Chủ Nhật, 13 tháng 6, 2021

Tự Lực văn đoàn - Văn học và Cách mạng - Phần 3

Tự Lực văn đoàn
Văn học và Cách mạng - Phần 3

Trường Mỹ thuật Đông Dương

Phần II
Victor Tardieu, ân nhân của Việt Nam
Victor Tardieu
Về lịch sử chính thức của trường Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Quang Phòng (1925-2013) [1] đã viết đúng đắn và đầy đủ trong cuốn Mỹ thuật Việt Nam hiện đại (Nxb Mỹ Thuật Hà Nội, 1996).
Victor Tadieu sinh ngày 30-4-1870 tại Lyon (Pháp), học trường Mỹ thuật Lyon một năm rồi lên Paris học tiếp (1889-1891) cùng thầy với Rouault và Matisse. Từ 1892, ông bắt đầu gửi tranh dự các cuộc triển lãm. Năm 1920, ông trúng giải Đông Dương, được hưởng một chuyến đi Đông Dương. Ngày 5-1-1921, ông đáp tàu ở Marseille, đi Hà Nội, dự trù ở 6 tháng, nhưng sẽ ở lại 16 năm cho đến khi qua đời. Từ 1922 đến 1924, Victor Tardieu thực hiện bức bích họa sơn dầu lớn, trang trí giảng đường trường Đại học Đông Dương; Quang Phòng viết:
"Để có chỗ hoàn thành bức tranh rộng mênh mông đến 77m2 ấy, Tardieu đã phải mượn một nhà kho chứa hàng của Ga Hàng Cỏ ở 102 phố Reinach (đoạn cuối đã bỏ của phố Trần Quốc Toản bây giờ - nằm giữa phố Trần Bình Trọng và đường Lê Duẩn) - sau được sửa chữa lại thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - nơi ông gánh vác sứ mệnh mới của một nhà sư phạm từ mùa thu năm 1925 - trên cương vị người sáng lập đồng thời là vị hiệu trưởng đầu tiên của trường này. Năm 1937, trong lúc phải ứng phó với những khó khăn không thể tránh khỏi từ phía chính quyền gây ra cho nhà trường - Victor Tardieu qua đời vì phế quản bị hủy hoại bởi khí hậu và lao động kiệt sức, vào ngày 12 tháng 6 tại nhà thương Saint-Paul, Hà Nội[2]
Joseph Inguimberty
Người có công thứ nhì, bên cạnh Tardieu, là Joseph Inguimberty. Ông sinh tại Marseille năm 1896. Năm 1913, học trường Mỹ thuật Marseille, năm sau lên Paris học tiếp trường Nghệ thuật Trang trí. Năm 1925, ông nhận chức giảng viên trường Mỹ thuật Đông Dương; Quang Phòng viết:
"Nói đến trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương là nói đến Victor Tardieu và không thể không nhắc đến người cộng sự từ thủa ban đầu của ông - Joseph Inguimberty. Đó là hai họa sĩ cùng có công lớn đối với nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng giữa hai họa sĩ này thường xẩy ra những sự va chạm, do quan niệm khác nhau về phương pháp đào tạo. Đối với một họa sĩ từng trải qua nghệ thuật kinh viện như Tardieu - làm việc tĩnh tại trong xưởng họa, đặt mẫu và bố cục theo định luật cổ điển, khác hẳn với phương pháp vẽ ngoài trời bố cục theo lô gích tự nhiên của Inguimberty với hình tượng chuyển động và ánh sáng luôn luôn biến đổi, thì sự mâu thuẫn nghề nghiệp tất yếu phải xảy ra. Tuy nhiên hai phương pháp ấy lại bổ sung cho nhau" [3]
Những nhận định của Quang Phòng hoàn toàn phù hợp với những điều các nhà văn và họa sĩ tiên phong viết hay nói về Victor Tardieu và trường Mỹ thuật Đông Dương mà chúng ta sẽ thấy dưới đây.
Victor Tardieu dưới mắt Khái Hưng
Khái Hưng, dưới bút hiệu Nhị Linh, vẽ chân dung Victor Tardieu trên Ngày Nay số 67 (11-7-37) sau khi giáo sư qua đời, dưới đây là toàn bài:
Ông Tardieu
Cặp mắt sau đôi kính trong nhìn thẳng vào mắt ta như để thôi miên ta, cái đầu trắng bóng của ông tổ phụ hiền từ trái ngược với những nét sắc sảo của bộ dung nhan lanh lẹn, với cái trán mở rộng phẳng phiu, với cặp môi mỏng lúc nào cũng như muốn chế nhạo, nói mát ai. Cái hình ảnh ấy khiến tôi không bao giờ quên được ông Tardieu tuy tôi chỉ giáp mặt ông độ dăm sáu lần.
Lần đầu, tôi gặp ông trong phòng triển lãm mỹ thuật năm 1935 và tôi có mỹ cảm với ông ngay. Hôm ấy chưa mở cửa phòng triển lãm. Tôi đang đứng trông coi cho người ta bài trí bàn sách của nhà xuất bản Đời Nay, bỗng L. bạn tôi thì thầm bảo tôi: "Kìa cụ Tạc".
Tôi ngửng lên, gặp cặp mắt và cái miệng mỉm cười của ông đốc trường Mỹ thuật. Ông đến gần tôi, nhìn chồng sách bày trên bàn. Người bạn giới thiệu tôi với ông. Ông thân mật bắt tay tôi, rồi cầm sách Đời Nay ngắm nghía:
- Khá lắm, tôi biết tiếng nhà xuất bản của các ông đã lâu. Ông Nguyễn Tường Tam chính cũng là cựu sinh viên trường Mỹ thuật… Đó, mục đích chính của tôi khi xin mở trường Mỹ thuật: gây ở trong nước này cái lòng yêu chuộng mỹ thuật, và nhất là liên lạc mỹ thuật với kỹ nghệ. Rồi sau đây, ông sẽ thấy bức thêu, tấm ren, cái bàn, cái ghế, cái bát, cái đĩa, vật gì cũng có vẻ khả quan như những quyển sách này: Những cựu sinh viên trường Mỹ thuật sẽ giúp các ông.
Tôi ngỏ lời sốt sắng khen ngợi ông và tôi nói tôi thành thực coi ông là một ân nhân hiếm có của người Annam.
- Thưa ông, mỹ thuật cần cho người Annam chúng tôi lắm, vì chúng tôi thường chỉ nhắm mắt bắt chước, nếu không có mỹ thuật đưa đường chỉ lối thì chúng tôi sẽ bạ cái gì bắt chước cái ấy, thực là lố lăng, hỗn độn. Nhà cửa thì tây chả ra tây, tàu chả ra tàu, bàn ghế thì chắp kiểu Louis XV vào với kiểu Vân Nam, Thượng Hải một cách bạo dạn, liều lĩnh.
Ông Tardieu mỉm cười:
- Ấy, chính thế.
Rồi ông hạ giọng, chua chát bảo tôi:
- Không phải ai ai cũng nghĩ như ông đâu. Người ta không hiểu tôi. Cả một số học trò của tôi nữa. Họ phàn nàn rằng tôi không tìm được việc cho họ. Ông tính việc đâu mà sẵn thế. Vả mục đích của tôi xin dựng trường Mỹ thuật có phải để gây lấy những ông giáo dạy vẽ đâu? Chính phủ thì phàn nàn rằng trường Mỹ thuật không những vô ích mà còn có hại, vì đã gây nên một bọn có bằng cấp thất nghiệp. Đến nỗi một độ tôi đã phải cấm các cựu sinh viên trường Mỹ thuật không ai được đệ đơn xin bổ cả để tỏ với chính phủ rằng mục đích của họ vào học trường Mỹ thuật không phải cốt cầu cạnh một chỗ ăn lương.
Giữa lúc ấy, có người đem tác phẩm đến trưng bày, ông Tardieu liền bắt tay từ giã tôi để ra tiếp người mới tới.
Những lời trên này của ông Tardieu, tôi chưa đăng báo, là vì, biết tôi viết báo, ông Tardieu có ân cần dặn tôi đừng công bố. Nhưng nay ông đã là người thiên cổ thì tôi tưởng không nên giữ kín nữa. Vả tôi cũng muốn góp chút tài liệu vào thiên tiểu sử của ông Tardieu mà tôi mong sẽ có người soạn, cũng như tôi mong rằng người Annam sẽ dựng tượng đồng ông ở một nơi công viên".
Nhị Linh
Trường Mỹ thuật Đông Dương dưới ngòi bút Nhất Linh
Bài viết đầu tiên về trường Mỹ thuật Đông Dương trên Phong Hóa là bài Trường Mỹ thuật Đông Pháp, in trên Phong Hóa số 18 (20-10-32), sau đây là toàn bài:
"Trường "Mỹ thuật" Đông Pháp mới thành lập được hơn năm năm nay đã đào tạo nên được nhiều họa sĩ, kiến trúc và điêu khắc có tài. Tại kinh thành Ba Lê nhiều nhà bình phẩm trứ danh về mỹ thuật [4] đã từng nhiều lần khen ngợi. Nền mỹ thuật nước nhà mà được cái kết quả tốt đẹp như vậy, cũng là nhờ công trình của cụ Victor Tardieu người sáng lập ra nhà trường. Cụ khéo điều hòa hai nền mỹ thuật Âu Á, hết lòng chỉ bảo học trò cụ noi theo cái tinh hoa của mỹ thuật Đông phương, lấy đấy làm gốc của sự học, chỉ những chỗ nào sai với sự thực mới là lấy cái hay của mỹ thuật Tây phương bồi bổ thêm vào.
Học trò cụ lấy cái ý tưởng sâu xa ấy làm phương trâm, lại nhờ cái tài năng, cái trí tuệ khác thường của họ, nên chưa được bao lâu mà nước ta đã có thể tự hào rằng sắp đến ngày có một nền mỹ thuật riêng.
Người tiêu biểu được cái tinh thần Đông phương hơn cả là ông Nguyễn Phan Chánh - ông vẽ trên lụa, theo lối tầu. Ông người ít nói, trầm mặc, lúc nào cũng đăm đăm làm sao tả được cả "vẻ" riêng của những bức họa thiên nhiên thấy giải giác [rải rác] chung quanh mình.
Ông thường họa những cảnh thường thường ta vẫn được trông thấy: một gia đình ngồi chung quanh mâm cơm, một cô ở đương dửa [rửa] bát, một đám sẩm… Ông vẽ một lối riêng, không "đánh bóng", cốt lấy những mùi dịu hòa hợp với nhau nên một khúc nhạc vô hình, mà những bức họa của ông phần nhiều là tuyệt tác: ta có thể nói rằng ông đã đào tạo ra học thuật nước Việt nhà.
Những cái khéo của ông không thể để ta quên được cái tài của các nhà họa sĩ khác.
Lối vẽ bằng sơn [dầu] ta phải kể đến ông Nam Sơn, ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu.
Ông Nam Sơn là người học trò thứ nhất của cụ Tardieu từng sang Tây học, (nhập môn cụ P. Launus một nhà mỹ thuật trứ danh có chân trong Mỹ thuật viện, và cụ Félix Aubert) mà công của ông đối với nhà trường không phải là nhỏ: ông đã hết lòng giúp cụ Tardieu trong lúc sáng lập lên nhà trường. Những bức tranh của ông luyện lắm, hơi có vẻ khắc khổ. Ông thường họa những cảnh chùa chiền, vài nhà sư giạo [dạo] chơi xuân, mấy ông cụ đương tế thần. Ông có gửi sang đấu xảo bên Pháp một bức họa chân dung bà cụ thân sinh ra ông được rất nhiều người thưởng thức.
Ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác, đều là người có tài, mỗi người một vẻ riêng, muốn tả hết cái hay của những nhà mỹ thuật ấy, ít ra về mỗi người phải nói một bài dài.
Có một điều đáng ghi là cô Lê Thị Lựu, không ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích cánh với bọn họa sĩ đàn ông, mà cái hay cái khéo của cô lại hơn người, thật là vẻ vang cho Phụ nữ nước nhà.
Trường mỹ thuật không phải chỉ dạy riêng về nghề vẽ. Trong nhà trường lại có một lớp kiến trúc. Những nhà kiến trúc cũng theo một phương châm với những nhà họa sĩ, đi tìm tòi những vật liệu ở những nơi đền chùa cổ, còn di tích những nền kiến trúc xưa: đình làng Bảng hay chùa Bút Tháp, các ông ấy đều đã để vết chân lại. Một mai người mình biết thương tiếc đến nền mỹ thuật cũ ta sẽ thấy chung quanh những nơi đó hội những ngôi nhà có mỹ quan, mà kiến trúc lại theo một lối riêng.
Cụ Tardieu lập ra trường Mỹ thuật, lại không quên những kỹ nghệ nhỏ ở nước ta có can hệ đến mỹ thuật. Cái ý của cụ là đào tạo nên những nhà mỹ thuật hiểu cho đến nơi đến chốn, những nhà ấy sẽ đem cái thuật của mình dạy cho những người "thợ" khéo biết lấy cái đẹp mà áp dụng vào kỹ nghệ trong gia đình, như ở bên Nhật vậy.
Cái trình độ của nền mỹ thuật nước nhà, nhờ cụ Tardieu và học trò cụ làm cho ta có thể mong một cuộc tương lai rực rỡ".
Bài viết không ký tên, nhưng chắc chắn là của Nhất Linh, vì chỉ có ông, là người đã học ở trường và đã đi Pháp, nên mới biết rõ về cách dạy của Tardieu, về quan điểm đưa mỹ thuật vào đời sống của Tardieu, về những nét đặc sắc riêng của từng họa sĩ, về tiếng vọng bên Pháp của nhà trường. Ngoài ra, Nhất Linh còn chú ý đến những người học trò mà ông cho là có tài:
1- Nguyễn Phan Chánh, vẽ lụa, theo lối Tầu, tiêu biểu cho phong cách Đông phương.
2- Về sơn (dầu) phải kể đến: Nam Sơn, Lê Phổ và Lê Thị Lựu.
3- Bốn họa sĩ giỏi (nhất) dưới mắt ông là: Nam Sơn, Lê Phổ, Lê Thị Lựu và Mai Trung Thứ.
Vấn đề Nam Sơn
Nhất Linh đặc biệt chú ý tới Nam Sơn, ông viết:
"Ông Nam Sơn là người học trò thứ nhất của cụ Tardieu, từng sang Tây học, (nhập môn cụ P. Launus một nhà mỹ thuật trứ danh có chân trong Mỹ thuật viện, và cụ Félix Aubert) mà công của ông đối với nhà trường không phải là nhỏ: ông đã hết lòng giúp cụ Tardieu trong lúc sáng lập lên nhà trường".
Nhất Linh đã từng bênh vực Nam Sơn khi thi vẽ với Trần Phềnh, bị Phạm Quỳnh chấm Trần Phềnh nhất (xem phần I). Ở đây, Nhất Linh không quên ghi nhận cái công Nam Sơn đã hết lòng giúp cụ Tardieu trong lúc sáng lập lên nhà trường.
Cái công này, sau được một số người (Pháp, Việt) buôn tranh Nam Sơn, không ngần ngại đưa lên internet và Wikipédia (tiếng Anh, Pháp), phóng đại thành: Nam Sơn là "bạn" của Tardieu, "cùng sáng lập" trường Mỹ thuật Đông Dương với Tardieu [5].
Sự nhận vơ đáng tiếc này, tôi đã nêu ra và chứng minh bằng văn bản trong cuốn Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn [6] in năm 2018. Wikipédia tiếng Việt cũng đã xóa bỏ câu: "Nam Sơn là người sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với họa sĩ Tardieu" rồi.
Ở đây, tôi chỉ tóm tắt lại mấy điều ta biết chắc:
Họa sĩ Nam Sơn là một trong số những người Việt Nam đầu tiên biết về hội họa, và ông cũng là học trò đầu tiên của Tardieu, có công giúp thầy trong lúc sáng lập nhà trường. Ông được sang Pháp học thêm về Trang trí. Năm 1925, ông học khóa I trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Thứ… Năm 1927, ông được nhận làm hướng dẫn viên (moniteur) lớp dự bị thi vào trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông trở thành giảng viên Trang trí của nhà trường kể từ khóa V (1929-1934).
Những người tôn Nam Sơn lên là bạn của Tardieu và đồng sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương, không hiểu rõ tình hình kỳ thị thời đó:
Người Việt được gọi là indigène, tức là người bản xứ hay thổ dân không thể ngang hàng với người Âu.
Hoàng Đạo viết: "Những dân tộc thuộc địa, theo họ, đối với dân tộc khác, là những dân tộc bán khai, kém hèn, dẫu có được hưởng giáo dục học vấn đến mức nào chăng nữa, cũng vẫn kém hèn, bán khai mà thôi"(Ngày Nay số 77, 19-9-37)
"Người bản xứ bị coi là thuộc về một giống người hèn kém, nên chỉ được giữ một dúm quyền lợi, lớn nhỏ, tùy ở tay người bảo hộ" (Ngày Nay số 82, 24-10-37).
Nguyễn Gia Trí minh họa trên bìa báo Ngày Nay số 92 (2-1-38), để bất tử hóa tình trạng này: Hội chợ Hà Nội có hai cửa: một cửa dành cho Européens (người Âu) và một cửa dành cho Indigènes (Người bản xứ):
Ngày Nay số 92
Tình trạng này, trên thực tế, đã xảy ra với Hoàng Xuân Hãn:
Năm 1934, Hoàng Xuân Hãn, tốt nghiệp hai trường: Polytechnique (Bách Khoa) và Ponts et Chaussés (Cầu Cống), đoạt danh hiệu kỹ sư cao quý nhất của Pháp; khi về nước, vì là người bản xứ, nên không được bổ nhiệm chức Kỹ sư. Sự kỳ thị này được Pierre Quatrepoint gọi là Rascisme du parchemin (Kỳ thị văn bằng) [7]. Hoàng Xuân Hãn giận, trở lại Pháp học đỗ Thạc sĩ Toán (Agrégation de Mathématiques) năm 1936.
Cho nên, tưởng tượng có một người bản xứ, năm 1923, mới tập vẽ, như Nam Sơn (xem bài Cuộc đấu xảo mĩ nghệ của hội Khai Trí của Phạm Quỳnh, trong phần I) bỗng nhiên kết bạn với Tardieu và trở thành người sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với Tardieu. Thì đúng là một phép lạ.
Chúng ta chỉ cần đọc lời các họa sĩ tiên phong: Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân nói và viết về giáo sư Victor Tardieu dưới đây là đủ: họ không hề nhắc đến một vị giáo sư nào khác sáng lập ra trường Mỹ thuật cùng với Tardieu. Và nếu có phép lạ xảy ra cho Nam Sơn (trở thành bạn Tardieu và cùng sáng lập ra nhà trường) thì sẽ là một niềm vinh dự cho nước Nam, tại sao những họa sĩ bạn của Nam Sơn, không ai ghi nhận công lao to tát ấy?
Bởi vì, công lao sáng lập, giảng dạy và chiến đấu để trường Mỹ thuật Đông Dương được tồn tại là của một người duy nhất: Victor Tardieu. Trong bối cảnh môi trường sống cực kỳ thực dân ấy, hành động của giáo sư Tardieu lại càng đáng khâm phục và kính nể.
Ta nên tôn trọng sự thực, không vì lẽ này hay lẽ khác mà sửa lại lịch sử. Làm như thế là không xứng đáng với sự hy sinh và nhân cách cao quý của vị tổ phụ hội họa hiện đại Việt Nam.
Vũ Cao Đàm và thầy Tardieu
Buổi nói chuyện với họa sĩ Vũ Cao Đàm, trên làn sóng của đài RFI năm 1991, mở đầu cho những thông tin về trường Mỹ thuật Đông Dương, được ghi âm bằng tiếng Pháp, tôi dịch sang tiếng Việt, phát thanh ngày 24-3-1991 [8].
"Thụy Khuê: Thưa bác, trở lại những kỷ niệm của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, bác học khóa II. Xin bác nói về những năm tháng ấy, về thầy Tardieu và cách giảng dạy ở trường.
Vũ Cao Đàm: Tôi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội năm 1926. Trường do ông Victor Tardieu thành lập, và tôi đã học những môn: hình họa (dessin), hội họa (peinture) và điêu khắc (sculpture). Chúng tôi có những giáo sư chính:
Ông Victor Tardieu dạy hội họa.
Ông Inguimberty dạy trang trí (décoration) và điêu khắc.
Ông Batteur dạy kiến trúc.
Bác sĩ De Phenix dạy cơ thể học.
Mỗi năm có một giáo sư hội họa được giải thưởng Đông Dương đến trường để giảng thêm. Ông Tardieu đã hy sinh tất cả cho học trò. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy, ông còn nâng đỡ và dìu dắt học trò trong những trường hợp khó khăn để họ có điều kiện theo đuổi việc học. Bây giờ khó có thể kiếm được một người thầy sáng suốt, có lương tâm và tận tụy đến thế.
Ông bắt học trò học rất nhiều, buộc phải làm việc cẩn thận và giữ kỷ luật nghiêm minh. Chúng tôi học 9 giờ mỗi ngày. Phải dậy từ 6 giờ sáng. Sáng học hội họa, chiều học trang trí. Mỗi tuần có 1 giờ cơ thể học, 1 giờ viễn họa và 1 giờ nặn mô hình. Học trò phải đi tới chùa hoặc các di tích lịch sử để lấy kiểu mẫu.
Thầy Tardieu thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cha tôi, thầy khen đẹp. Cho nên sang năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi rất thích thú. Sau đó tôi chuyên về chân dung.
Muốn giúp đỡ học trò, mỗi cuối năm, thầy Tardieu tổ chức một cuộc triển lãm các tác phẩm của sinh viên. Những cuộc triển lãm đó đã giúp họ rất nhiều về vật chất. Tôi từ giã Hà Nội để đi Pháp vào cuối năm 1931. Tôi được học bổng đi học Ecole du Louvre ở Paris".
Lê Phổ và thầy Tardieu
Người thứ hai mà tôi có dịp tiếp xúc và hỏi về giáo sư Tardieu và trường Mỹ thuật Đông Dương là họa sĩ Lê Phổ, trong buổi nói chuyện phát thành trên đài RFI ngày 7-3-1993 [9], họa sĩ Lê Phổ nói:
"Ông Tardieu là một ông thầy tuyệt vời đối với học trò: ông giúp đỡ chúng tôi về mọi mặt. Phải nói rằng thời đó, ngay một số người Pháp cũng ganh tị với chúng tôi, kể cả những người Pháp dạy ở trường Mỹ Thuật Hà Nội. Chúng tôi làm việc nhiều, và mỗi cuộc triển lãm tranh chúng tôi bán được gần một nửa, hơn cả những người Pháp đã được giải thưởng hội họa Đông Dương và cũng triển lãm tranh ngay tại Hà Nội. Ông Tardieu học cùng thầy với các họa sĩ Rouault và Matisse. Ông là một họa sĩ giỏi tuy không nổi tiếng bằng những họa sĩ thời danh của Pháp. Khi ông quyết định đi xa, các bạn hỏi: tại sao lại đi xa thế? Sao không ở lại đây? Tardieu thích phiêu du và cũng nhờ thế mà chúng ta có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội. Đó là một điều may mắn! Nếu không thì nghệ thuật tạo hình Việt Nam - cho tới bấy giờ - vẫn bị xem như trùng hợp với nghệ thuật Trung Quốc (…).
Bước đầu ở Pháp, muốn nổi tiếng rất khó: làm cho một số người biết đến mình thì không khó, nhưng muốn thực sự nổi tiếng và thành công thì khó hơn nhiều. Bởi vì chúng tôi muốn giữ một truyền thống, có một lối vẽ khác với hội họa Âu châu lúc bấy giờ. Ông Tardieu khi dạy chúng tôi, không muốn chúng tôi mô phỏng hội họa Tây phương, mà phải giữ vững truyền thống của mình, rồi từ truyền thống ấy, tạo ra một cái gì khác. Bốn người chúng tôi: Lựu, Đàm, Mai Thứ và tôi là những họa sĩ đầu tiên phiêu lưu sang Âu châu, rời môi trường Hà Nội, sang đây để gặp những họa sĩ khác, làm việc với họ để hiểu hội họa Âu châu - là một điều hoàn toàn khác với những gì chúng tôi đã học- thoát thai từ trường phái Paris, với những họa sĩ lớn thời đó.
TK: Bác còn nhớ những bạn học cùng lớp cũ không?
LP: Cùng lớp hồi đó có Nam Sơn, nhưng anh ấy không phải là học trò như chúng tôi, anh ấy quen Tardieu trước chúng tôi. Nguyễn Phan Chánh lớn tuổi nhất bọn, anh ấy nhà Nho, tốt bụng, tôi quí mến lắm. Anh Chánh thường bị mấy tay trẻ chòng ghẹo. Lê Văn Đệ mới mất cách đây mấy năm, và ba chúng tôi: Đàm, Thứ và tôi (…)
À còn Nguyễn Tường Tam. Nguyễn Tường Tam cũng bồ lắm. Tường Tam viết văn. Tóm lại, trong lớp có: Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê Văn Đệ - tôi có gặp Lê Văn Đệ một lần ở Pháp - Mai Thứ và tôi. Còn những người khác tôi không nhớ nữa."
Câu: "Ông Tardieu khi dạy chúng tôi, không muốn chúng tôi mô phỏng hội họa Tây phương, mà phải giữ vững truyền thống của mình, rồi từ truyền thống ấy, tạo ra một cái gì khác", chứng tỏ sự sáng suốt của Tardieu: Người Anh khi lập trường Mỹ thuật ở Ấn Độ, đã không nghĩ đến việc này: họ bỏ qua lịch sử mấy nghìn năm hội họa cổ Ấn Độ, cho học trò học hội họa Tây phương, nên họ đã không đào tạo được những họa sĩ tài danh như trường Mỹ thuật Đông Dương.
Lễ giỗ hai năm giáo sư Victor Tardieu, ngày 12-6-1939
Tô Ngọc Vân và thầy Tardieu
Hai năm sau khi Victor Tardieu qua đời, Trường Mỹ thuật Đông Dương làm một lễ giỗ đơn giản tưởng niệm vị thầy khai sáng, Tô Ngọc Vân, bút hiệu Tô Tử, đã tả lại buổi lễ đơn mạc này trong bài viết tựa đề Ông Victor Tardieu (người sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương) in trên Ngày Nay số 166 (17-6-39), lời mong ước của Khái Hưng một phần đã đạt: tượng Tardieu đã được dựng ở sân trường. Dưới đây là nội dung toàn bài viết của Tô Tử:
"Tại trường Mỹ thuật, hôm 12 Juin vừa rồi đã làm lễ kỷ niệm ngày ông Victor Tardieu mất. Một lễ đơn giản, cảm động.
Chung quanh pho tượng ông bầy giữa vườn, những bó hoa đỏ chói đặt trên bệ, và viên chức cùng tân cựu học sinh trường Mỹ thuật đứng xếp hàng.
Trong số người kính cẩn trước tượng ông, bên những người xưa nay đối với ông vẫn nhiều cảm tình, có những người, khi ông còn sống, bất hòa với ông. Có những người chưa được biết ông lần nào. Nhưng ai ai cũng chung một lòng nhớ đến ông, người đã hoàn sinh cho mỹ thuật nước nhà.
Người ân nhân ấy để lại cho chúng ta một sự nghiệp to tát, nguy nga, gây nên không phải dễ dàng. Những trở lực, những sự kiềm chế ông đã gặp khi ông mở trường Mỹ thuật, nhiều người còn nhớ. Không có một năm nào, trong tám chín năm đầu của trường Mỹ thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương, người ta không kêu gào đóng cửa trường ấy. Người ta cứ phá. Ông cứ xây. Xây bằng sự khéo léo, sự nhiệt thành, sự kiên nhẫn.
Ông đã thắng. Nên mới có chúng ta ngày nay: những người biết yêu mỹ thuật, nhận mỹ thuật là cần cho sự sống, biết lo bồi đắp mỹ thuật Việt Nam.
Ông mến học trò. Ông làm cho học trò tin ở mình, ở tương lai. Ông săn sóc ân cần đến họ, như một người cha trông nom âu yếm các con.
Sau bài diễn văn, một cựu sinh viên đọc bày tỏ sự nhớ tiếc biết ơn ông, ông Loubet đại diện ông giám đốc học chính, cũng nói mấy lời. Ông nói: nếu vào thời trước, có lẽ người Annam đã dựng đình tôn ông Tardieu làm thành hoàng. Theo phong tục Pháp, chúng ta đã kỷ niệm người ân nhân ấy bằng buổi lễ hôm nay. Cách biểu lộ tuy khác, xong lòng biết ơn không vì thế mà kém thiết tha.
Rồi mọi người nghiêng đầu trước tượng, đứng tĩnh một phút. Rồi ai nấy tản tác ra về, ngơ ngác như nhớ một cái gì kính mến mà ta vừa mất.
Cả một buổi lễ không đầy 15 phút.
Trở ra, nhìn lại trường Mỹ thuật, tôi cảm thấy phảng phất bóng ông già Tardieu, đầu bạc trắng sóa, tay sách cái gậy lớn, trán đẫm mồ hôi.
Ông già ấy cách đây sáu năm, có một hôm, nửa đêm, đến đấm cửa nhà chúng tôi, vừa hát vừa báo: "Người ta không đóng cửa trường Mỹ thuật nữa!". Ông già ấy, trước khi xe đi nhà thương, còn viết run được mấy dòng trên một cái nắp hộp, dặn dò mấy điều về hội Việt Nam mỹ thuật. Nằm nhà thương được hai hôm, ông chết".
Tô Tử
Những lời của Tô Tử đã tóm tắt công lao của Victor Tardieu từ khi lập trường đến lúc mất: "Không có một năm nào, trong tám chín năm đầu của trường Mỹ thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương, người ta không kêu gào đóng cửa trường ấy. Người ta cứ phá. Ông cứ xây".
Câu "Ông săn sóc ân cần đến họ như một người cha trông nom âu yếm các con" Tô Ngọc Vân đã viết cho tất cả các bạn đồng học và ta thấy lại trên môi Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, năm mươi năm sau. Những dòng chót về ông già tóc trắng, gieo vào lòng chúng ta, người đọc tám mươi năm sau, một niềm kính phục đớn đau vô hạn.
Ngày Nay số 64 (20-6-37) đăng tin Victor Tardieu qua đời, dưới có chân dung Tardieu do Ngym (Trần Quang Trân) vẽ. Bản ai tín như sau:
"Chúng tôi buồn rầu và thương tiếc khi được tin ông Victor Tardieu đã tạ thế. (…)
Sự nghiệp của ông Tardieu là tất cả nền mỹ thuật ở nước này: trường Mỹ thuật là cái công trình đầu tiên của ông.
Trước khi trường này mở, trong nước ta không có một người nào có thể gọi được là nghệ sĩ; công chúng không biết thưởng thức mỹ thuật. Những kiểu nhà xấu, những bàn ghế lố lăng, những tranh vẽ sặc sỡ hồi ấy là biểu hiệu một sự hỗn loạn, mà các công nghệ nhỏ của ta không có mỹ thuật nâng đỡ, bị thiệt thòi nhiều.
Đến khi lớp sinh viên đầu tiên ở trường Mỹ thuật ra, tình thế bắt đầu đổi hẳn. Những cuộc phô bày mỹ thuật, những phòng triển lãm làm cho mọi người chú ý đến cái đẹp một cách hiểu biết hơn.
Mỹ thuật thay đổi cả cách sống nữa; chúng ta hoạt động trong một hoàn cảnh đẹp đẽ. Đời chúng ta thêm vẻ thanh lịch.
Ảnh hưởng của trường Mỹ thuật tràn khắp. Một chứng cớ rõ rệt là những tờ báo bây giờ, những quyển sách in đẹp mà trước kia ta không có.
Ông Tardieu lại lập thêm hội Chấn hưng Mỹ nghệ. Công việc đang tiến hành thì ông tự nhiên qua đời.
Chúng ta nên kính cẩn cúi đầu trước vong linh người đã khuất, và ghi nhớ trong lòng ta tên người đã giúp ích cho nước này.
Ngày Nay
Lời ai tín của Ngày Nay chính là lời vĩnh biệt của Tự Lực văn đoàn với người cha đẻ nền hội họa hiện đại Việt Nam.
Tardieu qua đời, trường Mỹ thuật Đông Dương bị đe dọa đóng cửa
Victor Tardieu mất ngày 12 tháng 6 năm 1937. Trường Mỹ thuật đóng cửa niên khóa 1937-1938. Đầu năm 1938, một tin đồn đáng ngại lưu thông: Trường sẽ bị đóng cửa luôn hay sẽ đổi thành trường Công nghệ?
Báo Ngày Nay lập tức mở mục Trường Mỹ thuật Đông Dương có sẽ có bị bãi không? đăng những bài của các nghệ sĩ cộng tác, cổ động ráo riết việc giữ lại nhà trường như cũ, không đổi thành trường công nghệ.
Ngày Nay số 92 (2-1-38) trong bài Mỹ thuật và Công nghệ, họa sĩ Trần Bình Lộc viết:
"Đông Dương được người ta để ý tới chẳng từ năm 1931 ư? Năm các nghệ sĩ trường mỹ thuật phô tài lần đầu tiên ở đấu xảo Quốc tế.
Trường mỹ thuật bãi đi để khuyến khích tiểu công nghệ, e rằng chẳng có kết quả mà lại còn giết chết thêm cả chúng nó nữa.
Một người thợ khéo không có thẩm mỹ của nghệ sĩ, thì chỉ có thể sáng tạo ra những đồ tỉ mỉ lố lăng thôi.
Hẳn ai cũng còn nhớ những đồ bài trí khi chưa có trường mỹ thuật: những đồ ấy trạm trổ tứ tung và hiến cho người ta cái phiền, cái nhọc, nhiều hơn là cái đẹp, cái tiện (…)
Nhà mỹ thuật, vì thế, nên vẫn là cái cốt của mọi công nghệ tinh xảo và trường Mỹ thuật Đông Dương vẫn cần phải "còn" ở Đông Dương."
Ngày Nay số 93 (9-1-38), Nguyễn Gia Trí viết:
"Tin đồn rằng trường Mỹ Thuật sẽ bị bãi và đổi ra một trường công nghệ (École d’Artisanat) có đích xác không? (…) Sự bỏ trường Mỹ Thuật đi để làm một trường tiểu công nghệ thì theo ý tôi là một sự tôi mong rằng thật ra chính phủ không bao giờ nghĩ tới, vì muốn khuyến khích tiểu công nghệ mà lại bỏ trường Mỹ thuật đi, hai điều đó trái ngược nhau một cách hiển nhiên".
Ngày Nay số 94 (16-1-38), kiến trúc sư Hoàng Nhữ Tiếp viết:
"Từ ngày có trường Mỹ Thuật đến giờ, những nghề gì phát đạt hơn và có những sự thay đổi gì phát sinh ra đều chịu ảnh hưởng mỹ thuật.
Không có một nghề gì là không chịu ảnh hưởng mỹ thuật. Báo chí, sách vở, thảm, chiếu, đồ ren, đồ vàng bạc, đồ thêu, bàn ghế, nhà cửa và cách trang hoàng (…)
Những ảnh hưởng ấy to tát, rộng rãi quá, đến nỗi năm ngoái ở Đại hội nghị kinh tế lý tài, ông nghị Thương mại Joseph đứng lên phản đối Chính phủ và trường Mỹ thuật kịch liệt. Ông bảo rằng sao nhà nước lại mở một cái trường chỉ có ích cho dân Annam, và làm thơm cho chính phủ thuộc địa ở hải ngoại, mà không ích lợi gì cho ông ấy. Hay là ông ấy hăng hái như vậy vì ông ghét cụ cố Tardieu về câu chuyện thầu nhà cửa gì đó?
Cũng có thể lắm, năm nay ông không đứng lên phản đối nữa, vì có ông nghị Phan Thanh đã nói để các ngài trong Đại hội nghị biết rằng không nên vì thù ghét riêng ai, mà xin đóng của trường Mỹ thuật. Ông Thanh chất vấn chánh phủ về việc bãi bỏ trường Mỹ thuật, thì ông Học chính Tổng trưởng Bertrand nói rằng vì hiện nay nhiều họa sĩ chưa có việc làm nên hoãn lại một kỳ thi, chứ chính phủ không có ý bãi bỏ.
Nhưng chúng tôi mong rằng, chính phủ đừng vì lợi riêng một dúm người cỏn con ấy mà để thiệt hại cho tương lai mỹ thuật xứ này, xin sang năm chính phủ lại mở rộng cửa trường ra để đón các hy vọng mới".
H.N. Tiếp, kiến trúc sư
Phan Thanh chất vấn chính phủ bảo hộ
Phan Thanh (1908-1939) là em họ Phan Khôi, anh ruột Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam). Ông dạy học, viết báo, đã từng cộng tác với La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) của Nguyễn An Ninh và và L’Annam của Phan Văn Trường. Từ khi chính phủ Bình Dân ở Pháp lên cầm quyền, ông vào đảng Xã hội Pháp (SFIO) để có thể hoạt động mạnh hơn. Là dân biểu Quảng Nam, ông có tài hùng biện bằng tiếng Pháp; tên ông xuất hiện thường xuyên trên báo Ngày Nay như một chính trị gia cam đảm, dám bênh vực quyền tự do dân chủ và công bằng xã hội cho dân Việt. Khi ông mất, báo Ngày Nay đưa tin Một chiến sĩ xã hội từ trần ngày 1-5-1939, sau hơn một tháng bị bệnh, ở tuổi 31. Và trong bài Tiểu sử ông Phan Thanh rất đầy đủ, Ngày Nay - coi ông là một nhà lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở nước ta - viết:
"Năm 1937, ông ra ứng cử dân biểu ở Quảng Nam được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt; từ đấy ông là cái chỉ trụ, là người chỉ dẫn sáng suốt, cương quyết, được đa số nghị viên dân chủ trong viện dân biểu Trung kỳ tín nhiệm và ủng hộ.
Được bầu vào Đại hội đồng kinh tế lý tài, ông đã một mình cương quyết chống với tất cả bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng trong giai cấp tư sản bản xứ và bênh vực quyền lợi cho đại đa số dân chúng. (…) Cái chết của ông Phan Thanh chẳng những là một cái tang đau đớn cho gia quyến ông, cho đảng ông, mà còn cho toàn thể dân chúng nữa".
Đại hội đồng Kinh tế và Lý tài (Grand Conseil des Intérets Economiques et Financiers) là tổ chức quan trọng thứ nhì sau Hội đồng Chính phủ (Conseil du Gouvernement), giúp Toàn quyền trong việc cai trị Đông Dương. Toàn quyền bó buộc phải hỏi ý kiến Đại Hội Đồng về dự án ngân sách [10]. Tô Ngọc Vân đã viết: "Không có một năm nào, trong tám chín năm đầu của trường Mỹ thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương, người ta không kêu gào đóng cửa trường ấy".
Lời ông nghị Phan Thanh chất vấn chánh phủ về việc bãi bỏ trường Mỹ thuật trong Đại hội nghị kinh tế lý tài năm 1938 ở Sài Gòn, chắc chắn có trọng lượng, nên ông Học chính Tổng trưởng [Bộ trưởng Giáo dục] Bertrand phải cải chính "tin đồn" đóng cửa trường Mỹ Thuật, và ông Toàn quyền phải chọn giải pháp nước đôi.
Evariste Jonchères được cử làm giám đốc trường Mỹ thuật thay thế Victor Tardieu.
Ngày 25-4-1938, Toàn quyền Jules Brevié ký nghị định thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật và Mỹ nghệ Đông Dương (Ecole supérieure des Beaux-Arts et des Arts appliqués de l’Indochine). Chữ Cao đẳng có từ đây và thêm chữ Mỹ nghệ Đông Dương vào tên trường, nhưng những cựu sinh viên khi viết về trường mình thường bỏ bốn chữ này đi vì họ cho là hạ thấp giá trị của nhà trường. Tuy nhiên chủ trương của Jonchères không thay đổi.
Phản đối Jonchères
Trên Ngày Nay số 144 (7-1-39) có bài Những sự cái cách của trường mỹ thuật Đông Dương, cùng ký tên: Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Hoàng Lập Ngôn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Khang, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung chấp bút:
"Ông Jonchères, Giám đốc mới của trường Mỹ thuật Đông Dương đã sang thay cụ Victor Tardieu quá cố hồi năm ngoái, vừa đến Sài gòn, ông trả lời báo Opinion lên tầu phỏng vấn ông như sau này:
"Tôi đi Hà Nội chuyến này chỉ muốn đào tạo những thợ mỹ thuật chứ không phải những nhà nghệ sĩ.(…)"
Ông cho rằng người Annam không thể hiểu nổi những cái đẹp cao thượng của trí tuệ đến thế kia ư?
Ông là một điêu khắc gia, tôi xin mời ông hãy chịu khó qua xem những đồ điêu khắc ở chùa Đậu, đình Đình bảng, chùa Cói, chùa Keo hay Chu quyến và mời ông so sánh thử những nét chạm cổ tự đời Lê đó với nét chạm tự cổ chí kim của Nhật Bản hay những tác phẩm của ông xem đằng nào thâm trầm, gân guốc và đặc sắc hơn, rồi lúc đó sẽ thong thả nghe ông tuyên bố lại".
Nguyễn Đỗ Cung lập luận tiếp: Biến trường Mỹ thuật Đông Dương thành trường Mỹ nghệ thực hành không có gì là cao kiến, vì nhiều lẽ:
- Các trường mỹ nghệ thực hành như vậy ở nước này đã có nhiều rồi. Học sinh vào học vẽ, học nặn, học sơn, học đồng, học gỗ với chương trình rút ngắn bốn năm, về sau thấy họ bỏ cả.
- Lê Phổ không học sơn [mài] bao giờ mà vẽ tranh sơn hay hơn bao nhiêu người học sơn mài. [Thực ra Lê Phổ có học sơn mài với cụ Hợp, cụ Mạc, xem phần I]. Cát Tường không học trường Dentelle mà chế ra những dentelles chưa ai làm nổi. Gia Trí sở dĩ làm gì cũng xuất sắc (vẽ sơn ta, vẽ lụa, khắc gỗ vân vân) chính vì ông là một họa sĩ có tài…
- Tóm lại: "Đào tạo được nhiều họa sĩ, mới thực là giúp ích một cách gián tiếp và chắc chắn cho công nghệ".
Sau bài này có bài của Văn Giai, học sinh ban Mỹ nghệ (Artisanat) trường Mỹ thuật, bênh vực Jonchères (Ngày Nay số 145, 14-1-39). Tiếp đó là thư của Một số đông học sinh trường mỹ thuật, phản bác lại Văn Giai, tố cáo: "Trường Mỹ thuật Đông Dương hiện nay chỉ muốn đào tạo những thợ khéo (artisans) thôi. Hiện nay mỗi học sinh học xong năm năm thi ra, trước khi lĩnh bằng phải làm một tờ cam kết với trường, đại khái như sau đây: "Mỗi khi trường cần tới hay có việc ở đâu, trường bổ đi thì phải nhận làm với một số lương là 15 đồng một tháng…" Hoàng Đạo đăng thư này trên Ngày Nay số 146 (21-1-39), và đặt câu hỏi:
Có phải là mỗi học sinh trường Mỹ thuật phải ký tờ cam đoan kỳ dị kia, nghĩa là bằng lòng để cho nhà trường bóc lột mình, hay không?
Có phải trường Mỹ thuật chỉ còn là một trường Mỹ nghệ không? Hay là ông Jonchères vẫn muốn đào tạo bọn nghệ sĩ ở Đông Dương? Chúng tôi muốn hỏi ông đốc trường Mỹ thuật và Mỹ nghệ Đông Dương".
Không thấy ông Jonchères trả lời, hoặc cải chính việc này trên báo.
Tô Ngọc Vân viết về Nguyễn Gia Trí
Tô Ngọc Vân không những vẽ tranh cho Phong Hóa Ngày Nay, mà ông còn viết những bài giá trị về hội họa. Bài Cái đẹp trong hội họa (Ngày Nay số 5, 10-3-35) có tính cách cơ bản, giải thích cho người xem chưa từng có ý niệm gì về hội họa, hiểu thế nào là cái đẹp trong tranh, tại sao họa sĩ vẽ thế này mà không vẽ thế kia. Tô Ngọc Vân trả lời những câu hỏi: Thế nào là tranh đẹp? Họa sĩ vẽ để làm gì?
"Đứng trước tạo vật, nhà họa sĩ nhờ hình, sắc và cách xếp đặt trong tranh để tả những cảm giác của mình.
Tôi họa người ăn mày hay đôi guốc, tôi trông vũ trụ ra hình tròn hay hình vuông, nếu khi xem bức tranh, ngài cũng có cái cảm tưởng vui buồn, khoái trá… mà tôi muốn tả, thì bức tranh ấy là một mỹ công giá trị rồi!
Bởi tính tình con người ta phiền phức, cho nên, cùng một cảnh, trăm người họa có thể bầy ra trăm vẻ khác nhau. Cho nên tranh tây hay tranh tàu, quan niệm về mỹ thuật tuy xa nhau một trời một vực, mà cùng đều xuất sản ra những mỹ công tuyệt tác.
Tôi nghĩ rằng một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy, nên tôi tin rằng chỉ những người giàu tình cảm mới có thể thành họa sĩ tài hoa".
Bài Nguyễn Gia Trí và sơn ta (Ngày Nay số 146, 21-1-39), thực sự độc đáo, chỉ người tri kỷ trong nghề mới viết được. Tô Ngọc Vân và Nguyễn Gia Trí là hai họa sĩ lớn, cùng cộng tác với Phong Hóa Ngày Nay, cùng tư tưởng chống thực dân. Điều đáng chú ý là tình bạn tri kỷ của họ, in dấu lại trong bài Nguyễn Gia Trí và sơn ta, khó có ngòi bút nào có thể hiểu và viết sâu được đến thế:
"Cuộc triển lãm hôm 11- Janvier vừa rồi [1939] của trường Mỹ thuật Đông Dương đã bày cho ta xem những công trình sáng tác về sơn ta kết quả của sáu, bẩy năm tìm tòi.
Trong thời gian ấy, đã nhiều thí nghiệm, từ Mai Trung Thứ qua Lê Phổ đến Phạm Hậu. Cái lối sơn cổ của ta, hào nhoáng, lòe loẹt, son giữ mầu son, vàng chỉ có sắc vàng, trơ trẽn như anh nhà giàu khoe của, vào trường Mỹ Thuật, đã dần dần biến thành mỹ công nhã nhặn mà vẫn quý giá.
Vàng, bạc, sơn son, sơn then, người ta chỉ dùng nguyên chất có chừng độ, khi người ta xét cần phải dùng đến cho toàn thể tấm sơn. Rồi cũng ngần ấy vật liệu, đè lên nhau, trộn vào nhau, mài đi mài lại, người ta chế ra được nhiều mầu dìu dịu, đỡ tầm thường.
Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Tri, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng.
Người ta có thể tưởng tượng một "thầy sơn" khác chung quanh mấy ông phó sơn giúp việc, chia nhau từng đoạn vẽ mà bôi sơn vào, bằng những màu đã tìm sẵn và đã ấn định cho những chỗ nào rồi. Nghệ thuật của Gia Trí không thế. Nó là ý tưởng, cảm tình của Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra.
Đứng trước những tác phẩm ấy, người ta cảm thấy tất cả cái băn khoăn, yêu muốn, khoái lạc - thứ nhất là khoái lạc! - của Gia Trí.
Trên những mầu hồng nhợt biến hóa, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất thành quý vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc.
Chàng nghệ sĩ ấy yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét vuốt ve, mềm mại, lúc dữ dội bằng dăm bẩy nét quẹt mạnh, đập tung, cào cấu.
Cả tạo vật là tình nhân của anh chàng ấy. Đường cong cánh hoa, hình sắc cây cỏ, anh ta cũng say mê bằng bóng dáng mỹ nhân. Vạn vật đối với nghệ sĩ chỉ đáng yêu có sắc và hình.
Muốn hiểu Gia Trí, xét bằng con mắt thường không được. Thấy mặt những đàn bà họa trên nhiều bức bình phong, rạn mảnh vỏ trứng hay sây sát vàng son, ta đừng nghĩ đến khuôn mặt bằng xương, bằng thịt.
Những màu hoen hoen ấy, đứng cạnh nhau, cân đối, dung hoà một cách tuyệt khéo, đem lại cho người biết hưởng những cảm giác bồn chồn, rạo rực như hương sắc quyến rũ của mỹ nhân.
Bởi tác phẩm Gia Trí là tâm trạng của người tạo ra nó, nó cũng dồi dào, linh động, phức tạp vì biến theo tâm trạng. Không một khuôn khổ, không một nếp nào có thể ngừng nó lại.
Bốn bức bình phong bày trong phòng triển lãm, bốn lối bố cục, bốn cách dùng màu.
Nhân vật đặt trong những hoàn cảnh đặc biệt, chỗ thực, chỗ hư: những cô gái quê giấu kín thân hình trong đụn áo luộm thuộm, sù sù ở bức tả "Đình làng vào đám", với sự thực ngộ nghĩnh, buồn cười; những bóng ma hình người dáng điệu nhẹ nhàng khêu gợi hiện trên tấm bình phong nền vàng bệch ở thế giới nào đưa lại, với tất cả vẻ thơ của một giấc mộng đẹp.
Có lẽ Gia Trí chỉ sống trong tác phẩm của mình. Cắm đầu trên tấm gỗ bình phong láng nước, chàng nghệ sĩ cặm cụi mài, mài. Cả cơ thể rung động, hai mắt sáng quắc, tứ chi run run, khí dưới cục đá mài vẩn bọt, hiện lên dầu dần những nét đắm đuối của những người ít khi giống người.
Cứ thế, đã ba năm rồi. Bao nhiêu kho tàng của tuổi thanh niên, bao nhiêu sức khỏe, ý trí, tình cảm, đem tiêu đi, phung phí đi để thỏa dục vọng. Dục vọng của một nghệ sĩ muốn có quyền tạo hóa.
Người ta nói đến tiền. Người ta bảo Gia Trí mòn sinh lực để làm một việc khéo lắm chỉ đủ nuôi miệng.
Người ta đã làm một việc thừa. Ai lại đem chuyện tiền, chuyện kiếm ăn để cảnh tỉnh một người si tình".
Tô Tử
Những dòng trên đây, Tô Ngọc Vân viết để từ biệt người bạn đi làm cách mạng, vì sau đó Tô Ngọc Vân sẽ thay thế Nguyễn Gia Trí trên báo Ngày Nay. Tình bạn của hai thiên tài, giống như tình bạn Khái Hưng Nhất Linh có gì giống nhau. Nhờ sự kết hợp tư tưởng và nghệ thuật của những người như thế nên chúng ta mới có thời kỳ Ánh sáng như tôi đã nói đến.
Bài Nguyễn Gia Trí và sơn ta không những đặc biệt sâu sắc về cách diễn tả nghệ thuật sơn mài của Nguyễn Gia Trí mà còn xoáy sâu vào xương thịt họa sĩ khi nhập đồng sáng tạo. Chưa hết, còn một đặc điểm nữa, ở thời bình minh quốc ngữ, Tô Ngọc Vân đã đưa ra một thứ tiếng Việt ngắn, gọn, sắc, bạo, lạ thường, vượt xa trăm dặm những người cùng thời.
Chú thích:
[1] Họa sĩ Quang Phòng sinh ngày 4-3-1925 ở Thái Bình, học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, từ 1941-1945; năm 1947 gia nhập Quân đội Nhân dân, tốt nghiệp mỹ thuật ở chiến khu Việt Bắc năm 1951. Năm 1956 làm giảng viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam.
[2] Quang Phòng trong bài 1925-1945, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương và thời kỳ hội họa trước Cách Mạng, in trong sách Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội,1996, trang 7.
[3] Quang Phòng, bài đã dẫn, in trong Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, trang 8.
[4] Như cô Chamine… các ông Camille Mauclair, Paul Eyduox, Ivanhoé Rambassoo, Thiébault Sisson vân vân, chú thích của Nhất Linh.
[5] Wikipédia, tiếng Pháp: "En 1925, il est chargé avec son ami, le peintre Nguyễn Nam Sơn de la création de l’Ecole Supérieure des Beaux Arts de L’Indochine". Wikipédia tiếng Anh: "In 1925, he and his friend, the painter Nguyễn Nam Sơn, created the Ecole des Beaux-Arts de L’Indochine".
[6] Nhà xuất bản Tổng Hợp tp.HCM và Bảo tàng Mỹ thuật tp.HCM, 2018.
[7] Trong cuốn L’aveuglement De Gaulle face à l’Indochine (Sự mù quáng của De Gaulle về Đông dương), Nxb Remi Perrin, Paris, 2003, trang 38.
[8] In trong Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM và Bảo Tàng Mỹ thuật, Tp.HCM, 2018, trang 81.
[9] In lại trong sách Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn, trang 91.
[10] Đại Hội Đồng Kinh tế và Tài chính gồm các đại diện Pháp, bản xứ, do hội đồng dân cử của mỗi xứ trong liên bang Đông Dương bầu ra và gồm thêm một số thân hào nhân sĩ Pháp và bản xứ do Toàn quyền chỉ định. Đại Hội Đồng có thẩm quyền tư vấn về các vấn đề kinh tế tài chính, có thẩm quyền thảo luận về các thứ thuế gián thu và các công trái. (Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây Học cho đến năm 1954, quyển thượng, tác giả xuất bản, Melun, Pháp, 1999, trang 16).
Giới thiệu và cổ động Thơ mới
Phong Hóa nghĩ ra nhiều thứ lần đầu tiên áp dụng trên báo như các mục Dòng nước ngượcNhững hạt đậu dọnBàn ngang, Tin văn vắn… sau này được người ta bắt chước, tạo những mục tương tự. Ngày Nay lần đầu tiên in bản nhạc, giới thiệu các nhạc phẩm tiên phong và đăng những bài biên khảo về âm nhạc của Nguyễn Xuân Khoát.
Nhưng Tự Lực văn đoàn, trong tờ báo xuân đầu tiên, Phong Hóa làm thêm một việc tiên phong nữa là giới thiệu Thơ mới.
Phan Khôi
Như chúng ta đã biết, người sáng tạo ra thơ mới là Phan Khôi, tác giả bài Tình già, và ông còn viết bài tiểu luận "Một lối thơ mới trình chính trong làng thơ" giải thích tại sao cần phải có "thơ mới", bởi vì "thơ cũ" bị gò bó trong niêm luật, không thể diễn tả đầy đủ ý tưởng mà nhà thơ mong muốn; vì thế phải phá cái niêm luật tù túng đó đi.
Bài tiểu luận này và bài thơ Tình già được công bố lần đầu trên Tập Văn Mùa Xuân, báo Đông Tây, cuối tháng 1-1932, rồi trên Phụ Nữ Tân Văn số 122 (10-3-32) nhưng không có tiếng vang đáp lại.
Phan Khôi chán nản, muốn bỏ cuộc.
Khi Phong Hóa số 14 (22-9-32) ra đời, trong mục Văn Học, do Khái Hưng phụ trách với bút hiệu Văn Lực, ông viết bài tiểu luận tựa đề Thơ, nội dung đồng ý với Phan Khôi, chỉ ra những gò bó niêm luật, câu chữ đối xứng, hình ảnh sáo mòn trong thơ cổ điển và hô hào phải bỏ hết:
"Tả mùa thu thì bất cứ mùa thu ở Chapa hay ở Hà Tiên tất phải dùng những ý: lá vàng, gió vàng, nhạn kêu sương, lá ngô đồng rụng. Kỳ thực về mùa thu ở nước ta chỉ thấy chảy mồ hôi tay và ánh sáng mặt trời trong vắt, song những ý ấy mới, không có ở cổ thi, dùng sao được!
Một lần hai cụ Cử ngồi bình thơ cho nhau nghe, một cụ tả mùa thu có tuyết, cụ kia vội kêu:
- Mùa thu làm gì có tuyết!
- Sao lại không có? Trong bài tả mùa thu của Lý Bạch chả có tuyết là gì?
… À phải, tôi nhớ, phải… mùa thu có tuyết.
Vì theo cổ nhân quá, nên các thi sĩ ta phần nhiều thường mắc cái bệnh dùng rất nhiều sáo ngữ.
Tả người Mỹ nữ thì bao giờ cũng phải: nghiêng nước nghiêng thành, nhạn sa cá nhảy, xanh như liễu, gầy như mai, làn thu thủy, nét xuân sơn.
Tả thời gian mau chóng thì tất phải: vùn vụt như tên bay, bóng ngựa qua cửa sổ.
Tả đời người ngắn ngủi thì khó lòng bỏ qua được những chữ: giấc mộng kê vàng, đời người như gang tay.
Sự giản tiện nhất cho ta là phê một chữ "bỏ". Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích, sáo ngữ. Nghĩa là tóm tắt: Đừng bắt chước cổ nhân. Thơ ta phải mới: mới văn thể, mới ý tưởng" (Phong Hóa số 14).
Sự đồng tình của Khái Hưng với Phan Khôi đã rõ ràng.
Bốn tháng sau, trên Phong Hóa Xuân, số 31 (24-1-33) vẫn trong mục Văn học, xuất hiện bài Lối thơ mới, ký tên Phong Hóa, không những giới thiệu Thơ mới mà còn hết lòng thuyết phục Phan Khôi đừng nản chí, phải tiếp tục con đường.
Lối thơ mới trên Phong Hóa số 31
Bài Lối thơ mới mở đầu bằng lời giới thiệu đại ý: Chúng tôi vừa nhận được một bức thư của cô Liên Hương gửi cho ông Phan Khôi, đính kèm bài thơ [Tình già] của Phan Khôi và mấy bài thơ của Lưu Trọng Lư. Chúng tôi quyết định đăng bởi vì cô Liên Hương "ý tưởng có nhiều chỗ giống ý tưởng bản báo" đã nêu trong bài viết trên Phong Hóa số 14. "Bản báo" sẽ tiếp tục đăng trên mục Văn Học này những bài thơ mới của các bạn thi sĩ khác gửi đến.
Đọc "lá thư ngỏ" này của cô Liên Hương, chả cần nghĩ lung, ta cũng đoán được cô Liên Hương chính là Khái Hưng.
Không tiện ủng hộ bạn một cách trực tiếp, nhất là hai người lại đồng ý với nhau về việc cải tổ thơ, nên Khái Hưng mượn tên Liên Hương để viết thư ngỏ cho Phan Khôi như sau:
"Bức thư ngỏ cùng Phan Khôi Tiên sinh, sau khi đọc bài "Một lối thơ mới trình - chính trong làng thơ"
Phan Tiên sinh,
Cách đây đã lâu, Tiên sinh có đưa trình chính giữa làng thơ một lối thơ mới. Tôi đọc bài ấy rồi tôi cứ đợi mãi, đợi mãi mà sau Tiên sinh không thấy có ai nối gót theo, mà chính Tiên sinh cũng không buồn giở dói việc ấy nữa. Thế là thôi. Cái "của mới" ấy có lẽ chưa thích hợp với đời này. Mấy muôn độc giả đã yên trí như vậy, mà hẳn Tiên sinh cũng đã từng chau mặt giậm chân mà nói rằng: "Thôi, không ai ưa thì ta xếp nó lại đã, đợi khi khác ta lại mang ra". Thưa Tiên sinh, đợi khi khác, khi nào nữa? Thi ca ta ngày nay đương lúc ngấp ngoải, không còn có lấy một chút sinh khí. Nếu không xoay phương cứu chữa gấp, thì ôi thôi, còn chi là tính mạng của thi ca? Đừng có nói láy lắt như vậy, Tiên sinh ạ! Nếu Tiên sinh cứ giữ mãi thái độ tiêu cực ấy, thì bọn thi nhân "rỗng tuếch" kia còn cứ ca đi hát lại những câu sáo hủ nghìn xưa mà không thấy nở ra được những bậc thi nhân chân chính (…)
Dám khuyên tiên sinh nên mạnh dạn một lần nữa mà tiến lên đường.
Cái lối thơ mới của chúng ta là đương ở vào cái thời kỳ phôi thai, thời kỳ tập luyện, nghiên cứu. Không biết rồi đây nó có đi được đến chỗ thành công, hay là nửa đường mà bị đánh đổ! Đó là sự bí mật của lịch sử văn hóa mai sau! Dầu thế nào đi nữa nó cũng có cái giá trị là giúp cho sự tự do phát triển của thi ca, đưa thi ca đến một chỗ cao xa rộng lớn, nó như thúc giục, như khiêu khích, như kêu gọi nhà thi nhân ra làm một cuộc cách tân, dầu có thất bại, thất bại vì lòng mong ước quá cao, thì nó cũng đã hiến cho ta một cái công lớn: nó chính là một tiếng chuông cảnh tỉnh làng thơ giữa lúc đương triền miên trong cõi "chết" (Phong Hóa số 31).
Lời thư bộc lộ tâm trạng của Phan Khôi. Làm gì có cô Liên Hương nào biết rõ thế? Lại gói ghém cả tình hình thi ca lúc bấy giờ: Sự tê liệt của "thơ cũ". Thơ mới còn trong thời kỳ phôi thai, tập luyện, chưa biết ra sao, có sống được hay không? Tác giả không những đi guốc vào bụng Phan Khôi mà còn có cái nhìn bao quát về tình trạng thi ca Việt Nam thập niên 30 như thế, thì chỉ có Khái Hưng, người đã cải tạo văn xuôi với Hồn bướm mơ tiên, và bằng những lời tâm huyết này, vừa kích động Phan Khôi, vừa cổ võ cho sự xây dựng một nền thơ mới, trên đống tro tàn của thơ cũ.
Bài thơ Tình già của Phan Khôi, in trên Phong Hóa, xuống dòng đúng chỗ, hay hơn những bản khác in theo lối văn xuôi:
"Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ.
Hai mái đầu xanh, kề nhau than thở:
- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng.
Để đến nỗi tình trước phụ sau
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
- Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ,
Thương được chừng nào, hay chừng nấy.
Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy.
Ta là nhân ngãi đâu phải vợ chồng
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau,
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi
Con mắt còn có đuôi. 
(Phong Hóa số 31, 24-1-33)
Tình già được công nhận là bài thơ mới đầu tiên của thi ca Việt Nam. Ngày nay đọc lại, ta có thể xem là một bài thơ tự do, bởi vì Phan Khôi đã bỏ âm điệu do niêm luật, để tạo ra âm điệu của riêng mình. Về mặt tư tưởng, đây là lời tâm sự của hai kẻ sống chung, mà không cưới hỏi, thời đó là mới lắm.
Lưu Trọng Lư
Vẫn trên Phong Hóa Xuân, số 31, cùng với thơ Phan Khôi còn có ba bài thơ của Lưu Trọng Lư, bài đầu tám câu, chưa có tên:
"Đủng đỉnh một con thuyền,
Trăng lên đầu ngọn núi.
Đối cảnh với người yêu,
Cầm tay tôi gạn hỏi:
"Mộng Vân ơi! vũ trụ ngó bao la,
Nên cười hay nên tủi?
Lặng lặng tự Hằng Nga,
Vân nhìn tôi mà chẳng nói" (Phong Hóa số 31)
Ta thấy ngay Lưu Trọng Lư mới là nhà thơ chính hiệu, Phan Khôi chỉ là nhà thơ nghiệp dư. Từ những câu thơ còn bỡ ngỡ trên đây, mấy năm sau, Lưu Trọng Lư sửa lại và làm thêm, thành bài thơ dài Một mùa đông, với những câu mở đầu:
Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng
Có nói cũng không cùng
Với bài này, thơ mới đã chuyển từ sự mô tả hời hợt những tình cảnh thơ mộng ban đầu, sang lối truyền cảm sâu lắng trong mỗi chữ: thơ Lưu Trọng Lư đã vượt thơ Thế Lữ.
Bài Một mùa đông là tuyệt tác, thơ, của Lưu Trọng Lư, sau này, Phạm Đình Chương phổ nhạc đổi thành Mắt buồn, và qua giọng hát Thái Thanh, trở thành tuyệt tác thi nhạc.
Cũng trên Phong Hóa số 31, còn có 3 bài thơ nữa của Lưu Trọng Lư: Trên bãi biển Giấc mộng tình, Lại nhớ Vân, Vì sương thu đổ, cả ba đều có những ý, những chữ, chứa đựng thế giới hình ảnh và không gian thơ Lưu Trọng Lư sau này: người em ngồi bên của sổlặng nhìn nhau, và sự phù du của cuộc tình, cuộc đời:
"Trên cái vô tình vạch chữ Vân
Ta vừa vạch xong, sóng xóa dần" (Giấc mộng tình, Phong Hóa số 31)
Những câu như thế đã xác định căn cước thơ Lư Trọng Lư ngay từ những bài đầu và Khái Hưng đã nhìn thấy, đã lựa ra và đăng trên Phong Hóa cùng với thơ Phan Khôi. Một lựa chọn sành điệu.
Sau này, Lưu Trọng Lư làm một bài thơ đề "tặng em Triệu" trong tập Tiếng thu, đó là bài Chị em, có những câu:
Em bước vào đây,
Gió hôm nay lạnh,
Chị đốt than lên,
Để em ngồi cạnh.
Nay chị lấy chồng
Ở mãi Giang Đông.
Dưới làn mây trắng
Cách mấy con sông.
Lưu Trọng Lư tặng em Triệu những lời thơ như thế, hẳn không phải vô tình.
Và Huy Cận cũng có bài Tựu trường trong tập Lửa thiêng đề tặng em Triệu.
Vậy hai "em Triệu" này chắc là một, là cậu bé Trần Khánh Triệu, con nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh. "Em Triệu" được các thi sĩ tặng thơ phải chăng vì họ cảm kích tấm lòng của "papa Khái Hưng" đối với họ và thơ mới?
Thơ Lưu Trọng Lư nhẹ nhàng, trong sáng, không cầu kỳ, không dụng chữ, chỉ là những tiếng nói thông thường, do ảnh hưởng lối văn Hồn bướm mơ tiên chăng? Thực vậy, chỉ cần một câu hỏi: Em không nghe mùa thu? nhưng khi cất lên là đã thấy đớn đau, luyến tiếc, ngậm ngùi. Sau này Nguyễn Đình Thi có những bài thơ hay, cũng đi theo con đường ấy.
Đó là câu chuyện về "nguồn gốc thơ mới".
Cũng trên Phong Hóa số 31 (24-1-33), ngoài bài Tình già của Phan Khôi, và thơ của Lư Trọng Lư, còn có thêm hai bài Gượng vui  Cái vui ở đời của Tân Việt (Nhất Linh) và bài Ngày xuân vắng khách thơ của Thanh Tâm. Thơ Tân Việt và Thanh Tâm không có gì đặc sắc.
Sau số xuân 31, Phong Hóa vẫn kiên trì giới thiệu thơ mới, nhưng Lưu Trọng Lư có diễn đàn riêng, nên không đăng thơ trên Phong Hóa.
Trên Phong Hóa số 32 (3-2-33), Tứ Ly làm bài thơ mới Trên sông Đáy, khá hay, lấy ý từ Tỳ bà hành, tiếc rằng sau đó Tứ Ly không làm thơ nữa.
Tiếp tục cổ động cho Thơ mới, Phong Hóa số 36 (3-3-33) đăng bài thơ Im lặng của Tân Việt và bài tiểu luận Thế nào là thơ mới của Nhất Linh, cả hai đều không có gì đặc biệt vì Nhất Linh không chuyên về lý thuyết thơ. Đến Phong Hóa số 38 (17-3-33), Nhất Linh làm thêm bài thơ Hai thế giới, cảm hứng từ truyện Mực tầu giấy bản của Nhị Linh (Khái Hưng), và Phong Hóa số 39 (24-3-33) Nhất Linh làm bài thơ chính trị Dân quê, ký tên Tân Việt, đó là bài thơ cuối cùng. Những bài thơ này của Nhất Linh sau sẽ được ông đăng lại trên Văn Hóa Ngày Nay.
Thế Lữ
Thế Lữ, thơ, có mặt từ Phong Hóa số 31 (24-1-33) với bài Con người vơ vẩn, được Tự Lực văn đoàn tích cực hỗ trợ, trên Phong Hóa số 54 (7-7-33) Nhất Linh viết bài Nguyễn Thế Lữ, Một nhân vật mới trong làng thơ mới, giới thiệu nồng nhiệt. Thế Lữ nổi tiếng ngay.
Thơ ông, gồm khoảng 21 bài được đăng trên Phong Hóa từ số 31 (24-1-33) đến số 103 (22-6-34): Con người vơ vẩn, Lựa tiếng đàn, Người phóng đãng, Tiếng chuông chùa, Trước cảnh cao rộng, Hồ xuân và thiếu nữ, Hoài Xuân, Mĩa mai, Tiếng trúc tuyệt vời, Mộng ảnh, Tình bâng khuâng, Nhan sắc, Tiếng gọi bên sông, Bông hoa rừng, Mấy vần thơ ngây, Hổ nhớ rừng, Bóng mây buồn I, II, III, Một giấc mơ dữ dội, Bên sông đưa khách [1].
Bài thơ đầu tiên, Con người vơ vẩn tặng Trần Bình Lộc, đã có bốn câu thật hay:
"Cơn gió thổi… lá bàng rơi lác đác,
Rơi theo loạt nước đọng trên cành.
Những cây khô đã chết cả mầu xanh,
Trong cái phút lạnh lùng tê tái ấy." [2]
Thơ Thế Lữ có cốt lõi lãng mạn: con người nhìn cảnh vật, đắm mình trong cảnh vật, tả lại cái cảnh vật đã được nhuộm bằng tình cảm của riêng mình: nghĩa là thi sĩ buồn, thì cảnh cũng buồn theo; thi sĩ mơ màng thì tiếng trúc cũng dặt dìu theo tâm hồn thi sĩ; đó chính là cái lãng mạn thời Lamartine. Ngay ở trong những câu thơ đầu tiên này, ta đã thấy sự khác biệt sâu xa giữa Thế Lữ và Lưu Trọng Lư: Thơ Lưu Trọng Lư nói lên tâm sự của mình, nội tâm của mình. Chỉ mấy câu đơn sơ tặng em Triệu:
Em bước vào đây,
Gió hôm nay lạnh,
Chị đốt than lên,
Để em ngồi cạnh.
là đã thấy tha thiết tình yêu hai chị em, mối tình không nói mà vẫn tỏa ra, sưởi ấm hồn em và hồn ta, người đọc. Trong khi thơ Thế Lữ, lời đẹp, chải chuốt, cảnh lạ, âm điệu tuyệt vời, nhưng lại thấy rõ: một bên là cảnh vật, một bên là con người, không thông thương, dù tác giả đã đưa ra câu Trong cái phút lạnh lùng tê tái ấy. Nhưng cái phút lạnh lùng tê tái ấy là của tác giả làm văn chương viết ra, với ý phô trương, còn câu: Chị đốt than lên, để em ngồi cạnh, là tự đáy lòng người chị, đốt than trong yên lặng, là tình yêu không nói, và cũng là thực chất thơ Lưu Trong Lư.
Một trong những tuyệt tác của Thế Lữ là bài Tiếng trúc tuyệt vời (Phong Hóa số 69, 20-10-33):
Tiếng địch thổi đâu đây,
Bởi vì đâu réo rắt?
Lơ lửng cao đưa tận lưng trời xanh ngắt.
Mây bay… gió quyến mây bay…
Tiếng vi vút như khuyên van như dìu dặt,
Như hắt hiu cùng hơi gió heo may.
Ánh chiều thu
Lướt mặt hồ thu
Sương hồng lam nhẹ lan trên sóng biếc
Rặng lau già sao sác tiếng reo khô
Như khua động nỗi nhớ nhung thương tiếc
Trong lòng người đứng bên hồ… (Phong Hóa số 69)
Bài thơ này tiêu biểu cho lối tạo âm và tạo hình trong thơ Thế Lữ: lấy mỹ thuật làm nền.
Ở đây âm thanh và hội họa gắn bó mật thiết với nhau: Tiếng địch không chỉ là tiếng địch suông, mà nó còn bay lên trời, quyến vào gió, vào mây, nên ta không chỉ nghe thấy mà còn nhìn thấy nó đang bay lên, tiếng nó vi vút, như khuyên van, hiu hắt như gió heo may đang thổi. Tất cả trạng huống này nẩy sinh từ tâm hồn người đứng bên hồ, được thi sĩ phóng lên không trung.
Thơ Thế Lữ thời đó, hết sức mới lạ so với Giọt lệ thu của Tương Phố. Lời thơ trau chuốt, âm thanh mê đắm, mầu sắc tung bay, nhiều người bắt chước nhưng không làm được: Thế Lữ là chủ soái.
Nhưng Thế Lữ không thoát ra khỏi lối thơ của mình, ông bị giam trong thế giới lãng mạn Lamartine thế kỷ XIX, với những lời đẹp đẽ du dương. Nhưng lời đẹp sẽ phôi pha nếu không có trái tim, nên chỉ vài năm sau, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Hồ Dzếnh đều vượt ông vì ngôn ngữ của họ giản dị hơn, thành thật hơn, và Nguyễn Bính, riêng một cõi, tạo ra thi pháp đau thương độc đáo mà tôi gọi là cấu trúc thi thoại, hay thơ nói, rồi Bích Khê, một trường thơ siêu thực huyền bí âm giai và nhất là Hàn Mặc Tử phi trường phái, trở thành ngôi sao bắc đẩu trên nền trời thi ca nước Việt.
Vũ Đình Liên và Phạm Huy Thông
Trong thời gian này, ngoài Thế Lữ, Phong Hóa còn giới thiệu hai nhà thơ khác là Vũ Đình Liên và Phạm Huy Thông.
Từ số 50 (9-6-33) Phong Hóa giới thiệu thơ Vũ Đình Liên, với những bài: Đứa trẻ ăn màyCô hàng bán lá sim, Chiêu Quân, Lòng thương, Thân tàn ma dạiNgày khai trường, Tiếng hát ru [3].
Vũ Đình Liên làm thơ theo hướng tả thực, bài Đứa trẻ ăn mày, dưới tên tác giả ghi hai chữ: Trường luật, chứng tỏ ông là sinh viên, đã viết:
Trong phố vắng lang thang một đứa trẻ
Mồ côi chừng lên chín lên mười.
Mình trơ xương mặc áo rách tả tơi
Quần lá tọa [4] buông ống cao ống thấp (Phong Hóa số 50)
Vũ Đình Liên là nhà thơ xã hội đầu tiên, bài Đứa trẻ ăn mày, xác định lối thơ hiện thực nhìn xuống những thân phận nghèo nàn, khốn khổ, khác hẳn lăng kính lãng mạn của những người cùng thời. Vũ Đình Liên nói với người yêu:
"Vì tôi muốn Tuyết Lan bớt một phần ân ái
Dành cho những kẻ khốn cùng khổ ải" (Lòng thương, Phong Hóa số 108)
Thơ Vũ Đình Liên bình dị và bình dân, với nhiều đề tài khác nhau, chú ý đến những cảnh đời xưa nay không được thi nhân lưu ý, như cô gái thượng du (Cô hàng bán lá sim), người dân nghèo (Thân tàn ma dại), học sinh (Ngày khai trường)… Riêng bài Chiêu Quân mang âm hưởng cổ kim khác lạ, ít thấy ở buổi đầu của thơ mới:
Gió lặng, mây im, nước lững lờ
Trôi về Hàn quốc, góc trời xa
Hai con chim nhạn bay giao cánh
Dậm thẳng xe tung cát bụi mờ (Phong Hóa số 104)
Bài Ngày khai trường [5] rất nổi tiếng, lời thơ đơn mạc, được đưa vào chương trình giáo khoa cùng với bài Ông đồ:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
mà hầu hết chúng ta ai cũng thuộc. Ông đồ là một tuyệt tác, lời thơ nhẹ nhàng như lời nói nhưng âm thầm sâu sắc: tất cả những đau thương lập đi lập lại như những điệp khúc của một cuộc đời, ẩn dưới sự phôi pha của ngày tháng, sự quên lãng của con người…
Phạm Huy Thông
Cùng thời với Vũ Đình Liên, Phong Hóa khuyến khích và đăng thơ Phạm Huy Thông. Từ số 62 (1-9-33) đã có bài thơ Sống của Phạm Huy Thông, tiếp đó là những bài: Vọng hương ca, Cùng mặt trời, Nguyễn Du, Rạng đông rồi, Ngày Xuân, Tiếng rừngTiếng hát buổi chiềuTiếng họa mi ca, Chiều hôm qua, Nhớ không…[6] Thơ Phạm Huy Thông được đăng tất cả khoảng 11 bài, trên Phong Hóa trong hai năm 1933-1934. Và theo lời nhà thơ, ông đã được Nhất Linh nhiệt thành giới thiệu. Tuy nhiên, không hiểu sao Phạm Huy Thông lại được hưởng "ân huệ" ấy, bởi vì trong giai đoạn này, thơ Phạm Huy Thông, âm điệu trục trặc, lời lẽ vụng về, trừ bài Tiếng họa mi ca có những câu khá hơn cả:
Tưởng thời khắc thôi không chảy nữa.
Chống khủy tay vào cửa sổ tròn
Ta buồn lặng để tâm hồn
Phiêu phiêu bến mộng chập chờn cung trăng
Bỗng tự đâu ta không biết hẳn
Khoảng đêm trường yên vắng như tờ
Họa mi vui cất tiếng ca
Khi khoan, khi nhặt, khi xa, khi gần
Khi gần sát bên tai the thé
Như luôn luôn lụa xé rất mau
Khi xa, xa tít mây cao
Tưởng lời thổn thúc chùm sao mơ hồ. (Phong Hóa số 120)
Lời thơ báo hiệu con đường hùng ca của tác giả Tiếng địch sông Ô: Không gian mở rộng lên trời, một không gian vô tận, để người anh hùng vùng vẫy. Nhưng sự cao cường, ngạo nghễ, hùng tráng của Phạm Huy Thông, luôn luôn có gì gượng ép, hơi gồng, kiểu anh hùng rơm, không được tự nhiên, chân thật và cao đạo như thơ Vũ Hoàng Chương sau này.
Nguyễn Bính
Nguyễn Bính được đăng thơ lần đầu trên Phong Hóa số 116 (21-9-34) với bài Cô hái mơ, năm ông 15 tuổi. Bài thơ có bốn câu cuối như sau:
Cô hái mơ ơi!
Không trả lời nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi!
Những câu thơ già dặn của một cậu bé 15 tuổi. Không thể tưởng tượng trong tâm hồn người thiếu niên đã có những oán trách của một kẻ lữ hành trong tang thương dày kinh nghiệm:
Không trả lời nhau lấy một lời, cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng…
Cứ lặng rồi đi rồi… hai chữ rồi kế tiếp, gây tác động tan nát như thế, chỉ có… Nguyễn Du, mà lại ở một cậu bé 15 tuổi.
Phạm Duy phổ nhạc bài thơ này, trở thành bản nhạc đầu tiên của Phạm Duy.
Năm 18 tuổi, Nguyễn Bính nhận giải (khuyến khích) thơ Tự Lực văn đoàn 1937, với tập Tâm hồn tôi. Trong Tâm hồn tôi đã có những câu thơ già như thế kỷ:
Sư già quét lá sau chùa
Để thiêu xác lá trước giờ lên chuông
Hoặc những câu tha thiết hơn vạn đời tình:
Hồn anh như hoa cỏ may
Một chiều gió cả bám đầy áo em
Sau này, Lê Đạt chịu ảnh hưởng Nguyễn Bính, làm những câu thơ tình đẫm máu tâm hồn. Sự khám phá Nguyễn Bính của Tự Lực văn đoàn là một công trạng.
Nguyễn Bính là một rừng thơ, tất cả những nhà thơ bẩm sinh đều như vậy, nhưng chỉ Nguyễn Bính, cậu trai 18 tuổi, với một chiếc lá, có khả năng làm dao động não trạng của cảm giác, chạm đến huyệt lạnh của cô đơn:
Thu đi trên những cành bàng
Chỉ còn hai chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã rụng một rồi
Lá theo gió cuốn ra ngoài sơn thôn
Hôm nay lá thấy tôi buồn
Lìa cành theo gió lá luồn qua song
Hai tay ôm lá vào lòng
Than ôi! Chiếc lá cuối cùng là đây
Quạnh hiu như tấm thân này
Lại âm thầm sống những ngày gió mưa.
(Cây bàng cuối thu, trong Tâm hồn tôi)
Bài thơ định mệnh, sẽ bám theo Nguyễn Bính suốt đời.
Xuân Diệu
Trong giai đoạn cuối năm 1935, đầu 1936, Phong Hóa khám phá ra Xuân Diệu, một tài năng mới, với ba bài thơ: Với bàn tay ấy…, Nụ cười xuân  Vì sao [7] cả ba bài đều hay, bài đầu in cách bài sau 6 tháng.
Với bàn tay ấy… in trên Phong Hóa số 158 (18-10-35), lúc này Xuân Diệu đang học lớp Tú tài I ở trường Bưởi, có lẽ là bài thơ đầu tiên gửi đăng báo, diễn tả tình yêu đồng tính (về sau đề tặng Huy Cận) rất tế nhị và kín đáo, đã cho thấy phong cách thơ của ông: ảnh hưởng sâu đậm lối giao cảm (correspondance) với thiên nhiên của Baudelaire. Một cảnh đêm, nhưng nếu nhà thơ nhìn, nghe, thấu, lọt, trong thiên nhiên với nhãn quan và thính giác mẫn cảm, sẽ thấy một quang cảnh hoàn toàn mới lạ:
Một tối vòm trời chẳng bợn mây
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu, một tối đây.
Đó là bốn câu thơ tình vào loại hay nhất của Xuân Diệu, cũng là những dòng thơ đầu tiên phản ảnh mối tình vụng trộm tha thiết của Xuân Diệu với Huy Cận. Hình ảnh ái ân cực kỳ tế nhị, ẩn trong thân xác cỏ cây:
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu, một tối đây.
Về cách xếp đặt, Xuân Diệu đã làm theo lối các cụ gọi liên cú, tiếng Pháp là enjambement, tức là câu trên liền nghĩa với câu dưới, sau này sẽ được phái Tân hình thức lấy lại, gọi là thơ vắt dòng, và đề cao như một lý thuyết mới.
Câu: Một tối vòm trời chẳng bợn mây, sau sẽ sửa thành: Một tối bầu trời đắm sắc mây, hay hơn. Người ta bảo nhờ Thế Lữ sửa chẳng bợn mây thành đắm sắc mây, khi đăng báo. Nhưng bản này tôi chép trên báo Phong Hóa, thấy chưa sửa.
Câu: Nghiêng xuống làn rêu, một tối đây, sau sửa thành: Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy, cũng hay hơn. Người ta lại bảo nhờ Thế Lữ sửa đây thành đầy. Tôi vẫn chép bản in trên báo Phong Hóa, vẫn chưa thấy sửa. Người ta ở đây là Hoàng Trung Thông [8]. Vậy Thế Lữ có sửa thơ Xuân Diệu thật không? Hay lại là một huyền thoại Hoàng Trung Thông thêm vào để xưng tụng Thế Lữ, lúc đó đang là quan to trong văn nghệ?
Sáu tháng sau, Phong Hóa in bài thơ thứ nhì của Xuân Diệu: Nụ cười xuân (Phong Hóa 182, 10-4-36), lúc này Xuân Diệu đã về Huế học lớp tú tài II ở trường Khải Định với Huy Cận, bài này đi sâu hơn vào tình yêu nhục thể và xác định một lần nữa giác quan tân kỳ mở vào thiên nhiên của Xuân Diệu:
"Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao,
Cây vàng rung nắng, lá xôn xao;
Gió thơm phơ phất bay vô ý
Đem đụng cành mai với nhánh đào" (Phong Hóa số182, 10-4-36)
Câu: Đem đụng cành mai với nhánh đào rất táo bạo, sau được/bị sửa thành: Đem đụng cành mai sát nhánh đào. Chữ sát đã vô hiệu hóa hai chữ đem đụng và làm mất ý nghĩa xác thịt. Chữ sát đã ám sát câu thơ; không thấy người ta nói Thế Lữ sửa.
Phong Hóa 185 (1-5-36) đăng bài thơ thứ ba của Xuân Diệu, bài Vì sao (sau đề tặng Đoàn Phú Tứ) nói lên những thắc mắc sâu sa của người thanh niên trước tình yêu, Xuân Diệu đi xa hơn nữa vào sự tây hóa, có những câu nổi tiếng:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhẹ nhẹ, gió hiu hiu…
Bốn câu thơ này rất nổi tiếng, nhưng nhiều người có thể làm được, chẳng cần đến sự tinh tế và nhạy cảm của Xuân Diệu.
Tóm lại, chỉ với ba bài thơ, Xuân Diệu đã xác định chỗ đứng của mình trên thi đàn: hoàn toàn mới lạ về tư tưởng, về chữ, về cách làm mới ngôn từ và tiếp cận thiên nhiên. Nhưng thơ tình của Xuân Diệu hay bị nhạt, vì ông không dám động đến những ý nghĩ không thể nói ra được, những cảm xúc chân thực của một người đồng tính, mà phải diễn tả tâm hồn dị tính của mọi người, nên trở thành giả tạo, đôi khi ông viết những câu vô duyên như:
"Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu"
Hay:
"Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"
Huy Cận
Ngày Nay Xuân 1938, số 96, (30-1-1938), đăng bài Cảm xúc của Xuân Diệu, đã rất nổi tiếng với những câu: "Là thi sĩ nghĩa là run vói gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây…". Và bài Chiều xưa của Huy Cận, đó là bài thơ đầu tiên, người ta chưa biết Huy Cận là ai.
Tiếp theo là hai bài: Chiều xuân và Họa điệu, cũng chưa có gì đặc biệt, phải đến bài thứ tư: Đẹp xưa trên Ngày Nay số 120 (24-7-38), nếu kết hợp với bài đầu tiên Chiều xưa, ta thấy Huy Cận đã tìm ra con đường nghệ thuật của mình [9]:
Chiều xưa:
Buồn gieo theo gió veo hồ,
Đèo cao, quán chật, bến đò lau thưa
Đồn xa quằn quại bóng cờ
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê
Trên thành son nhạt. - Chiều tê cúi đầu…
Bờ tre rung động trống chầu
Tưởng chừng còn vọng trên lầu ải quan
Đêm mơ lay ánh trăng tàn
Hồn xưa gửi tiếng thời gian, trống dồn. (Ngày Nay số 96)
Đẹp xưa:
Ngập ngừng mép núi quanh co,
Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang…
Vi vu gió hút nẻo vàng
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao…
Dừng cương, nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon…
Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc [10], tiếng còn tịch liêu
Trơ vơ buồn lọt quán chiều
Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người. (Ngày Nay số 120)
Trong Chiều xưa và Đẹp xưa, đã có đầy đủ hai yếu tố chính trong thơ Huy Cận: ông chọn không gian thơ Đường, thời xưa, ghép với nỗi buồn, hiện đại, lúc đó gọi spleen, theo lối Edgar Poe, Baudelaire, làm phông và nền cho thơ.
Cùng trong hoàn cảnh yêu người đồng tính như Xuân Diệu, nhưng Huy Cận thoát ra bằng thơ không gian, vũ trụ, và đã tạo được nỗi buồn của con người cô đơn, không thể giao tiếp niềm riêng của mình, cũng không thể chia sẻ, với ai, trong cõi trần.
Như thế Huy Cận đã tạo được nỗi sầu mới, sầu không gian, với lời thơ bay bổng, cao vời:
Sầu thu lên vút song song,
Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia. (Thu rừng)
Chế Lan Viên
Chế Lan Viên được chính Khái Hưng giới thiệu trên Ngày Nay số 75 (5-9-37) với bài: Một thi sĩ Chàm Chế Lan Viên, với những lời như sau:
"Một hôm tôi đọc trong báo Tràng An, một bài phê bình thơ Chế Lan Viên với những đoạn thơ của tác giả trích ở tập "Điêu tàn".
Tôi rùng mình và cảm động vì tôi thấy ở trong thơ hết cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê sợ của một nòi giống sắp tuyệt diệt, và tự biết mình sắp tuyệt diệt: giống Chiêm Thành.
Tôi tưởng ngay tới vua Chế Bồng Nga, một vua Chàm oanh liệt thời xưa: Hẳn ông Chế Lan Viên thuộc dòng dõi vua ấy".
Khái Hưng cho biết thêm: Những bài thơ của Chế Lan Viên ông nhận được đã lâu nhưng không đăng, chỉ khi tác giả viết thư cho biết, là tập thơ sắp in chứ chưa in, ông bèn cho đăng liền một lúc bốn bài: Hai đêm sầu não, Cái sọ người, Mơ trăng và Xương vỡ, máu trào…
Và trong hai số kế tiếp, hai bài nữa: Xuân về, số 76 (12-9-37) và Trên đường về, số 77 (19-9-37). Rồi ngừng.
Bốn bài thơ được giới thiệu trên Ngày Nay số 75, bài nào cũng có đoạn rất rùng rợn:
Vẳng đâu đây rùng rợn dưới trăng mờ
Tiếng xương người mạnh va sườn quách gỗ
Rùng rợn như tiếng vỡ sọ dừa ta (Hai đêm sầu não)
Này chiếc sọ người kia mi hỡi!
Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi
Mi nhớ gì tưởng gì trong đêm tối?
Mi trông mong ao ước những điều chi? (Cái sọ người)
Ai đổi đầu lâu trong nấm mộ
Tiếng khua vang rạn khớp đầu ta?
Có ai rên rỉ nơi thôn lạnh
Như tiếng xương người rên rỉ khô? (Mơ trăng)
Ta sẽ cắn lưỡi ta cho rỏ huyết
Phun lên nền xương trắng rợn hơi ma
Để thức tỉnh bao giác quan tê liệt
Sẽ truyền cho sức điện của hồn ta (Xương vỡ, máu trào)
Chỉ rặt đầu lâu và xương người, vậy mà không biết sao có thể làm cho Khái Hưng "rùng mình và cảm động thấy hết cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê sợ của một nòi giống sắp tuyệt diệt". Kỳ thật. Rồi Hoài Thanh cũng rập theo Khái Hưng, khen lấy khen để.
Cả sự đang đăng, tự dưng dừng, cũng kỳ.
Hoàng Diệp giải thích:
"Hồi đó nhóm Tự Lực văn đoàn rất cẩn thận đến nghiêm khắc trong việc chọn các bài thơ, truyện để đăng trên tuần san Ngày Nay. Quyền ưu tiên hình như thuộc về đoàn viên trong nhóm. Nhiều độc giả của Ngày Nay rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy Khái Hưng giới thiệu thơ Chế Lan Viên một cách rất đầy đủ. Về sau, chúng tôi mới biết lý do. Khái Hưng đã lầm tưởng Chế Lan Viên là một người dòng dõi Chàm thật, có bà con hoặc liên hệ với Chế Bồng Nga vì Lan Viên quê quán ở thành Bình Định [11], thuộc phần đất của người Chàm thời trước. Mãi đến khi Khái Hưng biết chắc chắn Chế Lan Viên là một thi sĩ Việt mang bút hiệu người Chàm, thì trên tuần san Ngày Nay, người ta không thấy xuất hiện một dòng chữ nào nói về thi ca của Chế Lan Viên nữa".[12]
Việc này đúng vì Khái Hưng và Thạch Lam đều tuyệt đối chú ý đến sự thành thật của nhà văn. Khái Hưng viết: "Thành thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn" (Tựa Gió đầu mùa của Thạch Lam). Thạch Lam viết trong Theo giòng"Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị (…) Một đôi khi người khác có thể nhầm được, nhưng chính ta, ta không bao giờ nhầm cả. Và không có gì đáng bỉ cho một nhà văn hơn là mình tự dối mình".
Hàn Mặc Tử
Ngày Nay số 24 (6-9-36) đăng bài thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử in nhầm tên là Hàn Mạc Nữ. Một bài thơ duy nhất. Rồi thôi.
Hàn Mặc Tử là trung tâm của bất hạnh, như ta đã biết.
Nhưng tại sao Ngày Nay có trách nhiệm vào bi kịch này?
Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan, thường dựa vào sự đánh giá của Tự Lực văn đoàn, để định vị các nhà văn, nhà thơ. Hàn Mặc Tử ngày ấy, là một vì sao khuất. Hàn không được Tự Lực văn đoàn in thơ (một bài Bẽn lẽn, in nhầm thành tên con gái Hàn Mạc Nữ) không ai chú ý.
Hàn không được giải thơ Tự Lực văn đoàn. Tập Gái quê, in năm 1936 là một khai phá với những bài thơ mới lạ về ý cũng như về lời như: Nụ cười, Tình quê, Bẽn lẽn, Uống trăng… nhưng vẫn bị Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đánh giá rất thấp. Tập thơ sau, Đau Thương có thân phận như tên gọi của nó, sẽ bị người ta đánh mất.
Nay ta có thể chắc chắn rằng: vì Hàn Mặc Tử không được Tự Lực văn đoàn giới thiệu, nên bị hai nhà phê bình lớn coi thường, Vũ Ngọc Phan viết:
"Cũng như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ luôn luôn ca ngợi ái tình, nhưng cái quan niệm về tình yêu của của Hàn Mạc Tử không được thanh cao như của Thế Lữ. Cái tình yêu của Hàn Mặc Tử tuy diễn ra trong tập Gái quê còn ngập ngừng… nhưng đã bắt đầu nghiêng về xác thịt:
… Ống quần vo xắn lên đầu gối,
Da thịt trời ơi! trắng rợn mình… (…)
Đến bài Hát giã gạo (Gái Quê, trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây đặc vật chất, làm cho người ta phải lợm giọng" [13]
Chẳng biết trong bài Hát giã gạo, Hàn Mặc Tử viết gì mà bị họ Vũ chê là "lợm giọng", đến nỗi trong các bản in sau, bài này bị xóa sổ.
Còn Hoài Thanh xếp Hàn Mặc Tử đứng áp chót trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Thế Lữ đứng đầu, dĩ nhiên. Hoài Thanh phê Gái quê như sau:
"Gái quê - Nhiều bài có thể là của ai cũng được" Tức là xoàng"Còn thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị" Tức vẫn xoàng. "Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi" [14] Tức là đồi trụy.
Tóm lại cả hai nhà phê bình lớn đều dị ứng với thơ Hàn Mặc Tử.
Sau tập Gái quê, Hàn muốn in Đau thương, tác phẩm chính của Hàn. Hoàng Diệp, một trong những người bạn thân của Tử, thuộc nhóm Trường Thơ Loạn ở Quy Nhơn, kể lại:
"Thi phẩm Gái quê xuất bản năm 1936.
Suốt ba năm kế tiếp 1937, 1938 và 1939, ngoài sự sáng tác Hàn Mặc Tử phải mất nhiều thì giờ trong việc kiếm tìm lại tất cả những bài thơ chàng làm, để chuẩn bị việc ấn hành. Chàng viết thơ đến các ấn quán, các nhà xuất bản trong nước, mặc cả và nêu lên những điều kiện in sách (…)
Chế Lan Viên và tôi xuất bản các tập Điêu Tàn và Xác Thu [15] trong những điều kiện kinh tế thật ngặt nghèo. Do đó, chúng ta cũng có thể biết được tình trạng gia cảnh của Hàn Mặc Tử lúc bấy giờ ra sao.
Hàn Mặc Tử hoàn toàn thất vọng trong công việc in thơ chàng. Cuối cùng Thế Lữ xuất hiện và hứa giúp chàng hoàn thành việc ấy. Thế Lữ là một thi sĩ có danh vọng bậc nhất, thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn ở Hà Nội (…) Hơn nữa, thơ Hàn Mặc Tử (bài Bẽn lẽn) đã được chọn đăng trên báo Ngày Nay (…) Sau nhiều ngày theo dõi, thúc giục, Hàn Mặc Tử nhận được tin đầy tang tóc kết thúc công việc in thơ chàng. Thế Lữ vừa cho chàng biết rằng trên một chuyến tàu xuôi về Hải Phòng, tập thơ của chàng đã bị bỏ quên và không tìm lại được nữa".[16]
Việc bỏ quên bản thảo của người nhờ mình in thơ, phải hiểu như thế nào? Lúc đó chưa có photocopie. Nhưng thôi, chuyện đã qua rồi.
Hàn Mặc Tử mất tại Quy Hòa - Quy Nhơn ngày 11-11-1940. 28 tuổi.
Trong một thư gửi cho Bích Khê, lúc ấy đang bị lao nặng, Tử viết:
"Bích Khê ơi! Bao giờ thì chết. Tôi cũng đang chết đây nhưng vẫn thản nhiên lắm. Tôi mong anh sống đã, sống để đọc tập thơ Đau thương của tôi trước khi chết". Thư viết 1938. Nhưng 1940 thì Tử không còn" [17]
Vậy năm 1938, Tử vẫn còn hy vọng Thế Lữ sẽ in Đau thương cho ông.
Nhiều bài thơ Tử tặng cho người bán quán trong bệnh viện cùi Qui Hòa, hay cho Tử uống trà ăn kẹo. Khi Trần Thanh Mại đi tìm tài liệu, mới hay, sau khi Tử chết, người ấy đem thơ ra gói kẹo, một số tờ khác phải nhặt ra từ thùng xia.
Trần Thanh Mại, dùng tư liệu của Trần Thanh Địch (em ông) và Trần Tái Phùng (cháu ông) cả hai đều là bạn thân của Hàn, viết cuốn sách đầu tiên về Hàn Mặc Tử. Quách Tấn, người đã giúp đỡ tiền bạc để Hàn chữa bệnh, sau khi Hàn mất, được gia đình giao phó việc in thơ.
Sách Trần Thanh Mại ra đời tháng 2 năm 1942. Quách Tấn kiện. Vụ kiện xảy ra ở Huế, do Nguyễn Tiến Lãng, Phủ doãn Thừa Thiên, xử. Nguyễn Tiến Lãng dàn xếp khéo léo, mọi việc êm đẹp.
Nhưng Quách Tấn đã không làm được việc in thơ Hàn Mặc Tử. Khi chiến tranh xảy ra, ông đánh mất hết toàn bộ bút tích bản thảo của Hàn. Nhờ tác phẩm của Trần Thanh Mại, mà những phần hay nhất trong thơ Hàn được phổ biến từ 1942.
Năm 1942, có Tập Thơ Hàn Mạc Tử do Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tập, Đông Phương xuất bản tại Sài Gòn. 1959 Tân Việt tái bản, nhưng vẫn còn thiếu nhiều.
Năm 1987, nhờ chế độ đổi mới, Chế Lan Viên sưu tập lại và viết bài tựa cho Tuyển tập Hàn Mạc Tử, (nxb Văn học Hà Nội). Tuyển tập này đầy đủ hơn những tập thơ trước, gồm một số thơ Đường luật, và trích các tập thơ Gái quêĐau thươngXuân như ýThượng thanh khíCẩm châu duyên, Chơi giữ mùa trăng. Nên có thể nói Chế Lan Viên là người đã có công lớn trong việc sưu tầm và giới thiệu thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ông đã ghi lại được hai câu tuyệt bút của Hàn, làm từ khi chưa bị bệnh, không tìm thấy ở đâu:
Mở cửa nhìn trăng trăng tái mặt
Khép phòng đốt nến, nến rơi châu
Hàn Mặc Tử là một trong những người đầu tiên bước vào thơ mới, nhưng ta không thể gọi thơ Hàn là thơ mới, mà thơ Hàn là thơđơn giản là thơ, chỉ là thơ.
Ngày 11-10-1931, trên Thực Nghiệp Dân Báo có in ba bài thơ Đường luật, tựa đề: Chùa hoang, Gái ở chùa  Thức khuya, ký tên P.T (Quy Nhơn), đã báo hiệu một phong cách thơ hoàn toàn mới, với hai yếu tố chính: nhục cảm và thân xác, gần như cấm kỵ thời ấy.
Chùa không sư tụng cảnh buồn teo
Xác Phật còn đây, chuỗi phật đâu? (Chùa hoang)
Hai câu thơ này gây sốc: Chùa hoangchùa không sư, gợi sự hoang vu, hoang đàng, tội lỗi. Bài thơ tả cảnh chùa như một lầu xanh vắng khách. Xác Phật gợi án mạng, một sự phạm thượng ghê gớm. (Tuyển tập sửa thành Cốt Phật, người sửa thật chẳng hiểu gì!)
Bài Thức khuya (tuyển tập đổi tên thành Đêm không ngủ, chả biết ai sửa mà dở thế, chắc Quách Tấn, vì thơ Quách Tấn cổ mà không hay), có hai câu bất hủ:
Bóng nguyệt leo song rờ rẫm gối
Gió thu lọt cửa cọ mài chăn
Hai câu tiêu biểu cho cách dùng chữ trong thơ Hàn (tuyển tập sửa rờ rẫm thành sờ sẫm, vẫn sửa dở hơn: rờ rẫm có độ gồ ghề, sexy hơn sờ sẫm).
Hàn tả cảnh: trăng leo song vào rờ rẫm gốiGió lọt vào cửa cọ mài chăn. Đủ bộ: gió, trăng, chăn, gối, rờ rẫm, cọ mài. Chỉ với tám chữ, Hàn đã để lộ trái cấm trong thơ qua hai câu tuyệt bút xác định quan niệm nhục thể chưa từng có trong thơ Việt.
Bài Bẽn lẽn, in trên Ngày Nay số 24 (6-9-36), càng lộ rõ hơn:
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi!
Trong khóm vi lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai nói? sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe…
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm…
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ tới cái tiết trinh em (Bẽn lẽn).
Sự cám dỗ xác thịt, lần đầu tiên được lột trần, nằm khỏa thân trong thơ. Thơ của một người hình như vẫn còn trinh nguyên đến chết, vì người ấy viết: Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?
Và người ấy cũng là nhà thơ lớn nhất vượt lên trên tất cả các bạn đồng hành, vì không ai xử dụng tiếng Việt như Hàn, không ai đi đến tận cùng mọi ngả đau thương chữ, cho đến giây phút cuối như Hàn:
Máu đã khô rồi thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ
Từ nay trong gió - trong mây gió
Lời thảm thương rền khắp nẻo mơ (Trút linh hồn).
Thơ Hàn Mặc Tử không thể vài dòng mà nói hết được.
Bài này mục đích nêu lên cái công của Tự Lực văn đoàn trong việc giới thiệu và phổ biến thơ mới. Nhưng đồng thời cũng muốn nói rằng Tự Lực văn đoàn sẽ phải gánh chịu cái "tội" của mình. Ở đây là tội vô tình đối với một tài năng lớn của thi ca, dù chỉ do một thành viên vi phạm.

Chú thích:
[1] Con người vơ vẩn Tặng Trần Bình Lộc, Phong Hóa số 31, 24-1-33; Lựa tiếng đàn, số 37, 10-3-33; Người phóng đãng, số 42, 14-4-33; Tiếng chuông chùa, số 44, 28-4-33; Trước cảnh cao rộng, số 54, 7-7-33; Hồ xuân và thiếu nữ, số 55, 14-7-33; Hoài Xuân, số 57, 28-7-33; Mĩa mai, số 59, 11-8-33; Tiếng trúc tuyệt vời, số 69, 20-10-33; Mộng ảnh, số 70, 27-10-33; Tình bâng khuâng, số 73, 17-11-33; Nhan sắc, số 76, 8-12-33; Tiếng gọi bên sông, số 77, 15-12-33; Bông hoa rừng, số 79, 29-12-33; Mấy vần thơ ngây, số 81, 12-1-34; Hổ nhớ rừng, số 95, 27-4-34; Bóng mây buồn I, II, III, số 100, 1-6-34, 101, 102; Một giấc mơ dữ dội, số 103, 22-6-34. Bên sông đưa khách, số 112, 24-8-34.
[2] Theo bản Phong Hóa, sau này in thành sách sẽ sửa lại là: Trong giây phút lạnh lùng tê tái ấy. Hay hơn.
[3] Đứa trẻ ăn mày (Phong Hóa số 50, 9-6-33), Cô hàng bán lá sim (Phong Hóa số 98, 18-5-34), Chiêu Quân (số 105, 6-7-34), Lòng thương (số 108, 26-7-34) Thân tàn ma dại (số 111, 18-8-34), Ngày khai trường (số 114, 7-9-34) và Tiếng hát ru (số 115, 14-9-34).
[4] Quần lá tọa là quần thắt bằng dây ngoài để cạp xòe xuống.
[5] Hôm nay ngày khai trường/ Ngoài phố vui như hội/ Rộn rã trên vệ đường/ Tiếng guốc giày inh ỏi… (Phong Hóa số 114, 7-9-34).
[6] Sống (Phong Hóa số 62, 1-9-33), Vọng hương ca (số 63, 8-9-33), Cùng mặt trời (số 65, 22-9-33) Nguyễn Du và Rạng đông rồi (số 66, 29-9-33), Ngày xuân (số 96, 4-5-34), Tiếng rừng (số 106, 13-7-34), Tiếng hát buổi chiều (số 107, 20-7-34) Tiếng họa mi ca (số 120, 19-10-34), Chiều hôm qua (số 121, 26-10-34) Nhớ không (số 124, 16-11-34).
[7] Với bàn tay ấy (Phong Hóa số 158, 18-10-35), Nụ cười xuân (Phong Hóa số 182, 10-4-36) và Vì sao (Phong Hóa số 185, 1-5-36).
[8] Hoàng Trung Thông, trong Lời giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu I; thơ, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1986, trang 17.
[9] Những bài thơ đầu của Huy Cận trên Ngày Nay: Chiều xưa, Ngày Nay số 96, (30- 1-38), Chiều xuân, số 102 (20-3-38), Họa điệu, số 107 (24-4-38), Đẹp xưa, số 120 (24-7-38), Trông lên, số 121 (31-7-38), Tắm dòng người, số 122 (7-8-38) Nhớ hờ, số 123 (14-8-38), Lời dịu số 124 (21-8-38); Đi giữa đường thơm, số 127 (11-9-38), Hối hận số 36 (12-11-38).
[10] Đạc: lục lạc nơi cổ ngựa, chú thích của tác giả.
[11] Thành Bình Định là tỉnh lỵ của tỉnh Bình Định lúc bấy giờ ở cách Quy Nhơn 18 cây số, về phía Bắc.
[12] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp, nhà sách Khai Trí xuất bàn, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996, trang 485-499
[13] Nhà Văn hiện đại, trang 762-763.
[14] Thi nhân Việt Nam, trang 205-206.
[15] Xác thu của Hoàng Diệp do Hàn Mặc Tử viết tựa.
[16] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp, nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996, trang 485-499.
[17] Theo Lời giới thiệu của Chế Lan Viên, tuyển tập Hàn Mặc Tử, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987, trang 15.
Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại
Tự Lực văn đoàn chủ trương đổi mới văn học. Nhưng tiến trình ấy đã diễn ra như thế nào? Ai trong văn đoàn là người chủ động? Khảo sát sự hình thành truyện ngắn và tiểu thuyết trên Phong Hóa Ngày Nay, chúng ta sẽ tìm được câu trả lời.
Có thể nói rằng: Phong Hóa là đất thực nghiệm, Ngày Nay là nơi dấn thân, và hệ thống truyện ngắn và tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn được dựng nên từ hai nền móng ấy.
Đại cương
Trong hai năm đầu 1933-1934, Hoàng Đạo và Thế Lữ chưa có đóng góp quan trọng về tiểu thuyết và truyện ngắn trên Phong Hóa, còn Thạch Lam viết phóng sự văn chương.
Hoàng Đạo, trong thời kỳ này, viết ba truyện ngắn: Nùng Chi Lan, Bông hoa thủy tiên và Cánh buồm trắng [1]Đáng giá nhất là Bông hoa thủy tiên và loạt Tuồng Cổ Tân Thời [2] mà chúng tôi đã giới thiệu trong chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam.
Thế Lữ là nhà văn có tay nghề, nhưng sau tuyệt tác Vàng và máu, đăng trên Ngọ Báo, ông không có tác phẩm nào nổi bật. Chín truyện ngắn: Thây ma xuống gácCon châu chấu maCô Bụt, Dòng máu đứt quãng, Cái ví da đenHai lần chết, Cái xác đuổi người, Bên đường Thiên Lôi [3], đăng trên Phong Hóa trong khoảng 1933-1934, không có gì đặc sắc. Để tạo không khí ghê sợ, Thế Lữ hay dùng câu chữ, chi tiết rùng rợn, đưa đầu lâu, xác chết và ma vào, rồi tìm cách giải thích một cách "khoa học", nên truyện của ông thường giả tạo, khó tin. Ông nổi tiếng về trinh thám, nhưng trinh thám thuộc địa hạt giải trí. Về mặt truyện ngắn, Thế Lữ không chịu tìm hiểu kỹ về con người, mà thường chú ý đến động tác bề ngoài, nên truyện ngắn của ông ít khi để lại ấn tượng sâu xa trong lòng độc giả. Cho nên, Thế Lữ không có vai trò quan trọng trong truyện ngắn trên Phong Hóa Ngày Nay, mặc dù ông viết đều đặn.
Thạch Lam là một cây bút quan trọng về truyện ngắn, nhưng phải đến Phong Hóa số 63 (8-9-33), mới có truyện ngắn đầu tiên Một cảnh quê, ký Việt Sinh, chưa có gì đặc biệt. Một năm sau mới có bài tùy bút Sóng lam cát trắng ký Thạch Lam (Phong Hóa 109, 3-10-34) và tới Phong Hóa 117 (28-9-34) lần đầu tiên có truyện ngắn Cung Hằng lạnh lẽo ký bút hiệu Thạch Lam. Nhưng những sáng tác này chưa có gì nổi trội. Trong thời kỳ Phong Hóa, Thạch Lam, dưới bút hiệu Việt Sinh đã tạo ra thể loại phóng sự văn chương, và phải đến Ngày Nay số 7 (9-4-35) Thạch Lam mới viết Đói, truyện ngắn hay đầu tiên, chúng tôi sẽ đề cập đến phóng sự và truyện ngắn của Thạch Lam trong phần viết về Ngày Nay.
Truyện ngắn Nhất Linh
Về hành trình tìm kiếm của Nhất Linh, tôi đã viết khá rõ trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, ở đây chỉ xin nhắc lại: Nhất Linh trong thời kỳ đầu của Phong Hóa viết bốn truyện trinh thám, ký tên Ngô Tâm Tư: Giết chồng… báo thù chồng, Tiếng chó sủaCái hoa chanhTiếng gọi cõi âm [4]Rồi ngừng. Từ Phong Hóa số 24 (2-12-32) đến số 62 (1-9-33), ông viết 13 truyện ngắn, ký tên Bảo Sơn: Con hai bố, Vết máuNước chảy đôi giòng, Cô áo tím, Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng), Ngọc có vết, Hồn hoa, Bóng người trên sương mù, Gái vùng Lim, Nắng mới trong rừng xuân, Đầu đường xó chợ, Tháng ngày qua, Ngày thu [5].
Sau đó ông ngừng sáu tháng để viết chung hai tiểu thuyết với Khái Hưng: Gánh hàng hoa và Đời mưa gió [6] rồi viết thêm bốn truyện ngắn ký tên Nhất Linh: Thế rồi một buổi chiều, Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh), Nắng thu và Lan rừng [7].
Trên Ngày Nay, Nhất Linh viết bảy truyện ngắn nữa:
NghèoHai buổi chiều vàngTối tăm, số 23, (30-8-36), Chết dởHai chị emVết thươngCon đường quê [8].
Để giải thích qua cách viết của Bảo Sơn trong những truyện ngắn trên đây, tôi xin lấy thí dụ Bóng người trên sương mù.
Bóng người trên sương mù là một truyện ngắn hay, được Bảo Sơn bắt đầu như sau:
"Ở ngoài đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Đỗ Thạch, một người bạn cũ, tình cờ gặp nhau vì đi một chuyến xe lửa. Mười năm trước, bạn tôi còn là người cầm lái xe hỏa, cũng hàn vi như tôi, mà bây giờ lại gặp nhau trong toa hạng nhì, nên hai người càng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.
Lúc nói chuyện, tôi thấy bên cạnh bạn có một cái hộp khảm rất đẹp, liền cầm lấy xem…"
Ta thấy Bảo Sơn chưa bỏ được kiểu kể chuyện và giới thiệu nhân vật theo lối cổ điển. Nếu đoạn này viết trực tiếp theo lối mới, lối hư cấu, sẽ ngắn gọn hơn nhiều: "Trời đêm tối như mực, trong toa hạng nhì, Đỗ Thạch ngồi cạnh một cái hộp khảm…" không còn những giải thích dài dòng của nhân vật xưng tôi, người kể chuyện. Phải tới Thế rồi một buổi chiều, Nhất Linh mới dứt hẳn được lối kể chuyện này.
Khuynh hướng xã hội tả chân cũng được Nhất Linh thử nghiệm nhưng chưa thành công, thí dụ truyện Đầu đường xó chợ:
Đầu đường xó chợ (Phong Hóa số 51, 16-6-33) viết theo lối hiện thực xã hội, bắt đầu như sau:
"Đầu đường xó chợ!
Từ năm thầy tôi mất, anh chị tôi rời bỏ chốn quê nhà đi tha phương cầu thực, đến ở một túp nhà tranh ở ngay đầu chợ C… Bắt đầu từ đó, tôi bỏ cái đời cũ là cái đời một cậu con quan ăn sung mặc sướng mà bước chân vào một cuộc đời riêng mới cho tôi: tôi gọi là cái đời đầu đường xó chợ. Năm ấy tôi mới 13 tuổi".
Lời mở đầu trên đây cho thấy sự vụng về của tác giả: Ông không biết rằng khi một ông quan mất đi, gia đình vẫn được hưởng một số ruộng đất và giữ nhà riêng để ở, tuy có nghèo đi vì không được lĩnh lương nữa, nhưng nếu chịu khó làm việc, cày cấy ruộng vườn, thì không ai phải đi "tha phương cầu thực" hoặc ra ở túp nhà tranh đầu chợ cả. Sau đó ông lại đưa ra một nhận xét chủ quan "Thật là một cái xã hôi xấu xa, mà xấu xa vì nghèo khổ quá", trước khi trình bày nhân vật chị Hiên, quá nghèo phải ăn cắp gà và tấm lòng tốt của cậu bé 13 tuổi đối với người đàn bà cùng khổ ấy, đều là những chi tiết giả tạo. Sau đó Nhất Linh viết thêm một truyện nữa là Nghèo trên Ngày Nay số 17 (19-7-36) về một gia đình rất giàu, sau bị khánh kiệt, anh chồng phải đi làm thợ sửa xe, cũng không tự nhiên. Cùng đề tài: gia đình con quan sau bị sa sút, Khái Hưng trong Hai cảnh trụy lạc, viết hay và chính xác hơn nhiều. Truyện ngắn Tối tăm trên Ngày Nay số 23 (30-8-36), viết về tình cảnh chị Dậu, người đàn bà nhà quê dốt nát bị chết oan trong cảnh tối tăm vô học, cũng vậy.
Thế rồi một buổi chiều là một trong những truyện ngắn hay nhất của Nhất Linh, tôi đã giới thiệu trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, có mấy đặc điểm sau đây:
Đánh dấu việc Nhất Linh thoát khỏi lối viết cũ (bỏ cổ điển để bước vào hiện đại). Tác phẩm bắt đầu như sau:
"Lê Dũng rảo bước trên con đường làng.
Ban trưa, đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn."
Nhất Linh đã bỏ được cái tôi kể chuyện trong Bóng người trên sường mù và Đầu đường xó chợ.
Nhất Linh đã tạo được một không khí hiện thực lãng mạn riêng: tình yêu thầm kín dưới mái chùa, với những nhận xét tế vi, văn phong tuyệt đẹp, thơ mộng và giản dị.
Nhất Linh đã cấu tạo Dũng: sẽ là nhân vật chính trong tiểu thuyết của ông, trở thành mẫu người lý tưởng cho thanh niên thời bấy giờ: Dũng theo cách mạng, bị lùng bắt, chạy về một làng quê yên bình thơ mộng; trên bước đường cùng, dừng lại ở cửa thiền, chàng được ni cô giấu vào gác khánh sau chùa. Một mối tình câm nở giữa hai người.
Tất cả những yếu tính trong truyện Nhất Linh hầu như đã hiện rõ trong tác phẩm này: Ông dùng chính mình để tạo nên Dũng, và ông đã thành công, bởi vì không có sự thực nào hiển nhiên bằng cách dùng nội tâm của mình để diễn tả ý nghĩ của nhận vật. Tác phẩm cũng xác định lần đầu tiên phong cách Nhất Linh: hướng nội.
Nắng thu ra sau nhưng nghệ thuật thua kém Thế rồi một buổi chiều, viết về cuộc tình giữa Phong và Trâm, một cô gái câm, mồ côi. Trâm đẹp, nết na nên bị mọi người trong gia đình mẹ nuôi ganh ghét, muốn đuổi đi. Phong yêu Trâm, dạy Trâm chữ quốc ngữ, biết rõ nỗi khổ của Trâm, vậy mà chỉ cần vài lời dèm pha của Viễn (anh nuôi, đã có vợ, mê Trâm, dùng bạo lực chiếm đoạt nhưng bị cự tuyệt) và bà mẹ nuôi độc ác, buộc tội nàng chửa hoang, là Phong tin ngay. Đã câm, làm sao biện hộ? Bao thư nàng viết để giảng giải nỗi oan, Phong đều không thèm đọc, xé đi… Nắng thu văn phong thực vững vàng, nhưng chi tiết giả tạo, vô lý, đọc rất bực mình: Tại sao Phong lại có phản ứng dã man hơn bọn gia đình mẹ nuôi tàn ác? Phong không một lần tìm hiểu nỗi oan của người yêu? Đến cái kết có hậu: Viễn bị bệnh nặng, trước khi chết, thú tội với Phong, nên Phong đi tìm Trâm: châu về hiệp phố. Lại càng giả tạo nữa.
Tóm lại, về truyện ngắn, Nhất Linh viết không nhiều, nổi trội trong đề tài tình yêu lãng mạn, như Thế rồi một buổi chiều, Lan rừng, Hai buổi chiều vàng, Câu chuyện mơ trong giấc mộng… và vài truyện ngắn hay như Cái tẩy, Vết thương, chiếu vào nội tâm nhân vật, đều được in lại trong tập Hai buổi chiều vàng.
Riêng loại hiện thực xã hội nghèo khổ, ông không thành công. Phải đến cuối đời, trong trường giang tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, được cấu trúc như những truyện ngắn ghép lại, ông mới đạt tuyệt đích: mô tả xóm Cầu Mới với những gia đình nghèo ở quê hương ông, và ông đã khắc họa được những chân dung hiện thực tuyệt bút. Còn trong thời kỳ Phong Hóa Ngày Nay, những truyện ngắn hay nhất của ông đều thuộc khuynh hướng tình cảm lãng mạn.
Lực viết của Khái Hưng
Trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, tôi đã nói qua về nghệ thuật Khái Hưng trong hai truyện ngắn đầu mà nhân vật chính là người Nhật: Kong-Ko Đai-Jin và Ada Kwaben, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) và Phong Hóa số 19 (27-10-32). Và dưới đây ta cũng sẽ thấy, Khái Hưng, có lẽ là người đầu tiên dịch Trà Đạo của Okakuza Kakuzo sang tiếng Việt.
Với sức viết phi thường, trên Phong Hóa Ngày Nay, chưa kể truyện dài, Khái Hưng đã viết khoảng 122 truyện ngắn, 24 vở kịch, 36 truyện vui, và 8 bản dịch.
Xin kê khai danh sách dưới đây để làm tư liệu:
Phong Hóa
- 67 truyện ngắn trên Phong Hóa, gồm: Kong-Ko Đai-Jin, Đi Nam Kỳ, Cái thù ba mươi nămSóng gió Đồ Sơn, Cái thống đời TốngTình tuyệt vọng, Ada Kwaben, Lãng mạn, Bạn…! Chỉ là bạn!..Dưới bóng hoa đào (viết chung với Bảo Sơn), Lên sĩ xuống sĩ, Hai linh hồn, Bên dòng sông HươngÝ LanVéo von tiếng địchNghĩa cái cườiAnh phải sống, Hai cái áo quan, Tình điên, Con lợn lài, Hất báo, Lời thề, Giọc đường gió bụiYêu, Con số 08430, Ai đẹpBên đường dừng bướcTình lưu luyến, Hoàng Oanh, Yên lặng, Cô hàng nước (viết chung với Nhất Linh), Gói bạc rơi, Một tập thưChúa Thao, Con MánHương gây mùi nhớMột nhà thông tháiCái đồng hồ đeo tay, Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung, Một nhà hiền triết, Bắt trộm, Giặc bể, Con chim vành khuyênTiệc tranhKhông BẢ..A..Án, Trăng suông, Tình yêu thứ nhất (viết chung với P.N. Thọ), Cầm vườn, Cái áo đan, Lá rụngHoa thủy tiênHoa anh đàoNgày xuân lễ chùaTrong rừng mai, Chén trà mạn senÔ Quy Hồ, Trúng số và Bãi sậy vườn camBiến đổiCháu Tạ, Vú KimTrong nhà thương, Hai cảnh trụy lạc, Có đi có lại, Thưa chịCái máy ảnh.[9]
- 23 truyện vui: Ba Ếch Vô HuếMột đám ma, Quýt ngọt, ruốc ngon, Gật, gật hoài, Hảo hớnVõ Thái HàĐể của bí mật, Yêu đời, Đãng tríCai thuốc phiện, Những bóng người trên bãi biển, Ông cứ giã cho nó! Chụp gà hóa cáoThả vỏ quýt ăn mắm ngấu, Liều thuốc độc, Mãn đình hồng (Nhị Linh), Ăn miếng trả miếngBảng công tyChơi ô tôTờ giấy bạcBàn việc làng, Cờ quạng, Bảo hiểm. [10]
- 15 vở kịch: Kiêng 1, Tôi là Khái Hưng, Ghen, Nửa cái thỏ bò, Ông Đồng PhươngKiêng 2, Tục Lụy, Con mèoChữ nhoBói KiềuKhông hề gì mà, Kiêng, Ở hiền gặp lànhQuần tiên tụ hộiKịch không người. [11]
Ngày Nay
- 55 truyện ngắn: Trên Ngày Nay, Khái Hưng viết khoảng 55 truyện ngắn:
Đợi chờBến đò năm xưaPhong lan và Nước hoa phong thổCái veLòng tốt, Linh hồn, Trăng thu, Người vợ mùDưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu), Nhà phê bìnhĐồng xuĐêm giao thừaCô áo trắng, Vui tính, Hội kín, Tống tiền, Nguồn thơ, Ngày giỗBến Hòn Gay, Cháu nhà quanSung sướngCô dâu, Cây tre trăm đốtVợ cóc, truyện cổ tích, Ai mua hành tôi, truyện cổ tích, Mười năm yêu dấuNgười hầu sáng, Sếnh Sáng, Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa), Đào MơTập ảnh, Thời xưaChùa Hương, Xanh cà bung, TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn, Điếu thuốc lá, Lưu Bình Dương LễMột buổi chầuHai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợTình địch, Tế thành hoàng, Cái duyên của Tản ĐàVài truyện vui về thi sĩ Tản ĐàÔng ĐồngThời chưa cướiTương triHai người bạn, Sư TuệHai con mắtBiểnÁi tình, Nghiện [12]
- 9 vở kịch: ChếtCờ điên thoạiCậu Cả, TiềnNgười chồngKiêng VĐồng bệnhChén trà đầu nămKhông đènKhúc nghê thường.[13]
- 13 Truyện vui: Hổ, Thâm nhoTrả thùThoátBà chủ nhà của tôiBá cáo việc riêng, Cách choChợ trờiĐi ra thôiCây "Thần tiên"Người bán dầuLỡ quá ga, Nghỉ mát.[14]
- 8 bản dịch: Mưa của Somerset Maugham. Cô gái thành Arles của A. Daudet. Bệnh viện của Somerset Maugham. Trà đạo của Okakuza Kakuzo. Ý nghiã nghệ thuật của Okakuza Kakuzo (Trà thư). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch. Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích dịch.[15]
Khái Hưng xây dựng truyện ngắn hiện đại
Tuy Khái Hưng phải viết những truyện vui, kịch ngắn, để trám chỗ tờ báo, nhưng những thứ này đều đọc được, chứ không dở. Đó là những mẩu truyện, kịch ngắn, có duyên, không vô lý, bởi vì Khái Hưng nắm chắc những yếu tố: văn hay, đối thoại điêu luyện, cấu trúc chặt chẽ. Truyện của ông không sa vào tình tiết lâm ly, thường "chẳng có chuyện gì" tức là rất mô-đéc.
Sở dĩ truyện ngắn của Khái Hưng chưa được khám phá và đánh giá đúng mức bởi vì phần lớn các nhà phê bình đều chỉ dựa trên những sách đã in, mà phần truyện ngắn của ông in thiếu rất nhiều, kể cả những sách của nhà Đời Nay cũng vậy. Một thí dụ, tập Tiếng suối reo, chỉ in những truyện, kịch vui nhỏ, loại ông viết trám chỗ trên báo, tuy không dở, nhưng cũng không có gì là tiêu biểu. Tập Đợi chờ, tái bản ở miền Nam, bỏ hẳn hai truyện ngắn vào loại hay nhất của Khái Hưng: Điếu thuốc lá và Tiếng khèn. Vì vậy, nhiều truyện hay của Khái Hưng vẫn còn nằm ngủ trên Phong Hóa - Ngày Nay, chưa mấy ai đọc.
Khái Hưng viết đủ loại đề tài, loại nào ông cũng rành, vì đã khảo sát môi trường qua sách vở hoặc nhờ nhận xét thực tế đời sống, vì thế ông nhập truyện rất tự nhiên, nói giọng ai cũng được. Ông lại có óc tưởng tượng và óc quan sát tinh vi không bỏ sót một cử chỉ, dáng điệu của bất cứ loại người nào, từ cô công chúa đời Hùng Vương đến người thợ mộc đời nay, từ mặt trái cuộc chơi cờ người (Lên sĩ xuống sĩAi đẹp), đến tâm lý phức tạp của kẻ nhặt được tiền (Gói bạc rơi), từ lời khóc giả vờ trong đám ma ở miền Bắc (Một đám ma) đến tâm sự thầm kín của người con gái hát rong (Giọc đường gió bụi).
Trước khi viết Tiêu Sơn tráng sĩ, Khái Hưng đã sáng tác ba truyện ngắn dã sử hay:
Véo von tiếng địch (Phong Hóa số 42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương con vua Hùng Vương thứ mười bốn, phỏng theo truyền thuyết Trương Chi.
Hoàng Oanh (Phong Hóa số 97, 11-5-34) công nương Chiêm Thành họ Số, đợi chờ thái tử Chế Mân, đang bị làm con tin ở Thăng Long, trở về làm lễ cưới. Nàng thêu đôi chim nhạn. Hai năm sau, Thái tử hồi hương với Vương phi Huyền Trân Công Chúa, nàng trao đôi chim nhạn làm quà cưới vương phi, những giọt nước mắt đã rơi vào trong mừng chồng vui duyên mới!
Chúa Thao (Phong Hóa số 122, 2-11-34), tức hoàng tử Mạc Thao, con thứ năm vua nhà Mạc, thường được gọi là Hoàng Năm hay Chúa Thao, đẹp trai, anh dũng, cầm quân đương đầu với chúa Trịnh ở trận Đồ Sơn, thua, bị bắt. Công chúa họ Trịnh đem lòng yêu mến rồi ốm tương tư.
Ba truyện dã sử này, như ba bản nhạc dạo dầu, thử bút trước khi Khái Hưng vào Tiêu Sơn tráng sĩ, đã ngỏ cho ta thấy cách ông tạo không khí lịch sử và kết cấu bi đát như thế nào.
Véo von tiếng địch, trước tiên là văn Khái Hưng:
"Dưới chân rặng đồi, con sông Bạch Hạc quanh co lượn khúc, ẩn hiện dưới những chòm cây rườm rà lả ngọn.
Ly Nương tỳ lan can, rời cảnh vật bao la, cúi nhìn xuống cái hồ bán nguyệt mới thấp thoáng nhô lên một vài nõn sen mềm mại.
Bỗng nàng hé cặp môi mỉm cười, vì nàng vừa nhìn thấy bóng xinh đẹp của mình in trên mặt nước trong xanh im lặng. Nàng giơ tay trắng nuột vin cành liễu xanh bẻ mấy chiếc lá, thong thả sẽ bỏ rơi xuống hồ. Mặt nước rung động, hình công chúa cũng rung động, gợn nước vòng tròn, rộng lan mãi ra, rồi dần dần biến đi như chìm xuống đáy nước mà trả lại hình cho công chúa. (…)
Mấy giọt nước mưa đọng trên lá liễu từ từ rơi bám vào mái tóc búi lỏng để trĩu xuống gáy trông lấp lánh như những ngôi sao ló trong đám mây đen".
Khái Hưng đi từ cái vĩ mô: cảnh vật bao la vùng núi đồi Bạch Hạc nơi Hùng Vương dựng kinh thành, chuyển dần sang cái vi mô: mấy chiếc lá Ly Nương xé ném xuống nước, đánh tan hình mình; rồi những vòng tròn nước tự tan đi, trả lại tấm hình xinh đẹp cho công chúa nguyên vẹn dưới đáy hồ. Ống kính tinh vi ấy quay lại chiếu vào mấy giọt sương lấp lánh đọng trên mái tóc búi lỏng trĩu xuống gáy nàng. Không dùng một chữ nào có âm hưởng hoàng gia, nhưng tất cả những chữ bình dân họp lại, tạo thành hình ảnh tuyệt vời của nàng công chúa cao sang quyền quý. Đó chính là nghệ thuật: nhà văn không tả mà để thiên nhiên tả hộ. Bút pháp thơ cũng ở đó: Khái Hưng luôn luôn làm thơ mà không dùng đến âm, vận.
Kết thúc bi đát, là một sở trường khác: văn Khái Hưng trong sáng, vui tươi, hồn nhiên, nhưng thường dẫn đến cái chết.
Anh phải sống (Phong Hóa số 45, 5-5-33) là truyện hiện thực xã hội đầu tiên của Khái Hưng. Truyện khá ngắn. Mở ra trên cảnh đê Yên Phụ trời bão, nhưng khác với những lần trước ông thường dừng lại tả cảnh, ở đây tất cả đều vắn tắt:
"Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu lên to, cuồn cuộn chảy như muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng đi".
Rồi: "những cành khô trôi ở rừng về, nổi lềnh bềnh giống như những chiếc thuyền chạy thực nhanh tới một nơi không bờ không bến".
Cơn bão chỉ được tả bằng hai câu ngắn, nhưng sự dữ dằn đã rõ: "lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng" và "những thân cây, cành khô như những chiếc thuyền chạy thực nhanh về nơi không bờ không bến".
Đối diện với một tạo hóa vĩ đại và hung hãn như thế, hai vợ chồng Thức, nhỏ nhoi, đứng trên bờ đê, thèm thuồng "nhìn theo những cây gỗ đương trôi phăng phăng ở giữa dòng nước đỏ".
Bỗng Thức bảo vợ: "Liều! Vợ lắc đầu không nói."
Tất cả đều nhanh, ngắn, gọn, hai vợ chồng đã có sự đồng nhất tư tưởng, không cần nói mà hiểu nhau. Toàn bộ tác phẩm dựa trên sự đồng nhất tư tưởng này. Hết gạo. Cả nhà đói. Không ai cho vay. Những khúc củi này vớt lên bán, là của trời ban.
Thức đánh lừa "đuổi" vợ về nhà trông con trước, anh sẽ về sau. Rồi người vợ cũng lại hiểu rất nhanh rằng chồng mình đang làm gì, chị đặt đứa con vừa thiu thiu ngủ xuống giường, trở lại bờ sông. Thức quay lại nhìn thấy vợ, gắt:
"Lạc! Sao mày không ở nhà với con?" Tất cả xoay quanh chữ mày. Từ chữ mình, anh vừa âu yếm nói với vợ: "Này! Mình về nhà, trông thằng Bò" ban nãy, anh chuyển sang chữ mày, độ giận đã lên tới cực điểm. Nhưng chị Thức nhất định không về, chị khóc "em không sợ, em biết bơi", Thức mềm lòng. Đành chịu.
Khi chiếc thuyền đã bị đánh chìm, hai vợ chồng cố gắng bơi vào bờ, người vợ đuối sức dần, Thức một tay bơi, một tay xốc vợ. Tay anh rã rời, bảo vợ bám vào mình. Một lúc, anh lại hỏi: Lạc ơi, Mày liệu có cố bơi được nữa không?
Hai lần Thức gọi vợ bằng mày. Hai thái cực: lần đầu là sự tức giận cực điểm, lần sau là sự tuyệt vọng, cả hai đều là tình yêu tột đỉnh.
Và cuối cùng, chỉ một câu: "Thằng Bò, cái Nhớn, cái Bé !… Anh phải sống!" đủ diễn tả sự hy sinh tối hậu. Sự kiệm chữ này là nền móng của nghệ thuật bội phân bi đát trong giây phút cuối mà chỉ Khái Hưng nắm rõ bí quyết.
Anh phải sống là kiệt tác truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng và của truyện ngắn Việt Nam.
Hai cái áo quan (Phong Hóa số 46, 12- 5-33) được viết một tuần sau, bộ mặt bi đát lần này hoàn toàn đổi khác: trong khung cảnh nhộn nhịp của một căn nhà đang xây dở: thợ thuyền tấp nập, cười nói ồn ào, ông phó Cả âm thầm vuốt nước mắt, cúi xuống bào nắp quan tài cho con trai vừa chết để lại cho ông thằng "Cu con", cháu nội. Chôn con hôm qua, hôm nay cất nóc, phó Cả phải có mặt. Mọi người chờ đợi. Ông phó già đến trễ, mặt đỏ gay tiến vào, cười nói ha hả, lảo đảo bước lên thang… Rồi một tiếng rầm…
" - Con đấy à!.. Thế mà cha cứ tưởng con chết!
Rồi ông tắt thở.
Ánh nắng vẫn gay gắt. Trong làn không khí hoàn toàn tịch mịch, buổi giữa trưa ở nơi thôn dã, thằng Cu con, vận quần áo đại tang, núp dưới bóng cái phên nứa, lúi húi bào gỗ để đóng săng cho ông nó.
Nét mặt nó thản nhiên như đang làm các việc hàng ngày mà người ta trả nó năm xu một công nhật.
Rồi bỗng như hôm qua, con gà trong xóm cất tiếng gáy. Nhưng thằng Cu con nó chẳng giật mình như ông nó, chỉ lẳng lặng quỳ gối bào cho thật nhẵn. Khi nó ướm cái nắp lên trên cái áo quan thấy vừa vặn ăn khớp, thì nó lạnh lùng nói một mình:
Thế là xong!"
Câu kết này làm ta rùng mình. Vì sao? Vì sự vô cảm của thằng bé 12 tuổi. Sau hai cái chết, nó chai đi, không còn cảm giác. Nó không khóc như ông nó, nó không cười ha hả như ông nó, nó không nghe tiếng gà gáy mà giật mình như ông nó, nó hoàn toàn vô cảm.
Còn lại một mình trên đời, thằng bé không phản ứng. Điều đó mới thật dị kỳ và làm ta kinh sợ nghệ thuật của Khái Hưng, bậc thầy.
Con lợn lài xuất hiện bốn tuần sau, trên Phong Hóa số 50 (9-6-33), truyện này cho thấy nghệ thuật châm biếm-bi đát, sở trường thứ ba của ông.
Khái Hưng chỉ chép lại lời kể của một anh phu xe, kể rằng anh hầu nhà quan Hàn, từ năm 10 tuổi: "Ông chủ tôi là một quan Hàn bệ vệ, oai nghiêm, hách dịch như một ông quan lớn, một ông quan thật ấy. Thế mà so với bà chủ tôi thì sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch ấy, còn kém xa. Giá ông trông thấy bà Hàn tôi ngồi xếp bằng trên sập gụ, một tay tì lên chiếc gối xếp nhiễu, một tay bắt cong cái xe điếu ống xuống hút lách tách rồi vừa thở khói, vừa lên giọng lè dè mà gọi: "Có đứa nào đấy không, mày?" thì ông cũng phải kính cẩn chắp tay mà chào: "Lạy bà lớn ạ". Vì thế nên những quân con, đệ tử, dân sự, nghĩa là những người đến vay nợ kính sợ ông tôi mười phần thì kính sợ bà tôi đến trăm phần.
Mồng năm ngày tết họ tới tấp đến trước mặt bà tôi, họ đặt buồng cau, con cá, hoặc thùng gạo, mâm cam xuống đất, họ khúm núm gãi đầu, gãi tai, rồi sẽ run run bẩm báo:
- Bẩm bà lớn chúng con vi thiềng.
Bà tôi liền lên giọng dõng dạc gọi người nhà:
- Có đứa nào đấy không, mày. Cất đi cho nó.
Một tiếng dạ vang nhà, tôi vội vàng ra cất lễ. Có lắm bác lại khéo nịnh hót, khom lưng lạy hai lạy cẩn thận rồi kính bẩm cụ lớn chững chạc nữa kia, tuy bà lớn tôi chỉ là một bà vợ lẽ của quan Hàn tôi, mà xin ông đừng cười, chỉ xuất thân là một con ở hầu bà Hàn cả tôi, và nhẩy lên thay chân chánh thất, sau khi bà cả tôi đã về chầu trời."
Vẫn giọng ấy kể: ông chủ rất tốt, nuôi thằng nhỏ từ lúc nó mới 10 tuổi, ở không công. Nó không hé môi phàn nàn nửa lời vì được ông chủ tin cậy, mỗi năm may cho một bộ cánh trắng và hai bộ cánh nâu, thỉnh thoảng nó có dăm ba xu, một hào, tiền "chè lá" của những người đến khất nợ đút lót để được nó đưa vào hầu.
Rồi bà lớn gả con sen cho thằng nhỏ, hai vợ chồng ở không công. Con sen suốt đêm phải hầu quạt và đấm bóp cho bà lớn, còn thằng nhỏ, chồng nó, ngủ dưới bếp. Mùa xuân năm ấy được mùa, tổ tôm kéo dài mấy tháng, tiền hồ [16] có đến linh trăm bạc [17], nhưng nhà quan, ai lại lấy tiền hồ, nên bà lớn chia cho bọn người làm. Lại sợ chúng nó tiêu bậy, nên bà lớn cất giùm, mua lợn lài, là thứ lợn quý có chấm đen, để gây vốn cho chúng nó. Thế là bao nhiêu tiền "chè lá" thằng nhỏ dốc hết ra mua cám, vỗ béo lợn. Bốn con lợn lài lớn như thổi, một năm sau bán được ba bốn trăm bạc như chơi.
Một hôm, bỗng dưng mất đứt một con: hóa ra bà lớn "vay" để làm cỗ thết làng, rồi con thứ hai, bà lớn "mượn" để biếu cụ lớn thân sinh, hai con sau cùng bà lớn bán lấy tiền giữ hộ chúng nó. Con sen xui chồng lên xin trước bà lớn chút đỉnh để mua cho nó bộ xà tích [18]. Thằng nhỏ lên kêu van khóc lóc bị bà lớn tống ra cửa, thế là mất việc, mất vợ, mất tiền, phải đi kéo xe.
Giọng người phu xe kề cà, giống như giọng khàn khàn của ông Tòa trong truyện La Chute (Sa đọa) của Albert Camus. Lối kể của anh ta, theo một tiến trình, mà tôi gọi là tập kích giật lùi, cũng thấy trong truyện của Camus, dù Khái Hưng viết trước Camus mấy chục năm và hai người ở xa nhau vạn dặm.
Đầu tiên, anh phu xe tả chân dung bà chủ: Từ sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch, xác định tư cách bà lớn, bà tiến lên cụ lớn, rồi đùng một cái, cụ lớn lộ chân tướng con ở. Đó là lối đột kích tụt hậu. Truyện của Camus cũng thế: đường đường là ông Tòa xử tội, quyền sinh sát trong tay, bỗng một đêm qua cầu sông Seine, có tiếng người rớt xuống nước, kêu cứu, nhưng ông lờ đi như không nghe thấy… ông trở thành kẻ sát nhân vô cố.
Toàn truyện Con lợn lài, Khái Hưng đều dùng lối tập kích giật lùi như thế: bà lớn luôn luôn đi từ tấm lòng tốt rồi lùi dần tới lúc lộ ra bộ lòng xấu. Giọng anh phu xe mới tuyệt diệu: anh ta không kết án bà lớn mà lại bào chữa cho bà bởi anh luôn luôn tin tưởng vào lòng tốt của bà:
"Ông phải biết mấy anh em chúng tôi vui mừng, sung sướng cảm ơn bà chủ biết chừng nào, thi nhau xuất lực ra mà hầu hạ để được xứng với cái lòng tốt ấy." Cái bi đát là ở chỗ đó.
Con lợn lài là truyện ngắn đầu tiên của Tự Lực văn đoàn chống lại sự bóc lột của bọn phú hào ở thôn quê. Nhưng Khái Hưng không viết theo lối hiện thực xã hội phê phán, nên tác phẩm của ông không thể bị lỗi thời. Giọng văn này, bây giờ đọc lại, và có lẽ muôn đời đọc lại, ta vẫn thấy lạ, vẫn mô-đéc: nó pha trộn bi hài một cách toàn bích. Khái Hưng vẫn làm ta giật mình ở câu kết.
"Anh xe mỉm cười nói tiếp:
- Nhưng thế mà lại sướng ông ạ. Từ nay đến ngày xuống lỗ, chắc chả bao giờ phải mất công không nuôi lợn lài cho nó béo nữa".
Một giọng triết lý tự nhiên của người không có học. Hiểu thế nào cũng được: Người phu xe không thèm chấp những thấp hèn bỉ ổi mà anh đã trải qua, hay anh không có một chút ý thức nào về tấm thân nô lệ của mình?
Tôi cho rằng Khái Hưng muốn nói trường hợp thứ nhì, và không chỉ riêng cho người dân quê, mà cho cả dân tộc mình, dưới thời Pháp thuộc.
Dọc đường gió bụi (Phong Hóa số 65, 22-9-33), một truyện tình lãng mạn, nhưng dưới ngòi bút Khái Hưng, chuyện tình này khác hẳn những gì ta thường thấy. Đào Mơ yêu tha thiết, yêu say mê yêu không thể dứt ra được, đêm nào nàng cũng phải hiến hồn xác cho người yêu: hát chèo. Thủa bé, Mơ hát hay, theo cha mẹ hát xẩm ở bến đò Tân Đệ, được bác Hai Truyện mua về, nuôi dạy nghề ca hát. Mơ trở thành đào chính của gánh hát rong và cái nghiệp cũng nhập vào nàng. Một ngày kia, tới ấp Đông Hà, chủ ấp là một trang thanh niên tài hoa lỗi lạc, đủ nghề cầm kỳ thi họa, yêu hát chèo và say đắm Mơ. Mơ đáp lại tình yêu của chàng, bỏ gánh hát ở lại. Nhưng đêm sau, tiếng chầu lại vang lên ở làng bên, Mơ choàng dậy, khoác vội tấm áo vào mình, lẻn bước ra đi, người như còn mê man trong giấc ngủ "tiếng địch véo von, rền rĩ, làm rung động lòng Mơ, làm tiêu tan cả ái tình mới mẻ. Ngồi xẹp xuống đất Mơ bưng mặt khóc hối hận. Tiếng địch vẫn sang sảng, khi lên bổng, lúc xuống trầm như mĩa mai, như chế giễu kẻ lìa phường phản bạn. Mơ đứng phát dậy lau nước mắt hốt hoảng chạy một mạch vào trong rạp". Khái Hưng đã viết không phải một chuyện tình mà hai chuyện tình lồng một, một đóa hoa kép đẹp và đau, kết hợp tình yêu và nghệ thuật, và nghệ thuật đã chiếm thế thượng phong trong trái tim Mơ: tính chất bi đát đã đạt đỉnh của cái đẹp.
Đào Mơ (Ngày Nay 89, 12-12-37): Năm năm sau, Khái Hưng viết lại truyện đào Mơ dưới dạng tự thuật:
"Năm năm, cứ sang xuân, trong thời còn được nghỉ học, tôi lại mong nhớ Mơ, sự mong nhớ âm thầm buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong mấy tháng sau Tết, những phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bày chim én trở về cùng với những ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi. Tim tôi hồi hộp khi thấy những gánh hòm vuông sơn đen, sơn đỏ qua cổng huyện tiến vào trong sân". Mơ đã vào đời cậu bé con quan như thế. "Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi nơi khác… Tôi ngơ ngẩn như người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười bảo tôi:- Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy".
Rồi phải ra tỉnh học, Linh không còn gặp Mơ nữa. Mười năm sau, tình cờ gặp lại người kép hát cùng với Mơ năm xưa, Linh mới hay: Mơ lấy lẽ một ông chủ đồn điền, rồi quen nghề cũ, Mơ không ở được lâu với ai, sau cùng với người chồng mù, Mơ đi lang thang hát xẩm Mơ đã đi một vòng đời và trở về chốn cũ của ngày thơ. "Từ đó mỗi lần xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng, chồng kéo nhị, vợ hát chèo, tôi lại tưởng nhận được tiếng Mơ".
Đào Mơ là một trong những hình tượng đẹp nhất trong văn học Việt Nam về hát chèo, về nếp sống tự do, nghệ sĩ. Sau đào Mơ, Khái Hưng cùng với Nhất Linh tạo ra Tuyết trong Đời mưa gió, một tuyệt tác khác. Nhưng hình ảnh đào Mơ hay phong thái cụ tú Sầm Sơn (trong Tương tri)… sẽ lung linh trong các nhân vật của Nguyễn Tuân, Mai Thảo, qua cái đẹp của một ván cờ, một nét chữ, một sự đợi chờ, một vết chém treo ngành… Tất cả đều chịu ảnh hưởng Khái Hưng, nhưng có lẽ tác giả của nó, cũng không biết là mình chịu ảnh hưởng, bởi chính họ cũng là những thiên tài.
Hương gây mùi nhớ
Khi Hồn bướm mơ tiên chấm dứt trên Phong Hóa số 29 (6-1-33), gần một năm sau, Khái Hưng viết Hương gây mùi nhớ in trên Phong Hóa số 127 (7-12-34), đề tặng chú Lan. Hương gây mùi nhớ chỉ là lá thư của người con gái tên Nga, trốn cuộc hôn nhân áp đặt, đi tu mong "tìm quên trong lòng phật Tổ". Chú tiểu Nga, tưởng đi tu là lánh được cuộc đời trần tục. Nhưng không. Chú đã lầm. Chú viết thư cho người yêu cũ:
"Một hôm, hôm ấy, phút ấy, chỉ vì trong một phút ấy, tâm hồn em đã thay đổi khác hẳn, nghĩa là đã trở nên nồng nàn với tình yêu, nồng nàn gấp trăm gấp nhìn lần khi em chưa dấn thân vào đời tôn giáo, khi em chưa từng nếm qua mùi thiền (…) Em tưởng tượng đức Như Lai ra một chàng trai trẻ, có tấm lòng tha thiết với tình yêu. (…) Em cầu cứu, em gọi đức Phật tổ, nhưng đức Phật tổ chỉ lãnh đạm thờ ơ. Mùi hương ngào ngạt em ngửi vẫn thấy khoan khoái, nhưng sự khoan khoái này là sự khoan khoái đầy nhục dục. Tiếng chuông em nghe như những lời thề thốt ái ân. (… )
Chẳng phòng khuê nào có thể so sánh được với một nơi am vắng đầy mùi hương và tiếng kệ nó nhắc ta mơ màng tưởng tới những nơi bồng lai tiên cảnh". (Phong Hóa số 127, 7-12-34).
Lời chú tiểu Nga làm đảo lộn mọi nguyên tắc đạo đời và có lẽ xưa nay ở Việt Nam chưa nhà văn nào dám viết như thế, nghĩa là dám cho rằng cửa Phật "gợi tình" hơn chốn khuê phòng, dám "tưởng tượng đức Như Lai như một chàng trai trẻ", dám cảm thấy mùi hương hoa, tiếng chuông, kinh kệ, "gợi sự khoan khoái đầy nhục dục"…
Hương gây mùi nhớ phản biện hoàn toàn Hồn bướm mơ tiên, đánh đổ mọi lập luận cho rằng Khái Hưng là nhà văn lý tưởng, và lộ ra một Khái Hưng đầy nhục cảm, đi trước thời đại, cho chú Nga yêu hoa, yêu hương và… yêu Phật. Khái Hưng muốn chứng minh "lửa tâm càng dập càng nồng", chữ tâm ở đây không ứng vào cái ghen Hoạn Thư mà ứng vào tình yêu, ở chú Nga, bị dập vùi, dồn nén, đã lên tới cực điểm: sự đòi hỏi của thể xác làm tê dại tâm hồn, đốt cháy mọi cơ năng, nghiền nát lý trí. Khái Hưng đã đi tới dứt điểm khi khám phá được nội tâm con người, con người say mê cùng cực.
Sư Tuệ (Ngày Nay số 182, 7-10-39): Năm năm sau Hương gây mùi nhớ Khái Hưng viết Sư Tuệ. Sư Tuệ chùa Hàm, một trang thanh niên khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, yêu thể thao, học vấn uyên thâm, thích đọc sách triết học và thần học, thông bác tư tưởng đông tây. Khánh, tên tục nhà sư, đã từng sống cuộc đời trần, yêu say mê trong tuyệt vọng vợ một người bạn thân, yêu trong yên lặng. Một hôm Khánh điên cuồng ngỏ lời với nàng, mới hay người ấy cũng cùng cảnh ngộ. Đã thấu lòng nhau, họ quyết định hy sinh: gắng quên nhau, và Khánh chọn lánh xa người yêu, lánh xa hẳn, lánh xa trong một thế giới khác. Thế giới ấy, nếu không phải là thế giới của người chết; thì chỉ có thể là thế giới của người thế phát quy y. Và chàng trở thành một vị chân tu, Sư Tổ hy vọng chàng sẽ cảm hóa được phái trẻ, tân học mà Người ví như cây không rễ một ngày kia linh hồn sẽ héo úa. Sư Tổ muốn cứu vớt linh hồn họ, đưa họ tới cõi niết bàn, công cuộc đó chỉ Sư Tuệ là có khả năng làm nổi.
"Nhưng một đêm giữa lúc đương tụng kinh, sự Tuệ ngước mắt nhìn lên bàn thờ và bỗng chú ý đến khuôn mặt pho tượng Ngọc Nữ. Cả một thời dĩ vãng vụt lờ mờ hiện ra trong ký ức kẻ tu hành. Sư Tuệ sợ hãi vội cúi xuống quyển kinh và cất cao giọng, gõ mạnh tiếng mõ như cố xóa lấp cái hình ảnh quá khứ. Nhưng vẻ mặt tươi cười, đôi mắt sắc sảo, cặp môi đỏ thắm của pho tượng mà sư ông nhớ từng nét vẫn như vẽ ra trên trang giấy chữ lớn. Sư ông nhắm mắt lại và tụng thuộc lòng luôn mấy trang kinh; cái khuôn mặt xinh tươi càng rõ rệt hơn và sau cùng, sáng lòa một cái tên chữ quốc ngữ, tên người đàn bà xưa".
Từ đấy, bất kể làm gì, tụng niệm, ngồi thiền, cuốc xới, trồng cây, nhà sư chỉ nghĩ đến nàng, khi mệt quá thiếp đi, nàng xuất hiện lại trong mộng. Người ấy như thành yêu quái ngày đêm hiện về ám ảnh… Chịu đựng cực hình trong một tháng. Rồi một hôm bỗng sư Tuệ bỏ chùa trốn đi
Tác phẩm hoàn tất khái niệm lửa tâm càng dập càng nồng, mà Khái Hưng đã đưa ra năm năm trước đấy trong Hương gây mùi nhớ, để phản bác lại Hồn bướm mơ tiên, viết cách đấy 11 năm. Ông cũng là một trong những nhà văn đầu tiên không tin và nói ra vấn đề tìm quên trong đạo, với câu trả lời dứt khoát: Cửa thiền không phải là nơi giải thoát, chỉ là một ngục tù mới, trói buộc con người một cách giả trá và khốc liệt hơn.
Ô Quy Hồ (Phong Hóa số 175, 21-2-36) ở trong không gian núi rừng mạn ngược, hẻm núi Chapa. Quang và Ray trốn xuyên rừng về Lao Kay. Lao Kay nghĩa là yêu Kay. Ta Cao, đã xin cưới Kay nhưng nàng không thuận, đuổi theo.
Hai người đã đến gần Ô Quy Hồ:
"Trăng trong lẩn vào ngọn một cây pê-mu, thân to đế, năm, sáu người ôm và cao chót vót như chọc thủng da trời màu xanh nhạt. Ánh sáng chiếu xuống một đám mây mỏng vắt ngang sườn núi bên kia như một tấm lụa trắng bay theo chiều gió vướng vào rừng sặt, ngọn tua tủa đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng.
Quang kìm ngựa lại ngắm nghía bảo Kay:
- Chúng ta đi trên mây.
Kay cười khanh khách. Bỗng nàng rùng mình im bặt, vì tiếng cười vang đáp lại làm cho nàng kinh hoảng, nhớn nhác, trông trước trông sau. Tiếng vang nàng vẫn thường nghe thấy, nhưng lần này nàng nhận ra như tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ."
Văn Khái Hưng cực kỳ điêu luyện: không bỏ sót một chi tiết nào, tất cả đều như đã được sắp xếp từ trước để tạo không khí cạm bẫy, rùng rợn bằng mấy chữ: với cây pê-mu, chọc thủng da trời, rừng sặt ngọn tua tủa đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng; hoặc khi Kay cười, nghe núi vọng lại một thứ tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ.
Chúng ta trót theo Quang, Kay đến đây, không biết cây pê-mu là cây gì, chỉ biết nó vĩ đại, năm sáu người ôm. Rồi cậy sặt cũng vậy, nhọn như gươm giáo, lại cả một rừng sặt, ta đã lạc vào một rừng gươm. Rồi chính tiếng cười của Kay cũng bị ma quỷ nhái lại.
Ô Quy Hồ là hồ rùa đen mang một huyền thoại dữ. Kay nằm mơ bị rùa đen khổng lồ chặn đường, tát chết ngựa, bóp cổ nàng. Nàng vụt quất ngựa phóng nước đại. Là người của núi rừng, nàng phi như gió trên hẻm núi cheo leo. Quang phi theo sau, chàng trai thành thị… Một tiếng rầm… nàng quay lại, đã trễ, và như ngọn gió, ngựa nàng phi thẳng xuống vực…
Về truyện đường rừng, Lan Khai và Thế Lữ là hai cây bút chuyên nghiệp, nhưng họ không thể nào sánh với Khái Hưng.
TVEAVQKVVEAV (Ngày Nay số 112, 29-5-38) sau in thành sách đổi tên là Tiếng khèn, một truyện lạ lùng nữa trong khung cảnh kỳ dị của núi rừng:
"Ba gian nhà rộng. Ở gian giữa, trên một cái dá [giá] cao và dài kê sát vách, người chết - một người thiếu phụ - nằm ngửa, hai tay buông xuôi, mặt che miếng vải xanh. Khách trịnh trọng lại gần, cầm cái phất trần lông gà phe phẩy; tức thì đàn ruồi đen bay tản ra. Tôi ghê sợ lùi lại một bước, đầu chạm vào một vật nhũn. Ngửng lên nhìn thì đó là một miếng thịt lợn sống, máu còn nhỏ giọt, mà họ buộc vào cái sào gác ngang từ cửa tới chỗ cái thây ma.
Cặp mắt mờ lệ của người Mèo trẻ tuổi đưa nhìn từ đầu đến chân thiếu phụ. Rồi từ từ, run run, tay hắn nhấc miếng vải che mặt người chết ra. Một lần nữa đám ruồi bay lên tua tủa, khiến tôi kinh hoảng lảng ra phía cửa.
Trong lúc người trẻ tuổi vừa khóc vừa kể lể từng đoạn rất lâu, giọng lên xuống như lời ca than vãn, thì một người Mèo lom khom nhảy và thổi khèn ở trước linh sàng, và một người nữa cầm dùi gỗ nện vào cái mặt trống căng chùng để gõ nhịp."
Người trẻ tuổi chính là anh chàng thổi khèn trong phố đêm Chapa, mà tác giả - đây là một tự truyện - mấy lần lên Chapa đều được nghe tiếng khèn của anh ta trong đêm khuya, lần này anh ta đi đám ma, bèn xin đi theo. Đêm ấy, trời mưa không trở về được, tác giả dù đã ớn lắm, đã nổi da gà, cũng đành ở lại, ngủ nhờ một người trong xóm. "Bên nhà tang, tiếng khèn, tiếng trống vẫn gióng một kéo dài: "tsè tsè tsè…phình! tsè tsè tsè phình!" như không bao giờ sẽ dứt".
Ngủ chung với con lợn, trên miếng da ngựa hôi hám, tác giả thiếp đi, bỗng tỉnh dạy vì "một thứ âm nhạc rất lạ lùng, rời rạc và mọi rợ: "Ưn, … Ưn ưứt!… Ưn…ưn ưứt!…"
Tất cả những khủng khiếp tác giả đang trải qua, chứng tỏ sự khác biệt kinh hồn giữa người kinh và người thượng, giữa "văn minh" và "mọi rợ".
Nhưng cuối cùng, như Khái Hưng thường có ma thuật, giao hòa hai đối tác, để hợp lại trong giác ngộ, đưa đến tình yêu và sự giao cảm giữa người và người, dù sự khác biệt văn hóa có sâu xa là chừng nào: trên đường về, qua cái lều cối giã gạo, mới hay "tiếng ưn ưứt chỉ là tiếng cái cần mà sức nặng của nước làm rơi xuống và tiếng cái chày gỗ giã trong không".
"Và từ đó, tiếng khèn trong chiều tà, tôi nghe như ai oán, như than khóc của một linh hồn trơ trọi".
Điếu thuốc lá (Ngày Nay số 114, 12-6-38), Khái Hưng đã đạt tời đỉnh cao nghệ thuật tả chân.
Mỗi chữ đều có phận sự của nó và mỗi câu đều có thể diễn vài ý khác nhau:
"Thỉnh thoảng cặp môi mỏng và thâm của ông ta lại bỏ rơi nụ cười hầu bất tuyệt để kéo một hơi thuốc lá, rồi khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son, nụ cười lại trở về đậu trên cái miệng hé mở, tựa con chuồn chuồn trên mặt ao không bao giờ chịu rời hẳn bông hoa muống sau mỗi cái giật mình bay đi."
Đấy là nụ cười của ông thày bói Cửu Thầy. Mù. Mù một trăm phần trăm. Vì cậu bé tác giả đã nhìn thấy: "Hai con mắt ông ta không có con ngươi và lõm hẳn vào, hai mép mi như khâu liền lại nhau".
Đây cũng là một tự truyện, tác giả (hồi đó) là cậu bé độ chín mười tuổi, bị lôi cuốn vì đôi mắt mù thánh của ông Cửu Thầy: không cái gì qua "mắt" ông được. Câu bé tinh nghịch muốn thử: khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son; bèn giấu điếu thuốc là đi xem ông ta có biết không, nhưng vụng về không làm kịp nên phải bỏ lại, đặt ngược cái đầu có lửa cháy quay vào trong. Ông Cửu Thầy không để ý, đưa lầm đầu có lửa vào môi, suýt bỏng. Nhưng nụ cười của ông không vì thế mà héo rụng. Và ông đã quyết trả thù đứa bé bằng nụ cười. "Cái mỉm cười lặng lẽ, bí mật, ghê sợ nữa", theo thằng nhỏ ngày đêm, làm cho nó kinh hoảng không ngừng. Hôm ấy, Cửu Thày quyết định ra tay, ông gọi thằng con ruột có lỗi lại gần. "Thằng con chừng biết mình có lỗi, rụt rè chưa dám vâng lời ngay. Nhưng về sau như bị đôi kính đen của cha thôi miên, nó mon men lại gần… Ông Cửu Thầy vẫn mỉm cười, đợi. Bỗng nhanh như con bói cá, bàn tay trái ông bổ xuống nắm lấy cái đầu tóc rối trong khi bàn tay phải tát hai cái cực mạnh trên hai má thằng con khốn nạn".
Sự trả thù "hàm thụ" của Cửu Thầy tàn ác và kinh rợn hơn sự trả thù trực tiếp, vì cậu bé con quan suốt đời sẽ không bao giờ quên được hai cái tát trên má đứa bé khốn nạn kia.
Khái Hưng luôn luôn thay đổi bối cảnh và cách viết, nhưng ông thường chỉ nhắm vào một đối tượng duy nhất như một vật, một đáng điệu, một thói quen, một âm thanh… rồi chiếu vào thực thể ấy bằng sự thôi miên xuyên suốt, cho tới khi nào nó "thua", nó phải hạ màn. Đó là kỹ thuật truyện ngắn của Khái Hưng.
Các nhà phê bình của ta, thường có lối nhận định đầy mặc cảm bị trị: cái gì hay cũng học Tây, ví dụ Vũ Ngọc Phan, đọc truyện Đồng xu thấy hay, bèn khen: Gravoche! Rồi Điếu thuốc lá, ông bảo gần bằng Cain! Cung Giũ Nguyên thấy Hai vẻ đẹp của Nhất Linh hay, thích lắm, nhưng ông lên giọng kẻ cả, khen rằng Nhất Linh có giọng một trăm phần trăm giống Gide, trong cuốn Nouvelle Nourriture. Khiến Khái Hưng phải chú thích: nỗi băn khoăn ấy Nhất Linh đã có từ bốn năm trước khi đọc Gide [19] [ý nói từ khi Nhất Linh học trường mỹ thuật, đã có ý so sánh cái đẹp trong tranh với đời thực khốn cùng, vì thế ông bỏ mỹ thuật] Tiêu Sơn tráng sĩ cũng được người ta cũng khen rằng sắp theo gót Ba người ngự lâm pháo thủ!
Lối phê bình tự hạ này rất kỳ cục, bởi ta nên biết: nền văn chương của một nước, như văn chương quốc ngữ của chúng ta, không phải vì ra đời sau mà nó kém văn chương Tây phương. Văn chương không phải là văn bằng, cũng không phải là cái ô tô hay một phát minh khoa học. Tác phẩm văn chương khi ra đời nó không có bố mẹ, mà có giá trị riêng của nó, độc nhất, không giống ai, trước sau cũng vậy. Tôi ở Pháp đã lâu, mà nghiệm thấy mình ít có may mắn được đọc những nhà văn Pháp viết truyện ngắn như Khái Hưng, Nguyễn Huy Thiệp.

Chú thích:
[1] Nùng Chi Lan ký Tống Lương (Phong Hóa số 14, 22-9-32); Bông hoa thủy tiên ký Tứ Ly (số 31, 24-1-33) và Cánh buồm trắng, ký Tứ Ly (số 34, 17-2-33).
[2] Tuồng cổ tân thời đăng trên Phong Hóa, từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (14-4-33).
[3] Thây ma xuống gác (Phong Hóa số 27, 23-12-1932), Con châu chấu ma (số 30, 13-1-1933) Cô Bụt (số 44, 28-4-1933), Dòng máu đứt quãng (số 53, 30-6-1933), Cái ví da đen (số 60, 18-8-1933) Hai lần chết (số 63, 8-9-1933), Cái xác đuổi người (số 66, 29-9-1933) Bên đường Thiên Lôi (số 70, 27-10-1933) Ngây thơ (số 103, 22-6-1934) và cũng trong số bào này bắt đầu phóng sự Lê Ta làm báo.
[4] Giết chồng… báo thù chồng, số 14, 22-9-32, Tiếng chó sủa, số 15, 29-9-32, Cái hoa chanh, số 16, 6-10-32, Tiếng gọi cõi âm, số 17, 13-10-32.
[5] Con hai bố (Phong Hóa số 24, 2-12-32); Vết máu… (số 26, 16-12-32); Nước chảy đôi dòng (số 28, 30-12-32); Cô áo tím (số 29, 6-1-33); Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng) và Ngọc có vết (số 31, 24-1-33), Hồn hoa và Bóng người trên sương mù (số 32, 3-2-33), Gái vùng Lim (số 33, 10-2-33), Nắng mới trong rừng xuân (số 37, 10-3-33), Đầu đường xó chợ, (số 51, 16-6-33), Tháng ngày qua (số 52, 23-6-33), Ngày thu… (số 62, 1-9-33).
[6] Gánh hàng hoa từ Phong Hóa số 66 (29-9-33) tới số 88 (9-3-34); Đời mưa gió từ số 89 (16-3-34) tới số 112 (24-8-34).
[7] Thế rồi một buổi chiều, phụ trương số 91 (30-3-34), Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh) số 107 (20-7-34), Nắng thu từ số 113 (31-8-34) đến số 122 (2-11-34), Lan rừng, số 162 (15-11-35).
[8] Nghèo, Ngày Nay số 17 (19-7-36) Hai buổi chiều vàng (Ngày Nay số 19, 2-8-36), số 20, 9-8-36, số 21, 16-8-36 và số 22, 23-8-36, Tối tăm, số 23, (30-8-36), Chết dở, số 24 (6-9-36), Hai chị em, số 34 (15-11-36), Vết thương, số 35 (22-11-36), Con đường quê, số 138 (20-11-38).
[9] Kong-Ko Đai-Jin ký Trần Khánh Giư (Phong Hóa số 14, 22-9-1932); Đi Nam Kỳ ký T.K.G và Cái thù ba mươi năm ký T.Khái Hưng (Phong Hóa số 15, 29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng (số 16, 6-10-1932); Cái thống đời Tống ký T. Khái Hưng ( số 17, 13-10-1932); Tình tuyệt vọng trong có bài thơ Tình Tuyệt Vọng (dịch thơ Arvers) (số 18, 20-10-1932); Ada Kwaben (Phong Hóa số 19, 27-10-1932); Lãng mạn ký Trần Khái Hưng, số 21 (11-11-1932); Bạn…! Chỉ là bạn!… (số 23,25-11-1932); Dưới bóng hoa đào của Khái Hưng và Bảo Sơn (số 31, 24-1-1933); Lên sĩ xuống sĩ (số 33, 10-2-1933); Hai linh hồn, số 35, 24-2-1933); Bên dòng sông Hương (số 40, 31-3-1933); Ý Lan (số 41, 7-4-1933); Véo von tiếng địch (số 42, 14-4-1933); Nghĩa cái cười (số 43, 21-4-1933); Anh phải sống (số 45, 5-5-1933); Hai cái áo quan (số 46, 12-5-1933). Tình điên (số 48, 26-5-1933) và số 49 (2-6-1933); Con lợn lài (số 50, 9-6-1933); Hất báo số 56, 21-7-1933) số 57, 28-7-1933) và số 58, 4-8-1933); Lời thề (số 64, 15-9-1933); Dọc đường gió bụi (số 65, 22-9-1933); Yêu (số 77, 15-12-1933); Con số 08430 (số 78, 22-12-1933; Ai đẹp (số 79, 29-12-1933); Bên đường dừng bước (số 85, 11-2-1934); Tình lưu luyến (số 96, 4-5-1934); Hoàng Oanh (số 97, 11-5-1934); Yên lặng (số 106, 13-7-1934); Cô hàng nước của Khái Hưng và Nhất Linh (số 107, 20-7-1934); Gói bạc rơi (số 120, 19-10-1934); Một tập thư, (số 121, 26-10-1934); Chúa Thao (số 122, 2-11-34). Con Mán (số 125, 23-11-34), Hương gây mùi nhớ (số 127, 7-12-34), Một nhà thông thái (số 128, 14-12-34), Cái đồng hồ đeo tay (số 133, 18-1-35), Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung (số 134, số Xuân, 30-1-35), Một nhà hiền triết (số 139, 8-3-35), Bắt trộm (số142, 29-3-35), Giặc bể (số 144, 12-4-35), Con chim vành khuyên (số 154, 20-9-35), Tiệc tranh (số 158 (18-10-35), Không BẢ..A..Án (số 159, 25-10-35), Trăng suông (số 161, 8-11-35), Tình yêu thứ nhất của Khái Hưng và P.N.Thọ (số 164, 29-11-35), Cầm vườn (168, 27-12-35), Cái áo đan, Lá rụng, Hoa thủy tiên, Hoa anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong rừng mai (số 171, Xuân 21-1-36), Chén trà mạn sen (số 174, 14-2-36), Ô Quy Hồ (số 175, 21-2-36), Trúng số và Bãi sậy vườn cam (số 176, 28-2-36), Biến đổi (số 177, 6-3-36), Cháu Tạ (số 178, 13-3-36), Vú Kim (số 181, 3-4-36), Trong nhà thương (số 185, 1-5- 36), Hai cảnh trụy lạc (số 187, 15-5-36), Có đi có lại (số 188, 22-5-36), Thưa chị, (số 189, 29-5-36), Cái máy ảnh ( số 190, 5-6-36).
[10] Ba Ếch Vô Huế,  Khái Hưng (số 41,7-4-33); Một đám ma, ký Nhị Linh số 46 (12-5-33); Quýt ngọt, ruốc ngon, ký Khái Hưng (số 49, 2-6-33); Gật, gật hoài ký Khái Hưng, số 50 (9-6-33); Hảo hớn  Nhị Linh, số 52 (23-6-33); những chuyện sau đây ký Khái Hưng: Võ Thái Hà, số 53 (30-6-33)Để của bí mật, số 54 (7-7-33); Yêu đời, số 73 (17-11-33); Đãng trí, số 89 (16-3-34); Cai thuốc phiện, số 91 (30-3-34); Những bóng người trên bãi biển, truyện phóng sự của Nhị Linh, số 109 (3-10-34); Ông cứ giã cho nó! ký Khái Hưng, số 118 (5-10-34). Chụp gà hóa cáo số 124 (16-11-34) Thả vỏ quýt ăn mắm ngấu (số 125, 23-11-34), Liều thuốc độc (số 129, 21-12-34) Mãn đình hồng của Nhị Linh (số 130, 28-12-34), Ăn miếng trả miếng (số 131, 4-1-35), Bảng công ty (số 152, 6-9-35), Chơi ô tô ( số 160, 1-11-35), Tờ giấy bạc (số 161, 8-11-35, Bàn việc làng (số 165, 6-12-35, Cờ quạng ( số 182, 10-4-36) Bảo hiểm (số 184, 24-4-36).
[11] Kiêng1 (Phong Hóa số 31, 24-1-33) ký Khái Hưng; Tôi là Khái Hưng (số 39, 24-3-33); Ghen, số 46 (12-5-33) ký Nhị Linh; Những vở kịch ký Khái Hưng: Nửa cái thỏ bò, số 51 (16-6-33), Ông Đồng Phương, số 81 (12-1-34); Kiêng 2, số 85 (11-2-34); Tục lụy; số 88 (9-3-34), 89 (16-3-34) và 90 (23-3-34); Con mèo, số 115 (14-9-34); Chữ nho, số 116 (21-9-34); Bói Kiều, số 119 (12-10-34); Không hề gì mà, số 120 (19-10-34), Kiêng (số 134, số Xuân, 30-1-35), Ở hiền gặp lành (số 172, Xuân II, 31-1-36), Quần tiên tụ hội, (số 185, 1-5-36), Kịch không người (số 190, 5-6-36).
[12] Đợi chờ, Ngày Nay số 17, 19-7-36), Bến đò năm xưa (số 21, 16-8-36), Phong lan và Nước hoa phong thổ (số 22, 23-8-36), Cái ve (số 23, 30-8-36), số 24, 6-9-36), số 25, 13-9-36) và số 26, 20-9-36), Lòng tốt (số 26, 20-9-36), Linh Hồn (số 28, 4-10-36), Trăng thu (số 29, 11-10-36), Người vợ mù (số 31, 25-10-36), Dưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu) (số 32, 1-11-36), số 33, 8-11-36) số 34, 15-11-36) và số 35, 22-11-36), Nhà phê bình (số 39, 20-12-36),Đồng xu, (số 41, 3-1-37), Đêm giao thừa, (số 46, 7-1-37), Cô áo trắng (số 51, 14-3-37), Vui tính (số 53, 4-4-37), Hội kín (số 58, 9-5-37), Tống tiền (số 59, 16-5-37), Nguồn thơ và Ngày giỗ (60, 23-5-37),Bến Hòn Gay (số 63, 13-6-37), Cháu nhà quan (số 64, 20-6-37), Sung sướng (số 65, (27-6-37), Cô dâu (số 66, 4-7-37), số 67, 11-7-37) và số 68, 18-7-37),Cây tre trăm đốt (số 70, 1-8-37), Vợ cóc, truyện cổ tích (số 71, 8-8-37), Ai mua hành tôi, truyện cổ tích (số 72, 15-8-37), Mười năm yêu dấu (số 76, 12-9-37), Người hầu sáng (số 86, 21-11-37), Sếnh Sáng (số 88, 5-12-37), Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa) và Đào Mơ (số 89, 12-12-37), Tập ảnh (số 96, 30-1-38), Thời xưa, (số 103, 27-3-38), Chùa Hương (số 109, 8-5-38), Xanh cà bung (số 110, 15-5-38), TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn (số 112, 29-5-38), Điếu thuốc lá, (số 114, 2-6-38), Lưu Bình Dương Lễ (số 125, 28-8-38) số 126, 4-9-38) số 127, 11-9-38) và 129, 24-9-38), Một buổi chầu (số 146, 21-1-39), Hai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợ (số 151, 4-3-39), Tình địch (số 154, 25-3-39), Tế thành hoàng, (số 156, 8-4-39)Cái duyên của Tản Đà (số 166, 17-6-39), Vài truyện vui về thi sĩ Tản Đà (số 167, 24-6-39), Ông Đồng (số 172, 29-7-39), Thời chưa cưới, (số 173, 5-8-39), Tương tri, (số 175, 19-8-39), Hai người bạn (số 181, 30-9-39), Sư Tuệ, (số 182, 7-10-39), Hai con mắt (số 205, 30-3-40), Biển, (số 209, 25-5-40), Ái tình, (số 216, 13-7-40), Nghiện, (số 218, 2-7-40).
[13] Chết và Cờ điên thoại (Ngày Nay số 16, 12-7-36), Cậu Cả (19, 2-8-36), Tiền (số 20, 9-8-36), Người chồng (số 36, 29-11-36), số 37 (6-12-36) và số 38 (13-12-36), Kiêng V (số 46, 7-1-37), Đồng bệnh (số 80, 10-10-37), số 83, 31-10-37, số 84, 7-9-37) số 85,14-11-37), Chén trà đầu năm (số 96, 30-1-38), Không đèn (số 153, 13-3-39), Khúc nghê thường (số 198, 3-2-40, số 200, 24-2-40).
[14] Hổ (Ngày Nay số 145, 14-1-39), Thâm nho (số 151, 4-3-39), Trả thù (số 159, 20-4-39), Thoát (số 161, 13-5-39), Bà chủ nhà của tôi (số 164, 3-6-39), Bá cáo việc riêng (số 202, 9-3-40), Cách cho (số 203, 16-3-40), Chợ trời (số 204, 23-3-40) Đi ra thôi (số 206, 6-4-40) Cây "Thần tiên" (số 215, 6-7-40) Người bán dầu (số 217, 20-7-40), Lỡ quá ga (số 218, 27-7-40), Nghỉ mát (số 221, 17-8-40), số 222, 24-8-40) và số 223, 31-8-40).
[15] Mưa của Somerset Maugham, Khái Hưng dịch Ngày Nay số 43, 17-1-37, số 44 (24-1-37), số 45 (31-1-37), số 46 (7-1-37), số 48 (28-2-37) và số 49 (7-3-37), Cô gái thành Arles của A. Daudet, Khái Hưng dịch (số 50, 14-3-37), Bệnh viện của Somerset Maugham, Khái Hưng dịch, số 167 (24-6-39) số 168 (1-7-39), 169 (8-7-39) và 170 (15-7-39); theo bản chũ Pháp của bà ER Blanchet, Trà đạo của Okakuza Kakuzo, Khái Hưng dịch theo bản chữ Pháp của Gabriel Mourey (số 209, 25-5-40), Ý nghĩa nghệ thuật, của Okakuza Kakuzo (Trà thư), Khái Hưng dịch, số 210 (1-6-40), Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng dịch (Ngày Nay số 212 (15-6-40), Hoa, của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 213 (22-6-40), Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 214 (29-6-40)
[16] Tiền hồ là tiền trả cho nhà chứa bạc.
[17] linh là lẻ, có nghĩa là trên dưới trăm bạc.
[18] xà tích: dây bạc để đeo chìa khóa.
[19] Cung Giũ Nguyên, Les Cahierrs de la Jeunesse số 4 Décembre 1936, in lại trong Ngày Nay số 52).
Khái Hưng xây dựng tiểu thuyết hiện đại trên Phong Hóa
Về tiểu thuyết, trước Hồn bướm mơ tiên, ngoài Bắc có Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và trong Nam, năm 1932 đã có 18 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Nhưng tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh hầu như không có ảnh hưởng ra Bắc, vì người Bắc không thích đọc tiếng Nam, lấy cớ không hiểu, hoặc chê “thô thiển không phải văn chương” và thứ hai, Hồ Biểu Chánh chuyên viết lối hiện thực xã hội trong suốt hành trình dài hơn nửa thế kỷ tiểu thuyết của ông.
Tự Lực văn đoàn khai trương tiểu thuyết trên Phong Hóa, sau đó, một số tác giả khác cũng viết tiểu thuyết như Nguyễn Công Hoan với Cô giáo Minh (1936), Tắt lửa lòng (1936), Vũ Trọng Phụng, Giông tố (1937), Ngô Tất Tố, Tắt đèn (1939), tuy giá trị khác nhau nhưng đều nằm trong lối hiện thực xã hội tả chân.
Tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn khác biệt ở chỗ: ngoài ý nghĩa xã hội, còn có văn chương tư tưởng, tức là tiểu thuyết trong nghĩa toàn diện của nó. Chính hệ thống tiểu thuyết văn chương tư tưởng với những đề tài khác biệt, chủ yếu của Khái Hưng, đã ảnh hưởng sâu xa đến cách viết của những người đi sau, như Nguyễn Tuân, Mai Thảo trong cách xây dựng mỹ học tiếng Việt, Dương Nghiễm Mậu trong hiện thực hiện sinh, Đinh Hùng Hoài Điệp Thứ Lang trong tiểu thuyết lịch sử…
Dưới đây là danh sách truyện dài của Khái Hưng Nhất Linh trên báo Phong Hóa trong hơn ba năm xuất hiện, từ 1933 đến 1936:
Hồn bướm mơ tiên, của Khái Hưng, từ Phong Hóa số 20 (4-11-32), đến Phong Hóa số 29 (6-1-33).
Thế giới cũ mực tầu giấy bản, của Nhị Linh (Khái Hưng) từ số 24 (2-12-32) đến 35 (24-2-33).
Bông cúc vàng của Khái Hưng, từ số 30 (13-1-33) đến số 35 (24-2-33).
Nửa chừng xuân của Khái Hưng, từ số 36 (1-3-33) đến số 63 (8-9-33).
Gánh hàng hoa của Khái Hưng và Bảo Sơn (Nhất Linh) từ số 66 (29-9-33) đến số 88 (9-3-33).
Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh, từ số 89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34).
Số đào hoa của Khái Hưng, từ số 110 (10-8-34) đến số 119 (12-10-34).
Đoạn tuyệt của Nhất Linh, từ số 124, 16-11-34, đến số 149 (17-5-35).
Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng từ số 129 (21-12-34) đến số 184 (24-4-36).
Trống mái, của Khái Hưng, từ số 152 (6-9-35) đến số 173 (7-2-36).
Đi Tây
, của Nhất Linh, từ số Phong Hóa số151 (31-8-35) đến Phong Hóa số 181 (3-4-36).
Địa vị của Khái Hưng
Là người anh cả trong văn đoàn Tự Lực, Khái Hưng sinh năm 1896, Tú Mỡ, 1900, Nhất Linh 1906, Hoàng Đạo, 1907, Thế Lữ, 1907, Thạch Lam, 1910 và Nguyễn Gia Trí, khoảng 1910.
Khái Hưng bao giàn cả tờ báo: Ngoài việc viết tiểu thuyết đăng hàng tuần, ông còn viết truyện ngắn, phụ trách các mục thường thức như Văn họcPhụ nữ, Những hạt đậu dọn (nhặt sạn văn chương, ký Nhát Dao Cạo, Hàn Đãi Đậu), viết xã luận, kịch, truyện vui, tiểu luận, làm thơ trào phúng, dịch thơ chữ Hán, chữ Pháp, làm câu đối, điểm báo, điểm sách, đôi khi vẽ tranh châm biếm… Tóm lại, việc gì ông cũng làm được.
Khái Hưng và Nhất Linh là hai cột trụ của Tự Lực văn đoàn, trên hai cương vị khác nhau.
Huy Cận, xuất hiện trên Ngày Nay số Xuân 96 (30-1-38) với bài thơ Chiều xưa, lúc đó Phong Hóa bị đình bản được một năm rưỡi, đã nhận định khá đúng tình hình:
Trong Tự Lực văn đoàn, Nhất Linh là người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của báo Ngày Nay và của nhà xuất bản Đời Nay” (Huy Cận, Hồi ký song đôi).
Khảo sát tiểu thuyết trên Phong Hóa và Ngày Nay, ta mới thấy Khái Hưng ngự trị bằng tác phẩm không chỉ trên Phong Hóa mà cả văn đàn miền Bắc, từ năm 1933 với Hồn bướm mơ tiên và Nửa chừng xuân. Liền sau đó là Gánh hàng hoa  Đời mưa gió, viết chung với Nhất Linh, tiếp đến Trống mái và Tiêu Sơn tráng sĩ, đều là những tác phẩm giá trị.
Nguyễn Hiến Lê nhớ lại:
Tôi nhớ những năm đó các bạn nội trú của tôi ở trường Công chính chuyền tay nhau đọc say mê những chuyện Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên… trong tờ Phong Hóa” [1]
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ghi lại: “Thanh niên và thiếu nữ theo tân học say mê đọc "Hồn bướm mơ tiên", tiểu thuyết đầu tay của Khái Hưng như cơn gió mát đi vào tâm hồn tuổi trẻ đang tìm hiểu về tình yêu lãng mạn” [2]
Nhưng có lẽ ta nên đọc thêm vài câu nữa của các nhà văn, nhà phê bình thời đó, để hiểu xem Khái Hưng đã được đón nhận như thế nào.
Trần Thanh Mại, nhà phê bình, viết về Hồn bướm mơ tiên: “Quyển thứ nhất của Tự Lực văn đoàn, thứ nhất của ông Trần Khái Hưng, Hồn bướm mơ tiên, có lẽ là quyển thứ nhất trong văn nghệ nước ta đáng để lại cho hậu thế” [3]
Nguyễn Triệu Luật, nhà văn chuyên viết truyện lịch sử: “Văn ông hơn người ở chỗ bình dị, trôi chảy, không dùng khóe văn vụn vặt, không khoe chữ như các ông văn sĩ khác. Văn ông như cô con gái có duyên thầm, không cười mà người ta trông thấy vẻ tươi, không khóc mà người ta đoán được vẻ buồn kín đáo và lặng lẽ. Các vai chuyện của ông - nhất là các vai chính - thảy đều có một cái nhân cách thanh cao tao nhã. Các thiên tiểu thuyết của ông thảy đều có vẻ cao siêu khác thường.
Kẻ viết mấy dòng này đã nhiều lần phải nghiêng mình kính chào ông một nhà văn mới khởi sắc trên văn đàn (Phụ nữ thời đàm số 23, ngày 14-5-34).
Union Indochine viết: “Còn có gì lạt lẽo bằng truyện một cậu tham trẻ, con nhà "đại gia" yêu một cô gái quê nhu mì, con một nhà nho nghèo chết sớm, và chị một cậu học sinh đau ngực. Thế mà nghệ thuật của Khái Hưng đã khéo dàn xếp được câu truyện rất tầm thường ấy và đã khiến thoi chì của cuộc đời thường nhật trở nên vàng trong một thiên tiểu thuyết kiệt tác…” (Union Indochine).
Những nhận xét trên đây, có còn đứng vững tới hôm nay hay không? Ta cần đọc và phân tích lại những tác phẩm chính đã kê khai trên đây, qua lăng kính phê bình thời nay.
Hồn bướm mơ tiên
Hồn bướm mơ tiên đăng trên Phong hóa từ số 20 (4-11-32) đến số 29 (6-1- 33).
Nguyễn Tường Bách ghi nhớ kỷ niệm một ngày đi chơi chùa Bắc Ninh:
Rời chùa Phật Tích, theo con đường nhỏ, chúng tôi rẽ sang chùa Bách Môn gần đồi Lim… Cũng nằm trên sườn đồi, có đường rộng dẫn vào, chùa Bách Môn kém bề cổ kính; có nhiều cửa to nhỏ ra vào, nhưng đếm đi đếm lại cũng không đủ một trăm.
Song, ngôi chùa này đã được Khái Hưng để ý và chọn làm nơi chàng trai trẻ Ngọc đã gặp chú tiểu Lan trong mối tình của cuốn tiểu thuyết đầu tay.
Liên tưởng đến truyện ngày xưa, Lê Thánh Tôn đã gặp một nàng tiên tại một ngôi chùa nào đó. Câu thơ được truyền tụng tới nay:
Gió thông đưa kệ tan niềm tục,
Hồn bướm mơ tiên lẩn sự đời” [4]
Chùa Bách Môn [5], trên núi Khán Sơn, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, là một trong 10 chùa lớn được Trần Trọng Kim ghi lại trong Phật Lục [6] có lối kiến trúc đặc biệt, dựng khoảng 1136-1137. Thời Trịnh Sâm, được bà Chúa Chè (Tuyên phi Đặng Thị Huệ) chọn làm nơi ăn chay niệm Phật, sau khi bị thất sủng; nên chùa được xây dựng hoành tráng, trăm cửa. Chùa Bách Môn bị tiêu diệt năm 1949, vì tiêu thổ kháng chiến. Năm 1992 dựng chùa mới.
Chùa Bách Môn xưa, ảnh của 
Võ An Ninh, Khuất Tân Hưng sưu tầm
Khái Hưng trong Nửa chừng xuân còn dẫn Mai, Lộc và Huy trở lại pic nic ở chùa, lần này ông ghi cảnh chùa kỹ hơn:
Về phía hữu sườn đồi choai choãi giốc xuống một cái thung lũng hẹp, có cái lạch nhỏ chia đôi hai thửa ruộng chạy dài. Về phía tả đi ngược lên ngọn đồi, các vườn giải thành bậc ruộng, đất vàng. Trong vườn mọc um tùm mà không thành luống, thành hàng, biết bao là các thứ cây: nào mít, nào đào, nào bưởi, nào cam. Thỉnh thoảng trong đám lá xanh lại nhô ra vài cái mái nhà lợp lá gồi màu nâu thẫm. Bức tường đất ngăn những nương vườn cao ấy với đường đi thì hình như chỉ có để làm vì, hoặc để trang điểm cái cảnh thôn giã ấy cho tôn thêm vẻ đẹp mà thôi. Vì không những tường đã thấp, mà nhiều chỗ lại bỏ hổng như để mời khách qua đường bước lên chơiĐến gần: “Chùa làm kiểu chữ khẩu, bốn mặt như nhau, bốn góc có bốn gác chuông, cách kiến trúc rất giản dị mà rất kiên cố. (Phong Hóa số 45)
Năm 1936, Nguyễn Gia Trí vẽ chùa trên bìa báo Ngày Nay số 26 (20-9-36), có lẽ cũng đúng ở vị trí mà Khái Hưng đứng ngắm chùa trong Nửa chừng xuân. Chùa nay đã hóa thành thiên cổ, nhưng may mắn chúng ta còn giữ lại hồn cốt nghệ thuật và văn chương dưới tên Long Giáng trong Hồn bướm mơ tiên.
Chùa Bách Môn dưới mắt Nguyễn Gia Trí, 
Ngày Nay số 26 (20-9-36)
Hồn bướm mơ tiên không chỉ là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, mà còn là câu chuyện đầu tiên của nhiều thứ khác:
- Với tên Hồn bướm mơ tiên, Khái Hưng bước vào tiểu thuyết bằng ngả cao sang nhất: ngả thơ. Thơ cổ. Ông đã đụng tới hồn Việt lâu đời, ông đã thắp nén hương dâng người xưa, những người đã từng bước, từng bước, xây dựng nền văn hóa Việt.
- Hồn bướm mơ tiên đã quét sạch lối văn biền ngẫu cổ điển để đưa tiểu thuyết vào thời hiện đại.
Hồn bướm mơ tiên là tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên không có cốt truyện, không tình tiết éo le, mà chỉ là cuộc đối thoại dài giữa hai người: Lan và Ngọc, một cấu trúc rất mô-đéc, sau này mới có.
Hồn bướm mơ tiên đưa văn hóa Bắc Ninh vào tiểu thuyết: âm giai quan họ thấm vào mỗi chữ, mỗi câu, tung lên không gian, tạo nên một “không khí ca dao quan họ” trong gió mây, đồng ruộng.
Hồn bướm mơ tiên đưa nghệ thuật trình diễn vào tiểu thuyết: dáng dấp đào Mơ, thị Màu, thị Kính… như ẩn như hiện dưới sân chùa.
- Khái Hưng đưa lịch sử vào tiểu thuyết: Long Giáng là dấu ấn thiêng liêng của Thăng Long trên nền đất Phật. Văn Khôi công chúa, trốn cuộc hôn nhân định đặt, đến quy y, đặt chùa lên ngôi vương giả.
- Chú Lan, hậu thân công chúa, hiện lên trong không gian cao khiết, quyến rũ lạ thường: “Trong làn không khí yên tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga, như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch (Ngày Nay số 20).
Một thi pháp mới vừa xuất hiện, giao hòa cỏ cây, tiếng chuông, mùi thiền, hồn Văn Khôi, dáng Thị Màu, trong bối cảnh tình yêu nơi cửa Phật, tạo ra một thứ chữ tẩm văn hóa lịch sử trong mỗi câu, mà tôi xin gọi là mỹ học thiền vị.
- Hồn bướm mơ tiên có tính chất bí mật của trinh thám, thứ trinh thám biết trước thủ phạm của Colombo: Gặp Lan, Ngọc đã nghi ngay: “Sao ở vùng nhà quê mà lại có người đẹp trai đến thế nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng, trong trẻo như tiếng con gái” và chàng cũng tán ngay: “Hay tôi xin phép cụ ở lại chùa tu với chú nhé?Sự nghi ngờ mỗi phút mỗi tăng: “Phải, nếu hắn là gái thì hắn cần gì phải làm thế để che giấu ta chứ… Đích rồi, chính hắn là gái. Ngọc dùng mọi mưu kế để lật tẩy Lan, nhưng luôn luôn bị Lan lật lại, nên cuộc chiến gần như bất phân thắng bại. Mỗi lần thua, càng gieo thêm vào lòng Ngọc sự ham muốn: hắn là trai hay gái? Nghệ thuật pha trộn tu-tục tuyệt vời chính chỗ này: sự tìm kiếm trinh thám Colombo, khiến Ngọc mãi mãi là thanh niên và Hồn bướm mơ tiên không thể nào già, vì những gì Ngọc-Lan sống trong cảnh chùa, trong ngôn ngữ và hành động, chính là hiện hữu, hiện hữu trẻ trung đầy sáng tạo, rất thật; khiến người đọc mỗi lần đọc lại tác phẩm lại khám phá một thứ gì mới trong cái hài hước, cái oái oăm, hóm hỉnh, mà lần trước mình chưa thấy.
Mục đích của Ngọc là khám phá Lan là gái. Nhưng khi đến đích rồi, thì tất cả xoay chiều, từ hài hước chuyển sang bi đát, chia ly.
Có người cho rằng Việt Nam không có tác phẩm “lớn”. Đúng. Hồn bướm mơ tiên phải là bé, bé lắm vì là cuốn sách mỏng dính. Nhưng văn chương không thể lấy bề dày mà đo được. Hồn bướm mơ tiên tuy bé nhưng bé hạt tiêu, chỉ với một mớ chữ nhỏ đủ gói trọn tâm hồn và lịch sử văn hóa một dân tộc: mộc mạc như cuộc sống nâu sồng của chú Lan, cao sang như công chúa Văn Khôi, đến Thị Kính, Thị Màu, những người phụ nữ không tuổi, trọ dưới mái chùa Long Giáng, hiện lên với chúng ta, qua một thoáng chữ.
Có người lại nói: bây giờ đọc lại Tự Lực văn đoàn thấy lỗi thời. Tôi không chắc họ có thì giờ “đọc lại” nên đã nhờ sự chỉ giáo của thành kiến, bởi chữ Việt của Khái Hưng, nhất là trong Hồn bướm mơ tiên, lại viết theo lối truyện không có chuyện, rất mới, bằng lối văn đơn sơ tối đa mà Trang Tử từng nhắc tới trong Nam Hoa Kinh như một điều kiện văn chương toàn bích, cho nên, nếu ai có thì giờ đọc lại hay đọc lại, vẫn thấy sống động, trẻ trung, không lỗi thời, phủ bụi, sau 90 năm xuất hiện.
Thế giới cũ mực tầu giấy bản của Nhị Linh (Khái Hưng) đăng trên Phong Hóa từ số 24 (2-12-32) đến số 35 (24-2-33) [7], chỉ là tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, một tự truyện về bảy, tám năm học chữ Nho. Cách viết nhẹ nhàng, có duyên, thuật lại cảnh một cậu bé (Nhị) Linh sáu tuổi được cha mẹ mời thày đồ về dạy chữ Nho, câu đầu tiên thầy bảo: “Nhồi tư tưởng thánh hiền vào bộ óc dốt nát cũng ví như cất nóc cho nhàTừ đó ngày ngày cậu được thầy nhồi “tư tưởng thánh hiền” cật lực:
Học đi! Thiên là giời! Tôi sợ cuống quýt, không nhìn vào sách mà chỉ chú ý tới cây roi mây, cất giọng nhè nhè đọc đi đọc lại đến mấy chục lần: A… thiên là giời, thiên là giời a… a… Thày lại quát: - Trỏ tay vào mặt chữ chứ. Tích là cho… Tôi vội vàng theo đầu ngọn roi trỏ vào chữ thứ hai: Tích là cho, tích là cho… Khi tôi học hết chữ thứ tám thày bắt tôi học lại hai câu bốn chữ: Thiên tích thông minh: giời cho thông sáng. Thánh phù công dụng: Thánh giúp công dùng. Tôi đã toan hỏi thày công dùng là gì, nhưng trông thấy ngọn roi mây mấp máy lại thôi. May sao như thày đọc thấu ý nghĩ của tôi, khoan thai giảng nghĩa rằng:
- Giời cho thông sáng, thánh giúp công dùng nghĩa là mày mới vỡ lòng thì ông giời cho mày sự thông sáng và ông thánh giúp mày sự công dùng để mày có thể hiểu được đạo thánh hiền.
Tôi cũng không hiểu nhưng vẫn không dám hỏi… Rồi suốt bảy tám năm giời, cứ như thế, thày tôi, cái roi và tôi, tuy không ai hiểu ai mà luôn luôn vẫn phải hiểu nhau. (Ngày Nay số 27)
Trong ba năm đầu, cậu bé đã học thuộc lòng: quyển Hán, quyển Huệ (bộ Bắc sử) và toàn bộ tứ thư: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử: “tôi chỉ học như con vẹt, tuy học thuộc lầu lầu, nhưng chẳng hiểu là trong sách thánh hiền dạy gì? Lời thầy giảng nghĩa thì lại y như lời thánh hiền khiến tôi càng mờ mịt(Ngày Nay số 28).
Điều tra sự thật, ta thấy sau đây là những nguyên do chính đưa đến sự “phản kháng” của trò Linh sau này:
Chính vì bị nhồi nhét tư tưởng thánh hiền như nhồi dồi, nên cậu bé Linh sau này đâm ớn thánh hiền. Lại còn chuyện ông thầy luôn luôn nhắc đến việc “tam thê xuất thế” của đức Khổng mà “thày lại không bao giờ giảng cho nghe vì cái lẽ gì mà các bà vợ khốn nạn kia đã bị đuổi. Tôi lạ một điều nữa là thày đồ tôi học rộng đạo thánh hiền, thế mà rất vô ơn đối với phụ nữ, thực ra công giúp thày ra khỏi vòng nguy nan là ở hai người đàn bàMột người là bà đồ [tần tảo buôn bán nuôi con] và một người nữa là mẹ tôi, vì chính mẹ tôi đã giục cha tôi đi rước thầy về dạy cho anh tôi. (Ngày Nay số 26).
Tôi chắc những chuyện lặt vặt ấy đã là mầm mống của cuộc “cách mệnh” đánh đổ nho học và bênh vực phụ nữ của cậu Linh sau này.
Nửa chừng xuân ra đời trở thành best-seller ngay, tiền bán sách được dùng gây quỹ cho giải thưởng văn chương Tự Lực văn đoàn và tiền diễn kịch Nửa chừng xuân giúp học sinh nghèo [8].
Khái Hưng xây dựng Mai, và Nhất Linh xây dựng Dũng, hai nhân vật tiêu biểu cho một thời đại, không ngừng ở trong tâm người đọc, dù ở thế hệ nào. Mai đã được Lê Thị Lựu đưa vào bức tranh bất hủ của bà, sáng tác tại Pháp, thập niên 60, mà chúng tôi đã mạn phép đặt tên là Nửa chừng xuân.
Nửa chừng xuân ba chữ của Nguyễn Du, rút trong câu thơ Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên hương, bắt đầu một định mệnh: Định mệnh Mai, người con gái thấm nhuần đạo đức Khổng Mạnh, trong buổi giao thời.
Nửa chừng xuân là truyện một cô con gái nhà nghèo quyết định nuôi em ăn học để nên người hữu ích cho xã hội, như lời cha dặn. Mai không là gái tân thời biết chữ Tây. Mai chỉ biết chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Quyết định tự lập ở Mai, là do tiết khí nho phong, chứ không do ảnh hưởng chủ nghĩa cá nhân Tây phương và những quyết định của Mai sau đó, cũng do ảnh hưởng nho giáo.
Ở bước đường cùng, Mai được Lộc giúp đỡ. Đối với Mai đó là cái ơn phải trả. Và khi Lộc hỏi cưới, Mai nhận lời ngay, vì yêu Lộc và nhất là để trả ơn ân nhân như trong các truyện cổ. Khi biết Lộc đưa người mẹ giả đến hỏi mình, dù biết, Mai vẫn nhận lời. Quyết định lấy Lộc với bất cứ giá nào, chỉ có một lý do chính đáng: trung thành giữ lời hứa và đền ơn. Sau này, khi đã bị bà Án đuổi đi, Mai vẫn trung thành với Lộc, thủ tiết với chồng. Đó là những nền móng của đạo Nho.
Bà Án biết Lộc lén lút lấy Mai, bèn dùng quỷ kế chia rẽ hai vợ chồng. Màn đấu trí đầu tiên xảy ra: Mai phải cúi đầu van xin bà tha thứ và chấp nhận nàng, bà Án ra lệnh: nếu chịu về làm vợ bé Lộc thì được. Mai trả lời dứt khoát: “Bẩm bà lớn nhà con không có mả đi lấy lẽ”. Lời cứng đầu tiên, trước khi đại bại. Phải bỏ đi.
Bà Án không phải là người hoàn toàn xấu, bà là người mê muội, vì yêu con thái quá, tìm đủ mọi lỗ hổng trong đạo nho mà bà có thể xài làm vũ khí tấn công kẻ dám “làm hại” đời con bà.
Năm năm sau, qua nhiều thăng trầm, bà Án một lần nữa lại tìm đến Mai, trong thất thế, đánh trận chót: cướp lại đứa cháu trai, vì vợ Lộc hữu sinh vô dưỡng: hai lần sinh con trai đều chết cả. Cuộc đấu trí thứ nhì xảy ra. Bà định chính danh một bà Án, đòi lại cháu đích tôn. Không được, vì con Mai mang họ mẹ, có dính gì đến bà đâu. Bà bèn dí tiền. Hạ sách. Lần này, ở thế thượng phong, Mai đã cho bà Án hiểu thế nào là sự ê chề tuyệt vọng của một con người.
Hai màn đấu trí và màn tả bé Ái chơi ô tô, là ba màn chính trong truyện, cho thấy nghệ thuật đối thoại và miêu tả của Khái Hung đã đạt đỉnh cao: Khái Hưng tả ai cũng được, nhưng khi ông tả bé Ái năm tuổi, chơi ô tô trong vườn, thì thực là tuyệt bút: sự ngây thơ thông minh, hóm hỉnh của bé Ái, việc nó đẩy bà Án ra và giơ tay quệt má sau khi bà ôm hôn nó, càng làm bà thèm nhỏ rãi đứa cháu đích tôn mà bà đã đày đọa, xóa sổ từ khi còn trong bụng mẹ. Chỉ cần một màn này cũng đủ thấy nghệ thuật tả chân của Khái Hưng điêu luyện đến mức nào.
Ở đây không có sự tranh chấp cũ mới, mà là sự đối đầu giữa hai người đàn bà cùng thế hệ cũ: là cuộc giao tranh giữa lòng nhân hậu bác ái và lòng ích kỷ độc ác, là chuyện ác giả ác báo trong đạo Phật.
Trong Nửa chừng xuân, là một Khái Hưng trung dung, chưa quyết định con đường tranh đấu cho cuộc sống mới, ông chỉ đưa ra bộ mặt toàn diện xã hội với bức chân dung Mai nổi trội của người phụ nữ buổi giao thời, độ lượng, hy sinh, thấm nhuần những cái hay của nho học, tìm cách sống tự lập, đưa gia đình qua khỏi nghịch cảnh. Mai sẽ trở thành biểu tượng của người phụ nữ thời Tự Lực văn đoàn.
Gánh hàng hoa in trên Phong Hóa từ số 66 (29-9-33) đến số 88 (9-3-33), Khái Hưng viết chung với Bảo Sơn (Nhất Linh), tác phẩm tiếp tục con đường Nửa chừng xuân, trong bối cảnh thơ mộng của một làng trồng hoa. Vợ chồng Minh Liên đang sống trong hạnh phúc: vợ làm nghề bán hoa nuôi chồng đi học. Ngày Minh thi đỗ, ăn khao với các bạn, uống rượu say, ra về bị ngã dập trán, vết thương động đến mắt. Minh mù. Tác phẩm chiếu vào hoàn cảnh một người đang sáng trở thành mù, hiệu ứng như thế nào? Một đề tài mới lạ, và cũng là tác phẩm đầu tiên Khái Hưng Nhất Linh đưa nội tâm và tiểu thuyết, tìm đến những nhận xét tinh vi về sự biến đổi tâm hồn khi đôi mắt không còn sáng.
Trong Gánh hàng hoa, tính hy sinh nhẫn nại, lòng đại lượng bao dung của Liên tự nhiên như ăn và thở, Khái Hưng Nhất Linh đưa Liên, như cô em gái Mai vào tiểu thuyết, khiến bất cứ ai có người chị hiền cũng có thể thấy ở Liên hình ảnh chị mình: suốt đời hy sinh cho gia đình. Liên không được học nhiều, những thứ triết lý Liên nói ra khuyên chồng đều là triết học thực nghiệm, thứ triết học bình dân nằm trong suy tư, trong tục ngữ. Một hôm, Minh đang ngồi một mình, bỗng “Thoáng ngửi thấy hương thơm sực nức, Minh mơ màng như đương sống trong cảnh mộng. Chàng chớp mau cặp mắt, đăm đăm ngẫm nghĩ.
Không chàng không mơ mộng. Cái mùi thơm vẫn như ở bên chàng, mà chàng lại có thể tách bạch ra được rằng trong đó có hoa móng rồng, hoa hoàng lan, hoa mộc, hoa sói và hoa ngâu. Chàng mỉm cười vì chàng chợt nhớ đến lời nói của Liên mấy tháng trước: là khi mắt ta không trông thấy thì thính quan của ta càng tăng lên. Trong lòng ngờ vực, Minh đưa tay ra xua ở trước mặt, thì đụng phải tay Liên. Chàng giật mình hỏi:
- Cái gì thế?
Tiếng cười khanh khách của Liên đáp lại:
- Em tặng mình bó hoa.
Cử chỉ, hành động của Liên thường âm thầm, tế nhị, như thế. Khái Hưng Nhất Linh đã tạo ra một nhân vật cực kỳ mẫn cảm để chống chọi với những khổ đau ác độc của cuộc đời: người chồng vừa thi đỗ, đầy tương lai, tự nhiên bị mù, co cụm trong mặc cảm với những cơn giận giữ cay nghiệt, ghen tuông vô lý, tưởng tượng ra những cảnh ái ân tội lỗi giữa vợ và người bạn thân nhất hết sức giúp mình, rồi khi sáng mắt trở lại, để trả thù đời, lao như điên vào cuộc sống trác táng trụy lạc. Minh là nhân vật đầu tiên của Khái Hưng Nhất Linh có một đời sống nội tâm phức tạp. Sau này hai ông sẽ dựng nên những nhân vật khác, như An trong Gia đình (Khái Hưng), Nhung trong Lạnh lùng (Nhất Linh), Dũng trong Đôi bạn (Nhất Linh), Hạnh của Khái Hưng, Trương trong Bướm trắng của Nhất Linh, Cảnh trong Băn khoăn của Khái Hưng. Đó là giai đoạn hai của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn trên Ngày Nay. Lúc đó những nhà văn cùng thời với họ vẫn chưa bước vào địa hạt tiểu thuyết nội tâm.
Đời mưa gió in trên Phong Hóa từ số 89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34) Khái Hưng viết chung với Nhất Linh, là một tác phẩm hoàn toàn đi trước thời đại: đào sâu mối tình giữa một thày giáo trường Bưởi, đạo mạo, ghét đàn bà và một cô gái điếm. Một tác phẩm như vậy làm sao tránh khỏi sự lên án, thậm chí người lên án còn là một nhà mác-xít như Trương Tửu.
Tuyết sinh sau Mai, và Liên, nhưng vẫn là ba chị em, không cùng tính nết, định mệnh. Nếu hai người chị, hoàn toàn sống trong lễ giáo nho phong, thủ tiết chờ chồng, dù chồng phũ phàng tệ bạc. Tuyết theo Tây học, có phản ứng quyết liệt ngay từ đầu: thà bỏ cái gia đình chồng khốn nạn, bỏ con, để đi vào đời mưa gió, còn hơn ở lại làm tôi mọi cho sự ngu dốt và tán tận lương tâm.
Tuyết không chỉ là một cô gái điếm, sống nhờ nhân tình, mà nàng còn tự do, nàng là biểu tượng của cái đẹp, không để ai trưng dụng, không dành riêng cho một người, mà nàng đến với mọi người, lúc nào nàng muốn. Bởi vì Tuyết đã khắc vào trái tim sắt đá của nàng một câu châm ngôn: “Không tình, không cảm và chỉ coi những lạc thú ở đời như các vị thuốc trường sinh” (Phong Hóa số 96). Mới đầu, thấy Chương ngây thơ, trong sạch, Tuyết ví Chương như một “cô thiếu nữ, một cô gái đồng trinh”, nàng quyến rũ chơi. Bởi vì nàng “chỉ biết có một thứ ái tình: ái tình xác thịt (Phong Hóa 98). Nhưng tất cả những định kiến vững như đồng về chủ nghĩa xác thịt, rồi cũng sụp đổ trước tình yêu chân thật, dần dần chiếm trọn thể xác tâm hồn.
Tác phẩm đặt vấn đề: một người con gái đã sa ngã, còn có thể đứng dậy được không? Câu trả lời dường như là không. Không. Ở xã hội. Ở con người. Ở người yêu. Mà Không, ở cả chính mình. Tất cả những gì toát ra trong mọi chi tiết hành động, suy nghĩ của Tuyết và Chương, trong cuộc yêu, cuộc sống, dài gần ba năm, đứt quãng bởi những lần bỏ đi, chứng tỏ tất cả đều không buông tha họ, nhất là chính họ.
Đời mưa gió, vì vậy là tác phẩm đau thương nhất trong thời kỳ văn học 1932-45. Nỗi đau của Tuyết, không phải là nỗi đau của Thị Mịch bị hiếp dâm, của chị Dậu bị cường hào đàn áp, mà đến từ chính nội tâm con người, nỗi đau nguyên thủy, vì vậy, nó có giá trị trường kỳ, bất tử.
Đoạn tuyệt của Nhất Linh in trên Phong Hóa từ số 124 (16-11-34), đến số 149 (17-5-35).
Trên trang đầu cuốn sách Đoạn tuyệt, ghi những dòng: “Tặng Khái Hưng, tác giả "Nửa chừng xuân" nhà văn cùng một quan niệm với tôi về xã hội hiện thời; tặng các thanh niên nam nữ đã từng chịu những nỗi khắt khe của cuộc xung đột mới cũ. Nhất Linh.
Đoạn tuyệt, Phong Hóa số 124
Phát súng đầu tiên báo hiệu cuộc đấu tranh mới cũ của Tự Lực văn đoàn là Đoạn tuyệt. Tác phẩm tạo cuộc chiến trong dư luận, vì nội dung không nhân nhượng với chế độ đại gia đình, quyết tiêu diệt cảnh mẹ chồng nàng dâu, hạ huyệt đạo tứ đức tam tòng. Đoạn tuyệt, khác hẳn Nửa chừng xuân, nó cắt đứt với quá khứ cổ hủ, kích động sự chuyển hóa xã hội, buộc con người phải thay đổi suy nghĩ, trước và sau Đoạn tuyệt.
Trên báo Loa, 8-8-35, được Trương Tửu khen ngợi nồng nhiệt.
Sau này, khi phê phán tác phẩm của mình trong cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh xếp Đoạn tuyệt phạm lỗi lầm thứ tư, nghĩa là có ý định dùng "tiểu thuyết làm một việc gì" (viết luận đề tiểu thuyết) [9] là hỏng. Tôi không đồng ý với Nhất Linh.
Đoạn tuyệt, nếu có dở, dưới mắt Nhất Linh, thì không phải vì đó là một cuốn tiểu thuyết chỉ chuyên chú đến luận đề. Nhận xét này của tác giả đã làm giảm giá trị Đoạn tuyệt không ít. Thực ra, nhà văn có quyền dùng tiểu thuyết làm bất cứ việc gì, miễn là viết hay và tự nhiênĐoạn tuyệt và Lạnh lùng đều chống chế độ cũ với cường độ mãnh liệt như nhau, nhưng Đoạn tuyệt mạnh về hành động, Lạnh lùng mạnh về nội tâm, nên sâu sắc hơn, chỉ đơn giản như thế. Còn phần lớn tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, đều viết ra để “làm một cái gì”, tức là có mục đích cải tạo xã hội cả.
Rồi người ta lại trách Đoạn tuyệt dở ở chỗ đã dựng nên cái chết của Thân một cách gò ép. Trách như thế cũng quá đáng.
Đoạn tuyệt không dở như sự nhận định của tác giả và như lời những người khác chê bai. Đoạn tuyệt là tác phẩm thành công đầu tiên của Nhất Linh, được viết với ngòi bút điêu luyện, bố cục chặt chẽ, những chi tiết đan cài một cách có hệ thống, lô gic, cả đến tai nạn đưa đến cái chết của Thân cũng hoàn toàn có lý, không thấy nét xếp đặt, giả tạo nào.
Cốt truyện rất giản di: Loan và Dũng yêu nhau nhưng không nói ra. Dũng theo cách mạng, ly khai gia đình. Loan bị cha mẹ ép lấy Thân vì hai nhà đã hẹn ước từ trước, nhất là cha mẹ Loan nợ cha mẹ Thân một món tiền lớn. Cuộc hôn nhân thất bại vì Loan là gái mới, phải chịu sự đàn áp ác nghiệt của mẹ chồng, sự đồng lõa của chồng và các em chồng. Cuộc xung đột lên tới cực điểm vào một đêm, Loan đang đọc sách trên giường, Thân nằm cạnh chỉ đợi vợ tắt đèn đi ngủ là lẻn xuống nhà dưới với vợ bé. Loan biết thừa, tỉnh bơ. Thân giật quyển sách trên tay Loan vứt đi. Loan cúi xuống nhặt sách lên đọc tiếp như không có gì xảy ra. Thân phát khùng, giơ chân đạp vợ xuống đất, miệng không ngớt hò hét rủa xả. Loan vừa lóp ngóp bò dạy thì bà Phán nhào vô phòng chửi góp, Loan đáp lại, bà Phán tát con dâu túi bụi. Loan gỡ được, lùi lại phía sau, bà Phán hạ lệnh cho con trai đánh tiếp. Thân hùng hục đấm vào ngực Loan, Loan cố gắng lùi vào góc giường. Bà Phán hạ lệnh: Đánh chết nó cho tôi. Chết đã có tôi chịu. Loan vẫn lùi, Thân tiện tay với được cái lọ đồng trên bàn, sấn lên, Loan hoảng hốt vớ con dao díp rọc giấy trên bàn giơ lên đỡ, Thân như con hổ dữ, giáng cái lọ đồng đập xuống, Loan tránh được nhưng ngã ngửa xuống giường tay vẫn cầm con dao. Thân quá đà, ngã sấp lên người Loan… và con dao.
Xen này được mô tả rõ mồn một từng chi tiết, không chỗ nào sơ hở hay giả tạo.
Văn phong và cấu trúc trong Đoạn tuyệt điêu luyện, khác hẳn với cấu trúc rệu rạo của Nắng thu, Nhất Linh viết trước đó.
Đoạn tuyệt là tác phẩm quan trọng, đánh dấu sự thành công của Nhất Linh trong tiểu thuyết, cùng sự tranh đấu quyết liệt cho đời sống mới của Tự Lực văn đoàn và của cả một thời đại.
Đi Tây đăng trên Phong Hóa (từ số 151, 31-8-35, đến số 181, 3-4-36).
Đi Tây của Lãng Du, Phong Hóa 151
Sau thành công của Đoạn Tuyệt, Nhất Linh viết tiếp Đi Tây, dưới bút hiệu Lãng Du, in trên Phong Hóa cùng lúc với Trống mái của Khái Hưng.
Đi Tây là tác phẩm thứ yếu của Nhất Linh. Lúc đầu, ông muốn viết một truyện để nhại Pháp du hành trình nhật ký của Phạm Quỳnh, nên dưới tít Đi Tây đề thêm: “Hay là Pháp du hành trình Nhật Ký (Lấy nụ cười để che sự thực)” và trong chương đầu, ông dùng giọng hài hước, với những tiểu đề Tập làm bồi, Mưu Gia Cát… để kể câu chuyện sau đây: Sau khi xin phép đi Tây trong ba tháng không được, tôi [Nhất Linh] mới nghĩ ra một kế là xin làm bồi tàu, bèn bảo tình nhân cho mượn cái mâm đồng và hai cái cốc để tập làm bồi… Rồi tôi viết đến 10 đơn xin phép đi Tây mà không được trả lời, mới nghĩ ra một kế, thay vì viết thư cho quan Thống sứ [cai quản Bắc kỳ] tôi cầm đơn thẳng đến quan Công sứ [cai quản tỉnh nhà] nói giọng Tây bồi, xin đi học nghề chụp ảnh.
Ngặt vì Nhất Linh không có tài viết văn hài hước nên truyện ông viết không buồn cười mấy, và cũng chỉ viết giọng này trong chương đầu. Sau đó, ông chuyển sang giọng sầu não kể cuộc chia ly đầy nước mắt với cô nhân tình, hai người cùng nốc cạn bốn chai sâm banh…
Qua cái tít Đi Tây, độc giả chờ đợi một hồi ký viết về thời du học ở Pháp của nhà văn Nhất Linh năm 1927-1930. Chuyến đi ghé qua những cảng Singapore, Colombo, Aden, Djibouti, kênh Suez, Port Said, Stromboli rồi đến Marseille, bao nhiêu danh lam thắng cảnh, mà chỉ vắn tắt có vài hàng cưỡi ngựa xem hoa. Nhất Linh kể chuyện đi Tây nhưng ngại, không muốn để lộ đời tư: Chuyện chia ly với cô nhân tình trật khấc vì ai cũng biết ông Tam đã có vợ ở nhà. Rồi ông lại giấu tên tỉnh Montpellier, nơi ghi tên học, giấu việc chung nhà trọ với Nguyễn Mạnh Tường, những chi tiết nhỏ này làm độc giả thất vọng. Tại sao Nhất Linh không nhân chuyến đi này, viết một cuốn sách giá trị như Hải trình chí lược của Phan Huy Chú? Thật uổng.
Trống mái
Trống mái, Phong Hóa 152
Tiểu thuyết Trống mái in trên Phong Hóa (từ số 152, 6-9-35 đến số 173, 7-2-36) là tác phẩm có tính cách triết học của Khái Hưng, một tác phẩm mô-đéc, tiếp tục con đường tư tưởng táo bạo đã thấy trong Đời mưa gió và Hương gây mùi nhớ. [10]
Trống mái là truyện Trương Chi tân thời, là một bản tình ca mùa hè, nhẹ nhàng mà đớn đau, tàn ác, đưa đến cái chết; nhưng tính chất bi đát trong tác phẩm Khái Hưng luôn mỏng như mây thu. Tình yêu ở đây chỉ có một chiều: Vọi, thuyền chài, vô học, yêu tha thiết cô gái tân thời, có học, nhà giàu ra bãi biển nghỉ hè. Nhưng Hiền không yêu anh mà chỉ yêu cái thân thể lực sĩ đẹp tuyệt vời của anh, một thứ tình hoàn toàn vụ thể xác.
Hiền rủ Vọi đến dự buổi tiệc trà ở nhà nàng, với những người bạn sang trọng tân tiến, nghe nàng đánh vĩ cầm. Họ nhìn Vọi như một người rừng man di mọi rợ. Hiền muốn thách thức bọn sinh viên trường thuốc, trường luật, đang mê nàng? Hay nàng chỉ ác với Vọi, như một hành động vô cố?
Vọi nghèo, quê mùa, đi chân đất, không biết chữ, nhưng có kiến thức sâu rộng về biển cả, về đất trời, nhờ kinh nghiệm sống. Vọi có tâm hồn nghệ sĩ, cao thượng, hiểu thiên nhiên và quý trọng môi trường. Vọi có những nhận xét tinh vi, Vọi nhìn thấy “bàn chân đặt lên cát ướt sáng loáng như bạc” dưới ánh trăng. Mỗi lần Vọi thưa cô, thưa bà là anh dạy cho  cho , một bài học về biển cả, khí hậu, động vật, thực vật, môi trường. Bọn trường thuốc, trường luật, bên cạnh anh, chỉ là những kẻ ngây ngô, đần độn. Còn Hiền, nàng là người phụ nữ thông minh, tân tiến, có học, có thể thao, nhưng tâm hồn thị thành, đầy bụi bậm, lạc hậu và phân biệt giai cấp. Trống mái là bản tình ca có ý nghĩa đấu tranh giai cấp và bảo vệ môi trường sớm nhất của văn học Việt Nam, ở mức độ tinh vi, đẩy thiên nhiên lên vị trí tột cùng, một thứ tạo vật phải được hiểu và kính nể.
Ba câu trích dưới đây cho thấy sự biến thiên không ngừng trong bút pháp Khái Hưng:
- Khi nhìn bướm: “hai con bướm đuổi nhau, gặp nhau rồi lại xa nhau, lúc hiện ra, lúc biến đi, lúc một con vơ vẩn bay tìm bạn: hai điểm hoạt động trong một cảnh hầu hoàn toàn yên lặng như thu lấy tất cả tâm trí của HiềnỞ đây Khái Hưng dùng thủ pháp trữ tình thầm lặng: chỉ với hai chữ hoạt động đặt trong bối cảnh hoàn toàn yên lặng, đã đủ thu hút cả tâm trí Hiền, tại sao? Bởi vì, trong không khí yên lặng, sự hoạt động của hai con bướm kích thích trí tưởng tượng của Hiền, thu hút hết tâm trí nàng. Khó có cảnh làm tình nào thanh cao hơn, bay bướm hơn.
- Khi nhìn con thằn lằn: “Trông nó như con tắc kè, nhưng da tắc kè xù xì và xám xịt như da cóc, còn loài thằn lằn ở Sầm Sơn, da lưng mầu nâu tía điểm những chấm xanh, chấm đỏ. Khi nó chống hai chân trước đứng rình mồi, cái đuôi và hai chân sau rất thấp, ẩn trong cỏ rậm, thì trông nó giống như một con chim sẻ với đôi cánh nâu và cái bụng trắng. Nhất lúc nhảy lon ton đuổi bắt bướm, nó lại càng giống hệt lắmVới con thằn lằn, đôi mắt Khái Hưng trở thành ống kính của một nhà khoa học quay phim tài liệu ghi nhận những khía cạnh thơ mộng và chính xác nhất của đối tượng.
- Khi ngắm trăng hạ tuần trên biển: “Rặng đèn điện trên đường cao chiếu ánh xuống những đợt sóng thành những hình trạng rất lạ lùng: Có lúc trông giống một cái tầu bằng kim cương chạy ngang một quãng dài theo ven bờ, rồi vụt biến vào trong đêm tối, chìm đắm xuống đáy biển đen. Có lúc giống một đàn quái vật vẩy dát lân tinh. Chúng gầm hét đuổi nhau, nuốt nhau, biến đi, hiện ra mãi mãi không cùngỞ đây, Khái Hưng dùng ánh đèn đường thay ánh trăng chiếu xuống sóng biển, tạo những hình ảnh lạ kỳ chưa từng thấy mà ánh trăng không thể làm được. Đó là những nét trác tuyệt trong văn chương Khái Hưng: ông không chỉ đơn thuần tả một cảnh, mà trong những đoạn văn hay, ông luôn luôn lồng vào câu chữ, một cảnh khác ẩn giấu, khiến người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng của mình, mới khám phá ra được. Văn Nhất Linh và Thạch Lam đã rất hay rồi, nhưng họ tả cảnh đơn hoặc đượm tình, chứ chưa đi tới chỗ, tả một cảnh này mà kỳ thực bày ra một cảnh khác, như Khái Hưng.
Vũ Ngọc Phan khen văn Trống Mái trác luyện và bát ngát, nhưng ông vẫn thấy đây chỉ là cuốn tiểu thuyết lý tưởng và Hiền say mê một chàng “đánh cá ngốc”: “Vọi ngốc đến nỗi nhìn Hiền đánh răng lại tưởng nàng nhuộm răng trắng”. Khổ lắm. Vọi đâu có ngốc. Khái Hưng chỉ muốn đối chất hai thứ văn minh: văn minh nguyên thủy của người đánh cá chưa hề tiếp xúc với xã hội tiêu thụ, và văn minh tân tiến khoa học của người có tên hiền mà lại ác, của bọn răng trắng mà bụng đen. Đối với Khái Hưng, bọn sinh viên thuốc, luật, ở phòng khách nhà Hiền, dùng tiếng Pháp để nói xấu Vọi rồi cười khả ố, bọn đó mới thực là ngốc, mới man di mọi rợ, vô giáo dục.
Tiểu thuyết lịch sử
Trước khi giới thiệu Tiêu Sơn tráng sĩ, tôi muốn nói qua về tiểu thuyết lịch sử:
Trong văn học ta, trừ hai cuốn Nam triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm và Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Thì Chí, xuất hiện đầu và cuối thế kỷ XVIII, ta có rất ít tác phẩm tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng. Nhưng hai tác phẩm này, phản ảnh lịch sử, do các trí thức cùng thời viết ra, bổ sung cho lịch sử chính thống.
Tác giả Gia Long tẩu quốc cho rằng: “nước ta chỉ mới có lịch sử đại lược” mà dân ta đối với lịch sử nước nhà, thời lại “lơ đãng như kẻ bàng quan, nguội lạnh như người ngoại quốc” vì thế nên ông phải viết lịch sử tiểu thuyết, để có thể “tả đủ các nhơn vật, sơn xuyên, tánh tình ngôn ngữ, tả tới hỉ, nộ, ái ố, trí não tinh thần, tả tới phong cảnh, cỏ hoa… làm rung động hồn người; vì lẽ đó mà Tân Dân Tử Nguyễn Hữu Ngợi sáng tác Gia Long tẩu quốc, năm 1929. Nhưng thú thật, truyện của tiên sanh dài dòng đọc hơi chán, chỉ những màn tiên sanh tả các trận đánh giáp lá cà là vô cùng hấp dẫn.
Năm 1934, Khái Hưng viết Tiêu Sơn tráng sĩ, sau đó, nhiều loạt tiểu thuyết lịch sử ra đời, như Vua Hàm Nghi (1935), Vua Quang Trung (1940), Triều Tây sơn (1942)… của Phan Trần Chúc, Bà Chúa Chè (1938), Loạn kiêu binh (1939), Chúa Trịnh Khải (1940)… của Nguyễn Triệu Luật, là những tác phẩm thường được gọi là ký sự lịch sử. Loại sách này gần với truyện giải trí, bởi vì văn thì tầm thường mà chi tiết lịch sử cũng đáng ngờ. Những tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai như Ai lên phố Cát, Chiếc ngai vàng, Chiếc hột mận… nhiều chỗ khá hấp dẫn, nhưng cũng chỉ gợi trí tò mò, chứ chưa đem lại điều bổ ích tinh thần.
Tiểu thuyết lịch sử phải đến An Tư, Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, thập niên 40, mới được viết công phu, chặt chẽ, văn phong chọn lọc, chữ đẹp và sang; tác phẩm đắc sắc, tạo được không khí thời đại Trần Hưng Đạo, có tư tưởng hậu thuẫn, được sáng tác trong thời điểm tiền kháng chiến chống Pháp, gián tiếp kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân. Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết lịch sử với mục đích gần giống Khái Hưng: để kích động lòng người đứng lên chống Pháp.
Năm 1955, Hoài Điệp Thứ Lang tức Đinh Hùng viết Kỳ nữ Gò Ôn Khâu, ta lại có một hình thức hoàn toàn mới về tiếu thuyết lịch sử, xuất phát từ ánh hưởng Tiêu Sơn tráng sĩ, nhưng là cuốn tiểu thuyết lịch sử bay bướm, lãng mạn, nhiều đoạn văn thơ mộng tuyệt vời. Đinh Hùng, nhà thơ, chiếu ống kính vào những tình tiết bí mật, tìm kho tàng của người Tàu chôn từ thời Mã Viện, xông vào những trận đánh ác liệt của quân đội Mường, Thổ vùng châu Ma Lục, phá quân Nguyên. Kỳ nữ Gò Ôn Khâu xuất quỷ nhập thần, phi ngựa như bay trên vòm trời Việt Bác, có hấp lực của một tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, nhưng chỉ có tính cách giải trí, ly kỳ, rùng rợi, không mang ý nghĩa chính trị và không ẩn giấu một tâm sự não nề như Phạm Thái trong nội tạng Khái Hưng.
Là người đến sau, Nguyễn Mộng Giác hoàn toàn thất bại trong tác phẩm Sông Côn mùa lũ, vì ông không rõ những quy luật của tiểu thuyết lịch sử:
Tiểu thuyết lịch sử nằm trong quy luật thứ ba của tiểu thuyết mà Bakhtin gọi là Thời không gian (chronotope): nghĩa là thời gian và không gian trong tiểu thuyết phải được tổ chức một cách đặc biệt,
- Tiểu thuyết lịch sử, trước tiên, phải tạo được thời gian và không gian lịch sử, tức là phải trình bày được khung cảnh và ngôn ngữ thời bấy giờ. Ngôn ngữ là điểm quan trọng nhất, dôi khi chỉ một mình ngôn ngữ cũng có thể tạo được bối cảnh và hoàn cảnh. Ở đây Nguyễn Mộng Giác lại cho Quang Trung ăn nói như học trò miền Nam trước bảy lăm, cho Huệ tỏ tình rụt rè như Giác thời trẻ, là rất hỏng. Huệ làm sao biết được ngôn ngữ của thế kỷ XX mà nói? Vì thế Sông Côn mùa lũ, dù viết về thời Tây Sơn khởi nghiệp, nhưng không có một chút không khí Tây Sơn nào cho các nhân vật thở và người đọc bị đẩy ra ngoài ngay từ trang đầu.
- Tiểu thuyết lịch sử vẫn theo Bakhtin, có yếu tố chủ chốt là con đường. Phải lấy bối cảnh là con đườngchuyển động, và hành động, phải xuất quỷ nhập thần. Les trois mousquetaires (Ba người ngự lâm pháo thủ) của Alexandre Dumas là một mẫu mực. Nhưng truyện của Dumas, thiên về hành động và âm mưu ly kỳ mà không đi sâu vào tâm trạng con người. Vì vậy, đọc Tiêu Sơn tráng sĩ, là người Việt, ta vẫn thích hơn, vì tác phẩm thấm nhuần văn hóa, lịch sử, địa lý nước ta và văn Khái Hưng đẹp và bay bổng hơn văn Dumas.
- Tiểu thuyết lịch sử phải tạo được mối liên hệ giữa con người và vùng đất lịch sử xảy ra câu chuyện. Ở đây là vùng Sơn Nam, Kinh Bắc, với những nhân vật thông thuộc từng ngõ ngách, xóm làng, từng khúc sông, bến đò và toàn bộ chùa chiền… như trong túi họ. Sau khi đọc Tiêu Sơn tráng sĩ, nếu bạn lên chơi chùa Tiêu Sơn, chắc chắn bạn sẽ thử tìm xem ngôi mộ nào là cửa hầm bí mật nơi Nhị Nương ra vào tiếp tế cho Quang Ngọc và đồng bạn.
- Tiểu thuyết lịch sử còn phải lột được đời sống con người trong giai đoạn lịch sử ấy, Khái Hưng không những cho ta sống lại những trận đấu, những buổi trà đàm, những bữa rượu trong tửu quán bên đường, những câu thơ ngâm vịnh thanh tao trong gia đình quyền quý… mà ông còn khắc tạc phong cách một nhà thơ lớn cuối thế kỷ XVIII có quan niệm tự do tình ái và đổi mới thi ca: Phạm Thái.
Tiêu Sơn tráng sĩ tiên tri một cuộc lên đường, cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử hay nhất trong văn học Việt Nam, hội tụ những yếu tố chính cần phải có của một tiểu thuyết lịch sử. Tạo được không khí lịch sử cuối thế kỷ XVIII, bởi Khái Hưng thông thạo ngôn ngữ, phong tục và lịch sử thời Lê Mạt, thành thạo việc soạn thảo thư, văn… biền ngẫu.
Tiêu Sơn tráng sĩ
In trên Phong Hóa từ số 129, 21-12-34 đến số 184, 24-4-36), là tiểu thuyết dài nhất của Khái Hưng. Có người cho rằng Tiêu sơn tráng sĩ là truyện về Trần Quang Ngọc, tôi cho là truyện Phạm Thái. Vậy Phạm Thái là ai?
Phạm Thái (1777-1813) quê xã Yên Thường, huyện Đông Ngạn (phủ Từ Sơn, Bắc Ninh). Cha là Phạm Đạt, làm quan nhà Lê tới chức Thạch Trung Hầu, khi Tây Sơn dứt nhà Lê, Hầu khởi binh chống lại, bị thua. Thái nối chí cha, bị truy nã, phải trá hình đi tu ở chùa Tiêu Sơn (thuộc huyện Yên Phong, Bắc Ninh), lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư. Đồng chí là Trương Đăng Thụ đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón Thái lên Lạng Sơn, chẳng bao lâu, Thụ mất. Phạm Thái về xã Thanh Nê (thuộc huyện Ý Yên, Nam Định), quê Thụ, viếng bạn và ở lại ít lâu. Cha Đăng Thụ muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho, nhưng mẹ nàng không ưng. Quỳnh Như tự vận chết, Phạm Thái buồn bã uống rượu li bì, nhận hiệu Chiêu Lỳ, mất năm 37 tuổi [11].
Nguyễn Huy Lượng, trước làm quan nhà Lê, sau thờ Tây Sơn, soạn bài Tụng Tây Hồ phú, ca tụng cảnh Tây Hồ (Hà Nội) ngầm ý tán dương công đức Tây Sơn. Phạm Thái xem, bèn theo đủ số 85 vần của bài ấy, làm Chiến tụng Tây hồ phú, công kích Nguyễn Huy Lượng. Ngoài ra còn soạn nhiều văn thơ nôm và cuốn Sơ kính tân trang (Lược gương kiểu mới) (1804) kể truyện tình của ông với Trương Quỳnh Như[12].
Tiểu thuyết lịch sử là thể loại Khái Hưng ấp ủ từ Phong Hóa, số 1 với Trận đánh phương Nam. Rồi sau đó liên tiếp trên một số truyện ngắn khác như: Véo von tiếng địch (Phong Hóa số 42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương, phỏng theo truyện Trương Chi. Hoàng Oanh (Phong Hóa số 97, 11-5-34) viết về công nương Chiêm Thành họ Số, Chúa Thao (Phong Hóa số 122, 2-11-34), là con chúa Trịnh. Đầu năm 1935, Khái Hưng đề cập đến cuộc cách mạng dưới thời nhà Hồ, trong truyện ngắn Linh hồn thi sĩ, trên Phong Hóa số 134, số Xuân (30-1-35), viết về thi sĩ Trần Can, tôi trung nhà Trần, làm thơ chống Hồ Quý Ly, bị bắt nhưng được tha với điều kiện từ nay không làm thơ chửi nhà Hồ nữa. Trần Can bằng lòng trong hai năm, rồi một buổi, chàng sáng tác bài trường hận ca kể lại tội ác của vị hôn quân và sự lầm than của trăm họ. Lời cuối, Trần Can dành cho Quý Ly, trước khi uống thuốc độc tự tử:
Hỡi Hồ Quý Ly! Ta đã để cho ngươi cắt đứt lòng trung với vua của ta, ta đã để cho ngươi chiếm đoạt trái tim vàng của ta. Nhưng còn linh hồn ta, ta cam đoan rằng, muôn nghìn năm không ai ức chế nổi tấm linh hồn tự do của nhà thi sĩ tự do.” (Phong Hóa số 134, 30-1-35).
Những lời này chính là khúc dạo đầu bản hùng ca Yên Bái, 1930: khi Khái Hưng bị mật thám Tây đến khám nhà đúng đêm giao thừa, và là điểm hẹn của nhà văn với lịch sử.
Tiêu Sơn tráng sĩ vừa là một tiểu thuyết lịch sử, vừa thầm kín xướng lên cuộc “khởi nghĩa chống Tây”, dựa theo câu chuyện nổi dậy của Phạm Thái, nhưng Khái Hưng đưa Quang Ngọc lên làm chủ soái, kín đáo đề cao vai trò lãnh đạo của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, và tự mình rút xuống làm em, trong vai trò Phạm Thái, một chiến sĩ thi nhân lỗi lạc.
Tiêu sơn tráng sĩ, Phong Hóa 129
Tiêu sơn tráng sĩ kết hợp truyện tình Phạm Thái - Quỳnh Như với hành động cách mạng của nhóm tráng sĩ cựu thần nhà Lê: Trần Quang Ngọc giết vị sư dâm đãng trụ trì chùa Tiêu Sơn, rồi cùng Nhị Nương, Phạm Thái và hơn nghìn tráng sĩ, lập đảng Tiêu Sơn, nổi lên chống Tây Sơn. Phạm Thái được điều động đưa bà Lê Hoàng Phi, vợ vua Chiêu Thống lên Lạng Sơn ẩn náu, liên kết với Trương Đăng Thụ, trấn thủ Lạng Sơn lập địa bàn phía bắc. Nhưng Thụ bị đầu độc chết, Thái đưa xác bạn về chôn ở Thanh Nê, quê Thụ, cứu được Long Cơ, vợ Thụ định chết theo chồng, và được Trương Quỳnh Như em gái Thụ, yêu, nhưng khuyên chàng tiếp tục việc lớn. Trong khi Phạm Thái ở Lạng Sơn, hai đảng viên Tiêu Sơn, lợi dụng Quang Ngọc đi vắng, tự tiện đánh úp phủ Từ Sơn. Thua. Đảng bị truy lùng tận diệt.
Phạm Thái về Kinh Bắc mới hay đảng Tiêu Sơn đã vỡ, chàng quay xuống Bắc Thành đúng kỳ thi cống sĩ, gặp lại Nhị Nương và Quang Ngọc. Nhị Nương tổ chức phá trường thi, nhưng bại lộ. Quang Ngọc cử Thái về Sơn Nam lập lại chi đảng. Gặp toàn bọn hủ nho, Thái chán nản trở về Thanh Nê, gặp lại Quỳnh Như, viết tuyệt tác Sơ kính tân trang. Quỳnh Như bị mẹ ép duyên, tự vận trong ngày cưới.
Tiêu sơn tráng sĩ đăng trải dài trên Phong Hóa trong gần hai năm, với những trắc trở lớn: lần đầu Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng, lần sau bị đóng cửa vĩnh viễn. Đảng Tiêu Sơn là hình ảnh của đảng Tự Lực. Bốn tráng sĩ Quang Ngọc, Nhị Nương, Phạm Thái, Lê Báo tượng trưng cho bốn cột trụ xây dựng Tự Lực văn đoàn. Những thất bại của đảng Tiêu Sơn tiên đoán những thất bại của Tự Lực sau này.
Tây Sơn, dưới thời Quang Toản - 10 năm sau khi Quang Trung băng hà - triều đình rối loạn, các quan giết hại lẫn nhau, Nguyễn Vương đánh thúc Quy Nhơn, cựu thần nhà Lê nổi lên ở Bắc. Tây Sơn, đây đồng nghĩa với Tây. Và nước Nam dưới thời Pháp thuộc giống như nước Nam đại loạn thời Lê mạt. Tráng sĩ Nhị Nương mưu lược, xuất quỷ nhập thần, xác định tinh thần nam nữ bình quyền mà Khái Hưng luôn luôn chủ xướng. Đảng Tiêu Sơn nổi lên đánh Tây (Sơn) và thất bại, vì chính Khái Hưng và có lẽ cả Hoàng Đạo, cũng đã biết trước, nhưng vẫn phải làm.
Khái Hưng tổng hợp hai tâm hồn thi sĩ và hiệp sĩ của Phạm Thái - Nhị Nương. Tác phẩm biểu dương cái nhìn nghệ thuật của Khái Hưng về cuộc cách mạng chống Pháp của một văn đoàn trong giai đoạn tang thương của lịch sử, để kích động việc đứng lên giải phóng dân tộc. Vì vậy, quan niệm đấu tranh của những nhân vật trong đảng Tiêu Sơn chính là quan niệm của văn đoàn Tự Lực, như lời Phạm Thái:
Ta chỉ nên trông cậy vào sức ta, chứ đừng tưởng mong chờ ai hết” [13].
Cuối cùng, thất bại, họ phải chia tay, Quang Ngọc nói với Nhị Nương:
Chúng ta chờ dịp để hành động. Hành động là phận sự của chúng ta. Không hành động thì đời chúng ta không còn có nghĩa gì nữa.
Lúc từ biệt, Nhị Nương do dự:
 – Nhỡ không còn được hội ngộ?
- Cũng chẳng sao. Vì linh hồn chúng ta bao giờ cũng ở bên nhau… Vậy thì chúng ta có ở xa nhau đâu? Tình bằng hữu của chúng ta đã thành một sự thiêng liêng[14]
Phải chăng đó chính là lời Khái Hưng nói với bạn trong đêm chia tay mùa thu năm 1940, trên căn gác nhà Thạch Lam bên Hồ Tây, trước khi Nhất Linh trốn sang Tàu?
Sau khi khảo sát hầu như toàn bộ tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đăng trên Phong Hóa, chúng ta có thể kết luận rằng, cũng như đối với truyện ngắn, Khái Hưng đã làm tròn vai trò của người lãnh đạo tiểu thuyết Việt Nam trên con đường mới của nghệ thuật và tư tưởng.

Chú thích:
[1] Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Tập I, Nxb Văn Nghệ, California, 1989, trang 269.
[2] Nguyễn Hiền, Tiểu thuyết và truyện ngắn Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và cuối cùng I, Phượng Hoàng, California 1997, trang 304-305.
[3] Phụ nữ thời đàm, 18-12-33.
[4] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam một thế kỷ qua, Hồi ký cuốn một, 1916-1946, Nxb Thạch Ngữ, California, 1998, tái bản 2002, trang 81.
[5] Trong bài Chùa Bách Môn, đặc điểm kiến trúc và những giá trị nổi bật, in trên mạng tapchikientruc, Pgs-Ts Khuất Tân Hưng viết rất rõ về kiến trúc cổ của chùa này.
[6] Nxb Lê Thăng, Hà Nội 1940.
[7] Trong đó có truyện ngắn Ông đồ Bể (Phong Hóa số 32)).
[8] Phong Hóa số 85 (11-2-34), trong khung quảng cáo, ghi: Tiền bán Nửa chừng xuân, tác giả sẽ biếu vào Tự Lực văn đoàn. Phong Hóa 101 (8-6-34) nhắc lại: tiền thưởng giải Tự Lực Văn Đoàn năm 1935, là tiền bán sách Nửa chừng xuân. Phong Hóa 166 (13-12-35) đăng tin: Tự Lực văn đoàn và tác giả cho phép ban kịch Nguyễn Xuân Phúc diễn Nửa chừng xuân để lấy tiền giúp học sinh nghèo ở trường Bảo hộ. Phong Hóa 185 (1-5-36) quảng cáo Nửa chừng xuân bán đến nghìn thứ chín và Gánh hàng hoa nghìn thứ bảy. Ngày Nay số 139 (3-12-38) quảng cáo: Nửa chừng xuân bán đến nghìn thứ 15. Về vở kịch, theo lời tường thuật của Lê Ta (Thế Lữ) trên Phong Hóa số 167 (20-12-35):
Trong khoảng ba giờ đồng hồ trên sân khấu người ta dựng một cuốn tiểu thuyết "Nửa chừng xuân" thực lớn. Nhà soạn kịch là một tay huyền bí cứ lần lần dở hết trang nọ đến trang kia. Cho nên những cảnh những tình những lời nói trong truyện của Khái Hưng nhất nhất thấy nhắc lại rất đúng (…) Cô Mai (bà Yến Hồ) thực là ngôi sao trong ban kịch Nguyễn Xuân Phúc. Vai này đóng rất tự nhiên. Sự nhẫn nhục, lòng yêu thương, chí quả quyết, thường diễn ra được trong từng cử chỉ, từng lời nói, và - đó là một điều hiếm có - trong sự yên lặng.
Những lúc đối đáp với bà Án, mẹ Lộc, ở hai cảnh thứ ba và thứ sáu là những chỗ người ta thấy rõ tài của bà Yến Hồ. Giọng nói lúc kính cẩn, lúc lo sợ, lúc kiêu hãnh, lúc van lơn, lúc tức giận.(…)
Vai đàn bà thứ hai trong "Nửa chừng xuân" là vai bà Án (do bà Lê Hai đóng) cũng đáng khen. Chững chạc, đài các, khôn khéo, cay nghiệt (…) rõ ra một người đàn bà cố chấp của nền nếp xưa.
[9] Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết, Đời Nay, 1969, Sài gòn, trang 17.
[10] Phong Hóa số 127 (7-12-34).
[11] Theo Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, in lần thứ 6, Sài Gòn 1960, trang 304.
[12] Dương Quảng Hàm, Việt Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, in lần thứ 6, Sài Gòn 1960, trang 304.
[13] Tiêu sơn tráng sĩ, Phượng Giang, bản chụp in lại ở Hoa Kỳ, trang 147.
[14] Tiêu sơn tráng sĩ, Phượng Giang, bản chụp in lại ở Hoa Kỳ, trang 418.
Tứ Ly và nghệ thuật trào phúng
Nghệ thuật trào phúng khởi đầu trên Phong Hóa từ số 19 và 22 với hài kịch của Hoàng Tích Chu [1]. Nhưng Hoàng Tích Chu mất sớm, người đứng lên tiếp tục là Tứ Ly (Hoàng Đạo) với loạt Tuồng cổ tân thời, thuần túy trào phúng, đăng trên Phong Hóa từ số 38 đến số 42.
Bẵng một thời gian, đến Phong Hóa số 124, trào phúng xuất hiện lại trên Phong Hóa, vẫn dưới ngòi bút Tứ Ly, nhưng lần này, dưới hình thức châm biếm có chủ đích, sức công phá mãnh liệt hơn, kéo dài đến Phong Hóa số 190, số cuối cùng.
Tứ Ly mở đầu việc chống đối quan trường dưới thời nhà nước bảo hộ với những loạt bài: Tam quốc tân thời diễn nghĩa, Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh chuồn, Đi xem mũ ni  Đi xem mũ giấy.
Về mặt hý họa, Tô Ngọc Vân thay Nguyễn Gia Trí trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35), rồi ông đi Nam Vang, Nguyễn Gia Trí trở lại phụ trách Phong Hóa từ số 160 đến số chót 190 và tiếp tục trên Ngày Nay [2].
Với hý họa Nguyễn Gia Trí, việc chống phá bằng tranh mới thực sự khởi sắc. Sự kết hợp văn và vẽ của Tứ Ly và Gia Trí làm gai mắt chính quyền thuộc địa, Phong Hóa luôn luôn gặp khó khăn, cũng vì tác phẩm của hai người, nhưng không phải vì họ mà Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, như người ta vẫn tưởng.
Tứ Ly và thể văn hài hước
Tứ Ly bắt đầu viết kịch hài hước trên Phong Hóa rất sớm, với Tuồng cổ tân thời, đăng trên Phong Hóa từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (4-4-33). Đây là một vở tuồng cổ, mô tả trận chiến hai phe: Một bên là Hoàng Tăng Bí tiên sinh [3], oai phong lẫm lẫm, bên tả có Nguyễn Khắc Hiếu, bên hữu có Nguyễn Văn Vĩnh, phò tá, cầm đầu đạo quân tiền bối ra trận. Một bên là bọn tiểu yêu Phong Hóa nhố nhăng, cùng với chủ soái Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) rầm rộ ra khiêu chiến. Hoàng tiên sinh và lực lượng nho phong, sau một hồi tỷ thí, thua trận chạy có cờ (Xem chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam). Tuồng cổ tân thời là một thành công, sáng tạo lối kịch hài hước mới mẻ, trẻ trung, lần đầu tiên ở Bắc. Trước đó có kịch Chén thuốc độc (1921) của Vũ Đình Long, thuộc loại tân-cổ giao duyên. Nhưng Tuồng cổ tân thời chỉ có mục đích mua vui, chế giễu các cụ cổ, chưa chống Tây.
Một năm rưỡi sau, trên Phong Hóa, Tứ Ly đưa ra ba loạt hài hước mới: Cổ tích tân thời, Tam quốc tân thời diễn nghĩa, và nhất là loạt bài phỏng vấn giả tưởng, với tít: Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu- Đi xem mũ cánh chuồn [4].
Sau số 150, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng (lý do sẽ nói sau). Khi báo ra trở lại, Tứ Ly bắt đầu loạt phóng sự tòa án: Trước vành móng ngựa [5], và loạt bài Đi xem mũ cánh chuồn còn thêm hai kỳ nữa, với bài phỏng vấn Phạm Lê Bổng và Bùi Bằng Đoàn [6]. Rồi loạt phỏng vấn Đi xem mũ ni [7] và Đi xem mũ giấy [8]. Tất cả những sáng tác này thuộc vào loại hài hước hoặc bi hài, sở trường của Tứ Ly Hoàng Đạo.
Cổ tích tân thời là truyện đầu tiên, đăng trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), lấy giọng Tam quốc kể "tích" Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Chuyện rằng: Lãng Nhân "đánh" Tùng Viên (một nhà báo già), rồi hơi ngượng, tự giận mình, quyết đi tìm một tên nhà báo trẻ đánh cho đỡ ngượng. May thay, về nhà soi gương thấy một tên ngờ ngờ đứng trước mặt: Mộng Ngư [bút hiệu Lãng Nhân] bèn lấy ba-toong nện cho y một trận, vỡ tan gương!
Cổ tích tân thời chỉ có tính cách mua vui, có lẽ vì còn e dè mũi dùi kiểm duyệt, chưa dám thực sự "vào đề". Bỗng một chuyện không ngờ xẩy ra: nhà nước bảo hộ quyết định bỏ ty kiểm duyệt!
Bỏ ty kiểm duyệt
Tháng Giêng năm 1935, một tin cực kỳ hấp dẫn được đưa lên đầu trang nhất báo Phong Hóa số 131 (4-1-35), và được long trọng đóng khung như ai tín với tít "Bỏ ty kiểm duyệt: "Bắt đầu từ 1 Janvier 1935; ty kiểm duyệt không còn nữa"Kèm với "tin buồn" này, toàn ban biên tập "nhất trí" cùng gửi lời điếu lâm ly tiễn đưa Ty kiểm duyệt về cõi vĩnh hằng, dưới ký 11 tên: Tứ Ly, Nhất, Nhị Linh, Tú Mỡ, Thế Lữ, Lê Ta, Thạch Lam, Khái Hưng, Chàng thứ XIII [Lê Thạch Kỳ], Đông Sơn và Nhát Dao Cạo.
Sau màn nước mắt cá sấu là màn xuất quân: Tứ Ly viết Tam Quốc tân thời diễn nghĩa, lấy tích cổ: Lưu Bị, Vân Trường, Trương Phi kết nghĩa vườn đào [ám chỉ việc thành lập Tự Lực văn đoàn] cộng với tích tân: Đốc Bưu [đốc học Phạm Văn Thư, thanh tra chính trị ăn hiếp quan huyện]. Truyện thế này: Bị là viên quan huyện nhỏ mà không chịu đút lót quan lớn, nên Bưu khai man cho Bị tội hiếp dân.
"Trương Phi nghe tin cả giận, đôi mắt tròn xoe, hàm răng nghiến chặt, tức tốc cưỡi xe đạp đến quán dịch, chạy thẳng vào hậu đường; thấy Đốc Bưu đương ngồi chĩnh chện trong phòng giấy mà đề lại thì bị trói dưới đất.
Phi thét lớn lên rằng:
- Thằng mọt dân kia có biết ta là ai không?
Đốc Bưu chưa kịp với tê lê phôn cầu cứu đã bị Trương Phi túm cổ lôi tuột ra ngoài quán dịch, kéo thẳng về trước huyện, trói vào cột đèn rồi lấy "ba toong" phết mãi vào hai mông đít".
Lưu Bị lòng vốn nhân từ, thấy "cụ lớn khâm sai" [đốc Bưu] kêu la đau đớn quá, bèn quát em xá tội cho.
Tam Quốc tân thời diễn nghĩa là đòn đầu đánh vào bọn quan trường tham nhũng, đúng lúc được tin nhà nước bỏ kiểm duyệt.
Tứ Ly nhập cuộc
Màn dạo đầu Tam Quốc tân thời diễn nghiã hấp dẫn như vậy mà không bị cắt xén gì cả, nhất là lúc đó đang dưới thời Toàn quyền Robin, có tiếng hà khắc. Vậy vụ bỏ kiểm duyệt không phải là tin vịt, Phong Hóa số 132 (11-1-35) bèn thừa thắng xông lên, công khai đánh vào chế độ quan trường và các vấn đề hủ lậu khác. Bìa in tranh: Kiểm duyệt và báo chí của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), bức tranh này mang tính cách "lịch sử" bởi là hý họa đầu tiên công khai chống kiểm duyệt, tức chống Pháp, tượng trưng tư tưởng con người như một dòng sông hay con đường, bị kẻ kiểm duyệt cầm kéo cắt xoẹt từng đoạn, tạo cảnh đường đứt, cầu trôi, sông vỡ, người bị đắm chìm, ngăn sông, cách núi.
Kiểm duyệt và báo chí của 
Tô Ngọc Vân, Phong Hóa 132
Bên trong tờ báo, Tứ Ly khuấy loạn với ba bài: Bỏ quách điThan ôi kiểm duyệtĐất nứt con… mọt dân và truyện Tam quốc chí diễn nghiã.
Bài Bỏ quách đi tấn thẳng vào Hoàng Trọng Phu, quan Tổng đốc, kẻ vừa tuyên bố với nhà báo: "Nếu bỏ quan đi thì lấy gì thay thế vào", Tứ Ly phản bác: Nhà nước nào cũng cần phải có nhà cầm quyền, tức là lớp người cai trị, nhưng ở những nước khác, người ta không gọi lớp người này là quan, ví dụ ở Pháp ông Herriot là thượng thư, khi ông ở văn phòng, khi về nhà ông là ông Herriot. Còn ở Việt Nam, ông Huyện Giai lúc nào cũng là "quan lớn" cả. Vậy xin đề nghị xổ toẹt chữ "quan" đi, nên gọi "ông huyện, ông phủ, ông tổng đốc, ông thẩm phán, ông án sát, ông thượng thư… là ông tuốt".
Bài thứ hai Than ôi kiểm duyệt! Giọng khác hẳn, đây là một bài văn tế hết sức lâm ly:
"Thôi từ nay âm dương cách ngả, chúng ta không được thấy mặt phòng kiểm duyệt nữa: phòng kiểm duyệt đã bãi hẳn rồi.
Tôi tưởng tượng đến cảnh phân ly của những viên chức phòng kiểm duyệt, người về Mật thám, kẻ lên Toàn quyền, mà tôi không khỏi ngăn được giọt lệ thương tâm, bất giác buột mồm mà than rằng:
Than ôi kiểm duyệt
Đã biệt nhau rồi
Còn nói chi nữa
Thế là xong đời.
Xong đời kiểm duyệt, còn đời báo. Tôi nửa mừng nửa lo.
Lo cho vận mệnh của tờ báo vẫn như trứng để đầu đẳng.
Mừng là mừng cho cái hy vọng sẽ được quyền tự do ngôn luận theo báo chí tây, mừng là mừng có thể giãi bầy ý kiến về những vấn đề quan hệ mà không phải bôi xóa".
Bài điếu văn lộ sự tinh nhạy của kẻ khóc, hé mở cho biết sự thật: nhân viên ty kiểm duyệt rặt bọn Mật thám và công chức phủ Toàn quyền.
Bài thứ ba Đất nứt con… mọt dân có tính xã thuyếtgiọng chính luận mạnh mẽ, đánh vào bọn quan lớn sâu mọt mô đéc:
"Ở các nước khác chỉ có dân, ở nước ta, không những có dân mà còn có mọt dân nữa (…) Họ ở toàn những địa vị ăn trên ngồi chốc, chỗ nào có thể chấm mút được là có họ (…) Luân lý đối với họ chỉ là một cách để lừa dối bọn ngu dân, pháp luật đối với họ chỉ là cái lưới để họ chăng [bắt] lũ dân đen, họ dùng để thu tiền tài của hàng vạn con người thật thà, chỉ biết làm lấy mà ăn.(…) Phải khéo léo, xu phụng người trên để mượn lấy oai hùm, phải tìm lấy nơi quyền quý mà nương tựa. Chẳng thế mà có nhà "mọt dân" phải bỏ tiền hàng trăm, hàng nghìn lo lấy một chức… đầy tớ, chẳng thế mà biết bao nhiêu người luồn lụy, nịnh hót để mong lên chức… chân tay." (Phong Hóa số 132, 11-1-35).
Những bộ mặt "mọt dân" này, sẽ xuất hiện lại trên hý họa của Nguyễn Gia Trí một cách trắng trợn và rùng rợn hơn.
Tam quốc diễn nghĩa
Với Tam quốc diễn nghĩa, Tứ Ly "diễn nghĩa" trực tiếp cảnh tham nhũng "hiện đại":
"Có ông thư ký phải mất tới vạn bẩy mới được bổ làm chức huyện lệnh: thiên hạ gọi ông ta là ông huyện vạn bẩy.
Cách chọn lọc quần thần như vậy, nên quan sinh ra tham, lại sinh ra nhũng. Ai ai cũng đòi ăn tiền cả. Những khoé ăn tiền càng ngày càng nhiều, thôi thì cái khố rách của thằng đánh rậm, cái váy đụp của mụ bán thịt lợn, quan nào ăn được đều có tiếng khen là tài giỏi. Những quan thanh liêm đều bị thải về quê quán, còn nịnh thần thì mỗi ngày mỗi đông và mỗi lần gặp tham tang là một lần thăng chức".
Hoàng phủ Tụng, Chu Tuấn, có công đánh giặc khăn vàng ngày trước, không chịu lễ đút đều bị cách. Quan Gián nghi Đại phu Lưu Đào, quan Tư đồ Lưu Đàm vì can vua đều bị bỏ ngục".
Trong Tam quốc diễn nghĩa, vần đề nào cũng được đề cập và tranh luận, cả đến chuyện "nam nữ bình quyền" cũng được hai bà thái hậu đem ra võ trường tỷ thí:
Hà thái hậu nói: "Chúng ta là lũ đàn bà, không nên tham dự đến chính quyền".
Đổng thái hậu nổi giận lôi đình: "Mi nói vậy thì hủ lắm. Chúng ta cũng tai mắt, cũng trí thức như bọn đàn ông thì ta phải bình đẳng bình quyền với họ mới phải chứ! Mi thử dương mắt ra mà xem: phụ nữ ta bây giờ khác xưa nhiều rồi. Đi bộ, đánh quần vợt, nhảy đầm, đá bóng đều được cả: vậy về mặt thể dục ta không kém gì bọn tu mi. Về mặt trí thức cũng vậy, đàn bà cũng có người đỗ đến tú tài, cử nhân, cũng biết diễn thuyết như đàn ông. Vậy bắt tù ở trong cung cấm, chẳng hóa ra trái với sự văn minh lắm sao?
Hà hậu cãi: "Đàn bà cốt nhất là biết nấu cơm cho ngon, canh cho ngọt, giúp đỡ cho chồng. Thế nào là tam tòng từ đức".
Đổng thái hậu bèn mắng át: "Ta đã gói ghém tam tòng lại như cô Kiêm [phụ nữ mới nhất bấy giờ] và vất xó rồi. Mi hủ lắm!" [9]
Những đại phu nhân trong Tam quốc diễn nghĩa, không chỉ ăn nói tân tiến như Đổng thái hậu, mà họ còn ăn mặc cực kỳ tân thời, tiến bộ, theo đúng mốt mới nhất: "Điêu Thuyền tha thướt trong bộ y phục Lemur mầu xám, đôi mắt long lanh dưới làn tóc vấn theo lối Huế". Và sống theo đúng nhịp như Tây bên Tây:
"Một chốc tiệc tan, mở cuộc khiêu vũ, Lã Bố ôm Điêu Thuyền nhảy theo điệu Fox-trott lấy làm khinh khoái vô cùng. Khiêu vũ xong, Điêu Thuyền lại ngồi xuống trước cây đàn piano, vừa đánh vừa lên tiếng hát theo điệu "J’ai deux amours":
"Giò này giò nóng
Ai có mua thì xin cứ
Bỏ một hào ra
Ai muốn mua thì mua".[10]
Sau ba số Tam quốc diễn nghĩa cực kỳ hấp dẫn, có lẽ Tứ Ly nhận được "dấu hiệu" gì đó, nên ngòi bút trở lại "ngoan ngoãn" hơn, không đem chuyện thời sự bản xứ ra "diễn nghĩa" nữa, mà chỉ chép lại một số xen tam quốc cổ điển như: tam cố thảo lư, Lưu Bị tán Tôn phu nhân rồi ngừng, để bắt sang loạt bài phỏng vấn giả tưởng tức là Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu Đi xem mũ cánh chuồn, mang họa cho Phong Hóa.
Đi xem mũ cánh chuồn
Đi xem mũ cánh chuồn là một thể nghiệm hài hước mới, bắt đầu từ Phong Hóa số 139 (8-3-35), với cuộc phỏng vấn giả tưởng ông Tôn Thất Quảng, Công bộ thượng thư kiêm Mỹ thuật bộ thượng thư. Phóng viên hỏi ngài Thượng thư có ý kiến gì về chiếc áo dài Lemur, nên để cổ bờ thành (cổ kín) hay cổ áo bánh bẻ (cổ bẻ) và quần tân thời nên may một nếp hay hai nếp, thường dân có nên cạo răng trắng không? Xây dinh thự nên dùng kiểu "nhà bánh khảo", "nhà Khai Trí" hay kiểu gì khác? Nói chung, phóng viên chỉ hỏi những câu vớ vẩn, không có mầu sắc chính trị gì. Tôn đại nhân cũng trả lời hoà nhã.
Người thứ hai được chiếu cố là Lại bộ thượng thư Thái Văn Toản (Phong Hóa số 140- 15-3-35), lần này phóng viên tiến dần hơn tới "chính trị", hỏi ý đại nhân về đề nghị bỏ chữ "quan", và đưa ra nhận xét: tay áo thụng vướng quá, nhất là lúc cầm đũa hay múc canh, vậy có nên cắt ngắn đi cho gọn chăng? Các quan đi công cán nên đi xe bình bịch cho nhanh? Vận quốc phục thì nên đi giày ban [giày tây] hay giày ta?
Đến cuộc phỏng vấn hai ông Phạm Quỳnh (Phong Hóa số 141-142) và Nguyễn Văn Vĩnh (Phong Hóa số 143), và một số vị có tên tuổi khác [11], tất cả những bài này thuộc loại cò mồi, làm ô dù che cho những bài phỏng vấn "thứ thiệt". Nhất là bài phỏng vấn Phạm Quỳnh, dàn trải trên hai số báo, giọng lịch sự tương kính như một môn sinh đến thăm thầy. Bài phỏng vấn Nguyễn Văn Vĩnh cũng vậy, giọng vui vẻ trẻ trung hơn. So với hai bài phỏng vấn hai quan lớn Hoàng Trọng Phu và Vi Văn Định, như ta sẽ thấy ở dưới, thì có sự khác biệt một trời một vực. Sở dĩ có sự tương kính này vì hai ông Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là người có công lớn với nền văn học quốc ngữ, lại là bậc đàn anh và chỉ khác Hoàng Đạo về đường chính trị: Phạm Quỳnh theo chế độ quân chủ lập hiến, chủ trương hòa hiếu với Pháp để làm văn hóa, nâng cao dân trí, Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương Bắc Kỳ tự trị dưới chế độ dân chủ trong khối Liên Hiệp Pháp; còn Tự Lực văn đoàn chủ trương chống Pháp, giải phóng dân tộc. Khi Nguyễn Văn Vĩnh mất, Phong Hóa có bài ai điếu vô cùng xúc động để khóc một người thầy.
Tóm lại, hai bài phỏng vấn Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh chỉ để che mắt thế gian, ô dù cho buổi phỏng vấn quan lớn Hoàng Trọng Phu, Vi Văn Định, hai vị bồi Tây chính hiệu, được nhận hàm Thái Tử Thiếu Bảo của triều đình, nên thường được gọi là quan Thiếu.
Phỏng vấn Hoàng Trọng Phu
Người ta thường cho rằng vì bài phỏng vấn Hoàng Trọng Phu mà Phong Hóa phải đóng cửa ba tháng. Nhưng khảo sát kỹ văn bản, thì nguyên do không phải bài này, mà bài sau, tức là bài phỏng vấn Vi Văn Định.
Quan lớn Hoàng Trọng Phu vốn ba đời làm tôi trung mẫu quốc: cụ thân sinh là Hoàng Cao Khải và người cháu là Hoàng Gia Mô, tri huyện Vĩnh Bảo. Cụ lớn Hoàng Cao Khải là vị Kinh lược sứ cuối cùng ở Bắc Kỳ, có công truy kích cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, viết thư dụ Nguyễn Thiện Thuật ra hàng năm 1889. Năm 1894, lại cầm quân đánh Phan Đình Phùng và viết thư dụ họ Phan ra hàng. Cả hai việc đều không có kết quả. Nhưng công to của họ Hoàng là ở chỗ khác: làm tay sai đắc lực cho Toàn quyền Paul Doumer trong việc thực hiện chính sách thuộc địa hóa nước Nam. Khái Hưng viết:
"Hắn có công với người Pháp là để cho người Pháp tha hồ xuyên tạc, tha hồ thực hành sai hiệp định 1884 ở Bắc kỳ. Bỏ phủ Kinh lược, dồn cả quyền bính viên Kinh lược vào cho viên Thống sứ Bắc kỳ; để các công sứ Pháp cướp hết quyền các quan tỉnh Việt Nam, trước còn nguyên trong việc hành chính, sau lấn sang cả quyền Tư pháp; cắt đứt hẳn Bắc kỳ, Trung kỳ ra thành hai nước nhỏ, chịu mỗi bên một chính thể một luật pháp, nói tóm lại, làm cho Bắc kỳ thuộc thẩm quyền trực trị của Pháp, đó mới là cái công to của hắn đối với người Pháp". "Hoàng Gia Mô cũng là một tay thần tử rất trung thành của "Mẫu quốc" và rất tận tâm lùng bắt các tay cách mạng ở trong hạt Vĩnh Bảo. Trừ những người hắn đã nộp đi không kể, nguyên hôm huyện vỡ, anh em còn gỡ ra ở trong khám giam huyện hơn hai chục người!" (Chính Nghĩa số 9, 29-7-46).
Hoàng Gia Mô, con trai Hoàng Mạnh Trí, cháu nội Hoàng Cao Khải, làm đến chức tri huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Năm 1930, trong cuộc tổng khởi nghĩa Yên Bái, bị Trần Quang Riệu hướng dẫn dân quân giết chết, làng Cổ Am bị Pháp ném 57 trái bom trả thù. (Xem chương: 80 Quan Thánh, phần II)
Hoàng Trọng Phu không để lại công nghiệp đẫm máu, ông chọn con đường văn hóa, hợp tác với mẫu quốc, xây dựng hội Khai Trí Tiến Đức, tụ họp các trí thức thân Pháp vào hội để "mở mang dân trí". Vì thế ông được Tứ Ly chiếu cố cùng với Vi Văn Định, trên hai số báo liên tiếp. Bài "phỏng vấn" Hoàng Trọng Phu in trên Phong Hóa số 149 (17-5-35) và bài phỏng vấn Vi Văn Định, in trên số Phong Hóa 150 (24-5-35).
Bài "phỏng vấn" Hoàng Trọng Phu, mở đầu bằng câu:
"Bước vào gian phòng khách, tôi cảm thấy sự yên tĩnh lạ lùng: bộ ghế gụ kiểu tây chạm trổ theo lối tầu đang ngủ im trên chiếc thảm hoa, ảnh các ông Toàn quyền Đông Pháp treo trên tường yên lặng đang nhìn tôi bằng con mắt lim dim. Cả đến con mèo tam thể cũng nằm tròn trên chiếc nệm, không nhúc nhích, cả đến ông phệnh đường bằng sứ ngồi trên tủ chè cũng đương nhếch mép cười trong giấc mơ".
Lối viết này rất kín đáo và hàm súc nên ít ai nhận ra sự phạm thượng: Cách bài trí trong phòng nói lên sự lai căng của gia chủ: bày đồ Tàu mà thờ các thánh Tây. Rồi chỉ với hai chữ lim dim phóng viên đã đồng hóa các vị Toàn quyền với con mèo tam thể.
Vào phần "nội dung phỏng vấn", được hỏi về việc đi Pháp, Hoàng tướng công trả lời chỉ đi chơi thôi. "Vậy mà tôi cứ tưởng hội Khai Trí Tiến Đức đã đúc tượng tướng công để kỷ niệm cái công của tướng công đã lặn lội sang Pháp dạo đó." Câu này ngụ ý nói tướng công được hội Khai Trí Tiến Đức nặn tượng vì đã có công sang tận mẫu quốc xin giấy khai sinh cho Hội, đánh đúng ý tướng công, khiến ngài không quên nhắc lại công trạng vĩ đại này: "Sự nghiệp của hội Khai Trí tức là sự nghiệp của tôi". Ngài còn nói thêm rằng: "ta được nhờ quý bảo hộ khai phá cho ta, thì ta cũng phải lập một cơ quan để giúp đỡ chánh phủ về đường giáo dục", câu này tỏ rõ bụng dạ quan lớn: chỉ canh cánh nghĩ đến công ơn chính phủ bảo hộ và một lòng phục vụ hội Khai Trí Tiến Đức để báo đáp ơn trên. Đến đây phóng viên hỏi xỏ:
" - Bẩm, thế trong vòng 13 năm nay, tướng công thấy xã hội Việt Nam đức tiến và trí khai được chừng nào rồi? (…)
" - Ông cứ xem công việc của hội Khai Trí thì đủ biết.
" - Bẩm, những công cuộc lớn lao của hội Khai Trí thì chúng tôi người trần, mắt thịt, quả không nom thấy. Duy chiều chiều đi hóng mát trên bờ hồ Gươm, thì thường thường chúng tôi nghe thấy tiếng hô tổ tôm điếm, hoặc tiếng bát đũa chạm nhau ở trong nhà hội đưa ra mà thôi." (…)
- Chơi tổ tôm bắt ta phải nghĩ ngợi lắm, có lẽ cũng là một cách khai cho trí của người annam ta vậy.
Gật gù, Hoàng tướng công không nói gì, ý chừng ngài còn mải nghĩ đến cách làm tiến đức cho người Việt Nam nữa".
Bài phỏng vấn này tuy có phạm thượng chút đỉnh nhưng nhẹ nhàng, nên đã qua mắt các quan mật thám (bấy giờ Ty kiểm duyệt đã đóng cửa rồi, nhưng nhân viên chắc vẫn còn làm việc không chính thức). Tuy vậy, ngòi bút của phóng viên không phải là thiếu sâu sắc. Lúc vào đầu đã giới thiệu ngay: phòng khách của quan lớn treo đầy ảnh các vị toàn quyền Đông Pháp lim dim nhìn tôi, cùng với hình ảnh mập phệ của ông phệnh đường, ý ám chỉ các vị đại diện mẫu quốc có đôi mắt súc vật và thân hình lợn ỷ, như đã nói ở trên. Ngoài ra, phóng viên còn nêu bật được hai yếu tố đặc biệt của Hội Khai Trí Tiến Đức, mà dân chúng đi qua bờ Hồ đều nghe thấy: là tiếng sát phạt tổ tôm điếm và tiếng bát điã chè chén. Tổ tôm điếm là một thứ tổ tôm có luật chơi hơi khác tổ tôm (thường), nhưng chữ điếm ở đây có dụng ý sâu sắc, chắc bạn đọc đã thấy. Bài phỏng vấn quan lớn Hoàng Trọng Phu, được thông qua, có thể là do lỗi của vị quan mật thám ngủ gật khi duyệt, nhưng đến số sau, bài phỏng vấn quan lớn Vi Văn Định thì ác quá, "trên" không thể làm ngơ, bèn bắt tờ báo đóng cửa ba tháng.
Phỏng vấn Vi Văn Định - Bị đóng cửa ba tháng
Ngày nay, nếu ai đọc tiểu sử Vi Văn Định in trên Wikipedia tiếng Việt, sẽ thấy một công thần, xuất thân trong gia đình quý tộc Việt-Tày ở Lạng Sơn: Cao tổ là một vị khai quốc công thần theo Lê Lợi khởi nghĩa… dòng dõi nhiều đời trấn vùng biên ải. Ngài còn là vị quan lớn yêu nước, đã đem cả gia đình lên Việt Bắc theo kháng chiến, có con rể là trí thức hàng đầu như Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và cháu rể như Tôn Thất Tùng.
Vậy tại sao hồi đó Tứ Ly lại dám phạm thượng đến nỗi Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng?
Số là lúc Tứ Ly nghĩ ra chuyện "phỏng vấn" này, thì quan lớn họ Vi đang làm Tổng đốc Thái Bình (1929-1937). Sự thăng quan tiến chức rất nhanh trong quan trường thời ấy, thường nhờ công lao phục vụ chính quyền thuộc địa. Mà công lao lớn nhất của quan lớn là việc tiễu trừ Quốc Dân Đảng, được Hoàng Văn Đào ghi lại: "Mỗi khi bắt được một đảng viên VNQDĐ, Vi Văn Định liền ra lệnh đốt nhà, rồi bắt người về tra tấn rất dã man. Tú tài Nguyễn Đức Triệu 84 tuổi, chi bộ trưởng chi bộ Phụ Dực bị Vi Văn Định dùng chầy giã giò tra khảo đến bỏ mạng" [12].
Việc Hoàng Văn Đào ghi trên đây, sẽ có các sử gia kiểm lại, nhưng những ai (như chúng tôi) sinh ở vùng Nam Định, Thái Bình, hồi bé, thường được người nhà nêu tên quan lớn ra dọa như dọa ngáo ộp, mặc dù quan lớn đã rời địa hạt Thái Bình từ lâu. Mà theo tài liệu của Phủ toàn quyền, thì quan lớn đã nhận những huân chương sau đây:
- Grand officier de la légion d’Honneur (Đệ nhị đẳng bắc đẩu bội tinh).
- Grand officier du Dragon d’Annam (Đệ nhị đẳng Long bội tinh Annam).
- Grand officier de l’Ordre du Million d’Éléphants et du Parasol Blanc (Đệ nhị đẳng huân chương Vạn Tượng và Bạch Lọng).
- Officier de l’Ordre Royal du Cambodge (Đệ tứ đẳng huân chương Hoàng gia Cam Bốt).
- Officier du Mérite Agricole Annamite (Đệ tứ đẳng huân công Canh nông Annam).
- Kim Khánh de 1ère Classe (Kim khánh hạng nhất).
- Kim Tiền hors classe. (Kim tiền ngoại hạng).
- Palmes académiques (Hàn lâm huân chương).
- Ngân Tiền de 1ère classe. (Ngân tiền hạng nhất).
- Médaille coloniale avec agrafe du Tonkin (Huy chương thuộc địa Bắc kỳ).
- Médaillle d’honneur en or de 1ère classe. (Huy chương vàng hạng nhất) [13].
Với ngần ấy huân chương của mẫu quốc và Nam triều, chả trách quan lớn bị Tứ Ly Hoàng Đạo đem ra "phỏng vấn" và ngay sau bài đó, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng.
Bài này nếu xét về ý tưởng thì không có gì phạm thượng, nội dung rất trong sáng: phóng viên chỉ hỏi sơ qua quan lớn những việc không đâu, mở bài bằng đoạn văn tả cảnh khá mơ mộng:
"Một anh mán Bạch miêu đầu trọc lốc, đỉnh sọ phất phơ cái chỏm con, mời tôi vào ngồi đợi lệnh quan lớn Vi Văn Định trong một gian phòng khách, kiểu nửa ta nửa tây. Bỗng nghe thấy tiếng nói bên cạnh cửa sổ:
- Noọng đây slao lai. Cố đíp noọng lai (Cô em đẹp lắm tôi yêu cô em lắm).
Tôi nhìn ra thấy một cô gái Thổ vừa kêu vừa đuổi con mèo tam thể đương cong đuôi chạy.
Câu tiếng Thổ nhẹ nhàng, gợi trong tôi những giọng… gió gào ngàn, những cảnh rừng sâu, cây cả, đầy một không khí mãnh liệt gớm ghê…
Tôi đương vơ vẩn tìm cái chân tướng của người Thổ, Mán, không biết họ ngây thơ hay dữ tợn, hay vừa ngây thơ vừa dữ tợn như cô gái Thổ trong truyện "Một đêm trăng" của Thế Lữ, thì bỗng cửa phòng hé mở, rồi thấy ló ra cái đầu trơn trụi, bóng loáng của một anh mán sơn đầu. Tôi rợn mình tưởng như sắp lạc vào nơi lạnh lẽo, thâm u… Anh mán nhoẻn miệng cười, vẫy tôi sang gian phòng bên cạnh.
Gian phòng này cũng là gian phòng khách, song bầy biện toàn lối Thổ: thảm ngũ sắc bầy khắp nơi, nỏ và ống đựng tên treo la liệt trên tường. Trên một cái sập gụ - cái sập có cái đặc điểm là chân kê rất cao - chỉnh chện quan lớn Tổng đốc Vi Văn Định ngồi bắt chân chéo kheo. Quan lớn chạc chừng tứ ngũ tuần chi gian, bảnh bao trong chiếc áo gấm lam, đẫy đà phì nộn như một ông quan annam chính thức, ba chòm râu xanh rũ xuống che cái thẻ ngà lõng thõng trước ngực như ba cái đuôi chủ của các nhà đạo sĩ Tầu xưa. Đứng bên cạnh bàn quan lớn, có một chị ngây thơ như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen, viền chỉ hoa: đích thị là một chị mán cóc.
Quan Lớn thấy tôi vào vẫn ngồi yên trên sập, vẻ hách dịch, đường bệ, tròn trĩnh… Tôi ngả đầu chào thì quan lớn chỉ sẽ gật đầu và nhếch mép:
- Thầy ngồi chơi.
Quan lớn thật đã thành ông quan annam đặc, không còn có cái vẻ ngây thơ của những cô gái Thổ hát đúm ở lưng đèo".
Nếu bạn để ý, sẽ thấy phóng viên không coi quan lớn là ông quan annam, mà chỉ khen Quan lớn thật đã thành ông quan annam đặc, ý này muốn nói kháy: quan lớn đã mất hết sự ngây thơ trong sáng của người Tày, chỉ còn giữ lại sự dữ tợn của cô gái Thổ sát nhân trong truyện "Một đêm trăng" của Thế Lữ, quan lớn lại học thêm được tất cả mánh khóe gian tham độc ác của người Kinh. Đoạn văn ác ở lối tả và cách dùng chữ: những chữ mán Bạch Miêu (mèo trắng), mán sơn đầu, mán rừng, mán cóc… không thể hiện sự kỳ thị của phóng viên đối với người dân tộc, mà chỉ để hạ thấp giá trị quan tổng đốc phì nộn như một ông quan annam chính thức, lại được hộ giá bằng một chị ngây thơ như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen, viền chỉ hoa: đích thị là một chị mán cóc. Giọng điệu quan lớn trong bài phỏng vấn, đối với mẫu quốc, càng tỏ rõ phong cách tôi đòi và công bình địa miền châu thổ của ngài:
"Dân được an cư lạc nghiệp là công của nhà nước bảo hộ. Còn bản chức, bản chức chỉ mong nối gót quan Từ, Tổng đốc xưa" [Hoàng Cao Khải?]
"Quan lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong lúc ba chòm râu tốt rung rung vì cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt".
" - Tướng quân thích làm quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du?
Một nụ cười mỉm bí mật lộ ra sau mấy chòm râu thuôn tuột, quan lớn Vi trả lời tôi một cách thâm thúy:
- Bản chức thì nhà nước đặt đâu xin ngồi đấy. Bản chức dẫu ngồi ở trung châu, mà bao giờ cũng còn những mỹ tục của cố hương. Ngài có thấy cái sập này kê cao không? (…)
- Kê cao sập có ý nghĩa sâu xa lắm. Cái sập này tiêu biểu cho cái nhà sàn trên chúng tôi…"
Mới đọc qua những lời này, bạn tưởng là vô thưởng vô phạt, nhưng kỳ thực đầy ẩn ý:
Hỏi: Tướng quân thích làm quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du? Là muốn nhắc đến công nghiệp bình địa vùng đồng bằng, vây bắt bọn "phản loạn" Quốc dân đảng, giúp nhà nước bảo hộ tiêu diệt mầm mống nội loạn để dân cư được sống thái bình an lạc, đó là giá những mề-đai của mẫu quốc.
Khi vẽ chân dung ngài, phóng viên cũng chỉ dùng vài nét vờn: "Quan lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong lúc ba chòm râu tốt rung rung vì cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt", nhưng đầy hàm ý: ví môi quan lớn cong cong như cái vành móng ngựa có khác chi nói miệng ngài chuyên nghề buộc tội như miệng công tố, và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt để chỉ cái tướng ác ngầm trong đôi mắt ti hí mắt lươn và hai chữ oanh liệt để chiếu vào những chiến công và sự tra tấn rùng rợn mà quan lớn thực hiện trên thân thể bọn tù Quốc dân đảng.
Sau bài này, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng là "đích đáng" lắm rồi.
Nhưng không phải Tứ Ly không biết trước việc sẽ bị đóng cửa, trong bài viết Tại sao Phong Hóa phải đình bản (Phong Hóa số 152, 6-9-35) Lãng Du [Nhất Linh] kể lại:
"Sau khi nhận được giấy đóng cửa báo ba tháng. Tứ Ly có bảo tôi rằng:
- Việc đó đã định từ trước!
Tôi ngạc nhiên hỏi:
- Thế ra anh đã biết?
- Chính vậy.
- Anh biết mà anh không bảo cho chúng tôi hay để tìm cách ngăn ngừa.
Tứ Ly Tử cười nhạt đáp:
- Vô ích, cơ trời đã định.
Ngừng một lát, Tứ Ly Tử ngửa mặt lên trời, than rằng:
- Ngày xưa Gia Cát Lượng biết nhà Hán sẽ mất mà vẫn phò Lưu Bị. Tôi biết là viết mục "cánh chuồn" sẽ có kết quả không hay mà vẫn phải viết".
Tứ Ly thừa biết khi đánh vào hai quan đại thần hàm Thái Tử Thiếu Bảo bồi Tây là sẽ có chuyện, nhưng ông cứ làm, cũng như sau này, biết rằng cầm súng chống Pháp sẽ thất bại, nhưng không thể đừng.
Sau khi được cho phép ra báo trở lại, Tứ Ly chuyển hướng, không nhắm vào các vị ngực đầy huân chương mẫu quốc nữa, mà tung ra loạt bài "nhu mì" hơn như Đi xem mũ ni [14] và nhất là loạt bài Đi xem mũ giấy [15], lần này phóng viên chịu khó xuống tận âm ty phỏng vấn ma: bài thứ nhất phỏng vấn Đức Diêm Vương, bài hai phỏng vấn Đức Khổng Tử, rồi phỏng vấn một ông nghị ma có chân trong hội Khai Trí Tiến Đức và sau cùng, phỏng vấn Đức Phật Tổ Như Lai. Loạt bài này rất lý thú, đưa Tứ Ly lên hàng đầu những nhà hoạt kê thâm thúy. Phóng viên dùng thứ ngôn ngữ hai chiều, hỏi đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện triết học đến những chi tiết liên quan đến cuộc đời đô hộ, mà không bị nhà nước bảo hộ phong tỏa, bởi vì nhà nước không thể kiểm soát được cửa thiền, cũng không nghe lén được thế giới âm ty, nhất là "phát biểu" của các vị đã hóa người thiên cổ từ mấy ngàn năm nay như Đức Khổng Tử, Đức Phật.
Phản đối việc chia rẽ ba kỳ
Phản đối việc chia rẽ ba kỳ là một đề tài lớn của Phong Hóa.
Từ Phong Hóa số 137 (22-2-35) Tứ Ly tung ra chiến dịch phản đối việc chia ba đất nước: Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Mục Người và việc, Từ nhỏ đến lớn đóng khung câu này: Làm gì có Trung Kỳ, Nam kỳ, Bắc kỳ, và dưới tiểu tựa Phân chia Nam Bắc, Tứ Ly viết:
"Không biết tự bao giờ sinh ra tiếng Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, để cho một nước lại hóa ra ba nước (…) Nhưng bọn vô học thức nào có biết đâu xưa kia ở chốn thâm quê lặng lẽ, đã có câu hát:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng
Họ có biết đâu xưa kia, dân ta cùng một lòng mở mang bờ cõi, từ bắc xuống nam, phá Chiêm Thành, thị oai với Ai Lao, Miến Điện, bảo hộ nước Cao Miên…
Ngày nay, chính làng báo ta, tuy nát bét, phải tự cho nghĩa vụ mình là bảo cho họ biết…
Cho họ biết rằng Nam Bắc không khác gì nhau, và những tiếng "xứ Nam kỳ", "xứ Bắc kỳ" và "xứ Trung kỳ" là những tiếng nên bỏ "quách" như tiếng "quan" (…)
Cho họ biết rằng những đội ban Gia Định, Victoria, Eclair, Seph, không phải là những đội ban đứng đại diện cho "nước Bắc kỳ" hay "nước Trung kỳ" để tranh tài với "nước Sài gòn", cho họ biết rằng cả nước Nam chỉ là một, quyền lợi, nghĩa vụ, đều chung, mà người Nam hay Bắc toàn là người nước Nam cả, không khác nhau mảy may.
Nếu không, nước Nam không phải là… nước Nam mà làng báo ta chỉ là làng báo xôi thịt mà thôi." (Phong Hóa 137, 22-2-35).
Chữ kỳ có từ bao giờ?
Chữ kỳ có từ thời Minh Mạng. Sau khi đại thắng quân Thanh, Quang Trung đổi Thăng Long thành Bắc Thành. Gia Long giữ nguyên tên Bắc Thành, nhưng chữ Bắc Thành thời Gia Long vừa chỉ Thăng Long, vừa chỉ miền Bắc, cũng như chữ Gia Định thành vừa chỉ Sài Gòn vừa chỉ miền Nam; còn Kinh kỳ hay kinh sư chỉ Thừa Thiên Huế.
Sang đời Minh Mạng, chữ Bắc kỳ xuất hiện khá sớm, Đại Nam thực lục năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đã có câu: "Đắp thành đất 10 phủ Bắc kỳ" (Đại Nam thực lục, tập ba, trang 10) hoặc "Định hạn ra thú cho các giặc trốn ở Bắc kỳ" (trang 49). Năm Minh Mạng 12 (1831) vua bắt đầu công trình cải tổ hành chính lớn lao: từ Quảng Trị ra Bắc, gồm 11 trấn, từ trước đến nay mỗi trấn đều do một Tổng trấn cai trị, quyền hành quá lớn. Vua quyết định phân quyền: bỏ trấn, lập những đơn vị hành chính nhỏ hơn như huyện, phủ, do Tri huyện, Tri phủ, phụ trách. Tỉnh, do Tổng đốc, Tuần phủ coi việc cai trị và Bố chính, Án sát, coi việc tài chính, thuế khóa và luật pháp. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi tên Bắc Thành là Hà Nội. Năm 1832, vua bắt đầu cải tổ hành chính phía Nam: từ Quảng Nam trở vào Gia Định, gọi là Nam kỳ [16]. Tóm lại, dưới thời Minh Mạng, Bắc Thành đổi tên là Hà Nội, chỉ có Bắc kỳ và Nam kỳ, ở hai đầu, còn vùng giữa, thuộc kinh đô, gọi là Kinh kỳ hay Kinh sư. Hệ thống quan lại ở nước ta cho tới thời Pháp thuộc, là do vua Minh Mạng định đặt.
Chữ kỳ thời Minh Mạng chỉ có nghĩa là cõi, không có ý chia rẽ gì cả. Khi người Pháp xâm lấn nước ta, họ chiếm Nam Kỳ trước, Bắc Kỳ sau, rồi chia thành "ba nước" để trị. Trên nguyên tắc, miền Trung thuộc triều đình, nhưng vua đã mất quyền: viên Khâm Sứ chủ tọa Cơ Mật Viện từ thời Thành Thái, vì Toàn quyền Paul Doumer đã tự ý thay đổi các điều khoản trong hòa ước Giáp Thân 1884, để biến nước Việt Nam thành một thuộc địa toàn phần, việc này sẽ nói rõ hơn trong một chương sắp tới.
Chống lại việc chia rẽ ba Kỳ là hành động phản kháng đầu tiên trực tiếp chống lại chính sách cai trị của Pháp, trên hai số báo Phong Hóa, số 137 (22-2-35) với bài viết của Tứ Ly, đả phá việc chia rẽ ba kỳ đã trích dẫn ở trên. Và Phong Hóa số 146 (26-4-35) có tranh vẽ Nguyễn Phan Long chia rẽ Nam Bắc của Tô Ngọc Vân.
Nguyễn Phan Long chia rẽ Nam Bắc 
của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), Phong Hóa 146
Sau khi bị đóng cửa ba tháng, vấn đề chia rẽ Nam Bắc lại trở lại, kín đáo hơn, sâu sắc hơn với bài xã luận Chia rẽ Nam Bắc của Nhị Linh (Khái Hưng) trên Phong Hóa số 151 (31-8-35), không đánh Pháp mà trách người Việt:
"Chúng tôi lấy sự chia rẽ làm đau lòng, vì chia rẽ bao giờ cũng chỉ có hại. Trong hai trăm năm họ Nguyễn, họ Trịnh chia rẽ đánh nhau chết hại nhân dân. Nói rằng nhờ sự chia rẽ của hai họ ấy, mà nước ta đã mở rộng vào phía nam, là nói mò. Đời Lý, đời Trần, đời Tiền Lê đã bắt đầu cuộc nam xâm. Nếu không có sự chia rẽ kia thì biết đâu bờ cõi nước Nam ngày nay không giáp Ấn Độ rồi.
Một điều chắc chắn là sự chia rẽ đã làm chậm sự tiến hóa của dân tộc Việt Nam (…) Cái ý chia rẽ hình như đã in sâu vào óc người mình thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi ở trường, thấy anh em trong Nam họ chỉ chơi thân với nhau mà thôi. Đối với người ngoài Bắc họ rất hững hờ. Có khi đương to nhỏ truyện trò thân mật với nhau, thấy có bạn học Bắc đến, họ im ngay. Có lẽ học trò ngoài Bắc vào trong Nam cũng vậy.
Tôi vẫn tưởng chỉ trẻ con mới có tính trẻ con ấy. Ai ngờ người lớn đầu cũng vậy. Không thế sao người cùng một nước, nói cùng một thứ tiếng, mà họ bầy vẽ lập nên những hội "Bắc kỳ tương tế" ở trong Nam và "Nam kỳ tương tế" ở ngoài Bắc. Thì sao không lập ngay ra hội "Việt Nam tương tế" có hơn không? Cùng là giống Annam cả thì giúp đỡ một người Sài Gòn có khác gì giúp đỡ một người Hà Nội… Vậy muốn đánh đổ tư tưởng chia rẽ, trước hết phải phá bỏ những hội Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ tương tế đi. Tôi là người Annam thì dẫu tôi sống ở Bắc hay tôi sống ở Nam cũng vẫn là sống ở trong nước tôi. Tôi có sống trong một nước khác đâu mà bảo những người cùng nước tôi cứu giúp tôi. Rồi khi tôi chết, dẫu được chôn ở nghĩa địa Bắc kỳ hay nghĩa địa Nam kỳ, bộ xương của tôi cũng nát ra mà về đất, đất nước nhà."
Những gì Khái Hưng viết, thường đúng rất lâu: chuyện hội "Bắc Việt tương tế" lại tái bản sau 1954. Và đến bây giờ, khi chúng tôi có dịp nói chuyện với một số bạn người Nam, họ cũng cho biết: không thích ra Bắc, dĩ nhiên ngoài lý do chính trị, còn có cái gì khác. Gặng hỏi thì họ nói: dân Bắc "thiếu văn hóa", nói tục, họ không tìm thấy cái gì "hay" ngoài Bắc cả! Dĩ nhiên, khi nói chuyện với một số người bạn ở Hà Nội, tôi cũng nghe được một số ý kiến tương tự, về người Nam. Vậy chỉ khi nào dân ta bỏ được sự kỳ thị Nam Bắc hỗn hợp với kỳ thị quốc cộng, thì mới không cần đến những lời răn của Khái Hưng.
Hý họa Nguyễn Gia Trí
Như trên đã nói: kể từ số 160, Tô Tử đi Nam Vang dạy vẽ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nguyễn Gia Trí - dù bận học ở trường Mỹ thuật - đã trở về Phong Hóa vài số trước khi Tô Ngọc Vân ra đi. Vì trên Phong Hóa số 158 (18-10-35) có 2 bức tranh, ký bằng dấu ấn Tự Lực văn đoàn, nhưng qua nét vẽ, ta có thể đoán của Nguyễn Gia Trí. Tranh bìa Trong đình làng báo, tuy vẽ đình làng báo nhưng thực là vẽ đình làng, hay xã hội Việt Nam thu nhỏ, dưới thời Pháp thuộc, với một toàn cảnh cực kỳ "đồi trụy": chiếu trên chiếu dưới, rượu chè, cờ bạc, nghiện hút, trong khi dân chúng xương bọc da ngồi bệt dưới đất làm tôi đòi.
Trong đình làng báo, Phong Hóa 158
Trang 2, Phong Hóa số 158, còn có bức tranh Ông nghị đi họp hội đồng, vô cùng mai mỉa, trình bày sự bóc lột dân lao động của hạng nghị mập phì, sự vô nhân của lớp người dựa vào nền dân chủ nửa mùa của thực dân để đàn áp dân chúng lầm than đói khổ:
Ông nghị đi họp hội đồng, Phong Hóa 158
Phong Hóa số 159 (25-10-35) bìa vẽ bức tranh Tam đa: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, vẫn ký dấu ấn TLVĐ. Chủ đề Tam đa là do Nguyễn Gia Trí đặt ra để mô tả xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, chia làm ba hạng:
1- Tham quan
2- Làng xã (nghiện, hút)
3- Dân đen (con đỏ).
Tranh Tam Đa của Nguyễn Gia Trí, 
Phong Hóa 159
Bức tranh Tam đa trên đây vẽ Bang Bạnh biểu hiệu loại tham quan phì nộn, mọt dân mà Tứ Ly phỏng vấn trong loạt bài Đi thăm mũ cánh chuồnLàng xã là một bầy nghiện hút được biểu hiệu bằng hai nhân vật: Lý Toét, cầm ô treo điếu (thuốc phiện) tay ôm hai chai rượu, và Xã Xệ, tay ôm, cổ đeo, dưới chân bò những đứa bé bụng ỏng, biểu hiệu dân đen con đỏ: Đó là hình ảnh nước ta dưới thời Pháp thuộc qua nét vẽ Nguyễn Gia Trí.
Phong Hóa số 185 (1-5-36), trang 4, có tranh Tam đa đổi ra Tứ quý. Tranh này cùng chủ đề với Tam đa, nhưng có thêm quan Tây: 1- Quan ta, 2- Quan Tây, 3- Làng xã, và 4- Dân đen. Quan Tây tức là hạng quan mới, Tây học hoặc đi du học bên Tây, mô đéc hơn nhưng cũng hết lòng với mẫu quốc, tranh ký G. Trí.
Tranh Tam đa đổi ra tứ quý,
 Phong Hóa số 185 (1-5-36), ký G.TRI
Phong Hóa số 160 (1-11-35) có truyện vui Tiễn nhau của Khái Hưng viết để tiễn Tô Tử đi Cao Miên, đồng thời Nguyễn Gia Trí trở lại, ký tên GT, trên bức tranh Đi xem số (trang 2) và dưới những bức minh họa truyện dài của Khái Hưng.
Phong Hóa số 161 (8-11-35) có tranh Bài Tây không ký tên chắc của Gia Trí, vẽ hai cảnh:
Cảnh 1: chủ bài là dân quê rách rưới, rao: Một hào thành hai, hai hào thành bốn, ai đánh… Cảnh 2: … thì đánh đi: Lính Tây cầm dùi cui xông vào đánh tơi bời.
Lối vẽ tranh với lời chua thâm trầm này, ngoài Gia Trí, ít ai làm được: ông vừa chơi… bút lông vừa chơi… chữ để tạo ra bức hý họa đa nghĩa: bài Tây, chống Tây, đánh Tây, Tây đánh… hiểu thế nào cũng được.
Bài Tây, Phong Hóa 161
Phong Hóa số 174 (14-2-36) có tranh bìa Chiếu điện của N GIATRI, rất độc, một mũi tên bắn trúng hai đích: tham quan, ăn nhiều quá bị bội thực phải đi bác sĩ Tây chiếu điện, nội dung dạ dầy phơi bày trên màn ảnh quang tuyến, bác sĩ Tây hoảng hốt: ông đừng "ăn" nữa thì khỏi bệnh. Ta "đọc" bức tranh này theo nghĩa đen hay ngõa bóng đều tuyệt cả.
Chiếu điện của N GIA TRI, Phong Hóa 174
Phong Hóa số 175 (21-2-36): có tranh cấm đổ rác của NGT:
Cấm đổ rác của NGT, Phong Hóa 175
Đứng trước biển cấm đổ rác, ông Tây bảo một người Annam:
- Người Annam coi thường pháp luật thật, đi đổ rác vào ngay chỗ cấm.
- Đó là họ định đổ cho ngập hết cái biển cấm đi để tha hồ đổ.
Tranh này lấy tích "đồng trụ chiết, giao chỉ diệt": người Tàu cắm cột đồng trụ ở biên giới, rồi đề câu trù yểm: cột đồng trụ mà đổ thì xứ Giao Chỉ cũng bị diệt. Vì thế, dân ta không dám nhổ cột đồng, nhưng mỗi người đi qua đều bỏ vào chân cột một hòn đá để làm vững cột đồng đồng thời lấp dần cái cột ô nhục.
Ở đây, ông Tây nói: người Annam coi thường luật pháp - nghĩa là luật pháp của Tây. Còn người Annam đứng chắp tay sau đít (tay bị trói) giải thích: Chúng tôi đổ rác cho ngập cái bảng cấm ô nhục ấy đi đấy. Ý nghĩa thâm trầm, mật thám không thể hiểu nổi.
Phong Hóa số 178 (13-3-36) tranh bìa Trên sân vận động Huế, của TRI, chế giễu các quan huyện mới đỗ phải vào Huế, thi lần chót để giành chiếu trên chiếu dưới. Trang 3, vẽ tranh Lưu Quan Trương đời nay, tựa đề Tam anh chiến chai bố, mô tả cảnh rượu chè đồi trụy: lý, xã, tổng… đều nát bét rượu; tranh này cùng chủ đề với tranh Lý Toét uống rượu trên Phong Hóa số 184 (24-4-36)
Tranh bìa Phong Hóa số 178
Tam anh chiến chai bố, Phong Hóa 178
Lý Toét uống rượu, Phong Hóa 184
Nguyễn Gia Trí không chỉ chủ trương "bôi nhọ chế độ" và còn nói lên nỗi ô nhục của triều đình, vẽ cảnh dân nghèo trụy lạc, rạc rài cờ bạc, nghiện hút, qua những bức tranh châm biếm, gần như hàng tuần, rất gai mắt, nhưng chính quyền thuộc địa chưa dứt khoát phải đối phó thế nào, bởi vì ra lệnh đóng cửa một tờ báo có khối độc giả lớn nhất trên toàn quốc, cũng cần có một lý do chính đáng.
Và lý do chính đáng ấy đã đến, để kết thúc "tội ác bôi nhọ chế độ": Phong Hóa số 190, có tranh bìa: Mưu mẹo Annam để trừ tiệt quan ôn.
Quan ôn nghĩa đen là ác thần gieo bệnh dịch, nghĩa bóng là quan tham, ác quan. Bức tranh vẽ một bên là âm binh vàng mã, một bên là quan… ôn.
Người dẫn đường giải thích với người ngoại quốc: Chúng tôi bày tiền ra để "cúng", rồi cung cấp súng cho cả hai bên, để chúng tranh giành đánh nhau, chết hết. Có khác gì nói: Bọn mê tín dị đoan (vàng mã) và bọn quan ôn (bồi Tây) bắn nhau cho tiệt hết, là chúng tôi (dân đen) thoát nạn.
Mưu mẹo Annam để trừ tiệt 
quan ôn, Phong Hóa 190
Tam anh chiến nhất Bố, Phong Hóa 190
Bên trong tờ báo, thêm bức tranh Con Lý Toét: A ha! Tam anh chiến nhất Bố, ở trang 9, cũng rất độc đáo: Tam anh ở đây rút ra từ tranh Tam đa, Nguyễn Gia Trí đã vẽ tranh Tam đa trên bìa Phong Hóa số 185 (1-5-36), gồm có: quan Ta, quan Tây, và (tệ đoan) Làng xã. Trong bức tranh này, Lý Toét bị ba con chó (tam anh) cắn, thằng con đứng ngoài vỗ tay cổ vũ. Tranh này cực kỳ đớn đau, cay độc: Cha bị ba bề cắn xé, con đứng hoan hô, nói lên sự ngây thơ của dân mình trước sức tàn phá của thực dân và tham quan ô lại.
Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn
Tuy vậy Phong Hóa bị đóng của vĩnh viễn từ sau số 190 không phải vì tranh Nguyễn Gia Trí cũng không phải vì những bài viết của Tứ Ly, mà vì lý do chính trị.
Tháng 5 năm 1936, một tin quan trọng từ chính trường Pháp: Liên minh cánh tả do đảng Xã Hội (SFIO) của Léom Blum lãnh đạo, lên nắm chính quyền. Tứ Ly mừng rỡ loan tin:
"Bên Pháp hiện đã bầu cử nghị viên xong.
Liên hiệp dân đoàn thắng thế, nghị viên thiên hẳn về phía tả. Ông Léon Blum, đảng trưởng đảng Xã hội quốc tế chiếm được nhiều ghế nhất trong nghị viện, sẽ đứng ra lập tòa nội các.
Ảnh hưởng của sự thay đổi lớn ấy trong chánh giới Pháp đến thuộc địa, đến dân ta, không phải là nhỏ. Nghị viên Pháp thiên về phía tả, thì chính kiến đối với thuộc địa sẽ rộng rãi hơn lên.
Quyền lợi của dân thuộc địa sẽ được nới rộng ra, nếu dân thuộc địa biết tự trọng.
Nhưng ta vui mừng cũng không nên quá giới hạn. Đảng Xã hội khác, mà chính phủ do đảng Xã hội bầu lên khác. Ông Léon Blum đảng trưởng đảng Xã hội chưa chắc đã giống ông Léon Blum tổng lý tòa nội các.
Có một sự chắc chắn nhất, là ta phải trông ở ta." (Phong Hóa số 189, 29-5-36)
Khi viết những dòng tin vui mừng này, Tứ Ly đâu biết, chỉ một tuần sau, Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn.
Liên hiệp Dân đoàn [Front Populaire] tức Mặt trận bình dân chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử ở Pháp ngày 26-4 và 3-5 năm 1936 (Pháp bầu cử hai vòng).
Ngày 6- 6-36, Léon Blum ra lập chính phủ.
Toàn quyền René Robin lập tức ra lệnh đóng cửa báo Phong Hóa trước đó một ngày, tức là ngày 5-6-1936 Phong Hóa ra báo cuối cùng, số 190, bởi vì chính quyền Đông dương sợ Léon Blum lên, sẽ nới rộng chính sách tự do báo chí cho dân thuộc địa.
Trên Phong Hóa số 190 (5-6-36), Tứ Ly viết bài xã luận Đi tìm lý tưởng dĩ vãng, đặt kỳ vọng vào sự nới rộng tự do của Mặt Trận Bình Dân, dân ta sẽ tự giác, quét sạch những lề thói cũ, nếp sống xưa của ông cha, để lập một cuộc sống khác:
"Phải, ông cha ta đã sống một cuộc đời êm lặng, một cuộc đời quá êm lặng (…) Khốn khổ, nhục nhằn đến đâu, họ cũng không mơ tưởng, mong ước một cuộc đời khác, vì họ không biết rằng có thể có một cuộc đời khác được.
Họ chỉ còn một việc: là nhắm mắt hành động theo một quy củ có sẵn, theo phép vua, theo lệ làng… họ không cần phải nghĩ ngợi nữa. Trí đoán xét vì thế mà thiên lệch hay là mất hẳn đi. Thời xưa họ không hề nổi giận lúc họ trông thấy một người làm phản mà bị chu di đến cả ba họ.(…) Họ tán dương hành động của cô Thúy Kiều bán mình chuộc cha và cho sự bán vợ đợ con là một việc hợp công lý. Họ coi là hợp lẽ những hành vi trái với lẽ phải, hay làm giảm, làm mất cả nhân cách… Ông Lý lạy ông Huyện, ông Phủ lạy ông Án, đó không phải là một sự đáng bỏ, mà lại còn là một sự hợp lễ nữa…
Những cái quái dị ấy - và ngàn vạn quái dị khác - đều ẩn nấp sau cái không khí nên thơ của đời cũ. Ông cha ta sống yên ổn trong cuộc đời ấy, nền văn hóa ấy, không phải là vì mến yêu nó, nhưng là ví tâm hồn đã bị khuôn vào những mẫu nhất định, là vì tôi xin nhắc lại một lần nữa - không thể tưởng tượng một đời khác được".
Có bao giờ chúng ta cảm thấy việc Nguyễn Trãi hay bất cứ tù nhân chính trị nào, bị tru di tam tộc là dã man, tàn ác không? Có bao giờ chúng ta cho rằng việc Kiều bán mình chuộc cha là vô lý, vô nhân, không thể chập nhận được? Chúng ta không có phản ứng trước những sự kiện này, tức là chúng ta chấp nhận, mà chấp nhận tức là đồng lõa.
Những lời thống thiết của Tứ Ly báo hiệu một sự dứt khoát tư tưởng trên con đường tranh đấu của Tự Lực văn đoàn: việc cải tổ xã hộicải tổ chính trị, đổi mới tư tưởng, phải đến từ chính chúng ta, từ trong lòng người dân mong muốn và thể hiện, chứ không thể trông cậy vào người khác, bất cứ người ấy là ai. Kêu gào, van xin người ta bố thí cho tự do dân chủ là điều không tưởng khi chính mình không muốn thay đổi. Ngày xưa hay ngày nay cũng vậy.

Chú thích:
[1] Phong Hóa số 19 (27-10-32) có vở hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem, và Phong Hóa số 22 (18-11-32), có hài kịch Mọt đục cứt sắt của Hoàng Tích Chu (Xem chương: Đổi mới ngôn ngữ).
[2] Lúc đó, vì Nguyễn Gia Trí trở lại học trường Mỹ thuật, nên Tô Ngọc Vân thay Gia Trí phụ trách việc trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35). Sau đó Tô Ngọc Vân đi Nam Vang dạy vẽ, và chỉ trở lại với Ngày Nay từ số 147 (28-1-39) đến số chót, để thay Nguyễn Gia Trí, lúc đó đã đi làm cách mạng.
[3] Cụ Hoàng Tăng Bí, thành viên xây dựng Đông Kinh Nghĩa Thục, sau viết báo Trung Bắc Tân Văn.
[4] Cổ tích tân thời, Phong Hóa số 125 (16-11-34), Tam quốc tân thời diễn nghĩa, từ Phong Hóa số 131 (4-1-35) đến số 138 (1-3-35) và Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh chuồn, Phong Hóa từ số 139 (8-3-35) đến số 150 (24-5-35).
[5] Trước vành móng ngựa đăng từ Phong Hóa số 151 (31-8-35) đến số 190 (5-6-36) rồi tiếp tục trên báo Ngày Nay.
[6] Bài Phạm Lê Bổng trên Phong Hóa 151 (31-8-35) và Bùi Bằng Đoàn, trên Phong Hóa số 152 (6-9-35).
[7] Từ Phong Hóa số 153 (13-9-35) đến Phong Hóa số 154 (20-9-35).
[8] Từ Phong Hóa số 155 (27-9-35) đến Phong Hóa 158 (18-10-35).
[9] Tam quốc diễn nghĩa, Phong Hóa số 132 (11-1-35).
[10] Phong Hóa số 133 (18-1-35).
[11] như ông Trần Bá Vị, hội trưởng hướng đạo đoàn Trung Kỳ (Phong Hóa số 144); hay vào Nam phỏng vấn ông Nguyễn Phan Long, lãnh tụ đảng Lập Hiến (Phong Hóa số 145), trở lại Huế phỏng vấn cụ Thượng thư bộ kinh tế Nguyễn Khoa Kỳ (Phong Hóa số 146), rồi vào Thanh Hóa phỏng vấn ông Nguyễn Bá Trác (Phong Hóa số 147) hay ra Bắc phỏng vấn ông Bố Nguyễn Quý Toản [tuần phủ] (Phong Hóa số 148).
[12] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, Cali, trang 116.
[13] Gouvernement général de l’Indochine, Service de l’Information, Souverains et notabilités d’Indochine. Notices par ordre alphabétique, Hà Nội, IDEO, trang 20.
[14] Đăng trên Phong Hóa số 153 (13-9-35), phỏng vấn Tăng Cương Hòa thượng, sư cụ chùa Bà Đá, húy Đỗ Văn Hỷ, đại sư quốc doanh, cao tăng được nhà nước bảo hộ coi như bồ tát, la hán; tiếp đến Phong Hóa số 154 (20-9-35), phóng viên đi vãng cảnh chùa Quán Sứ, trụ sở hội Phật Giáo, gặp tín đồ Lê Dư, chủ tịch hội Chấn hưng đạo đức.
[15] Đăng trên Phong Hóa từ số 155 (27-9-35) đến 158 (18-10-35).
[16] Đại Nam thực lục, tập ba, từ trang 219 đến 266 và trang 392 đến 405.
Ngày Nay phóng sự
Thế Lữ - Trọng Lang - Thạch Lam
Sự ra đời của Ngày Nay
Ngày Nay được quyết định ra đời cuối năm 1934, khi Phong Hóa in tới số 130 (28-12-34), vì nhiều lý do:
- Phong Hóa đang ở trong thời kỳ cực thịnh, với hai vạn độc giả [dân số lúc đó 20 triệu người] [1], có đủ phương tiện tài chính để mở thêm một tờ báo mới, dưới hình thức mới: chiếu ống kính vào đời sống thực của người dân qua ngả phóng sự với hình ảnh đi kèm.
- Cùng thời điểm ấy, Nguyễn Tường Cẩm (anh Nhất Linh) về Hà Nội chữa bệnh, muốn ở lại làm báo, bỏ nghề kỹ sư canh nông thường hay phải đi xa.
- Nhất Linh giao cho Nguyễn Tường Cẩm làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Chủ bút báo Ngày Nay, với một ban biên tập trẻ: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em út Nhất Linh) và Trọng Lang, một cây bút mới.
Ngày Nay từ số 1 đến số 15 [2] do Thạch Lam quán xuyến, có hai mục đích chính:
- Phát triển thể văn phóng sự, mô tả cuộc sống hàng ngày của người dân, chủ đích làm lộ bộ mặt trái của xã hội Việt Nam thời thuộc địa, với những hình ảnh đi kèm.
Bài xã luận trên Ngày Nay số 1, ký Tự Lực Văn Đoàn, viết:
"Mục đích của Ngày Nay là làm cho các bạn biết rõ sinh hoạt của dân ta trong buổi bây giờ, về mọi phương diện, cả hình thức lẫn tinh thần (…) Chúng tôi sẽ đưa các bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện có ở xã hội."
- Ngay từ những số đầu, Việt Sinh (Thạch Lam) và Minh Trúc (Nguyễn Tường Cẩm) đã nhiệt thành giới thiệu những thành quả của trường Mỹ thuật Đông Dương. Tờ báo là bệ phóng của Mỹ thuật và hậu thuẫn cho kế hoạch đem mỹ thuật vào đời sống của giáo sư Victor Tardieu mà chúng tôi đã trình bày trong chương Trường Mỹ thuật Đông Dương.
Trong số những cây bút đầu tiên của Ngày Nay, phải kể đến Tường Cẩm và Tường Bách, anh và em ruột Nhất Linh. Nguyễn Tường Cẩm [3]trong thời kỳ làm giám đốc Ngày Nay, đã viết một số bài ký tên Minh Trúc, như La Khê dệt lụa (phóng sự, viết về nghề dệt ở La Khê, một trong những làng đầu tiên học được nghề dệt lụa từ thời Lê sơ, nhờ 12 người Tàu di cư sang lập nghiệp truyền lại); Năm mới (xã luận, mừng xuân), Nền Mỹ thuật Việt Nam (tiểu luận) và Dân quê (xã luận, nói về đời sống khốn khổ của dân quê) [4]. Sau khi ông bỏ Ngày Nay, bút hiệu Minh Trúc cũng không thấy xuất hiện nữa.
La Khê dệt lụa của Minh Trúc, Ngày Nay số 1
Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, lúc đó còn đang đi học, thỉnh thoảng có thơ văn đăng trên Phong Hóa từ trước. Trên Ngày Nay, thời kỳ đầu, viết mấy bài sau đây: Sắm tết, Gió bấc lạnh lùng, Dưới bến trên thuyềnThủy tiên ngày Tết và Tục ngày tết, và ba bài phòng sự: Ngày giỗ trận… ở chùa Đồng Quang, Trên đồi Lim hội hè đinh đámLạng Sơn ngày hội [5]. Phóng sự của Tường Bách hơi giống lối viết tùy bút của Thạch Lam, có tích cách văn chương nhưng chưa sâu sắc, nên không để lại dấu ấn lâu dài.
Trên Ngày Nay số 2 (10-2-35) còn có phóng sự ngắn Tết của Tù của Vũ Trọng Phụng.
Nhưng báo Ngày Nay chỉ thực sự khởi sắc nhờ loạt phóng sự của Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), và nhất là của Trọng Lang, cùng với loạt phóng sự tòa án Trước vành móng ngựa của Tứ Ly [6].
Nhưng Ngày Nay gặp nhiều khó khăn ngay từ đầu, trước hết về nhân sự:
Nguyễn Tường Cẩm làm giám đốc được năm số thì ngừng, có lẽ vì không thạo việc quản lý và điều khiển một tờ báo, nên ông đã trở lại nghề kỹ sư canh nông.
Ngày Nay số 13 (21-5-35) in một trang quảng cáo của Tự Lực văn đoàn với hai ý chính:
"Hết số này, Ngày Nay không ra hàng tuần nữa, sẽ ra mỗi tháng một kỳ, đóng thành tập".
"Những món đặc sắc hiện có ở Ngày Nay sẽ liệt vào Phong Hóa, để làm tờ Phong Hóa trở thành hoàn toàn, đầy đủ, cho vừa lòng các bạn của Tự Lực văn đoàn và số hai vạn độc giả ngày một tăng thêm".
Sau số 13, Ngày Nay ngừng sáu tháng. Số 14 (13-11-35) hoàn toàn thu hẹp, rất ít bài vở.
Sau số 14, Ngày Nay ngừng năm tháng. Có lời bố cáo trên Phong hóa số 151 (31-8-35): Dù in mỗi số 4, 5 nghìn số, nhưng tiền in hình ảnh đắt quá, mà không thể tăng giá bán, nên mỗi số bị lỗ vốn 1, 2 trăm đồng.
Ngày Nay số 15 (3-4-36), thu hẹp với những bút hiệu xa lạ. Sau đó ngừng.
Hai tháng sau Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn sau số 190 (5-6-36).
Hơn một tháng sau, Ngày Nay xuất hiện trở lại, với số 16 (12-7-36) và toàn bộ biên tập Phong Hóa như ta đã biết.
Phóng sự và hình ảnh là hai điểm chính của Ngày Nay trong thời kỳ đầu, với ý định chụp ảnh sự lầm than của xã hội Việt Nam để in trên báo. Ý định này không kéo dài được vì tiền in tốn kém, báo lỗ, nên phải ngừng sau số 15.
Ngày Nay sống lại từ số 16, nhưng chuyển qua một giai đoạn tranh đấu khác, phóng sự không còn chỗ đúng ưu tiên như trước nữa, nhưng sự hình thành thể văn phóng sự trên báo Ngày Nay đã để lại dấu ấn lâu dài.
Nguồn gốc thể văn phóng sự
Phóng sự là một thể loại rất mới lúc bấy giờ, bắc cầu giữa thông tin và văn chương, giữa nhà văn và nhà báo, và theo Tam Lang, đang là cái mốt bên Tây tràn sang [7]. Không hiểu ở trong Nam, phóng sự đã bắt đầu với ai, từ bao giờ, còn ở ngoài Bắc, Tam Lang là người được Vũ Ngọc Phan ghi nhận như tác giả phóng sự đầu tiên.
Nhưng theo sự khảo sát của chúng tôi, bài Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội của Khái Hưng ký tên Thảo Thượng Phong và Trần Đỗ in trên Phong Hóa số 3 (30-6-32) và số 4 (7-7-32), mới là bài phóng sự đầu tiên.
Tam Lang (Vũ Đình Chí) viết loạt bài phóng sự Tôi kéo xe, hoàn tất tháng 6-1932, in thành sách năm 1935 [8], vậy công bố sau Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, nhưng vì bài của Khái Hưng ký tên Thảo Thượng Phong và in trên Phong Hóa số 3 và số 4, lúc đó chưa ai để ý, nên Vũ Ngọc Phan xếp Tam Lang là người đầu tiên viết phóng sự, cũng dễ hiểu.
Tháng 3 năm 1933, Việt Sinh [Thạch Lam] viết phóng sự Hà Nội ban đêm cùng với Tràng Khanh in trên Phong Hóa từ số 37 (10-3-33) đến số 60 (18-8-33).
Và năm tháng sau, Vũ Trọng Phụng viết phóng sự Cạm bẫy người, in trên Nhật Tân số 2 (9-8-33). Đó là những thiên phóng sự đầu tiên ở Bắc.
Phóng sự là lối viết điều tra của nhà báo, nôm na là viết chuyện người thật việc thật. Dưới thời Pháp thuộc, phóng sự có nhiệm vụ phanh phui mặt trái xã hội, còn đối với chúng ta ngày ngày nay, phóng sự cho biết đời sống thực thời ấy của những người bị gạt ra ngoài lề, mất quyền sống như một con người. Thế giới ăn chơi trụy lạc ở Hà Nội thập niên 30, nằm trong hai khu: Khâm Thiên và ngõ Sầm Công mà các nhà phóng sự, đặc biệt Trọng Lang, tìm cách vén màn lên sự thật sau cánh cửa.
Bài phóng sự đầu tiên của Khái Hưng
Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, là bài viết của Khái Hưng về một tiệm hút thuốc phiện, kiêm những hoạt động ám muội khác. Mở đầu như sau:
"Một gian nhà tây hai từng trong ngõ Sầm Công đường vào đi ngoắt nghéo (…). Tầng dưới có có bốn bộ ghế ngựa cạnh sập, nước sơn dầu lâu ngày đã phai, hầu như người ta lăn lộn đã nhiều lắm thì phải. Gần chỗ cái tủ "buffet" trong để những thuốc, những sái, dầu đèn, tiêm móc đủ cả, kê một bộ ghế ngựa trên chải chiếc chiếu hoa cạp điều có cái bàn đèn thực lịch sự thực sạch sẽ. Hai bên trải đôi đệm vóc hồng điều còn mới tinh, lại có đôi gối da để gối đầu. Ngọn đèn dầu lạc trong cái chụp pha lê thắp sáng chưng suốt đêm suốt ngày. Cái hộp đồi mồi non non ngón chân cái lúc nào thuốc cũng xấp xỉ đầy".
Tác giả chú ý đến từng chi tiết nhỏ, ông tả đứa bé gái con ông chủ tiệm hút như sau:
"Đứa con gái độ chừng ba tuổi, tóc húi kiểu ma ni, hai má bánh đúc trắng hồng, cổ đeo chiếc vòng vàng, mình mặc áo satin hoa thêu, phủ ngoài cái quần lục soạn trắng nõn, đi đôi giầy mang cá cao gót, đương tung tăng chạy chơi với con búp bê to tướng mới mua".
Con bé này là cái đinh của màn kịch diễn ra sau đó: nó được bố âu yếm bồng lên ngồi ở cái đệm gấm cạnh mình, đoạn ông nằm xuống hút và gọi bồi tiêm hãm nước trà, chẳng may anh ta vô ý, đánh đổ nước lên đùi con bé, nước cũng không nóng mấy, nhưng làm ướt cái quần lụa của nó "mới là ngầy"!. Thế là con bé tru tréo khóc oà lên, ông chủ vội vàng đứng dậy, bế xốc con lên dỗ dành, nhưng con bé "lên cơn hờn ghê gớm, cầm con bút bê đập đôm đốp mãi vào đầu cha và chửi cha chửi mẹ thằng làm ướt cái quần đẹp của nó". Thế là loạn cả một cửa tiệm hút lịch sự, đang đông khách, tầng trên cũng đổ dồn xuống, nào những me tây, những bà phán, đang ù dở ván bài… như cái chợ vỡ. "Năm người đàn bà đổ xuống. Người đi sau rốt, lùn mà béo, mặt rỗ, mặc quần lụa trắng, ngoài mặc cái "bu lơ vơ", búi tóc lộn, dáng mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng, giằng sấp ngay lấy con bé ẫm tuốt lên lầu".
Cách viết phóng sự của Khái Hưng rất khác những nhà viết phóng sự sau đó và ông cũng chỉ viết có một bài này, nhưng đã cho thấy rõ lối tả chân của ông: động tác rất nhanh, lời lẽ chính xác, không sót một chi tiết nhỏ, không ba hoa, làm cho độc giả có cảm tưởng bịa đặt, điều mà nhiều nhà phóng sự mắc phải. Khái Hưng xây dựng phóng sự như một truyện ngắn, bố cục chặt chẽ, về một ổ thuốc phiện kiêm cờ bạc, đĩ điếm, sang trọng ở ngõ Sầm Công. Ông chủ tập thể, dẫn đầu, cù lần, bất lực; con bé ba tuổi, trung tâm, đáo để tuyệt mức; và bà mẹ rỗ huê đi đoạn hậu, nắm tất cả quyền bính trong tay. Tổ chức đồi trụy này, nằm trong căn nhà tây, là một toàn diện gia đình trị mà hai lãnh đạo là đàn bà, rất đúng đường lối "nữ trị" sẽ thấy trong tác phẩm của Khái Hưng sau này.
Tôi kéo xe của Tam Lang (Vũ Đính Chí)
Xe kéo là xe có hai bánh lớn, người phu đứng trước cầm hai càng xe kéo mà chạy, lúc đó chưa có cyclo. Cyclo ba bánh, người phu ngồi trên yên sau xe, đạp, đỡ vất vả hơn nhiều. Theo Tam Lang, hơn mười năm sau khi tác phẩm của ông ra đời, xe kéo bị bãi bỏ hẳn [9]. Tam Lang bắt đầu phóng sự như sau:
" - Ông cho nhà cháu xin chiếc xe.
- Mày ở đâu, tên là gì?
Xoạc rộng cái mồm đầy hai hàm răng cáu bựa như những múi na, anh cai T. nới một lỗ khuy chiết thắt lưng da to - to ngang chiếc giây lưng đeo cát tút của người đi săn - tráo trợn hỏi như nhổ vào mặt người anh ta coi là lạ.
- Bẩm, cháu ở Thái Nguyên, tên là Tý" [10]
Lối mở đầu rất khéo, đã tạo được "không khí trấn áp" từ đầu, văn Tam Lang rất sống động. Nhưng ông phạm một lỗi, là ngay đầu đã mô tả tay Cai xe như một thứ cặn bã, đồ bỏ: "hai hàm răng cáu bựa như những múi na", "tráo trợn hỏi như nhổ vào mặt". Đây là nhược điểm chung của nhiều người viết văn hiện thực tả chân: Nguyễn Công Hoan bảo: viết người ác thì phải tả mặt mũi như thế nào… hoặc Vũ Trọng Phụng đổ tất cả mọi xấu xa tội ác lên đầu Nghị Hách. Lối tả này ta gọi là phóng họa, Pháp gọi là caricature, rất ít tính nghệ thuật.
Cái lầm thứ hai của Tam Lang là để cho có vẻ "thành thực", ngay chương đầu, ông kể đã được Bùi Xuân Học, chủ nhiệm Ngọ Báo, gợi ý nên đi làm phóng sự như các nhà báo bên Tây, thường sang Hồng Kông, Thượng Hải làm phóng sự. Tam Lang bèn đóng vai một anh phu xe đi kiếm việc, đến gặp ông Cai, v.v... "Sự thật" này hơi khó tin, bởi vì một "công tử Hà thành" như Tam Lang, chưa bao giờ tập kéo xe, mà chỉ một thoáng đã biến thành "cu ly" kéo xe chở một ông Cai Tây bự, chạy một cuốc dài từ Đồn Thủy lên Yên Phụ!
Tôi ké xe là tác phẩm rất mới thời đó, người đọc dễ tính không thấy những sơ hở và họ thích vì tác giả mô tả được tất cả những cái "dã man tàn bạo" của tên Cai xe, mụ vợ nặc nô cũng ác như chồng và sự bần tiện của thằng cha Cai Tây mập ú, bắt chẹt phu xe, trả rẻ… đúng như ý họ muốn. Đó là cách viết của một số tác giả hiện thực xã hội tả chân thời ấy, nhiều tính trào phúng, phóng đại, nhưng ít sự thật, mà lại rất được ưa chuộng.
Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng
Hơn một năm sau, Vũ Trọng Phụng, viết Cạm bẫy người, ký Thiên Hư, đăng lần đầu trên báo Nhật Tân số 2 (9-8-33), được Annam xuất bản cục (nhà xuất bản đầu tiên của Tự Lực văn đoàn) in thành sách năm 1934.
Cạm bẫy người kể lại câu chuyện do một người bạn - là kẻ đánh lừa cha - thuật lại: vì có ông bố keo kiệt nhưng thích cờ bạc, y bèn dẫn về nhà một tay cờ bạc bịp, tay này lột tiền của ông bố rồi chia cho y. Cờ bạc bịp có nhiều trường phái mà lừa đảo cũng vậy… Cạm bẫy người là tác phẩm đầu, Vũ Trọng Phụng viết khá cẩn thận, tôn trọng sự thật, có lẽ vì thế mà được Tự Lực văn đoàn in. Nhưng Cạm bẫy người chưa phải là một phóng sự mà chỉ là câu chuyện nghe kể lại. Chất phóng sự rõ hơn, trong hai tập sau: Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô [11]Kỹ nghệ lấy Tây, ghi lại lời tâm sự của những người đàn bà lấy Tây kể về hoàn cảnh éo le của mình. Cơm thầy cơm cô mới đích thực là phóng sự, bởi vì tác giả đã nhập hẳn vào môi trường khảo sát.
Cơm thầy cơm cô, viết về "thế giới con ở" mà Vũ Trọng Phụng trà trộn vào để nghe chúng kể lại những chuyện tồi tệ của chủ. Trước hết ông giả làm người đi tìm việc, được mụ mối dẫn đến trọ ở một hàng cơm:
"Tôi không cần nói rõ hàng cơm nào, ở phố nào, làm gì. Các ngài chỉ biết rằng một hàng cơm cũng như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn. Nào là mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi dưa khú… Thôi thì đủ một trăm nghìn thứ mùi khó chịu, mà lạ nhất là nó không hề bận tâm đến hai lỗ mũi của bà chủ luôn luôn nắm trong tay cái quạt nan, cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột, tự nhiên như đàn ông chúng ta" [12].
Đoạn văn này khá tiêu biểu cho lối viết của Vũ Trọng Phụng: khiêu khích và phóng đại. Hàng cơm ông tả khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn, vì những mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi dưa khú… mà nó lại giống như nghìn vạn hàng cơm khác. Vậy tất cả những hàng cơm ở Hà Nội đều như thế ư? Hai chữ "bổn phận" có nghĩa gì? Lại còn bà chủ cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột nữa: Bạn đã thấy ở nơi nào có hàng cơm với mụ chủ quán cởi trần trùng trục ngồi tiếp khách? Rồi phóng viên được đưa vào nhà trong, lên gác, vẫn lối tả chân sống sượng, viết phứa, sản xuất ra những câu: "Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả, bọn đực nằm phía bên kia, bọn cái, phía bên này" [13].
Vũ Trọng Phụng đẩy xa sự phóng đại gấp mấy lần Tam Lang, cho nên, dù ông có biệt tài viết rất sống động, lôi cuốn, có những đoạn hay, nhưng những câu văn như trên đã tạo ra cảm giác một thứ hoạt họa tiếu lâm tàn ác hơn là một thiên điều tra về cảnh lầm than của kiếp người.
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Trọng Phụng là người sống nghiêm túc, đạo đức, chẳng bao giờ đi chơi đêm, vậy mà ông lại viết những phóng sự "kinh hồn" như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô, dĩ nhiên là phải hư cấu, mà viết rất nhanh, không kịp đọc lại, nên đã có nhiều chữ gây tai hại cho tác phẩm. Tuy nhiên ông đã tạo được một "trường phái phóng họa" mà sau này Hoàng Hải Thủy là môn đệ trung thành.
Phóng sự của Nhất Chi Mai (Thế Lữ)
Trên Ngày Nay, phóng sự do ba người đảm nhiệm: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ) và Trọng Lang, một cây bút mới. Cả ba đều có lối viết khác hẳn lối hư cấu của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng.
Thế Lữ, dùng lại bút hiệu Nhất Chi Mai, đã từng ký trên Phong Hóa, năm 1932 [14]. Bẵng đi hai năm, ông không dùng bút hiệu này nữa [15]. Khi được điều động sang Ngày Nay, trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), Thế Lữ có làm một bài thơ trả lời độc giả hỏi: Thế Lữ ở đâu mà không thấy có mặt trên Phong Hóa? Cũng kể từ lúc này, ngoài bút hiệu Thế Lữ, ông còn lấy bút hiệu Nhất Chi Mai để trình làng trên Ngày Nay như một tác giả mới, với lối viết phóng sự sinh động, lôi cuốn, tại Hải Phòng, nơi gia đình ông cư ngụ.
Thế Lữ bắt đầu với bài phóng sự Một cái chợ người giữa nơi thành thị, ký tên Nhất Chi Mai, trên Ngày Nay số 1 (30-1-35). Tiếp đó là loạt phóng sự Buôn người [16]Tong-Hin[17] và loạt bài Ngày Nay điều tra Ăn cướp của Trọng Lang và Thế Lữ [18]. Cũng trên Ngày Nay, Thế Lữ bắt đầu loạt tiểu thuyết trinh thám Lê Phong phóng viên trinh thám [19].
Một cái chợ người giữa nơi thành thị của Nhất Chi Mai, mô tả cảnh "chợ người" ở Hải Phòng, là nơi những người đi tìm việc tụ tập, tiếp xúc với các mụ mối chuyên kiếm việc cho kẻ thất nghiệp để lấy hoa hồng. Giọng phóng sự của Thế Lữ như sau:
"Hải Phòng, một buổi sáng mùa đông, trên trời mây kéo đen ngòm; lác đác mấy hạt mưa lạnh buốt đến xương.
Thu mình trong chiếc áo cao su, tôi rảo bước trên bờ hè phố Bonnal. Bỗng có tiếng gọi giọng lanh lảnh:
- Ông tìm người làm?
Dừng bước, thấy trước mặt tôi, trên bờ hè, sế [xế] vườn hoa bãi sông Lấp, bầy ra một cảnh tượng khiến ai thấy cũng phải chú ý.
Một bọn người vừa đàn ông, vừa đàn bà, trẻ có, già có, quần áo rách rưới, co ro, sắp hàng ngồi thành một rãy. Những khuôn mặt hốc hác, những da vàng ỏng, những con mắt sâu hoắm".
Giọng Thế Lữ thành thật, nên đã chiếm được lòng tin của độc giả. Một cái chợ người giữa nơi thành thị chỉ là bài mở đầu cho chủ đề Buôn người.
Phóng sự Buôn người, Ngày Nay số 2
Buôn người là phóng sự dài và chính của Thế Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 2 đến số 8, cho ta thấy lại văn tài tác giả Vàng và máu, nhất là ở những đoạn mô tả bọn lái buôn hành động trong đêm tối:
"Trên mặt nước đen như mực, chiếc thuyền không đèn, không đóm cứ việc đè sóng vùn vụt chạy như bay. Một tên khách lực lưỡng, vẻ mặt dữ tợn, mắt sáng quắc như mắt vọ, lạnh lùng ngồi lái.
Tuy là đường thủy mà lại khúc khuỷu khó đi vì đá mọc ngầm dưới biển rất nhiều.
Thuộc lòng từng tảng đá, tên lái khách thản nhiên cho thuyền chạy quanh co, săm săm đâm vào trong đêm tối…
Những tiếng gió vi vút, gầm thét trong hang, những tiếng hò não nuột của lũ chim đêm, những tiếng sóng dạt dào, những cái bóng đen lù lù của đàn cá mập bơi theo, những cảnh tượng thâm u, sầu thảm của trời nước, một đêm không có trăng sao, không đủ làm nao lòng bọn "lái thán", bọn khách chuyên nghề chở người từ Hải Phòng ra Móng Cái.
Bọn này toàn là giặc bể trở về. Trên lương tâm mỗi đứa đếm ra cũng được dăm cái án mạng gớm ghê.
Bọn "lái thán" công ty với bọn "mẹ mìn" chở những món hàng người qua Móng Cái, về nẻo Đông Hưng. Mỗi chuyến đi thoát, bọn "lái thán" cũng được trăm bạc hay hơn tiền hoa hồng".
(Ngày Nay số 2, 10-2-35).
Văn trong Buôn người có nhiều đoạn tuyệt hay như thế, nên đã lôi cuốn độc giả, khiến họ dù có nghi ngờ đôi chút về "sự thực", cũng bỏ qua, vì cho rằng nhà văn có quyền hư cấu cảnh vật, miễn là nội dung buôn người có thật, do Thế Lữ điều tra chứ không bịa đặt.
Ngày Nay số 3, vẫn trong Buôn người, tác giả chuyển sang chuyện mẹ mìn. Theo ông, năm 1929,  năm mẹ mìn. Chuyện mẹ mìn dẫn đến chuyện người Tàu giấu của; tất những chi tiết ly kỳ này, dĩ nhiên tác giả không trông thấy mà chỉ nghe kể lại: họ mua một thiếu nữ đồng trinh, chờ lúc trăng lặn, làm lễ chôn sống người con gái Annam cùng với của cải châu báu để làm thần giữ của, tục này có từ thời Tô Định, Liễu Thăng. Còn ngày nay [1935] người ta dùng mẹ mìn trong việc "hiện đại" hơn: bán người cho bọn mộ phu đi Tân thế giới. Trước tệ nạn này, dân chúng đứng lên lên trừ mẹ mìn, nghĩa là cứ thấy một "con mẹ" lanh lẹ mon men vào chợ, lân la hỏi chuyện là người ta xông vào đánh "cho chết bọn mẹ mìn". Sau việc này và việc tay tổ mộ phu Bazin bị ám sát ở chợ Hôm, hoạt động mẹ mìn và buôn người mới lắng xuống. Tình cờ một hôm phóng viên Nhất Chi Mai gặp được cụ Bát, kể lại: Con gái cụ bị bắt cóc sang Tàu lúc 12 tuổi, bán cho một nhà giàu làm con ở. Năm 20 tuổi, cô gái gặp được một người [Tàu] tốt đưa cô trở về với gia đình.
Cũng có trường hợp không đi thoát, vì thuyền gặp bão đánh giạt vào đảo, bị nhà đoan vây bắt với cả "thuyền hàng" gồm mười người phụ nữ. Hoặc trường hợp bi thảm của một đứa nhỏ bị bắt, bán làm con ở, sau lớn lên làm vợ chung cho chủ, là ba tên lái lợn.
Phóng sự Buôn người để lại dấu ấn hãi hùng về một thời ở Bắc: trẻ con nào lớn lên trong thời ấy, nghe thấy hai tiếng mẹ mìn là sợ mất viá. Ngày nay đọc lại phóng sự của Thế Lữ Nhất Chi Mai, ta mới thấy rõ cảnh mẹ mìn bắt cóc ấy như thế nào.
Phóng sự Tong-Hin quê hương của Trần Tế Đường, không có gì đặc biệt: Tong Hin là một làng nhỏ bên Tàu sát biên giới. Từ Moncay sang Tong Hin phải qua cái cầu nhỏ dài 100 mét, bắc ngang sông Đông Hưng. Tong Hin là quê hương của Trần Thế Đường, Tổng đốc Quảng Đông. Sang Tong Hin phóng viên gặp kỹ nữ Xuân Đào, một người đẹp, hát hay nhưng số phận long đong.
Ngày Nay điều tra ăn cướp của Trọng Lang và Thế Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 6 đến số 13, là một phóng sự thành công. Hai phóng viên đi sâu vào những tổ chức ăn cướp ở thôn quê. Người dân bị cướp thường trực, nhưng không có vũ khí chống lại, chính quyền làm lơ.
"Tiếng chó sủa, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên và những tiếng cầu cứu kêu thất thanh trong đêm tối! Dân quê luôn luôn sống trong sự sợ hãi: sợ cướp và sợ bao nhiêu thứ khác nữa". Đám cướp được tổ chức rất dễ dàng:
"Cứ một bọn hai mươi người biết cách xếp đặt hẳn hòi thì đến bất cứ nhà nào ở thôn quê cũng ăn cướp được" đó là lời tuyên bố đáng sợ của của một tên tướng cướp".
Nhờ khôn khéo và may mắn, phóng viên được tướng cướp tin cậy, cho dự một vụ đánh cướp thực sự và "trả lời phỏng vấn" nữa, tiết lộ mánh lới khảo của, cách tháo chạy như thế nào, sự trừng phạt kẻ phản bội ra sao, làng cướp cũng có kỷ luật sắt như luật mafia sau này, không ai dám tố cáo lẫn nhau, cho nên những kẻ nhúng vào tội ác, giết người, vẫn ở ngoài vòng pháp luật, cho đến khi tự ý ngừng hoạt động, về hưu, làm người hiền lành như một ông đồ!
Kèm chuyện ăn cướp, hai tác giả còn mô tả những bức tranh quê sống động trong ngày phiên chợ, cảnh đấu đô vật hấp dẫn, những lý luận đặc thù của xã hội bất lương, cả đến những người dân "vô tội", cũng không chỉ là đáng thương, là nạn nhân mà còn, một cách nào đó, đã "đóng góp" vào tội ác. Ngày Nay điều tra ăn cướp là một phóng sự có giá trị sâu sắc, nhưng rất tiếc, không được mấy ai chú ý.
Phóng sự của Trọng Lang (Trần Tán Cửu)
Trọng Lang [20] là cây bút chính về phóng sự của Ngày Nay. Trọng Lang vượt trội Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, vì tính chất thành thật, nhân đạo và nghệ thuật tả chân trong tác phẩm của ông. Ông nói thẳng mình là nhà báo được trả tiền đi làm phóng sự.
Trọng Lang xuất hiện lần đầu trên Ngày Nay số 1 [21] với phóng sự Lạc vào động bà chúa Hàng Bạc, tả lại cái động của bà Bé Tý, nhân vật nổi tiếng ở Hà thành. Lúc ấy ông mới 19 tuổi, gửi thử bài viết đầu tiên cho Ngày Nay, không ngờ được đăng ngay.
Bà chúa Hàng Bạc người Tầu lai Tây, sống bên Annam, và động của bà - ngày chủ nhật thỉnh thoảng mở cửa cho khách vào xem - có đủ mọi trò hấp dẫn, có ảo thuật, có đội vũ nhạc, có nhảy fox Tây theo điệu đàn Tàu; có hát cô đầu lối Tàu, có lên đồng… nghĩa là không thiếu trò gì cả. Với bài phóng sự này, Trọng Lang xác định giọng văn đặc biệt của mình, ông giới thiệu động bà chúa Hàng Bạc như thế này: "Ra Hà Nội, một ông Lý Toét ít ra phải được xem hai cái kỳ quan: Vườn bách thú và nhà bà Bé Tý". Và ông đã mô tả quang cảnh và không khí "động tiên" ấy như một màn xiếc sống, đủ trò lai căng mà ta có thể mường tượng được.
Tiếp đến Trong làng chạy [22] là một thiên phóng sự sống động về thế giới trộm cắp, ông bắt đầu như thế này:
"Chợ Đồng Xuân, một buổi sáng… Lấy chỗ những con chó cụp đuôi đứng liếm lá gói bánh hay đống rác ở các chợ nhà quê, hai thằng bé đứng "hít" một mẹt bún chả.
Hai tay khoanh để sau gáy, chúng thỉnh thoảng nuốt nước rãi.
Người gầy, quần áo rách. Người ta không hiểu hai bộ tã ấy còn duyên nợ gì với hai cái thân ốm yếu ấy mà chưa rời."
Tất cả ngụ trong cách tả và sắp đặt: hai thằng bé - sắp giật gói bánh ga tô - chiếm chỗ con chó cụp đuôi liếm lá, đứng hít mẹt bún chả, nuốt nước rãi, không hiểu hai bộ tã ấy còn duyên nợ gì với hai cái thân ốm yếu ấy mà chưa rời. Lối tả lạnh lùng đến "vô nhân" như thế, mà lại vô cùng nhân đạo thương tâm trong chiều sâu, chưa mấy nhà văn đạt được, khác hẳn với lời văn thô và miệt thị "Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả" của Vũ Trọng Phụng mà ta vừa thấy ở trên. Trọng Lang đưa ta vào thế giới ăn cắp, từ tỉnh về quê, đủ mọi hoàn cảnh, tình thế, đủ loại thủ đoạn, mánh khóe, khác nhau. Ông đã tạo ra bức tranh bi hài tột độ về xã hội đạo chích đương thời.
Trong phóng sự Đàn bà hút thuộc phiện [23] ông chiếu ánh sáng vào những đàn bà nghiện, sang hèn khác nhau, trong những tình huống khác nhau, đặc biệt những người thường xuyên nằm đét trong các tiệm hút tồi tàn, chỉ ngóc đầu lên để đi khách, có tiền hút tiếp, họ chính là hình ảnh của địa ngục trong con người: tự mình đưa mình xuống âm ty.
Phóng sự Đời bí mật của sư vãi [24] kém Trong làng chạy, bởi tác giả có thành kiến với giới tu hành, ông cho rằng chín mươi phần trăm người đi tu thuộc vào bốn loại sau đây: 1- Trong tử vi có chữ "tu hành". 2- Mồ côi cha mẹ hoặc lười biếng. 3- Muốn chết nhưng sợ đau không dám tự tử. 4- Cha là sư, mẹ là vãi. Với một thành kiến chắc nịch như thế, ông chỉ tạo ra hoặc nghe lại những mẩu chuyện về các loại sư hổ mang, hoặc những chi tiết ly kỳ về cuộc đời xác thịt của một sư bà… rồi phóng ra mà không điều tra chiều sâu của cuộc sống trụy lạc - nếu có thật - của giới tu hành. Phóng sự Gà chọi [25] hay hơn, tác giả tìm hiểu khá sâu về thế giới chơi gà chọi, đưa ra những trang phóng sự thật sống động. Phóng sự Đồng bóng [26] cũng tìm hiểu cặn kẽ về thế giới lên đồng.
Nhưng tác phẩm chính ông là phóng sự dài Hà Nội lầm thanđăng trên Ngày Nay năm 1937 [27] về cuộc sống bùn lầy của đám phụ nữ giang hồ (gái nhảy, cô đầu, gái điếm) và của phường ăn mày kiêm ăn trộm. Tất cả Hà Nội lầm than đều là thần tử của thuốc phiện, trong hai khu Sầm Công và Khâm Thiên.
Làm dân [28] viết về tình trạng tồi tệ, hủ lậu, dốt nát của một làng nhỏ ở ngoại ô mà những người con gái nhẹ dạ, chỉ mơ được ra Hà Nội, đã sa vào vòng trụy lạc. Làm tiền [29] viết về những thủ pháp làm tiền quỷ quyệt của đủ mọi hạng người.
Đói [30] là phóng sự mà cũng là tài liệu văn học sớm nhất về nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc, mô tả cảnh chết đói kinh hoàng trên đường phố, của những người dân quê tiến về Hà Nội: "chúng cháu cả làng chết tiệt mất cả" nên rủ nhau đi bộ liều lên đây "vì nghe họ bảo rằng ở Hà Nội thì cứ nhặt hạt rơi hạt vãi, cứ khóc một tiếng, vái một vái, là đủ no cho cả đống rồi""Chín người, mà là chín bức tượng gầy đen kịt. Những người lớn thì đã vượt tuổi, sớm đến cõi chết: nghĩa là họ đã mắt trũng, răng hô, lêu đêu, ghê gớm như ma quỷ cả rồi. Những đứa bé thì như trở lại thời sơ sinh: nghĩa là mắt tròn xoe, má răn thành sóng đến tận mang tai, chúng bé rúm lại, như những khỉ con mới đẻ".
Sống sót [31], đúng như lời giới thiệu của tác giả: "Thiên phóng sự này tả tình cảnh của bọn thực dân Pháp sống sót lại sau đêm mùng 9,[9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp] của tụi Việt gian đã sống sau gót thực dân, của lũ "me" lỡ bước, của những kẻ vong bản đã nhập Pháp tịch".
Trọng Lang và Nguyên Hồng là hai nhà văn lớn do Tự Lực văn đoàn khám phá.
Trong mười 10 năm, từ 1935 đến 1945, Trọng Lang, một mình, trên Ngày Nay, đã tìm cách phơi bày tất cả bộ mặt tối tăm của xã hội thực dân, qua ngả phóng sự.
Phóng sự của Trọng Lang về tình trạng lầm than sa đọa ở Hà Nội, tiểu thuyết hiện thực xã hội của Trần Tiêu về đời sống tăm tối của dân quê, và tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Hồng về xã hội trộm cắp, là ba mặt công phá khác của Ngày Nay, ngoài tiểu thuyết Khái Hưng, Nhất Linh, và truyện ngắn Thạch Lam.
Hà Nội lầm than
Hà Nội lầm than là tác phẩm chính của Trọng Lang, đăng trên Ngày Nay năm 1937 [32], với bốn đề tài: Gái nhảyCô đầu, Nhà thổ và Ăn mày.
Tiệm khiêu vũ, khi đứng ngoài, tiếng nhạc vọng ra cho ta cảm giác quyến rũ, êm dịu, mơ màng, cực kỳ thanh lịch:
"Ngồi nhìn, từ 9 giở cho tới nửa đêm, những cặp "nhảy" dịu dàng và trai trẻ, giữa tiếng cười, hoa và giây giấy, giữa những điệu nhạc mê hồn, người ta yên chí rằng nghề "nhảy" là một nghề nhã nhặn, kiếm được, cho các cô nhảy tiền và chồng rất dễ.
Nhưng từ mười hai giờ đêm đến ba giờ sáng, hay đến lúc bình minh, lúc phấn sáp đã trôi qua những làn da xám nhợt, người ta mới thấy rõ cái bã của cuộc vui, bộ mặt thực của nghề nhảy, nó cũng gớm chết như bộ mặt xanh vàng, hết phấn của các cô nhảy.
Rồi, nhìn thấy các cô nặng nề, khổ sở, cố lê theo mấy ông lực lưỡng, lắc trên lắc dưới như một thằng múa rối, người ta tưởng tượng ngay ra rằng các cô là "cu ly nhảy" chứ không phải là gái nhảy nữa".
"Một lát nữa tôi thấy cô nhảy tăng gô với khách, lưng cong lên, cầm cô tựa vào vai khách, há mồm ra mà… ngủ như thường". (Ngày Nay. 50)
Trọng Lang đã vào bên trong tiệm nhẩy, đã nhìn thấy cái bã của cuộc vui, đã thấy những "cu ly" nhẩy, bởi họ đúng là phu nhảy, loại phu phen hạng bét, hàng đêm phải gánh đủ mọi hạng người, hôi hám, say khướt, thô tục, không biết nhảy, giẫm lên chân. Bằng mọi giá, cu ly nhảy phải kéo cho được những tạ thịt này đi theo điệu nhạc, có cô bị giẫm nát cả mấy ngón chân, phải vào bệnh viện. Một đời sống quay cuồng, trông bề ngoài đẹp như tranh, mơ như luân vũ, nhưng bên trong là những cái xác không hồn, nhảy đến tan thân, rách áo, gãy giày, hai chân rã rời muốn quỵ, để nuôi một thân hình không còn sinh lực, không còn sức sống.
Cô đầu cũng không khá hơn. Đây là cảnh năm, sáu cô đầu, đội khăn trắng, tiếp khách:
" - Em đã nhất định không chịu để tang. Nhưng mà bà ấy bắt phải đội khăn trắng.
- Đội khăn trắng thì họ bảo mình cóc có tiền mua khăn nhung, phải giả có trở để đội khăn trắng, rẻ tiền, giặt được.
- Dù mình có để trở bố mình đấy, họ cũng bảo là mình để trở ông Bôn be".
Một cô đầu kiêm nữ sĩ than:
" - Chỉ vì cái con phải gió, con X. kia! Đưa cho nó một đồng để nó mua thuốc phiện dấm thanh về hai đứa uống. Nó lại đi mua có năm hào!"
Nên cô mới còn ngồi đây. Con phải gió đã đi thoát, nó chẳng nghe được lời cô trách.
"Em có chết, thiên họ tất họ sẽ nói: chẳng chết những đứa đó thì chết đứa nào! Nhà báo sẽ đăng là chết vì tình! Các anh may ra sẽ được một câu điếu: Thế à! và một cái tắc lưỡi, như gọi chó!"
Những nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Tuân, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… thường tụ họp bên bàn đèn, để mơ nàng tiên nâu, uống từng âm thanh "tom chát", có đọc những dòng này, chắc không khỏi "chạnh lòng". Trọng Lang đã ép trọn đắng cay, tàn ác, trong vài câu ngắn ngủi, nhỏ xuống những số phận không ai tin, không ai thương: dù mình có để tang bố, chúng nó cũng không tin, thì tang làm gì? Mà cái con phải gió bảo đi mua thuốc phiện dấm thanh, lại còn hà tiện, cho chết một mình đáng kiếp! Nhưng không hề thấy xác. Chỉ thấy mùi âm khí. Còn em, một cô đầu văn sĩ, em có chết, chắc cũng chỉ được các anh đồng nghiệp tặng cho một cái tặc lưỡi như gọi chó là cùng! Kinh khủng. Bái phục. Sao lại có ngòi bút gói ghém được toàn diện cái ai oán trong tiếng tom chát Khâm Thiên đến thế.
Nhà thổ còn ghê hơn. Bởi "tôi quyết rằng không ai dám nhận đã đi vào… "nhà thổ" dù chỉ một lần nhỏ thôi, trong đời mình. Là vì nhà thổ là chỗ ô uế cực kỳ, một chỗ để chứng rằng tâm hồn và xác thịt của một đám đàn bà trụy lạc đã thối nát đến bực nào…
Tôi đã đàng hoàng bước vào nhà thổ với ngòi bút và lòng thương."
Đấy là nói cho oai, chứ chàng phóng viên này đến ngõ Sầm Công đi qua một căn nhà thổ bốn bận mà không dám vào, dù bị chế giễu, mời mọc, đủ kiểu:
"- Giời mưa, ới hỡi giời mưa:
Có thằng thích chết mà chưa dám vào!"
Một mụ già mắng át con bé hát láo, thì thào vào tai chàng:
" - Chả có ai cả đâu! Mời cậu vào đi!"
Bấy giờ chàng mới nghiệm thấy "thì ra bao nhiêu ngày tháng sống chung với "kẻ cướp" và "kẻ cắp" dạo trước, vẫn chưa gây cho tôi đủ can đảm để vào "nhà thổ". Rồi chàng cũng thuê được hai quân sư nghiện dẫn chàng vượt cửa khẩu vào vùng đất cấm:
"Tôi đã được nghe những tiếng cười, khóc, điên dại và ghê gớm của một đám người hãy còn tỉnh để nhớ rằng họ đã từng là… "đàn bà". Tôi đã thấy hết cả các thứ bẩn thỉu, cái vô nghĩa trong kiếp sống ở một người đàn bà, khi người đó đã không còn gì là "đàn bà" nữa".
Nhưng vẫn có "một mụ" phân biệt nghề mình với nghề cô đầu:
" - Chuyện! Cô đầu khác, mà nhà thổ khác. Cô đầu khổ sở bỏ mẹ đi… Thằng nào cũng phải tiếp. Đang ngủ nó dựng cổ dậy, nó có bệnh nó đổ cho cũng không biết nữa. Nó hành hạ không kêu vào đâu được, chủ nó đánh đập như con chó cũng phải chịu. Ăn thì ăn uống khổ sở. Thử hỏi tụi cô đầu N.7 xem có sướng hơn chúng tôi chưa?
- Nhưng mà ở nhà chứa nghe nói: "không chịu tiếp khách, mụ chủ nó lột truồng ra, lấy tóc buộc vào cột mà đánh, lại có lúc nó buộc phải tiếp nhiều khách quá trong một đêm, thì phải nắm lấy chầy mà cán bụng. Hai việc đó sướng cái gì?"
Mụ lại phải giải thích: bây giờ không làm thế được, chủ hành hạ thì đã có phép (lên khóc lóc mách bà đầm lục xì). Còn khách hàng lôi thôi, tống ra cửa (bảo y có bệnh, cách khám đã có quan đốc lục xì dạy cho rồi).
Nhà thổ còn có phép trị bọn khách quý. Một lũ khách gian, tiếng lóng là càn long, sai hai đứa đi mặc cả trước, rồi dẫn "con Oanh" vào xăm [33]. Oanh khét tiếng anh chị, bao nhiêu thằng nó cũng thầu hết. Hai thằng vào trước, mở hé cửa sau cho bọn càn long vào lậu. Oanh cho cả bọn 10 thằng vào xăm, đoạn nó tự thoát y rồi ra lệnh: các anh đông quá mà chỉ thả ra có một đồng rưỡi, lại mặc cả suốt đêm cho hai người. Thôi thì đã đến đây, chả lẽ lại về không, vậy anh nào muốn ở lại, phải lập tức cởi hết quần áo ra. Nhìn tấm thân hộ pháp của con Oanh, chín thằng mất vía, líu ríu xin rút lui, chỉ một thằng trẻ chuyên môn tắm truồng, can trường ở lại. Thế là mất toi một đồng rưỡi bạc. Giá hạng bét chỉ có hai hào.
Nhà thổ là một xã hội đủ mọi hạng người: từ những công tử đẹp trai con quan lỡ bước, mặt xanh rớt, hành nghề cho Tây, đến những người đàn bà "không còn là đàn bà" mà là những "đống thịt trâu xám ngoét", ngửa ra trên bàn lục xì cho quan khám, nghe chửi, hoặc nằm chịu trận trong ngõ Sầm Công hôi hám, để nuôi thằng chồng nghiện hút, mắc bệnh lậu, đánh vợ tàn nhẫn. Đó là mặt trái của Hà Thành thanh lịch áo dài Lemur Cát Tường, và là thành quả của chế độ nha phiến bảo hộ.
Chưa đủ, Trọng Lang còn đào sâu hơn: phần thứ tư của phóng sự: Trong hang tối, chứa chất những cuộc đời tăm tối nhất trong ngõ Sầm Công và Khâm Thiên. Là loại người đã ở trong bùn, ăn gì cũng không chết: ngốn thịt gà toi, thịt trâu chết, ở với lợn, mà lại sợ vào nhà thương, con lên kinh sài, thì mua hương "cửu trùng" cúng, hôm sau thấy bảo nó hỏng đêm qua rồi, chỉ chép miệng: "Ối chào! Trẻ con ấy mà!". Trẻ chết có đáng gì. Lại có kẻ hành nghề "chôn người". Bởi vì người lớn hay trẻ con chết mà gia đình ngại lôi thôi, không muốn dính, vứt xác ra đường; hoặc ma cà bông, chết nghiện, vô thừa nhận… thì đã có ông chôn người lượm về chôn tuốt. Lại còn phải kể hạng người giết… người, là những bà mụ, đỡ đẻ bằng mảnh chai, mảnh sắt rỉ, bằng lá ngón; lang băm giết người vì cho uống bùa ngải; lang Mường (giả mường) bán bùa đeo rốn, cam đoan sau trăm ngày sẽ có mang.
Nhưng đây mới là cái đáy: trong Một "tổ cốc" (tổ ăn mày, ăn cắp, nghiện) ở phố S.C, họ nuôi chuột cống làm bồi tiêm, nuôi mèo luyện nghề ăn cắp. Mèo, chuột, đi ăn cắp thuốc tha về, nghiện nặng như chủ, sau mỗi "vụ", chúng được thưởng, hít khói thuốc phiện.
Một ông ăn mày kiêm ăn trộm, nguyên gốc quan Thừa kiêm thi sĩ, ngâm:
Ngàn năm văn vật đất Thăng Long
Thuốc phiện là đây có phải không?
Bởi vì, "nếu chỉ kiếm được có hai Bảo đại, tức là hai "con" thì đành phải uống tạm một bát nước "cam lồ" nghĩa là nước canh nấu bằng dẻ lau bàn đèn, các thứ bẩn thỉu của bàn đèn, có đá hơi thuốc phiện.
- Nếu không kiếm được một trinh nào?
- Thì… như thường lệ! Nghĩa là nổi cơn ho hen lên, rồi nằm chết rũ một xó hè nào đó…" [34]
Ai lại muốn chết?
Sự xuống cấp từ người xuống dưới người là nhờ thuốc phiện, nguồn thu nhập lớn lao mà nhà nước bảo hộ độc quyền khai thác, cho phép dân dùng không hạn chế.
Tệ nạn nha phiến, vua Gia Long đã thấy, nên từ năm 1802, vua đã cấm người Anh vào đất Việt, cấm luôn người Pháp, để tránh ganh tỵ. Vua Minh Mạng càng đề phòng hơn, chuẩn bị kỹ càng về binh bị, trong các buổi họp cơ mật, vua rất quan ngại vấn đề nha phiến và việc người Âu xin vào "buôn bán", vua đã thấy Lâm Tắc Từ phải đối phó với thuốc phiện Anh trồng ở Ấn Độ đem lậu vào Trung Quốc, vua tiên đoán nhà Thanh sẽ thất bại trong chiến tranh nha phiến (1839-1842). Đầu năm 1841 vua băng hà. Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều cấm ngặt dân hút thuốc phiện. Nhưng từ khi Pháp đổi nền bảo hộ thành nền đô hộ trên toàn lãnh thổ, thuốc phiện công khai tàn phá từ quan đến dân, bởi vì nó là một trong những nguồn lợi chính của mẫu quốc.
Hai cường quốc Anh Pháp đã thành công trong việc đầu độc hóa hơn nửa Á Châu bằng nha phiến, vậy mà vẫn còn có người Việt ngây thơ tin rằng, vì các vua Nguyễn "bế quan tỏa cảng", không để cho người Pháp vào "buôn bán", lại cấm đạo nên chúng ta mới mất nước. Bức tranh Tam anh chiến nhất bố của Nguyễn Gia Trí, vô tình hay hữu ý, chỉ vào việc này.
Phóng sự của Thạch Lam
Việt Sinh (Thạch Lam) bắt đầu viết những bài phóng sự ngắn trên Phong Hóa, năm 1933, như: Trên đồi Lim, Nghe hát quan họ một đêm ở Lũng giangXòe của các cô nàng, và Phong dao Mường [35]Những bài này chưa hẳn là phóng sự mà giống tùy bút.
Đến loạt bài Hà Nội ban đêm ký Việt Sinh và Tràng Khanh, mới là phóng sự đúng nghĩa. Hà Nội ban đêm còn là phóng sự đầu tiên về nghề làm điếm tại Hà Nội, vạch trần sự sa đọa và tồi tệ của thủ đô về đêm, chúng tôi đã giới thiệu trong chương Hoàng Đạo và Thạch Lam.
Trên Ngày Nay, Việt Sinh viết ba phóng sự ngắn Nhà cửa Annam [36]Đánh cá Hồ Tây [37]  Bóng người Yên Thế [38]. Phóng sự của ông vừa có tính cách văn chương vừa thành thực, nhẹ nhàng nhưng không kém phần sâu lắng.
Một tháng ở nhà thương [39]: Tự nhiên bị sưng hạch ở cổ, bác sĩ cho biết là bệnh lao hạch (tuberculose glanglionnaire), phải mổ, Thạch Lam vào nhà thương Robin ở Cống Vọng. Nhờ bài phóng sự này ta biết Thạch Lam cao một thước bảy mươi, nhưng không chỉ có thế, ta còn biết được đời sống trong bệnh viện dưới thời Pháp thuộc:
"Qua cổng nhà thương, đến chỗ khám bệnh, tôi đã thấy dòng người chờ đợi: ba, bốn chục người như ma quỷ hiện hình: những người xanh xao, vàng võ, gầy như que củi. Đó là những người nhà quê nghèo ở các tỉnh, mắc những chứng bệnh ghê sợ đã đến thời kỳ cuối, lặn lội lên đây để xin vào nằm".
Trước khi có nhà thương Robin, mỗi ngày bệnh viện chết trung bình tám người, trong số đó năm người có thể chữa được nếu đến sớm, nhưng người ta sợ nhà thương, không dám vô, gần chết mới xin vào. Hỏi người dân quê tại sao sợ? Họ bảo tốn tiền quá, khi vào phải qua mấy cửa là đã mất vài đồng rồi, chưa kể tiền thuốc men.
Nhà thương có ba giai cấp: các quan (bác sĩ), các thầy (khán hộ, sinh viên, nhân viên), ma lát (malade, con bệnh) và hai khu vực: khu làm phúc, khu trả tiền. Một khán hộ phải lo cho cả trăm bệnh nhân. Vệ sinh không bảo đảm trong vùng làm phúc: một thùng nước uống cho cả phòng, ma lát cứ việc thò tay bẩn cầm ống bơ vục nước mà uống! Một tuần ba ngày người thân được vào thăm: thứ ba, thứ năm, chủ nhật, từ 2 giờ đến 4 giờ chiều, cũng là ngày phô sự bất bình đẳng giàu nghèo: vào thăm phải có giấy phép quan ký, nhưng người nghèo thường không biết chữ, không biết xin giấy, mà các quan lại bận. Có người từ quê ra, không biết cách xin vào, đành phải về không. Có người đem quà đến thăm chồng, lạy lục mãi mới vào được, mới hay chồng chết đã mấy hôm. Người vú em [làm cho gia đình Thạch Lam] nằm bệnh viện, lỡ để cái chén lên bàn [ma lát làm phúc không được để đồ dùng của mình lên bất cứ đâu] bị quan tát cho một cái: "Đây có phải nhà của chúng mày đâu?" Ma lát làm phúc, phải ăn đứng, cơm đỏ như gạch, vừa mốc vừa hôi, nửa hột cơm nửa sạn. Chuẩn bị đón ông Công sứ Godart, bệnh viện được lau chùi sáng loáng, mấy hôm chờ ông Công sứ đến hụt, ma-lát được ăn menu khác hẳn. Tết, cây đào nở hoa, đêm người ta thi nhau cắt trộm vất ra ngoài tường, sáng sau cây đào trụi.
Lối viết của Thạch Lam luôn luôn nhẹ nhàng, nhưng làm ta đau đớn, không chỉ vì người bản xứ vẫn bị đối xử như tôi đòi, trong bệnh viện, mà còn cả đến thói ăn cắp vặt của người mình, cây hoa trong nhà thương cũng không từ, thực nhục nhã, nhưng Thạch Lam không trách gì cả, chỉ kể lại, mới là đau.
Hà Nội băm sáu phố phường đăng trên Ngày Nay năm 1940 [40]. Không ai giới thiệu Hà Nội của Thạch Lam hay và đầy đủ hơn Khái Hưng:
"Và Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận đến đâu.
Những thanh sắt ở đó (chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy ủy ban nào đó làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ những cái đó đi là xong".
Nhưng Thạch Lam lưu tâm nhất đến cuộc sống hàng ngày của Hà Thành, đến những cái thú con của dân thành phố, cũng là những nhân vật bé nhỏ, đã gây cho thành phố cái tính cách đặc biệt của nó.
Ta hãy nghe Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đương mà tự phụ của một dân Hà Nội: "Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành và lịch sự. Ở các thôn quê, chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của người cho…"
"… Nếu chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết quà Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún chả chẳng hạn, cũng rau ấy, bún ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái mùi thơm, cái nước chấm ngon đi."
Ta nghe như thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon thật! Và cái ngon, cái đặc sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và chép lại như người ta đã nói, đã chép lịch sử bà Bé Tý, bà Tư Hồng, hai nhân vật Hà Nội nhất của thời nay." (Tựa của Khái Hưng).
Bài Tựa này đề ngày 20-7-43. Ngày ấy Khái Hưng đã được tha về, ông vội thu thập những bài viết cuối cùng của Thạch Lam trên Ngày Nay: Hà Nội băm sáu phố phường, in thành sách. Thạch Lam mất đã hơn một năm [41], Nhất Linh còn lánh bên Tàu và Hoàng Đạo chắc chưa được thả. Hà Nội băm sáu phố phường, trong giây phút ấy, là chứng nhân của tình bạn, tình yêu, tình đoàn kết, giữa đất nước và con người. Lời Khái Hưng gắn bó sâu sắc với lịch sử hơn một ngàn năm, với Long Biên, tên thứ nhất của Hà Nội, khi Cao Biền đắp, tất cả chỉ để nói rằng: tình yêu, tình đoàn kết dân tộc ngàn năm, luôn luôn nằm trong chữ nghĩa.
Bóng người Yên Thế
Chúng tôi dành những dòng cuối cho bài Bóng người Yên Thế [42], một phóng sự lịch sử, mà ngoài ngòi bút tế nhị của Việt Sinh (Thạch Lam), không chắc mấy ai viết được.
Hoàng Hoa Thám, bà Đặng Thị Nhu, vợ Ba, 
và Hoàng Thị Thế, con gái, Ngày Nay số 7
Hoàng Văn Vi, Ngày Nay số 8
Bà Lý Chuột, Ngày Nay số 8
Năm 1935, ít ai dám công khai nhắc đến Hoàng Hoa Thám như một vị anh hùng, vì người Pháp đang còn hân hoan kiêu hãnh gửi bưu thiếp đầu lâu pirates (bọn cướp) về nước. Việt Sinh có lẽ là người đầu tiên.
Thực hiện phóng sự Bóng người Yên Thế, Việt Sinh đã đến tận sào huyệt cuối cùng của Đề Thám để tìm lại những nhân chứng cuối cùng đã sống với người anh hùng Yên Thế. Ngòi bút ông không còn là của một nhà báo đi làm phóng sự, mà của một nhà văn yêu nước tìm đến vùng đồi núi thiêng liêng, phanh phui tâm khảm rừng sâu Yên Thế:
"Vùng Yên Thế: một vùng hiểm trở, toàn đồi, toàn những rừng rậm tối tăm, những bụi cây gai góc, những ngàn lau sắc và những nội cỏ mênh mông mà chỉ khi gió đến, ngả nghiêng rập rờn như sóng chiều lên mặt bể ngoài khơi".
Hai phụ nữ can trường của Tướng quân
Thạch Lam đến đất Yên Thế, nơi người anh hùng đã tung hoành, đã thất thế, tất cả đã xong, chẳng còn lại gì, trừ Hoàng Văn Vi, người con trai độc nhất của Đề Thám, sống sót, trong thờ ơ, lãnh đạm của dân quanh vùng. Văn Vi được mô tả như một người rụt rè nhút nhát lúc đầu, rồi dần dần khi bước vào rừng núi, trở lại với bản lĩnh kế vị người cha. Nhưng điều đáng chú ý ở đây, không phải là Hoàng Văn Vi, mà là hai người phụ nữ, mà chúng ta chưa từng biết đến tên, nói chi những hành động phi thường của họ, nếu không được Văn Vi kể, Việt Sinh ghi lại:
"Tôi ra đời năm 1908, trong lúc cha tôi còn đang cầm cự với nhà nước. Bấy giờ, thế quân đã yếu, thường cứ phải trốn tránh luôn, nay đóng chỗ này, mai đóng chỗ khác. Đẻ tôi cũng theo thầy tôi ở trong trại, sinh hạ được hai người con: chị tôi là Hoàng Thị Thế và tôi.
Người vú nuôi tôi có kể lại cho tôi biết cái đêm tôi ra đời chính là một đêm hãi hùng, lo sợ. Đêm ấy, ngày mồng hai tháng mười, sau một trận to, thầy tôi lui quân đóng ở Phồn Xương. Trong trại quân nhung, đẻ tôi không muốn cha tôi và quân lính, vì một người đàn bà mà bận lòng, nên nửa đêm, lẻn ra ngoài trại, đến gốc cây rẻ, chính mình lại đỡ đẻ cho mình. Rồi từ đây làm một mưu sĩ và một người tướng xông pha tên trận, đẻ tôi cũng không có lúc nào bận đến con thơ nữa. Vì vậy, ngay sau khi đẻ, giao tôi cho một người quen là bà Lý Chuột ở cùng làng."
Người đàn bà thứ nhất là "đẻ tôi", tên Đặng Thị Nhu, đang đêm lẻn ta ngoài trại đẻ một mình, rồi trao con cho vú trở lại bộ chỉ huy bàn tính kế hoạch chống Pháp. Người ấy là bà Ba Cẩn, Tướng của Đề Thám. Bà và con gái bị bắt năm 1909 [43]. Theo Claude Gendre, Đề Thám bị ám sát hồi 6 giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1913 [44]. Cái chết của bà Đặng Thị Nhu các nơi ghi khác nhau: Theo Ngày Nay, bà tự vận năm 1913, khi bị đi đày ở Guyane [45]. Theo Philippe Chaplain, bà qua đời vì bệnh lao ở trại cách ly Alger trên đường sang Guyane ngày 25-11-1910 [46]. Nhưng có ai biết được hành động phi thường tự đẻ con, trao cho vú của người mẹ nữ tướng trong đêm địch tấn công mãnh liệt vào đại bản doanh?
Người đàn bà thứ hai "u tôi" là mẹ nuôi, gắn bó với thân phận đứa bé mới sinh: Hoàng Văn Vi [47]:
"U nuôi tôi thương tôi hơn con đẻ. Vì tôi mà chịu bao nhiêu nỗi long đong, khổ sở. Năm tôi lên một, có người con rể làm lý trưởng lẻn ra tỉnh báo, nhà nước sai lính về bắt tôi, u nuôi tôi cùng mấy người con. Nhưng hỏi thế nào, u nuôi tôi cũng cứ nhất định một mực nhận tôi làm con đẻ. Người ta đã bắt người con trai u nuôi tôi, năm ấy 17 tuổi, bỏ vào rọ lăn qua đám trông gai, u nuôi tôi chỉ ứa nước mắt mà lắc đầu. Sau cùng lắm, không biết làm thế nào, họ đưa tôi và u nuôi tôi đi khắp đó đây, tỉnh này sang tỉnh khác, đến những người quen biết thầy tôi trước để hỏi xem tôi có giống thầy tôi không. Nhưng may lúc bấy giờ tôi giống u nuôi tôi lạ [48]. Vì thế nên sau khi đi chán các nơi, họ cũng lại đành để cho u nuôi tôi ẵm tôi trở về làng.
Suốt mấy năm được yên ổn. Người con rể đi báo ngày trước, thầy tôi bắt trói ngược lên cây gạo toan chém. Nhưng vì u nuôi tôi xin mãi, nên thầy tôi cũng tha".
Nếu Đề Thám đã gặp trăm ngàn kẻ phản bội trong cuộc đời tranh đấu, thì chỉ một tấm gan của bà Lý Chuột, cũng đủ phủ nghĩa can trường lên tất cả những hành vi đê hèn phản phúc.
Rồi đến cụ già Giáp Văn Phúc, 76 tuổi, Cai Cờ, đã từng vào sinh ra tử bên Đề Thám, bị bắt, bị đi đầy ở Guyane, trở về, ngồi bên chiếc quan tài kê sẵn góc tường, kể với Việt Sinh: "Ấy, tối hôm qua, tôi vừa nằm mộng thấy quan tôi đấy. Ở đây năm nào chúng tôi cũng nhớ ngày cúng giỗ, ngày mồng tám tháng giêng. Lắm lúc ngồi, tôi cứ phảng phất như thấy hình bóng người ở bên mình, lại nhớ cái hồi tuổi trẻ…"
Và bà vợ Cai Cờ, chưa hề phai nhạt khí phách xưa: "Bà Cai đôi mắt long lanh, cất tiếng nói sang sảng: "Tôi còn nhớ những ngày theo "quan lớn tôi" ở trong trại, thật lắm bữa gian nan khổ sở…"
Khu rừng cuối
Sau khi giới thiệu những bộ mặt trung thành tuyệt đối với tướng quân Đề Thám, Việt Sinh tìm đến căn cứ cuối cùng, nơi những trận đánh kinh hồn đã diễn ra:
"Chúng tôi sang đồn Gò để tìm xem trên những dẫy đồi trùng điệp ấy còn có những dấu tích gì còn lại của một thời Đề Thám xưa.
Đến đây, nội cỏ mênh mông và bụi rậm bắt đầu nhường chỗ cho những khu rừng lau rậm rạp, cây cối sầm uất, um tùm. Rừng rẻ và rừng lim, sát chen lẫn nhau, những cây trò cao vút, thân cây thẳng và trắng kẻ nổi lên trên cái nền xanh đen của muôn vàn thứ lá rườm rà…
Ở trong những bụi cây như thế, một người ẩn núp thì trăm người cũng khó mà sục tìm được (…) Cái sức mạnh của Đề Thám là ở chỗ đó. Những đoạn đánh giết nhau kịch liệt chính đã xẩy ra ở giải đồi này…
Mà cũng chính trong khu rừng rậm ở đồi này đã kết liễu một cách khốn nạn không ai ngờ cái đời mãnh liệt của ông chủ Yên Thế.
Người ta cho là số mệnh. Vì trong trận Nhật Lệ cuối cùng, còn có một thầy với hai trò, mà ngoài quân lính vây trùng điệp, đốt cỏ cho chết cháy, thế mà trời mưa tắt lửa, thế mà Thám ra thoát vòng vây như không…
Mấy tên quân của Đường Tam Kỳ sang, Thám đã nghi rồi, sao còn chù chừ không giết?
Mà buổi sáng ấy ở trong rừng Thám xưa nay nằm ngủ không che mặt bao giờ, hôm ấy lại kéo chăn trùm kín, để đến nỗi mấy tên quân kia vác cuốc đến mà không biết. (…)
Một cái cảm giác buồn rầu, lạnh lẽo mà buổi chiều lại làm lạnh lẽo thêm như thấm thía vào trong người… Tôi lặng yên nhìn ông Vi! Ông ta đứng sững bên bờ thành, mắt đăm đắm như nhớ lại những sự đau đớn xót thương…
Bóng mây chiều bỗng che rợp dẫy đồi… Tôi tưởng như bóng người Yên Thế lẩn quất đâu đây, mênh mông, rộng rãi như ôm ấp cả một vùng…"
Tại sao đúng lúc đó Thạch Lam lại lên Yên Thế? Lại viết như thế? Viết những dòng khắc sâu vào tâm khảm người Việt, ở bất cứ nơi nào, thời nào, như thế?
Thạch Lam là một người bí mật có hành động đột xuất và khai phá. Những việc người thanh niên này đốt đèn trong Hà Nội ban đêm, hay lên bản Mường xem múa Xoè, rồi đi tìm Bóng người Yên Thế, dường như liên hệ mật thiết với nhau, có gì như tiên tri, dẫn đường: Hà Nội ban đêm khai phá nền phóng sự; múa Xoè ảnh hưởng đến tùy bút nói chung, Nguyễn Tuân nói riêng, và Yên Thế, phải chăng đã mở màn cho cách mạng Tự Lực văn đoàn?
Thạch Lam đã khai trương báo Ngày Nay bằng chân dung hai người phụ nữ phi thường, bên chiếc bóng chập chờn của vị anh hùng Yên Thế.

Chú thích:

[1] Theo quảng cáo đăng trên Ngày Nay số 13 (21-5-35).
[2] Ngày Nay mới đầu 10 ngày ra một lần. Trên số 5 (10-3-35) quảng cáo: Ngày Nay tạm nghỉ một kỳ và bắt đầu từ tháng sau, 1-4-35, ra hàng tuần. Số 6 (2-4-35), bỏ tên Nguyễn Tường Cẩm và Nguyễn Tường Lân. Số 7 (9-4-35) đầu báo đề: Giám đốc Nguyễn Tường Tam. Chủ bút: Nguyễn Tường Lân. Quản lý: Nguyễn Văn Thức. Nguyễn Văn Thức sẽ biển thủ ngân quỹ Phong Hóa Ngày Nay (xem chương: Khái Hưng và Phong Hóa).
[3] Nguyễn Tường Cẩm đã viết hai bài trên trên Phong Hóa, là Thomas Bata, nhà đóng giầy trứ danh mới từ trần, Phong Hóa số 16 (6-10-32) và truyện ngắn Bích Châu, trên Phong Hóa số 67 (6-10-33).
[4] Phóng sự La Khê dệt lụa, in trên Ngày Nay số 1 (30-1-35); Năm mới, Ngày Nay số 2 (10-2-35); Nền Mỹ thuật Việt Nam, Ngày Nay số 3 (20-2-35); Dân quê, Ngày Nay số 4 (1-3-35).
[5] Sắm tết và Gió bấc lạnh lùng, Ngày Nay số 1 (30-1-35); Dưới bến trên thuyền, Ngày Nay số 2 (10-2-35); Thủy tiên ngày Tết và Tục ngày tết, Ngày Nay số 3 (20-2-35); Ngày giỗ trận… ở chùa Đồng Quang, Ngày Nay số 3 (20-2-35); Trên đồi Lim hội hè đinh đám, Ngày Nay số 4 (1-3-35); và Lạng Sơn ngày hội viết chung với Thế Lữ, Ngày Nay số 5(10-3-35).
[6] Trước vành móng ngựa in trên Phong Hóa từ số 151 (31-8-35) và ngừng ở Ngày Nay số 140 (10-12-38).
[7] Chương 1, Tôi kéo xe (bản Xuân Thu in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm, trang 9).
[8] Trong cuốn Tôi kéo xe in năm 1969, tại Sài Gòn, ở cuối có đề: Hanoi, Juin 1932, và Tam Lang, trong bài bạt viết rằng: "Năm 1932, viết thiên phóng sự Tôi kéo xe, cho đăng trên Hà Thành Ngọ Báo, và năm 1935, tự bỏ tiền ra in thành sách". Vũ Ngọc Phan không nói đến việc Tôi kéo xe in ở Ngọ Báo và chúng tôi đã tìm trên Hà Thành Ngọ Báo, bản điện tử của Thư viện Quốc Gia, cũng chưa thấy Tôi kéo xe, vì bản này cũng thiếu nhiều số.
[9] Tam Lang, trong bài bạt Tôi kéo xe.
[10] Tôi kéo xe, bản Xuân Thu chụp in lại tại Hoa Kỳ, trang 11.
[11] Kỹ nghệ lấy Tây (in trên Nhật Tân từ số 69, 3-12-34), Đông Phương in thành sách năm 1936 và Cơm thầy cơm cô (đăng trên Hà Nội báo từ số 12 (25-3-36), Minh Phượng in năm 1937.
[12] Trích Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập I, nxb Văn Học, Hà Nội, 1996, trang 581.
[13] Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập I, trang 582.
[14] Bút hiệu Nhất Chi Mai được ký dưới bài Quần trắng áo lam (Phong Hóa số 4, 7-7-32) và Một buổi diễn kịch làm phúc (Phong Hóa số 5, 14-7-32), xem chương Tú Mỡ và Thế Lữ.
[15] Đúng ra, ông có dùng hai lần, trên Phong Hóa số 122 (2-11-34) với bài phóng sự Từ viện dân biểu cho đến ô tô hàng ký Nhất Chi Mai. Và Phong Hóa số 124 (16-11-34) với bài phóng sự Đi thăm mấy ngôi mả sống ở Thái Bình ký Nhất Chi Mai, nói về những ngôi sinh phần (mả sống) đồ sộ của các tuần phủ, dân biểu ở tỉnh Thái Bình.
[16] In trên Ngày Nay, từ số 2 (10-2-35) đến số 8 (16-4-35).
[17] In trên Ngày Nay số 4 (1-3-35) và số 5 (10-3-35).
[18] In trên Ngày Nay, từ số 6 (2-4-35) đến số 13 (21-5-35).
[19] In trên Ngày Nay từ số 6 (2-4-35) đến số 13 (21-5-35).
[20] Theo website Nhân vật lịch sử Việt Nam, Trọng Lang sinh ngày 2-10-1916 tại Hà Đông, mất ngày 29-4-1986 tại Sài Gòn.
[21] Lạc vào động bà chúa Hàng Bạc in trên Ngày Nay số 1(30-1-35), số 2 (10-2-35), số 3 (20-2-35) và số 4 (1-3-35).
[22] Phóng sự này in trên Ngày Nay từ số 3 (20-2-35) đến số 13 (21-5-35).
[23] Đăng trên Ngày Nay từ số 6 (2-4-35) đến số 9 (23-4-35).
[24] In trên Ngày Nay từ số 11 (7-5-35), đến số 13 (21-5-35) rồi chuyển sang Phong Hóa từ số 151 (31-8-35) đến số 157 (11-10-35), vì Ngày Nay ra không đều.
[25] In trên Phong Hóa, từ số 152 (6-9-35) đến số 157 (11-10-35).
[26] In trên Phong Hóa, từ số 164 (29-11-35) đến số 173 (7-2-36).
[27] Đăng trên Ngày Nay, từ số 48 (27-2-37) đến số 75 (5-9-37). Đời Nay xuất bản 1938. Nhã Nam mới tái bản.
[28] In trên Ngày Nay, từ số 95 (23-1-38) đến số 120 (24-7-38).
[29] In trên Ngày Nay, từ số 177 (2-9-39) đến số 194 (30-12-39).
[30] In trên Ngày Nay kỷ nguyên mới, từ số 1(5-5-45) đến số 4 (26-5-45). Bản điện tử Ngày Nay kỷ nguyên mới, thiếu 3 số: 5, 6 và 7, nên không biết phóng sự Đói kết thúc ở số nào.
[31] In trên Ngày Nay kỷ nguyên mới, từ số 8 (23-6-45) đến số 16 (18-8-45).
[32] Từ số 48 (27-2-37) đến số 75 (5-9-37). Đời Nay in năm 1938. Nhã Nam tái bản 2015.
[33] Xăm hay săm là chambre (phòng ngủ).
[34] Trích Ngày Nay, từ số 68 (18-7-37) đến số 75 (5-9-37).
[35] Trên đồi Lim (Phong Hóa số 33, 10-2-33), Nghe hát quan họ một đêm ở Lũng giang (Phong Hóa số 34, 17-2-33), Xòe của các cô nàng, (Phong Hóa số 77, 15-12-33) và Phong dao Mường (Phong Hóa số 78, 22-12-33).
[36] In trên Ngày Nay số 4 (1-3-35), viết về tình trạng nhà cửa tối tăm, chật hẹp, lầm lội, nhớp nháp, trẻ con chơi trong bùn, ở thôn quê, với hình ảnh đi kèm. Bài này có mục đích giới thiệu những nhà mẫu cho dân quê của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (đã in trên Phong Hóa) mở đầu chương trình Nhà Ánh Sáng, thực hiện hai năm sau.
[37] In trên Ngày Nay số 5 (10-3-35) cũng với hình ảnh đi kèm, Việt Sinh đi theo những thuyền chài, khám phá đời sống của họ, tìm hiểu những thủ thuật trong nghề đánh cá.
[38] In trên Ngày Nay số 8 (16-4-35) và số 9 (23-4-35).
[39] In trên Ngày Nay, từ số 59 (16-5-37) đến số 65 (27-6-37).
[40] Từ Ngày Nay số 201(2-3-40) đến số 223 (31-8-40).
[41] Thạch Lam mất ngày 27-6-1942.
[42] In trên Ngày Nay số 8 (16-4-35) và số 9 (23-4-35).
[43] Hoàng Thị Thế được toàn quyền Albert Sarraut nhận làm con nuôi, cho sang Pháp học, cựu toàn quyền Paul Doumer đỡ đầu, năm 1925, đỗ tù tái I, trở về nước làm ở Phủ Thống sứ Bắc kỳ. Năm 1927 trở lại Pháp, năm 1930, bắt đầu đóng phim, năm 1931, kết hôn với Robert Bourges, người Bỉ, có một con trai, Jean-Marie Bourges. Năm 1960, bà trở về nước, mới đầu ở Hà Nội, sau lên Bắc Giang rồi trở về lại Hà Nội ở đến lúc mất năm 1988. Xem Kỷ niệm thời thơ ấu Hoàng Thị Thế, hồi ký của con gái Hoàng Hoa Thám, do Lê Kỳ Anh (Hoàng Cầm) dịch từ tiếng Pháp, Khổng Đức Thiêm hiệu đính, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2017.
[44] Theo Claude Gendre, Le Dê Thám (1846-1913) Un résistant Viêtnamien à la colonisation française (Đề Thám (1846-1913) một người Việt kháng chiến chống chế độ thực dân Pháp), L’Harmattan, Paris, 2009, trang 195.
[45] Theo lời ghi dưới ảnh bà, in trên Ngày Nay số 7 (9-4-35), trang 7.
[46] Le Dê Thám (1846-1913), sđd, trang 181.
[47] Hoàng Văn Vi là tên đặt để trốn Pháp, nguyên tên là Hoàng Hoa Phồn, do cha mẹ đặt để kỷ niệm đồn Phồn Xương. Hoàng Văn Vị mất năm 1945, ở tuổi 37, sau Thạch Lam 3 năm, trong hoàn cảnh nào, không thấy đâu ghi rõ.
[48] Bây giờ thì trông nét mặt ông lại giống nét mặt Đề Thám (chú thích của Việt Sinh).
Ngày Nay tranh đấu
Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí
Hoạt động của báo Ngày Nay liên hệ tới tình hình cai trị ở thuộc địa.
Phong Hóa ra đời năm 1932 và bị đóng cửa năm 1936, trong thời gian này nước ta ở dưới chế độ cai trị của hai toàn quyền Pierre Pasquier (1928-1934) và René Robin (1934-1936).
Toàn quyền Pasquier trách nhiệm việc chém đầu Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ, triệt hạ Việt Nam Quốc Dân Đảng; đàn áp và tiêu diệt phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Robin ra lệnh bỏ bom Cổ Am từ khi còn là Thống sứ Bắc kỳ.
Phong Hóa trước khi bị đóng cửa, là tờ báo có nhiều độc giả nhất lúc bấy giờ: phát hành mỗi kỳ 20.000 số, mà dân ta thời đó chỉ có 20 triệu người. Ảnh hưởng của Phong Hóa rất lớn, vì thế Robin ra lệnh đóng cửa Phong Hóa, trước khi Mặt trận Bình dân (Le Front Populaire) lên cầm quyền tại Pháp, để trừ hậu họa.
Phong Hóa bị đóng cửa từ số 190 (5-6-36), tức là một ngày trước khi Mặt trận Bình dân chính thức lên cầm quyền, ngày 6-6-1936 [1]
Nhưng chức vụ của Robin cũng chấm dứt ba tháng sau đó, Đặng Hữu Thụ viết:
"Vào tháng 6-1936, ông Nguyễn Thế Truyền người Hành Thiện khi ấy ở Paris có trình thỉnh nguyện thư của dân Đông dương lên chính phủ Pháp yêu cầu triệt hồi Toàn quyền René Robin về Pháp vì viên Toàn quyền này tán ác, tàn sát dân Việt Nam" [2]
Robin bị gọi về Pháp ngày 9-9-1936.
Ngày 3-5-1936, cánh tả chiếm đa số trong nghị viện Pháp và ngày 6-6-36, Mặt trận Bình dân chính thức lên cầm quyền, do Léon Blum, chủ tịch Đảng Xã hội (SFIO, Section Française de L’Internationale Ouvrière) lãnh đạo [3].
Mặt trận Bình dân ban hành một số nghị định bênh vực giới cần lao, chính quyền thuộc địa bớt hà khắc. Các phong trào ái quốc dần dần thành hình, tuy vẫn chưa có quyền lập đảng.
Nhưng đến tháng 9-1939, thế chiến thứ hai bùng nổ, các quyền tự do tối thiểu bị thu hồi, báo chí bị kiểm duyệt gắt gao, nhiều nhà cách mạng trong Nam, ngoài Bắc bị truy lùng và bị bắt.
Báo Ngày Nay số 16 ra ngày 12-7-36, tức là ba tháng sau khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền. Ngày Nay lợi dụng tình thế tương đối cởi mở dưới chính phủ Bình dân (từ tháng 5-36 đến tháng 4-38) để tranh đấu. Tới cuối năm 1939, đại chiến bùng nổ, mọi sự khép lại, Tự Lực văn đoàn phải đổi phương hành động.
Với báo Ngày Nay, Tự Lực văn đoàn bước vào giai đoạn tranh đấu bằng ngòi bút.
Trên Ngày Nay số 16 (12-7-36), Nhất Linh chia nội dung làm hai phần:
1- Ngày Nay Tiểu Thuyết
2- Ngày Nay Trông Tìm (do Hoàng Đạo phụ trách)
Nhưng tới Ngày Nay số 25 (3-9-36), ông đổi lại làm ba phần:
1- Ngày Nay Trông Tìm (Hoàng Đạo chuyên hẳn về chính luận)
2- Ngày Nay Trào Phúng
3- Ngày Nay Tiểu Thuyết
Những bài chính luận của Hoàng Đạo sẽ là cơ sở chỉ đạo. Từ đây, Hoàng Đạo trở thành lý thuyết gia của Tự Lực văn đoàn. Trên Ngày Nay, bài chính luận đăng ở trang đầu, vạch đường lối, tiểu thuyết đi sau, làm nền.
Thời kỳ Ngày Nay sống động hơn thời kỳ Phong Hóa, vì sự tranh đấu đã được thảo luận, có phương pháp và có chiến lược chặt chẽ: văn nghị luận của Hoàng Đạo, hý họa của Nguyễn Gia Trí, phóng sự của Trọng Lang, tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, chia nhau nhiệm vụ: khởi tố chính sách cai trị của thực dân, trình bày bộ mặt nát rữa của xã hội quan quyền, bên trên là lớp quan lại tham ô, bên dưới là lớp dân quê bị đàn áp bóc lột và ở thị thành là sự chơi bời, nghiện ngập, sa đọa.
Trong chương Ngày Nay Phóng sự, chúng tôi đã trình bày nội dung của Ngày Nay từ số 1 đến số 15, thời kỳ Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân) trách nhiệm: Ngày Nay chuyên về phóng sự, qua 16 số báo đã kín đáo vạch trần mặt trái xã hội: lai căng, tội ác, trụy lạc, lầm than, trái ngược với mặt phải của một Hà thành thanh lịch, xa hoa, quần áo Lemur Cát Tường.
Kể từ chương này, chúng tôi khảo sát Ngày Nay, giai đoạn kế tiếp, từ số 16 trở đi.
Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn, toàn bộ biên tập dồn về Ngày Nay, lúc đó cũng đã đóng cửa được hơn ba tháng.
Ngày Nay số 16 ra đời ngày 12-7-36 là sự sống lại của cả hai tờ Phong Hóa Ngày Nay trong một.
Ngày Nay số 16, bìa của Nguyễn Gia Trí
Kịch Chết của Khái Hưng được đăng như một bài chính luận có tính cách chỉ đạo, sau khi Phong Hóa chết, với những lời lẽ:
"Dù ta mới bắt đầu làm việc mà vụt ta chết đi ta cũng đã tới mục đích rồi."
"Công việc ta bỏ dở đã có bạn đồng chí ta, con cháu bạn đồng chí ta theo đuổi".
"Sau khi tôi chết, các anh tìm chọn lấy một người thay tôi, rồi cùng nhau làm việc như không hề xẩy ra một việc gì. Đó là ý tưởng của chúng ta và là ý tưởng cuối cùng của tôi".
Như vậy, nhiệm vụ của Ngày Nay là tiếp tục con đường Phong Hóa đã vạch ra.
Ngoài những thành viên chính của Phong Hóa, trên Ngày Nay, từ số 16, còn có rất nhiều văn nghệ sĩ ở ngoài tham gia để ủng hộ một tờ báo mới sống lại, ủng hộ tinh thần quật khởi đứng lên sau khi ngã ngựa. Các họa sĩ cộng tác thường xuyên luân phiên nhau vẽ bìa và tranh phụ bản như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Quang Trân, Nguyễn Cát Tường, Trần Bình Lộc, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Đỗ Cung… kể cả những họa sĩ ở ngoài như Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn cũng tặng phụ bản… Và các nhà văn ở ngoài tờ báo cũng đóng góp bài vở nhiều hơn trước. Ngày Nay khởi sắc, đa dạng, phần trào phúng trở lại vị trí đã có trên Phong Hóa. Riêng Nguyễn Tường Long ký bút hiệu Hoàng Đạo lần đầu tiên trên Ngày Nay số 16, trở nên ngòi bút tranh đấu hàng đầu của Tự Lực văn đoàn.
Chúng tôi sẽ khảo sát Ngày Nay trên những khía cạnh sau đây:
- Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí mở đầu cuộc tranh đấu.
- Ngày Nay xây dựng nhà Ánh sáng.
- Bốn chủ đề lớn của Hoàng Đạo: Vấn đề thuộc địaVấn đề đảng pháiVấn đề cần lao và Công dân giáo dục.
- Ngày Nay tiểu thuyết.
- Ngày Nay và các tác giả trẻ.
Thuộc địa và đất bảo hộ
Đây là một chủ đề lớn của Hoàng Đạo, mà bài Thuộc địa và đất bảo hộ in trên Ngày Nay số 22 (23-8-36) là bài viết đầu tiên, bàn về nguồn cội vấn đề thuộc địa và sự lạm quyền: Pháp đã bất chấp các hòa ước ký với triều đình Huế, để áp dụng chính sách thuộc địa trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, mà thực ra, chỉ có miền Nam là đất thuộc địa còn miền Trung do vua cai trị và miền Bắc là đất bảo hộ.
Hoàng Đạo có lẽ là người đầu tiên công khai nói lên điều này, và ông còn trở lại nhiều lần, để lật mặt chính sách thực dân: đã đơn phương thay đổi hòa ước Giáp thân 1884, để biến miền Trung và miền Bắc nước ta từ chế độ bảo hộ sang chế độ thuộc địa.
Nhưng muốn hiểu rõ vấn đề này, ta phải nhìn lại các hòa ước ta đã ký với Pháp, từ 1874 đến 1884.
Hòa ước Giáp Tuất (1874)
Sau khi Pháp chiếm xong Lục tỉnh Nam Kỳ, và hạ thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), Nguyễn Tri Phương bị bắt, không chịu băng bó, nhịn ăn mà chết. Ngày 27 tháng Giêng năm Giáp Tuất (15-3-1874), Vua Tự Đức phải ký hòa ước Giáp Tuất (1874) là một thương ước gồm 29 khoản, trong có những điểm chính sau đây:
Pháp nhận quyền độc lập của vua nước Nam, nhưng nước Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp. Vua nước Nam phải nhượng đứt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Phải mở các cửa Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng cho người ngoại quốc vào buôn bán.
Hòa ước Quý Mùi (1883)
Năm 1882, Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ nhì, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Pháp chiếm Hòn Gay, Nam Định. Thủ tướng Jules Ferry tăng ngân quỹ, viện thêm binh, cốt chiếm nốt Bắc Kỳ. Giữa lúc tình hình căng thẳng vua Tự Đức băng hà ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883).
Lợi dụng triều đình đang bối rối, quan tài vua còn quàn ở điện Cần Chánh, ngày 15-8-1883, Harmand và Courbet đem sáu tàu chiến đến đậu ở cửa Thuận An, đưa tối hậu thư cho Đô thống Lê Sĩ, trấn thủ Trấn Hải thành.
Chiều 16-8, hạn tối hậu thư chấm dứt, quân Pháp khai hoả. Ngày 20-8-1883, quân Pháp đổ bộ. Quân ta chống trả mãnh liệt. Thống chế Lê Chuẩn tử trận. Đô thống Lê Sĩ, Chưởng vệ Nguyễn Trung chiến đấu đến chết. Thành mất. Tham tri Lâm Hoàng, Trần Thúc Nhẫn nhẩy xuống sông tự vận. Triều đình bắt buộc phải ký hòa ước Quý Mùi (25-8-1883), gồm 27 khoản. Với những khoản chính sau đây:
Nước Nam nhận nước Pháp bảo hộ: việc ngoại giao do Pháp chủ trương.
Tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào xứ Nam Kỳ (của Pháp). Triều đình Huế cai trị từ Bắc Bình Thuận đến Đèo Ngang, không có người Pháp kiểm soát.
Ở Huế sẽ chỉ có một quan Trú sứ (Résident) hay Khâm sứ đại diện chính phủ bảo hộ, Khâm sứ không được xen vào việc nội trị, nhưng có quyền xin yết kiến nhà vua.
Ở Hà Nội và Hải Phòng, mỗi tỉnh có một Trú sứ (sau này gọi là Công sứ). Sẽ lập thêm Trú sứ các tỉnh khác. Trú sứ tránh không can thiệp vào việc nội trị, nhưng nếu các quan Việt tỏ ra không tốt với quan Pháp [tức là chống Pháp] thì có thể bị đổi.
Tóm lại theo hòa ước Quý Mùi (1883), chúng ta chỉ chịu sự bảo hộ của người Pháp về mặt ngoại giao, còn về nội trị, vẫn giữ được chủ quyền. Ở ngoài Bắc, dù có các Trú sứ, họ cũng không có quyền can thiệp vào việc nội trị của các quan Việt Nam.
Hòa ước ký rồi, nhưng việc áp dụng không dễ dàng. Một mặt vì nhiều quan trong triều không nhận hai chữ bảo hộ, nhất là hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Ở Bắc, Hoàng Tá Viêm, Tổng thống Quân vụ, đóng ở thành Sơn Tây kết hợp với quân Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục đánh Pháp. Các tướng khác lập các vùng chiến thuật: Tán tương Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc Tạ Hiển, Tôn Thất Hòa, Tổng đốc Trương Quang Đản, Đề đốc Ngô Tất Ninh, Lê Văn Hổ, Nguyễn Văn Chư, Tán lý Lương Qui Chi. Về phía chính quyền Pháp, các quan Trú sứ mới đặt ở các tỉnh, một số tỏ ra tàn ác làm mọi người oán giận. Thủ tướng Jules Ferry nhất quyết chiếm nốt Bắc Kỳ, bèn sai quân Pháp đánh chiếm Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa, và ký hiệp ước Fournier với Tàu, để quân Tàu rút khỏi Bắc Việt.
Được tin hòa ước Fournier đã ký kết, nhân dịp Patenôtre, Công sứ Pháp ở Tàu ghé qua Sài Gòn, Jules Ferry triệu ông ra Huế, sửa lại bản hòa ước Quý Mùi cho nhẹ nhàng hơn, để lấy lòng triều đình.
Hòa ước Giáp Thân (1884)
Do Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn Thất Phan ký với Patenôtre, trên nguyên tắc, nhẹ nhàng hơn hòa ước Quý Mùi: Nguyễn Văn Tường đã sửa hai chữ bảo hộ (protéger) thành bảo trợ (aider). Nhưng theo Nguyễn Quốc Trị [4], thì Jules Ferry chỉ cho lệnh sửa hai chữ này trong bản tiếng Việt, còn bản tiếng Pháp vẫn để như cũ, tức là bảo hộ. Và trong điều 19, vẫn ghi: nếu có tranh chấp thì lấy bản Pháp văn làm gốc.
Hòa ước Giáp Thân ký ngày 6-6-1884, gồm 19 khoản, trừ những khoản giống hòa ước Quý Mùi (1883) còn có mấy điểm đáng chú ý sau đây:
- Quân Pháp chiếm đóng Thuận An. Triều đình phải triệt thoái hết các đồn lũy phòng thủ hai bên bờ sông từ Thuận An về đến kinh đô.
- Từ đất giáp tỉnh Biên Hòa của Nam Kỳ, đến đất giáp tỉnh Ninh Bình của Bắc Kỳ, các quan nước Nam cai trị dân như cũ.
- Trong các tỉnh của nước Nam, quan Bố chánh vẫn coi việc thu thuế cho triều đình như trước, không có quan Pháp kiểm tra. Ở các tỉnh Bắc kỳ, Trú sứ hiệp với Bố chánh, coi việc thu thuế, sau khi chi, còn bao nhiêu nạp cho triều đình. [5]
Như vậy, hòa ước Giáp Thân (1884) chỉ thêm có một điểm: quân Pháp đóng ở Thuận An, quân ta phải rút hẳn từ Thuận An đến Huế, là để cho Pháp khỏi lo lắng về quân sự.
Còn biên giới miền Trung, tức là địa hạt vua cai trị, được mở rộng hơn so với hòa ước Quý Mùi 1883, vì Jules Ferry cho rằng bốn tỉnh: Bình Thuận (phía Nam) và Thanh, Nghệ, Tĩnh (phía Bắc) không có nguồn lợi gì đáng kể, trả lại cho triều đình cũng chẳng mất mát gì.
Trên nguyên tắc, hòa ước Giáp Thân 1884, sẽ áp dụng đến năm 1945.
Tóm lại, hòa ước Giáp Thân quy định:
- Chỉ có Nam Kỳ lục tỉnh là đất thuộc địa tức là của Pháp.
- Miền Trung từ bắc Biên Hòa, đến bắc Thanh Hóa, thuộc triều đình Huế.
- Miền Bắc thuộc chế độ bảo hộ.
Ta chỉ nhượng cho Pháp quyền ngoại giao.
Paul Doumer và sự lạm quyền
Nhưng trên thực tế, từ năm 1897, Toàn quyền Paul Doumer (1897-1902) đã tự ý thay đổi các điều khoản trong hòa ước Giáp Thân 1884, để biến nước Việt Nam thành một thuộc địa toàn phần. Ông kiêu hãnh kể lại công lao của mình trong cuốn L’Indo-Chine française (souvenirs) - Đông Dương Pháp (kỷ niệm), với những lời lẽ:
"Tôi đã nói tại sao ngay từ năm 1897, tôi đã phải bỏ chức Kinh Lược Sứ tức Vice Roi ở Bắc Kỳ, bởi vì nó không làm lợi gì cho chính quyền ta mà còn duy trì nạn tham nhũng trong hàng ngũ quan lại Annam, dễ ăn tiền hay nhận quà cáp. Các quan ở tỉnh được đặt dưới quyền trực tiếp của quan Công sứ (Résident)" [6]
Câu này nói rõ sự lạm quyền: Paul Doumer không có quyền gì trong việc bổ nhiệm quan lại của triều đình Huế, thuộc địa hạt nội trị của nước Nam. Quan Kinh Lược là đại diện nhà vua, đứng đầu ở Bắc, trông coi việc nội trị. Các quan ở Bắc ở dưới quyền quan Kinh Lược, phụ thuộc trực tiếp vào triều đình Huế. Nay Doumer bỏ chức Kinh Lược Sứ, thay thế bằng chức Thống sứ (Résident Supérieur), các quan ở Bắc không còn thuộc về triều đình Huế nữa mà ở dưới quyền trực tiếp của viên Thống sứ người Pháp! Chính viên Thống sứ này cai trị. Nghị định bãi bỏ Nha Kinh Lược Bắc kỳ sẽ được Paul Doumer trá hình dưới dụ của vua Thành Thái ký ngày 26-7-1897.
Sau đó, Paul Doumer kể lại thành tích ông đã thuộc địa hóa cả nước Nam ra sao, đoạn này rất dài, chúng tôi chỉ tóm tắt những ý chính:
Tháng 9 năm 1897, vua Thành Thái trưởng thành, hội đồng nhiếp chính bị bãi bỏ, các thành viên của hội đồng nhiếp chính trở thành những vị thượng thư đầu tiên trong viện Cơ mật. Viện Cơ Mật họp dưới sự chủ tọa của quan Khâm sứ (Résident Supérieur). Những quyết định của hội đồng Cơ Mật, phải được quan Khâm sứ phê chuẩn trước rồi mới được đóng ấn vua để thi hành" [7]. Các Quan chức Pháp được phái đến để kèm các Thượng thư, kiểm soát công việc của họ và cho họ thấy quyền lực của nước Pháp ở Huế. Ở tỉnh thì ta [Doumer] cho quan Công sứ đủ quyền hành để cai trị. Mới đầu số lượng còn ít, nhưng sau ta tăng lên mỗi tỉnh đều có một Công sứ.
Như vậy là từ thời Thành Thái (1897), vua không còn cầm quyền nữa mà là Khâm Sứ Pháp.
Cùng với những thay đổi này, Paul Doumer ban hành thêm những luật lệ khác:
- Nhà vua phải nhường cho Toàn quyền đặc quyền sử dụng của cải và đất đai chưa xung công, có nghĩa là để Toàn quyền được khai thác những vùng đất hoang hay vô chủ.
- Một luật khác cho phép người Pháp có quyền sở hữu đất trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam.
Những điều trên đây cho thấy Paul Doumer đã tự ý thay đổi chính sách, bất chấp hiệp ước đã ký với triều đình.
Xin nhắc lại: theo hòa ước Giáp Thân, miền Trung, thuộc địa phận của vua, Pháp không có quyền gì cả, còn miền Bắc là đất bảo hộ, công sứ Pháp chỉ có quyền cộng tác với bố chánh Việt, để thu thuế, và sau khi chi dùng, gửi phần còn lại về triều.
Năm 1898, Doumer còn đòi viện Cơ Mật phải làm việc này: bắt vua phải ký một chỉ dụ trao toàn quyền quản lý thuế khóa và tài chính cho chính quyền bảo hộ.
Và Paul Doumer tuyên bố: Chỉ với nguồn lợi thuế (bằng thuế nhà nước Annam thu ngày trước) mà ngân quỹ đầu tiên của chính phủ Bảo hộ, ngân quỹ năm 1899, sau khi trừ tiền chi cho chính quyền Pháp ở đây và tiền chi cho dân bản xứ, vẫn còn một số thặng dư quan trọng. Vậy sự đổi mới đã có kết quả không ngờ, và kết quả chính trị cũng vậy: Chính quyền Pháp đã chiếm lại chỗ đứng của mình trong vương quốc này, chỗ mà Pháp phải có.
So với những năm lỗ lã trước: năm 1895 lỗ 1.266.000 đồng (piastres), năm 1896 lỗ 748.000 đồng; sự thặng dư năm 1899 [vì thuế do chính quyền Bảo hộ thu], được ghi nhận ngày 20-10-1899, lên tới 1.164.923 ở Bắc kỳ, và 500.000 piastres ở Trung kỳ [8].
Tóm lại, Paul Doumer đã biến cả nước Việt Nam thành thuộc địa Pháp và chính sách của ông đã đem lại nguồn lợi khổng lồ cho nước Pháp, chưa kể việc độc quyền thị trường nha phiến. Viện Cơ mật, là cơ quan lập pháp và hành pháp tối cao ở bên vua, trở thành bù nhìn dưới sự lãnh đạo của Khâm sai. Viên Khâm sai này, ngày trước, muốn yết kiến vua phải xin phép, bây giờ trụ trì trên đầu Viện Cơ Mật, thay vua. Ở Bắc, các công sứ, trên nguyên tắc, không được xen vào việc nội trị, bây giờ trở thành quan giám sát các ông phủ, huyện, bố chính, án sát.
Hệ thống cai trị này, càng làm tăng sự hèn hạ của các quan không có nhân cách, chỉ muốn làm vừa lòng viên công sứ để không bị đổi, bị đuổi, được lên chức nhanh, nên đã lấy tiền hối lộ để làm giàu và đút lót quan trên, tạo ra một hệ thống quan lại thối nát tệ hại chưa từng có, được Khái Hưng mô tả trong tiểu thuyết Gia đình.
Hoàng Cao Khải là Kinh lược sứ cuối cùng đã sát cánh với quân Pháp "dẹp loạn" Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám, và nhất là phụ giúp Paul Doumer trong việc thuộc địa hóa miền Bắc và miền Trung. Làm gương cho những thứ quan lại bán nước cầu vinh như Tổng đốc Hải Dương Lê Hoan, cầm quân tiễu trừ Đề Thám; Tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định, truy nã Việt Nam Quốc Dân Đảng và các nhà cách mạng khác, v.v...
Khi đã nhìn thấy tình hình như vậy, chúng ta mới hiểu tại sao Hoàng Đạo lấy đề tài Thuộc địa và bảo hộ làm chủ đề đầu tiên cho cuộc tranh đấu của ông.
Sách của Paul Doumer có lẽ những nhà viết sử người Việt không đọc, nên chỉ biết sự biến đổi bảo hộ thành thuộc địa của chính phủ Pháp, nhưng không biết đích xác tác giả là ai. Vì thế, Paul Doumer vẫn được coi là người "có công" xây dựng hệ thống cầu đường ở Việt Nam. Nhờ cuốn L’Indo-Chine française (souvenirs) ta mới thấy rõ mặt trái cái "công lao" này.
Thuộc địa và đất bảo hộ
Trên Ngày Nay số 22 (23-8-36) Hoàng Đạo viết bài Thuộc địa và đất bảo hộ để phân biệt hai thể chế bảo hộ và thuộc địa khác nhau như thế nào.
Với giọng rất nhẹ nhàng Hoàng Đạo cho biết: Thực ra chỉ có Lục Tỉnh mới là đất thuộc địa, ngoài ra tất cả đều là đất bảo hộ, rồi cũng vẫn với giọng ôn tồn ông đi vào cốt lõi của vấn đề:
"Thuộc địa là đất thuộc quyền sở hữu của thượng quốc. Thí dụ như Lục Tỉnh hay nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane (Đà Nẵng). Dân thuộc địa ở ngay dưới quyền thống trị của chính phủ Pháp, tuy họ không được hưởng quyền lợi của công dân Pháp (…)
Đất bảo hộ, khác với thuộc địa, không thuộc quyền sở hữu, không chịu sự thống trị của mẫu quốc. Nước chịu bảo hộ vẫn là một nước tự chủ, nhưng chỉ nhường một ít quyền [ngoại giao] của mình cho nước đi bảo hộ vì nước này bênh vực, giúp đỡ, nếu bị nước khác lấn áp."
Rồi ông nhắc khéo tới hòa ước Giáp Tuất (15-3-1874) và hòa ước Giáp Thân (6-6-1884) vẫn bằng những lời nhẹ mà chắc:
"Có khi nước bị bảo hộ giữ toàn quyền về việc cai trị trong nước mình. Thí dụ như nước Madagascar hay nước Annam ta… theo hòa ước ngày 15-3-1874.
Nhưng phần nhiều thì quyền cai trị nhiều ít vào tay chính phủ bảo hộ. Như ở nước ta dưới chế độ hòa ước ngày 6 tháng 6 năm 1884, chính phủ Nam triều vẫn coi việc hành chính trong nước, nhưng sở thương chính, sở lục lộ và tất cả những công cuộc gì cần đến người Pháp đều do chính phụ bảo hộ trông coi cả".
Nhận xét trên đây của Hoàng Đạo rất tinh vi: ý nói, sau hòa ước Giáp Tuất (1874) ta vẫn còn toàn quyền tự chủ, sau hòa ước Giáp Thân (1884) ta cũng vẫn còn quyền tự chủ, chỉ nhường cho Pháp việc thương chính (thuế buôn bán ở các cửa biển) và việc xây cầu cống.
Tuy vậy "phần nhiều những đất bảo hộ dần dần bị thượng quốc chiếm đoạt hết quyền, trở thành một thuộc địa, tuy vẫn có cái tên là đất bảo hộ." Câu này để chỉ tình trạng Việt Nam: Pháp đã đổi đất bảo hộ thành đất thuộc địa.
Hoàng Đạo có lẽ là người đầu tiên, dám vạch ra sự lạm quyền của chính phủ Bảo hộ sau 39 năm Doumer thi hành chính sách này. Bài Thuộc địa và đất bảo hộ là bài đầu tiên. Một năm sau, tháng 8 năm 1937, Hoàng Đạo sẽ trở lại vấn đề này, sâu sắc và toàn diện hơn, trong loạt bài Vấn đề thuộc địa trên Ngày Nay kể từ số 74 (29-8-37), sẽ nói đến sau.
Trong năm 1936, ông chú ý đến ba chủ đề: Kích động tuổi trẻ dấn thân với 10 điều tâm niệm; cực lực đấu tranh đòi tự do báo chí và tố cáo đời sống Bùn lầy nước đọng của dân quê.
Mười điều tâm niệm in trên Ngày Nay từ số 25 (3-9-36) đến số 41 (3-1-37), là cuốn cẩm nang khuyên tuổi trẻ làm mười điều:
1- Theo mới. Hoàn toàn theo mới không chút do dự. 2- Tin ở sự tiến bộ. Một ngày có thể một hơn. 3- Sống theo một lý tưởng. 4- Làm việc xã hội. 5- Luyện tính khí. 6- Phụ nữ ra ngoài xã hội. 7- Luyện lấy bộ óc khoa học. 8- Cần sự nghiệp. Không cần công danh. 9- Luyện thân thể cường tráng. 10- Cần có trí xếp đặt.
Mười điều tâm niệm chỉ có tính cách hướng đạo thanh niên, khuyên họ nên luyện tập tư tưởng và thân thể, trau dồi sức mạnh tinh thần và thể xác để xây dựng tổ quốc. Qua sự truyền đạt của báo Ngày Nay, đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới thanh niên lúc bấy giờ.
Đòi quyền tự do báo chí
Từ khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền (tháng 6-1936), báo chí Việt Nam đầy hy vọng, họ vận động để đòi quyền tự do báo chí, phong trào bắt đầu từ trong Nam.
Trên Ngày Nay số 23 (30-8-36) Hoàng Đạo viết bài Báo chí tự do với tranh Gia Trí đi kèm, để ủng hộ phong trào:
"Trong Nam, hôm 11 tháng 8 tây vừa qua, ông Nguyễn Văn Sâm, hội trưởng hội liên hữu báo giới Việt Nam, có mời anh em viết báo nhóm tại báo Đuốc Nhà Nam để thảo bản thỉnh cầu (…) với những khoản dưới đây:
1- Tự do báo chí.
2- Tự do tư tưởng về mọi phương diện: xã hội, chính trị, kinh tế, mỹ thuật.
3- Tự do hội hiệp.
4- Tự do du lịch.
5- Quyền lập liên đoàn.
6- Yêu cầu cho 5 khoản thỉnh cầu trên khỏi bị hạn chế.
Trong những khoản tự do yêu cầu trên, có sự tự do báo chí là là đáng chú ý đến hơn cả. Nói cho đúng, tự do báo chí mới thực sự là tự do. Là vì nó hàm súc hầu hết những sự tự do khác. Thí dụ như tự do tư tưởng, ta có thể coi như bao hàm trong sự tự do báo chí: nếu tư tưởng không được tự do, thì không thể có báo chí tự do được.”
Bài này đi đôi với bức tranh của Nguyễn Gia Trí, vẽ mụ già kiểm duyệt, cực kỳ sắc bén, làm tăng sự khắc nghiệt và tàn ác trong việc truất quyền tự do báo chí của chính quyền thuộc địa.
Tranh của NGT, trên Ngày Nay 
số 23 vẽ mụ già kiểm duyệt
Hoàng Đạo lúc này đầy hy vọng, nhất quyết tranh đấu, đặt quyền tự do báo chí lên hàng đầu.
Tháng 9-1936, chính phủ Bình dân dự định gửi một ủy ban điều tra đến Đông Dương để biết rõ nguyện vọng của người dân thuộc địa. Các nhóm dân sự tấp nập hội họp để bàn những điều thỉnh nguyện lên chính phủ Pháp.
Nhất, Nhị Linh viết bài: Một ý cùng ủy ban báo giới, bàn nên cử một phái đoàn báo giới sang Pháp để vận động đòi tự do ngôn luận. Tiền lộ phí sẽ do các báo góp lại. Riêng Ngày Nay sẵn sàng đóng từ 50 đến 100 đồng (Ngày Nay số 30, 18-10-36). Việc này không đi đến đâu, sau không thấy nhắc đến nữa.
Một năm sau, vẫn không thấy Ủy ban điều tra sang, Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh Núi vọng… Ủy ban trên Ngày Nay số 108 (1-5-38) nói lên nỗi cay đắng đợi chờ của người Việt.
Tranh Ritg: Núi vọng… ủy ban, Ngày Nay số 108
Và trên Ngày Nay số 110 (15-5-38), Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh Mẫu quốc (nước mẹ) mỉa mai châm biếm sâu sắc hơn, tỏ sự bất tín hoàn toàn vào ủy ban điều tra này:
Lý Toét: Này bác, Ủy ban điều tra sắp làm xong công việc rồi đấy. Chắc sẽ có kết quả tốt.
Ba Ếch: Ồ, trông mong… nước mẹ gì!.
Tranh Mẫu quốc (nước mẹ), Ngày Nay số 110
Trên Ngày Nay số 34 (15-11-36), Hoàng Đạo viết bài: Tự do hội họp và tự do lập hội: Ta vẫn có quyền tự do hội họp, chứ chưa có quyền tự do lập hội, để xác định: Hiện ta chỉ có tự do hội họp để bàn về một vấn đề gì, chứ chưa có quyền tự do lập hội.
Mười tuần lễ sau, có tin ông Toàn quyền mới sẽ sang Việt Nam, mọi hy vọng lại bùng lên.
Đón chào toàn quyền mới
Ngày Nay số 44 (24-1-37) đón chào Jules Brevié (1937-1939), vị Toàn quyền của chính phủ Bình dân.
Hy vọng tràn đầy: từ nay cáo chung chế độ tàn ác, khắc nghiệt của Pasquier (1928-1934) và Robin (1934-1936), biết bao nhiêu tờ báo đã bị chết oan dưới bàn tay đao phủ của hai vị toàn quyền này.
Hoàng Đạo viết bài Nước bài cuối cùng: Tự do Ngôn Luận. Ông toàn quyền Brevié đã tới Đông Dương thay mặt Ngày Nay, chào đón Toàn quyền Brévié bằng câu:
"Ông Brévié có nói: "Giờ chúng ta cùng làm việc". Báo giới chúng tôi cũng muốn làm việc lắm. Làm việc trong sự tự do. Chúng tôi cũng muốn nâng cao trình độ vật chất và tinh thần của quần chúng. Nhưng muốn cho ý mong ấy thành sự thực, vận mệnh tờ báo phải chắc chắn, không bấp bênh, không biết sống chết ngày nào như dưới chế độ báo chí hiện thời. Nghĩa là phải có: Tự do ngôn luận.
Báo Ngày Nay, tờ báo dư luận viết bằng quốc văn độc nhất ở Hà Nội còn sống sót rất mong mỏi ở ông sự tự do ấy.
Các bạn đồng nghiệp của chúng tôi đã lần lượt theo nhau chết dần. Mong tiếng kêu độc nhất của chúng tôi không phải là tiếng kêu thương của con bạch nga".
Ngày Nay
Lập luận khéo léo, đầy hy vọng gửi tới ông Brévié, người lãnh đạo toàn cõi Đông Dương, thuộc cánh tả, của chính phủ Bình dân, có truyền thống bênh vực những kẻ yếu kém "sẽ không nề hà cúi xuống những nỗi thống khổ cơ cực của hạng cùng dân, và sẽ can đảm thực hành một chính sách khoan hồng và nhân đạo, chứ không theo chính sách ác nghiệt là chính sách thông thường ở đất nước này".
Tiếp đó Hoàng Đạo đi vào vấn đề tự do báo chí:
"Một tờ báo, muốn cho dân lao động đọc được, thế tất phải rẻ tiền, nghĩa là phải có rất nhiều độc giả. Muốn cho tờ báo có nhiều độc giả, cần phải có tự do ngôn luận. Lúc đó tờ báo mới có thể đem tư tưởng tiến bộ truyền bá đi các hang cùng, ngõ hẻm, các làng mạc hẻo lánh ở những nơi ánh sáng văn minh chưa lọt tới. Muốn cho công cuộc chung có kết quả hay, tự do ngôn luận là một điều cần thiết nhất. Nguyện vọng phức tạp của nhân dân, làm thế nào mà chính phủ biết được một cách rõ rệt, nếu báo chí không dám bầy tỏ một cách công nhiên?
Tự do ngôn luận, chúng tôi cần phải nhắc lại nhiều lần, là một phương pháp mầu nhiệm, để quảng thông những tư tưởng nền tảng của văn minh mới, và để tỏ cho nhà chức trách biết những điều mong mỏi chân thành của hết thảy hạng người".
Ngày Nay số 44 Hy vọng cuối cùng
Bài Nước bài cuối cùng đi đôi với tranh bìa: Hy vọng cuối cùng không đề tên, nhưng chắc chắn của Gia Trí, in trên nền đỏ, vẽ con đại bàng báo chí trên đầu ông Brévié, bị trói chân, buộc dây vào cột Các nghị định bó buộc. Toàn quyền mới, y phục đen, tay cầm kéo sắp cắt dây. Dưới đề: Ông Brévié có cắt thì cắt dây, xin đừng cắt cánh.
Hiệu quả chập lại của bài Hoàng Đạo và tranh Gia Trí cực kỳ mạnh mẽ: văn tha thiết, tranh đe dọa, không ai có thể chối cãi được.
Hoàng Đạo và Gia Trí đối đầu với Toàn quyền Brévié
Ngày Nay số 45 (31-1-37), vẫn tiếp tục tranh đấu cho Tự do báo chí.
Bìa vẫn là bức tranh ở số 44, nhưng đổi nền đỏ thành xanh lá cây, ở dưới ghi câu này: "Ông Brévié không cắt, lấy cớ rằng báo chí Annam còn thấp kém. Ông nói thế mà đúng: bị trói buộc thế kia thì nó bay cao thế quỷ nào được… thử cắt xem đã!"
Tranh Gia Trí trên bìa Ngày Nay số 45
Tranh này đi đôi với bài Tự do ngôn luận có thực như vậy chăng? của Hoàng Đạo, buộc tội không nhân nhượng lời phát biểu và chính sách của vị toàn quyền mới.
Giống như bất ngờ ta bị ai tát vào mặt, sự kinh ngạc lên tới cực điểm, Hoàng Đạo hỏi: Có thật như vậy không? Có thật ông Toàn quyền Brévié đã nói với Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo câu này:
"Trình độ và tư cách báo giới ở xứ này còn kém lắm. Ở trên thế giới mà nghe đến báo giới ở Đông dương thì ai cũng ít thiện cảm. Vì vậy tôi không muốn cho tự do ngôn luận".
Tiếp đó là sự công kích thẳng thừng lập luận của ông Toàn quyền, Hoàng Đạo viết:
"Câu nói ấy, đăng trong báo Đuốc Nhà Nam, đã gieo sự ngạc nhiên vô cùng vào óc hai mươi triệu dân Việt Nam đương mong đợi ông toàn quyền của chính phủ Bình dân như một người đem sự công lý, nền tự do của nước Pháp đến đất nước vô duyên này.
Vậy ra, theo ông Brévié, báo chí quốc ngữ Đông dương đã có tiếng, có tăm trong thế giới. Từ nước Tây Ban Nha qua nước Phổ Lỗ Xĩ, nước Lỗ Ma Ni bên Âu châu đến nước Chi Ly, nước Paraguay, nước Bolivie bên nam Mỹ, đâu đâu cũng vang lừng danh xấu của báo chí Đông dương, của báo Việt Nam.
Danh xấu đó vậy ra không phải là vô cớ. Danh xấu đó, chính do ở trình độ và tư cách kém hèn của báo chí ở xứ kém hèn này. Tư cách hèn, trình độ kém, thì để cho người ta trói, người ta buộc, người ta muốn để sống thì được sống, bắt chết thì phải chết, là đáng đời lắm rồi, còn kêu ca gì nữa cho bận lòng người đại diện của chính phủ Bình dân, một chính phủ nhân đạo, tự nhận lấy cái nhiệm vụ nâng cao trình độ và tư cách của những dân tộc kém hèn".
Và Hoàng Đạo chỉ ra sự "bất cẩn" trong lời nói của vị cầm quyền Đông Dương:
Một người cẩn thận, dè dặt, chín chắn như vậy lẽ đâu chưa cầm qua một tờ báo chữ quốc ngữ, chưa đọc qua một dòng văn người Việt Nam, đã vội vàng liệt ngay báo chí Annam vào hạng đê hèn không đáng kể, không đáng sống trong ánh sáng của tự do? (…) Ông Brévié không thể nào lại như thế.
Vậy chúng tôi chắc là một sự hiểu lầm. Một sự hiểu lầm đáng tiếc. Chúng tôi chắc nói đến báo chí Đông dương kém hèn, ông Brévié chú ý đến báo chí chữ Pháp nhiều hơn là vì dư luận thế giới ít thiện cảm là ít với báo chí tiếng Pháp, chứ đối với báo quốc ngữ thì có lẽ họ không biết rằng có nữa. (…)
([Hôm sau] Nhắc lại sự đê hèn của báo chí Đông Dương ông toàn quyền có giảng giải rằng ý ông muốn trỏ những hành động đê tiện của bọn làm báo hăm dọa để ăn tiền (combines de chantage), nghĩa là hành động của báo chí chữ Pháp hơn là của báo chí chữ ta)."
Từ kinh ngạc ban đầu, Hoàng Đạo chuyển sang đối đầu: ông toàn quyền nói như vậy thực à?
Ông nói như vậy là nói chính báo Tây của ông ở Đông dương đấy. Báo Tây mới được cả thế giới biết đến chứ báo quốc ngữ của chúng tôi thì ai đọc?
Ông nói như vậy khi chưa đọc báo Việt Nam (chưa biết đọc chữ quốc ngữ) mà dám nói như vậy là nói quàng.
Rồi khi bị phản đối, ông chữa lại: ý ông muốn nói những hành động đê tiện của bọn làm báo chantage, thì những hành động đê tiện này cũng chỉ là của báo Pháp các ông, chứ báo tiếng Việt chúng tôi không ai làm như vậy cả.
Văn nghị luận viết đến thế là tuyệt, không sơ hở chỗ nào, lại dùng gậy ông đập lưng ông, sở trường của Hoàng Đạo.
Nhưng Hoàng Đạo vẫn kết luận bằng một câu nhũn nhặn đầy tin tưởng: "Chúng tôi mong ông toàn quyền Brévié sẽ thành thực nới quyền ngôn luận cho chúng tôi, sửa đổi lại chế độ hiện thời để chúng tôi được hưởng ánh sáng của sự tự do ngôn luận".
Cùng với bài Tự do ngôn luận có thực như vậy chăng? Ngày Nay in bức tranh Đứa bé Annam của GTRI vẽ một đứa bé Việt Nam bị lột trần, quan Tây, quan Ta mặc sức xâu xé dưới đây của Nguyễn Gia Trí:
Tranh Đứa bé Annam (năm cha, ba mẹ) 
của GTRI, Ngày Nay số 45
Bức tranh này như gáo nước lạnh dội vào mặt quan Toàn quyền, làm lễ ra mắt: Gia Trí đã công khai tố cáo tình trạng dân Việt Nam bị thực dân và tham quan xâu xé, đàn áp, bóc lột.
Hai tuần sau, trên Ngày Nay số 47 (21-2-37), Hoàng Đạo viết bài: Tự do ngôn luận, chưa nên thất vọng, bài cuối cùng, mở đầu bằng những hàng:
"Tôi không thể cho báo chí quốc ngữ được tự do"
Đó là lời ông toàn quyền Brévié tuyên bố với ông Nguyễn Văn Sâm, hội trưởng hội Báo giới Liên hiệp ở trong Nam.
Lần này thật không có thể lầm lẫn được nữa.
Ông toàn quyền của chính phủ Bình dân, ông toàn quyền mà chúng tôi vẫn tin là dè dặt, thận trọng, đã rõ ràng cho chúng ta biết cái cao kiến về vấn đề quan hệ ấy.
Báo chí quốc ngữ sẽ không được tự do".
Biết rằng không còn đòi hỏi được gì nữa, Hoàng Đạo đề nghị điều chót:
Một tờ báo cũng có thể bị đóng cửa, nhưng quyền đóng cửa ấy không phải ở chính phủ, mà phải ở tòa án. Chúng tôi chỉ muốn có nơi để tự bênh vực lấy quyền lợi, để khỏi phải ân hận không biết tại sao bị thu giấy phép, không biết vì cớ gì còn sống sót. Báo chúng tôi bằng chữ quốc ngữ, mà hội đồng chính phủ hầu hết không biết tiếng annam, nên đành phải dựa vào những bài dịch; mà dịch tức là làm lạc nghĩa đi. Hơn nữa, hội đồng chính phủ chỉ biết tới những mẩu văn, không có ý kiến gì về toàn thể một tờ báo, nên không thể nào định đoạt một cách công minh được".
Là luật gia, Hoàng Đạo đòi: sự đóng cửa một tờ báo phải do tòa án quyết định, tức là tòa án phải xác định được tờ báo ấy đã phạm những điều luật nào. Và khi bị buộc tội, tờ báo ấy có quyền biện hộ cho chính mình. Còn sự quyết định của chính phủ là do một nhóm người không biết tiếng Việt, thì không thể định đoạt số phận của một tờ báo Việt ngữ.
Lời Hoàng Đạo trong những bài đối đầu với Toàn quyền vừa đanh thép, vừa có lý, nên dù ông Brévié không cho báo chí quốc ngữ quyền tự do, nhưng vẫn phải nể tờ Ngày Nay và trong những ngày sắp tới, Ngày Nay tranh đấu quyết liệt hơn, cũng chỉ bị kiểm duyệt, chứ không bị đóng cửa.
Tuy vậy, chính phủ Bình dân cũng có những quyết định nhân đạo, Ngày Nay số 48 (28-2-37) trong bài xã luận Phiến đá trắng, Hoàng Đạo nói về chỉ dụ luật lao động của chính phủ Bình dân. Đây là mấy điểm chính:
- Cấm cưỡng bách lao động.
- Cấm việc phạt lương.
- Lương thợ sẽ không được ở dưới một mức tối thiểu.
- Cấm mượn trẻ con dưới 12 tuổi.
- Đàn bà có thai được nghỉ tám tuần lễ để ở cử.
- Bị tai nạn lao động, nếu không làm việc được trong quá bốn ngày, sẽ có trợ cấp.
Bộ luật này, xóa sự bóc lột tàn nhẫn, đem lại sự nhân đạo cho người lao động, và là động tác đầu tiên của chính phủ Bình dân.
Tuy nhiên những xoa dịu của Luật lao động: người đi làm được nghỉ ngày 1 tháng năm (Lễ Lao động) không thay đổi được cỗi rễ chế độ thực dân và con người thực dân.
Ngày Nay số 58 (9-5-37) có tranh bìa tựa đề Quan tân chế độ tân của RIGT, Nguyễn Gia Trí vẽ một ông cảnh sát Tây vĩ đại, đứng trước công sở, nhà máy, trường học, treo cờ tam tài, dùi cui giấu sau lưng. Lý Toét và học trò hân hoan lặp lại khẩu hiệu Tây lai: NGHỈ 1er Mai.
Tranh bìa Ngày Nay số 58.
Bức tranh châm biếm đớn đau, chỉ cho dân ta biết: vì chính phủ Pháp ban hành một chính sách nhân đạo, chính phủ thực dân bắt buộc phài thi hành, nhưng sau lưng họ vẫn giấu cái dùi cui, không biết lúc nào sẽ nện trên đầu người Việt. Vậy chúng ta phải cảnh giác, đừng ngây thơ như Lý Toét.
Hoàng Đạo đã ngừng nhưng Nguyễn Gia Trí vẫn tiếp tục đòi tự do báo chí trên nhiều số báo nữa.
Ngày Nay số 59 (16-5-37), tranh bìa Bút đàm của RITG, vẽ hai anh nhà báo, một tiếng Tây bị bịt miệng, một tiếng ta, bị nhét kẹo đầy mồm, phùng mang trợn má, bút đàm với nhau:
- Mồm anh đầy quánh những kẹo thế kia, còn nói sao được.
- Dễ thường anh thì nói được.
Bút đàm, tranh bìa Ngày Nay số 59
Ngày Nay số 61 (30-5-37), có tranh bìa Làng báo lễ cầu mát của RITG. Nhà báo cầm đơn đứng trước bàn thờ. Trên bàn thờ ba ông quan đội mũ cánh chuồn: một ông vừa được mở khóa xiềng xích, một ông đeo các chỉ dụ Bó Buộc, một ông cầm kéo (kiểm duyệt). Bên phải bàn thờ là đội ngũ cảnh sát Tây kề sát.
Làng báo lễ cầu mát, bìa Ngày Nay số 61
Ngày Nay số 64 (20-6-37), tranh bìa của RITG: Ông quan lớn Tây cầm con dao cạo to hướng về phía nhà báo Annam, nói: "Tự do thì các ông vẫn được tự do đấy chứ, tôi chỉ giữ đằng chuôi hộ các ông mà thôi".
Tranh bìa Ngày Nay số 64
Hoàng Đạo ngừng vì biết không thể nào lay chuyển được quyết định của toàn quyền về tự do báo chí, ông xoay sang tranh đấu bằng cách khác.
Trên Ngày Nay số 51 (14-3-37) Hoàng Đạo bắt đầu viết loạt bài Bùn lầy nước đọng.
Bùn lầy nước đọng
Bùn lầy nước đọng là những bài tiểu luận, đăng như xã luận trên trang đầu, trong năm tháng, từ Ngày Nay số 51(14-3-37) đến số 73 (22-8-37), chiếu ánh sáng vào những lầm than của dân quê, sống trong vòng luẩn quẩn: "dốt nát vì đói khổ, đói khổ vì dốt nát" cứ thế không ngóc đầu lên được. Họ là nạn nhân của trăm thứ tệ đoan: bọn nhà giàu cho vay lãi nặng, bọn cường hào cướp hết những quyền lợi chung trong làng, nạn tham ô, nạn cửa quyền…
Bùn lầy nước đọng khảo sát nhiều vấn đề, Hoàng Đạo không chỉ đả kích, ông luôn luôn đề nghị những cách sửa đổi.
Bắt đầu bằng vấn đề Quan trường, ông tìm hiểu tới tận gốc việc sai lầm: vì trao cho các quan (tri huyện, tri phủ) quá nhiều nhiệm vụ, quá nhiều quyền hành, mà họ không đủ khả năng, từ việc thuế khoá đến việc xây cất, trị an… vì thế gây ra hỗn độn. Cần phải thực hiện chế độ phân quyền từ trong làng xã: việc xây cất giao cho sở lục lộ, việc kiện tụng giao cho quan tòa, việc trị an giao cho sở cẩm, v.v...
Trong bài Tiếng trống ngũ liên (Ngày Nay số 53) Hoàng Đạo bàn đến nỗi sợ trộm cướp của dân quê, cứ nghe thấy tiếng trống ngũ liên (báo cướp) là người dân khiếp đảm, thất thần, vì họ không có cách gì chống lại, không biết khi nào đến phiên mình bị tra khảo, đánh đập. Mà cướp không chỉ người giàu (xem phóng sự Ngày Nay điều tra ăn cướp của Trọng Lang và Thế Lữ, trong chương Phóng sự) cướp cả người nghèo, cướp gà, cướp lợn, bất cứ thứ gì cũng có thể bị cướp. Việc canh gác giao cho tuần phiên là những trai làng canh phòng, với khí giới giáo mác thô sơ, thấy cướp đến thì chạy mất. Còn lính đóng ở phủ, huyện, xa, khi đến nơi thì cướp đã cao chạy xa bay rồi.
Hoàng Đạo đề nghị việc Phá đình (Ngày Nay số 55). Một đề nghị can đảm và tân tiến: Đình là nơi tập trung những cổ lệ, những miếng ăn, những chiếu trên chiếu dưới, là nơi thờ phụng Thần hoàng làng, một tục lê bán khai, mê tín dị đoan, trào lộng, đến độ nếu Thần hoàng là một tay ăn trộm, chết vào giờ thiêng, thì mỗi lần cúng tế phải diễn lại trò đạo chích. Nếu Thần hoàng là kẻ hoang dâm, thì mỗi khi con gái đi qua đình phải tốc váy!
Trong bài Vũng nước tù (Ngày Nay số 56) Hoàng Đạo viết:
"Sau lũy tre xanh óng ả, cuộc đời vẫn như trước (…) những ngõ lầy lội, bẩn thỉu, những gian nhà chật hẹp mái thấp tỏa xuống đất như bị mãnh lực nào đè bẹp, không cất đầu lên được.
Bên cạnh những căn nhà ấy là những vũng ao tù nước cáu đen. Trong ao người ta rửa chân rửa tay tùy thích. Nước ao còn có khi lại dùng để ăn nữa (…)
Họ không biết vệ sinh là gì; vì thế, những lúc ông dịch tác hại, họ lấy cách lễ tạ quan ôn làm thượng sách; vì thế, trẻ con sài rồi chết, họ cho là một sự quá thường".
Bức tranh Nguyễn Gia Trí dưới đây, đi kèm với bài viết của Hoàng Đạo mô tả tất cả, không cần phải nói gì thêm.
Tranh RITG, Ngày Nay số 56
Trên Ngày Nay số 58 (9-5-37) và Ngày Nay số 59 (16-5-37), Hoàng Đạo viết bài Nỗi lo lắng hằng năm của dân quê.
Ông kể lại một ký ức tuổi thơ:
"Hồi đó, tôi học ở một trường huyện, hàng ngày qua một cái chợ nhỏ, quán thấp lè tè và sơ sác. Chiều hôm ấy, tôi về sớm, ghé vào chợ tìm tổ chim. Chợ đã vãn, dưới những quán siêu vẹo, chỉ còn rác bẩn và bã mía (…)
Bỗng tôi chú ý đến một người đàn ông ở góc chợ. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ rằng lúc ấy tôi thấy người ấy có bộ mặt khó đăm đăm. Người ấy chống đòn gánh đứng cạnh đôi thúng, mà, tôi lấy làm lạ quá, trong thúng là một thằng bé con. Thấy tôi lại gần, người đàn ông ngập ngừng như muốn nói lại thôi. Tôi nhìn thằng bé, thằng bé nhìn tôi, mỉm cười. Tò mò tôi hỏi:
- Sao bác lại cho em ngồi trong thúng thế?
Tôi nghĩ bụng rằng được ngồi trong thúng để bác gánh chắc cũng dễ chịu như người ngồi xe. Nhưng tôi ngạc nhiên hết sức khi nghe bác ta trả lời:
- Tôi đem bán cháu đấy, cậu ạ.
- Bán?
- Bán để làm gì hở bác?
Bán để lấy tiền đóng thuế.
Rồi bác ta mỉm cười chua chát:
- Cả ngày chả có ai mua, khốn khổ quá. Đấy, cậu có mua tôi bán rẻ cho".
Đoạn văn viết cách đây 84 năm, mà nay đọc ta vẫn thấy xúc động vô cùng bởi những ý nghĩ ngây thơ của cậu bé Hoàng Đạo và nỗi hy vọng-tuyệt vọng của người bán con.
Nhưng nếu ta lại xem bức tranh Nguyễn Gia Trí vẽ trên Ngày Nay số 59 kế tiếp, minh họa cho bài Thuế đinh điền, thì niềm xúc động sẽ trở sang một chiều hướng mới:
Ngày Nay 59, tranh RITG minh họa Thuế đinh điền
Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh cực kỳ châm biếm bi đát: người dân quê rách rưới gánh con và bát đĩa đi bán (để trả thuế), gặp bà đầm phóng viên dẫn chó đi làm phóng sự:
Nữ phóng viên:
- Đi đâu mà vội vàng thế?
- Thưa bà đầm, con đi đóng thuế.
"Bà đầm" chưa chắc đã hiểu câu "con đi đóng thuế" nghiã là "con đi bán con để đóng thuế", chỉ có người Việt hiểu. Bức tranh này tạo cho sự bán con một tính chất exotique (phong vị xứ lạ) dưới mắt ký giả Pháp, cần phải chụp ngay để bất tử hóa. Văn Hoàng Đạo và tranh Nguyễn Gia Trí đã làm tăng nồng độ bi đát lên một mức nữa, nhờ hai yếu tố vô tình và hài hước trộn lẫn, nhờ sự cách biệt sâu xa giữa người đầm cai trị và người dân bị trị, không chỉ ở mức độ quyền lực mà còn ở cả mức độ không thông cảm vì văn hóa và tư tưởng hoàn toàn khác nhau.
Bìa Ngày Nay số 88 (5-12-37), RITG vẽ bức tranh không lời: trong công viên, đặt hai bộ máy, máy thuế thân, máy cư trú, dân Việt sắp hàng đợi đến phiên mình được nghiền nát trong hệ thống thu thuế của mẫu quốc. Cửa Vườn hoa thành phố cắm bảng: "Vào xem không mất tiền". Bên ngoài là hàng rào cảnh sát giữ an ninh, canh chừng trường hợp những bộ xương người sau khi qua máy ép, có thể nổi loạn:
Tranh không lời của RITG, bìa Ngày Nay số 88
Sự giành giật địa vị ngôi thứ trong làng, tranh nhau ghế tiên chỉ, đánh nhau vì miếng ăn được Hoàng Đạo trình bày trong bài Miếng thịt giữa làng (Ngày Nay số 67), không chỉ ở dừng lại ở trong làng mà còn lan ra tỉnh, đến cả các công chức cao cấp trong phủ toàn quyền, qua bức minh họa của RITG:
Tranh RITG, minh họa bài Miếng thịt 
giữa làng của Hoàng Đạo, Ngày Nay số 67
Người dân quê chưa có ý thức về cá nhân, về tự do. Nhưng không phải vì người ta chưa biết tự do là gì, mà không cho người ta tự do. Cũng như không thể lợi dụng câu: cầm dao có ngày đứt tay để từ chối không cho một người - dẫu là dân quê u tối - cả đời không được cầm đến con dao! Lập luận của Hoàng Đạo trong bài Tự do với dân quê (Ngày Nay số 68, 18-7-37), đi đôi với tranh Lý Toét Xã Xệ của Nguyễn Gia Trí dưới đây:
Tranh minh họa cho bài Tự do với dân quê, Ngày Nay số 68
Bức tranh biểu hiện lối tự trào cay đắng của Gia Trí về dân tộc mình: sự dốt nát đã dẫn đến những suy luận vô cùng thiển cận và độc hại:
Lý Toét dơ cao chai rượu nói với Xã Xệ: "Tự do! Tự do! Chúng mình đã được tự do uống rượu rồi còn gì nữa!"
Nhưng ta lại cũng có thể hiểu rằng: câu nói của Lý Toét có nghĩa cực kỳ mai mỉa: Lý Toét muốn nói: sự tự do mà "chúng nó" ban cho ta chỉ có nghĩa là chúng nó độc quyền bán rượu và ta có quyền tự do nghiện rượu mà thôi. Tranh Nguyễn Gia Trí thường có ít nhất hai nghĩa.
Để chống lại những cái chết âm thầm không tiếng động, những cảnh bán con để nộp thuế mà không ai mua:
- Hoàng Đạo chỉ ra những bất công, tàn ác, sai lầm, trong toàn bộ chính sách thực dân được áp dụng: từ việc định thuế khoá, thuế dinh điền, thuế thân, đến việc cho hãng Fontaine độc quyền nấu rượu, buôn thuốc phiện, đến tình trạng công nghệ, công điền, di dân, nạn cho vay nặng lãi, vấn đề giáo dục…
- Nguyễn Gia Trí thực hiện những bức hý họa bày tỏ tình trạng tương phản giữa sự đói rách bùn lầy nước đọng của dân quê với đống tiền Đông dương cao như núi của chính phủ bảo hộ, mà Toàn quyền Doumer đã khoe khoang ở trên: từ khi ông độc quyền thu thuế ở nước Nam, thì ngân quỹ Đông Dương tăng vọt.
Nguyễn Gia Trí tóm tắt tình hình trong bức tranh trên bìa báo Ngày Nay số 53 (4-4-37) dưới đây, vẽ núi tiền Đông Dương mà mẫu quốc sở hữu, làm các nước khác thòm thèm và nhòm ngó:
Ngày Nay số 53
Bức tranh diễn tả sự giàu có của Đông Dương, đề tài phỏng theo hai nguồn tin:
1- Tin các báo Âu Châu: Đức muốn Pháp nhường Đông Dương cho mình.
2- Tin các báo Nam Bắc: Nhật cũng nhòm ngó Đông Dương.
Bức tranh vẽ Hitler cao ngồng tay gắn dấu hiệu Đức Quốc Xã có xe tăng và súng đạn hậu thuẫn sau lưng, cầm bó hoa đưa cho Thực dân Pháp, thấp tè, cũng chìa bó hoa tặng lại quan thầy Hitler, cô dâu Đông dương ngồi chễm chệ trên đỉnh tiền cao ngất của núi của hồi môn.
Tranh Khu Đông Pháp tại 
Đấu Xảo Paris 1937, Ngày Nay số 70
Để trình bày sự tương phản giữa cảnh bùn lầy nước đọng của dân ta với nền văn minh Đại Pháp và để chào mừng cuộc đấu xảo quốc tế 1937 ở Paris, trên bìa Ngày Nay số 70 (1-8-37), có bức tranh Khu Đông Pháp trong trường đấu xảo quốc tế Paris 1937 (ảnh chụp của đặc phái viên Ngày Nay RITG). Nguyễn Gia Trí vẽ hai túp lều tranh có Lý Toét Xã Xệ mặc quần áo đại lễ bên cạnh toàn bộ chó, mèo, heo, con nít, hát xẩm… đại diện cho Việt Nam trong "căng" đấu xảo, ở dưới chân tháp Eiffel.
Ngày Nay số 71 (8-8-37) có tranh bìa của RITG dưới ghi hàng chữ: Ông toàn quyền Sarraut có nói: "Xứ Đông Pháp là cái bao lơn trên Thái Bình Dương (le balcon du Pacifique)".
Sự tương phản giữa cảnh cảnh bùn lầy nước đọng và nước Đại Pháp ở đây được nhìn dưới góc độ khác, bí hiểm hơn: Con tàu khổng lồ treo cờ Đức Quốc Xã, có vẻ như tàu du lịch (croisière) vì thấy bóng hành khách thướt tha thanh lịch, mà lại có hai tầng súng, ca nông chiã thẳng vào căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, có Lý Toét cởi trần nằm trên bao lơn, kinh thành Huế bốc khói sau lưng.
Thâm ý của họa sĩ: ngay cả tàu du lịch của nước Đại Pháp cũng có ca nông, và khách du lịch trên tàu sẵn sàng đổ bộ chiếm cửa Thuận An, ban công trên Thái Bình Dương, trong nháy mắt, khiến Huế sau lưng tan tành ra sương khói.
Bìa Ngày Nay số 71
Tranh hài hước của Nguyễn Gia Trí luôn luôn thâm thúy, châm biếm bi đát và đồng tâm với Hoàng Đạo trong Bùn lầy nước đọng.
Trước thực trạng dân chúng lầm than đói khát, bên cạnh núi tiền thực dân ăn cướp ở thuộc địa, không ai dám phê bình, trừ Nguyễn Gia Trí và Hoàng Đạo; cho nên khi bị bắt năm 1941, cả hai đều bị tra điện dã man. Hậu quả việc này là Hoàng Đạo bị đau tim, dẫn đến cái chết của ông năm 1948.
"Dân quê nghèo khổ đến cực điểm.(…) Vợ chồng nhìn nhau, nhìn con, rồi lẳng lặng nhịn đói nhịn khát, rồi nếu không nhịn được nữa, thì đành chết, có thế thôi. Thật là giản dị, một sự giản dị cay nghiệt, đau đớn".
(Sinh kế ở thôn quê; Ngày Nay số 54)
"Tình trạng đáng thương ấy không thể để lưu liên mãi được. Đến nay còn như vậy là chậm lắm rồi. Nhà đương cuộc cần phải để ý hơn nữa đến dân quê"
(Vũng nước tù, Ngày Nay số 56)
Bùn lầy nước đọng là những bức phác họa bằng chì, bằng chữ của Gia Trí - Hoàng Đạo, về đời sống dân quê dưới thời Pháp thuộc, vẽ nên bộ mặt lầm than cay đắng của một xã hội rã nát, tàn tạ.
Bùn lầy nước đọng như tiếng kêu cứu khẩn cấp, hy vọng được chính phủ Mặt trận Bình dân nghe, nên đã xuất bản lần thứ nhất ngày 26-9-38, nhưng vừa bày bán đã bị chính phủ thuộc địa ra lệnh cấm tàng trữ và lưu hành [9]. Thì ra chính phủ Pháp, dù là Mặt trận Bình dân, cũng không muốn nghe những lời chân thực này.

Chú thích:
[1] Liên minh cánh tả thắng thế trong cuộc bầu cử ngày 26-4-36 và 3-5- 36 (Pháp bầu cử hai vòng). Ngày 6-6-1936, Léon Blum chủ tịch Đảng Xã hội, giới thiệu thành phần chính phủ liên minh, tức chính phủ Mặt trận Bình Dân, tại Quốc hội.
[2] Đặng Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, quyển thượng, tác giả tự xuất bản, Melun, Pháp, 1999, trang 31.
[3] Mặt trận Bình dân đắc cử ngày 3-5-1936, chính thức cầm quyền từ ngày 6-6-36 đến ngày 12-4-1938.
[4] Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Văn Tường (1824-1886) và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn, tác giả tự xuất bản, 2013, tại Maryland, Hoa Kỳ.
[5] Theo Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử (1884-1945), Sài Gòn 1961, Sống Mới in lại tại Hoa Kỳ, trang 230-329.
[6] Paul Doumer, L’Indo-Chine française (souvenirs), Nxb Vuibert et Nony, Paris, in lần thứ nhì, 1905, trang 321.
[7] L’Indo-Chine française (souvenirs), trang 322.
[8] L’Indo-Chine française (souvenirs), các trang 322-325-327-329.
[9] Theo bản in năm 1959, Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do, Sài Gòn.
Nhà Ánh Sáng
Hội Ánh Sáng được thành lập theo nghị định số 4851-A ra ngày 14-10-1937 của Thống Sứ Châtel [1], dưới thời Toàn quyền Brévié.
Sự hình thành đã trải qua một thời kỳ xây dựng khá dài từ 1933 đến 1937.
Dự định cải thiện đời sống bùn lầy nước đọng của dân quê, đã có trong một số bài viết trên Phong Hóa, sau Hoàng Đạo mở rộng, đào sâu, trong loạt bài Bùn lầy nước đọng trên Ngày Nay [2], tố cáo chính sách cai trị sai lầm ở thôn quê và đề nghị sửa đổi, rồi in thành sách; nhưng sách vừa ra đã bị chính quyền thuộc địa tịch thu, như ta đã thấy trong chương trước.
Thời kỳ đăng Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo, cũng là thời kỳ Ngày Nay tích cực cổ động cho Hội Ánh Sáng mà Nhất Linh là một trong ba hội trưởng và Hoàng Đạo là thủ quỹ.
Chủ trương thay đổi cuộc sống bùn lầy nước đọng của dân quê
Việc kêu gọi thay đổi cuộc sống bùn lầy nước đọng của dân quê, bắt đầu trên Phong Hóa, với bài thơ Dân quê của Nhất Linh, được đăng như bài xã luận trên số 39 (24-3-33), ký Tân Việt, trong đó đã có bốn chữ bùn lầy, nước đọng:
"Cảnh thì cảnh bùn lầy và nước đọng.
Dân thì nghèo vất vả làm quanh năm
Hết nắng thiêu lại gió rét căm căm.
Vẫn nhem nhuốc vẫn thân trần như rộng.
Vì bài thơ này, Nhất Linh bị gọi lên ty kiểm duyệt và báo Phong Hóa suýt bị đóng cửa. Nhưng Tự Lực văn đoàn vẫn tiếp tục tranh đấu, Nhất Linh viết bài: Ban kiến trúc trường Cao đẳng Mỹ thuật và những kiểu nhà mẫu cho dân quê, gợi ý cho sinh viên ban kiến trúc, nên chú ý đến dân nghèo, thiết kế những kiểu nhà rẻ tiền, để họ có thể theo mà làm lấy được:
"Các bạn ở ban kiến trúc chắc cũng đã nghĩ tới điều đó: tìm một kiểu nhà mẫu thật rẻ tiền, xếp đặt tiện dụng với cách ăn ở ngày nay: hợp vệ sinh, nắng gió điều hòa, có ánh sáng, có khí trời và có vẻ mỹ thuật nữa" và ông kết luận: "Bản báo rồi sẽ dần dần đăng những kiểu nhà mẫu đó lên báo". (Phong Hóa số 72, 10-11-33).
Tiếp theo là loạt bài Một bản chương trình của Nhị Linh (Khái Hưng), đăng trên Phong Hóa từ số 80 (5-1-34), đến số 87 (2-3-34) đề nghị một chương trình xây dựng lại nông thôn cho sạch sẽ, có vệ sinh, dẹp các ao tù, đào giếng, làm đường… và nhất là bỏ lối làm nhà vỏ diêm hay nhà bánh khảo, loại nhà hộp, không có cửa, hoàn toàn thiếu vệ sinh, thiếu ánh sáng và Phong Hóa sẽ vẽ những nhà kiểu nhà mới mát mẻ, rẻ tiền, để dân quê có thể làm lấy.
Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện cho in Nhà kiểu mẫu số 1 trên Phong Hóa số 110 (10-10-34), và ông viết bài Kiểu nhà mẫu, trên Phong Hóa số 117 (28-9-34) và bài Kiến trúc thôn quê trên Phong Hóa số 118 (15-10-34) tả việc ông sửa lại hai nhà cổ, ẩm thấp ở làng Vẽ của ông Đỗ Bá Thọ theo lối kiến trúc mới, cùng với họa đồ đi kèm.
Trên Phong Hóa số 124 (16-11-34) Nhị Linh (Khái Hưng) viết bài Một cuộc triển lãm kiến trúc, giới thiệu những chương trình kiến trúc mới của sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương, và cho biết kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện sẵn lòng giúp Phong Hóa phổ biến trên báo những kiểu nhà mới, vừa rẻ tiền, vừa vệ sinh, cho dân nghèo.
Nhị Linh đã tường thuật cuộc triển lãm này như sau: khi vào, ông tưởng mình sẽ chỉ nhìn thấy những kiểu villa vẽ cho người giàu, không ngờ lại được thấy mẫu - của người đỗ đầu kỳ thi ra trường: kiến trúc sư Đỗ Đức Diên - vẽ nhà cho dân chúng thợ thuyền ở khu phố Sinh Từ, và ghi rõ mẫu này tặng không cho những ai muốn làm nhà trong thành phố.
Rồi trên Phong Hóa số 134 (30-1-35) báo Xuân, hai kiến trúc sư Luyện và (Hoàng Nhữ) Tiếp, vẽ lại kiểu nhà mới ở thôn quê, đã được thực hiện cho một khách hàng là ông Ch. M. cùng với bài Kiến trúc thôn quê, nói rõ ý định vẽ mẫu nhà này. Phong Hóa số 138 (1-3-35), in họa đồ toàn bộ nhà vườn đã thực hiện cho ông Ch. M: nhà nhỏ, tường gạch, trần bê tông mỏng, trên lợp tranh, kiểu mẫu nhà cho người trung lưu ở thôn quê.
Đến Phong Hóa số 172 (31-1-36) hai ông Luyện - Tiếp, lần đầu tiên vẽ Một kiểu nhà mới cho dân nghèo ở thôn quê, kèm bài viết giải thích cách chọn phương hướng, làm sao cho nhà thoáng và mát. Nhà gỗ, mái tranh, tường đất, thềm gạch, với mẫu bàn ghế và đồ đạc bằng gỗ và tre để bày biện trong nhà. 
Một kiểu nhà mẫu trên Phong Hóa số 172
Họa đồ trên đây sẽ làm mẫu cho những nhà Ánh Sáng, dựng năm 1938 ở bãi Phúc Xá, bên bờ sông Hồng, cạnh cầu Long Biên, phía bắc Hà Nội, nay thuộc quận Tây Hồ.
Cổ động chương trình dựng nhà Ánh Sáng
Trên Ngày Nay số 4 (1-3-35) Việt Sinh (Thạch Lam) viết bài Nhà cửa Annam, một phóng sự với hình ảnh đi kèm, chụp những nhà hang tối, người ở chung với lợn. Trong bài này, Thạch Lam so sánh nhà cửa ở Âu châu với nhà cửa bên ta, và đưa ra những nhận xét:
"Câu truyện nhà cửa ở nước ta, thật là câu truyện buồn nếu không muốn nói là câu truyện… bùn. Ở các nước thái tây, câu truyện nhà cửa là câu truyện những căn phòng sáng sủa, cao ráo, có lò sưởi, những đêm đông lạnh lẽo, lách tách ngọn lửa hồng ấm áp reo. Ở bên Nhật, câu truyện nhà cửa là câu truyện căn nhà bằng gỗ thông, mỏng mảnh nhưng sạch sẽ, bóng bẩy không có một tý bụi, chung quanh có một cái vườn con xinh xắn.
Còn ở thôn quê ta, thì trời ơi! câu truyện nhà là một câu truyện tối tăm, ẩm thấp, câu truyện lụp xụp, lè tè (…) Ai đi qua một thôn quê cũng phải ghê sợ vì những cái bẩn thỉu dơ dáy bao bọc lấy căn nhàNhững vũng nước đọng vàng, đầy rác rơm, làm cho đất bao giờ cũng lầy bùn ướt át…
Tiện đâu vứt đấy, những đống ấy đứng sững ngay cạnh nhà, mùa nực thì bốc lên những hơi nặng nề, mùa đông thì tiết ra những dòng nước hôi hám.
Người và súc vật ăn chung ở lộn với nhau, cùng sống chung trong một chỗ tối tăm chật hẹp ấy… Đến nỗi bây giờ thấy những đứa trẻ quê bụng ỏng, mắt toét, vấy nghịch trong bùn nước, người ta cho là một cảnh thường, không đáng lấy làm lạ. Hình như đã nghèo thì bao giờ cũng phải chịu một cái số phận như thế." (Ngày Nay số 4, 1-3-35).
Bài này là bài đầu tiên có tính cách báo động khẩn thiết, tác dụng mạnh, đưa đến những phản ứng của các kiến trúc sư sau đó.
Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Nhữ Tiếp
Ngày Nay số 16 (12-7-36) khởi đăng loạt bài Nhà cửa… của hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Nhữ Tiếp, với lời dẫn nhập như sau:
"… Những căn nhà lụp xụp ở thôn quê hay nhà gạch xây như tổ chim ở tỉnh thành đều tỏ ta người mình không biết một chút gì về khoa kiến trúc, và cũng không hề có ý muốn làm một chỗ ở cho dễ chịu. Hình như làm một cái nhà là đủ rồi.
Ngày Nay nhờ hai nhà kiến trúc sư có tiếng ở Hà Nội là các ông Luyện và Tiếp, để tìm cách làm phổ thông những điều thiết yếu của khoa kiến trúc bây giờ".
Dưới chủ đề Nhà cửa… hai kiến trúc sư Luyện và Tiếp bắt đầu viết những bài học nhập môn dạy việc làm nhà như thế nào. Đầu tiên là phải biết chọn hướng:
"Ở Bắc kỳ và miền Bắc Trung kỳ, gió mát là gió đông nam từ biển Đông và vịnh Bắc kỳ thổi lại. Những buồng ta ở phải đặt thế nào cho có cửa về hướng nam, hướng đông hay hướng đông nam. Những hàng hiên để ngồi hóng mát phải làm ra các hướng ấy." (Ngày Nay số 16)
Bài kế tiếp trên Ngày Nay số18 (26-7-36) chỉ cách trổ cửa như thế nào: một phòng muốn mát phải có cửa ở hai hướng đối diện nhau để gió thông cho mát; cách đặt các lỗ thông hơi như thế nào để, dù phòng chỉ có một cửa vẫn thoáng, và nên làm hàng hiên theo kiểu nhà thuộc địa để hóng gió, v.v...
Ngày Nay số 21 (16-8-36), bàn về các mầu vôi sơn nhà: "Mầu vàng xẫm, màu xanh biếc hay mầu đỏ, không nên dùng. Các màu xám "gris colorés" nên dùng. Bao giờ nhà cửa ta quét mầu dịu, tường vàng nhạt, xam xám hồng, xám màu ciment, hay lờ lờ xanh, hồ thủy, mầu nâu nhạt… khi ấy trước mắt ta sẽ thêm được một cảnh đẹp về nhà cửa".
Tóm lại, với loạt bài Nhà cửa… hai kiến trúc sư Luyện và Tiếp đã chỉ cho người dân quê, không nên làm những nhà hang ổ, tối tăm nữa, mà cùng với số tiền đó, có thể làm được những căn nhà đầy đủ tiện nghi, mát mẻ, hợp vệ vệ sinh.
Một cố gắng của ông Justin Godard
Luật lao động được chính phủ Bình dân ban hành tại Pháp ngày 11-10-36, nhưng gặp sự phản kháng mãnh liệt của giới chủ nhân.
Việc ông Justin Godard, cựu Bộ trưởng Lao động và là Thượng nghị sĩ Pháp đến Sài Gòn ngày 1-1-37 là một sự kiện lớn. Tại bến Nhà Rồng, hơn một vạn người đi đón ông Godard.
Lời tuyên bố đầu tiên của Justin Godard với René Candelon, phóng viên báo Populaire, như sau:
"Cần phải có liên đoàn thợ thuyền. Trước khi thi hành luật lao động ở xứ này, cần phải hỏi ý kiến của các chủ lẫn thợ. Nên để các liên đoàn được sống dù lúc ban đầu có phạm điều lầm lỡ. Về mặt nông nghiệp, chỉ có thể bảo vệ nhân công một cách hiệu quả hơn thôi" (Ngày Nay số 43, 17-1-37).
Trong bài Tự do nghiệp đoàn và việc ông Justin Godard tới Đông Dương, trên Ngày Nay số 43 (17-1-37) Hoàng Đạo viết:
"Ông sang đây có hai nhiệm vụ lớn lao: một là, khảo sát về các vấn đề y tế và vệ sinh chung; hai là, tìm phương pháp che chở cho thợ thuyền, thi hành luật lao động ở Đông Dương".
Sau khi xem xét tình hình, ông Godard nhận thấy có nhiều bất cập trong việc thi hành luật lao động ở Đông Dương, nên ông đề nghị "cần phải có những lao đoàn mạnh mẽ để đối phó với nghiệp đoàn của các ông chủ. Cho nên ông mong chính phủ sẽ tuyên hành đạo luật về sự tự do nghiệp đoàn ở Đông dương ".
Và Hoàng Đạo viết tiếp:
"Với những tư tưởng giàu nhân đạo ấy, ông Godard đi khảo sát tình hình thợ thuyền Đông dương. Ông sẽ dần dần rõ cái chế độ nhân công riêng ở xứ chúng tôi, chế độ của bọn cai. Chế độ ấy đè bẹp bao nhiêu người nghèo khổ vào trong sự túng thiếu cơ cực, lẩm than. Chế độ ấy rất là nguy hiểm cho dân lao động. Không những bọn cai chặn tiền công của họ mà nhiều ông chủ lại còn dùng bọn cai làm bung xung để áp bức họ nữa. Ông sẽ hiểu thấu tình cảnh đáng thương của thợ thuyền, ông sẽ thấy sự lam lũ của nông dân, ông sẽ thấy trong lòng đầy rẫy tình cảm với những người chỉ có cái tội nghèo cực ở đất nước này."
Nhưng cuối cùng, sự tự do nghiệp đoàn mà ông Godard đề nghị cũng không được thực hiện.
Nhà Ánh Sáng
Tuy nhiên, ba sự kiện:
Ngày 9-9-36, toàn quyền Robin bị gọi về Pháp.
Ngày 8-1-37, Luật lao động Pháp được ban hành tại Đông Dương.
Ngày 14-1-37, toàn quyền Brévié đến Sài Gòn.
đều dẫn đến việc ra đời của hội Ánh Sáng.
Thực vậy, chỉ ba tháng sau khi Robin bị gọi về Pháp, trên Ngày Nay số 38 (13-12-36) Tự Lực văn đoàn công bố sẽ thành lập hội tạm gọi Ánh Sáng, với dấu ấn biểu hiệu bằng một bàn tay đập nát mái tranh tồi tàn để làm lại căn nhà Ánh Sáng, với bản tuyên ngôn ký tên Tự Lực và cái tựa rất dài:
"Để đi tới việc thành lập Hội bài trừ những nhà "hang tối" tạm gọi là hội Ánh Sáng đem đến cho dân nghèo khắp nơi những căn nhà sáng sủa, sạch sẽ, đẹp đẽ, thay vào những nhà hang chuột tối tăm bẩn thỉu không đáng để người ở".
Hội Bài Trừ Những Nhà "Hang Tối", 
Ngày Nay số 38 (13-12-36)
Bài tuyên ngôn của Hội Ánh Sáng trên Ngày Nay số 38, có lẽ do Hoàng Đạo viết, dựa vào thực trạng nhà cửa dân nghèo do Việt Sinh (Thạch Lam) mô tả trong bài Nhà cửa Annam, trên Ngày Nay số 4, đã nói ở trên. Tác giả nhấn mạnh thêm vào những điểm sau đây được in đậm:
"Cái thảm trạng đó có thể kéo dài mãi nếu ta không tìm cách trừ tiệt đi".
"Họ nghèo, ta phải giúp họ. Họ không biết. Ta phải soi sáng cho họ. Phải thực hành và đem những cảnh đời mới đến đổi khác cái đời tối tăm, thảm đạm của họ đi".
Và tác giả đưa ra những khẩu hiệu:
Ngày nay ta không mong mỏi nữa. Ta muốn thế. Muốn là được. Ý muốn của chúng ta phải đổi ra sự thực!
Những lời này có tác dụng mạnh, được đông đảo các thành phần quần chúng ủng hộ. Chương trình nhà Ánh Sáng, sau đó, được quảng cáo, vận động không ngừng trên báo Ngày Nay, trong nhiều tuần lễ.
Khu chung cư, Ngày Nay số 39 (20-12-36)
Ngày Nay số 39 (20-12-36), in bài Nhà rẻ tiền để thợ thuyền và dân nghèo ở, kèm với hình khu chung cư tương lai, trên đây. Bài viết nói đến tình trạng: hiện nay ở gần những nhà máy lớn, thợ thuyền và dân nghèo phải sống trong những nhà mọc chi chít, hỗn độn, thiếu khí trời và ánh sáng, cho nên hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Nhữ Tiếp đã nghĩ ra loạt nhà kiểu mẫu, làm theo kiến trúc mới, để thay những khu nhà hỗn độn kia. Lớp nhà này, làm không tốn thêm tiền như làm nhà theo lối cũ (70 đồng một lớp) nhưng khác trước vì có đủ tiện nghi, có luật lệ chung cư, để giữ vệ sinh chung. Đây là loạt nhà chung cư đầu tiên, được đề nghị trên đất nước ta.
Kể từ số 40 (27-12-36), Ngày Nay mở mục Ý kiến của độc giả [3] về nhà Ánh Sáng.
Từ Ngày Nay số 41 (3-1-37), mục này đổi tên là Góp ý kiến về Ánh Sáng, loan tin ông Phạm Lê Bổng, giám đốc báo La Patrie annamite hứa biếu 160 đồng để dựng hai nhà Ánh Sáng.
Từ Ngày Nay số 42 (10-1-37), mục Góp ý kiền về Ánh Sáng mỗi tuần đăng một hay nhiều ý kiến của mọi thành phần độc giả ở khắp nơi, gửi về, góp ý xây dựng nhà Ánh Sáng. Mục này kéo dài trong tám tháng, kể từ số 40 (27-12-36) đến số 71 (8-8-37) [4], cho thấy sự ủng hộ đến từ mọi thành phần giàu nghèo trên đất nước, góp công, góp của, tùy theo khả năng của mỗi người.
Toàn quyền Jules Brévié đến Sài Gòn
Ngày 14-1-1937, Toàn quyền Jules Brévié đến Sài Gòn [5]. Hy vọng bùng lên, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí cực lực tranh đấu cho tự do báo chí trên Ngày Nay. Nhưng cuộc tranh đấu thất bại, toàn quyền Brévié không cho tự do báo chí (xem chương: Ngày Nay tranh đấu).
Trên Ngày Nay số 50 (14-3-37), Hoàng Đạo viết bài Tiền định đi thăm trại Ánh Sáng, về một giấc mơ được đi thăm trại Ánh Sáng bên bờ sông Tô Lịch.
Và trên Ngày Nay số 51 (14-3-37) Hoàng Đạo bắt đầu viết loạt bài Bùn lầy nước đọng, tạo ra một chiến lược tranh đấu mới, trình bày bộ mặt đen tối của làng thôn: dân quê bị đè bẹp trong sưu cao thuế nặng, trong thần quyền mê tín dị đoan, trong xã hội xôi thịt với bọn chức sắc đồi trụy trong làng. Loạt bài này đã đánh động quần chúng nghĩ tới cuộc sống bùn lầy nước đọng ở thôn quê, góp phần không nhỏ vào việc phát triển ý niệm xây dựng nhà Ánh Sáng.
Tuy nhiên, công cuộc vận động Nhà Ánh Sáng khó có thể tiến triển được, nếu không thông qua con đường chính thống, tức là phải được chính quyền thuộc địa cấp giấy phép lập hội trước, rồi sau đó, lại cần có sự bảo trợ của chính quyền, mới có thể thực hiện các chương trình xây dựng. Bởi vì từng lớp quan lại thực dân ở tỉnh, đứng đầu là viên công sứ Pháp, có quyền từ chối, không cấp đất và không cho thực hiện bất cứ "chương trình" gì, trong vùng họ cai trị, nếu không bị chính quyền trung ương bắt buộc.
Thống sứ Châtel đến Hà Nội
Ngày 28-5-37, Yves Châtel, tân Thống sứ Bắc kỳ, tới Hải Phòng.
Ông sẽ là người hết lòng bảo trợ cho chương trình Ánh Sáng, và trở nên một trong những vị thống sứ được dân chúng mến chuộng. Tháng 3-1939, khi ông trở về Pháp, người đưa tiễn đông tới hàng vạn. Chương trình Ánh Sáng cũng hầu như chấm dứt với sự ra đi này.
Một tuần sau khi ông Châtel đến Hà Nội, ủy ban tạm thời Ánh Sáng, do nhà báo Phạm Văn Bính tạm làm chủ tịch, đã hành động rất khôn khéo, đến xin gặp bác sĩ Hermant, Tổng thanh tra Y tế Đông Dương, hỏi ý kiến ông và đăng bài Một giờ với bác sĩ Hermant, trên Ngày Nay số 62 (6-6-37). Trong bài này, Phạm Văn Bính, trình bày chương trình hoạt động của Hội và yêu cầu bác sĩ Hermant giúp đỡ. Ông Hermant hỏi ngay:
- Các ông nói qua cái bước thứ nhất của các ông: sau khi được giấy phép thì các ông làm việc gì trước tiên?
- "Thưa bác sĩ, Hội Ánh Sáng sẽ bắt đầu làm ngay một xóm thợ thuyền ở gần Hà Nội. Chúng tôi sẽ xin chính phủ cho chúng tôi một miếng đất rộng trên đó chúng tôi dựng những ngôi nhà lá kiểu mới, rộng rãi, hợp vệ sinh và chúng tôi sẽ cho anh em thợ thuyền thuê một giá rất rẻ". Khi nào số tiền thuê nhà trả đã sấp sỉ bằng tiền xây nhà, thì cái nhà đó sẽ thuộc quyền sở hữu người thuê. Trong xóm sẽ có nhà y tế do các hướng đạo sinh có bằng Hồng thập tự đến trông nom.
- Các ông lấy tiền đâu ra làm những việc ấy?
- Chúng tôi sẽ nhờ vào tiền trợ cấp của chính phủ, tiền đóng góp của hội viên, và tiền tổ chức các cuộc vui để kiếm tiền.
- Thế còn các làng?
- Sẽ khuyến khích dân quê đào giếng để có nước sạch. Sẽ giúp họ làm nhà rẻ tiền mà hợp vệ sinh và có mỹ thuật…
Đến đây bác sĩ Hermant ngắt lời:
"Các ông không thể làm hết được mọi việc, vậy các ông nên xin phép chính phủ làm một cái làng kiểu mẫu trong đó có đủ các điều kiện vệ sinh, mỹ thuật, mới mẻ, rồi người ta sẽ bắt chước sửa đổi hoặc làm theo…"
Bài Một giờ với bác sĩ Hermant, chính là bước đầu khéo léo để xin sự bảo trợ của chính quyền.
Vẫn trong Ngày Nay số 62 này, ta còn được biết, ủy ban thành lập hội Ánh Sáng đã họp lần thứ nhất ở nhà kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện. Thành phần tham dự rất đa dạng: Nguyễn Cao Luyện, kiến trúc sư; Ngô Trực Tuân, bác sĩ; Phạm Văn Bổng, kỹ nghệ; Phạm Tá, nghị viên, Phạm Văn Bính, nhà báo. Những người này có nhiệm vụ mời các nhà đương chức tham dự vào ban trị sự của hội Ánh Sáng.
Gặp Thống sứ Yves Châtel
Chặng thứ hai là đến xin gặp Thống sứ Yves Châtel. Ngày 29-6-37, nhà báo Phạm Văn Bính, đại diện hội Ánh Sáng, đến xin gặp Thống sứ Châtel, ông niềm nở tuyên bố:
"Chính phủ Bảo hộ sẽ không hẹp hòi gì mà không nâng đỡ những công cuộc nhân đạo như hội Ánh Sáng. Các ông có thể bảo họ: tôi sẽ săn sóc đến hội "khuyến khích những nhà sạch sẽ cũng như các quan chức thuộc quyền tôi. Quan Toàn quyền Brévié sẽ vui lòng nhận chức Danh dự Hội trưởng của Hội."
Sau khi xem bản vẽ "một xóm thợ thuyền" của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, ông thống sứ nói: "Phải xây dựng ngay những xóm thợ thuyền ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng. Hội sẽ nói với các ông chủ nhà máy giúp hội thực hiện những xóm thợ thuyền như vậy".
Trước khi từ giã, nhóm đại diện Ánh Sáng mời ông Châtel làm Hội trưởng "vì ngài là vị thượng quan mà dân Annam chúng tôi hết sức quý mến và tin cậy". Ông vui vẻ trả lời:
"Được rồi, cái đó, các ông không ngại. Quan Toàn quyền Brévié, tôi, hay các vị thượng quan Pháp Nam sẽ chú ý đặc biệt đến hội vì đó là một công cuộc xã hội đáng khuyến khích. Các ông cứ yên tâm về thảo điều lệ rồi đưa đến đây cho tôi". (Ngày Nay số 66, 4-7-37).
Sở dĩ ban đại diện Ánh Sáng đạt được những thành quả đầu tiên, vì Đảng Xã Hội Pháp có truyền thống giúp đỡ dân nghèo, mà chương trình nhà Ánh Sáng đi đúng với chủ trương của đảng này.
Việc đưa Phạm Văn Bính, một đảng viên của Đảng Xã Hội Pháp, lên làm chủ tịch tạm thời của hội Ánh Sáng là khéo léo: Phạm Văn Bính có thể tiếp xúc với nhà cầm quyền một cách dễ dàng. Từ đây mọi việc tiến hành rất nhanh chóng.
Ngày Nay số 70 (1-8-37), đăng bài của nhà báo Bùi Thế Mỹ, một nhà báo danh tiếng ở Sài Gòn ủng hộ Hội Ánh Sáng, và Ngày Nay số 71 (8-8-37), đăng bài của anh em thợ thuyền ở Vinh hoan hô chương trình này.
Hội Ánh Sáng được thành lập
Ngày Nay số 72 (15-8-37) có tranh bìa của RITG, vẽ Nhà Ánh Sáng: Một nếp nhà ánh sáng, một gia đình ánh sáng. Một cảnh ao ước sắp có, nhờ về Hội Ánh Sáng.  
Ngày Nay số 72, RITG vẽ 
nhà ánh sáng, một ao ước sắp có
Và Ngày Nay số 72 (15-8-37) in quảng cáo buổi diễn thuyết đầu tiên của hội Ánh Sáng tại nhà Hát Lớn Hà Nội.
Chương trình Diễn thuyết, 
Ngày Nay số 72 (15-8-37).
Dưới khung quảng cáo này là bài Ánh Sáng ở thôn quê trong mục Bùn lầy nước đọng, trình bày chương trình Ánh Sáng, Hoàng Đạo viết:
"Những gian nhà tối tăm, lụp xụp, ẩm thấp của họ [dân quê] từ ngàn năm xưa đã có, họ cứ theo con đường cũ đã vạch sẵn mà đi, không được ai chỉ bảo thêm, cho nên đến bây giờ, nó vẫn ẩm thấp, vẫn lụp xụp, vẫn tối tăm. Vậy, nếu bây giờ, có người đến bảo họ rằng: Cũng với một số tiền làm nhà ấy, cũng với những tài liệu ấy, chúng tôi có thể xây dựng nên những ngôi nhà phong quang hơn, rộng rãi hơn, có mỹ thuật và vệ sinh hơn."
Những người ấy là ai? Họ là những kiến trúc sư xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương, đã từng nghiên cứu về vấn đề nhà cửa ở thành thị và thôn quê. Và họ đang tìm cách đem tiện nghi và mỹ thuật đến những người nghèo, cho dân quê, cho thợ thuyền được hưởng.
Và đó cũng là một mục đích của hội Ánh Sáng mới thành lập.
Nhìn vào cách xây dựng hội Ánh Sáng, ta thấy đây là một tổ chức có hệ thống, quy củ, có thể có hậu ý chính trị, mở rộng ra ngoài khuôn khổ Tự Lực văn đoàn, tìm sự ủng hộ của nhiều thành phẩn dân chúng khác nhau.
Như trên đã nói, loạt bài Bùn lầy nước đọng của Hoàng Đạo đăng trên Ngày Nay từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1937, là vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ cho hội Ánh Sáng, làm thức tỉnh lòng người trước thảm trạng sống của dân quê, kêu gọi mọi người tham gia để cải tổ đời sống u tối này, đánh động nhà cầm quyền phải thay đổi chính sách cai trị, trừ khử những bất công, đưa ánh sáng công lý vào vùng bất hạnh.
Nhờ vậy, không những phong trào Ánh Sáng được cả thành phần trí thức lẫn công nhân, thợ thuyền ủng hộ (theo các bài góp ý đăng trên Ngày Nay), ngay đến ông toàn quyền Brévié, mặc dù đã từ chối tự do ngôn luận, không cho lập nghiệp đoàn và lập đảng, cũng không thể ngăn cấm Hội Ánh Sáng thành lập, mà còn góp phần đắc lực vào, như muốn xoa dịu những cấm đoán phản dân chủ của ông trước đây, khi ông mới tới Việt Nam.
Hội Ánh Sáng ra đời ngày 16-8-1937
16-8-1937 là một ngày "lịch sử" đối với hội Ánh Sáng, được coi là ngày thành lập hội.
Báo Ngày Nay số 73 (22-8-37) dành ba trang nói về buổi họp tối 16-8-37 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, với bài tường thuật nhan đề: Tại nhà Hát Lớn Buổi họp đầu tiên của Ánh Sáng của Khái Hưng kèm theo hình ảnh. Theo lời Khái Hưng: "Diễn đàn bài trí giản dị và uy nghiêm, hùng tráng xưa này chưa từng thấy". Số hội viên Ánh Sáng vào nhà hát gấp đôi số ghế của rạp hát. Tóm lại có khoảng 2000 hội viên vào được bên trong và 2000 hội viên phải ra về.
Quang cảnh Nhà Hát lớn bên ngoài, 
bên trong và diễn đàn, trên Ngày Nay số 73.
Diễn giả gồm có:
- Nhất Linh Nguyễn Tường Tam nói về: Ý nghĩa xã hội của hội Ánh Sáng.
- Tôn Thất Bình, giáo sư trường Thăng Long và Phạm Văn Bính, thư ký ủy ban tạm thời, nói về: Mục đích và chương trình của hội Ánh Sáng.
- Hoàng Nhữ Tiếp, kiến trúc sư, nói về Kiến trúc mới và lối nhà rẻ tiền.
- Cô Thanh Quý, hiệu ảnh Anh Photo, nói về Phụ nữ với hội Ánh Sáng
Bài viết của Nguyễn Tường Tam, Phạm Văn Bính và Hoàng Nhữ Tiếp đều đăng lại trên báo Ngày Nay [6].
Hướng đạo sinh hát những bài ca Ánh Sáng, lần đầu tiên. Bài đầu do Trần Duy Hưng và Thế Lữ, đặt lời. Bốn bài tiếp theo, lời của Thế Lữ, đăng trên Ngày Ngay số 73 và 75.
Sổ vàng ghi nhận lòng tốt của nhiều cơ quan hảo tâm giúp phương tiện thực hiện đêm hội, đặc biệt ông đốc lý Pisier cho mượn nhà Hát Lớn không lấy tiền thuê. Và quảng cáo, ngay tuần sau, tối thứ hai 23-8-37, tại nhà Hát Lớn sẽ có đoàn ca vũ May-Blossom hát gây quỹ giúp hội Ánh Sáng, vé bán tại: hiệu Gô Đa, gian hàng nước hoa, và các hiệu thuốc: Vũ Đỗ Thìn, Hoàng Xuân Hãn, hiệu sách Thụy Ký và tòa báo Ngày Nay.
Tóm lại, buổi ra mắt Hội Ánh Sáng rất rầm rộ, được sự ủng hộ của mọi giới, kể cả những tờ báo chống Ngày Nay, cũng quên chuyện cũ, để đồng tâm góp sức cổ động, đông nhất là giới báo chí và giới hướng đạo. Sự góp phần nhiệt liệt của các đoàn hướng đạo, cho thấy tác dụng Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo, đã đăng trên Ngày Nay năm 1936, một lối kim chỉ nam hướng dẫn thanh nhiên, khuyên họ nên luyện tập thân thể và chí khí để phụng sự việc cải tiến xã hội.
Ban trị sự tạm thời của Ánh Sáng, có sự góp mặt của nhiều thành phần:
Ba hội trưởng: Nguyễn Tường Tam, giáo sư; Nguyễn Thiều, kỹ sư; Nguyễn Duy Thanh, kỹ sư.
Thư ký: Phạm Văn Bính, làm báo.
Hai phó thư ký: Trần Văn Thiết, kỹ sư; Nguyễn Văn Đào, đoàn trưởng đoàn Hùng Vương.
Thủ quỹ: Nguyễn Tường Long, tham tá lục sự.
Hai phó thủ quỹ: Trần Khánh Giư, làm báo. Nguyễn Văn Xuân, tham tá tòa án.
Mười hai cố vấn: Cô Thanh Tú, làm báo. Cô Thanh Quý, làm ảnh. Ngô Thế Tân, kỹ sư canh nông (chồng họa sĩ Lê Thị Lựu), ủy viên hướng đạo. Nguyễn Cát Tường, họa sĩ. Nguyễn Văn Khái, thương mại. Phạm Tá, nghị viên. Trần Phúc Chuyên, đoàn trưởng đoàn Lê Lợi. Tôn Thất Bình, làm báo. Hoàng Nhữ Tiếp kiến trúc sư. Phạm Lê Bổng, kỹ nghệ. Nguyễn Văn Nhân, đoàn trưởng đoàn Hồng Đức. Nguyễn Văn Vĩnh, lảm ảnh. (Theo Ngày Nay số 74, 29-8-37).
Buổi diễn thuyết đầu tiên của Nguyễn Tường Tam
Nhất Linh vắng mặt trên báo Ngày Nay từ số 48 (28-2-37). Trên Ngày Nay số 58 (9-5-37) có đăng lời bố cáo: Nguyễn Tường Tam ốm nên không đọc được hết các sách truyện gửi về dự thi giải TLVĐ 1936 (bố cáo này có tính cách "chính trị", vì Thạch Lam phụ trách giải thưởng, ông đọc và viết bài tổng kết các sách gửi đến dự thi).
Tóm lại, Nhất Linh vắng mặt trên Ngày Nay từ tháng 2-37, để xuất hiện lại trên diễn đàn Nhà Hát Lớn đúng ngày 16-8-37 như vị thủ lãnh của phong tráo Ánh Sáng.
Một tháng sau, Ngày Nay số 78 (26-9-37) Nguyễn Tường Tam, rút tên Giám đốc, để trở thành Sáng lập chủ nhân, Trần Khánh Giư lên làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân, Quản lý.
Những sự kiện này có cho phép ta "đoán" là Nhất Linh đã quyết định hoạt động chính trị ngay từ tháng 2 năm 1937, thoạt tiên dưới hình thức xã hội, dựng nhà Ánh Sáng, để có sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, trước khi thành lập đảng Hưng Việt, đầu năm 1938, chăng? Vì thế, chúng ta cần biết Nhất Linh Nguyễn Tường Tam nói gì trong bài diễn thuyết ra mắt Hội Ánh Sáng ngày 16-8-37 này.
Đầu tiên, ông đặt vấn đề: Đã từ lâu, những người nhiễm cái học mới đều nhận thấy "cảnh đời ảm đạm, buồn nản của dân quê trong những túp nhà hang tối" và chắc đã nhiều lần tự hỏi: "Liệu có thể đổi khác được không?"
"Câu hỏi trên nảy ra trong óc bạn chỉ như một tia nắng yếu ớt lòe ra trong đêm tối dầy đặc, chỉ như một giây phút hy vọng biến ngay thành một nỗi thất vọng dài và chua xót.
Nhưng bao giờ cũng vậy: đã nghĩ đến thay đổi thì rồi sẽ có sự thay đổi.
Nỗi thất vọng riêng từng người nay đã sắp biến thành một mối hy vọng chung, mối hy vọng chung ấy tức là hội Ánh Sáng." (Ngày Nay số 74, 29-8-37).
Nếu sự thay đổi Nhất Linh muốn nói ở đây là thay đổi toàn diện xã hội, thì đây là lời kêu gọi lên đường, được nhấn mạnh bằng ý: cứ nghĩ đến là làm đượccứ muốn là làm được.
Nay Hội đã thành lập được rồi. "Hội đông người, lại toàn những người quả quyết phấn đấu, cái sức mạnh ấy có thể thắng nổi hết các sự khó khăn".
Rồi ông trở lại vấn đề nhà Ánh Sáng, cái khó đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi:
"Làm nhà cho dân nghèo và thợ thuyền ở, nhưng rồi sau… sẽ ra sao? Chính phần mười nhà Annam ta là nhà hang tối. Làm thế nào cho đủ được?"
Vì thế hội Ánh Sáng không phải là hội làm phúc, tức là chỉ xây nhà gạch cho một số người may mắn được hưởng, mà xây dựng những nhà tranh, nhà gỗ, rẻ tiền, nhưng đủ tiện nghi và có mỹ thuật. Và cần truyền bá tư tưởng này đến mọi người ở khắp nơi: Phải thay đổi cuộc sống. Trong ba năm nay, chúng tôi đã cộng tác nghiên cứu. Loại nhà này có thể xây dựng được ở bất cứ nơi nào, với điều kiện là phải cổ động cho người dân chịu thay đổi lối sống… Nói khác đi, phải đưa dân quê ra khỏi cái quan niệm thần linh, mà sống một đời thực tiễn cho chính họ. Vì vây, hội Ánh Sáng phải giúp đỡ họ, không chỉ việc xây nhà Ánh Sáng mà còn giúp họ thoát khỏi lối sống tối tăm, mê tín, để trở thành những người văn minh.
Thông điệp của Nhất Linh có hai nghĩa:
- Một là, phải xây dựng những nhà Ánh Sáng để ở.
- Hai là, phải thoát ra khỏi gông cùm hủ lậu, mê tín, đã đè bẹp người dân trong bao nhiêu thế kỷ, mà cũng là cái gông cùm thực dân còn đang đè nặng trên toàn diện đời sống dân tộc, qua lời nhắn kín đáo sau đây:
"Cái gì bền chặt, còn mãi mãi, không phải là những căn nhà dựng lên, mà chính là cái ý muốn chung của chúng ta, của dân quê, cái ý muốn có sự thay đổi mãi mãi, cái lòng nhiệt thành với công việc ta làm, lúc nào ta cũng hết sức, chắc ở mình và chắc ở tương lai."
Qua bài phát biểu này, Nhất Linh đã âm thầm tuyên bố chủ đích chính của mình: muốn thay đổi hẳn cuộc sống của người dân, có thể hiểu là phải làm cách mạng.
Từ đây, Hội Ánh Sáng phát động các chương trình Ánh Sáng: diễn thuyết, tổ chức quyên tiền, trình diễn ca nhạc, kịch, chiếu phim, để gây quỹ dựng nhà Ánh Sáng. Đông đảo nhà báo góp sức cổ động, Hướng đạo sinh làm việc thiện nguyện, các trí thức như ông bà Hoàng Xuân Hãn nhận bán vé xem hát, ông Thống sứ cho phép tổ chức Garden Party trong Phủ thống sứ; ông bà Toàn quyền giúp công, giúp của, v.v.
Nghị định thành lập Hội ngày 14-10-1937
Hội Ánh Sáng được phép chính thức thành lập theo nghị định số 4851-A ngày 14/10/37 của Thống sứ Châtel [7]
Nghị định, Ngày Nay số 82, trang 379
Đoàn ánh sáng được phép 
thành lập, Ngày Nay số 83
Ngày Nay số 83 (31-10-37) in khung quảng cáo rầm rộ, đại ý nói:
Bắt đầu từ ngày 14-10-37, đoàn Ánh Sáng được phép thu tiền của Hội viên để làm nhà Ánh Sáng. Tiền thu được sẽ biến ngay thành nhà cửa Ánh Sáng.
Ban cổ động sẽ diễn thuyết tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh để tuyên truyền chủ nghĩa của đoàn và đến các nhà để mời mọi người vào đoàn.
Điều lệ vào hội: Tán trợ hội viên: ủng hộ ít nhất 100 đồng. Tặng hảo hội viên: 50 đồng. Chủ trì hội viên, đóng mỗi năm 1 đồng. Khuyến khích hội viên, mỗi năm 0,20 đồng.
Số tiền đóng góp không nhiều nhưng nhiều người thì số tiền sẽ rất lớn.
Tháng 12/1937 sẽ có Đại hội đồng đầu tiên của đoàn Ánh Sáng.
Ngày Nay số 89 (12-12-37), trong bài Ánh Sáng, đăng các tin sau đây:
- Ông Toàn quyền Brévié nhận làm danh dự hội trưởng và đỡ đầu cho đoàn Ánh Sáng.
- Ông Brévié cho phép các ủy viên Ánh Sáng trong ba ngày 13, 14 và 15 tháng 12 đến công sở mời các viên chức vào đoàn.
- Ngày Ánh Sáng được phép tổ chức vào ngày 12-12-1937.
- Các Ủy ban hành động Ánh Sáng được thành lập.
Nhìn danh sách các ủy ban in trong bài báo, chúng ta thấy đủ các thành phần trí thức, nhà giáo, văn nghệ sĩ thời đó, và phụ nữ đóng vai trò không nhỏ. Thí dụ:
Ủy ban tổ chức và khánh tiết: trưởng ban: bà Trịnh Thị Thục Oanh, đốc học các trường nữ học Hà Nội. Thư Ký: các ông Nguyễn Trọng Trạc, Hoàng Nhật Tiến. Ủy viên: các bà: Trần Khánh Giư, Hoàng Cơ Thụy, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Tiết, Tôn Thất Bình, Vũ Đình Đa, Phạm Hoàng Tín, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Hà Sĩ Cát.
Ủy ban chuyên môn: Trưởng ban: ông Bùi Tường Chiểu; thư ký: các ông Võ Đức Diên, Nguyễn Gia Trí.
Ủy ban tuyên truyền: Trưởng ban: ông Đoàn Phú Tứ; thư ký: các ông Hà Sĩ Cát, Vũ Đình Hòe. v.v...
Ngày 14-12-37, ông Toàn Quyền Jules Brévié gửi thư cho ông Hội trưởng đoàn Ánh Sáng nhận làm hội trưởng danh dự của đoàn Ánh Sáng, kết luận lá thư, ông viết:
"Chống lại với nạn nhà tối tăm và làm cho dân quê hiểu biết những phương pháp vệ sinh thường thức là hai công việc cấn thiết và đích đáng với tấm lòng nhiệt thành của các ông. Làm việc đó, đoàn Ánh Sáng có thể trông cậy ở sự giúp sức của tất cả các nhà đương chức ở đây" [8]
Ngày 13-1-38có buổi diễn thuyết ở nhà Hát Lớn Hải Phòng để cổ động cho đoàn Ánh Sáng, với các diễn giả: Nhất Linh, Tôn Thất Bình, Nguyễn Trọng Trạc, Hoàng Nhữ Tiếp, Nguyễn Thị Tăng Phú [9].
Ông Đốc lý Virgitti cấp cho hội Ánh Sáng sáu lô đất ở bãi Phúc Xá để xây nhà Ánh Sáng [10].
Đoàn Ánh Sáng đã có bài ca chính thức, theo điệu Quốc ca Hoa Kỳ và Joyeux au revoir [11]. Bà Vũ Ngọc Phan (Hằng Phương) sáng tác bài thơ Khuyên mọi người vào hội Ánh Sáng [12].
Trên Ngày Nay số 107 (24-4-38), kiến trúc sư Hoàng Nhữ Tiếp viết bài Trại Ánh Sáng Phúc Xá, trình bày họa đồ, giải thích cách kiến trúc, và nêu lên những khó khăn cần phải vượt qua.
Trại Ánh Sáng Phúc Xá hiện có 4 lô, mỗi lô 1.200 m2.
Trại Ánh Sáng Phúc Xá của Hoàng 
Nhữ Tiếp, Ngày Nay số 107
Một cảnh xã hội sẽ thực hiện ở Phúc Xá, Ngày Nay 109
Từ 5 đến 6 giờ chiều ngày 12-5-38: Lễ đặt viên gạch đầu tiên ở Trại Ánh Sáng do phu nhân quan Toàn quyền Jules Brévié và ông Thống sứ Châtel chủ lễ [13].
Đoàn Ánh Sáng cảm ơn ông bà Toàn quyền Brévié gửi tặng 450 đồng [14].
Tiếp tục gây quỹ: Nhất Linh diễn thuyết. Ba chục "nàng tiên Ánh Sáng" hát giúp vui. Cô Jeannin Tạ Quang Phát hát. Chiếu phim Désir với Marlène Dietrich và Gary Cooper.
Bản chi thu Ánh Sáng do Hoàng Đạo thủ quỹ ký ngày 25-5-38, đăng lần lần trên Ngày Nay số 114 (2-6-38).
Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Duy Thanh đồng chủ tịch Hội, tiếp khách mỗi tuần một giờ vào ngày thứ bẩy, từ 6 đến 7 giờ chiều, tại Đoàn sở Ánh Sáng, 28 phố Richaud.
Số tiền thu được sẽ gửi xuống Hải Phòng để xây thôn Ánh Sáng đầu tiên ở dưới ấy [15].
Ngày 23-12-38, Hội Ánh Sáng bầu hội đồng quản trị mới, với:
Ba hội trưởng: Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình Hỏe và Tôn Thất Bình.
Tổng thư ký: Nguyễn Xuân Đào. Nguyễn Tường Long đổi sang ban Kiểm sát.
Trần Khánh Giư, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Nhữ Thiếp, Tô Ngọc Vân, ở trong ban cố vấn.
Trong bài diễn văn đọc tại Đại Hội Đồng Ánh Sáng ngày 18-12-38, tại rạp Olympia, Tổng thư ký Nguyễn Xuân Đào tổng kết những việc hội đã làm được trong năm vừa qua và trình bày chương trình cho năm tới. Ông cho biết: Đoàn Ánh Sáng hiện đã có bốn chi đoàn ở Hải Phòng, Nam Định, Sơn Tây và Kiến An. Riêng chi đoàn Hải Phòng đã có hơn nghìn hội viên và một nghìn bạc trong quỹ.
Về năm 1938: "Trại Phúc Xá đã hoàn thành: có 34 căn nhà cho 34 gia đình ở. Nhà chia làm 4 hạng, giá thuê từ 6 hào đến 2 đồng một tháng. Nhà nào cũng có bếp, buồng tắm, cầu tiêu riêng. Những đồ đạc bầy trong nhà cũng do đoàn sắm cả. Đồ đạc toàn bằng tre, do kiến trúc sư chế kiểu, đã tiện lại có vẻ mỹ quan.
Sau hạn thuê mười năm người chủ thuê không phải trả tiền nhà nữa. Nếu nửa chừng dọn đi, đoàn sẽ bồi thường lại một món tiền…"
Dự tính cho năm 1939: "Ban công tác đương trù tính việc dựng thôn Ánh Sáng ở Voi Phục. Hiện nay đã được dân sở tại nhường cho 10 mẫu đất công. Với số tiền dự trù non hai vạn đồng, thôn Voi Phục sẽ dựng với một quy mô rộng lớn hơn và đầy đủ hơn trại Jules Brévié ở Phúc Xá"
Về tổ chứcNguyễn Xuân Đào cho biết: "Đoàn có một hội đồng quản trị, một ban kiểm sát tài chính và 13 ủy ban hành động. Hội đồng quản trị ban bố những mệnh lệnh, còn thừa hành các mệnh lệnh đó là việc của các ủy ban. Có những ủy ban này: Tổ chức, tuyên truyền, công tác, khiến trúc, bài trí, y tế, pháp luật, phụ nữ, huấn luyện, mua bán, khảo cứu về thôn trại Ánh Sáng". Hội Ánh Sáng hiện có hơn một trăm ủy viên.
Hội đồng quản trị hội Ánh Sáng quyết định năm 1939 sẽ xây dựng Thôn Ánh Sáng thứ hai ở Voi Phục.
Cuối cùng, ông Nguyễn Xuân Đào ngỏ lời cám ơn ủy ban tổ chức, ủy ban kiến trúc và công tác: "Chúng tôi xin có lời trân trọng cảm tạ các bạn trong ủy ban tổ chức, trong một năm trời, đã kiếm cho quỹ đoàn hơn một vạn bạc, hai ủy ban kiến trúc và công tác đã hợp sức dựng nên trại Ánh Sáng đầu tiên ở Phúc Xá". Và gửi lời cám ơn các báo: Ngày Nay, Đông Pháp, Thời Vụ, Trung Bắc, Việt Báo, Nam Cường, Tin Tức đã giúp đỡ phương tiện và đặc biệt lòng biết ơn của đoàn Ánh Sáng đến ông Toàn quyền Jules Brévié và phu nhân, ông Thống sứ Chatel, hai ông đốc lý Virgitti và Gallois Montbrun đã bảo trợ cho đoàn về đủ các phương diện [16].
Ngày Nay số 151 (4-3-39) quảng cáo chương trình chợ phiên Ánh Sáng "vĩ đại" để dựng thôn Ánh Sáng Voi Phục, sẽ làm ở nhiều nơi trong ba ngày do ông Thống sứ Châtel bảo trợ:
Thứ sáu 3-3-39, 17 giờ: Khánh thành chợ phiên tại Parc Auto.
Thứ bẩy 4-3-39, từ 16 giờ: Chơi và thi thuyền trên hồ Hoàn Kiếm.
17 giờ: Garden Party tại Phủ Thống Sứ.
Chủ nhật 5-3-39, 15 giờ: Thi xe hoa tại vườn hoa Paul Bert.
Chương trình văn nghệ: ban kịch Thế Lữ trình diễn vở Đoạn Tuyệt của Nguyễn Xuân Đào soạn theo truyện của Nhất Linh, tại nhà Nhà Hát Lớn Hà Nội.

Chương trình in trên Ngày Nay số 151 (4-3-39).
Phong trào Ánh Sáng tan vỡ
Nhị Linh và Tô Tử viết bài tường thuật của về ba ngày hội rất thành công này, trên Ngày Nay số 152 (11-3-39). Nhưng đó là những ngày hoạt động cuối cùng. Bởi vì tuần sau, ông Thống sứ Yves Châtel về nước. Ông là người sốt sắng nhất trong việc bảo trợ chương trình Ánh Sáng. Tô Tử (Tô Ngọc Vân) tường thuật buổi tiệc trà tiễn ông trên Ngày Nay số 153 (18-3-39).
Ngày Nay số 159 (29-4-39) có bài của Nhị Linh (Khái Hưng) viết về buổi tiễn đưa ông Caput, Tổng thư ký đảng Xã Hội (SFIO) về nước: Thêm một người có đầu óc tiến bộ rời Việt Nam.
Rồi như cái họa liên tiếp đến: Tin Phan Thanh từ trần đột ngột đúng ngày lễ Lao động, mùng 1 tháng 5, ở tuổi 31, làm xao động lòng người.
Phan Thanh (anh ruột Phan Bôi, anh em họ Phan Khôi) là khuôn mặt tiêu biểu nhất của trí thức cấp tiến lúc bấy giờ, ông có tài hùng biện bằng tiếng Pháp, dám bênh vực quyền lợi người dân, dưới thời Pháp thuộc. Ông là nhà báo, là giáo sư trường Thăng Long, dân biểu Quảng Nam, hội viên hội đồng thành phố Hà Nội, hội viên Đại Hội Nghị Kinh Tế và Lý Tài Đông Dương, và đảng viên Đảng Xã Hội Pháp.
Bài Tiểu sử ông Phan Thanh trên Ngày Nay số 160 (6-5-39), ghi rõ:
"Ông Thanh tham gia một cách mật thiết vào phong trào chính trị, từ khi chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền (…) Ông Thanh là một đứa con của Phong trào Mặt trận Bình dân Pháp, lại là một tay lãnh đạo cho phong trào Mặt trận dân chủ ở nước ta.
Ông bắt đầu giúp cho báo Le Travail, một cơ quan chiến đấu đầu tiên của dân chúng Trung, Bắc từ khi Phong trào Bình dân đại thắng ở Pháp.
Năm 1937, ông ra ứng cử dân biểu ở Quảng Nam, được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt (…)
Được bàu vào Đại hội đồng kinh tế lý tài, ông đã một mình cương quyết chống với tất cả bọn phản động thuộc điạ và tay sai của chúng trong giai cấp tư sản bản xứ và bênh vực lợi quyền cho đại đa số dân chúng.
Ngay từ khi đảng Xã hội mới thành lập ở Bắc kỳ, ông đã gia nhập và được ít lâu, ông trở nên một đảng viên trọng yếu của đảng, được cử làm phó thư ký chính trị của Liên đoàn Xã hội phía Bắc Đông Dương"
Vẫn theo bài tiểu sử này: "Chính ông [Phan Thanh] là sáng lập viên và là tổng thư ký của Hội truyền bá quốc ngữ". "Ông là người đã theo đúng chủ trương của Chủ nghĩa xã hội, ông đã bênh vực quyền lợi của người dân trong Hội đồng Thành phố Hà Nội".
Ngoài ra, Phan Thanh còn bênh vực cho việc không đóng cửa trường Mỹ thuật Đông Dương, tại Đại Hội Nghị Kinh Tế và Lý Tài, sau khi giáo sư Victor Tardieu qua đời.
Ngày Nay kết luận bài viết bằng câu: "Cái chết của ông Phan Thanh chẳng những là cái tang đau đớn cho gia quyến ông, cho đảng ông, mà còn cho toàn thể dân chúng nữa".
Với cái chết của Phan Thanh, số người dám bênh vực cho quyền lợi dân nghèo vơi đi, Phạm Văn Bính, trong bài tường thuật đám tang Phan Thanh, trên cùng số báo Ngày Nay 160, cho biết: "Người đưa tiễn ông hàng vạn, đám ma dài tới hơn một cây số." Và Phạm Văn Bính đã khóc một đồng chí một chiến sĩ xã hội. Vậy Phạm Văn Bính cũng là đảng viên Đảng Xã hội.
Sự vu cáo hội Ánh Sáng
Mặc dù sổ sách luôn luôn đăng trên Ngày Nay, nhưng đoàn Ánh Sáng vẫn nhận được những lời vu cáo.
Phan Trần Chúc, mới đầu ủng hộ phong trào Ánh Sáng, sau quay ra chống kịch liệt, trên báo Tân Việt Nam, ông cho rằng hội Ánh Sáng nên dùng tiền quyên được giúp nạn lụt thì hơn, bởi vì chương trình Ánh Sáng không thể thực hiện được, chỉ là chương trình của một người điên, mà lại còn ngửa tay xin tiền chính phủ Tây nữa. Vì bài này mà Hoàng Đạo tức giận, trả lời bằng những chữ "ông Trúc họ Phan Trần" (ý nói tráo trở như Phan Trần), trên Ngày Nay số 77 (19-9-37).
Sau đó, báo Tân Việt Nam lại "vu khống NTL ăn cắp cravate ở một hiệu buôn" (NTL ám chỉ Nguyễn Tường Lân tức Thạch Lam) (Ngày Nay số 78).
Hoàng Đạo "nổi trận lôi đình", trong mục Người và việc (Ngày Nay số 80, 10-10-37), in đậm câu này:
"Đối với Phan Trần Chúc mà tôi coi là một kẻ hết sức hèn mạt, từ đây tôi không thèm nói tới. Hễ gặp hắn bất cứ ở đâu, tôi sẽ cho hắn một cái tát: hắn chỉ đáng có thế thôi". Câu này gây xì căng đan. Nội vụ đưa đến việc triệu tập Hội nghị các nhà báo hòa giải việc bút chiến giữa Tân Việt Nam (Phan Trần Chúc) và Ngày Nay (Thạch Lam và Thế Lữ). Có biên bản làm ngày 20-10-37 của Trần Huy Liệu và Nguyễn Trọng Trạc (Ngày Nay số 83, 31-10-37).
Sau vụ Phan Trần Chúc còn vài vụ lẻ tẻ nữa, hội Ánh Sáng lờ đi, không trả lời.
Nhưng đến tháng 6 năm 1939, báo Avenir du Tonkin, số ra ngày 5-6-39, lại trích và dịch ra tiếng Pháp những lời công kích đoàn Ánh Sáng của báo Nước Nam và báo Vịt Đực, nên Hội Ánh Sáng phải viết bài Đoàn Ánh Sáng cùng những lời vu cáo, in trên Ngày Nay số 167 (24-6-39) để trả lời.
Chúng tôi xin tóm tắt hai điểm chính:
1- Nước Nam: Tố cáo Thế Lữ nhận số tiền 350 đồng để làm việc thiện.
Trả lời: Thế Lữ có lĩnh số tiền đó thật, nhưng để chi phí cho hai buổi diễn kịch (Đoạn Tuyệt) với các diễn viên nhà nghề: 12 vai kép, 7 vai đào, chưa kể những vai phụ, vai câm, vừa nam, vừa nữ. Sau khi trả tiền Thế Lữ, đoàn vẫn còn thu được 1.306 đ745.
2- Vịt Đực: Nhiều hội viên Ánh Sáng nhân dịp đi Hải Phòng đã lợi dụng đi Đồ Sơn nghỉ mát, tốn thêm 100 đồng.
Trả lời: Sao không nói 1000 đồng luôn thể. Sự thực thì hôm 3-3-38, bốn hội viên có đi Kiến An (phải qua Hải Phòng) vì được ông Công sứ tỉnh ấy mời về việc hai nhà mẫu Ánh Sáng xây ở một khu vừa bị hỏa hoạn (hiện đã xây xong và khánh thành hồi tháng 4 vừa qua). Rồi từ Kiến An, ban cổ động đi Thái Bình để lập một chi đoàn ở Thái Bình, và về Nam Định, tiếp xúc với chi đoàn Nam Định vừa thành lập. Anh em có thuê một chiếc xe hơi trong hai ngày và một đêm, tất cả mọi chi phí, tiền cư trú, tiền xăng, tiền ăn, tiền qua phà, tổng cộng hết 37đ02, như các tờ giấy chứng thực.
Việc này có lẽ là giọt nước làm tràn ly. Cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự chán nản, tan rã, trong lòng những người làm việc cho Hội Ánh Sáng.
Thế Lữ không phải là Nhất Chi Mai?
Trong những bài công kích Hội Ánh Sáng, có bài của Vũ Trọng Phụng, mà nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân vừa gửi cho chúng tôi, trong đó xác định Nhất Chi Mai là Phạm Văn Bính, đó là bài "Việc trong… việc ngoài", in trên Đông Dương tạp chí, số 37 (27-1-38),
Bài này có hai điểm đáng chú ý:
- Vũ Trọng Phụng cho rằng Nhất Chi Mai là Phạm Văn Bính, với câu: "Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính".
- Chỉ trích Nhất Linh và hoạt động của Hội Ánh Sáng. Vũ Trọng Phụng viết:
"Theo tin một tờ báo hàng ngày, thì khi đến dự bữa tiệc của hội Ánh Sáng, quan toàn quyền Brévié đã hứa là sẽ trợ cấp cho hội ấy.
Thật là một tin mừng cho nhóm Ngày Nay.
Và do đó, cái câu "ra Ánh Sáng để lẩn vào bóng tối", mà thiên hạ gán cho ông Nguyễn Tường Tam không phải là lời vu cáo.
Chúng tôi xin mừng cho ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhất là ông đã biết từ chức giám đốc báo Ngày Nay, nhường cho nhà danh sĩ Khái Hưng, để có thể cung cúc tận tụy với hội Ánh Sáng.
Hoàng thiên bất phụ hỏa tâm nhân, quan toàn quyền Brévié đã hứa trước công chúng như thế, thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa.
Thảo nào mà đương lúc đắc thời, sách nào ra cũng chạy như tôm tươi, mà bỗng dưng ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lại thôi chức chủ nhiệm Ngày Nay, lại chẳng viết cuốn sách nào nữa. Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính hiện làm thư ký tạm thời của hội Ánh Sáng chắc chắn nay mai sẽ được chân thư ký vĩnh viễn, và như vậy, cũng bõ cái công đầu tắt mặt tối bấy nay. Còn ông Nguyễn Tường Tam, chắc ông sẽ được một chân nào to hơn thế nữa, lương cao hơn thế nữa. Xưa kia ông Nguyễn Tường Tam đã xin cụ Nguyễn Hữu Bài một chân tri huyện không xong. Bây giờ, ông khéo xoay xở lập hội Ánh Sáng…"
Để hiểu rõ hơn về những lời công kích trên đây, trước hết xin nói qua về nguồn cội:
Vũ Trọng Phụng và Tự Lực văn đoàn, ban đầu, không có hiềm khích gì, vì cuốn phóng sự đầu tiên của Vũ Trọng Phụng, Cạm bẫy người được An Nam xuất bản cục của Tự Lực văn đoàn in năm 1934.
Năm 1935, Ngày Nay số 2 (10-2-35) còn đăng phóng sự Tết của Tù của Vũ Trọng Phụng.
Không hiểu sao, năm 1936, Vũ Trọng Phụng viết Số đỏ (in trên Hà Nội báo từ tháng 10-36) lại "đánh" vào chương trình cải tiến xã hội của Tự Lực văn đoàn.
Số đỏ mô tả một Hà Nội lai căng dưới thời Pháp thuộc, đưa ra những nhân vật điển hình để kín đáo chế giễu các chủ trương: giải phóng phụ nữ, đưa mỹ thuật vào đời sống, vận động cho thể thao, chủ trương theo mới, hoàn toàn theo mới, theo chủ nghĩa bình dân, làm nhà Ánh Sáng, thiết kế y phục tân thời… Các hình thức cải tiến xã hội của Tự Lực văn đoàn đều được Vũ Trọng Phụng nhái lại, thổi phồng và hài hước hóa, thành các nhân vật, các mốt lai căng, nực cười, như sân quần bà Phó Đoan xây cho Xuân Tóc Đỏ, tiệm may Âu Hóa của ông bà Văn Minh với ông mỹ thuật Típ Phờ Nờ (T.Y.P.N, hay Tôi Yêu Phụ Nữ) vẽ những kiểu: áo Ỡm ờ, quần Hãy chờ một phút, áo lót Hạnh phúc, coóc-sê Ngừng tay, áo Nữ Quyền… đều nhằm chế giễu Hoàng Đạo, Cát Tường, nói riêng và Tự Lực văn đoàn nói chung, kể cả nhân vật Xuân Tóc Đỏ, ma cà bông, nhờ tham dự vào cuộc cải cách xã hội, mà trở nên vô địch thể thao, vĩ nhân cứu quốc…
Nhưng Tự Lực văn đoàn không có phản ứng gì về việc này.
Đến tháng 4, năm 1937, trên Ngày Nay số 54 (11-4-37), Khái Hưng có bài tường thuật về hai vở kịch diễn Không một tiếng vang của Vũ Trọng Phụng và Mua giây mà buộc vào mình. Ông khen vở thứ hai, nhưng chê vở thứ nhất: Sau khi liệt kê một số nhân vật của Vũ Trong Phụng như Thị Mịch, bà phó Đoan… Khái Hưng cho rằng với nhân vật nào: "ông Vũ Trọng Phụng cũng chỉ nhìn thấy những cái mà ông tha thiết muốn nhìn, thấy những cái khốn nạn đê hèn, bẩn thỉu của người đời. Rồi ông tức tối, rồi ông lên tiếng nguyền rủa nhiếc móc". Nhận định như thế kể cũng hơi nặng.
Nhưng trên Ngày Nay, ba số trước, tức là số 51 (14-3-37) có bài viết của Nhất Chi Mai, tựa đề "Dâm hay không dâm", phê bình Lục xì của Vũ Trọng Phụng, viết với ý "để vạch những cái bẩn thỉu nhơ nhớp, dơ dáy của văn ông ta" thì lời lẽ có chỗ thực nặng nề.
Để trả lời, Vũ Trọng Phụng viết bài Để đáp lời báo Ngày Nay (Tương Lai, số 9 (25-3-37) (in trong website Lại Nguyên Ân: http://lainguyenan.free.fr/). Trong bài này, Vũ Trọng Phụng còn chưa biết Hàn Đãi Đậu là Khái Hưng và cũng chưa biết Nhất Chi Mai là ai (vì không thấy ông nhắc đến Phạm Văn Bính).
Riêng bài "Việc trong… việc ngoài" in trên Đông Dương tạp chí số 37 (27-1-38), đã trích dẫn ở trên, nhằm đả phá phong trào Ánh Sáng, nên Vũ Trọng Phụng đưa tên Phạm Văn Bính vào, vì Phạm Văn Bình lúc đó là thư ký tạm thời của Hội Ánh Sáng.
Điểm đáng chú ý trong bài này, là câu: "Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính hiện làm thư ký tạm thời của hội Ánh Sáng", do Vũ Trọng Phụng viết.
Còn những điều ông chỉ trích sai Nhất Linh, chẳng cần cải chính, vì những gì chúng tôi trình bày trong chương này, đã nói rõ cả rồi.
Nhất Chi Mai có phải là Phạm Văn Bính không?
Bây giờ xin trở lại câu hỏi: Nhất Chi Mai có phải là Phạm Văn Bính không?
Trong chương Ngày Nay phóng sự, chúng tôi cho rằng Nhất Chi Mai là Thế Lữ, vì đã dựa trên sáu nhận xét sau đây:
1- Khi giao cho Nguyễn Tường Cẩm làm chủ nhiệm, Thạch Lam chủ bút Ngày Nay, Nhất Linh dư biết chỉ mình Thạch Lam có kinh nghiệm làm báo, cho nên ông cử Thế Lữ cùng làm, bởi vì Thạch Lam thân với Thế Lữ.
2- Những phóng sự ký tên Nhất Chi Mai trong thời kỳ này, đều viết về vùng Hải Phòng, Moncay là nơi gia đình Thế Lữ cư ngụ.
3- Giọng văn Nhất Chi Mai trong phóng sự Buôn người, mang dấu ấn một nhà văn quen thuộc có bản lĩnh, giọng của tác giả Vàng và MáuMột đêm trăng.
4- Trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), khi thấy Thế Lữ vắng mặt, độc giả Lê Văn Bổng làm bài thơ hỏi: Thế Lữ ở đâu mà không thấy có mặt trên Phong Hóa? Thế Lữ đã viết bài thơ dài Trả lời, trong có hai câu:
"Tôi muốn trốn cảnh phồn hoa đã chiếm
Mất lòng tôi, tìm cho thấy bạn Ly Tao"
5Bài viết Dâm hay không dâm của Nhất Chi Mai, phê bình Lục xì của Vũ Trọng Phụng, trong có câu: "Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối".
Cách lập ngôn này, tôi đã thấy trong bài Trên núi voi của Lêta (Thế Lữ), phê bình Lưu Trọng Lư: "Đọc xong câu truyện ấy, tôi thấy nẩy ra hai ý tưởng" (Phong Hóa số 91, 30-3-34); và xét về nội dung chỉ trích của hai bài, cũng thấy giống nhau, dùng chữ mạt sát, coi thường.
6- Việc bút chiến của Tự Lực văn đoàn với các tác giả khác, luôn luôn do ba cây bút trẻ: Hoàng Đạo, Thế Lữ và Thạch Lam đảm nhiệm, họ không nhờ "người ngoài".
Nay thấy Vũ Trọng Phụng viết: Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính, thì không biết thế nào?
Vũ Trọng Phụng là người cùng thời, tất ông biết rõ hơn chúng ta? Nhưng sự cùng thời cũng không có gì bảo đảm, ví dụ: Tú Mỡ không những cùng thời, và còn là thành viên của Tự Lực văn đoàn, mà ông lại "tưởng" rằng Hoàng Đạo là anh Nhất Linh, và "quyết" rằng: Nhất Linh theo Hitler, học cả cách ăn mặc và dáng điệu!
Phạm Văn Bính chỉ viết ít bài trên Ngày Nay trong thời kỳ cộng tác với hội Ánh Sáng, có khoảng ba truyện ngắn Của hồi môn (Ngày Nay số 40), Hai thế giới (Ngày Nay số 42), Năm xưa (Ngày Nay số 45), với lối viết nhẹ nhàng, chưa sâu sắc, nhưng cho biết ông ở Huế, hoặc quê ở Huế. Và hai bài vận động cho phong trào hướng đạo: Tiếng gọi thanh niên Việt Nam cần vào đoàn hướng đạo (Ngày Nay số 45), và Hướng đạo một phương pháp giáo dục hoàn toàn (Ngày Nay 52), cổ võ cho sự góp mặt của Hướng đạo sinh trong phong trào Ánh Sáng.
Văn Phạm Văn Bính thật thà, chân chỉ, như người mới tập viết văn:
"Dần dần, trời sáng hẳn. Mặt trời lộ lên, chiếu xuống một ánh nắng ấm áp, dễ chịu. Bến tầu mỗi lúc một đông hơn. Bọn phu "bát tê" lang sang đi lại, bàn tán rộn rịp".
"Chiều chiều, trên cầu Tràng Tiền, thiên hạ được trông thấy một đôi thiếu niên sánh vai nhau đi hóng mát. Ai nấy cũng rầm rộ khen: "Tốt đôi thực! Vợ chồng tiên!" (Của hồi môn)
Khác hẳn với giọng văn điêu luyện, vũ bão của Nhất Chi Mai:
"Những tiếng gió vi vút, gầm thét trong hang, những tiếng hò não nuột của lũ chim đêm, những tiếng sóng dạt dào, những cái bóng đen lù lù của đàn cá mập bơi theo, những cảnh tượng thâm u, sầu thảm của trời nước, một đêm không có trăng sao, không đủ làm nao lòng bọn "lái thán", bọn khách chuyên nghề chở người từ Haiphong ra Moncay." (Buôn người)
Vì vậy, chúng tôi nghĩ, nếu có một cớ nữa chứng minh Phạm Văn Bính là Nhất Chi Mai, từ một nguồn tin khác, ngoài Vũ Trọng Phụng, thì đáng tin cậy hơn.
Nhất Linh chấm dứt vai trò trong hội Ánh Sáng
Ngày 23-8-39, Toàn quyền Jules Brévié hết nhiệm kỳ, về nước. Ông là một vị toàn quyền tương đối cởi mở, tuy không cho tự do báo chí nhưng cũng không bóp nghẹt, ông đã để cho Ngày Nay được tương đối tự do, trong hai năm rưỡi ông cầm quyền ở Đông Dương.
Về vấn đề dựng nhà Ánh Sáng, có thể nói rằng: hoạt động nhà Ánh Sáng đã đình trệ sau khi Thống sứ Châtel về Pháp, Hội Ánh Sáng chỉ còn quyên tiền giúp việc từ thiện mà thôi.
Chính trị Pháp cũng bước sang giai đoạn mới để đối đầu với chiến tranh. Ở thuộc địa, kể từ năm 1939, phần "tự do" do chính phủ Mặt trận Bình dân ban hành, bị thu hẹp lại, báo chí bị kiểm duyệt gắt gao hơn, Ngày Nay bị cắt từng đoạn, từng trang, có khi cả bài và vòng vây bắt đầu khép chặt chung quanh những người hoạt động cách mạng, từ Nam ra Bắc.
Chương trình làm nhà Ánh Sáng ở thôn Voi Phục, không thực hiện được. Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ, các lãnh đạo cách mạng bị lùng bắt, Nhất Linh phải trốn tránh, công trình Ánh Sáng bị bỏ dở.
Nhìn lại sự điều hành tờ Ngày Nay trong thời kỳ Ánh Sáng, ta thấy những mốc đáng chú ý sau đây:
Nhất Linh không có bài viết trên Ngày Nay từ số 48 (28-2-37). Sáu tháng sau, ông xuất hiện lại và đọc diễn văn khai mạc Hội Ánh Sáng ngày 16-8-37 tại nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ đông đảo đủ mọi giới, theo báo Ngày Nay số 73 (22-8-37), có tới 4000 hội viên tới dự, 2000 vào được bên trong, 2000 phải ở ngoài hội trường.
Hơn một tháng sau, ông chính thức bỏ chức Giám đốc Ngày Nay kể từ số 78 (26-9-37) và trở thành Sáng lập chủ nhân, để Khái Hưng Trần Khánh Giư làm Giám đốc từ số 80 (10-10-37), Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, Quản lý. Tuy nhiên, Nhất Linh vẫn viết tiểu thuyết: Hai tác phẩm lớn của ông là Đôi bạn và Bướm trắng, được in trên Ngày Nay trong năm 1938 và 1940. Bướm trắng chắc được viết trong năm 1939, thời kỳ ông phải trốn tránh.
Hội Ánh Sáng liên quan đến hoạt động cách mạng của Nguyễn Tường Tam và Tự Lực văn đoàn như thế nào? Đó là một câu hỏi.
Tác giả giữ bản quyền - http://thuykhue.free.fr Ngay Nay - Nha AnhSang.doc trang 19/19.

Chú thích:
[1] Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[2] Từ số 51, 14-3-37 đến số 73, 22-8-37.
[3] Số 40 (27-12-36), lấy tên là Để đi tới việc thành lập hội bài trừ những nhà "hang tối" Ánh Sáng, ý kiến của độc giả. Từ số 41, rút gọn thành: Góp ý kiến về Ánh Sáng.
[4] Những bài Góp ý kiến về Ánh Sáng được in trên Ngày Nay: số 41 (3-1-37), số 42 (10-1-37), số 43 (17-1-37) số 44 (24-1-37), số 45 (31-1-37), số 47 (21-2-37), số 48 (28-2-37), số 49 (7-3-37), số 50 (14-3-37), số 51 (14-3-37), số 52 (28-3-37), số 53 (4-4-37), số 55 (18-4-37), số 57 (2-5-37), số 58 (9-5-37), số 59 (16-5-37), số 60 (23-5-37), số 61 (30-5-37), số 62 (6-6-37), 63 (13-6-37), số 64 (20-6-37), số 65 (27-6-37), số 67 (11-7-37), số 68 (18-7-37), số 69 (25-7-37), số 71 (8-8-37).
[5] Ngày Nay số 43, 17-1-37.
[6] Bài của Nhất Linh đăng trên Ngày Nay số 74 (29-8-37). Bài của Phạm Văn Bính in trên Ngày Nay số 75 (5-9-37) và số 76 (12-9-37). Bài của Hoàng Như Tiếp đăng trên Ngày Nay số 77 (19-9-37) và số 78 (26-9-37).
[7] Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[8] Ngày Nay số 90 (19-12-37).
[9] Ngày Nay số 94 (16-1-38).
[10] Ngày Nay số 98 (20-2-38).
[11] Ngày Nay số 100 (6-3-38).
[12] Ngày Nay số 106 (17-4-38).
[13] Ngày Nay số 109 (8-5-38).
[14] Ngày Nay số 111 (22-5-38).
[15] Ngày Nay số 114 (12-6-38) và số 116 (26-6-38).
[16] Theo tin trên Ngày Nay số 143 (31-12-38), 144 (7-1-39), 145 (14-1-39) và 146 (21-1-39).
Các phong trào tranh đấu hiện đại
Muốn hiểu rõ con đường tranh đấu của Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn, chúng ta cần phải nhìn lại:
- Bối cảnh Việt Nam trong tranh đấu bí mật và bạo động.
- Sự đàn áp của chính quyền thực dân.
- Cuộc cách mạng bất bạo động đầu tiên ở Pháp và Việt Nam.
trước khi Tự Lực văn đoàn ra đời.
Bởi vì, trước khi chính phủ Bình dân lên cầm quyền tại Pháp từ 1936 đến 1938, Đông Dương ở dưới sự cai trị tàn ác của hai Toàn quyền Pierre Pasquier (1928-1934) và René Robin (1934-1936). Trước đó Pasquier làm Khâm sứ ở Huế (1920-1927) và René Robin làm Thống sứ Bắc Kỳ (1925-1930). 
Đảng bí mật hay Hội kín
Dưới thời Pháp thuộc, những năm 1920-40, các phong trào tranh đấu, có thể xin ra báo, nếu không ở trong sổ đen, nhưng không có quyền lập đảng. Họ thường bắt đầu bằng một tổ chức văn hoá, thí dụ Việt Nam Quốc Dân Đảng:
Cuối năm 1925, ba thanh niên: Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân [Nhượng Tống] tổ chức Nam Đồng Thư Xã, chuyên trước tác, dịch thuật và xuất bản sách thuộc loại ái quốc như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách mạng thế giới, Chủ nghĩa Tam Dân… Sau có thêm Nguyễn Thái Học, sinh viên trường Cao đẳng Thương Mại, Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao Đẳng Công Chính và Hồ Văn Mịch, sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm, tham gia.
Năm 1925, Nguyễn Thái Học gửi cho Toàn quyền Varenne hai bức thư đề nghị cải cách nền công thương Việt Nam và thành lập một trường Cao đẳng Công nghệ ở Hà Nội, cùng với dự án giúp đỡ dân nghèo. Nhưng không được trả lời.
Tháng 6-1927, Nguyễn Thái Học gửi đơn lên Thống sứ Bắc kỳ xin phép xuất bản tờ nguyệt san tên là Nam Thanh để phổ biến và nâng cao trình độ trí đức và thể dục của đồng bào ông, nhưng không được nhà cầm quyền Pháp chấp nhận. Vì Nguyễn Thái Học ở trong tổ chức Nam Đồng Thư Xã, nên đã bị ghi tên vào số đen của sở Mật thám Bắc kỳ.
Nguyễn Thái Học
Vào khoảng cuối tháng 10 năm 1927, Nguyễn Thái Học triệu tập một phiên họp đưa ra ý định thành lập một đảng bí mật, dùng võ lực để lật đổ chế độ thực dân, lập một chính thể Cộng Hòa. Ngày 25-12-1927, với sự hiện diện của 36 đại biểu cho 14 tỉnh Bắc kỳ và Bắc Trung kỳ, Việt Nam Quốc Dân Đảng được chính thức thành lập dưới quyền lãnh đạo của Nguyễn Thái Học [1]. Và họ quyết định Tổng Khởi Nghĩa vào đêm 10 rạng ngày 11 tháng 2 năm 1930, thường được gọi là Khởi nghĩa Yên Bái, như ta đã biết.
Trong thời kỳ hai năm Mặt trận Bình dân cầm quyền tại Pháp (1936-1938), chính sách cai trị ở thuộc địa cởi mở hơn, báo chí được "tự do" hơn, nên các phong trào cách mạng ở Việt Nam cũng tương đối dễ thở hơn, nhưng họ vẫn chưa được quyền chính thức lập đảng, mà chỉ hoạt động trong khuôn khổ những "hội kín".
Phong Hóa và các báo thời đó như Hà Thành ngọ báo, Phụ Nữ Tân Văn… thỉnh thoảng đưa tin những vụ bắt người thuộc "hội kín". Dưới đây là một bản tin trong mục: "Những việc chính cần biết trong tuần lễ", trên Phong Hóa số 18 (20-10-32):
"Vụ bắt bớ ở Cẩm Giàng
"Có tin báo và sau một cuộc dò la của sở Mật thám Hà Nội, đêm hôm 5 Octobre, liền có 12 thám tử Tây - Ta đi hai chiếc ô tô về huyện Cẩm Giàng. Hồi 12 giờ, đáng lẽ hai xe đi thẳng tới huyện lỵ, nhưng Thám tử sợ lộ khó cho việc bắt bớ, nên lúc hai xe đến Kẻ Sặt cách Cẩm Giàng hai cây số, thì các Thám tử cho xe đỗ lại và đi bộ vào Cẩm Giàng. Lúc các Thám tử đến Cẩm Giàng thì đúng một giờ đêm. Lập tức 12 người bổ vây làng Bình Phiên, chiếu đèn "Pile" sáng rực, dở súng lục thị oai, bắt được tất cả 10 người trai trẻ và ba ông cụ già.
Các nhà Thám tử bắt những người đó rất dễ dàng, như bắt cá bỏ vào dọ [rọ], không ai chốn [trốn] được hoặc chống cự gì cả. Ba ông già thì giao cho ông Huyện lấy cung rồi giải về Hải Dương, còn 19 người kia đưa về sở Mật thám chiếu sổ còn sót một người tên là Cai Sơ thì các nhà chức trách yêu cầu ông Huyện bắt cho được. Ba giờ đêm hôm đó ông Huyện đã bắt được Cai-Sơ, đến sáng 6 Octobre ông Huyện cho lính giải ngay lên nộp sở Mật thám nốt.
Bắt được chi bộ 23 người này, thì nhờ đó mà khám phá ra còn được nhiều người nữa; hồi 12 giờ đêm [mấy chữ in không rõ] Mật thám lại phái các Thám tử về huyện Chí Linh cách tỉnh lỵ hai mươi tám cây số về mạn Đông Triều, bắt được sáu người nữa, nhưng xét ra có bốn người "đích" còn hai người vô can thì được tha, bốn người đó cũng bị đưa lên giam tại sở Mật thám. Lại 5 giờ chiều sáng hôm thứ bảy 8 Octobre sở Mật thám lại có cuộc bắt bớ ở huyện Kim Thành làng Lại Vụ. Lần này bắt được có hai người, hiện cũng đưa về sở Mật thám.
Thế là cả ba nơi Cẩm Giàng, Chí Linh, Lại Vụ bắt được gần 30 người rồi, sở Mật thám tra xét lấy cung đã giải về Hải Dương. Lúc giải hai mươi ba người ở Ga về có đem vào trình quan Chánh Sứ Romanetti nhận và hạ lệnh tống giam vào Đề lao. Còn bốn người ở bãi Chí Linh, hai người ở Lại Vụ thì tra xét chưa xong.
Trong chi bộ bị bắt có một người rất quan trọng mà bấy lâu sở Mật thám truy nã mãi chưa bắt được; ấy là Khóa Vác. Khóa Vác là người đã từng bị án về hội kín và bị giam ở Thái Bình, nhưng bày mưu lập kế hắn lại vượt ngục chốn "biệt".
Bản tin trên đây không những rõ ràng mà còn đi quá phạm vi thông tin, như để báo động cho những người trong hội kín biết tình hình trầm trọng ở Cẩm Giàng (nơi gia đình Nguyễn Tường cư ngụ) và cho thấy Phong Hóa có "tay trong" nên mới rõ từng chi tiết các việc vây bắt của Mật vụ. Đồng thời cho biết không khí bắt bớ những năm ba mươi, thế kỷ trước.
Những tay sai thực dân - Không khí bắt bớ những năm ba mươi
Vụ bắt bớ quy mô này nằm trong vùng Thái Bình, Hải Dương và Hải Phòng, là địa bàn hoạt động của hai tên tuổi nổi tiếng Vi Văn Định, tổng đốc Thái Bình và Cung Đình Vận, tri huyện Vĩnh Bảo. Cung Đình Vận được cử lên thay thế Hoàng Gia Mô (bị Việt Nam Quốc Dân Đảng ám sát hồi tổng khởi nghĩa 1930, xem chương 80 Quan Thánh, Phần II), đều là những người khét tiếng tàn ác.
Khái Hưng viết về nhân vật Cung Đình Vận, sau khi thay thế Hoàng Gia Mô:
"Mấy tuần lễ sau, vì không bắt được Trần Quang Diệu bọn thực dân Pháp sai viên huyện Vĩnh Bảo Cung Đình Vận về làng đào mả ông tú Cư, thu cốt bỏ vào cái tiểu sành, rồi trói đem về giam tại huyện lỵ[2]
Trần Quang Diệu, là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, người tổ chức bắt và xử tử Hoàng Gia Mô. Ông bị Hội Đồng Đề Hình Hải Dương, xử chém, cùng ba đồng chí: Vũ Văn Giáo, Trần Nhật Đồng và Nguyễn Văn Phúc, ngày 23-6-1931. Ông tú Cư là cha Trần Quang Diệu.
Báo Phong Hóa số 173 (7-2-36) có bài viết ngắn về Cung Đình Vận, nói rõ cách thăng tiến của viên quan này:
"Chắc ai cũng biết tiếng ông Cung Đình Vận. Ông là một ông bố chánh, vẫn có danh là ông "phủ bơi" (…) vì ông ấy đã bơi trong bể hoạn một cách nhanh chóng nữa: không mấy lúc mà ông ta đã bơi được từ chức tri huyện cho tới chức bố chánh vậy.
Gần đây, một đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, tên Phạm Thượng Trợ, là người đã cùng Nguyễn Thái Học và 30 bạn đồng chí đem ba chiếc thuyền định đến phá đồn Phả Lại, và bị Hội Đồng Đề Hình ở Hải Dương kết án vắng mặt phải lưu chung thân, lẻn về thăm nhà hôm ba mươi Tết, bị thám tử riêng của ông Cung Đình Vận dò biết. Thám tử bèn phi báo cho ông Vận, ông Vận tức tốc chuyển thần lực đem lính tráng về làng Lang Can, bắt được ông Trợ giữa lúc giao thừa".
Cung Đình Vận bị Việt Minh xử tử năm 1945.
Sau khi dội bom Cổ Am để trả thù việc giết Hoàng Gia Mô, Robin, lúc đó là Thống sứ Bắc kỳ, gửi điện tín cho công sứ cho các tỉnh:
"Làng Cổ Am, thuộc tỉnh Hải Dương, chứa bọn giặc giết ông huyện Vĩnh Bảo, đã bị phi đội Hà Nội dội bom. Các ông phải quảng bá rầm rộ việc này và nói thêm rằng bất cứ làng nào dám làm như thế sẽ bị trừng trị thẳng tay.[3]
Không khí thanh trừng xảy ra trên địa hạt toàn quốc, nhất là ở miền Nam, trên nguyên tắc là "đất Pháp" (vì là thuộc địa Pháp 100%), tức là phải được hưởng quyền "công dân" của Pháp!
Phong Hóa số 19 (27-10-32), đăng tin:
"Sở Mật thám bắt 70 người Hội Kín. Sài Gòn - Sở Mật thám đã khám phá hai chi bộ hội kín ở Cầu Kho và Chợ Quán (…) Chủ nhật vừa rồi vào khoảng 6 giờ sáng sở mật thám đến một căn nhà ở đường Grimaud thì lúc đang sắp nhóm, lính tới thình lình nên không một đảng viên nào trốn thoát: Thầy giáo Long cũng ở trong số những người bị bắt".
Phong Hóa số 26 (16-12-32) đăng tin nhóm Troskyste ở Sài Gòn bị bắt (M. Chánh, M. Phương, Lê Văn Thử, Nguyễn Văn Nghiệp…).
Phong Hóa số 27 (23-12-32) loan tin một người hội kín ở Tàu về bị bắt, vì "người này đã làm môi giới cho các đảng viên hội kín" (tức là sang Tàu liên lạc với các đảng viên Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch).
Nguyễn An Ninh bị bắt nhiều lần cũng vì tội "lập hội kín Nguyễn An Ninh", "âm mưu phá rối cuộc trị an".
Và đến khi Nhất Linh "làm cách mạng", tức là ra lập đảng Hưng Việt năm 1938, bà Nguyễn Thị Thế cũng chỉ biết anh mình vắng mặt vì đi lập hội kín.
Hội Đồng Đề Hình, một tòa án thời Trung Cổ
Hội đồng Đề Hình được Hoàng Đạo, trong một bài viết, gọi là "quái thai của chế độ dân chủ". Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã ghi rõ thành tích của Hội đồng này, trên báo Ngày Nay kỷ nguyên mới số 2 (12-5-45), dưới cái tựa rất dài sau đây:
"Chính sách khai hóa bằng súng đạn - Trong ba năm (từ cuối năm 1929 đến năm 1933) bọn cầm quyền Pháp đã giết bao nhiêu dân quê Việt Nam trong các cuộc biểu tình và đã tuyên bao nhiêu án tử hình và khổ sai đối với các nhà cách mệnh Việt Nam để đàn áp phong trào bài Pháp?
Công việc của Hội Đồng Đề Hình".
Về Hội Đồng Đề Hình, Vũ Ngọc Phan trong chú thích cho biết: Hội Đồng Đề Hình lập ra bởi sắc lệnh ngày 26-11-1896 của Pháp để xử những việc phản đối người Pháp hay làm hại đến chính sách thực dân của Pháp. Hội Đồng gồm có:
Một viên chủ tịch là một viên quan cai trị Pháp.
Hai viên bồi thẩm (một viên quan tòa Pháp và một viên võ quan Pháp).
Người bị kết án chỉ có quyền chống lên Hội Đồng Bảo Hộ (Conseil du Protectorat), nếu bị bác, án sẽ bị thi hành ngay.
Và dưới đây là bài viết của Vũ Ngọc Phan:
"Trong 3 năm: 1.100 người Việt Nam [4] bị kết án. Những án ấy chia ra như sau này:
112 án tử hình;
229 án khổ sai chung thân, đày chung thân và chung thân cấm cố;
250 án 20 năm khổ sai và cấm cố;
36 án 15 năm khổ sai và cấm cố;
25 án 10 năm khổ sai và cấm cố;
130 án từ 5 đến 8 năm khổ sai và cấm cố;
318 án từ 2 tháng đến 4 năm tù.
Nếu kể mỗi án khổ sai chung thân là 40 năm, thì trong có 3 năm trời, ngoài 112 án tử hình, Hội Đồng Đề Hình Pháp đã tuyên thêm được những án tổng cộng là 15.913 năm vừa khổ sai, vừa đày vừa cấm cố [do Vũ Ngọc Phan in đậm], để đàn áp phong trào ái quốc của người Việt Nam.
Trong ba năm ấy, người Pháp lại dùng bom và súng liên thanh để giải tán các cuộc biểu tình, tổng số dân quê Việt Nam bị người Pháp giết trong các cuộc hội họp ấy là 1.320 người, chưa kể số người chết ở các làng bị triệt hạ bằng phi cơ oanh tạc.
Vì không có chỗ để giam cầm (Theo lời khai của viên thiếu tá Pháp Lambert khai trước Tòa án Hà Nội ngày 12-6-1933, thì các ngục thấy đông tù phạm quá, Robin đã dặn miệng rằng: "Giết bới đi!") nên năm 1931, tàu Martinière của Pháp phải đưa 538 chính trị phạm ở miền Bắc Việt Nam sang Inini [Guyane]. Năm 1933, tàu Forbin của Pháp lại phải đưa 1.800 người Việt Nam [5] nữa bị án khổ sai chung thân sang Guyane.
(Phí tổn về hai chuyến hết 10 triệu Phật lăng, ngân sách Đông Dương phải chịu).
Tính đến năm 1933, ở Côn Lôn có 3.000 người Việt Nam bị giam cầm, trong số này hơn một phần ba là chính trị phạm, về mỗi người chỉ chi phí mỗi ngày là 0đ47 là cùng (theo nghị định năm 1933 của viên toàn quyền Pháp ở Đông Dương).
Ta cũng lại nên nhớ rằng về sự tận tâm với người Pháp trong công cuộc đàn áp thì có ông Tổng đốc Thái Bình và ông Tổng đốc Nghệ Tĩnh hồi đó là nổi tiếng hơn cả".
Hai ông Tổng đốc nổi tiếng mà Vũ Ngọc Phan nói đến trên đây là:
- Vi Văn Định, Tổng đốc Thái Bình (1929-1937) rồi Tổng đốc Hà Đông (1937-1941), có công truy nã các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và Cộng Sản.
Theo Hoàng Văn Đào: "Mỗi khi bắt được một đảng viên VNQDĐ, Vi Văn Định liền ra lệnh đốt nhà, rồi bắt người về tra tấn rất dã man. Tú tài Nguyễn Đức Triệu 84 tuổi, chi bộ trưởng chi bộ Phụ Dực bị Vi Văn Định dùng chầy giã giò tra khảo đến bỏ mạng[6].
Thủ bút của Nguyễn Hữu Đang ghi: "Cuối năm 1930, bị tổng đốc Vi Văn Định (tay sai của đế quốc) bắt, tra tấn và giam giữ hai tháng rưỡi ở nhà lao thị xã Thái Bình[7]. Lúc đó Nguyễn Hữu Đang mới 17 tuổi.
Hoàng Văn Đào cho biết thêm về Hội Đồng Đề Hình (tuy thành lập theo sắc lệnh ngày 26-11-1896, để xử các vụ án chính trị, nhưng không mấy khi hoạt động): Khi Pasquier làm Toàn quyền [năm 1928], ông thiết lập lại để xử Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hội Đồng Đề Hình có thể thiết lập ở bất cứ đâu, chỉ với một viên chức đầu tỉnh, như Công sứ và vài người phụ thuộc.
"Toàn quyền Pasquier ký nghị định thiết lập Hội Đồng Đề Hình (Commission Criminelle) để xét xử VNQDĐ. Thành phần Hội Đồng Đề Hình gồm có:
Chánh Hội Đồng: Brides, thanh tra hành chính, chính trị Bắc Việt [8]
Ủy viên: Nicolas, Biện lý.
Ủy viên: Delsalle, Đốc lý Hà Nội.
Ủy viên: Guet, Đại úy
Thông ngôn: Hoàng Hữu Phương.
Lục sự: Arnoux Patrick;
Hội Đồng Đề Hình làm việc ngay trên tầng lầu ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội, nơi phòng giam cụ Phan Sào Nam hồi trước đây [1925]. Số đảng viên VNQDĐ dần dần bị bắt giam lên tới con số 227 người. (…) Riêng số đảng viên thuộc tỉnh đảng bộ tỉnh Hưng Yên, Hội Đồng Đề Hình đặc ủy cho tuần phủ tỉnh ấy là Vi Văn Định được cứu xét. Họ Vi dùng chó bẹc-giê Đức cùng số lính dõng [9] người Thổ tra tấn một cách vô cùng khủng khiếp, nên số đảng viên tỉnh Hưng Yên đã bị bắt nhiều nhất, còn các tỉnh khác, các Trung Ủy đã cố sức chịu đòn, không chịu cung khai, Hội Đồng Đề Hình không tìm ra manh mối, nên giữ được an toàn[10]
Vi Văn Định làm tuần phủ Cao Bằng (1921-1922), tuần phủ Phúc Yên (1923-1927), tuần phủ Hưng Yên (1927-1929), có lẽ công việc ông làm ở Hưng Yên, đã khiến ông được thăng Tổng đốc Thái Bình (1929-1937). Ông đúng là người đắc lực giúp Toàn quyền Pasquier tiêu diệt Việt Nam Quốc Dân Đảng ở ngoài Bắc.
- Tôn Thất Đàn, làm Tổng đốc Nghệ An - Hà Tĩnh (1922-1927) rồi về kinh làm Thượng thư bộ Hình; năm 1930, ông được cử làm Tổng đốc Nghệ Tĩnh trở lại để "dẹp loạn Cộng sản". Vũ Ngọc Phan viết rằng: "về sự tận tâm với người Pháp trong công cuộc đàn áp thì có ông Tổng đốc Thái Bình và ông Tổng đốc Nghệ Tĩnh hồi đó là nổi tiếng hơn cả", nhưng ông Tôn Thất Đàn có viết tập hồi ký thanh minh việc này, xin xem tài liệu sau đây: https://www.diendan.org/, mà  giáo sư Hoàng Dũng vừa chuyển cho chúng tôi.
Người Việt chưa có quyền tự do lập đảng
Chữ Hội kín để chỉ các đảng phái bí mật hồi đó, vì người Việt chưa có quyền tự do lập đảng.
Trong mục Tuần Lễ Một, có bài Tự do lập đảng (Ngày Nay số 83, 31-10-37), Hoàng Đạo viết rất rõ về vấn đề này và ông mong từ nay, những vụ án lập hội kín, sẽ không còn xảy ra nữa. Dưới đây là nội dung toàn bài:
"Ông Giám đốc Nha Tư Pháp Đông Dương mới gửi cho các ông Chưởng lý một tờ thông tư rất quan trọng, ảnh hưởng sẽ rất lớn lao về phương diện chính trị.
Trong tờ thông tư ấy, ông Giám đốc có ra ra lệnh từ nay các ông biện lý, các ông chánh tòa và các ông công sứ sung chức chánh tòa không được dựa vào điều 91 luật hình thêm thắt riêng cho người Nam mà truy tố những người có chân trong đảng Cộng sản hoặc lập thành một tiểu tổ Cộng sản.
Vậy từ nay, những vụ án "lập hội kín", "âm mưu rối cuộc trị an" sẽ thuộc về quá khứ, một quá khứ nặng nề. Và nếu đảng Cộng sản đã được công nhiên coi như một đảng hợp với pháp luật, thì những đảng khác lý do cũng có thể công nhiên thành lập được. Nghĩa là từ nay, ta đã có quyền tự do lập đảng.
Nhưng… có đảng tức là có hội. Mà hội muốn thành lập cần phải chính phủ cho phép, theo đạo chỉ dụ năm 1933. Vậy nếu lập đảng, nghĩa là lập hội, mà không xin phép, sẽ là trái luật: nghĩa là từ nay ta vẫn chưa có quyền tự do lập đảng vậy.
Trước cái tình thế mập mờ nửa tối nửa sáng này, dân chúng thật đã khó tìm được lối đi. Vậy muốn lối đi được quang đãng, không có gì hơn là Chính phủ Bình dân tuyên hành một cách minh bạch sự tự do lập đảng ở Đông Dương và hủy bỏ đạo chỉ dụ phản động năm 1933"
Bài này nói rõ thực trạng pháp luật năm 1937:
Ông Giám đốc nha Tư pháp ra lệnh cho các ông tòa, "không được dựa vào điều 91 luật hình thêm thắt riêng cho người Nam mà truy tố những người có chân trong đảng Cộng sản hoặc lập thành một tiểu tổ Cộng sản". Tuy Hoàng Đạo không nói rõ điều 91 luật hình sự thêm thắt vào cho người Nam là gì, nhưng ta cũng có thể đoán rằng: người Việt không có quyền lập đảng, và vào đảng như đảng cộng sản thì bị truy tố trước pháp luật.
Hoàng Đạo cũng nói thẳng: Nếu Chính phủ Bình dân công khai tuyên bố cho tự do lập đảng và bãi bỏ chỉ dụ 1933, thì ta mới có quyền tự do lập đảng.
Nhưng cho đến khi toàn quyền Brévié về Pháp (1939), không thấy có chỉ dụ mới nào về việc này. Và cuối năm 1939, hầu hết những nhà cách mạng chủ trương hội kín, đều bị truy lùng và bị bắt.
Cũng phải nói thêm rằng Phan Thanh vào Đảng Xã hội Pháp. Nhiều người viết tiểu sử Phan Thanh sau này, ghi ông là đảng viên đảng Cộng sản, vì không hiểu rõ vấn đề: hồi đó đảng Cộng sản còn ở trong bí mật. Nếu Phan Thanh là đảng viên đảng Cộng sản, thì ông bị bắt ngay chứ không thể ra hội trường hùng biện bênh vực quyền lợi cho dân chúng như ông đã làm. Và ông cũng không thể là nghị viên của Viện Dân Biểu Bắc Kỳ (Bắc kỳ Nhân dân Đại biểu Viện - Chambre des Représentants du Peuple de Tonkin).
Dân chúng thuần thục dưới ách đô hộ
Dân chúng, sau nhiều thập kỷ bị nhiễm độc bởi những sách lịch sử do thực dân viết ra rồi người Việt chép lại, đều đổ trách nhiệm cho triều Nguyễn với chính sách cấm đạo mà ta "mất nước". Trong những bài học lịch sử mà kẻ viết bài này được học, không có một chương nào, dù chỉ một chương thôi, bàn về chủ trương đánh chiếm thuộc địa của người Âu, từ thế kỷ XVI, để liên lạc việc ấy với việc Việt Nam "mất nước" và chính sách của thực dân Pháp là chính sách mà người da trắng đi cướp thuộc địa áp đặt trên các xứ da màu, từ Phi đến Á.
Vì vậy, những bài viết của Hoàng Đạo là cần thiết: phải trình bày cho người dân biết nguồn cội của sự mất nước, biết bản chất của chế độ thực dân, biết lịch sử chiếm hữu thuộc địa của người Âu trên các châu khác, để đưa dân ta ra khỏi tình trạng dốt nát, khỏi thế thụ động và tự ti của con người bị đô hộ trong ba phần tư thế kỷ, chỉ biết lặp lại những gì mẫu quốc dạy bảo.
Sau các cuộc thanh trừng của Pasquier và Robin với sự trợ giúp của những tay sai đắc lực trong đám quan trường, các phong trào cách mạng hầu như tan rã hết.
Đến năm 1937, xã hội Việt Nam đã quen với chế độ thực dân, đã thuần rồi, nhiều người tưởng mẫu quốc là nước mẹ thật, được phục vụ mẫu quốc là vinh quang, là bổn phận.
Trường hợp Tổng đốc Vi Văn Định là một điển hình: Hoàng Đạo chỉ viết có một bài chế giễu ông ta mà báo Phong Hóa bị đình bản ba tháng. Với tội ác không thể chối cãi được, nhưng Vi Văn Định vẫn được "kính nể", thậm chí các thanh niên con nhà gia thế, nổi tiếng học giỏi, như Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, không ngần ngại theo nhau xin làm con rể, cháu rể ông, bởi vì người Việt đã "thuần thục" rồi chăng? Việc tiếp tay với thực dân tiêu diệt các phong trào cách mạng được một số người cho là phải, là "đích đáng" chăng? Khó có thể hiểu được.
Trong tình trạng ấy, ta không còn có thể viết Lưu cầu huyết lệ thư như Phan Bội Châu, để kêu gọi lòng yêu nước của toàn dân; cũng không thể viết Đầu Pháp chính phủ thư, như Phan Châu Trinh, dùng lời lẽ hạ mình với Pháp mà "ngoa ngoắt bôi nhọ quốc dân và quan lại" theo nhận định của Hoàng Xuân Hãn [11], để lên án gắt gao triều đình Huế.
Bởi buộc tội triều đình là sai, vì triều đình do viên Khâm sứ lãnh đạo, và ta lại biết chắc, việc đánh chiếm thuộc địa là chính sách toàn cầu của người da trắng trong nhiều thế kỷ và sự cai trị dã man của thực dân là do một số Toàn quyền tàn ác, liên kết với bọn quan lại dã man tay sai thực dân mà ra. Chủ trương Pháp Việt đề huề của Phan Châu Trinh thực ngây thơ, nếu không muốn nói là lầm lẫn vì ông tin vào sự "thành thật" của thực dân Pháp.
Ta cũng không thể kêu gọi dân đi biểu tình, cắt tóc, chống thuế, xin xâu nữa, những phương pháp ấy được phong trào Duy Tân dấy lên hồi 1908 ở miền Trung, đảng Cộng sản Đông Dương thực hiện năm 1930 ở Nghệ An, Hà Tĩnh, và đã phải chịu những đàn áp đẫm máu. Hoặc cầu cạnh sự khoan hồng của chính phủ Pháp như Phan Châu Trinh đã làm trong nhiều năm ở Pháp cũng vô hiệu.
Phan Văn Trường, nhà cách mạng cầm đầu nhóm Ngũ Long, đã hết sức giúp Phan Châu Trinh khi ông đến Pháp, sau này ghi lại trong hồi ký:
"Vị nhân sĩ này [Phan Châu Trinh] tượng trưng cho xã hội Annam xưa. Ông ra vào văn phòng của Bộ Thuộc Địa như một nhân vật được ưu ái tín nhiệm (personna gratta), ông trình bày những quan điểm chính trị, đặc biệt xin ân xá cho những người bạn cùng cảnh ngộ còn ở trong tù, nhưng không bao giờ ông nhận được trả lời ngoài sự im lặng khinh bỉ. Sự chăm sóc hời hợt của chính quyền thuộc địa lúc đầu, lạnh dần để cuối cùng chuyển sang ác cảm và thù nghịch[12].
Nguyễn An Ninh, khi trở lại Pháp năm 1925 để đón Phan Châu Trinh về nước, cũng đã bực bội than: ổng chả chịu học tiếng Pháp gì cả. Ở Pháp mười lăm năm mà không học tiếng Pháp. Hơn một tháng giời trên tàu thủy ổng chỉ ôm mấy cuốn sách chữ nho. Phan Châu Trinh còn phản đối cả việc nhóm trẻ viết bài chống Pháp ký tên Nguyễn Ái Quốc, cho là vô bổ. Ông không thể hiểu vấn đề dân chủ một cách tường tận qua những tân thư của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, bằng những nhà tân học, tiếp nhận dân chủ, nhân quyền, qua các triết gia thời kỳ Ánh Sáng của Pháp.
Ở thời điểm 1937, thế giới đã tân tiến lắm. Sự tranh đấu cũng phải mô-đéc: Phải tranh đấu công khai bằng ngòi bút, trên báo. Và như vậy phải có tài viết và có kiến thức sâu rộng về những việc đem ra luận bàn.
Hình thức tranh đấu này, đã bắt đầu từ năm 1912, tại Pháp với Phan Văn Trường, thủ lãnh nhóm Ngũ Long, cùng với Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh sau này.
Tranh đấu hiện đại: Phan Văn Trường và nhóm Ngũ Long
Sau khi các phong trào tranh đấu của nhóm cựu học Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục… thất bại, cuộc tranh đấu hiện đại bắt đầu với Phan Văn Trường (1878-1933), từ năm 1912, tại Pháp với Hội Đồng Bào Thân Ái do ông sáng lập.
Nhưng phong trào cách mạng bất bạo động này, cho đến nay, rất ít người Việt Nam biết đến. Chúng tôi đã viết về hoạt động của Phan Văn Trường và nhóm Ngũ Long trong cuốn Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc [13], ở đây chỉ xin tóm tắt những yếu tố chính:
Phan Văn Trường sinh năm 1878, tại làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), học trường Dòng, trường Thông Ngôn, rồi làm phán sự ở Tòa sứ. Năm 1908, đậu vào ngạch tham tá, được gửi sang Paris làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt tại trường Ngôn Ngữ Đông Phương và học Luật. Nhập quốc tịch Pháp năm 1911, cùng năm này, Phan Châu Trinh và con trai được chính quyền bảo hộ chấp nhận cho sang Pháp.
Năm 1912, Phan Văn Trường đỗ cử nhân luật, vào luật sư đoàn, tập sự tại tòa Thượng thẩm Paris, và bắt đầu đấu tranh chống Pháp.
Năm 1912, Phan Văn Trường lập Hội Đồng Bào Thân Ái tại Paris; cùng với Phan Châu Trinh, là hội người Việt Nam yêu nước đầu tiên tại hải ngoại. Phan Văn Trường luôn luôn đi kèm và dịch cho Phan Châu Trinh. Ông sửa và dịch bản Trung Kỳ dân biến thỉ mạt của Phan Châu Trinh sang tiếng Pháp, gửi cho Hội Nhân Quyền, nội dung trình bày với chính phủ Pháp nỗi khổ của người dân Trung kỳ, vì sưu cao thuế nặng, phải nổi lên chống lại và đã bị đàn áp; mong chính phủ Pháp vì từ tâm, nghĩ lại, áp dụng chính sách khoan hồng. Bài này Phan Văn Trường gửi đăng báo của Hội Nhân Quyền ngày 31-10-1912, và ông chuyển đến Bộ Thuộc địa ngày 25-9-1912. Đầu năm 1913, toàn quyền Albert Sarraut hứa thả dần tù nhân chính trị trong vụ Trung Kỳ dân biến.
Nhưng biện pháp trừng phạt Phan Văn Trường cũng bắt đầu: Trường Ngôn Ngữ Đông Phương được lệnh phải sa thải ông, và gia đình ông ở Hà Nội trực tiếp bị liên lụy: Thừa dịp Quang phục hội (của Phan Bội Châu) ném bom giết chết hai sĩ quan Pháp tại Hà Nội tháng 3-1913, mật thám bắt anh em Phan Văn Trường: Phan Tuấn Phong (anh cả) và Phan Trắc Cư, con trai 13 tuổi, cùng Phan Trọng Kiên (em). Tìm thấy thư từ liên lạc với ông Trường, hai ông Phong và Kiên bị kết án chung thân biệt xứ vì tội "giết quan tư Chapuis và Montgrand", bị đày sang Nouvelle Calédonie cùng với Cư, 13 tuổi.
Ngày 13-3-1914, Phan Văn Trường diễn thuyết tại trường Cao đẳng Xã hội (École des Hautes Études Sociales), đề tài: Thỉnh nguyện của người bản xứ (Les revendications indigènes), phê phán chính sách thực dân từ nguồn cội, thời La Mã đã đi chinh phục các nước khác; bài diễn thuyết này làm phe thực dân nổi giận, và cũng là bài mở đầu cho bản Thỉnh nguyện của dân tộc Annam (Les revendications du peuple annamite), ông sẽ thảo năm 1919, năm năm sau.
- Tháng 9-1914, Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh bị bắt vì tội "quấy rối trị an", bị tù đến tháng 7-1915. Hội Đồng Bào Thân Ái bị giải tán.
Ra tù, Phan Văn Trường được gửi xuống công binh xưởng Toulouse làm thông dịch viên cho lính thợ, ông cùng anh em Nguyễn Thế Truyền (lúc đó Truyền đang học kỹ sư hóa học), đều là sinh viên: Nguyễn Thế Song (em), Nguyễn Thế Phu (chú) Nguyễn Thế Tắc (em họ) tổ chức nhóm An Nam Yêu Nước với những sĩ quan và hạ sĩ quan người Việt, tại Toulouse.
Năm 1918, Nguyễn An Ninh sang Pháp và tháng 6-1919, Nguyễn Tất Thành, từ Anh sang Paris, cùng nhập tổ chức. Họ được gọi là nhóm Ngũ Long, gồm có: Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành, thường hội họp ở nhà Phan Văn Trường, số 6 villa des Gobelins, Paris 13.
- Tháng 6-1919, Phan Văn Trường viết bản Les revendications du peuple annamite (Thỉnh nguyện của dân tộc Annam) giao cho Nguyễn Tất Thành đem đến Hội nghị Hòa bình đang họp tại Versailles. Ngày 18-6-1919, bản thỉnh nguyện được đăng trên báo L’Humanité, dưới tựa đề: Les droits des peuples (Quyền của các dân tộc); nội dung yêu cầu tám điểm:
1- Đại xá tất cả tù binh chính trị bản xứ.
2- Cải tổ luật pháp Đông Dương: bảo đảm quyền lợi cho người bản xứ như người Âu.
3- Tự do báo chí và tự do tư tưởng.
4- Tư do lập hội và hội họp.
5- Tự do di dân và du lịch ra nước ngoài.
6- Tự do giáo dục và xây dựng trường kỹ thuật và thực nghiệp cho người bản xứ ở các tỉnh.
7- Thay thế chế độ pháp lý.
8- Có đại diện dân biểu bản xứ ở nghị viện Pháp.
Ký tên: Thay mặt nhóm An Nam Yêu Nước, Nguyễn Ái Quấc.
Đây là văn bản đầu tiên của người Việt đòi tự do dân chủ, gửi đến chính quyền Pháp và Đồng minh, được báo chí chống thực dân hỗ trợ, gây tiếng vang lớn.
Kể từ mùa thu năm 1919, nhóm An Nam Yêu Nước có cột thường trực trên các báo cánh tả ở Paris, ban đầu ký tên Nguyễn Ái Quấc, sau đổi thành Nguyễn Ái Quốc, viết những bài ngắn đả kích chế độ thực dân dưới dạng châm biếm, do Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh là ba người giỏi tiếng Pháp, thay nhau viết, đặc biệt giọng Nguyễn Thế Truyền rất hóm hỉnh. Độc giả rất thích. Đồng thời họ thay phiên nhau diễn thuyết tại các diễn đàn tự do khu La tinh, chủ đích đánh vào lòng tự hào của dân tộc Pháp, kêu gọi người Pháp bãi bỏ chính sách thực dân. Trong thời kỳ này Phan Văn Trường bị Albert Sarraut, lúc đó đã về Pháp, tìm mọi cách truy bách. Nhưng sự tranh đấu trên đất Pháp, không mang lại kết quả thực tiễn, phe thực dân vẫn thắng thế, lại không đánh động được dư luận trong nước. Họ bèn tìm cách khác:
- Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, lập báo La Cloche fêlée (Chuông rè) ở Sài Gòn.
- Phan Văn Trường về nước năm 1923, lập báo L’Annam ở Sài Gòn.
- Nguyễn Tất Thành đi Nga năm 1923, ông còn dùng tên Nguyễn Ái Quốc trong một thời gian trước khi lấy các bí danh khác.
- Phan Châu Trinh về nước năm 1925. Mất năm 1926, tại Sài Gòn.
- Nguyễn Thế Truyền ở lại, tiếp tục hoạt động tại Pháp.
Phan Văn Trường về nước làm báo La Cloche fêlée cùng Nguyễn An Ninh, sau mở rộng với nhóm đệ tứ Tạ Thu Thâu, ra báo L’Annam năm 1926. Ông bị kết án 2 năm tù vì báo L’Annam đăng bài kêu gọi hội Quốc Liên đòi quyền độc lập cho Việt Nam [14], và cổ động làm lễ truy điệu Lương Văn Can. Năm 1928, ông sang Paris chống án. Tòa phá án y án, Phan Văn Trường vào tù tháng 6-1929, luật sư Marius Moutet, bạn ông, vận động ân xá, được trả tự do, tháng 2-1930, ông trở về Sài Gòn, lúc đó Nguyễn An Ninh đã bị tù lần thứ hai và toàn quyền Pasquier đang đàn áp đẫm máu Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phan Văn Trường phải ngừng hoạt động, mở phòng cố vấn pháp luật. Năm 1933, ông ra Bắc thăm gia đình và mất tại Hà Nội vì bệnh ung thư gan.
Báo Phong Hóa số 44 (28-4-33), đăng tin buồn, dè dặt, mà đầy ý nghĩa:
"Cụ Phan Văn Trường tạ thế chiều hôm 22 Avril tại phố Gambetta số nhà 25. Năm nay cụ 58 tuổi. Theo như lời dặn cuối cùng của cụ, đám tang sáng hôm 23 cử hành một cách rất đơn giản và tuy tang gia không báo tin buồn, không gửi giấy cáo phó mà người đi đưa đám cũng đông lắm. Linh cữu cụ an táng tại làng Sét thuộc huyện Thanh Trì.
Phong Hóa đồng nhân xin có lời trân trọng kính viếng cụ và chia buồn cùng tang gia".
Phan Văn Trường, Ngày Nay số 9 trang 7
Hai năm sau, Ngày Nay số 9 (23-4-35) đăng lời Tưởng niệm Trạng sư Phan Văn Trường kèm theo bức ảnh trên đây, lời in đậm, cân nhắc từng chữ:
"Trạng sư Phan Văn Trường, sinh năm 1887, mất ngày 20 tháng tư năm 1934, đến nay vừa đúng một năm. Ông đỗ luật khoa tiến sĩ, rồi làm trạng sư, làm báo. Suốt đời, lúc nào ông cũng tận tụy với công việc chung. Cuộc đời xã hội và chính trị của ông rất hoạt động".
Tờ báo in nhầm: mất ngày 20 tháng tư năm 1934, thật ra là: ngày 22 tháng tư năm 1933.
Ba chữ công việc chung ở đây, có nghĩa là việc chống Pháp. Phan Văn Trường là nhà cách mạng đầu tiên chủ trương tranh đấu theo đường lối hiện đại, nhưng cho đến nay rất ít người biết đến ông. Nhưng phong cách và tư tưởng tranh đấu trong 20 năm của ông, đã ảnh hưởng đến nhóm Tự Lực văn đoàn.
Sử gia Pháp Pierre Brocheux, trong bài Phan Văn Trường, 1876-1933. Acteur d’une histoire partagée (Phan Văn Trường, 1876-1999. Người chủ động trong một lịch sử phân tranh), viết năm 2014 [15], về Phan Văn Trường "người thầy của nhà nho Phan Châu Trinh, khi ông Phan sống lưu đày ở Pháp từ 1911 đến 1926" (il fut le mentor du lettré Phan Châu Trinh lorsque celui-ci vécut exilé en France de 1911 à 1926), như sau:
"Cùng với bốn bạn đồng hương Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành (nổi tiếng với tên Hồ Chí Minh), Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường lập nhóm gọi là Ngũ Long, trong thời kỳ ông ở Pháp (1908-1925). Nhưng trái ngược với hai người đầu, ông không được hiện diện trên thánh miếu của dân tộc Việt Nam, không cả sự được biết đến và nổi danh như hai vị đồng hương kia. Một người giấu tên, cho biết, có một phố duy nhất - không phải đại lộ - ở thành phố Hồ Chí Minh - mang tên ông. Chẳng hay ông có một lăng mộ, một bia đá, hay một tấm bảng truy niệm, ở một thành phố lớn nào chăng? Trong nước Việt Nam hiện thời, danh tiếng ông và Nguyễn An Ninh, đã bị lu mờ trước Hồ Chí Minh, riêng Nguyễn Thế Truyền, đã chịu thiệt thòi vì chống cộng và chống nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên bị loại khỏi thiên anh hùng ca dân tộc.[16]
Nguyễn Thế Truyền
Nguyễn Thế Truyền (1898-1969), là một trường hợp đặc biệt: được mẫu quốc nuôi để chống lại mẫu quốc.
Ông sinh ngày 17-12-1898 tại làng Hành Thiện, tỉnh Nam Định, trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng, là cháu nội tuần phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn, người đã bị bom của Phạm Văn Tráng (Quang Phục Hội của Phan Bội Châu) hạ sát ngày 12-4-1913. Nguyễn Thế Truyền được Dupuy, phó công sứ Pháp ở Thái Bình đem về Pháp du học khoảng 1908, 1910, lúc 10- 12 tuổi, học trường Parangon. Trường này có mục đích đào tạo những trẻ em thuộc địa thông minh để trở thành "công dân tốt", trung thành với mẫu quốc. Là học sinh xuất sắc, Nguyễn Thế Truyền được học bổng Alliance Française từ 1913 đến 1922, ông đã học kỹ sư hóa học, tiến sĩ, đậu cử nhân triết năm 1922. Trong thời kỳ này, ông về nước hai lần, học chữ Hán.
Nguyễn Thế Truyền gặp Phan Văn Trường từ hồi còn học trường Parangon, hoạt động chung từ thời ở Toulouse. Diễn thuyết, viết báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Khi các bạn đồng hành về nước, Nguyễn Thế Truyền ở lại hoạt động tại Pháp. Năm 1922 ông làm phó tổng thư ký hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale) kiêm chủ bút tờ Le Paria, và vào đảng Cộng sản. Ông thu thập tài liệu ở thuộc địa châu Phi và của lính thợ Việt Nam, do Phan Văn Trường ghi chép từ khi ở Toulouse, soạn thành tập Le procès de la colonisation (Bản án chế độ thực dân), viết tựa và đề tên tác giả Nguyễn Ái Quốc, Librairie du Travail phát hành tháng 5 năm 1925. Lúc đó, Nguyễn Tất Thành đã sang Nga được hai năm. Sau đó ông bỏ đảng Cộng sản, rời tờ Le Paria, lập tờ Việt Nam Hồn và đảng Annam Độc Lập.
Năm 1927, Nguyễn Thế Truyền về nước hoạt động, bị theo dõi, bị bắt năm 1933, nhờ hội chống Thực dân can thiệp mới được tha. Dân làng Hành Thiện, quê ông, ghi nhớ hai thành tích:
Tát tổng đốc Vi Văn Định
- Kiện chính quyền bảo hộ [17].
Năm 1934, ông trở lại Pháp, hoạt động cho Liên minh chống chính sách thực dân (Fédération anticolonialiste) do Marius Moutet và Joseph Lagrosillière sáng lập năm 1935. Ông thành lập Tập đoàn Đông Dương (Rassemblement Indochinoise) năm 1936, vận động những tổ chức nhân quyền bênh vực Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Tạ Thu Thâu… đang bị tù.
Tháng 6 năm 1936, ông gửi Thỉnh nguyện thư của dân Đông Dương lên chính phủ Pháp yêu cầu triệt hồi toàn quyền Robin về nước.
Năm 1937, ông làm Đại biểu của ủy ban Báo Giới Bắc kỳ tại Pháp (Ngày Nay số 84). Năm 1938, ông trở về Việt Nam. Năm 1941, ông bị bắt cùng với em là Nguyễn Thế Song, bị đi đầy ở Madagascar, đến 1946, Marius Moutet mới can thiệp được cho hai anh em về nước. Ông mất năm 1969, tại Sài Gòn.
Nguyễn An Ninh
Nguyễn An Ninh (1900-1943), sinh ngày 5-9-1900 tại Chợ Lớn. Học trường Tây từ nhỏ, nổi tiếng đánh Tây. Năm 1918, sang Pháp du học, vào nhóm Ngũ Long, diễn thuyết và viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đậu cử nhân luật năm 1920. Về nước rồi sang lại Pháp, chuẩn bị luận án tiến sĩ. Là nhà cách mạng đầu tiên trong nhóm Ngũ Long quyết định về nước hoạt động, từ năm 1922, lập báo La Cloche fêlée (Chuông rè). Ông bị bắt và bị tù tất cả 5 lần từ 1926 đến 1939:
Lần thứ nhất: ngày 20-3-26, bị kết án 18 tháng tù vì tội phá rối trị an, viết báo Chuông Rè, xúi dân làm loạn.
Lần thứ hai: tháng 9-28, bị kết án 3 năm tù vì tội lập Hội kín Nguyễn An Ninh, cuối năm 1930 được tha.
Lần thứ ba: tháng 4-36, bị bắt về tội viết báo La Lutte (Tranh Đấu) quy tụ nhóm đệ tứ Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, Phan Văn Hùm, phá rối trị an; tháng 11-36, được tha.
Lần thứ tư: tháng 7-37, kết án 5 năm tù, 5 năm biệt xứ vì tội tổ chức biểu tình ở huyện Càn Long, xúi giục dân chúng nổi loạn. Tháng 1-39, được ân xá.
Lần thứ năm: ngày 5-10-39, đệ nhị thế chiến bùng nổ, ông bị bắt cùng với nhiều nhà cách mạng khác, tội phá rối trị án, xúi giục nông dân, thợ thuyền nổi loạn chống chính phủ… Bị kết án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ. Nguyễn An Ninh mất tại Côn Đảo ngày 14-8-1943.
Chiến thuật của Hoàng Đạo
Đi theo con đường đấu tranh bằng ngòi bút, nhưng rút kinh nghiệm của nhóm Ngũ Long, lại là luật gia như Phan Văn Trường, Hoàng Đạo chuẩn bị kỹ càng những điều sẽ viết trên Ngày Nay, để chính quyền thuộc địa không thể bắt bẻ được, cũng không cho vào tù được. Hoàng Đạo đến sau, nhưng có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhóm Ngũ Long, vì lý thuyết của ông viết bằng tiếng Việt, trên một tờ tạp chí có đông độc giả nhất Việt Nam, trong khi Nguyễn An Ninh và nhóm Đệ tứ trong Nam viết tiếng Pháp, nên chỉ truyền đạt được trong khối trí thức biết tiếng Pháp. Nên có thể nói lý thuyết của Hoàng Đạo, không chỉ ở trong vòng Tự Lực văn đoàn mà còn có ảnh hưởng chung cho cả một thế hệ thanh niên yêu nước.
Viết tiếng Việt, người Việt sẽ đọc những bài này, để hiểu rõ nguồn cội của chế độ thực dân, và phải hiểu thế nào là tự do, mới có thể tham gia tranh đấu cho độc lập và dân chủ. Sau nữa, ông còn gửi đến những người cai trị có đầu óc cởi mở lúc bấy giờ, như Thống sứ Chatel, Toàn quyền Brévié, mong họ sẽ đọc báo Ngày Nay qua thông ngôn, hy vọng họ hiểu và thay đổi chính sách cai trị ở thuộc địa.
Đó là những lý do chính khiến Hoàng Đạo viết loạt bài: Vấn đề thuộc địa, Chính trị và đảng pháiVấn đề cần lao  Công dân giáo dục.

Chú thích:
[1] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 25-27-30 và 147.
[2] Khái Hưng, Bọn thực dân Pháp vô nhân đạo đã diễn một tấn thảm kịch trên sân khấu Cổ Am, Ngày Nay kỷ nguyên mới số 2 (12-5-45).
[3] Nguyên văn điện tín của Robin: "Village Coam, province de Haiduong, où s’était refugiée bande rebelles ayant mis à mort sous Préfet de Vinhbao, a été bombardé hier par escadrille Hanoi. Vous prie donner large publicité et ajoute que tout village qui se mettra dans situation analogue subira impitoyablement le même sort." (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 117).
[4] Chú thích của Vũ Ngọc Phan: Madelaine Paz nói có 1.094 người bị kết án nhưng theo các báo xuất bản trong khoảng 1929-1933, thì thấy tổng số là 1.100 người.
[5] Số này gồm cả những người bị án từ trước năm 1929 (chú thích của Vũ Ngọc Phan).
[6] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 116.
[7] Thủ bút của Nguyễn Hữu Đang, tài liệu của Thái Kế Toại, in trong bài Nguyễn Hữu Đang, thủ lĩnh một cuộc cách mạng của Thái Kế Toại, Vanviet.info, ngày 12-5-2021.
[8] Brides được người dân Bắc Việt liệt vào hạng "Tứ Hung": nhất Đác (Darles), nhì Ke (Eckert), tam Ma (Delamare), tứ Bích (Brides) (chú thích của Hoàng Văn Đào; Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 55). Darles là người đã tra tấn dã man Lương Ngọc Quyến (con Lương Văn Can) xâu chân bằng xích sắt xuyên qua da thịt.
[9] Lính dõng là dân binh miền núi do Pháp lập ra.
[10] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, trang 55-56:
[11] Trong bài Tựa cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp của Thu Trang, Đông Nam Á, Paris, 1983, trang 8.
[12] Hồi ký Phan Văn Trường: Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la Vérité sur L’Indochine (Một chuyện âm mưu của người Việt ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), Nxb L’ Insomniaque, Paris, 2003, trang 72).
[13] Xem Nhân văn Giai phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, từ chương 15 đến chương 20, nxb Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ, trang 424-482, hay trên mạng điện tử: thuykhue.free.fr .
[14] Bài của báo Việt Nam Hồn và đảng Annam Độc Lập của Nguyễn Thế Truyền, bên Pháp gửi về.
[15] In trên tạp chí Moussons, https://journals.openedition.org/moussons/3013.
[16] Nguyên văn tiếng Pháp: "En compagnie de ses quatre compatriotes Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành (plus connu sous le nom de Hồ Chí Minh), Nguyễn An Ninh et Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trương formait le groupe dit des Cinq Dragons durant son séjour en France (1908-1925). Mais contrairement aux deux premiers d’entre eux, Phan Văn Trương ne figure pas au panthéon national du Viêt Nam, il n’a pas la même visibilité ni la même renommée que ses deux compatriotes. Un anonyme a fait remarquer qu’une seule rue - pas une grande artère - d’Hô Chi Minh-Ville porte son nom. Un mausolée, une stèle ou une plaque commémorative dans une grande ville du pays existent-ils? Dans le Viêt Nam d’aujourd’hui, sa renommée, comme celle de Nguyễn An Ninh, a été éclipsée par celle de Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Truyền, pour sa part, a beaucoup pâti de son opposition au communisme et à la République démocratique du Viêt Nam; il a été mis en marge de l’épopée nationale".
[17] Xem: Đặng Hữu Thụ, Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, tác giả xuất bản, Paris 1993.
Hoàng Đạo: Vấn đề thuộc địa
Tình hình chính trị tại Pháp những thập niên đầu thế kỷ XX, không mấy vững chắc, thay đổi thủ tướng luôn, phần lớn do đảng Cấp tiến (Radical) hay Xã hội Cấp tiến (Radical Socialiste) thay phiên nhau cầm quyền. Đảng Cấp tiến không chủ trương chiếm thuộc địa. Đảng Xã hội Cấp tiến đồng ý việc lấy thuộc địa và tìm cách chứng minh chính sách này "nhân đạo".
Chính sách cai trị của toàn quyền
Tuy nhiên, các toàn quyền được cử sang cai trị, dù thuộc đảng Cấp tiến, vẫn có thể áp dụng những chính sách cực kỳ thực dân, như trường hợp Paul Doumer, toàn quyền từ 1897 đến 1902, thuộc đảng Cấp tiến, là một thí dụ điển hình:
- Tự ý thay đổi hòa ước 1884, biến toàn thể nước Việt thành thuộc địa Pháp:
- Bỏ chức Kinh lược sứ của vua, thay thế bằng chức Thống sứ Pháp để cai trị toàn thể Bắc Kỳ.
- Đặt Công sứ Pháp đứng đầu mỗi tỉnh.
- Đặt Cơ Mật Viện dưới sự chủ tọa của viên Khâm sứ Pháp.
- Ép vua Thành Thái nhường cho Toàn quyền quyền khai thác những vùng đất hoang hay vô chủ, và cho người Pháp có quyền sở hữu đất trên toàn thể nước Nam: Người Pháp trở thành chủ các đồn điền mênh mông, đặc biệt đồn điền cao su, mang lại nguồn lợi bất tận. Chế độ mộ phu tàn bạo đã dẫn đến vụ ám sát Bazin, giám đốc sở mộ phu, của Việt Nam Quốc Dân Đảng, đầu năm 1929.
- Nhập nha phiến từ Ấn Độ vào, lập xưởng chế biến thuốc phiện ở Sài Gòn, giữ độc quyền ba thứ: thuốc phiện, nấu rượu, và bán muối.
- Xây cầu đường để mở mang và phát triển nền "kỹ nghệ đầu độc" dân thuộc địa.
Nhờ cuốn hồi ký L’Indo-Chine française (souvenirs) của Paul Doumer, người ta mới thấy rõ "công lao vĩ đại" của ông với nước Pháp. (Xem chương: Ngày Nay tranh đấu).
Việt Nam trở thành "Vương quốc vàng son" ở Á châu, các chính quyền kế tiếp cứ thế tiếp tục khai thác, không thể nhả "mỏ vàng" này ra được nữa.
Đến năm 1911, toàn quyền Albert Sarraut được cử sang Đông Dương. Sarraut là toàn quyền "lớn" thứ nhì sau Doumer. Ông thuộc đảng Xã hội Cấp tiến, làm toàn quyền hai lần (1911-1914) và (1917-1919), quyết thể hiện chính sách đồng hóa và đề huề: Muốn biến thuộc địa thành một tỉnh của Pháp. Phương pháp đồng hóa (assimilation) này được trình bày trong tác phẩm La mise en valeur des colonies françaises (Nêu cao giá trị thuộc địa Pháp), như một thứ kim chỉ nam cho những toàn quyền đi sau.
Dĩ nhiên không thành, vì Tàu đã đô hộ ta 1000 năm mà chưa làm được.
Phản ứng dây chuyền của thanh niên
Về mặt tranh đấu, cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 của Lương Ngọc Quyến (Quang Phục Hội - Phan Bội Châu) và Đội Cấn, là ngòi châm lại lòng yêu nước của thanh niên.
Lương Ngọc Quyến được Nguyễn An Ninh coi là thần tượng. Đội Cấn, được Nguyễn Thái Học noi gương. Năm 1924, khi Phạm Hồng Thái giết hụt toàn quyền Merlin tại Quảng Châu, ảnh hưởng trái bom Sa Điện [1] bùng nổ: Nguyễn Thái Học vùng dậy.
Sau vụ Merlin, để xoa dịu, chính phủ Pháp phái Alexandre Varenne (1925-1927) thuộc đảng Xã hội, sang Đông Dương. Ông chủ trương ôn hòa: ân xá Phan Bội Châu, áp dụng chính sách cởi mở, ký sắc lệnh bảo vệ công nhân thợ thuyền, nhưng gặp sự cản trở mãnh liệt của giới thực dân, đặc biệt Outrey (Thống đốc Nam Kỳ, dân biểu), vu cho ông tội buôn lậu thuốc phiện.
Outrey còn là kẻ thù "không đội trời chung" của Nguyễn An Ninh:
Ngày 18-9-1919, vấn đề Nguyễn Ái Quốc được đem ra bàn cãi ở Nghị viện Pháp. Outrey chất vấn Longuet, chủ nhiệm báo Le Populaire, tại sao cho in những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, "một kẻ thù của nước Pháp, một tên phiến loạn đã bị truy tố ở Nam Kỳ".
Nguyễn An Ninh lúc đó đang nghỉ hè ở Biarritz, phản pháo mãnh liệt với bài Thư gửi ông Outrey (Lettre à Monsieur Outrey) ký Nguyễn Ái Quốc, đăng trên Le Populaire ngày 14-10-1919, trong có câu:
"Ông đã nói đi nói lại [ở Hạ Viện] rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương, vì âm mưu chống Pháp, vậy hãy nói cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì?"
Dĩ nhiên Outrey không trả lời được, vì Nguyễn An Ninh hồi đó có đánh Tây thật, nhưng không bị án gì cả, vì còn vị thành niên.
Năm 1927, Varenne bỏ cuộc, về Pháp. Outrey bấy giờ mới xin lỗi Varenne là y đã "buộc tội lầm". Như vậy, mục đích của giới thực dân là làm sao đánh gục được những toàn quyền có ý muốn cải thiện đời sống dân bản xứ, đụng chạm đến quyền lợi của họ ở thuộc địa.
Giới tư bản thực dân thắng thế: năm 1928, chính quyền Pháp cử Pierre Pasquier lên thay, dẫn đến sự đàn áp đẫm máu Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, năm 1930.
Khi Varenne mới sang Việt Nam, Nguyễn Thái Học, theo chủ nghĩa Xã hội, đã tin tưởng vào Varenne, thuộc đảng Xã hội (Hoàng Đạo sau này cũng tin Brévié như thế). Nguyễn Thái Học viết thư và xin gặp Varenne, được ông tiếp đãi "nồng hậu", nhưng cuối cùng thấy những yêu cầu của mình không được xét đến, Varenne lại bỏ về Pháp, nên ngày 25-12-1927, Nguyễn Thái Học và các đồng chí lập Việt Nam Quốc Dân Đảng để "lật đổ chính quyền thực dân bằng võ lực".
Mười năm sau, Nhất Linh đi theo con đường Nguyễn Thái Học: Chính phủ Bình dân chấm dứt, việc tranh đấu giải phóng dân tộc bằng ngòi bút không đưa đến kết quả: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bỏ bút để lên đường.
Con đường Hoàng Đạo
Với Hoàng Đạo, sự tranh đấu đòi độc lập và dân chủ trong thời kỳ 1937-1939, tưởng như sắp có triển vọng, không ngờ sẽ bị tan rã với sự cáo chung của chính phủ Mặt trận Bình dân.
Trong giai đoạn hai năm này, Hoàng Đạo quyết định công phá trên bốn mặt: viết lại lịch sử chế độ thuộc địa, tìm hiểu các đường lối chính trị và đảng phái, đả phá chế độ cần lao dã man của thực dân và tìm cách giáo dục công dân về vấn đề dân chủ.
Tại sao phải viết về bốn đề tài này? Bởi vì đó là sợi chỉ đỏ dẫn đường vào cuộc cách mạng dân chủ. Trước hết, phải giải thích:
Chế độ thực dân là gì? Tại sao phải đánh đổ nó.
- Tranh đấu, nhưng dưới lập trường chính trị, đảng phái nào? Tại sao?
- Bênh vực quyền lợi cho ai? - Cho giới cần lao. Vậy phải tìm hiểu vấn đề cần lao.
- Và sau cùng, để xây dựng một thể chế dân chủ thì phải giáo dục công dân cho họ hiểu thế nào là dân chủ.
Loạt bài Vấn đề thuộc địa [2] viết về lịch sử đánh chiếm thuộc địa và các chính sách thi hành ở thuộc địa.
Chính trị và đảng phái [3] tìm hiểu các hình thức chính trị và các đảng phái khác nhau, để chọn một con đường riêng áp dụng cho dân tộc.
Vấn đề cần lao [4] điều tra hiện tượng người bóc lột người, phát xuất từ chế độ nô lệ, dẫn đến sự chiếm đất và chế độ bóc lột cần lao ở Đông Dương.
Công dân giáo dục [5] giảng giải cho quần chúng những bài học đầu tiên về tự do dân chủ và quyền làm người. Vấn đề Công dân giáo dục rất quan trọng cho nên đã được đưa vào chương trình học các lớp tiểu học từ thời chính phủ Trần Trọng Kim (1945).
Bốn chủ đề này, đăng trên Ngày Nay, từ tháng 8-1937 đến tháng 1-1940, có tính thuyết phục cao, xác định vai trò lý thuyết gia Tự Lực văn đoàn của Hoàng Đạo.
Tố cáo chủ đích chiếm thuộc địa: xâm lăng và kiếm lời
Trong loạt bài Vấn đề thuộc địa, bài đầu tiên Thuộc địa ký ước, đăng trên Ngày Nay số 74 (29-8-37), kể lại lai lịch chế độ thuộc địa, Hoàng Đạo viết:
"Ngày nay, nói đến thuộc địa, người ta thường phô trương ra những mục đích cao thượng, không vẩn một chút tư lợi nào, để biện hộ, để tán dương công cuộc khai thác của Mẫu quốc". Còn ngày xưa họ thật thà hơn, họ nghĩ và nói thẳng ra rằng: "lấy thuộc địa chỉ có một mục đích: làm lợi cho họ (…) Họ nghĩ rằng mất công đi chiếm lãnh thổ của kẻ khác, không phải vì có lòng tốt tự nhiên muốn dìu dắt một dân tộc thấp hèn lên một trình độ cao hơn (…) Ông Montesquieu, một nhà tư tưởng Pháp về thế kỷ thứ XVIII cũng đã công nhận rằng "lập ra thuộc địa cốt là để có nơi buôn bán có lợi hơn là buôn bán với những nước láng giềng".
Những ý tưởng ấy đã đào tạo nên một chính sách riêng về thuộc địa, người ta gọi là Thuộc địa ký ước (Pacte Coloniale)".
Hoàng Đạo đã từ tốn chỉ ra sự thực: mục đích đánh lấy thuộc địa chẳng cao thượng gì như quý vị rêu rao mà chỉ cốt để kiếm lời đó thôi, không phải tôi nói đâu, chính cụ tổ nhân quyền Montesquieu của quý vị nói đó.
Còn cái gọi là Thuộc địa Ký ước mà quý vị đặt ra, cũng chỉ là để cho thuộc địa trở thành một thị trường dành riêng cho mẫu quốc; nghĩa là dân thuộc địa chỉ có thể bán nguyên liệu của mình cho mẫu quốc và họ bắt buộc phải mua sản phẩm mẫu quốc tải sang, không có quyền lập xưởng công nghệ, bởi vì mẫu quốc sợ thuộc địa sẽ tiêu thụ sản phẩm của mình, không mua hàng mẫu quốc nữa.
Chính sách kinh tế áp đặt một chiều này dần dà xô đẩy dân thuộc địa đến chỗ nghèo khốn cùng cực.
Ngoài cái gốc kinh tế là kiếm lời mà ăn, còn những cái gốc "nhân văn" là xâm lăngcá lớn nuốt cá bé, và nhất là kỳ thị chủng tộc của người da trắng với người da màu:
"Những dân bản xứ, vì khác loài, khác giống, da đỏ, da đen, mũi tẹt, môi dày, đều bị coi là một hạng nửa người nửa thú, không đáng đứng ngang hàng với dân mẫu quốc về hết thảy mọi phương diện. Hoặc vì họ yếu thế, hoặc vì họ hiền lành quá, nên đất nước thì bị chiếm, mà nhân dân thì bị bắt làm nô lệ, làm tôi mọi cho dân mẫu quốc".
Hoàng Đạo đã nói trắng ra những điều mà ít ai dám nói, trừ Nguyễn An Ninh.
Với luận điệu: người Âu đến để khai hóa cho dân bản xứ u mê, dốt nát, Hoàng Đạo trả lời:
"Lẽ tự nhiên là không bao giờ đột nhiên, vì cảm kích lòng hòa hiệp nhân đạo hay khâm phục tài trí của dân mẫu quốc, mà dân bản xứ thân đến xin làm thuộc địa. Họ chịu làm thuộc địa chỉ là một sự bất đắc dĩ, sau một cuộc tàn sát khốc hại. Họ phải lùi, bó tay hàng trước sức mạnh. Địch quân thắng thế, bèn đem họ làm nô lệ cho mình, hoặc đem bán cho người khác làm nô lệ. Dân thuộc địa khi ấy chỉ được coi như một con vật, khỏe mạnh làm lụng được thì sống làm nô lệ cho chủ. Những dân tộc Phi châu phần đông đều bị đè bẹp dưới cái chế độ vô nhân đạo ấy."
Hoàng Đạo nói rằng: dân bản xứ chúng tôi, dù da đỏ, da đen, mũi tẹt, môi dày, có ngu đến mấy, cũng không ai, tự ý dâng nước mình cho nước mẹ để được học cái văn minh tân tiến. Nói thẳng ra là mẹ đến xâm lăng đấy ạ. Thắng thế rồi, mẹ bắt con người ta làm nô lệ như con vật. Mà chúng tôi có nói chuyện Đông Dương đâu, chúng tôi nói chuyện châu Phi đấy chứ.
Một điều mẫu quốc, hai điều mẫu quốc mà cái thứ nửa người nửa ngợm nửa đười ươi là dân bản xứ này, phóng ra những mũi tên trúng phóc thực tâm của nước mẹ, khiến mẹ không chạy kịp, trừ bịt tai độn thổ. Lối viết của Hoàng Đạo là như vậy.
Chế độ tự trị của Anh
Từ trước đến nay, người ta vẫn tưởng, nhờ Gandhi can trường tranh đấu bất bạo động, nên Ấn Độ mới được độc lập. Việt Nam không có thánh Gandhi, nên đã rơi vào chiến tranh.
Thực ra không phải vậy: Việt Nam đã thử bao nhiêu lần đấu tranh bất bạo động, từ Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân đến Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học, Tạ Thu Thâu, Hoàng Đạo… nhưng không thể được, vì chính sách của Pháp khác chính sách của Anh: Pháp chủ trương chế độ đồng hóa và Hoàng Đạo sẽ nói rõ thực chất của chế độ này như thế nào.
Hoàng Đạo trình bày vấn đề khác hẳn: Ấn Độ được độc lập, là nhờ chế độ tự trị của Anh, khác với chế độ đồng hóa của Pháp.
Anh và Pháp là vô địch thực dân trong thế kỷ XX (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha thuộc các thế kỷ trước), Anh áp dụng chế độ tự trị, Pháp chế độ đồng hóa [6].
Chế độ tự trị của Anh, chủ trương "giáo huấn" xứ thuộc địa cho có trình độ hơn, để họ có thể tự trị được. Chế độ này Anh đã áp dụng cho các nước da trắng (do tù nhân Anh, bị án chung thân, biệt xứ, sang "khai khẩn" các vùng đất mới mà thành) như Mỹ, Úc, Canada, đó là các nước "con đẻ" thực sự của Anh. Chính sách này được cho là "nhân đạo" hơn chính sách của Pháp. Ấn Độ, nhờ Gandhi tranh đấu, cũng dần dần được hưởng quy chế tự trị, rồi độc lập.
Chế độ đồng hóa của Pháp
Pháp vẫn tự hào là nước có truyền thống dân chủ lâu đời nhất, cách mạng Pháp 1789 mở ra một chân trời mới với những giá trị về nhân quyền làm thay đổi bộ mặt thế giới:
"Mọi người sinh ra đều tự do bình đẳng, quyền lợi ngang nhau, không phân biệt chủng tộc, màu da. Bổn phận của con người là phải bênh vực những thành phần yếu kém".
Vì thế, Pháp phải tìm cách giải thích cho "hợp lý": Tại sao, một lý tưởng nhân quyền cao siêu như vậy lại dẫn đến một chế độ thực dân tàn ác phi nhân thế kia?
Họ có hai lối giải thích:
1- Lý tưởng cao siêu ấy đã khiến La Fayette sang giúp Mỹ, từ địa vị thuộc địa tự trị của Anh, đứng lên chống lại mẫu quốc, thành lập nước Hoa Kỳ. Canada và Úc, cũng thành hình trong những điều kiện tương tự. Tóm lại, chỉ những nước "da trắng" mới được hưởng sự giúp đỡ, nhân danh quyền làm người, để được độc lập.
Nhưng sự "lập quốc" này cũng không trong sáng gì lắm, vì nó nằm trên nấm mồ diệt chủng: người Anh, khi sang Mỹ, Úc, Canada "khai khẩn đất hoang" đã tiêu diệt thổ dân để chiếm đất của họ (không phải đất hoang) mà lập nên nước mới.
2- Giải pháp thứ nhì, dành cho các thuộc địa da màu Á, Phi. Đối với các thuộc địa ở châu Phi và Đông Dương, Pháp thực hiện chính sách đồng hóa. Chính sách này nghe qua rất bùi tai:
"Theo chính sách ấy lý tưởng không phải là dạy dỗ thuộc địa trở nên một cường quốc như mẫu quốc mà là tìm hết cách giao kết mẫu quốc với thuộc địa, khiến trở nên một khối bền chặt, một đế quốc cùng chịu cung số phận. Người ta nhắc lại lời Nã Phá Luân: "Chỗ nào có lá cờ bay, chỗ ấy là nước Pháp vậy" (…)
Thuộc địa coi như mẫu quốc, mẫu quốc coi như thuộc địa, quyền lợi đồng, nghĩa vụ đồng".
Algérie và Nam Kỳ được hưởng chính sách quý hóa này, cho nên:
"Các ông nghị xứ Algérie hay ông nghị miền Nam Đông Dương ở nghị viện Pháp cũng có quyền bàn đến những việc có can hệ đến đảo Corse hay hạt Lille như các ông nghị những hạt ấy".
Mới nghe qua rất hay: "mẫu quốc coi như thuộc địa, quyền lợi đồng, nghĩa vụ đồng": thuộc địa sẽ sống trong chế độ dân chủ y hệt như mẫu quốc, còn mong gì hơn nữa? Nhưng đọc kỹ đoạn sau: cái quyền mà dân thuộc địa được hưởng như dân Pháp, rút lại là quyền gì?
- Là quyền được bàn đến những việc ở Lille, ở Corse. Hân hạnh lắm. Nghẹt vẫn có chỗ bất tiện: chúng tôi chỉ muốn được tự do lựa chọn những người cai trị chúng tôi thôi, chứ còn cái hân hạnh được ngồi trong Nghị viện mẫu quốc, để bàn điều này điều kia, xảy ra ở thành phố Lille hay đảo Corse, đối với chúng tôi, nó cao sang mà cũng diệu vợi lắm.
- Còn về quyền công dân ở Nam Kỳ, ta đã quá rõ, chẳng cần Hoàng Đạo nói ra: về việc cả gan dám viết báo và lập hội kín: dân Nam kỳ bị bắt nhiều nhất. Nguyễn An Ninh vô địch, bị bắt tới năm lần vì tội viết báo và đã ở tù đến chết.
Lấy thuộc địa có chính đáng không? Ngày Nay số 77
Chiếm thuộc địa là bất chính
Khi Hoàng Đạo đặt câu hỏi: Lấy thuộc địa có chính đáng không?[7] Tức là đã trả lời: Không!
Nhưng ông không trả lời trực tiếp mà trả lời bằng một câu hỏi khác: Tại sao những nước có thuộc địa thường tự mãn về công việc "khai hóa" của mình, và ngạc nhiên không hiểu sao những nước bị trị không biết ơn mà còn oán nữa?
- Bởi vì:
1- Mẫu quốc luôn luôn che đậy hai động cơ chính của việc đánh chiếm thuộc địa là kiếm lời và dùng sức mạnh để chiếm đất của nước yếu hơn. Nhưng thay vì nhìn nhận sự thực, họ lại biện minh sự xâm lăng ấy bằng một thứ lý thuyết "khoa học", kiểu Darwin:
Họ bảo rằng họ làm "theo luật tự nhiên của trời đất. Cái công lệ đào thải là khỏe thì sống, mà yếu thì chết. Côn trùng, cầm thú đều chịu theo cái công lệ ấy, người ta cũng vậy.
Song cái lý thuyết ấy không đứng vững được. Vì nó làm cho người ta chỉ phục có một điều: võ lực. Vì nó hạ người ta xuống cái địa vị thấp hèn của loài vật vô tri.
Người ta có hơn cầm thú, không phải là vì khỏe hơn, biết cách giết loài khác một cách nhanh chóng hơn, mà chỉ vì có lương tâm, biết trọng công lý. Sự cường quyền dẫu thắng, nhưng không bao giờ khuất phục được ai.[8]
Lời nhẹ nhàng nhưng ý gắt gao: Con người chỉ hơn cầm thú vì có lương tâm và trọng công lý, nay chỉ biết dùng võ lực, cậy khoẻ thắng yếu, thì có khác chi súc vật?
2- Một lập luận khác cho rằng: Đối với những dân tộc "bán khai", không nên cho độc lập làm gì, vì chúng ngu, không biết "sử dụng" sẽ gây tai nạn:
"Những dân tộc thuộc địa, theo họ, đối với dân tộc khác, là những dân tộc bán khai, kém hèn, dẫu có được hưởng giáo dục học vấn đến mức nào chăng nữa, cũng vẫn kém hèn, bán khai mà thôi. Đối với những dân tộc ấy, sự tự do, độc lập là một sự đáng sợ, dùng tới cũng như trẻ con chơi dao, thế nào cũng đến đứt tay, chảy máu. Đối với những dân tộc ấy, cần phải có một dân tộc khác có trí thức hơn, chỉ dẫn, bắt ne bắt nét, thì may họ còn sung sướng được". [9]
Thực đáng sợ trước một lập luận như thế. Vị cầm quyền nào nghĩ như vậy, thì dù có bao nhiêu học vấn, bằng cấp, đắp lên đầu, cũng không cách nào "khai hóa" y được.
3- Lập luận thứ ba cho rằng: Mẫu quốc đem lại đời sống hạnh phúc cho dân chúng. Xin hỏi: Thế nào là hạnh phúc? Cách sống của người Âu có phải là hạnh phúc chăng? Nếu chúng tôi yêu sự hỗn độn của chúng tôi hơn là trật tự của của các người, thì các người nghĩ sao?
"Hạnh phúc của con người ta, lấy cớ gì mà bảo rằng là sống một đời vội vã, hấp tấp như cái máy của người châu Âu, chứ không phải là sống một đời êm tĩnh, giản dị của người bán khai? Vả lại cứ sự thực mà xét, thì dân thuộc địa đã được những hạnh phúc gì đâu? Một phần bị lưỡi gươm, hòn đạn mà chết, một phần bị đàn áp, xô đuổi về miền rừng xanh núi đỏ, dân tộc da đỏ ở châu Mỹ hay dân tộc da đen ở châu Úc đến nay hầu như không còn nữa"[10]
4- Lập luận cuối cùng cho rằng: có những chủng tộc thuộc loại hạ đẳng.
"Việc đó nên dành riêng cho những đồ đệ của Hitler. Không có gì chính đáng khiến cho ta phải khâm phục riêng một chủng tốc như dân tộc Đức chẳng hạn và coi rẻ những dân tộc khác. Chủng tộc nào cũng có thể tự xưng là đệ nhất chủng tộc trên hoàn cầu và lấy cường quyền mà bắt chủng tốc khác công nhận như vậy. Nhưng tôi xin nhắc lại một lần nữa: cường quyền không bao giờ bắt được lòng người khâm phục[11]
Qua bài viết này, Hoàng Đạo, đã vén màn lên những sự thực mà người Việt ít (dám) đề cập, vì ít nghĩ đến những vấn đề thế giới, con người, hoặc vì không biết, hoặc biết mà không (dám) nói ra. Hoàng Đạo kết luận bằng một lời khuyên chính quyền thuộc địa, có tính cách hòa giải:
"Nay thuộc địa đã có rồi, thì cần phải thực lòng làm lợi cho thổ dân, có khi phải chịu thiệt thòi riêng nữa. Có như vậy mới xóa bỏ được cái vết võ lực buổi trước và mới có đủ lẽ để lưu lại ở đất nước người được".
Phản đối chính sách đồng hóa và đề huề của Albert Sarraut
Albert Sarraut, thuộc đảng Xã hội Cấp tiến là người lão luyện nhất trong nghề cai trị thuộc địa, ông làm toàn quyền Đông Dương hai lần, từ 1911 đến 1914, rồi từ 1917 đến 1919. Khi về Pháp, ông trở thành Bộ trưởng Thuộc địa, từ 1920 đến 1924.
Ông đưa ra chính sách đồng hóa và đề huề giữa thuộc địa và mẫu quốc, ông chủ trương "mở mang thuộc địa" với quy mô rộng lớn và toàn diện, trong tác phẩm La mise en valeur des colonies françaises, như một cuốn cẩm nang cho các toàn quyền sử dụng. Trong bài giới thiệu sách này, Camille Guy cho biết những thông tin:
Đế quốc thực dân Pháp, năm 1923, có diện tích 8.940.992 km2 (chưa kể Bắc Phi, rộng 1.300.318 km2, được coi là "đất Pháp") tức là lớn gấp 18,5 lần diện tích nước Pháp. Camille Guy ca tụng chính sách đồng hóa là cả tương lai kinh tế của Pháp và coi cuốn sách của Sarraut như thành tựu của 50 năm đánh chiếm thuộc địa.
Tiếc rằng những sự cải tổ hữu ích như về mặt vệ sinh, xã hội, mà ông Sarraut đề ra, đều không thể thực hiện được vì "thiếu ngân quỹ"!
Vậy không hiểu lợi nhuận khổng lồ cao như núi (đã được Nguyễn Gia Trí vẽ trong một bức phiếm họa) về: nha phiến, rượu, muối, và cao su mà mẫu quốc độc quyền trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX, dùng vào việc gì?
Tranh Cộng tác, đề huề của Ritg, 
trên Ngày Nay số 78
Hoàng Đạo giới thiệu và trình bày chính sách "cộng tác đề huề" của Albert Sarraut, không như cái nhìn của Camille Guy, mà dưới cái nhìn của một người bản xứ, trên Ngày Nay số 78 [12]. Theo ông, chính sách của vị cựu toàn quyền dựa trên hai điểm:
1- Bản điều lệ ngày 28-6-1919 của Hội Quốc Liên "có nói rằng sự khai hóa cho những dân tộc chưa đủ tài lực để tự quan sát công việc của mình, là một chức trách thiêng liêng của sự văn minh. Khai hóa một cách mau chóng để những dân tộc ấy trở nên trưởng thành, có thể thoát ly ra ngoài cái chế độ [thuộc địa] tạm thời kia". Vậy Pháp sẽ dựa trên "sứ mệnh thiêng liêng" này để giúp những dân tộc yếu hèn ấy tiến lên.
2- Các chính đảng Pháp cũng có những quan niệm khác nhau về vấn đề thuộc địa: đảng Cấp Tiến không ủng hộ việc chiếm thuộc địa. Đảng Xã hội (SFIO) chủ trương không lấy thuộc địa. Đảng Xã hội Cấp tiến thừa nhận công cuộc khai phá thuộc địa, tìm cách bênh vực, làm cho nó "có vẻ nhân đạo, chính đáng".
Vì thế, một chính sách mới xuất hiện, gọi là chính sách đề huề hay hợp tác được toàn quyền Albert Sarraut phát động để tạo ra một nhân loại mới, và ông đã:
"Tỏ bày một cách rất văn hoa trong nhiều cuộc diễn thuyết, trên nhiều sách vở và báo chí. Người dân bản xứ, dẫu đen như mực hay vàng như nghệ, cũng không vì cái màu da mà mất hẳn tính chất của con người. Không phải là đời đời, họ vẫn kém hèn về mọi phương diện, như con vượn hay con đười ươi, dẫu tưởng văn minh bao nhiêu nữa cũng vẫn còn kém hèn. Họ chỉ ở vào một trình độ văn minh thấp hơn mà thôi. Vậy bổn phận của mẫu quốc là dẫn lối cho họ bước mau trên đường tiến bộ; nếu ta ví dân tộc bán khai như miếng đất sét chưa thành hình, thì bổn phận của mẫu quốc là nặn nên hình một nhân loại mới, có giá trị hơn. Tạo nên nhân loại mới, ông Sarraut thường nói mục đích của công cuộc khai thác thuộc địa là thế".
Như vậy, theo ông Albert Sarraut, thuộc địa không còn là cuộc đánh chiếm "cường quyền của kẻ mạnh hơn", mà phát xuất từ một lý tưởng cao đẹp: "kẻ mạnh hơn có quyền giúp đỡ kẻ yếu hơn" để "tạo ra một nhân loại mới". Ông cựu Toàn quyền lại còn cho rằng:
"Dân bản xứ, ta phải tưởng tượng, trước kia sống trong sự sợ hãi, đè nén, bất công. Mẫu quốc đem đến cho họ công lý, làm cho họ được hưởng vệ sinh, học thức và hết thảy điều cốt yếu của sự văn minh. Mẫu quốc cho họ quyền hợp tác với mình."
Nhưng đấy chỉ là lập luận của ông cựu Toàn quyền. Còn dân bản xứ chúng tôi nghĩ khác:
1- Chúng tôi sẵn sàng hợp tác với các ông, nếu các ông làm thế nào cho chúng tôi phục các ông là văn minh hơn chúng tôi.
2- Chúng tôi sẵn lòng cộng sự với các ông, nhưng chỉ khi nào sự cộng tác ấy có ích cho chúng tôi, nghĩa là dưới sự chỉ huy của các ông, nước chúng tôi phát đạt hơn.
3- Chúng tôi sẵn lòng trả các thứ thuế mà các ông đặt ra, nhưng tiền thuế đó cần phải ở trong nước chúng tôi, làm lợi cho dân chúng tôi và nhất là tiền thuế đó không được tiêu ma vào sự vô dụng, vào việc xa xỉ.
Nếu được như vậy thì dân bản xứ chúng tôi không ngại gì mà không cộng tác, mà còn nhớ ơn mẫu quốc đã thành thực hết lòng mưu cầu cho dân thuộc địa trở thành văn minh hơn.
Tranh Các hạng thuộc địa 
của Ritg, Ngày Nay số 79
Đánh tráo giá trị
Đào sâu hơn nữa, Hoàng Đạo viết thêm bài Các hạng thuộc địa in trên Ngày Nay số 79 (3-10-37). Bài này mở đầu bằng câu:
"Những đất, những xứ thuộc quyền thống trị của một cường quốc châu Âu, người ta thường gọi chung là thuộc địa. Thực ra gọi như vậy là lầm".
Đứng đầu là những nước do Hội Quốc Liên ủy quyền cho một hội viên trông nom, được gọi là xứ ở dưới chế độ ủy quyền, xứ ủy quyền không phải là thuộc địa. Đó là trường hợp nhiều nước Ả Rập.
Xứ bảo hộ cũng không phải là thuộc địa: Bắc Kỳ và Trung Kỳ không phải là thuộc địa.
Việt Nam chỉ có Nam Kỳ là thuộc địa, tức là đất mẫu quốc chiếm được rồi trở thành "đất của mẫu quốc":
"Đất thuộc địa đã là đất của mẫu quốc thì những người sống ở thuộc địa cũng là người mẫu quốc. Thí dụ như dân Annam trong lục tỉnh đều là người Pháp cả. Nhưng là người Pháp, mà không phải là công dân nước Pháp. Dân bản xứ, người ta cho là ở một trình độ văn minh thấp kém, nên người ta bắt sống trong một quy luật riêng, chặt chẽ hơn và ít tự do hơn".
Bài này tố cáo sự gian lận của chính quyền thuộc địa: đánh tráo giá trị, do Paul Doumer chủ trương từ năm 1897: Tự ý thay đổi hòa ước Giáp Thân (1884) biến toàn thể nước Việt Nam thành thuộc địa của Pháp, đã nói đến ở trên.
Nước Việt chỉ có Nam Kỳ là thuộc địa và được áp dụng "chính sách đề huề". Tuy nhiên, Nam Kỳ cũng chỉ được đề huề ở chỗ: các cơ quan tư pháp và hành chính đều do mẫu quốc định đoạt, và ông Thống đốc (Gouverneur) Nam Kỳ do mẫu quốc gửi sang. Nhưng người Nam Kỳ không phải là công dân nước Pháp. Họ không được hưởng quyền công dân, chỉ được hưởng quyền nô lệ.
Không thể áp dụng chính sách đồng hóa ở Việt Nam
Mục đích sâu xa trong chính sách đồng hóa là làm cho người Việt mất tiếng nói, như họ đã áp dụng ở Bắc Phi. Lập luận ấy, theo Phạm Quỳnh, là như thế này: Người Annam trước đã học chữ Tàu, nay học chữ Tây là phải. Cái tiếng Annam mọi rợ ấy, phải diệt dần đi, nó chỉ là một thứ "thổ âm" (patois). Ngày nào mà trẻ con Annam nói toàn tiếng Pháp, thì ngày ấy, nước Nam mới tiến bộ được. Đó là chính sách đồng hóa và đề huề được ông Sarraut phát động.
Phạm Quỳnh tố cáo lập luận muốn tiêu diệt tiếng Việt, năm 1922 ở Pháp, và ông đã đọc bốn bài diễn văn tại các trường lớn và Viện Hàn Lâm, để thuyết phục chính phủ Pháp không bỏ tiếng Việt và ông đã thành công. (Xem chương: Sự hình thành nền văn học quốc ngữ).
Trong bài Thuộc địa Pháp - Chính sách trên Ngày Nay số 80 (10-10-37), Hoàng Đạo tố cáo chính sách đồng hóa muốn biến thuộc địa thành một tỉnh của Pháp. Ông cho rằng chính sách này chỉ có thể áp dụng ở một số nước "không có một nền quá khứ lộng lẫy, vì không có sẵn một nền văn minh riêng, nên văn minh Pháp, chữ Pháp, tiếng Pháp, phong tục Pháp đem lại cho họ, họ hấp thụ một cách dễ dàng như in chữ trên một tờ giấy trắng".
Còn đối với những dân tộc "có một lịch sử vẻ vang, có một nền văn minh khá, thì sự đồng hóa cho đến tuyệt đối không phải là một việc nên làm".
Và Hoàng Đạo nhấn mạnh:
"Tôi xin nhắc lại cho rõ: sự đồng hóa tuyệt đối không nên làm. Tôi muốn nói rằng đối với dân tộc Việt Nam chẳng hạn, hay dân tộc A-Rập; điều họ muốn nhất, không phải là thành ra một công dân Pháp để có quyền bầu một người thay mặt họ ở Nghị Viện Pháp, mà là có quyền coi sóc đến công việc của xứ, của nước họ. Một người Annam vào làng Tây, không thành ra một người Tây được, một người Annam theo học chữ Tây cho đến bậc cao đẳng, cũng không "hóa" ra một người Pháp; những người Annam ấy không bao giờ mong được bàn bạc đến việc bên mẫu quốc cả".
Người Việt, dưới ngàn năm đô hộ của người Tàu, không bao giờ trở thành người Tàu cả. Vậy người Pháp còn có thể kỳ vọng gì vào chính sách đồng hóa với một dân tộc như thế?
Người Việt muốn gì?
Nhưng người Pháp vẫn ngoan cố, nhất định áp dụng chính sách đồng hóa ở Đông Dương. Mà Đông Dương gồm nhiều xứ: có một thuộc địa là Nam Kỳ và hai xứ bảo hộ là Trung Kỳ và Cao Mên; lại có một xứ nửa bảo hộ nửa thuộc địa  Lào; một xứ bảo hộ trực trị là Bắc Kỳ và một nhượng địa trong vòng 99 năm là Quảng Châu Loan [13].
Hoàng Đạo chỉ ra:
"Nhưng quan trọng nhất và có đoàn kết nhất là người Nam [Việt Nam]. Vì thế, nói đến vấn đề Đông Dương là người ta ám chỉ vấn đề người Nam.
Đối với dân Annam, một dân tộc có một dĩ vãng có thể nói là oanh liệt, đã tới một trình độ văn minh khá cao, có tinh thần đoàn kết và rất có vẻ thống nhất về tình tình, ngôn ngữ từ Nam chí Bắc, chính sách đồng hóa là một sự lầm. (…)
Người Nam chỉ ao ước một điều: là được những sự tự do của nền dân chủ và được dần dà coi ngó, đảm đang lấy việc công trong nước họ. Ngày nào dân Annam có quyền, trong sự tự do, tự kén chọn lấy những người cầm quyền cai trị họ, ngày ấy, nguyện vọng của người Nam đã đạt được nhiều rồi vậy[14]
Sau khi xác định chính sách thuộc địa đồng hóa sẽ đưa đến thất bại, và nói rõ nguyện vọng của người Việt, Hoàng Đạo viết bài Thuộc địa Pháp - Chế độ chỉ dụ trên Ngày Nay số 81 (17-10-37), để chỉ ra tính chất độc tài cơ bản trong chính sách thuộc địa đồng hóa: Cai trị bằng chỉ dụ.
Phản bác việc cai trị bằng chỉ dụ
Cho tới năm 1937, nước Pháp vẫn chưa cho dân thuộc địa có một cái quyền gì về lập pháp.
Tức là họ vẫn áp dụng bản Hiến Pháp ngày 14-1-1852 của Nã Phá Luân Đệ Tam, mà theo điều 27 của bản Hiến pháp này, thì Thượng Nghị Viện (Sénat) sẽ đặt một đạo luật làm hiến pháp cho dân thuộc địa [15].
Trong khi chờ đợi đạo luật hiến pháp ấy, thì người ta cai trị bằng chỉ dụ. Nhưng bản hiến pháp đó không bao giờ ra đời, cho nên dân thuộc địa vẫn sống dưới chế độ chỉ dụ, trong hơn 80 năm (từ 1852 đến 1937), trước là chỉ dụ của vua, sau của tổng thống.
Nghĩa là một chế độ hoàn toàn độc đoán: ông Tổng thống hoàn toàn có quyền thay đổi luật pháp của dân thuộc địa, hay tự đặt ra luật mới rồi ban hành chỉ dụ để áp dụng theo ý muốn.
Chưa kể chỉ dụ có rồi, nhưng khi đến thuộc địa mà Thống đốc (Gouverneur), hay Toàn quyền (Gouverneur général) không muốn áp dụng, thì cái chỉ dụ ấy cũng chỉ vứt đi. Để bào chữa, người ta bảo rằng: Chỉ dụ làm đã chóng mà ký cũng chóng!
"Nhưng nhanh chóng không phải là một điều hay, nhất là đối với việc lập pháp. Lập pháp cũng như xây một tòa nhà. Một tòa nhà cần phải chắc chắn kiên cố, một đạo luật cần phải khúc triết, đầy đủ. Muốn thế, đạo luật phải dự thảo cho cẩn thận và đem ra bàn luận cho đích đáng, rồi mới tuyên hành[16]
Rồi Hoàng Đạo nhấn mạnh:
"Chế độ chỉ dụ trong một nước cộng hòa là điều phi lý. Lập pháp cho thuộc địa là vấn đề quan trọng". "Đem bỏ quyền ấy đi, là cho quyền hành pháp lấn sang quyền lập pháp, một điều đáng lẽ không thể có trong chế độ cộng hòa".
Sự bất bình đẳng, theo Hoàng Đạo, bắt nguồn từ cái gọi là Đẳng cấp tôn ti [17] có sẵn trong đầu óc mỗi phần tử thực dân:
"Người mẫu quốc vượt biển đi khai thác thuộc địa, sau khi đã chiếm được lãnh thổ của người, thì tự cho mình là phú cường hơn, nghĩa là văn minh hơn, thuộc về một giống người siêu đẳng, có thể làm gương cho người khác noi theo được. Giống người siêu đẳng ấy, bèn tự đặt cho mình cái nghĩa vụ lớn lao là dìu dắt các giống nòi khác noi theo mình và nhất là tự phó thác cho mình những quyền lợi rộng rãi. Trái lại, người bản xứ bị coi là thuộc về một giống người hèn kém, nên chỉ được giữ một nhúm quyền lợi, lớn nhỏ, tùy ở tay người [đô hộ]" [18]
Giọng nhẹ nhàng chỉ rõ nguyên nhân bất bình đẳng: bởi vì ở thuộc địa, chỉ có hai hạng người: người văn minh và người thấp hèn. Kẻ cai trị là người văn minh. Kẻ bị trị là hạng thấp hèn, dưới người, nên không đáng hưởng quyền lợi của con người.
Bức tranh Nguyễn Gia Trí dưới đây, thể hiện sâu sắc sự bất bình đẳng trong quan niệm đề huề. Tranh vẽ một người phu xe ốm o, rạp người kéo chiếc xe có một ông Tây bự và một ông quan Ta nhỏ thó. Đội xếp Tây gọi lại: Sao hai người lớn ngồi cùng một xe?
Ông Tây bự trả lời: "Hai người lớn đâu? Một người lớn, một người bé đấy chứ!".
Tranh của Ritg, Ngày Nay số 80
Cái đẳng cấp tôn ti mà Hoàng Đạo chỉ ra ấy, chính là cái óc thực dân ở mỗi con người.
Óc thực dân đã nằm trong xương thịt và tư tưởng của một số người, không thể gỡ ra được, kể cả những người hiểu biết, những danh nhân. Thí dụ Thủ tướng Jules Ferry, là nhà văn hóa, đã có công xây dựng nền giáo dục hiện đại của Pháp, nhưng ông còn được mệnh danh là "Bắc Kỳ nhân" (Tonkinois) tức là kẻ [có dã tâm chiếm hết] Bắc Kỳ.
Hoặc như Tướng De Gaulle, anh hùng dân tộc của Pháp, ngay sau khi nước Pháp được giải phóng khỏi gông cùm Hitler, đã hạ lệnh cho Tướng Leclerc đổ bộ chiếm lại Sài Gòn và Nam Bộ. Dẫn đến hai cuộc chiến tranh ở Đông Dương và Algérie từ năm 1945 đến 1962, làm lụn bại nền kinh tế Pháp, gây đau thương tang tóc cho hàng triệu con người.
Sự chinh phục thuộc địa của Pháp, đã bị Tống thống Pháp Emmanuel Macron, khi còn đang tranh cử, kết án là "tội ác chống nhân loại", nhưng ông đã bị nhân dân Pháp chống lại, kể cả những nhà báo cấp tiến, khiến ông phải lùi bước, nhưng không chịu cải chính.
Xem như thế, chế độ thực dân, cướp đất, giết người, đến thế kỷ XXI, ở Pháp, cũng vẫn còn là một điều "hiểu" được và nhất là không thể lên án được.
Cho nên những lời của Hoàng Đạo trong loạt bài phân tích này, đến nay, là 84 năm sau, vẫn còn đầy đủ ý nghĩa thời sự và sẽ còn giá trị, một khi con người chưa tẩy não được đầu óc thực dân.
Chú thích:
[1] Các sách ngày trước đều viết là Sa Điện. Giáo sư Hoàng Dũng giải thích: "Viết Sa Diện là đúng, chứ không phải là Sa Điện. Vì chữ Hán là 沙面 (xin xem: https://en.wikipedia.org/wiki/Shamian).
Sa là "cát"; còn Diện là "mặt". Chữ Hán đôi khi một chữ có nhiều cách đọc, như Hoàng  có thể đọc là Huỳnh. Nhưng trường hợp Diện thì khác, không ai đọc là Điện".
[2] Từ Ngày Nay số 74 (29-8-37) đến số 95 (23-1-38).
[3] Từ Ngày Nay số 98 (20-2-38) đến số 114 (12-6-38).
[4] Từ Ngày Nay số 125 (28-8-38) đến số 159 (20-4-39).
[5] Từ Ngày Nay số 160 (6-5-39) đến số 196 (13-1-1940).
[6] Hoàng Đạo, Thuộc địa tự trị (Ngày Nay số 75, 5-9-37) và Chính sách đồng hóa (Ngày Nay số 76, 12-9-37).
[7] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[8] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[9] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[10] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[11] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[12] Trong bài Cộng tác, đề huề (Ngày Nay số 78, 26-9-37).
[13] Quảng Châu Loan (Kouang-Tchéou-Wan) thuộc tỉnh Quảng Đông. Cuối thế kỷ XIX, nhà Thanh bị liệt cường xâu xé, thi nhau "thuê" các tỉnh Trung Hoa. Pháp "thuê" Quảng Châu Loan trong 99 năm. Năm 1946, Pháp ký với Tưởng Giới Thạch hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946), trả lại Trung Hoa các tô giới: Quảng Châu Loan, Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, và đổi lại Pháp sẽ vào thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch giải giới quân đội Nhật ở Việt Nam, bắc vĩ tuyến 16.
[14] Thuộc địa Pháp - Chính sách, Ngày Nay số 80, 10-10-37.
[15] Vì vậy, ngày 3-5-1854. Thượng nghị viện mới thảo nên một đạo luật, còn được thi hành tới ngày nay [1937]. Đó là đạo Sénatus-consulte ra ngày 3-5-1854, chia thuộc địa Pháp ra làm hai hạng: một bên là những thuộc địa cũ, như những đảo Martinique, Guadeloupe và Réunion, còn có ít nhiều được bảo đảm quyền lợi của mình. Một bên là tất cả những thuộc địa khác, không có chút bảo đảm nào. Chiếu theo điều lệ thứ 18, của đạo Sénatus-consulte 1854, thì: "Những thuộc địa ấy, Hoàng đế sẽ định pháp bằng chỉ dụ, cho đến khi nào một Sénatus-consulte [mới] định đoạt"Nhưng cái Sénatus-consulte mới ấy, không bao giờ ra đời.
[16] Thuộc địa Pháp - Chế độ chỉ dụ, Ngày Nay số 81, 17-10-37.
[17] Thuộc địa Pháp - Đẳng cấp tôn ti, Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[18] Thuộc địa Pháp - Đẳng cấp tôn ti, Ngày Nay số 82, 24-10-37.

Hoàng Đạo: Chính trị và đảng phái

Loạt bài Chính trị và đảng phái được Hoàng Đạo viết và in trên Ngày Nay từ số 98 (20-2-38) đến số 114 (12-6-38), trong thời gian Nhất Linh lập Đảng Hưng Việt. Vậy có thể hiểu rằng: vì phải tìm một đường lối cho đảng này, Hoàng Đạo đã nghiên cứu các chủ nghĩa chính trị để lựa chọn một hướng đi, ông tin rằng: "Trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được".
Chính trị và đảng phái, không chỉ đơn thuần trình bày các hình thức đảng phái khác nhau, mà còn nói rõ cái hay cái dở của mỗi đảng, và giảng giải cho một quần chúng chưa có khái niệm rõ ràng về chính trị biết, thế nào là một thể chế chính trị. Tiến trình đi đến dân chủ như thế nào; bởi vì dân ta lúc đó mới từ chế độ quân chủ chuyển sang chế độ thực dân, chưa hiểu thế nào là dân chủ.
Nhưng trước khi đi sâu vào nội dung các bài viết của Hoàng Đạo, chúng tôi muốn nhắc lại nguồn gốc chính trị của Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng đã có ảnh hưởng lớn đối với các nhà cách mạng Việt Nam.
Mặt trận Bình dân (Le Front Populaire) lên cầm quyền tại Pháp từ tháng 5-36 tới tháng 4-38, hội tụ ba đảng: Đảng Xã hội (SFIO) thuộc cánh Tả, Đảng Cấp tiến (Radical) thuộc cánh Trung và Đảng Cộng sản. SFIO là chữ viết tắt của Section Française de l’Internationale Ouvrière, dịch sát nghĩa: Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động, do Jean Jaurès lập ra năm 1905; đến năm 1969, đổi tên thành Parti Socialiste (Đảng Xã hội) và giữ đến ngày nay.
Mặt trận Bình dân thắng cử [1], Léon Blum, chủ tịch Đảng Xã hội lên làm Thủ tướng ngày 4-6-36 và Edouard Daladier (Đảng Cấp tiến), làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.
Thành phần chính phủ của Mặt trận bình dân gồm có: 18 người thuộc Đảng Xã hội, 13 người thuộc Đảng Cấp tiến, Đảng Cộng sản không ở trong chính phủ, chỉ đứng ngoài ủng hộ. Lần đầu tiên, có một một số Thứ trưởng (Secrétaire d’Etat) phụ nữ, mặc dù thời ấy, đàn bà chưa được quyền bầu cử.
Léon Blum và Jean Jaurès
Hai lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp: Jean Jaurès và Léon Blum đều có ảnh hưởng tới cách mạng Việt Nam.
Léon Blum (1872-1950), trước khi làm chính trị, là một nhà phê bình văn học có tư tưởng xã hội, đồng hành với Jean Jaurès, cả hai đều xuất thân từ trường Normale, học hiệu cao quý nhất của Pháp.
Jean Jaurès (1859-1914), là nhà lãnh đạo Xã hội Pháp đầu tiên có khuynh hướng đổi mới: chủ trương đường lối cộng hòa xã hội. Ban đầu ông theo Đảng Cộng hòa, ủng hộ Jules Ferry, nhưng từ năm 1892, ông bắt đầu bênh vực thợ thuyền, ủng hộ đình công, làm dân biểu Đảng Xã hội từ 1893 đến 1898, rồi trở thành lãnh đạo. Năm 1905, ông quy tụ các khuynh hướng xã hội khác nhau lập thành Đảng SFIO, tức Section Française de l’Internationale Ouvrière (Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động). Chủ trương ôn hòa, chống chiến tranh, ông bị bọn cực hữu ám sát ngày 31-7-1914, trước đại chiến thứ nhất.
Khi Jean Jaurès sáng lập báo L’Humanité (Nhân loại) năm 1905, Léon Blum giữ mục phê bình văn học. Khi nhóm Ngũ Long gửi bài ký tên Nguyễn Ái Quốc đến các báo L’Humanité, Le Populaire (Người Bình dân) của Đảng Xã hội, đều được đăng ngay.
Trên Ngày Nay số 71 (8-8-37) Nhị Linh (Khái Hưng) viết bài Jean Jaurès, ghi lại tiểu sử và truy ơn Jean Jaurès, với những dòng:
"Jaurès xin vào đảng Xã hội rất sớm, và chẳng bao lâu đã đứng đầu đảng.
Được thế là nhờ về cái tài siêu việt và cái chí quả quyết phấn đấu của ông. Một nhà phê bình trào phúng bảo: khi diễn thuyết ông có sức hấp dẫn thính giả mạnh như nam châm hút sắt. Mỗi bài diễn văn của ông là một tác phẩm của thi sĩ kiêm âm nhạc gia. Và không có vấn đề gì là ông không thấu triệt: sử ký, luật pháp, kinh tế, lý tài, v.v... thứ gì ông cũng hiểu biết hơn ai hết. Cái tài ấy, cái chí phấn đấu ấy, Jaurès đem ra phụng sự xã hội và nhân loại".
Sự khâm phục Jaurès của Nhị Linh trong bài này (viết trước loạt bài Chính Trị và đảng phái của Hoàng Đạo một năm) giải thích hiện tượng tại sao các nhà cách mạng Việt Nam, từ Phan Văn Trường qua Nguyễn Thái Học đến Hoàng Đạo, đều theo chủ nghĩa Xã hội. Bởi vì không những họ bị lý thuyết Xã hội thuyết phục, mà Đảng Xã hội Pháp còn chống chính sách thực dân và đã nâng đỡ cách mạng bất bạo động Việt Nam từ những bước đầu trên đất Pháp, khi Phan Văn Trường gửi Bản Thỉnh Nguyện Thư Tám Điểm, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã được báo L’Humanité đăng ngay. Có thể nói Đảng Xã hội Pháp là điểm tựa đầu tiên mà nhóm Phan Văn Trường có thể dựa vào.
Người Việt phần lớn thường không phân biệt xã hội với cộng sản, (một phần vì các nước cộng sản cũng nhận là theo xã hội chủ nghĩa), nên đã hiểu sai và viết nhiều điều lầm lẫn, mặc dù Hoàng Đạo đã giải thích rõ ràng từ năm 1938, trong loạt bài Chính trị và đảng phái này.
Loạt bài Chính trị và đảng phái, kéo dài trong nửa năm trên báo Ngày Nay, với những mục đích rõ ràng, ở đây chúng tôi lựa ra hai mục đích chính, và bài viết này sẽ có hai phần:
Phần một: Hoàng Đạo trình bày các thể chế chính trị.
Phần hai: Sự lựa chọn của Hoàng Đạo.
I- Các thể chế chính trị
Khái niệm chính trị đầu tiên: chủ tể
Bài Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38), là bài học đầu tiên. Hoàng Đạo dùng lập luận: Vì loài người là giống vật sinh ra đã có khuynh hướng về chính trị, cho nên ở thời nào, cũng có sự phân biệt: hạng người cai trị và hạng người bị trị. Nhưng ở thời cổ, con người chưa có khái niệm gì về thể chế chính trị mà họ đang sống. Phải đến một trình độ cao hơn, người ta mới hiểu rõ và xét đoán cái chính thể đang cai trị mình.
Cái chính thể đó không "tự nhiên" mà có: "Chính thể của một nước lúc nào cũng do hoàn cảnh, do tình thế của xã hội lúc ấy gây nên; sức tưởng tượng của loài người dẫu dồi dào thật nhưng không thể bịa đặt ra một chính thể được." (Ngày Nay số 98)
Vậy chính thể đã được hình thành như thế nào?
Hoàng Đạo trả lời: Ta không thể biết ở thời cổ đại, gia đình có trước rồi mới lập thành xã hội hay từ sự ăn chung ở lộn của một đám đông rồi mới sinh ra gia đình. Qua những nhà nghiên cứu, ta chỉ biết rằng khi con người có thể ghi lại trí nhớ, thì gia đình đã có và gia đình là căn bản của xã hội.
Trong gia đình, từ ngàn xưa, người gia trưởng nắm hết quyền hành.
Ngoài xã hội, người nào đứng chủ tế trong việc tế tự quỷ thần, xin quỷ thần phò trợ cho xã hội, là người có quyền hành về chính trị.
Tóm lại, trong thời cổ đại: người gia trưởng nắm hết quyền hành trong gia đình, và người chủ tế nắm hết quyền hành ngoài xã hội.
Nhưng từ đây, Đông Tây phân chia đôi ngả:
Hy Lạp, La Mã tin rằng quỷ thần phù trợ cho một đô thành [cité] tức là phù trợ cho người gia trưởng của một họ, đã lập nên đô thành đó. Hy La chưa có khái niệm chủ tể [maître suprême, souverain] của muôn loài.
Trái lại, ở Trung Hoa, người ta đã sớm tin thờ một vị thượng đế, chủ tể của muôn loài.
Sự khác nhau về tin tưởng dẫn đến sự khác nhau về chính thể:
"Ở Hy Lạp, La Mã, người ta thấy hiện ra nhiều xã hội, nhiều đô thành nhỏ mà quyền thống trị mỗi đô thành ở trong tay một vị vua nhỏ. Cứ như thế mãi cho đến lúc đạo Gia tô ra đời. Ở Trung Hoa, ta thấy ngay từ mấy ngàn năm xưa, một vị hoàng đế thay trời để trị dân" [2]
Đó là thời kỳ Âu, Á chịu sự khống chế nghiêm ngặt của một lãnh tụ.
Nhưng ở Âu cũng như Á, con người dần dần không chịu khuất phục nữa, họ nổi lên chống lại. Ở Hy Lạp, La Mã bọn gia trưởng nổi lên chống lại quyền cai trị của vua. Ở Trung Hoa, các nước chư hầu đòi tự trị: Chính thể phong kiến ra đời. Nhưng rồi trải qua những trận giao tranh khốc liệt vì quyền lợi, chư hầu bị diệt vong. Chính thể quân chủ chuyên chế nối gót. Rồi chính thể quân chủ chuyên chế, sẽ bị lật đổ, như ở Pháp, bằng cách mạng 1789, để trở thành chính thể Cộng hòa. Và ở Nga, Cách mạng Tháng Mười lập ra chính thể Cộng sản.
Dân tộc ta trước cơn lốc của lịch sử
Nhưng những thay đổi lớn lao trên thế giới, dân ta, cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn chưa biết, hoặc biết rất sơ sài, vẫn cứ rập theo "con đường vạch sẵn của cổ nhân, dân ta bình tĩnh mà theo, coi như là sự bất di bất dịch, không bao giờ thay đổi mà cũng không thay đổi được. Song cuộc đời bình tĩnh ấy bỗng bị làn gió lốc Tây phương đưa lại làm chấn động. Những tư tưởng cũ, ngơ ngác nhìn những tư tưởng mới xông xáo. Dân ta bỗng như bừng mắt dậy nhìn ra tứ phía, thấy những trời mới lạ, bao la, nghe thấy những giọng cao thấp, khác hẳn điệu đàn của nghìn xưa, và cảm thấy sự thay đổi vô cùng mãnh liệt.
Nhưng trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được". (Ngày Nay số 98).
Chủ đích của Hoàng Đạo đã rõ ràng: phải duyệt qua những chủ nghĩa chính trị đã hiện hữu trên thế giới mà dân ta vẫn còn mơ hồ hoặc chưa biết, trước khi lựa chọn một thứ chính thể cho nước mình.
Chủ nghĩa thiên mệnh
Trong hai số báo kế tiếpHoàng Đạo bàn về Chủ nghĩa "Thiên Mệnh" và đảng Bảo Hoàng [3]:
Vì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, tất nhiên có câu hỏi: Những người thống trị lấy danh nghĩa gì, để có uy quyền trên người khác? Đó là câu hỏi về "chính danh".
Để "chính danh hóa" vai trò của nhà vua, Đông cũng như Tây bèn sáng tạo ra chủ nghĩa Thiên Mệnh, để nói rằng: Chủ quyền chính trị của một nước là do Chúa Trời hay Thượng Đế đã đào tạo và ủy thác cho một người, một nhà, hay một dòng dõi nào trong nước.
Ở Pháp, Louis XIV, kể từ 1661, sau cái chết của Phụ chính Mazarin, đã thu hết chính quyền trong tay, thuyết Thiên mệnh được Pierre de L’Hommeau xác định rõ ràng trong mấy khoản:
1- Nước Pháp là một nước quân chủ.
2- Chỉ có mình vua là có chủ quyền trong cả nước.
3- Chủ quyền đó do trời trao cho vua.
4- Ý muốn của vua tức là luật. (Ngày Nay số 99)
Bốn điều này đưa Louis XIV lên địa vị "vua Mặt trời" (Le roi Soleil), đứng đầu chế độ quân chủ chuyên chế, trên thế giới.
Ở Nga, trước Cách mạng Tháng mười (1917), thuyết Thiên mệnh cũng được áp dụng triệt để: Nga Hoàng có quyền lực tuyết đối.
Nhưng ở Á Châu, thuyết Thiên mệnh có một ý nghĩa khác, Hoàng đế ở Á Châu phải tu thân để hoàn thành sứ mệnh "phục vụ nhân dân":
"Hoàng đế là một vị thần minh cao quý hơn loài người và rất gần gũi với Thượng Đế. Đó là một tin tưởng gây nên từ đời thái cổ mà Đức Khổng Tử đã có tài trạm khắc lại một cách rõ rệt (…) Chính vì Hoàng đế là một đấng thần minh, tài đức hơn hết thảy mọi người, Hoàng Đế lại càng phải theo thiên mệnh, là "yêu cái mà dân yêu, ghét cái mà dân ghét". Là vì Thiên thị tự ngã dân thi, thiên thính tự ngã dân thính (dân trông thấy ở đâu là trời trông thấy ở đó; dân nghe thấy ở đâu, là trời nghe thấy ở đó).
(…) Hoàng đế Á Đông không lấy uy lực để ép người, chỉ lấy tài đức làm gương cho người. Hoàng đế luôn luôn phải tu thân, theo thiên lý, thì sự hòa hảo, sự hạnh phúc mới có được trong dân gian. Nếu có một giây phút lầm lỡ, thì Hoàng đế phải tự sửa lỗi, cầu trời tha thứ cho. Những thiên tai, hạn hán hay hỏa hoạn, đều là do lỗi của nhà vua kém đức, nhà vua phải sửa lễ tạ tội với trời. (…)
Ai được mục kích những kỳ tế Nam Giao đã rõ. Nam Giao là ngày nhà vua thay mặt hết thảy thần dân mà tế Trời, Đất. Hôm ấy, nhờ sự tế lễ tôn nghiêm, nhờ sự trai tịnh, nhà vua tỏ được tấm lòng thành kính của mình và của bách tính đối với Thượng đế để Thượng đế thi ân tác phúc cho." (Ngày Nay số 100)
Cựu hoàng Bảo Đại cũng xác định bổn phận của nhà vua, trong hồi ký:
"Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm qua loa, ông thầy đến giảng một đoạn của sách Luận ngữ, bắt tôi học và đọc lại. (…) Chính vì vậy, dựa vào Khổng học, mà quyền hạn của nhà Vua có gốc rõ rệt, đồng thời cái quyền năng ấy cũng bị tự chế do giáo lý này đưa lại. Chỉ có thấu đáo nền Khổng học, mới có thể hiểu được hình thái gần như mâu thuẫn trong cơ cấu xã hội của nước tôi. Khi học kỹ lưỡng bổn phận của bậc Đế vương, tôi mới làm tròn sứ mệnh của ngôi Hoàng đế, sứ mệnh làm Đại giáo chủ, làm Đại tư ý, làm cha mẹ dân và sứ mệnh làm thiên tử."[4]
Tuy không có sự phân quyền rõ rệt, nhưng dưới thời Gia Long, vua không có quyền quyết định độc đoán, mà luôn luôn phải hỏi ý kiến quan Thượng thư trước khi quyết định. Khi xử án ai, nếu vua làm không đúng luật, thượng thư bộ hình có quyền can thiệp và vua phải theo, nhiều trường hợp ghi trong Đại Nam thực lục cho thấy điều đó.
Vậy, có sự khác biệt sâu xa giữa chính thể quân chủ chuyên chế Tây phương và chính thể quân chủ Đông phương.
Chủ nghĩa dân chủ - Khái niệm Ý chí chung
Trong bài Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa [5], Hoàng Đạo trình bày những bước đầu tiên trong khái niệm dân chủ Tây phương, trước hết là sự phát hiện ra khái niệm Ý chí chung:
"Phải đến thế kỷ XVII, mới có những thuyết rõ ràng về chủ nghĩa dân chủ: Hobbes, Jurien, Locke, là những nhà triết học đã bênh vực chủ nghĩa ấy: Trong một đoàn thể, hết thảy mọi người đều có ý chí riêng, nhưng gồm cả lại, thì có một ý chí chung để bênh vực cho sự sống của xã hội".[6]
Cái Ý chí chung (la volonté de tous) ấy, chính là đầu mối của dân chủ.
Hoàng Đạo nêu danh ba triết gia cùng đi từ ý chí chung nhưng có lập thuyết khác nhau:
- Hobbes luận rằng cái ý chí chung ấy, là hết thảy các ý chí riêng đều phục tòng ý chí của một người, hay một vài người đại biểu cho tất cả đoàn thể. Như vậy, chủ nghĩa dân chủ của Hobbes đưa về chế độ quân chủ độc đoán.
- Theo Jurien, cái ý chí chung ấy là của toàn dân, vậy chủ quyền đã ở người dân, thì dân có quyền phế vua lúc nào cũng được, không phải viện lẽ gì hết.
- Locke đồng ý với Jurien, nhưng đi xa hơn: khi người ta đã nhập vào xã hội nào tức là đã giao quyền cho số đông để bảo vệ xã hội. Nhưng trước khi nhập xã hội, người ta đã có những quyền pháp tự nhiên, mà xã hội không thể bỏ hay đàn áp được. (Ngày Nay số 101)
Đó là những nhà tư tưởng mở đầu khái niệm dân chủ, trong thế kỷ XVII.
J.J. Rousseau
Lý thuyết của Jean-Jacques Rousseau
Thế kỷ XVIII, J.J. Rousseau (1712-1778), triết gia Pháp, cho rằng: Khi ta nhập vào xã hội, tức là ta đã ký một tờ giao ước (Contrat social) bằng lòng bỏ độc lập, tự do, tự nhiên của mình để nhận sự bảo hộ cho sinh mệnh mình. Vì có tờ giao ước, mới có xã hội, mới có một ý chí chung, một nhân cách chung.
Ý chí chung ấy là ý chí của đoàn thể, được đặt lên trên ý chí riêng của mỗi người.
Ý chí chung ấy được Rousseau gọi là Chủ tể Quần chúng (La Souveraineté Populaire), mọi người phải phục tòng cái ý chí chung ấy (tức là Chủ tể). Chủ tể mới này, không thể cầm bán mà cũng không thể phân chia được. Rousseau viết:
"Chính phủ là bộ phận trung gian giữa người dân (les Sujets) và Chủ tể (le Souverain), giúp hai bên trao đổi với nhau, có nhiệm vụ hành pháp và gìn giữ tự do dân sự lẫn chính trị" (Vậy chính phủ tùy thuộc vào Chủ tể, nhận mệnh lệnh của Chủ tể). Những thành phần của bộ phận trung gian này [tức chính phủ] được gọi là Quan chức (Magistrats)" [7]
Chủ tể Quần chúng là nền móng của Khế ước Xã hội (La Souraineté populaire est le principe fondamental du Contrat Social). (Ngày Nay số 101)
Ta thấy rõ: chữ Chủ tể (Souverain) của Rousseau hoàn toàn khác với chữ Chủ tể thời cổ: Ngày trước Chủ tể là vị lãnh tụ tối cao. Ngày nay, Chủ tể là Ý chí chung của toàn dân và đó là cốt lõi của vấn đề dân chủ.
Chế độ nghị viện
Chủ nghĩa dân chủ đánh đổ các thứ "ngôi báu", đưa dân lên làm chủ sinh mệnh của mình, Hoàng Đạo viết:
"Chủ nghĩa dân chủ đem áp dụng vào thực tế, sinh ra chế độ nghị viện. Toàn thể dân chúng đúng lý ra phải tự đảm nhiệm cái trách nhiệm lập pháp và hành pháp". Song "một đạo luật mà để cho hàng triệu người bàn tán, thì không biết bao giờ mới quyết định và thi hành được." Chưa kể, "phần đông dân chúng không đủ học lực để mà hiểu, lại không đủ thì giờ rỗi để nghiên cứu.". Vì vậy, ở những nước dân chủ lớn, dân chúng ủy quyền cho một số người có học thức và tài đức, thay mặt họ, để lập pháp và hành pháp. Những người được ủy quyền ấy là các nghị viên". Nhưng "Nghị viên do dân bầu lên có thể dự thảo được luật lệ, nhưng không thể quyết định được".
Quyền quyết định hay hành pháp ở trong tay chính phủ. Những người cầm quyền hay nhóm hành pháp, giúp việc Tổng thống hay Thủ tướng thường được chọn trong số nhân viên của đảng đã được đại đa số nhân dân tín nhiệm và thường có chân trong nghị viện.
"Như vậy, công việc của chính phủ, đối ngoại hay ở trong nước, bao giờ cũng hợp với nguyện vọng của đại đa số, với ý chí chung của nước".
"Ở các nước dân chủ, bao nhiêu quyền chính thu vào lá phiếu của cử tri. Công dân mỗi người có một lá, nên đảng nào cũng vậy, cố vận động, dùng lời nói hay báo chí, sách vở, mục đích là mời mọi người vào đảng, mời được càng nhiều càng hay. Vì có nhiều đảng viên, tức là có nhiều phiếu bầu, nhiều phiếu bầu mới có thể thắng lợi cho đảng được." (Ngày Nay số 102).
Bài viết của Hoàng Đạo, ở thời điểm 1938, là một trong những bài viết đầu tiên giải thích rõ ràng về lý thuyết dân chủ của Jean-Jacques Rousseau để gửi tới độc giả Việt Nam, nhưng đồng thời cũng hàm ý chỉ cho chính quyền thực dân biết họ đã vi phạm quyền dân chủ đến mức nào. 
Chủ nghĩa xã hội
Hai bài Chủ nghĩa xã hội và Đảng xã hội và Đảng cộng sản [8], là hai bài quan trọng, bổ sung cho nhau, Hoàng Đạo trình bày thực chất và sự khác biệt giữa chủ nghĩa Xã hội và chủ nghĩa Cộng sản, đồng thời giúp ta hiểu tại sao Hoàng Đạo theo chủ nghĩa Xã hội; ông mở đầu bài Chủ nghĩa xã hội như sau:
"Chủ nghĩa Xã hội Khoa học (Socialisme Scientifique) của Karl Marx và Engels ra đời không bao lâu đã đánh đổ những chủ nghĩa Xã hội duy tâm (Socialisme utopique ou idéaliste), khiến những chủ nghĩa ấy trở nên những mộng tưởng lu mờ trong trí nhớ mọi người. Rồi, chưa đầy một thế kỷ, đã thành ra một sức mạnh đầy hứa hẹn, cả hoàn cầu đều chú ý và chính phủ nào cũng phải cân nhắc tới.
Đặc điểm của chủ nghĩa ấy là một điều phát minh của Karl Marx về phương diện xã hội. Theo Marx, trong lịch sử của loài người, sự cần thiết nhất, là chế độ kinh tế, chế độ xuất sản. Ảnh hưởng của chế độ ấy đối với người đời rất là to tát, rất là mãnh liệt" (Ngày Nay số 105).
Marx nhận ra rằng: những giai cấp quyền lợi tương phản không lúc nào là không tranh đấu lẫn nhau. Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp. Dưới chế độ nô lệ cũng như dưới chế độ phong kiến, không bao giờ giai cấp áp chế với giai cấp bị áp chế quên đấu tranh để giành hoặc giành lại quyền lợi của mình:
"Cuộc tranh giành có khi rõ ràng có khi ngấm ngầm nhưng bao giờ cũng đi đến kết quả giống nhau: hoặc là cả hai giai cấp bị diệt vong, hoặc là có cuộc cách mệnh làm thay đổi hẳn xã hội". (Ngày Nay số 105)
Trải bao thế kỷ, nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã qua đi, đến thế kỷ XIX, hai phái kình địch là tư bản và lao động.
Tiền công càng ít, thì tư bản càng lợi nhiều.
"Cho nên dần dà, tiền công của thợ thuyền chỉ là số tiền cần dùng để họ nuôi thân và nuôi con. Ngoài ra, là tiền lãi. Mà tiền lãi ấy, chính là số tiền mà thợ thuyền làm công không cho giai cấp tư bản vậy. (…) Tiền lãi, đảng xã hội gọi là thặng dư (plus value), nó chỉ là giá của sự cần lao không giả tiền. Chính số tiền lãi ấy, số tiền thặng dư ấy tích trữ lại mới thành ra tư bản vậy." (Ngày Nay số 105)
Nhưng giai cấp thợ thuyền không thể chịu mãi sự cực khổ khốn cùng, tới mức nào đó họ kiệt lực không sản xuất được nữa thì tư bản cũng tiêu vong. Vì vậy cần có một giải pháp: phá tan sự áp chế của một hạng người càng ngày càng trở nên ít ỏi là giai cấp đại tư bản, giai cấp này đã tiêu diệt dần dần giai cấp tiểu tư bản, để giữ độc quyền. Trong khi giai cấp thợ thuyền ngày càng đông, họ sẽ biết rõ giá trị của họ. Và chủ nghĩa xã hội, theo đuổi một mục đích là dẫn dắt sự tranh đấu của giai cấp lao động chống lại giai cấp tư bản. (Ngày Nay số 105).
Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản
Trong bài Đảng Xã hội và đảng Cộng sản, Hoàng Đạo viết tiếp:
"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là phá bỏ hết giai cấp trong xã hội. Phương pháp để đạt mục đích ấy là sự tranh đấu của giai cấp lao động với giai cấp tư bản.
Giai cấp lao động sẽ dấy lên một cuộc cách mạng, để cầm lấy chính quyền, cải tạo xã hội thành một xã hội mới, hợp với chủ nghĩa xã hội duy vật.
"Đảng Xã hội quốc tế hay đảng Cộng sản quốc tế đều theo chủ nghĩa ấy cả. Hai đảng đều nghĩ rằng chế độ sản xuất hiện hành không còn thích hợp với chế độ tài sản hiện có nữa; chỉ có sự thay đổi chế độ tài sản mới có thể đem lại sự nhịp nhàng đã mất." (Ngày Nay số 106)
Và muốn thực hiện sự thay đổi ấy, thì phải có sự hợp lực của toàn thể giai cấp lao động thế giới. Vì vậy, Đảng xã hội và Đảng cộng sản đều có tính cách quốc tế cả.
Nhưng đến đây có sự chia rẽ giữa Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản:
Đảng Xã hội chủ trương: không thể làm cuộc cách mạng chính trị vội vàng mà chưa sửa soạn trước, phải cải cách xã hội dưới chế độ tư bản đã, để tạo ra một xã hội mới. Khi xã hội mới đã vững chắc rồi, mới có thể làm cuộc cách mạng chính trị.
Nghĩa là, Đảng Xã hội chủ trương: cải cách xã hội trước khi làm cách mạng chính trị.
Ngược lại, Đảng Cộng sản chủ trương phải làm cách mạng chính trị trước và khi đã nắm chính quyền rồi, mới có thể phá hủy chế độ tư bản hiện thời để lập nên xã hội mới, và Đảng Cộng sản chủ trương quyền độc tài của giai cấp vô sản:
"Giai cấp lao động lúc đó sẽ giữ lấy quyền độc tài trong xã hội để trừ phá bằng đủ mọi cách sự chống đối của giai cấp tư bản, liên lạc giai cấp lao động với quần chúng, công, nông, rồi tổ chức nên xã hội mới, trong đó không còn giai cấp phân biệt nữa." (Ngày Nay số 106)
Vì chính kiến bất đồng, nên hai đảng đã đi hai con đường khác nhau, hành vi nhiều khi trái ngược nhau.
Nhưng trên thực tế, thì "đảng Xã hội ở các nước Anh, Đức, Thụy Điển, Na Uy, Áo cũng đã có lần lên cầm quyền chính, nhưng không lúc nào đem chủ nghĩa xã hội thực hành được. Ở Đức họ đã đưa dân chúng đến sự độc tài của Hiller, ở Áo cũng vậy" (Ngày Nay số 106)
Đảng Cộng sản cũng chia thành hai phe, dẫn đến cuộc phân liệt ở Nga: phe theo Stalin hay Đệ tam quốc tế và phái theo Trotsky hay Đệ tứ quốc tế.
Đệ tam quốc tế và đệ tứ quốc tế
Trong bài Đệ tam quốc tế và Đệ tứ quốc tế (Ngày Nay số 107, 24-4-38), Hoàng Đạo trình bày sự khác biệt giữa hai chủ nghĩa Cộng sản Đệ tam và Đệ tứ quốc tế.
Tại sao có chữ Quốc tế?
Khi thuyết xã hội của Karl Marx ra đời, thợ thuyền mới bắt đầu ý thức về địa vị của mình trong xã hội. Marx-Engels cùng các đồng chí hô hào: toàn thể đại biểu lao động các nước trên thế giới họp lại để hành động chung trong một hội nghị quốc tế.
Đệ Nhất quốc tế thành lập năm 1864: Thuyết Karl Marx thắng thuyết xã hội duy tâm. Nhưng tám năm sau, 1872, Công xã [9] Paris thất bại. Đệ Nhất quốc tế tan.
Đệ Nhị quốc tế được tổ chức năm 1889, là "hội nghị của các đảng Xã hội, theo chủ nghĩa của Karl Marx, đồng lòng đi vào con đường giai cấp tranh đấu, nhưng trong vòng pháp luật và theo một lối từ tốn dè dặt cho đến lúc đủ sức để đánh đổ chế độ tư bản" (Ngày Nay số 107).
Nhưng từ khi thế chiến xảy ra, sự rạn nứt trong Quốc tế Lao động bắt đầu: mỗi nước muốn đứng riêng, tranh đấu theo kiểu của mình. Đảng Cộng sản Nga sau khi đánh đổ Nga hoàng, hô hào lao động thế giới bỏ Đệ Nhị quốc tế (của Đảng Xã hội) để nhập vào Đệ Tam quốc tế (của Đảng Cộng sản).
Đệ Tam quốc tế được tổ chức năm 1919, là hội nghị của các đảng Cộng sản.
Nhưng trong khối Đệ Tam quốc tế cũng sẽ xảy ra những bất đồng: từ khi lãnh tụ Lénin qua đời năm 1924, bị phân liệt thành hai phái: phái Stalin và phái Trosky. Phái Stalin thắng, Trosky bị đuổi ra khỏi nước Nga, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động và triệu tập các đồng chí họp thành:
Đệ Tứ quốc tế, ra đời năm 1936 [chính thức là năm 1938].
Và sự phân tranh khốc liệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ xảy ra như ta đã biết.
Sự khác biệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ
Khi giai cấp đã bị tiêu diệt, sự tranh đấu giai cấp không còn nữa, con người sẽ tự do hợp tác với nhau. Chính phủ sẽ bị diệt vong. Nhờ khoa học, con người sẽ dùng máy móc để sản xuất thật nhiều những đồ cần dùng cho nhân loại. Sản xuất được nhiều, quá sức tiêu thụ của thế giới, ai dùng bao nhiêu cũng được. Sự cần lao không còn là bó buộc nữa. Tiền bạc sẽ không còn nữa. Nói tóm lại, khi xã hội đã tiến tới mức cộng sản, thì "người ta làm được bao nhiêu thì làm, muốn lấy bao nhiêu thì lấy". (Ngày Nay số 107)
Nhưng trước khi đi đến trình độ cao xa này, xã hội còn phải qua một trình độ dự bị, kém cỏi hơn, tức là trình độ xã hội, vì lực lượng sản xuất chưa hoàn hảo, tổng lượng sản phẩm chưa đủ để cung phụng cho cả nhân loại, thì không thể ai muốn lấy bao nhiêu cũng được, và phải theo cái thuyết "ai làm được bao nhiêu thì lấy chừng ấy"Người không làm gì, cố nhiên là không có ăn. Lúc đó, vẫn có sự bất bình đẳng trong xã hội, vì có người khỏe, người yếu, người thông minh, người ngu độn, vậy lẽ tự nhiên là có người được dùng nhiều hơn, người ít hơn. Sự bất bình đẳng sẽ bị tiêu diệt khi xã hội đạt đến trình độ cộng sản.
Phái Đệ Tam cho rằng: nước Nga bây giờ [thời Stalin] chưa đạt đến trình độ cộng sản nhưng đã đạt được trình độ xã hội rồi:
"Về mặt công nghệ, các đồ dùng sản xuất đã xung công hết. Ngân hàng, xưởng mỏ, xe lửa, rừng rú không còn là của riêng ai hết. Theo sự tiến hóa của khoa học, sự mở mang đã đi được một bước khổng lồ. Nga đương theo những bản chương trình to tát để đi tới một xã hội công đồng, và muốn đạt được chương trình ấy, hiện giờ còn cần đến nền độc tài của đảng". (Ngày Nay số 107)
Đệ Tam quốc tế tin rằng: chỉ một nước Nga, riêng một nước Nga, cũng có thể lập thành một xã hội theo chủ nghĩa cộng sản.
Phái Đệ Tứ coi tin tưởng này là một lầm lỗi lớn. Nước Nga là một nước công nghệ còn hèn kém lại đứng giữa những nước tư bản công nghệ phát đạt hơn, nên nếu muốn chủ nghĩa xã hội thắng, thì không thể đứng riêng một mình, mà phải hợp lực với lao động ở các nước tân tiến. Nếu cô lập xã hội cộng sản trong một nước, thì chỉ có thể đem sự nghèo khổ chung đến cho nước ấy, mà đã nghèo khốn thì sẽ có sự tranh giành, sự tranh giành sẽ đưa người ta trở lại chế độ tư bản cũ. Ngoài ra, việc nâng cao đời sống dân chúng ở Nga vẫn còn chậm chạp, lại bị nạn quan liêu hoành hành, vì chưa sản xuất đủ để cung ứng cho toàn dân nên chỉ có một số ít được hưởng quyền lợi hơn hết, họ giữ lấy chính quyền để bảo vệ quyền lợi riêng của họ, trái ngược với quyền lợi chung của xã hội. Vì thế, sẽ đưa đến cách mạng đảo chính hoặc phải trở lại chế độ tư bản.
Vậy cuộc cách mạng, đối với Đệ Tứ là thường trực. Hai yếu tố: nạn quan liêu và cách mạng thường trực là cơ bản trong lý thuyết của Trotsky (Ngày Nay số 107).
Chủ nghĩa Phát xít
Tiếp theo đó Hoàng Đạo viết hai bài Chủ nghĩa Phát xít của Mussolini và Chủ nghĩa quốc gia xã hội của Hitler, để trình bày thực chất của hai chủ nghĩa độc tài này.
Trên Ngày Nay số 108 (1-5- 38), Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa Phát xít.
Chủ nghĩa Phát xít do Mussolini tạo ra, thống trị nước Ý từ 1922-1945, xây dựng trên sự độc tài của một đảng duy nhất. Fascisme (phiên âm thành Phát xít), tiếng Ý là Fascimo. Mussolini, nguyên là một đảng viên xã hội quá khích, đã từng cầm đầu tờ báo Avanti của Đảng Xã hội. Sau thế chiến thứ nhất, ông bỏ chủ nghĩa quốc tế, theo chủ nghĩa quốc gia và tạo ra thuyết phát xít.
"Chủ nghĩa Phát xít trái hẳn với chủ nghĩa xã hội. Theo Mussolini, Karl Marx đã lầm khi tuyên bố rằng trong thế giới chỉ có hai giai cấp chiến đấu: lao động và tư bản. Riêng về mặt công nghệ, câu ấy đã không đúng, còn về mặt canh nông thì câu ấy lại càng sai". (Ngày Nay số 108)
Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa tự do: Cá nhân trong một nước phát xít, phải hy sinh những quyền lợi riêng cho quốc gia, phải quên mình để chiến đấu cho quốc gia với lòng quả cảm. Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa dân chủ. Theo Mussolini, con người không thể bình đẳng được, mà có người hơn, người kém, tùy theo tài lực. Trong nước không thể để cho đại đa số (thắng phiếu) cầm quyền bởi vì dân chúng chẳng biết gì, vì vậy, "cần phải có một đảng, đảng phát xít, một đảng thôi, nêu một lý tưởng cao xa để mà sống theo một tin tưởng chung. Lại cần phải một "quốc gia" mạnh, có quyền bao quát hết cả quyền lợi và lòng hy vọng của cả dân tộc, để dân tộc trở nên hùng cường đến cực điểm.
Vậy, theo chủ nghĩa phát xít, cao nhất là quốc gia. "Quốc gia" cần phải sống và hành động như một người: đứng im là chết. Quốc gia biểu hiệu cho quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc, quốc gia là một phương pháp để đời nọ truyền cho đời kia những quyền lợi đã chiếm được, những sáng kiến đã có, và để nâng cao dân tộc lên đến ý nghĩa đế quốc" (Ngày Nay số 108).
Tóm lại, quốc gia ấy là của một người: Mussolini nắm quyền sinh sát cả một dân tộc trong tay.
Chủ nghĩa Quốc gia xã hội của Hitler
Trên Ngày Nay số 109 (8-5-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa quốc gia xã hội.
Năm 1918, tại Munich, một chính đảng thành lập, tất cả chỉ có bảy người, đó là đảng Đức quốc lao nhân quốc gia xã hội [parti ouvrier allemand, anticapitaliste et antisémite] của Hitler, sau đổi tên thành Đảng Quốc gia xã hội (National-socialiste tức Nazi).
Hồi ấy, ở Đức, Đảng Xã hội dân chủ (Social démocrate) theo chủ nghĩa Karl Marx, thế lực rất mạnh, đại đa số thợ thuyền đều ủng hộ. Nhưng dần dần, Đảng Quốc gia xã hội của Hiller chiếm ưu thế, Đảng Xã hội dân chủ lui dần và sau chỉ còn hành động trong bóng tối.
"Đảng Quốc gia xã hội nghiễm nhiên thống trị cả nước Đức, Hitler lên làm thủ tướng và đã nhiều lần tỏ cho thiên hạ biết uy quyền của mình: bỏ Hội quốc liên, tăng binh bị, chiếm đất Rhénanie [10] và đem quân sang lấy nước Áo không mất một giọt máu nào" (Ngày Nay số 109)
Đảng ấy có một chương trình như thế nào khiến đại đa số dân Đức theo?
"Chương trình ấy, Hitler và bọn đồng chí đã đem ra thảo luận ngày 24 tháng 2 năm 1920 ở Munich, và sau, Gottfrid Feder, nhà thuyết lý của đảng, đã phủ chính [sửa lại].
Theo chương trình ấy, mục đích của đảng theo đuổi là phục hưng nước Đức theo tư chất riêng của người Đức. Muốn vậy, cần phải đem sự ích chung đặt lên trên sự ích riêng của từng người, cần phải đặt quốc gia lên trên cá nhân. Chủ nghĩa quốc gia xã hội giống chủ nghĩa phát xít của Mussolini về nguyên tắc này, mà cũng vì thế, danh từ phát xít người ta vẫn thường dùng để tặng chủ nghĩa của Hitler.
Quốc gia của Hitler, không phải là của chung của tất cả số người sống trên một khoảng đất, cùng mưu một cuộc sống chung, mà gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật-nhĩ-man ở trong nước Đức và ở nước ngoài, và chỉ những người ấy thôi". (Ngày Nay số 109)
Vậy điểm thứ nhất cần ghi nhận: Đối với chủ nghĩa Nazi: Quốc gia Đức gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật nhĩ man, ở trong và ngoài nước, mà thôi.
Đặc điểm thứ nhì của chủ nghĩa Nazi là đặt quốc gia vào trong khuôn khổ giống nòi:
"Thu tất cả những người Nhật Nhĩ Man [Đức chính gốc] trong thiên hạ để lập thành một nước Đức lớn (Deutschland) (…) Chỉ riêng giống người Đức là có quyền công dân, là có quyền tham dự vào bộ máy cai trị và lập pháp, là có quyền làm việc. Những người giống khác đến sinh nhai ở Đức bao giờ cũng chỉ được coi như kẻ ngụ cư; nếu chỉ đủ việc làm cho người giống Đức, thì chính phủ Đức sẽ có quyền trục xuất giống người khác ra ngoài cõi.
Nhất là giống người Do Thái. Vì đảng Hitler coi giống Do Thái trái ngược hẳn với giống Đức. Giống Do Thái chỉ thiên về vật chất, có thể coi là nguồn gốc của hết thảy thói xấu điểu dở trong xã hội".
Hitler cho rằng chỉ có giống Nhật Nhĩ Man, tức giống Đức, là đứng trên tất cả:
"Nếu giống Đức cứ giữ nguyên chất từ xưa tới giờ, thì giống Đức đã trở nên tài giỏi nhất và đã làm bá chủ hoàn cầu. Nhưng trong năm sáu thế kỷ qua, vì giống Đức ăn chung ở lộn với giống khác, nên tư chất bớt ghê gớm đi nhiều." (Ngày Nay số 109)
Nay phải khôi phục lại tư chất cũ, vì thế, người giống Đức phải lấy người giống Đức, lấy người khác giống là trái luật, lấy Do Thái là phải tù tội. Để cho có giống tốt hơn, chính phủ Đức bắt những người bệnh tật không được sinh nở.
"Và vì muốn có một nền quốc gia chắc chắn, đảng tuyên bố rằng nền độc tài hợp với tư chất của giống Nhật nhĩ man nhất, cho nên bao nhiêu quyền chính đều vào trong tay Thủ tướng Hitler tất cả". (Ngày Nay số 109).
Tôn Dật Tiên
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Văn
Trên Ngày Nay số 113 (5-6-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ Nghĩa "Tam dân" của Tôn Văn.
Qua bài này, ông gián tiếp giải thích tại sao Việt Nam Quốc Dân Đảng kết hợp với chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên [11].
Chủ đích của Tôn Văn là đuổi người ngoại quốc đi, khôi phục Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và phân chia đất đai đều dặn cho mọi người.
Sau khi đi khắp nơi để học hỏi các khuynh hướng chính trị Âu Mỹ, bác sĩ Tôn Dật Tiên, lập ra chủ nghĩa Tam dân. Lý thuyết của ông thành hình trong thời kỳ vận động cuộc cách mạng Tân Hợi, 1912. Nhưng những văn bản ông soạn phần lớn đã bị thiêu hủy, phải đến khoảng 1924, người ta mới được nghe ông nói về chủ nghĩa Tam dân trong những buổi diễn thuyết có hàng ngàn người dự.
Vậy Chủ nghĩa Tam dân là gì?
Chủ nghĩa Tam dân gồm ba nguyên tắc chính: Dân tộc, dân quyền và dân sinh.
1Dân tộc hay quốc dânquốc gia sẽ cứu nước Tàu ra khỏi sự áp chế của liệt cường. Hoàng Đạo viết:
"Dân tộc Tàu là Hán tộc đã có một lịch sử vẻ vang từ năm, sáu nghìn năm nay, một dân tộc đông hơn hết và đã sớm văn minh hơn hết. Tuy nhiên, hiện giờ thì dân tộc Tàu (…) đã phải chịu nhượng lĩnh thổ của mình cho bọn đế quốc (…) Tàu thật khổ hơn một thuộc quốc, như Annam thì chỉ chịu dưới quyền một ông chủ, chứ như Tàu hiện giờ [dưới thời Từ Hy], là nô lệ cho hơn mười chủ, cho cả thế giới. Cường quốc muốn chiếm Tàu lúc nào cũng được, và bắt Tàu chịu gì cũng phải chịu, kể cả sự diệt vong" (Ngày Nay số 113).
Trong tình cảnh ấy, Tôn Văn chủ trương: "Cần phải đòi lại nước Tàu cho người Tàu". "Và muốn vậy cần phải hiểu rõ tâm lý của người Tàu trước đã".
Người Tàu rất gắn bó với gia đình. Vậy phải triệu tập gia đình lại, giảng giải cho họ hiểu nên đổi những cuộc tranh chấp giữa các gia đình, dòng họ, thành cuộc tranh đấu của "trăm họ" với ngoại bang [12].
2Dân quyền là nguyên tắc của các nước dân chủ, đặt nền tảng trên ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Nhưng tự do của người Tây phương khác tự do của người Tàu, theo Hoàng Đạo: tự do đối với người Âu Mỹ, giống như tiền bạc đối với người Tàu: người Tàu nghèo, họ cần tiền hơn, còn người Ây Mỹ thiếu tự do hơn người Tàu, vì vua chúa Tàu ngày xưa chỉ giữ ngôi báu và thu thuế, còn họ để cho người dân muốn làm gì thì làm.
Bình đẳng cũng vậy: hai bông hoa còn khác nhau, huống chi con người, nên không thể có tuyệt đối bình đẳng, thế nào cũng có người ngu, người khôn, vậy chỉ nên đòi bình đẳng chính trị, tức là: công dân ai cũng có quyền ngang nhau. Nhưng sự bình đẳng này, người Tàu xưa nay cũng đã có nhiều hơn người Âu: vì nước Tàu không có giai cấp quý tộc đời đời giữ lấy đặc quyền. Vả lại trong thuyết Tam dân đã có bình đẳng: thuyết này lấy bác ái làm gốc để cho kẻ có trí giúp người ngu, cùng nhau đi đến bình đẳng.
3- Dân sinh cũng từ chữ bác ái mà ra: Mưu cầu hạnh phúc cho bốn trăm triệu người Trung hoa thì cần phải có lòng bác ái. Lúc đó, máy móc đã phát triển, vì thế một số đông thợ thuyền không có việc làm.
Theo Tôn Văn, chủ nghĩa duy tâm xã hội không đứng vững được vì không giải quyết được vấn đề việc làm. Chủ nghĩa xã hội duy vật của Karl Marx cũng có vấn đề, vì:
1- Vật chất không phải là trung tâm điểm của lịch sử, người ta còn có ước vọng tinh thần nữa.
2- Đấu tranh giai cấp, cũng không phải là nguyên nhân của tiến bộ, nó chỉ là cái "bệnh" của một xã hội đang tiến mà thôi.
Tôn Văn cho rằng: nguyên nhân của tiến bộ là sự điều hòa các giai cấp. Nhờ nhà nước đứng trung gian: tư bản càng giàu thì thợ thuyền sẽ càng sung sướng.
Và trong sự sản xuất, không chỉ có thợ thuyền và tư bản, còn có hết thảy các giai cấp khác trong nước, như nhà nông chẳng hạn. Vậy thuyết thặng dư của Karl Marx không đúng nữa.
Vì vậy, nước Tàu của Tôn Văn không cần phải theo nước khác, cứ tự mình cứu lấy mình là hơn. Và muốn thế cần xây móng sự cải tạo xã hội trên hòn đá Tàu. Hòn đá ấy là gỉ? Là nhận ra rằng: Ở Trung Hoa không có nhà giàu, chỉ có nghèo ít và nghèo lắm mà thôi. Vậy cần phải tìm phương pháp làm bớt sự bần cùng, làm cho dân giàu lên. Bằng hai cách:
1- Bình quân về điền địa: chia đều đất đai cho mọi người.
2- Đặt thuế lợi tức. Trước đây chỉ có thuế thân, tức mà mỗi người, giàu nghèo đều phải đóng thuế, tuy có chênh lệch khác nhau. Đặt ra thuế lợi tức là một bước tiến mới của xã hội.
Chủ nghĩa dân sinh là làm sao thỏa mãn được bốn nhu cầu cốt yếu của dân tộc là: ăn, mặc, nhà ở và di chuyển. (Ngày Nay số 113)
II- Sự lựa chọn của Hoàng Đạo
Tuy nhiên, con đường tranh đấu chính trị và xã hội của Tự Lực văn đoàn, không chỉ bắt đầu từ năm 1938, với loạt bài Chính trị và đảng phái của Hoàng Đạo, mà đã được bộc lộ từ trước, với hai chữ bình dân.
Hai chữ bình dân của Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn
Tháng 3 năm 1934, bản Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn đã nhấn mạnh đến chữ xã hội và bình dân, ở điều 2, điều 3 và điều 6:
Điều 2: Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội.
Điều 3: Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tình cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
Điều 6: Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái[13]
Đến năm 1936, quan niệm bình dân này lại được Hoàng Đạo giải thích trong bài Thế nào là bình dân, như sau: "Chúng tôi gồm cả trong hai chữ bình dân: tiểu tư sản và lao động" [14]
Tóm lại, hai chữ bình dân của Tự Lực văn đoàn bao gồm cả hai thành phần: tiểu tư sản  lao động và được Hoàng Đạo xác định là đối lập với thành phần trưởng giả phú hào và quý phái.
Nhưng những người chống Tự Lực văn đoàn, thường bỏ chữ lao động đi, chỉ giữ lại chữ tiểu tư sản và khuếch đại lên, để chỉ thành phần giàu có (trưởng giả, phú hào), rồi dựa vào cớ đó phê phán Tự Lực văn đoàn về phe người giàu, là hoàn toàn sai.
Năm 1936, Hoàng Đạo viết bài Tả đảng với hữu đảng trên Ngày Nay số 16 (12-7-36) để chào mừng Đảng Xã Hội [15] lên cầm quyền tại Pháp.
Bài này cho thấy Hoàng Đạo nhiệt liệt ủng hộ Đảng Xã hội Pháp, ông còn nói thêm: Nghị viện Pháp chia làm hai phe: tả, hữu. Phe tả chú trọng về bình dân, phe hữu nghiêng về phía những nhà tư bản. Năm 1936: phe tả có 378 nghị viên, và phe hữu, 236 nghị viên.
"Tả đảng gồm ba phái chính: đảng cộng sản, đảng xã hội và đảng xã hội cấp tiến. Chương trình ba đảng ấy khác xa nhau, nhưng may lại có chỗ giống nhau: là cả ba đều chú trọng về bình dân. Các phái hữu phần đông là của những nhà đại tư bản, đại doanh nghiệp chỉ muốn theo chủ nghĩa phát xít, nhưng theo một cách mập mờ". (Ngày Nay số16)
Năm 1938, trong lúc Mặt trận Bình dân bị khó khăn tại Pháp, Léon Blum phải từ chức, Daladier lên thay ngày 10-4-38. Ngày Nay số 117 (3-7-38), đưa ra những khẩu hiệu tuyên truyền cho Mặt trận Bình dân như Mặt trận Bình dân đòi quyền sống. Hoặc như: Nhóm "Tự Lực" hết sức ủng hộ Mặt Trận dân chủ, châm ngôn của chúng tôi là:
Hết sức giúp cho Mặt trân Bình dân thắng và bền.
Hết sức giúp cho Mặt trận Bình dân đòi và làm.
Tóm lại, từ năm 1934, Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn đã chọn Đảng Xã hội Pháp như một tổ chức chính trị cùng tư tưởng và như một "đồng minh" có thể dựa vào trong cuộc chiến chống chế độ thực dân.
Trước Hoàng Đạo, Nhượng Tống và Nguyễn Thái Học cũng đã đề xướng con đường tranh đấu tương tự, nhưng cuộc cách mạng của họ quá ngắn ngủi, và họ cũng không có điều kiện ra báo để quảng bá lập trường chính trị của mình, Hoàng Đạo là người đầu tiên làm công việc giải thích con đường chính trị của ông, của Tự Lực văn đoàn và đồng thời cũng là con đường của Việt Nam Quốc dân Đảng.
Con đường chính trị của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Nam Đồng Thư Xã, thành lập cuối năm 1926, là hạt nhân đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, ban đầu, chỉ có hai anh em Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân tức Nhượng Tống, in loại sách cổ động lòng ái quốc, như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách mạng thế giới, Chủ nghĩa Tam Dân [16]… Theo Nhượng Tống, sách in lúc bấy giờ chưa bị kiểm duyệt như báo, nhưng khi ra rồi, chính quyền thấy có hại, ra lệnh tịch thu, thì sách đã bán hết.
Một mặt khác, Nhượng Tống và Hoàng Văn Đào (hai đồng chí của Nguyễn Thái Học) đều cho biết: đảng trưởng theo chủ nghĩa Xã hội.
Nhượng Tống xác định: Sau khi cách mạng thành công sẽ tổ chức một chính thể Cộng hòa theo chủ nghĩa Dân chủ xã hội[17]
Nhượng Tống còn là dịch giả lỗi lạc sách chữ Hán, vậy chính ông đã dịch sách của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học cũng học Hán văn từ nhỏ: hẳn họ đã đồng ý với nhau khi lấy tên đảng là Việt Nam Quốc Dân.
Việt Nam Quốc Dân Đảng, thừa kế tên Quốc Dân Đảng của Trung Hoa và kết hợp hai chủ nghĩa: Xã hội của phương Tây và Tam dân của Tôn Dật Tiên.
Nhưng cả Nhượng Tống lẫn Nguyễn Thái Học đều không có thì giờ viết thành một lý thuyết riêng của đảng. Bởi vì:
- Nhượng Tống bị bắt ở Huế, [khoảng tháng 3-1929] sau vụ ám sát Bazin [ngày 9-2-1929], khi ông thay đảng trưởng vào Huế, gặp cụ Phan Bội Châu, nhờ cụ viết thư giới thiệu với các tổ chức cách mạng bên ngoài. Ông bị bắt gần một năm trước ngày Tổng khởi nghĩa (11-2-1930), bị đưa ra tòa ngày 2-7-1929 [18]; bị đày đi Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến ngày 20-4-1933 mới được trở về [19] và bị quản thúc 5 năm nữa.
- Nguyễn Thái Học lên máy chém ngày tháng 17-6-1930.
Tám năm sau, qua loạt bài Chính Trị và đảng phái Hoàng Đạo đã giải thích sự lựa chọn của Việt Nam Quốc Dân Đảng mà Nguyễn Thái Học và Nhượng Tống chưa kịp làm.
Đi sâu và đi xa hơn nữa, Hoàng Đạo trình bày các chủ thuyết chính trị khác nhau trong thế kỷ XX, để loại hẳn các chính sách đế quốc, quân phiệt, độc tài, kỳ thị chủng tộc ra, và chỉ giữ lại những điều thích hợp cho dân tộc, chủ yếu:
1- Chủ nghĩa Xã hội Tây phương
2- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên.
1- Theo chủ nghĩa Xã hội
Sự lựa chọn của Hoàng Đạo được ông diễn tả rõ ràng trong bài Vài lời nói thêm trên Ngày Nay số 114 (12-6-38), với những dòng ưu ái sau đây dành cho chủ nghĩa Xã hội:
"Chủ nghĩa xã hội, mới phát sinh được gần một thế kỷ - tôi muốn nói chủ nghĩa xã hội duy vật - đã được nhiều người, rất nhiều người hưởng ứng. Là vì chủ nghĩa ấy lập luận chắc chắn khiến cho kẻ trí thức nhận rõ tính cách khoa học của chủ nghĩa ấy, lại vì chủ nghĩa ấy nêu ra sự bình đẳng cho cả nhân loại, khiến cho giai cấp thợ thuyền và những giai cấp thấp bé thường bị đè nén trong xã hội nức lòng coi như con đường thoát ly ra khỏi vòng lao lung. (…) Ngoài ra, ta còn có thể nói rằng chủ nghĩa ấy ảnh hưởng rất lớn ở bốn nước Suède, Norvège, Danemark và Finlande, bốn nước sung sướng trên hoàn cầu" (Ngày Nay số 114,12-6-38).
Ở đây, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau trong quan niệm cần lao của Hoàng Đạo với quan niệm cần lao của Tây phương:
Cùng là sự người bóc lột người, nhưng Đảng Xã hội Tây phương nhấn mạnh đến giai cấp tư bản bóc lột giai cấp lao động, còn đối với Hoàng Đạo, là sự tranh đấu kép:
- Của giai cấp tiểu tư sản  lao động chống lại giai cấp đại tư bản.
- Của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thực dân.
Một bên là người cùng một dân tộc tranh đấu với nhau vì giàu nghèo khác biệt.
Một bên là người khác dân tộc, tranh đấu để lấy lại quyền dân tộc tự quyết và quyền làm người.
Cuộc tranh đấu sau chính là cuộc tranh đấu của những nước bị đô hộ chống lại bọn thực dân, cũng là trường hợp của nước Tàu và nước Việt.
2- Theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên:
Cùng trong cảnh đất nước còn cổ hủ và bị người Âu chiếm đoạt, những gì Tôn Dật Tiên khám phá cho Trung quốc, có thể áp dụng được ở Việt Nam.
Tôn Dật Tiên lấy chủ trương: Đuổi người ngoại quốc, chấn hưng Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và chia đều đất đai cho dân, làm tôn chỉ cho cuộc cách mạng.
Hoàng Đạo đã phối hợp đường lối của Đảng Xã Hội với chủ nghĩa Tam Dân, để rút ra bốn nguyên tắc sau đây:
1- Dùng chủ nghĩa Quốc gia của Tôn Dật Tiên để đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ.
2- Tranh đấu cho thành phần Cần lao, chống lại sự đán áp của tư bản và chống lại sự bóc lột của thực dân trên toàn lãnh thổ.
3- Cải cách xã hội khỏi tình trạng lạc hậu, chậm tiến, san bằng giàu nghèo.
4- Đưa nước đến chế độ dân chủ.
Chữ quốc gia trong quan niệm Quốc dân đảng, chính là quốc dân; từ Tôn Dật Tiên đến Nguyễn Thái Học, Hoàng Đạo… đều có cùng một nội dung: quốc dân chống lại đế quốc thực dân, không liên hệ gì với chữ quốc gia độc tôn trên hết của Phát xít và Nazi.
Sau 1954 chữ quốc gia được coi là một thứ "chủ nghĩa" để đối đầu với chủ nghĩa cộng sản, thì chỉ là một sự biến thiên của ngôn từ: Chữ quốc gia đã mất hẳn ý nghĩa nguyên thủy của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học. Sự đối đầu giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, tạo ra một mặt trận giữa người Trung Quốc với nhau. Hại thay, nước Việt cũng đi theo con đường đẫm máu ấy.
Chú thích:
[1] Ngày 26-4-1936 và 3-5-36, vì Pháp bầu cử hai lần.
[2] Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38).
[3] Ngày Nay số 99 (27-2-38) và Ngày Nay số 100 (6-3-38).
[4] Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, bản dịch Le Dragon d’Annam, Nguyễn Phước tộc xuất bản 1990, Cali, trang 27.
[5] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38) và số 102 (20-3-38).
[6] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38).
[7] Nguyên văn tiếng Pháp: "Le Gouvernement est "un corps intermédiaire établi entre les sujets et le Souverain pour leur mutuelle correspondance, chargé de l’exécution des lois et du maintien de la liberté, tant civile que politique" (le Gouvernement est donc subordonné au Souverain: il recoit ses instructions de celui-ci). Les membres de ce corps intermédiaire sont appelés "Magistrats." (Rousseau, Contrat social, livre III, chap. I).
[8] In trên Ngày Nay số 105 (10-4-38) và Ngày Nay số 106 (17-4-38).
[9] Công xã tức chính quyền vô sản ở một thị xã hay một thành phố.
[10] Vùng sông Rhin, từ biên giới Pháp đến biên giới Hòa Lan.
[11] Tôn Văn (1866-1925) tức Tôn Dật Tiên hay Tôn Trung Sơn, là một trong những người thành lập Quốc Dân Đảng Trung Hoa, có ảnh hưởng lớn trong việc đánh đổ nhà Thanh và xây dựng nước Trung Hoa dân quốc. Tôn Dật Tiên, quê Quảng Đông, học truyền thống đến năm 13 tuổi, rồi theo anh sang Honolulu, học trường Mỹ và nhập đạo Tin lành. Năm 1883, trở về nước, học Đại học Anh ở Hồng Kông, đỗ y khoa bác sĩ năm 1892. Hoạt động chính trị và lập đảng Trung Hưng 1894. Năm 1895, tổ chức lật đổ nhà Thanh nhưng thất bại, phải sống lưu vong ở châu Âu, Mỹ, Canada và Nhật Bản trong 16 năm.
Ngày 10-10-1911, cách mạng nổi lên ở Vũ Xương, thành công, lúc đó Tôn Văn đang ở Mỹ, được mời về nước, và được bầu làm Tổng thống lâm thời đầu tiên của Trung Hoa (từ 29-12-1911 đến 10-3-1912). Dĩ nhiên sau đó, nền cộng hòa non trẻ còn phải trải nhiều thử thách, nhưng sự thành công ban đầu của Tôn Văn và lý thuyết Tam dân đã ảnh hưởng đến những nhà cách mạng Việt Nam, đặc biệt Việt Nam Quốc Dân Đảng.
[12] Để đạt mục đích ấy, Tôn Văn đưa ra ba phương pháp:
1- Trung quân sẽ đổi thành trung với nước. Còn, hiếu đễ, nhân, tín, lễ nghĩa, cần phải duy trì và mở mang thêm.
2- Trở lại văn hóa xưa: Đạo tu thân của Đức Khổng Tử là một đạo nên theo; chính người Đức họ đến học lại ta (ý nói triết thuyết Kant, Nietzsche), vậy ta cần theo đạo ấy để sửa mình.
3- Theo khoa học Thái Tây. Về mặt vật chất, thì Thái Tây hiện nay văn minh hơn Tàu; vậy người Tàu phải theo họ để mạnh như họ.
[13] Phong Hóa số 87, 2-3-34.
[14] Ngày Nay số 33, 8-11-36.
[15] Đảng Xã Hội, tiếng Pháp là SFIO (Section Française de L’Internationale Ouvrière) do Léon Blum đứng đầu.
[16] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt, Cali, 2006, trang 25.
[17] Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, chương 16, bản điện tử. (Sách này đã được Nhã Nam in lại năm 2014)
[18] Theo Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, các chương 17, 18, 19, 20, bản điện tử.
[19] Phong Hóa số 45 (5-5-33). Vậy mà mới đây có nhiều chỗ viết: ông bị Quốc Dân Đảng "dự định thủ tiêu" trước ngày Tổng khởi nghĩa, vì chống lại việc này!. 

9/6/2021
Thụy Khuê
Theo http://vanviet.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...