sau khi được tin Trần Quang Diệu, một đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng đã cùng với chi bộ trưởng Đào Văn Thê chiếm hai huyện Phụ Dực, Vĩnh Bảo và hành hình Hoàng Gia Mô, tay sai trung thành của bọn thực dân Pháp, thì Robin bèn thương lượng với Delsalle [Đốc lý Hà Nội] và một vị Nam quan cao chức nhất rồi cho một đoàn phi cơ đến oanh tạc làng Cổ Am, nguyên quán của hai nhà cách mệnh kể trên. Đoàn phi cơ vượt qua làng, ra tận biển, rồi quay lại nhả bom, nhả bừa như gieo mạ, từ cuối làng cho tới đầu làng. Riêng một nhà kẻ viết bài này, đã có hân hạnh nhận được năm quả… tịt và một quả nổ, nhưng may mắn rơi vào khu vườn xa nhà và chỉ đánh chẻ vài cây cau cỗi. Còn một nhà khác nhận được có một quả, nhưng thiệt gần hai chục mạng, nghĩa là bao nhiêu người dự lễ cúng kỵ ở nhà ấy đều bị giết sạch.
Nào đã hết đâu! Đoàn phi cơ còn trở lại một lần nữa để nã liên thanh xuống bọn dân quê vô tội hỗn độn chạy trốn.
Màn thứ hai
Sau công cuộc tán phá của phi binh, đến lượt đàn áp của bộ binh, chở bằng một đoàn xe vận tải xung công (trong đó có cả xe của kẻ viết bài này). Chúng vây kín làng, nã súng liên thanh, bắn mấy phát ra oai. Một vị hưu quan trong làng phải mang cờ trắng (làm bằng cái khăn bàn) ra xin điều đình. Viên quan tư chỉ huy đạo lục quân liền vào trong đình làng và hống hách tuyên bố: "Đình này từ nay là nhà tao, vì tên thành hoàng không giữ nổi việc trị an, đã bị tao tống cổ đi rồi!" Và hắn cười thích chí.
Màn thứ ba
Ngày hôm sau, chúng thi hành công cuộc triệt hạ: đốt nhà Đào Văn Thê; đốt nhà Trần Quang Diệu và nhà thân sinh anh đã khuất ông tú Cư, đốt nhà các đảng viên khác; chặt trụi hết các lũy tre chung quanh làng, bắt bớ, đòi hỏi, tra tấn, ăn hội lộ: chính tôi cũng bị gọi ra tòa đại lý Ninh Giang và bị dí súng vào mặt nạt dọa. Trong khi ấy thì hàng trăm lính đóng ở làng Cổ Am hạch sách dân gian đủ thứ. Quỹ làng không đủ để cung đốn bò, lợn, gạo, củi cho chúng, làng phải cầm cố vay mượn và số tiền nợ hiện nay vẫn chưa giả hết.
Màn thứ tư
Delsalle và một bọn võ quan Pháp về làng. Không phải họ về để uỷ lạo hay xem tình hình dân đâu. Họ chỉ về để điều tra sức tàn phá của những trái bom đã nổ, và nguyên nhân sự hư hỏng của những trái bom tịt. Họ cười ha hả, nói bông lơn trong khi ngắm nghía các bức tường đổ, những thân cây bị phạt ngang. Họ bắt mò những trái bom ở dưới ao lên. Còn những nhà có người vô tội bị họ giết thì không những không được họ thí cho một lời an ủi, mà còn bị họ chửi thêm cho là khác: "Chúng nó chết là đáng đời! Vì cả làng chúng mày là giặc! Đáng lẽ các quan giết tuốt mới phải!"
Màn thứ năm
Mấy tuần lễ sau, vì không bắt được Trần Quang Diệu, bọn thực dân Pháp sai viên huyện Vĩnh Bảo Cung Đình Vận về làng đào mả ông tú Cư, thu cốt bỏ vào cái tiểu sành, rồi trói đem về giam tại huyện lỵ.
Màn tối hậu
Năm 1940, phi cơ Đức dội bom xuống nước Pháp, nã súng liên thanh xuống quân đội Pháp hèn nhát chạy toán loạn như đàn vịt!
Thực là ác giả ác báo!"
Khái Hưng
Như thế, Khái Hưng không phải là người ngoại cuộc, không để ý đến chính trị, hoặc chỉ làm cách mạng vì đi theo Nhất Linh, như ta tưởng. Mà ông còn có một ý chí quyết liệt của người "trong cuộc" đã chứng kiến cuộc nổi dậy ở Vĩnh Bảo cùng việc trả thù đẫm máu của thực dân ngay sau đó trên nền đất Cổ Am. Lời văn trong đoạn Màn tối hậu, nói lên sự căm thù cực điểm có ý nguyền rủa mà chúng ta không thấy trong văn bình thường của Khái Hưng, nhưng đồng thời đưa đến ý nghĩ: có ác giả ác báo thật chăng? Bởi vì Pierre Pasquier bị tử nạn máy bay ngày 15-1-1934, tại Pháp, khi còn tại chức Toàn quyền Đông Dương.
Trần Khánh Triệu viết về Khái Hưng và số 80 Quan Thánh
Kể từ năm 2015, tôi đã tích lũy tư liệu để viết về Tự Lực Văn Đoàn. Năm 2017, tôi điện thoại hỏi ông Trần Khánh Triệu: "Anh còn nhớ năm nào anh về làm con nuôi ông bà Khái Hưng không?" Ông không nhớ. Sự "không nhớ" chứng tỏ việc này xảy ra khi ông còn rất nhỏ. Tôi lại hỏi: "Anh có biết trước khi dọn đến 80 Quan Thánh, Khái Hưng ở đâu không?" Ông cũng không nhớ. Năm ấy ông đã 85 tuổi.
Khi đọc lại bài Ba tôi, ông viết năm 1964, thì tôi biết, trước khi ở 80 Quan Thanh, Khái Hưng đã ở đường Quần Ngựa.
Nhưng sau đó ông Triệu vui vẻ nói về nhà Quan Thánh, ông bảo: nhà đó ba tôi thuê của một bà đầm có 5 hay 10 đồng một tháng! Năm 2020, qua điện thoại, anh Nguyễn Tường Thiết cũng kể là ông Triệu nói như thế. Tôi phân vân, không biết ông Triệu có nhớ lầm hay không, vì một biệt thự lớn như vậy, ở thời ấy, giá thuê phải trên 50 đồng. Hoặc Trần Khánh Triệu nhớ lầm, hoặc Khái Hưng nói đùa với con, nhưng cậu bé Triệu tưởng thật.
Trần Khánh Triệu tức Nguyễn Tường Triệu, con trai Nhất Linh, sinh ngày 15-11-1932, lúc Phong Hóa đã ra tới số 21 (11-11-1932), và phải đến số 124 (16-11-1934), Phong Hóa mới dọn về địa chỉ 80 Quan Thánh.
Nếu Nguyễn Tường Triệu về với cha mẹ nuôi khi có nhà mới, thì lúc đó, bé Triệu mới khoảng hai tuổi, hoặc sau đó ít lâu. Triệu là con trai thứ hai của Nhất Linh. Người con thứ ba là Nguyễn Tường Thạch, sinh ngày 6-10-1935. Vậy sự "cho" này có ý "kết nghĩa vườn đào" và phải đến từ một niềm tin yêu vô bờ từ hai phía. Trần Khánh Triệu viết: "Cả một thời niên thiếu của tôi, tôi được cha mẹ nuôi của tôi mà tôi thưa là papa và me, cưu mang lo lắng tận tụy còn hơn là con đẻ nữa" [9].
Và Trần Khánh Triệu cũng là người ghi lại nhiều thông tin nhất về Khái Hưng, qua những bài viết sau đây:
- Ba tôi (ít kỷ niệm với Khái Hưng) [10], viết sớm nhất, năm 1954, ông 22 tuổi, chắc hẳn có những điều sống động vì là ký ức gần, rất tiếc chúng tôi chưa tìm lại được văn bản này.
- Ba tôi [11], viết năm 1964, ông 32 tuổi, tuy phải viết nhanh trong 48 tiếng đồng hồ để kịp lên báo Văn, nhưng có nhiều chi tiết đáng quý về những ngày Khái Hưng bị bắt đưa đi mất tích.
- Papa tòa báo [12], viết ở hải ngoại, năm 1997, ông 65 tuổi, bổ sung cho bài Ba tôi, toàn diện hơn, viết về Khái Hưng từ khi làm báo đến khi bị Việt Minh bắt.
Papa tòa báo viết năm 2013, ở tuổi 81, tóm tắt một số ý đã viết trong hai bài trên, một phần được đọc trong cuộc hội thảo ngày 6-7-2013 về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn do Phạm Phú Minh tổ chức tại California và in lại trong Kỷ yếu của hội thảo.
Tóm lại, hai bài Ba tôi (báo Văn) và Papa tòa báo (Thế Kỷ 21) bổ sung cho nhau. Đây là hai tài liệu chính xác nhất về Khái Hưng mà chúng tôi có được.
Gia cảnh Khái Hưng
Khi cha mất, Khái Hưng đứng tên đăng cáo phó trên báo Phong Hóa số 91 (30-3-34), ghi như sau: "Cụ Trần Mỹ Tổng đốc trí sĩ, hưởng thọ 72 tuổi, mệnh chung ngày 10 tháng 2 (tức ngày 24-3-1934) tại làng Cổ Am…", dưới đề: Cô tử Trần Khánh Giư, đồng gia, khấp báo.
Báo Phong Hóa in lời chia buồn với bốn người con trai: Trần Khánh Giư, Trần Tự [công chức], Trần Tiêu [nhà văn], Trần Hiệt và tang gia.
Trần Khánh Triệu nhớ lại về đại gia đình Khái Hưng:
"Tôi còn được biết thêm ông nội xưa làm Tuần phủ Thái Bình có những năm bà tất cả, nên lúc mất đi con cháu đông đảo lắm. Bà nội tôi là cả sinh được bốn người con, trước hết là bác Trần Xuân làm Thương tá nhưng chẳng may mất sớm, rồi đến papa, kế đó là chú Trần Tiêu và cuối cùng là cô Ngọc. Riêng bà thứ năm chỉ sinh được một cô con gái được ông nội tôi quý nhất cho rất nhiều nhà cửa của cải ở Ninh Giang, Hà Nội. Bà tôi tuy là cả nhưng lành lắm, không ham thích những nơi quan quyền chỉ an nhàn sống nơi quê làng nên ai cũng mến thương[13].
Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, sinh năm 1896 tại xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Học chữ nho với thầy đồ đến 10 tuổi, sau mới chuyển sang Tây học. Học trường Albert Sarraut, đậu tú tài triết học. Sau đó ông buôn sơn. Không biết vì việc buôn sơn bị lỗ hay vì áp lực của Pháp lên Quốc Dân Đảng sau vụ Cổ Am, mà cuối năm 1930, Khái Hưng lên Hà Nội, dạy trường tư thục Thăng Long và gặp Nhất Linh.
Thủa nhỏ, Khái Hưng bị mẹ ghẻ hành hạ tàn tệ, Trần Khánh Triệu viết:
"Sinh trưởng trong một gia đình quan lại nhưng ngay từ tấm bé, theo lời me tôi thuật lại, ba tôi đã phải chịu cảnh hành hạ của bà dì ghẻ khắc nghiệt. Trời lạnh như cắt ruột vẫn bị người nhà lôi ra sân bôi xà phòng đen, lấy bàn chải xát đến bật máu tươi để trừ ghẻ. Phải chăng vì phải chịu đựng hoàn cảnh ấy ba tôi đã có những kinh nghiệm sống để viết nên hai cuốn Thoát ly và Thừa tự. Cũng như theo lời me tôi, hồi bé, mỗi khi uất ức đau buồn chuyện gia đình, ba tôi lại vào chùa niệm Phật tụng kinh cứu khổ"[14].
Khái Hưng có nghiện thuốc phiện không?
"Nhiều người thấy ba tôi gầy yếu (nặng khoảng 46 cân) lại là nhà văn nên vội cho là nghiện hút. Điều đó tuyệt nhiên không có. Ba tôi không hề cho rằng vì mình là nhà văn nên được quyền sống phóng đãng (…) Ba tôi chỉ nghiện độc có thuốc lá, hồi nào nhà dư giả thì Mélia vàng, ít tiền thì hút píp. Khi nào cần thức khuya viết bài thì cà phê hay chè tàu nhưng phải là loại hảo hạng.
Mỗi nhà văn thường có những thói quen khi sáng tác, ba tôi cũng vậy. Viết bài phải viết vào lúc sáng sớm hay đợi lúc về khuya. Ngồi ung dung trên chiếc ghế mây, trời lạnh xếp bằng luôn trên ghế ba tôi ngâm nga vài câu chèo cổ hay trống quân, điếu thuốc ngậm trên môi thỉnh thoảng lại thả khói tròn lên trần. Bút máy thường là loại Waterman ngòi vàng viết lên giấy pelure dầy, khi nào ngừng lại nghĩ ngợi, ba tôi lại có thói quen vẽ những hình xoáy ốc hay những chữ S kế tiếp dính liền nhau" [15]
Khái Hưng gầy yếu và môi thâm nên người ta suy ra là ông nghiện thuốc phiện, trong số đó có cả Nguyễn Vỹ. Sự thực, ông bị bệnh tim và ông ghi lại việc này trong truyện dài Xiềng xích. Có lẽ đó là lý do khiến khi bị bắt, Pháp không (dám) tra tấn ông như đối với Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí và ở trại giam Vụ Bản ông được làm việc nhẹ hơn Nguyễn Gia Trí và Hoàng Đạo.
Bà Khái Hưng Lê Thị Hòa bút hiệu Nhã Khanh
Trần Khánh Triệu cho biết gia cảnh bà Khái Hưng, và nhờ đó, ta có thể hiểu tại sao Khái Hưng có phương tiện để chuyên về viết văn, làm báo:
"Chính nhờ me tôi mà ba tôi mới khỏi lo nghĩ về sinh kế để có thể sáng tác nhiều văn phẩm như vậy. Me tôi tên thật là Lê Thị Hòa, biệt hiệu Nhã Khanh, con của một vị Thượng thư [Lê Văn Đính] đậu cử nhân triều Nguyễn. Gia đình bên ngoại tôi rất khá giả, cho riêng me tôi tới hơn năm mươi mẫu ruộng miền Quế Phương, Chợ Cồn. Nhờ tiền thóc thu được hàng năm nên việc chi tiêu trong gia đình cũng đỡ rất nhiều. Me tôi lại khéo thu vén buôn bán nên mặc dù số lương viết báo hồi đó có 30 đồng một tháng ba tôi cũng không cần lấy phần nào hoa lợi bên nội, dù ba tôi có quyền hưởng.
Me tôi chữ nho viết rất đẹp, tình tình đoan trang, ít nói hiểu rộng về Hán học. Cứ đến đoạn nào viết về các bà, ba tôi bao giờ cũng hỏi ý kiến me tôi rất cẩn thận. (…)
Sau khi ba tôi bị bắt, me tôi vẫn sống với một hy vọng mong manh ngày kia ba tôi sẽ trở về. Kịp đến khi Việt Minh tiếp thu Nam Định, biết chắc chắn ngày về của người chồng không hề có nữa, me tôi bị bịnh tim nặng, từ trần vào năm 1954" [16].
Nhã Khanh có bài: Tâm lý đàn bà in trên Phong Hóa số 35 (24-2-33) chỉ trích Lê Đàm không hiểu chữ nho mà học đòi biết chữ. Và vở kịch vui, Kiêng, in trên Phong Hóa số Xuân 171 (21-1-36).
Khái Hưng và dự định ra báo Thời Phong
Trần Khánh Triệu viết:
"Còn một chuyện chắc ít người được biết là trong thời kỳ đó ngoài việc hoạt động cho đảng ba tôi dự tính mở tờ Thời Phong, một tờ báo hoàn toàn có tính cách văn nghệ, cùng với một đồng chí trẻ tuổi - anh Bảng (người phụ trách mục "Chuyện lẩn thẩn" trong tờ Việt Nam ký tên Chàng Lẩn Thẩn - sau này khi chiến tranh bùng nổ, anh bị bắt ở Bắc Ninh). Dù trong một thời gian tình hình gay go đến như vậy ba tôi vẫn cùng anh Bảng say sưa hoạch định tương lai cho tờ báo. Hai người mướn một tòa nhà ở phố Thái Phiên (Chợ Hôm) mời cụ Phan Khôi, ông Tô Ngọc Vân lại bàn soạn. Qua câu chuyện của những người lớn đó (lẽ tất nhiên tôi chỉ được nghe lỏm) thì tờ báo sẽ ra mắt độc giả vào khoảng tháng Giêng, 1947. Tiếc thay dự tính ấy chẳng bao giờ thành được.[17]
Nhờ Trần Khánh Triệu mà ta biết: Chàng Lẩn Thẩn là "anh Bảng", một người trẻ tuổi, không phải Khái Hưng, đã viết những bài trên Việt Nam. Trong khi hầu hết các tác giả khác đều "cho" rằng Chàng Lẩn Thẩn là Khái Hưng. Và có lẽ Việt Minh cũng biết Chàng Lẩn Thẩn là anh Bảng, cho nên anh mới bị bắt ở Bắc Ninh.
Trần Khánh Triệu còn cho biết anh Bảng đã cùng Khái Hưng, mướn một căn nhà ở phố Thái Phiên (chợ Hôm) mời Phan Khôi và Tô Ngọc Vân lại để bàn việc ra tờ Thời Phong vào tháng Giêng năm 1947. Việc này phù hợp với lời quảng cáo báo Thời Phong, in trên Chính Nghĩa số 28 (16-12-46).
Khái Hưng đóng cửa Việt Nam và Chính Nghĩa, chủ trương hòa giải
Báo Chính Nghĩa số 25 (25-11-46) là số báo cuối cùng còn đăng quảng cáo: "Nên đọc báo Việt Nam, cơ quan của Việt Nam Quốc Dân Đảng".
Báo Chính Nghĩa số 27 (9-12-46), có bài xã luận Toàn dân nhất trí. (Bị sắp chữ lầm là Quân dân nhất trí) của Chàng Lẩn Thẩn, nói rõ chủ trương muốn giành lại độc lập, thì toàn dân phải nhất trí:
"Từ trước đến sau chúng tôi chỉ một lòng mong mỏi ở nền độc lập hoàn toàn cho tổ quốc, chúng tôi không được rõ thái độ của chính phủ, chúng tôi công kích chỉ để làm cho lòng dân hăng hái và luôn luôn nghĩ đến tổ quốc. Ngày Nay trong giai đoạn nghiêm trọng, chính phủ và toàn dân đều nhất trí trên con đường tranh đấu, đó là nguyện vọng của chúng tôi, và chúng tôi không còn mong ước điều gì hơn. Vì vậy, tờ báo Việt Nam đã đạt được mục đích của nó là "làm cho hành động của chính phủ hợp với ý muốn của toàn dân" mục đích đã đạt được thì sự đình bản của nó rất là hợp lý." Chính Nghĩa số 27 (9-12-46).
Đó là lý do Khái Hưng cho đình bản tờ Việt Nam và liền sau đó ông ngừng tờ Chính Nghĩa.

Báo Chính Nghĩa số 28 (16-12-46), số chót, quảng cáo: "Thời Phong, tuần báo, văn chương, mỹ thuật, xã hội và không chính trị sẽ ra mắt Quốc dân vào đầu năm 1947", ba chữ "không chính trị" in đậm và trang báo kế tiếp quảng cáo cho Nhà in và nhà xuất bản Quan Thánh, 80 đường Quan Thánh.
Như vậy, Khái Hưng đã sắp đặt rõ ràng: Báo Thời Phong sẽ ở địa chỉ Thái Phiên và số 80 Quan Thánh trở thành nhà in và nhà xuất bản.
Quảng cáo Báo Thời Phong và Nhà xuất bản 
Quan Thánh, trên báo Chính Nghĩa số 28.
Về việc Khái Hưng chủ trương báo Thời Phong, Hồ Hữu Tường viết:
"Mười tám năm qua, Khái Hưng từ giã cõi đời, để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ. Một đôi người biết những việc mà Khái Hưng và tôi trù liệu vào những tháng chót của năm lịch sử, 1946, càng tiếc hơn nữa. Phỏng cho Khái Hưng còn sống mười năm nữa thôi, thì tờ báo văn nghệ Thời Phong, lúc ấy vừa kết thai, sẽ viết những trang gì trong lịch sử văn chương ở nước này? Rồi họ giục tôi nhắc lại khoảng đời đó của Khái Hưng. Để cho những tài hoa hậu sinh nào thích thú thì dẫm bước theo con đường mà tác giả Hồn bướm mơ tiên toan dấn thân vào (…)
"Khái Hưng già hơn tôi song say mê, hăng hái, kiên quyết hơn tôi nhiều. Sau khi đình bản tờ Việt Nam; anh chạy vốn, mướn nhà, mua giấy… để cho ra một tuần báo văn nghệ hầu đề cao cái "văn chương sáng giá". Chúng tôi đồng ý chọn tên là "Thời Phong".
Thời phong có nghĩa là gió mùa, gió mùa ngự trị cả Á châu, là nơi chôn rau cắt rún của các tôn giáo lớn. Thời phong có nghĩa là cái chỉ hướng gió. Hiểu một cách khinh miệt thì nghĩa bóng của tiếng ấy dùng để chỉ bọn luôn luôn hướng theo thời cuộc. Còn hiểu một cách đề cao, thì đó là một dụng cụ giúp cho người vượt biển biết hướng gió mà giương buồm cho đúng phép.
Mười tám năm qua. Khái Hưng không còn. Chỉ còn cái sự nghiệp khi là đồng trụ của nhóm Tự Lực Văn Đoàn." [18]
Những lời trên đây của Hồ Hữu Tường giúp ta hiểu rõ thêm: Khái Hưng, khi đã quyết định đoạn tuyệt với chính trị để trở về với văn nghệ, ông mở rộng địa bàn tư tưởng, ngoài những người bạn đồng hành như Phan Khôi, Tô Ngọc Vân, ông còn kết hợp với những nhà văn không cùng lập trường trước đây như Hồ Hữu Tường, lý thuyết gia của nhóm Đệ Tứ, nhưng đã bỏ Đệ Tứ năm 1939.
Khái Hưng chủ trương hòa giải ngay từ những số Chính Nghĩa đầu tiên, ông viết hài kịch Đoàn kết, in từ Chính Nghĩa số 2 (27-5-46) đến số 8 (8-7-46), nói lên tình trạng hài hước của một gia đình ở Hà Nội, trong cuộc đảng tranh: anh em một nhà chia hai phe, coi nhau như quân thù, gọi nhau là Việt gian. Trên Chính Nghĩa số 9 (29-7-46), in tác phẩm Dưới ánh trăng, bi kịch giữa hai thanh niên, một Quốc Dân Quân, một Vệ Quốc Quân, gặp nhau và hiểu nhau quá muộn trên chiến trường trước khi chết.
Và trên những số Chính Nghĩa cuối cùng, ông cho in vở bi kịch Tiếng tiêu ai oán, tác phẩm giá trị cuối cùng của Khái Hưng viết về Ngũ Tử Tư: vì can trường thực hiện lý tưởng cao đẹp báo thù cha, được vinh danh muôn thủa, y đã trở thành con người vô nhân, phản quốc.
80 Quan Thánh, những ngày vui
Trần Khánh Triệu viết:
"Căn nhà 80 Quan Thánh mà tôi đã sống cùng cha mẹ nuôi tôi cả một thời thơ ấu với bao buồn vui kỷ niệm. Nơi đây, cha nuôi tôi, nhà văn Khái Hưng đã sống, đã viết bao nhiêu tác phẩm để đời, trong khoảng thời gian 1934, 1935, tới năm 1946. Nghĩa là cách đây đã hơn 50 năm rồi!
Tòa báo có hai mặt, mặt chính trông ra phố Quan Thánh, hồi trước 45 có cái tên Tây là Avenue du Grand Bouddha, mặt kia số 55 quay về phía Hàng Bún tức Rue des Vermicelles, nhà này nguyên của một bà đầm cho papa tôi thuê (ấy theo thói quen tôi vẫn thưa với cha nuôi tôi là papa hay rõ hơn "papa tòa báo" để phân biệt với cha đẻ tôi - ông cụ ở Hàng Bè nên tôi vẫn dùng những chữ "cậu Hàng Bè" cho tiện).
Mặt trông ra phía Quan Thánh bước vào là một cái cổng nhỏ, hàng rào thấp, có cây leo rậm rạp quanh năm. Mặt phía Hàng Bún cổng sát hai cánh rộng hơn, xe ô tô đi lọt, vườn hoa bao bọc xanh tốt bốn mùa. Những luống hồng nhung mọc giữa dãy cỏ tóc tiên mượt mà, vài cây phượng trổ hoa đỏ rực, cây lá móng ngựa hoa mầu lam dịu, lại có cả một bụi tre già cao chót vót, những ngày gió mạnh lá cọ vào nhau nghe cọt kẹt. Dưới vòm tre xanh tốt, một bàn ping pong được kê ngay ngắn, lâu lâu papa lại đưa bạn bè xuống đánh vài ván, tiếng bóng nhựa nhảy trên bàn ròn rã. Những buổi trưa hè oi ả, sau bữa ăn trưa papa thường nằm trên ghế xích đu hút píp, me ngồi thêu áo kế bên, tôi thì khoái nhất được leo lên cây ngâu già gần đó, thò tay chộp đuôi con mèo xiêm đang nằm lim dim suy tư nghiền ngẫm trên cành. Từ vườn bước lên năm sáu bậc thềm vào nhà, hàng hiên trước khá rộng… phòng lớn đặt máy in cùng chỗ sắp chữ, phòng bên phải nhỏ hơn nơi làm việc của ban trị sự tờ Ngày Nay, nhà xuất bản Đời Nay và sau này là tờ Việt Nam cơ quan tranh đấu của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Đi lên gác, hàng hiên lát gạch men tầu ngăn chia bên này là dẫy buồng kho nhà tắm… bên kia phòng lớn quét vôi màu xanh lơ thoáng mát. Phòng bên trái trông ra bụi tre được ngăn đôi: buồng ăn và buồng ngủ của riêng gia đình tôi. Phòng giữa nơi làm việc của papa và tòa soạn kê hai bàn lớn đầu vào nhau, đầu bàn được khắc dấu hiệu Tự Lực Văn Đoàn, trên tường treo mấy bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh của họa sĩ Trần Bình Lộc và Nguyễn Gia Trí
Phía bên phải là phòng khách kê một bộ salon nhỏ, một bàn làm việc, còn cái tủ sách lớn sát tường thì xếp toàn sách quí của nhà xuất bản Đời Nay, bìa da chữ mạ vàng óng ánh[19].
Không khí làm việc trong tòa soạn
Trần Khánh Triệu kể tiếp: Sau khi uống cà phê, đọc sách chữ Hán, chơi ô chữ và ăn sáng, thường là cháo hoa với đường cát vàng hoặc cơm nắm muối vừng… "Rồi khi mặt trời đã lên cao, ánh nắng chiếu vào nhà, papa đứng lên vươn vai sang phòng làm việc. Trong cái không khí vắng lặng êm ả, papa say sưa viết trên những trang giấy trắng rời không kẻ hàng bằng cây bút máy Waterman ngòi vàng mềm mại, nét chữ đứng ngay ngắn rõ ràng. Có lúc viết xong một đoạn bỗng ngừng lại, papa nhăn mặt nhìn lên trần, tay gõ nhịp lên bàn, sau đó thế nào trên giấy cũng có thêm những hình loằng ngoằng như xoắn ốc kéo dài ra mãi. Đôi khi con mèo xiêm lách cửa đi vào nhảy tót lên bàn nằm chình ình một đống, tự nhiên như không… papa lấy tay khẽ vuốt ve, nưng niu con vật, miệng se sẽ hát câu chèo quen thuộc "Đất ngài đây… thanh lịch…đất có hữu tình…"
Chiều và tối thì phòng giữa nhộn nhịp hẳn lên, khói thuốc tỏa lan khắp nơi. Bác Thế Lữ lúc nào cũng ngồi đối diện với papa, người hao hao gầy, đôi mắt sắc sảo, dáng điệu trông lúc nào cũng đầy vẻ bí mật (…) Sợ nhất là có lần bác mang về một cái sọ người, không biết thật hay giả, đặt ngay trên thành lò sưởi, nhe răng cười với hai mắt sâu thăm thẳm ghê hồn! Chú Hoàng Đạo và "cậu Hàng Bè" của tôi thì làm việc bên phòng khách có khi tới khuya cũng chưa ra về. Hai người lúc nghỉ ngơi thường bầy cờ ra đánh, mỗi lấn chiếu tướng chú lại đập mạnh quân cờ cười ha hả. Papa lâu lâu cũng tới góp nước, hoặc mở đàn tam thập lục dạo một bản, tiếng trong trẻo rộn ràng.
Những ngày tòa soạn làm việc như vậy tôi thích nhất được xem chú Gia Trí vẽ tranh. Chấm mực đen chú vẽ Lý Toét rất gọn, rất ngon lành, hình Xã Xệ chỉ đưa vài nét là xong, bao giờ cái tóc xoắn như lò xo của ông Xã cũng được vẽ sau chót. Có một dạo bác Tô Ngọc Vân thay thế chú Trí. Hình như bác mới ở bên Xiêm về, bác vừa vẽ vừa kể cho tôi nghe nhiều chuyện bên đó. Đôi khi bác còn cho tôi vài viên kẹo gôm tẩm đường nhưng kẹo không ngon và nhiều như loại Toffee chú Trí vẫn cho, bởi vậy hồi đó tôi thấy bác vẽ Lý Toét Xã Xệ sao không được đẹp bằng chú Trí của tôi!
Thỉnh thoảng bác Tú Mỡ từ Láng cỡi bình bịch tới tòa báo thăm anh em, người gầy nhưng tiếng cười rộn rã đi tới đâu cũng nhộn nhịp tới đó (…) Ngược hẳn với bác Tú Mỡ, chú Thạch Lam của tôi đi tới đâu cũng yên lặng như một cái bóng, chú thường mặc áo dài the thâm, dáng người điềm đạm, ánh mắt sâu thăm thẳm. Chú Huy Cận thì thân với tôi hơn, còn nhớ có lần ở Trung ra chú cho tôi một củ khoai to tướng, gấp ba bốn lần củ khoai thường. Tôi thích quá, nhất định không ăn để dành mãi dưới gầm giường. Sau đó ít lâu, papa với vẻ trang trọng đưa cho tôi tập Lửa Thiêng và nói chú có tặng tôi một bài thơ trong đó, tôi lật trang giấy rồi lẩm bẩm đánh vần:
TỰU TRƯỜNG
Tặng em Triệu" [20]
Thế Lữ trong bài Phóng bút của Lê Ta mô tả không khí tòa báo như sau:
"Nhị Linh [Khái Hưng] với ông chủ nhiệm [Nhất Linh] là hai người rất ăn ý nhau, nhưng trái lại, lại hay cãi nhau nhất. Chúng tôi thường vẫn được chứng kiến những cuộc tranh biện rất kịch liệt của hai người. Vì một bức tranh khôi hài, vì một bài gửi đến, vì một việc xẩy ra trong làng báo hay vì điều phán đoán các đức tính của mấy thứ rượu sâm banh, hai ông bỗng thành ra hai phái tương phản cực đoan, cần phải có cái khôn khéo của Nhị Linh mới hòa giải được.
Khái Hưng là một người trông không được khỏe mạnh béo tốt lắm - nói thế để khỏi nói rằng anh hơi gầy. Anh làm việc rất chóng và rất nhiều, vì trong người lúc nào cũng sôi nổi những đầu đề và ý tưởng. Trong lúc yên lặng cũng như khi đông đủ mọi người, cần đến bài là anh ngồi viết ngay được. Có lúc đang nói chuyện, thỉnh thoảng anh ngừng lại, rồi lại nói tiếp, rồi lại ngừng lại nữa: dăm lượt như thế là viết xong một truyện vui. Anh có những cái phép tìm cảm hứng thật bất ngờ. Trước khi viết một bài truyện ngắn, anh hay uốn nắn chăm chú vẽ một cái dấu hỏi lên đầu trang, hoặc vẽ một cái đầu người hay một thứ hình thù nào khác, rồi cứ thế tô đậm lại cho đến lúc câu thứ nhất hiện đến. Viết được câu thứ nhất - đầu đi thì đuôi lọt - là anh kéo một mạch đến câu sau cùng[21]
Sự sùng kính Khái Hưng và Nhất Linh
Nhà văn Vũ Trọng Can, viết trong bản thảo cuốn Bút ký viết cho con trai tôi, được Nguyễn Thạch Kiên ghi lại:
"… Tôi khao khát một ngày nào đó sẽ được gặp ông Khái Hưng.
Dịp đó đã tới. Tôi gửi đến tòa soạn báo Ngày Nay (Bộ mới năm 1940) mấy truyện ngắn cùng một bức thư không ngoài mục đích nhờ ông Khái Hưng nâng đỡ. Truyện của tôi được đăng. Tôi vừa mừng vừa cảm động cầm tờ bào có đăng truyện ngắn Mầu hoàng yến của tôi cùng với thư ông Khái Hưng mời tôi lên tòa soạn lãnh tiền nhuận bút. Tôi sung sướng quá vì tôi sắp được gặp người mà tôi hằng ao ước…
Tôi run run bước vào tòa soạn báo Ngày Nay, có cảm tưởng như một thần tử sắp được thấy long nhan…
Ông Khái Hưng niềm nở tiếp chuyện cùng khuyến khích tôi… Có lẽ suốt đời tôi không bao giờ quên được phút gặp gỡ hiếm có ấy…" [22]
Nhà thơ Phạm Huy Thông "nhớ ơn" Nhất Linh:
"… Khi tôi viết những dòng thơ thứ nhất, như chim non chưa đủ cánh, đủ lông, đứng trên miệng tổ trông không gian man mác mà hãi hùng, chính ông đã khiến cho tôi đủ can đảm văng mình bay theo gió cuốn. Ông khuyến khích tôi: ông khuyên tôi nên vững lòng theo đuổi bước tương lai: ông giới thiệu tôi cùng công chúng bằng những lời ngợi khen quá đáng… tôi mạnh bạo dấn bước trên con đường văn thơ chơm chởm chông gai…" Huy Thông. Ngày 23 tháng 9 năm 1934 [23].
Dương Nghiễm Mậu viết:
"Những nhà luân lý đã từng nói đến những truyện của Sagan thời hậu chiến vô luân, mà có ai nhớ đến rằng, chính đời sống vô luân, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnh đề cao thú vui xác thịt, đã có trong tác phẩm Khái Hưng từ thời tiền chiến ở Việt Nam.
Trình bầy câu truyện Băn Khoăn của Khái Hưng tới đây, tôi ngưng lại để trở về nhận định tôi đã đưa ra: Vì sao người trí thức Tây học đã thất bại trong giai đoạn vừa qua khi lãnh đạo tranh đấu" [24].
Tại sao người trí thức thất bại khi tổ chức cách mạng? Nguyễn Tường Bách trả lời ngắn gọn: vì không có tiền, không có khí giới, không có người.
Nguyễn Văn Trung cho rằng Nhất Linh thất bại vì ông không làm chính trị như một người cách mạng mà như một nhà văn, nghĩa là ngay thẳng không dùng tất cả mọi thủ đoạn để đạt mục tiêu.
Trong truyện dài Xiềng xích, Khái Hưng kể lại: khi làm cách mạng với Nhất Linh, ông biết 9 phần 10 là sẽ thất bại, nhưng không thể không làm. Biết thất bại, nhưng vẫn phải làm. Bởi vì đã thâm hiểu chế độ thực dân, không còn cách nào khác. Đó là bổn phận của con người.
Về mối tương quan giữa cách mạng và sáng tác, Dương Nghiễm Mậu viết:
"Tôi vẫn tự hỏi: Vì sao giữa lúc bước chân vào cuộc tranh đấu cách mạng mà Khái Hưng lại viết được Băn Khoăn? Không hề có ảnh hưởng giữa đời sống và tư tưởng tác giả với tác phẩm sao?"[25].
Khi viết những dòng này, năm 1964, Dương Nghiễm Mậu chưa đủ tài liệu, nên tưởng Băn khoăn (tác phẩm thuần túy suy tưởng về ý nghĩa cuộc đời) là tiểu thuyết cuối cùng của Khái Hưng. Nhưng nếu ông đọc những tác phẩm thực sự cuối cùng của Khái Hưng trên báo Chính Nghĩa, ông sẽ còn ngạc nhiên hơn, bởi không tìm thấy mảy may căm thù nào trong cái môi trường hừng hực sát thủ này, mà ngược lại là trái tim hòa giải giữa anh em hai bên chiến tuyến.
Nhất Linh cũng vậy, làm sao có thể tưởng tượng Nhất Linh viết Bướm trắng trong thời kỳ bí mật, phải trốn tránh khắp nơi, khi Thái Bình, khi Nam Định, khi trở lại Cẩm Giàng… đôi khi còn phải cải trang hay giả dạng điên khùng nữa? [26]
Và tác phẩm cuối cùng của Nhất Linh, tiểu thuyết Giòng sông Thanh Thủy viết về một cặp tình nhân, một Việt Quốc, một Việt Minh, cùng nhận lệnh phải ám sát lẫn nhau trên đất Tàu, cũng lại là tác phẩm nhìn lại chính mình và lên án gắt gao sự phân liệt quốc cộng.
Phải chăng Khái Hưng và Nhất Linh cùng đồng điệu đến phút chót?
Nhớ lại thời kỳ Sáng Tạo ngày trước, thường ra rả đòi "chôn" Tự Lực Văn Đoàn; một hôm có dịp gặp nhà văn Mai Thảo, tôi hỏi ông: "Hồi đó anh có gặp Nhất Linh không? Chắc là tranh luận dữ lắm?"
Ông tủm tỉm cười. Nụ cười hóm hỉnh: "Dám! Sợ chứ! Cứ là im thin thít chứ!"
Thế giới văn nghệ luôn luôn như thế: kính trọng nhân cách và nhân tài.
Thế kỷ XX, Việt Nam có nhiều nhà văn lớn, nhưng chỉ có hai người xứng đáng với địa vị văn hào.
Khái Hưng và Nhất Linh là hai văn hào được những nhà văn đi sau nghiêng mình kính nể.

Chú thích:
[1] Tây xông nhà của Khái Hưng, in trong Việt Nam, số Tết Bính Tuất, 1946, in lại trong Kỷ vật đầu tay và cuối cùng, quyển 2, nxb Phượng Hoàng, California, 1998, trang 587-594.
[2] Ngày nay Vĩnh Bảo thuộc vào tỉnh Hài Phòng.
[3] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỷ 4, California, trang 110.
[4] Theo Hoàng Văn Đào, Mô được cấp sáu lính khố xanh, sáu súng trường và một số đạn, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 111.
[5] Về cuộc khởi nghĩa Phụ Dực, Vĩnh Bảo, xem thêm Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 110-113.
[6] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 116.
[7] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 120.
[8] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 118, 147.
[9] Papa tòa báo, Kỷ yếu triển lãm và hội thảo Tự lực văn đoàn, Người Việt, 2014, trang 30.
[10] Bài này in trên tuần báo Mới số 84, 85 và 86 (tháng 6-7 năm 1954).
[11] Bài này in trên báo Văn số 22 (15-11-1964) số Tưởng niệm Khái Hưng, ở Sài Gòn.
[12] Bài này viết để đăng trên báo Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997), in lại trong Nhất Linh người nghệ sĩ - người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004.
[13] Papa tòa báo, Trần Khánh Triệu, Thế Kỷ 21, số tưởng niệm Khái Hưng (tháng 12-1997), in lại trong Nhất Linh người nghệ sĩ -người chiến sĩ, Nxb Thế Kỷ, California, 2004, trang 168-169.
[14] Ba tôi, Trần Khánh Triệu, Văn số 22 (15-11-1964), trang 23.
[15] Ba tôi, Văn số 22, trang 23.
[16] Ba tôi, Trần Khánh Triệu, Văn số 22 (15-11-1964), trang 24-25.
[17] Ba tôi, Văn số 22, trang 18.
[18] Hồ Hữu Tường, Khái Hưng, người thứ nhứt muốn làm nguyên soái của "văn chương sáng giá", Văn số 22, trang 27-31.
[19] Papa tòa báo của Trần Khánh Triệu, in trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, trang 162-163.
[20] Papa tòa báo của Trần Khánh Triệu, in trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, trang 164-165.
[21] Phóng bút của Lê Ta, Phong Hóa số 154 (20-9-1935).
[22] Trích trong bài Vài kỷ niệm về Khái Hưng của Nguyễn Thạch Kiên, Văn số 22, trang 45.
[23] In lại trong sách Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, nxb Văn Hóa, 1995, và Tự Lực văn đoàn Tác phẩm và Dư luận, Nhất Linh cây bút cột trụ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000.
[24] Nhân nghĩ về Khái Hưng của Dương Nghiễm Mậu, Văn số 22 (15-11-64) Tưởng niệm Khái Hưng, trang 39.
[25] Nhân nghĩ về Khái Hưng của Dương Nghiễm Mậu, Văn số 22 (15-11-64) Tưởng niệm Khái Hưng, trang 39.
[26] Theo hồi ký Nguyễn Thị Thế và Thế Uyên (Người bác).
Con đường Phong Hóa
Khi Nhất Linh thay đổi tờ Phong Hóa (từ số 14, 22-9-1932), ông muốn làm một tờ báo khôi hài, châm biếm, văn chương. Chủ trương này hiện rõ ngay trong thời kỳ đầu, khi Phong Hóa khai sinh ra hai nhân vật Lý Toét - Xã Xệ và tổ chức những cuộc thi vẽ tranh hài hước, được độc giả hưởng ứng. Sang năm 1935, phần khôi hài, châm biếm giảm đi, có lẽ vì Nguyễn Gia Trí bận học, ít tham gia. Đến năm 1936 khi Nguyễn Gia Trí trở lại, phần biếm họa lại khởi sắc và chuyển sang hướng tranh đấu: Tranh Nguyễn Gia Trí phụ họa với luận thuyết Hoàng Đạo trên Phong Hóa và nhất là Ngày Nay, chĩa vào các vấn đề lớn, như trả lời Toàn quyền Brévié, đòi tự do báo chí và cải tổ đời sống bùn lầy nước đọng của dân quê, trình bày lai lịch chế độ thực dân, tố cáo sự bóc lột cần lao… đó là chuyện về sau.
Tự Lực văn đoàn đã cộng tác chặt chẽ với các họa sĩ và kiến trúc sư xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông dương, thực hiện hành trình đưa nghệ thuật vào đời sống, đưa kiến trúc vào việc xây nhà Ánh sáng cho dân nghèo. Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đóng vai trò không nhỏ trong công cuộc cải thiện và mỹ thuật hóa đời sống con người ở Việt Nam.
Tự Lực văn đoàn cũng là nhóm người đầu tiên nhiệt thành giới thiệu Thơ mới và nâng đỡ những người làm Thơ mới một cách mạnh bạo và toàn diện.
Phong Hóa cũng là nơi Khái Hưng tiên phong phát triển nghệ thuật truyện ngắn và hình thành hệ thống tiểu thuyết hiện đại, cùng với Nhất Linh, sau này sẽ được gọi là tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn.
Con đường Phong Hóa là con đường khai phóng nghệ thuật và tư tưởng. Tự Lực văn đoàn đi từ khởi điểm những ngày chúng ta chưa thoát khỏi ảnh hưởng Nho giáo, còn chuộng văn chương biền ngẫu, để tiến sang thời kỳ hiện đại, không chỉ về văn chương nghệ thuật, mà còn cả về cải tạo xã hội và tranh đấu chính trị nữa.
Sự khảo sát Phong Hóa của chúng tôi bao gồm những chủ đề sau đây:
1- Tìm hiểu đề cương tranh đấu của Phong Hóa, Ngày Nay qua những bài xã luận
1- Vai trò của hội họa trào phúng qua hai nhân vật Lý Toét và Xã Xệ
2- Đưa mỹ thuật vào đời sống: Trường Mỹ thuật Đông dương
3- Giới thiệu và cổ động Thơ mới
4- Khai phá truyện ngắn
5- Hình thành nền tiểu thuyết Quốc ngữ hiện đại ở miền Bắc
6- Trào phúng như một vũ khí tấn công những quan lớn bồi Tây
Nếu trong hai năm 1933-1934, Tự Lực văn đoàn đã xây dựng được nền tảng vững vàng cho tiểu thuyết, thì con đường tranh đấu chính trị chỉ mới sơ khai với tranh Nguyễn Gia Trí và bài viết của Hoàng Đạo. Những bức biếm họa trong thời kỳ đầu rất phong phú, nhưng chỉ có tính cách thăm dò, hài hước nhẹ nhàng, chưa chạm đến những chủ đề gay go như đòi hỏi tự do dân chủ và đả kích chính quyền thực dân, như ở giai đoạn sau trên Ngày Nay. Bởi vì lúc này thực dân vừa dẹp tan cuộc cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh; Đông Dương ở dưới sự thống trị tàn ác của Toàn quyền Pasquier, Bắc kỳ chịu sự khống chế của Thống sứ Robin.
Tứ Ly (Hoàng Đạo) làm việc ở tòa án, phụ trách ba mục Từ nhỏ tới nhớn, Bàn ngang, và Từ cao xuống thấp, bàn phiếm về những chuyện cá nhân, thời thế hàng tuần và thỉnh thoảng viết bài xã luận. Việt Sinh (Thạch Lam) ngoài phóng sự Hà Nội về đêm viết chung với Tràng Khanh, phụ trách những mục thường thức, như một cây bút trẻ đang học nghề. Thế Lữ, tuy gửi văn thơ đăng trên Phong Hóa từ số 27 (23-12-1932), nhưng mãi đến số 91 (30-3-1934), mới được nhận vào làm việc toàn thời tại tòa báo.
Thế Lữ nổi tiếng ngay với hai tác phẩm Mấy vần thơ  Vàng và máu và ông trở thành nhà Thơ mới nổi bật nhất lúc bấy giờ. Sau đó, ngôi sao Thế Lữ bớt sáng đi, vì tiểu thuyết trinh thám không đem lại gì thêm cho sự nghiệp văn học của ông. Thế Lữ lại không thích chính trị, nên đứng ngoài vòng đấu tranh cách mạng của Tự Lực văn đoàn. Năm 1938, khi Nhất Linh thành lập đảng Hưng Việt, Thế Lữ cũng lập ban kịch Thế Lữ. Từ đó sự cộng tác của Thế Lữ với báo Ngày Nay giảm dần. Còn Tú Mỡ, hàng ngày vẫn đi làm ở sở Phi Năng (Service des Finances - Sở Tài Chính), mỗi tuần chỉ góp một vài bài thơ trào phúng và ông cũng không muốn nhúng vào chính trị. Vì vậy, Thế Lữ và Tú Mỡ, dù có chân trong Tự Lực văn đoàn, nhưng không cùng chí hướng với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí.
Đề cương tranh đấu của Tự Lực văn đoàn qua những bài xã luận
Tự Lực văn đoàn có bản tuyên ngôn chính thức in trên Phong Hóa số 87 (2-3-1934), nội dung nói lên sự cộng tác trong tình đồng chí để theo đuổi một tôn chỉ. Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn gồm 9 điểm, có thể tóm tắt như sau:
1- Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài.
2- Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội.
3- Theo chủ nghĩa bình dân.
4- Dùng lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho.
5- Mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.
6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, không trưởng giả, quý phái.
7- Trọng tự do cá nhân.
8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.
9- Đem phương pháp khoa học thái tây ứng dụng vào văn chương Annam.[1]
Bản tuyên ngôn này có giá trị thực tiễn, ứng dụng vào phương pháp làm việc, không nói đến những gì ẩn trong chủ đích tư tưởng (cũng không thể nói được) và chính cái chủ đích tư tưởng này tôi xin gọi là đề cương tranh đấu, ẩn sau chữ nghĩa. Để cương này chỉ có thể khám phá bằng cách đọc kỹ những bài xã luận in trên Phong Hóa.
Vậy, trong thời kỳ 1933-1934, tranh hài hước chỉ có tính cách giải trí, chủ trương chính trị và xã hội của tờ báo nằm trong các bài xã luận.
Thực ra, Phong Hóa không có mục nào đặt tên là xã luận. Tên xã luận mà chúng tôi gọi ở đây để chỉ bài viết ngắn, gọn, nhưng quan trọng, in trên trang đầu, dưới tên tờ báo, diễn tả lập trường và vạch đường lối.
Mục xã luận chỉ có bốn thành viên chính của Tự Lực văn đoàn phụ trách là Nhất Linh, Nhị Linh (Khái Hưng), Tứ Ly (Hoàng Đạo) và Việt Sinh (Thạch Lam). Thế Lữ và Tú Mỡ không viết xã luận.
Tuy xã luận do bốn người viết nhưng không phân phối đều:
Việt Sinh (Thạch Lam) chỉ viết có mấy bài đầu, như: Sầu thảm nhiều rồi; Lạc quan; Một cái lầm to; Thiếu niên buồn; Vấn đề dân sinh-Các kỹ nghệ nhỏ… [2], chưa có bài nào quan trọng, dường như Thạch Lam chỉ được các anh giao cho việc này khi họ bận.
Xã Luận của Tứ Ly
Từ Phong Hóa số 16 (6-10-1932), đến số 96 (4-5-1934), Tứ Ly, ngoài mấy mục thường thức: Từ nhỏ đến lớn, Từ cao đến thấp, Đàn ngang, còn viết khoảng 19 bài xã luận, ký những tên: Tùng Lương, Tứ Linh và Tứ Ly, với những đầu đề: Tinh thần khủng hoảng; Phải theo mới; Dạy đời; Các ông nghị; Sợ mớiSống chết; Ta đi đâu? Việc học ngày nay; Mặt thực; Phong hóa có suy đồi hay không? Yêu đời; Báo giới với xã hội Việt Nam (4 bài); Đi tìm hạnh phúc; Dân quê và luật; Trí thức và dân quê; Hai ngày của một cử tri [3].
Xã luận của Tứ Ly trong thời kỳ này là những chủ đề rời rạc, viết tùy hứng, chưa quan trọng.
Bài xã luận đầu tiên in trên Phong Hóa số 16 (6-10-1932), ký tên Tòng Lương (Tường Long nói lái), nói lên sự khủng hoảng tinh thần của giới trẻ:
"Nho học đã tàn, nhưng "các cụ Nho xưa, cứ theo lối cũ mà đi, thánh hiền dạy thế nào thì cứ tiếp theo như thế, không bao giờ băn khoăn, bứt rứt".
"Đến bây giờ, nước ta tự theo Âu học, lấy khoa học, luận lý thay vào lời dạy bảo của thánh hiền, thiếu niên ai cũng như trải qua một thời kỳ tinh thần khủng hoảng".
Thanh niên bị khủng hoảng tinh thần vì có sự xung đột giữa cái mới và cái cũ làm cho bao nhiêu gia đình tan nát:
"Họ là một bọn lạc loài phơ phất, không biết lấy gì làm căn cứ, như chiếc lá nương theo chiều gió mà bay. Họ đương tìm một lý tưởng mạnh mẽ để làm phương trâm cho sự hành động, cái lý tưởng ấy, chưa mấy ai thấy".
Những lời ngắn gọn trong bài xã luận đầu tiên này, dường như Hoàng Đạo viết cho chính mình, người thanh niên 25 tuổi, mới bước vào đời làm báo, còn hoang mang trước những con đường trước mặt, chưa biết chọn hướng nào.
Sau đó đến bài Phải theo mới, Phong Hóa số 20 (4-11-1932), Tứ Linh đã chọn xong: phải theo mới, không chút do dự. Người Tàu và người Nhật đã sớm hiểu như thế. Còn chúng ta? "Riêng ta, chỉ riêng ta, trong cuộc tiến hóa đã rung động cả Á Châu, ta vẫn nghiễm nhiên rung đùi, ngồi ôm những cái mộng xưa, đối với sự thay đổi ở nước ngoài, ta không biết đến mà cũng không cần biết".
Cứ thấy "một đôi guốc mới, một cái mũ lệch" là người ta "nhao nhao lên phản đối". Người ta hô hào: "phải bảo tồn quốc hồn quốc túy", người ta kết án cái văn minh mới đã làm đảo lộn luân thường đạo lý, phong hóa suy đồi. Vì ta vẫn chưa hiểu phương Tây là gì trong khi "hàng năm, trăm nghìn học sinh Nhật Bản và Trung Hoa du học để đem về nước nhà những cái mới".
Tứ Linh kết luận bài viết bằng khẩu hiệu:
"Phải theo mới!
Nhưng trước hết, ta cần phải suy xét ngẫm nghĩ để hiểu hết cái văn minh mới".
Những lời tha thiết này, mở đầu cho 10 điều tâm niệm Hoàng Đạo sẽ viết trên Ngày Nay thành cẩm nang kêu gọi thanh niên.
Trong bài Sống chết trên Phong Hóa số 24 (2-12-1932), Hoàng Đạo viết khá mạnh, tấn công vào thành trì cổ hủ: sự sùng bái cõi âm, bằng những tư tưởng rất mới: Người Âu yêu sự sống, bao nhiêu nghị lực họ dồn vào cuộc sống, tìm cách làm tăng chất lượng cuộc sống, còn chúng ta dù "sống đầy khổ sở, ăn cơm hẩm, vận áo rách cũng cam lòng, miễn sao có tiền mua lấy cái quan tài sơn son thiếp vàng để đến lúc nhắm mắt, có gỗ đẹp, có sơn tốt giữ bền được nắm xương khô.
Mấy gian nhà thờ phải lộng lẫy uy nghi, đến ngày giỗ phải cỗ bàn linh đình để cho làng mạc đến ăn, bốn lạy đổi lấy bữa cỗ kể cũng không đắt: phải mua vàng hương áo mũ đem đốt cho người chết hưởng lấy đống tro tàn".
Phũ phàng mà quá đúng: cũng vì phải giữ mồ cha, mộ tổ, mà nhiều người không dám ra khỏi lũy tre làng, thì làm sao có thể cạnh tranh sinh tồn để tiến lên được?
"Thiếu niên phải tìm đường mà tiến… Ta nghĩ đến người chết, nhưng trước hết ta nên nghĩ đến người sống!"
Một lập luận mạnh mẽ, gây sốc, nhưng cần phải có sự mạnh mẽ Hoàng Đạo, mới có thể thúc đẩy được thanh niên lên đường.
Xã luận của Nhất Linh
Nhất Linh là giám đốc Phong Hóa, nên ông mở đầu mục xã luận của tờ báo từ số 14 và ký nhiều tên: Nguyễn Đông Sơn, Tam Linh, Nhất Linh, Tân Việt. Ông viết không nhiều, những bài xã luận của ông chia làm hai mạch chính: tranh đấu để phát triển đời sống dân quê, và kêu gọi thanh niên đứng lên hành động để thực hiện lẽ sống của đời mình.
Từ Phong Hóa số 14 (22-9-1932), đến số 97 (11-5-1934), Nhất Linh có khoảng 17 bài: Biết dân quê…, Tài cán và việc làm; Buổi đời mới; Vấn đề phụ nữ; Dân quê (thơ); Vô nhân đạo vô nghĩa lý; Một vấn đề di dân; Một vấn đề dân sinhTinh thần và hình thứcVấn đề dân sinh-Đường xáDân quê muốn gì? (2 bài); Vấn đề dân sinh: Những cái nhà vàngMột buổi chiều; Con thuyền ngược nước; Ngược lên chiều gió; Nhà cửa… thôn quê [4].
Bài đầu tiên, Biết dân quê… trên Phong Hóa số 14 (22-9-1932), Nguyễn Đông Sơn đặt vấn đề: Bọn học thức sống xa cách dân quê quá, nhiều người có học, không kiếm được việc phải về làng, nhưng cũng không sống với dân, không tham dự việc làng, không bàn bạc… Nói chung là nếu muốn, họ có thể áp dụng việc học của mình, để làm những việc hữu ích cho dân quê, giúp họ có một cuộc sống tiến bộ hơn, nhưng họ không làm.
Trong bài Dân quê muốn gì? trên Phong Hóa số 48 (26-5-1933) và số 49 (2-6-1933), Nhất Linh trở lại vấn đề này, ông viết mạnh hơn:
"Bọn học thức ngày nay cách biệt với dân quê nhiều lắm.
Một bên cố mau bước tiến, không đoái hoài ai, một bên đứng yên như cũ, hai bên phải xa nhau, không hiểu nhau, hững hờ với nhau. Thật là một cái nguy cho bọn học thức, không có nơi đông mà dựa, nguy cho bọn dân quê không có nơi sáng mà theo.
Nay ta cứ hỏi bất cứ một người học thức nào về những điều dân muốn, muốn một cách thiết tha và thiết thực thì họ không trả lời được, hay trả lời một cách lờ mờ, vì họ không thể biết rõ được".
Bởi vì, hiểu dân quê thì chỉ có bọn kỳ hào trong làng, vì họ xuất thân từ đây, nhưng bọn này hiểu dân để mà lợi dụng, ăn trên ngồi trốc. Bọn thứ nhì là những nghị viên dân biểu "thay mặt dân", hạng này có thể chia ba: làm nghị viên vì thích được gọi là quan nghị, thứ đến hạng chỉ biết bênh vực quyền lợi cho mình và hạng dân biểu đích thực, bênh vực quyền lợi dân thì ít lắm. Nói tóm lại, nếu bọn học thức muốn cải thiện đời sống của dân quê thì phải gần gụi dân, và dạy cho họ cái quan niệm sống tân tiến của mình, rồi mới bắt đầu cải cách. Nghĩa là giảng giải cho họ phải bỏ cái đời sống mê muội huyền bí của họ đi, lấy cái đời hợp lý, thay vào.
Vẫn biết cơm no áo ấm là cần, nhưng đối với họ là cái cần phụ; cái bổn phận mà họ cho là to tát là đối với thần thánh, đối với làng mạc, đối với họ hàng mà dân chúng Âu Mỹ không có. Đáng lẽ có tiền để sửa sang nhà cửa cho sáng sủa sạch sẽ, cho con học nghề để nuôi sống gia đình, thì lại đem tiền đi mua chức nhiêu chức xã (chuộng hư danh), làm cỗ bàn để đăng cai (vì ông Thần làng); làm cỗ giỗ, cỗ đám ma (vì lệ làng). Làm xong mấy thứ đó thì sạt nghiệp. (Truyện Con trâu của Trần Tiêu nhắm vào những khía cạnh này của đời sống dân quê: thay vì có tiền mua con trâu để làm ruộng, lại mua nhiêu để "mở mày mở mặt với họ hàng làng nước" rồi cả đời khốn khổ, không ngóc đầu lên được).
Bài Vô nhân đạo vô nghĩa lý in trên Phong Hóa số 41 (7-4-1933), Nhất Linh đánh vào hủ tục: cấm cưới khi nhà có tang (đại tang: ba năm). Một người con gái 25 tuổi, sắp lấy chồng, đùng cái, bà ngoại chết, tiếp đến ông ngoại, rồi ông nội, bà nội, tới cha, mẹ… thì chỉ có ở giá suốt đời. Một tục lệ vô nhân đạo. Rồi lại có tục cưới chạy tang: người chết còn nằm sờ sờ ra đó, mà nhà lo… cưới chạy tang, thật vô nghĩa lý.
Còn lại là ba bài rất hay: Con thuyền ngược nước, đậm tính văn chương, in trên Phong Hóa số 78 (22-12-1933), Nhất Linh kể lại quang cảnh một gia đình chiến đấu với sóng nước trong cơn dông bão: người đàn ông đứng trên bờ, lấy hết sức bình sinh kéo dây, đưa thuyền vào bến trong khi "trên thuyền một người đàn bà và một đứa con gái nằm rạp xuống uốn mình chống cong con sào (…) Rồi trong khoang, một bà cụ bò ra rất nhanh lại đằng cuối thuyền cầm lấy tay lái (…) Chiếc thuyền con bị hai sức ngược nhau, sức nước và sức người, chồm lên như cố vượt chỗ nước xoáy. Giáng gò gẫm của mấy người đàn bà mảnh giẻ uốn cong lưng nằm rạp xuống mui, tiếng gió vù vù và tiếng vạt áo gió thổi lạch bạch, tiếng nước réo, tiếng người hô nhau diễn ra cái cảnh tượng hoạt động của một cuộc chiến đấu ráo riết, gay go. (…) Cuộc vật lộn ấy nhắc lại cho chúng tôi một lần nữa rằng: phải mạnh mẽ mà sống, sống để hành động. Cài đời của tôi, của bạn tôi, của hết thẩy các bạn thanh niên trí thức phải là cái đời linh hoạt". Bài xã luận này cho thấy phong cách Nhất Linh: một nhà văn làm cách mạng.
Bài Ngược lên chiều gió, Phong Hóa số 92 (6-4-1934)cũng trong đường hướng ấy, Nhất Linh kêu gọi thanh niên bỏ tư tưởng chán đời, yếm thế. Phải vùng dậy hành động:
"Hai người đi ngược lên chiều gió thổi, dằn từng bước, cúi đầu ngẫm nghĩ.
Dưới sông, nước nguồn chảy mạnh; cuồn cuộn vào bờ, bọt nổi trắng xóa như biểu hiệu cho ngọn sóng tư tưởng rào rạt trong lòng.
Bạn tôi vừa ngỏ cho tôi hay những sự bối rối trong tâm hồn, những sự đau đớn về tinh thần. Lòng nghi hoặc về nghĩa lý đời người (…)
Anh không nên băn khoăn tìm về nghĩa lý của đời anh, anh không nên tự hỏi: ta sống đây có nghĩa lý gì không? Vì không bao giờ anh tìm thấy, anh không trả lời được, mà không ai trả lời được câu hỏi ấy. Anh chỉ biết có một việc: là đã sinh ra ở đời thì phải sống, dẫu có nghĩa hay không có nghĩa gì. Mục đích của đời người ấy chính là đời người, theo như Goethe (…)
- Sống để mà hành động. Cái đời của anh với tôi phải là cái đời linh hoạt".
Nhà văn Nhất Linh đã khơi cho thanh niên con đường sống, sống có ý nghĩa, có mục đích.
Mạnh mẽ nhất là bài xã luận thơ, tựa đề: Dân quê in trên Phong Hóa số 39 (24-3-1933) ký Tân Việt, làm theo lối thơ mới:
Cảnh thì cảnh bùn lầy và nước đọng.
Dân thì nghèo vất vả làm quanh năm
Hết nắng thiêu lại gió rét căm căm.
Vẫn nhem nhuốc vẫn thân trần như rộng
Ngày ngày trên ruộng chân tay lấm
Đêm đêm về gian nhà tối tăm;
Giường nan bẩn thỉu chiếu hôi hăm.
Bố cu, mẹ đĩ rúc vào nằm.
Đứa trẻ trần truồng lăn ra đất.
Đứa thì gầy còm, đứa bệnh tật.
Cố sống cầm hơi chờ khi nhớn.
Làm thân trâu cho trọn đời khốn nạn
Bọn đàn anh thời chúi đầu cắm cổ.
Tranh nhau thủ lợn với phao câu
Theo lễ nghi quèn, nghĩ những truyện đâu đâu
Riêng mình thú, không biết rằng dân khổ.
Tân Việt
Bài thơ này trỏ thẳng vào cảnh bùn lầy nước đọng, vào đời sống tối tăm của dân quê, sẽ được Hoàng Đạo mở rộng trên Ngày Nay trở thành loạt bài Bùn lầy nước đọng, làm chế độ thực dân giật mình, và khi sách in ra, bị tịch thu ngay.
Dân quê cũng đã khiến Nhất Linh đã bị đe dọa, sau này ông kể lại:
"Bài thơ cuối cùng của tôi trong đời làm báo là bài Dân quê. Bài ấy đã làm cho tờ Phong Hóa (đăng bài thơ ấy) suýt bị đóng cửa, tôi bị mời ra ty kiểm duyệt và báo bán tăng thêm được hai nghìn số. Từ đấy tôi không làm thơ nữa" [5].
Xã luận của Khái Hưng
Khái Hưng có bút hiệu thứ nhì, rất hay dùng là Nhị Linh, ký dưới những văn bản mà Khái Hưng xem là nhẹ, như tự truyện Mực tầu giấy bản, hoặc các truyện ngắn, kịch ngắn, truyện vui và xã luận. Nhiều người không biết, tưởng Nhị Linh là Nhất Linh, như Phạm Thế Ngũ. Vì thế, một phần tác phẩm của Khái Hưng được kê vào "sổ" Nhất Linh. Xã luận là một trường hợp.
Đọc xã luận, mới thấy Khái Hưng là người vạch ra một đường lối đấu tranh có hệ thống. Từ Phong Hóa số 51 (16-6-1933) đến số 120 (19-10-1934), ông viết khoảng 41 bài xã luận có tính cách đại luận, một kỷ lục, vì Hoàng Đạo chỉ viết 19 bài và Nhất Linh 17 bài, bởi vì Khái Hưng còn viết nhiều thể loại trên các hạt khác nữa. Chúng tôi tạm thống kê sau đây:
Tinh thần và vật chất; Vần đề dân sinhMan trá và hà lạm; Sự sống của dân quê (5 bài); Các trình độ học thức; Quay về vườn ruộng; Một bản chương trình dự định; Lễ đối với người chết; Hư danh; Tự trọng; Ngó qua chủ nghĩa đại gia đình; Một tấm gương đời; Yêu đời; Tập tục; Một bản chương trình (7 bài); Quyền công dân; Thư gửi các ông nghị; Các ông nghị nhà quê; Khổng Giáo; Viết sách xuất bản sách; Trẻ già; Âu hóa dân quê - Quan niệm mới (2 bài); Tủ sách gia đình (2 bài); Các ông nhà giàu; Đốt mã là sự giả dối; Trai gái bằng quyền; Văn bác học và văn bình dân; Sách khảo cứu, tủ sách gia đình; Thuyết trung dung của ông Nguyễn Công Tiễu [6].
Bài Tinh thần và vật chất trên Phong Hóa số 51 (16-6-1933), là bài khai bút, Khái Hưng kể lại câu chuyện từ đầu:
"Nhất Linh và tôi đến chơi một người bạn ở một làng giáp Hà Nội.
Tới chỗ rẽ vào làng, chúng tôi xuống xe, đi bộ theo một con đường nhỏ hẹp, gồ ghề quanh co, lầy lội. Hai bên bờ thì cỏ mọc lẫn với những cây cúc dại hoa trắng um tùm rậm rạp. Thỉnh thoảng chúng tôi lại phải nhảy qua một cái rãnh xẻ, hoặc một đống ô uế lù lù ngay giữa đường.
Đi bên những xóm dân cư đông đúc, chúng tôi nhìn qua kẽ lũy tre già: san sát nhà tranh ẩm thấp, bẩn thỉu. Nào người, nào gà, nào lợn, lúc nhúc trong một khu chật hẹp.
Tới đình làng, chúng tôi dừng chân ngồi nghỉ mát ở dưới bóng rợp của mấy cây muỗm cỗi. Bên phải chúng tôi là chùa làng, bên trái chúng tôi là văn chỉ [nền tế Thánh]. Ba lớp nhà gạch tráng lệ nguy nga dựng trên một khu đất khoáng diễn, cao ráo. Nào cửa tam quan, nào đường lát gạch, nào tường hoa, nào nhà nghỉ mát. Đẹp lắm! Sạch sẽ lắm!
Nhất Linh mỉm cười bảo tôi:
- Ước gì người làng này, hay nói rộng ra người nước ta họ biết tự trọng thân họ như họ trọng việc thờ phụng! Bao giờ cho những con đường lầy bùn bẩn thỉu trong làng được họ chăm chút tới như họ chăm chút quét dọn cái sân đình kia.
Tôi trả lời bạn:
- Bao giờ à? Có lẽ còn lâu lắm. Khi nào họ không ngộ nhận hai chữ tinh thần và vật chất, mà cái đó thì rất khó, tuy ta tưởng là rất dễ, thì họa may sự mong mỏi của anh mới có thể có kết quả".
Vì "ngộ nhận hai chữ tinh thần và vật chất", cho nên dân ta mới sống cuộc đời "đảo ngược" như thế, mặc dù đã có câu tục ngữ "có thực mới vực được đạo" nhưng lại không dùng mà coi như lời bỡn cợt ở cửa miệng đàn bà! Nếu dân làng thiên về vật chất một chút, thì họ sẽ dùng số tiền bỏ ra làm đình, làm chùa, làm cỗ bàn, để xây giếng nước, dựng trường học, sửa đường sá mà đi.
"Làng này có tiếng là một làng văn vật, mấy mươi đời tôn trọng Khổng Giáo, và đã đào tạo nên những danh nhân, thượng tướng, đi nữa, một người ngoại quốc mới thoạt đến đặt gót trên con đường bùn bẩn, ngắm cách sinh hoạt cẩu thả khốn nạn của bọn dân đinh, họ cũng đem lòng khinh bỉ và cho dân tộc này là một dân tộc mọi rợ.
Thì sao bọn đàn anh, bọn học thức trong làng, không đem cái tài tôn trọng lễ nghi, đem cái khỏe bảo tồn đạo đức ra mà hãy dạy dân biết ít nhiều điều cần thiết về sự sống đã!"
Khái Hưng không chỉ nói đến bọn Tây học vô tình, mà còn chỉ trích cả những "danh nhân, thượng tướng" nữa, họ đã làm gì để nâng cao đời sống người dân?
Bài này đi đôi với bài Dân quê muốn gì? của Nhất Linh, tỏ sự nhất trí của hai nhà văn về vấn đề cải thiện đời sống dân nghèo, tạo ra một câu hỏi lớn về việc phải thay đổi đời sống dân quê, từ cỗi rễ tư tưởng đến sự thực hành.
Khái Hưng đã trả lời: phải thay đổi như thế nào trong những bài xã luận kế tiếp.
Riêng về vấn đề cuộc sống dân quê, từ Phong Hóa số 52 (23-6-1933) đến số 57 (28-7-1933) ông viết tất cả 7 bài, nêu lên những bất cập trong guồng máy cai trị dân quê và đề nghị cải tổ.
Rồi trong loạt bài Một bản chương trình, từ Phong Hóa số 80 (5-1-1934) đến số 87 (2-3-1934), ông viết thêm 7 bài nữa, đề nghị chương trình kiến tạo nông thôn:
- Ao chuôm trong làng phải sửa thành một hệ thống ao hồ vệ sinh, có thể nuôi tôm, cá.
- Thiết lập một thứ tiểu kỹ nghệ, để dân có việc làm, ngoài vụ gặt, bớt rong chơi cờ bạc.
- Phá lũy tre xanh để dân làng tiếp xúc với bên ngoài, đi xa, học cái mới.
- Trâu bò không được giữ ở nhà, bẩn thỉu mất vệ sinh, mỗi làng cần có một trại nuôi trâu bò chung.
- Dân quê nên ăn mặc giống người thành thị cho gọn ghẽ, đàn ông áo dài trắng, đàn bà mặc như các cô gái Lim, rất duyên dáng mà cũng không tốn kém hơn.
- Không đi đất, trông bệ rạc, trời rét cóng chân, nên tập đi dép, guốc, sạch sẽ hơn, đầu đội nón.
- Không dùng nước ao tù làm đủ mọi việc: ăn, uống, tắm, giặt, giết súc vật, cầu tiêu, như vậy "mọi rợ" lắm…
- Phải đào giếng khơi để lấy nước ăn, uống.
- Mỗi làng phải có nhà giết trâu giết bò, phải có nơi riêng để rác…
- Bỏ lối làm nhà đìnhnhà vỏ riêm (diêm) hay bánh khảo, Phong Hóa sẽ vẽ nhà kiểu mẫu. Đắp đường sá. Dường như ông đã làm thử chương trình này ở làng ông (xem truyện Những ngày vui). Đề nghị này sẽ được thể hiện trong chương trình làm nhà Ánh sáng cho dân quê.
Việc Khái Hưng đề nghị phá lũy tre xanh từ năm 1933, cực kỳ tân tiến, và đến bây giờ, hơn 80 năm sau, mới thực hiện được.
Khái Hưng có thuật biến bút, viết lối nào cũng được, ví dụ trong cùng một số báo (số 80), ông vừa trầm mình trong không khí tĩnh lặng thơ mộng, đầy âm thanh và cảm xúc của truyện ngắn Tiếng dương cầm, lại vừa xông xáo trong trận bài xã hội, với Một bản chương trình, tấn công bọn nghị viên trí thức khinh bỉ dân quê. Khái Hưng cũng không quên "mặt trận" văn hóa giáo dục và luôn luôn giữ thế trung dung khi phân tích, phê bình.
Lối viết xã luận của Khái Hưng, khó ai bì kịp bởi sự uyên bác và cách thay đổi đề tài: Qua những bài xã luận, ông bàn về rất nhiều vấn đề khác nhau: Không những ông chỉ ra những tệ nạn và bất cập trong đời sống dân quê, mà còn đề nghị sự cải tổ trực tiếp bằng cách viết thư cho các ông nghị, đòi hỏi phải dạy cho học sinh lớp sơ đẳng biết quyền công dân. Tố cáo việc nhà xuất bản ép nhà văn nghèo phải bán đứt bản quyền với giá rẻ. Tố cáo tệ nạn đốt vàng mã. Vạch ra sự cần thiết phải lập một tủ sách gia đình, v.v...
Để đả kích việc đốt vàng mã, ông viết bài Đốt mã là một sự giả dối trên Phong Hóa số 114 (7-9-1934), trở lại nguồn gốc của thói tục này, ông giải thích tại sao dân ta đốt vàng mã: là để thay thế một tập tục dã man học của Tàu: bắt người sống (cung tần, mỹ nữ, vợ…) chết theo chủ. Rồi ông mới trở về với thời nay, cảnh cáo những kẻ "tân tiến", "có học":
"Họ lừa dối người chết để ăn mày sự âm phù không đâu.
Họ lừa dối người sống để khoe khoang tấm lòng hiếu nghĩa không có.
Họ lừa dối họ, vì họ không tin mà vẫn vờ là có tin.
Họ lừa dối và làm hại xã hội, vì đồng tiền bỏ ra mua mã có thể dùng đế cứu giúp được biết bao kẻ đói khó[7].
Những lời cảnh cáo của Khái Hưng, 86 năm qua, vẫn còn cần thiết với ngày nay! Bởi tục đốt vàng mã vẫn còn nguyên, tại thế.
Trong bài xã luận Quyền công dân, Khái Hưng khuyên một ông nghị tân tiến:
"Dạy con em biết ít điều cần thiết về quyền công dân. Mục ấy (droits civiques) ở các lớp sơ đẳng các trường bên Âu Mỹ không đâu họ quên lãng (…) Ở các trường sơ đẳng ở nước ta, tuy cũng có dạy con em những bổn phận đối với vua, với quan đấy, song mục quyền công dân vẫn thấy lẫn với mục luân lý. Không, thưa ông, không thể lẫn lộn như thế được (…) Ta phải dạy cho con em hiểu rằng ta đã là một người công dân trong một nước thì ta phải có đủ quyền tự do của một người dân, quý hồ ta không phạm tới tự do của người khác là được rồi. (…) Tự do ấy, là tự do đi thênh thang trên con đường cái mà ta đã đóng thuế để đắp nên, là tự do uống nước giếng khơi mát mẻ mà ta đã đóng thuế để khơi ra, là tự do bỏ phiếu bầu người ta muốn bầu, không ai dùng oai quyền mà cấm đoán nổi… Tự do ấy, là tự do nói và viết những điều ta nghĩ, quý hồ những điều ấy không phạm tới pháp luật" [8].
Giảng cho người dân vừa qua thời phong kiến, hiểu thế nào là tự do, bằng một bài xã luận ngắn gọn, dễ hiểu, chính xác như thế, Khái Hưng, trong những ngày đầu của cuộc cách mạng xã hội, đã viết những điều khai tâm cho người dân bị trị về dân chủ.
Trong loạt bài xã luận này, Khái Hưng là người lãnh đạo đã viết rõ đề cương tranh đấu, đặt ra rất nhiều chủ đề, mỗi chủ đề được đào sâu bằng một số bài viết.
Sự cải tiến đời sống dân nghèo sẽ được cổ động trực tiếp qua những bài báo, hoặc nói thẳng với nghị viên (đại biểu của dân), hoặc do chính Tự Lực văn đoàn thực hiện trong chương trình nhà Ánh sáng.
Những cải cách xã hội sẽ được khai triển trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn: như chế độ đại gia đình, chế độ đa thê, sự tham nhũng và đồi trụy trong quan trường, những tập tục cổ hủ, vấn đề thừa tự, vấn đề nam nữ bình quyền, sự lỗi thời của Khổng giáo…
Những chủ đề chính trị sẽ được Hoàng Đạo, lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn phát triển qua ngả nghị luận.
Tất cả tạo thành một làn sóng cách mạng văn chương và xã hội có tầm vóc chưa từng thấy.

Chú thích:
[1] Xem toàn bản Tuyên
ngôn và Tôn chỉ, in trong chương 2: Sự thành lập Tự Lực văn đoàn.
[2] Sầu thảm nhiều rồi (Phong Hóa số 15, 29-9-1932), Lạc quan (số 32, 3-2-1933), Một cái lầm to (số 34, 17-2-1933), Thiếu niên buồn (số 36, 1-3-1933), Vấn đề dân sinh - Các kỹ nghệ nhỏ (số 47, 19-5-1933)…
[3] Tinh thần khủng hoảng, Phong Hóa số 16 (6-10-1932), ký tên Tùng Lương; sau đó ký Từ Linh: Phải theo mới, số 20 (4-11-1932); Dạy đời, số 21 (11-11-1932); Các ông nghị, số 22 (18-11-1932); Sợ mới, số 23 (25-11-1932); Sống chết, số 24 (2-12-1932); Ta đi đâu? số 26, 16-12-1932); Việc học ngày nay, số 27 (23-12-1932); Mặt thực, số 28 (30-12-1932); Phong Hóa có suy đồi hay không, số 30 (13-1-1933); Yêu đời, số 35 (24-2-1933); 4 bài Báo giới với xã hội An Nam từ số 37 (10-3-1933) đến số 40 (31-3-1933). Những bài ký tên Tứ Ly: Đi tìm hạnh phúc, số 79 (29-12-1933), Dân quê và luật, số 91 (30-3-1933); Trí thức và dân quê, số 93 (13-4-1934) và Hai ngày của một cử tri, số 96 (4-5-1934).
[4] Biết dân quê… của Nguyễn Đông Sơn (số 14, 22-9-1932), Tài cán và việc làm của Tam Linh (số 17, 13-10-1932); Buổi đời mới của Nhất Linh (số 18, 20-10-1932): Vấn đề phụ nữ của Tân Việt (số 29, 6-1-1933). Dân quê (thơ, số 39, 24-3-1933) ký Tân Việt. Sau đó ông ký Nhất Linh: Vô nhân đạo vô nghiĩa lý (số 41, 7-4-1933); 2 bài Một vấn đề di dân, số 43 (21-4-1933) và số 44 (28-4-1933); Tinh thần và hình thức (số 45, 55-5-1933); Vấn để dân sinh-Đường xá (số 46, 12-5-1933), 2 bài Dân quê muốn gì?, (số 48, 26-5-1933 và số 49, 2-6-33), Vấn đề dân sinh: Những cái nhà vàng (số 50, 9-6-1933); Một buổi chiều (số 70, 27-10-1933); Con thuyền ngược nước (số 78, 22-12-1933); Ngược lên chiều gió (số 92, 6-4-1934); Nhà cửa…thôn quê (số 97, 11-5-1934).
[5] Đời thi sĩ, vài trang Hồi ký của Nhất Linh, in trong Văn học nghệ thuật, tháng 7-1985, Hoa Kỳ, trang 311.
[6] Tinh thần và vật chất, số 51 (16-6-1933); Vần đề dân sinhMan trá và hà lạm, số 52 (23-6-1933), 5 bài Sự sống của dân quê: số 53 (30-6-1933), số 54 (7-7-1933), số 55 (14-7-1933) số 56 (21-7-1933) và 57 (28-7-1933); Các trình độ học thức, số 58 (4-8-1933) Quay về vườn ruộng, số 59 (11-8-1933); Một bản chương trình [giáo dục] dự định, số 60 (18-8-1933); Lễ đối với người chết, số 61(25-8-1933), Hư danh, số 62 (1-9-1933), Tự trọng, số 68, 13-10-1933; Ngó qua chủ nghĩa đại gia đình, số 69 (20-10-1933), Một tấm gương đời, số 72 (10-11-1933), Yêu đời, số 73 (17-11-1933). Tập tục, số 74 (24-11-1933); Một bản chương trình, 7 bài, số 80 (5-1-1934), số 81 (12-1-1934), số 82, 83, 84, 86 và 87; Quyền công dân, số 90 (23-3-1934); Thư gửi các ông nghị, số 94 (20-4-1934); Các ông nghị nhà quê, số 95 (27-4-1934); Khổng Giáo, số 100 (1-6-1934); Viết sách xuất bản sách, số 101 (8-6-1934); Trẻ già, số 106 (13-7-1934); Âu hóa dân quê-Quan niệm mới, số 107 (20-7-1934); Quan niệm mới, số 108 (26-7-1934); Tủ sách gia đình, số 110 (10-8-1934) và số 111 (17-8-1934); Các ông nhà giàu, số 112 (24-8-1934); Đốt mã là sự giả dối, số 114 (7-9-1934); Trai gái bằng quyền, số 116 (21-9-1934); Văn bác học và văn bình dân, số 118 (5-10-1934); Sách khảo cứu, tủ sách gia đình, số 119 (12-10-1934); Thuyết "Trung Dung" của ông nghị Nguyễn Công Tiễu, số 120 (19-10-1934).
[7] Nhị Linh, Đốt mã là một sự giả dối, Phong Hóa số 114, 7-9-1934.
[8] Nhị Linh, Quyền công dân, Phong Hóa số 90, 23-3-1934.
Lý Toét, Xã Xệ
Kể từ cặp Tú Bà, Sở Khanh chưa có nhân vật nào nổi tiếng và đi sâu vào lòng người bằng Lý Toét, Xã Xệ.
Nhất Linh sáng tác ra Lý Toét. Bút Sơn sáng tạo Xã Xệ.
Hoàng Tích Chu đặt tên cho Lý Toét.
Nguyễn Gia Trí đem lại cho Lý Toét Xã Xệ chiều kích văn hóa, lịch sử.
Nhất Linh, Giám đốc Phong Hóa, muốn phát triển khía cạnh trào phúng, hầu như chưa có mặt trên báo chí Việt Nam lúc bấy giờ, nên ban đầu, ông vẽ nhiều hơn viết; chủ trương này rõ nhất trong những năm 1932-1934.
Nhưng nếu tranh trào phúng hoàn toàn thích hợp với công chúng bình dân, thì lại bị những người được gọi là trí thức chê bai, khinh bỉ. Không kể trường hợp giáo sư Thanh Lãng mà chúng tôi đã đề cập đến trong chương Sự tiếp nhận Tự Lực văn đoàn; nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ tóm tắt những ý kiến khác, có lẽ cũng tâm đồng với ông, như sau:
"Ra khỏi năm 1940, trở về với những bận tâm học thuật dân tộc và chính trị quốc gia, dư luận cũng đổi hướng, tỏ ra khắt khe với họ [Tự Lực văn đoàn]. Nhóm Tri Tân phục hưng chủ nghĩa ôn cổ, cũng như nhiều người Hàn Thuyên chủ trương chiến đấu tích cực, đã lên án họ nặng nề. Hoa Bằng cho rằng sau những năm khủng bố 1930-1931, toàn trong nước vừa trải qua một cơn hồi hộp hoang mang, ai nấy chỉ muốn tìm những phút vui cười cho khuây khỏa, nhóm Phong Hóa đã đầu theo tâm lý dễ dãi ấy để bầy ra một cái cười cho quên lấp, một cái cười phá hoại tất cả nền nếp truyền thống, một cái cười nhiều khi rất vô ý thức nữa, như hành động lố bịch hóa hạng người nhà quê Lý Toét, Xã Xệ của họ thật là tàn ác, bất công, không kể còn gây ra sự chia rẽ giữa hai dân tỉnh và dân quê.
Trương Tửu cho rằng họ đã vô tình hay hữu ý mắc mưu thực dân, hưởng ứng phong trào vui vẻ trẻ trung 1932, đề cao tình cảm lãng mạn và nghệ thuật thuần túy, làm cho thanh niên quên con đường tranh đấu gian nan, ngả theo khuynh hướng hưởng lạc, đi đến ăn chơi đồi trụy" [1].
Không hiểu những bận tâm học thuật dân tộc và chính trị quốc gia, của các trí thức mà Phạm Thế Ngũ nói đến ở đây là gì, mà khiến cho những vị này trong nhóm Tri Tân và Hàn Thuyên đã lên án họ nặng nề như thế.
Xem như vậy, Tự Lực văn đoàn không những bị vùi dập vì lý do chính trị đối lập với Đảng Cộng sản, mà cả đến những người quốc gia hay đệ tứ, có học, những người làm văn học hay dạy học, cũng không hiểu ý nghĩa cuộc tranh đấu cách mạng của họ, nên hầu hết đều coi biểu tượng Lý Toét, Xã Xệ là sự chế giễu khinh bỉ dân quê, và coi sự hài hước nói chung trên Phong Hóa Ngày Nay là phá hoại, để quay mũi dùi ngược lại, kết án Tự Lực văn đoàn. Đó là phần thưởng dành cho những người đi trước thời đại.
Trào phúng - vai trò của các họa sĩ
Chủ trương tờ báo trào phúng, cho nên Nhất Linh hết sức quan tâm đến biếm họa, chính ông bắt tay vào vẽ ngay từ Phong Hóa số 14 (22-9-32). Và cũng chính ông đã tập trung được một nhóm họa sĩ trẻ tài hoa, phần lớn xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương, là bạn ông. Tôi còn nhớ khi họa sĩ Lê Phổ còn sống, ông luôn luôn nhắc đến Nguyễn Tường Tam với giọng thân yêu quý mến lạ lùng, theo ông "Tam viết văn và vẽ đẹp lắm".
Ngoài Nhất Linh và Nguyễn Gia Trí, kể từ Phong Hóa số 16 (6-10-32), thêm sự góp mặt của các họa sĩ: Trần Bình Lộc, Trần Quang Trân, Le Mur Nguyễn Cát Tường… chưa kể Hoàng Đạo và Khái Hưng đều biết vẽ. Phong Hóa còn tổ chức thi biếm họa, vẽ Lý Toét, cho nên những họa sĩ bên ngoài cũng góp tranh.
Trần Bình Lộc (1914-1941), vẽ trên Phong Hóa từ số 16 (6-10-32) ký LỘG, ở tuổi 18 với bức tranh Những chỗ ngồi trên xe điện. Kể từ Phong Hóa số 33 (10-2-33), ông ký những tên Bloc, Bloch, Block… Trần Bình Lộc là một trong những họa sĩ quen thân và vẽ nhiều cho Phong Hóa ngay từ đầu, thỉnh thoảng ông còn viết truyện ngắn. Trần Bình Lộc mất năm 1941, vì một tai nạn, tại Lào, ở tuổi 27.
Nhất Sách cũng vẽ khá nhiều tranh trên Phong Hóa, nhưng chúng tôi chưa biết là ai.
Trần Quang Trân học trường Mỹ Thuật khóa III cùng với Lê Thị Lựu, ra trường năm 1932, xuất hiện trên Phong Hóa từ số 18 (20-10-32), ký Mạc, Ngym, Ngạc Mai… Ông vẽ hý họa và đôi khi minh họa truyện của Khái Hưng.
Nguyễn Cát Tường ban đầu ký tên A.S. Lemur, (Le mur tiếng Pháp là tường) có tranh hài hước trên Phong Hóa từ số 13 (8-9-32). Đến số 27 (23-12-32) ông xuất hiện lại với hai bức hý họa Xem voi ở sở bách thú Hà Nội và Ba năm ở xứ Bắc.
Kể từ Phong Hóa số 85 (11-2-34) (báo Xuân năm thứ hai), Nhất Linh mở thêm mục: Vẻ đẹp của các bà các cô và giao cho họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường phụ trách. Đây là mục thời trang đầu tiên trên báo chí miền Bắc, và có lẽ trên cả đất nước Việt Nam. Về y phục phụ nữ, Lê Phổ đi trước, rồi tới Nguyễn Cát Tường, là những nhà kiểu mẫu tiên phong trong việc đổi mới áo dài, họ vẽ nhiều kiểu áo tân kỳ cho đàn bà mặc trong những sinh hoạt khác nhau, tạo sự thanh lịch cho phụ nữ Hà thành. Nhưng Lê Phổ làm phụ tá cho thầy Tardieu, đi ngoại quốc luôn, nên Cát Tường trở thành số một. Có thể nói Cát Tường là "Coco Chanel" của Việt Nam, thủa ban đầu vậy.
Tô Ngọc Vâncộng tác với Phong Hóa từ số 129 (21-12-34), thay Nguyễn Gia Trí khi ông Trí vắng mặt. Tô Ngọc Vân, thường ký tên Tô Tử, là họa sĩ chính thứ hai sau Nguyễn Gia Trí, không những vẽ tranh hài hước mà còn vẽ những bức phụ bản tuyệt đẹp cho báo xuân, viết phê bình hội họa và minh họa cho tiểu thuyết, truyện ngắn dưới tên Ái Mỹ. Tô Ngọc Vân chỉ ngừng trong thời gian đi Cao Mên dạy học và khi trở về, ông lại cộng tác liên tục với Ngày Nay từ số 139 (3-12-38) đến khi tờ báo đóng cửa, số 224 (7-9-40).
Nguyễn Gia Trí, vẽ từ Phong Hóa số 1 (16-6-32) với bức tranh Hai đám rước sư tử, không ký tên; nhờ những điều Khái Hưng viết trong tiểu thuyết Những ngày vui, ta có thể đoán đó là tranh Nguyễn Gia Trí. Tóm lại, những bức tranh in trên Phong Hóa từ số 1 đến số 13 (8-9-32) chỉ có thể đoán là của Nguyễn Gia Trí, chưa thể xác định [2].
Ngoài bức tranh ký tên Đông Sơn (chữ quốc ngữ) chắc là của Nhất Linh, in trên Phong Hóa số 3 (30-6-32) và một bức ký AS Lemur trên số Phong Hóa 13 (8-9-32), phần lớn những tranh còn lại đều ký Hbat, tạm đoán là Nguyễn Gia Trí.
Kể từ Phong Hóa số 14 (22-9-32) Nguyễn Gia Trí ký thêm nhiều tên khác, như: Tô, Cô Tô, Nul, Daladin, Nal, Hoth, TAG, Tú Sơn, Tú Nuy, NGT, ZTTG, Rigt… Những biệt hiệu này phản ánh tính hài hước của Nguyễn Gia Trí: Tô (tên chó Tây), Cô Tô (cô chó Tây), Nul (số không), Nal (biến thể của Nul), Daladin (chắc từ chữ d’Aladin, nghĩa là của Aladin), Hbat, Hoth, TAG (ba chữ cái trong GIA TRI), Tú Sơn (Tout seul, một mình), Tú Nuy (Tout nu, trần truồng), NGT (Nguyễn Gia Trí viết tắt); ZTTG, tên ký để tỏ sự phẫn nộ cực điểm.
Rigt hay RIGT, là bút hiệu dùng nhiều nhất trên Ngày Nay, có nghĩa là: RI GT tức gt ri hay gia trí cười mà cũng còn nghĩa là Lẽ phải.
Trong giai đoạn đầu của Phong Hóa, có thể vì Gia Trí chưa học xong, nên không được phép vẽ và ký tên như một họa sĩ thực thụ; nên ông thường không ký tên hoặc ký ẩn danh, nhưng trên Phong Hóa số 66 (29-9-33) lần đầu tiên ông ký NGT.
Còn bút hiệu Rigt hay RITG và các biến thể của chữ này, xuất hiện trong giai đoạn sau, thường dùng để ký dưới những biếm họa tranh đấu trên báo Ngày Nay.
Tựu trung, Nguyễn Gia Trí vẽ nhiều nhất, (trừ khi có việc phải vắng mặt), từ Phong Hóa số 1, tháng 6 năm 1932, đến Ngày Nay kỷ nguyên mới, tháng 5-6 năm 1945.
Tranh Nguyễn Gia Trí, trong giai đoạn tranh đấu quyết liệt, thường đi đôi với bài viết của Hoàng Đạo, tạo một phong cách phê bình xã hội độc đáo, có sức công phá quan trường cao độ, chống Pháp thâm thúy, mãnh liệt, khiến nhiều lần Phong Hóa và Ngày Nay bị đe dọa đóng cửa.
Nhất Linh vẽ nhiều hơn viết, trong hai năm đầu. Dù chỉ học trường Mỹ thuật Đông Dương có một năm, nhưng tác phẩm chứng tỏ ông là một họa sĩ tài ba, được nhà trường trân trọng, ông có tên trong danh sách hội đồng chấm thi cho cuộc triển lãm 1935 (Phong Hóa số 137, 22-2-35).
Ông vẽ cho Phong Hóa từ số nào? Nếu dựa vào tranh bìa, ký Đông Sơn bằng chữ nho, thì Nhất Linh đã "vào" Phong Hóa từ số 2 (28-6-32). Và trên Phong Hóa số 3 (30-6-32) ông đã có một hý họa nhỏ, ký tên Đông Sơn bằng chữ quốc ngữ.
Đến Phong Hóa số 14 (22-9-32) xuất hiện bức tranh hoành tráng Người Annam mình kinh doanh, ký tên Đông Sơn, vẽ cảnh người Việt chen chúc trên một chiếc xe hàng, tác phẩm hiện thực châm biếm có tính cách toàn diện, xác định con đường tranh đấu bằng biếm họa của Phong Hóa. Trong chương Sự thành lập Tự Lực văn đoàn, chúng tôi đã đưa ra giả thuyết: có thể Đông Sơn lúc đầu là tên chung của Nguyễn Gia Trí và Nhất Linh.
Nhất Linh thường ký tên Đông Sơn, thỉnh thoảng DS hay TAM. Ngoài những bức biếm họa, ông còn minh họa các truyện dài Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt, Tiêu Sơn tráng sĩ. Về biếm họa, nét vẽ của Đông Sơn tròn trĩnh, hiền lành hơn những nét nhọn, lõm, khiêu khích của Nguyễn Gia Trí, vì vậy có thể bức Người Annam mình kinh doanh là sản phẩm chung của hai người.
Hoàng Đạo tuy không học vẽ nhưng xuất hiện ngay từ số 14 (22-9-32) với hai bức biếm họa Nhà giáo quen tay và Nguyễn Khắc Hiếu với việc đời, ký tên Tứ Ly. Ông minh họa truyện ngắn của Khái Hưng: Đi Nam Kỳ và Cái thù ba mươi năm trên Phong Hóa số 15 (29-9-32); Cái thống đời Tống trên Phong Hóa số 17 (13-10-32); Tình tuyệt vọng trên Phong Hóa số 18 (20-10-32), tác phẩm này làm say mê tuổi trẻ lúc bấy giờ nhờ bài thơ Tình tuyệt vọng Khái Hưng dịch thơ Arvers.
Đến Phong Hóa số 19 (27-10-32), lần đầu tiên Tứ Ly xuất hiện như họa sĩ đích thực trên trang nhất Phong Hóa với bức hý họa rất "nhà nghề" Ấy họ đá… nhau! chế giễu cảnh bóng đá… đá nhau và trên Phong Hóa số 21 (11-11-32) có tranh "Ông Nguyễn Khắc Hiếu dạy Văn chương" của Tứ Ly… là hai bức hý họa lớn của Hoàng Đạo.
Ấy họ đá… nhau! của Tứ Ly, bìa Phong Hóa số 19
Khái Hưng cũng vẽ, ký tên Bán Than và Nhị Lang. Trên số Phong Hóa số 23 (25-11-32), có bức hý họa đầu tiên tựa đề Phát minh, ký Bán Than. Trên Phong Hóa số 26 (16-12-32) ông vẽ thêm ba bức tranh hài hài hước, ký Bán Than. Đến Phong Hóa số 66 (29-9-33) ông vẽ hai tranh tựa đề Tùy danh chọn nghề, đều ký Nhị Lang. Ông tiếp tục ký Nhị Lang trên các tranh: Lý luận Phan Khôi trên Phong Hóa số 70 (27-10-33); rồi hai tranh trên Phong Hóa số 73 (17-11-33), một trên Phong Hóa số 74 (24-11-33). Và trên Phong Hóa số 85 (11-2-34) có tranh Nhị Lang bán tranh Tết. Ông còn minh họa cho truyện vừa Số đào hoa của ông. Và trên Phong Hóa số 115 (14-9-34) có tranh Lý Toét của Nhị Lang…
Nhưng Khái Hưng vẽ không hay bằng Hoàng Đạo.
Nam Bắc không hiểu nhau của Bán Than, Phong Hóa số 26
Sự ra đời của Lý Toét
Lý Toét do Nhất Linh sáng tạo ngay từ tháng 6 năm 1931, khi chưa có Phong Hóa. Nhất Linh chính thức đưa Lý Toét lên Phong Hóa từ số 15 (29-9-32), và sẽ được các họa sĩ chấm phá thêm, trở thành một trong những nhân vật sáng chói của Tự Lực văn đoàn, biểu hiệu tất cả phong cách hài hước và bi đát trong hý họa của Phong Hóa Ngày Nay.
Lý Toét trở thành một sáng tác tập thể, một thứ lương tâm thời đại, một sự tự trào, cười dân mình mà cũng là cười chính mình: một lũ nhà quê ra tỉnh, lóe mắt trước đời mới tối tân, hoa lệ người Âu đem lại, bị bánh xe thực dân và cuộc sống tân thời đè bẹp, nhưng vẫn cố gắng ngoi lên, chống lại bằng sự ngây ngô, gàn dở, mà không thua.
Lý Toét trở thành một nhân vật "có thật", một con người bằng xương bằng thịt, thậm chí, trên Phong Hóa, có khung quảng cáo của Thanh Hà Dược Phòng với tít Lý Toét mắc lậu kể chuyện Lý Toét và Ba Ếch đi chơi ngõ Sầm Công "để thưởng thức phong lưu Hà Thành. Sau trận mây mưa một ít lâu, cả hai đều mắc phải bệnh kín" may nhờ uống thuốc của Hà Thành Dược Phòng 55 Route de Huế, một tuần lễ là khỏi!
Sự ra đời của Lý Toét mãi sau này mới được Nhất Linh kể lại trên báo Xuân Ngày Nay 1940, số 198 (3-2-40) trong bài viết tựa đề Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ.
Nhất Linh sáng tác ra Lý Toét như thế nào? Ông kể lại như sau:
"Đông Sơn một hôm ngồi xem báo Phụ Nữ, nghịch vẽ một người nhà quê và thấy mặt người ấy hay hay liền xé chỗ vẽ cất đi, chưa biết dùng làm gì. Các bạn thấy trong hình đầu tiên ấy Lý Toét trẻ hơn bây giờ nhiều, mà ngay lúc đó, Lý Toét đã có đủ cả ô, cả giầy, cả râu ria, búi tóc.
Không có tờ báo Phụ Nữ Thời Đàm thì không có Lý Toét. Vậy theo đúng lịch sử ta có thể quả quyết rằng:
Đông Sơn và Phụ Nữ đã đẻ ra Lý Toét, đẻ vào tháng 6 năm 1931.
Được ít lâu Phong Hóa đổi tòa soạn. Lý Toét ra mắt độc giả ngay từ số 14 trong mục Vui Cười nhưng vẫn bơ vơ ngơ ngác vì chưa có tên. Đầu tiên là Tứ Ly đem Lý Toét vào Phong Hóa (số 35 ngày 24-2-33) trong bài cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức, có bức vẽ Lý Toét đi với Ba Ếch vào xem phụ nữ kén chồng.
Bức tranh khôi hài đầu tiên có vẽ Lý Toét và có chua tên cẩn thận là bức tranh vẽ Lý Toét ra tỉnh đứng trước cái máy nước ngẫm nghĩ: Quái! Bia ai mà lạ vậy!" (Phong Hóa số 48 ngày 26-5-33)".
Nét vẽ Lý Toét đầu tiên của Nhất Linh trên báo 
Phụ Nữ Thời Đàm, in lại trên Ngày Nay số 198.
Trong bài viết này, Nhất Linh nhớ gần đúng, chỉ sai hai chỗ:
- Lý Toét có mặt trên mục Vui cười, từ Phong Hóa số 15 (không phải số 14).
- Nhất Linh không nhớ bài viết đầu tiên, đặt tên cho Lý Toét trên Phong Hóa, là bài Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát-Tót, Juillet) của HTC [Hoàng Tích Chu] in trên Phong Hóa số 25 (9-12-32). Còn bài Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly, là bài thứ hai, in sau ba tháng, trên Phong Hóa số 35 (24-2-33). Hoàng Tích Chu mới là người đầu tiên đặt tên cho Lý Toét.
Nhất Linh lại viết:
"Tên Lý Toét thấy xuất hiện năm 1930 trong báo Tứ Dân mà người đẻ ra tên Lý Toét lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu". Đấy là Nhất Linh nghĩ thế. Nhưng khách quan mà xét, thì tên Lý Toét trên báo Phong Hóa là do Hoàng Tích Chu đưa ra trong bài Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát Tót, Juillet). Hoàng Tích Chu có cóp của Tú Mỡ hay không, ta không thể biết được. Nhưng ta cũng nên đặt câu hỏi: nếu tên này Tú Mỡ đã đặt ra từ năm 1930, thì tại sao Nhất Linh lại không dùng ngay từ đầu? Vậy nếu Tú Mỡ có nghĩ ra hai chữ Lý Toét, từ năm 1930, thì tôi cho rằng đó chỉ là điều trùng hợp.
Sự hiển nhiên là Lý Toét của Nhất Linh mấy tháng đầu chưa có tên, chỉ từ khi HTC đặt tên cho nhân vật này là Lý Toét, thì lúc ấy mọi người mới gọi là Lý Toét. Cho nên tôi nghĩ rằng "công" đặt tên cho Lý Toét phải là của Hoàng Tích Chu.
Bản chất Lý Toét
Trong thời kỳ đầu, biếm họa trên Phong Hóa còn hiền lành, cốt chỉ mua vui.
Nhưng dần dần Lý Toét sẽ chỉ đạo tư tưởng những biếm họa trên Phong Hóa Ngày Nay. Khởi đầu bằng khuôn mặt hiền lành do Đông Sơn tạo ra trên Phong Hóa, 1932 và kết thúc bằng nhưng nét phẫn nộ, gào thét của Nguyễn Gia Trí trên Ngày Nay kỷ nguyên mới, 1945.
Lý Toét là nhân vật chính và nổi tiếng nhất của Tự Lực Văn Đoàn, ra đời trước cả cô Mai (Nửa chừng xuân), cô Tuyết (Đời mưa gió), cô Loan (Đoạn tuyệt)… Lý Toét ở với Tự Lực văn đoàn lâu nhất, có mặt từ Phong Hóa số 15 và chỉ ra đi khi Ngày Nay kỷ nguyên mới đình bản.
Lý Toét "chính thức" có mặt trên Phong Hóa từ số 15, nhưng đã có mặt trong "vô thức" từ Phong Hóa số 14 (22-9-32), trong bức tranh lớn Người Annam mình kinh doanh của Đông Sơn, với hình một người nét mặt giống Lý Toét, ngồi trên mui xe hàng.
Người Annam mình kinh doanh, trên trang nhất 
báo Phong Hóa số 14, với Lý Toét ngồi trên mui xe
Lý Toét ngồi trên mui xe
Và vẫn trong số 14 này, trang 3, còn có hai tranh: Mồm mép hàng giầy, ký Tô, vẽ người bán giày có khuôn mặt và bộ dạng giống như Lý Toét. Bên cạnh là bức tranh Dạy khôn ký Nul, vẽ cảnh một thằng nhỏ bị xe cán đứt đôi, một ông nhà quê cầm dù giống Lý Toét đi qua, cúi xuống dặn: lần sau có đi nên cẩn thận!
Mồm mép hàng giày của Tô, Phong Hóa số 14.
Dạy khôn của Nal, Phong Hóa số 14.
Hai bức tranh này ký Tô và Nul (Nguyễn Gia Trí) nêu ra hai khía cạnh đối lập của Lý Toét: vừa khôn ngoan lại vừa ngây ngô, thật thà. Hai đặc tính này sẽ được đào sâu trong bài viết của Hoàng Tích Chu: Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát Tót, Juillet) đã nói đến ở trên và cũng sẽ được Nguyễn Gia Trí sử dụng triệt để khi ông vẽ Lý Toét sau này, trong những bức biếm họa chống tàn tích của xã hội cũ và chống thực dân.
Trên Phong Hóa số 15 (29-9-32), mục Vui cười, lần đầu tiên có hình Lý Toét, DS (Đông Sơn) nhưng chưa đề tên Lý Toét.
Lý Toét hiền lành trong mục Vui Cười, 
DS (Đông Sơn), Phong Hóa số 15
Phong Hóa số 16 (6-10-32), trang 4, có tranh vẽ ông lý (chưa có tên Toét) đi qua hiệu giải khát, được cô hàng mời: "Mời ông vào xơi nước chanh nước đá". Ông lý hiểu lầm là cô hàng mời uống không tốn tiền, nên lễ phép từ chối: Tôi không dám mời cô xơi. Tác giả (không ký tên) đã chỉ ra sự "nhà quê" của ông lý.
Tranh vẽ ông lý (chưa có tên Toét) trên Phong Hóa số 16
Trên Phong Hóa số 21 (11-11-32) có bức tranh Tưởng tượng… và sự thực… của Đông Sơn: bên trái, nhân vật giống Lý Toét, tưởng tượng mình đứng bên cầu phong cảnh đầy thơ mộng… bên cạnh là… cảnh thực.
Tưởng tượng, của Đông Sơn, 
vẽ Lý Toét… nhà thơ, Phong Hóa số 21
Phong Hóa 25 (9-12-32), số đặc biệt về Hội Chợ, lần đầu tiên xuất hiện tên Lý Toét được xuất hiện trên tựa bài viết: Cụ Lý Toét đi xem hội chợ (Cát Tót, Juillet), Hoàng Tích Chu [3] mô tả Lý Toét như sau:
"Lúc vào cửa, cụ Lý Toét bị chen, trên đầu thì xổ cả khăn, tung cả búi tóc, dưới chân thì họ xéo tụt cả giầy, khốn đốn mới qua được cái cửa quay. (…) Bới lại cái "búi chấy", quấn lại cái khăn lượt mầu nước dưa cho chỉnh, cụ lý đi nghênh ngáo mọi nơi. Mỗi hàng một vẻ, lộng lẫy, rực rỡ như động tiên, cụ chẳng biết nên xem đâu trước, đâu sau, ngơ ngẩn cả người như mán về đồng bằng vậy. (…) Đi qua dan hàng máy hát, réo rắt dọng hát chèo, sen tiếng nhị, tiếng trống, tiếng mõ, tiếng thanh la, nghe rõ mồm một. Cụ ngây cả người không biết tiếng hát ở đâu mà ra".
Bài viết của Hoàng Tích Chu, không những lần đầu tiên đặt tên cho Lý Toét, mà còn mô tả dáng điệu và tâm lý Lý Toét, dùng lập luận nhà quê của Lý Toét để phê bình cái văn minh mẫu quốc đem lại. Đây là bài viết đầy đủ và có ý nghĩa nhất về Lý Toét, cũng là văn bản sau cùng của Hoàng Tích Chu trên Phong Hóa, bởi vì ông mất ngày 25-1-1933. Sau này, các họa sĩ đều dựa vào "tinh thần" bài của HTC để vẽ chân dung Lý Toét.
Trên Phong Hóa số 35 (24-2-33), có bài Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly, kể chuyện Lý Toét và Ba Ếch đi chợ phiên gặp đủ các vị chức sắc trong làng (cổ) văn: Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Công Tiễu, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Văn Tố… kèm theo tranh Phụ nữ kén chồng, vẽ Lý Toét và Ba Ếch đứng xem các bà, các cô dự cuộc thi kén chồng. Đây là lần đầu Lý Toét xuất hiện với tên trong bài viết và với hình minh họa.
Phụ nữ kén chồng của Tứ Ly, Phong Hóa 
số 35, trang 8, Lý Toét đứng cạnh Ba Ếch
Phong Hóa số 48 (26-5-33) có bức tranh đề tít: Lý Toét ra tỉnh, vẽ Lý Toét ô cặp nách, cúi nhìn cái vòi nước công cộng, tưởng là bia mộ, miệng lẩm bẩm: quái bia gì mà lạ vậy? Tranh không ký tên, nhưng lột đúng "tinh thần" Lý Toét của Hoàng Tích Chu.
Đây là lần đầu tiên tranh Lý Toét có tên.
Lý Toét ra tỉnh, Phong Hóa số 48
Quá trình thành lập nhân vật Lý Toét như thế là xong. Kéo dài trong 8 tháng, từ Phong Hóa số 15 (29-9- 32) đến Phong Hóa số 48 (26-5-33).
Từ đó các họa sĩ thi nhau vẽ Lý Toét, nhất là từ khi trên Phong Hóa có cuộc thi Lý Toét, bất cứ ai cũng có thể gửi tranh, gửi bài đến tòa báo.
Cùng với tranh là loạt bài cổ động, bắt đầu trên Phong Hóa số 51 (16-6-33) với vở kịch Nửa cái thỏ bò [thủ bò, đầu bò] của Khái Hưng vai chính là Lý Toét. Phong Hóa số 52 (23-6-33), trang nhất có tranh Lý Toét tức cảnh của Nhất Sách, vẽ Lý Toét ra Hà Nội bị hành hung… Nhiều tranh hài hước có hình Lý Toét, nhưng không đề tít và không ký tên người vẽ. Phong Hóa số 60 (18-8-33), có tranh Lý Toét của Đông Sơn. Phong Hóa số 78 (22-12-33) có nhiều tranh và bài về Lý Toét. Phong Hóa số 79 (29-12-33), có tranh Lý Toét của Ngạc Mai (Trần Quang Trân) và trên mục Vui cười, hình Lý Toét có thay đổi, có cá tính hơn, chắc Nguyễn Gia Trí sửa.
Lý Toét ngự trị một mình trên Phong Hóa, cho đến khi Xã Xệ ra đời.
Ba Ếch
Nhất Linh không chỉ tạo Lý Toét, ông còn tạo cả Ba Ếch, nhân vật thứ hai này, theo ông, là một người có thật, tên là Ech, sống ở Hà Nội. Nhưng Nhất Linh không vẽ hình Ba Ếch, vì ông muốn Ba Ếch có "thiên hình vạn trạng" [4]. Tuy được cổ động trên Phong Hóa rất kỹ, cả Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, đều viết truyện vui, kịch, truyện ngắn đề cao Ba Ếch, nhưng không thành công.
Mặc dù gần "bằng tuổi" Lý Toét, Ba Ếch ra đời từ Phong Hóa số 19 (27-10-32), xuất hiện lần đầu trong mục Vui cười, với mẩu truyện Ba Ếch đi xe hỏa, không ký tên, chắc của Nhất Linh. Tiếp đó, có bài Ba Ếch đi xem hội chợ của Nhất Linh, trên Phong Hóa số 25 (9-12-32), cũng không gây được tác dụng mong muốn. Rồi Ba Ếch ăn Tết của Tứ Ly trên Phong Hóa số 31 (24-1-33) cũng vậy.
Phong Hóa số 35 (24-2-33), có bài Cuộc chợ phiên của Phong Hóa tổ chức của Tứ Ly, kể chuyện Lý Toét và Ba Ếch đi chợ phiên (đã nói ở trên). Bài này cũng không làm cho Ba Ếch nổi tiếng, chỉ lộ tính cách hài hước của Tứ Ly.
Phong Hóa số 39 (24-3-33), Khái Hưng đem cả tên mình vào đóng cùng với Ba Ếch trong vở kịch vui tự trào Tôi là Khái Hưng, cũng chẳng ăn thua gì. Phong Hóa số 41 (7-4-33) Khái Hưng lại viết thêm truyện vui: Ba Ếch Vô Huế. Phong Hóa số 73 (17-11-33), Tứ Ly viết bài: Vợ chồng Ba Ếch đi ăn tạp pí lù… Tóm lại những cố gắng triệt để "lăng xê" Ba Ếch đều vô hiệu. Bởi vì Ba Ếch không tạo được cảm hứng cho họa sĩ vẽ tranh, nên không để lại dấu vết gì trong lòng người đọc.
Xã Xệ và Lý Toét
Nhân vật nổi tiếng thứ nhì sau Lý Toét là Xã Xệ, do Bút Sơn sáng tạo.
Lần đầu tiên là trên Phong Hóa số 57 (28-7-33), có bức tranh gửi dự thi vẽ một người trọc đầu chỉ có một sợi tóc quăn trên đỉnh, đi hớt tóc, và người thợ cạo hỏi:
Bẩm ngài, ngài rẽ bên hay rẽ giữa ạ?
Nhân vật (là Xã Xệ) trên bức tranh này mới chỉ có độc một sợi tóc xoăn mà thôi, chưa có tên, mà hình dạng tầm thường, chưa có cá tính.
Tranh tranh dự thi số 73 của Bút Sơn, 
trên Phong Hóa số 57 (28-7- 33)
Chín tháng sau, Bút Sơn sáng tạo lại hoàn toàn Xã Xệ (và Lý Toét), trên hai bức tranh vẽ Lý Toét và Xã Xệ. Lần này ông đặt tên Xã Xệ đàng hoàng. Tác phẩm in trên trang nhất Phong Hóa số 89 (16-3-34), đập vào mắt người xem. Cặp Lý Toét - Xã Xệ của Bút Sơn được chấp nhận ngay, từ đó, trở thành cặp bài trùng như Laurel-Hardy Việt Nam vậy.
Tranh Bút Sơn, Phong Hóa số 89 
(16-3-34), hai tranh Lý Toét - Xã Xệ
Không ai biết rõ Bút Sơn tên thật là gì. Nhất Linh, trong bài Mấy lời nói đầu [5] viết về Bút Sơn với lời nhắn như sau: "Bút Sơn ở Sài Gòn (người đã đẻ ra Xã Xệ) (tên thật chưa biết). Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn ông cho biết tên thật".
Khi Lý Toét - Xã Xệ của Bút Sơn được in trên Phong Hóa số 89 (16-3-34), thì bốn tuần sau, có tranh Xã Xệ của Tú Nuy (Nguyễn Gia Trí), phụ họa trên Phong Hóa số 93 (13-4-34). Bức tranh đầu tiên, xác định chân dung Xã Xệ dưới cái nhìn của Nguyễn Gia Trí.
Tranh Xã Xệ của Tú Nuy (Gia Trí), Phong Hóa số 93
Nguyễn Gia Trí đã sửa lại Xã Xệ của Bút Sơn cho đẹp hơn, dễ yêu hơn, bớt mập phì, profil rõ ràng, giống con chim non, nhất là sợi tóc xoăn đặc biệt, tuyệt vời.
Khuôn mặt nghiêng của Xã Xệ với sợi tóc xoăn, do Nguyễn Gia Trí tái tạo, gây dấu ấn mạnh trong trí nhớ tuổi thơ của Trần Khánh Triệu. Hơn sáu mươi năm sau ông ghi lại trong bài Papa tòa báo câu này: "hình Xã Xệ [chú Trí] chỉ đưa vài nét là xong, bao giờ cái tóc xoắn như lò xo của ông Xã cũng được vẽ sau chót"[6]Chính cái tóc xoắn này phân biệt Xã Xệ của Nguyễn Gia Trí với Xã Xệ người khác vẽ.
Kể từ Phong Hóa số 94 (20-4-34) trở đi có nhiều tranh Lý Toét-Xã Xệ. Phong Hóa số 100 (1-6-34) có tranh Lý Toét - Xã Xệ, do BeKy vẽ, khá đẹp.
Trên Phong Hóa số 102 (15-6-34), mục Vui cười thêm hình Xã Xệ, logo mới mang dấu ấn Nguyễn Gia Trí.
Mục Vui cười có hình Lý Toét và Xã Xệ, Phong Hóa 102
Phong Hóa số 105 (6-7-34) có tranh Lý Toét Tập Kiều:
Đội trời đạp đất ở đời,
Nguyễn Văn Lý Toét vốn người Việt Nam, của ZTTG (Gia Trí).
Tranh Tập kiều, của ZTTG 
(Nguyễn Gia Trí) Phong Hóa số 105
Bức Tập Kiều là bức tranh đầu tiên sáng tạo cho Lý Toét một ý nghĩa chính trị. Tác phẩm gây ấn tượng mạnh nhờ hai câu thơ Nguyễn Du: Nguyễn Gia Trí đã tạo cho Lý Toét một cá tính sắc sảo qua nét mặt kiêu hãnh và cương quyết và cho người Việt Nam một sự tự hào thầm kín: Lý Toét vươn lên thành Từ Hải.
Đến tác phẩm Lý Toét ký tên ZTTG dưới đây là bức tranh dữ dội nhất trong sưu tập Lý Toét của Tự Lực văn đoàn: Nguyễn Gia Trí đem tất cả sự phẫn nộ của mình hòa trong tác phẩm. Lý Toét ở đây, biểu hiệu sự quật khởi, bất phục tòng của người dân mất nước. Chưa bao giờ một bức tranh hài hước có thể đi xa đến thế.
Tranh Lý Toét của ZTTG, in trong bài Lịch sử Lý Toét, 
Ba Ếch và Xã Xệ của Nhất Linh, Ngày Nay số 198
Tóm lại, Lý Toét ban đầu chỉ là một ông lý nhà quê ra tỉnh, nét mặt ngây ngô hiền hậu, người vẽ cho Lý Toét biến chuyển theo cách vẽ và cá tính của mình, nhưng phải công nhận rằng các họa sĩ chuyên nghiệp như Ngạc Mai (Trần Quang Trân), Nhất Sách, Trần Bình Lộc, Cát Tường… đều vẽ Lý Toét - Xã Xệ không hay mấy, nhiều khi không bằng các họa sĩ nghiệp dư gửi tranh dự thi. Cả Tô Ngọc Vân cũng vậy.
Nguyễn Gia Trí và Lý Toét - Xã Xệ
Nguyễn Gia Trí tạo ra một Lý Toét muôn mặt, cho Lý Toét một cá tính mạnh mẽ, với bức Tập Kiều, xác định ADN của Lý Toét qua lời Nguyễn Du:
Đội trời đạp đất ở đời. Nguyễn Văn Lý Toét vốn người Việt Nam.
Nhưng Nguyễn Gia Trí không dừng lại ở đây mà còn vẽ cả bề trái của nhân vật Lý Toét và xã hội Việt Nam nữa, nhất là khi ông họp cặp bài trùng Lý Toét Xã Xệ trong cùng một bức tranh. Lý Toét Xã Xệ, dưới ngọn bút Nguyễn Gia Trí, không chỉ là nạn nhân mà họ - cũng như tất cả người Việt Nam khác - còn là thủ phạm sự suy đồi trong đời sống dân tộc.
Lý Toét gầy yếu như cây liễu nhưng khi cần thì vững như cây tùng. Xã Xệ mập ú, đầy thịt nhưng mềm như cây sậy. Cặp Lý Toét Xã Xệ luôn luôn phức tạp, không chỉ để cười mà cũng không chỉ để khóc, giống như Charlot của Charlie Chaplin, làm ta vừa khóc, vừa cười.
Trong bức tranh Cải Cách, (Ngày Nay số 55, trang 231) phụ bản bài Phá đình của Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí vẽ bữa cỗ ở đình làng, mọi người đang chè chén, tất cả đều có khuôn mặt điển hình Lý Toét Xã Xệ. Bức tranh biểu dương chính chúng ta đang ngụp lặn trong làng xã xôi thịt, cực kỳ tha hóa, và đó là xã hội Việt Nam do ta tạo dựng!.
Cải Cách, Ngày Nay số 55
Đầu óc bảo thủ và xôi thịt của Lý Toét Xã Xệ - tức là đầu óc của dân làng - đã thủ tiêu bao nhiêu tiến bộ, đã dẫm nát bao nhiêu mầm non, đã đưa dân tộc trở lại những thế kỷ trước, chỉ vì có óc thủ cựu, bám chặt lấy cái búi tó trên đầu. Mà đây không phải là chuyện búi tó, nữa, nó đã mở rộng ra đến chuyện tứ đức tam tòng, đến chuyện tiết hạnh khả phong dã man tàn ác, mà Nhất Linh tố cáo, nhưng đã bị chống lại một cách triệt để. Sự chống không phải chỉ có trong đầu óc các cụ cổ đâu, mà cả trong đầu các nhà tư tưởng tân kỳ như Trương Tửu mới lạ kỳ, họ cũng miệt thị cô Nhung trong Lạnh lùng và gián tiếp coi Tự Lực văn đoàn đã tàn phá cái hay của xã hội xưa! Bức tranh dưới đây của Gia Trí, gửi tới những luồng tư tưởng cổ điển ấy.
Lý Toét Xã Xệ của Nguyễn Gia Trí, Ngày Nay số 54
Bức tranh dưới đây, minh họa cho bài Nỗi lo sợ hàng năm của Hoàng Đạo, in trên Ngày Nay số 58) Lý Toét biểu hiệu cho bọn kỳ hào ở thôn quê, thâu thuế của dân bỏ túi, tiêu pha, rượu chè, tự nhiên như "lợi tức" của mình vậy:
Lý Toét Xã Xệ, Ngày Nay số 58
Khi sự ngây ngô đi đôi với mê tín dị đoan kèm óc tưởng tượng phong phú, sẽ cho tuyệt tác dưới đây:
Lý Toét đứng trước đội binh vàng mã sắp đốt, nói với Xã Xệ:
Bác Xã ạ, ở âm phủ thì nước ta mạnh nhất, không nước nào bằng.
Mà đúng như vậy, cho nên tục đốt vàng mã, dù được Tự Lực văn đoàn chiến đấu bằng đủ mọi cách mà nó vẫn còn sống đến bây giờ. Đã gần một thề kỷ qua!
Như thế, không phải Nguyễn Gia Trí bôi nhọ dân tộc, như nhiều người kết án, mà ông chỉ ra cái "ngu muội" của dân tộc để tự sửa, mà thôi! Chỉ những nghệ sĩ lớn mới có đủ can đảm để để viết và vẽ về cái xấu của dân tộc mình. Còn việc ca tụng con rồng cháu tiên thì ai làm cũng được.
Lý Toét Xã Xệ, tranh bìa của Ritg Ngày Nay 107
Kinh hãi hơn nữa là thế hệ Lý Toét Xã Xệ, bố, lại sinh ra thế hệ Lý Toét Xã Xệ, con. Và nếu ta không chịu thay đổi thì đời đời, thanh niên Việt (lúc bấy giờ, và cả ngày nay nữa, dưới một hình thức khác) sẽ không thể nào thoát ra được cảnh ham chè chén, xôi thịt, bạc tiền.
Ngày Nay số 115, số đặc biệt Thanh niên
Nhưng Lý Toét Xã Xệ, không phải lúc nào cũng có bộ mặt tiêu cực, trong bức tranh dưới đây, họ đã "nắm vững" tình hình, không còn "ngu" nữa, đứng trước màn hài kịch "dân biểu", Lý Toét bảo Xã Xệ:
- Vẫn trò mọi năm? Nhạt lắm rồi!
Dân đã hiểu, không còn ngu muội nữa, cái trò nghị gật chỉ biết Uẩy Uẩy theo lời chính phủ thực dân, đã bị lộ tẩy:
Trò chính phủ biểu, Ngày Nay 127.
Dưới đây là bức tranh hài hước thâm thúy sâu xa: Ngày Tết, Lý Toét đem quà đến biếu quan Tây, và nói:
- Nghe nói biểu hiệu của mẫu quốc là con gà sống, nên chúng tôi đem đến tết cụ lớn con gà mái cho có đôi.
Ở đây Nguyễn Gia Trí chơi chữ… Tây:
Le coq gaulois (Con gà sống ở xứ Gaule) là một trong những biểu hiệu thiêng liêng của dân tộc Pháp.
Lý Toét bèn đem tết quan lớn Tây con gà mái cho có đôi.
Hiềm vì, gà mái (poule), đối với người Pháp ngụ ý xấu: đàn bà điếmđàn ông nhát như cáy (poule mouillée).
Lý Toét ngụ ý: Mẫu quốc chỉ là con gà Tây, gà tồ, xứng với trai hèn, gái điếm.
Tranh Tết Tây của Ritg, Ngày Nay 144
Vẽ xong bức tranh ấy, in trên bìa báo số 144 rồi. Tuần sau, Lý Toét, Xã Xệ, hơi lo. Trời xanh ảm đạm. Đứng nói chuyện với nhau bên cạnh tờ báo, Xã Xệ tập Kiều:
Rằng hay thì thực là hay
Nhưng rồi ngậm đắng nuốt cay không chừng!
Tranh Rõ khéo lo xa, Ngày Nay 145
Nhưng bức tranh cực kỳ cay đắng là bức dưới đây, in trên bìa Ngày Nay số 150 (25-2-39). Nhân dịp chính phủ Đông Dương bỏ ra 2 triệu bạc và phái ông De Beaumont đem tiền đi dự đấu xảo San Francisco. Lý Toét lấy ô kéo chân ông Tây lại, Xã Xệ đứng sau kéo áo Lý Toét:
- Thôi! Ông đẹp giai và sang trọng thế, thì ông đi đấu xảo một mình cũng đủ chán rồi. Còn túi tiền ông để lại cho chúng tôi ăn gạo, chúng tôi đói lắm!
Ngày Nay 150, tranh bìa
Bố cục và nét vẽ Lý Toét Xã Xệ, trong bức tranh này thật tuyệt hảo, diễn tả toàn bộ cuộc tranh đấu bất bình đẳng giữa hai đối tượng: một bên là bọn cướp nước, giàu mạnh, có khí giới tối tân tầu bay tầu bò. Một bên là người dân nhược tiểu, yếu nghèo, bị cướp nước mà không có khí giới để chống cự, để bảo vệ, đề giành lại lãnh thổ. Bằng cái ô, Lý Toét đã can trường, xông xáo, Xã Xệ, theo sau, bám vào Lý Toét như con sò, con ốc, thân hình co lại trong một vòng tròn tuyệt vọng.
Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ là bài viết cuối cùng của Nhất Linh, in trên Ngày Nay, sau đó ông chỉ vẽ thêm vài tranh trào phúng, rồi đến Ngày Nay số 204 (23-3-40) ông ngừng hẳn. Mùa thu năm 1940 Nhất Linh trốn sang Tầu. Trong thời gian này Nguyễn Gia Trí cũng đã đi trốn, Tô Ngọc Vân sẽ vẽ thay Gia Trí với biệt hiệu Ái Mỹ.
Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng, dù đã sống lẩn tránh, vẫn lần lượt bị bắt trong tháng 9-1941. Chỉ còn lại một mình Thạch Lam.
Lúc ấy, Thạch Lam, đã nhuốm lao, ông mất ngày 28-6-1942, ở tuổi 32, trong lúc Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, đang bị tù ở Vụ Bản và Nhất Linh lưu lạc bên Tàu.
Trong tất cả những bất hạnh này, Lý Toét đều dính líu xa gần.
Suốt thời gian vẽ hý họa tranh đấu, từ 1936 trở đi, Nguyễn Gia Trí đã dùng Lý Toét như một phương tiện lợi hại chống Pháp. Cho nên có thể nói: Lý Toét đã góp phần vào việc Phong Hóa bị mất giấy phép, Nguyễn Gia Trí và Hoàng Đạo bị tra tấn khi bị bắt.
Lý Toét cũng là bài viết cuối cùng của Hoàng Tích Chu trên Phong Hóa và của Nhất Linh trên Ngày Nay.
Lịch sử Lý Toét gắn liền với cuộc cách mạng chữ, cách mạng tranh, và cách mạng súng, của Nhất Linh, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí, Hoàng Đạo, và cái chết quá sớm của Thạch Lam.

Chú thích:
[1] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, quyển 3, Đại Nam chụp in lại tại Hoa Kỳ, trang 446.
[2] Xem chương 5: Sự thành lập Tự Lực văn đoàn.
[3] Xem chương 6 - Đổi mới ngôn ngữ và tư tưởng.
[4] Nhất Linh trong bài Lịch sử Lý Toét, Ba Ếch và Xã Xệ, Ngày Nay số 198 (3-2-40).
[5] Xem chương: Tự Lực văn đoàn có những ai?
[6] Papa tòa báo của Trần Khánh Triệu, in trong Nhất Linh, người nghệ sĩ, người chiến sĩ, trang 162-163.
Trường Mỹ thuật Đông Dương
Phần I: Những thành quả
Ngày Nay số 198, Tết 1940, của Tô Ngọc Vân
Muốn hiểu tại sao trong khoảng thời gian rất ngắn từ 1932 đến 1940, văn học nghệ thuật của chúng ta đã phát triển mạnh mẽ, tạo ra một thời kỳ mà chúng tôi xin gọi là thời kỳ Ánh sáng ở Việt Nam, ta cần tìm hiểu sự kết hợp giữa hai nguồn sáng: Tự Lực văn đoàn và trường Mỹ thuật Đông Dương.
Sự tìm hiểu này dẫn đến nhận định: nếu không có trường Mỹ thuật Đông Dương, Phong Hóa Ngày Nay sẽ không có hý họa, hội họa, không có bộ mặt hài hước, nghệ thuật, và cũng không thể chủ xướng cuộc cải tiến xã hội về nhà cửa dân quê và đổi mới y phục thị thành.
Trường Mỹ thuật Đông Dương là một trong những công trình tốt đẹp nhất mà người Pháp đã thực hiện ở Việt Nam, để lại dấu ấn tới ngày nay, công lao dựa trên vai một người: Victor Tardieu mà Phong Hóa Ngày Nay, đã không ngừng nhắc lại những chặng đường khó khăn và sự hy sinh cao cả của giáo sư Tardieu đối với học trò cho đến khi nhắm mắt.
Chương này sẽ chia làm hai phần; phần I, viết về những thành quả của các nghệ sĩ xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương trong đời sống Việt Nam và phần II viết về sự xây dựng nhà trường của họa sĩ Victor Tardieu.
Khi Victor Tardieu mất, báo Ngày Nay viết bản ai tín, có câu:
"Sự nghiệp của ông Tardieu là tất cả nền mỹ thuật ở nước này: trường Mỹ thuật là cái công trình đầu tiên của ông.
Trước khi trường này mở, trong nước ta không có một người nào có thể gọi được là nghệ sĩ; công chúng không biết thưởng thức mỹ thuật. Những kiểu nhà xấu, những bàn ghế lố lăng, những tranh vẽ sặc sỡ hồi ấy là biểu hiệu một sự hỗn loạn, mà các công nghệ nhỏ của ta không có mỹ thuật nâng đỡ, bị thiệt thòi nhiều" (Ngày Nay số 64, 20-6-37).
Những lời trên đây tóm tắt công trạng của giáo sư Tardieu và các nghệ sĩ xuất thân trường Mỹ thuật Đông Dương, đặc biệt việc đưa mỹ thuật vào đời sống để nâng cao phẩm chất cuộc sống.
Năm 1925, họa sĩ Victor Tardieu (1870-1937) sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương theo nghị định của Toàn quyền Merlin ngày 27-10-1924, với mục đích đào tạo hai ngành: Hội họa và Kiến trúc. Mỗi khóa học 5 năm. Khi khóa đầu tiên tốt nghiệp, năm 1930, Việt Nam có những họa sĩ, điêu khắc gia và kiến trúc sư đầu tiên.
Năm 1931, Victor Tardieu mang tác phẩm của học trò sang dự triển lãm đấu xảo Paris, tác phẩm của các họa sĩ Việt Nam hiện diện lần đầu ở ngoài nước và giá trị tranh của họ còn giữ nguyên vẹn đến ngày nay. Việc các nhà đấu giá quốc tế hiện giờ bán tranh Lê Phổ, Mai Thứ… với những giá cắt cổ, chứng minh điều đó.
Nhưng trước năm 1925, Việt Nam đã có gì về hội họa?
Phạm Quỳnh viết về hội họa
Lê Huy Miến, là người đầu tiên đã sang Paris học trường Mỹ thuật từ cuối thế kỷ XIX, trở về Hà Nội năm 1895, làm việc với nhà in Schneider, có vẽ một số tranh sơn dầu, là trường hợp cá nhân, không phổ biến [1] và đầu thế kỷ XX, người Pháp cũng lập một số trường dạy thủ công nghệ quanh Sài Gòn như các trường Thủ Dầu Một (1901), Biên Hòa (1903) và Gia Định (1913), nước ta chưa có trường Mỹ thuật nào đào tạo họa sĩ, điêu khắc và kiến trúc sư, trước năm 1925.
Bài viết sớm nhất nhắc đến tình hình hội họa Việt Nam mà chúng tôi tìm được là Cuộc đấu xảo mỹ nghệ của hội Khai Trí, của Thượng Chi (Phạm Quỳnh) in trên Nam Phong số 78, tháng 12-1923, có nói đến Trần Phềnh, Ngô Đặng Đĩnh và Nam Sơn:
"Về nghề họa, gần đây có mấy bậc thanh niên tài tử tập lối thủy họa (aquarelle) của Tây đã tinh thần lắm, như ông Trần Phềnh, ông Ngô Đặng Đĩnh, hai ông kỳ đấu xảo này đều được thưởng cả. Nhưng ông Trần Phềnh không phải được thưởng vẽ thủy họa, lại được thưởng về hai bức vẽ sơn. Hai bức này thuộc về lối "đại họa bút", nghĩa là lối vẽ thành bức lớn, họa gia phải nghĩ kiểu, phải bố trí thế nào cho thành một cái toàn thể có ý tứ. Lối này mới thật lộ được cái tài sáng nghĩ, cái tài kết cấu của họa gia, chứ lối thủy họa chỉ là hình dung mô phỏng cái chân cảnh trước mắt mà thôi. Nhưng cũng vì thế mà khó hơn nhiều. Người vẽ đây cũng như người làm văn, phải chọn đề, phải cấu tứ, chỉ khác là nhà văn thì phô diễn bằng câu văn mà nhà họa thì phô diễn bằng hình sắc. Ông Trần Phềnh chọn đề trong Nam sử, lấy hai tích truyện Trưng Nữ Vương và Trần Hưng Đạo.
Một bức của ông vẽ hai chị em bà Trưng sau khi đã đánh được người Tầu, cưỡi voi đi đến một nơi, nhân dân già trẻ lớn bé kéo ra đón lạy tạ ơn hai bậc nữ anh hùng đã cứu cho dân thoát khỏi lao lung người Tàu.
Một bức vẽ tích ngài Trần Hưng Đạo trẩy quân qua làng Phù ủng gặp ông Phạm Ngũ Lão thủa còn hàn vi đương ngồi đan rổ. Các tay vẽ Tây bình phẩm hai bức ấy có kẻ khen người chê, khen rằng vẽ những đám đông người mà thu xếp đã khéo, không bề bộn, đã tỏ ra có tài kết cấu; chê rằng trước sắc đậm nhạt chưa được tinh, phối cảnh xa gần chưa được hệt. An Nam ta thời có người chê vẽ những người dân về đời Trưng vương như Thổ Mán, vẽ những người lính khiêng kiệu đức thánh Trần như lính phường chèo, v.v..." [2]
Lúc ý niệm về nghệ thuật còn phôi thai, nhận định tất cũng phôi thai, Phạm Quỳnh bênh vực Trần Phềnh, vì ông cho rằng chỉ lối vẽ "đại họa bút" (fresque) mới khó vì phải biết cấu tứ, dàn cảnh, còn lối thủy họa (aquarelle) không có gì khó khăn cả. Ý ông muốn nói: những kẻ chê tranh Trần Phềnh kia có biết rõ lính đời Trưng, đời Trần ăn mặc như thế nào không mà dám chê? Không biết thì phải tưởng tượng ra. Và Phạm Quỳnh cho rằng việc chọn đề tài lịch sử Việt là rất tốt. Khi đi xem các bảo tàng bên Tây, ông đều mong mình sẽ có họa sĩ vẽ được những bức bích họa lịch sử như vậy. Đó là một quan niệm về hội họa rất cổ điển.
Tiếp đó Phạm Quỳnh nói đến một người khác:
"Ông Nguyễn Văn Thọ, hiệu Nam Sơn, cũng là tay vẽ sơn giỏi. Nhưng lối vẽ của ông khí "tây" quá. Bức vẽ "Ông nhà nho", xem đã có vẻ linh hoạt lắm; còn bức vẽ "cái liễn, con dao và mấy quả tráng miệng" thời dẫu tả thực hệt thật nhưng quyết không hợp với con mắt người Nam ta. Thiết tưởng về nghề khoa này, bất tất phải bắt chước của người Tây cả. Mô phỏng quá thời có khi đến lố lăng không coi được" [3]
Phạm Quỳnh chê lối vẽ của Nam Sơn, đặc biệt bức tĩnh vật "cái liễn, con dao và mấy quả tráng miệng" là "khí tây" (hơi tây). Bài viết này, dù ý tưởng đã cổ, nhưng cũng cho biết một số thông tin đáng quý: năm 1923, tại cuộc đấu xảo - có lẽ là đầu tiên của hội Khai Trí Tiến Đức - có ba họa gia (lúc đó chưa có chữ họa sĩ) đem tranh trưng bầy, họ vẽ lối thủy họa (aquarelle) và sơn (dầu). Cả ba: Trần Phềnh, Ngô Đặng Đĩnh và Nam Sơn đều được thưởng. Vì không thích lối vẽ của Nam Sơn, nên khi làm chủ khảo kỳ thi hội họa do hội Khai Trí tổ chức, Phạm Quỳnh đã chấm Trần Phềnh nhất.
Vì vậy, trên Phong Hóa số 17 (13-10-32) trong bài xã luận "Tài cán và việc làm" Tam Linh [Nhất Linh] đã phản đối việc này, cho rằng Phạm Quỳnh không rành về tranh:
"Nhớ mấy năm trước đây, hội Khai Trí hồi còn thịnh vượng, có mở một kỳ thi tranh vẽ, ông Phạm Quỳnh làm chủ khảo lấy ông Trần Phềnh được giải nhất, mà để ông Nam Sơn xuống giải nhì.
Tranh ông Nam Sơn hồi ấy chưa chắc đã là đẹp, nhưng so với bức vẽ của Trần Phềnh, thì cái vẻ mỹ thuật còn hơn bội phần. Bảo ông Phạm Quỳnh là một nhà văn tôi không giám cãi, nhưng xin phép cho tôi nói lên rằng: Ông Quỳnh không phải là một nhà mỹ thuật, cũng như ông không phải là một nhà chính trị. Nếu ông rõ tài ông một chút, thì đâu Nam Sơn họa sĩ phải ân hận đến bây giờ".
Phản ứng của Tam Linh - người đã từng học ở trường Mỹ thuật năm 1925 cùng với Nam Sơn - tiêu biểu cho tư tưởng của đám họa sĩ trẻ, bênh vực lối vẽ "Tây" của Nam Sơn và cũng là của họ.
Qua hai bài viết này, ta biết Trần Phềnh, Ngô Đặng Đĩnh và Nam Sơn là ba người đầu tiên có tranh triển lãm ở Hà Nội, năm 1923. Sau đó, khi trường Mỹ thuật Đông Dương mở ra năm 1925, Nam Sơn vào học khóa I (1925) cùng với Lê Phổ, Mai Thứ… [4]; và Thang Trần Phềnh, khóa II, năm 1926, cùng với Tô Ngọc Vân, Vũ Cao Đàm… [5]
Hoàng Đạo viết về tình hình mỹ thuật trước khi có trường Mỹ thuật Đông Dương
Trên Phong Hóa số 19 (27-10-32) có bài Mỹ thuật và công nghệ ở nước ta của Tòng Lương (Hoàng Đạo) bài này đi từ nhận định: trước kia chúng ta cũng đã có một nền mỹ thuật với các họa sĩ, điêu khắc và kiến trúc, nay còn lại gì?
"Mỹ thuật nước ta xưa kia chịu ảnh hưởng của Trung hoa rất là sâu xa, nhưng vẫn giữ một vẻ riêng, cái vẻ riêng ấy, tiêu biểu được cái tinh thần độc nhất vô nhị của dân Việt Nam. Ai là người đã từng xem những di tích thủa xưa ở mấy đền chùa cổ, cũng có một cái cảm tưởng chung như thế. Những khách du quan đã vãn cảnh chùa Lý Bát Đế [đền thờ tám vua nhà Lý], chùa Bút Tháp hay chùa Trăm Gian, cũng thán phục cái hoa tay của những nhà kiến trúc và những nhà điêu khắc đời nhà Lý, thán phục cái vẻ đẹp và vẻ hoạt động của mấy pho tượng cổ, mấy nền kiến trúc còn lại, mà đến nay trong nước cũng chưa ai nặn được, xây được khéo hơn.
Chỉ riêng về nghề vẽ, thì nước ta xưa kia mang tiếng là không có danh tài, không phải là trải qua mười mấy thế kỷ, nước ta không có lấy được một nhà họa sĩ. Ngay cuối đời Lê mạt, ca dao có câu rằng:
Nước Nam có bốn mỹ miều
Nhạn cờ, Thiệu vẽ, Tam tiêu, Dũng đàn.
Đọc câu ca dao ấy, ta cũng phỏng đoán được, đời Lê, đời Lý cũng còn nhiều ông Thiệu khác. Song tiếc rằng, tranh các ông ấy vẽ mất mát dần đi hết, đến nay không còn lấy bức nào. Đây là nói những bức tranh có giá trị, chứ bức tranh in ta thường thấy họ mua để treo tết, ta không thể cho là mỹ thuật được.
Đến bây giờ trường Mỹ thuật Đông pháp mở rộng, nền mỹ thuật nước ta nhờ đấy mà chấn hưng, ta có thể hy vọng được một ngày kia, trên trường cạnh tranh thế giới nước ta không đến nỗi đơn hèn về phương diện mỹ thuật.
Không những thế. Tôi lại còn mong rằng những nhà mỹ thuật ở nhà trường ra sẽ không quản công khó nhọc đem cái tài mình mà dùng vào những nghệ thuật nhỏ trong gia đình (…) Vả những thợ làm những nghề ấy không thể có sáng kiến được, chỉ biết theo cái lề lối nhất định của ông cha truyền lại cho.
Có nhiều nhà mỹ thuật cũng đã để ý đến đồ khảm, đồ sơn, đồ thêu, đồ tơ lụa, nghề làm sứ, nghề thợ mộc. Cái ảnh hưởng của các ông đối với những nghề ấy chưa có gì là đáng để ý, song các ông được ăn quả.
Các ông nên hô hào vận động cho những nhà tư bản biết rằng công nghệ nước nhà, một phần lớn trông về những nghề nhỏ ấy, nhất là cho họ hiểu rằng những nghề ấy không phải là không can hệ đến mỹ thuật. Mỹ thuật không phải là chỉ những bức tranh, những pho tượng quý báu vô giá, ta chỉ dừng xa mà trông, mà thờ, mỹ thuật còn có thể làm cho ta hàng ngày được ở trong một hoàn cảnh nên thơ.
Tôi tưởng tượng một cuộc tương lai nền mỹ thuật nước ta độ 10, 20 năm sau đây, cái tương lai rực rỡ làm cho lòng tôi vô hạn cảm. Lúc bấy giờ không những tranh của các nhà danh họa Việt Nam đấu xảo ở các kinh đô các nước được thiên hạ hoan nghênh, mà trong gia đình nào, ta cũng thấy dùng đồ đơn sơ mà có vẻ mỹ thuật, tự mấy lọ xứ Thanh Trì, nét vẽ tinh xảo của một trang họa sĩ trường mỹ thuật làm tăng cái men xanh và trong, mấy bộ ghế chế theo một kiểu nhã nhặn, đơn giản, mấy bức tranh, cái thảm thêu… cho đến cái ấm nước, cái quạt giấy sơn tay, đều hòa hợp với nhau, dịp dàng như một khúc nhạc vô hình".
Tòng Lương (Phong Hóa số 19)
Bài này là một trong mấy bài viết đầu tiên trên Phong Hóa về trường Mỹ thuật Đông Dương.
Tòng Lương (Hoàng Đạo) tự hỏi: ca dao cho biết nước mình ngày trước có đủ bốn loại tài tử: Nhạn cờ, Thiệu vẽ, Tam tiêu, Dũng đàn, mà giờ đây tranh của những ông Thiệu, không còn lấy một bức.
Vì đâu mà giống họa sĩ ở ta bị tuyệt chủng và tranh của họ tiêu tán hết cả? Có phải vì khí hậu tồi tệ đi đôi với sự không biết bảo tồn di sản văn hóa, đã khiến ta không còn gì, nên Tết đến, phải đem tranh dân gian ra bày bán, nhưng đó có phải là mỹ thuật đâu?
Nhờ trường Mỹ thuật Đông Dương chúng ta mới bắt đầu có họa sĩ trở lại.
Điểm đáng chú ý là Hoàng Đạo, năm ấy mới 25 tuổi, đã nghĩ đến "việc lớn", tức là đem áp dụng nghệ thuật vào thủ công nghệ, để đưa cái đẹp vào đời sống, vì ông cho rằng: "Mỹ thuật không phải là chỉ những bức tranh, những pho tượng quý báu vô giá, ta chỉ dừng xa mà trông, mà thờ, mỹ thuật còn có thể làm cho ta hàng ngày được ở trong một hoàn cảnh nên thơ".
Ông cũng nhận thấy rằng: "Có nhiều nhà mỹ thuật cũng đã để ý đến đồ khảm, đồ sơn, đồ thêu, đồ tơ lụa, nghề làm sứ, nghề thợ mộc". Do đó ông đề nghị một chương trình dùng mỹ thuật để vẽ bình, vẽ lọ sứ, bởi vì, theo ông, nét vẽ tinh xảo của một trang họa sĩ trường mỹ thuật làm tăng cái men xanh và trong, mấy bộ ghế chế theo một kiểu nhã nhặn, đơn giản, mấy bức tranh, cái thảm thêu… cho đến cái ấm nước, cái quạt giấy sơn tay, đều hòa hợp với nhau, nhịp nhàng như một khúc nhạc vô hình".
Ý tưởng này rất mới, đối với năm 1932 - Hoàng Đạo luôn luôn đi trước thời đại - sau này, tôi thấy sôi sục trong họa sĩ Lê Bá Đảng, con người suốt đời chỉ một mực tìm cách đưa mỹ thuật vào đời sống hàng ngày để nuôi sống người dân và làm sao cho dân được sống trong cái đẹp.
Bài viết của Hoàng Đạo, đi đôi với bài Trường Mỹ thuật Đông Pháp, do Nhất Linh viết trên Phong Hóa số 18 (sẽ nói đến trong phần II), đều đề cao chủ trương đưa mỹ thuật vào đời sống của Tự Lực văn đoàn, họ muốn làm giống như ở Nhật.
Giáo sư Tardieu cũng là người chủ trương thực hiện quan niệm này khi ông lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương và ông đã mở Hội Việt Nam chấn hưng mỹ thuật và kỹ nghệ năm 1934, với cuộc triển lãm lớn đầu tiên vào tháng giêng năm 1935, để quảng bá và thực hiện sự giao lưu giữa mỹ thuật và công nghệ.
Tóm lại, trường Mỹ thuật Đông Dương, không những đã đào tạo ra các họa sĩ, điêu khắc và kiến trúc sư đầu tiên ở nước ta, mà những nghệ sĩ này còn thể hiện quan niệm đưa mỹ thuật vào đời sống, nhất là những người cộng tác với Tự Lực văn đoàn, qua hai chương trình: thay đổi y phục phụ nữ, với áo dài Lê Phổ, áo dài Lemur Cát Tường, và vẽ kiểu nhà Ánh sáng cho dân quê của các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Nhữ Tiếp, Võ Đức Diên.
Sự phối hợp giữa Phong Hóa Ngày Nay và trường Mỹ thuật Đông Dương
Như ta đã biết, các họa sĩ cộng tác với Phong Hóa Ngày Nay, như Nguyễn Cát Tường, Trần Quang Trân, Trần Bình Lộc, Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Sìn, Nguyễn Đỗ Cung… nhất là Tô Ngọc Vân và Nguyễn Gia Trí, hai họa sĩ chính, kể cả Nhất Linh, chủ soái Tự Lực văn đoàn, đều xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương, cho nên có thể nói:
Phong Hóa Ngày Nay trước tiên là bệ phóng về mọi mặt của mỹ thuật, là nơi trực tiếp quảng bá cái đẹp trong hội họa, qua những bức tranh bìa, hoặc phụ bản tuyệt đẹp trên Phong Hóa Ngày Nay (báo Xuân, hay những số đặc biệt) của các họa sĩ nổi tiếng đương thời. Rất tiếc là những bức phụ bản của các họa sĩ ở ngoài Tự Lực văn đoàn như Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn… không được chụp lại trong sưu tập điện tử.
Dưới đây là một số bìa báo:
Phong Hóa số 171, Tết 1936, 
tranh Nguyễn Gia Trí
Thiếu nữ Huế, tranh Tô Ngọc Vân, 
phụ bản Ngày Nay số 12
Ngày Nay số 30, bìa: Hiện vẻ hoa 
của Nguyễn Tường Lân
Ngày Nay số 35, Bìa: 
Yên lặng của Trần Bình Lộc
Ngày Nay số 42, bìa: 
Bên ao của Trần Văn Cẩn
Ngày Nay 43, bìa: 
Chờ xuân của Trần Bình Lộc
Ngoài ra, những biếm họa phê phán chính trị, xã hội, hàng tuần của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân trên Phong Hóa Ngày Nay, đã có khả năng làm thay đổi tư tưởng một số người.
Riêng về bìa báo Ngày Nay, ta có thể thông kê:
Từ Ngày Nay số 16 (12-7-36) số báo đầu tiên sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, trên bìa Nguyễn Gia Trí vẽ cảnh sơn cước. Tiếp đó, các họa sĩ: Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cát Tường, Trần Quang Trân, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Bình Lộc… thay phiên nhau vẽ bìa, bằng những bức tranh phong cảnh hay thiếu nữ, thuần túy nghệ thuật, cho đến Ngày Nay số 43 (17-1-37) là số chót.
Kể từ Ngày Nay số 44 (24-7-37), Nguyễn Gia Trí mở lại loạt tranh biếm họa trên báo Ngày Nay với bức giễu Toàn quyền Brévié, về trò tự do báo chí hứa hẹn mà không làm. Và từ đây, tranh bìa Ngày Nay hàng tuần chống Pháp dưới ngòi bút độc nhất của Nguyễn Gia Trí, trong một năm rưỡi, tới Ngày Nay số 145 (14-1-39).
Tô Ngọc Vân lên thay từ số 146 (21-1-39), hoàn tất con đường tranh đấu, tới Ngày Nay số chót 244 (7-9-40). Tuy những bức tranh bià sau cùng không ký tên, nhưng có thể chắc chắn vẫn là của Tô Ngọc Vân. Đồng thời ta có thể hiểu là từ tháng giêng năm 1939, Nguyễn Gia Trí đã bắt đầu hoạt động trong bóng tối.
Về những tranh minh họa cho truyện ngắn, truyện dài, phóng sự, của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nhất Linh, trên Phong Hóa Ngày Nay, có nhiều bức rất đẹp, và có nhiều bức mang tính chất hiện thực chát chúa, tất cả làm sáng tỏ thêm đời sống muôn mặt của đủ mọi hạng người trong xã hội Việt Nam, thập niên 30-40 của thế kỷ XX.
Qua những bài tường thuật rất chi tiết về các cuộc triển lãm hàng năm của trường Mỹ thuật, phần lớn của Việt Sinh (Thạch Lam), người đọc có thể tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của sinh viên mỹ thuật, qua trung gian tờ báo.
Lại nhờ những bài viết rải rác trên Phong Hóa Ngày Nay, mà chúng ta biết rõ sinh hoạt mỹ thuật trong thời điểm từ 1932 đến 1939, một giai đoạn độc đáo, mà các nhân tài nhất loạt xuất hiện "cùng một lúc".
Chúng tôi xin tạm kê khai một số bài trên Phong Hóa Ngày Nay về hội họa:
- Trường Mỹ thuật Đông Pháp (Phong Hóa số 18, 20-10-32) của Nhất Linh coi Nam Sơn, Lê Phổ, và Lê Thị Lựu là ba họa sĩ vẽ sơn dầu hay nhất.
- Mỹ thuật (Phong Hóa số 24, 2-12-32) của Tân Thiện, nói về hội họa của Trần Phềnh và Nam Sơn.
- Nguyễn Phan Chánh (Phong Hóa 34, 17-2-33), của Đông Sơn (Nhất Linh), hết sức khen tranh lụa Nguyễn Phan Chánh và nhắc đến tranh sơn dầu của Nam Sơn và Lê Phổ.
- Mấy bực danh họa dưới mắt Đông Sơn (Phong Hóa số 48, 26-5-33), tranh hài hước, vẽ Nam Sơn, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Trần Phềnh, Nguyễn Phan Chánh với ý chế giễu năm người bạn danh họa đem tranh bầy ở "Địa Ốc ngân hàng".
- Ban kiến trúc trường Cao đẳng Mỹ thuật và những kiểu nhà mẫu cho dân quê (Phong Hóa số 72, 10-11-33) của Nhất Linh, giới thiệu cuộc triển lãm các kiểu nhà của sinh viên năm thứ năm ban kiến trúc. v.v...
Nhưng đặc biệt nhất là mấy bài phê bình hội họa - cũng là những bài đầu tiên trên báo chí nước nhà - của Tô Tử tức Tô Ngọc Vân (chúng tôi sẽ đề cập đến trong phần II), có giá trị khai tâm cho người xem tranh hiểu thế nào là hội họa, đặc biệt sự nhận định độc đáo của Tô Tử về tranh sơn mài Nguyễn Gia Trí.
Đó là những khác biệt sâu xa giữa Phong Hóa Ngày Nay và các báo cùng thời.
Trong hai năm 1935 và 1936, trường Mỹ thuật Đông Dương đã đạt tới đỉnh cao sáng tạo, qua hai cuộc triển lãm lớn, nhờ sự nâng đỡ của Hội Việt Nam chấn hưng mỹ thuật và kỹ nghệ, do giáo sư Tardieu sáng lập.
Giữa năm 1937, họa sĩ Victor Tardieu đột ngột từ trần. Biến cố này làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của trường Mỹ thuật. Nhà trường đóng cửa một năm. Năm sau, Evariste Jonchères được cử sang làm giám đốc, ngay khi đặt chân đến Sài Gòn ông đã tuyên bố chỉ muốn đào tạo ra những người thợ thủ công nghệ chứ không cần nghệ sĩ. Trường Mỹ thuật Đông Dương bước sang giai đoạn khác. Và đúng là từ Jonchères, ít có nghệ sĩ kỳ tài như thế hệ Tardieu.
Sau cái chết của giáo sư Tardieu, bốn họa sĩ đầu tiên của trường: Mai Thứ, Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Lê Thị Lựu [6] lần lượt sang Pháp rồi ở hẳn. Về phía Tự Lực văn đoàn, cũng từ 1938 trở đi hoạt động văn học của họ yếu dần, vì Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí bắt đầu tham gia cách mạng.
Thời kỳ vàng son của Tự Lực văn đoàn và các họa sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương chấm dứt cùng một lúc.
Tuy nhiên, nhờ những gì họ vẽ, viết trên Phong Hóa Ngày Nay và thực hiện trong đời sống, chúng ta có thể hiểu: tại sao sự cải tạo xã hội và tư tưởng có thể sâu rộng và ở lại lâu dài như thế, chỉ qua một nhóm người? Chính là nhờ sự cộng tác chặt chẽ giữa các ngành nghệ thuật và giữa những con người yêu nước có hoài bão thay đổi xã hội.
Phòng triển lãm 1935
Điểm nổi trội nhất là hai cuộc triển lãm 1935 và 1936.
Phòng triển lãm 1935 được sự chú ý đặc biệt, vì đây là lần đầu tiên Hội Việt Nam chấn hưng mỹ thuật và kỹ nghệ tổ chức cuộc triển lãm có tên là: Phòng triển lãm mỹ thuật và kỹ nghệ. Phong Hóa Ngày Nay đều có mặt với ba bài viết của Nhị Linh (Khái Hưng), Minh Trúc (Nguyễn Tường Cẩm) và Việt Sinh (Thạch Lam).
Bài Phòng triển lãm 1935 của Nhị Linh in trên Phong Hóa số 136 (15-2-35), tường thuật rất kỹ việc ông và Tú Mỡ đi từng phòng, lần lượt xem tranh của Lê Phổ, Đỗ Đình Hiệp, Nguyễn Anh, Trần Bình Lộc, điêu khắc của Trần Ngọc Quyên, tranh của Nguyễn Tường Lân, Tô Ngọc Vân, điêu khắc của G. Khánh, tranh của Nguyễn Cát Tường, Lưu Văn Sìn, Mai Trung Thứ, Nguyễn Đức Nùng, kiểu nhà của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Võ Đức Diên, đăng-ten của họa sĩ Cát Tường. Đặc biệt Khái Hưng chú ý đến bức tranh vẽ ông sư và mấy cô cấy lúa thoát y (Tentation du Boudha - Cám dỗ Phật) của Nam Sơn và tượng đất của Trần Ngọc Quyên đắp hình thiếu phụ vọng phu khỏa thân đợi chồng, ôm con… Với giọng hơi châm biếm, Khái Hưng thuật lại cuộc triển lãm quy mô đầu tiên, có đầy đủ các nghệ sĩ với tính chất mô đéc trong tranh, tượng, kiến trúc, của họ.
Tranh bìa Ngày Nay số 3
Phòng triển lãm 1935, còn được Ngày Nay số 3 (20-2-35) đặc biệt chú ý đến với bài Nền Mỹ thuật Việt Nam của Minh Trúc và bài Phòng triển lãm 1935 của Việt Sinh (Thạch Lam). Hai bài này đi kèm với hình ảnh, dù nay đã có chỗ mờ phai, nhưng cho ta thấy được một số tác phẩm trưng bày năm ấy của các nghệ sĩ: Lê Phổ, Nam Sơn, Tô Ngọc Vân, Lương Xuân Nhị, Lê Yến, Nguyễn Dung, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Anh, Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Phạm Hậu, Trần Bình Lộc, Nguyễn Cát Tường, Mai Trung Thứ, điêu khắc của Trần Ngọc Quyên, G. Khánh và kiểu mẫu nhà thôn quê của Nguyễn Cao Luyện, sau sẽ là gọi nhà Ánh sáng.
Phòng triển lãm 1935, là thành quả đầu tiên của chủ trương đem nghệ thuật vào đời sống. Những bức tượng được xem là một nghệ thuật riêng. Kiểu nhà mới cho dân quê, đắp bằng thạch cao của Nguyễn Cao Luyện, theo mẫu đã vẽ trên Phong Hóa, được công chúng chú ý. Tranh sơn ta (sơn mài) được Việt Sinh coi như Mỹ nghệ thực hành. Và những nhận định của ông cho thấy tình hình mỹ nghệ của ta thời bấy giờ:
"Bây giờ nghề sơn của ta có thể tự hào chẳng kém gì nghề sơn của Nhật. Những cái hộp sơn nhỏ của ông Nguyễn Anh và ông Nguyễn Khang, những bức bình phong của các ông Lê Phổ, H. Trọng Quy, Trần Quang Trân và nhiều ông nữa, là những vật trang hoàng rất đẹp, rất nhã, cho ta thưởng thức cái mỹ thuật trang hoàng rất khéo.
Những kiểu đan ren của Cát Tường, làm cho nghề này có giá trị, có thể ganh địch được với những kiểu mẫu rất đẹp của tây.
Tôi không quên nói đến phòng kiến trúc, chưng bầy những kiểu nhà lộng lẫy của sinh viên ban kiến trúc, thay cho những kiểu nhà lố lăng hiện thời. Kiểu nhà lá ở thôn quê, giản dị, phóng khoáng của ông Luyện được người ta hoan nghênh hơn cả.
Tôi mong kiểu nhà đó của ông sẽ đem đến cho dân quê một cái đời sáng sủa, phong quang hơn cái đời lụp xụp, tối tăm và ẩm thấp mà họ đang sống bây giờ[7].
Tranh Hiện vẻ hoa của Nguyễn Tường Lân
Tranh vẽ người của Tô Ngọc Vân
Một bức bình phong sơn mài, Lê Phổ 
Kiểu nhà thôn quê (Ánh sáng), Nguyễn Cao Luyện
Thạch Lam, lúc đó làm chủ bút Ngày Nay, ông yêu nghệ thuật và có tâm hồn nghệ sĩ, vì thế trên Ngày Nay, sẽ có những bài viết giá trị về nghệ thuật, như Cái đẹp trong hội họa, bài viết đầu tiên của Tô Tử về hội họa trên Ngày Nay số 5 (10-3-35). Và Ngày Nay số 11 (7-5-35) trong mục Nhà vàng, có bài Nghề sơn mài của họa sĩ NGYM (Trần Quang Trân), nói rõ nguồn gốc tranh sơn mài của ta, do Trần Quang Trân khám phá, được dạy tại trường Mỹ thuật từ năm 1932. Nguyễn Gia Trí nhìn thấy tranh sơn mài Trần Quang Trân triển lãm trong hội chợ, mới quay lại trường học tranh sơn mài [8]
Phòng triển lãm 1936
Cũng đặc biệt gây chú ý.
Ngày Nay số 38 (13-12-36) có bài Phòng Triển lãm năm 1936 của Thạch Lam, bắt đầu bằng lời nhận xét về sự cố gắng của Hội Chấn hưng Mỹ thuật và Kỹ nghệ Việt Nam do Victor Tardieu thành lập:
"Phòng triển lãm 1936 cho chúng ta thấy rõ sự gắng sức và hoạt động của hội Mỹ thuật và Kỹ nghệ, của những nhà nghệ sĩ có chân trong hội ấy và nhất là ông Tardieu, mà sự hết lòng về Mỹ thuật Việt Nam khiến cho mọi người phải khâm phục (…)
"Kể về toàn thể, phòng triển lãm 1936 có phần còn phong phú hơn phòng triển lãm 1935. Không phải vì cuộc trưng bầy này cho ta biết nhiều nhân tài mới; nhưng cho ta được thưởng thức cái tài của một vài nghệ sĩ đã đến chỗ này nở đang mạnh mẽ".
Sau đó Thạch Lam duyệt qua từng loại tranh, trước hết là tranh sơn (dầu) với nghệ thuật hòa hợp mầu sắc của Lê Phổ, trên hai bức: người con gái và hoa phù dung; rồi những nét rực rỡ trong bức họa cảnh Cao Mên của Tô Ngọc Vân (thời kỳ này ông sang dạy vẽ ở Nam Vang); hay sự cảm nhận linh hồn của chốn sơn lâm trong bức Đường đi bản Mường của Lưu Văn Sìn; Nguyễn Cát Tường chắc chắn và tinh vi trong mấy bức phố cổ Hà Nội; Nguyễn Tường Lân với bức khỏa thân Thiên nhiên đồ sộ; Nguyễn Đỗ Cung với bức Cây chuối đầy thi vị; hay như bức Túp lều tranh của Trần Bình Lộc. Thạch Lam cũng chú ý đến mấy bức họa bán thân phụ nữ của Nguyễn Giang và hiện tượng năm nay nhiều họa sĩ vẽ tranh khỏa thân, chứng tỏ "các họa sĩ ta cũng để ý đến cái quan niệm đẹp của hình thể là sự ít có trong lối mỹ thuật cũ Á đông".
Thạch Lam có vẻ thất vọng về Nguyễn Phan Chánh: "ngót mười bức tranh của ông ta đều giống nhau từ hình thể cho đến các màu sắc. Hình như từ độ được hoan nghênh về mấy bức họa đầu tiên, nhà họa sĩ không chịu tìm tòi hơn nữa." Nhưng lại có vẻ thích thú những bức tranh lụa của Nguyễn Tường Lân "nét rất linh hoạt mà màu rất táo bạo trong bức vẽ "Tiếng gà gáy sớm "Tắm bên hồ", cùng hai bức "Hai thiếu nữ" và "Một buổi chiều" của Nguyễn Gia Trí. Không kể những bức "Trở về" của Lương Xuân Nhị và Đường đi Cao Bằng của Nguyễn Nhất cũng rất đáng để ý. Nam Sơn cũng bỏ vẽ sơn sang vẽ lụa, nhưng không được thành công cho lắm. Sau khi nói qua về những bức điêu khắc của G. Khánh, Thạch Lam cho rằng nhiều nhà điêu khắc đã tìm những đề tài khó khăn và xa lạ với người mình. Sau đó ông giới thiệu sơn mài: "Ta phải kể trước tiên cái bình phong vĩ đại của Lê Phổ, có các màu hòa hợp thanh đạm và nhiều vẻ trang điểm rất đẹp. Bức bình phong của Nguyễn Gia Trí, cảnh vật xếp đặt rất khéo trong các vẻ linh động của ánh sáng; hai bức của Phạm Hậu, hơi rậm rạp nhưng có cái sắc riêng. Bức màu xanh cũ dịu dàng và một bức vẽ bích hoa nhiều người, nét vẽ hơi rụt rè của Nguyễn Đỗ Cung".
Bức bình phong vĩ đại bằng sơn mài của Lê Phổ triển lãm năm 1936, không biết đã lưu lạc nơi đâu?
Trong phần viết về Mỹ nghệ thực hành, năm 1936, Thạch Lam dành cho sự áp dụng cái đẹp trong thủ công nghệ, đặc biệt họa sĩ Nguyễn Cát Tường nghĩ kiểu vẽ ren lối Venise cho nhà Nguyễn Văn Quang "thật tinh xảo không kém gì hàng của Pháp, mà lại có tính cách Annam". Và họa sĩ Trần Quang Trân vẽ khăn trải bàn cho nhà Phạm Hoàng Chi. Đồ thủy tinh của nhà Văn Du do một sinh viên trường Mỹ thuật vẽ kiểu.
Việc đưa mỹ thuật vào đời sống đã thành hiện thực và Thạch Lam tin rằng phòng triển lãm năm 1937, sẽ phát triển thêm những tài năng mới.
Tóm lại, những điều Hoàng Đạo mong ước và viết ra từ năm 1932, như ta đã thấy ở trên, nay đã dần dần thành sự thực.
Giữa năm 1937, giáo sư Victor Tardieu đột ngột qua đời; tuy nhiên Phòng triển lãm 1937 vẫn được khánh thành. Và trên Ngày Nay số 91 (26-12-37) có tới hai bài Phòng triển lãm 1937, một của Thạch Lam, một của Nguyễn Đỗ Cung, như muốn chuyển tuyệt vọng thành hy vọng. Nguyễn Đỗ Cung cho rằng, trong cuộc triển lãm này: Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Mai Trung Thứ, Nguyễn Tường Lân… đều vắng mặt, nhưng đã có sự xuất hiện những tên tuổi mới: Nguyễn Văn Ty, Trần Văn Thọ, Nguyễn Tiến Chung, Nguyễn Dung, Nguyễn Văn Chước, Nguyễn Đức Thoa, Phạm Thúc Chương, Phạm Tú, Trịnh Hữu Ngọc, Lê Văn Huệ, cùng vài ba họa sĩ của thế hệ cũ: Trần Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị và Nguyễn Phan Chánh. Đáng buồn là những tên tuổi mới, sau sẽ không có nhiều người thành đạt như thế hệ trước.
Ngày Nay số 92 (2-1-38) có bài Mỹ thuật Việt Nam tại kinh thành Pháp của Trần Văn Dương, kể lại cuộc triển lãm chung của Lê Phổ, Mai Thứ và Vũ Cao Đàm tại Paris năm 1937, như một niềm an ủi: Vũ Cao Đàm nặn tượng Victor Tardieu và Toàn quyền Albert Sarraut; Lê Văn Đệ diễn thuyết tại Hội quán Thanh niên Công giáo tại Paris (5-12-1937) về nền Mỹ thuật Việt Nam và tôn vinh giáo sư Victor Tardieu, người sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương, mới qua đời.
Nghệ thuật sơn ta của Lê Phổ và Nguyễn Gia Trí
Hai họa sĩ làm tranh sơn ta, sau gọi là sơn mài, thành công là Lê Phổ và Nguyễn Gia Trí, cả hai đều trưng bầy tác phẩm ở triển lãm 1935 và 1936. Họ học sơn ta từ hai nguồn khác nhau, đều từ người Việt. Lê Phổ học cụ Hợp, cụ Mạc, Nguyễn Gia Trí học Trần Quang Trân.
Ngày Nay số 11 (7-5-35) trong mục Nhà vàng có bài Nghề sơn mài của họa sĩ NGYM (Trần Quang Trân) như sau:
"Trong khi theo học ở trường Mỹ thuật, họa sĩ Ngym (tức Trần Quang Trân) có để ý đến mấy thứ đồ sơn ở viện bảo tàng Finot. Để ý tìm tòi, may không lâu mà có kết quả. Từ đây (hồi tháng Mars 1932) trường Mỹ thuật bắt đầu làm sơn lối mới.
Vàng, tán nhỏ ra như cát, trộn vào với sơn ta đánh kỹ, quét phủ lên các đồ sơn, rồi mài, rồi đánh bóng, mặt sơn nổi cát vàng lên trông lóng lánh như kim sa.
Một lối mới chế ra nữa là cách làm đồ sơn mềm. Cái chén và cái đĩa hình bên, cầm bóp thấy mềm như cao su. Đó là đồ sơn không có cốt gỗ, toàn sơn trộn với bột giấy ta chế ra. Để lâu, có thể nói đến hàng nghìn năm không hỏng, không mọt. Phơi ra nắng, đựng nước sôi được cả."
Nguyễn Gia Trí đã trở lại trường Mỹ thuật để học lối sơn mài này. Trong thư gửi Mai Thọ Truyền, ông viết: "Chúng tôi thường hồi tưởng đến một kỳ Hội Chợ Hà Nội (khoảng 1935-1940), được duyên may mắn nhìn thấy một tác phẩm sơn mài đầu tiên, do một họa sĩ đàn anh, TRẦN QUANG TRÂN, thực hiện tại Trường Mỹ thuật Hà Nội và đem trưng bày. Nhờ được sự hứng khởi đó mà kẻ hèn này, đã chán bỏ Trường Mỹ thuật từ năm thứ ba chẳng cần phải để Ông Hiệu Trưởng, Giáo sư hay bạn bè kêu gọi, lại quay trở về tiếp tục học và đã chọn môn làm sơn mài[9]
Lê Phổ cũng học sơn mài trong khoảng thời gian 1931-1932, ở Pháp, nhưng trong điều kiện khác hẳn.
Trên báo Ngày Nay số 143 (31-12-38) có bài Tranh vẽ bằng sơn ta của Nguyễn Đỗ Cung, viết về Dunand, hết sức ca tụng sơn ta của Dunand mà ông đã có dịp xem trên những tranh chụp trên báo Illustration.
Họa sĩ Lê Phổ, trong dịp trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê, năm 1993, cho biết ông được học sơn ta với chính những người thợ Việt giỏi mà Dunand mang về Pháp:
"Ông Tardieu hồi đó coi tôi như con ông. Tôi đi cùng với ông ấy sang Pháp từ 1931 để dự hội chợ đấu xảo thuộc địa với tư cách phụ tá của Tardieu. Vì vậy mà tôi được gặp nhiều người, trong số đó có Jean Dunand, một nhà sản xuất sơn mài nổi tiếng của Pháp và của thế giới lúc bấy giờ. Trong thế chiến thứ I (14-19) Pháp mượn thợ sơn mài về làm cánh quạt (hélice) máy bay. Bởi vì những cánh quạt làm bằng gỗ mỏng và sơn dầu của ta rất tốt, rất mỏng, rất cứng, cứng như sắt. Pháp đem những thợ sơn mài giỏi của ta về nước. Những người thợ thủ công nghệ giỏi nhất hồi đó như cụ Hợp, cụ Mạc… đều làm việc cho Dunand, giúp Dunand trang hoàng những salon bằng sơn mài trên chiếc tàu đẹp nhất thế giới, đó là tàu Normandie.
Tôi có may mắn được làm việc, được học nghề với những người thợ thủ công nghệ Việt Nam về sơn mài giỏi nhất lúc bấy giờ và cái may mắn ấy đã theo tôi suốt đời" [10]
Và Lê Phổ đã thực hiện những bức tranh sơn mài triển lãm năm 1935 và 1936 tại Hà Nội, bằng kỹ thuật sơn mài đã học của cụ Hợp, cụ Mạc ở Paris. Tiếc rằng bức bình phong vĩ đại của Lê Phổ, trưng bày ở triển lãm 1936, mà Thạch Lam nói đến ở trên, không biết lưu lạc nơi đâu, để ta có thể so sánh với nghệ thuật sơn mài của Nguyễn Gia Trí. Điều này cho thấy Lê Phổ là một họa sĩ toàn diện, ông làm tất cả mọi việc: vẽ tranh sơn dầu, sơn mài, tranh lụa, vẽ kiểu áo cho phụ nữ, ông là người học trò được Tardieu yêu nhất, luôn luôn làm phụ tá cho thày.
Năm 1937, Lê Phổ được giáo sư Tardieu chỉ định làm Giám đốc nghệ thuật Đông Dương tại hội chợ đấu xảo Paris. Sau đó ông ở lại Pháp. Phải chăng vì người thày đã qua đời?
Chỉ còn mình Nguyễn Gia Trí tiếp nối con đường sơn mài nghệ thuật đầy khó khăn và trở thành bậc thầy duy nhất trong nghệ thuật sơn mài Việt Nam.
Y phục phụ nữ Việt Nam thế kỷ XVII
Cristoforo Borri (1583-1632) người Ý, là một giáo sĩ dòng Tên. Năm 1615, đi Đông Á truyền giáo [11]. Ông để lại tập Ký sự Đàng Trong (Relation de la Cochinchine), được Bonifacy dịch sang tiếng Pháp và đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Huế số 3-4 năm 1931.
Đối với người Việt tác phẩm của Borri có những ý nghĩaã đặc biệt: trong 5 năm ở Đàng Trong (1618-1622), ông đã học tiếng Việt và ghi lại những chữ quốc ngữ dưới dạng đầu tiên. Borri đã thực sự hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, ông viết về đời sống xã hội và con người như chúng ta chưa bao giờ thấy rõ như thế trong các sách sử chính thống hay những tiểu thuyết lịch sử của ta.
Hồi ký của Borri, phần đầu, có những thông tin quý về đời sống dân sự, về hành chính, phong tục, ngay cả đến những chi tiết về y phục. Nhờ ông mà ta biết được, y phục của nước ta hồi đó như thế nào. Ông tả quần áo phụ nữ như sau:
"Về cách ăn mặc, ở trên tôi [Borri] đã nói là họ dùng nhiều tơ lụa, bây giờ xin nói đến hình thức y phục. Trước tiên là y phục phụ nữ. Đây là thứ y phục nền nếp nhất ở cả vùng Ấn Độ này, bởi vì mặc dù trời nóng đến đâu, nó cũng không để lộ phần thân thể nào. Phần dưới eo, họ mặc tới 5, 6 lớp váy chồng lên nhau, mỗi chiếc một mầu: váy đầu dài tới đất, trang trọng, uy nghi, phủ đến gót chân; váy thứ nhì nửa xoè, ngắn hơn váy thứ nhất, váy thứ ba ngắn hơn váy thứ nhì, và cứ như thế, như thế, để cho người ta thấy tất cả những mầu sắc đa dạng.
Trên thân, họ mặc chiếc yếm có ô vuông nhiều mầu, quàng thêm khăn choàng mịn, mỏng, đến độ dù phủ kín thân, vẫn để cho người ta đoán thấy tất cả những gì bên dưới, dù rất kín đáo, cũng rất sát sao, khiến ta tưởng như thấy một mùa xuân dịu dàng nở hoa. Họ để tóc dài buông xõa dợn sóng xuống vai, nhiều khi tới đất. Tóc càng dài càng được cho là đẹp. Đầu đội chiếc nón rất rộng vành, che hết khuôn mặt nên họ chỉ nhìn thấy vài bước trước mắt. Nón dệt bằng lụa hay sợi vàng, tùy theo thứ hạng của người phụ nữ. Để đáp lễ ai, họ mới bỏ mũ cho người ta nhìn thấy mặt".[12]
Trên đây Borri mô tả y phục của những người quyền quý. Nhưng nhờ đó mà ta biết người phụ nữ trong Nam, lúc Borro đến, trong khoảng 1618 đến 1622, vẫn còn ăn mặc theo lối Bắc: đội nón quai thao, mặc áo tứ thân.
Hơn thế kỷ sau, chúa Võ Vương Nguyễn Phước Khoát (1738-1765), để tỏ Đàng Trong là một "nước lớn độc lập" đối với Đàng Ngoài; năm 1750, đã ra lệnh thay đổi y phục, không mặc giống Bắc nữa mà giống Tàu:
"Để tỏ rằng cả nước mở đầu vận hội mới, Vương ra lệnh đổi áo mũ, cải cách phong tục, châm chước chế độ các đời trước mà định triều phục của quan văn, quan võ (…) mũ trang sức vàng bạc, áo dùng mãng bào hoặc sô, đoạn, tùy theo cấp bậc, còn quân, dân, trai, gái cũng thay đổi y phục theo thể chế Trung quốc (trước đời Thanh)[13]
Bức tranh trên đây của bà de Bassilan, có lẽ là vợ một quan chức Pháp, sang Nam Kỳ thế kỷ XIX, vẽ, được in trên các tài liệu của Pháp, cho ta thấy rõ y phục của phụ nữ Nam Kỳ thời đó: họ mặc áo dài, và bỏ hẳn áo tứ thân gốc Bắc được Borri mô tả.
Đó là sự thay đổi y phục lớn nhất trong lịch sử: chúng ta mặc áo dài cổ đứng, như cổ áo Tàu và mở bên tay phải. Chỉ khác họ một điểm là áo ta xẻ bên hông thành hai tà áo tung bay và chúng ta mặc quần dưới áo dài. Sự thay đổi này sẽ truyền ra Bắc, áo dài trở thành quốc phục cho người thành thị, song song với áo tứ thân, nón quai thao, cho dân quê. 
Y phục phụ nữ miền Nam
Áo tứ thân miền Bắc
Khoảng 1920, người phụ nữ bắt đầu mặc quần trắng, quấn khăn san và mặc áo dài màu.
Và đến năm 1932, mốt là áo dài xanh, quần trắng, như lời mô tả của Nhất Chi Mai [Thế Lữ] trong bài tạp văn Quần trắng áo lam, dưới đây:
"Gần đây các thiếu phụ và các thiếu nữ ở tỉnh thành đều thi nhau mặc "mốt". Đó cũng là một bước cải lương trong sự trang sức. Chẳng những cái áo vân tàu, cái quần lĩnh bưởi đã bị các bà các cô chôn chặt, vùi sâu đi mà cả cái áo hàng thâm, cái quần tiá bóng cũng phải [bị] các bà các cô duồng [ruồng] bỏ, bắt nhường chỗ cho cái quần trắng, cái áo lam. Màu trắng, màu lam là hai màu mà các bà, các cô "tân nhân vật" ưa dùng nhất. Chả thế mà buổi chiều về giời nực đi đâu cũng thấy nhan nhãn các bà các cô tha thướt quần trắng, áo lam. Trận gió mát thoảng qua trắng lam bay lộn đã khéo khiến cho các bà, các cô tương tự như tiên nữ ở chốn non bồng" (Phong Hóa số 4, 7-7-32).
Như vậy, người phụ nữ thành thị đã bỏ dần màu nâu, màu đen để theo mốt: áo dài lam, quần trắng.
Lê Phổ và Lemur Cát Tường cải cách y phục phụ nữ
Cuộc cải cách y phục phụ nữ, của hai họa sĩ: Lê Phổ và Nguyễn Cát Tường, dựa trên thực tế y phục năm 1932: mốt áo xanh quần trắng. Vậy chỉ có thể xảy ra từ khoảng 1932 trở đi, sau khi các họa sĩ đầu tiên đã ra trường (1930).
Hai nhà cải cách là Lê Phổ và Lemur Cát Tường. Lê Phổ không ở trong Phong Hóa, ông làm việc tại xưởng vẽ riêng. Lemur Cát Tường được Nhất Linh giao cho phụ trách mục Vẻ đẹp của các bà các cô kể từ Phong Hóa số 85 (11-2-33) đến Phong Hóa số 112 (24-8-34) và sau lại tiếp tục trên Ngày Nay. Đây là lần đầu tiên, một tờ báo ở Việt Nam có mục thời trang phụ nữ, do một họa sĩ trẻ phụ trách. Chiếc áo dài Lemur xuất hiện trong bối cảnh đó, nổi tiếng ngay vì được Phong Hóa làm bệ phóng trực tiếp đưa vào đại chúng.
Cũng trên Phong Hóa, thấy quảng cáo đang in tập san Đẹp (mùa hè 1934) của Cát Tường và các bạn Tô Ngọc Vân, Lê Phổ, Trần Quang Trân tức Ngym, nói về mọi vẻ đẹp, có nhiều tranh ảnh đẹp, do nhà xuất bản Đời Nay in giấy thượng hạng. Hình như Đẹp cũng chỉ ra được một số, nhưng việc này cho thấy: một tờ báo chuyên về mốt đã có mặt ở Hà Nội từ những năm ba mươi.
Các kiểu cổ áo Lemur 
Y phục nhà quê của Đông Sơn.
Áo cánh mặc trong nhà, Cát Tường
Một kiểu áo dài Lemur
Một kiểu pyjama Lemur
Trở lại loạt bài Vẻ đẹp của các bà các cô, Cát Tường bàn về cách ăn mặc, trang điểm và thay đổi y phục phụ nữ cho phù hợp với thời mới; có bài kèm theo các kiểu cổ tay, cổ áo dài theo lối mới… Không những ông đưa ra những kiểu mẫu mới cho áo dài, mà còn vẽ những kiểu quần, áo cánh, pijama, yếm… và chỉ cho phụ nữ tập thể thao để giữ thân hình đẹp. Cát Tường trở thành nhà vẽ kiểu áo -không phải là người đầu tiên, vì Lê Phổ cũng vẽ kiểu áo- nhưng ông là một trong những nhà sáng tạo kiểu mẫu y phục phụ nữ, tài hoa, phong phú.
Báo Ngày Nay số 1 (30-1-35) số đặc biệt về y phục mới của phụ nữ do Lemur vẽ, đăng bài Quần áo mới của Việt Sinh (Thạch Lam) và bài phỏng vấn bà Trịnh Thục Oanh, giáo sư trung học, nói về thời trang và ảnh chụp cô Nguyễn Thị Hậu, thiếu nữ đầu tiên mặc quần áo lối mới kiểu Lemur.
Bài Quần áo mới tổng kết tình hình sau hai năm Phong Hóa cổ động việc thay đổi y phục phụ nữ, Việt Sinh cho rằng: Trước Nguyễn Cát Tường, sự thay đổi y phục phụ nữ cũng đã có nhưng còn quá rụt rè, quá chậm. Nữ sinh muốn thay đổi y phục của mình, nhưng:
"Họ e lệ bắt chước - bắt chước các me tây là những người đầu tiên đem dùng những đồ dùng của đàn bà tây phương, cái san quấn đầu, cái ví da cầm tay, đôi giày cao gót, hàng mùi [màu] rực rỡ, lòe loẹt.
Rồi đến mùi trắng, hoặc trong nuốt [suốt], hoặc óng ánh của chiếc quần mỏng của chị em sông Hương - rồi đến mùi tím, lục, hồng, của chiếc ô lụa, và nhiều mầu khác của chiếc dù giấy, cán tre mà bây giờ người ta mới bắt đầu dùng.
Nhưng, vẽ kiểu của quần áo, sự chặt chẽ để làm nổi hình dáng, những đường áo mềm mại, dịu dàng và tha thướt, kể từ khi có những kiểu mẫu của Cát Tường ở Phong Hóa, người ta mới biết để ý đến và theo đấy đổi thay cả quần lẫn áo (…)
Sự cải cách y phục phụ nữ ta, có thể nói, cũng bởi nguyên nhân chính này: dáng điệu tự nhiên của thân thể người ta mà các họa sĩ biết thưởng thức. Biết đến sự mềm mại, tha thướt của dáng điệu, rồi làm thế nào cho ống quần, tà áo, theo cái mềm mại, tha thướt đó để làm tăng vẻ đẹp của thân hình cô thiếu nữ trẻ trung (…)
Quần áo, ngoài những đường tha thướt, còn cần đến nhiều mầu (…) Nhưng không thể ghép một cái khăn san xanh lá cải lên trên một cái áo đỏ hoa lựu thắm được.
Lựa chọn các màu thế nào cho hòa hợp, cho dịu dàng, cho êm mắt, chọn các màu thế nào cho hợp với làn tóc, với da người, cho tôn vẻ đẹp của mình, đó là một nghệ thuật rất khó, mà chính cái khó ấy, làm cho thiếu nữ có hiểu biết cái đẹp, được phô cái tài của mình cho khác hẳn với những cô gái tầm thường".
nh bìa Hội An, trong vườn hoa, 
hai bộ y phục mới (Ngày Nay số 5, 10-3-1935)
Bài phỏng vấn bà Trịnh Thục Oanh của Đoàn Tâm Đan, vẫn trên Ngày Nay số 1, cho ta biết thêm về kỹ thuật, chiếc áo dài Lemur hay áo dài Lê Phổ đã thay đổi như thế nào đối với chiếc áo dài ngày trước:
" - Chị còn nhớ không? Hồi chúng ta học tại trường, có ai mặc áo mầu, quấn san trắng, đi ô tím, đã cho là lạ? …
"- Áo mùi, san trắng là "mốt" năm 1920, năm đã xa lắc xa lơ kể làm gì. Trong vòng mấy năm ấy chị em ta chỉ biết quanh quẩn chọn các hàng mầu để may quần áo thay vào mùi đen tối tăm trước, nhưng vẫn chưa tìm được kiểu quần áo thích hợp với thân thể, làm tăng vẻ đẹp trời cho riêng từng người.
Kiểu áo thích hợp với thân thể, kiểu áo trang nhã mà có thể biến hóa được, hai nhà mỹ thuật Cát Tường và Lê Phổ đã chế nghĩ ra cho chị em. Đã có nhiều người theo, đã thành một mốt mới. (…)
Đây là kiểu quần áo tôi đã nhờ ông Lê Phổ vẽ hộ. Chiếc áo may thuôn thuôn theo dáng người, kích dài xuống không hở lườn, thành kín đáo nhã nhặn hơn, vạt dài và tà cong, thướt tha yêu kiều hơn. Áo mùi nhạt nên phải viền mùi sẫm cho nổi mình áo lên. Khuy thì thật là thay đổi hẳn: nó là khuy các đàn bà tây phương thường dùng, mà nay ta lấy thay vào bộ khuy tròn trước. Đại cương thì áo mới cũng chẳng khác áo xưa là mấy chút, nó chẽn và dài hơn, tuy thướt tha đấy mà không lụng thụng. Thay đổi là ở chỗ cắt trên vai, đường cổ và thêm "volant" ở cửa tay. Trên vai cắt và khâu nối chéo cho khỏi dúm nách và khủy tay khỏi co. Cổ, có người may dài để gài khuy, có người may bẻ như cái áo này. Cổ bẻ, mùa nực mở ra tựa bông hoa nở quanh làn cổ trắng, mùa rét gài vào thêm ấm áp.(…)
Quần trắng thì ta mặc đã lâu. Nhưng quần may lối mới khác quần xưa vì hai ống nối chéo vào đũng hẹp cao sát, giữa ống thon, gấu hơi rộng ra mới là đúng mốt. Mặc quần áo mới, chân tất phải dận trên đôi dày cao gót mới có dáng dong dỏng thướt tha. Cạp chun như thế này rất lợi, có thể buông cao thấp tùy ý (…) Còn cái khăn quàng nó là vật phụ mà rất cần, bây giờ may hình chéo, nhỏ, quàng vào trông tựa cái "cravate". Áo hàng nào thường dùng khăn hàng ấy và gài nó bằng một cái "broche" có mặt đá thì đẹp."
Như vậy người phụ nữ Việt đã khoác khăn san trên áo dài màu và mặc quần trắng từ năm 1920. Cái mới trong chiếc áo dài Lê Phổ và áo dài Lemur, là may sát người hơn, làm lộ những đường cong trên thân thể người phụ nữ; có nhiều màu sắc hơn; cách quàng khăn san điệu hơn. Cổ và tay áo, có nhiều kiểu khác nhau. Tay "raglan" đã chế tạo từ thời ấy để tránh những nếp nhăn dưới nách áo. Và quần ống loa cũng đã có từ thời đó, chưa kể những cái yếm được Cát Tường vẽ lại, sexy và thanh lịch hơn bây giờ. Nói chung, chúng ta không sáng tạo gì thêm cho y phục phụ nữ, hay hơn thời Tự Lực văn đoàn!
Lê Thị Lựu hay số phận người nữ nghệ sĩ thời Tự Lực văn đoàn
Lê Thị Lựu, người đỗ đầu khóa III (1927-1932) trường Mỹ thuật Đông Dương, được Nhất Linh coi là một trong ba họa sĩ vẽ sơn dầu hay nhất thời đó, đã vắng mặt trong các buổi triển lãm tranh, ngay từ 1933, gây nhớ tiếc trong giới yêu tranh, đặc biệt Thạch Lam.
Tại sao?
- Tại vì bà đã phải chịu số phận tồi tệ của người phụ nữ thời Tự Lực văn đoàn.
Nắng xuân trên cỏ, 
Lê Thị Lựu bên phải
Lê Thị Lựu
Ra trường năm 1932, Lê Thị Lựu lấy chồng ngày 6-10-1934, là Ngô Thế Tân, kỹ sư, công chức trong chính quyền thuộc địa.
Nhưng trước đó, bà đã bị áp lực của nhà chồng phải ngừng vẽ: không được tham dự triển lãm tranh 1933.
Không chịu được cảnh làm dâu với mẹ chồng và các cô em chồng khắc nghiệt, năm 1935 Lê Thị Lựu cùng chồng xin chuyển vào Sài Gòn, bà dạy hội họa ở trường Áo Tím (Gia Long) và trường Mỹ thuật Gia Định, viết và vẽ cho các báo trong Nam.
Năm 1938, bị lao phải trở về Hà Nội điều trị. Năm 1939, bà dạy vẽ ở trường Bảo Hộ. Vì chậm có con, lại bị nhà chồng ép gả vợ bé cho chồng. Bi kịch của bà không khác gì Loan trong Đoạn tuyệt, nhưng Lựu may mắn hơn Loan vì có người chồng tân học.
Năm 1940, bà theo chồng sang Pháp, tại đây, một thứ áp lực mới đến từ người chồng Tây học nhưng đầu óc phong kiến: chồng chúa vợ tôi.
Trừ một vài bức tranh vẽ trong những hoàn cảnh đặc biệt, Lê Thị Lựu đã hầu như phải ngừng vẽ trong hơn 20 năm, vì những lời bình phẩm chua cay của người chồng, tự hào biết về hội họa.
Người ta thường hỏi: Lê Thị Lựu vẽ bao nhiêu bức tranh?
- Khoảng độ 300.
- Sao ít thế, so với các đồng nghiệp nam giới?
Nhưng có mấy ai biết, bà đã hầu như ngừng vẽ từ năm 1933 đến 1956, năm ông Ngô Thế Tân, rời Pháp về Việt Nam làm việc, bà mới dám quay lại với hội họa, đến phòng vẽ Montparnasse học lại nghề.
Khi đã tìm ra được cách vẽ lụa mới và bán được tranh, khoảng 1960, người chồng mới chính thức "cho phép" bà hành nghề họa sĩ.
Trong khi ba bạn thân của bà: Mai Thứ, Vũ Cao Đàm, Lê Phổ tiếp tục vẽ và triển lãm tranh ở Pháp, Mỹ, thì Lê Thị Lựu phải làm bổn phận người phụ nữ trong gia đình.
Sự đàn áp khắc nghiệt của gia đình nhà chồng để lại thương tích sâu xa đến cuối đời, bà không bao giờ tha thứ cho họ.
Việc ông Ngô Thế Tân dành riêng 18 bức tranh của Lê Thị Lựu cho bảo tàng mỹ thuật nước nhà, sau khi họa sĩ qua đời, đã chuộc được phần nào lỗi lầm của ông đối người vợ nghệ sĩ lỗi lạc.
Nhưng trong cái rủi có cái may, nhờ đó mà hiện nay Lê Thị Lựu là một trong những họa sĩ tiên phong có nhiều tranh trưng bày trong nước nhất (tại bảo tàng Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh) so với các bạn cùng thời.
Nhưng Tự Lực văn đoàn đã nhận diện được tài năng Lê Thị Lựu ngay từ đầu.
Nhất Linh trong bài viết đầu tiên về trường Mỹ thuật trên Phong Hóa, coi Lê Thị Lựu là một trong ba họa sĩ tài năng nhất về sơn dầu của trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với Lê Phổ và Nam Sơn. Ông thực tinh tường.
Sau đó, Thạch Lam, đã không ngừng nhắc đến Lê Thị Lựu qua mỗi kỳ triển lãm hàng năm vắng bóng.
Phong Hóa số 49 (2- 6-33) trong bài Mỹ thuật viết về cuộc triển lãm 1933, Việt Sinh [Thạch Lam] viết: "Lần này các bạn gái đều lấy làm lạ rằng không có tranh của cô Lê Thị Lựu. Thật là một sự đáng tiếc. Nghe đâu cô còn đang bận vẽ một bức tĩnh vật (nature morte) ở trong có nhiều hoa quả".
Ngày Nay số 3 (20-2-35), trong bài Phòng triển lãm 1935 của hội Việt Nam chấn hưng Mỹ thuật và Kỹ nghệ, Việt Sinh nhớ tiếc Lê Thị Lựu:
"Chúng ta chỉ tiếc nhà nữ họa sĩ Lê Thị Lựu vắng tên trong phòng triển lãm, reo [gieo] một sự thất vọng trong lòng mong ước của các bạn nữ lưu tân thời".
Phong Hóa số 141 (22-3-35) trong bài Tương lai Mỹ thuật, Cát Tường phỏng vấn các họa sĩ và kiến trúc sư: Nguyễn Cao Luyện, Võ Diên, Tô Ngọc Vân, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Nam Sơn, Vũ Bốn, Nguyễn Tường Lân, Trần Ngọc Quyên. Về Lê Thị Lựu, ông ghi: "Phòng xuân (Salon de printemps 1935) nay vắng mặt cô.
Tôi đến nhà định hỏi xem duyên cớ vì đâu, thì bà con bảo:
- "Đã lâu nay không được gặp".
- "Cô đã lấy chồng…"
Và năm 1936, trên Phong Hóa số 183 (17-4-36) Thạch Lam viết bài Chung quanh cô Lê Thị Lựu để bênh vực cô Lựu bị học trò trường Mỹ thuật Gia Định nói hỗn.
Nửa chừng xuân, Lê Thị Lựu, 
Bảo tàng Mỹ Thuật TP HCM
Thạch Lam mến Lê Thị Lựu về tài mà có lẽ còn cả về sắc nữa.
Đáp lại tấm tình quê hương, dù đã đi xa, thật xa, Lê Thị Lựu không bao giờ quên nguồn gốc.
Tranh bà luôn luôn gợi lại không khí và con người đất Việt những năm ba mươi, của núi rừng và thành thị. Họa sĩ không những đã ghi lại dáng vóc, hình ảnh người phụ nữ thời Tự Lực văn đoàn, trong tranh mà bà còn mang cả số phận một thế hệ phụ nữ, trong mình.
Một trong những bức tranh tiêu biểu, tôi đã xin phép bà đặt tên là Nửa chừng xuân.
Bởi bà, chỉ có bà, mới diễn tả được tuyệt tác của Khái Hưng.
Bà chính là người phụ nữ nhẫn nhục, là Mai của thời đại, đã trường kỳ chịu đựng nền giáo lý cổ hủ và đã xây dựng trên đống tro tàn của định mệnh giáo điều một sự nghiệp vẻ vang trong sáng tạo nghệ thuật.

Chú thích:
[1] Nadine André-Pallois, Naissance de l’art moderne au Việt Nam, in trong L’Aventure de l’Art moderne du Viêt Nam, Paris Hà Nội Sài Gòn, Pavillon des Arts – Paris musée xuất bản năm 1998.
[2] Nam Phong số 78, tháng 12-1923, trang 495-504.
[3] Nam Phong số 78, tháng 12-1923, trang 501.
[4] Theo lời Lê Phổ, trong bài Nói chuyện với họa sĩ Lê Phổ của Thụy Khuê, phát thanh trên RFI, in lại trong Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn, Nxb Tổng Hợp Tp HCM và Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM, 2018, trang 95.
[5] Theo Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, 1925-1990, nxb Mỹ thuật, 1990.
[6] Họa sĩ Vũ Cao Đàm có học bổng đi Pháp từ năm 1931, họa sĩ Lê Thị Lựu đi năm 1940.
[7] Việt Sinh, Phòng triển lãm 1935, tiểu đoạn Mỹ nghệ thực hành, Ngày Nay số 3, 20-2-35, trang 6.
[8] Theo thư Nguyễn Gia Trí gửi Mai Thọ Truyền ngày 13-1-1970, trích đăng trong sách Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn, nxb Tổng Hợp Tp HCM và Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM, 2018, trang 32. Nguyên bản trong loạt bài Thư Nguyễn Gia Trí gửi Phạm Tăng, trên web: thuykhue.free.fr và vanviet.info
[9] Xem Những lá thư Nguyễn Gia Trí gửi Phạm Tăng, của Thụy Khuê, in trên thuykhue.free.fr và vanviet.info
[10] Thụy Khuê, Nói chuyện với họa sĩ Lê Phổ, in trong Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn, Nhà xuất bản Tổng Hợp Tp HCM và Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM, 2018, trang 98.
[11] Năm 1618, cùng với Pedro Marques, Borri giả làm bồi tàu, đi thuyền Bồ từ Áo Môn đến Đàng Trong. Cùng năm đó, ông theo hai linh mục Buzomi và Pina đến lập cơ sở truyền giáo ở Nước Mặn (Quy Nhơn). Qua sáu tháng học tập, ông đã nói chuyện và giải tội được. Năm 1622, Borri rời Nước Mặn, đi luôn sang Áo Môn, rồi về Bồ. Ông mất ngày 24-5-1632.
[12] Dịch theo bản tiếng Pháp của Bonifacy, Bulletin des Amis du Vieux Huế số 3-4 năm 1931.
[13] Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong 1558-1777, quyển thượng, Xuân Thu chụp in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm, trang 237.
 9/6/2021
Thụy Khuê
Theo http://vanviet.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...