Tự Lực văn đoàn
Văn học và Cách mạng - Phần 3
Trường Mỹ
thuật Đông Dương
Phần II
Victor
Tardieu, ân nhân của Việt NamVictor TardieuVề lịch sử chính thức của trường Mỹ
thuật Đông Dương, họa sĩ Quang Phòng (1925-2013) [1] đã
viết đúng đắn và đầy đủ trong cuốn Mỹ thuật Việt Nam hiện đại (Nxb
Mỹ Thuật Hà Nội, 1996).
Victor Tadieu sinh ngày 30-4-1870 tại
Lyon (Pháp), học trường Mỹ thuật Lyon một năm rồi lên Paris học tiếp
(1889-1891) cùng thầy với Rouault và Matisse. Từ 1892, ông bắt đầu
gửi tranh dự các cuộc triển lãm. Năm 1920, ông trúng giải Đông Dương, được
hưởng một chuyến đi Đông Dương. Ngày 5-1-1921, ông đáp tàu ở Marseille, đi Hà
Nội, dự trù ở 6 tháng, nhưng sẽ ở lại 16 năm cho đến khi qua đời. Từ 1922 đến
1924, Victor Tardieu thực hiện bức bích họa sơn dầu lớn, trang trí giảng đường
trường Đại học Đông Dương; Quang Phòng viết:
"Để có
chỗ hoàn thành bức tranh rộng mênh mông đến 77m2 ấy, Tardieu đã
phải mượn một nhà kho chứa hàng của Ga Hàng Cỏ ở 102 phố Reinach (đoạn cuối đã
bỏ của phố Trần Quốc Toản bây giờ - nằm giữa phố Trần Bình Trọng và
đường Lê Duẩn) - sau được sửa chữa lại thành trường Cao đẳng Mỹ thuật
Đông Dương - nơi ông gánh vác sứ mệnh mới của một nhà sư phạm từ mùa
thu năm 1925 - trên cương vị người sáng lập đồng thời là vị hiệu
trưởng đầu tiên của trường này. Năm 1937, trong lúc phải ứng phó với những khó
khăn không thể tránh khỏi từ phía chính quyền gây ra cho nhà
trường - Victor Tardieu qua đời vì phế quản bị hủy hoại bởi khí hậu
và lao động kiệt sức, vào ngày 12 tháng 6 tại nhà thương Saint-Paul, Hà Nội" [2]Joseph InguimbertyNgười có công thứ nhì, bên cạnh Tardieu,
là Joseph Inguimberty. Ông sinh tại Marseille năm 1896. Năm 1913, học trường Mỹ
thuật Marseille, năm sau lên Paris học tiếp trường Nghệ thuật Trang trí. Năm
1925, ông nhận chức giảng viên trường Mỹ thuật Đông Dương; Quang Phòng viết:
"Nói đến trường Cao đẳng Mỹ
thuật Đông Dương là nói đến Victor Tardieu và không thể không nhắc đến người
cộng sự từ thủa ban đầu của ông - Joseph Inguimberty. Đó là hai họa
sĩ cùng có công lớn đối với nền mỹ thuật Việt Nam. Nhưng giữa hai họa sĩ này
thường xẩy ra những sự va chạm, do quan niệm khác nhau về phương pháp đào tạo.
Đối với một họa sĩ từng trải qua nghệ thuật kinh viện như
Tardieu - làm việc tĩnh tại trong xưởng họa, đặt mẫu và bố cục theo
định luật cổ điển, khác hẳn với phương pháp vẽ ngoài trời bố cục theo lô gích
tự nhiên của Inguimberty với hình tượng chuyển động và ánh sáng luôn luôn biến
đổi, thì sự mâu thuẫn nghề nghiệp tất yếu phải xảy ra. Tuy nhiên hai phương
pháp ấy lại bổ sung cho nhau" [3]
Những nhận định của Quang Phòng hoàn
toàn phù hợp với những điều các nhà văn và họa sĩ tiên phong viết hay nói về
Victor Tardieu và trường Mỹ thuật Đông Dương mà chúng ta sẽ thấy dưới đây.
Victor
Tardieu dưới mắt Khái Hưng
Khái Hưng, dưới bút hiệu Nhị Linh, vẽ
chân dung Victor Tardieu trên Ngày Nay số 67 (11-7-37) sau khi giáo
sư qua đời, dưới đây là toàn bài:
Ông Tardieu
Cặp mắt sau
đôi kính trong nhìn thẳng vào mắt ta như để thôi miên ta, cái đầu trắng bóng
của ông tổ phụ hiền từ trái ngược với những nét sắc sảo của bộ dung nhan lanh
lẹn, với cái trán mở rộng phẳng phiu, với cặp môi mỏng lúc nào cũng như muốn
chế nhạo, nói mát ai. Cái hình ảnh ấy khiến tôi không bao giờ quên được ông
Tardieu tuy tôi chỉ giáp mặt ông độ dăm sáu lần.
Lần đầu, tôi
gặp ông trong phòng triển lãm mỹ thuật năm 1935 và tôi có mỹ cảm với ông ngay.
Hôm ấy chưa mở cửa phòng triển lãm. Tôi đang đứng trông coi cho người ta bài
trí bàn sách của nhà xuất bản Đời Nay, bỗng L. bạn tôi thì thầm bảo tôi:
"Kìa cụ Tạc".
Tôi ngửng
lên, gặp cặp mắt và cái miệng mỉm cười của ông đốc trường Mỹ thuật. Ông đến gần
tôi, nhìn chồng sách bày trên bàn. Người bạn giới thiệu tôi với ông. Ông thân
mật bắt tay tôi, rồi cầm sách Đời Nay ngắm nghía:
- Khá lắm,
tôi biết tiếng nhà xuất bản của các ông đã lâu. Ông Nguyễn Tường Tam chính cũng
là cựu sinh viên trường Mỹ thuật… Đó, mục đích chính của tôi khi xin mở trường
Mỹ thuật: gây ở trong nước này cái lòng yêu chuộng mỹ thuật, và nhất là liên
lạc mỹ thuật với kỹ nghệ. Rồi sau đây, ông sẽ thấy bức thêu, tấm ren, cái bàn,
cái ghế, cái bát, cái đĩa, vật gì cũng có vẻ khả quan như những quyển sách này:
Những cựu sinh viên trường Mỹ thuật sẽ giúp các ông.
Tôi ngỏ lời
sốt sắng khen ngợi ông và tôi nói tôi thành thực coi ông là một ân nhân hiếm có
của người Annam.
- Thưa ông,
mỹ thuật cần cho người Annam chúng tôi lắm, vì chúng tôi thường chỉ nhắm mắt
bắt chước, nếu không có mỹ thuật đưa đường chỉ lối thì chúng tôi sẽ bạ cái gì
bắt chước cái ấy, thực là lố lăng, hỗn độn. Nhà cửa thì tây chả ra tây, tàu chả
ra tàu, bàn ghế thì chắp kiểu Louis XV vào với kiểu Vân Nam, Thượng Hải một
cách bạo dạn, liều lĩnh.
Ông Tardieu
mỉm cười:
- Ấy, chính
thế.
Rồi ông hạ
giọng, chua chát bảo tôi:
- Không phải
ai ai cũng nghĩ như ông đâu. Người ta không hiểu tôi. Cả một số học trò của tôi
nữa. Họ phàn nàn rằng tôi không tìm được việc cho họ. Ông tính việc đâu mà sẵn
thế. Vả mục đích của tôi xin dựng trường Mỹ thuật có phải để gây lấy những ông
giáo dạy vẽ đâu? Chính phủ thì phàn nàn rằng trường Mỹ thuật không những vô ích
mà còn có hại, vì đã gây nên một bọn có bằng cấp thất nghiệp. Đến nỗi một độ
tôi đã phải cấm các cựu sinh viên trường Mỹ thuật không ai được đệ đơn xin bổ
cả để tỏ với chính phủ rằng mục đích của họ vào học trường Mỹ thuật không phải
cốt cầu cạnh một chỗ ăn lương.
Giữa lúc ấy,
có người đem tác phẩm đến trưng bày, ông Tardieu liền bắt tay từ giã tôi để ra
tiếp người mới tới.
Những lời
trên này của ông Tardieu, tôi chưa đăng báo, là vì, biết tôi viết báo, ông
Tardieu có ân cần dặn tôi đừng công bố. Nhưng nay ông đã là người thiên cổ thì
tôi tưởng không nên giữ kín nữa. Vả tôi cũng muốn góp chút tài liệu vào thiên
tiểu sử của ông Tardieu mà tôi mong sẽ có người soạn, cũng như tôi mong rằng
người Annam sẽ dựng tượng đồng ông ở một nơi công viên".
Nhị Linh
Trường Mỹ
thuật Đông Dương dưới ngòi bút Nhất Linh
Bài viết đầu tiên về trường Mỹ thuật
Đông Dương trên Phong Hóa là bài Trường Mỹ thuật Đông Pháp, in trên
Phong Hóa số 18 (20-10-32), sau đây là toàn bài:
"Trường
"Mỹ thuật" Đông Pháp mới thành lập được hơn năm năm nay đã đào tạo nên
được nhiều họa sĩ, kiến trúc và điêu khắc có tài. Tại kinh thành Ba Lê nhiều
nhà bình phẩm trứ danh về mỹ thuật [4] đã từng nhiều lần khen ngợi. Nền mỹ thuật nước
nhà mà được cái kết quả tốt đẹp như vậy, cũng là nhờ công trình của cụ Victor
Tardieu người sáng lập ra nhà trường. Cụ khéo điều hòa hai nền mỹ thuật Âu Á,
hết lòng chỉ bảo học trò cụ noi theo cái tinh hoa của mỹ thuật Đông phương, lấy
đấy làm gốc của sự học, chỉ những chỗ nào sai với sự thực mới là lấy cái hay
của mỹ thuật Tây phương bồi bổ thêm vào.
Học trò cụ
lấy cái ý tưởng sâu xa ấy làm phương trâm, lại nhờ cái tài năng, cái trí tuệ
khác thường của họ, nên chưa được bao lâu mà nước ta đã có thể tự hào rằng sắp
đến ngày có một nền mỹ thuật riêng.
Người tiêu
biểu được cái tinh thần Đông phương hơn cả là ông Nguyễn Phan Chánh - ông vẽ
trên lụa, theo lối tầu. Ông người ít nói, trầm mặc, lúc nào cũng đăm đăm làm
sao tả được cả "vẻ" riêng của những bức họa thiên nhiên thấy giải
giác [rải rác] chung
quanh mình.
Ông thường
họa những cảnh thường thường ta vẫn được trông thấy: một gia đình ngồi chung
quanh mâm cơm, một cô ở đương dửa [rửa] bát, một đám sẩm… Ông vẽ một lối riêng,
không "đánh bóng", cốt lấy những mùi dịu hòa hợp với nhau nên một
khúc nhạc vô hình, mà những bức họa của ông phần nhiều là tuyệt tác: ta có thể
nói rằng ông đã đào tạo ra học thuật nước Việt nhà.
Những cái
khéo của ông không thể để ta quên được cái tài của các nhà họa sĩ khác.
Lối vẽ bằng
sơn [dầu] ta
phải kể đến ông Nam Sơn, ông Lê Phổ, cô Lê Thị Lựu.
Ông Nam Sơn
là người học trò thứ nhất của cụ Tardieu từng sang Tây học, (nhập môn cụ P.
Launus một nhà mỹ thuật trứ danh có chân trong Mỹ thuật viện, và cụ Félix
Aubert) mà công của ông đối với nhà trường không phải là nhỏ: ông đã hết lòng
giúp cụ Tardieu trong lúc sáng lập lên nhà trường. Những bức tranh của ông
luyện lắm, hơi có vẻ khắc khổ. Ông thường họa những cảnh chùa chiền, vài nhà sư
giạo [dạo] chơi
xuân, mấy ông cụ đương tế thần. Ông có gửi sang đấu xảo bên Pháp một bức họa
chân dung bà cụ thân sinh ra ông được rất nhiều người thưởng thức.
Ông Lê Phổ,
cô Lê Thị Lựu, ông Mai Trung Thứ cùng nhiều họa sĩ khác, đều là người có tài,
mỗi người một vẻ riêng, muốn tả hết cái hay của những nhà mỹ thuật ấy, ít ra về
mỗi người phải nói một bài dài.
Có một điều
đáng ghi là cô Lê Thị Lựu, không ngại là quần vận, yếm mang, chen chân thích
cánh với bọn họa sĩ đàn ông, mà cái hay cái khéo của cô lại hơn người, thật là
vẻ vang cho Phụ nữ nước nhà.
Trường mỹ
thuật không phải chỉ dạy riêng về nghề vẽ. Trong nhà trường lại có một lớp
kiến trúc. Những nhà kiến trúc cũng theo một phương châm với những nhà họa sĩ,
đi tìm tòi những vật liệu ở những nơi đền chùa cổ, còn di tích những nền kiến
trúc xưa: đình làng Bảng hay chùa Bút Tháp, các ông ấy đều đã để vết chân lại.
Một mai người mình biết thương tiếc đến nền mỹ thuật cũ ta sẽ thấy chung quanh
những nơi đó hội những ngôi nhà có mỹ quan, mà kiến trúc lại theo một lối
riêng.
Cụ Tardieu
lập ra trường Mỹ thuật, lại không quên những kỹ nghệ nhỏ ở nước ta có can hệ
đến mỹ thuật. Cái ý của cụ là đào tạo nên những nhà mỹ thuật hiểu cho đến nơi
đến chốn, những nhà ấy sẽ đem cái thuật của mình dạy cho những người
"thợ" khéo biết lấy cái đẹp mà áp dụng vào kỹ nghệ trong gia đình,
như ở bên Nhật vậy.
Cái trình độ
của nền mỹ thuật nước nhà, nhờ cụ Tardieu và học trò cụ làm cho ta có thể mong
một cuộc tương lai rực rỡ".
Bài viết không ký tên, nhưng chắc chắn
là của Nhất Linh, vì chỉ có ông, là người đã học ở trường và đã đi Pháp, nên
mới biết rõ về cách dạy của Tardieu, về quan điểm đưa mỹ thuật vào đời sống của
Tardieu, về những nét đặc sắc riêng của từng họa sĩ, về tiếng vọng bên Pháp của
nhà trường. Ngoài ra, Nhất Linh còn chú ý đến những người học trò mà ông cho là
có tài:
1- Nguyễn Phan Chánh, vẽ lụa, theo lối
Tầu, tiêu biểu cho phong cách Đông phương.
2- Về sơn (dầu) phải kể đến: Nam Sơn, Lê
Phổ và Lê Thị Lựu.
3- Bốn họa sĩ giỏi (nhất) dưới mắt ông
là: Nam Sơn, Lê Phổ, Lê Thị Lựu và Mai Trung Thứ.
Vấn đề Nam
Sơn
Nhất Linh đặc biệt chú ý tới Nam Sơn,
ông viết:
"Ông Nam Sơn là người học trò
thứ nhất của cụ Tardieu, từng sang Tây học, (nhập môn cụ P. Launus một nhà mỹ
thuật trứ danh có chân trong Mỹ thuật viện, và cụ Félix Aubert) mà công của ông
đối với nhà trường không phải là nhỏ: ông đã hết lòng giúp cụ Tardieu trong lúc
sáng lập lên nhà trường".
Nhất Linh đã từng bênh vực Nam Sơn khi
thi vẽ với Trần Phềnh, bị Phạm Quỳnh chấm Trần Phềnh nhất (xem phần I). Ở đây,
Nhất Linh không quên ghi nhận cái công Nam Sơn đã hết lòng giúp cụ
Tardieu trong lúc sáng lập lên nhà trường.
Cái công này, sau được một số người
(Pháp, Việt) buôn tranh Nam Sơn, không ngần ngại đưa lên internet và Wikipédia
(tiếng Anh, Pháp), phóng đại thành: Nam Sơn là "bạn" của Tardieu,
"cùng sáng lập" trường Mỹ thuật Đông Dương với Tardieu [5].
Sự nhận vơ đáng tiếc này, tôi đã nêu ra
và chứng minh bằng văn bản trong cuốn Lê Thị Lựu Ấn tượng hoàng hôn [6] in
năm 2018. Wikipédia tiếng Việt cũng đã xóa bỏ câu: "Nam Sơn là
người sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với họa sĩ Tardieu" rồi.
Ở đây, tôi chỉ tóm tắt lại mấy điều ta
biết chắc:
Họa sĩ Nam Sơn là một trong số những
người Việt Nam đầu tiên biết về hội họa, và ông cũng là học trò đầu tiên của
Tardieu, có công giúp thầy trong lúc sáng lập nhà trường. Ông được sang Pháp
học thêm về Trang trí. Năm 1925, ông học khóa I trường Mỹ thuật Đông Dương cùng
với Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Mai Thứ… Năm 1927, ông được nhận làm hướng
dẫn viên (moniteur) lớp dự bị thi vào trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông
trở thành giảng viên Trang trí của nhà trường kể từ khóa V (1929-1934).
Những người tôn Nam Sơn lên là bạn
của Tardieu và đồng sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông Dương,
không hiểu rõ tình hình kỳ thị thời đó:
Người Việt được gọi là indigène,
tức là người bản xứ hay thổ dân không
thể ngang hàng với người Âu.
Hoàng Đạo viết: "Những dân tộc
thuộc địa, theo họ, đối với dân tộc khác, là những dân tộc bán khai, kém hèn,
dẫu có được hưởng giáo dục học vấn đến mức nào chăng nữa, cũng vẫn kém hèn, bán
khai mà thôi". (Ngày Nay số 77, 19-9-37)
"Người bản xứ bị coi là thuộc về
một giống người hèn kém, nên chỉ được giữ một dúm quyền lợi, lớn nhỏ, tùy ở tay
người bảo hộ" (Ngày Nay số 82, 24-10-37).
Nguyễn Gia Trí minh họa trên bìa báo
Ngày Nay số 92 (2-1-38), để bất tử hóa tình trạng này: Hội chợ Hà Nội có hai
cửa: một cửa dành cho Européens (người Âu) và một cửa dành
cho Indigènes (Người bản xứ):Ngày Nay số 92Tình trạng này, trên thực tế, đã xảy ra
với Hoàng Xuân Hãn:
Năm 1934, Hoàng Xuân Hãn, tốt nghiệp hai
trường: Polytechnique (Bách Khoa) và Ponts et Chaussés (Cầu Cống), đoạt danh
hiệu kỹ sư cao quý nhất của Pháp; khi về nước, vì là người bản xứ,
nên không được bổ nhiệm chức Kỹ sư. Sự kỳ thị này được Pierre Quatrepoint gọi
là Rascisme du parchemin (Kỳ thị văn bằng) [7].
Hoàng Xuân Hãn giận, trở lại Pháp học đỗ Thạc sĩ Toán (Agrégation de
Mathématiques) năm 1936.
Cho nên, tưởng tượng có một người
bản xứ, năm 1923, mới tập vẽ, như Nam Sơn (xem bài Cuộc đấu
xảo mĩ nghệ của hội Khai Trí của Phạm Quỳnh, trong phần I) bỗng
nhiên kết bạn với Tardieu và trở thành người sáng lập ra
trường Mỹ thuật Đông Dương cùng với Tardieu. Thì đúng là một phép lạ.
Chúng ta chỉ cần đọc lời các họa sĩ tiên
phong: Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Tô Ngọc Vân nói và viết về giáo sư Victor Tardieu
dưới đây là đủ: họ không hề nhắc đến một vị giáo sư nào khác sáng lập ra trường
Mỹ thuật cùng với Tardieu. Và nếu có phép lạ xảy ra cho Nam Sơn (trở
thành bạn Tardieu và cùng sáng lập ra nhà trường) thì sẽ là một niềm vinh dự
cho nước Nam, tại sao những họa sĩ bạn của Nam Sơn, không ai ghi nhận công lao
to tát ấy?
Bởi vì, công lao sáng lập, giảng dạy và
chiến đấu để trường Mỹ thuật Đông Dương được tồn tại là của một người duy
nhất: Victor Tardieu. Trong bối cảnh môi trường sống cực kỳ thực
dân ấy, hành động của giáo sư Tardieu lại càng đáng khâm phục và kính nể.
Ta nên tôn trọng sự thực, không vì lẽ
này hay lẽ khác mà sửa lại lịch sử. Làm như thế là không xứng đáng với sự hy
sinh và nhân cách cao quý của vị tổ phụ hội họa hiện đại Việt
Nam.
Vũ Cao Đàm và
thầy Tardieu
Buổi nói chuyện với họa sĩ Vũ Cao Đàm,
trên làn sóng của đài RFI năm 1991, mở đầu cho những thông tin về trường Mỹ
thuật Đông Dương, được ghi âm bằng tiếng Pháp, tôi dịch sang tiếng Việt, phát
thanh ngày 24-3-1991 [8].
"Thụy
Khuê: Thưa bác, trở lại những kỷ niệm của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật, bác học
khóa II. Xin bác nói về những năm tháng ấy, về thầy Tardieu và cách giảng dạy ở
trường.
Vũ Cao Đàm:
Tôi vào trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội năm 1926. Trường do ông Victor Tardieu
thành lập, và tôi đã học những môn: hình họa (dessin), hội họa (peinture) và
điêu khắc (sculpture). Chúng tôi có những giáo sư chính:
Ông Victor
Tardieu dạy hội họa.
Ông
Inguimberty dạy trang trí (décoration) và điêu khắc.
Ông Batteur
dạy kiến trúc.
Bác sĩ De
Phenix dạy cơ thể học.
Mỗi năm có
một giáo sư hội họa được giải thưởng Đông Dương đến trường để giảng thêm. Ông
Tardieu đã hy sinh tất cả cho học trò. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy, ông còn nâng
đỡ và dìu dắt học trò trong những trường hợp khó khăn để họ có điều kiện theo
đuổi việc học. Bây giờ khó có thể kiếm được một người thầy sáng suốt, có lương
tâm và tận tụy đến thế.
Ông bắt học
trò học rất nhiều, buộc phải làm việc cẩn thận và giữ kỷ luật nghiêm minh.
Chúng tôi học 9 giờ mỗi ngày. Phải dậy từ 6 giờ sáng. Sáng học hội họa, chiều
học trang trí. Mỗi tuần có 1 giờ cơ thể học, 1 giờ viễn họa và 1 giờ nặn mô
hình. Học trò phải đi tới chùa hoặc các di tích lịch sử để lấy kiểu mẫu.
Thầy Tardieu
thấy tôi có khả năng về điêu khắc và tôi đã nặn tượng bán thân cha tôi, thầy
khen đẹp. Cho nên sang năm thứ nhì, tôi học thẳng sang ngành điêu khắc và tôi
rất thích thú. Sau đó tôi chuyên về chân dung.
Muốn giúp đỡ
học trò, mỗi cuối năm, thầy Tardieu tổ chức một cuộc triển lãm các tác phẩm của
sinh viên. Những cuộc triển lãm đó đã giúp họ rất nhiều về vật chất. Tôi từ giã
Hà Nội để đi Pháp vào cuối năm 1931. Tôi được học bổng đi học Ecole du Louvre ở
Paris".
Lê Phổ và
thầy Tardieu
Người thứ hai mà tôi có dịp tiếp xúc và
hỏi về giáo sư Tardieu và trường Mỹ thuật Đông Dương là họa sĩ Lê Phổ, trong
buổi nói chuyện phát thành trên đài RFI ngày 7-3-1993 [9],
họa sĩ Lê Phổ nói:
"Ông
Tardieu là một ông thầy tuyệt vời đối với học trò: ông giúp đỡ chúng tôi về mọi
mặt. Phải nói rằng thời đó, ngay một số người Pháp cũng ganh tị với chúng tôi,
kể cả những người Pháp dạy ở trường Mỹ Thuật Hà Nội. Chúng tôi làm việc nhiều,
và mỗi cuộc triển lãm tranh chúng tôi bán được gần một nửa, hơn cả những người
Pháp đã được giải thưởng hội họa Đông Dương và cũng triển lãm tranh ngay tại Hà
Nội. Ông Tardieu học cùng thầy với các họa sĩ Rouault và Matisse. Ông là một
họa sĩ giỏi tuy không nổi tiếng bằng những họa sĩ thời danh của Pháp. Khi ông
quyết định đi xa, các bạn hỏi: tại sao lại đi xa thế? Sao không ở lại đây?
Tardieu thích phiêu du và cũng nhờ thế mà chúng ta có trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Hà Nội. Đó là một điều may mắn! Nếu không thì nghệ thuật tạo hình Việt Nam -
cho tới bấy giờ - vẫn bị xem như trùng hợp với nghệ thuật Trung Quốc (…).
Bước đầu ở
Pháp, muốn nổi tiếng rất khó: làm cho một số người biết đến mình thì không khó,
nhưng muốn thực sự nổi tiếng và thành công thì khó hơn nhiều. Bởi vì chúng tôi
muốn giữ một truyền thống, có một lối vẽ khác với hội họa Âu châu lúc bấy giờ.
Ông Tardieu khi dạy chúng tôi, không muốn chúng tôi mô phỏng hội họa Tây
phương, mà phải giữ vững truyền thống của mình, rồi từ truyền thống ấy, tạo ra
một cái gì khác. Bốn người chúng tôi: Lựu, Đàm, Mai Thứ và tôi là những họa sĩ
đầu tiên phiêu lưu sang Âu châu, rời môi trường Hà Nội, sang đây để gặp những
họa sĩ khác, làm việc với họ để hiểu hội họa Âu châu - là một điều hoàn toàn
khác với những gì chúng tôi đã học- thoát thai từ trường phái Paris, với những
họa sĩ lớn thời đó.
TK: Bác còn nhớ những bạn học cùng
lớp cũ không?
LP: Cùng lớp
hồi đó có Nam Sơn, nhưng anh ấy không phải là học trò như chúng tôi, anh ấy
quen Tardieu trước chúng tôi. Nguyễn Phan Chánh lớn tuổi nhất bọn, anh ấy nhà
Nho, tốt bụng, tôi quí mến lắm. Anh Chánh thường bị mấy tay trẻ chòng ghẹo. Lê
Văn Đệ mới mất cách đây mấy năm, và ba chúng tôi: Đàm, Thứ và tôi (…)
À còn Nguyễn
Tường Tam. Nguyễn Tường Tam cũng bồ lắm. Tường Tam viết văn. Tóm lại, trong lớp
có: Nam Sơn, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Tường Tam, Lê Văn Đệ - tôi có gặp Lê Văn
Đệ một lần ở Pháp - Mai Thứ và tôi. Còn những người khác tôi không nhớ nữa."
Câu: "Ông Tardieu khi dạy
chúng tôi, không muốn chúng tôi mô phỏng hội họa Tây phương, mà phải giữ vững
truyền thống của mình, rồi từ truyền thống ấy, tạo ra một cái gì
khác", chứng tỏ sự sáng suốt của Tardieu: Người Anh khi lập
trường Mỹ thuật ở Ấn Độ, đã không nghĩ đến việc này: họ bỏ qua lịch sử mấy
nghìn năm hội họa cổ Ấn Độ, cho học trò học hội họa Tây phương, nên họ đã không
đào tạo được những họa sĩ tài danh như trường Mỹ thuật Đông Dương.Lễ giỗ hai năm giáo sư Victor Tardieu, ngày 12-6-1939Tô Ngọc Vân
và thầy Tardieu
Hai năm sau khi Victor Tardieu qua đời,
Trường Mỹ thuật Đông Dương làm một lễ giỗ đơn giản tưởng niệm vị thầy khai
sáng, Tô Ngọc Vân, bút hiệu Tô Tử, đã tả lại buổi lễ đơn mạc này trong bài viết
tựa đề Ông Victor Tardieu (người sáng lập ra trường Mỹ thuật Đông
Dương) in trên Ngày Nay số 166 (17-6-39), lời mong ước của Khái Hưng
một phần đã đạt: tượng Tardieu đã được dựng ở sân trường. Dưới đây là nội dung
toàn bài viết của Tô Tử:
"Tại
trường Mỹ thuật, hôm 12 Juin vừa rồi đã làm lễ kỷ niệm ngày ông Victor Tardieu
mất. Một lễ đơn giản, cảm động.
Chung quanh
pho tượng ông bầy giữa vườn, những bó hoa đỏ chói đặt trên bệ, và viên chức
cùng tân cựu học sinh trường Mỹ thuật đứng xếp hàng.
Trong số
người kính cẩn trước tượng ông, bên những người xưa nay đối với ông vẫn nhiều
cảm tình, có những người, khi ông còn sống, bất hòa với ông. Có những người
chưa được biết ông lần nào. Nhưng ai ai cũng chung một lòng nhớ đến ông, người
đã hoàn sinh cho mỹ thuật nước nhà.
Người ân nhân
ấy để lại cho chúng ta một sự nghiệp to tát, nguy nga, gây nên không phải dễ
dàng. Những trở lực, những sự kiềm chế ông đã gặp khi ông mở trường Mỹ thuật,
nhiều người còn nhớ. Không có một năm nào, trong tám chín năm đầu của trường Mỹ
thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương, người ta không kêu gào đóng cửa trường ấy.
Người ta cứ phá. Ông cứ xây. Xây bằng sự khéo léo, sự nhiệt thành, sự kiên
nhẫn.
Ông đã thắng.
Nên mới có chúng ta ngày nay: những người biết yêu mỹ thuật, nhận mỹ thuật là
cần cho sự sống, biết lo bồi đắp mỹ thuật Việt Nam.
Ông mến học
trò. Ông làm cho học trò tin ở mình, ở tương lai. Ông săn sóc ân cần đến họ,
như một người cha trông nom âu yếm các con.
Sau bài diễn
văn, một cựu sinh viên đọc bày tỏ sự nhớ tiếc biết ơn ông, ông Loubet đại diện
ông giám đốc học chính, cũng nói mấy lời. Ông nói: nếu vào thời trước, có lẽ
người Annam đã dựng đình tôn ông Tardieu làm thành hoàng. Theo phong tục Pháp,
chúng ta đã kỷ niệm người ân nhân ấy bằng buổi lễ hôm nay. Cách biểu lộ tuy
khác, xong lòng biết ơn không vì thế mà kém thiết tha.
Rồi mọi người
nghiêng đầu trước tượng, đứng tĩnh một phút. Rồi ai nấy tản tác ra về, ngơ ngác
như nhớ một cái gì kính mến mà ta vừa mất.
Cả một buổi
lễ không đầy 15 phút.
Trở ra, nhìn
lại trường Mỹ thuật, tôi cảm thấy phảng phất bóng ông già Tardieu, đầu bạc
trắng sóa, tay sách cái gậy lớn, trán đẫm mồ hôi.
Ông già ấy
cách đây sáu năm, có một hôm, nửa đêm, đến đấm cửa nhà chúng tôi, vừa hát vừa
báo: "Người ta không đóng cửa trường Mỹ thuật nữa!". Ông già ấy,
trước khi xe đi nhà thương, còn viết run được mấy dòng trên một cái nắp hộp,
dặn dò mấy điều về hội Việt Nam mỹ thuật. Nằm nhà thương được hai hôm, ông
chết".
Tô Tử
Những lời của Tô Tử đã tóm tắt công lao
của Victor Tardieu từ khi lập trường đến lúc mất: "Không có một năm
nào, trong tám chín năm đầu của trường Mỹ thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương,
người ta không kêu gào đóng cửa trường ấy. Người ta cứ phá. Ông cứ xây".
Câu "Ông săn sóc ân cần đến họ
như một người cha trông nom âu yếm các con" Tô Ngọc Vân đã viết
cho tất cả các bạn đồng học và ta thấy lại trên môi Vũ Cao Đàm, Lê Phổ, năm
mươi năm sau. Những dòng chót về ông già tóc trắng, gieo vào lòng
chúng ta, người đọc tám mươi năm sau, một niềm kính phục đớn đau vô hạn.
Ngày Nay số 64 (20-6-37) đăng tin Victor
Tardieu qua đời, dưới có chân dung Tardieu do Ngym (Trần Quang Trân) vẽ. Bản ai
tín như sau:
"Chúng
tôi buồn rầu và thương tiếc khi được tin ông Victor Tardieu đã tạ thế. (…)
Sự nghiệp của
ông Tardieu là tất cả nền mỹ thuật ở nước này: trường Mỹ thuật là cái công
trình đầu tiên của ông.
Trước khi
trường này mở, trong nước ta không có một người nào có thể gọi được là nghệ sĩ;
công chúng không biết thưởng thức mỹ thuật. Những kiểu nhà xấu, những bàn ghế
lố lăng, những tranh vẽ sặc sỡ hồi ấy là biểu hiệu một sự hỗn loạn, mà các công
nghệ nhỏ của ta không có mỹ thuật nâng đỡ, bị thiệt thòi nhiều.
Đến khi lớp
sinh viên đầu tiên ở trường Mỹ thuật ra, tình thế bắt đầu đổi hẳn. Những cuộc
phô bày mỹ thuật, những phòng triển lãm làm cho mọi người chú ý đến cái đẹp một
cách hiểu biết hơn.
Mỹ thuật thay
đổi cả cách sống nữa; chúng ta hoạt động trong một hoàn cảnh đẹp đẽ. Đời chúng
ta thêm vẻ thanh lịch.
Ảnh hưởng của
trường Mỹ thuật tràn khắp. Một chứng cớ rõ rệt là những tờ báo bây giờ, những
quyển sách in đẹp mà trước kia ta không có.
Ông Tardieu
lại lập thêm hội Chấn hưng Mỹ nghệ. Công việc đang tiến hành thì ông tự nhiên
qua đời.
Chúng ta nên
kính cẩn cúi đầu trước vong linh người đã khuất, và ghi nhớ trong lòng ta tên
người đã giúp ích cho nước này.
Ngày Nay
Lời ai tín của Ngày Nay chính là lời
vĩnh biệt của Tự Lực văn đoàn với người cha đẻ nền hội họa hiện đại Việt Nam.
Tardieu qua
đời, trường Mỹ thuật Đông Dương bị đe dọa đóng cửa
Victor Tardieu mất ngày 12 tháng 6 năm
1937. Trường Mỹ thuật đóng cửa niên khóa 1937-1938. Đầu năm 1938,
một tin đồn đáng ngại lưu thông: Trường sẽ bị đóng cửa luôn hay sẽ đổi thành
trường Công nghệ?
Báo Ngày Nay lập tức mở mục Trường
Mỹ thuật Đông Dương có sẽ có bị bãi không? đăng những bài của các nghệ sĩ
cộng tác, cổ động ráo riết việc giữ lại nhà trường như cũ, không đổi thành
trường công nghệ.
Ngày Nay số 92 (2-1-38) trong bài Mỹ
thuật và Công nghệ, họa sĩ Trần Bình Lộc viết:
"Đông
Dương được người ta để ý tới chẳng từ năm 1931 ư? Năm các nghệ sĩ trường mỹ
thuật phô tài lần đầu tiên ở đấu xảo Quốc tế.
Trường mỹ
thuật bãi đi để khuyến khích tiểu công nghệ, e rằng chẳng có kết quả mà lại còn
giết chết thêm cả chúng nó nữa.
Một người thợ
khéo không có thẩm mỹ của nghệ sĩ, thì chỉ có thể sáng tạo ra những đồ tỉ mỉ lố
lăng thôi.
Hẳn ai cũng
còn nhớ những đồ bài trí khi chưa có trường mỹ thuật: những đồ ấy trạm trổ tứ
tung và hiến cho người ta cái phiền, cái nhọc, nhiều hơn là cái đẹp, cái tiện
(…)
Nhà mỹ thuật,
vì thế, nên vẫn là cái cốt của mọi công nghệ tinh xảo và trường Mỹ thuật Đông
Dương vẫn cần phải "còn" ở Đông Dương."
Ngày Nay số 93 (9-1-38), Nguyễn Gia Trí
viết:
"Tin đồn
rằng trường Mỹ Thuật sẽ bị bãi và đổi ra một trường công nghệ (École
d’Artisanat) có đích xác không? (…) Sự bỏ trường Mỹ Thuật đi để làm một trường
tiểu công nghệ thì theo ý tôi là một sự tôi mong rằng thật ra chính phủ không
bao giờ nghĩ tới, vì muốn khuyến khích tiểu công nghệ mà lại bỏ trường Mỹ thuật
đi, hai điều đó trái ngược nhau một cách hiển nhiên".
Ngày Nay số 94 (16-1-38), kiến trúc sư
Hoàng Nhữ Tiếp viết:
"Từ ngày
có trường Mỹ Thuật đến giờ, những nghề gì phát đạt hơn và có những sự thay đổi
gì phát sinh ra đều chịu ảnh hưởng mỹ thuật.
Không có một
nghề gì là không chịu ảnh hưởng mỹ thuật. Báo chí, sách vở, thảm, chiếu, đồ
ren, đồ vàng bạc, đồ thêu, bàn ghế, nhà cửa và cách trang hoàng (…)
Những ảnh
hưởng ấy to tát, rộng rãi quá, đến nỗi năm ngoái ở Đại hội nghị kinh tế lý tài,
ông nghị Thương mại Joseph đứng lên phản đối Chính phủ và trường Mỹ thuật kịch
liệt. Ông bảo rằng sao nhà nước lại mở một cái trường chỉ có ích cho dân Annam,
và làm thơm cho chính phủ thuộc địa ở hải ngoại, mà không ích lợi gì cho ông
ấy. Hay là ông ấy hăng hái như vậy vì ông ghét cụ cố Tardieu về câu chuyện thầu
nhà cửa gì đó?
Cũng có thể
lắm, năm nay ông không đứng lên phản đối nữa, vì có ông nghị Phan Thanh đã nói
để các ngài trong Đại hội nghị biết rằng không nên vì thù ghét riêng ai, mà xin
đóng của trường Mỹ thuật. Ông Thanh chất vấn chánh phủ về việc bãi bỏ trường Mỹ
thuật, thì ông Học chính Tổng trưởng Bertrand nói rằng vì hiện nay nhiều họa sĩ
chưa có việc làm nên hoãn lại một kỳ thi, chứ chính phủ không có ý bãi bỏ.
Nhưng chúng
tôi mong rằng, chính phủ đừng vì lợi riêng một dúm người cỏn con ấy mà để thiệt
hại cho tương lai mỹ thuật xứ này, xin sang năm chính phủ lại mở rộng cửa
trường ra để đón các hy vọng mới".
H.N. Tiếp,
kiến trúc sư
Phan Thanh
chất vấn chính phủ bảo hộ
Phan Thanh (1908-1939) là em họ Phan
Khôi, anh ruột Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam). Ông dạy học, viết báo, đã từng cộng
tác với La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) của Nguyễn An Ninh và và L’Annam của
Phan Văn Trường. Từ khi chính phủ Bình Dân ở Pháp lên cầm quyền, ông vào đảng
Xã hội Pháp (SFIO) để có thể hoạt động mạnh hơn. Là dân biểu Quảng Nam, ông có
tài hùng biện bằng tiếng Pháp; tên ông xuất hiện thường xuyên trên báo Ngày Nay
như một chính trị gia cam đảm, dám bênh vực quyền tự do dân chủ và công bằng xã
hội cho dân Việt. Khi ông mất, báo Ngày Nay đưa tin Một chiến sĩ xã hội
từ trần ngày 1-5-1939, sau hơn một tháng bị bệnh, ở tuổi 31. Và trong
bài Tiểu sử ông Phan Thanh rất đầy đủ, Ngày Nay - coi ông
là một nhà lãnh đạo phong trào Mặt trận dân chủ ở nước ta -
viết:
"Năm 1937, ông ra ứng cử dân
biểu ở Quảng Nam được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt; từ đấy ông là cái chỉ
trụ, là người chỉ dẫn sáng suốt, cương quyết, được đa số nghị viên dân chủ
trong viện dân biểu Trung kỳ tín nhiệm và ủng hộ.
Được bầu vào
Đại hội đồng kinh tế lý tài, ông đã một mình cương quyết chống với tất cả bọn
phản động thuộc địa và tay sai của chúng trong giai cấp tư sản bản xứ và bênh
vực quyền lợi cho đại đa số dân chúng. (…) Cái chết của ông Phan Thanh chẳng
những là một cái tang đau đớn cho gia quyến ông, cho đảng ông, mà còn cho toàn
thể dân chúng nữa".
Đại hội đồng Kinh tế và Lý tài (Grand
Conseil des Intérets Economiques et Financiers) là tổ chức quan trọng thứ nhì
sau Hội đồng Chính phủ (Conseil du Gouvernement), giúp Toàn quyền trong việc
cai trị Đông Dương. Toàn quyền bó buộc phải hỏi ý kiến Đại Hội Đồng về dự án
ngân sách [10].
Tô Ngọc Vân đã viết: "Không có một năm nào, trong tám chín năm đầu của
trường Mỹ thuật, ở Đại hội nghị Đông Dương, người ta không kêu gào đóng cửa
trường ấy".
Lời ông nghị Phan Thanh chất
vấn chánh phủ về việc bãi bỏ trường Mỹ thuật trong Đại hội
nghị kinh tế lý tài năm 1938 ở Sài Gòn, chắc chắn có trọng lượng, nên
ông Học chính Tổng trưởng [Bộ trưởng Giáo dục] Bertrand phải
cải chính "tin đồn" đóng cửa trường Mỹ Thuật, và ông Toàn quyền phải
chọn giải pháp nước đôi.
Evariste Jonchères được cử làm giám đốc
trường Mỹ thuật thay thế Victor Tardieu.
Ngày 25-4-1938, Toàn quyền Jules Brevié
ký nghị định thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật và Mỹ nghệ Đông
Dương (Ecole supérieure des Beaux-Arts et des Arts appliqués de
l’Indochine). Chữ Cao đẳng có từ đây và thêm chữ Mỹ
nghệ Đông Dương vào tên trường, nhưng những cựu sinh viên
khi viết về trường mình thường bỏ bốn chữ này đi vì họ cho là hạ thấp giá trị
của nhà trường. Tuy nhiên chủ trương của Jonchères không thay đổi.
Phản đối
Jonchères
Trên Ngày Nay số 144 (7-1-39) có
bài Những sự cái cách của trường mỹ thuật Đông Dương, cùng ký
tên: Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Hoàng Lập Ngôn, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Khang,
họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung chấp bút:
"Ông
Jonchères, Giám đốc mới của trường Mỹ thuật Đông Dương đã sang thay cụ Victor
Tardieu quá cố hồi năm ngoái, vừa đến Sài gòn, ông trả lời báo Opinion lên tầu
phỏng vấn ông như sau này:
"Tôi đi
Hà Nội chuyến này chỉ muốn đào tạo những thợ mỹ thuật chứ không phải những nhà
nghệ sĩ.(…)"
Ông cho rằng
người Annam không thể hiểu nổi những cái đẹp cao thượng của trí tuệ đến thế kia
ư?
Ông là một
điêu khắc gia, tôi xin mời ông hãy chịu khó qua xem những đồ điêu khắc ở chùa
Đậu, đình Đình bảng, chùa Cói, chùa Keo hay Chu quyến và mời ông so sánh thử
những nét chạm cổ tự đời Lê đó với nét chạm tự cổ chí kim của Nhật Bản hay
những tác phẩm của ông xem đằng nào thâm trầm, gân guốc và đặc sắc hơn, rồi lúc
đó sẽ thong thả nghe ông tuyên bố lại".
Nguyễn Đỗ Cung lập luận tiếp: Biến
trường Mỹ thuật Đông Dương thành trường Mỹ nghệ thực hành không có gì là cao
kiến, vì nhiều lẽ:
- Các trường mỹ nghệ thực hành như vậy ở
nước này đã có nhiều rồi. Học sinh vào học vẽ, học nặn, học sơn, học đồng, học
gỗ với chương trình rút ngắn bốn năm, về sau thấy họ bỏ cả.
- Lê Phổ
không học sơn [mài] bao
giờ mà vẽ tranh sơn hay hơn bao nhiêu người học sơn mài. [Thực ra Lê
Phổ có học sơn mài với cụ Hợp, cụ Mạc, xem phần I]. Cát Tường không học
trường Dentelle mà chế ra những dentelles chưa ai làm nổi. Gia Trí sở dĩ làm gì
cũng xuất sắc (vẽ sơn ta, vẽ lụa, khắc gỗ vân vân) chính vì ông là một họa sĩ
có tài…
- Tóm lại: "Đào tạo được
nhiều họa sĩ, mới thực là giúp ích một cách gián tiếp và chắc chắn cho công
nghệ".
Sau bài này có bài của Văn Giai, học
sinh ban Mỹ nghệ (Artisanat) trường Mỹ thuật, bênh vực Jonchères (Ngày Nay số
145, 14-1-39). Tiếp đó là thư của Một số đông học sinh trường mỹ
thuật, phản bác lại Văn Giai, tố cáo: "Trường Mỹ thuật Đông
Dương hiện nay chỉ muốn đào tạo những thợ khéo (artisans) thôi. Hiện nay mỗi
học sinh học xong năm năm thi ra, trước khi lĩnh bằng phải làm một tờ cam kết
với trường, đại khái như sau đây: "Mỗi khi trường cần tới hay có việc ở đâu,
trường bổ đi thì phải nhận làm với một số lương là 15 đồng một
tháng…" Hoàng Đạo đăng thư này trên Ngày Nay số 146 (21-1-39), và
đặt câu hỏi:
Có phải là
mỗi học sinh trường Mỹ thuật phải ký tờ cam đoan kỳ dị kia, nghĩa là bằng lòng
để cho nhà trường bóc lột mình, hay không?
Có phải
trường Mỹ thuật chỉ còn là một trường Mỹ nghệ không? Hay là ông Jonchères vẫn
muốn đào tạo bọn nghệ sĩ ở Đông Dương? Chúng tôi muốn hỏi ông đốc trường Mỹ
thuật và Mỹ nghệ Đông Dương".
Không thấy ông Jonchères trả lời, hoặc
cải chính việc này trên báo.
Tô Ngọc Vân
viết về Nguyễn Gia Trí
Tô Ngọc Vân không những vẽ tranh cho
Phong Hóa Ngày Nay, mà ông còn viết những bài giá trị về hội họa. Bài Cái
đẹp trong hội họa (Ngày Nay số 5, 10-3-35) có tính cách cơ bản, giải
thích cho người xem chưa từng có ý niệm gì về hội họa, hiểu thế nào là cái đẹp
trong tranh, tại sao họa sĩ vẽ thế này mà không vẽ thế kia. Tô Ngọc Vân trả lời
những câu hỏi: Thế nào là tranh đẹp? Họa sĩ vẽ để làm gì?
"Đứng
trước tạo vật, nhà họa sĩ nhờ hình, sắc và cách xếp đặt trong tranh để tả những
cảm giác của mình.
Tôi họa người
ăn mày hay đôi guốc, tôi trông vũ trụ ra hình tròn hay hình vuông, nếu khi xem
bức tranh, ngài cũng có cái cảm tưởng vui buồn, khoái trá… mà tôi muốn tả, thì
bức tranh ấy là một mỹ công giá trị rồi!
Bởi tính tình
con người ta phiền phức, cho nên, cùng một cảnh, trăm người họa có thể bầy ra
trăm vẻ khác nhau. Cho nên tranh tây hay tranh tàu, quan niệm về mỹ thuật tuy
xa nhau một trời một vực, mà cùng đều xuất sản ra những mỹ công tuyệt tác.
Tôi nghĩ rằng
một bức tranh đẹp là đã tả được những điều cảm thấy, nên tôi tin rằng chỉ những
người giàu tình cảm mới có thể thành họa sĩ tài hoa".
Bài Nguyễn Gia Trí và sơn ta (Ngày
Nay số 146, 21-1-39), thực sự độc đáo, chỉ người tri kỷ trong nghề mới viết
được. Tô Ngọc Vân và Nguyễn Gia Trí là hai họa sĩ lớn, cùng cộng tác với Phong
Hóa Ngày Nay, cùng tư tưởng chống thực dân. Điều đáng chú ý là tình bạn tri kỷ
của họ, in dấu lại trong bài Nguyễn Gia Trí và sơn ta, khó có
ngòi bút nào có thể hiểu và viết sâu được đến thế:
"Cuộc
triển lãm hôm 11- Janvier vừa rồi [1939] của trường Mỹ thuật Đông Dương đã bày
cho ta xem những công trình sáng tác về sơn ta kết quả của sáu, bẩy năm tìm
tòi.
Trong thời
gian ấy, đã nhiều thí nghiệm, từ Mai Trung Thứ qua Lê Phổ đến Phạm Hậu. Cái lối
sơn cổ của ta, hào nhoáng, lòe loẹt, son giữ mầu son, vàng chỉ có sắc vàng, trơ
trẽn như anh nhà giàu khoe của, vào trường Mỹ Thuật, đã dần dần biến thành mỹ
công nhã nhặn mà vẫn quý giá.
Vàng, bạc,
sơn son, sơn then, người ta chỉ dùng nguyên chất có chừng độ, khi người ta xét
cần phải dùng đến cho toàn thể tấm sơn. Rồi cũng ngần ấy vật liệu, đè lên nhau,
trộn vào nhau, mài đi mài lại, người ta chế ra được nhiều mầu dìu dịu, đỡ tầm
thường.
Đến cuộc thí
nghiệm Nguyễn Gia Tri, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn
người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng.
Người ta có
thể tưởng tượng một "thầy sơn" khác chung quanh mấy ông phó sơn giúp
việc, chia nhau từng đoạn vẽ mà bôi sơn vào, bằng những màu đã tìm sẵn và đã ấn
định cho những chỗ nào rồi. Nghệ thuật của Gia Trí không thế. Nó là ý tưởng,
cảm tình của Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ
mà ra.
Đứng trước
những tác phẩm ấy, người ta cảm thấy tất cả cái băn khoăn, yêu muốn, khoái lạc
- thứ nhất là khoái lạc! - của Gia Trí.
Trên những
mầu hồng nhợt biến hóa, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như
đổi cả thể chất thành quý vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên,
rít như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc.
Chàng nghệ sĩ
ấy yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét
vuốt ve, mềm mại, lúc dữ dội bằng dăm bẩy nét quẹt mạnh, đập tung, cào cấu.
Cả tạo vật là
tình nhân của anh chàng ấy. Đường cong cánh hoa, hình sắc cây cỏ, anh ta cũng
say mê bằng bóng dáng mỹ nhân. Vạn vật đối với nghệ sĩ chỉ đáng yêu có sắc và
hình.
Muốn hiểu Gia
Trí, xét bằng con mắt thường không được. Thấy mặt những đàn bà họa trên nhiều
bức bình phong, rạn mảnh vỏ trứng hay sây sát vàng son, ta đừng nghĩ đến khuôn
mặt bằng xương, bằng thịt.
Những màu
hoen hoen ấy, đứng cạnh nhau, cân đối, dung hoà một cách tuyệt khéo, đem lại
cho người biết hưởng những cảm giác bồn chồn, rạo rực như hương sắc quyến rũ
của mỹ nhân.
Bởi tác phẩm
Gia Trí là tâm trạng của người tạo ra nó, nó cũng dồi dào, linh động, phức tạp
vì biến theo tâm trạng. Không một khuôn khổ, không một nếp nào có thể ngừng nó
lại.
Bốn bức bình
phong bày trong phòng triển lãm, bốn lối bố cục, bốn cách dùng màu.
Nhân vật đặt
trong những hoàn cảnh đặc biệt, chỗ thực, chỗ hư: những cô gái quê giấu kín
thân hình trong đụn áo luộm thuộm, sù sù ở bức tả "Đình làng vào
đám", với sự thực ngộ nghĩnh, buồn cười; những bóng ma hình người dáng
điệu nhẹ nhàng khêu gợi hiện trên tấm bình phong nền vàng bệch ở thế giới nào
đưa lại, với tất cả vẻ thơ của một giấc mộng đẹp.
Có lẽ Gia Trí
chỉ sống trong tác phẩm của mình. Cắm đầu trên tấm gỗ bình phong láng nước,
chàng nghệ sĩ cặm cụi mài, mài. Cả cơ thể rung động, hai mắt sáng quắc, tứ chi
run run, khí dưới cục đá mài vẩn bọt, hiện lên dầu dần những nét đắm đuối của
những người ít khi giống người.
Cứ thế, đã ba
năm rồi. Bao nhiêu kho tàng của tuổi thanh niên, bao nhiêu sức khỏe, ý trí,
tình cảm, đem tiêu đi, phung phí đi để thỏa dục vọng. Dục vọng của một nghệ sĩ
muốn có quyền tạo hóa.
Người ta nói
đến tiền. Người ta bảo Gia Trí mòn sinh lực để làm một việc khéo lắm chỉ đủ
nuôi miệng.
Người ta đã
làm một việc thừa. Ai lại đem chuyện tiền, chuyện kiếm ăn để cảnh tỉnh một
người si tình".
Tô Tử
Những dòng trên đây, Tô Ngọc Vân viết để
từ biệt người bạn đi làm cách mạng, vì sau đó Tô Ngọc Vân sẽ thay thế Nguyễn
Gia Trí trên báo Ngày Nay. Tình bạn của hai thiên tài, giống như tình bạn Khái
Hưng Nhất Linh có gì giống nhau. Nhờ sự kết hợp tư tưởng và nghệ thuật của
những người như thế nên chúng ta mới có thời kỳ Ánh sáng như tôi đã nói đến.
Bài Nguyễn Gia Trí và sơn
ta không những đặc biệt sâu sắc về cách diễn tả nghệ thuật sơn mài của
Nguyễn Gia Trí mà còn xoáy sâu vào xương thịt họa sĩ khi nhập đồng sáng tạo.
Chưa hết, còn một đặc điểm nữa, ở thời bình minh quốc ngữ, Tô Ngọc Vân đã đưa
ra một thứ tiếng Việt ngắn, gọn, sắc, bạo, lạ thường, vượt xa trăm dặm những
người cùng thời.
Chú thích:
[1] Họa sĩ Quang Phòng sinh ngày
4-3-1925 ở Thái Bình, học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, từ 1941-1945;
năm 1947 gia nhập Quân đội Nhân dân, tốt nghiệp mỹ thuật ở chiến khu Việt Bắc
năm 1951. Năm 1956 làm giảng viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam.
[2] Quang Phòng trong bài 1925-1945,
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương và thời kỳ hội họa trước Cách Mạng, in
trong sách Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội,1996,
trang 7.
[3] Quang Phòng, bài đã dẫn, in
trong Mỹ thuật hiện đại Việt Nam, trang 8.
[4] Như cô Chamine… các ông Camille
Mauclair, Paul Eyduox, Ivanhoé Rambassoo, Thiébault Sisson vân vân, chú thích của Nhất Linh.
[5] Wikipédia, tiếng Pháp: "En
1925, il est chargé avec son ami, le peintre Nguyễn Nam Sơn de la création de
l’Ecole Supérieure des Beaux Arts de L’Indochine". Wikipédia
tiếng Anh: "In 1925, he and his friend, the painter Nguyễn Nam
Sơn, created the Ecole des Beaux-Arts de L’Indochine".
[6] Nhà xuất bản Tổng Hợp tp.HCM và Bảo
tàng Mỹ thuật tp.HCM, 2018.
[7] Trong cuốn L’aveuglement
De Gaulle face à l’Indochine (Sự mù quáng của De Gaulle về Đông
dương), Nxb Remi Perrin, Paris, 2003, trang 38.
[8] In trong Lê Thị Lựu Ấn
tượng hoàng hôn, Nxb Tổng Hợp Tp.HCM và Bảo Tàng Mỹ thuật, Tp.HCM, 2018, trang
81.
[9] In lại trong sách Lê Thị
Lựu Ấn tượng hoàng hôn, trang 91.
[10] Đại Hội Đồng Kinh tế và Tài chính
gồm các đại diện Pháp, bản xứ, do hội đồng dân cử của mỗi xứ trong liên bang
Đông Dương bầu ra và gồm thêm một số thân hào nhân sĩ Pháp và bản xứ do Toàn
quyền chỉ định. Đại Hội Đồng có thẩm quyền tư vấn về các vấn đề kinh tế tài
chính, có thẩm quyền thảo luận về các thứ thuế gián thu và các công trái. (Đặng
Hữu Thụ, Làng Hành Thiện thời Tây Học cho đến năm 1954, quyển
thượng, tác giả xuất bản, Melun, Pháp, 1999, trang 16).
Giới thiệu và
cổ động Thơ mới
Phong Hóa nghĩ ra nhiều thứ lần
đầu tiên áp dụng trên báo như các mục Dòng nước ngược, Những
hạt đậu dọn, Bàn ngang, Tin văn vắn… sau này được người ta
bắt chước, tạo những mục tương tự. Ngày Nay lần đầu tiên in bản nhạc, giới
thiệu các nhạc phẩm tiên phong và đăng những bài biên khảo về âm nhạc của
Nguyễn Xuân Khoát.
Nhưng Tự Lực văn đoàn, trong tờ báo xuân
đầu tiên, Phong Hóa làm thêm một việc tiên phong nữa là giới thiệu Thơ
mới.
Phan Khôi
Như chúng ta đã biết, người sáng tạo ra
thơ mới là Phan Khôi, tác giả bài Tình già, và ông còn viết bài
tiểu luận "Một lối thơ mới trình chính trong làng thơ" giải
thích tại sao cần phải có "thơ mới", bởi vì "thơ cũ" bị gò
bó trong niêm luật, không thể diễn tả đầy đủ ý tưởng mà nhà thơ mong muốn; vì
thế phải phá cái niêm luật tù túng đó đi.
Bài tiểu luận này và bài thơ Tình
già được công bố lần đầu trên Tập Văn Mùa Xuân, báo Đông Tây, cuối
tháng 1-1932, rồi trên Phụ Nữ Tân Văn số 122 (10-3-32) nhưng không có tiếng
vang đáp lại.
Phan Khôi chán nản, muốn bỏ cuộc.
Khi Phong Hóa số 14 (22-9-32) ra đời,
trong mục Văn Học, do Khái Hưng phụ trách với bút hiệu Văn Lực, ông viết bài tiểu
luận tựa đề Thơ, nội dung đồng ý với Phan Khôi, chỉ ra những gò bó
niêm luật, câu chữ đối xứng, hình ảnh sáo mòn trong thơ cổ điển và hô hào phải
bỏ hết:
"Tả mùa
thu thì bất cứ mùa thu ở Chapa hay ở Hà Tiên tất phải dùng những ý: lá vàng,
gió vàng, nhạn kêu sương, lá ngô đồng rụng. Kỳ thực về mùa thu ở nước ta chỉ
thấy chảy mồ hôi tay và ánh sáng mặt trời trong vắt, song những ý ấy mới, không
có ở cổ thi, dùng sao được!
Một lần hai
cụ Cử ngồi bình thơ cho nhau nghe, một cụ tả mùa thu có tuyết, cụ kia vội kêu:
- Mùa thu làm
gì có tuyết!
- Sao lại
không có? Trong bài tả mùa thu của Lý Bạch chả có tuyết là gì?
… À phải, tôi
nhớ, phải… mùa thu có tuyết.
Vì theo cổ
nhân quá, nên các thi sĩ ta phần nhiều thường mắc cái bệnh dùng rất nhiều sáo
ngữ.
Tả người Mỹ nữ
thì bao giờ cũng phải: nghiêng nước nghiêng thành, nhạn sa cá nhảy, xanh như
liễu, gầy như mai, làn thu thủy, nét xuân sơn.
Tả thời gian
mau chóng thì tất phải: vùn vụt như tên bay, bóng ngựa qua cửa sổ.
Tả đời người
ngắn ngủi thì khó lòng bỏ qua được những chữ: giấc mộng kê vàng, đời người như
gang tay.
Sự giản tiện
nhất cho ta là phê một chữ "bỏ". Bỏ luật, niêm, đối, bỏ điển tích,
sáo ngữ. Nghĩa là tóm tắt: Đừng bắt chước cổ nhân. Thơ ta phải mới: mới văn
thể, mới ý tưởng" (Phong
Hóa số 14).
Sự đồng tình của Khái Hưng với Phan Khôi
đã rõ ràng.
Bốn tháng sau, trên Phong Hóa Xuân, số
31 (24-1-33) vẫn trong mục Văn học, xuất hiện bài Lối thơ mới, ký
tên Phong Hóa, không những giới thiệu Thơ mới mà còn hết lòng
thuyết phục Phan Khôi đừng nản chí, phải tiếp tục con đường.Lối thơ mới trên Phong Hóa số 31 Bài Lối thơ mới mở đầu
bằng lời giới thiệu đại ý: Chúng tôi vừa nhận được một bức thư của cô Liên
Hương gửi cho ông Phan Khôi, đính kèm bài thơ [Tình già] của Phan Khôi và mấy
bài thơ của Lưu Trọng Lư. Chúng tôi quyết định đăng bởi vì cô Liên Hương "ý
tưởng có nhiều chỗ giống ý tưởng bản báo" đã nêu trong bài viết
trên Phong Hóa số 14. "Bản báo" sẽ tiếp tục đăng trên mục Văn Học này
những bài thơ mới của các bạn thi sĩ khác gửi đến.
Đọc "lá thư ngỏ" này của cô
Liên Hương, chả cần nghĩ lung, ta cũng đoán được cô Liên Hương chính là Khái
Hưng.
Không tiện ủng hộ bạn một cách trực
tiếp, nhất là hai người lại đồng ý với nhau về việc cải tổ thơ, nên Khái Hưng
mượn tên Liên Hương để viết thư ngỏ cho Phan Khôi như sau:
"Bức thư
ngỏ cùng Phan Khôi Tiên sinh, sau khi đọc bài "Một lối thơ mới trình
- chính trong làng thơ"
Phan Tiên
sinh,
Cách đây đã
lâu, Tiên sinh có đưa trình chính giữa làng thơ một lối thơ mới. Tôi đọc bài ấy
rồi tôi cứ đợi mãi, đợi mãi mà sau Tiên sinh không thấy có ai nối gót theo, mà
chính Tiên sinh cũng không buồn giở dói việc ấy nữa. Thế là thôi. Cái "của
mới" ấy có lẽ chưa thích hợp với đời này. Mấy muôn độc giả đã yên trí như
vậy, mà hẳn Tiên sinh cũng đã từng chau mặt giậm chân mà nói rằng: "Thôi,
không ai ưa thì ta xếp nó lại đã, đợi khi khác ta lại mang ra". Thưa Tiên
sinh, đợi khi khác, khi nào nữa? Thi ca ta ngày nay đương lúc ngấp ngoải, không
còn có lấy một chút sinh khí. Nếu không xoay phương cứu chữa gấp, thì ôi thôi,
còn chi là tính mạng của thi ca? Đừng có nói láy lắt như vậy, Tiên sinh ạ! Nếu
Tiên sinh cứ giữ mãi thái độ tiêu cực ấy, thì bọn thi nhân "rỗng
tuếch" kia còn cứ ca đi hát lại những câu sáo hủ nghìn xưa mà không thấy
nở ra được những bậc thi nhân chân chính (…)
Dám khuyên
tiên sinh nên mạnh dạn một lần nữa mà tiến lên đường.
Cái lối thơ
mới của chúng ta là đương ở vào cái thời kỳ phôi thai, thời kỳ tập luyện,
nghiên cứu. Không biết rồi đây nó có đi được đến chỗ thành công, hay là nửa
đường mà bị đánh đổ! Đó là sự bí mật của lịch sử văn hóa mai sau! Dầu thế nào
đi nữa nó cũng có cái giá trị là giúp cho sự tự do phát triển của thi ca, đưa
thi ca đến một chỗ cao xa rộng lớn, nó như thúc giục, như khiêu khích, như kêu
gọi nhà thi nhân ra làm một cuộc cách tân, dầu có thất bại, thất bại vì lòng
mong ước quá cao, thì nó cũng đã hiến cho ta một cái công lớn: nó chính là một
tiếng chuông cảnh tỉnh làng thơ giữa lúc đương triền miên trong cõi
"chết" (Phong Hóa số
31).
Lời thư bộc lộ tâm trạng của Phan Khôi.
Làm gì có cô Liên Hương nào biết rõ thế? Lại gói ghém cả tình hình thi ca lúc
bấy giờ: Sự tê liệt của "thơ cũ". Thơ mới còn trong thời kỳ phôi
thai, tập luyện, chưa biết ra sao, có sống được hay không? Tác giả không những
đi guốc vào bụng Phan Khôi mà còn có cái nhìn bao quát về tình trạng thi ca
Việt Nam thập niên 30 như thế, thì chỉ có Khái Hưng, người đã cải tạo văn xuôi
với Hồn bướm mơ tiên, và bằng những lời tâm huyết này, vừa kích
động Phan Khôi, vừa cổ võ cho sự xây dựng một nền thơ mới, trên đống tro tàn
của thơ cũ.
Bài thơ Tình già của
Phan Khôi, in trên Phong Hóa, xuống dòng đúng chỗ, hay hơn những bản khác in
theo lối văn xuôi:
"Hai
mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn
mờ, trong gian nhà nhỏ.
Hai mái đầu
xanh, kề nhau than thở:
- Ôi đôi ta,
tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau
hẳn là không đặng.
Để đến nỗi
tình trước phụ sau
Chi cho bằng
sớm liệu mà buông nhau.
- Hay! mới
bạc làm sao chớ?
Buông nhau
làm sao cho nỡ,
Thương được
chừng nào, hay chừng nấy.
Chẳng qua ông
trời bắt đôi ta phải vậy.
Ta là nhân
ngãi đâu phải vợ chồng
Mà tính việc
thủy chung?
Hai mươi bốn
năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau,
Đôi cái đầu
đều bạc.
Nếu chẳng
quen lung, đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ
mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi
Con mắt còn
có đuôi. (Phong Hóa số
31, 24-1-33)
Tình già được công nhận là bài thơ
mới đầu tiên của thi ca Việt Nam. Ngày nay đọc lại, ta có thể xem là
một bài thơ tự do, bởi vì Phan Khôi đã bỏ âm điệu do niêm luật, để tạo ra âm
điệu của riêng mình. Về mặt tư tưởng, đây là lời tâm sự của hai kẻ sống chung,
mà không cưới hỏi, thời đó là mới lắm.
Lưu Trọng Lư
Vẫn trên Phong Hóa Xuân, số 31, cùng với
thơ Phan Khôi còn có ba bài thơ của Lưu Trọng Lư, bài đầu tám câu, chưa có tên:
"Đủng
đỉnh một con thuyền,
Trăng lên đầu
ngọn núi.
Đối cảnh với
người yêu,
Cầm tay tôi
gạn hỏi:
"Mộng
Vân ơi! vũ trụ ngó bao la,
Nên cười hay
nên tủi?
Lặng lặng tự
Hằng Nga,
Vân nhìn tôi
mà chẳng nói" (Phong
Hóa số 31)
Ta thấy ngay Lưu Trọng Lư mới là nhà thơ
chính hiệu, Phan Khôi chỉ là nhà thơ nghiệp dư. Từ những câu thơ còn bỡ ngỡ
trên đây, mấy năm sau, Lưu Trọng Lư sửa lại và làm thêm, thành bài thơ
dài Một mùa đông, với những câu mở đầu:
Đôi mắt em
lặng buồn
Nhìn thôi mà
chẳng nói
Tình đôi ta
vời vợi
Có nói cũng
không cùng
Có nói cũng
không cùng…
Với bài này, thơ mới đã
chuyển từ sự mô tả hời hợt những tình cảnh thơ mộng ban đầu, sang lối truyền
cảm sâu lắng trong mỗi chữ: thơ Lưu Trọng Lư đã vượt thơ Thế Lữ.
Bài Một mùa đông là
tuyệt tác, thơ, của Lưu Trọng Lư, sau này, Phạm Đình Chương phổ nhạc đổi
thành Mắt buồn, và qua giọng hát Thái Thanh, trở thành tuyệt tác
thi nhạc.
Cũng trên Phong Hóa số 31, còn có 3 bài
thơ nữa của Lưu Trọng Lư: Trên bãi biển Giấc mộng tình, Lại nhớ Vân, Vì
sương thu đổ, cả ba đều có những ý, những chữ, chứa đựng thế giới hình
ảnh và không gian thơ Lưu Trọng Lư sau này: người em ngồi bên của sổ, lặng
nhìn nhau, và sự phù du của cuộc tình, cuộc đời:
"Trên
cái vô tình vạch chữ Vân
Ta vừa vạch
xong, sóng xóa dần" (Giấc
mộng tình, Phong Hóa số 31)
Những câu như thế đã xác định căn cước
thơ Lư Trọng Lư ngay từ những bài đầu và Khái Hưng đã nhìn thấy, đã lựa ra và
đăng trên Phong Hóa cùng với thơ Phan Khôi. Một lựa chọn sành điệu.
Sau này, Lưu Trọng Lư làm một bài thơ đề
"tặng em Triệu" trong tập Tiếng thu, đó là
bài Chị em, có những câu:
Em bước vào đây,
Gió hôm nay
lạnh,
Chị đốt than
lên,
Để em ngồi
cạnh.
Nay chị lấy
chồng
Ở mãi Giang
Đông.
Dưới làn mây
trắng
Cách mấy con
sông.
Lưu Trọng Lư tặng em Triệu những
lời thơ như thế, hẳn không phải vô tình.
Và Huy Cận cũng có bài Tựu
trường trong tập Lửa thiêng đề tặng em Triệu.
Vậy hai "em Triệu" này chắc là
một, là cậu bé Trần Khánh Triệu, con nuôi Khái Hưng, con ruột Nhất Linh.
"Em Triệu" được các thi sĩ tặng thơ phải chăng vì họ cảm kích tấm
lòng của "papa Khái Hưng" đối với họ và thơ mới?
Thơ Lưu Trọng Lư nhẹ nhàng, trong sáng,
không cầu kỳ, không dụng chữ, chỉ là những tiếng nói thông thường, do ảnh hưởng
lối văn Hồn bướm mơ tiên chăng? Thực vậy, chỉ cần một câu
hỏi: Em không nghe mùa thu? nhưng khi cất lên là đã thấy đớn
đau, luyến tiếc, ngậm ngùi. Sau này Nguyễn Đình Thi có những bài thơ hay, cũng
đi theo con đường ấy.
Đó là câu chuyện về "nguồn gốc thơ
mới".
Cũng trên Phong Hóa số 31 (24-1-33),
ngoài bài Tình già của Phan Khôi, và thơ của Lư Trọng Lư, còn
có thêm hai bài Gượng vui và Cái vui ở đời của
Tân Việt (Nhất Linh) và bài Ngày xuân vắng khách thơ của Thanh
Tâm. Thơ Tân Việt và Thanh Tâm không có gì đặc sắc.
Sau số xuân 31, Phong Hóa vẫn kiên trì
giới thiệu thơ mới, nhưng Lưu Trọng Lư có diễn đàn riêng, nên không đăng thơ
trên Phong Hóa.
Trên Phong Hóa số 32 (3-2-33), Tứ Ly làm
bài thơ mới Trên sông Đáy, khá hay, lấy ý từ Tỳ bà hành,
tiếc rằng sau đó Tứ Ly không làm thơ nữa.
Tiếp tục cổ động cho Thơ mới, Phong
Hóa số 36 (3-3-33) đăng bài thơ Im lặng của Tân Việt và bài
tiểu luận Thế nào là thơ mới của Nhất Linh, cả hai đều không
có gì đặc biệt vì Nhất Linh không chuyên về lý thuyết thơ. Đến Phong Hóa số 38
(17-3-33), Nhất Linh làm thêm bài thơ Hai thế giới, cảm hứng
từ truyện Mực tầu giấy bản của Nhị Linh (Khái Hưng), và Phong
Hóa số 39 (24-3-33) Nhất Linh làm bài thơ chính trị Dân quê, ký
tên Tân Việt, đó là bài thơ cuối cùng. Những bài thơ này của Nhất Linh sau sẽ
được ông đăng lại trên Văn Hóa Ngày Nay.
Thế Lữ
Thế Lữ, thơ, có mặt từ Phong Hóa số 31
(24-1-33) với bài Con người vơ vẩn, được Tự Lực văn đoàn tích
cực hỗ trợ, trên Phong Hóa số 54 (7-7-33) Nhất Linh viết bài Nguyễn Thế
Lữ, Một nhân vật mới trong làng thơ mới, giới thiệu nồng nhiệt. Thế Lữ nổi
tiếng ngay.
Thơ ông, gồm khoảng 21 bài được đăng
trên Phong Hóa từ số 31 (24-1-33) đến số 103 (22-6-34): Con người vơ
vẩn, Lựa tiếng đàn, Người phóng đãng, Tiếng chuông chùa, Trước
cảnh cao rộng, Hồ xuân và thiếu nữ, Hoài Xuân, Mĩa mai, Tiếng trúc tuyệt vời,
Mộng ảnh, Tình bâng khuâng, Nhan sắc, Tiếng gọi bên sông, Bông hoa rừng, Mấy
vần thơ ngây, Hổ nhớ rừng, Bóng mây buồn I, II, III, Một giấc mơ dữ dội, Bên
sông đưa khách [1].
Bài thơ đầu tiên, Con người vơ
vẩn tặng Trần Bình Lộc, đã có bốn câu thật hay:
"Cơn gió
thổi… lá bàng rơi lác đác,
Rơi theo loạt
nước đọng trên cành.
Những cây khô
đã chết cả mầu xanh,
Trong cái
phút lạnh lùng tê tái ấy." [2]
Thơ Thế Lữ có cốt lõi lãng mạn: con
người nhìn cảnh vật, đắm mình trong cảnh vật, tả lại cái cảnh vật đã
được nhuộm bằng tình cảm của riêng mình: nghĩa là thi sĩ buồn, thì
cảnh cũng buồn theo; thi sĩ mơ màng thì tiếng trúc cũng dặt dìu theo tâm hồn
thi sĩ; đó chính là cái lãng mạn thời Lamartine. Ngay ở trong những câu thơ đầu
tiên này, ta đã thấy sự khác biệt sâu xa giữa Thế Lữ và Lưu Trọng Lư: Thơ Lưu
Trọng Lư nói lên tâm sự của mình, nội tâm của mình. Chỉ mấy câu đơn sơ tặng em
Triệu:
Em bước vào
đây,
Gió hôm nay
lạnh,
Chị đốt than
lên,
Để em ngồi cạnh.
là đã thấy tha thiết tình yêu hai chị
em, mối tình không nói mà vẫn tỏa ra, sưởi ấm hồn em và hồn
ta, người đọc. Trong khi thơ Thế Lữ, lời đẹp, chải chuốt, cảnh lạ, âm điệu
tuyệt vời, nhưng lại thấy rõ: một bên là cảnh vật, một bên là con người, không
thông thương, dù tác giả đã đưa ra câu Trong cái phút lạnh lùng tê tái
ấy. Nhưng cái phút lạnh lùng tê tái ấy là của tác giả làm
văn chương viết ra, với ý phô trương, còn câu: Chị đốt than lên, để em
ngồi cạnh, là tự đáy lòng người chị, đốt than trong yên lặng, là tình yêu
không nói, và cũng là thực chất thơ Lưu Trong Lư.
Một trong những tuyệt tác của Thế Lữ là
bài Tiếng trúc tuyệt vời (Phong Hóa số 69, 20-10-33):
Tiếng địch
thổi đâu đây,
Bởi vì đâu
réo rắt?
Lơ lửng cao
đưa tận lưng trời xanh ngắt.
Mây bay… gió
quyến mây bay…
Tiếng vi vút
như khuyên van như dìu dặt,
Như hắt hiu
cùng hơi gió heo may.
Ánh chiều thu
Lướt mặt hồ
thu
Sương hồng
lam nhẹ lan trên sóng biếc
Rặng lau già
sao sác tiếng reo khô
Như khua động
nỗi nhớ nhung thương tiếc
Trong lòng
người đứng bên hồ… (Phong Hóa số
69)
Bài thơ này tiêu biểu cho lối tạo âm và
tạo hình trong thơ Thế Lữ: lấy mỹ thuật làm nền.
Ở đây âm thanh và hội họa gắn bó mật
thiết với nhau: Tiếng địch không chỉ là tiếng địch suông, mà nó còn bay lên
trời, quyến vào gió, vào mây, nên ta không chỉ nghe thấy mà
còn nhìn thấy nó đang bay lên, tiếng nó vi vút, như khuyên
van, hiu hắt như gió heo may đang thổi. Tất cả trạng huống này nẩy sinh từ tâm
hồn người đứng bên hồ, được thi sĩ phóng lên không trung.
Thơ Thế Lữ thời đó, hết sức mới lạ so
với Giọt lệ thu của Tương Phố. Lời thơ trau chuốt, âm thanh mê
đắm, mầu sắc tung bay, nhiều người bắt chước nhưng không làm được: Thế Lữ là
chủ soái.
Nhưng Thế Lữ không thoát ra khỏi lối thơ
của mình, ông bị giam trong thế giới lãng mạn Lamartine thế kỷ XIX, với những
lời đẹp đẽ du dương. Nhưng lời đẹp sẽ phôi pha nếu không có trái tim, nên chỉ
vài năm sau, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Hồ Dzếnh đều vượt ông vì ngôn ngữ của họ
giản dị hơn, thành thật hơn, và Nguyễn Bính, riêng một cõi, tạo ra thi pháp đau
thương độc đáo mà tôi gọi là cấu trúc thi thoại, hay thơ
nói, rồi Bích Khê, một trường thơ siêu thực huyền bí âm giai và nhất là Hàn
Mặc Tử phi trường phái, trở thành ngôi sao bắc đẩu trên nền trời thi ca nước
Việt.
Vũ Đình Liên
và Phạm Huy Thông
Trong thời gian này, ngoài Thế Lữ, Phong
Hóa còn giới thiệu hai nhà thơ khác là Vũ Đình Liên và Phạm Huy Thông.
Từ số 50 (9-6-33) Phong Hóa giới thiệu
thơ Vũ Đình Liên, với những bài: Đứa trẻ ăn mày, Cô hàng
bán lá sim, Chiêu Quân, Lòng thương, Thân tàn ma dại, Ngày khai
trường, Tiếng hát ru [3].
Vũ Đình Liên làm thơ theo hướng tả thực,
bài Đứa trẻ ăn mày, dưới tên tác giả ghi hai chữ: Trường
luật, chứng tỏ ông là sinh viên, đã viết:
Trong phố
vắng lang thang một đứa trẻ
Mồ côi chừng
lên chín lên mười.
Mình trơ
xương mặc áo rách tả tơi
Quần lá tọa [4] buông ống cao ống thấp (Phong Hóa số 50)
Vũ Đình Liên là nhà thơ xã hội đầu tiên,
bài Đứa trẻ ăn mày, xác định lối thơ hiện thực nhìn xuống những
thân phận nghèo nàn, khốn khổ, khác hẳn lăng kính lãng mạn của những người cùng
thời. Vũ Đình Liên nói với người yêu:
"Vì tôi
muốn Tuyết Lan bớt một phần ân ái
Dành cho
những kẻ khốn cùng khổ ải" (Lòng thương, Phong Hóa số 108)
Thơ Vũ Đình Liên bình dị và bình dân,
với nhiều đề tài khác nhau, chú ý đến những cảnh đời xưa nay không được thi
nhân lưu ý, như cô gái thượng du (Cô hàng bán lá sim), người dân nghèo (Thân
tàn ma dại), học sinh (Ngày khai trường)… Riêng bài Chiêu
Quân mang âm hưởng cổ kim khác lạ, ít thấy ở buổi đầu của thơ mới:
Gió lặng, mây
im, nước lững lờ
Trôi về Hàn
quốc, góc trời xa
Hai con chim
nhạn bay giao cánh
Dậm thẳng xe
tung cát bụi mờ (Phong Hóa số
104)
Bài Ngày khai trường [5] rất
nổi tiếng, lời thơ đơn mạc, được đưa vào chương trình giáo khoa cùng với
bài Ông đồ:
Mỗi năm hoa
đào nở
Lại thấy ông
đồ già
Bày mực tàu
giấy đỏ
Bên phố đông
người qua…
mà hầu hết chúng ta ai cũng thuộc. Ông
đồ là một tuyệt tác, lời thơ nhẹ nhàng như lời nói nhưng âm thầm sâu
sắc: tất cả những đau thương lập đi lập lại như những điệp khúc của một cuộc
đời, ẩn dưới sự phôi pha của ngày tháng, sự quên lãng của con người…
Phạm Huy
Thông
Cùng thời với Vũ Đình Liên, Phong Hóa
khuyến khích và đăng thơ Phạm Huy Thông. Từ số 62 (1-9-33) đã có bài thơ Sống của
Phạm Huy Thông, tiếp đó là những bài: Vọng hương ca, Cùng
mặt trời, Nguyễn Du, Rạng đông rồi, Ngày Xuân, Tiếng rừng, Tiếng
hát buổi chiều, Tiếng họa mi ca, Chiều hôm qua, Nhớ không…[6] Thơ
Phạm Huy Thông được đăng tất cả khoảng 11 bài, trên Phong Hóa trong hai năm
1933-1934. Và theo lời nhà thơ, ông đã được Nhất Linh nhiệt thành giới thiệu.
Tuy nhiên, không hiểu sao Phạm Huy Thông lại được hưởng "ân huệ" ấy,
bởi vì trong giai đoạn này, thơ Phạm Huy Thông, âm điệu trục trặc, lời lẽ vụng
về, trừ bài Tiếng họa mi ca có những câu khá hơn cả:
Tưởng thời
khắc thôi không chảy nữa.
Chống khủy
tay vào cửa sổ tròn
Ta buồn lặng
để tâm hồn
Phiêu phiêu
bến mộng chập chờn cung trăng
Bỗng tự đâu
ta không biết hẳn
Khoảng đêm
trường yên vắng như tờ
Họa mi vui
cất tiếng ca
Khi khoan,
khi nhặt, khi xa, khi gần
Khi gần sát
bên tai the thé
Như luôn luôn
lụa xé rất mau
Khi xa, xa
tít mây cao
Tưởng lời
thổn thúc chùm sao mơ hồ. (Phong Hóa
số 120)
Lời thơ báo hiệu con đường hùng ca của
tác giả Tiếng địch sông Ô: Không gian mở rộng lên trời, một không
gian vô tận, để người anh hùng vùng vẫy. Nhưng sự cao cường, ngạo nghễ, hùng
tráng của Phạm Huy Thông, luôn luôn có gì gượng ép, hơi gồng, kiểu anh hùng
rơm, không được tự nhiên, chân thật và cao đạo như thơ Vũ Hoàng Chương sau này.
Nguyễn Bính
Nguyễn Bính được đăng thơ lần đầu trên
Phong Hóa số 116 (21-9-34) với bài Cô hái mơ, năm ông 15 tuổi. Bài
thơ có bốn câu cuối như sau:
Cô hái mơ ơi!
Không trả lời
nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi
đi rồi khuất bóng
Rừng mơ hiu
hắt lá mơ rơi!
Những câu thơ già dặn của một cậu bé 15
tuổi. Không thể tưởng tượng trong tâm hồn người thiếu niên đã có những oán
trách của một kẻ lữ hành trong tang thương dày kinh nghiệm:
Không trả lời
nhau lấy một lời, cứ lặng rồi đi rồi khuất bóng…
Cứ lặng rồi
đi rồi… hai chữ rồi kế
tiếp, gây tác động tan nát như thế, chỉ có… Nguyễn Du, mà lại ở một cậu bé 15
tuổi.
Phạm Duy phổ nhạc bài thơ này, trở thành
bản nhạc đầu tiên của Phạm Duy.
Năm 18 tuổi, Nguyễn Bính nhận giải
(khuyến khích) thơ Tự Lực văn đoàn 1937, với tập Tâm hồn tôi.
Trong Tâm hồn tôi đã có những câu thơ già như thế kỷ:
Sư già quét
lá sau chùa
Để thiêu xác
lá trước giờ lên chuông
Hoặc những câu tha thiết hơn vạn đời
tình:
Hồn anh như
hoa cỏ may
Một chiều gió
cả bám đầy áo em
Sau này, Lê Đạt chịu ảnh hưởng Nguyễn
Bính, làm những câu thơ tình đẫm máu tâm hồn. Sự khám phá Nguyễn Bính của Tự
Lực văn đoàn là một công trạng.
Nguyễn Bính là một rừng thơ, tất cả
những nhà thơ bẩm sinh đều như vậy, nhưng chỉ Nguyễn Bính, cậu trai 18 tuổi,
với một chiếc lá, có khả năng làm dao động não trạng của cảm giác, chạm đến
huyệt lạnh của cô đơn:
Thu đi trên
những cành bàng
Chỉ còn hai
chiếc lá vàng mà thôi
Hôm qua đã
rụng một rồi
Lá theo gió
cuốn ra ngoài sơn thôn
Hôm nay lá
thấy tôi buồn
Lìa cành theo
gió lá luồn qua song
Hai tay ôm lá
vào lòng
Than ôi!
Chiếc lá cuối cùng là đây
Quạnh hiu như
tấm thân này
Lại âm thầm
sống những ngày gió mưa.
(Cây bàng cuối thu, trong Tâm
hồn tôi)
Bài thơ định mệnh, sẽ bám theo Nguyễn
Bính suốt đời.
Xuân Diệu
Trong giai đoạn cuối năm 1935, đầu 1936,
Phong Hóa khám phá ra Xuân Diệu, một tài năng mới, với ba bài thơ: Với
bàn tay ấy…, Nụ cười xuân và Vì sao [7] cả
ba bài đều hay, bài đầu in cách bài sau 6 tháng.
Với bàn tay
ấy… in trên
Phong Hóa số 158 (18-10-35), lúc này Xuân Diệu đang học lớp Tú tài I ở trường
Bưởi, có lẽ là bài thơ đầu tiên gửi đăng báo, diễn tả tình yêu đồng tính (về
sau đề tặng Huy Cận) rất tế nhị và kín đáo, đã cho thấy phong cách thơ của ông:
ảnh hưởng sâu đậm lối giao cảm (correspondance) với thiên nhiên của Baudelaire.
Một cảnh đêm, nhưng nếu nhà thơ nhìn, nghe, thấu, lọt, trong thiên
nhiên với nhãn quan và thính giác mẫn cảm, sẽ thấy một quang cảnh hoàn toàn mới
lạ:
Một tối vòm
trời chẳng bợn mây
Cây tìm
nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Hoa nghiêng
xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống
làn rêu, một tối đây.
Đó là bốn câu thơ tình vào loại hay nhất
của Xuân Diệu, cũng là những dòng thơ đầu tiên phản ảnh mối tình vụng trộm tha
thiết của Xuân Diệu với Huy Cận. Hình ảnh ái ân cực kỳ tế nhị, ẩn trong thân
xác cỏ cây:
Cây tìm
nghiêng xuống nhánh hoa gầy
Hoa nghiêng
xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống
làn rêu, một tối đây.
Về cách xếp đặt, Xuân Diệu đã làm theo
lối các cụ gọi liên cú, tiếng Pháp là enjambement, tức
là câu trên liền nghĩa với câu dưới, sau này sẽ được phái Tân hình thức lấy
lại, gọi là thơ vắt dòng, và đề cao như một lý thuyết mới.
Câu: Một tối vòm trời chẳng bợn
mây, sau sẽ sửa thành: Một tối bầu trời đắm sắc mây, hay
hơn. Người ta bảo nhờ Thế Lữ sửa chẳng bợn mây thành đắm
sắc mây, khi đăng báo. Nhưng bản này tôi chép trên báo Phong Hóa, thấy
chưa sửa.
Câu: Nghiêng xuống làn rêu, một
tối đây, sau sửa thành: Nghiêng xuống làn rêu, một tối
đầy, cũng hay hơn. Người ta lại bảo nhờ Thế Lữ sửa đây thành đầy. Tôi
vẫn chép bản in trên báo Phong Hóa, vẫn chưa thấy sửa. Người ta ở đây là Hoàng
Trung Thông [8].
Vậy Thế Lữ có sửa thơ Xuân Diệu thật không? Hay lại là một huyền thoại Hoàng
Trung Thông thêm vào để xưng tụng Thế Lữ, lúc đó đang là quan to trong văn
nghệ?
Sáu tháng sau, Phong Hóa in bài thơ thứ
nhì của Xuân Diệu: Nụ cười xuân (Phong Hóa 182, 10-4-36), lúc
này Xuân Diệu đã về Huế học lớp tú tài II ở trường Khải Định với Huy Cận, bài
này đi sâu hơn vào tình yêu nhục thể và xác định một lần nữa giác quan tân kỳ
mở vào thiên nhiên của Xuân Diệu:
"Ánh
sáng ôm trùm những ngọn cao,
Cây vàng rung
nắng, lá xôn xao;
Gió thơm phơ
phất bay vô ý
Đem đụng cành
mai với nhánh đào" (Phong Hóa số182, 10-4-36)
Câu: Đem đụng cành mai với nhánh
đào rất táo bạo, sau được/bị sửa thành: Đem đụng cành mai sát nhánh
đào. Chữ sát đã vô hiệu hóa hai chữ đem đụng và
làm mất ý nghĩa xác thịt. Chữ sát đã ám sát câu thơ; không
thấy người ta nói Thế Lữ sửa.
Phong Hóa 185 (1-5-36) đăng bài thơ thứ
ba của Xuân Diệu, bài Vì sao (sau đề tặng Đoàn Phú Tứ) nói lên
những thắc mắc sâu sa của người thanh niên trước tình yêu, Xuân Diệu đi xa hơn
nữa vào sự tây hóa, có những câu nổi tiếng:
Làm sao cắt
nghĩa được tình yêu!
Có nghĩa gì
đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn
ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhẹ
nhẹ, gió hiu hiu…
Bốn câu thơ này rất nổi tiếng, nhưng
nhiều người có thể làm được, chẳng cần đến sự tinh tế và nhạy cảm của Xuân
Diệu.
Tóm lại, chỉ với ba bài thơ, Xuân Diệu
đã xác định chỗ đứng của mình trên thi đàn: hoàn toàn mới lạ về tư tưởng, về
chữ, về cách làm mới ngôn từ và tiếp cận thiên nhiên. Nhưng thơ tình của Xuân
Diệu hay bị nhạt, vì ông không dám động đến những ý nghĩ không thể nói ra được,
những cảm xúc chân thực của một người đồng tính, mà phải diễn tả tâm hồn dị
tính của mọi người, nên trở thành giả tạo, đôi khi ông viết những câu vô duyên
như:
"Vì mấy
khi yêu mà chắc được yêu
Cho rất
nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu"
Hay:
"Hỡi
xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"
Huy Cận
Ngày Nay Xuân 1938, số 96, (30-1-1938),
đăng bài Cảm xúc của Xuân Diệu, đã rất nổi tiếng với những
câu: "Là thi sĩ nghĩa là run vói gió, Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng
mây…". Và bài Chiều xưa của Huy Cận, đó là bài thơ
đầu tiên, người ta chưa biết Huy Cận là ai.
Tiếp theo là hai bài: Chiều xuân và Họa
điệu, cũng chưa có gì đặc biệt, phải đến bài thứ tư: Đẹp xưa trên
Ngày Nay số 120 (24-7-38), nếu kết hợp với bài đầu tiên Chiều xưa,
ta thấy Huy Cận đã tìm ra con đường nghệ thuật của mình [9]:
Chiều xưa:
Buồn gieo
theo gió veo hồ,
Đèo cao, quán
chật, bến đò lau thưa
Đồn xa quằn
quại bóng cờ
Phất phơ buồn
tự thời xưa thổi về
Ngàn năm sực
tỉnh, lê thê
Trên thành
son nhạt. - Chiều tê cúi đầu…
Bờ tre rung
động trống chầu
Tưởng chừng
còn vọng trên lầu ải quan
Đêm mơ lay
ánh trăng tàn
Hồn xưa gửi
tiếng thời gian, trống dồn. (Ngày Nay
số 96)
Đẹp xưa:
Ngập ngừng
mép núi quanh co,
Lưng đèo quán
dựng, mưa lò mái ngang…
Vi vu gió hút
nẻo vàng
Một trời thu
rộng mấy hàng mây nao…
Dừng cương,
nghỉ ngựa non cao
Dặm xa lữ thứ
kẻ nào héo hon…
Đi rồi khuất
ngựa sau non
Nhỏ thưa
tràng đạc [10], tiếng còn tịch liêu
Trơ vơ buồn
lọt quán chiều
Mái nghiêng
nghiêng gửi buồn theo hút người. (Ngày Nay số 120)
Trong Chiều xưa và Đẹp
xưa, đã có đầy đủ hai yếu tố chính trong thơ Huy Cận: ông chọn không
gian thơ Đường, thời xưa, ghép với nỗi buồn, hiện
đại, lúc đó gọi spleen, theo lối Edgar Poe, Baudelaire, làm
phông và nền cho thơ.
Cùng trong hoàn cảnh yêu người đồng tính
như Xuân Diệu, nhưng Huy Cận thoát ra bằng thơ không gian, vũ trụ, và đã tạo
được nỗi buồn của con người cô đơn, không thể giao tiếp niềm riêng
của mình, cũng không thể chia sẻ, với ai, trong cõi trần.
Như thế Huy Cận đã tạo được nỗi
sầu mới, sầu không gian, với lời thơ bay bổng, cao vời:
Sầu thu lên
vút song song,
Với cây hiu
quạnh, với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây
cả buổi chiều
Nhân gian e
cũng tiêu điều dưới kia. (Thu rừng)
Chế Lan Viên
Chế Lan Viên được chính Khái Hưng giới
thiệu trên Ngày Nay số 75 (5-9-37) với bài: Một thi sĩ Chàm Chế Lan
Viên, với những lời như sau:
"Một hôm tôi đọc trong báo Tràng
An, một bài phê bình thơ Chế Lan Viên với những đoạn thơ của tác giả trích ở
tập "Điêu tàn".
Tôi rùng mình
và cảm động vì tôi thấy ở trong thơ hết cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê
sợ của một nòi giống sắp tuyệt diệt, và tự biết mình sắp tuyệt diệt: giống
Chiêm Thành.
Tôi tưởng
ngay tới vua Chế Bồng Nga, một vua Chàm oanh liệt thời xưa: Hẳn ông Chế Lan
Viên thuộc dòng dõi vua ấy".
Khái Hưng cho biết thêm: Những bài thơ
của Chế Lan Viên ông nhận được đã lâu nhưng không đăng, chỉ khi tác giả viết
thư cho biết, là tập thơ sắp in chứ chưa in, ông bèn cho đăng liền một lúc bốn
bài: Hai đêm sầu não, Cái sọ người, Mơ trăng và Xương vỡ, máu trào…
Và trong hai số kế tiếp, hai bài
nữa: Xuân về, số 76 (12-9-37) và Trên đường về, số 77
(19-9-37). Rồi ngừng.
Bốn bài thơ được giới thiệu trên Ngày
Nay số 75, bài nào cũng có đoạn rất rùng rợn:
Vẳng đâu đây
rùng rợn dưới trăng mờ
Tiếng xương
người mạnh va sườn quách gỗ
Rùng rợn như
tiếng vỡ sọ dừa ta (Hai
đêm sầu não)
Này chiếc sọ
người kia mi hỡi!
Dưới làn
xương mỏng mảnh của đầu mi
Mi nhớ gì
tưởng gì trong đêm tối?
Mi trông mong
ao ước những điều chi? (Cái sọ
người)
Ai đổi đầu
lâu trong nấm mộ
Tiếng khua
vang rạn khớp đầu ta?
Có ai rên rỉ
nơi thôn lạnh
Như tiếng
xương người rên rỉ khô? (Mơ trăng)
Ta sẽ cắn
lưỡi ta cho rỏ huyết
Phun lên nền
xương trắng rợn hơi ma
Để thức tỉnh
bao giác quan tê liệt
Sẽ truyền cho
sức điện của hồn ta (Xương vỡ,
máu trào)
Chỉ rặt đầu lâu và xương người, vậy mà
không biết sao có thể làm cho Khái Hưng "rùng mình và cảm động thấy hết
cả cái đau đớn, cái thảm sầu, cái ghê sợ của một nòi giống sắp tuyệt
diệt". Kỳ thật. Rồi Hoài Thanh cũng rập theo Khái Hưng, khen lấy
khen để.
Cả sự đang đăng, tự dưng dừng, cũng kỳ.
Hoàng Diệp giải thích:
"Hồi đó
nhóm Tự Lực văn đoàn rất cẩn thận đến nghiêm khắc trong việc chọn các bài thơ,
truyện để đăng trên tuần san Ngày Nay. Quyền ưu tiên hình như thuộc về đoàn
viên trong nhóm. Nhiều độc giả của Ngày Nay rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy
Khái Hưng giới thiệu thơ Chế Lan Viên một cách rất đầy đủ. Về sau, chúng tôi
mới biết lý do. Khái Hưng đã lầm tưởng Chế Lan Viên là một người dòng dõi Chàm
thật, có bà con hoặc liên hệ với Chế Bồng Nga vì Lan Viên quê quán ở thành Bình
Định [11], thuộc phần đất của người Chàm thời
trước. Mãi đến khi Khái Hưng biết chắc chắn Chế Lan Viên là một thi sĩ Việt
mang bút hiệu người Chàm, thì trên tuần san Ngày Nay, người ta không thấy xuất
hiện một dòng chữ nào nói về thi ca của Chế Lan Viên nữa".[12]
Việc này đúng vì Khái Hưng và Thạch Lam
đều tuyệt đối chú ý đến sự thành thật của nhà văn. Khái Hưng viết: "Thành
thực, đó là đức tính không có không được của nhà văn" (Tựa Gió
đầu mùa của Thạch Lam). Thạch Lam viết trong Theo giòng: "Sự
thành thực chưa đủ cho nghệ thuật. Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực,
không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị (…) Một đôi khi người khác có thể
nhầm được, nhưng chính ta, ta không bao giờ nhầm cả. Và không có gì đáng bỉ cho
một nhà văn hơn là mình tự dối mình".
Hàn Mặc Tử
Ngày Nay số 24 (6-9-36) đăng bài
thơ Bẽn lẽn của Hàn Mặc Tử in nhầm tên là Hàn Mạc Nữ. Một bài
thơ duy nhất. Rồi thôi.
Hàn Mặc Tử là trung tâm của bất hạnh,
như ta đã biết.
Nhưng tại sao Ngày Nay có trách nhiệm
vào bi kịch này?
Hoài Thanh và Vũ Ngọc Phan, thường dựa
vào sự đánh giá của Tự Lực văn đoàn, để định vị các nhà văn, nhà thơ. Hàn Mặc
Tử ngày ấy, là một vì sao khuất. Hàn không được Tự Lực văn đoàn in thơ (một
bài Bẽn lẽn, in nhầm thành tên con gái Hàn Mạc Nữ) không ai chú ý.
Hàn không được giải thơ Tự Lực văn đoàn.
Tập Gái quê, in năm 1936 là một khai phá với những bài thơ mới lạ
về ý cũng như về lời như: Nụ cười, Tình quê, Bẽn lẽn, Uống trăng…
nhưng vẫn bị Vũ Ngọc Phan và Hoài Thanh đánh giá rất thấp. Tập thơ sau, Đau
Thương có thân phận như tên gọi của nó, sẽ bị người ta đánh mất.
Nay ta có thể chắc chắn rằng: vì Hàn Mặc
Tử không được Tự Lực văn đoàn giới thiệu, nên bị hai nhà phê bình lớn coi
thường, Vũ Ngọc Phan viết:
"Cũng
như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ luôn luôn ca ngợi ái tình, nhưng cái quan
niệm về tình yêu của của Hàn Mạc Tử không được thanh cao như của Thế Lữ. Cái
tình yêu của Hàn Mặc Tử tuy diễn ra trong tập Gái quê còn ngập ngừng… nhưng đã
bắt đầu nghiêng về xác thịt:
… Ống quần vo
xắn lên đầu gối,
Da thịt trời
ơi! trắng rợn mình… (…)
Đến bài Hát
giã gạo (Gái Quê, trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây
đặc vật chất, làm cho người ta phải lợm giọng" [13]
Chẳng biết trong bài Hát giã gạo,
Hàn Mặc Tử viết gì mà bị họ Vũ chê là "lợm giọng", đến nỗi trong các
bản in sau, bài này bị xóa sổ.
Còn Hoài Thanh xếp Hàn Mặc Tử đứng áp
chót trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam. Thế Lữ đứng đầu, dĩ nhiên.
Hoài Thanh phê Gái quê như sau:
"Gái
quê - Nhiều bài có thể là của ai cũng được" Tức là xoàng. "Còn
thì tả tình quê trong cảnh quê. Lời thơ dễ dàng, tứ thơ bình dị" Tức
vẫn xoàng. "Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối
tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre, những đồi thông. Ấy
là một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực, đầy hình ảnh khêu gợi" [14] Tức
là đồi trụy.
Tóm lại cả hai nhà phê bình lớn đều dị
ứng với thơ Hàn Mặc Tử.
Sau tập Gái quê, Hàn muốn
in Đau thương, tác phẩm chính của Hàn. Hoàng Diệp, một trong
những người bạn thân của Tử, thuộc nhóm Trường Thơ Loạn ở Quy Nhơn, kể lại:
"Thi
phẩm Gái quê xuất bản năm 1936.
Suốt ba năm
kế tiếp 1937, 1938 và 1939, ngoài sự sáng tác Hàn Mặc Tử phải mất nhiều thì giờ
trong việc kiếm tìm lại tất cả những bài thơ chàng làm, để chuẩn bị việc ấn
hành. Chàng viết thơ đến các ấn quán, các nhà xuất bản trong nước, mặc cả và
nêu lên những điều kiện in sách (…)
Chế Lan Viên
và tôi xuất bản các tập Điêu Tàn và Xác Thu [15] trong những điều kiện kinh tế thật
ngặt nghèo. Do đó, chúng ta cũng có thể biết được tình trạng gia cảnh của Hàn
Mặc Tử lúc bấy giờ ra sao.
Hàn Mặc Tử
hoàn toàn thất vọng trong công việc in thơ chàng. Cuối cùng Thế Lữ xuất hiện và
hứa giúp chàng hoàn thành việc ấy. Thế Lữ là một thi sĩ có danh vọng bậc nhất,
thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn ở Hà Nội (…) Hơn nữa, thơ Hàn Mặc Tử (bài Bẽn lẽn)
đã được chọn đăng trên báo Ngày Nay (…) Sau nhiều ngày theo dõi, thúc giục, Hàn
Mặc Tử nhận được tin đầy tang tóc kết thúc công việc in thơ chàng. Thế Lữ vừa
cho chàng biết rằng trên một chuyến tàu xuôi về Hải Phòng, tập thơ của chàng đã
bị bỏ quên và không tìm lại được nữa".[16]
Việc bỏ quên bản thảo của người nhờ mình
in thơ, phải hiểu như thế nào? Lúc đó chưa có photocopie. Nhưng thôi, chuyện đã
qua rồi.
Hàn Mặc Tử mất tại Quy Hòa - Quy Nhơn ngày
11-11-1940. 28 tuổi.
Trong một thư gửi cho Bích Khê, lúc ấy
đang bị lao nặng, Tử viết:
"Bích
Khê ơi! Bao giờ thì chết. Tôi cũng đang chết đây nhưng vẫn thản nhiên lắm. Tôi
mong anh sống đã, sống để đọc tập thơ Đau thương của tôi trước khi chết".
Thư viết 1938. Nhưng 1940 thì Tử không còn" [17]
Vậy năm 1938, Tử vẫn còn hy vọng Thế Lữ
sẽ in Đau thương cho ông.
Nhiều bài thơ Tử tặng cho người bán quán
trong bệnh viện cùi Qui Hòa, hay cho Tử uống trà ăn kẹo. Khi Trần Thanh Mại đi
tìm tài liệu, mới hay, sau khi Tử chết, người ấy đem thơ ra gói kẹo, một số tờ
khác phải nhặt ra từ thùng xia.
Trần Thanh Mại, dùng tư liệu của Trần
Thanh Địch (em ông) và Trần Tái Phùng (cháu ông) cả hai đều là bạn thân của
Hàn, viết cuốn sách đầu tiên về Hàn Mặc Tử. Quách Tấn, người đã giúp đỡ tiền
bạc để Hàn chữa bệnh, sau khi Hàn mất, được gia đình giao phó việc in thơ.
Sách Trần Thanh Mại ra đời tháng 2 năm
1942. Quách Tấn kiện. Vụ kiện xảy ra ở Huế, do Nguyễn Tiến Lãng, Phủ doãn Thừa
Thiên, xử. Nguyễn Tiến Lãng dàn xếp khéo léo, mọi việc êm đẹp.
Nhưng Quách Tấn đã không làm được việc
in thơ Hàn Mặc Tử. Khi chiến tranh xảy ra, ông đánh mất hết toàn bộ bút
tích bản thảo của Hàn. Nhờ tác phẩm của Trần Thanh Mại, mà những phần
hay nhất trong thơ Hàn được phổ biến từ 1942.
Năm 1942, có Tập Thơ Hàn Mạc Tử do
Quách Tấn và Chế Lan Viên sưu tập, Đông Phương xuất bản tại Sài Gòn. 1959 Tân
Việt tái bản, nhưng vẫn còn thiếu nhiều.
Năm 1987, nhờ chế độ đổi mới, Chế Lan
Viên sưu tập lại và viết bài tựa cho Tuyển tập Hàn Mạc Tử, (nxb Văn
học Hà Nội). Tuyển tập này đầy đủ hơn những tập thơ trước, gồm một số thơ Đường
luật, và trích các tập thơ Gái quê, Đau thương, Xuân
như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên, Chơi giữ mùa
trăng. Nên có thể nói Chế Lan Viên là người đã có công lớn trong việc sưu
tầm và giới thiệu thơ Hàn Mặc Tử, nhất là ông đã ghi lại được hai câu tuyệt bút
của Hàn, làm từ khi chưa bị bệnh, không tìm thấy ở đâu:
Mở cửa nhìn
trăng trăng tái mặt
Khép phòng
đốt nến, nến rơi châu
Hàn Mặc Tử là một trong những người đầu
tiên bước vào thơ mới, nhưng ta không thể gọi thơ Hàn là thơ mới,
mà thơ Hàn là thơ, đơn giản là thơ, chỉ là thơ.
Ngày 11-10-1931, trên Thực Nghiệp Dân
Báo có in ba bài thơ Đường luật, tựa đề: Chùa hoang, Gái ở chùa và Thức
khuya, ký tên P.T (Quy Nhơn), đã báo hiệu một phong cách thơ hoàn toàn mới,
với hai yếu tố chính: nhục cảm và thân xác, gần
như cấm kỵ thời ấy.
Chùa không sư
tụng cảnh buồn teo
Xác Phật còn
đây, chuỗi phật đâu? (Chùa hoang)
Hai câu thơ này gây sốc: Chùa
hoang, chùa không sư, gợi sự hoang vu, hoang đàng, tội lỗi. Bài
thơ tả cảnh chùa như một lầu xanh vắng khách. Xác Phật gợi án
mạng, một sự phạm thượng ghê gớm. (Tuyển tập sửa thành Cốt Phật,
người sửa thật chẳng hiểu gì!)
Bài Thức khuya (tuyển
tập đổi tên thành Đêm không ngủ, chả biết ai sửa mà dở thế, chắc
Quách Tấn, vì thơ Quách Tấn cổ mà không hay), có hai câu bất hủ:
Bóng nguyệt
leo song rờ rẫm gối
Gió thu lọt
cửa cọ mài chăn
Hai câu tiêu biểu cho cách dùng chữ
trong thơ Hàn (tuyển tập sửa rờ rẫm thành sờ sẫm,
vẫn sửa dở hơn: rờ rẫm có độ gồ ghề, sexy hơn sờ sẫm).
Hàn tả cảnh: trăng leo
song vào rờ rẫm gối. Gió lọt vào cửa cọ mài chăn.
Đủ bộ: gió, trăng, chăn, gối, rờ rẫm, cọ mài. Chỉ với tám chữ, Hàn
đã để lộ trái cấm trong thơ qua hai câu tuyệt bút xác
định quan niệm nhục thể chưa từng có trong thơ Việt.
Bài Bẽn lẽn, in trên Ngày
Nay số 24 (6-9-36), càng lộ rõ hơn:
Trăng nằm
sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông
về để lả lơi
Hoa lá ngây
tình không muốn động
Lòng em hồi
hộp, chị Hằng ơi!
Trong khóm vi
lau rào rạt mãi
Tiếng lòng ai
nói? sao im đi?
Ô kìa, bóng
nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn
vàng dưới đáy khe…
Vô tình để
gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm
sao lúc nửa đêm…
Em sợ lang
quân em biết được
Nghi ngờ tới
cái tiết trinh em (Bẽn lẽn).
Sự cám dỗ xác thịt, lần đầu tiên được
lột trần, nằm khỏa thân trong thơ. Thơ của một người hình như vẫn còn trinh
nguyên đến chết, vì người ấy viết: Trinh bạch ai chôn tận đáy mồ?
Và người ấy cũng là nhà thơ lớn nhất
vượt lên trên tất cả các bạn đồng hành, vì không ai xử dụng tiếng Việt như Hàn,
không ai đi đến tận cùng mọi ngả đau thương chữ, cho đến giây phút cuối như
Hàn:
Máu đã khô
rồi thơ cũng khô
Tình ta chết
yểu tự bao giờ
Từ nay trong
gió - trong mây gió
Lời thảm
thương rền khắp nẻo mơ (Trút linh hồn).
Thơ Hàn Mặc Tử không thể vài dòng mà nói
hết được.
Bài này mục đích nêu lên cái công của Tự
Lực văn đoàn trong việc giới thiệu và phổ biến thơ mới. Nhưng đồng
thời cũng muốn nói rằng Tự Lực văn đoàn sẽ phải gánh chịu cái "tội"
của mình. Ở đây là tội vô tình đối với một tài năng lớn của thi ca, dù chỉ do
một thành viên vi phạm.
Chú thích:
[1] Con người vơ vẩn Tặng
Trần Bình Lộc, Phong Hóa số 31, 24-1-33; Lựa tiếng đàn, số 37,
10-3-33; Người phóng đãng, số 42, 14-4-33; Tiếng chuông
chùa, số 44, 28-4-33; Trước cảnh cao rộng, số 54,
7-7-33; Hồ xuân và thiếu nữ, số 55, 14-7-33; Hoài Xuân,
số 57, 28-7-33; Mĩa mai, số 59, 11-8-33; Tiếng trúc
tuyệt vời, số 69, 20-10-33; Mộng ảnh, số 70,
27-10-33; Tình bâng khuâng, số 73, 17-11-33; Nhan sắc, số
76, 8-12-33; Tiếng gọi bên sông, số 77, 15-12-33; Bông
hoa rừng, số 79, 29-12-33; Mấy vần thơ ngây, số 81,
12-1-34; Hổ nhớ rừng, số 95, 27-4-34; Bóng mây buồn I,
II, III, số 100, 1-6-34, 101, 102; Một giấc mơ dữ dội, số
103, 22-6-34. Bên sông đưa khách, số 112, 24-8-34.
[2] Theo bản Phong Hóa, sau này in
thành sách sẽ sửa lại là: Trong giây phút lạnh lùng tê tái ấy. Hay
hơn.
[3] Đứa trẻ ăn mày (Phong
Hóa số 50, 9-6-33), Cô hàng bán lá sim (Phong Hóa số 98,
18-5-34), Chiêu Quân (số 105, 6-7-34), Lòng thương (số
108, 26-7-34) Thân tàn ma dại (số 111, 18-8-34), Ngày
khai trường (số 114, 7-9-34) và Tiếng hát ru (số 115,
14-9-34).
[4] Quần lá tọa là quần
thắt bằng dây ngoài để cạp xòe xuống.
[5] Hôm nay ngày khai trường/
Ngoài phố vui như hội/ Rộn rã trên vệ đường/ Tiếng guốc giày inh ỏi… (Phong
Hóa số 114, 7-9-34).
[6] Sống (Phong Hóa số 62,
1-9-33), Vọng hương ca (số 63, 8-9-33), Cùng mặt
trời (số 65, 22-9-33) Nguyễn Du và Rạng đông
rồi (số 66, 29-9-33), Ngày xuân (số 96,
4-5-34), Tiếng rừng (số 106, 13-7-34), Tiếng hát buổi
chiều (số 107, 20-7-34) Tiếng họa mi ca (số 120,
19-10-34), Chiều hôm qua (số 121, 26-10-34) Nhớ không (số
124, 16-11-34).
[7] Với bàn tay ấy (Phong
Hóa số 158, 18-10-35), Nụ cười xuân (Phong Hóa số 182,
10-4-36) và Vì sao (Phong Hóa số 185, 1-5-36).
[8] Hoàng Trung Thông, trong Lời
giới thiệu Tuyển tập Xuân Diệu I; thơ, Nxb Văn Học, Hà Nội, 1986,
trang 17.
[9] Những bài thơ đầu của Huy Cận trên
Ngày Nay: Chiều xưa, Ngày Nay số 96, (30- 1-38), Chiều xuân,
số 102 (20-3-38), Họa điệu, số 107 (24-4-38), Đẹp xưa,
số 120 (24-7-38), Trông lên, số 121 (31-7-38), Tắm dòng
người, số 122 (7-8-38) Nhớ hờ, số 123
(14-8-38), Lời dịu số 124 (21-8-38); Đi giữa đường
thơm, số 127 (11-9-38), Hối hận số 36
(12-11-38).
[10] Đạc: lục lạc nơi cổ ngựa, chú
thích của tác giả.
[11] Thành Bình Định là tỉnh lỵ của
tỉnh Bình Định lúc bấy giờ ở cách Quy Nhơn 18 cây số, về phía Bắc.
[12] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích
thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp,
nhà sách Khai Trí xuất bàn, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc
Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996,
trang 485-499
[13] Nhà Văn hiện đại, trang 762-763.
[14] Thi nhân Việt Nam, trang 205-206.
[15] Xác thu của Hoàng Diệp
do Hàn Mặc Tử viết tựa.
[16] Hoàng Diệp, Vụ kiện trích
thơ Hàn Mặc Tử trong cuốn Hàn Mặc Tử của Hoàng Diệp,
nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, không đề năm, in lại trong Hàn Mặc
Tử hôm qua và hôm nay, Vương Trí Nhàn biên soạn, Nxb Hội Nhà Văn, 1996,
trang 485-499.
[17] Theo Lời giới thiệu của
Chế Lan Viên, tuyển tập Hàn Mặc Tử, nxb Văn Học, Hà Nội, 1987, trang 15.
Khái Hưng xây
dựng truyện ngắn hiện đại
Tự Lực văn đoàn chủ trương đổi mới văn
học. Nhưng tiến trình ấy đã diễn ra như thế nào? Ai trong văn đoàn là người chủ
động? Khảo sát sự hình thành truyện ngắn và tiểu thuyết trên Phong Hóa Ngày
Nay, chúng ta sẽ tìm được câu trả lời.
Có thể nói rằng: Phong Hóa là đất thực
nghiệm, Ngày Nay là nơi dấn thân, và hệ thống truyện ngắn và
tiểu thuyết của Tự Lực văn đoàn được dựng nên từ hai nền móng ấy.
Đại cương
Trong hai năm đầu 1933-1934, Hoàng Đạo
và Thế Lữ chưa có đóng góp quan trọng về tiểu thuyết và truyện ngắn trên Phong
Hóa, còn Thạch Lam viết phóng sự văn chương.
Hoàng Đạo, trong thời kỳ này, viết ba truyện ngắn: Nùng Chi Lan, Bông hoa thủy tiên và Cánh
buồm trắng [1]. Đáng
giá nhất là Bông hoa thủy tiên và loạt Tuồng Cổ Tân
Thời [2] mà
chúng tôi đã giới thiệu trong chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam.
Thế Lữ là nhà văn có tay nghề, nhưng sau
tuyệt tác Vàng và máu, đăng trên Ngọ Báo, ông không có tác phẩm nào
nổi bật. Chín truyện ngắn: Thây ma xuống gác, Con châu chấu
ma, Cô Bụt, Dòng máu đứt quãng, Cái ví da đen, Hai
lần chết, Cái xác đuổi người, Bên đường Thiên Lôi [3],
đăng trên Phong Hóa trong khoảng 1933-1934, không có gì đặc sắc. Để tạo không
khí ghê sợ, Thế Lữ hay dùng câu chữ, chi tiết rùng rợn, đưa đầu lâu, xác chết
và ma vào, rồi tìm cách giải thích một cách "khoa học", nên truyện
của ông thường giả tạo, khó tin. Ông nổi tiếng về trinh thám, nhưng trinh thám
thuộc địa hạt giải trí. Về mặt truyện ngắn, Thế Lữ không chịu tìm hiểu kỹ về
con người, mà thường chú ý đến động tác bề ngoài, nên truyện ngắn của ông ít
khi để lại ấn tượng sâu xa trong lòng độc giả. Cho nên, Thế Lữ không có vai trò
quan trọng trong truyện ngắn trên Phong Hóa Ngày Nay, mặc dù ông viết đều đặn.
Thạch Lam là một cây bút quan trọng về
truyện ngắn, nhưng phải đến Phong Hóa số 63 (8-9-33), mới có truyện ngắn đầu
tiên Một cảnh quê, ký Việt Sinh, chưa có gì đặc biệt. Một năm
sau mới có bài tùy bút Sóng lam cát trắng ký Thạch Lam (Phong
Hóa 109, 3-10-34) và tới Phong Hóa 117 (28-9-34) lần đầu tiên có truyện
ngắn Cung Hằng lạnh lẽo ký bút hiệu Thạch Lam. Nhưng những
sáng tác này chưa có gì nổi trội. Trong thời kỳ Phong Hóa, Thạch Lam, dưới bút
hiệu Việt Sinh đã tạo ra thể loại phóng sự văn chương, và phải
đến Ngày Nay số 7 (9-4-35) Thạch Lam mới viết Đói, truyện ngắn hay
đầu tiên, chúng tôi sẽ đề cập đến phóng sự và truyện ngắn của Thạch Lam trong
phần viết về Ngày Nay.
Truyện ngắn
Nhất Linh
Về hành trình tìm kiếm của Nhất Linh,
tôi đã viết khá rõ trong chương Khái Hưng và Nhất Linh, ở đây chỉ xin nhắc lại:
Nhất Linh trong thời kỳ đầu của Phong Hóa viết bốn truyện trinh thám, ký tên
Ngô Tâm Tư: Giết chồng… báo thù chồng, Tiếng chó sủa, Cái
hoa chanh, Tiếng gọi cõi âm [4]. Rồi ngừng. Từ Phong Hóa
số 24 (2-12-32) đến số 62 (1-9-33), ông viết 13 truyện ngắn, ký tên Bảo
Sơn: Con hai bố, Vết máu, Nước chảy đôi giòng, Cô áo tím,
Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng), Ngọc có vết, Hồn
hoa, Bóng người trên sương mù, Gái vùng Lim, Nắng mới trong rừng xuân, Đầu
đường xó chợ, Tháng ngày qua, Ngày thu [5].
Sau đó ông ngừng sáu tháng để viết chung
hai tiểu thuyết với Khái Hưng: Gánh hàng hoa và Đời
mưa gió [6] rồi
viết thêm bốn truyện ngắn ký tên Nhất Linh: Thế rồi một buổi chiều, Cô
hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh), Nắng thu và Lan rừng [7].
Trên Ngày Nay, Nhất Linh viết bảy truyện
ngắn nữa:
Nghèo, Hai buổi chiều vàng, Tối
tăm, số 23, (30-8-36), Chết dở, Hai
chị em, Vết thương, Con đường quê [8].
Để giải thích qua cách viết của Bảo Sơn
trong những truyện ngắn trên đây, tôi xin lấy thí dụ Bóng người trên
sương mù.
Bóng người
trên sương mù là một
truyện ngắn hay, được Bảo Sơn bắt đầu như sau:
"Ở ngoài
đêm tối như mực. Trong toa hạng nhì, riêng tôi ngồi đối diện với Đỗ Thạch, một
người bạn cũ, tình cờ gặp nhau vì đi một chuyến xe lửa. Mười năm trước, bạn tôi
còn là người cầm lái xe hỏa, cũng hàn vi như tôi, mà bây giờ lại gặp nhau trong
toa hạng nhì, nên hai người càng ngạc nhiên và cùng mừng cho nhau.
Lúc nói
chuyện, tôi thấy bên cạnh bạn có một cái hộp khảm rất đẹp, liền cầm lấy
xem…"
Ta thấy Bảo Sơn chưa bỏ được kiểu kể
chuyện và giới thiệu nhân vật theo lối cổ điển. Nếu đoạn này viết trực tiếp
theo lối mới, lối hư cấu, sẽ ngắn gọn hơn nhiều: "Trời đêm tối như
mực, trong toa hạng nhì, Đỗ Thạch ngồi cạnh một cái hộp khảm…" không
còn những giải thích dài dòng của nhân vật xưng tôi, người kể chuyện. Phải
tới Thế rồi một buổi chiều, Nhất Linh mới dứt hẳn được
lối kể chuyện này.
Khuynh hướng xã hội tả chân cũng được
Nhất Linh thử nghiệm nhưng chưa thành công, thí dụ truyện Đầu đường xó
chợ:
Đầu đường xó
chợ (Phong Hóa số 51, 16-6-33) viết theo lối
hiện thực xã hội, bắt đầu như sau:
"Đầu đường xó chợ!
Từ năm thầy
tôi mất, anh chị tôi rời bỏ chốn quê nhà đi tha phương cầu thực, đến ở một túp
nhà tranh ở ngay đầu chợ C… Bắt đầu từ đó, tôi bỏ cái đời cũ là cái đời một cậu
con quan ăn sung mặc sướng mà bước chân vào một cuộc đời riêng mới cho tôi: tôi
gọi là cái đời đầu đường xó chợ. Năm ấy tôi mới 13 tuổi".
Lời mở đầu trên đây cho thấy sự vụng về
của tác giả: Ông không biết rằng khi một ông quan mất đi, gia đình vẫn được
hưởng một số ruộng đất và giữ nhà riêng để ở, tuy có nghèo đi vì không được
lĩnh lương nữa, nhưng nếu chịu khó làm việc, cày cấy ruộng vườn, thì không ai
phải đi "tha phương cầu thực" hoặc ra ở túp nhà tranh đầu chợ cả. Sau
đó ông lại đưa ra một nhận xét chủ quan "Thật là một cái xã hôi xấu xa,
mà xấu xa vì nghèo khổ quá", trước khi trình bày nhân vật
chị Hiên, quá nghèo phải ăn cắp gà và tấm lòng tốt của cậu bé 13 tuổi đối với
người đàn bà cùng khổ ấy, đều là những chi tiết giả tạo. Sau đó Nhất Linh viết
thêm một truyện nữa là Nghèo trên Ngày Nay số 17 (19-7-36) về
một gia đình rất giàu, sau bị khánh kiệt, anh chồng phải đi làm thợ sửa xe,
cũng không tự nhiên. Cùng đề tài: gia đình con quan sau bị sa sút, Khái Hưng
trong Hai cảnh trụy lạc, viết hay và chính xác hơn nhiều. Truyện
ngắn Tối tăm trên Ngày Nay số 23 (30-8-36),
viết về tình cảnh chị Dậu, người đàn bà nhà quê dốt nát bị chết oan trong cảnh
tối tăm vô học, cũng vậy.
Thế rồi một
buổi chiều là một
trong những truyện ngắn hay nhất của Nhất Linh, tôi đã giới thiệu trong chương
Khái Hưng và Nhất Linh, có mấy đặc điểm sau đây:
Đánh dấu việc Nhất Linh thoát khỏi lối
viết cũ (bỏ cổ điển để bước vào hiện đại). Tác phẩm bắt đầu như sau:
"Lê Dũng
rảo bước trên con đường làng.
Ban trưa,
đường vắng, tiếng gió thổi kẽo kẹt trong những rặng tre già lẫn với một vài
tiếng gà gáy xa xa đưa lại và tiếng trong trẻo của mấy đứa trẻ nô đùa dưới ánh
nắng ấm áp. Dũng cắm đầu bước liều, tuy chàng vẫn biết rằng lần này khó lòng mà
thoát được: từ nửa đêm đến giờ chàng đã chồn chân, đi hết làng này sang làng
khác, nhưng không có một nơi nào để chàng tạm ẩn."
Nhất Linh đã bỏ được cái tôi kể chuyện
trong Bóng người trên sường mù và Đầu đường xó chợ.
Nhất Linh đã tạo được một không khí hiện
thực lãng mạn riêng: tình yêu thầm kín dưới mái chùa, với những nhận xét tế vi,
văn phong tuyệt đẹp, thơ mộng và giản dị.
Nhất Linh đã cấu tạo Dũng: sẽ là nhân
vật chính trong tiểu thuyết của ông, trở thành mẫu người lý tưởng cho thanh
niên thời bấy giờ: Dũng theo cách mạng, bị lùng bắt, chạy về một làng quê yên
bình thơ mộng; trên bước đường cùng, dừng lại ở cửa thiền, chàng được ni cô
giấu vào gác khánh sau chùa. Một mối tình câm nở giữa hai người.
Tất cả những yếu tính trong truyện Nhất
Linh hầu như đã hiện rõ trong tác phẩm này: Ông dùng chính mình để tạo nên
Dũng, và ông đã thành công, bởi vì không có sự thực nào hiển nhiên bằng cách
dùng nội tâm của mình để diễn tả ý nghĩ của nhận vật. Tác phẩm cũng xác định
lần đầu tiên phong cách Nhất Linh: hướng nội.
Nắng thu ra sau nhưng nghệ thuật thua
kém Thế rồi một buổi chiều, viết về cuộc tình giữa Phong và Trâm,
một cô gái câm, mồ côi. Trâm đẹp, nết na nên bị mọi người trong gia đình mẹ
nuôi ganh ghét, muốn đuổi đi. Phong yêu Trâm, dạy Trâm chữ quốc ngữ, biết rõ
nỗi khổ của Trâm, vậy mà chỉ cần vài lời dèm pha của Viễn (anh nuôi, đã có vợ,
mê Trâm, dùng bạo lực chiếm đoạt nhưng bị cự tuyệt) và bà mẹ nuôi độc ác, buộc
tội nàng chửa hoang, là Phong tin ngay. Đã câm, làm sao biện hộ? Bao thư nàng
viết để giảng giải nỗi oan, Phong đều không thèm đọc, xé đi… Nắng thu văn
phong thực vững vàng, nhưng chi tiết giả tạo, vô lý, đọc rất bực mình: Tại sao
Phong lại có phản ứng dã man hơn bọn gia đình mẹ nuôi tàn ác? Phong không một
lần tìm hiểu nỗi oan của người yêu? Đến cái kết có hậu: Viễn bị bệnh nặng,
trước khi chết, thú tội với Phong, nên Phong đi tìm Trâm: châu về hiệp phố. Lại
càng giả tạo nữa.
Tóm lại, về truyện ngắn, Nhất Linh viết
không nhiều, nổi trội trong đề tài tình yêu lãng mạn, như Thế rồi một
buổi chiều, Lan rừng, Hai buổi chiều vàng, Câu
chuyện mơ trong giấc mộng… và vài truyện ngắn hay như Cái tẩy, Vết
thương, chiếu vào nội tâm nhân vật, đều được in lại trong tập Hai
buổi chiều vàng.
Riêng loại hiện thực xã hội nghèo khổ,
ông không thành công. Phải đến cuối đời, trong trường giang tiểu thuyết Xóm
Cầu Mới, được cấu trúc như những truyện ngắn ghép lại, ông mới đạt tuyệt
đích: mô tả xóm Cầu Mới với những gia đình nghèo ở quê hương ông, và ông đã
khắc họa được những chân dung hiện thực tuyệt bút. Còn trong thời kỳ Phong Hóa
Ngày Nay, những truyện ngắn hay nhất của ông đều thuộc khuynh hướng tình cảm
lãng mạn.
Lực viết của
Khái Hưng
Trong chương Khái Hưng và Nhất
Linh, tôi đã nói qua về nghệ thuật Khái Hưng trong hai truyện ngắn đầu
mà nhân vật chính là người Nhật: Kong-Ko Đai-Jin và Ada
Kwaben, in trên Phong Hóa số 14 (22-9-32) và Phong Hóa số 19 (27-10-32). Và
dưới đây ta cũng sẽ thấy, Khái Hưng, có lẽ là người đầu tiên dịch Trà
Đạo của Okakuza Kakuzo sang tiếng Việt.
Với sức viết phi thường, trên Phong Hóa
Ngày Nay, chưa kể truyện dài, Khái Hưng đã viết khoảng 122 truyện ngắn, 24 vở
kịch, 36 truyện vui, và 8 bản dịch.
Xin kê khai danh sách dưới đây để làm tư
liệu:
Phong Hóa
- 67 truyện
ngắn trên
Phong Hóa, gồm: Kong-Ko Đai-Jin, Đi Nam Kỳ, Cái
thù ba mươi năm, Sóng gió Đồ Sơn, Cái thống đời Tống, Tình
tuyệt vọng, Ada Kwaben, Lãng mạn, Bạn…! Chỉ
là bạn!.., Dưới bóng hoa đào (viết chung với Bảo
Sơn), Lên sĩ xuống sĩ, Hai linh hồn, Bên dòng
sông Hương, Ý Lan, Véo von tiếng địch, Nghĩa cái cười, Anh phải sống, Hai cái áo quan, Tình
điên, Con lợn lài, Hất báo, Lời thề, Giọc
đường gió bụi, Yêu, Con số 08430, Ai đẹp, Bên
đường dừng bước, Tình lưu luyến, Hoàng Oanh, Yên
lặng, Cô hàng nước (viết chung với Nhất Linh), Gói
bạc rơi, Một tập thư, Chúa Thao, Con Mán, Hương
gây mùi nhớ, Một nhà thông thái, Cái đồng hồ đeo tay, Linh
hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ Thị Kim Dung, Một nhà
hiền triết, Bắt trộm, Giặc bể, Con chim
vành khuyên, Tiệc tranh, Không BẢ..A..Án, Trăng
suông, Tình yêu thứ nhất (viết chung với P.N. Thọ), Cầm
vườn, Cái áo đan, Lá rụng, Hoa thủy tiên, Hoa
anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong rừng mai, Chén
trà mạn sen, Ô Quy Hồ, Trúng số và Bãi
sậy vườn cam, Biến đổi, Cháu Tạ, Vú Kim, Trong
nhà thương, Hai cảnh trụy lạc, Có đi có lại, Thưa
chị, Cái máy ảnh.[9]
- 23 truyện
vui: Ba
Ếch Vô Huế, Một đám ma, Quýt ngọt, ruốc ngon, Gật,
gật hoài, Hảo hớn, Võ Thái Hà, Để của bí
mật, Yêu đời, Đãng trí, Cai thuốc phiện, Những
bóng người trên bãi biển, Ông cứ giã cho nó! Chụp gà hóa cáo, Thả
vỏ quýt ăn mắm ngấu, Liều thuốc độc, Mãn đình hồng (Nhị
Linh), Ăn miếng trả miếng, Bảng công ty, Chơi ô
tô, Tờ giấy bạc, Bàn việc làng, Cờ quạng, Bảo
hiểm. [10]
- 15 vở kịch: Kiêng 1, Tôi
là Khái Hưng, Ghen, Nửa cái thỏ bò, Ông
Đồng Phương, Kiêng 2, Tục Lụy, Con mèo, Chữ
nho, Bói Kiều, Không hề gì mà, Kiêng, Ở
hiền gặp lành, Quần tiên tụ hội, Kịch không người. [11]
Ngày Nay
- 55 truyện
ngắn: Trên Ngày
Nay, Khái Hưng viết khoảng 55 truyện ngắn:
Đợi chờ, Bến đò năm xưa, Phong
lan và Nước hoa phong thổ, Cái ve, Lòng
tốt, Linh hồn, Trăng thu, Người vợ mù, Dưới
ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu), Nhà phê bình, Đồng
xu, Đêm giao thừa, Cô áo trắng, Vui tính, Hội
kín, Tống tiền, Nguồn thơ, Ngày giỗ, Bến
Hòn Gay, Cháu nhà quan, Sung sướng, Cô dâu, Cây
tre trăm đốt, Vợ cóc, truyện cổ tích, Ai mua hành tôi,
truyện cổ tích, Mười năm yêu dấu, Người hầu sáng, Sếnh
Sáng, Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa), Đào
Mơ, Tập ảnh, Thời xưa, Chùa Hương, Xanh
cà bung, TVBAVOKVVEAV tức Tiếng khèn, Điếu
thuốc lá, Lưu Bình Dương Lễ, Một buổi chầu, Hai
người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó hiểu (số 148,
4-2-39), Chàng thi nhân (số 149, 15-2-39), Gán vợ, Tình
địch, Tế thành hoàng, Cái duyên của Tản Đà, Vài
truyện vui về thi sĩ Tản Đà, Ông Đồng, Thời chưa cưới, Tương
tri, Hai người bạn, Sư Tuệ, Hai con mắt, Biển, Ái
tình, Nghiện [12]
- 9 vở
kịch: Chết, Cờ điên thoại, Cậu
Cả, Tiền, Người chồng, Kiêng V, Đồng
bệnh, Chén trà đầu năm, Không đèn, Khúc
nghê thường.[13]
- 13 Truyện
vui: Hổ, Thâm nho, Trả thù, Thoát, Bà
chủ nhà của tôi, Bá cáo việc riêng, Cách cho, Chợ
trời, Đi ra thôi, Cây "Thần tiên", Người
bán dầu, Lỡ quá ga, Nghỉ mát.[14]
- 8 bản
dịch: Mưa của Somerset Maugham. Cô
gái thành Arles của A. Daudet. Bệnh viện của
Somerset Maugham. Trà đạo của Okakuza Kakuzo. Ý nghiã
nghệ thuật của Okakuza Kakuzo (Trà thư). Hoa của
Okakuza Kakuzo (Trà Biên). Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên),
trích dịch. Các trà sư của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), trích
dịch.[15]
Khái Hưng xây
dựng truyện ngắn hiện đại
Tuy Khái Hưng phải viết những truyện
vui, kịch ngắn, để trám chỗ tờ báo, nhưng những thứ này đều đọc được, chứ không
dở. Đó là những mẩu truyện, kịch ngắn, có duyên, không vô lý, bởi vì Khái Hưng
nắm chắc những yếu tố: văn hay, đối thoại điêu luyện, cấu trúc chặt chẽ. Truyện
của ông không sa vào tình tiết lâm ly, thường "chẳng có chuyện gì"
tức là rất mô-đéc.
Sở dĩ truyện ngắn của Khái Hưng chưa
được khám phá và đánh giá đúng mức bởi vì phần lớn các nhà phê bình đều chỉ dựa
trên những sách đã in, mà phần truyện ngắn của ông in thiếu rất nhiều, kể cả
những sách của nhà Đời Nay cũng vậy. Một thí dụ, tập Tiếng suối reo,
chỉ in những truyện, kịch vui nhỏ, loại ông viết trám chỗ trên báo, tuy không
dở, nhưng cũng không có gì là tiêu biểu. Tập Đợi chờ, tái bản
ở miền Nam, bỏ hẳn hai truyện ngắn vào loại hay nhất của Khái Hưng: Điếu
thuốc lá và Tiếng khèn. Vì vậy, nhiều truyện hay của Khái
Hưng vẫn còn nằm ngủ trên Phong Hóa - Ngày Nay, chưa mấy ai đọc.
Khái Hưng viết đủ loại đề tài, loại nào
ông cũng rành, vì đã khảo sát môi trường qua sách vở hoặc nhờ nhận xét thực tế
đời sống, vì thế ông nhập truyện rất tự nhiên, nói giọng ai cũng được. Ông lại
có óc tưởng tượng và óc quan sát tinh vi không bỏ sót một cử chỉ, dáng điệu của
bất cứ loại người nào, từ cô công chúa đời Hùng Vương đến người thợ mộc đời
nay, từ mặt trái cuộc chơi cờ người (Lên sĩ xuống sĩ, Ai đẹp),
đến tâm lý phức tạp của kẻ nhặt được tiền (Gói bạc rơi), từ lời khóc giả
vờ trong đám ma ở miền Bắc (Một đám ma) đến tâm sự thầm kín của người
con gái hát rong (Giọc đường gió bụi).
Trước khi viết Tiêu Sơn tráng
sĩ, Khái Hưng đã sáng tác ba truyện ngắn dã sử
hay:
Véo von
tiếng địch (Phong Hóa số
42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương con vua Hùng Vương thứ mười bốn, phỏng
theo truyền thuyết Trương Chi.
Hoàng Oanh (Phong Hóa số 97, 11-5-34) công
nương Chiêm Thành họ Số, đợi chờ thái tử Chế Mân, đang bị làm con tin ở Thăng
Long, trở về làm lễ cưới. Nàng thêu đôi chim nhạn. Hai năm sau, Thái tử hồi
hương với Vương phi Huyền Trân Công Chúa, nàng trao đôi chim nhạn làm quà cưới
vương phi, những giọt nước mắt đã rơi vào trong mừng chồng vui duyên mới!
Chúa
Thao (Phong Hóa số
122, 2-11-34), tức hoàng tử Mạc Thao, con thứ năm vua nhà Mạc, thường được gọi
là Hoàng Năm hay Chúa Thao, đẹp trai, anh dũng, cầm quân đương đầu với chúa
Trịnh ở trận Đồ Sơn, thua, bị bắt. Công chúa họ Trịnh đem lòng yêu mến rồi ốm
tương tư.
Ba truyện dã sử này, như ba bản nhạc dạo
dầu, thử bút trước khi Khái Hưng vào Tiêu Sơn tráng sĩ, đã ngỏ cho
ta thấy cách ông tạo không khí lịch sử và kết cấu bi đát như
thế nào.
Véo von tiếng
địch, trước tiên là
văn Khái Hưng:
"Dưới
chân rặng đồi, con sông Bạch Hạc quanh co lượn khúc, ẩn hiện dưới những chòm
cây rườm rà lả ngọn.
Ly Nương tỳ
lan can, rời cảnh vật bao la, cúi nhìn xuống cái hồ bán nguyệt mới thấp thoáng
nhô lên một vài nõn sen mềm mại.
Bỗng nàng hé
cặp môi mỉm cười, vì nàng vừa nhìn thấy bóng xinh đẹp của mình in trên mặt nước
trong xanh im lặng. Nàng giơ tay trắng nuột vin cành liễu xanh bẻ mấy chiếc lá,
thong thả sẽ bỏ rơi xuống hồ. Mặt nước rung động, hình công chúa cũng rung
động, gợn nước vòng tròn, rộng lan mãi ra, rồi dần dần biến đi như chìm xuống
đáy nước mà trả lại hình cho công chúa. (…)
Mấy giọt nước
mưa đọng trên lá liễu từ từ rơi bám vào mái tóc búi lỏng để trĩu xuống gáy
trông lấp lánh như những ngôi sao ló trong đám mây đen".
Khái Hưng đi từ cái vĩ mô:
cảnh vật bao la vùng núi đồi Bạch Hạc nơi Hùng Vương dựng kinh thành, chuyển
dần sang cái vi mô: mấy chiếc lá Ly Nương xé ném xuống nước, đánh
tan hình mình; rồi những vòng tròn nước tự tan đi, trả lại tấm hình xinh đẹp
cho công chúa nguyên vẹn dưới đáy hồ. Ống kính tinh vi ấy quay lại chiếu vào
mấy giọt sương lấp lánh đọng trên mái tóc búi lỏng trĩu xuống gáy nàng. Không
dùng một chữ nào có âm hưởng hoàng gia, nhưng tất cả những chữ bình dân họp
lại, tạo thành hình ảnh tuyệt vời của nàng công chúa cao sang quyền quý. Đó
chính là nghệ thuật: nhà văn không tả mà để thiên nhiên tả hộ. Bút pháp thơ
cũng ở đó: Khái Hưng luôn luôn làm thơ mà không dùng đến âm, vận.
Kết thúc bi đát, là một sở trường khác:
văn Khái Hưng trong sáng, vui tươi, hồn nhiên, nhưng thường dẫn đến cái chết.
Anh phải sống (Phong Hóa số 45, 5-5-33) là
truyện hiện thực xã hội đầu tiên của Khái Hưng. Truyện khá ngắn. Mở ra trên
cảnh đê Yên Phụ trời bão, nhưng khác với những lần trước ông thường dừng lại tả
cảnh, ở đây tất cả đều vắn tắt:
"Nước sông Nhị Hà mới bắt đầu
lên to, cuồn cuộn chảy như muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng đi".
Rồi: "những cành khô trôi ở
rừng về, nổi lềnh bềnh giống như những chiếc thuyền chạy thực nhanh tới một nơi
không bờ không bến".
Cơn bão chỉ được tả bằng hai câu ngắn,
nhưng sự dữ dằn đã rõ: "lôi phăng cái cù lao ở giữa sóng" và
"những thân cây, cành khô như những chiếc thuyền chạy thực nhanh về nơi
không bờ không bến".
Đối diện với một tạo hóa vĩ đại và hung
hãn như thế, hai vợ chồng Thức, nhỏ nhoi, đứng trên bờ đê, thèm thuồng "nhìn
theo những cây gỗ đương trôi phăng phăng ở giữa dòng nước đỏ".
Bỗng Thức bảo vợ: "Liều! Vợ lắc
đầu không nói."
Tất cả đều nhanh, ngắn, gọn, hai vợ
chồng đã có sự đồng nhất tư tưởng, không cần nói mà hiểu nhau. Toàn bộ tác phẩm
dựa trên sự đồng nhất tư tưởng này. Hết gạo. Cả nhà đói. Không ai cho vay.
Những khúc củi này vớt lên bán, là của trời ban.
Thức đánh lừa "đuổi" vợ về nhà
trông con trước, anh sẽ về sau. Rồi người vợ cũng lại hiểu rất nhanh rằng chồng
mình đang làm gì, chị đặt đứa con vừa thiu thiu ngủ xuống giường, trở lại bờ
sông. Thức quay lại nhìn thấy vợ, gắt:
"Lạc!
Sao mày không ở nhà với con?" Tất cả xoay quanh chữ mày. Từ
chữ mình, anh vừa âu yếm nói với vợ: "Này! Mình
về nhà, trông thằng Bò" ban nãy, anh chuyển sang chữ mày,
độ giận đã lên tới cực điểm. Nhưng chị Thức nhất định không về, chị khóc "em
không sợ, em biết bơi", Thức mềm lòng. Đành chịu.
Khi chiếc thuyền đã bị đánh chìm, hai vợ
chồng cố gắng bơi vào bờ, người vợ đuối sức dần, Thức một tay bơi, một tay xốc
vợ. Tay anh rã rời, bảo vợ bám vào mình. Một lúc, anh lại hỏi: Lạc ơi,
Mày liệu có cố bơi được nữa không?
Hai lần Thức gọi vợ bằng mày.
Hai thái cực: lần đầu là sự tức giận cực điểm, lần sau là sự tuyệt vọng, cả hai
đều là tình yêu tột đỉnh.
Và cuối cùng, chỉ một câu: "Thằng
Bò, cái Nhớn, cái Bé !… Anh phải sống!" đủ diễn tả sự
hy sinh tối hậu. Sự kiệm chữ này là nền móng của nghệ thuật bội phân bi đát
trong giây phút cuối mà chỉ Khái Hưng nắm rõ bí quyết.
Anh phải
sống là kiệt tác
truyện ngắn đầu tiên của Khái Hưng và của truyện ngắn Việt Nam.
Hai cái áo
quan (Phong Hóa số 46, 12- 5-33) được viết
một tuần sau, bộ mặt bi đát lần này hoàn toàn đổi khác: trong khung cảnh nhộn
nhịp của một căn nhà đang xây dở: thợ thuyền tấp nập, cười nói ồn ào, ông phó
Cả âm thầm vuốt nước mắt, cúi xuống bào nắp quan tài cho con trai vừa chết để
lại cho ông thằng "Cu con", cháu nội. Chôn con hôm qua, hôm nay cất
nóc, phó Cả phải có mặt. Mọi người chờ đợi. Ông phó già đến trễ, mặt đỏ gay tiến
vào, cười nói ha hả, lảo đảo bước lên thang… Rồi một tiếng rầm…
" - Con
đấy à!.. Thế mà cha cứ tưởng con chết!
Rồi ông tắt
thở.
Ánh nắng vẫn
gay gắt. Trong làn không khí hoàn toàn tịch mịch, buổi giữa trưa ở nơi thôn dã,
thằng Cu con, vận quần áo đại tang, núp dưới bóng cái phên nứa, lúi húi bào gỗ
để đóng săng cho ông nó.
Nét mặt nó
thản nhiên như đang làm các việc hàng ngày mà người ta trả nó năm xu một công
nhật.
Rồi bỗng như
hôm qua, con gà trong xóm cất tiếng gáy. Nhưng thằng Cu con nó chẳng giật mình
như ông nó, chỉ lẳng lặng quỳ gối bào cho thật nhẵn. Khi nó ướm cái nắp lên
trên cái áo quan thấy vừa vặn ăn khớp, thì nó lạnh lùng nói một mình:
Thế là
xong!"
Câu kết này làm ta rùng mình. Vì sao? Vì
sự vô cảm của thằng bé 12 tuổi. Sau hai cái chết, nó chai đi, không còn cảm
giác. Nó không khóc như ông nó, nó không cười ha hả như ông nó, nó không nghe
tiếng gà gáy mà giật mình như ông nó, nó hoàn toàn vô cảm.
Còn lại một mình trên đời, thằng bé
không phản ứng. Điều đó mới thật dị kỳ và làm ta kinh sợ nghệ thuật của Khái
Hưng, bậc thầy.
Con lợn lài xuất hiện bốn tuần sau, trên Phong Hóa số
50 (9-6-33), truyện này cho thấy nghệ thuật châm biếm-bi đát, sở trường thứ ba
của ông.
Khái Hưng chỉ chép lại lời kể của một
anh phu xe, kể rằng anh hầu nhà quan Hàn, từ năm 10 tuổi: "Ông chủ
tôi là một quan Hàn bệ vệ, oai nghiêm, hách dịch như một ông quan lớn, một ông
quan thật ấy. Thế mà so với bà chủ tôi thì sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch ấy,
còn kém xa. Giá ông trông thấy bà Hàn tôi ngồi xếp bằng trên sập gụ, một tay tì
lên chiếc gối xếp nhiễu, một tay bắt cong cái xe điếu ống xuống hút lách tách
rồi vừa thở khói, vừa lên giọng lè dè mà gọi: "Có đứa nào đấy không,
mày?" thì ông cũng phải kính cẩn chắp tay mà chào: "Lạy bà lớn
ạ". Vì thế nên những quân con, đệ tử, dân sự, nghĩa là những người đến vay
nợ kính sợ ông tôi mười phần thì kính sợ bà tôi đến trăm phần.
Mồng năm ngày
tết họ tới tấp đến trước mặt bà tôi, họ đặt buồng cau, con cá, hoặc thùng gạo,
mâm cam xuống đất, họ khúm núm gãi đầu, gãi tai, rồi sẽ run run bẩm báo:
- Bẩm bà lớn
chúng con vi thiềng.
Bà tôi liền
lên giọng dõng dạc gọi người nhà:
- Có đứa nào
đấy không, mày. Cất đi cho nó.
Một tiếng dạ
vang nhà, tôi vội vàng ra cất lễ. Có lắm bác lại khéo nịnh hót, khom lưng lạy
hai lạy cẩn thận rồi kính bẩm cụ lớn chững chạc nữa kia, tuy bà lớn tôi chỉ là
một bà vợ lẽ của quan Hàn tôi, mà xin ông đừng cười, chỉ xuất thân là một con ở
hầu bà Hàn cả tôi, và nhẩy lên thay chân chánh thất, sau khi bà cả tôi đã về
chầu trời."
Vẫn giọng ấy kể: ông chủ rất tốt, nuôi
thằng nhỏ từ lúc nó mới 10 tuổi, ở không công. Nó không hé môi phàn nàn nửa lời
vì được ông chủ tin cậy, mỗi năm may cho một bộ cánh trắng và hai bộ cánh nâu,
thỉnh thoảng nó có dăm ba xu, một hào, tiền "chè lá" của
những người đến khất nợ đút lót để được nó đưa vào hầu.
Rồi bà lớn gả con sen cho thằng nhỏ, hai
vợ chồng ở không công. Con sen suốt đêm phải hầu quạt và đấm bóp cho bà lớn,
còn thằng nhỏ, chồng nó, ngủ dưới bếp. Mùa xuân năm ấy được mùa, tổ tôm kéo dài
mấy tháng, tiền hồ [16] có
đến linh trăm bạc [17],
nhưng nhà quan, ai lại lấy tiền hồ, nên bà lớn chia cho bọn người làm. Lại sợ
chúng nó tiêu bậy, nên bà lớn cất giùm, mua lợn lài, là thứ lợn quý có chấm đen,
để gây vốn cho chúng nó. Thế là bao nhiêu tiền "chè lá" thằng
nhỏ dốc hết ra mua cám, vỗ béo lợn. Bốn con lợn lài lớn như thổi, một năm sau
bán được ba bốn trăm bạc như chơi.
Một hôm, bỗng dưng mất đứt một con: hóa
ra bà lớn "vay" để làm cỗ thết làng, rồi con thứ hai, bà lớn
"mượn" để biếu cụ lớn thân sinh, hai con sau cùng bà lớn bán lấy tiền
giữ hộ chúng nó. Con sen xui chồng lên xin trước bà lớn chút đỉnh để mua cho nó
bộ xà tích [18].
Thằng nhỏ lên kêu van khóc lóc bị bà lớn tống ra cửa, thế là mất việc, mất vợ,
mất tiền, phải đi kéo xe.
Giọng người phu xe kề cà, giống như
giọng khàn khàn của ông Tòa trong truyện La Chute (Sa đọa) của
Albert Camus. Lối kể của anh ta, theo một tiến trình, mà tôi gọi là tập
kích giật lùi, cũng thấy trong truyện của Camus, dù Khái Hưng viết
trước Camus mấy chục năm và hai người ở xa nhau vạn dặm.
Đầu tiên, anh phu xe tả chân dung bà
chủ: Từ sự bệ vệ oai nghiêm, hách dịch, xác định tư cách bà
lớn, bà tiến lên cụ lớn, rồi đùng một cái, cụ lớn lộ chân
tướng con ở. Đó là lối đột kích tụt hậu. Truyện của Camus cũng
thế: đường đường là ông Tòa xử tội, quyền sinh sát trong tay, bỗng một đêm qua
cầu sông Seine, có tiếng người rớt xuống nước, kêu cứu, nhưng ông lờ đi như
không nghe thấy… ông trở thành kẻ sát nhân vô cố.
Toàn truyện Con lợn lài, Khái
Hưng đều dùng lối tập kích giật lùi như thế: bà lớn luôn luôn
đi từ tấm lòng tốt rồi lùi dần tới lúc lộ ra bộ lòng
xấu. Giọng anh phu xe mới tuyệt diệu: anh ta không kết án bà lớn mà lại bào
chữa cho bà bởi anh luôn luôn tin tưởng vào lòng tốt của bà:
"Ông
phải biết mấy anh em chúng tôi vui mừng, sung sướng cảm ơn bà chủ biết chừng
nào, thi nhau xuất lực ra mà hầu hạ để được xứng với cái lòng tốt
ấy." Cái bi đát là
ở chỗ đó.
Con lợn
lài là truyện
ngắn đầu tiên của Tự Lực văn đoàn chống lại sự bóc lột của bọn phú hào ở thôn
quê. Nhưng Khái Hưng không viết theo lối hiện thực xã hội phê phán, nên tác
phẩm của ông không thể bị lỗi thời. Giọng văn này, bây giờ đọc lại, và có lẽ
muôn đời đọc lại, ta vẫn thấy lạ, vẫn mô-đéc: nó pha trộn bi hài một cách toàn
bích. Khái Hưng vẫn làm ta giật mình ở câu kết.
"Anh xe
mỉm cười nói tiếp:
- Nhưng thế
mà lại sướng ông ạ. Từ nay đến ngày xuống lỗ, chắc chả bao giờ phải mất công
không nuôi lợn lài cho nó béo nữa".
Một giọng triết lý tự nhiên của người
không có học. Hiểu thế nào cũng được: Người phu xe không thèm chấp những thấp
hèn bỉ ổi mà anh đã trải qua, hay anh không có một chút ý thức nào về tấm thân
nô lệ của mình?
Tôi cho rằng Khái Hưng muốn nói trường
hợp thứ nhì, và không chỉ riêng cho người dân quê, mà cho cả dân tộc mình, dưới
thời Pháp thuộc.
Dọc đường gió
bụi (Phong
Hóa số 65, 22-9-33), một truyện tình lãng mạn, nhưng dưới ngòi bút Khái Hưng,
chuyện tình này khác hẳn những gì ta thường thấy. Đào Mơ yêu tha thiết, yêu say
mê yêu không thể dứt ra được, đêm nào nàng cũng phải hiến hồn xác cho người
yêu: hát chèo. Thủa bé, Mơ hát hay, theo cha mẹ hát xẩm ở bến đò
Tân Đệ, được bác Hai Truyện mua về, nuôi dạy nghề ca hát. Mơ trở thành đào
chính của gánh hát rong và cái nghiệp cũng nhập vào nàng. Một ngày kia, tới ấp
Đông Hà, chủ ấp là một trang thanh niên tài hoa lỗi lạc, đủ nghề cầm kỳ thi
họa, yêu hát chèo và say đắm Mơ. Mơ đáp lại tình yêu của chàng, bỏ gánh hát ở
lại. Nhưng đêm sau, tiếng chầu lại vang lên ở làng bên, Mơ choàng dậy, khoác
vội tấm áo vào mình, lẻn bước ra đi, người như còn mê man trong giấc ngủ "tiếng
địch véo von, rền rĩ, làm rung động lòng Mơ, làm tiêu tan cả ái tình mới mẻ.
Ngồi xẹp xuống đất Mơ bưng mặt khóc hối hận. Tiếng địch vẫn sang sảng, khi lên
bổng, lúc xuống trầm như mĩa mai, như chế giễu kẻ lìa phường phản bạn. Mơ đứng
phát dậy lau nước mắt hốt hoảng chạy một mạch vào trong rạp". Khái
Hưng đã viết không phải một chuyện tình mà hai chuyện tình lồng một, một đóa hoa kép đẹp và đau, kết hợp tình yêu và nghệ thuật, và nghệ thuật đã chiếm thế
thượng phong trong trái tim Mơ: tính chất bi đát đã đạt đỉnh của cái đẹp.
Đào Mơ (Ngày Nay 89, 12-12-37): Năm năm
sau, Khái Hưng viết lại truyện đào Mơ dưới dạng tự thuật:
"Năm
năm, cứ sang xuân, trong thời còn được nghỉ học, tôi lại mong nhớ Mơ, sự mong
nhớ âm thầm buồn bã của một tâm hồn ngây thơ. Quả nhiên, trong mấy tháng sau
Tết, những phường chèo kế tiếp nhau đến, tựa bày chim én trở về cùng với những
ngày quang đãng, ấm áp, vui tươi. Tim tôi hồi hộp khi thấy những gánh hòm vuông
sơn đen, sơn đỏ qua cổng huyện tiến vào trong sân". Mơ đã vào đời cậu bé con quan
như thế. "Rồi sau một, hai hay ba hôm, Mơ lại theo phường bạn rời đi
nơi khác… Tôi ngơ ngẩn như người mất linh hồn. Anh tôi thấy thế cười bảo tôi:-
Dễ Linh nó ốm tương tư cái Mơ đấy".
Rồi phải ra tỉnh học, Linh không còn gặp
Mơ nữa. Mười năm sau, tình cờ gặp lại người kép hát cùng với Mơ năm xưa, Linh
mới hay: Mơ lấy lẽ một ông chủ đồn điền, rồi quen nghề cũ, Mơ không ở được lâu
với ai, sau cùng với người chồng mù, Mơ đi lang thang hát xẩm… Mơ
đã đi một vòng đời và trở về chốn cũ của ngày thơ. "Từ đó mỗi lần
xuống phà hay qua hè phố, gặp một cặp vợ chồng, chồng kéo nhị, vợ hát chèo, tôi
lại tưởng nhận được tiếng Mơ".
Đào Mơ là một trong những hình tượng đẹp
nhất trong văn học Việt Nam về hát chèo, về nếp sống tự do, nghệ sĩ. Sau đào
Mơ, Khái Hưng cùng với Nhất Linh tạo ra Tuyết trong Đời mưa gió,
một tuyệt tác khác. Nhưng hình ảnh đào Mơ hay phong thái cụ tú Sầm Sơn
(trong Tương tri)… sẽ lung linh trong các nhân vật của Nguyễn Tuân,
Mai Thảo, qua cái đẹp của một ván cờ, một nét chữ, một sự đợi chờ, một vết chém
treo ngành… Tất cả đều chịu ảnh hưởng Khái Hưng, nhưng có lẽ tác giả của nó,
cũng không biết là mình chịu ảnh hưởng, bởi chính họ cũng là những thiên tài.
Hương gây mùi
nhớ
Khi Hồn bướm mơ tiên chấm
dứt trên Phong Hóa số 29 (6-1-33), gần một năm sau, Khái Hưng viết Hương
gây mùi nhớ in trên Phong Hóa số 127 (7-12-34), đề tặng chú Lan. Hương
gây mùi nhớ chỉ là lá thư của người con gái tên Nga, trốn cuộc hôn
nhân áp đặt, đi tu mong "tìm quên trong lòng phật Tổ". Chú tiểu Nga,
tưởng đi tu là lánh được cuộc đời trần tục. Nhưng không. Chú đã lầm. Chú viết
thư cho người yêu cũ:
"Một
hôm, hôm ấy, phút ấy, chỉ vì trong một phút ấy, tâm hồn em đã thay đổi khác
hẳn, nghĩa là đã trở nên nồng nàn với tình yêu, nồng nàn gấp trăm gấp nhìn lần
khi em chưa dấn thân vào đời tôn giáo, khi em chưa từng nếm qua mùi thiền (…)
Em tưởng tượng đức Như Lai ra một chàng trai trẻ, có tấm lòng tha thiết với
tình yêu. (…) Em cầu cứu, em gọi đức Phật tổ, nhưng đức Phật tổ chỉ lãnh đạm
thờ ơ. Mùi hương ngào ngạt em ngửi vẫn thấy khoan khoái, nhưng sự khoan khoái này
là sự khoan khoái đầy nhục dục. Tiếng chuông em nghe như những lời thề thốt ái
ân. (… )
Chẳng phòng
khuê nào có thể so sánh được với một nơi am vắng đầy mùi hương và tiếng kệ nó
nhắc ta mơ màng tưởng tới những nơi bồng lai tiên cảnh". (Phong Hóa số 127, 7-12-34).
Lời chú tiểu Nga làm đảo lộn mọi nguyên
tắc đạo đời và có lẽ xưa nay ở Việt Nam chưa nhà văn nào dám viết như thế,
nghĩa là dám cho rằng cửa Phật "gợi tình" hơn chốn khuê phòng, dám
"tưởng tượng đức Như Lai như một chàng trai trẻ", dám cảm thấy mùi
hương hoa, tiếng chuông, kinh kệ, "gợi sự khoan khoái đầy nhục dục"…
Hương gây mùi
nhớ phản
biện hoàn toàn Hồn bướm mơ tiên, đánh đổ mọi lập luận cho rằng Khái
Hưng là nhà văn lý tưởng, và lộ ra một Khái Hưng đầy nhục cảm, đi trước thời
đại, cho chú Nga yêu hoa, yêu hương và… yêu Phật. Khái Hưng muốn chứng minh
"lửa tâm càng dập càng nồng", chữ tâm ở đây
không ứng vào cái ghen Hoạn Thư mà ứng vào tình yêu, ở chú Nga, bị dập vùi, dồn
nén, đã lên tới cực điểm: sự đòi hỏi của thể xác làm tê dại tâm hồn, đốt cháy
mọi cơ năng, nghiền nát lý trí. Khái Hưng đã đi tới dứt điểm khi khám phá được
nội tâm con người, con người say mê cùng cực.
Sư Tuệ (Ngày Nay số 182, 7-10-39): Năm năm sau Hương
gây mùi nhớ Khái Hưng viết Sư Tuệ. Sư Tuệ chùa
Hàm, một trang thanh niên khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, yêu thể thao, học
vấn uyên thâm, thích đọc sách triết học và thần học, thông bác tư tưởng đông
tây. Khánh, tên tục nhà sư, đã từng sống cuộc đời trần, yêu say mê trong tuyệt
vọng vợ một người bạn thân, yêu trong yên lặng. Một hôm Khánh điên cuồng ngỏ
lời với nàng, mới hay người ấy cũng cùng cảnh ngộ. Đã thấu lòng nhau, họ quyết
định hy sinh: gắng quên nhau, và Khánh chọn lánh xa người yêu, lánh xa
hẳn, lánh xa trong một thế giới khác. Thế giới ấy, nếu không phải là thế giới
của người chết; thì chỉ có thể là thế giới của người thế phát quy y. Và
chàng trở thành một vị chân tu, Sư Tổ hy vọng chàng sẽ cảm hóa được phái trẻ,
tân học mà Người ví như cây không rễ một ngày kia linh hồn sẽ
héo úa. Sư Tổ muốn cứu vớt linh hồn họ, đưa họ tới cõi niết bàn, công cuộc đó
chỉ Sư Tuệ là có khả năng làm nổi.
"Nhưng
một đêm giữa lúc đương tụng kinh, sự Tuệ ngước mắt nhìn lên bàn thờ và bỗng chú
ý đến khuôn mặt pho tượng Ngọc Nữ. Cả một thời dĩ vãng vụt lờ mờ hiện ra trong
ký ức kẻ tu hành. Sư Tuệ sợ hãi vội cúi xuống quyển kinh và cất cao giọng, gõ
mạnh tiếng mõ như cố xóa lấp cái hình ảnh quá khứ. Nhưng vẻ mặt tươi cười, đôi
mắt sắc sảo, cặp môi đỏ thắm của pho tượng mà sư ông nhớ từng nét vẫn như vẽ ra
trên trang giấy chữ lớn. Sư ông nhắm mắt lại và tụng thuộc lòng luôn mấy trang
kinh; cái khuôn mặt xinh tươi càng rõ rệt hơn và sau cùng, sáng lòa một cái tên
chữ quốc ngữ, tên người đàn bà xưa".
Từ đấy, bất kể làm gì, tụng niệm, ngồi
thiền, cuốc xới, trồng cây, nhà sư chỉ nghĩ đến nàng, khi mệt quá thiếp đi,
nàng xuất hiện lại trong mộng. Người ấy như thành yêu quái ngày đêm
hiện về ám ảnh… Chịu đựng cực hình trong một tháng. Rồi một hôm
bỗng sư Tuệ bỏ chùa trốn đi…
Tác phẩm hoàn tất khái niệm lửa
tâm càng dập càng nồng, mà Khái Hưng đã đưa ra năm năm trước đấy
trong Hương gây mùi nhớ, để phản bác lại Hồn bướm mơ
tiên, viết cách đấy 11 năm. Ông cũng là một trong những nhà văn
đầu tiên không tin và nói ra vấn đề tìm quên trong đạo, với câu trả lời dứt
khoát: Cửa thiền không phải là nơi giải thoát, chỉ là một ngục tù mới, trói
buộc con người một cách giả trá và khốc liệt hơn.
Ô Quy Hồ (Phong Hóa số 175, 21-2-36) ở
trong không gian núi rừng mạn ngược, hẻm núi Chapa. Quang và Ray trốn xuyên
rừng về Lao Kay. Lao Kay nghĩa là yêu Kay. Ta Cao, đã xin cưới Kay nhưng nàng
không thuận, đuổi theo.
Hai người đã đến gần Ô Quy Hồ:
"Trăng
trong lẩn vào ngọn một cây pê-mu, thân to đế, năm, sáu người ôm và cao chót vót
như chọc thủng da trời màu xanh nhạt. Ánh sáng chiếu xuống một đám mây mỏng vắt
ngang sườn núi bên kia như một tấm lụa trắng bay theo chiều gió vướng vào rừng
sặt, ngọn tua tủa đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng.
Quang kìm
ngựa lại ngắm nghía bảo Kay:
- Chúng ta đi
trên mây.
Kay cười
khanh khách. Bỗng nàng rùng mình im bặt, vì tiếng cười vang đáp lại làm cho
nàng kinh hoảng, nhớn nhác, trông trước trông sau. Tiếng vang nàng vẫn thường
nghe thấy, nhưng lần này nàng nhận ra như tiếng chế nhạo khiêu khích của ma quỷ."
Văn Khái Hưng cực kỳ điêu luyện: không
bỏ sót một chi tiết nào, tất cả đều như đã được sắp xếp từ trước để tạo không
khí cạm bẫy, rùng rợn bằng mấy chữ: với cây pê-mu, chọc thủng da trời,
rừng sặt ngọn tua tủa đâm thẳng lên tựa những cây dáo dài cắm dựng; hoặc
khi Kay cười, nghe núi vọng lại một thứ tiếng chế nhạo
khiêu khích của ma quỷ.
Chúng ta trót theo Quang, Kay đến đây,
không biết cây pê-mu là cây gì, chỉ biết nó vĩ đại, năm sáu
người ôm. Rồi cậy sặt cũng vậy, nhọn như gươm giáo, lại cả một
rừng sặt, ta đã lạc vào một rừng gươm. Rồi chính tiếng cười của Kay cũng bị ma
quỷ nhái lại.
Ô Quy Hồ là hồ rùa đen mang
một huyền thoại dữ. Kay nằm mơ bị rùa đen khổng lồ chặn đường, tát chết ngựa,
bóp cổ nàng. Nàng vụt quất ngựa phóng nước đại. Là người của núi rừng, nàng phi
như gió trên hẻm núi cheo leo. Quang phi theo sau, chàng trai thành thị… Một
tiếng rầm… nàng quay lại, đã trễ, và như ngọn gió, ngựa nàng phi thẳng xuống
vực…
Về truyện đường rừng, Lan Khai và Thế Lữ
là hai cây bút chuyên nghiệp, nhưng họ không thể nào sánh với Khái Hưng.
TVEAVQKVVEAV (Ngày Nay số 112, 29-5-38) sau in
thành sách đổi tên là Tiếng khèn, một truyện lạ lùng nữa trong
khung cảnh kỳ dị của núi rừng:
"Ba gian
nhà rộng. Ở gian giữa, trên một cái dá [giá] cao và dài kê sát vách, người chết - một
người thiếu phụ - nằm ngửa, hai tay buông xuôi, mặt che miếng vải xanh. Khách
trịnh trọng lại gần, cầm cái phất trần lông gà phe phẩy; tức thì đàn ruồi đen
bay tản ra. Tôi ghê sợ lùi lại một bước, đầu chạm vào một vật nhũn. Ngửng lên
nhìn thì đó là một miếng thịt lợn sống, máu còn nhỏ giọt, mà họ buộc vào cái
sào gác ngang từ cửa tới chỗ cái thây ma.
Cặp mắt mờ lệ
của người Mèo trẻ tuổi đưa nhìn từ đầu đến chân thiếu phụ. Rồi từ từ, run run,
tay hắn nhấc miếng vải che mặt người chết ra. Một lần nữa đám ruồi bay lên tua
tủa, khiến tôi kinh hoảng lảng ra phía cửa.
Trong lúc
người trẻ tuổi vừa khóc vừa kể lể từng đoạn rất lâu, giọng lên xuống như lời ca
than vãn, thì một người Mèo lom khom nhảy và thổi khèn ở trước linh sàng, và
một người nữa cầm dùi gỗ nện vào cái mặt trống căng chùng để gõ nhịp."
Người trẻ tuổi chính là anh chàng thổi
khèn trong phố đêm Chapa, mà tác giả - đây là một tự truyện - mấy lần lên Chapa
đều được nghe tiếng khèn của anh ta trong đêm khuya, lần này anh ta đi đám ma,
bèn xin đi theo. Đêm ấy, trời mưa không trở về được, tác giả dù đã ớn lắm, đã
nổi da gà, cũng đành ở lại, ngủ nhờ một người trong xóm. "Bên nhà
tang, tiếng khèn, tiếng trống vẫn gióng một kéo dài: "tsè tsè tsè…phình!
tsè tsè tsè phình!" như không bao giờ sẽ dứt".
Ngủ chung với con lợn, trên miếng da
ngựa hôi hám, tác giả thiếp đi, bỗng tỉnh dạy vì "một thứ âm nhạc rất
lạ lùng, rời rạc và mọi rợ: "Ưn, … Ưn ưứt!… Ưn…ưn ưứt!…"
Tất cả những khủng khiếp tác giả đang
trải qua, chứng tỏ sự khác biệt kinh hồn giữa người kinh và người thượng, giữa
"văn minh" và "mọi rợ".
Nhưng cuối cùng, như Khái Hưng thường có
ma thuật, giao hòa hai đối tác, để hợp lại trong giác ngộ, đưa đến tình yêu và
sự giao cảm giữa người và người, dù sự khác biệt văn hóa có sâu xa là chừng
nào: trên đường về, qua cái lều cối giã gạo, mới hay "tiếng ưn ưứt chỉ
là tiếng cái cần mà sức nặng của nước làm rơi xuống và tiếng cái chày gỗ giã
trong không".
"Và từ
đó, tiếng khèn trong chiều tà, tôi nghe như ai oán, như than khóc của một linh
hồn trơ trọi".
Điếu thuốc
lá (Ngày Nay số
114, 12-6-38), Khái Hưng đã đạt tời đỉnh cao nghệ thuật tả chân.
Mỗi chữ đều có phận sự của nó và mỗi câu
đều có thể diễn vài ý khác nhau:
"Thỉnh thoảng cặp môi mỏng và
thâm của ông ta lại bỏ rơi nụ cười hầu bất tuyệt để kéo một hơi thuốc lá, rồi
khi điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son, nụ cười lại
trở về đậu trên cái miệng hé mở, tựa con chuồn chuồn trên mặt ao không bao giờ
chịu rời hẳn bông hoa muống sau mỗi cái giật mình bay đi."
Đấy là nụ cười của ông thày bói Cửu
Thầy. Mù. Mù một trăm phần trăm. Vì cậu bé tác giả đã nhìn thấy: "Hai
con mắt ông ta không có con ngươi và lõm hẳn vào, hai mép mi như khâu liền lại
nhau".
Đây cũng là một tự truyện, tác giả (hồi
đó) là cậu bé độ chín mười tuổi, bị lôi cuốn vì đôi mắt mù thánh của ông Cửu
Thầy: không cái gì qua "mắt" ông được. Câu bé tinh nghịch muốn thử: khi
điếu thuốc đã đặt y nguyên chỗ cũ trên thành bàn cờ sơn son; bèn giấu điếu
thuốc là đi xem ông ta có biết không, nhưng vụng về không làm kịp nên phải bỏ
lại, đặt ngược cái đầu có lửa cháy quay vào trong. Ông Cửu Thầy không để ý, đưa
lầm đầu có lửa vào môi, suýt bỏng. Nhưng nụ cười của ông không vì thế mà héo
rụng. Và ông đã quyết trả thù đứa bé bằng nụ cười. "Cái
mỉm cười lặng lẽ, bí mật, ghê sợ nữa", theo thằng nhỏ ngày đêm,
làm cho nó kinh hoảng không ngừng. Hôm ấy, Cửu Thày quyết định ra tay, ông gọi
thằng con ruột có lỗi lại gần. "Thằng con chừng biết mình có lỗi,
rụt rè chưa dám vâng lời ngay. Nhưng về sau như bị đôi kính đen của cha thôi
miên, nó mon men lại gần… Ông Cửu Thầy vẫn mỉm cười, đợi. Bỗng nhanh như con
bói cá, bàn tay trái ông bổ xuống nắm lấy cái đầu tóc rối trong khi bàn tay
phải tát hai cái cực mạnh trên hai má thằng con khốn nạn".
Sự trả thù "hàm thụ" của Cửu
Thầy tàn ác và kinh rợn hơn sự trả thù trực tiếp, vì cậu bé con quan suốt đời
sẽ không bao giờ quên được hai cái tát trên má đứa bé khốn nạn kia.
Khái Hưng luôn luôn thay đổi bối cảnh và
cách viết, nhưng ông thường chỉ nhắm vào một đối tượng duy nhất như một
vật, một đáng điệu, một thói quen, một âm
thanh… rồi chiếu vào thực thể ấy bằng sự thôi miên xuyên suốt, cho tới
khi nào nó "thua", nó phải hạ màn. Đó là kỹ thuật truyện ngắn của
Khái Hưng.
Các nhà phê bình của ta, thường có lối
nhận định đầy mặc cảm bị trị: cái gì hay cũng học Tây, ví dụ Vũ Ngọc Phan, đọc
truyện Đồng xu thấy hay, bèn khen: Gravoche! Rồi Điếu
thuốc lá, ông bảo gần bằng Cain! Cung Giũ Nguyên thấy Hai vẻ đẹp của
Nhất Linh hay, thích lắm, nhưng ông lên giọng kẻ cả, khen rằng Nhất Linh có
giọng một trăm phần trăm giống Gide, trong cuốn Nouvelle
Nourriture. Khiến Khái Hưng phải chú thích: nỗi băn khoăn ấy Nhất Linh đã
có từ bốn năm trước khi đọc Gide [19] [ý nói từ khi Nhất Linh học
trường mỹ thuật, đã có ý so sánh cái đẹp trong tranh với đời thực khốn cùng, vì
thế ông bỏ mỹ thuật] Tiêu Sơn tráng sĩ cũng được người ta cũng
khen rằng sắp theo gót Ba người ngự lâm pháo thủ!
Lối phê bình tự hạ này rất kỳ cục, bởi
ta nên biết: nền văn chương của một nước, như văn chương quốc ngữ của chúng ta,
không phải vì ra đời sau mà nó kém văn chương Tây phương. Văn chương không phải
là văn bằng, cũng không phải là cái ô tô hay một phát minh khoa học. Tác phẩm
văn chương khi ra đời nó không có bố mẹ, mà có giá trị riêng của nó, độc nhất,
không giống ai, trước sau cũng vậy. Tôi ở Pháp đã lâu, mà nghiệm thấy mình ít
có may mắn được đọc những nhà văn Pháp viết truyện ngắn như Khái Hưng, Nguyễn
Huy Thiệp.
Chú thích:
[1] Nùng Chi Lan ký Tống
Lương (Phong Hóa số 14, 22-9-32); Bông hoa thủy tiên ký Tứ Ly
(số 31, 24-1-33) và Cánh buồm trắng, ký Tứ Ly (số 34,
17-2-33).
[2] Tuồng cổ tân thời đăng
trên Phong Hóa, từ số 38 (17-3-33) đến số 42 (14-4-33).
[3] Thây ma xuống gác (Phong
Hóa số 27, 23-12-1932), Con châu chấu ma (số 30,
13-1-1933) Cô Bụt (số 44, 28-4-1933), Dòng máu đứt
quãng (số 53, 30-6-1933), Cái ví da đen (số 60,
18-8-1933) Hai lần chết (số 63, 8-9-1933), Cái xác
đuổi người (số 66, 29-9-1933) Bên đường Thiên Lôi (số
70, 27-10-1933) Ngây thơ (số 103, 22-6-1934) và cũng trong số
bào này bắt đầu phóng sự Lê Ta làm báo.
[4] Giết chồng… báo thù
chồng, số 14, 22-9-32, Tiếng chó sủa, số 15,
29-9-32, Cái hoa chanh, số 16, 6-10-32, Tiếng gọi cõi âm, số
17, 13-10-32.
[5] Con hai bố (Phong Hóa
số 24, 2-12-32); Vết máu… (số 26, 16-12-32); Nước chảy đôi
dòng (số 28, 30-12-32); Cô áo tím (số 29,
6-1-33); Dưới bóng hoa đào (viết chung với Khái Hưng) và Ngọc
có vết (số 31, 24-1-33), Hồn hoa và Bóng
người trên sương mù (số 32, 3-2-33), Gái vùng Lim (số
33, 10-2-33), Nắng mới trong rừng xuân (số 37, 10-3-33), Đầu
đường xó chợ, (số 51, 16-6-33), Tháng ngày qua (số 52,
23-6-33), Ngày thu… (số 62, 1-9-33).
[6] Gánh hàng hoa từ Phong
Hóa số 66 (29-9-33) tới số 88 (9-3-34); Đời mưa gió từ số 89
(16-3-34) tới số 112 (24-8-34).
[7] Thế rồi một buổi chiều, phụ
trương số 91 (30-3-34), Cô hàng nước (Khái Hưng và Nhất Linh)
số 107 (20-7-34), Nắng thu từ số 113 (31-8-34) đến số 122
(2-11-34), Lan rừng, số 162 (15-11-35).
[8] Nghèo, Ngày Nay
số 17 (19-7-36) Hai buổi chiều vàng (Ngày Nay số
19, 2-8-36), số 20, 9-8-36, số 21, 16-8-36 và số 22, 23-8-36, Tối tăm, số
23, (30-8-36), Chết dở, số 24 (6-9-36), Hai
chị em, số 34 (15-11-36), Vết thương, số 35
(22-11-36), Con đường quê, số 138 (20-11-38).
[9] Kong-Ko Đai-Jin ký
Trần Khánh Giư (Phong Hóa số 14, 22-9-1932); Đi Nam Kỳ ký
T.K.G và Cái thù ba mươi năm ký T.Khái Hưng (Phong Hóa số 15,
29-9-1932); Sóng gió Đồ Sơn ký T. Khái Hưng (số 16,
6-10-1932); Cái thống đời Tống ký T. Khái Hưng ( số 17,
13-10-1932); Tình tuyệt vọng trong có bài thơ Tình
Tuyệt Vọng (dịch thơ Arvers) (số 18, 20-10-1932); Ada Kwaben (Phong
Hóa số 19, 27-10-1932); Lãng mạn ký Trần Khái Hưng, số 21
(11-11-1932); Bạn…! Chỉ là bạn!… (số 23,25-11-1932); Dưới
bóng hoa đào của Khái Hưng và Bảo Sơn (số 31, 24-1-1933); Lên
sĩ xuống sĩ (số 33, 10-2-1933); Hai linh hồn, số 35,
24-2-1933); Bên dòng sông Hương (số 40, 31-3-1933); Ý
Lan (số 41, 7-4-1933); Véo von tiếng địch (số 42,
14-4-1933); Nghĩa cái cười (số 43, 21-4-1933); Anh
phải sống (số 45, 5-5-1933); Hai cái áo quan (số
46, 12-5-1933). Tình điên (số 48, 26-5-1933) và số 49
(2-6-1933); Con lợn lài (số 50, 9-6-1933); Hất báo số
56, 21-7-1933) số 57, 28-7-1933) và số 58, 4-8-1933); Lời thề (số
64, 15-9-1933); Dọc đường gió bụi (số 65, 22-9-1933); Yêu (số
77, 15-12-1933); Con số 08430 (số 78, 22-12-1933; Ai
đẹp (số 79, 29-12-1933); Bên đường dừng bước (số 85,
11-2-1934); Tình lưu luyến (số 96, 4-5-1934); Hoàng
Oanh (số 97, 11-5-1934); Yên lặng (số 106, 13-7-1934); Cô
hàng nước của Khái Hưng và Nhất Linh (số 107, 20-7-1934); Gói
bạc rơi (số 120, 19-10-1934); Một tập thư, (số 121,
26-10-1934); Chúa Thao (số 122, 2-11-34). Con Mán (số
125, 23-11-34), Hương gây mùi nhớ (số 127, 7-12-34), Một
nhà thông thái (số 128, 14-12-34), Cái đồng hồ đeo tay (số
133, 18-1-35), Linh hồn thi sĩ, và Công Tằng Tôn Nữ
Thị Kim Dung (số 134, số Xuân, 30-1-35), Một nhà hiền triết (số
139, 8-3-35), Bắt trộm (số142, 29-3-35), Giặc bể (số
144, 12-4-35), Con chim vành khuyên (số 154, 20-9-35), Tiệc
tranh (số 158 (18-10-35), Không BẢ..A..Án (số 159,
25-10-35), Trăng suông (số 161, 8-11-35), Tình
yêu thứ nhất của Khái Hưng và P.N.Thọ (số 164, 29-11-35), Cầm
vườn (168, 27-12-35), Cái áo đan, Lá rụng, Hoa
thủy tiên, Hoa anh đào, Ngày xuân lễ chùa, Trong
rừng mai (số 171, Xuân 21-1-36), Chén trà mạn sen (số
174, 14-2-36), Ô Quy Hồ (số 175, 21-2-36), Trúng số và Bãi
sậy vườn cam (số 176, 28-2-36), Biến đổi (số 177,
6-3-36), Cháu Tạ (số 178, 13-3-36), Vú Kim (số
181, 3-4-36), Trong nhà thương (số 185, 1-5- 36), Hai
cảnh trụy lạc (số 187, 15-5-36), Có đi có lại (số
188, 22-5-36), Thưa chị, (số 189, 29-5-36), Cái máy
ảnh ( số 190, 5-6-36).
[10] Ba Ếch Vô Huế, ký Khái
Hưng (số 41,7-4-33); Một đám ma, ký Nhị Linh số
46 (12-5-33); Quýt ngọt, ruốc ngon, ký Khái Hưng (số 49,
2-6-33); Gật, gật hoài ký Khái Hưng, số 50
(9-6-33); Hảo hớn ký Nhị Linh, số 52 (23-6-33);
những chuyện sau đây ký Khái Hưng: Võ Thái Hà, số 53 (30-6-33); Để
của bí mật, số 54 (7-7-33); Yêu đời, số 73 (17-11-33); Đãng
trí, số 89 (16-3-34); Cai thuốc phiện, số 91 (30-3-34); Những
bóng người trên bãi biển, truyện phóng sự của Nhị Linh, số 109
(3-10-34); Ông cứ giã cho nó! ký Khái Hưng, số 118
(5-10-34). Chụp gà hóa cáo số 124 (16-11-34) Thả vỏ
quýt ăn mắm ngấu (số 125, 23-11-34), Liều thuốc độc (số
129, 21-12-34) Mãn đình hồng của Nhị Linh (số 130,
28-12-34), Ăn miếng trả miếng (số 131, 4-1-35), Bảng
công ty (số 152, 6-9-35), Chơi ô tô ( số 160,
1-11-35), Tờ giấy bạc (số 161, 8-11-35, Bàn việc làng (số
165, 6-12-35, Cờ quạng ( số 182, 10-4-36) Bảo hiểm (số
184, 24-4-36).
[11] Kiêng1 (Phong Hóa số
31, 24-1-33) ký Khái Hưng; Tôi là Khái Hưng (số 39,
24-3-33); Ghen, số 46 (12-5-33) ký Nhị Linh; Những vở kịch ký
Khái Hưng: Nửa cái thỏ bò, số 51 (16-6-33), Ông Đồng
Phương, số 81 (12-1-34); Kiêng 2, số 85 (11-2-34); Tục
lụy; số 88 (9-3-34), 89 (16-3-34) và 90 (23-3-34); Con mèo,
số 115 (14-9-34); Chữ nho, số 116 (21-9-34); Bói Kiều,
số 119 (12-10-34); Không hề gì mà, số 120 (19-10-34), Kiêng (số
134, số Xuân, 30-1-35), Ở hiền gặp lành (số 172, Xuân II,
31-1-36), Quần tiên tụ hội, (số 185, 1-5-36), Kịch không
người (số 190, 5-6-36).
[12] Đợi chờ, Ngày Nay số
17, 19-7-36), Bến đò năm xưa (số 21, 16-8-36), Phong
lan và Nước hoa phong thổ (số 22, 23-8-36), Cái
ve (số 23, 30-8-36), số 24, 6-9-36), số 25, 13-9-36) và số
26, 20-9-36), Lòng tốt (số 26, 20-9-36), Linh Hồn (số
28, 4-10-36), Trăng thu (số 29, 11-10-36), Người vợ mù
(số 31, 25-10-36), Dưới ánh trăng (viết chung với Trần Tiêu)
(số 32, 1-11-36), số 33, 8-11-36) số 34, 15-11-36) và số 35,
22-11-36), Nhà phê bình (số 39, 20-12-36),Đồng
xu, (số 41, 3-1-37), Đêm giao thừa, (số 46, 7-1-37), Cô
áo trắng (số 51, 14-3-37), Vui tính (số 53,
4-4-37), Hội kín (số 58, 9-5-37), Tống tiền (số
59, 16-5-37), Nguồn thơ và Ngày giỗ (60,
23-5-37),Bến Hòn Gay (số 63, 13-6-37), Cháu
nhà quan (số 64, 20-6-37), Sung sướng (số 65,
(27-6-37), Cô dâu (số 66, 4-7-37), số 67, 11-7-37) và số 68, 18-7-37),Cây
tre trăm đốt (số 70, 1-8-37), Vợ cóc, truyện cổ tích (số
71, 8-8-37), Ai mua hành tôi, truyện cổ tích (số 72,
15-8-37), Mười năm yêu dấu (số 76, 12-9-37), Người hầu
sáng (số 86, 21-11-37), Sếnh Sáng (số 88,
5-12-37), Một quan niệm về văn chương (Tựa Gió đầu mùa) và Đào
Mơ (số 89, 12-12-37), Tập ảnh (số 96, 30-1-38), Thời
xưa, (số 103, 27-3-38), Chùa Hương (số 109, 8-5-38), Xanh
cà bung (số 110, 15-5-38), TVBAVOKVVEAV tức Tiếng
khèn (số 112, 29-5-38), Điếu thuốc lá, (số 114,
2-6-38), Lưu Bình Dương Lễ (số 125, 28-8-38) số 126, 4-9-38) số
127, 11-9-38) và 129, 24-9-38), Một buổi chầu (số 146,
21-1-39), Hai người tàn tật (số 147, 28-1-39), Khó
hiểu (số 148, 4-2-39), Chàng thi nhân (số 149,
15-2-39), Gán vợ (số 151, 4-3-39), Tình địch (số
154, 25-3-39), Tế thành hoàng, (số 156, 8-4-39), Cái
duyên của Tản Đà (số 166, 17-6-39), Vài truyện vui về thi sĩ
Tản Đà (số 167, 24-6-39), Ông Đồng (số 172,
29-7-39), Thời chưa cưới, (số 173, 5-8-39), Tương tri,
(số 175, 19-8-39), Hai người bạn (số 181, 30-9-39), Sư
Tuệ, (số 182, 7-10-39), Hai con mắt (số 205,
30-3-40), Biển, (số 209, 25-5-40), Ái tình, (số
216, 13-7-40), Nghiện, (số 218, 2-7-40).
[13] Chết và Cờ điên
thoại (Ngày Nay số 16, 12-7-36), Cậu Cả (19,
2-8-36), Tiền (số 20, 9-8-36), Người chồng (số 36, 29-11-36),
số 37 (6-12-36) và số 38 (13-12-36), Kiêng V (số 46, 7-1-37), Đồng
bệnh (số 80, 10-10-37), số 83, 31-10-37, số 84, 7-9-37) số
85,14-11-37), Chén trà đầu năm (số 96, 30-1-38), Không
đèn (số 153, 13-3-39), Khúc nghê thường (số 198,
3-2-40, số 200, 24-2-40).
[14] Hổ (Ngày Nay số 145,
14-1-39), Thâm nho (số 151, 4-3-39), Trả thù (số
159, 20-4-39), Thoát (số 161, 13-5-39), Bà chủ nhà của
tôi (số 164, 3-6-39), Bá cáo việc riêng (số 202,
9-3-40), Cách cho (số 203, 16-3-40), Chợ trời (số
204, 23-3-40) Đi ra thôi (số 206, 6-4-40) Cây
"Thần tiên" (số 215, 6-7-40) Người bán dầu (số
217, 20-7-40), Lỡ quá ga (số 218, 27-7-40), Nghỉ mát (số
221, 17-8-40), số 222, 24-8-40) và số 223, 31-8-40).
[15] Mưa của Somerset
Maugham, Khái Hưng dịch Ngày Nay số 43, 17-1-37, số 44
(24-1-37), số 45 (31-1-37), số 46 (7-1-37), số 48 (28-2-37) và số 49
(7-3-37), Cô gái thành Arles của A. Daudet, Khái Hưng dịch (số
50, 14-3-37), Bệnh viện của Somerset Maugham, Khái Hưng dịch, số
167 (24-6-39) số 168 (1-7-39), 169 (8-7-39) và 170 (15-7-39); theo bản chũ Pháp
của bà ER Blanchet, Trà đạo của Okakuza Kakuzo, Khái Hưng dịch
theo bản chữ Pháp của Gabriel Mourey (số 209, 25-5-40), Ý nghĩa nghệ
thuật, của Okakuza Kakuzo (Trà thư), Khái Hưng dịch, số 210
(1-6-40), Hoa của Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng dịch
(Ngày Nay số 212 (15-6-40), Hoa, của Okakuza Kakuzo (Trà Biên),
Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 213 (22-6-40), Các trà sư của
Okakuza Kakuzo (Trà Biên), Khái Hưng trích dịch (Ngày Nay số 214 (29-6-40)
[16] Tiền hồ là tiền trả
cho nhà chứa bạc.
[17] linh là lẻ,
có nghĩa là trên dưới trăm bạc.
[18] xà tích: dây bạc để
đeo chìa khóa.
[19] Cung Giũ Nguyên, Les Cahierrs de
la Jeunesse số 4 Décembre 1936, in lại trong Ngày Nay số 52).
Khái Hưng xây
dựng tiểu thuyết hiện đại trên Phong Hóa
Về tiểu thuyết, trước Hồn bướm
mơ tiên, ngoài Bắc có Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và
trong Nam, năm 1932 đã có 18 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh. Nhưng tiểu thuyết Hồ
Biểu Chánh hầu như không có ảnh hưởng ra Bắc, vì người Bắc không thích đọc
tiếng Nam, lấy cớ không hiểu, hoặc chê “thô thiển không phải văn chương” và thứ
hai, Hồ Biểu Chánh chuyên viết lối hiện thực xã hội trong suốt
hành trình dài hơn nửa thế kỷ tiểu thuyết của ông.
Tự Lực văn đoàn khai trương tiểu thuyết
trên Phong Hóa, sau đó, một số tác giả khác cũng viết tiểu thuyết như Nguyễn
Công Hoan với Cô giáo Minh (1936), Tắt lửa lòng (1936),
Vũ Trọng Phụng, Giông tố (1937), Ngô Tất Tố, Tắt đèn (1939),
tuy giá trị khác nhau nhưng đều nằm trong lối hiện thực xã hội tả
chân.
Tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn khác biệt ở
chỗ: ngoài ý nghĩa xã hội, còn có văn chương tư tưởng, tức là tiểu thuyết trong
nghĩa toàn diện của nó. Chính hệ thống tiểu thuyết văn
chương tư tưởng với những đề tài khác biệt, chủ yếu của Khái Hưng, đã
ảnh hưởng sâu xa đến cách viết của những người đi sau, như Nguyễn Tuân, Mai
Thảo trong cách xây dựng mỹ học tiếng Việt, Dương Nghiễm Mậu trong hiện thực
hiện sinh, Đinh Hùng Hoài Điệp Thứ Lang trong tiểu thuyết lịch sử…
Dưới đây là danh sách truyện dài của
Khái Hưng Nhất Linh trên báo Phong Hóa trong hơn ba năm xuất hiện, từ 1933 đến
1936:
Hồn bướm mơ
tiên, của Khái
Hưng, từ Phong Hóa số 20 (4-11-32), đến Phong Hóa số 29 (6-1-33).
Thế giới cũ
mực tầu giấy bản, của Nhị
Linh (Khái Hưng) từ số 24 (2-12-32) đến 35 (24-2-33).
Bông cúc vàng của Khái Hưng, từ số 30 (13-1-33)
đến số 35 (24-2-33).
Nửa chừng
xuân của Khái
Hưng, từ số 36 (1-3-33) đến số 63 (8-9-33).
Gánh hàng hoa của Khái Hưng và Bảo Sơn (Nhất
Linh) từ số 66 (29-9-33) đến số 88 (9-3-33).
Đời mưa gió của Khái Hưng và Nhất Linh, từ số
89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34).
Số đào hoa của Khái Hưng, từ số 110 (10-8-34)
đến số 119 (12-10-34).
Đoạn tuyệt của Nhất Linh, từ số 124, 16-11-34, đến số
149 (17-5-35).
Tiêu Sơn
tráng sĩ của
Khái Hưng từ số 129 (21-12-34) đến số 184 (24-4-36).
Trống
mái, của Khái
Hưng, từ số 152 (6-9-35) đến số 173 (7-2-36).
Đi Tây, của Nhất Linh, từ số Phong Hóa số151
(31-8-35) đến Phong Hóa số 181 (3-4-36).
Địa vị của
Khái Hưng
Là người anh cả trong văn đoàn Tự Lực,
Khái Hưng sinh năm 1896, Tú Mỡ, 1900, Nhất Linh 1906, Hoàng Đạo, 1907, Thế Lữ,
1907, Thạch Lam, 1910 và Nguyễn Gia Trí, khoảng 1910.
Khái Hưng bao giàn cả tờ báo: Ngoài việc
viết tiểu thuyết đăng hàng tuần, ông còn viết truyện ngắn, phụ trách các mục
thường thức như Văn học, Phụ nữ, Những hạt đậu
dọn (nhặt sạn văn chương, ký Nhát Dao Cạo, Hàn Đãi Đậu), viết xã luận,
kịch, truyện vui, tiểu luận, làm thơ trào phúng, dịch thơ chữ Hán, chữ Pháp,
làm câu đối, điểm báo, điểm sách, đôi khi vẽ tranh châm biếm… Tóm lại, việc gì
ông cũng làm được.
Khái Hưng và Nhất Linh là hai cột trụ
của Tự Lực văn đoàn, trên hai cương vị khác nhau.
Huy Cận, xuất hiện trên Ngày Nay số Xuân
96 (30-1-38) với bài thơ Chiều xưa, lúc đó Phong Hóa bị đình bản
được một năm rưỡi, đã nhận định khá đúng tình hình:
“Trong Tự Lực văn đoàn, Nhất Linh là
người chỉ đạo, nhưng Khái Hưng là lực lượng có thể nói là nền móng. Sức sáng
tác dồi dào của anh, sự hoan nghênh của công chúng lúc bấy giờ đối với những
tác phẩm của anh là chỗ dựa chính cho sự tồn tại của báo Ngày Nay và của nhà
xuất bản Đời Nay” (Huy Cận, Hồi ký song đôi).
Khảo sát tiểu thuyết trên Phong Hóa và
Ngày Nay, ta mới thấy Khái Hưng ngự trị bằng tác phẩm không chỉ trên Phong Hóa
mà cả văn đàn miền Bắc, từ năm 1933 với Hồn bướm mơ tiên và Nửa
chừng xuân. Liền sau đó là Gánh hàng hoa và Đời
mưa gió, viết chung với Nhất Linh, tiếp đến Trống mái và Tiêu
Sơn tráng sĩ, đều là những tác phẩm giá trị.
Nguyễn Hiến Lê nhớ lại:
“Tôi nhớ những năm đó các bạn nội trú
của tôi ở trường Công chính chuyền tay nhau đọc say mê những chuyện Nửa chừng
xuân, Hồn bướm mơ tiên… trong tờ Phong Hóa” [1]
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ghi lại: “Thanh
niên và thiếu nữ theo tân học say mê đọc "Hồn bướm mơ tiên", tiểu
thuyết đầu tay của Khái Hưng như cơn gió mát đi vào tâm hồn tuổi trẻ đang tìm
hiểu về tình yêu lãng mạn” [2]
Nhưng có lẽ ta nên đọc thêm vài câu nữa
của các nhà văn, nhà phê bình thời đó, để hiểu xem Khái Hưng đã được đón nhận
như thế nào.
Trần Thanh Mại, nhà phê bình, viết
về Hồn bướm mơ tiên: “Quyển thứ nhất của Tự Lực văn đoàn, thứ
nhất của ông Trần Khái Hưng, Hồn bướm mơ tiên, có lẽ là quyển thứ nhất trong
văn nghệ nước ta đáng để lại cho hậu thế” [3]
Nguyễn Triệu Luật, nhà văn chuyên viết
truyện lịch sử: “Văn ông hơn người ở chỗ bình dị, trôi chảy, không dùng khóe
văn vụn vặt, không khoe chữ như các ông văn sĩ khác. Văn ông như cô con gái có
duyên thầm, không cười mà người ta trông thấy vẻ tươi, không khóc mà người
ta đoán được vẻ buồn kín đáo và lặng lẽ. Các vai chuyện của ông - nhất là các vai
chính - thảy đều có một cái nhân cách thanh cao tao nhã. Các thiên tiểu thuyết
của ông thảy đều có vẻ cao siêu khác thường.
Kẻ viết mấy
dòng này đã nhiều lần phải nghiêng mình kính chào ông một nhà văn mới khởi sắc
trên văn đàn” (Phụ
nữ thời đàm số 23, ngày 14-5-34).
Union Indochine viết: “Còn có gì lạt
lẽo bằng truyện một cậu tham trẻ, con nhà "đại gia" yêu một cô gái
quê nhu mì, con một nhà nho nghèo chết sớm, và chị một cậu học sinh đau ngực.
Thế mà nghệ thuật của Khái Hưng đã khéo dàn xếp được câu truyện rất tầm thường
ấy và đã khiến thoi chì của cuộc đời thường nhật trở nên vàng trong một thiên
tiểu thuyết kiệt tác…” (Union Indochine).
Những nhận xét trên đây, có còn đứng
vững tới hôm nay hay không? Ta cần đọc và phân tích lại những tác phẩm chính đã
kê khai trên đây, qua lăng kính phê bình thời nay.
Hồn bướm mơ
tiên
Hồn bướm mơ
tiên đăng
trên Phong hóa từ số 20 (4-11-32) đến số 29 (6-1- 33).
Nguyễn Tường Bách ghi nhớ kỷ niệm một
ngày đi chơi chùa Bắc Ninh:
“Rời chùa Phật Tích, theo con đường
nhỏ, chúng tôi rẽ sang chùa Bách Môn gần đồi Lim… Cũng nằm trên sườn đồi, có
đường rộng dẫn vào, chùa Bách Môn kém bề cổ kính; có nhiều cửa to nhỏ ra vào,
nhưng đếm đi đếm lại cũng không đủ một trăm.
Song, ngôi
chùa này đã được Khái Hưng để ý và chọn làm nơi chàng trai trẻ Ngọc đã gặp chú
tiểu Lan trong mối tình của cuốn tiểu thuyết đầu tay.
Liên tưởng
đến truyện ngày xưa, Lê Thánh Tôn đã gặp một nàng tiên tại một ngôi chùa nào
đó. Câu thơ được truyền tụng tới nay:
Gió thông đưa
kệ tan niềm tục,
Hồn bướm mơ
tiên lẩn sự đời” [4]
Chùa Bách Môn [5],
trên núi Khán Sơn, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, là một trong 10
chùa lớn được Trần Trọng Kim ghi lại trong Phật Lục [6] có
lối kiến trúc đặc biệt, dựng khoảng 1136-1137. Thời Trịnh Sâm, được bà Chúa Chè
(Tuyên phi Đặng Thị Huệ) chọn làm nơi ăn chay niệm Phật, sau khi bị thất sủng;
nên chùa được xây dựng hoành tráng, trăm cửa. Chùa Bách Môn bị tiêu diệt năm
1949, vì tiêu thổ kháng chiến. Năm 1992 dựng chùa mới.Chùa Bách Môn xưa, ảnh của Võ An Ninh,
Khuất Tân Hưng sưu tầmKhái Hưng trong Nửa chừng xuân còn
dẫn Mai, Lộc và Huy trở lại pic nic ở chùa, lần này ông ghi cảnh chùa kỹ hơn:
“Về phía hữu sườn đồi choai choãi
giốc xuống một cái thung lũng hẹp, có cái lạch nhỏ chia đôi hai thửa ruộng chạy
dài. Về phía tả đi ngược lên ngọn đồi, các vườn giải thành bậc ruộng, đất vàng.
Trong vườn mọc um tùm mà không thành luống, thành hàng, biết bao là các thứ
cây: nào mít, nào đào, nào bưởi, nào cam. Thỉnh thoảng trong đám lá xanh lại
nhô ra vài cái mái nhà lợp lá gồi màu nâu thẫm. Bức tường đất ngăn những nương
vườn cao ấy với đường đi thì hình như chỉ có để làm vì, hoặc để trang điểm cái
cảnh thôn giã ấy cho tôn thêm vẻ đẹp mà thôi. Vì không những tường đã thấp, mà
nhiều chỗ lại bỏ hổng như để mời khách qua đường bước lên chơi”. Đến
gần: “Chùa làm kiểu chữ khẩu, bốn mặt như nhau, bốn góc có bốn gác chuông,
cách kiến trúc rất giản dị mà rất kiên cố.” (Phong Hóa số 45)
Năm 1936, Nguyễn Gia Trí vẽ chùa trên
bìa báo Ngày Nay số 26 (20-9-36), có lẽ cũng đúng ở vị trí mà Khái Hưng đứng
ngắm chùa trong Nửa chừng xuân. Chùa nay đã hóa thành thiên cổ,
nhưng may mắn chúng ta còn giữ lại hồn cốt nghệ thuật và văn chương dưới
tên Long Giáng trong Hồn bướm mơ tiên.Chùa Bách Môn dưới mắt Nguyễn Gia Trí, Ngày Nay số 26 (20-9-36)Hồn bướm mơ
tiên không
chỉ là tiểu thuyết đầu tiên của Tự Lực văn đoàn, mà còn là câu chuyện đầu tiên
của nhiều thứ khác:
- Với tên Hồn bướm mơ tiên,
Khái Hưng bước vào tiểu thuyết bằng ngả cao sang nhất: ngả thơ. Thơ cổ. Ông đã
đụng tới hồn Việt lâu đời, ông đã thắp nén hương dâng người xưa, những người đã
từng bước, từng bước, xây dựng nền văn hóa Việt.
- Hồn bướm mơ
tiên đã quét
sạch lối văn biền ngẫu cổ điển để đưa tiểu thuyết vào thời hiện đại.
- Hồn bướm mơ tiên là
tác phẩm tiểu thuyết đầu tiên không có cốt truyện, không tình tiết éo le, mà
chỉ là cuộc đối thoại dài giữa hai người: Lan và Ngọc, một cấu trúc rất mô-đéc,
sau này mới có.
- Hồn bướm mơ tiên đưa
văn hóa Bắc Ninh vào tiểu thuyết: âm giai quan họ thấm vào mỗi chữ, mỗi câu,
tung lên không gian, tạo nên một “không khí ca dao quan họ” trong gió mây, đồng
ruộng.
- Hồn bướm mơ tiên đưa
nghệ thuật trình diễn vào tiểu thuyết: dáng dấp đào Mơ, thị Màu, thị Kính… như
ẩn như hiện dưới sân chùa.
- Khái Hưng đưa lịch sử vào tiểu thuyết:
Long Giáng là dấu ấn thiêng liêng của Thăng Long trên nền đất Phật. Văn Khôi
công chúa, trốn cuộc hôn nhân định đặt, đến quy y, đặt chùa lên ngôi vương giả.
- Chú Lan, hậu thân công chúa, hiện lên
trong không gian cao khiết, quyến rũ lạ thường: “Trong làn không khí yên
tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga, như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh
thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt như cảm
tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch” (Ngày
Nay số 20).
Một thi pháp mới vừa xuất hiện, giao hòa
cỏ cây, tiếng chuông, mùi thiền, hồn Văn Khôi, dáng Thị Màu, trong bối cảnh
tình yêu nơi cửa Phật, tạo ra một thứ chữ tẩm văn hóa lịch sử trong mỗi câu, mà
tôi xin gọi là mỹ học thiền vị.
- Hồn bướm mơ
tiên có tính
chất bí mật của trinh thám, thứ trinh thám biết trước thủ phạm của Colombo: Gặp
Lan, Ngọc đã nghi ngay: “Sao ở vùng nhà quê mà lại có người đẹp trai đến thế
nước da trắng mát, tiếng nói dịu dàng, trong trẻo như tiếng con gái” và
chàng cũng tán ngay: “Hay tôi xin phép cụ ở lại chùa tu với chú nhé?”. Sự nghi
ngờ mỗi phút mỗi tăng: “Phải, nếu hắn là gái thì hắn cần gì phải làm thế để
che giấu ta chứ… Đích rồi, chính hắn là gái.” Ngọc dùng mọi mưu
kế để lật tẩy Lan, nhưng luôn luôn bị Lan lật lại, nên cuộc chiến gần như bất
phân thắng bại. Mỗi lần thua, càng gieo thêm vào lòng Ngọc sự ham muốn: hắn là
trai hay gái? Nghệ thuật pha trộn tu-tục tuyệt vời chính chỗ này: sự tìm kiếm trinh
thám Colombo, khiến Ngọc mãi mãi là thanh niên và Hồn bướm mơ tiên không
thể nào già, vì những gì Ngọc-Lan sống trong cảnh chùa, trong ngôn ngữ và hành
động, chính là hiện hữu, hiện hữu trẻ trung đầy sáng tạo, rất
thật; khiến người đọc mỗi lần đọc lại tác phẩm lại khám phá một thứ gì mới
trong cái hài hước, cái oái oăm, hóm hỉnh, mà lần trước mình chưa thấy.
Mục đích của Ngọc là khám phá Lan là
gái. Nhưng khi đến đích rồi, thì tất cả xoay chiều, từ hài hước chuyển sang bi
đát, chia ly.
Có người cho rằng Việt Nam không có tác
phẩm “lớn”. Đúng. Hồn bướm mơ tiên phải là bé, bé lắm vì là
cuốn sách mỏng dính. Nhưng văn chương không thể lấy bề dày mà đo được. Hồn
bướm mơ tiên tuy bé nhưng bé hạt tiêu, chỉ với một mớ chữ nhỏ đủ gói
trọn tâm hồn và lịch sử văn hóa một dân tộc: mộc mạc như cuộc sống nâu sồng của
chú Lan, cao sang như công chúa Văn Khôi, đến Thị Kính, Thị Màu, những người
phụ nữ không tuổi, trọ dưới mái chùa Long Giáng, hiện lên với chúng ta, qua một
thoáng chữ.
Có người lại nói: bây giờ đọc lại Tự Lực
văn đoàn thấy lỗi thời. Tôi không chắc họ có thì giờ “đọc lại” nên đã nhờ sự
chỉ giáo của thành kiến, bởi chữ Việt của Khái Hưng, nhất là trong Hồn
bướm mơ tiên, lại viết theo lối truyện không có chuyện, rất mới, bằng lối
văn đơn sơ tối đa mà Trang Tử từng nhắc tới trong Nam Hoa Kinh như một điều
kiện văn chương toàn bích, cho nên, nếu ai có thì giờ đọc lại hay đọc lại, vẫn
thấy sống động, trẻ trung, không lỗi thời, phủ bụi, sau 90 năm xuất hiện.
Thế giới cũ
mực tầu giấy bản của Nhị Linh (Khái Hưng) đăng trên Phong
Hóa từ số 24 (2-12-32) đến số 35 (24-2-33) [7],
chỉ là tác phẩm thứ yếu của Khái Hưng, một tự truyện về bảy, tám năm học chữ
Nho. Cách viết nhẹ nhàng, có duyên, thuật lại cảnh một cậu bé (Nhị) Linh sáu
tuổi được cha mẹ mời thày đồ về dạy chữ Nho, câu đầu tiên thầy bảo: “Nhồi tư
tưởng thánh hiền vào bộ óc dốt nát cũng ví như cất nóc cho nhà”. Từ
đó ngày ngày cậu được thầy nhồi “tư tưởng thánh hiền” cật lực:
“Học đi! Thiên là giời!
Tôi sợ cuống quýt, không nhìn vào sách mà chỉ chú ý tới cây roi mây, cất giọng
nhè nhè đọc đi đọc lại đến mấy chục lần: A… thiên là giời, thiên là giời a… a…
Thày lại quát: - Trỏ tay vào mặt chữ chứ. Tích là cho… Tôi vội vàng theo đầu ngọn
roi trỏ vào chữ thứ hai: Tích là cho, tích là cho… Khi tôi học hết chữ thứ tám
thày bắt tôi học lại hai câu bốn chữ: Thiên tích thông minh: giời cho thông
sáng. Thánh phù công dụng: Thánh giúp công dùng. Tôi đã toan hỏi thày công dùng
là gì, nhưng trông thấy ngọn roi mây mấp máy lại thôi. May sao như thày đọc
thấu ý nghĩ của tôi, khoan thai giảng nghĩa rằng:
- Giời cho
thông sáng, thánh giúp công dùng nghĩa là mày mới vỡ lòng thì ông giời cho mày
sự thông sáng và ông thánh giúp mày sự công dùng để mày có thể hiểu được đạo
thánh hiền.
Tôi cũng
không hiểu nhưng vẫn không dám hỏi… Rồi suốt bảy tám năm giời, cứ như thế, thày
tôi, cái roi và tôi, tuy không ai hiểu ai mà luôn luôn vẫn phải hiểu nhau.” (Ngày Nay số 27)
Trong ba năm đầu, cậu bé đã học thuộc
lòng: quyển Hán, quyển Huệ (bộ Bắc sử) và toàn bộ tứ thư: Đại học, Trung dung,
Luận ngữ, Mạnh tử: “tôi chỉ học như con vẹt, tuy học thuộc lầu lầu, nhưng
chẳng hiểu là trong sách thánh hiền dạy gì? Lời thầy giảng nghĩa thì lại y như
lời thánh hiền khiến tôi càng mờ mịt”. (Ngày Nay số 28).
Điều tra sự thật, ta thấy sau đây là
những nguyên do chính đưa đến sự “phản kháng” của trò Linh sau này:
Chính vì bị nhồi nhét tư tưởng thánh
hiền như nhồi dồi, nên cậu bé Linh sau này đâm ớn thánh hiền. Lại còn chuyện
ông thầy luôn luôn nhắc đến việc “tam thê xuất thế” của đức Khổng mà “thày
lại không bao giờ giảng cho nghe vì cái lẽ gì mà các bà vợ khốn nạn kia đã bị
đuổi. Tôi lạ một điều nữa là thày đồ tôi học rộng đạo thánh hiền, thế mà rất vô
ơn đối với phụ nữ, thực ra công giúp thày ra khỏi vòng nguy nan là ở hai người
đàn bà. Một người là bà đồ [tần tảo buôn bán nuôi con] và
một người nữa là mẹ tôi, vì chính mẹ tôi đã giục cha tôi đi rước thầy về dạy
cho anh tôi”. (Ngày Nay số 26).
Tôi chắc những chuyện lặt vặt ấy đã là
mầm mống của cuộc “cách mệnh” đánh đổ nho học và bênh vực phụ nữ của cậu Linh
sau này.
Nửa chừng
xuân ra đời
trở thành best-seller ngay, tiền bán sách được dùng gây quỹ cho giải thưởng văn
chương Tự Lực văn đoàn và tiền diễn kịch Nửa chừng xuân giúp
học sinh nghèo [8].
Khái Hưng xây dựng Mai, và Nhất Linh xây
dựng Dũng, hai nhân vật tiêu biểu cho một thời đại, không ngừng ở trong tâm
người đọc, dù ở thế hệ nào. Mai đã được Lê Thị Lựu đưa vào bức
tranh bất hủ của bà, sáng tác tại Pháp, thập niên 60, mà chúng tôi đã mạn phép
đặt tên là Nửa chừng xuân.
Nửa chừng
xuân ba chữ
của Nguyễn Du, rút trong câu thơ Nửa chừng xuân thoắt gãy cành thiên
hương, bắt đầu một định mệnh: Định mệnh Mai, người con gái thấm nhuần đạo
đức Khổng Mạnh, trong buổi giao thời.
Nửa chừng
xuân là
truyện một cô con gái nhà nghèo quyết định nuôi em ăn học để nên người hữu ích
cho xã hội, như lời cha dặn. Mai không là gái tân thời biết chữ Tây. Mai chỉ
biết chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Quyết định tự lập ở Mai, là do tiết khí nho
phong, chứ không do ảnh hưởng chủ nghĩa cá nhân Tây phương và những quyết định
của Mai sau đó, cũng do ảnh hưởng nho giáo.
Ở bước đường cùng, Mai được Lộc giúp đỡ.
Đối với Mai đó là cái ơn phải trả. Và khi Lộc hỏi cưới, Mai nhận lời ngay, vì
yêu Lộc và nhất là để trả ơn ân nhân như trong các truyện cổ.
Khi biết Lộc đưa người mẹ giả đến hỏi mình, dù biết, Mai vẫn nhận lời. Quyết
định lấy Lộc với bất cứ giá nào, chỉ có một lý do chính đáng: trung
thành giữ lời hứa và đền ơn. Sau này, khi đã bị bà Án đuổi
đi, Mai vẫn trung thành với Lộc, thủ tiết với chồng. Đó là
những nền móng của đạo Nho.
Bà Án biết Lộc lén lút lấy Mai, bèn dùng
quỷ kế chia rẽ hai vợ chồng. Màn đấu trí đầu tiên xảy ra: Mai phải cúi đầu van
xin bà tha thứ và chấp nhận nàng, bà Án ra lệnh: nếu chịu về làm vợ bé Lộc thì
được. Mai trả lời dứt khoát: “Bẩm bà lớn nhà con không có mả đi lấy lẽ”.
Lời cứng đầu tiên, trước khi đại bại. Phải bỏ đi.
Bà Án không phải là người hoàn toàn xấu,
bà là người mê muội, vì yêu con thái quá, tìm đủ mọi lỗ hổng trong đạo nho mà
bà có thể xài làm vũ khí tấn công kẻ dám “làm hại” đời con bà.
Năm năm sau, qua nhiều thăng trầm, bà Án
một lần nữa lại tìm đến Mai, trong thất thế, đánh trận chót: cướp lại đứa cháu
trai, vì vợ Lộc hữu sinh vô dưỡng: hai lần sinh con trai đều chết cả. Cuộc đấu
trí thứ nhì xảy ra. Bà định chính danh một bà Án, đòi lại cháu đích tôn. Không
được, vì con Mai mang họ mẹ, có dính gì đến bà đâu. Bà bèn dí tiền. Hạ sách.
Lần này, ở thế thượng phong, Mai đã cho bà Án hiểu thế nào là sự ê chề tuyệt
vọng của một con người.
Hai màn đấu trí và màn tả bé Ái chơi ô
tô, là ba màn chính trong truyện, cho thấy nghệ thuật đối thoại và miêu tả của
Khái Hung đã đạt đỉnh cao: Khái Hưng tả ai cũng được, nhưng khi ông tả bé Ái
năm tuổi, chơi ô tô trong vườn, thì thực là tuyệt bút: sự ngây thơ thông minh,
hóm hỉnh của bé Ái, việc nó đẩy bà Án ra và giơ tay quệt má sau khi bà ôm hôn
nó, càng làm bà thèm nhỏ rãi đứa cháu đích tôn mà bà đã đày đọa, xóa sổ từ khi
còn trong bụng mẹ. Chỉ cần một màn này cũng đủ thấy nghệ thuật tả chân của Khái
Hưng điêu luyện đến mức nào.
Ở đây không có sự tranh chấp cũ mới, mà
là sự đối đầu giữa hai người đàn bà cùng thế hệ cũ: là cuộc giao tranh giữa
lòng nhân hậu bác ái và lòng ích kỷ độc ác, là chuyện ác giả ác báo trong đạo
Phật.
Trong Nửa chừng xuân, là một
Khái Hưng trung dung, chưa quyết định con đường tranh đấu cho cuộc sống mới,
ông chỉ đưa ra bộ mặt toàn diện xã hội với bức chân dung Mai nổi
trội của người phụ nữ buổi giao thời, độ lượng, hy sinh, thấm nhuần những cái
hay của nho học, tìm cách sống tự lập, đưa gia đình qua khỏi nghịch cảnh. Mai
sẽ trở thành biểu tượng của người phụ nữ thời Tự Lực văn đoàn.
Gánh hàng hoa in trên Phong Hóa từ số 66 (29-9-33) đến
số 88 (9-3-33), Khái Hưng viết chung với Bảo Sơn (Nhất Linh), tác phẩm tiếp tục
con đường Nửa chừng xuân, trong bối cảnh thơ mộng của một làng
trồng hoa. Vợ chồng Minh Liên đang sống trong hạnh phúc: vợ làm nghề bán hoa
nuôi chồng đi học. Ngày Minh thi đỗ, ăn khao với các bạn, uống rượu say, ra về
bị ngã dập trán, vết thương động đến mắt. Minh mù. Tác phẩm chiếu vào hoàn cảnh
một người đang sáng trở thành mù, hiệu ứng như thế nào? Một đề tài mới lạ, và
cũng là tác phẩm đầu tiên Khái Hưng Nhất Linh đưa nội tâm và tiểu thuyết, tìm
đến những nhận xét tinh vi về sự biến đổi tâm hồn khi đôi mắt
không còn sáng.
Trong Gánh hàng hoa, tính hy
sinh nhẫn nại, lòng đại lượng bao dung của Liên tự nhiên như ăn và thở, Khái
Hưng Nhất Linh đưa Liên, như cô em gái Mai vào tiểu thuyết, khiến bất cứ ai có
người chị hiền cũng có thể thấy ở Liên hình ảnh chị mình: suốt đời hy sinh cho
gia đình. Liên không được học nhiều, những thứ triết lý Liên nói ra khuyên
chồng đều là triết học thực nghiệm, thứ triết học bình dân nằm trong suy tư,
trong tục ngữ. Một hôm, Minh đang ngồi một mình, bỗng “Thoáng ngửi thấy
hương thơm sực nức, Minh mơ màng như đương sống trong cảnh mộng. Chàng chớp mau
cặp mắt, đăm đăm ngẫm nghĩ.
Không chàng
không mơ mộng. Cái mùi thơm vẫn như ở bên chàng, mà chàng lại có thể tách bạch
ra được rằng trong đó có hoa móng rồng, hoa hoàng lan, hoa mộc, hoa sói và hoa
ngâu. Chàng mỉm cười vì chàng chợt nhớ đến lời nói của Liên mấy tháng trước: là
khi mắt ta không trông thấy thì thính quan của ta càng tăng lên. Trong lòng ngờ
vực, Minh đưa tay ra xua ở trước mặt, thì đụng phải tay Liên. Chàng giật mình
hỏi:
- Cái gì thế?
Tiếng cười
khanh khách của Liên đáp lại:
- Em tặng
mình bó hoa”.
Cử chỉ, hành động của Liên thường âm
thầm, tế nhị, như thế. Khái Hưng Nhất Linh đã tạo ra một nhân vật cực kỳ mẫn
cảm để chống chọi với những khổ đau ác độc của cuộc đời: người chồng vừa thi
đỗ, đầy tương lai, tự nhiên bị mù, co cụm trong mặc cảm với những cơn giận giữ
cay nghiệt, ghen tuông vô lý, tưởng tượng ra những cảnh ái ân tội lỗi giữa vợ
và người bạn thân nhất hết sức giúp mình, rồi khi sáng mắt trở lại, để trả thù
đời, lao như điên vào cuộc sống trác táng trụy lạc. Minh là nhân vật đầu tiên
của Khái Hưng Nhất Linh có một đời sống nội tâm phức tạp. Sau này hai ông sẽ
dựng nên những nhân vật khác, như An trong Gia đình (Khái
Hưng), Nhung trong Lạnh lùng (Nhất Linh), Dũng trong Đôi
bạn (Nhất Linh), Hạnh của Khái Hưng, Trương
trong Bướm trắng của Nhất Linh, Cảnh trong Băn khoăn của
Khái Hưng. Đó là giai đoạn hai của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn trên Ngày Nay.
Lúc đó những nhà văn cùng thời với họ vẫn chưa bước vào địa hạt tiểu thuyết nội
tâm.
Đời mưa
gió in trên Phong
Hóa từ số 89 (16-3-34) đến số 112 (24-8-34) Khái Hưng viết chung
với Nhất Linh, là một tác phẩm hoàn toàn đi trước thời đại: đào sâu mối tình
giữa một thày giáo trường Bưởi, đạo mạo, ghét đàn bà và một cô gái điếm. Một
tác phẩm như vậy làm sao tránh khỏi sự lên án, thậm chí người lên án còn là một
nhà mác-xít như Trương Tửu.
Tuyết sinh sau Mai, và Liên, nhưng vẫn
là ba chị em, không cùng tính nết, định mệnh. Nếu hai người chị, hoàn toàn sống
trong lễ giáo nho phong, thủ tiết chờ chồng, dù chồng phũ phàng tệ bạc. Tuyết
theo Tây học, có phản ứng quyết liệt ngay từ đầu: thà bỏ cái gia đình chồng
khốn nạn, bỏ con, để đi vào đời mưa gió, còn hơn ở lại làm tôi mọi cho sự ngu
dốt và tán tận lương tâm.
Tuyết không chỉ là một cô gái điếm, sống
nhờ nhân tình, mà nàng còn tự do, nàng là biểu tượng của cái đẹp, không để ai
trưng dụng, không dành riêng cho một người, mà nàng đến với mọi người, lúc nào
nàng muốn. Bởi vì Tuyết đã khắc vào trái tim sắt đá của nàng một câu châm ngôn:
“Không tình, không cảm và chỉ coi những lạc thú ở đời như các vị thuốc
trường sinh” (Phong Hóa số 96). Mới đầu, thấy Chương ngây thơ, trong sạch,
Tuyết ví Chương như một “cô thiếu nữ, một cô gái đồng trinh”, nàng quyến
rũ chơi. Bởi vì nàng “chỉ biết có một thứ ái tình: ái tình xác thịt” (Phong
Hóa 98). Nhưng tất cả những định kiến vững như đồng về chủ nghĩa xác thịt, rồi
cũng sụp đổ trước tình yêu chân thật, dần dần chiếm trọn thể xác tâm hồn.
Tác phẩm đặt vấn đề: một người con gái
đã sa ngã, còn có thể đứng dậy được không? Câu trả lời dường như là không.
Không. Ở xã hội. Ở con người. Ở người yêu. Mà Không, ở cả chính mình. Tất cả
những gì toát ra trong mọi chi tiết hành động, suy nghĩ của Tuyết và Chương,
trong cuộc yêu, cuộc sống, dài gần ba năm, đứt quãng bởi những lần bỏ đi, chứng
tỏ tất cả đều không buông tha họ, nhất là chính họ.
Đời mưa gió, vì vậy là tác phẩm đau thương nhất
trong thời kỳ văn học 1932-45. Nỗi đau của Tuyết, không phải là nỗi đau của Thị
Mịch bị hiếp dâm, của chị Dậu bị cường hào đàn áp, mà đến từ chính nội tâm con
người, nỗi đau nguyên thủy, vì vậy, nó có giá trị trường kỳ, bất tử.
Đoạn tuyệt của Nhất Linh in trên Phong
Hóa từ số 124 (16-11-34), đến số 149 (17-5-35).
Trên trang đầu cuốn sách Đoạn
tuyệt, ghi những dòng: “Tặng Khái Hưng, tác giả "Nửa chừng
xuân" nhà văn cùng một quan niệm với tôi về xã hội hiện thời; tặng các
thanh niên nam nữ đã từng chịu những nỗi khắt khe của cuộc xung đột mới cũ”. Nhất
Linh.Đoạn tuyệt, Phong Hóa số 124 Phát súng đầu tiên báo hiệu cuộc đấu
tranh mới cũ của Tự Lực văn đoàn là Đoạn
tuyệt. Tác phẩm tạo cuộc chiến trong dư luận, vì nội dung không nhân nhượng
với chế độ đại gia đình, quyết tiêu diệt cảnh mẹ chồng nàng dâu, hạ huyệt đạo
tứ đức tam tòng. Đoạn tuyệt, khác hẳn Nửa chừng xuân,
nó cắt đứt với quá khứ cổ hủ, kích động sự chuyển hóa xã hội, buộc con người
phải thay đổi suy nghĩ, trước và sau Đoạn tuyệt.
Trên báo Loa, 8-8-35, được Trương Tửu
khen ngợi nồng nhiệt.
Sau này, khi phê phán tác phẩm của mình
trong cuốn Viết và đọc tiểu thuyết, Nhất Linh xếp Đoạn
tuyệt phạm lỗi lầm thứ tư, nghĩa là có ý định dùng "tiểu
thuyết làm một việc gì" (viết luận đề tiểu thuyết) [9] là
hỏng. Tôi không đồng ý với Nhất Linh.
Đoạn tuyệt, nếu có dở, dưới mắt Nhất Linh, thì
không phải vì đó là một cuốn tiểu thuyết chỉ chuyên chú đến luận đề. Nhận xét
này của tác giả đã làm giảm giá trị Đoạn tuyệt không ít. Thực
ra, nhà văn có quyền dùng tiểu thuyết làm bất cứ việc gì, miễn là viết hay và tự
nhiên. Đoạn tuyệt và Lạnh lùng đều chống
chế độ cũ với cường độ mãnh liệt như nhau, nhưng Đoạn tuyệt mạnh
về hành động, Lạnh lùng mạnh về nội tâm, nên sâu sắc hơn, chỉ
đơn giản như thế. Còn phần lớn tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, đều viết ra để “làm
một cái gì”, tức là có mục đích cải tạo xã hội cả.
Rồi người ta lại trách Đoạn
tuyệt dở ở chỗ đã dựng nên cái chết của Thân một cách gò ép. Trách như
thế cũng quá đáng.
Đoạn tuyệt không dở như sự nhận định của tác
giả và như lời những người khác chê bai. Đoạn tuyệt là tác
phẩm thành công đầu tiên của Nhất Linh, được viết với ngòi bút điêu luyện, bố
cục chặt chẽ, những chi tiết đan cài một cách có hệ thống, lô gic, cả đến tai
nạn đưa đến cái chết của Thân cũng hoàn toàn có lý, không thấy nét xếp đặt, giả
tạo nào.
Cốt truyện rất giản di: Loan và Dũng yêu
nhau nhưng không nói ra. Dũng theo cách mạng, ly khai gia đình. Loan bị cha mẹ
ép lấy Thân vì hai nhà đã hẹn ước từ trước, nhất là cha mẹ Loan nợ cha mẹ Thân
một món tiền lớn. Cuộc hôn nhân thất bại vì Loan là gái mới, phải chịu sự đàn
áp ác nghiệt của mẹ chồng, sự đồng lõa của chồng và các em chồng. Cuộc xung đột
lên tới cực điểm vào một đêm, Loan đang đọc sách trên giường, Thân nằm cạnh chỉ
đợi vợ tắt đèn đi ngủ là lẻn xuống nhà dưới với vợ bé. Loan biết thừa, tỉnh bơ.
Thân giật quyển sách trên tay Loan vứt đi. Loan cúi xuống nhặt sách lên đọc
tiếp như không có gì xảy ra. Thân phát khùng, giơ chân đạp vợ xuống đất, miệng
không ngớt hò hét rủa xả. Loan vừa lóp ngóp bò dạy thì bà Phán nhào vô phòng
chửi góp, Loan đáp lại, bà Phán tát con dâu túi bụi. Loan gỡ được, lùi lại phía
sau, bà Phán hạ lệnh cho con trai đánh tiếp. Thân hùng hục đấm vào ngực Loan,
Loan cố gắng lùi vào góc giường. Bà Phán hạ lệnh: Đánh chết nó cho tôi.
Chết đã có tôi chịu. Loan vẫn lùi, Thân tiện tay với được cái lọ đồng
trên bàn, sấn lên, Loan hoảng hốt vớ con dao díp rọc giấy trên bàn giơ lên đỡ,
Thân như con hổ dữ, giáng cái lọ đồng đập xuống, Loan tránh được nhưng ngã ngửa
xuống giường tay vẫn cầm con dao. Thân quá đà, ngã sấp lên người Loan… và con
dao.
Xen này được mô tả rõ mồn một từng chi
tiết, không chỗ nào sơ hở hay giả tạo.
Văn phong và cấu trúc trong Đoạn
tuyệt điêu luyện, khác hẳn với cấu trúc rệu rạo của Nắng thu,
Nhất Linh viết trước đó.
Đoạn tuyệt là tác phẩm quan trọng, đánh dấu
sự thành công của Nhất Linh trong tiểu thuyết, cùng sự tranh đấu quyết liệt cho
đời sống mới của Tự Lực văn đoàn và của cả một thời đại.
Đi Tây đăng trên Phong Hóa (từ số
151, 31-8-35, đến số 181, 3-4-36).Đi Tây của Lãng Du, Phong Hóa 151 Sau thành công của Đoạn Tuyệt, Nhất
Linh viết tiếp Đi Tây, dưới bút hiệu Lãng Du, in trên Phong Hóa
cùng lúc với Trống mái của Khái Hưng.
Đi Tây là tác phẩm thứ yếu của Nhất Linh.
Lúc đầu, ông muốn viết một truyện để nhại Pháp du hành trình nhật ký của
Phạm Quỳnh, nên dưới tít Đi Tây đề thêm: “Hay là Pháp du
hành trình Nhật Ký (Lấy nụ cười để che sự thực)” và trong chương đầu, ông
dùng giọng hài hước, với những tiểu đề Tập làm bồi, Mưu Gia Cát… để
kể câu chuyện sau đây: Sau khi xin phép đi Tây trong ba tháng không được, tôi
[Nhất Linh] mới nghĩ ra một kế là xin làm bồi tàu, bèn bảo tình nhân cho mượn
cái mâm đồng và hai cái cốc để tập làm bồi… Rồi tôi viết đến 10 đơn xin phép đi
Tây mà không được trả lời, mới nghĩ ra một kế, thay vì viết thư cho quan Thống
sứ [cai quản Bắc kỳ] tôi cầm đơn thẳng đến quan Công sứ [cai quản tỉnh nhà] nói
giọng Tây bồi, xin đi học nghề chụp ảnh.
Ngặt vì Nhất Linh không có tài viết văn
hài hước nên truyện ông viết không buồn cười mấy, và cũng chỉ viết giọng này
trong chương đầu. Sau đó, ông chuyển sang giọng sầu não kể cuộc chia ly đầy
nước mắt với cô nhân tình, hai người cùng nốc cạn bốn chai sâm banh…
Qua cái tít Đi Tây, độc giả
chờ đợi một hồi ký viết về thời du học ở Pháp của nhà văn Nhất Linh năm
1927-1930. Chuyến đi ghé qua những cảng Singapore, Colombo, Aden, Djibouti,
kênh Suez, Port Said, Stromboli rồi đến Marseille, bao nhiêu danh lam thắng
cảnh, mà chỉ vắn tắt có vài hàng cưỡi ngựa xem hoa. Nhất Linh kể chuyện đi Tây
nhưng ngại, không muốn để lộ đời tư: Chuyện chia ly với cô nhân tình trật khấc
vì ai cũng biết ông Tam đã có vợ ở nhà. Rồi ông lại giấu tên tỉnh Montpellier,
nơi ghi tên học, giấu việc chung nhà trọ với Nguyễn Mạnh Tường, những chi tiết
nhỏ này làm độc giả thất vọng. Tại sao Nhất Linh không nhân chuyến đi này, viết
một cuốn sách giá trị như Hải trình chí lược của Phan Huy Chú?
Thật uổng.
Trống máiTrống mái, Phong Hóa 152 Tiểu thuyết Trống mái in
trên Phong Hóa (từ số 152, 6-9-35 đến số 173, 7-2-36) là tác phẩm có tính cách
triết học của Khái Hưng, một tác phẩm mô-đéc, tiếp tục con đường tư tưởng táo
bạo đã thấy trong Đời mưa gió và Hương gây mùi nhớ. [10]
Trống mái là truyện Trương Chi tân thời, là
một bản tình ca mùa hè, nhẹ nhàng mà đớn đau, tàn ác, đưa đến cái chết; nhưng
tính chất bi đát trong tác phẩm Khái Hưng luôn mỏng như mây thu. Tình yêu ở đây
chỉ có một chiều: Vọi, thuyền chài, vô học, yêu tha thiết cô gái tân thời, có
học, nhà giàu ra bãi biển nghỉ hè. Nhưng Hiền không yêu anh mà chỉ yêu cái thân
thể lực sĩ đẹp tuyệt vời của anh, một thứ tình hoàn toàn vụ thể xác.
Hiền rủ Vọi đến dự buổi tiệc trà ở nhà
nàng, với những người bạn sang trọng tân tiến, nghe nàng đánh vĩ cầm. Họ nhìn
Vọi như một người rừng man di mọi rợ. Hiền muốn thách thức bọn sinh viên trường
thuốc, trường luật, đang mê nàng? Hay nàng chỉ ác với Vọi, như một hành động vô
cố?
Vọi nghèo, quê mùa, đi chân đất, không
biết chữ, nhưng có kiến thức sâu rộng về biển cả, về đất trời, nhờ kinh nghiệm
sống. Vọi có tâm hồn nghệ sĩ, cao thượng, hiểu thiên nhiên và quý trọng môi
trường. Vọi có những nhận xét tinh vi, Vọi nhìn thấy “bàn chân đặt lên cát
ướt sáng loáng như bạc” dưới ánh trăng. Mỗi lần Vọi thưa cô, thưa
bà là anh dạy cho cô cho bà, một bài học
về biển cả, khí hậu, động vật, thực vật, môi trường. Bọn trường thuốc, trường
luật, bên cạnh anh, chỉ là những kẻ ngây ngô, đần độn. Còn Hiền, nàng là người
phụ nữ thông minh, tân tiến, có học, có thể thao, nhưng tâm hồn thị thành, đầy
bụi bậm, lạc hậu và phân biệt giai cấp. Trống mái là bản tình
ca có ý nghĩa đấu tranh giai cấp và bảo vệ môi trường sớm
nhất của văn học Việt Nam, ở mức độ tinh vi, đẩy thiên nhiên lên vị trí tột
cùng, một thứ tạo vật phải được hiểu và kính nể.
Ba câu trích dưới đây cho thấy sự biến
thiên không ngừng trong bút pháp Khái Hưng:
- Khi nhìn bướm: “hai con bướm đuổi
nhau, gặp nhau rồi lại xa nhau, lúc hiện ra, lúc biến đi, lúc một con vơ vẩn
bay tìm bạn: hai điểm hoạt động trong một cảnh hầu hoàn toàn yên lặng như thu
lấy tất cả tâm trí của Hiền”. Ở đây Khái Hưng dùng
thủ pháp trữ tình thầm lặng: chỉ với hai chữ hoạt động đặt trong
bối cảnh hoàn toàn yên lặng, đã đủ thu hút cả tâm trí
Hiền, tại sao? Bởi vì, trong không khí yên lặng, sự hoạt
động của hai con bướm kích thích trí tưởng tượng của Hiền,
thu hút hết tâm trí nàng. Khó có cảnh làm tình nào thanh cao hơn, bay bướm hơn.
- Khi nhìn con thằn lằn: “Trông nó
như con tắc kè, nhưng da tắc kè xù xì và xám xịt như da cóc, còn loài thằn lằn
ở Sầm Sơn, da lưng mầu nâu tía điểm những chấm xanh, chấm đỏ. Khi nó chống hai
chân trước đứng rình mồi, cái đuôi và hai chân sau rất thấp, ẩn trong cỏ rậm,
thì trông nó giống như một con chim sẻ với đôi cánh nâu và cái bụng trắng. Nhất
lúc nhảy lon ton đuổi bắt bướm, nó lại càng giống hệt lắm”. Với con
thằn lằn, đôi mắt Khái Hưng trở thành ống kính của một nhà khoa học quay phim
tài liệu ghi nhận những khía cạnh thơ mộng và chính xác nhất của đối tượng.
- Khi ngắm trăng hạ tuần trên biển: “Rặng
đèn điện trên đường cao chiếu ánh xuống những đợt sóng thành những hình trạng
rất lạ lùng: Có lúc trông giống một cái tầu bằng kim cương chạy ngang một quãng
dài theo ven bờ, rồi vụt biến vào trong đêm tối, chìm đắm xuống đáy biển đen.
Có lúc giống một đàn quái vật vẩy dát lân tinh. Chúng gầm hét đuổi nhau, nuốt
nhau, biến đi, hiện ra mãi mãi không cùng”. Ở đây, Khái Hưng
dùng ánh đèn đường thay ánh trăng chiếu xuống sóng biển, tạo những hình ảnh lạ
kỳ chưa từng thấy mà ánh trăng không thể làm được. Đó là những nét trác
tuyệt trong văn chương Khái Hưng: ông không chỉ đơn thuần tả một cảnh,
mà trong những đoạn văn hay, ông luôn luôn lồng vào câu chữ, một cảnh
khác ẩn giấu, khiến người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng của mình,
mới khám phá ra được. Văn Nhất Linh và Thạch Lam đã rất hay rồi, nhưng họ tả
cảnh đơn hoặc đượm tình, chứ chưa đi tới chỗ, tả một cảnh này mà kỳ thực bày ra
một cảnh khác, như Khái Hưng.
Vũ Ngọc Phan khen văn Trống Mái trác
luyện và bát ngát, nhưng ông vẫn thấy đây chỉ là cuốn tiểu
thuyết lý tưởng và Hiền say mê một chàng “đánh cá ngốc”: “Vọi ngốc đến nỗi
nhìn Hiền đánh răng lại tưởng nàng nhuộm răng trắng”. Khổ lắm. Vọi đâu có
ngốc. Khái Hưng chỉ muốn đối chất hai thứ văn minh: văn minh nguyên thủy của
người đánh cá chưa hề tiếp xúc với xã hội tiêu thụ, và văn minh tân tiến khoa
học của người có tên hiền mà lại ác, của bọn
răng trắng mà bụng đen. Đối với Khái Hưng, bọn
sinh viên thuốc, luật, ở phòng khách nhà Hiền, dùng tiếng Pháp để nói xấu Vọi
rồi cười khả ố, bọn đó mới thực là ngốc, mới man di mọi rợ, vô giáo dục.
Tiểu thuyết
lịch sử
Trước khi giới thiệu Tiêu Sơn
tráng sĩ, tôi muốn nói qua về tiểu thuyết lịch sử:
Trong văn học ta, trừ hai cuốn Nam
triều công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm và Hoàng Lê
nhất thống chí của Ngô Thì Chí, xuất hiện đầu và cuối thế kỷ XVIII, ta
có rất ít tác phẩm tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng. Nhưng hai tác phẩm này, phản
ảnh lịch sử, do các trí thức cùng thời viết ra, bổ sung cho lịch sử chính
thống.
Tác giả Gia Long tẩu quốc cho rằng:
“nước ta chỉ mới có lịch sử đại lược” mà dân ta đối với lịch sử nước
nhà, thời lại “lơ đãng như kẻ bàng quan, nguội lạnh như người ngoại quốc”
vì thế nên ông phải viết lịch sử tiểu thuyết, để có thể “tả đủ các nhơn vật,
sơn xuyên, tánh tình ngôn ngữ, tả tới hỉ, nộ, ái ố, trí não tinh thần, tả tới
phong cảnh, cỏ hoa…” làm rung động hồn người; vì lẽ đó mà Tân
Dân Tử Nguyễn Hữu Ngợi sáng tác Gia Long tẩu quốc, năm 1929. Nhưng
thú thật, truyện của tiên sanh dài dòng đọc hơi chán, chỉ những màn tiên sanh
tả các trận đánh giáp lá cà là vô cùng hấp dẫn.
Năm 1934, Khái Hưng viết Tiêu
Sơn tráng sĩ, sau đó, nhiều loạt tiểu thuyết lịch sử ra đời, như Vua
Hàm Nghi (1935), Vua Quang Trung (1940), Triều
Tây sơn (1942)… của Phan Trần Chúc, Bà Chúa Chè (1938), Loạn
kiêu binh (1939), Chúa Trịnh Khải (1940)… của Nguyễn
Triệu Luật, là những tác phẩm thường được gọi là ký sự lịch sử. Loại
sách này gần với truyện giải trí, bởi vì văn thì tầm thường mà chi tiết lịch sử
cũng đáng ngờ. Những tiểu thuyết lịch sử của Lan Khai như Ai lên phố
Cát, Chiếc ngai vàng, Chiếc hột mận… nhiều chỗ khá hấp dẫn, nhưng cũng chỉ
gợi trí tò mò, chứ chưa đem lại điều bổ ích tinh thần.
Tiểu thuyết lịch sử phải đến An
Tư, Đêm hội Long Trì của Nguyễn Huy Tưởng, thập niên 40, mới được viết
công phu, chặt chẽ, văn phong chọn lọc, chữ đẹp và sang; tác phẩm đắc sắc, tạo
được không khí thời đại Trần Hưng Đạo, có tư tưởng hậu thuẫn, được sáng tác
trong thời điểm tiền kháng chiến chống Pháp, gián tiếp kêu gọi lòng yêu nước
của toàn dân. Nguyễn Huy Tưởng viết tiểu thuyết lịch sử với mục đích gần giống
Khái Hưng: để kích động lòng người đứng lên chống Pháp.
Năm 1955, Hoài Điệp Thứ Lang tức Đinh
Hùng viết Kỳ nữ Gò Ôn Khâu, ta lại có một hình thức hoàn toàn
mới về tiếu thuyết lịch sử, xuất phát từ ánh hưởng Tiêu Sơn tráng sĩ,
nhưng là cuốn tiểu thuyết lịch sử bay bướm, lãng mạn, nhiều đoạn văn thơ mộng
tuyệt vời. Đinh Hùng, nhà thơ, chiếu ống kính vào những tình tiết bí mật, tìm
kho tàng của người Tàu chôn từ thời Mã Viện, xông vào những trận đánh ác liệt
của quân đội Mường, Thổ vùng châu Ma Lục, phá quân Nguyên. Kỳ nữ Gò Ôn
Khâu xuất quỷ nhập thần, phi ngựa như bay trên vòm trời Việt Bác, có
hấp lực của một tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, nhưng chỉ có tính cách giải trí,
ly kỳ, rùng rợi, không mang ý nghĩa chính trị và không ẩn giấu một tâm sự não
nề như Phạm Thái trong nội tạng Khái Hưng.
Là người đến sau, Nguyễn Mộng Giác hoàn
toàn thất bại trong tác phẩm Sông Côn mùa lũ, vì ông không rõ những
quy luật của tiểu thuyết lịch sử:
Tiểu thuyết lịch sử nằm trong quy luật
thứ ba của tiểu thuyết mà Bakhtin gọi là Thời không gian (chronotope):
nghĩa là thời gian và không gian trong tiểu
thuyết phải được tổ chức một cách đặc biệt,
- Tiểu thuyết lịch sử, trước tiên, phải
tạo được thời gian và không gian lịch sử, tức
là phải trình bày được khung cảnh và ngôn ngữ thời bấy giờ. Ngôn ngữ là điểm
quan trọng nhất, dôi khi chỉ một mình ngôn ngữ cũng có thể tạo được bối cảnh và
hoàn cảnh. Ở đây Nguyễn Mộng Giác lại cho Quang Trung ăn nói như học trò miền
Nam trước bảy lăm, cho Huệ tỏ tình rụt rè như Giác thời trẻ, là rất hỏng. Huệ
làm sao biết được ngôn ngữ của thế kỷ XX mà nói? Vì thế Sông Côn mùa lũ,
dù viết về thời Tây Sơn khởi nghiệp, nhưng không có một chút không khí Tây Sơn
nào cho các nhân vật thở và người đọc bị đẩy ra ngoài ngay từ trang đầu.
- Tiểu thuyết lịch sử vẫn theo Bakhtin,
có yếu tố chủ chốt là con đường. Phải lấy bối cảnh là con
đường, chuyển động, và hành động, phải xuất quỷ
nhập thần. Les trois mousquetaires (Ba người ngự lâm pháo
thủ) của Alexandre Dumas là một mẫu mực. Nhưng truyện của Dumas, thiên
về hành động và âm mưu ly kỳ mà không đi sâu vào tâm trạng con người. Vì vậy,
đọc Tiêu Sơn tráng sĩ, là người Việt, ta vẫn thích hơn, vì tác
phẩm thấm nhuần văn hóa, lịch sử, địa lý nước ta và văn Khái Hưng đẹp và bay
bổng hơn văn Dumas.
- Tiểu thuyết lịch sử phải tạo được mối
liên hệ giữa con người và vùng đất lịch sử xảy ra câu chuyện. Ở đây là vùng Sơn
Nam, Kinh Bắc, với những nhân vật thông thuộc từng ngõ ngách, xóm làng, từng
khúc sông, bến đò và toàn bộ chùa chiền… như trong túi họ. Sau khi đọc Tiêu
Sơn tráng sĩ, nếu bạn lên chơi chùa Tiêu Sơn, chắc chắn bạn sẽ thử tìm xem
ngôi mộ nào là cửa hầm bí mật nơi Nhị Nương ra vào tiếp tế cho Quang Ngọc và
đồng bạn.
- Tiểu thuyết lịch sử còn phải lột được
đời sống con người trong giai đoạn lịch sử ấy, Khái Hưng không những cho ta
sống lại những trận đấu, những buổi trà đàm, những bữa rượu trong tửu quán bên
đường, những câu thơ ngâm vịnh thanh tao trong gia đình quyền quý… mà ông còn
khắc tạc phong cách một nhà thơ lớn cuối thế kỷ XVIII có quan niệm tự do tình
ái và đổi mới thi ca: Phạm Thái.
Tiêu Sơn
tráng sĩ tiên
tri một cuộc lên đường, cũng là cuốn tiểu thuyết lịch sử hay nhất
trong văn học Việt Nam, hội tụ những yếu tố chính cần phải có của một tiểu thuyết
lịch sử. Tạo được không khí lịch sử cuối thế kỷ XVIII, bởi
Khái Hưng thông thạo ngôn ngữ, phong tục và lịch sử thời Lê Mạt, thành thạo
việc soạn thảo thư, văn… biền ngẫu.
Tiêu Sơn
tráng sĩ
In trên Phong Hóa từ số 129,
21-12-34 đến số 184, 24-4-36), là tiểu thuyết dài nhất của Khái Hưng. Có người
cho rằng Tiêu sơn tráng sĩ là truyện về Trần Quang Ngọc, tôi
cho là truyện Phạm Thái. Vậy Phạm Thái là ai?
Phạm Thái (1777-1813) quê xã Yên Thường,
huyện Đông Ngạn (phủ Từ Sơn, Bắc Ninh). Cha là Phạm Đạt, làm quan nhà Lê tới
chức Thạch Trung Hầu, khi Tây Sơn dứt nhà Lê, Hầu khởi binh chống lại, bị thua.
Thái nối chí cha, bị truy nã, phải trá hình đi tu ở chùa Tiêu Sơn (thuộc huyện
Yên Phong, Bắc Ninh), lấy hiệu là Phổ Chiêu thiền sư. Đồng chí là Trương Đăng Thụ
đang làm quan ở Lạng Sơn, cho người đón Thái lên Lạng Sơn, chẳng bao lâu, Thụ
mất. Phạm Thái về xã Thanh Nê (thuộc huyện Ý Yên, Nam Định), quê Thụ, viếng bạn
và ở lại ít lâu. Cha Đăng Thụ muốn gả con gái là Trương Quỳnh Như cho, nhưng mẹ
nàng không ưng. Quỳnh Như tự vận chết, Phạm Thái buồn bã uống rượu li bì, nhận
hiệu Chiêu Lỳ, mất năm 37 tuổi [11].
Nguyễn Huy Lượng, trước làm quan nhà Lê,
sau thờ Tây Sơn, soạn bài Tụng Tây Hồ phú, ca tụng cảnh Tây Hồ (Hà
Nội) ngầm ý tán dương công đức Tây Sơn. Phạm Thái xem, bèn theo đủ số 85 vần
của bài ấy, làm Chiến tụng Tây hồ phú, công kích Nguyễn Huy Lượng.
Ngoài ra còn soạn nhiều văn thơ nôm và cuốn Sơ kính tân trang (Lược
gương kiểu mới) (1804) kể truyện tình của ông với Trương Quỳnh Như[12].
Tiểu thuyết lịch sử là thể loại Khái
Hưng ấp ủ từ Phong Hóa, số 1 với Trận đánh phương Nam. Rồi sau
đó liên tiếp trên một số truyện ngắn khác như: Véo von tiếng địch (Phong
Hóa số 42, 14-4-33) viết về công chúa Ly Nương, phỏng theo truyện Trương
Chi. Hoàng Oanh (Phong Hóa số 97, 11-5-34) viết về công
nương Chiêm Thành họ Số, Chúa Thao (Phong Hóa số 122,
2-11-34), là con chúa Trịnh. Đầu năm 1935, Khái Hưng đề cập đến cuộc cách mạng
dưới thời nhà Hồ, trong truyện ngắn Linh hồn thi sĩ, trên
Phong Hóa số 134, số Xuân (30-1-35), viết về thi sĩ Trần Can, tôi trung nhà
Trần, làm thơ chống Hồ Quý Ly, bị bắt nhưng được tha với điều kiện từ nay không
làm thơ chửi nhà Hồ nữa. Trần Can bằng lòng trong hai năm, rồi một buổi, chàng
sáng tác bài trường hận ca kể lại tội ác của vị hôn quân và sự lầm than của
trăm họ. Lời cuối, Trần Can dành cho Quý Ly, trước khi uống thuốc độc tự tử:
“Hỡi Hồ Quý Ly! Ta đã để cho ngươi
cắt đứt lòng trung với vua của ta, ta đã để cho ngươi chiếm đoạt trái tim vàng
của ta. Nhưng còn linh hồn ta, ta cam đoan rằng, muôn nghìn năm không ai ức chế
nổi tấm linh hồn tự do của nhà thi sĩ tự do.” (Phong Hóa số 134, 30-1-35).
Những lời này chính là khúc dạo đầu bản
hùng ca Yên Bái, 1930: khi Khái Hưng bị mật thám Tây đến khám nhà đúng đêm giao
thừa, và là điểm hẹn của nhà văn với lịch sử.
Tiêu Sơn
tráng sĩ vừa là
một tiểu thuyết lịch sử, vừa thầm kín xướng lên cuộc “khởi nghĩa chống Tây”,
dựa theo câu chuyện nổi dậy của Phạm Thái, nhưng Khái Hưng đưa Quang Ngọc lên
làm chủ soái, kín đáo đề cao vai trò lãnh đạo của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam,
và tự mình rút xuống làm em, trong vai trò Phạm Thái, một chiến sĩ thi nhân lỗi
lạc.Tiêu sơn
tráng sĩ, Phong Hóa
129 Tiêu sơn
tráng sĩ kết hợp
truyện tình Phạm Thái - Quỳnh Như với hành động cách mạng của nhóm tráng sĩ cựu
thần nhà Lê: Trần Quang Ngọc giết vị sư dâm đãng trụ trì chùa Tiêu Sơn, rồi
cùng Nhị Nương, Phạm Thái và hơn nghìn tráng sĩ, lập đảng Tiêu Sơn, nổi lên
chống Tây Sơn. Phạm Thái được điều động đưa bà Lê Hoàng Phi, vợ vua Chiêu Thống
lên Lạng Sơn ẩn náu, liên kết với Trương Đăng Thụ, trấn thủ Lạng Sơn lập địa
bàn phía bắc. Nhưng Thụ bị đầu độc chết, Thái đưa xác bạn về chôn ở Thanh Nê,
quê Thụ, cứu được Long Cơ, vợ Thụ định chết theo chồng, và được Trương Quỳnh
Như em gái Thụ, yêu, nhưng khuyên chàng tiếp tục việc lớn. Trong khi Phạm Thái
ở Lạng Sơn, hai đảng viên Tiêu Sơn, lợi dụng Quang Ngọc đi vắng, tự tiện đánh
úp phủ Từ Sơn. Thua. Đảng bị truy lùng tận diệt.
Phạm Thái về Kinh Bắc mới hay đảng Tiêu
Sơn đã vỡ, chàng quay xuống Bắc Thành đúng kỳ thi cống sĩ, gặp lại Nhị Nương và
Quang Ngọc. Nhị Nương tổ chức phá trường thi, nhưng bại lộ. Quang Ngọc cử Thái
về Sơn Nam lập lại chi đảng. Gặp toàn bọn hủ nho, Thái chán nản trở về Thanh
Nê, gặp lại Quỳnh Như, viết tuyệt tác Sơ kính tân trang. Quỳnh
Như bị mẹ ép duyên, tự vận trong ngày cưới.
Tiêu sơn
tráng sĩ đăng
trải dài trên Phong Hóa trong gần hai năm, với những trắc trở lớn: lần đầu
Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng, lần sau bị đóng cửa vĩnh viễn. Đảng Tiêu Sơn là
hình ảnh của đảng Tự Lực. Bốn tráng sĩ Quang Ngọc, Nhị Nương, Phạm Thái, Lê Báo
tượng trưng cho bốn cột trụ xây dựng Tự Lực văn đoàn. Những thất bại của đảng
Tiêu Sơn tiên đoán những thất bại của Tự Lực sau này.
Tây Sơn, dưới thời Quang Toản - 10 năm
sau khi Quang Trung băng hà - triều đình rối loạn, các quan giết hại lẫn nhau,
Nguyễn Vương đánh thúc Quy Nhơn, cựu thần nhà Lê nổi lên ở Bắc. Tây Sơn, đây
đồng nghĩa với Tây. Và nước Nam dưới thời Pháp thuộc giống như nước
Nam đại loạn thời Lê mạt. Tráng sĩ Nhị Nương mưu lược, xuất quỷ nhập thần, xác
định tinh thần nam nữ bình quyền mà Khái Hưng luôn luôn chủ xướng. Đảng Tiêu
Sơn nổi lên đánh Tây (Sơn) và thất bại, vì chính Khái Hưng và có lẽ cả Hoàng
Đạo, cũng đã biết trước, nhưng vẫn phải làm.
Khái Hưng tổng hợp hai tâm hồn thi sĩ và
hiệp sĩ của Phạm Thái - Nhị Nương. Tác phẩm biểu dương cái nhìn nghệ thuật của
Khái Hưng về cuộc cách mạng chống Pháp của một văn đoàn trong
giai đoạn tang thương của lịch sử, để kích động việc đứng lên giải phóng dân
tộc. Vì vậy, quan niệm đấu tranh của những nhân vật trong đảng Tiêu Sơn chính
là quan niệm của văn đoàn Tự Lực, như lời Phạm Thái:
“Ta chỉ nên trông cậy vào sức ta, chứ
đừng tưởng mong chờ ai hết” [13].
Cuối cùng, thất bại, họ phải chia tay,
Quang Ngọc nói với Nhị Nương:
“Chúng ta chờ dịp để hành động. Hành
động là phận sự của chúng ta. Không hành động thì đời chúng ta không còn có
nghĩa gì nữa.”
Lúc từ biệt, Nhị Nương do dự:
“ – Nhỡ không còn được hội ngộ?
- Cũng chẳng
sao. Vì linh hồn chúng ta bao giờ cũng ở bên nhau… Vậy thì chúng ta có ở xa
nhau đâu? Tình bằng hữu của chúng ta đã thành một sự thiêng liêng”. [14]
Phải chăng đó chính là lời Khái Hưng nói
với bạn trong đêm chia tay mùa thu năm 1940, trên căn gác nhà Thạch Lam bên Hồ
Tây, trước khi Nhất Linh trốn sang Tàu?
Sau khi khảo sát hầu như toàn bộ tiểu
thuyết Tự Lực văn đoàn đăng trên Phong Hóa, chúng ta có thể kết luận rằng, cũng
như đối với truyện ngắn, Khái Hưng đã làm tròn vai trò của người lãnh đạo tiểu
thuyết Việt Nam trên con đường mới của nghệ thuật và tư tưởng.
Chú thích:
[1] Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Tập I, Nxb
Văn Nghệ, California, 1989, trang 269.
[2] Nguyễn Hiền, Tiểu thuyết
và truyện ngắn Khái Hưng, in trong Khái Hưng, Kỷ vật đầu tay và
cuối cùng I, Phượng Hoàng, California 1997, trang 304-305.
[3] Phụ nữ thời đàm, 18-12-33.
[4] Nguyễn Tường Bách, Việt
Nam một thế kỷ qua, Hồi ký cuốn một, 1916-1946, Nxb Thạch Ngữ,
California, 1998, tái bản 2002, trang 81.
[5] Trong bài Chùa Bách Môn, đặc điểm kiến trúc và những giá trị nổi bật,
in trên mạng tapchikientruc, Pgs-Ts Khuất Tân Hưng viết rất rõ về
kiến trúc cổ của chùa này.
[6] Nxb Lê Thăng, Hà Nội 1940.
[7] Trong đó có truyện ngắn Ông
đồ Bể (Phong Hóa số 32)).
[8] Phong Hóa số 85 (11-2-34), trong
khung quảng cáo, ghi: Tiền bán Nửa chừng xuân, tác giả sẽ biếu vào Tự
Lực văn đoàn. Phong Hóa 101 (8-6-34) nhắc lại: tiền thưởng giải Tự Lực
Văn Đoàn năm 1935, là tiền bán sách Nửa chừng xuân. Phong Hóa 166
(13-12-35) đăng tin: Tự Lực văn đoàn và tác giả cho phép ban kịch Nguyễn Xuân
Phúc diễn Nửa chừng xuân để lấy tiền giúp học sinh nghèo ở
trường Bảo hộ. Phong Hóa 185 (1-5-36) quảng cáo Nửa chừng xuân bán
đến nghìn thứ chín và Gánh hàng hoa nghìn thứ bảy. Ngày Nay số
139 (3-12-38) quảng cáo: Nửa chừng xuân bán đến nghìn thứ 15.
Về vở kịch, theo lời tường thuật của Lê Ta (Thế Lữ) trên Phong Hóa số 167
(20-12-35):
“Trong khoảng ba giờ đồng hồ trên sân
khấu người ta dựng một cuốn tiểu thuyết "Nửa chừng xuân" thực lớn.
Nhà soạn kịch là một tay huyền bí cứ lần lần dở hết trang nọ đến trang kia. Cho
nên những cảnh những tình những lời nói trong truyện của Khái Hưng nhất nhất thấy
nhắc lại rất đúng (…) Cô Mai (bà Yến Hồ) thực là ngôi sao trong ban kịch Nguyễn
Xuân Phúc. Vai này đóng rất tự nhiên. Sự nhẫn nhục, lòng yêu thương, chí quả
quyết, thường diễn ra được trong từng cử chỉ, từng lời nói, và - đó là một điều
hiếm có - trong sự yên lặng.
Những lúc đối
đáp với bà Án, mẹ Lộc, ở hai cảnh thứ ba và thứ sáu là những chỗ người ta thấy
rõ tài của bà Yến Hồ. Giọng nói lúc kính cẩn, lúc lo sợ, lúc kiêu hãnh, lúc van
lơn, lúc tức giận.(…)
Vai đàn bà
thứ hai trong "Nửa chừng xuân" là vai bà Án (do bà Lê Hai đóng) cũng
đáng khen. Chững chạc, đài các, khôn khéo, cay nghiệt (…) rõ ra một người đàn
bà cố chấp của nền nếp xưa.”
[9] Nhất Linh, Viết và đọc
tiểu thuyết, Đời Nay, 1969, Sài gòn, trang 17.
[10] Phong Hóa số 127 (7-12-34).
[11] Theo Dương Quảng Hàm, Việt
Nam văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, in lần thứ 6, Sài Gòn
1960, trang 304.
[12] Dương Quảng Hàm, Việt Nam
văn học sử yếu, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, in lần thứ 6, Sài Gòn 1960,
trang 304.
[13] Tiêu sơn tráng sĩ, Phượng Giang,
bản chụp in lại ở Hoa Kỳ, trang 147.
[14] Tiêu sơn tráng sĩ, Phượng Giang,
bản chụp in lại ở Hoa Kỳ, trang 418.
Tứ Ly và nghệ
thuật trào phúng
Nghệ thuật trào phúng khởi đầu trên
Phong Hóa từ số 19 và 22 với hài kịch của Hoàng Tích Chu [1].
Nhưng Hoàng Tích Chu mất sớm, người đứng lên tiếp tục là Tứ Ly (Hoàng Đạo) với
loạt Tuồng cổ tân thời, thuần túy trào phúng, đăng trên Phong
Hóa từ số 38 đến số 42.
Bẵng một thời gian, đến Phong Hóa số
124, trào phúng xuất hiện lại trên Phong Hóa, vẫn dưới ngòi bút Tứ Ly, nhưng
lần này, dưới hình thức châm biếm có chủ đích, sức công phá mãnh liệt hơn, kéo
dài đến Phong Hóa số 190, số cuối cùng.
Tứ Ly mở đầu việc chống đối quan trường
dưới thời nhà nước bảo hộ với những loạt bài: Tam quốc tân thời diễn
nghĩa, Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh
chuồn, Đi xem mũ ni và Đi xem mũ giấy.
Về mặt hý họa, Tô Ngọc Vân thay Nguyễn
Gia Trí trình bày Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160
(1-11-35), rồi ông đi Nam Vang, Nguyễn Gia Trí trở lại phụ trách Phong Hóa từ
số 160 đến số chót 190 và tiếp tục trên Ngày Nay [2].
Với hý họa Nguyễn Gia Trí, việc chống
phá bằng tranh mới thực sự khởi sắc. Sự kết hợp văn và vẽ của Tứ Ly và Gia Trí
làm gai mắt chính quyền thuộc địa, Phong Hóa luôn luôn gặp khó khăn, cũng vì
tác phẩm của hai người, nhưng không phải vì họ mà Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh
viễn, như người ta vẫn tưởng.
Tứ Ly và thể
văn hài hước
Tứ Ly bắt đầu viết kịch hài hước trên
Phong Hóa rất sớm, với Tuồng cổ tân thời, đăng trên Phong Hóa từ số
38 (17-3-33) đến số 42 (4-4-33). Đây là một vở tuồng cổ, mô tả trận chiến hai
phe: Một bên là Hoàng Tăng Bí tiên sinh [3],
oai phong lẫm lẫm, bên tả có Nguyễn Khắc Hiếu, bên hữu có Nguyễn Văn Vĩnh, phò
tá, cầm đầu đạo quân tiền bối ra trận. Một bên là bọn tiểu yêu Phong Hóa nhố
nhăng, cùng với chủ soái Nhát Dao Cạo (Khái Hưng) rầm rộ ra
khiêu chiến. Hoàng tiên sinh và lực lượng nho phong, sau một hồi tỷ thí, thua
trận chạy có cờ (Xem chương: Hoàng Đạo và Thạch Lam). Tuồng cổ tân
thời là một thành công, sáng tạo lối kịch hài hước mới mẻ, trẻ trung,
lần đầu tiên ở Bắc. Trước đó có kịch Chén thuốc độc (1921) của
Vũ Đình Long, thuộc loại tân-cổ giao duyên. Nhưng Tuồng cổ tân thời chỉ
có mục đích mua vui, chế giễu các cụ cổ, chưa chống Tây.
Một năm rưỡi sau, trên Phong Hóa, Tứ Ly
đưa ra ba loạt hài hước mới: Cổ tích tân thời, Tam quốc tân
thời diễn nghĩa, và nhất là loạt bài phỏng vấn giả tưởng, với
tít: Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu- Đi xem mũ
cánh chuồn [4].
Sau số 150, Phong Hóa bị đóng cửa ba
tháng (lý do sẽ nói sau). Khi báo ra trở lại, Tứ Ly bắt đầu loạt phóng sự tòa
án: Trước vành móng ngựa [5],
và loạt bài Đi xem mũ cánh chuồn còn thêm hai kỳ nữa, với bài
phỏng vấn Phạm Lê Bổng và Bùi Bằng Đoàn [6].
Rồi loạt phỏng vấn Đi xem mũ ni [7] và Đi
xem mũ giấy [8].
Tất cả những sáng tác này thuộc vào loại hài hước hoặc bi hài, sở trường của Tứ
Ly Hoàng Đạo.
Cổ tích tân
thời là truyện đầu
tiên, đăng trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), lấy giọng Tam
quốc kể "tích" Lãng Nhân Phùng Tất Đắc. Chuyện rằng: Lãng Nhân
"đánh" Tùng Viên (một nhà báo già), rồi hơi ngượng, tự giận mình,
quyết đi tìm một tên nhà báo trẻ đánh cho đỡ ngượng. May thay, về nhà soi gương
thấy một tên ngờ ngờ đứng trước mặt: Mộng Ngư [bút hiệu Lãng Nhân] bèn lấy
ba-toong nện cho y một trận, vỡ tan gương!
Cổ tích tân
thời chỉ có
tính cách mua vui, có lẽ vì còn e dè mũi dùi kiểm duyệt, chưa dám thực sự
"vào đề". Bỗng một chuyện không ngờ xẩy ra: nhà nước bảo hộ
quyết định bỏ ty kiểm duyệt!
Bỏ ty kiểm
duyệt
Tháng Giêng năm 1935, một tin cực kỳ hấp
dẫn được đưa lên đầu trang nhất báo Phong Hóa số 131 (4-1-35), và được long
trọng đóng khung như ai tín với tít "Bỏ ty kiểm duyệt: "Bắt
đầu từ 1 Janvier 1935; ty kiểm duyệt không còn nữa". Kèm
với "tin buồn" này, toàn ban biên tập "nhất trí" cùng gửi
lời điếu lâm ly tiễn đưa Ty kiểm duyệt về cõi vĩnh hằng, dưới ký 11 tên: Tứ Ly,
Nhất, Nhị Linh, Tú Mỡ, Thế Lữ, Lê Ta, Thạch Lam, Khái Hưng, Chàng thứ XIII [Lê
Thạch Kỳ], Đông Sơn và Nhát Dao Cạo.
Sau màn nước mắt cá sấu là màn xuất
quân: Tứ Ly viết Tam Quốc tân thời diễn nghĩa, lấy tích cổ: Lưu Bị,
Vân Trường, Trương Phi kết nghĩa vườn đào [ám chỉ việc thành lập Tự Lực văn
đoàn] cộng với tích tân: Đốc Bưu [đốc học Phạm Văn Thư, thanh tra chính trị ăn
hiếp quan huyện]. Truyện thế này: Bị là viên quan huyện nhỏ mà không chịu đút
lót quan lớn, nên Bưu khai man cho Bị tội hiếp dân.
"Trương
Phi nghe tin cả giận, đôi mắt tròn xoe, hàm răng nghiến chặt, tức tốc cưỡi xe
đạp đến quán dịch, chạy thẳng vào hậu đường; thấy Đốc Bưu đương ngồi chĩnh chện
trong phòng giấy mà đề lại thì bị trói dưới đất.
Phi thét lớn
lên rằng:
- Thằng mọt
dân kia có biết ta là ai không?
Đốc Bưu chưa
kịp với tê lê phôn cầu cứu đã bị Trương Phi túm cổ lôi tuột ra ngoài quán dịch,
kéo thẳng về trước huyện, trói vào cột đèn rồi lấy "ba toong" phết
mãi vào hai mông đít".
Lưu Bị lòng vốn nhân từ, thấy "cụ
lớn khâm sai" [đốc Bưu] kêu la đau đớn quá, bèn quát em xá tội cho.
Tam Quốc tân
thời diễn nghĩa là đòn
đầu đánh vào bọn quan trường tham nhũng, đúng lúc được tin nhà nước bỏ
kiểm duyệt.
Tứ Ly nhập
cuộc
Màn dạo đầu Tam Quốc tân thời
diễn nghiã hấp dẫn như vậy mà không bị cắt xén gì cả, nhất là lúc đó
đang dưới thời Toàn quyền Robin, có tiếng hà khắc. Vậy vụ bỏ kiểm duyệt không
phải là tin vịt, Phong Hóa số 132 (11-1-35) bèn thừa thắng xông lên, công khai
đánh vào chế độ quan trường và các vấn đề hủ lậu khác. Bìa in tranh: Kiểm
duyệt và báo chí của Tô Tử (Tô Ngọc Vân), bức tranh này mang tính cách
"lịch sử" bởi là hý họa đầu tiên công khai chống kiểm duyệt, tức chống
Pháp, tượng trưng tư tưởng con người như một dòng sông hay con đường, bị kẻ
kiểm duyệt cầm kéo cắt xoẹt từng đoạn, tạo cảnh đường đứt, cầu trôi, sông vỡ,
người bị đắm chìm, ngăn sông, cách núi.Kiểm duyệt và
báo chí của Tô
Ngọc Vân, Phong Hóa 132 Bên trong tờ báo, Tứ Ly khuấy loạn với
ba bài: Bỏ quách đi, Than ôi kiểm duyệt, Đất
nứt con… mọt dân và truyện Tam quốc chí diễn nghiã.
Bài Bỏ quách đi tấn
thẳng vào Hoàng Trọng Phu, quan Tổng đốc, kẻ vừa tuyên bố với nhà báo: "Nếu
bỏ quan đi thì lấy gì thay thế vào", Tứ Ly phản bác: Nhà
nước nào cũng cần phải có nhà cầm quyền, tức là lớp người cai trị, nhưng ở
những nước khác, người ta không gọi lớp người này là quan, ví dụ ở Pháp ông
Herriot là thượng thư, khi ông ở văn phòng, khi về nhà ông là ông Herriot. Còn
ở Việt Nam, ông Huyện Giai lúc nào cũng là "quan lớn" cả. Vậy xin đề
nghị xổ toẹt chữ "quan" đi, nên gọi "ông huyện, ông phủ, ông
tổng đốc, ông thẩm phán, ông án sát, ông thượng thư… là ông tuốt".
Bài thứ hai Than ôi kiểm duyệt!
Giọng khác hẳn, đây là một bài văn tế hết sức lâm ly:
"Thôi từ
nay âm dương cách ngả, chúng ta không được thấy mặt phòng kiểm duyệt nữa: phòng
kiểm duyệt đã bãi hẳn rồi.
Tôi tưởng
tượng đến cảnh phân ly của những viên chức phòng kiểm duyệt, người về Mật thám,
kẻ lên Toàn quyền, mà tôi không khỏi ngăn được giọt lệ thương tâm, bất giác
buột mồm mà than rằng:
Than ôi kiểm
duyệt
Đã biệt nhau
rồi
Còn nói chi
nữa
Thế là xong
đời.
Xong đời kiểm
duyệt, còn đời báo. Tôi nửa mừng nửa lo.
Lo cho vận
mệnh của tờ báo vẫn như trứng để đầu đẳng.
Mừng là mừng
cho cái hy vọng sẽ được quyền tự do ngôn luận theo báo chí tây, mừng là mừng có
thể giãi bầy ý kiến về những vấn đề quan hệ mà không phải bôi xóa".
Bài điếu văn lộ sự tinh nhạy của kẻ
khóc, hé mở cho biết sự thật: nhân viên ty kiểm duyệt rặt bọn Mật thám và công
chức phủ Toàn quyền.
Bài thứ ba Đất nứt con… mọt
dân có tính xã thuyết, giọng chính luận mạnh mẽ, đánh
vào bọn quan lớn sâu mọt mô đéc:
"Ở các
nước khác chỉ có dân, ở nước ta, không những có dân mà còn có mọt dân nữa (…)
Họ ở toàn những địa vị ăn trên ngồi chốc, chỗ nào có thể chấm mút được là có họ
(…) Luân lý đối với họ chỉ là một cách để lừa dối bọn ngu dân, pháp luật đối
với họ chỉ là cái lưới để họ chăng [bắt] lũ dân đen, họ dùng để thu tiền tài của
hàng vạn con người thật thà, chỉ biết làm lấy mà ăn.(…) Phải khéo léo, xu phụng
người trên để mượn lấy oai hùm, phải tìm lấy nơi quyền quý mà nương tựa. Chẳng
thế mà có nhà "mọt dân" phải bỏ tiền hàng trăm, hàng nghìn lo lấy một
chức… đầy tớ, chẳng thế mà biết bao nhiêu người luồn lụy, nịnh hót để mong lên
chức… chân tay." (Phong Hóa số 132, 11-1-35).
Những bộ mặt "mọt dân" này, sẽ
xuất hiện lại trên hý họa của Nguyễn Gia Trí một cách trắng trợn và rùng rợn
hơn.
Tam quốc diễn
nghĩa
Với Tam quốc diễn nghĩa, Tứ
Ly "diễn nghĩa" trực tiếp cảnh tham nhũng "hiện đại":
"Có ông
thư ký phải mất tới vạn bẩy mới được bổ làm chức huyện lệnh: thiên hạ gọi ông
ta là ông huyện vạn bẩy.
Cách chọn lọc
quần thần như vậy, nên quan sinh ra tham, lại sinh ra nhũng. Ai ai cũng đòi ăn
tiền cả. Những khoé ăn tiền càng ngày càng nhiều, thôi thì cái khố rách của
thằng đánh rậm, cái váy đụp của mụ bán thịt lợn, quan nào ăn được đều có tiếng
khen là tài giỏi. Những quan thanh liêm đều bị thải về quê quán, còn nịnh thần
thì mỗi ngày mỗi đông và mỗi lần gặp tham tang là một lần thăng chức".
Hoàng phủ
Tụng, Chu Tuấn, có công đánh giặc khăn vàng ngày trước, không chịu lễ đút đều
bị cách. Quan Gián nghi Đại phu Lưu Đào, quan Tư đồ Lưu Đàm vì can vua đều bị
bỏ ngục".
Trong Tam quốc diễn nghĩa,
vần đề nào cũng được đề cập và tranh luận, cả đến chuyện "nam nữ bình
quyền" cũng được hai bà thái hậu đem ra võ trường tỷ thí:
Hà thái hậu nói: "Chúng ta là lũ
đàn bà, không nên tham dự đến chính quyền".
Đổng thái hậu nổi giận lôi đình: "Mi
nói vậy thì hủ lắm. Chúng ta cũng tai mắt, cũng trí thức như bọn đàn ông thì ta
phải bình đẳng bình quyền với họ mới phải chứ! Mi thử dương mắt ra mà xem: phụ
nữ ta bây giờ khác xưa nhiều rồi. Đi bộ, đánh quần vợt, nhảy đầm, đá bóng đều
được cả: vậy về mặt thể dục ta không kém gì bọn tu mi. Về mặt trí thức cũng
vậy, đàn bà cũng có người đỗ đến tú tài, cử nhân, cũng biết diễn thuyết như đàn
ông. Vậy bắt tù ở trong cung cấm, chẳng hóa ra trái với sự văn minh lắm sao?
Hà hậu cãi:
"Đàn bà cốt nhất là biết nấu cơm cho ngon, canh cho ngọt, giúp đỡ cho
chồng. Thế nào là tam tòng từ đức".
Đổng thái hậu
bèn mắng át: "Ta đã gói ghém tam tòng lại như cô Kiêm [phụ nữ mới nhất bấy giờ] và vất
xó rồi. Mi hủ lắm!" [9]
Những đại phu nhân trong Tam
quốc diễn nghĩa, không chỉ ăn nói tân tiến như Đổng thái hậu, mà họ còn ăn
mặc cực kỳ tân thời, tiến bộ, theo đúng mốt mới nhất: "Điêu Thuyền
tha thướt trong bộ y phục Lemur mầu xám, đôi mắt long lanh dưới làn tóc vấn
theo lối Huế". Và sống theo đúng nhịp như Tây bên Tây:
"Một chốc tiệc tan, mở cuộc
khiêu vũ, Lã Bố ôm Điêu Thuyền nhảy theo điệu Fox-trott lấy làm khinh khoái vô
cùng. Khiêu vũ xong, Điêu Thuyền lại ngồi xuống trước cây đàn piano, vừa đánh
vừa lên tiếng hát theo điệu "J’ai deux amours":
"Giò này
giò nóng
Ai có mua thì
xin cứ
Bỏ một hào ra
Ai muốn mua
thì mua".[10]
Sau ba số Tam quốc diễn nghĩa cực
kỳ hấp dẫn, có lẽ Tứ Ly nhận được "dấu hiệu" gì đó, nên ngòi bút trở
lại "ngoan ngoãn" hơn, không đem chuyện thời sự bản xứ ra "diễn
nghĩa" nữa, mà chỉ chép lại một số xen tam quốc cổ điển như: tam cố thảo
lư, Lưu Bị tán Tôn phu nhân rồi ngừng, để bắt sang loạt bài phỏng vấn giả tưởng
tức là Những cuộc điều tra phỏng vấn không tiền khoáng hậu - Đi
xem mũ cánh chuồn, mang họa cho Phong Hóa.
Đi xem mũ
cánh chuồn
Đi xem mũ
cánh chuồn là một
thể nghiệm hài hước mới, bắt đầu từ Phong Hóa số 139 (8-3-35), với cuộc phỏng
vấn giả tưởng ông Tôn Thất Quảng, Công bộ thượng thư kiêm Mỹ thuật bộ thượng
thư. Phóng viên hỏi ngài Thượng thư có ý kiến gì về chiếc áo dài Lemur, nên để
cổ bờ thành (cổ kín) hay cổ áo bánh bẻ (cổ bẻ) và quần tân thời nên may một nếp
hay hai nếp, thường dân có nên cạo răng trắng không? Xây dinh thự nên dùng kiểu
"nhà bánh khảo", "nhà Khai Trí" hay kiểu gì khác? Nói
chung, phóng viên chỉ hỏi những câu vớ vẩn, không có mầu sắc chính trị gì. Tôn
đại nhân cũng trả lời hoà nhã.
Người thứ hai được chiếu cố là Lại bộ
thượng thư Thái Văn Toản (Phong Hóa số 140- 15-3-35), lần này phóng viên tiến
dần hơn tới "chính trị", hỏi ý đại nhân về đề nghị bỏ chữ
"quan", và đưa ra nhận xét: tay áo thụng vướng quá, nhất là lúc cầm
đũa hay múc canh, vậy có nên cắt ngắn đi cho gọn chăng? Các quan đi công cán
nên đi xe bình bịch cho nhanh? Vận quốc phục thì nên đi giày ban [giày tây] hay
giày ta?
Đến cuộc phỏng vấn hai ông Phạm Quỳnh
(Phong Hóa số 141-142) và Nguyễn Văn Vĩnh (Phong Hóa số 143), và một số vị có
tên tuổi khác [11],
tất cả những bài này thuộc loại cò mồi, làm ô dù che cho những bài phỏng vấn
"thứ thiệt". Nhất là bài phỏng vấn Phạm Quỳnh, dàn trải trên hai số
báo, giọng lịch sự tương kính như một môn sinh đến thăm thầy. Bài phỏng vấn
Nguyễn Văn Vĩnh cũng vậy, giọng vui vẻ trẻ trung hơn. So với hai bài phỏng vấn
hai quan lớn Hoàng Trọng Phu và Vi Văn Định, như ta sẽ thấy ở dưới, thì có sự
khác biệt một trời một vực. Sở dĩ có sự tương kính này vì hai ông Phạm Quỳnh và
Nguyễn Văn Vĩnh là người có công lớn với nền văn học quốc ngữ, lại là bậc đàn
anh và chỉ khác Hoàng Đạo về đường chính trị: Phạm Quỳnh theo chế độ quân chủ
lập hiến, chủ trương hòa hiếu với Pháp để làm văn hóa, nâng cao dân trí, Nguyễn
Văn Vĩnh chủ trương Bắc Kỳ tự trị dưới chế độ dân chủ trong khối Liên Hiệp
Pháp; còn Tự Lực văn đoàn chủ trương chống Pháp, giải phóng dân tộc. Khi Nguyễn
Văn Vĩnh mất, Phong Hóa có bài ai điếu vô cùng xúc động để khóc một người thầy.
Tóm lại, hai bài phỏng vấn Phạm Quỳnh và
Nguyễn Văn Vĩnh chỉ để che mắt thế gian, ô dù cho buổi phỏng vấn quan lớn Hoàng
Trọng Phu, Vi Văn Định, hai vị bồi Tây chính hiệu, được nhận hàm Thái Tử Thiếu
Bảo của triều đình, nên thường được gọi là quan Thiếu.
Phỏng vấn
Hoàng Trọng Phu
Người ta thường cho rằng vì bài phỏng
vấn Hoàng Trọng Phu mà Phong Hóa phải đóng cửa ba tháng. Nhưng khảo sát kỹ văn
bản, thì nguyên do không phải bài này, mà bài sau, tức là bài phỏng vấn Vi Văn
Định.
Quan lớn Hoàng Trọng Phu vốn ba đời làm
tôi trung mẫu quốc: cụ thân sinh là Hoàng Cao Khải và người cháu là Hoàng Gia
Mô, tri huyện Vĩnh Bảo. Cụ lớn Hoàng Cao Khải là vị Kinh lược sứ cuối cùng ở Bắc
Kỳ, có công truy kích cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, viết thư dụ Nguyễn Thiện Thuật
ra hàng năm 1889. Năm 1894, lại cầm quân đánh Phan Đình Phùng và viết thư dụ họ
Phan ra hàng. Cả hai việc đều không có kết quả. Nhưng công to của họ Hoàng là ở
chỗ khác: làm tay sai đắc lực cho Toàn quyền Paul Doumer trong việc thực hiện
chính sách thuộc địa hóa nước Nam. Khái Hưng viết:
"Hắn có
công với người Pháp là để cho người Pháp tha hồ xuyên tạc, tha hồ thực hành sai
hiệp định 1884 ở Bắc kỳ. Bỏ phủ Kinh lược, dồn cả quyền bính viên Kinh lược vào
cho viên Thống sứ Bắc kỳ; để các công sứ Pháp cướp hết quyền các quan tỉnh Việt
Nam, trước còn nguyên trong việc hành chính, sau lấn sang cả quyền Tư pháp; cắt
đứt hẳn Bắc kỳ, Trung kỳ ra thành hai nước nhỏ, chịu mỗi bên một chính thể một
luật pháp, nói tóm lại, làm cho Bắc kỳ thuộc thẩm quyền trực trị của Pháp, đó
mới là cái công to của hắn đối với người Pháp". "Hoàng Gia Mô cũng là
một tay thần tử rất trung thành của "Mẫu quốc" và rất tận tâm lùng
bắt các tay cách mạng ở trong hạt Vĩnh Bảo. Trừ những người hắn đã nộp đi không
kể, nguyên hôm huyện vỡ, anh em còn gỡ ra ở trong khám giam huyện hơn hai chục
người!" (Chính Nghĩa số 9, 29-7-46).
Hoàng Gia Mô, con trai Hoàng Mạnh Trí, cháu
nội Hoàng Cao Khải, làm đến chức tri huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng). Năm 1930,
trong cuộc tổng khởi nghĩa Yên Bái, bị Trần Quang Riệu hướng dẫn dân quân giết
chết, làng Cổ Am bị Pháp ném 57 trái bom trả thù. (Xem chương: 80 Quan
Thánh, phần II)
Hoàng Trọng Phu không để lại công nghiệp
đẫm máu, ông chọn con đường văn hóa, hợp tác với mẫu quốc, xây dựng hội Khai
Trí Tiến Đức, tụ họp các trí thức thân Pháp vào hội để "mở mang dân
trí". Vì thế ông được Tứ Ly chiếu cố cùng với Vi Văn Định, trên hai số báo
liên tiếp. Bài "phỏng vấn" Hoàng Trọng Phu in trên Phong Hóa số 149
(17-5-35) và bài phỏng vấn Vi Văn Định, in trên số Phong Hóa 150 (24-5-35).
Bài "phỏng vấn" Hoàng Trọng
Phu, mở đầu bằng câu:
"Bước vào gian phòng khách, tôi
cảm thấy sự yên tĩnh lạ lùng: bộ ghế gụ kiểu tây chạm trổ theo lối tầu đang ngủ
im trên chiếc thảm hoa, ảnh các ông Toàn quyền Đông Pháp treo trên tường yên
lặng đang nhìn tôi bằng con mắt lim dim. Cả đến con mèo tam thể cũng nằm tròn
trên chiếc nệm, không nhúc nhích, cả đến ông phệnh đường bằng sứ ngồi trên tủ
chè cũng đương nhếch mép cười trong giấc mơ".
Lối viết này rất kín đáo và hàm súc nên
ít ai nhận ra sự phạm thượng: Cách bài trí trong phòng nói lên sự lai căng của
gia chủ: bày đồ Tàu mà thờ các thánh Tây. Rồi chỉ với hai chữ lim
dim phóng viên đã đồng hóa các vị Toàn quyền với con mèo tam thể.
Vào phần "nội dung phỏng vấn",
được hỏi về việc đi Pháp, Hoàng tướng công trả lời chỉ đi chơi thôi. "Vậy
mà tôi cứ tưởng hội Khai Trí Tiến Đức đã đúc tượng tướng công để kỷ niệm cái
công của tướng công đã lặn lội sang Pháp dạo đó." Câu này ngụ ý nói
tướng công được hội Khai Trí Tiến Đức nặn tượng vì đã có công sang tận mẫu quốc
xin giấy khai sinh cho Hội, đánh đúng ý tướng công, khiến ngài không quên nhắc
lại công trạng vĩ đại này: "Sự nghiệp của hội Khai Trí tức là sự
nghiệp của tôi". Ngài còn nói thêm rằng: "ta được
nhờ quý bảo hộ khai phá cho ta, thì ta cũng phải lập một cơ quan để giúp đỡ
chánh phủ về đường giáo dục", câu này tỏ rõ bụng dạ quan lớn: chỉ canh
cánh nghĩ đến công ơn chính phủ bảo hộ và một lòng phục vụ hội Khai Trí Tiến
Đức để báo đáp ơn trên. Đến đây phóng viên hỏi xỏ:
" - Bẩm,
thế trong vòng 13 năm nay, tướng công thấy xã hội Việt Nam đức tiến và trí khai
được chừng nào rồi? (…)
" - Ông cứ xem công việc của
hội Khai Trí thì đủ biết.
" - Bẩm,
những công cuộc lớn lao của hội Khai Trí thì chúng tôi người trần, mắt thịt,
quả không nom thấy. Duy chiều chiều đi hóng mát trên bờ hồ Gươm, thì thường
thường chúng tôi nghe thấy tiếng hô tổ tôm điếm, hoặc tiếng bát đũa chạm nhau ở
trong nhà hội đưa ra mà thôi." (…)
- Chơi tổ tôm
bắt ta phải nghĩ ngợi lắm, có lẽ cũng là một cách khai cho trí của người annam
ta vậy.
Gật gù, Hoàng
tướng công không nói gì, ý chừng ngài còn mải nghĩ đến cách làm tiến đức cho
người Việt Nam nữa".
Bài phỏng vấn này tuy có phạm thượng
chút đỉnh nhưng nhẹ nhàng, nên đã qua mắt các quan mật thám (bấy giờ Ty kiểm
duyệt đã đóng cửa rồi, nhưng nhân viên chắc vẫn còn làm việc không chính thức).
Tuy vậy, ngòi bút của phóng viên không phải là thiếu sâu sắc. Lúc vào đầu đã
giới thiệu ngay: phòng khách của quan lớn treo đầy ảnh các vị toàn quyền Đông
Pháp lim dim nhìn tôi, cùng với hình ảnh mập phệ của ông phệnh
đường, ý ám chỉ các vị đại diện mẫu quốc có đôi mắt súc vật và thân hình lợn ỷ,
như đã nói ở trên. Ngoài ra, phóng viên còn nêu bật được hai yếu tố đặc biệt
của Hội Khai Trí Tiến Đức, mà dân chúng đi qua bờ Hồ đều nghe thấy: là tiếng
sát phạt tổ tôm điếm và tiếng bát điã chè
chén. Tổ tôm điếm là một thứ tổ tôm có luật chơi hơi khác tổ tôm (thường),
nhưng chữ điếm ở đây có dụng ý sâu sắc, chắc bạn đọc đã thấy.
Bài phỏng vấn quan lớn Hoàng Trọng Phu, được thông qua, có thể là do lỗi của vị
quan mật thám ngủ gật khi duyệt, nhưng đến số sau, bài phỏng vấn quan lớn Vi
Văn Định thì ác quá, "trên" không thể làm ngơ, bèn bắt tờ báo đóng
cửa ba tháng.
Phỏng vấn Vi
Văn Định - Bị đóng cửa ba tháng
Ngày nay, nếu ai đọc tiểu sử Vi Văn Định
in trên Wikipedia tiếng Việt, sẽ thấy một công thần, xuất thân trong gia đình
quý tộc Việt-Tày ở Lạng Sơn: Cao tổ là một vị khai quốc công thần theo Lê Lợi
khởi nghĩa… dòng dõi nhiều đời trấn vùng biên ải. Ngài còn là vị quan lớn yêu
nước, đã đem cả gia đình lên Việt Bắc theo kháng chiến, có con rể là trí thức
hàng đầu như Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di và cháu rể như Tôn Thất Tùng.
Vậy tại sao hồi đó Tứ Ly lại dám phạm
thượng đến nỗi Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng?
Số là lúc Tứ Ly nghĩ ra chuyện
"phỏng vấn" này, thì quan lớn họ Vi đang làm Tổng đốc Thái Bình
(1929-1937). Sự thăng quan tiến chức rất nhanh trong quan trường thời ấy,
thường nhờ công lao phục vụ chính quyền thuộc địa. Mà công lao lớn nhất của
quan lớn là việc tiễu trừ Quốc Dân Đảng, được Hoàng Văn Đào ghi lại: "Mỗi
khi bắt được một đảng viên VNQDĐ, Vi Văn Định liền ra lệnh đốt nhà, rồi bắt
người về tra tấn rất dã man. Tú tài Nguyễn Đức Triệu 84 tuổi, chi bộ trưởng chi
bộ Phụ Dực bị Vi Văn Định dùng chầy giã giò tra khảo đến bỏ mạng" [12].
Việc Hoàng Văn Đào ghi trên đây, sẽ có
các sử gia kiểm lại, nhưng những ai (như chúng tôi) sinh ở vùng Nam Định, Thái
Bình, hồi bé, thường được người nhà nêu tên quan lớn ra dọa như dọa ngáo ộp,
mặc dù quan lớn đã rời địa hạt Thái Bình từ lâu. Mà theo tài liệu của Phủ toàn
quyền, thì quan lớn đã nhận những huân chương sau đây:
- Grand officier de la légion d’Honneur
(Đệ nhị đẳng bắc đẩu bội tinh).
- Grand officier du Dragon d’Annam (Đệ
nhị đẳng Long bội tinh Annam).
- Grand officier de l’Ordre du Million
d’Éléphants et du Parasol Blanc (Đệ nhị đẳng huân chương Vạn Tượng và Bạch
Lọng).
- Officier de l’Ordre Royal du Cambodge
(Đệ tứ đẳng huân chương Hoàng gia Cam Bốt).
- Officier du Mérite Agricole Annamite
(Đệ tứ đẳng huân công Canh nông Annam).
- Kim Khánh de 1ère Classe (Kim khánh
hạng nhất).
- Kim Tiền hors classe. (Kim tiền ngoại
hạng).
- Palmes académiques (Hàn lâm huân chương).
- Ngân Tiền de 1ère classe. (Ngân tiền
hạng nhất).
- Médaille coloniale avec agrafe du
Tonkin (Huy chương thuộc địa Bắc kỳ).
- Médaillle d’honneur en or de 1ère
classe. (Huy chương vàng hạng nhất) [13].
Với ngần ấy huân chương của mẫu quốc và
Nam triều, chả trách quan lớn bị Tứ Ly Hoàng Đạo đem ra "phỏng vấn"
và ngay sau bài đó, Phong Hóa bị đóng cửa ba tháng.
Bài này nếu xét về ý tưởng thì không có
gì phạm thượng, nội dung rất trong sáng: phóng viên chỉ hỏi sơ qua quan lớn
những việc không đâu, mở bài bằng đoạn văn tả cảnh khá mơ mộng:
"Một anh
mán Bạch miêu đầu trọc lốc, đỉnh sọ phất phơ cái chỏm con, mời tôi vào ngồi đợi
lệnh quan lớn Vi Văn Định trong một gian phòng khách, kiểu nửa ta nửa tây. Bỗng
nghe thấy tiếng nói bên cạnh cửa sổ:
- Noọng đây
slao lai. Cố đíp noọng lai (Cô em đẹp lắm tôi yêu cô em lắm).
Tôi nhìn ra
thấy một cô gái Thổ vừa kêu vừa đuổi con mèo tam thể đương cong đuôi chạy.
Câu tiếng Thổ
nhẹ nhàng, gợi trong tôi những giọng… gió gào ngàn, những cảnh rừng sâu, cây
cả, đầy một không khí mãnh liệt gớm ghê…
Tôi đương vơ
vẩn tìm cái chân tướng của người Thổ, Mán, không biết họ ngây thơ hay dữ tợn,
hay vừa ngây thơ vừa dữ tợn như cô gái Thổ trong truyện "Một đêm
trăng" của Thế Lữ, thì bỗng cửa phòng hé mở, rồi thấy ló ra cái đầu trơn
trụi, bóng loáng của một anh mán sơn đầu. Tôi rợn mình tưởng như sắp lạc vào
nơi lạnh lẽo, thâm u… Anh mán nhoẻn miệng cười, vẫy tôi sang gian phòng bên
cạnh.
Gian phòng
này cũng là gian phòng khách, song bầy biện toàn lối Thổ: thảm ngũ sắc bầy khắp
nơi, nỏ và ống đựng tên treo la liệt trên tường. Trên một cái sập gụ - cái sập
có cái đặc điểm là chân kê rất cao - chỉnh chện quan lớn Tổng đốc Vi Văn Định
ngồi bắt chân chéo kheo. Quan lớn chạc chừng tứ ngũ tuần chi gian, bảnh bao
trong chiếc áo gấm lam, đẫy đà phì nộn như một ông quan annam chính thức, ba
chòm râu xanh rũ xuống che cái thẻ ngà lõng thõng trước ngực như ba cái đuôi
chủ của các nhà đạo sĩ Tầu xưa. Đứng bên cạnh bàn quan lớn, có một chị ngây thơ
như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen, viền chỉ hoa: đích thị là một
chị mán cóc.
Quan Lớn thấy
tôi vào vẫn ngồi yên trên sập, vẻ hách dịch, đường bệ, tròn trĩnh… Tôi ngả đầu
chào thì quan lớn chỉ sẽ gật đầu và nhếch mép:
- Thầy ngồi
chơi.
Quan lớn thật
đã thành ông quan annam đặc, không còn có cái vẻ ngây thơ của những cô gái Thổ
hát đúm ở lưng đèo".
Nếu bạn để ý, sẽ thấy phóng viên không
coi quan lớn là ông quan annam, mà chỉ khen Quan lớn thật đã thành ông
quan annam đặc, ý này muốn nói kháy: quan lớn đã
mất hết sự ngây thơ trong sáng của người Tày, chỉ còn giữ lại sự dữ tợn
của cô gái Thổ sát nhân trong truyện "Một đêm trăng" của Thế
Lữ, quan lớn lại học thêm được tất cả mánh khóe gian tham độc ác của
người Kinh. Đoạn văn ác ở lối tả và cách dùng chữ: những chữ mán Bạch
Miêu (mèo trắng), mán sơn đầu, mán rừng, mán cóc… không thể hiện sự kỳ
thị của phóng viên đối với người dân tộc, mà chỉ để hạ thấp giá trị quan tổng
đốc phì nộn như một ông quan annam chính thức, lại được hộ giá
bằng một chị ngây thơ như mán rừng, đầu buộc ngang một vuông vải đen,
viền chỉ hoa: đích thị là một chị mán cóc. Giọng điệu quan lớn trong
bài phỏng vấn, đối với mẫu quốc, càng tỏ rõ phong cách tôi đòi và công bình địa
miền châu thổ của ngài:
"Dân được an cư lạc nghiệp là
công của nhà nước bảo hộ. Còn bản chức, bản chức chỉ mong nối gót quan Từ, Tổng
đốc xưa" [Hoàng Cao Khải?]
"Quan
lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong
lúc ba chòm râu tốt rung rung vì cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách
oanh liệt".
" - Tướng
quân thích làm quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du?
Một nụ cười
mỉm bí mật lộ ra sau mấy chòm râu thuôn tuột, quan lớn Vi trả lời tôi một cách
thâm thúy:
- Bản chức
thì nhà nước đặt đâu xin ngồi đấy. Bản chức dẫu ngồi ở trung châu, mà bao giờ
cũng còn những mỹ tục của cố hương. Ngài có thấy cái sập này kê cao không? (…)
- Kê cao sập
có ý nghĩa sâu xa lắm. Cái sập này tiêu biểu cho cái nhà sàn trên chúng tôi…"
Mới đọc qua những lời này, bạn tưởng là
vô thưởng vô phạt, nhưng kỳ thực đầy ẩn ý:
Hỏi: Tướng quân thích làm
quan miền đồng bằng hay làm quan miền thượng du? Là muốn nhắc đến công
nghiệp bình địa vùng đồng bằng, vây bắt bọn "phản loạn"
Quốc dân đảng, giúp nhà nước bảo hộ tiêu diệt mầm mống nội loạn để dân cư được
sống thái bình an lạc, đó là giá những mề-đai của mẫu quốc.
Khi vẽ chân dung ngài, phóng viên cũng
chỉ dùng vài nét vờn: "Quan lớn họ Vi cười tủm, hai cái môi của
quan cong lên như cái vành móng ngựa, trong lúc ba chòm râu tốt rung rung vì
cảm động và hai con mắt nhỏ híp lại một cách oanh liệt", nhưng
đầy hàm ý: ví môi quan lớn cong cong như cái vành móng ngựa có khác chi nói
miệng ngài chuyên nghề buộc tội như miệng công tố, và hai con mắt nhỏ
híp lại một cách oanh liệt để chỉ cái tướng ác ngầm trong đôi mắt ti
hí mắt lươn và hai chữ oanh liệt để chiếu vào những chiến công
và sự tra tấn rùng rợn mà quan lớn thực hiện trên thân thể bọn tù Quốc dân
đảng.
Sau bài này, Phong Hóa bị đóng cửa ba
tháng là "đích đáng" lắm rồi.
Nhưng không phải Tứ Ly không biết trước
việc sẽ bị đóng cửa, trong bài viết Tại sao Phong Hóa phải đình bản (Phong
Hóa số 152, 6-9-35) Lãng Du [Nhất Linh] kể lại:
"Sau khi
nhận được giấy đóng cửa báo ba tháng. Tứ Ly có bảo tôi rằng:
- Việc đó đã
định từ trước!
Tôi ngạc
nhiên hỏi:
- Thế ra anh
đã biết?
- Chính vậy.
- Anh biết mà
anh không bảo cho chúng tôi hay để tìm cách ngăn ngừa.
Tứ Ly Tử cười
nhạt đáp:
- Vô ích, cơ
trời đã định.
Ngừng một
lát, Tứ Ly Tử ngửa mặt lên trời, than rằng:
- Ngày xưa
Gia Cát Lượng biết nhà Hán sẽ mất mà vẫn phò Lưu Bị. Tôi biết là viết mục
"cánh chuồn" sẽ có kết quả không hay mà vẫn phải viết".
Tứ Ly thừa biết khi đánh vào hai quan
đại thần hàm Thái Tử Thiếu Bảo bồi Tây là sẽ có chuyện, nhưng ông cứ làm, cũng
như sau này, biết rằng cầm súng chống Pháp sẽ thất bại, nhưng không thể đừng.
Sau khi được cho phép ra báo trở lại, Tứ
Ly chuyển hướng, không nhắm vào các vị ngực đầy huân chương mẫu quốc nữa, mà
tung ra loạt bài "nhu mì" hơn như Đi xem mũ ni [14] và
nhất là loạt bài Đi xem mũ giấy [15], lần
này phóng viên chịu khó xuống tận âm ty phỏng vấn ma: bài thứ nhất phỏng vấn
Đức Diêm Vương, bài hai phỏng vấn Đức Khổng Tử, rồi phỏng vấn một ông nghị ma
có chân trong hội Khai Trí Tiến Đức và sau cùng, phỏng vấn Đức Phật Tổ Như Lai.
Loạt bài này rất lý thú, đưa Tứ Ly lên hàng đầu những nhà hoạt kê thâm thúy.
Phóng viên dùng thứ ngôn ngữ hai chiều, hỏi đủ mọi thứ chuyện, từ chuyện triết
học đến những chi tiết liên quan đến cuộc đời đô hộ, mà không bị nhà nước bảo
hộ phong tỏa, bởi vì nhà nước không thể kiểm soát được cửa thiền, cũng không
nghe lén được thế giới âm ty, nhất là "phát biểu" của các vị đã hóa
người thiên cổ từ mấy ngàn năm nay như Đức Khổng Tử, Đức Phật.
Phản đối việc
chia rẽ ba kỳ
Phản đối việc chia rẽ ba kỳ là một đề
tài lớn của Phong Hóa.
Từ Phong Hóa số 137 (22-2-35) Tứ Ly tung
ra chiến dịch phản đối việc chia ba đất nước: Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Mục Người và việc, Từ nhỏ đến lớn đóng khung câu này: Làm
gì có Trung Kỳ, Nam kỳ, Bắc kỳ, và dưới tiểu tựa Phân chia Nam
Bắc, Tứ Ly viết:
"Không
biết tự bao giờ sinh ra tiếng Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, để cho một nước lại hóa
ra ba nước (…) Nhưng bọn vô học thức nào có biết đâu xưa kia ở chốn thâm quê
lặng lẽ, đã có câu hát:
Nhiễu điều
phủ lấy giá gương
Người trong
một nước thì thương nhau cùng
Họ có biết
đâu xưa kia, dân ta cùng một lòng mở mang bờ cõi, từ bắc xuống nam, phá Chiêm
Thành, thị oai với Ai Lao, Miến Điện, bảo hộ nước Cao Miên…
Ngày nay,
chính làng báo ta, tuy nát bét, phải tự cho nghĩa vụ mình là bảo cho họ biết…
Cho họ biết
rằng Nam Bắc không khác gì nhau, và những tiếng "xứ Nam kỳ", "xứ
Bắc kỳ" và "xứ Trung kỳ" là những tiếng nên bỏ "quách"
như tiếng "quan" (…)
Cho họ biết
rằng những đội ban Gia Định, Victoria, Eclair, Seph, không phải là những đội
ban đứng đại diện cho "nước Bắc kỳ" hay "nước Trung kỳ" để
tranh tài với "nước Sài gòn", cho họ biết rằng cả nước Nam chỉ là
một, quyền lợi, nghĩa vụ, đều chung, mà người Nam hay Bắc toàn là người nước
Nam cả, không khác nhau mảy may.
Nếu không,
nước Nam không phải là… nước Nam mà làng báo ta chỉ là làng báo xôi thịt mà
thôi." (Phong Hóa
137, 22-2-35).
Chữ kỳ có
từ bao giờ?
Chữ kỳ có từ thời Minh
Mạng. Sau khi đại thắng quân Thanh, Quang Trung đổi Thăng Long thành Bắc
Thành. Gia Long giữ nguyên tên Bắc Thành, nhưng chữ Bắc Thành
thời Gia Long vừa chỉ Thăng Long, vừa chỉ miền Bắc, cũng như chữ Gia
Định thành vừa chỉ Sài Gòn vừa chỉ miền Nam; còn Kinh kỳ hay kinh
sư chỉ Thừa Thiên Huế.
Sang đời Minh Mạng, chữ Bắc kỳ xuất
hiện khá sớm, Đại Nam thực lục năm Minh Mạng thứ 11 (1830), đã
có câu: "Đắp thành đất 10 phủ Bắc kỳ" (Đại Nam thực
lục, tập ba, trang 10) hoặc "Định hạn ra thú cho các giặc trốn ở
Bắc kỳ" (trang 49). Năm Minh Mạng 12 (1831) vua bắt đầu công
trình cải tổ hành chính lớn lao: từ Quảng Trị ra Bắc, gồm 11 trấn, từ trước đến
nay mỗi trấn đều do một Tổng trấn cai trị, quyền hành quá lớn. Vua quyết định
phân quyền: bỏ trấn, lập những đơn vị hành chính nhỏ hơn như huyện, phủ,
do Tri huyện, Tri phủ, phụ trách. Tỉnh, do Tổng đốc, Tuần phủ coi
việc cai trị và Bố chính, Án sát, coi việc tài chính, thuế khóa và luật pháp.
Năm 1831, vua Minh Mạng đổi tên Bắc Thành là Hà Nội. Năm 1832, vua bắt đầu cải
tổ hành chính phía Nam: từ Quảng Nam trở vào Gia Định, gọi là Nam kỳ [16].
Tóm lại, dưới thời Minh Mạng, Bắc Thành đổi tên là Hà Nội, chỉ có Bắc
kỳ và Nam kỳ, ở hai đầu, còn vùng giữa, thuộc kinh
đô, gọi là Kinh kỳ hay Kinh sư. Hệ thống quan lại
ở nước ta cho tới thời Pháp thuộc, là do vua Minh Mạng định đặt.
Chữ kỳ thời Minh Mạng
chỉ có nghĩa là cõi, không có ý chia rẽ gì cả. Khi người Pháp xâm
lấn nước ta, họ chiếm Nam Kỳ trước, Bắc Kỳ sau, rồi chia thành "ba
nước" để trị. Trên nguyên tắc, miền Trung thuộc triều đình, nhưng vua đã
mất quyền: viên Khâm Sứ chủ tọa Cơ Mật Viện từ thời Thành Thái, vì Toàn quyền
Paul Doumer đã tự ý thay đổi các điều khoản trong hòa ước Giáp Thân
1884, để biến nước Việt Nam thành một thuộc địa toàn phần, việc này
sẽ nói rõ hơn trong một chương sắp tới.
Chống lại
việc chia rẽ ba Kỳ là hành động
phản kháng đầu tiên trực tiếp chống lại chính sách cai trị của Pháp, trên hai
số báo Phong Hóa, số 137 (22-2-35) với bài viết của Tứ Ly, đả phá việc chia rẽ
ba kỳ đã trích dẫn ở trên. Và Phong Hóa số 146 (26-4-35) có tranh vẽ Nguyễn
Phan Long chia rẽ Nam Bắc của Tô Ngọc Vân.Nguyễn Phan Long chia rẽ Nam Bắc của Tô Tử
(Tô Ngọc Vân), Phong Hóa 146Sau khi bị đóng cửa ba tháng, vấn đề
chia rẽ Nam Bắc lại trở lại, kín đáo hơn, sâu sắc hơn với bài xã luận Chia
rẽ Nam Bắc của Nhị Linh (Khái Hưng) trên Phong Hóa số 151 (31-8-35),
không đánh Pháp mà trách người Việt:
"Chúng
tôi lấy sự chia rẽ làm đau lòng, vì chia rẽ bao giờ cũng chỉ có hại. Trong hai
trăm năm họ Nguyễn, họ Trịnh chia rẽ đánh nhau chết hại nhân dân. Nói rằng nhờ
sự chia rẽ của hai họ ấy, mà nước ta đã mở rộng vào phía nam, là nói mò. Đời
Lý, đời Trần, đời Tiền Lê đã bắt đầu cuộc nam xâm. Nếu không có sự chia rẽ kia
thì biết đâu bờ cõi nước Nam ngày nay không giáp Ấn Độ rồi.
Một điều chắc
chắn là sự chia rẽ đã làm chậm sự tiến hóa của dân tộc Việt Nam (…) Cái ý chia
rẽ hình như đã in sâu vào óc người mình thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi ở
trường, thấy anh em trong Nam họ chỉ chơi thân với nhau mà thôi. Đối với người
ngoài Bắc họ rất hững hờ. Có khi đương to nhỏ truyện trò thân mật với nhau,
thấy có bạn học Bắc đến, họ im ngay. Có lẽ học trò ngoài Bắc vào trong Nam cũng
vậy.
Tôi vẫn tưởng
chỉ trẻ con mới có tính trẻ con ấy. Ai ngờ người lớn đầu cũng vậy. Không thế
sao người cùng một nước, nói cùng một thứ tiếng, mà họ bầy vẽ lập nên những hội
"Bắc kỳ tương tế" ở trong Nam và "Nam kỳ tương tế" ở ngoài
Bắc. Thì sao không lập ngay ra hội "Việt Nam tương tế" có hơn không?
Cùng là giống Annam cả thì giúp đỡ một người Sài Gòn có khác gì giúp đỡ một
người Hà Nội… Vậy muốn đánh đổ tư tưởng chia rẽ, trước hết phải phá bỏ những
hội Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ tương tế đi. Tôi là người Annam thì dẫu tôi sống ở
Bắc hay tôi sống ở Nam cũng vẫn là sống ở trong nước tôi. Tôi có sống trong một
nước khác đâu mà bảo những người cùng nước tôi cứu giúp tôi. Rồi khi tôi chết,
dẫu được chôn ở nghĩa địa Bắc kỳ hay nghĩa địa Nam kỳ, bộ xương của tôi cũng
nát ra mà về đất, đất nước nhà."
Những gì Khái Hưng viết, thường đúng rất
lâu: chuyện hội "Bắc Việt tương tế" lại tái bản sau 1954. Và đến bây
giờ, khi chúng tôi có dịp nói chuyện với một số bạn người Nam, họ cũng cho
biết: không thích ra Bắc, dĩ nhiên ngoài lý do chính trị, còn có cái gì khác.
Gặng hỏi thì họ nói: dân Bắc "thiếu văn hóa", nói tục, họ không tìm
thấy cái gì "hay" ngoài Bắc cả! Dĩ nhiên, khi nói chuyện với một số
người bạn ở Hà Nội, tôi cũng nghe được một số ý kiến tương tự, về người Nam.
Vậy chỉ khi nào dân ta bỏ được sự kỳ thị Nam Bắc hỗn hợp với kỳ thị quốc cộng,
thì mới không cần đến những lời răn của Khái Hưng.
Hý họa Nguyễn
Gia Trí
Như trên đã nói: kể từ số 160, Tô Tử đi
Nam Vang dạy vẽ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Nguyễn Gia Trí - dù bận học ở
trường Mỹ thuật - đã trở về Phong Hóa vài số trước khi Tô Ngọc Vân ra đi. Vì
trên Phong Hóa số 158 (18-10-35) có 2 bức tranh, ký bằng dấu ấn Tự Lực văn
đoàn, nhưng qua nét vẽ, ta có thể đoán của Nguyễn Gia Trí. Tranh bìa Trong
đình làng báo, tuy vẽ đình làng báo nhưng thực là vẽ đình
làng, hay xã hội Việt Nam thu nhỏ, dưới thời Pháp thuộc, với một toàn
cảnh cực kỳ "đồi trụy": chiếu trên chiếu dưới, rượu chè, cờ bạc,
nghiện hút, trong khi dân chúng xương bọc da ngồi bệt dưới đất làm tôi đòi.Trong đình
làng báo, Phong Hóa
158 Trang 2, Phong Hóa số 158, còn có bức
tranh Ông nghị đi họp hội đồng, vô cùng mai mỉa, trình bày sự bóc
lột dân lao động của hạng nghị mập phì, sự vô nhân của lớp người dựa vào nền
dân chủ nửa mùa của thực dân để đàn áp dân chúng lầm than đói khổ:Ông nghị đi
họp hội đồng, Phong Hóa
158 Phong Hóa số 159 (25-10-35) bìa vẽ bức
tranh Tam đa: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, vẫn ký
dấu ấn TLVĐ. Chủ đề Tam đa là do Nguyễn Gia Trí đặt ra để mô
tả xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, chia làm ba hạng:
1- Tham quan
2- Làng xã (nghiện, hút)
3- Dân đen (con đỏ).Tranh Tam Đa của Nguyễn Gia Trí, Phong Hóa 159 Bức tranh Tam đa trên
đây vẽ Bang Bạnh biểu hiệu loại tham quan phì nộn, mọt dân mà
Tứ Ly phỏng vấn trong loạt bài Đi thăm mũ cánh chuồn. Làng
xã là một bầy nghiện hút được biểu hiệu bằng hai nhân vật: Lý Toét,
cầm ô treo điếu (thuốc phiện) tay ôm hai chai rượu, và Xã Xệ, tay ôm, cổ đeo,
dưới chân bò những đứa bé bụng ỏng, biểu hiệu dân đen con đỏ:
Đó là hình ảnh nước ta dưới thời Pháp thuộc qua nét vẽ Nguyễn Gia Trí.
Phong Hóa số 185 (1-5-36), trang 4, có
tranh Tam đa đổi ra Tứ quý. Tranh này cùng
chủ đề với Tam đa, nhưng có thêm quan Tây: 1- Quan
ta, 2- Quan Tây, 3- Làng xã, và 4- Dân đen. Quan Tây tức là hạng quan
mới, Tây học hoặc đi du học bên Tây, mô đéc hơn nhưng cũng hết lòng với mẫu
quốc, tranh ký G. Trí.Tranh Tam đa đổi ra tứ quý, Phong Hóa số 185 (1-5-36), ký G.TRIPhong Hóa số 160 (1-11-35) có truyện
vui Tiễn nhau của Khái Hưng viết để tiễn Tô Tử đi Cao Miên,
đồng thời Nguyễn Gia Trí trở lại, ký tên GT, trên bức tranh Đi xem số (trang
2) và dưới những bức minh họa truyện dài của Khái Hưng.
Phong Hóa số 161 (8-11-35) có
tranh Bài Tây không ký tên chắc của Gia Trí, vẽ hai cảnh:
Cảnh 1: chủ bài là dân quê rách rưới,
rao: Một hào thành hai, hai hào thành bốn, ai đánh… Cảnh 2:
… thì đánh đi: Lính Tây cầm dùi cui xông vào đánh tơi bời.
Lối vẽ tranh với lời chua thâm trầm này,
ngoài Gia Trí, ít ai làm được: ông vừa chơi… bút lông vừa chơi… chữ để tạo ra
bức hý họa đa nghĩa: bài Tây, chống Tây, đánh Tây, Tây đánh… hiểu thế nào cũng
được.Bài Tây, Phong Hóa 161Phong Hóa số 174 (14-2-36) có tranh
bìa Chiếu điện của N GIATRI, rất độc, một mũi tên bắn trúng
hai đích: tham quan, ăn nhiều quá bị bội thực phải đi bác sĩ Tây chiếu điện,
nội dung dạ dầy phơi bày trên màn ảnh quang tuyến, bác sĩ Tây hoảng hốt: ông
đừng "ăn" nữa thì khỏi bệnh. Ta "đọc" bức tranh này theo nghĩa đen hay ngõa bóng đều tuyệt cả.Chiếu điện của N GIA TRI, Phong Hóa 174Phong Hóa số 175 (21-2-36): có tranh cấm
đổ rác của NGT:Cấm đổ rác của NGT, Phong Hóa 175Đứng trước biển cấm đổ rác, ông Tây bảo
một người Annam:
- Người Annam coi thường pháp luật thật,
đi đổ rác vào ngay chỗ cấm.
- Đó là họ định đổ cho ngập hết cái biển
cấm đi để tha hồ đổ.
Tranh này lấy tích "đồng trụ
chiết, giao chỉ diệt": người Tàu cắm cột đồng trụ ở biên giới, rồi đề
câu trù yểm: cột đồng trụ mà đổ thì xứ Giao Chỉ cũng bị diệt. Vì thế, dân ta
không dám nhổ cột đồng, nhưng mỗi người đi qua đều bỏ vào chân cột một hòn đá
để làm vững cột đồng đồng thời lấp dần cái cột ô nhục.
Ở đây, ông Tây nói: người Annam coi
thường luật pháp - nghĩa là luật pháp của Tây. Còn người Annam đứng chắp tay
sau đít (tay bị trói) giải thích: Chúng tôi đổ rác cho ngập cái bảng cấm ô nhục
ấy đi đấy. Ý nghĩa thâm trầm, mật thám không thể hiểu nổi.
Phong Hóa số 178 (13-3-36) tranh
bìa Trên sân vận động Huế, của TRI, chế giễu các quan huyện mới đỗ
phải vào Huế, thi lần chót để giành chiếu trên chiếu dưới. Trang 3, vẽ
tranh Lưu Quan Trương đời nay, tựa đề Tam anh chiến chai bố, mô
tả cảnh rượu chè đồi trụy: lý, xã, tổng… đều nát bét rượu; tranh này cùng chủ
đề với tranh Lý Toét uống rượu trên Phong Hóa số 184 (24-4-36)Tranh bìa Phong Hóa số 178Tam anh chiến chai bố, Phong
Hóa 178Lý Toét uống rượu, Phong Hóa 184Nguyễn Gia Trí không chỉ chủ trương
"bôi nhọ chế độ" và còn nói lên nỗi ô nhục của triều đình, vẽ cảnh
dân nghèo trụy lạc, rạc rài cờ bạc, nghiện hút, qua những bức tranh châm biếm,
gần như hàng tuần, rất gai mắt, nhưng chính quyền thuộc địa chưa dứt khoát phải
đối phó thế nào, bởi vì ra lệnh đóng cửa một tờ báo có khối độc giả lớn nhất
trên toàn quốc, cũng cần có một lý do chính đáng.
Và lý do chính đáng ấy đã đến, để kết
thúc "tội ác bôi nhọ chế độ": Phong Hóa số 190, có tranh bìa: Mưu
mẹo Annam để trừ tiệt quan ôn.
Quan ôn nghĩa đen là ác thần gieo bệnh
dịch, nghĩa bóng là quan tham, ác quan. Bức tranh vẽ một bên là âm binh vàng
mã, một bên là quan… ôn.
Người dẫn đường giải thích với người
ngoại quốc: Chúng tôi bày tiền ra để "cúng", rồi cung cấp súng cho cả
hai bên, để chúng tranh giành đánh nhau, chết hết. Có khác gì nói: Bọn mê tín
dị đoan (vàng mã) và bọn quan ôn (bồi Tây) bắn nhau cho tiệt hết, là chúng tôi
(dân đen) thoát nạn.Mưu mẹo Annam
để trừ tiệt Tam anh chiến nhất Bố, Phong Hóa 190 Bên trong tờ báo, thêm bức tranh Con Lý
Toét: A ha! Tam anh chiến nhất Bố, ở trang 9, cũng
rất độc đáo: Tam anh ở đây rút ra từ tranh Tam đa,
Nguyễn Gia Trí đã vẽ tranh Tam đa trên bìa Phong Hóa số 185
(1-5-36), gồm có: quan Ta, quan Tây, và (tệ đoan) Làng
xã. Trong bức tranh này, Lý Toét bị ba con chó (tam anh) cắn, thằng
con đứng ngoài vỗ tay cổ vũ. Tranh này cực kỳ đớn đau, cay độc: Cha bị ba bề
cắn xé, con đứng hoan hô, nói lên sự ngây thơ của dân mình trước sức tàn phá
của thực dân và tham quan ô lại.
Phong Hóa bị
đóng cửa vĩnh viễn
Tuy vậy Phong Hóa bị đóng của vĩnh viễn
từ sau số 190 không phải vì tranh Nguyễn Gia Trí cũng không
phải vì những bài viết của Tứ Ly, mà vì lý do chính trị.
Tháng 5 năm 1936, một tin quan trọng từ
chính trường Pháp: Liên minh cánh tả do đảng Xã Hội (SFIO) của Léom Blum lãnh
đạo, lên nắm chính quyền. Tứ Ly mừng rỡ loan tin:
"Bên
Pháp hiện đã bầu cử nghị viên xong.
Liên hiệp dân
đoàn thắng thế, nghị viên thiên hẳn về phía tả. Ông Léon Blum, đảng trưởng đảng
Xã hội quốc tế chiếm được nhiều ghế nhất trong nghị viện, sẽ đứng ra lập tòa
nội các.
Ảnh hưởng của
sự thay đổi lớn ấy trong chánh giới Pháp đến thuộc địa, đến dân ta, không phải
là nhỏ. Nghị viên Pháp thiên về phía tả, thì chính kiến đối với thuộc địa sẽ
rộng rãi hơn lên.
Quyền lợi của
dân thuộc địa sẽ được nới rộng ra, nếu dân thuộc địa biết tự trọng.
Nhưng ta vui
mừng cũng không nên quá giới hạn. Đảng Xã hội khác, mà chính phủ do đảng Xã hội
bầu lên khác. Ông Léon Blum đảng trưởng đảng Xã hội chưa chắc đã giống ông Léon
Blum tổng lý tòa nội các.
Có một sự
chắc chắn nhất, là ta phải trông ở ta." (Phong Hóa số 189, 29-5-36)
Khi viết những dòng tin vui mừng này, Tứ
Ly đâu biết, chỉ một tuần sau, Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn.
Liên hiệp Dân
đoàn [Front
Populaire] tức Mặt trận bình dân chiếm đa số phiếu trong cuộc
bầu cử ở Pháp ngày 26-4 và 3-5 năm 1936 (Pháp bầu cử hai vòng).
Ngày 6- 6-36, Léon Blum ra lập chính
phủ.
Toàn quyền René Robin lập tức ra
lệnh đóng cửa báo Phong Hóa trước đó một ngày, tức là ngày
5-6-1936 Phong Hóa ra báo cuối cùng, số 190, bởi vì chính quyền Đông
dương sợ Léon Blum lên, sẽ nới rộng chính sách tự do báo chí cho dân thuộc địa.
Trên Phong Hóa số 190 (5-6-36), Tứ Ly
viết bài xã luận Đi tìm lý tưởng dĩ vãng, đặt kỳ vọng vào sự nới
rộng tự do của Mặt Trận Bình Dân, dân ta sẽ tự giác, quét sạch những lề thói
cũ, nếp sống xưa của ông cha, để lập một cuộc sống khác:
"Phải,
ông cha ta đã sống một cuộc đời êm lặng, một cuộc đời quá êm lặng (…) Khốn khổ,
nhục nhằn đến đâu, họ cũng không mơ tưởng, mong ước một cuộc đời khác, vì họ
không biết rằng có thể có một cuộc đời khác được.
Họ chỉ còn
một việc: là nhắm mắt hành động theo một quy củ có sẵn, theo phép vua, theo lệ
làng… họ không cần phải nghĩ ngợi nữa. Trí đoán xét vì thế mà thiên lệch hay là
mất hẳn đi. Thời xưa họ không hề nổi giận lúc họ trông thấy một người làm phản
mà bị chu di đến cả ba họ.(…) Họ tán dương hành động của cô Thúy Kiều bán mình
chuộc cha và cho sự bán vợ đợ con là một việc hợp công lý. Họ coi là hợp lẽ
những hành vi trái với lẽ phải, hay làm giảm, làm mất cả nhân cách… Ông Lý lạy
ông Huyện, ông Phủ lạy ông Án, đó không phải là một sự đáng bỏ, mà lại còn là
một sự hợp lễ nữa…
Những cái
quái dị ấy - và ngàn vạn quái dị khác - đều ẩn nấp sau cái không khí nên
thơ của đời cũ. Ông cha ta sống yên ổn trong cuộc đời ấy, nền văn hóa ấy, không
phải là vì mến yêu nó, nhưng là ví tâm hồn đã bị khuôn vào những mẫu nhất định,
là vì - tôi
xin nhắc lại một lần nữa - không thể tưởng tượng một đời khác
được".
Có bao giờ chúng ta cảm thấy việc Nguyễn
Trãi hay bất cứ tù nhân chính trị nào, bị tru di tam tộc là dã man, tàn ác
không? Có bao giờ chúng ta cho rằng việc Kiều bán mình chuộc cha là vô lý, vô
nhân, không thể chập nhận được? Chúng ta không có phản ứng trước
những sự kiện này, tức là chúng ta chấp nhận, mà chấp nhận tức là
đồng lõa.
Những lời thống thiết của Tứ Ly báo hiệu
một sự dứt khoát tư tưởng trên con đường tranh đấu của Tự Lực văn đoàn: việc
cải tổ xã hội, cải tổ chính trị, đổi mới tư tưởng, phải đến
từ chính chúng ta, từ trong lòng người dân mong muốn và thể hiện, chứ không
thể trông cậy vào người khác, bất cứ người ấy là ai. Kêu gào, van xin người ta
bố thí cho tự do dân chủ là điều không tưởng khi chính mình không muốn thay
đổi. Ngày xưa hay ngày nay cũng vậy.
Chú thích:
[1] Phong Hóa số 19 (27-10-32) có vở
hài kịch D.P.T.M.N.T.U.T.A.H.T.T.H. hay là hội Ausecourfem, và
Phong Hóa số 22 (18-11-32), có hài kịch Mọt đục cứt sắt của
Hoàng Tích Chu (Xem chương: Đổi mới ngôn ngữ).
[2] Lúc đó, vì Nguyễn Gia Trí trở lại
học trường Mỹ thuật, nên Tô Ngọc Vân thay Gia Trí phụ trách việc trình bày
Phong Hóa từ số 129 (21-12-34) đến số 160 (1-11-35). Sau đó Tô Ngọc
Vân đi Nam Vang dạy vẽ, và chỉ trở lại với Ngày Nay từ số 147 (28-1-39) đến số
chót, để thay Nguyễn Gia Trí, lúc đó đã đi làm cách mạng.
[3] Cụ Hoàng Tăng Bí, thành viên xây
dựng Đông Kinh Nghĩa Thục, sau viết báo Trung Bắc Tân Văn.
[4] Cổ tích tân thời, Phong Hóa
số 125 (16-11-34), Tam quốc tân thời diễn nghĩa, từ Phong Hóa
số 131 (4-1-35) đến số 138 (1-3-35) và Những cuộc điều tra phỏng vấn
không tiền khoáng hậu - Đi xem mũ cánh chuồn, Phong Hóa từ số 139 (8-3-35)
đến số 150 (24-5-35).
[5] Trước vành móng ngựa đăng
từ Phong Hóa số 151 (31-8-35) đến số 190 (5-6-36) rồi tiếp tục trên báo Ngày
Nay.
[6] Bài Phạm Lê Bổng trên Phong Hóa
151 (31-8-35) và Bùi Bằng Đoàn, trên Phong Hóa số 152 (6-9-35).
[7] Từ Phong Hóa số 153 (13-9-35) đến
Phong Hóa số 154 (20-9-35).
[8] Từ Phong Hóa số 155 (27-9-35) đến
Phong Hóa 158 (18-10-35).
[9] Tam quốc diễn nghĩa, Phong
Hóa số 132 (11-1-35).
[10] Phong Hóa số 133 (18-1-35).
[11] như ông Trần Bá Vị, hội trưởng
hướng đạo đoàn Trung Kỳ (Phong Hóa số 144); hay vào Nam phỏng vấn ông Nguyễn
Phan Long, lãnh tụ đảng Lập Hiến (Phong Hóa số 145), trở lại Huế phỏng vấn cụ
Thượng thư bộ kinh tế Nguyễn Khoa Kỳ (Phong Hóa số 146), rồi vào Thanh Hóa
phỏng vấn ông Nguyễn Bá Trác (Phong Hóa số 147) hay ra Bắc phỏng vấn ông Bố
Nguyễn Quý Toản [tuần phủ] (Phong Hóa số 148).
[12] Hoàng Văn Đào, Việt Nam
Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, Cali, trang 116.
[13] Gouvernement général de
l’Indochine, Service de l’Information, Souverains et notabilités d’Indochine.
Notices par ordre alphabétique, Hà Nội, IDEO, trang 20.
[14] Đăng trên Phong Hóa số 153 (13-9-35),
phỏng vấn Tăng Cương Hòa thượng, sư cụ chùa Bà Đá, húy Đỗ Văn Hỷ, đại sư quốc
doanh, cao tăng được nhà nước bảo hộ coi như bồ tát, la hán; tiếp đến Phong Hóa
số 154 (20-9-35), phóng viên đi vãng cảnh chùa Quán Sứ, trụ sở hội Phật Giáo,
gặp tín đồ Lê Dư, chủ tịch hội Chấn hưng đạo đức.
[15] Đăng trên Phong Hóa từ số 155
(27-9-35) đến 158 (18-10-35).
[16] Đại Nam thực lục, tập ba,
từ trang 219 đến 266 và trang 392 đến 405.
Ngày Nay
phóng sự
Thế Lữ -
Trọng Lang - Thạch Lam
Sự ra đời của
Ngày Nay
Ngày Nay được quyết định ra đời cuối năm
1934, khi Phong Hóa in tới số 130 (28-12-34), vì nhiều lý do:
- Phong Hóa đang ở trong thời kỳ cực
thịnh, với hai vạn độc giả [dân số lúc đó 20 triệu người] [1],
có đủ phương tiện tài chính để mở thêm một tờ báo mới, dưới hình thức mới:
chiếu ống kính vào đời sống thực của người dân qua ngả phóng sự với hình ảnh đi
kèm.
- Cùng thời điểm ấy, Nguyễn Tường Cẩm
(anh Nhất Linh) về Hà Nội chữa bệnh, muốn ở lại làm báo, bỏ nghề kỹ sư canh
nông thường hay phải đi xa.
- Nhất Linh giao cho Nguyễn Tường Cẩm
làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam) làm Chủ bút báo Ngày Nay, với một
ban biên tập trẻ: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ), Tường Bách (em
út Nhất Linh) và Trọng Lang, một cây bút mới.
Ngày Nay từ số 1 đến số 15 [2] do
Thạch Lam quán xuyến, có hai mục đích chính:
- Phát triển thể văn phóng sự, mô tả
cuộc sống hàng ngày của người dân, chủ đích làm lộ bộ mặt trái của xã hội Việt
Nam thời thuộc địa, với những hình ảnh đi kèm.
Bài xã luận trên Ngày Nay số 1, ký Tự
Lực Văn Đoàn, viết:
"Mục
đích của Ngày Nay là làm cho các bạn biết rõ sinh hoạt của dân ta trong buổi
bây giờ, về mọi phương diện, cả hình thức lẫn tinh thần (…) Chúng tôi sẽ đưa
các bạn đi từ rừng đến bể, từ thành thị đến thôn quê, xem các trạng thái hiện
có ở xã hội."
- Ngay từ những số đầu, Việt Sinh (Thạch
Lam) và Minh Trúc (Nguyễn Tường Cẩm) đã nhiệt thành giới thiệu những thành quả
của trường Mỹ thuật Đông Dương. Tờ báo là bệ phóng của Mỹ thuật và hậu thuẫn
cho kế hoạch đem mỹ thuật vào đời sống của giáo sư Victor Tardieu mà chúng tôi
đã trình bày trong chương Trường Mỹ thuật Đông Dương.
Trong số những cây bút đầu tiên của Ngày
Nay, phải kể đến Tường Cẩm và Tường Bách, anh và em ruột Nhất Linh. Nguyễn
Tường Cẩm [3], trong
thời kỳ làm giám đốc Ngày Nay, đã viết một số bài ký tên Minh Trúc, như La
Khê dệt lụa (phóng sự, viết về nghề dệt ở La Khê, một trong những làng
đầu tiên học được nghề dệt lụa từ thời Lê sơ, nhờ 12 người Tàu di cư sang lập
nghiệp truyền lại); Năm mới (xã luận, mừng xuân), Nền
Mỹ thuật Việt Nam (tiểu luận) và Dân quê (xã luận,
nói về đời sống khốn khổ của dân quê) [4].
Sau khi ông bỏ Ngày Nay, bút hiệu Minh Trúc cũng không thấy xuất hiện nữa.La Khê dệt
lụa của
Minh Trúc, Ngày Nay số 1 Nguyễn Tường Bách, em út Nhất Linh, lúc
đó còn đang đi học, thỉnh thoảng có thơ văn đăng trên Phong Hóa từ trước. Trên
Ngày Nay, thời kỳ đầu, viết mấy bài sau đây: Sắm tết, Gió bấc lạnh
lùng, Dưới bến trên thuyền, Thủy tiên ngày Tết và Tục
ngày tết, và ba bài phòng sự: Ngày giỗ trận… ở chùa Đồng Quang,
Trên đồi Lim hội hè đinh đám, Lạng Sơn ngày hội [5]. Phóng
sự của Tường Bách hơi giống lối viết tùy bút của Thạch Lam, có tích cách văn
chương nhưng chưa sâu sắc, nên không để lại dấu ấn lâu dài.
Trên Ngày Nay số 2 (10-2-35) còn có
phóng sự ngắn Tết của Tù của Vũ Trọng Phụng.
Nhưng báo Ngày Nay chỉ thực sự khởi sắc
nhờ loạt phóng sự của Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế
Lữ), và nhất là của Trọng Lang, cùng với loạt phóng sự tòa án Trước
vành móng ngựa của Tứ Ly [6].
Nhưng Ngày Nay gặp nhiều khó khăn ngay
từ đầu, trước hết về nhân sự:
Nguyễn Tường Cẩm làm giám đốc được năm
số thì ngừng, có lẽ vì không thạo việc quản lý và điều khiển một tờ báo, nên
ông đã trở lại nghề kỹ sư canh nông.
Ngày Nay số 13 (21-5-35) in một trang
quảng cáo của Tự Lực văn đoàn với hai ý chính:
"Hết số
này, Ngày Nay không ra hàng tuần nữa, sẽ ra mỗi tháng một kỳ, đóng thành
tập".
"Những
món đặc sắc hiện có ở Ngày Nay sẽ liệt vào Phong Hóa, để làm tờ Phong Hóa trở
thành hoàn toàn, đầy đủ, cho vừa lòng các bạn của Tự Lực văn đoàn và số hai vạn
độc giả ngày một tăng thêm".
Sau số 13, Ngày Nay ngừng sáu
tháng. Số 14 (13-11-35) hoàn toàn thu hẹp, rất ít bài vở.
Sau số 14, Ngày Nay ngừng năm
tháng. Có lời bố cáo trên Phong hóa số 151 (31-8-35): Dù in mỗi số 4, 5
nghìn số, nhưng tiền in hình ảnh đắt quá, mà không thể tăng giá
bán, nên mỗi số bị lỗ vốn 1, 2 trăm đồng.
Ngày Nay số 15 (3-4-36), thu hẹp với
những bút hiệu xa lạ. Sau đó ngừng.
Hai tháng sau Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh
viễn sau số 190 (5-6-36).
Hơn một tháng sau, Ngày Nay xuất hiện
trở lại, với số 16 (12-7-36) và toàn bộ biên tập Phong Hóa như ta đã biết.
Phóng sự và hình ảnh là
hai điểm chính của Ngày Nay trong thời kỳ đầu, với ý định chụp ảnh sự
lầm than của xã hội Việt Nam để in trên báo. Ý định này không kéo dài
được vì tiền in tốn kém, báo lỗ, nên phải ngừng sau số 15.
Ngày Nay sống lại từ số 16, nhưng chuyển
qua một giai đoạn tranh đấu khác, phóng sự không còn chỗ đúng ưu tiên như trước
nữa, nhưng sự hình thành thể văn phóng sự trên báo Ngày Nay đã để lại dấu ấn
lâu dài.
Nguồn gốc thể
văn phóng sự
Phóng sự là một thể loại rất mới lúc bấy
giờ, bắc cầu giữa thông tin và văn chương, giữa nhà văn và nhà báo, và theo Tam
Lang, đang là cái mốt bên Tây tràn sang [7].
Không hiểu ở trong Nam, phóng sự đã bắt đầu với ai, từ bao giờ, còn ở ngoài
Bắc, Tam Lang là người được Vũ Ngọc Phan ghi nhận như tác giả phóng sự đầu tiên.
Nhưng theo sự khảo sát của chúng tôi,
bài Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội của Khái Hưng
ký tên Thảo Thượng Phong và Trần Đỗ in trên Phong Hóa số 3 (30-6-32) và số 4
(7-7-32), mới là bài phóng sự đầu tiên.
Tam Lang (Vũ Đình Chí) viết loạt bài
phóng sự Tôi kéo xe, hoàn tất tháng 6-1932, in thành sách năm
1935 [8],
vậy công bố sau Quang cảnh một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, nhưng
vì bài của Khái Hưng ký tên Thảo Thượng Phong và in trên Phong Hóa số 3 và số
4, lúc đó chưa ai để ý, nên Vũ Ngọc Phan xếp Tam Lang là người đầu tiên viết
phóng sự, cũng dễ hiểu.
Tháng 3 năm 1933, Việt Sinh [Thạch Lam]
viết phóng sự Hà Nội ban đêm cùng với Tràng Khanh in trên
Phong Hóa từ số 37 (10-3-33) đến số 60 (18-8-33).
Và năm tháng sau, Vũ Trọng Phụng viết
phóng sự Cạm bẫy người, in trên Nhật Tân số 2 (9-8-33). Đó là những
thiên phóng sự đầu tiên ở Bắc.
Phóng sự là lối viết điều tra của nhà
báo, nôm na là viết chuyện người thật việc thật. Dưới thời Pháp
thuộc, phóng sự có nhiệm vụ phanh phui mặt trái xã hội, còn đối với chúng ta
ngày ngày nay, phóng sự cho biết đời sống thực thời ấy của
những người bị gạt ra ngoài lề, mất quyền sống như một con người. Thế giới ăn
chơi trụy lạc ở Hà Nội thập niên 30, nằm trong hai khu: Khâm Thiên và ngõ Sầm
Công mà các nhà phóng sự, đặc biệt Trọng Lang, tìm cách vén màn lên sự thật sau
cánh cửa.
Bài phóng sự
đầu tiên của Khái Hưng
Quang cảnh
một tiệm hút thuốc phiện ở Hà Nội, là bài viết của Khái Hưng về một tiệm hút thuốc phiện,
kiêm những hoạt động ám muội khác. Mở đầu như sau:
"Một
gian nhà tây hai từng trong ngõ Sầm Công đường vào đi ngoắt nghéo (…). Tầng dưới
có có bốn bộ ghế ngựa cạnh sập, nước sơn dầu lâu ngày đã phai, hầu như người ta
lăn lộn đã nhiều lắm thì phải. Gần chỗ cái tủ "buffet" trong để những
thuốc, những sái, dầu đèn, tiêm móc đủ cả, kê một bộ ghế ngựa trên chải chiếc
chiếu hoa cạp điều có cái bàn đèn thực lịch sự thực sạch sẽ. Hai bên trải đôi
đệm vóc hồng điều còn mới tinh, lại có đôi gối da để gối đầu. Ngọn đèn dầu lạc
trong cái chụp pha lê thắp sáng chưng suốt đêm suốt ngày. Cái hộp đồi mồi non
non ngón chân cái lúc nào thuốc cũng xấp xỉ đầy".
Tác giả chú ý đến từng chi tiết nhỏ, ông
tả đứa bé gái con ông chủ tiệm hút như sau:
"Đứa con
gái độ chừng ba tuổi, tóc húi kiểu ma ni, hai má bánh đúc trắng hồng, cổ đeo
chiếc vòng vàng, mình mặc áo satin hoa thêu, phủ ngoài cái quần lục soạn trắng
nõn, đi đôi giầy mang cá cao gót, đương tung tăng chạy chơi với con búp bê to
tướng mới mua".
Con bé này là cái đinh của màn kịch diễn
ra sau đó: nó được bố âu yếm bồng lên ngồi ở cái đệm gấm cạnh mình, đoạn ông
nằm xuống hút và gọi bồi tiêm hãm nước trà, chẳng may anh ta vô ý, đánh đổ nước
lên đùi con bé, nước cũng không nóng mấy, nhưng làm ướt cái quần lụa của nó
"mới là ngầy"!. Thế là con bé tru tréo khóc oà lên, ông chủ vội
vàng đứng dậy, bế xốc con lên dỗ dành, nhưng con bé "lên cơn hờn ghê
gớm, cầm con bút bê đập đôm đốp mãi vào đầu cha và chửi cha chửi mẹ thằng làm
ướt cái quần đẹp của nó". Thế là loạn cả một cửa tiệm hút lịch
sự, đang đông khách, tầng trên cũng đổ dồn xuống, nào những me tây, những bà
phán, đang ù dở ván bài… như cái chợ vỡ. "Năm người đàn bà đổ
xuống. Người đi sau rốt, lùn mà béo, mặt rỗ, mặc quần lụa trắng, ngoài mặc cái
"bu lơ vơ", búi tóc lộn, dáng mặt hầm hầm, chẳng nói chẳng rằng,
giằng sấp ngay lấy con bé ẫm tuốt lên lầu".
Cách viết phóng sự của Khái Hưng rất
khác những nhà viết phóng sự sau đó và ông cũng chỉ viết có một bài này, nhưng
đã cho thấy rõ lối tả chân của ông: động tác rất nhanh, lời lẽ chính xác, không
sót một chi tiết nhỏ, không ba hoa, làm cho độc giả có cảm tưởng bịa đặt, điều
mà nhiều nhà phóng sự mắc phải. Khái Hưng xây dựng phóng sự như một truyện
ngắn, bố cục chặt chẽ, về một ổ thuốc phiện kiêm cờ bạc, đĩ điếm, sang trọng ở
ngõ Sầm Công. Ông chủ tập thể, dẫn đầu, cù lần, bất lực; con bé ba tuổi, trung
tâm, đáo để tuyệt mức; và bà mẹ rỗ huê đi đoạn hậu, nắm tất cả quyền bính trong
tay. Tổ chức đồi trụy này, nằm trong căn nhà tây, là một toàn diện
gia đình trị mà hai lãnh đạo là đàn bà, rất đúng đường lối "nữ trị"
sẽ thấy trong tác phẩm của Khái Hưng sau này.
Tôi kéo xe của Tam Lang (Vũ Đính Chí)
Xe kéo là xe có hai bánh lớn, người phu
đứng trước cầm hai càng xe kéo mà chạy, lúc đó chưa có cyclo. Cyclo ba bánh,
người phu ngồi trên yên sau xe, đạp, đỡ vất vả hơn nhiều. Theo Tam Lang, hơn
mười năm sau khi tác phẩm của ông ra đời, xe kéo bị bãi bỏ hẳn [9].
Tam Lang bắt đầu phóng sự như sau:
" - Ông
cho nhà cháu xin chiếc xe.
- Mày ở đâu,
tên là gì?
Xoạc rộng cái
mồm đầy hai hàm răng cáu bựa như những múi na, anh cai T. nới một lỗ khuy chiết
thắt lưng da to - to ngang chiếc giây lưng đeo cát tút của người đi săn - tráo
trợn hỏi như nhổ vào mặt người anh ta coi là lạ.
- Bẩm, cháu ở
Thái Nguyên, tên là Tý" [10]
Lối mở đầu rất khéo, đã tạo được
"không khí trấn áp" từ đầu, văn Tam Lang rất sống động. Nhưng ông
phạm một lỗi, là ngay đầu đã mô tả tay Cai xe như một thứ cặn bã, đồ bỏ: "hai
hàm răng cáu bựa như những múi na", "tráo trợn hỏi như
nhổ vào mặt". Đây là nhược điểm chung của nhiều người viết văn
hiện thực tả chân: Nguyễn Công Hoan bảo: viết người ác thì phải tả mặt mũi như
thế nào… hoặc Vũ Trọng Phụng đổ tất cả mọi xấu xa tội ác lên đầu Nghị Hách. Lối
tả này ta gọi là phóng họa, Pháp gọi là caricature, rất
ít tính nghệ thuật.
Cái lầm thứ hai của Tam Lang là để cho
có vẻ "thành thực", ngay chương đầu, ông kể đã được Bùi Xuân Học, chủ
nhiệm Ngọ Báo, gợi ý nên đi làm phóng sự như các nhà báo bên Tây, thường sang
Hồng Kông, Thượng Hải làm phóng sự. Tam Lang bèn đóng vai một anh phu xe đi
kiếm việc, đến gặp ông Cai, v.v... "Sự thật" này hơi khó tin, bởi vì
một "công tử Hà thành" như Tam Lang, chưa bao giờ tập kéo xe, mà chỉ
một thoáng đã biến thành "cu ly" kéo xe chở một ông Cai Tây bự, chạy
một cuốc dài từ Đồn Thủy lên Yên Phụ!
Tôi ké xe là tác phẩm rất mới thời đó, người
đọc dễ tính không thấy những sơ hở và họ thích vì tác giả mô tả được tất cả
những cái "dã man tàn bạo" của tên Cai xe, mụ vợ nặc nô cũng ác như
chồng và sự bần tiện của thằng cha Cai Tây mập ú, bắt chẹt phu xe, trả rẻ… đúng
như ý họ muốn. Đó là cách viết của một số tác giả hiện thực xã hội tả chân thời
ấy, nhiều tính trào phúng, phóng đại, nhưng ít sự thật, mà lại rất được ưa
chuộng.
Cơm thầy cơm
cô của Vũ
Trọng Phụng
Hơn một năm sau, Vũ Trọng Phụng,
viết Cạm bẫy người, ký Thiên Hư, đăng lần đầu trên báo Nhật
Tân số 2 (9-8-33), được Annam xuất bản cục (nhà xuất bản đầu tiên của Tự Lực
văn đoàn) in thành sách năm 1934.
Cạm bẫy người kể lại câu chuyện do một người bạn
- là kẻ đánh lừa cha - thuật lại: vì có ông bố keo kiệt nhưng thích cờ bạc, y
bèn dẫn về nhà một tay cờ bạc bịp, tay này lột tiền của ông bố rồi chia cho y.
Cờ bạc bịp có nhiều trường phái mà lừa đảo cũng vậy… Cạm bẫy người là
tác phẩm đầu, Vũ Trọng Phụng viết khá cẩn thận, tôn trọng sự thật, có lẽ vì thế
mà được Tự Lực văn đoàn in. Nhưng Cạm bẫy người chưa phải là
một phóng sự mà chỉ là câu chuyện nghe kể lại. Chất phóng sự rõ hơn, trong hai
tập sau: Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm thầy cơm cô [11]. Kỹ
nghệ lấy Tây, ghi lại lời tâm sự của những người đàn bà lấy Tây kể về hoàn
cảnh éo le của mình. Cơm thầy cơm cô mới đích thực là phóng
sự, bởi vì tác giả đã nhập hẳn vào môi trường khảo sát.
Cơm thầy cơm
cô, viết
về "thế giới con ở" mà Vũ Trọng Phụng trà trộn vào để nghe chúng kể
lại những chuyện tồi tệ của chủ. Trước hết ông giả làm người đi tìm việc, được
mụ mối dẫn đến trọ ở một hàng cơm:
"Tôi
không cần nói rõ hàng cơm nào, ở phố nào, làm gì. Các ngài chỉ biết rằng một
hàng cơm cũng như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào
thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn. Nào là mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt
lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi dưa khú… Thôi thì đủ một trăm
nghìn thứ mùi khó chịu, mà lạ nhất là nó không hề bận tâm đến hai lỗ mũi của bà
chủ luôn luôn nắm trong tay cái quạt nan, cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng
lại cao hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột, tự nhiên như đàn ông chúng
ta" [12].
Đoạn văn này khá tiêu biểu cho lối viết
của Vũ Trọng Phụng: khiêu khích và phóng đại. Hàng cơm ông tả khi ta
mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn, vì những mùi
cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi mẻ chua, mùi
dưa khú… mà nó lại giống như nghìn vạn hàng cơm khác. Vậy
tất cả những hàng cơm ở Hà Nội đều như thế ư? Hai chữ "bổn phận" có
nghĩa gì? Lại còn bà chủ cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao
hứng vén quần lên đến bẹn và gãi sồn sột nữa: Bạn đã thấy ở nơi nào có
hàng cơm với mụ chủ quán cởi trần trùng trục ngồi tiếp khách?
Rồi phóng viên được đưa vào nhà trong, lên gác, vẫn lối tả chân sống sượng,
viết phứa, sản xuất ra những câu: "Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn
ngang như lợn cả, bọn đực nằm phía bên kia, bọn cái, phía bên này" [13].
Vũ Trọng Phụng đẩy xa sự phóng đại gấp
mấy lần Tam Lang, cho nên, dù ông có biệt tài viết rất sống động, lôi cuốn, có
những đoạn hay, nhưng những câu văn như trên đã tạo ra cảm giác một thứ hoạt
họa tiếu lâm tàn ác hơn là một thiên điều tra về cảnh lầm than của kiếp người.
Theo Nguyễn Đăng Mạnh, Vũ Trọng Phụng là
người sống nghiêm túc, đạo đức, chẳng bao giờ đi chơi đêm, vậy mà ông lại viết
những phóng sự "kinh hồn" như Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây và Cơm
thầy cơm cô, dĩ nhiên là phải hư cấu, mà viết rất nhanh, không kịp đọc lại,
nên đã có nhiều chữ gây tai hại cho tác phẩm. Tuy nhiên ông đã tạo được một
"trường phái phóng họa" mà sau này Hoàng Hải Thủy là môn đệ trung
thành.
Phóng sự của
Nhất Chi Mai (Thế Lữ)
Trên Ngày Nay, phóng sự do ba người đảm
nhiệm: Việt Sinh (Thạch Lam), Nhất Chi Mai (Thế Lữ) và Trọng Lang, một cây bút
mới. Cả ba đều có lối viết khác hẳn lối hư cấu của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng.
Thế Lữ, dùng lại bút hiệu Nhất Chi Mai,
đã từng ký trên Phong Hóa, năm 1932 [14].
Bẵng đi hai năm, ông không dùng bút hiệu này nữa [15].
Khi được điều động sang Ngày Nay, trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), Thế
Lữ có làm một bài thơ trả lời độc giả hỏi: Thế Lữ ở đâu mà không thấy có mặt
trên Phong Hóa? Cũng kể từ lúc này, ngoài bút hiệu Thế Lữ, ông còn
lấy bút hiệu Nhất Chi Mai để trình làng trên Ngày Nay như một tác giả mới, với
lối viết phóng sự sinh động, lôi cuốn, tại Hải Phòng, nơi gia đình ông cư ngụ.
Thế Lữ bắt đầu với bài phóng sự Một cái
chợ người giữa nơi thành thị, ký tên Nhất Chi Mai, trên Ngày Nay số 1
(30-1-35). Tiếp đó là loạt phóng sự Buôn người [16], Tong-Hin, [17] và
loạt bài Ngày Nay điều tra Ăn cướp của Trọng Lang
và Thế Lữ [18].
Cũng trên Ngày Nay, Thế Lữ bắt đầu loạt tiểu thuyết trinh thám Lê Phong
phóng viên trinh thám [19].
Một cái chợ người giữa nơi thành
thị của Nhất
Chi Mai, mô tả cảnh "chợ người" ở Hải Phòng, là nơi những người đi
tìm việc tụ tập, tiếp xúc với các mụ mối chuyên kiếm việc cho kẻ thất nghiệp để
lấy hoa hồng. Giọng phóng sự của Thế Lữ như sau:
"Hải Phòng,
một buổi sáng mùa đông, trên trời mây kéo đen ngòm; lác đác mấy hạt mưa lạnh
buốt đến xương.
Thu mình
trong chiếc áo cao su, tôi rảo bước trên bờ hè phố Bonnal. Bỗng có tiếng gọi
giọng lanh lảnh:
- Ông tìm
người làm?
Dừng bước,
thấy trước mặt tôi, trên bờ hè, sế [xế] vườn hoa bãi sông Lấp, bầy ra một cảnh
tượng khiến ai thấy cũng phải chú ý.
Một bọn người
vừa đàn ông, vừa đàn bà, trẻ có, già có, quần áo rách rưới, co ro, sắp hàng
ngồi thành một rãy. Những khuôn mặt hốc hác, những da vàng ỏng, những con mắt
sâu hoắm".
Giọng Thế Lữ thành thật, nên đã chiếm
được lòng tin của độc giả. Một cái chợ người giữa nơi thành
thị chỉ là bài mở đầu cho chủ đề Buôn người.Phóng sự Buôn người, Ngày
Nay số 2Buôn người là phóng sự dài và chính của Thế
Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 2 đến số 8, cho ta thấy lại văn tài tác giả Vàng
và máu, nhất là ở những đoạn mô tả bọn lái buôn hành động trong đêm tối:
"Trên
mặt nước đen như mực, chiếc thuyền không đèn, không đóm cứ việc đè sóng vùn vụt
chạy như bay. Một tên khách lực lưỡng, vẻ mặt dữ tợn, mắt sáng quắc như mắt vọ,
lạnh lùng ngồi lái.
Tuy là đường
thủy mà lại khúc khuỷu khó đi vì đá mọc ngầm dưới biển rất nhiều.
Thuộc lòng
từng tảng đá, tên lái khách thản nhiên cho thuyền chạy quanh co, săm săm đâm
vào trong đêm tối…
Những tiếng
gió vi vút, gầm thét trong hang, những tiếng hò não nuột của lũ chim đêm, những
tiếng sóng dạt dào, những cái bóng đen lù lù của đàn cá mập bơi theo, những
cảnh tượng thâm u, sầu thảm của trời nước, một đêm không có trăng sao, không đủ
làm nao lòng bọn "lái thán", bọn khách chuyên nghề chở người từ
Hải Phòng ra Móng Cái.
Bọn này toàn
là giặc bể trở về. Trên lương tâm mỗi đứa đếm ra cũng được dăm cái án mạng gớm
ghê.
Bọn "lái
thán" công ty với bọn "mẹ mìn" chở những món hàng người qua
Móng Cái, về nẻo Đông Hưng. Mỗi chuyến đi thoát, bọn "lái thán" cũng
được trăm bạc hay hơn tiền hoa hồng".
(Ngày Nay số 2, 10-2-35).
Văn trong Buôn người có
nhiều đoạn tuyệt hay như thế, nên đã lôi cuốn độc giả, khiến họ dù có nghi ngờ
đôi chút về "sự thực", cũng bỏ qua, vì cho rằng nhà văn có quyền hư
cấu cảnh vật, miễn là nội dung buôn người có thật, do Thế Lữ
điều tra chứ không bịa đặt.
Ngày Nay số 3, vẫn trong Buôn
người, tác giả chuyển sang chuyện mẹ mìn. Theo ông, năm
1929, là năm mẹ mìn. Chuyện mẹ mìn dẫn
đến chuyện người Tàu giấu của; tất những chi tiết ly kỳ này, dĩ nhiên tác giả
không trông thấy mà chỉ nghe kể lại: họ mua một thiếu nữ đồng trinh, chờ lúc
trăng lặn, làm lễ chôn sống người con gái Annam cùng với của cải châu báu để
làm thần giữ của, tục này có từ thời Tô Định, Liễu Thăng. Còn ngày nay [1935]
người ta dùng mẹ mìn trong việc "hiện đại" hơn: bán
người cho bọn mộ phu đi Tân thế giới. Trước tệ nạn này, dân chúng đứng lên lên
trừ mẹ mìn, nghĩa là cứ thấy một "con mẹ" lanh lẹ mon men vào chợ,
lân la hỏi chuyện là người ta xông vào đánh "cho chết bọn mẹ mìn".
Sau việc này và việc tay tổ mộ phu Bazin bị ám sát ở chợ Hôm, hoạt động mẹ
mìn và buôn người mới lắng xuống. Tình cờ một hôm
phóng viên Nhất Chi Mai gặp được cụ Bát, kể lại: Con gái cụ bị bắt cóc sang Tàu
lúc 12 tuổi, bán cho một nhà giàu làm con ở. Năm 20 tuổi, cô gái gặp được một
người [Tàu] tốt đưa cô trở về với gia đình.
Cũng có trường hợp không đi thoát, vì
thuyền gặp bão đánh giạt vào đảo, bị nhà đoan vây bắt với cả "thuyền
hàng" gồm mười người phụ nữ. Hoặc trường hợp bi thảm của một đứa nhỏ bị
bắt, bán làm con ở, sau lớn lên làm vợ chung cho chủ, là ba tên lái lợn.
Phóng sự Buôn người để
lại dấu ấn hãi hùng về một thời ở Bắc: trẻ con nào lớn lên trong thời ấy, nghe
thấy hai tiếng mẹ mìn là sợ mất viá. Ngày nay đọc lại phóng sự
của Thế Lữ Nhất Chi Mai, ta mới thấy rõ cảnh mẹ mìn bắt cóc ấy như thế nào.
Phóng sự Tong-Hin quê hương của
Trần Tế Đường, không có gì đặc biệt: Tong Hin là một làng nhỏ bên Tàu
sát biên giới. Từ Moncay sang Tong Hin phải qua cái cầu nhỏ dài 100 mét, bắc
ngang sông Đông Hưng. Tong Hin là quê hương của Trần Thế Đường, Tổng đốc Quảng
Đông. Sang Tong Hin phóng viên gặp kỹ nữ Xuân Đào, một người đẹp, hát hay nhưng
số phận long đong.
Ngày Nay điều
tra ăn cướp của
Trọng Lang và Thế Lữ, đăng trên Ngày Nay từ số 6 đến số 13, là một phóng sự
thành công. Hai phóng viên đi sâu vào những tổ chức ăn cướp ở thôn quê. Người
dân bị cướp thường trực, nhưng không có vũ khí chống lại, chính quyền làm lơ.
"Tiếng
chó sủa, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên và những tiếng cầu cứu kêu thất
thanh trong đêm tối! Dân quê luôn luôn sống trong sự sợ hãi: sợ cướp và sợ bao
nhiêu thứ khác nữa". Đám
cướp được tổ chức rất dễ dàng:
"Cứ một bọn hai mươi người biết
cách xếp đặt hẳn hòi thì đến bất cứ nhà nào ở thôn quê cũng ăn cướp được"
đó là lời tuyên bố đáng sợ của của một tên tướng cướp".
Nhờ khôn khéo và may mắn, phóng viên
được tướng cướp tin cậy, cho dự một vụ đánh cướp thực sự và "trả lời phỏng
vấn" nữa, tiết lộ mánh lới khảo của, cách tháo chạy như thế nào, sự trừng
phạt kẻ phản bội ra sao, làng cướp cũng có kỷ luật sắt như luật mafia sau này,
không ai dám tố cáo lẫn nhau, cho nên những kẻ nhúng vào tội ác, giết người,
vẫn ở ngoài vòng pháp luật, cho đến khi tự ý ngừng hoạt động, về hưu, làm người
hiền lành như một ông đồ!
Kèm chuyện ăn cướp, hai tác giả còn mô
tả những bức tranh quê sống động trong ngày phiên chợ, cảnh đấu đô vật hấp dẫn,
những lý luận đặc thù của xã hội bất lương, cả đến những người dân "vô
tội", cũng không chỉ là đáng thương, là nạn nhân mà còn, một cách nào đó,
đã "đóng góp" vào tội ác. Ngày Nay điều tra ăn cướp là
một phóng sự có giá trị sâu sắc, nhưng rất tiếc, không được mấy ai chú ý.
Phóng sự của
Trọng Lang (Trần Tán Cửu)
Trọng Lang [20] là
cây bút chính về phóng sự của Ngày Nay. Trọng Lang vượt trội Tam Lang, Vũ Trọng
Phụng, vì tính chất thành thật, nhân đạo và nghệ thuật tả chân trong tác phẩm
của ông. Ông nói thẳng mình là nhà báo được trả tiền đi làm phóng sự.
Trọng Lang xuất hiện lần đầu trên Ngày
Nay số 1 [21] với
phóng sự Lạc vào động bà chúa Hàng Bạc, tả
lại cái động của bà Bé Tý, nhân vật nổi tiếng ở Hà thành. Lúc ấy ông mới 19
tuổi, gửi thử bài viết đầu tiên cho Ngày Nay, không ngờ được đăng ngay.
Bà chúa Hàng Bạc người Tầu lai Tây, sống
bên Annam, và động của bà - ngày chủ nhật thỉnh thoảng mở cửa
cho khách vào xem - có đủ mọi trò hấp dẫn, có ảo thuật, có đội vũ nhạc, có nhảy
fox Tây theo điệu đàn Tàu; có hát cô đầu lối Tàu, có lên đồng… nghĩa là không
thiếu trò gì cả. Với bài phóng sự này, Trọng Lang xác định giọng văn đặc biệt
của mình, ông giới thiệu động bà chúa Hàng Bạc như thế này: "Ra Hà
Nội, một ông Lý Toét ít ra phải được xem hai cái kỳ quan: Vườn bách thú và nhà
bà Bé Tý". Và ông đã mô tả quang cảnh và không khí "động
tiên" ấy như một màn xiếc sống, đủ trò lai căng mà ta có thể mường tượng
được.
Tiếp đến Trong làng chạy [22] là
một thiên phóng sự sống động về thế giới trộm cắp, ông bắt đầu như thế này:
"Chợ
Đồng Xuân, một buổi sáng… Lấy chỗ những con chó cụp đuôi đứng liếm lá gói bánh
hay đống rác ở các chợ nhà quê, hai thằng bé đứng "hít" một mẹt bún
chả.
Hai tay
khoanh để sau gáy, chúng thỉnh thoảng nuốt nước rãi.
Người gầy,
quần áo rách. Người ta không hiểu hai bộ tã ấy còn duyên nợ gì với hai cái thân
ốm yếu ấy mà chưa rời."
Tất cả ngụ trong cách tả và
sắp đặt: hai thằng bé - sắp giật gói bánh ga tô - chiếm chỗ con chó cụp đuôi
liếm lá, đứng hít mẹt bún chả, nuốt nước rãi, không hiểu hai bộ tã ấy
còn duyên nợ gì với hai cái thân ốm yếu ấy mà chưa rời. Lối tả lạnh
lùng đến "vô nhân" như thế, mà lại vô cùng nhân đạo thương tâm trong
chiều sâu, chưa mấy nhà văn đạt được, khác hẳn với lời văn thô và miệt
thị "Bọn cơm thầy cơm cô nằm ngổn ngang như lợn cả" của
Vũ Trọng Phụng mà ta vừa thấy ở trên. Trọng Lang đưa ta vào thế giới ăn
cắp, từ tỉnh về quê, đủ mọi hoàn cảnh, tình thế, đủ loại thủ đoạn, mánh
khóe, khác nhau. Ông đã tạo ra bức tranh bi hài tột độ về xã hội đạo chích
đương thời.
Trong phóng sự Đàn bà hút
thuộc phiện [23] ông
chiếu ánh sáng vào những đàn bà nghiện, sang hèn khác nhau, trong những tình
huống khác nhau, đặc biệt những người thường xuyên nằm đét trong các tiệm hút
tồi tàn, chỉ ngóc đầu lên để đi khách, có tiền hút tiếp, họ chính là hình ảnh
của địa ngục trong con người: tự mình đưa mình xuống âm ty.
Phóng sự Đời bí mật của sư
vãi [24] kém Trong
làng chạy, bởi tác giả có thành kiến với giới tu hành, ông cho rằng
chín mươi phần trăm người đi tu thuộc vào bốn loại sau đây: 1- Trong tử vi có
chữ "tu hành". 2- Mồ côi cha mẹ hoặc lười biếng. 3- Muốn chết nhưng
sợ đau không dám tự tử. 4- Cha là sư, mẹ là vãi. Với một thành kiến chắc nịch
như thế, ông chỉ tạo ra hoặc nghe lại những mẩu chuyện về các loại sư hổ mang,
hoặc những chi tiết ly kỳ về cuộc đời xác thịt của một sư bà… rồi phóng ra mà
không điều tra chiều sâu của cuộc sống trụy lạc - nếu có thật - của giới tu
hành. Phóng sự Gà chọi [25] hay
hơn, tác giả tìm hiểu khá sâu về thế giới chơi gà chọi, đưa ra những trang
phóng sự thật sống động. Phóng sự Đồng bóng [26] cũng
tìm hiểu cặn kẽ về thế giới lên đồng.
Nhưng tác phẩm chính ông là phóng sự
dài Hà Nội lầm than, đăng trên Ngày Nay năm 1937 [27] về
cuộc sống bùn lầy của đám phụ nữ giang hồ (gái nhảy, cô đầu, gái điếm) và của
phường ăn mày kiêm ăn trộm. Tất cả Hà Nội lầm than đều là thần
tử của thuốc phiện, trong hai khu Sầm Công và Khâm Thiên.
Làm dân [28] viết về tình trạng tồi tệ, hủ lậu, dốt
nát của một làng nhỏ ở ngoại ô mà những người con gái nhẹ dạ, chỉ mơ được ra Hà
Nội, đã sa vào vòng trụy lạc. Làm tiền [29] viết
về những thủ pháp làm tiền quỷ quyệt của đủ mọi hạng người.
Đói [30] là phóng sự mà cũng là tài liệu văn học
sớm nhất về nạn đói năm Ất Dậu ở miền Bắc, mô tả cảnh
chết đói kinh hoàng trên đường phố, của những người dân quê tiến về Hà
Nội: "chúng cháu cả làng chết tiệt mất cả" nên rủ
nhau đi bộ liều lên đây "vì nghe họ bảo rằng ở Hà Nội thì cứ nhặt
hạt rơi hạt vãi, cứ khóc một tiếng, vái một vái, là đủ no cho cả đống rồi". "Chín
người, mà là chín bức tượng gầy đen kịt. Những người lớn thì đã vượt tuổi, sớm
đến cõi chết: nghĩa là họ đã mắt trũng, răng hô, lêu đêu, ghê gớm như ma quỷ cả
rồi. Những đứa bé thì như trở lại thời sơ sinh: nghĩa là mắt tròn xoe, má răn
thành sóng đến tận mang tai, chúng bé rúm lại, như những khỉ con mới đẻ".
Sống sót [31], đúng như lời giới thiệu
của tác giả: "Thiên phóng sự này tả tình cảnh của bọn thực dân
Pháp sống sót lại sau đêm mùng 9,[9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp] của
tụi Việt gian đã sống sau gót thực dân, của lũ "me" lỡ bước, của
những kẻ vong bản đã nhập Pháp tịch".
Trọng Lang và Nguyên Hồng là hai nhà văn
lớn do Tự Lực văn đoàn khám phá.
Trong mười 10 năm, từ 1935 đến 1945,
Trọng Lang, một mình, trên Ngày Nay, đã tìm cách phơi bày tất cả bộ mặt tối tăm
của xã hội thực dân, qua ngả phóng sự.
Phóng sự của Trọng Lang về tình trạng
lầm than sa đọa ở Hà Nội, tiểu thuyết hiện thực xã hội của Trần Tiêu về đời
sống tăm tối của dân quê, và tiểu thuyết phóng sự của Nguyễn Hồng về xã hội
trộm cắp, là ba mặt công phá khác của Ngày Nay, ngoài tiểu thuyết Khái Hưng,
Nhất Linh, và truyện ngắn Thạch Lam.Hà Nội lầm thanHà Nội lầm
than là tác phẩm
chính của Trọng Lang, đăng trên Ngày Nay năm 1937 [32],
với bốn đề tài: Gái nhảy, Cô đầu, Nhà thổ và Ăn
mày.
Tiệm khiêu vũ, khi đứng ngoài, tiếng
nhạc vọng ra cho ta cảm giác quyến rũ, êm dịu, mơ màng, cực kỳ thanh lịch:
"Ngồi nhìn, từ 9 giở cho tới nửa
đêm, những cặp "nhảy" dịu dàng và trai trẻ, giữa tiếng cười, hoa và
giây giấy, giữa những điệu nhạc mê hồn, người ta yên chí rằng nghề
"nhảy" là một nghề nhã nhặn, kiếm được, cho các cô nhảy tiền và chồng
rất dễ.
Nhưng từ mười
hai giờ đêm đến ba giờ sáng, hay đến lúc bình minh, lúc phấn sáp đã trôi qua
những làn da xám nhợt, người ta mới thấy rõ cái bã của cuộc vui, bộ mặt thực
của nghề nhảy, nó cũng gớm chết như bộ mặt xanh vàng, hết phấn của các cô nhảy.
Rồi, nhìn
thấy các cô nặng nề, khổ sở, cố lê theo mấy ông lực lưỡng, lắc trên lắc dưới
như một thằng múa rối, người ta tưởng tượng ngay ra rằng các cô là "cu ly
nhảy" chứ không phải là gái nhảy nữa".
"Một lát
nữa tôi thấy cô nhảy tăng gô với khách, lưng cong lên, cầm cô tựa vào vai
khách, há mồm ra mà… ngủ như thường". (Ngày Nay. 50)
Trọng Lang đã vào bên trong tiệm nhẩy,
đã nhìn thấy cái bã của cuộc vui, đã thấy những
"cu ly" nhẩy, bởi họ đúng là phu nhảy, loại phu phen hạng bét, hàng
đêm phải gánh đủ mọi hạng người, hôi hám, say khướt, thô tục, không biết nhảy,
giẫm lên chân. Bằng mọi giá, cu ly nhảy phải kéo cho được những tạ thịt này đi
theo điệu nhạc, có cô bị giẫm nát cả mấy ngón chân, phải vào bệnh viện. Một đời
sống quay cuồng, trông bề ngoài đẹp như tranh, mơ như luân vũ, nhưng bên trong
là những cái xác không hồn, nhảy đến tan thân, rách áo, gãy giày, hai chân rã
rời muốn quỵ, để nuôi một thân hình không còn sinh lực, không còn sức sống.
Cô đầu cũng không khá hơn. Đây là cảnh
năm, sáu cô đầu, đội khăn trắng, tiếp khách:
" - Em đã
nhất định không chịu để tang. Nhưng mà bà ấy bắt phải đội khăn trắng.
- Đội khăn
trắng thì họ bảo mình cóc có tiền mua khăn nhung, phải giả có trở để đội khăn
trắng, rẻ tiền, giặt được.
- Dù mình có
để trở bố mình đấy, họ cũng bảo là mình để trở ông Bôn be".
Một cô đầu kiêm nữ sĩ than:
" - Chỉ
vì cái con phải gió, con X. kia! Đưa cho nó một đồng để nó mua thuốc phiện dấm
thanh về hai đứa uống. Nó lại đi mua có năm hào!"
Nên cô mới còn ngồi đây. Con
phải gió đã đi thoát, nó chẳng nghe được lời cô trách.
"Em có
chết, thiên họ tất họ sẽ nói: chẳng chết những đứa đó thì chết đứa nào! Nhà báo
sẽ đăng là chết vì tình! Các anh may ra sẽ được một câu điếu: Thế à! và một cái
tắc lưỡi, như gọi chó!"
Những nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Tuân,
Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… thường tụ họp bên bàn đèn, để mơ nàng tiên nâu,
uống từng âm thanh "tom chát", có đọc những dòng này, chắc không khỏi
"chạnh lòng". Trọng Lang đã ép trọn đắng cay, tàn ác, trong vài câu
ngắn ngủi, nhỏ xuống những số phận không ai tin, không ai thương: dù mình có để
tang bố, chúng nó cũng không tin, thì tang làm gì? Mà cái con phải gió bảo đi
mua thuốc phiện dấm thanh, lại còn hà tiện, cho chết một mình đáng kiếp! Nhưng
không hề thấy xác. Chỉ thấy mùi âm khí. Còn em, một cô đầu văn sĩ, em có chết, chắc
cũng chỉ được các anh đồng nghiệp tặng cho một cái tặc lưỡi như gọi chó là
cùng! Kinh khủng. Bái phục. Sao lại có ngòi bút gói ghém được toàn diện cái ai
oán trong tiếng tom chát Khâm Thiên đến thế.
Nhà thổ còn ghê hơn. Bởi "tôi
quyết rằng không ai dám nhận đã đi vào… "nhà thổ" dù chỉ một lần nhỏ
thôi, trong đời mình. Là vì nhà thổ là chỗ ô uế cực kỳ, một chỗ để chứng rằng
tâm hồn và xác thịt của một đám đàn bà trụy lạc đã thối nát đến bực nào…
Tôi đã đàng
hoàng bước vào nhà thổ với ngòi bút và lòng thương."
Đấy là nói cho oai, chứ chàng phóng viên
này đến ngõ Sầm Công đi qua một căn nhà thổ bốn bận mà không dám vào, dù bị chế
giễu, mời mọc, đủ kiểu:
"- Giời mưa, ới hỡi giời mưa:
Có thằng
thích chết mà chưa dám vào!"
Một mụ già mắng át con bé hát láo, thì
thào vào tai chàng:
" - Chả có ai cả đâu! Mời
cậu vào đi!"
Bấy giờ chàng mới nghiệm thấy "thì
ra bao nhiêu ngày tháng sống chung với "kẻ cướp" và "kẻ
cắp" dạo trước, vẫn chưa gây cho tôi đủ can đảm để vào "nhà
thổ". Rồi chàng cũng thuê được hai quân sư nghiện dẫn chàng vượt
cửa khẩu vào vùng đất cấm:
"Tôi đã
được nghe những tiếng cười, khóc, điên dại và ghê gớm của một đám người hãy còn
tỉnh để nhớ rằng họ đã từng là… "đàn bà". Tôi đã thấy hết cả các thứ
bẩn thỉu, cái vô nghĩa trong kiếp sống ở một người đàn bà, khi người đó đã
không còn gì là "đàn bà" nữa".
Nhưng vẫn có "một mụ" phân
biệt nghề mình với nghề cô đầu:
" -
Chuyện! Cô đầu khác, mà nhà thổ khác. Cô đầu khổ sở bỏ mẹ đi… Thằng nào cũng
phải tiếp. Đang ngủ nó dựng cổ dậy, nó có bệnh nó đổ cho cũng không biết nữa.
Nó hành hạ không kêu vào đâu được, chủ nó đánh đập như con chó cũng phải chịu.
Ăn thì ăn uống khổ sở. Thử hỏi tụi cô đầu N.7 xem có sướng hơn chúng tôi chưa?
- Nhưng mà ở nhà chứa nghe nói: "không
chịu tiếp khách, mụ chủ nó lột truồng ra, lấy tóc buộc vào cột mà đánh, lại có
lúc nó buộc phải tiếp nhiều khách quá trong một đêm, thì phải nắm lấy chầy mà
cán bụng. Hai việc đó sướng cái gì?"
Mụ lại phải giải thích: bây giờ không
làm thế được, chủ hành hạ thì đã có phép (lên khóc lóc mách bà đầm lục xì). Còn
khách hàng lôi thôi, tống ra cửa (bảo y có bệnh, cách khám đã có quan đốc
lục xì dạy cho rồi).
Nhà thổ còn có phép trị bọn khách quý. Một
lũ khách gian, tiếng lóng là càn long, sai hai đứa đi mặc cả trước,
rồi dẫn "con Oanh" vào xăm [33].
Oanh khét tiếng anh chị, bao nhiêu thằng nó cũng thầu hết. Hai thằng vào trước,
mở hé cửa sau cho bọn càn long vào lậu. Oanh cho cả bọn 10
thằng vào xăm, đoạn nó tự thoát y rồi ra lệnh: các anh đông quá mà chỉ thả ra
có một đồng rưỡi, lại mặc cả suốt đêm cho hai người. Thôi thì đã đến đây, chả
lẽ lại về không, vậy anh nào muốn ở lại, phải lập tức cởi hết quần áo ra. Nhìn
tấm thân hộ pháp của con Oanh, chín thằng mất vía, líu ríu xin rút lui, chỉ một
thằng trẻ chuyên môn tắm truồng, can trường ở lại. Thế là mất toi một đồng rưỡi
bạc. Giá hạng bét chỉ có hai hào.
Nhà thổ là một xã hội đủ mọi hạng người:
từ những công tử đẹp trai con quan lỡ bước, mặt xanh rớt, hành nghề cho Tây,
đến những người đàn bà "không còn là đàn bà" mà là những
"đống thịt trâu xám ngoét", ngửa ra trên bàn lục xì cho quan
khám, nghe chửi, hoặc nằm chịu trận trong ngõ Sầm Công hôi hám, để nuôi thằng
chồng nghiện hút, mắc bệnh lậu, đánh vợ tàn nhẫn. Đó là mặt trái của Hà Thành
thanh lịch áo dài Lemur Cát Tường, và là thành quả của chế độ nha phiến bảo hộ.
Chưa đủ, Trọng Lang còn đào sâu hơn:
phần thứ tư của phóng sự: Trong hang tối, chứa chất những cuộc
đời tăm tối nhất trong ngõ Sầm Công và Khâm Thiên. Là loại người đã ở trong
bùn, ăn gì cũng không chết: ngốn thịt gà toi, thịt trâu chết, ở với lợn, mà lại
sợ vào nhà thương, con lên kinh sài, thì mua hương "cửu trùng" cúng,
hôm sau thấy bảo nó hỏng đêm qua rồi, chỉ chép miệng: "Ối
chào! Trẻ con ấy mà!". Trẻ chết có đáng gì. Lại có kẻ hành nghề "chôn
người". Bởi vì người lớn hay trẻ con chết mà gia đình ngại lôi
thôi, không muốn dính, vứt xác ra đường; hoặc ma cà bông, chết nghiện, vô thừa
nhận… thì đã có ông chôn người lượm về chôn tuốt. Lại còn phải
kể hạng người giết… người, là những bà mụ, đỡ đẻ bằng mảnh chai,
mảnh sắt rỉ, bằng lá ngón; lang băm giết người vì cho uống bùa ngải; lang Mường
(giả mường) bán bùa đeo rốn, cam đoan sau trăm ngày sẽ có mang.
Nhưng đây mới là cái đáy: trong Một
"tổ cốc" (tổ ăn mày, ăn cắp, nghiện) ở phố S.C, họ nuôi
chuột cống làm bồi tiêm, nuôi mèo luyện nghề ăn cắp. Mèo, chuột, đi ăn cắp
thuốc tha về, nghiện nặng như chủ, sau mỗi "vụ", chúng được thưởng,
hít khói thuốc phiện.
Một ông ăn mày kiêm ăn trộm, nguyên gốc
quan Thừa kiêm thi sĩ, ngâm:
Ngàn năm văn
vật đất Thăng Long
Thuốc phiện
là đây có phải không?
Bởi vì, "nếu chỉ kiếm được có
hai Bảo đại, tức là hai "con" thì đành phải uống tạm một bát nước
"cam lồ" nghĩa là nước canh nấu bằng dẻ lau bàn đèn, các thứ bẩn thỉu
của bàn đèn, có đá hơi thuốc phiện.
- Nếu không
kiếm được một trinh nào?
- Thì… như
thường lệ! Nghĩa là nổi cơn ho hen lên, rồi nằm chết rũ một xó hè nào đó…" [34]
Ai lại muốn chết?
Sự xuống cấp từ người xuống dưới
người là nhờ thuốc phiện, nguồn thu nhập lớn lao mà nhà nước bảo hộ
độc quyền khai thác, cho phép dân dùng không hạn chế.
Tệ nạn nha phiến, vua Gia Long đã thấy,
nên từ năm 1802, vua đã cấm người Anh vào đất Việt, cấm luôn người Pháp, để
tránh ganh tỵ. Vua Minh Mạng càng đề phòng hơn, chuẩn bị kỹ càng về binh bị,
trong các buổi họp cơ mật, vua rất quan ngại vấn đề nha phiến và việc người Âu
xin vào "buôn bán", vua đã thấy Lâm Tắc Từ phải đối phó với thuốc
phiện Anh trồng ở Ấn Độ đem lậu vào Trung Quốc, vua tiên đoán nhà Thanh sẽ thất
bại trong chiến tranh nha phiến (1839-1842). Đầu năm 1841 vua băng hà. Minh
Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đều cấm ngặt dân hút thuốc phiện. Nhưng từ khi Pháp đổi
nền bảo hộ thành nền đô hộ trên toàn lãnh thổ, thuốc phiện công khai tàn phá từ
quan đến dân, bởi vì nó là một trong những nguồn lợi chính của mẫu quốc.
Hai cường quốc Anh Pháp đã thành công
trong việc đầu độc hóa hơn nửa Á Châu bằng nha phiến, vậy mà vẫn còn có người
Việt ngây thơ tin rằng, vì các vua Nguyễn "bế quan tỏa cảng", không
để cho người Pháp vào "buôn bán", lại cấm đạo nên chúng ta mới mất
nước. Bức tranh Tam anh chiến nhất bố của Nguyễn Gia Trí, vô
tình hay hữu ý, chỉ vào việc này.
Phóng sự của
Thạch Lam
Việt Sinh (Thạch Lam) bắt đầu viết những
bài phóng sự ngắn trên Phong Hóa, năm 1933, như: Trên đồi Lim, Nghe hát
quan họ một đêm ở Lũng giang, Xòe của các cô nàng, và Phong
dao Mường [35]. Những
bài này chưa hẳn là phóng sự mà giống tùy bút.
Đến loạt bài Hà Nội ban đêm ký
Việt Sinh và Tràng Khanh, mới là phóng sự đúng nghĩa. Hà Nội ban đêm còn
là phóng sự đầu tiên về nghề làm điếm tại Hà Nội, vạch trần sự sa đọa và tồi tệ
của thủ đô về đêm, chúng tôi đã giới thiệu trong chương Hoàng Đạo và
Thạch Lam.
Trên Ngày Nay, Việt Sinh viết ba phóng
sự ngắn Nhà cửa Annam [36], Đánh
cá Hồ Tây [37] và Bóng
người Yên Thế [38]. Phóng
sự của ông vừa có tính cách văn chương vừa thành thực, nhẹ nhàng nhưng không
kém phần sâu lắng.
Một tháng ở
nhà thương [39]: Tự nhiên bị sưng hạch ở cổ, bác sĩ cho
biết là bệnh lao hạch (tuberculose glanglionnaire), phải mổ, Thạch Lam vào nhà
thương Robin ở Cống Vọng. Nhờ bài phóng sự này ta biết Thạch Lam cao một thước
bảy mươi, nhưng không chỉ có thế, ta còn biết được đời sống trong bệnh viện
dưới thời Pháp thuộc:
"Qua cổng nhà thương, đến chỗ
khám bệnh, tôi đã thấy dòng người chờ đợi: ba, bốn chục người như ma quỷ hiện
hình: những người xanh xao, vàng võ, gầy như que củi. Đó là những người nhà quê
nghèo ở các tỉnh, mắc những chứng bệnh ghê sợ đã đến thời kỳ cuối, lặn lội lên
đây để xin vào nằm".
Trước khi có nhà thương Robin, mỗi ngày
bệnh viện chết trung bình tám người, trong số đó năm người có thể chữa được nếu đến
sớm, nhưng người ta sợ nhà thương, không dám vô, gần chết mới xin
vào. Hỏi người dân quê tại sao sợ? Họ bảo tốn tiền quá, khi vào phải qua mấy
cửa là đã mất vài đồng rồi, chưa kể tiền thuốc men.
Nhà thương có ba giai cấp: các quan (bác
sĩ), các thầy (khán hộ, sinh viên, nhân viên), ma lát (malade,
con bệnh) và hai khu vực: khu làm phúc, khu trả tiền. Một khán hộ phải lo cho
cả trăm bệnh nhân. Vệ sinh không bảo đảm trong vùng làm phúc: một thùng nước
uống cho cả phòng, ma lát cứ việc thò tay bẩn cầm ống bơ vục nước mà uống! Một
tuần ba ngày người thân được vào thăm: thứ ba, thứ năm, chủ nhật, từ 2 giờ đến
4 giờ chiều, cũng là ngày phô sự bất bình đẳng giàu nghèo: vào thăm phải có
giấy phép quan ký, nhưng người nghèo thường không biết chữ,
không biết xin giấy, mà các quan lại bận. Có người từ quê ra,
không biết cách xin vào, đành phải về không. Có người đem quà đến thăm chồng,
lạy lục mãi mới vào được, mới hay chồng chết đã mấy hôm. Người vú em [làm cho
gia đình Thạch Lam] nằm bệnh viện, lỡ để cái chén lên bàn [ma lát làm phúc
không được để đồ dùng của mình lên bất cứ đâu] bị quan tát cho
một cái: "Đây có phải nhà của chúng mày đâu?" Ma lát làm phúc,
phải ăn đứng, cơm đỏ như gạch, vừa mốc vừa hôi, nửa hột cơm nửa
sạn. Chuẩn bị đón ông Công sứ Godart, bệnh viện được lau chùi sáng
loáng, mấy hôm chờ ông Công sứ đến hụt, ma-lát được ăn menu khác hẳn. Tết, cây
đào nở hoa, đêm người ta thi nhau cắt trộm vất ra ngoài tường, sáng sau cây đào
trụi.
Lối viết của Thạch Lam luôn luôn nhẹ
nhàng, nhưng làm ta đau đớn, không chỉ vì người bản xứ vẫn bị đối xử như tôi
đòi, trong bệnh viện, mà còn cả đến thói ăn cắp vặt của người mình, cây hoa
trong nhà thương cũng không từ, thực nhục nhã, nhưng Thạch Lam không trách gì
cả, chỉ kể lại, mới là đau.
Hà Nội băm
sáu phố phường đăng trên Ngày Nay năm 1940 [40].
Không ai giới thiệu Hà Nội của Thạch Lam hay và đầy đủ hơn
Khái Hưng:
"Và Thạch Lam thủ thỉ - bao giờ
Thạch Lam cũng chỉ thủ thỉ, dù tức giận đến đâu.
Những thanh
sắt ở đó (chùa Ngọc Sơn) cũng khá lâu rồi thì phải, mà chưa thấy ủy ban nào đó
làm việc gì cả. Việc thì rất giản dị: nghĩa là bỏ những cái đó đi là
xong".
Nhưng Thạch
Lam lưu tâm nhất đến cuộc sống hàng ngày của Hà Thành, đến những cái thú con
của dân thành phố, cũng là những nhân vật bé nhỏ, đã gây cho thành phố cái tính
cách đặc biệt của nó.
Ta hãy nghe
Thạch Lam mở mục quà Hà Nội với một giọng yêu đương mà tự phụ của một dân Hà
Nội: "Quà Hà Nội xưa nay vẫn có tiếng là ngon lành và lịch sự. Ở các thôn
quê, chút "quà Hà Nội" là của mong đợi, và tỏ được lòng quý hóa của
người cho…"
"… Nếu
chúng ta về các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ở ngay Hải Phòng, Nam Định nữa, chúng ta
mới biết quà Hà Nội có vị ngon là chừng nào! Cũng là thứ bún chả chẳng hạn,
cũng rau ấy, bún ấy, thế mà sao bún chả của Hà Nội ngon và đậm thế, ngon từ cái
mùi thơm, cái nước chấm ngon đi."
Ta nghe như
thấy tiếng nhai và tiếng xuýt xoa của người ăn bún chả. Ngon thật! Và cái ngon,
cái đặc sắc của Hà Nội ấy đáng được người ta nói đến và chép lại như người ta
đã nói, đã chép lịch sử bà Bé Tý, bà Tư Hồng, hai nhân vật Hà Nội nhất của thời
nay." (Tựa của Khái
Hưng).
Bài Tựa này đề ngày 20-7-43. Ngày ấy
Khái Hưng đã được tha về, ông vội thu thập những bài viết cuối cùng của Thạch
Lam trên Ngày Nay: Hà Nội băm sáu phố phường, in thành sách.
Thạch Lam mất đã hơn một năm [41],
Nhất Linh còn lánh bên Tàu và Hoàng Đạo chắc chưa được thả. Hà Nội băm
sáu phố phường, trong giây phút ấy, là chứng nhân của tình bạn, tình yêu,
tình đoàn kết, giữa đất nước và con người. Lời Khái Hưng gắn bó sâu sắc với
lịch sử hơn một ngàn năm, với Long Biên, tên thứ nhất của Hà Nội, khi Cao Biền
đắp, tất cả chỉ để nói rằng: tình yêu, tình đoàn kết dân tộc ngàn năm, luôn
luôn nằm trong chữ nghĩa.
Bóng người
Yên Thế
Chúng tôi dành những dòng cuối cho
bài Bóng người Yên Thế [42],
một phóng sự lịch sử, mà ngoài ngòi bút tế nhị của Việt Sinh (Thạch
Lam), không chắc mấy ai viết được.Hoàng Hoa Thám, bà Đặng Thị Nhu, vợ Ba, Bà Lý Chuột, Ngày Nay số 8Năm 1935, ít ai dám công khai nhắc đến
Hoàng Hoa Thám như một vị anh hùng, vì người Pháp đang còn hân hoan kiêu hãnh
gửi bưu thiếp đầu lâu pirates (bọn cướp) về nước. Việt Sinh có
lẽ là người đầu tiên.
Thực hiện phóng sự Bóng người
Yên Thế, Việt Sinh đã đến tận sào huyệt cuối cùng của Đề
Thám để tìm lại những nhân chứng cuối cùng đã sống với người
anh hùng Yên Thế. Ngòi bút ông không còn là của một nhà báo đi làm phóng sự, mà
của một nhà văn yêu nước tìm đến vùng đồi núi thiêng liêng, phanh phui tâm khảm
rừng sâu Yên Thế:
"Vùng Yên Thế: một vùng hiểm
trở, toàn đồi, toàn những rừng rậm tối tăm, những bụi cây gai góc, những ngàn
lau sắc và những nội cỏ mênh mông mà chỉ khi gió đến, ngả nghiêng rập rờn như
sóng chiều lên mặt bể ngoài khơi".
Hai phụ nữ
can trường của Tướng quân
Thạch Lam đến đất Yên Thế, nơi người anh
hùng đã tung hoành, đã thất thế, tất cả đã xong, chẳng còn lại gì, trừ Hoàng
Văn Vi, người con trai độc nhất của Đề Thám, sống sót, trong thờ ơ, lãnh đạm
của dân quanh vùng. Văn Vi được mô tả như một người rụt rè nhút nhát lúc đầu,
rồi dần dần khi bước vào rừng núi, trở lại với bản lĩnh kế vị người cha. Nhưng
điều đáng chú ý ở đây, không phải là Hoàng Văn Vi, mà là hai người phụ nữ, mà
chúng ta chưa từng biết đến tên, nói chi những hành động phi thường của họ, nếu
không được Văn Vi kể, Việt Sinh ghi lại:
"Tôi ra
đời năm 1908, trong lúc cha tôi còn đang cầm cự với nhà nước. Bấy giờ, thế quân
đã yếu, thường cứ phải trốn tránh luôn, nay đóng chỗ này, mai đóng chỗ khác. Đẻ
tôi cũng theo thầy tôi ở trong trại, sinh hạ được hai người con: chị tôi là
Hoàng Thị Thế và tôi.
Người vú nuôi
tôi có kể lại cho tôi biết cái đêm tôi ra đời chính là một đêm hãi hùng, lo sợ.
Đêm ấy, ngày mồng hai tháng mười, sau một trận to, thầy tôi lui quân đóng ở
Phồn Xương. Trong trại quân nhung, đẻ tôi không muốn cha tôi và quân lính, vì
một người đàn bà mà bận lòng, nên nửa đêm, lẻn ra ngoài trại, đến gốc cây rẻ,
chính mình lại đỡ đẻ cho mình. Rồi từ đây làm một mưu sĩ và một người tướng
xông pha tên trận, đẻ tôi cũng không có lúc nào bận đến con thơ nữa. Vì vậy,
ngay sau khi đẻ, giao tôi cho một người quen là bà Lý Chuột ở cùng làng."
Người đàn bà thứ nhất là "đẻ
tôi", tên Đặng Thị Nhu, đang đêm lẻn ta ngoài trại đẻ một mình,
rồi trao con cho vú trở lại bộ chỉ huy bàn tính kế hoạch chống
Pháp. Người ấy là bà Ba Cẩn, Tướng của Đề Thám. Bà và con gái bị bắt năm 1909 [43].
Theo Claude Gendre, Đề Thám bị ám sát hồi 6 giờ sáng ngày 10 tháng 2 năm 1913 [44].
Cái chết của bà Đặng Thị Nhu các nơi ghi khác nhau: Theo Ngày Nay, bà tự vận
năm 1913, khi bị đi đày ở Guyane [45].
Theo Philippe Chaplain, bà qua đời vì bệnh lao ở trại cách ly Alger trên đường
sang Guyane ngày 25-11-1910 [46].
Nhưng có ai biết được hành động phi thường tự đẻ con, trao
cho vú của người mẹ nữ tướng trong đêm địch tấn công mãnh liệt vào đại
bản doanh?
Người đàn bà thứ hai "u tôi"
là mẹ nuôi, gắn bó với thân phận đứa bé mới sinh: Hoàng Văn Vi [47]:
"U nuôi
tôi thương tôi hơn con đẻ. Vì tôi mà chịu bao nhiêu nỗi long đong, khổ sở. Năm
tôi lên một, có người con rể làm lý trưởng lẻn ra tỉnh báo, nhà nước sai lính
về bắt tôi, u nuôi tôi cùng mấy người con. Nhưng hỏi thế nào, u nuôi tôi cũng
cứ nhất định một mực nhận tôi làm con đẻ. Người ta đã bắt người con trai u nuôi
tôi, năm ấy 17 tuổi, bỏ vào rọ lăn qua đám trông gai, u nuôi tôi chỉ ứa nước
mắt mà lắc đầu. Sau cùng lắm, không biết làm thế nào, họ đưa tôi và u nuôi tôi
đi khắp đó đây, tỉnh này sang tỉnh khác, đến những người quen biết thầy tôi
trước để hỏi xem tôi có giống thầy tôi không. Nhưng may lúc bấy giờ tôi giống u
nuôi tôi lạ [48]. Vì thế nên sau khi đi chán các nơi, họ
cũng lại đành để cho u nuôi tôi ẵm tôi trở về làng.
Suốt mấy năm
được yên ổn. Người con rể đi báo ngày trước, thầy tôi bắt trói ngược lên cây gạo
toan chém. Nhưng vì u nuôi tôi xin mãi, nên thầy tôi cũng tha".
Nếu Đề Thám đã gặp trăm ngàn kẻ
phản bội trong cuộc đời tranh đấu, thì chỉ một tấm gan của bà
Lý Chuột, cũng đủ phủ nghĩa can trường lên tất cả những hành vi đê hèn phản
phúc.
Rồi đến cụ già Giáp Văn Phúc, 76 tuổi,
Cai Cờ, đã từng vào sinh ra tử bên Đề Thám, bị bắt, bị đi đầy ở Guyane, trở
về, ngồi bên chiếc quan tài kê sẵn góc tường, kể với Việt
Sinh: "Ấy, tối hôm qua, tôi vừa nằm mộng thấy quan tôi đấy. Ở đây
năm nào chúng tôi cũng nhớ ngày cúng giỗ, ngày mồng tám tháng giêng. Lắm lúc
ngồi, tôi cứ phảng phất như thấy hình bóng người ở bên mình, lại nhớ cái hồi
tuổi trẻ…"
Và bà vợ Cai Cờ, chưa hề phai nhạt khí
phách xưa: "Bà Cai đôi mắt long lanh, cất tiếng nói sang sảng:
"Tôi còn nhớ những ngày theo "quan lớn tôi" ở trong trại, thật
lắm bữa gian nan khổ sở…"
Khu rừng cuối
Sau khi giới thiệu những bộ mặt trung
thành tuyệt đối với tướng quân Đề Thám, Việt Sinh tìm đến căn cứ cuối cùng, nơi
những trận đánh kinh hồn đã diễn ra:
"Chúng
tôi sang đồn Gò để tìm xem trên những dẫy đồi trùng điệp ấy còn có những dấu
tích gì còn lại của một thời Đề Thám xưa.
Đến đây, nội
cỏ mênh mông và bụi rậm bắt đầu nhường chỗ cho những khu rừng lau rậm rạp, cây
cối sầm uất, um tùm. Rừng rẻ và rừng lim, sát chen lẫn nhau, những cây trò cao
vút, thân cây thẳng và trắng kẻ nổi lên trên cái nền xanh đen của muôn vàn thứ
lá rườm rà…
Ở trong những
bụi cây như thế, một người ẩn núp thì trăm người cũng khó mà sục tìm được (…)
Cái sức mạnh của Đề Thám là ở chỗ đó. Những đoạn đánh giết nhau kịch liệt chính
đã xẩy ra ở giải đồi này…
Mà cũng chính
trong khu rừng rậm ở đồi này đã kết liễu một cách khốn nạn không ai ngờ cái đời
mãnh liệt của ông chủ Yên Thế.
Người ta cho
là số mệnh. Vì trong trận Nhật Lệ cuối cùng, còn có một thầy với hai trò, mà
ngoài quân lính vây trùng điệp, đốt cỏ cho chết cháy, thế mà trời mưa tắt lửa,
thế mà Thám ra thoát vòng vây như không…
Mấy tên quân
của Đường Tam Kỳ sang, Thám đã nghi rồi, sao còn chù chừ không giết?
Mà buổi sáng
ấy ở trong rừng Thám xưa nay nằm ngủ không che mặt bao giờ, hôm ấy lại kéo chăn
trùm kín, để đến nỗi mấy tên quân kia vác cuốc đến mà không biết. (…)
Một cái cảm
giác buồn rầu, lạnh lẽo mà buổi chiều lại làm lạnh lẽo thêm như thấm thía vào
trong người… Tôi lặng yên nhìn ông Vi! Ông ta đứng sững bên bờ thành, mắt đăm
đắm như nhớ lại những sự đau đớn xót thương…
Bóng mây
chiều bỗng che rợp dẫy đồi… Tôi tưởng như bóng người Yên Thế lẩn quất đâu đây,
mênh mông, rộng rãi như ôm ấp cả một vùng…"
Tại sao đúng lúc đó Thạch
Lam lại lên Yên Thế? Lại viết như thế? Viết những dòng khắc sâu vào tâm khảm
người Việt, ở bất cứ nơi nào, thời nào, như thế?
Thạch Lam là một người bí mật có hành
động đột xuất và khai phá. Những việc người thanh niên này đốt đèn trong Hà
Nội ban đêm, hay lên bản Mường xem múa Xoè, rồi đi
tìm Bóng người Yên Thế, dường như liên hệ mật thiết với
nhau, có gì như tiên tri, dẫn đường: Hà Nội ban đêm khai phá
nền phóng sự; múa Xoè ảnh hưởng đến tùy bút nói
chung, Nguyễn Tuân nói riêng, và Yên Thế, phải chăng đã mở màn cho
cách mạng Tự Lực văn đoàn?
Thạch Lam đã khai trương báo Ngày Nay
bằng chân dung hai người phụ nữ phi thường, bên chiếc bóng chập chờn của vị anh
hùng Yên Thế.
Chú thích:
[1] Theo quảng cáo đăng trên Ngày Nay
số 13 (21-5-35).[2] Ngày Nay mới đầu 10 ngày ra một
lần. Trên số 5 (10-3-35) quảng cáo: Ngày Nay tạm nghỉ một kỳ và bắt đầu từ
tháng sau, 1-4-35, ra hàng tuần. Số 6 (2-4-35), bỏ tên Nguyễn Tường Cẩm và
Nguyễn Tường Lân. Số 7 (9-4-35) đầu báo đề: Giám đốc Nguyễn Tường Tam. Chủ bút:
Nguyễn Tường Lân. Quản lý: Nguyễn Văn Thức. Nguyễn Văn Thức sẽ biển thủ ngân
quỹ Phong Hóa Ngày Nay (xem chương: Khái Hưng và Phong Hóa).[3] Nguyễn Tường Cẩm đã viết hai bài
trên trên Phong Hóa, là Thomas Bata, nhà đóng giầy trứ danh mới từ trần,
Phong Hóa số 16 (6-10-32) và truyện ngắn Bích Châu, trên Phong Hóa
số 67 (6-10-33).[4] Phóng sự La Khê dệt lụa,
in trên Ngày Nay số 1 (30-1-35); Năm mới, Ngày Nay số 2
(10-2-35); Nền Mỹ thuật Việt Nam, Ngày Nay số 3
(20-2-35); Dân quê, Ngày Nay số 4 (1-3-35).[5] Sắm tết và Gió
bấc lạnh lùng, Ngày Nay số 1 (30-1-35); Dưới bến trên thuyền,
Ngày Nay số 2 (10-2-35); Thủy tiên ngày Tết và Tục
ngày tết, Ngày Nay số 3 (20-2-35); Ngày giỗ trận… ở chùa Đồng
Quang, Ngày Nay số 3 (20-2-35); Trên đồi Lim hội
hè đinh đám, Ngày Nay số 4 (1-3-35); và Lạng Sơn ngày hội viết
chung với Thế Lữ, Ngày Nay số 5(10-3-35).[6] Trước vành móng ngựa in
trên Phong Hóa từ số 151 (31-8-35) và ngừng ở Ngày Nay số 140 (10-12-38).[7] Chương 1, Tôi kéo xe (bản
Xuân Thu in lại tại Hoa Kỳ, không đề năm, trang 9).[8] Trong cuốn Tôi kéo
xe in năm 1969, tại Sài Gòn, ở cuối có đề: Hanoi, Juin 1932, và
Tam Lang, trong bài bạt viết rằng: "Năm 1932, viết thiên phóng sự
Tôi kéo xe, cho đăng trên Hà Thành Ngọ Báo, và năm 1935, tự bỏ tiền ra in thành
sách". Vũ Ngọc Phan không nói đến việc Tôi kéo xe in
ở Ngọ Báo và chúng tôi đã tìm trên Hà Thành Ngọ Báo, bản điện tử của Thư viện
Quốc Gia, cũng chưa thấy Tôi kéo xe, vì bản này cũng thiếu
nhiều số.[9] Tam Lang, trong bài bạt Tôi
kéo xe.[10] Tôi kéo xe, bản Xuân Thu chụp in lại tại Hoa Kỳ,
trang 11.[11] Kỹ nghệ lấy Tây (in
trên Nhật Tân từ số 69, 3-12-34), Đông Phương in thành sách năm 1936 và Cơm
thầy cơm cô (đăng trên Hà Nội báo từ số 12 (25-3-36), Minh Phượng in
năm 1937.[12] Trích Tuyển tập Vũ Trọng
Phụng, tập I, nxb Văn Học, Hà Nội, 1996, trang 581.[13] Tuyển tập Vũ Trọng Phụng, tập
I, trang 582.[14] Bút hiệu Nhất Chi Mai được ký dưới
bài Quần trắng áo lam (Phong Hóa số 4, 7-7-32) và Một
buổi diễn kịch làm phúc (Phong Hóa số 5, 14-7-32), xem chương Tú
Mỡ và Thế Lữ.[15] Đúng ra, ông có dùng hai lần, trên
Phong Hóa số 122 (2-11-34) với bài phóng sự Từ viện dân biểu cho đến ô
tô hàng ký Nhất Chi Mai. Và Phong Hóa số 124 (16-11-34)
với bài phóng sự Đi thăm mấy ngôi mả sống ở Thái Bình ký Nhất
Chi Mai, nói về những ngôi sinh phần (mả sống) đồ sộ của các tuần phủ, dân biểu
ở tỉnh Thái Bình.[16] In trên Ngày Nay, từ số 2
(10-2-35) đến số 8 (16-4-35).[17] In trên Ngày Nay số 4 (1-3-35) và số
5 (10-3-35).[18] In trên Ngày Nay, từ số 6 (2-4-35)
đến số 13 (21-5-35).[19] In trên Ngày Nay từ số 6 (2-4-35)
đến số 13 (21-5-35).[20] Theo website Nhân vật lịch
sử Việt Nam, Trọng Lang sinh ngày 2-10-1916 tại Hà Đông, mất ngày 29-4-1986
tại Sài Gòn.[21] Lạc vào động bà chúa Hàng Bạc in
trên Ngày Nay số 1(30-1-35), số 2 (10-2-35), số 3 (20-2-35) và số 4 (1-3-35).[22] Phóng sự này in trên Ngày Nay từ
số 3 (20-2-35) đến số 13 (21-5-35).[23] Đăng trên Ngày Nay từ số 6
(2-4-35) đến số 9 (23-4-35).[24] In trên Ngày Nay từ số 11
(7-5-35), đến số 13 (21-5-35) rồi chuyển sang Phong Hóa từ số 151 (31-8-35) đến
số 157 (11-10-35), vì Ngày Nay ra không đều.[25] In trên Phong Hóa, từ số 152
(6-9-35) đến số 157 (11-10-35).[26] In trên Phong Hóa, từ số 164
(29-11-35) đến số 173 (7-2-36).[27] Đăng trên Ngày Nay, từ số 48
(27-2-37) đến số 75 (5-9-37). Đời Nay xuất bản 1938. Nhã Nam mới tái bản.[28] In trên Ngày Nay, từ số 95
(23-1-38) đến số 120 (24-7-38).[29] In trên Ngày Nay, từ số 177
(2-9-39) đến số 194 (30-12-39).[30] In trên Ngày Nay kỷ nguyên mới, từ
số 1(5-5-45) đến số 4 (26-5-45). Bản điện tử Ngày Nay kỷ nguyên mới, thiếu 3
số: 5, 6 và 7, nên không biết phóng sự Đói kết thúc ở số nào.[31] In trên Ngày Nay kỷ nguyên mới, từ
số 8 (23-6-45) đến số 16 (18-8-45).[32] Từ số 48 (27-2-37) đến số 75
(5-9-37). Đời Nay in năm 1938. Nhã Nam tái bản 2015.[33] Xăm hay săm là
chambre (phòng ngủ).[34] Trích Ngày Nay, từ số 68 (18-7-37)
đến số 75 (5-9-37).[35] Trên đồi Lim (Phong
Hóa số 33, 10-2-33), Nghe hát quan họ một đêm ở Lũng giang (Phong
Hóa số 34, 17-2-33), Xòe của các cô nàng, (Phong Hóa số 77,
15-12-33) và Phong dao Mường (Phong Hóa số 78, 22-12-33).[36] In trên Ngày Nay số 4 (1-3-35),
viết về tình trạng nhà cửa tối tăm, chật hẹp, lầm lội, nhớp nháp, trẻ con chơi
trong bùn, ở thôn quê, với hình ảnh đi kèm. Bài này có mục đích giới thiệu
những nhà mẫu cho dân quê của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (đã in trên Phong
Hóa) mở đầu chương trình Nhà Ánh Sáng, thực hiện hai năm sau.[37] In trên Ngày Nay số 5 (10-3-35)
cũng với hình ảnh đi kèm, Việt Sinh đi theo những thuyền chài, khám phá đời
sống của họ, tìm hiểu những thủ thuật trong nghề đánh cá.[38] In trên Ngày Nay số 8 (16-4-35) và
số 9 (23-4-35).[39] In trên Ngày Nay, từ số 59
(16-5-37) đến số 65 (27-6-37).[40] Từ Ngày Nay số 201(2-3-40) đến số
223 (31-8-40).[41] Thạch Lam mất ngày 27-6-1942.[42] In trên Ngày Nay số 8 (16-4-35) và
số 9 (23-4-35).[43] Hoàng Thị Thế được toàn quyền
Albert Sarraut nhận làm con nuôi, cho sang Pháp học, cựu toàn quyền Paul Doumer
đỡ đầu, năm 1925, đỗ tù tái I, trở về nước làm ở Phủ Thống sứ Bắc kỳ. Năm 1927
trở lại Pháp, năm 1930, bắt đầu đóng phim, năm 1931, kết hôn với Robert
Bourges, người Bỉ, có một con trai, Jean-Marie Bourges. Năm 1960, bà trở về
nước, mới đầu ở Hà Nội, sau lên Bắc Giang rồi trở về lại Hà Nội ở đến lúc mất
năm 1988. Xem Kỷ niệm thời thơ ấu Hoàng Thị Thế, hồi ký của
con gái Hoàng Hoa Thám, do Lê Kỳ Anh (Hoàng Cầm) dịch từ tiếng Pháp, Khổng Đức
Thiêm hiệu đính, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2017.[44] Theo Claude Gendre, Le Dê
Thám (1846-1913) Un résistant Viêtnamien à la colonisation
française (Đề Thám (1846-1913) một người Việt kháng chiến chống chế độ
thực dân Pháp), L’Harmattan, Paris, 2009, trang 195.[45] Theo lời ghi dưới ảnh bà, in trên
Ngày Nay số 7 (9-4-35), trang 7.[46] Le Dê Thám (1846-1913), sđd,
trang 181.[47] Hoàng Văn Vi là tên đặt để trốn
Pháp, nguyên tên là Hoàng Hoa Phồn, do cha mẹ đặt để kỷ niệm đồn Phồn Xương.
Hoàng Văn Vị mất năm 1945, ở tuổi 37, sau Thạch Lam 3 năm, trong hoàn cảnh nào,
không thấy đâu ghi rõ.[48] Bây giờ thì trông nét mặt ông
lại giống nét mặt Đề Thám (chú thích của Việt Sinh).Ngày Nay
tranh đấuHoạt động của báo Ngày Nay liên hệ tới
tình hình cai trị ở thuộc địa.Phong Hóa ra đời năm 1932 và bị đóng cửa
năm 1936, trong thời gian này nước ta ở dưới chế độ cai trị của hai toàn quyền
Pierre Pasquier (1928-1934) và René Robin (1934-1936).Toàn quyền Pasquier trách nhiệm việc
chém đầu Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ, triệt hạ Việt Nam Quốc Dân Đảng; đàn áp
và tiêu diệt phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.Robin ra lệnh bỏ bom Cổ Am từ khi còn là
Thống sứ Bắc kỳ.Phong Hóa trước khi bị đóng cửa, là tờ
báo có nhiều độc giả nhất lúc bấy giờ: phát hành mỗi kỳ 20.000 số, mà dân ta
thời đó chỉ có 20 triệu người. Ảnh hưởng của Phong Hóa rất lớn, vì thế Robin ra
lệnh đóng cửa Phong Hóa, trước khi Mặt trận Bình dân (Le Front
Populaire) lên cầm quyền tại Pháp, để trừ hậu họa.Phong Hóa bị đóng cửa từ số 190
(5-6-36), tức là một ngày trước khi Mặt trận Bình dân chính
thức lên cầm quyền, ngày 6-6-1936 [1]Nhưng chức vụ của Robin cũng chấm dứt ba
tháng sau đó, Đặng Hữu Thụ viết:"Vào tháng 6-1936, ông Nguyễn
Thế Truyền người Hành Thiện khi ấy ở Paris có trình thỉnh nguyện thư của dân
Đông dương lên chính phủ Pháp yêu cầu triệt hồi Toàn quyền René Robin về Pháp
vì viên Toàn quyền này tán ác, tàn sát dân Việt Nam" [2]Robin bị gọi về Pháp ngày 9-9-1936.Mặt trận Bình
dân ban
hành một số nghị định bênh vực giới cần lao, chính quyền thuộc địa bớt hà khắc.
Các phong trào ái quốc dần dần thành hình, tuy vẫn chưa có quyền lập đảng.Nhưng đến tháng 9-1939, thế chiến thứ
hai bùng nổ, các quyền tự do tối thiểu bị thu hồi, báo chí bị kiểm duyệt gắt
gao, nhiều nhà cách mạng trong Nam, ngoài Bắc bị truy lùng và bị bắt.Báo Ngày Nay số 16 ra ngày 12-7-36, tức
là ba tháng sau khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền. Ngày Nay
lợi dụng tình thế tương đối cởi mở dưới chính phủ Bình dân (từ tháng 5-36 đến
tháng 4-38) để tranh đấu. Tới cuối năm 1939, đại chiến bùng nổ, mọi sự khép
lại, Tự Lực văn đoàn phải đổi phương hành động.Với báo Ngày Nay, Tự Lực văn đoàn bước
vào giai đoạn tranh đấu bằng ngòi bút.Trên Ngày Nay số 16 (12-7-36), Nhất Linh
chia nội dung làm hai phần:1- Ngày Nay Tiểu Thuyết2- Ngày Nay Trông Tìm (do Hoàng Đạo phụ
trách)Nhưng tới Ngày Nay số 25 (3-9-36), ông
đổi lại làm ba phần:1- Ngày Nay Trông Tìm (Hoàng Đạo chuyên
hẳn về chính luận)2- Ngày Nay Trào Phúng3- Ngày Nay Tiểu ThuyếtNhững bài chính luận của Hoàng Đạo sẽ là
cơ sở chỉ đạo. Từ đây, Hoàng Đạo trở thành lý thuyết gia của
Tự Lực văn đoàn. Trên Ngày Nay, bài chính luận đăng ở trang đầu, vạch đường
lối, tiểu thuyết đi sau, làm nền.Thời kỳ Ngày Nay sống động hơn thời kỳ
Phong Hóa, vì sự tranh đấu đã được thảo luận, có phương pháp và có chiến lược
chặt chẽ: văn nghị luận của Hoàng Đạo, hý họa của Nguyễn Gia Trí, phóng sự của
Trọng Lang, tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, chia
nhau nhiệm vụ: khởi tố chính sách cai trị của thực dân, trình bày bộ mặt nát
rữa của xã hội quan quyền, bên trên là lớp quan lại tham ô, bên dưới là lớp dân
quê bị đàn áp bóc lột và ở thị thành là sự chơi bời, nghiện ngập, sa đọa.Trong chương Ngày Nay Phóng sự, chúng
tôi đã trình bày nội dung của Ngày Nay từ số 1 đến số 15, thời kỳ Thạch Lam
(Nguyễn Tường Lân) trách nhiệm: Ngày Nay chuyên về phóng sự, qua 16 số báo đã
kín đáo vạch trần mặt trái xã hội: lai căng, tội ác, trụy lạc, lầm than, trái
ngược với mặt phải của một Hà thành thanh lịch, xa hoa, quần áo Lemur Cát
Tường.Kể từ chương này, chúng tôi khảo sát
Ngày Nay, giai đoạn kế tiếp, từ số 16 trở đi.Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa vĩnh viễn,
toàn bộ biên tập dồn về Ngày Nay, lúc đó cũng đã đóng cửa được hơn ba tháng.Ngày Nay số 16, bìa của Nguyễn Gia TríKịch Chết của Khái Hưng
được đăng như một bài chính luận có tính cách chỉ đạo, sau khi Phong Hóa chết,
với những lời lẽ:"Dù ta
mới bắt đầu làm việc mà vụt ta chết đi ta cũng đã tới mục đích rồi.""Công
việc ta bỏ dở đã có bạn đồng chí ta, con cháu bạn đồng chí ta theo đuổi"."Sau khi
tôi chết, các anh tìm chọn lấy một người thay tôi, rồi cùng nhau làm việc như
không hề xẩy ra một việc gì. Đó là ý tưởng của chúng ta và là ý tưởng cuối cùng
của tôi".Như vậy, nhiệm vụ của Ngày Nay là tiếp
tục con đường Phong Hóa đã vạch ra.Ngoài những thành viên chính của Phong
Hóa, trên Ngày Nay, từ số 16, còn có rất nhiều văn nghệ sĩ ở ngoài tham gia để
ủng hộ một tờ báo mới sống lại, ủng hộ tinh thần quật khởi đứng lên sau khi ngã
ngựa. Các họa sĩ cộng tác thường xuyên luân phiên nhau vẽ bìa và tranh phụ bản
như Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Trần Quang Trân, Nguyễn Cát Tường, Trần Bình
Lộc, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tường Lân, Nguyễn Đỗ Cung… kể cả những họa sĩ ở ngoài
như Lê Phổ, Nguyễn Phan Chánh, Nam Sơn cũng tặng phụ bản… Và các nhà văn ở
ngoài tờ báo cũng đóng góp bài vở nhiều hơn trước. Ngày Nay khởi sắc, đa dạng,
phần trào phúng trở lại vị trí đã có trên Phong Hóa. Riêng Nguyễn Tường Long ký
bút hiệu Hoàng Đạo lần đầu tiên trên Ngày Nay số 16, trở nên ngòi bút tranh đấu
hàng đầu của Tự Lực văn đoàn.Chúng tôi sẽ khảo sát Ngày Nay trên
những khía cạnh sau đây:- Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí mở đầu
cuộc tranh đấu.- Ngày Nay xây dựng nhà Ánh sáng.- Bốn chủ đề lớn của Hoàng Đạo: Vấn
đề thuộc địa, Vấn đề đảng phái, Vấn đề cần lao và Công
dân giáo dục.- Ngày Nay tiểu thuyết.- Ngày Nay và các tác giả trẻ.Thuộc địa và
đất bảo hộĐây là một chủ đề lớn của Hoàng Đạo, mà
bài Thuộc địa và đất bảo hộ in trên Ngày Nay số 22 (23-8-36)
là bài viết đầu tiên, bàn về nguồn cội vấn đề thuộc địa và sự lạm quyền: Pháp
đã bất chấp các hòa ước ký với triều đình Huế, để áp dụng chính sách
thuộc địa trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, mà thực ra, chỉ có miền Nam
là đất thuộc địa còn miền Trung do vua cai trị và miền Bắc
là đất bảo hộ.Hoàng Đạo có lẽ là người đầu tiên công
khai nói lên điều này, và ông còn trở lại nhiều lần, để lật mặt chính sách thực
dân: đã đơn phương thay đổi hòa ước Giáp thân 1884, để biến miền Trung và miền
Bắc nước ta từ chế độ bảo hộ sang chế độ
thuộc địa.Nhưng muốn hiểu rõ vấn đề này, ta phải
nhìn lại các hòa ước ta đã ký với Pháp, từ 1874 đến 1884.Hòa ước Giáp
Tuất (1874)Sau khi Pháp chiếm xong Lục tỉnh Nam Kỳ,
và hạ thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), Nguyễn Tri Phương bị bắt, không chịu
băng bó, nhịn ăn mà chết. Ngày 27 tháng Giêng năm Giáp Tuất (15-3-1874), Vua Tự
Đức phải ký hòa ước Giáp Tuất (1874) là một thương ước gồm 29 khoản, trong có
những điểm chính sau đây:Pháp nhận quyền độc lập của vua
nước Nam, nhưng nước Nam phải theo chính sách ngoại giao của Pháp. Vua nước
Nam phải nhượng đứt 6 tỉnh Nam Kỳ cho Pháp. Phải mở các cửa
Thị Nại (Quy Nhơn), Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng cho người
ngoại quốc vào buôn bán.Hòa ước Quý
Mùi (1883)Năm 1882, Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ
nhì, Hoàng Diệu tuẫn tiết. Pháp chiếm Hòn Gay, Nam Định. Thủ tướng Jules Ferry
tăng ngân quỹ, viện thêm binh, cốt chiếm nốt Bắc Kỳ. Giữa lúc tình hình căng
thẳng vua Tự Đức băng hà ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19-7-1883).Lợi dụng triều đình đang bối rối, quan
tài vua còn quàn ở điện Cần Chánh, ngày 15-8-1883, Harmand và Courbet đem sáu
tàu chiến đến đậu ở cửa Thuận An, đưa tối hậu thư cho Đô thống Lê Sĩ, trấn thủ
Trấn Hải thành.Chiều 16-8, hạn tối hậu thư chấm dứt,
quân Pháp khai hoả. Ngày 20-8-1883, quân Pháp đổ bộ. Quân ta chống trả mãnh
liệt. Thống chế Lê Chuẩn tử trận. Đô thống Lê Sĩ, Chưởng vệ Nguyễn Trung chiến
đấu đến chết. Thành mất. Tham tri Lâm Hoàng, Trần Thúc Nhẫn nhẩy xuống sông tự
vận. Triều đình bắt buộc phải ký hòa ước Quý Mùi (25-8-1883), gồm 27 khoản. Với
những khoản chính sau đây:Nước Nam nhận
nước Pháp bảo hộ: việc
ngoại giao do Pháp chủ trương.Tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào xứ Nam Kỳ
(của Pháp). Triều đình Huế cai trị từ Bắc Bình Thuận đến Đèo Ngang, không có
người Pháp kiểm soát.Ở Huế sẽ chỉ có một quan Trú sứ
(Résident) hay Khâm sứ đại diện chính phủ bảo hộ, Khâm sứ không được
xen vào việc nội trị, nhưng có quyền xin yết kiến nhà vua.Ở Hà Nội và Hải Phòng, mỗi tỉnh có một
Trú sứ (sau này gọi là Công sứ). Sẽ lập thêm Trú sứ các tỉnh khác. Trú sứ tránh
không can thiệp vào việc nội trị, nhưng nếu các quan Việt tỏ ra
không tốt với quan Pháp [tức là chống Pháp] thì có thể bị đổi.Tóm lại theo hòa ước Quý Mùi (1883),
chúng ta chỉ chịu sự bảo hộ của người Pháp về mặt ngoại
giao, còn về nội trị, vẫn giữ được chủ quyền. Ở ngoài Bắc, dù có các Trú
sứ, họ cũng không có quyền can thiệp vào việc nội trị của
các quan Việt Nam.Hòa ước ký rồi, nhưng việc áp dụng không
dễ dàng. Một mặt vì nhiều quan trong triều không nhận hai chữ bảo hộ,
nhất là hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.Ở Bắc, Hoàng Tá Viêm, Tổng thống Quân
vụ, đóng ở thành Sơn Tây kết hợp với quân Lưu Vĩnh Phúc tiếp tục đánh Pháp. Các
tướng khác lập các vùng chiến thuật: Tán tương Nguyễn Thiện Thuật, Đề đốc Tạ
Hiển, Tôn Thất Hòa, Tổng đốc Trương Quang Đản, Đề đốc Ngô Tất Ninh, Lê Văn Hổ,
Nguyễn Văn Chư, Tán lý Lương Qui Chi. Về phía chính quyền Pháp, các quan Trú sứ
mới đặt ở các tỉnh, một số tỏ ra tàn ác làm mọi người oán giận. Thủ tướng Jules
Ferry nhất quyết chiếm nốt Bắc Kỳ, bèn sai quân Pháp đánh chiếm Sơn Tây, Bắc
Ninh, Thái Nguyên, Hưng Hóa, và ký hiệp ước Fournier với Tàu, để quân Tàu rút
khỏi Bắc Việt.Được tin hòa ước Fournier đã ký kết,
nhân dịp Patenôtre, Công sứ Pháp ở Tàu ghé qua Sài Gòn, Jules Ferry triệu ông
ra Huế, sửa lại bản hòa ước Quý Mùi cho nhẹ nhàng hơn, để lấy lòng triều đình.Hòa ước Giáp
Thân (1884)Do Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật, Tôn
Thất Phan ký với Patenôtre, trên nguyên tắc, nhẹ nhàng hơn hòa ước Quý
Mùi: Nguyễn Văn Tường đã sửa hai chữ bảo hộ (protéger)
thành bảo trợ (aider). Nhưng theo Nguyễn Quốc Trị [4],
thì Jules Ferry chỉ cho lệnh sửa hai chữ này trong bản tiếng Việt, còn bản
tiếng Pháp vẫn để như cũ, tức là bảo hộ. Và trong điều 19, vẫn ghi:
nếu có tranh chấp thì lấy bản Pháp văn làm gốc.Hòa ước Giáp Thân ký ngày 6-6-1884, gồm
19 khoản, trừ những khoản giống hòa ước Quý Mùi (1883) còn có mấy điểm đáng chú
ý sau đây:- Quân Pháp chiếm đóng Thuận An. Triều
đình phải triệt thoái hết các đồn lũy phòng thủ hai bên bờ sông từ Thuận An về
đến kinh đô.- Từ đất giáp tỉnh Biên Hòa của Nam Kỳ,
đến đất giáp tỉnh Ninh Bình của Bắc Kỳ, các quan nước Nam cai trị dân như cũ.- Trong các tỉnh của nước Nam, quan Bố
chánh vẫn coi việc thu thuế cho triều đình như trước, không có quan Pháp kiểm
tra. Ở các tỉnh Bắc kỳ, Trú sứ hiệp với Bố chánh, coi việc thu thuế, sau khi
chi, còn bao nhiêu nạp cho triều đình. [5]Như vậy, hòa ước Giáp Thân (1884) chỉ
thêm có một điểm: quân Pháp đóng ở Thuận An, quân ta phải rút hẳn từ Thuận An
đến Huế, là để cho Pháp khỏi lo lắng về quân sự.Còn biên giới miền Trung, tức là địa hạt
vua cai trị, được mở rộng hơn so với hòa ước Quý Mùi 1883, vì Jules
Ferry cho rằng bốn tỉnh: Bình Thuận (phía Nam) và Thanh, Nghệ, Tĩnh (phía Bắc)
không có nguồn lợi gì đáng kể, trả lại cho triều đình cũng chẳng mất mát gì.Trên nguyên tắc, hòa ước Giáp Thân 1884,
sẽ áp dụng đến năm 1945.Tóm lại, hòa ước Giáp Thân quy định:- Chỉ có Nam Kỳ lục tỉnh là đất thuộc
địa tức là của Pháp.- Miền Trung từ bắc Biên Hòa, đến bắc
Thanh Hóa, thuộc triều đình Huế.- Miền Bắc thuộc chế độ bảo hộ.Ta chỉ nhượng cho Pháp quyền ngoại giao.Paul Doumer
và sự lạm quyềnNhưng trên thực tế, từ năm 1897, Toàn
quyền Paul Doumer (1897-1902) đã tự ý thay đổi các điều khoản trong hòa ước
Giáp Thân 1884, để biến nước Việt Nam thành một thuộc địa toàn phần.
Ông kiêu hãnh kể lại công lao của mình trong cuốn L’Indo-Chine
française (souvenirs) - Đông Dương Pháp (kỷ niệm), với
những lời lẽ:"Tôi đã
nói tại sao ngay từ năm 1897, tôi đã phải bỏ chức Kinh Lược Sứ tức Vice Roi ở
Bắc Kỳ, bởi vì nó không làm lợi gì cho chính quyền ta mà còn duy trì nạn tham
nhũng trong hàng ngũ quan lại Annam, dễ ăn tiền hay nhận quà cáp. Các quan ở
tỉnh được đặt dưới quyền trực tiếp của quan Công sứ (Résident)" [6]Câu này nói rõ sự lạm quyền: Paul Doumer
không có quyền gì trong việc bổ nhiệm quan lại của triều đình Huế, thuộc địa
hạt nội trị của nước Nam. Quan Kinh Lược là đại diện nhà vua, đứng đầu ở Bắc,
trông coi việc nội trị. Các quan ở Bắc ở dưới quyền quan Kinh Lược, phụ thuộc
trực tiếp vào triều đình Huế. Nay Doumer bỏ chức Kinh Lược Sứ, thay thế bằng
chức Thống sứ (Résident Supérieur), các quan ở Bắc không còn thuộc về triều
đình Huế nữa mà ở dưới quyền trực tiếp của viên Thống sứ người Pháp! Chính viên
Thống sứ này cai trị. Nghị định bãi bỏ Nha Kinh Lược Bắc kỳ sẽ được Paul Doumer
trá hình dưới dụ của vua Thành Thái ký ngày 26-7-1897.Sau đó, Paul Doumer kể lại thành tích
ông đã thuộc địa hóa cả nước Nam ra sao, đoạn này rất dài, chúng
tôi chỉ tóm tắt những ý chính:Tháng 9 năm 1897, vua Thành Thái trưởng
thành, hội đồng nhiếp chính bị bãi bỏ, các thành viên của hội đồng nhiếp chính
trở thành những vị thượng thư đầu tiên trong viện Cơ mật. Viện Cơ Mật họp
dưới sự chủ tọa của quan Khâm sứ (Résident Supérieur). Những quyết
định của hội đồng Cơ Mật, phải được quan Khâm sứ phê chuẩn trước
rồi mới được đóng ấn vua để thi hành" [7].
Các Quan chức Pháp được phái đến để kèm các Thượng thư, kiểm soát công việc của
họ và cho họ thấy quyền lực của nước Pháp ở Huế. Ở tỉnh thì ta [Doumer] cho
quan Công sứ đủ quyền hành để cai trị. Mới đầu số lượng còn ít, nhưng sau ta
tăng lên mỗi tỉnh đều có một Công sứ.Như vậy là từ thời Thành Thái (1897),
vua không còn cầm quyền nữa mà là Khâm Sứ Pháp.Cùng với những thay đổi này, Paul Doumer
ban hành thêm những luật lệ khác:- Nhà vua phải nhường cho Toàn quyền đặc
quyền sử dụng của cải và đất đai chưa xung công, có nghĩa là để Toàn quyền được
khai thác những vùng đất hoang hay vô chủ.- Một luật khác cho phép người Pháp có
quyền sở hữu đất trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam.Những điều trên đây cho thấy Paul Doumer
đã tự ý thay đổi chính sách, bất chấp hiệp ước đã ký với triều đình.Xin nhắc lại: theo hòa ước Giáp Thân,
miền Trung, thuộc địa phận của vua, Pháp không có quyền gì cả, còn miền Bắc là
đất bảo hộ, công sứ Pháp chỉ có quyền cộng tác với bố chánh
Việt, để thu thuế, và sau khi chi dùng, gửi phần còn lại về triều.Năm 1898, Doumer còn đòi viện Cơ Mật
phải làm việc này: bắt vua phải ký một chỉ dụ trao toàn quyền quản lý
thuế khóa và tài chính cho chính quyền bảo hộ.Và Paul Doumer tuyên bố: Chỉ với nguồn
lợi thuế (bằng thuế nhà nước Annam thu ngày trước) mà ngân quỹ đầu tiên của
chính phủ Bảo hộ, ngân quỹ năm 1899, sau khi trừ tiền chi cho chính quyền Pháp
ở đây và tiền chi cho dân bản xứ, vẫn còn một số thặng dư quan trọng.
Vậy sự đổi mới đã có kết quả không ngờ, và kết quả chính trị cũng vậy: Chính
quyền Pháp đã chiếm lại chỗ đứng của mình trong vương quốc này, chỗ mà Pháp
phải có.Tóm lại, Paul Doumer đã biến cả nước
Việt Nam thành thuộc địa Pháp và chính sách của ông đã đem lại
nguồn lợi khổng lồ cho nước Pháp, chưa kể việc độc quyền thị trường nha phiến.
Viện Cơ mật, là cơ quan lập pháp và hành pháp tối cao ở bên vua, trở thành bù
nhìn dưới sự lãnh đạo của Khâm sai. Viên Khâm sai này, ngày trước, muốn yết
kiến vua phải xin phép, bây giờ trụ trì trên đầu Viện Cơ Mật, thay vua. Ở Bắc,
các công sứ, trên nguyên tắc, không được xen vào việc nội trị, bây giờ trở
thành quan giám sát các ông phủ, huyện, bố chính, án sát.Hệ thống cai trị này, càng làm tăng sự
hèn hạ của các quan không có nhân cách, chỉ muốn làm vừa lòng viên công sứ để
không bị đổi, bị đuổi, được lên chức nhanh, nên đã lấy tiền hối lộ để làm giàu
và đút lót quan trên, tạo ra một hệ thống quan lại thối nát tệ hại chưa từng
có, được Khái Hưng mô tả trong tiểu thuyết Gia đình.Hoàng Cao Khải là Kinh lược sứ cuối cùng
đã sát cánh với quân Pháp "dẹp loạn" Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện
Thuật, Hoàng Hoa Thám, và nhất là phụ giúp Paul Doumer trong việc thuộc địa hóa
miền Bắc và miền Trung. Làm gương cho những thứ quan lại bán nước cầu vinh như
Tổng đốc Hải Dương Lê Hoan, cầm quân tiễu trừ Đề Thám; Tổng đốc Thái Bình Vi
Văn Định, truy nã Việt Nam Quốc Dân Đảng và các nhà cách mạng khác, v.v...Khi đã nhìn thấy tình hình như vậy,
chúng ta mới hiểu tại sao Hoàng Đạo lấy đề tài Thuộc địa và bảo
hộ làm chủ đề đầu tiên cho cuộc tranh đấu của ông.Sách của Paul Doumer có lẽ những nhà
viết sử người Việt không đọc, nên chỉ biết sự biến đổi bảo hộ thành thuộc
địa của chính phủ Pháp, nhưng không biết đích xác tác giả là ai. Vì
thế, Paul Doumer vẫn được coi là người "có công" xây dựng hệ thống
cầu đường ở Việt Nam. Nhờ cuốn L’Indo-Chine française (souvenirs) ta
mới thấy rõ mặt trái cái "công lao" này.Thuộc địa và
đất bảo hộTrên Ngày Nay số 22 (23-8-36) Hoàng Đạo
viết bài Thuộc địa và đất bảo hộ để phân biệt hai thể
chế bảo hộ và thuộc địa khác nhau như thế
nào.Với giọng rất nhẹ nhàng Hoàng Đạo cho
biết: Thực ra chỉ có Lục Tỉnh mới là đất thuộc địa, ngoài ra
tất cả đều là đất bảo hộ, rồi cũng vẫn với giọng ôn tồn ông đi
vào cốt lõi của vấn đề:"Thuộc
địa là đất thuộc quyền sở hữu của thượng quốc. Thí dụ như Lục Tỉnh hay nhượng
địa Hà Nội, Hải Phòng và Tourane (Đà Nẵng). Dân thuộc địa ở ngay dưới quyền
thống trị của chính phủ Pháp, tuy họ không được hưởng quyền lợi của công dân
Pháp (…)Đất bảo hộ,
khác với thuộc địa, không thuộc quyền sở hữu, không chịu sự thống trị của mẫu
quốc. Nước chịu bảo hộ vẫn là một nước tự chủ, nhưng chỉ nhường một ít
quyền [ngoại
giao] của mình cho nước đi bảo hộ vì nước này bênh vực, giúp đỡ, nếu bị
nước khác lấn áp."Rồi ông nhắc khéo tới hòa ước Giáp Tuất
(15-3-1874) và hòa ước Giáp Thân (6-6-1884) vẫn bằng những lời nhẹ mà chắc:"Có khi
nước bị bảo hộ giữ toàn quyền về việc cai trị trong nước mình. Thí dụ như nước
Madagascar hay nước Annam ta… theo hòa ước ngày 15-3-1874.Nhưng phần
nhiều thì quyền cai trị nhiều ít vào tay chính phủ bảo hộ. Như ở nước ta dưới
chế độ hòa ước ngày 6 tháng 6 năm 1884, chính phủ Nam triều vẫn coi việc hành
chính trong nước, nhưng sở thương chính, sở lục lộ và tất cả những công cuộc gì
cần đến người Pháp đều do chính phụ bảo hộ trông coi cả".Nhận xét trên đây của Hoàng Đạo rất tinh
vi: ý nói, sau hòa ước Giáp Tuất (1874) ta vẫn còn toàn quyền tự chủ, sau hòa
ước Giáp Thân (1884) ta cũng vẫn còn quyền tự chủ, chỉ nhường cho Pháp việc
thương chính (thuế buôn bán ở các cửa biển) và việc xây cầu cống.Tuy vậy "phần nhiều những
đất bảo hộ dần dần bị thượng quốc chiếm đoạt hết quyền, trở thành một thuộc
địa, tuy vẫn có cái tên là đất bảo hộ." Câu này để chỉ tình trạng
Việt Nam: Pháp đã đổi đất bảo hộ thành đất thuộc địa.Hoàng Đạo có lẽ là người đầu tiên, dám
vạch ra sự lạm quyền của chính phủ Bảo hộ sau 39 năm Doumer thi hành chính sách
này. Bài Thuộc địa và đất bảo hộ là bài đầu tiên. Một năm sau,
tháng 8 năm 1937, Hoàng Đạo sẽ trở lại vấn đề này, sâu sắc và toàn diện hơn,
trong loạt bài Vấn đề thuộc địa trên Ngày Nay kể từ số 74
(29-8-37), sẽ nói đến sau.Trong năm 1936, ông chú ý đến ba chủ đề:
Kích động tuổi trẻ dấn thân với 10 điều tâm niệm; cực lực đấu
tranh đòi tự do báo chí và tố cáo đời sống Bùn lầy
nước đọng của dân quê.Mười điều tâm
niệm in trên
Ngày Nay từ số 25 (3-9-36) đến số 41 (3-1-37), là cuốn cẩm nang khuyên tuổi trẻ
làm mười điều:1- Theo mới. Hoàn toàn theo mới không
chút do dự. 2- Tin ở sự tiến bộ. Một ngày có thể một hơn. 3- Sống theo một lý
tưởng. 4- Làm việc xã hội. 5- Luyện tính khí. 6- Phụ nữ ra ngoài xã hội. 7-
Luyện lấy bộ óc khoa học. 8- Cần sự nghiệp. Không cần công danh. 9- Luyện thân
thể cường tráng. 10- Cần có trí xếp đặt.Mười điều tâm
niệm chỉ có
tính cách hướng đạo thanh niên, khuyên họ nên luyện tập tư tưởng và thân thể,
trau dồi sức mạnh tinh thần và thể xác để xây dựng tổ quốc. Qua sự truyền đạt
của báo Ngày Nay, đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới thanh niên lúc bấy giờ.Đòi quyền tự
do báo chíTừ khi Mặt trận Bình dân lên
cầm quyền (tháng 6-1936), báo chí Việt Nam đầy hy vọng, họ vận động để đòi
quyền tự do báo chí, phong trào bắt đầu từ trong Nam.Trên Ngày Nay số 23 (30-8-36) Hoàng Đạo
viết bài Báo chí tự do với tranh Gia Trí đi kèm,
để ủng hộ phong trào:"Trong
Nam, hôm 11 tháng 8 tây vừa qua, ông Nguyễn Văn Sâm, hội trưởng hội liên hữu
báo giới Việt Nam, có mời anh em viết báo nhóm tại báo Đuốc Nhà Nam để thảo bản
thỉnh cầu (…) với những khoản dưới đây:1- Tự do báo
chí.2- Tự do tư
tưởng về mọi phương diện: xã hội, chính trị, kinh tế, mỹ thuật.3- Tự do hội
hiệp.4- Tự do du
lịch.5- Quyền lập
liên đoàn.6- Yêu cầu
cho 5 khoản thỉnh cầu trên khỏi bị hạn chế.Trong những
khoản tự do yêu cầu trên, có sự tự do báo chí là là đáng chú ý đến hơn cả. Nói
cho đúng, tự do báo chí mới thực sự là tự do. Là vì nó hàm súc hầu hết những sự
tự do khác. Thí dụ như tự do tư tưởng, ta có thể coi như bao hàm trong sự tự do
báo chí: nếu tư tưởng không được tự do, thì không thể có báo chí tự do được.”Tranh của NGT, trên Ngày Nay số 23 vẽ mụ
già kiểm duyệtHoàng Đạo lúc này đầy hy vọng, nhất
quyết tranh đấu, đặt quyền tự do báo chí lên hàng đầu.Tháng 9-1936, chính phủ Bình dân dự định
gửi một ủy ban điều tra đến Đông Dương để biết rõ nguyện vọng
của người dân thuộc địa. Các nhóm dân sự tấp nập hội họp để bàn những điều
thỉnh nguyện lên chính phủ Pháp.Nhất, Nhị Linh viết bài: Một ý
cùng ủy ban báo giới, bàn nên cử một phái đoàn báo giới sang Pháp để vận
động đòi tự do ngôn luận. Tiền lộ phí sẽ do các báo góp lại. Riêng Ngày Nay sẵn
sàng đóng từ 50 đến 100 đồng (Ngày Nay số 30, 18-10-36). Việc này không đi đến
đâu, sau không thấy nhắc đến nữa.Tranh Ritg: Núi vọng… ủy ban, Ngày Nay
số 108Và trên Ngày Nay số 110 (15-5-38),
Nguyễn Gia Trí vẽ bức tranh Mẫu quốc (nước mẹ) mỉa
mai châm biếm sâu sắc hơn, tỏ sự bất tín hoàn toàn vào ủy ban điều tra này:Lý Toét: Này
bác, Ủy ban điều tra sắp làm xong công việc rồi đấy. Chắc sẽ có kết quả tốt.Tranh Mẫu quốc (nước
mẹ), Ngày Nay số 110Trên Ngày Nay số 34 (15-11-36), Hoàng
Đạo viết bài: Tự do hội họp và tự do lập hội: Ta vẫn có quyền tự do
hội họp, chứ chưa có quyền tự do lập hội, để xác định: Hiện ta chỉ có
tự do hội họp để bàn về một vấn đề gì, chứ chưa có quyền tự do lập hội.Mười tuần lễ sau, có tin ông Toàn quyền
mới sẽ sang Việt Nam, mọi hy vọng lại bùng lên.Đón chào toàn
quyền mớiNgày Nay số 44 (24-1-37) đón chào Jules
Brevié (1937-1939), vị Toàn quyền của chính phủ Bình dân.Hy vọng tràn đầy: từ nay cáo chung chế
độ tàn ác, khắc nghiệt của Pasquier (1928-1934) và Robin (1934-1936), biết bao
nhiêu tờ báo đã bị chết oan dưới bàn tay đao phủ của hai vị toàn quyền này.Hoàng Đạo viết bài Nước bài cuối
cùng: Tự do Ngôn Luận. Ông toàn quyền Brevié đã tới Đông Dương thay
mặt Ngày Nay, chào đón Toàn quyền Brévié bằng câu:"Ông
Brévié có nói: "Giờ chúng ta cùng làm việc". Báo giới chúng tôi cũng
muốn làm việc lắm. Làm việc trong sự tự do. Chúng tôi cũng muốn nâng cao trình
độ vật chất và tinh thần của quần chúng. Nhưng muốn cho ý mong ấy thành sự
thực, vận mệnh tờ báo phải chắc chắn, không bấp bênh, không biết sống chết ngày
nào như dưới chế độ báo chí hiện thời. Nghĩa là phải có: Tự do ngôn luận.Báo Ngày Nay,
tờ báo dư luận viết bằng quốc văn độc nhất ở Hà Nội còn sống sót rất mong mỏi ở
ông sự tự do ấy.Các bạn đồng
nghiệp của chúng tôi đã lần lượt theo nhau chết dần. Mong tiếng kêu độc nhất của
chúng tôi không phải là tiếng kêu thương của con bạch nga".Ngày NayLập luận khéo léo, đầy hy vọng gửi tới
ông Brévié, người lãnh đạo toàn cõi Đông Dương, thuộc cánh tả, của chính phủ
Bình dân, có truyền thống bênh vực những kẻ yếu kém "sẽ không nề hà cúi
xuống những nỗi thống khổ cơ cực của hạng cùng dân, và sẽ can đảm thực hành một
chính sách khoan hồng và nhân đạo, chứ không theo chính sách ác nghiệt là chính
sách thông thường ở đất nước này".Tiếp đó Hoàng Đạo đi vào vấn đề tự do
báo chí:"Một tờ
báo, muốn cho dân lao động đọc được, thế tất phải rẻ tiền, nghĩa là phải có rất
nhiều độc giả. Muốn cho tờ báo có nhiều độc giả, cần phải có tự do ngôn luận.
Lúc đó tờ báo mới có thể đem tư tưởng tiến bộ truyền bá đi các hang cùng, ngõ
hẻm, các làng mạc hẻo lánh ở những nơi ánh sáng văn minh chưa lọt tới. Muốn cho
công cuộc chung có kết quả hay, tự do ngôn luận là một điều cần thiết nhất.
Nguyện vọng phức tạp của nhân dân, làm thế nào mà chính phủ biết được một cách
rõ rệt, nếu báo chí không dám bầy tỏ một cách công nhiên?Ngày Nay số 44 Hy vọng cuối cùngBài Nước bài cuối cùng đi
đôi với tranh bìa: Hy vọng cuối cùng không đề tên, nhưng chắc
chắn của Gia Trí, in trên nền đỏ, vẽ con
đại bàng báo chí trên đầu ông Brévié, bị trói chân, buộc dây vào cột Các
nghị định bó buộc. Toàn quyền mới, y phục đen, tay cầm kéo sắp
cắt dây. Dưới đề: Ông Brévié có cắt thì cắt dây, xin đừng cắt cánh.Hiệu quả chập lại của bài Hoàng Đạo và
tranh Gia Trí cực kỳ mạnh mẽ: văn tha thiết, tranh đe dọa, không ai
có thể chối cãi được.Hoàng Đạo và
Gia Trí đối đầu với Toàn quyền BréviéNgày Nay số 45 (31-1-37), vẫn tiếp tục
tranh đấu cho Tự do báo chí.Tranh Gia Trí trên bìa Ngày Nay số 45Tranh này đi đôi với bài Tự do
ngôn luận có thực như vậy chăng? của Hoàng Đạo, buộc tội không nhân
nhượng lời phát biểu và chính sách của vị toàn quyền mới.Giống như bất ngờ ta bị ai tát vào mặt,
sự kinh ngạc lên tới cực điểm, Hoàng Đạo hỏi: Có thật như vậy không? Có thật
ông Toàn quyền Brévié đã nói với Dương Bạch Mai và Nguyễn Văn Tạo câu này:"Trình
độ và tư cách báo giới ở xứ này còn kém lắm. Ở trên thế giới mà nghe đến báo
giới ở Đông dương thì ai cũng ít thiện cảm. Vì vậy tôi không muốn cho tự do
ngôn luận".Tiếp đó là sự công kích thẳng thừng lập
luận của ông Toàn quyền, Hoàng Đạo viết:"Câu nói
ấy, đăng trong báo Đuốc Nhà Nam, đã gieo sự ngạc nhiên vô cùng vào óc hai mươi
triệu dân Việt Nam đương mong đợi ông toàn quyền của chính phủ Bình dân như một
người đem sự công lý, nền tự do của nước Pháp đến đất nước vô duyên này.Vậy ra, theo
ông Brévié, báo chí quốc ngữ Đông dương đã có tiếng, có tăm trong thế giới. Từ
nước Tây Ban Nha qua nước Phổ Lỗ Xĩ, nước Lỗ Ma Ni bên Âu châu đến nước Chi Ly,
nước Paraguay, nước Bolivie bên nam Mỹ, đâu đâu cũng vang lừng danh xấu của báo
chí Đông dương, của báo Việt Nam.Danh xấu đó
vậy ra không phải là vô cớ. Danh xấu đó, chính do ở trình độ và tư cách kém hèn
của báo chí ở xứ kém hèn này. Tư cách hèn, trình độ kém, thì để cho người ta
trói, người ta buộc, người ta muốn để sống thì được sống, bắt chết thì phải
chết, là đáng đời lắm rồi, còn kêu ca gì nữa cho bận lòng người đại diện của
chính phủ Bình dân, một chính phủ nhân đạo, tự nhận lấy cái nhiệm vụ nâng cao
trình độ và tư cách của những dân tộc kém hèn".Và Hoàng Đạo chỉ ra sự "bất
cẩn" trong lời nói của vị cầm quyền Đông Dương:Một người cẩn
thận, dè dặt, chín chắn như vậy lẽ đâu chưa cầm qua một tờ báo chữ quốc ngữ,
chưa đọc qua một dòng văn người Việt Nam, đã vội vàng liệt ngay báo chí Annam vào hạng đê hèn không
đáng kể, không đáng sống trong ánh sáng của tự do? (…) Ông Brévié không thể nào
lại như thế.Vậy chúng tôi
chắc là một sự hiểu lầm. Một sự hiểu lầm đáng tiếc. Chúng tôi chắc nói đến báo
chí Đông dương kém hèn, ông Brévié chú ý đến báo chí chữ Pháp nhiều hơn là vì
dư luận thế giới ít thiện cảm là ít với báo chí tiếng Pháp, chứ đối với báo
quốc ngữ thì có lẽ họ không biết rằng có nữa. (…)([Hôm sau] Nhắc lại sự đê hèn của
báo chí Đông Dương ông toàn quyền có giảng giải rằng ý ông muốn trỏ những hành
động đê tiện của bọn làm báo hăm dọa để ăn tiền (combines de chantage), nghĩa là hành động của báo chí chữ Pháp hơn là của báo chí chữ ta)."Từ kinh ngạc ban đầu, Hoàng Đạo chuyển
sang đối đầu: ông toàn quyền nói như vậy thực à?Ông nói như vậy là nói chính báo Tây của
ông ở Đông dương đấy. Báo Tây mới được cả thế giới biết đến chứ báo quốc ngữ
của chúng tôi thì ai đọc?Ông nói như vậy khi chưa đọc báo Việt
Nam (chưa biết đọc chữ quốc ngữ) mà dám nói như vậy là nói quàng.Rồi khi bị phản đối, ông chữa lại: ý ông
muốn nói những hành động đê tiện của bọn làm báo chantage,
thì những hành động đê tiện này cũng chỉ là của báo Pháp các
ông, chứ báo tiếng Việt chúng tôi không ai làm như vậy cả.Văn nghị luận viết đến thế là tuyệt,
không sơ hở chỗ nào, lại dùng gậy ông đập lưng ông, sở trường của Hoàng Đạo.Nhưng Hoàng Đạo vẫn kết luận bằng một
câu nhũn nhặn đầy tin tưởng: "Chúng tôi mong ông toàn quyền Brévié
sẽ thành thực nới quyền ngôn luận cho chúng tôi, sửa đổi lại chế độ hiện thời
để chúng tôi được hưởng ánh sáng của sự tự do ngôn luận".Tranh Đứa bé Annam (năm cha, ba mẹ) của
GTRI, Ngày Nay số 45Bức tranh này như gáo nước lạnh dội vào
mặt quan Toàn quyền, làm lễ ra mắt: Gia Trí đã công khai tố cáo tình trạng dân
Việt Nam bị thực dân và tham quan xâu xé, đàn áp, bóc lột.Hai tuần sau, trên Ngày Nay số 47
(21-2-37), Hoàng Đạo viết bài: Tự do ngôn luận, chưa nên thất
vọng, bài cuối cùng, mở đầu bằng những hàng:"Tôi
không thể cho báo chí quốc ngữ được tự do"Đó là lời ông
toàn quyền Brévié tuyên bố với ông Nguyễn Văn Sâm, hội trưởng hội Báo giới Liên
hiệp ở trong Nam.Lần này thật
không có thể lầm lẫn được nữa.Ông toàn
quyền của chính phủ Bình dân, ông toàn quyền mà chúng tôi vẫn tin là dè dặt,
thận trọng, đã rõ ràng cho chúng ta biết cái cao kiến về vấn đề quan hệ ấy.Báo chí quốc
ngữ sẽ không được tự do".Biết rằng không còn đòi hỏi được gì nữa,
Hoàng Đạo đề nghị điều chót:‘Một tờ báo cũng có thể bị đóng cửa,
nhưng quyền đóng cửa ấy không phải ở chính phủ, mà phải ở tòa án. Chúng
tôi chỉ muốn có nơi để tự bênh vực lấy quyền lợi, để khỏi phải ân hận không
biết tại sao bị thu giấy phép, không biết vì cớ gì còn sống sót. Báo chúng tôi
bằng chữ quốc ngữ, mà hội đồng chính phủ hầu hết không biết tiếng annam, nên
đành phải dựa vào những bài dịch; mà dịch tức là làm lạc nghĩa đi. Hơn nữa, hội
đồng chính phủ chỉ biết tới những mẩu văn, không có ý kiến gì về toàn thể một
tờ báo, nên không thể nào định đoạt một cách công minh được".Là luật gia, Hoàng Đạo đòi: sự đóng cửa
một tờ báo phải do tòa án quyết định, tức là tòa án phải xác định được tờ báo
ấy đã phạm những điều luật nào. Và khi bị buộc tội, tờ báo ấy có quyền biện hộ
cho chính mình. Còn sự quyết định của chính phủ là do một nhóm người không biết
tiếng Việt, thì không thể định đoạt số phận của một tờ báo Việt ngữ.Lời Hoàng Đạo trong những bài đối đầu
với Toàn quyền vừa đanh thép, vừa có lý, nên dù ông Brévié không cho báo chí
quốc ngữ quyền tự do, nhưng vẫn phải nể tờ Ngày Nay và trong những ngày sắp
tới, Ngày Nay tranh đấu quyết liệt hơn, cũng chỉ bị kiểm duyệt, chứ không bị
đóng cửa.Tuy vậy, chính phủ Bình dân cũng có
những quyết định nhân đạo, Ngày Nay số 48 (28-2-37) trong bài xã luận Phiến
đá trắng, Hoàng Đạo nói về chỉ dụ luật lao động của
chính phủ Bình dân. Đây là mấy điểm chính:- Cấm cưỡng bách lao động.
- Cấm việc phạt lương.
- Lương thợ sẽ không được ở dưới một mức
tối thiểu.
- Cấm mượn trẻ con dưới 12 tuổi.
- Đàn bà có thai được nghỉ tám tuần lễ
để ở cử.- Bị tai nạn lao động, nếu không làm
việc được trong quá bốn ngày, sẽ có trợ cấp.Bộ luật này, xóa sự bóc lột tàn nhẫn,
đem lại sự nhân đạo cho người lao động, và là động tác đầu tiên của chính phủ
Bình dân.Tuy nhiên những xoa dịu của Luật lao
động: người đi làm được nghỉ ngày 1 tháng năm (Lễ Lao động) không thay đổi được
cỗi rễ chế độ thực dân và con người thực dân.Tranh bìa Ngày Nay số 58.Bức tranh châm biếm đớn đau, chỉ cho dân
ta biết: vì chính phủ Pháp ban hành một chính sách nhân đạo, chính phủ thực dân
bắt buộc phài thi hành, nhưng sau lưng họ vẫn giấu cái dùi cui, không biết lúc
nào sẽ nện trên đầu người Việt. Vậy chúng ta phải cảnh giác, đừng ngây thơ như
Lý Toét.Hoàng Đạo đã ngừng nhưng Nguyễn Gia Trí
vẫn tiếp tục đòi tự do báo chí trên nhiều số báo nữa.Ngày Nay số 59 (16-5-37), tranh
bìa Bút đàm của RITG, vẽ hai anh nhà báo, một tiếng Tây bị bịt
miệng, một tiếng ta, bị nhét kẹo đầy mồm, phùng mang trợn má, bút đàm với nhau:- Mồm anh đầy quánh những kẹo thế kia,
còn nói sao được.- Dễ thường anh thì nói được.Bút đàm, tranh bìa Ngày Nay số 59Làng báo lễ cầu mát, bìa Ngày Nay số 61Tranh bìa Ngày Nay số 64Hoàng Đạo ngừng vì biết không thể nào
lay chuyển được quyết định của toàn quyền về tự do báo chí, ông xoay sang tranh
đấu bằng cách khác.Trên Ngày Nay số 51 (14-3-37) Hoàng Đạo
bắt đầu viết loạt bài Bùn lầy nước đọng.Bùn lầy nước
đọngBùn lầy nước
đọng là những bài
tiểu luận, đăng như xã luận trên trang đầu, trong năm tháng, từ Ngày Nay số
51(14-3-37) đến số 73 (22-8-37), chiếu ánh sáng vào những lầm than của dân quê,
sống trong vòng luẩn quẩn: "dốt nát vì đói khổ, đói khổ vì dốt nát"
cứ thế không ngóc đầu lên được. Họ là nạn nhân của trăm thứ tệ đoan: bọn nhà
giàu cho vay lãi nặng, bọn cường hào cướp hết những quyền lợi chung trong làng,
nạn tham ô, nạn cửa quyền…Bùn lầy nước
đọng khảo
sát nhiều vấn đề, Hoàng Đạo không chỉ đả kích, ông luôn luôn đề nghị những cách
sửa đổi.Bắt đầu bằng vấn đề Quan trường,
ông tìm hiểu tới tận gốc việc sai lầm: vì trao cho các quan (tri huyện, tri
phủ) quá nhiều nhiệm vụ, quá nhiều quyền hành, mà họ không đủ khả năng, từ việc
thuế khoá đến việc xây cất, trị an… vì thế gây ra hỗn độn. Cần phải thực hiện
chế độ phân quyền từ trong làng xã: việc xây cất giao cho sở lục lộ, việc kiện
tụng giao cho quan tòa, việc trị an giao cho sở cẩm, v.v...Trong bài Tiếng trống ngũ liên (Ngày
Nay số 53) Hoàng Đạo bàn đến nỗi sợ trộm cướp của dân quê, cứ nghe thấy tiếng
trống ngũ liên (báo cướp) là người dân khiếp đảm, thất thần, vì họ không có
cách gì chống lại, không biết khi nào đến phiên mình bị tra khảo, đánh đập. Mà
cướp không chỉ người giàu (xem phóng sự Ngày Nay điều tra ăn cướp của
Trọng Lang và Thế Lữ, trong chương Phóng sự) cướp cả người nghèo,
cướp gà, cướp lợn, bất cứ thứ gì cũng có thể bị cướp. Việc canh gác giao cho
tuần phiên là những trai làng canh phòng, với khí giới giáo mác thô sơ, thấy
cướp đến thì chạy mất. Còn lính đóng ở phủ, huyện, xa, khi đến nơi thì cướp đã
cao chạy xa bay rồi.Hoàng Đạo đề nghị việc Phá đình (Ngày
Nay số 55). Một đề nghị can đảm và tân tiến: Đình là nơi tập trung những cổ lệ,
những miếng ăn, những chiếu trên chiếu dưới, là nơi thờ phụng Thần hoàng làng,
một tục lê bán khai, mê tín dị đoan, trào lộng, đến độ nếu Thần hoàng là một
tay ăn trộm, chết vào giờ thiêng, thì mỗi lần cúng tế phải diễn lại trò đạo
chích. Nếu Thần hoàng là kẻ hoang dâm, thì mỗi khi con gái đi qua đình phải tốc
váy!Trong bài Vũng nước tù (Ngày
Nay số 56) Hoàng Đạo viết:"Sau lũy
tre xanh óng ả, cuộc đời vẫn như trước (…) những ngõ lầy lội, bẩn thỉu, những
gian nhà chật hẹp mái thấp tỏa xuống đất như bị mãnh lực nào đè bẹp, không cất
đầu lên được.Bên cạnh
những căn nhà ấy là những vũng ao tù nước cáu đen. Trong ao người ta rửa chân
rửa tay tùy thích. Nước ao còn có khi lại dùng để ăn nữa (…)Họ không biết
vệ sinh là gì; vì thế, những lúc ông dịch tác hại, họ lấy cách lễ tạ quan ôn
làm thượng sách; vì thế, trẻ con sài rồi chết, họ cho là một sự quá
thường".Bức tranh Nguyễn Gia Trí dưới đây, đi
kèm với bài viết của Hoàng Đạo mô tả tất cả, không cần phải nói gì thêm.Tranh RITG, Ngày Nay số 56Trên Ngày Nay số 58 (9-5-37) và Ngày Nay
số 59 (16-5-37), Hoàng Đạo viết bài Nỗi lo lắng hằng năm
của dân quê.Ông kể lại một ký ức tuổi thơ:"Hồi đó,
tôi học ở một trường huyện, hàng ngày qua một cái chợ nhỏ, quán thấp lè tè và
sơ sác. Chiều hôm ấy, tôi về sớm, ghé vào chợ tìm tổ chim. Chợ đã vãn, dưới những
quán siêu vẹo, chỉ còn rác bẩn và bã mía (…)Bỗng tôi chú
ý đến một người đàn ông ở góc chợ. Bây giờ tôi chỉ còn nhớ rằng lúc ấy tôi thấy
người ấy có bộ mặt khó đăm đăm. Người ấy chống đòn gánh đứng cạnh đôi thúng,
mà, tôi lấy làm lạ quá, trong thúng là một thằng bé con. Thấy tôi lại gần,
người đàn ông ngập ngừng như muốn nói lại thôi. Tôi nhìn thằng bé, thằng bé
nhìn tôi, mỉm cười. Tò mò tôi hỏi:- Sao bác lại
cho em ngồi trong thúng thế?Tôi nghĩ bụng
rằng được ngồi trong thúng để bác gánh chắc cũng dễ chịu như người ngồi xe.
Nhưng tôi ngạc nhiên hết sức khi nghe bác ta trả lời:- Tôi đem bán
cháu đấy, cậu ạ.- Bán?- Bán để làm
gì hở bác?Bán để lấy
tiền đóng thuế.Rồi bác ta
mỉm cười chua chát:- Cả ngày chả
có ai mua, khốn khổ quá. Đấy, cậu có mua tôi bán rẻ cho".Đoạn văn viết cách đây 84 năm, mà nay
đọc ta vẫn thấy xúc động vô cùng bởi những ý nghĩ ngây thơ của cậu bé Hoàng Đạo
và nỗi hy vọng-tuyệt vọng của người bán con.Ngày Nay 59, tranh RITG minh họa Thuế
đinh điềnNguyễn Gia Trí vẽ bức tranh cực kỳ châm
biếm bi đát: người dân quê rách rưới gánh con và bát đĩa đi bán (để trả thuế),
gặp bà đầm phóng viên dẫn chó đi làm phóng sự:Nữ phóng
viên:- Đi đâu mà
vội vàng thế?- Thưa bà
đầm, con đi đóng thuế."Bà đầm" chưa chắc đã hiểu câu
"con đi đóng thuế" nghiã là "con đi bán con để
đóng thuế", chỉ có người Việt hiểu. Bức tranh này tạo cho
sự bán con một tính chất exotique (phong vị
xứ lạ) dưới mắt ký giả Pháp, cần phải chụp ngay để bất tử hóa. Văn
Hoàng Đạo và tranh Nguyễn Gia Trí đã làm tăng nồng độ bi đát lên một mức nữa,
nhờ hai yếu tố vô tình và hài hước trộn lẫn,
nhờ sự cách biệt sâu xa giữa người đầm cai trị và người
dân bị trị, không chỉ ở mức độ quyền lực mà còn ở cả mức độ không
thông cảm vì văn hóa và tư tưởng hoàn toàn khác nhau.Bìa Ngày Nay số 88 (5-12-37), RITG vẽ
bức tranh không lời: trong công viên, đặt hai bộ máy, máy thuế thân,
máy cư trú, dân Việt sắp hàng đợi đến phiên mình được nghiền nát trong hệ
thống thu thuế của mẫu quốc. Cửa Vườn hoa thành phố cắm
bảng: "Vào xem không mất tiền". Bên ngoài là hàng
rào cảnh sát giữ an ninh, canh chừng trường hợp những bộ xương người sau khi
qua máy ép, có thể nổi loạn:Tranh không lời của RITG, bìa Ngày Nay
số 88Tranh RITG, minh họa bài Miếng
thịt giữa làng của Hoàng Đạo, Ngày Nay số 67Người dân quê chưa có ý thức về cá nhân,
về tự do. Nhưng không phải vì người ta chưa biết tự do là gì, mà không cho
người ta tự do. Cũng như không thể lợi dụng câu: cầm dao có ngày đứt tay để từ
chối không cho một người - dẫu là dân quê u tối - cả đời không được cầm đến con
dao! Lập luận của Hoàng Đạo trong bài Tự do với dân quê (Ngày
Nay số 68, 18-7-37), đi đôi với tranh Lý Toét Xã Xệ của Nguyễn Gia Trí dưới
đây:Tranh minh họa cho bài Tự do với dân quê, Ngày Nay số 68Bức tranh biểu hiện lối tự trào cay đắng
của Gia Trí về dân tộc mình: sự dốt nát đã dẫn đến những suy luận vô cùng thiển
cận và độc hại:Lý Toét dơ cao chai rượu nói với Xã
Xệ: "Tự do! Tự do! Chúng mình đã được tự do uống rượu rồi còn gì
nữa!"Nhưng ta lại cũng có thể hiểu rằng: câu
nói của Lý Toét có nghĩa cực kỳ mai mỉa: Lý Toét muốn nói: sự tự do mà
"chúng nó" ban cho ta chỉ có nghĩa là chúng nó độc quyền bán rượu và
ta có quyền tự do nghiện rượu mà thôi. Tranh Nguyễn Gia Trí
thường có ít nhất hai nghĩa.Để chống lại những cái chết âm thầm
không tiếng động, những cảnh bán con để nộp thuế mà không ai mua:- Hoàng Đạo chỉ ra những bất công, tàn
ác, sai lầm, trong toàn bộ chính sách thực dân được áp dụng: từ việc định thuế
khoá, thuế dinh điền, thuế thân, đến việc cho hãng Fontaine độc quyền nấu rượu,
buôn thuốc phiện, đến tình trạng công nghệ, công điền, di dân, nạn cho vay nặng
lãi, vấn đề giáo dục…- Nguyễn Gia Trí thực hiện những bức hý
họa bày tỏ tình trạng tương phản giữa sự đói rách bùn lầy nước đọng của dân quê
với đống tiền Đông dương cao như núi của chính phủ bảo hộ, mà Toàn quyền Doumer
đã khoe khoang ở trên: từ khi ông độc quyền thu thuế ở nước Nam, thì ngân quỹ
Đông Dương tăng vọt.Ngày Nay số 53Bức tranh diễn tả sự giàu có của
Đông Dương, đề tài phỏng theo hai nguồn tin:1- Tin các báo Âu Châu: Đức muốn Pháp
nhường Đông Dương cho mình.2- Tin các báo Nam Bắc: Nhật cũng nhòm
ngó Đông Dương.Tranh Khu Đông Pháp tại Đấu Xảo
Paris 1937, Ngày Nay số 70Để trình bày sự tương phản giữa
cảnh bùn lầy nước đọng của dân ta với nền văn minh Đại Pháp và
để chào mừng cuộc đấu xảo quốc tế 1937 ở Paris, trên bìa Ngày Nay số 70
(1-8-37), có bức tranh Khu Đông Pháp trong trường đấu xảo quốc tế Paris
1937 (ảnh chụp của đặc phái viên Ngày Nay RITG). Nguyễn Gia Trí vẽ hai
túp lều tranh có Lý Toét Xã Xệ mặc quần áo đại lễ bên cạnh toàn bộ chó,
mèo, heo, con nít, hát xẩm… đại diện cho Việt Nam trong "căng"
đấu xảo, ở dưới chân tháp Eiffel.Ngày Nay số 71 (8-8-37) có tranh bìa của
RITG dưới ghi hàng chữ: Ông toàn quyền Sarraut có nói:
"Xứ Đông Pháp là cái bao lơn trên Thái Bình Dương (le balcon du
Pacifique)".Sự tương phản giữa cảnh cảnh bùn
lầy nước đọng và nước Đại Pháp ở đây được nhìn dưới
góc độ khác, bí hiểm hơn: Con tàu khổng lồ treo cờ Đức Quốc Xã, có vẻ như tàu
du lịch (croisière) vì thấy bóng hành khách thướt tha thanh lịch, mà lại có hai
tầng súng, ca nông chiã thẳng vào căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, có Lý Toét cởi trần
nằm trên bao lơn, kinh thành Huế bốc khói sau lưng.Bìa Ngày Nay số 71Tranh hài hước của Nguyễn Gia Trí luôn
luôn thâm thúy, châm biếm bi đát và đồng tâm với Hoàng Đạo trong Bùn
lầy nước đọng.Trước thực trạng dân chúng lầm than đói
khát, bên cạnh núi tiền thực dân ăn cướp ở thuộc địa, không ai dám phê bình,
trừ Nguyễn Gia Trí và Hoàng Đạo; cho nên khi bị bắt năm 1941, cả hai đều bị tra
điện dã man. Hậu quả việc này là Hoàng Đạo bị đau tim, dẫn đến cái chết của ông
năm 1948."Dân quê
nghèo khổ đến cực điểm.(…) Vợ chồng nhìn nhau, nhìn con, rồi lẳng lặng
nhịn đói nhịn khát, rồi nếu không nhịn được nữa, thì đành chết, có thế thôi.
Thật là giản dị, một sự giản dị cay nghiệt, đau đớn".(Sinh kế ở thôn quê; Ngày Nay số
54)"Tình
trạng đáng thương ấy không thể để lưu liên mãi được. Đến nay còn như vậy là
chậm lắm rồi. Nhà đương cuộc cần phải để ý hơn nữa đến dân quê"(Vũng nước tù, Ngày Nay số 56)Bùn lầy nước
đọng là
những bức phác họa bằng chì, bằng chữ của Gia Trí - Hoàng Đạo, về đời sống dân
quê dưới thời Pháp thuộc, vẽ nên bộ mặt lầm than cay đắng của một xã hội rã
nát, tàn tạ.Bùn lầy nước
đọng như
tiếng kêu cứu khẩn cấp, hy vọng được chính phủ Mặt trận Bình dân nghe, nên đã
xuất bản lần thứ nhất ngày 26-9-38, nhưng vừa bày bán đã bị chính phủ thuộc địa ra lệnh cấm tàng trữ và lưu hành [9]. Thì
ra chính phủ Pháp, dù là Mặt trận Bình dân, cũng không muốn nghe những lời chân
thực này.
Chú thích:
[1] Liên minh cánh tả thắng thế trong
cuộc bầu cử ngày 26-4-36 và 3-5- 36 (Pháp bầu cử hai vòng). Ngày 6-6-1936, Léon
Blum chủ tịch Đảng Xã hội, giới thiệu thành phần chính phủ liên minh, tức chính
phủ Mặt trận Bình Dân, tại Quốc hội.
[2] Đặng Hữu Thụ, Làng Hành
Thiện thời Tây học cho đến năm 1954, quyển thượng, tác giả tự xuất bản,
Melun, Pháp, 1999, trang 31.
[3] Mặt trận Bình dân đắc cử ngày
3-5-1936, chính thức cầm quyền từ ngày 6-6-36 đến ngày 12-4-1938.
[4] Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn
Văn Tường (1824-1886) và cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn, tác
giả tự xuất bản, 2013, tại Maryland, Hoa Kỳ.
[5] Theo Phan Khoang, Việt Nam
Pháp thuộc sử (1884-1945), Sài Gòn 1961, Sống Mới in lại tại Hoa Kỳ, trang
230-329.
[6] Paul Doumer, L’Indo-Chine
française (souvenirs), Nxb Vuibert et Nony, Paris, in lần thứ nhì,
1905, trang 321.
[7] L’Indo-Chine française
(souvenirs), trang 322.
[8] L’Indo-Chine française
(souvenirs), các trang 322-325-327-329.
[9] Theo bản in năm 1959, Cơ sở báo
chí và xuất bản Tự Do, Sài Gòn.
Nhà Ánh Sáng
Hội Ánh Sáng được thành lập theo nghị
định số 4851-A ra ngày 14-10-1937 của Thống Sứ Châtel [1],
dưới thời Toàn quyền Brévié.
Sự hình thành đã trải qua một thời kỳ
xây dựng khá dài từ 1933 đến 1937.
Dự định cải thiện đời sống bùn
lầy nước đọng của dân quê, đã có trong một số bài viết trên Phong Hóa,
sau Hoàng Đạo mở rộng, đào sâu, trong loạt bài Bùn lầy nước đọng trên
Ngày Nay [2],
tố cáo chính sách cai trị sai lầm ở thôn quê và đề nghị sửa đổi, rồi in thành
sách; nhưng sách vừa ra đã bị chính quyền thuộc địa tịch thu, như ta đã thấy
trong chương trước.
Thời kỳ đăng Bùn lầy nước đọng của
Hoàng Đạo, cũng là thời kỳ Ngày Nay tích cực cổ động cho Hội Ánh Sáng mà
Nhất Linh là một trong ba hội trưởng và Hoàng Đạo là thủ quỹ.
Chủ trương
thay đổi cuộc sống bùn lầy nước đọng của dân quê
Việc kêu gọi thay đổi cuộc sống bùn
lầy nước đọng của dân quê, bắt đầu trên Phong Hóa, với bài thơ Dân
quê của Nhất Linh, được đăng như bài xã luận trên số 39
(24-3-33), ký Tân Việt, trong đó đã có bốn chữ bùn lầy, nước đọng:
"Cảnh thì
cảnh bùn lầy và nước đọng.
Dân thì nghèo
vất vả làm quanh năm
Hết nắng
thiêu lại gió rét căm căm.
Vẫn nhem
nhuốc vẫn thân trần như rộng.
Vì bài thơ này, Nhất Linh bị gọi lên ty
kiểm duyệt và báo Phong Hóa suýt bị đóng cửa. Nhưng Tự Lực văn đoàn vẫn tiếp
tục tranh đấu, Nhất Linh viết bài: Ban kiến trúc trường Cao đẳng Mỹ
thuật và những kiểu nhà mẫu cho dân quê, gợi ý cho sinh viên ban kiến trúc,
nên chú ý đến dân nghèo, thiết kế những kiểu nhà rẻ tiền, để họ có thể theo mà
làm lấy được:
"Các bạn
ở ban kiến trúc chắc cũng đã nghĩ tới điều đó: tìm một kiểu nhà mẫu thật rẻ
tiền, xếp đặt tiện dụng với cách ăn ở ngày nay: hợp vệ sinh, nắng gió điều hòa,
có ánh sáng, có khí trời và có vẻ mỹ thuật nữa" và ông kết luận: "Bản báo
rồi sẽ dần dần đăng những kiểu nhà mẫu đó lên báo". (Phong Hóa số
72, 10-11-33).
Tiếp theo là loạt bài Một bản
chương trình của Nhị Linh (Khái Hưng), đăng trên Phong Hóa từ số 80
(5-1-34), đến số 87 (2-3-34) đề nghị một chương trình xây dựng lại nông thôn
cho sạch sẽ, có vệ sinh, dẹp các ao tù, đào giếng, làm đường… và nhất là bỏ lối
làm nhà vỏ diêm hay nhà bánh khảo, loại nhà
hộp, không có cửa, hoàn toàn thiếu vệ sinh, thiếu ánh sáng và Phong Hóa sẽ vẽ
những nhà kiểu nhà mới mát mẻ, rẻ tiền, để dân quê có thể làm lấy.
Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện cho
in Nhà kiểu mẫu số 1 trên Phong Hóa số 110 (10-10-34), và ông
viết bài Kiểu nhà mẫu, trên Phong Hóa số 117 (28-9-34) và bài Kiến
trúc thôn quê trên Phong Hóa số 118 (15-10-34) tả việc ông sửa lại hai
nhà cổ, ẩm thấp ở làng Vẽ của ông Đỗ Bá Thọ theo lối kiến trúc mới, cùng với
họa đồ đi kèm.
Trên Phong Hóa số 124 (16-11-34) Nhị
Linh (Khái Hưng) viết bài Một cuộc triển lãm kiến trúc, giới thiệu
những chương trình kiến trúc mới của sinh viên trường Mỹ thuật Đông Dương, và
cho biết kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện sẵn lòng giúp Phong Hóa phổ biến trên
báo những kiểu nhà mới, vừa rẻ tiền, vừa vệ sinh, cho dân nghèo.
Nhị Linh đã tường thuật cuộc triển lãm
này như sau: khi vào, ông tưởng mình sẽ chỉ nhìn thấy những kiểu villa vẽ cho
người giàu, không ngờ lại được thấy mẫu - của người đỗ đầu kỳ thi ra trường:
kiến trúc sư Đỗ Đức Diên - vẽ nhà cho dân chúng thợ thuyền ở khu phố
Sinh Từ, và ghi rõ mẫu này tặng không cho
những ai muốn làm nhà trong thành phố.
Rồi trên Phong Hóa số 134 (30-1-35) báo
Xuân, hai kiến trúc sư Luyện và (Hoàng Nhữ) Tiếp, vẽ lại kiểu nhà mới ở thôn
quê, đã được thực hiện cho một khách hàng là ông Ch. M. cùng với bài Kiến
trúc thôn quê, nói rõ ý định vẽ mẫu nhà này. Phong Hóa số 138 (1-3-35), in
họa đồ toàn bộ nhà vườn đã thực hiện cho ông Ch. M: nhà nhỏ, tường gạch,
trần bê tông mỏng, trên lợp tranh, kiểu mẫu nhà cho người trung lưu ở thôn
quê.
Đến Phong Hóa số 172 (31-1-36) hai ông
Luyện - Tiếp, lần đầu tiên vẽ Một kiểu nhà mới cho dân nghèo ở
thôn quê, kèm bài viết giải thích cách chọn phương hướng, làm sao cho nhà
thoáng và mát. Nhà gỗ, mái tranh, tường đất, thềm gạch, với
mẫu bàn ghế và đồ đạc bằng gỗ và tre để bày biện trong nhà. Một kiểu nhà
mẫu trên Phong
Hóa số 172 Họa đồ trên đây sẽ làm mẫu cho những nhà
Ánh Sáng, dựng năm 1938 ở bãi Phúc Xá, bên bờ sông Hồng, cạnh cầu Long Biên,
phía bắc Hà Nội, nay thuộc quận Tây Hồ.
Cổ động
chương trình dựng nhà Ánh Sáng
Trên Ngày Nay số 4 (1-3-35) Việt Sinh
(Thạch Lam) viết bài Nhà cửa Annam, một phóng sự với
hình ảnh đi kèm, chụp những nhà hang tối, người ở chung với lợn. Trong bài này,
Thạch Lam so sánh nhà cửa ở Âu châu với nhà cửa bên ta, và đưa ra những nhận
xét:
"Câu
truyện nhà cửa ở nước ta, thật là câu truyện buồn nếu không muốn nói là câu
truyện… bùn. Ở các nước thái tây, câu truyện nhà cửa là câu truyện những căn phòng sáng sủa, cao
ráo, có lò sưởi, những đêm đông lạnh lẽo, lách tách
ngọn lửa hồng ấm áp reo. Ở bên Nhật, câu truyện nhà cửa
là câu truyện căn nhà bằng gỗ thông, mỏng mảnh nhưng
sạch sẽ, bóng bẩy không có một tý bụi, chung quanh có một cái vườn con xinh
xắn.
Còn ở thôn
quê ta, thì trời ơi! câu
truyện nhà là một câu truyện tối tăm, ẩm thấp, câu truyện lụp xụp,
lè tè (…) Ai đi qua một thôn quê cũng phải ghê sợ vì những cái bẩn thỉu dơ dáy
bao bọc lấy căn nhà. Những vũng nước đọng vàng, đầy rác rơm, làm
cho đất bao giờ cũng lầy bùn ướt át…
Tiện đâu vứt
đấy, những đống ấy đứng sững ngay cạnh nhà, mùa nực thì bốc lên những hơi nặng
nề, mùa đông thì tiết ra những dòng nước hôi hám.
Người và súc
vật ăn chung ở lộn với nhau, cùng sống chung trong một chỗ tối tăm chật hẹp ấy…
Đến nỗi bây giờ thấy những đứa trẻ quê bụng ỏng, mắt toét, vấy nghịch trong bùn
nước, người ta cho là một cảnh thường, không đáng lấy làm lạ. Hình như đã nghèo
thì bao giờ cũng phải chịu một cái số phận như thế." (Ngày Nay số 4, 1-3-35).
Bài này là bài đầu tiên có tính cách báo
động khẩn thiết, tác dụng mạnh, đưa đến những phản ứng của các kiến trúc sư sau
đó.
Nguyễn Cao
Luyện và Hoàng Nhữ Tiếp
Ngày Nay số 16 (12-7-36) khởi đăng loạt
bài Nhà cửa… của hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và Hoàng
Nhữ Tiếp, với lời dẫn nhập như sau:
"… Những căn nhà lụp xụp ở thôn
quê hay nhà gạch xây như tổ chim ở tỉnh thành đều tỏ ta người mình không biết
một chút gì về khoa kiến trúc, và cũng không hề có ý muốn làm một chỗ ở cho dễ
chịu. Hình như làm một cái nhà là đủ rồi.
Ngày Nay nhờ
hai nhà kiến trúc sư có tiếng ở Hà Nội là các ông Luyện và Tiếp, để tìm cách
làm phổ thông những điều thiết yếu của khoa kiến trúc bây giờ".
Dưới chủ đề Nhà cửa… hai
kiến trúc sư Luyện và Tiếp bắt đầu viết những bài học nhập môn dạy việc làm nhà
như thế nào. Đầu tiên là phải biết chọn hướng:
"Ở Bắc
kỳ và miền Bắc Trung kỳ, gió mát là gió đông nam từ biển Đông và vịnh Bắc kỳ
thổi lại. Những buồng ta ở phải đặt thế nào cho có cửa về hướng nam, hướng đông
hay hướng đông nam. Những hàng hiên để ngồi hóng mát phải làm ra các hướng
ấy." (Ngày Nay số
16)
Bài kế tiếp trên Ngày Nay số18 (26-7-36)
chỉ cách trổ cửa như thế nào: một phòng muốn mát phải có cửa ở hai hướng đối
diện nhau để gió thông cho mát; cách đặt các lỗ thông hơi như thế nào để, dù
phòng chỉ có một cửa vẫn thoáng, và nên làm hàng hiên theo kiểu nhà thuộc địa
để hóng gió, v.v...
Ngày Nay số 21 (16-8-36), bàn về các mầu
vôi sơn nhà: "Mầu vàng xẫm, màu xanh biếc hay mầu đỏ, không nên
dùng. Các màu xám "gris colorés" nên dùng. Bao giờ nhà cửa ta quét
mầu dịu, tường vàng nhạt, xam xám hồng, xám màu ciment, hay lờ lờ xanh, hồ
thủy, mầu nâu nhạt… khi ấy trước mắt ta sẽ thêm được một cảnh đẹp về nhà
cửa".
Tóm lại, với loạt bài Nhà cửa… hai
kiến trúc sư Luyện và Tiếp đã chỉ cho người dân quê, không nên làm những nhà
hang ổ, tối tăm nữa, mà cùng với số tiền đó, có thể làm được những căn nhà đầy
đủ tiện nghi, mát mẻ, hợp vệ vệ sinh.
Một cố gắng
của ông Justin Godard
Luật lao động được chính phủ Bình dân
ban hành tại Pháp ngày 11-10-36, nhưng gặp sự phản kháng mãnh liệt của giới chủ
nhân.
Việc ông Justin Godard, cựu Bộ trưởng
Lao động và là Thượng nghị sĩ Pháp đến Sài Gòn ngày 1-1-37 là một sự kiện lớn.
Tại bến Nhà Rồng, hơn một vạn người đi đón ông Godard.
Lời tuyên bố đầu tiên của Justin Godard với
René Candelon, phóng viên báo Populaire, như sau:
"Cần phải
có liên đoàn thợ thuyền. Trước khi thi hành luật lao động ở xứ này, cần phải
hỏi ý kiến của các chủ lẫn thợ. Nên để các liên đoàn được sống dù lúc ban đầu
có phạm điều lầm lỡ. Về mặt nông nghiệp, chỉ có thể bảo vệ nhân công một cách
hiệu quả hơn thôi" (Ngày Nay số 43, 17-1-37).
Trong bài Tự do nghiệp đoàn và
việc ông Justin Godard tới Đông Dương, trên Ngày Nay số 43 (17-1-37)
Hoàng Đạo viết:
"Ông sang đây có hai nhiệm vụ
lớn lao: một là, khảo sát về các vấn đề y tế và vệ sinh chung; hai là, tìm
phương pháp che chở cho thợ thuyền, thi hành luật lao động ở Đông Dương".
Sau khi xem xét tình hình, ông Godard nhận
thấy có nhiều bất cập trong việc thi hành luật lao động ở Đông Dương, nên ông
đề nghị "cần phải có những lao đoàn mạnh mẽ để đối phó với nghiệp
đoàn của các ông chủ. Cho nên ông mong chính phủ sẽ tuyên hành đạo luật về sự
tự do nghiệp đoàn ở Đông dương ".
Và Hoàng Đạo viết tiếp:
"Với những tư tưởng giàu nhân
đạo ấy, ông Godard đi khảo sát tình hình thợ thuyền Đông dương. Ông sẽ dần dần
rõ cái chế độ nhân công riêng ở xứ chúng tôi, chế độ của bọn cai. Chế độ ấy đè
bẹp bao nhiêu người nghèo khổ vào trong sự túng thiếu cơ cực, lẩm than. Chế độ ấy
rất là nguy hiểm cho dân lao động. Không những bọn cai chặn tiền công của họ mà
nhiều ông chủ lại còn dùng bọn cai làm bung xung để áp bức họ nữa. Ông sẽ hiểu
thấu tình cảnh đáng thương của thợ thuyền, ông sẽ thấy sự lam lũ của nông dân,
ông sẽ thấy trong lòng đầy rẫy tình cảm với những người chỉ có cái tội nghèo
cực ở đất nước này."
Nhưng cuối cùng, sự tự do nghiệp đoàn mà
ông Godard đề nghị cũng không được thực hiện.
Nhà Ánh Sáng
Tuy nhiên, ba sự kiện:
Ngày 9-9-36,
toàn quyền Robin bị gọi về Pháp.
Ngày 8-1-37,
Luật lao động Pháp được ban hành tại Đông Dương.
Ngày 14-1-37,
toàn quyền Brévié đến Sài Gòn.
đều dẫn đến việc ra đời của hội Ánh
Sáng.
Thực vậy, chỉ ba tháng sau khi Robin bị
gọi về Pháp, trên Ngày Nay số 38 (13-12-36) Tự Lực văn đoàn công bố sẽ
thành lập hội tạm gọi Ánh Sáng, với dấu ấn biểu hiệu bằng một bàn tay đập
nát mái tranh tồi tàn để làm lại căn nhà Ánh Sáng, với bản tuyên ngôn ký tên Tự
Lực và cái tựa rất dài:
"Để đi
tới việc thành lập Hội bài trừ những nhà "hang tối" tạm gọi là hội Ánh
Sáng đem đến cho dân nghèo khắp nơi những căn nhà sáng sủa, sạch sẽ, đẹp đẽ,
thay vào những nhà hang chuột tối tăm bẩn thỉu không đáng để người ở".Hội Bài Trừ Những Nhà "Hang
Tối", Ngày Nay số 38 (13-12-36)Bài tuyên ngôn của Hội Ánh Sáng trên
Ngày Nay số 38, có lẽ do Hoàng Đạo viết, dựa vào thực trạng nhà cửa dân nghèo
do Việt Sinh (Thạch Lam) mô tả trong bài Nhà cửa Annam, trên Ngày
Nay số 4, đã nói ở trên. Tác giả nhấn mạnh thêm vào những điểm sau đây được in
đậm:
"Cái
thảm trạng đó có thể kéo dài mãi nếu ta không tìm cách trừ tiệt đi".
"Họ
nghèo, ta phải giúp họ. Họ không biết. Ta phải soi sáng cho họ. Phải thực hành
và đem những cảnh đời mới đến đổi khác cái đời tối tăm, thảm đạm của họ
đi".
Và tác giả đưa ra những khẩu hiệu:
Ngày nay ta
không mong mỏi nữa. Ta muốn thế. Muốn là được. Ý muốn của chúng ta phải
đổi ra sự thực!
Những lời này có tác dụng mạnh, được
đông đảo các thành phần quần chúng ủng hộ. Chương trình nhà Ánh Sáng, sau đó,
được quảng cáo, vận động không ngừng trên báo Ngày Nay, trong nhiều tuần lễ.Khu chung cư, Ngày Nay số 39 (20-12-36)Ngày Nay số 39 (20-12-36), in bài Nhà
rẻ tiền để thợ thuyền và dân nghèo ở, kèm với hình khu chung cư tương lai,
trên đây. Bài viết nói đến tình trạng: hiện nay ở gần những nhà máy lớn, thợ
thuyền và dân nghèo phải sống trong những nhà mọc chi chít, hỗn độn,
thiếu khí trời và ánh sáng, cho nên hai kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện và
Hoàng Nhữ Tiếp đã nghĩ ra loạt nhà kiểu mẫu, làm theo kiến trúc mới, để
thay những khu nhà hỗn độn kia. Lớp nhà này, làm không tốn thêm tiền
như làm nhà theo lối cũ (70 đồng một lớp) nhưng khác trước vì có đủ tiện nghi,
có luật lệ chung cư, để giữ vệ sinh chung. Đây là loạt nhà chung cư đầu
tiên, được đề nghị trên đất nước ta.
Kể từ số 40 (27-12-36), Ngày Nay mở mục Ý
kiến của độc giả [3] về
nhà Ánh Sáng.
Từ Ngày Nay số 41 (3-1-37), mục này đổi
tên là Góp ý kiến về Ánh Sáng, loan tin ông Phạm Lê Bổng, giám đốc
báo La Patrie annamite hứa biếu 160 đồng để dựng hai nhà Ánh Sáng.
Từ Ngày Nay số 42 (10-1-37), mục Góp
ý kiền về Ánh Sáng mỗi tuần đăng một hay nhiều ý kiến của mọi thành
phần độc giả ở khắp nơi, gửi về, góp ý xây dựng nhà Ánh Sáng. Mục này kéo dài
trong tám tháng, kể từ số 40 (27-12-36) đến số 71 (8-8-37) [4],
cho thấy sự ủng hộ đến từ mọi thành phần giàu nghèo trên đất nước, góp công,
góp của, tùy theo khả năng của mỗi người.
Toàn quyền
Jules Brévié đến Sài Gòn
Ngày 14-1-1937, Toàn quyền Jules Brévié
đến Sài Gòn [5].
Hy vọng bùng lên, Hoàng Đạo và Nguyễn Gia Trí cực lực tranh đấu cho tự do báo
chí trên Ngày Nay. Nhưng cuộc tranh đấu thất bại, toàn quyền Brévié không cho
tự do báo chí (xem chương: Ngày Nay tranh đấu).
Trên Ngày Nay số 50 (14-3-37), Hoàng Đạo
viết bài Tiền định đi thăm trại Ánh Sáng, về một giấc
mơ được đi thăm trại Ánh Sáng bên bờ sông Tô Lịch.
Và trên Ngày Nay số 51 (14-3-37) Hoàng
Đạo bắt đầu viết loạt bài Bùn lầy nước đọng, tạo ra một chiến
lược tranh đấu mới, trình bày bộ mặt đen tối của làng thôn: dân quê bị
đè bẹp trong sưu cao thuế nặng, trong thần quyền mê tín dị đoan, trong xã hội
xôi thịt với bọn chức sắc đồi trụy trong làng. Loạt bài này đã đánh động quần
chúng nghĩ tới cuộc sống bùn lầy nước đọng ở thôn quê, góp
phần không nhỏ vào việc phát triển ý niệm xây dựng nhà Ánh Sáng.
Tuy nhiên, công cuộc vận động Nhà Ánh
Sáng khó có thể tiến triển được, nếu không thông qua con đường chính
thống, tức là phải được chính quyền thuộc địa cấp giấy phép lập hội trước,
rồi sau đó, lại cần có sự bảo trợ của chính quyền, mới có thể thực hiện các
chương trình xây dựng. Bởi vì từng lớp quan lại thực dân ở tỉnh, đứng đầu là
viên công sứ Pháp, có quyền từ chối, không cấp đất và không cho thực hiện bất
cứ "chương trình" gì, trong vùng họ cai trị, nếu không bị chính quyền
trung ương bắt buộc.
Thống sứ
Châtel đến Hà Nội
Ngày 28-5-37, Yves Châtel, tân Thống sứ
Bắc kỳ, tới Hải Phòng.
Ông sẽ là người hết lòng bảo trợ cho
chương trình Ánh Sáng, và trở nên một trong những vị thống sứ được dân chúng
mến chuộng. Tháng 3-1939, khi ông trở về Pháp, người đưa tiễn đông tới hàng
vạn. Chương trình Ánh Sáng cũng hầu như chấm dứt với sự ra đi này.
Một tuần sau khi ông Châtel đến Hà Nội,
ủy ban tạm thời Ánh Sáng, do nhà báo Phạm Văn Bính tạm làm chủ tịch, đã hành
động rất khôn khéo, đến xin gặp bác sĩ Hermant, Tổng thanh tra Y tế Đông Dương,
hỏi ý kiến ông và đăng bài Một giờ với bác sĩ Hermant, trên Ngày
Nay số 62 (6-6-37). Trong bài này, Phạm Văn Bính, trình bày chương trình hoạt
động của Hội và yêu cầu bác sĩ Hermant giúp đỡ. Ông Hermant hỏi ngay:
- Các ông nói qua cái bước thứ nhất của
các ông: sau khi được giấy phép thì các ông làm việc gì trước tiên?
- "Thưa
bác sĩ, Hội Ánh Sáng sẽ bắt đầu làm ngay một xóm thợ thuyền ở gần Hà Nội. Chúng
tôi sẽ xin chính phủ cho chúng tôi một miếng đất rộng trên đó chúng tôi dựng
những ngôi nhà lá kiểu mới, rộng rãi, hợp vệ sinh và chúng tôi sẽ cho anh em
thợ thuyền thuê một giá rất rẻ". Khi nào số tiền thuê nhà trả đã sấp sỉ bằng tiền
xây nhà, thì cái nhà đó sẽ thuộc quyền sở hữu người thuê. Trong xóm sẽ có nhà y
tế do các hướng đạo sinh có bằng Hồng thập tự đến trông nom.
- Các ông lấy tiền đâu ra làm những việc
ấy?
- Chúng tôi sẽ nhờ vào tiền trợ cấp của
chính phủ, tiền đóng góp của hội viên, và tiền tổ chức các cuộc vui để kiếm
tiền.
- Thế còn các làng?
- Sẽ khuyến khích dân quê đào giếng để
có nước sạch. Sẽ giúp họ làm nhà rẻ tiền mà hợp vệ sinh và có mỹ thuật…
Đến đây bác sĩ Hermant ngắt lời:
"Các ông không thể làm hết được mọi
việc, vậy các ông nên xin phép chính phủ làm một cái làng kiểu mẫu trong đó có
đủ các điều kiện vệ sinh, mỹ thuật, mới mẻ, rồi người ta sẽ bắt chước sửa đổi
hoặc làm theo…"
Bài Một giờ với bác sĩ Hermant,
chính là bước đầu khéo léo để xin sự bảo trợ của chính quyền.
Vẫn trong Ngày Nay số 62 này, ta còn
được biết, ủy ban thành lập hội Ánh Sáng đã họp lần thứ nhất ở nhà kiến trúc sư
Nguyễn Cao Luyện. Thành phần tham dự rất đa dạng: Nguyễn Cao Luyện, kiến trúc
sư; Ngô Trực Tuân, bác sĩ; Phạm Văn Bổng, kỹ nghệ; Phạm Tá, nghị viên, Phạm Văn
Bính, nhà báo. Những người này có nhiệm vụ mời các nhà đương chức tham
dự vào ban trị sự của hội Ánh Sáng.
Gặp Thống sứ
Yves Châtel
Chặng thứ hai là đến xin gặp Thống sứ
Yves Châtel. Ngày 29-6-37, nhà báo Phạm Văn Bính, đại diện hội Ánh Sáng, đến
xin gặp Thống sứ Châtel, ông niềm nở tuyên bố:
"Chính
phủ Bảo hộ sẽ không hẹp hòi gì mà không nâng đỡ những công cuộc nhân đạo như
hội Ánh Sáng. Các ông có thể bảo họ: tôi sẽ săn sóc đến hội "khuyến khích
những nhà sạch sẽ cũng như các quan chức thuộc quyền tôi. Quan Toàn quyền
Brévié sẽ vui lòng nhận chức Danh dự Hội trưởng của Hội."
Sau khi xem bản vẽ "một xóm thợ
thuyền" của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, ông thống sứ nói:
"Phải xây dựng ngay những xóm thợ thuyền ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng.
Hội sẽ nói với các ông chủ nhà máy giúp hội thực hiện những xóm thợ thuyền như
vậy".
Trước khi từ giã, nhóm đại diện Ánh Sáng
mời ông Châtel làm Hội trưởng "vì ngài là vị thượng quan mà dân
Annam chúng tôi hết sức quý mến và tin cậy". Ông vui vẻ trả lời:
"Được rồi, cái đó, các ông không
ngại. Quan Toàn quyền Brévié, tôi, hay các vị thượng quan Pháp Nam sẽ chú ý đặc
biệt đến hội vì đó là một công cuộc xã hội đáng khuyến khích. Các ông cứ yên
tâm về thảo điều lệ rồi đưa đến đây cho tôi". (Ngày Nay số 66,
4-7-37).
Sở dĩ ban đại diện Ánh Sáng đạt được
những thành quả đầu tiên, vì Đảng Xã Hội Pháp có truyền thống giúp đỡ dân
nghèo, mà chương trình nhà Ánh Sáng đi đúng với chủ trương của đảng này.
Việc đưa Phạm Văn Bính, một đảng viên
của Đảng Xã Hội Pháp, lên làm chủ tịch tạm thời của hội Ánh Sáng là khéo léo:
Phạm Văn Bính có thể tiếp xúc với nhà cầm quyền một cách dễ dàng. Từ đây mọi
việc tiến hành rất nhanh chóng.
Ngày Nay số 70 (1-8-37), đăng bài của
nhà báo Bùi Thế Mỹ, một nhà báo danh tiếng ở Sài Gòn ủng hộ Hội Ánh Sáng, và
Ngày Nay số 71 (8-8-37), đăng bài của anh em thợ thuyền ở Vinh hoan hô chương
trình này.
Hội Ánh Sáng
được thành lập
Ngày Nay số 72 (15-8-37) có tranh bìa của RITG, vẽ Nhà Ánh Sáng: Một nếp nhà ánh sáng, một gia đình ánh sáng.
Một cảnh ao ước sắp có, nhờ về Hội Ánh Sáng. Ngày Nay số 72, RITG vẽ nhà ánh sáng, một ao ước sắp cóVà Ngày Nay số 72 (15-8-37) in quảng cáo
buổi diễn thuyết đầu tiên của hội Ánh Sáng tại nhà Hát Lớn Hà Nội.Chương trình Diễn thuyết, Ngày Nay số 72
(15-8-37).Dưới khung quảng cáo này là bài Ánh
Sáng ở thôn quê trong mục Bùn lầy nước đọng, trình
bày chương trình Ánh Sáng, Hoàng Đạo viết:
"Những
gian nhà tối tăm, lụp xụp, ẩm thấp của họ [dân quê] từ ngàn năm xưa đã có,
họ cứ theo con đường cũ đã vạch sẵn mà đi, không được ai chỉ bảo thêm, cho nên
đến bây giờ, nó vẫn ẩm thấp, vẫn lụp xụp, vẫn tối tăm. Vậy, nếu bây giờ, có
người đến bảo họ rằng: Cũng với một số tiền làm nhà ấy, cũng với những tài liệu
ấy, chúng tôi có thể xây dựng nên những ngôi nhà phong quang hơn, rộng rãi hơn,
có mỹ thuật và vệ sinh hơn."
Những người ấy là ai? Họ là những kiến
trúc sư xuất thân từ trường Mỹ thuật Đông Dương, đã từng nghiên cứu về
vấn đề nhà cửa ở thành thị và thôn quê. Và họ đang tìm cách đem tiện
nghi và mỹ thuật đến những người nghèo, cho dân quê, cho thợ thuyền
được hưởng.
Và đó cũng là một mục đích của
hội Ánh Sáng mới thành lập.
Nhìn vào cách xây dựng hội Ánh Sáng, ta
thấy đây là một tổ chức có hệ thống, quy củ, có thể có hậu ý chính trị, mở
rộng ra ngoài khuôn khổ Tự Lực văn đoàn, tìm sự ủng hộ của nhiều thành phẩn dân
chúng khác nhau.
Như trên đã nói, loạt bài Bùn
lầy nước đọng của Hoàng Đạo đăng trên Ngày Nay từ tháng 3 đến tháng 8
năm 1937, là vũ khí tuyên truyền mạnh mẽ cho hội Ánh Sáng, làm thức tỉnh lòng
người trước thảm trạng sống của dân quê, kêu gọi mọi người tham gia để cải tổ
đời sống u tối này, đánh động nhà cầm quyền phải thay đổi chính sách cai trị,
trừ khử những bất công, đưa ánh sáng công lý vào vùng bất hạnh.
Nhờ vậy, không những phong trào Ánh Sáng
được cả thành phần trí thức lẫn công nhân, thợ thuyền ủng hộ (theo các bài góp
ý đăng trên Ngày Nay), ngay đến ông toàn quyền Brévié, mặc dù đã từ chối tự
do ngôn luận, không cho lập nghiệp đoàn và lập
đảng, cũng không thể ngăn cấm Hội Ánh Sáng thành lập, mà còn góp phần
đắc lực vào, như muốn xoa dịu những cấm đoán phản dân chủ của ông trước đây,
khi ông mới tới Việt Nam.
Hội Ánh Sáng
ra đời ngày 16-8-1937
16-8-1937 là một ngày "lịch
sử" đối với hội Ánh Sáng, được coi là ngày thành lập hội.
Báo Ngày Nay số 73 (22-8-37) dành ba
trang nói về buổi họp tối 16-8-37 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, với bài tường thuật
nhan đề: Tại nhà Hát Lớn Buổi họp đầu tiên của Ánh Sáng của
Khái Hưng kèm theo hình ảnh. Theo lời Khái Hưng: "Diễn đàn bài trí giản
dị và uy nghiêm, hùng tráng xưa này chưa từng thấy". Số hội viên
Ánh Sáng vào nhà hát gấp đôi số ghế của rạp hát. Tóm lại có khoảng 2000 hội
viên vào được bên trong và 2000 hội viên phải ra về.Quang cảnh Nhà Hát lớn bên ngoài, bên
trong và diễn đàn, trên Ngày Nay số 73.Diễn giả gồm có:
- Nhất Linh Nguyễn Tường Tam nói
về: Ý nghĩa xã hội của hội Ánh Sáng.
- Tôn Thất Bình, giáo sư trường Thăng
Long và Phạm Văn Bính, thư ký ủy ban tạm thời, nói về: Mục đích và
chương trình của hội Ánh Sáng.
- Hoàng Nhữ Tiếp, kiến trúc sư, nói
về Kiến trúc mới và lối nhà rẻ tiền.
- Cô Thanh Quý, hiệu ảnh Anh Photo, nói
về Phụ nữ với hội Ánh Sáng
Bài viết của Nguyễn Tường Tam, Phạm Văn
Bính và Hoàng Nhữ Tiếp đều đăng lại trên báo Ngày Nay [6].
Hướng đạo
sinh hát
những bài ca Ánh Sáng, lần đầu tiên. Bài đầu do Trần Duy Hưng và Thế Lữ, đặt
lời. Bốn bài tiếp theo, lời của Thế Lữ, đăng trên Ngày Ngay số 73 và 75.
Sổ vàng ghi nhận lòng tốt của nhiều cơ
quan hảo tâm giúp phương tiện thực hiện đêm hội, đặc biệt ông đốc lý Pisier cho
mượn nhà Hát Lớn không lấy tiền thuê. Và quảng cáo, ngay tuần sau, tối thứ hai
23-8-37, tại nhà Hát Lớn sẽ có đoàn ca vũ May-Blossom hát gây quỹ giúp hội Ánh
Sáng, vé bán tại: hiệu Gô Đa, gian hàng nước hoa, và các hiệu thuốc: Vũ Đỗ
Thìn, Hoàng Xuân Hãn, hiệu sách Thụy Ký và tòa báo Ngày Nay.
Tóm lại, buổi ra mắt Hội Ánh Sáng rất
rầm rộ, được sự ủng hộ của mọi giới, kể cả những tờ báo chống Ngày Nay, cũng
quên chuyện cũ, để đồng tâm góp sức cổ động, đông nhất là giới báo chí và
giới hướng đạo. Sự góp phần nhiệt liệt của các đoàn hướng đạo, cho
thấy tác dụng Mười điều tâm niệm của Hoàng Đạo, đã đăng trên
Ngày Nay năm 1936, một lối kim chỉ nam hướng dẫn thanh nhiên, khuyên họ nên
luyện tập thân thể và chí khí để phụng sự việc cải tiến xã hội.
Ban trị sự tạm thời của Ánh Sáng, có sự
góp mặt của nhiều thành phần:
Ba hội trưởng: Nguyễn Tường Tam, giáo
sư; Nguyễn Thiều, kỹ sư; Nguyễn Duy Thanh, kỹ sư.
Thư ký: Phạm Văn Bính, làm báo.
Hai phó thư ký: Trần Văn Thiết, kỹ sư;
Nguyễn Văn Đào, đoàn trưởng đoàn Hùng Vương.
Thủ quỹ: Nguyễn Tường Long, tham tá lục
sự.
Hai phó thủ quỹ: Trần Khánh Giư, làm
báo. Nguyễn Văn Xuân, tham tá tòa án.
Mười hai cố vấn: Cô Thanh Tú, làm báo.
Cô Thanh Quý, làm ảnh. Ngô Thế Tân, kỹ sư canh nông (chồng họa sĩ Lê Thị Lựu),
ủy viên hướng đạo. Nguyễn Cát Tường, họa sĩ. Nguyễn Văn Khái, thương mại. Phạm
Tá, nghị viên. Trần Phúc Chuyên, đoàn trưởng đoàn Lê Lợi. Tôn Thất Bình, làm
báo. Hoàng Nhữ Tiếp kiến trúc sư. Phạm Lê Bổng, kỹ nghệ. Nguyễn Văn Nhân, đoàn
trưởng đoàn Hồng Đức. Nguyễn Văn Vĩnh, lảm ảnh. (Theo Ngày Nay số 74, 29-8-37).
Buổi diễn
thuyết đầu tiên của Nguyễn Tường Tam
Nhất Linh vắng mặt trên báo Ngày Nay từ
số 48 (28-2-37). Trên Ngày Nay số 58 (9-5-37) có đăng lời bố cáo: Nguyễn Tường
Tam ốm nên không đọc được hết các sách truyện gửi về dự thi giải TLVĐ 1936 (bố
cáo này có tính cách "chính trị", vì Thạch Lam phụ trách giải thưởng,
ông đọc và viết bài tổng kết các sách gửi đến dự thi).
Tóm lại, Nhất Linh vắng mặt trên Ngày
Nay từ tháng 2-37, để xuất hiện lại trên diễn đàn Nhà Hát Lớn đúng ngày 16-8-37 như
vị thủ lãnh của phong tráo Ánh Sáng.
Một tháng sau, Ngày Nay số 78 (26-9-37)
Nguyễn Tường Tam, rút tên Giám đốc, để trở thành Sáng lập chủ nhân,
Trần Khánh Giư lên làm Giám đốc và Nguyễn Tường Lân, Quản lý.
Những sự kiện này có cho phép ta
"đoán" là Nhất Linh đã quyết định hoạt động chính trị ngay
từ tháng 2 năm 1937, thoạt tiên dưới hình thức xã hội, dựng nhà Ánh Sáng, để có
sự ủng hộ của đông đảo quần chúng, trước khi thành lập đảng Hưng Việt, đầu năm
1938, chăng? Vì thế, chúng ta cần biết Nhất Linh Nguyễn Tường Tam nói gì trong
bài diễn thuyết ra mắt Hội Ánh Sáng ngày 16-8-37 này.
Đầu tiên, ông đặt vấn đề: Đã từ lâu, những
người nhiễm cái học mới đều nhận thấy "cảnh đời ảm đạm, buồn nản
của dân quê trong những túp nhà hang tối" và chắc đã nhiều lần tự
hỏi: "Liệu có thể đổi khác được không?"
"Câu hỏi
trên nảy ra trong óc bạn chỉ như một tia nắng yếu ớt lòe ra trong đêm tối dầy
đặc, chỉ như một giây phút hy vọng biến ngay thành một nỗi thất vọng dài và chua
xót.
Nhưng bao giờ
cũng vậy: đã nghĩ đến thay đổi thì rồi sẽ có sự thay đổi.
Nỗi thất vọng
riêng từng người nay đã sắp biến thành một mối hy vọng chung, mối hy vọng chung
ấy tức là hội Ánh Sáng." (Ngày Nay số 74, 29-8-37).
Nếu sự thay đổi Nhất
Linh muốn nói ở đây là thay đổi toàn diện xã hội, thì đây là
lời kêu gọi lên đường, được nhấn mạnh bằng ý: cứ nghĩ đến là làm được, cứ
muốn là làm được.
Nay Hội đã thành lập được rồi. "Hội
đông người, lại toàn những người quả quyết phấn đấu, cái sức mạnh ấy có thể
thắng nổi hết các sự khó khăn".
Rồi ông trở lại vấn đề nhà Ánh Sáng, cái
khó đầu tiên là phải trả lời được câu hỏi:
"Làm nhà
cho dân nghèo và thợ thuyền ở, nhưng rồi sau… sẽ ra sao? Chính phần mười nhà
Annam ta là nhà hang tối. Làm thế nào cho đủ được?"
Vì thế hội Ánh Sáng không phải
là hội làm phúc, tức là chỉ xây nhà gạch cho một số người may mắn được
hưởng, mà xây dựng những nhà tranh, nhà gỗ, rẻ tiền, nhưng đủ tiện nghi và có
mỹ thuật. Và cần truyền bá tư tưởng này đến mọi người ở khắp nơi: Phải
thay đổi cuộc sống. Trong ba năm nay, chúng tôi đã cộng tác nghiên cứu.
Loại nhà này có thể xây dựng được ở bất cứ nơi nào, với điều kiện là phải cổ
động cho người dân chịu thay đổi lối sống… Nói khác đi, phải đưa dân
quê ra khỏi cái quan niệm thần linh, mà sống một đời thực tiễn cho
chính họ. Vì vây, hội Ánh Sáng phải giúp đỡ họ, không chỉ việc xây nhà
Ánh Sáng mà còn giúp họ thoát khỏi lối sống tối tăm, mê tín, để trở
thành những người văn minh.
Thông điệp của Nhất Linh có hai nghĩa:
- Một là, phải xây dựng những nhà Ánh
Sáng để ở.
- Hai là, phải thoát ra khỏi gông cùm hủ
lậu, mê tín, đã đè bẹp người dân trong bao nhiêu thế kỷ, mà cũng là cái gông
cùm thực dân còn đang đè nặng trên toàn diện đời sống dân tộc, qua lời nhắn kín
đáo sau đây:
"Cái gì
bền chặt, còn mãi mãi, không phải là những căn nhà dựng lên, mà chính là cái ý
muốn chung của chúng ta, của dân quê, cái ý muốn có sự thay đổi mãi mãi, cái
lòng nhiệt thành với công việc ta làm, lúc nào ta cũng hết sức, chắc ở mình và
chắc ở tương lai."
Qua bài phát biểu này, Nhất Linh đã âm
thầm tuyên bố chủ đích chính của mình: muốn thay đổi hẳn cuộc sống của
người dân, có thể hiểu là phải làm cách mạng.
Từ đây, Hội Ánh Sáng phát động các
chương trình Ánh Sáng: diễn thuyết, tổ chức quyên tiền, trình diễn ca nhạc,
kịch, chiếu phim, để gây quỹ dựng nhà Ánh Sáng. Đông đảo nhà báo
góp sức cổ động, Hướng đạo sinh làm việc thiện nguyện, các trí thức như ông bà
Hoàng Xuân Hãn nhận bán vé xem hát, ông Thống sứ cho phép tổ chức Garden Party
trong Phủ thống sứ; ông bà Toàn quyền giúp công, giúp của, v.v.
Nghị định
thành lập Hội ngày 14-10-1937
Hội Ánh Sáng được phép chính thức thành
lập theo nghị định số 4851-A ngày 14/10/37 của Thống sứ Châtel [7]Nghị định, Ngày Nay số 82, trang 379Đoàn ánh sáng được phép thành lập, Ngày Nay
số 83Ngày Nay số 83 (31-10-37) in khung quảng
cáo rầm rộ, đại ý nói:
Bắt đầu từ ngày 14-10-37, đoàn Ánh Sáng
được phép thu tiền của Hội viên để làm nhà Ánh Sáng. Tiền thu được sẽ
biến ngay thành nhà cửa Ánh Sáng.
Ban cổ động sẽ diễn thuyết tại Hà Nội,
Hải Phòng, Nam Định và các tỉnh để tuyên truyền chủ nghĩa của đoàn và đến các
nhà để mời mọi người vào đoàn.
Điều lệ vào hội: Tán trợ hội
viên: ủng hộ ít nhất 100 đồng. Tặng hảo hội viên: 50 đồng. Chủ trì hội viên,
đóng mỗi năm 1 đồng. Khuyến khích hội viên, mỗi năm 0,20 đồng.
Số tiền đóng góp không nhiều nhưng nhiều
người thì số tiền sẽ rất lớn.
Tháng 12/1937 sẽ có Đại hội đồng đầu
tiên của đoàn Ánh Sáng.
Ngày Nay số 89 (12-12-37), trong
bài Ánh Sáng, đăng các tin sau đây:
- Ông Toàn quyền Brévié nhận làm danh dự
hội trưởng và đỡ đầu cho đoàn Ánh Sáng.
- Ông Brévié cho phép các ủy viên Ánh
Sáng trong ba ngày 13, 14 và 15 tháng 12 đến công sở mời các viên chức vào
đoàn.
- Ngày Ánh Sáng được phép tổ chức vào
ngày 12-12-1937.
- Các Ủy ban hành động Ánh Sáng được
thành lập.
Nhìn danh sách các ủy ban in trong bài
báo, chúng ta thấy đủ các thành phần trí thức, nhà giáo, văn nghệ sĩ thời đó,
và phụ nữ đóng vai trò không nhỏ. Thí dụ:
Ủy ban tổ
chức và khánh tiết: trưởng ban:
bà Trịnh Thị Thục Oanh, đốc học các trường nữ học Hà Nội. Thư Ký: các ông
Nguyễn Trọng Trạc, Hoàng Nhật Tiến. Ủy viên: các bà: Trần Khánh Giư, Hoàng Cơ
Thụy, Hoàng Xuân Hãn, Trần Văn Tiết, Tôn Thất Bình, Vũ Đình Đa, Phạm Hoàng Tín,
Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Hà Sĩ Cát.
Ủy ban chuyên
môn: Trưởng
ban: ông Bùi Tường Chiểu; thư ký: các ông Võ Đức Diên, Nguyễn Gia Trí.
Ủy ban tuyên
truyền: Trưởng ban:
ông Đoàn Phú Tứ; thư ký: các ông Hà Sĩ Cát, Vũ Đình Hòe. v.v...
Ngày 14-12-37, ông Toàn Quyền Jules
Brévié gửi thư cho ông Hội trưởng đoàn Ánh Sáng nhận làm hội trưởng danh dự của
đoàn Ánh Sáng, kết luận lá thư, ông viết:
"Chống
lại với nạn nhà tối tăm và làm cho dân quê hiểu biết những phương pháp vệ sinh
thường thức là hai công việc cấn thiết và đích đáng với tấm lòng nhiệt thành
của các ông. Làm việc đó, đoàn Ánh Sáng có thể trông cậy ở sự giúp sức của tất
cả các nhà đương chức ở đây" [8]
Ngày 13-1-38, có buổi diễn
thuyết ở nhà Hát Lớn Hải Phòng để cổ động cho đoàn Ánh Sáng, với các diễn giả:
Nhất Linh, Tôn Thất Bình, Nguyễn Trọng Trạc, Hoàng Nhữ Tiếp, Nguyễn Thị Tăng
Phú [9].
Ông Đốc lý Virgitti cấp cho hội Ánh Sáng
sáu lô đất ở bãi Phúc Xá để xây nhà Ánh Sáng [10].
Đoàn Ánh Sáng đã có bài ca chính thức,
theo điệu Quốc ca Hoa Kỳ và Joyeux au revoir [11].
Bà Vũ Ngọc Phan (Hằng Phương) sáng tác bài thơ Khuyên mọi người vào hội
Ánh Sáng [12].
Trên Ngày Nay số 107 (24-4-38), kiến
trúc sư Hoàng Nhữ Tiếp viết bài Trại Ánh Sáng Phúc Xá, trình
bày họa đồ, giải thích cách kiến trúc, và nêu lên những khó khăn cần phải vượt
qua.
Trại Ánh Sáng Phúc Xá hiện có 4 lô, mỗi
lô 1.200 m2.Trại Ánh Sáng Phúc Xá của Hoàng Nhữ
Tiếp, Ngày Nay số 107Một cảnh xã hội sẽ thực hiện ở Phúc Xá,
Ngày Nay 109Từ 5 đến 6 giờ chiều ngày 12-5-38: Lễ
đặt viên gạch đầu tiên ở Trại Ánh Sáng do phu nhân quan Toàn quyền Jules Brévié
và ông Thống sứ Châtel chủ lễ [13].
Đoàn Ánh Sáng cảm ơn ông bà Toàn quyền
Brévié gửi tặng 450 đồng [14].
Tiếp tục gây quỹ: Nhất Linh diễn thuyết.
Ba chục "nàng tiên Ánh Sáng" hát giúp vui. Cô Jeannin Tạ Quang Phát
hát. Chiếu phim Désir với Marlène Dietrich và Gary Cooper.
Bản chi thu Ánh Sáng do Hoàng Đạo thủ
quỹ ký ngày 25-5-38, đăng lần lần trên Ngày Nay số 114 (2-6-38).
Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Duy Thanh
đồng chủ tịch Hội, tiếp khách mỗi tuần một giờ vào ngày thứ bẩy, từ 6 đến 7 giờ
chiều, tại Đoàn sở Ánh Sáng, 28 phố Richaud.
Số tiền thu được sẽ gửi xuống Hải Phòng
để xây thôn Ánh Sáng đầu tiên ở dưới ấy [15].
Ngày
23-12-38, Hội Ánh
Sáng bầu hội đồng quản trị mới, với:
Ba hội trưởng: Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình
Hỏe và Tôn Thất Bình.
Tổng thư ký: Nguyễn Xuân Đào. Nguyễn
Tường Long đổi sang ban Kiểm sát.
Trần Khánh Giư, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng
Nhữ Thiếp, Tô Ngọc Vân, ở trong ban cố vấn.
Trong bài diễn văn đọc tại Đại Hội Đồng
Ánh Sáng ngày 18-12-38, tại rạp Olympia, Tổng thư ký Nguyễn Xuân Đào tổng kết
những việc hội đã làm được trong năm vừa qua và trình bày chương trình cho năm
tới. Ông cho biết: Đoàn Ánh Sáng hiện đã có bốn chi đoàn ở Hải Phòng, Nam Định,
Sơn Tây và Kiến An. Riêng chi đoàn Hải Phòng đã có hơn nghìn hội viên và một
nghìn bạc trong quỹ.
Về năm 1938: "Trại Phúc Xá đã
hoàn thành: có 34 căn nhà cho 34 gia đình ở. Nhà chia làm 4 hạng, giá thuê từ 6
hào đến 2 đồng một tháng. Nhà nào cũng có bếp, buồng tắm, cầu tiêu riêng. Những
đồ đạc bầy trong nhà cũng do đoàn sắm cả. Đồ đạc toàn bằng tre, do kiến trúc sư
chế kiểu, đã tiện lại có vẻ mỹ quan.
Sau hạn thuê
mười năm người chủ thuê không phải trả tiền nhà nữa. Nếu nửa chừng dọn đi, đoàn
sẽ bồi thường lại một món tiền…"
Dự tính cho năm 1939: "Ban
công tác đương trù tính việc dựng thôn Ánh Sáng ở Voi Phục. Hiện nay đã được
dân sở tại nhường cho 10 mẫu đất công. Với số tiền dự trù non hai vạn đồng,
thôn Voi Phục sẽ dựng với một quy mô rộng lớn hơn và đầy đủ hơn trại Jules
Brévié ở Phúc Xá"
Về tổ chức, Nguyễn Xuân Đào
cho biết: "Đoàn có một hội đồng quản trị, một ban kiểm sát tài
chính và 13 ủy ban hành động. Hội đồng quản trị ban bố những mệnh lệnh, còn
thừa hành các mệnh lệnh đó là việc của các ủy ban. Có những ủy ban này: Tổ
chức, tuyên truyền, công tác, khiến trúc, bài trí, y tế, pháp luật, phụ nữ,
huấn luyện, mua bán, khảo cứu về thôn trại Ánh Sáng". Hội Ánh
Sáng hiện có hơn một trăm ủy viên.
Hội đồng quản trị hội Ánh Sáng quyết
định năm 1939 sẽ xây dựng Thôn Ánh Sáng thứ hai ở Voi Phục.
Cuối cùng, ông Nguyễn Xuân Đào ngỏ lời cám
ơn ủy ban tổ chức, ủy ban kiến trúc và công tác: "Chúng tôi xin có
lời trân trọng cảm tạ các bạn trong ủy ban tổ chức, trong một năm trời, đã kiếm
cho quỹ đoàn hơn một vạn bạc, hai ủy ban kiến trúc và công tác đã hợp sức dựng
nên trại Ánh Sáng đầu tiên ở Phúc Xá". Và gửi lời cám ơn các báo:
Ngày Nay, Đông Pháp, Thời Vụ, Trung Bắc, Việt Báo, Nam Cường, Tin Tức đã giúp
đỡ phương tiện và đặc biệt lòng biết ơn của đoàn Ánh Sáng đến ông Toàn quyền
Jules Brévié và phu nhân, ông Thống sứ Chatel, hai ông đốc lý Virgitti và
Gallois Montbrun đã bảo trợ cho đoàn về đủ các phương diện [16].
Ngày Nay số 151 (4-3-39) quảng cáo
chương trình chợ phiên Ánh Sáng "vĩ đại" để dựng thôn Ánh Sáng Voi
Phục, sẽ làm ở nhiều nơi trong ba ngày do ông Thống sứ Châtel bảo trợ:
Thứ sáu 3-3-39, 17 giờ: Khánh thành chợ
phiên tại Parc Auto.
Thứ bẩy 4-3-39, từ 16 giờ: Chơi và thi
thuyền trên hồ Hoàn Kiếm.
17 giờ: Garden Party tại Phủ Thống Sứ.
Chủ nhật 5-3-39, 15 giờ: Thi xe hoa tại
vườn hoa Paul Bert.
Chương trình văn nghệ: ban kịch Thế Lữ
trình diễn vở Đoạn Tuyệt của Nguyễn Xuân Đào soạn theo truyện
của Nhất Linh, tại nhà Nhà Hát Lớn Hà Nội.
Chương trình in trên Ngày Nay số 151
(4-3-39).Phong trào
Ánh Sáng tan vỡ
Nhị Linh và Tô Tử viết bài tường thuật
của về ba ngày hội rất thành công này, trên Ngày Nay số 152 (11-3-39). Nhưng đó
là những ngày hoạt động cuối cùng. Bởi vì tuần sau, ông Thống sứ Yves Châtel về
nước. Ông là người sốt sắng nhất trong việc bảo trợ chương trình Ánh Sáng. Tô
Tử (Tô Ngọc Vân) tường thuật buổi tiệc trà tiễn ông trên Ngày Nay số 153
(18-3-39).
Ngày Nay số 159 (29-4-39) có bài của Nhị
Linh (Khái Hưng) viết về buổi tiễn đưa ông Caput, Tổng thư ký đảng Xã Hội
(SFIO) về nước: Thêm một người có đầu óc tiến bộ rời Việt Nam.
Rồi như cái họa liên tiếp đến: Tin Phan
Thanh từ trần đột ngột đúng ngày lễ Lao động, mùng 1 tháng 5, ở tuổi 31, làm
xao động lòng người.
Phan Thanh (anh ruột Phan Bôi, anh em họ Phan
Khôi) là khuôn mặt tiêu biểu nhất của trí thức cấp tiến lúc bấy giờ, ông có tài
hùng biện bằng tiếng Pháp, dám bênh vực quyền lợi người dân, dưới thời Pháp
thuộc. Ông là nhà báo, là giáo sư trường Thăng Long, dân biểu Quảng Nam, hội
viên hội đồng thành phố Hà Nội, hội viên Đại Hội Nghị Kinh Tế và Lý Tài Đông
Dương, và đảng viên Đảng Xã Hội Pháp.
Bài Tiểu sử ông Phan Thanh trên
Ngày Nay số 160 (6-5-39), ghi rõ:
"Ông
Thanh tham gia một cách mật thiết vào phong trào chính trị, từ khi chính phủ
Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền (…) Ông Thanh là một đứa con của Phong
trào Mặt trận Bình dân Pháp, lại là một tay lãnh đạo cho phong trào Mặt trận
dân chủ ở nước ta.
Ông bắt đầu
giúp cho báo Le Travail, một cơ quan chiến đấu đầu tiên của dân chúng Trung,
Bắc từ khi Phong trào Bình dân đại thắng ở Pháp.
Năm 1937, ông
ra ứng cử dân biểu ở Quảng Nam, được dân chúng hoan nghênh nhiệt liệt (…)
Được bàu vào
Đại hội đồng kinh tế lý tài, ông đã một mình cương quyết chống với tất cả bọn
phản động thuộc điạ và tay sai của chúng trong giai cấp tư sản bản xứ và bênh
vực lợi quyền cho đại đa số dân chúng.
Ngay từ khi
đảng Xã hội mới thành lập ở Bắc kỳ, ông đã gia nhập và được ít lâu, ông trở nên
một đảng viên trọng yếu của đảng, được cử làm phó thư ký chính trị của Liên
đoàn Xã hội phía Bắc Đông Dương"
Vẫn theo bài tiểu sử này: "Chính
ông [Phan Thanh] là sáng lập viên và là tổng thư ký của Hội
truyền bá quốc ngữ". "Ông là người đã theo đúng chủ trương của Chủ
nghĩa xã hội, ông đã bênh vực quyền lợi của người dân trong Hội đồng Thành phố
Hà Nội".
Ngoài ra, Phan Thanh còn bênh vực cho
việc không đóng cửa trường Mỹ thuật Đông Dương, tại Đại Hội Nghị Kinh Tế và Lý
Tài, sau khi giáo sư Victor Tardieu qua đời.
Ngày Nay kết luận bài viết bằng
câu: "Cái chết của ông Phan Thanh chẳng những là cái tang đau đớn
cho gia quyến ông, cho đảng ông, mà còn cho toàn thể dân chúng nữa".
Với cái chết của Phan Thanh, số người
dám bênh vực cho quyền lợi dân nghèo vơi đi, Phạm Văn Bính, trong bài tường
thuật đám tang Phan Thanh, trên cùng số báo Ngày Nay 160, cho biết: "Người
đưa tiễn ông hàng vạn, đám ma dài tới hơn một cây số." Và Phạm
Văn Bính đã khóc một đồng chí một chiến sĩ xã hội.
Vậy Phạm Văn Bính cũng là đảng viên Đảng Xã hội.
Sự vu cáo hội
Ánh Sáng
Mặc dù sổ sách luôn luôn đăng trên Ngày
Nay, nhưng đoàn Ánh Sáng vẫn nhận được những lời vu cáo.
Phan Trần Chúc, mới đầu ủng hộ phong
trào Ánh Sáng, sau quay ra chống kịch liệt, trên báo Tân Việt Nam, ông cho rằng
hội Ánh Sáng nên dùng tiền quyên được giúp nạn lụt thì hơn, bởi vì chương trình
Ánh Sáng không thể thực hiện được, chỉ là chương trình của một người
điên, mà lại còn ngửa tay xin tiền chính phủ Tây nữa. Vì
bài này mà Hoàng Đạo tức giận, trả lời bằng những chữ "ông Trúc họ Phan
Trần" (ý nói tráo trở như Phan Trần), trên Ngày Nay số 77 (19-9-37).
Sau đó, báo Tân Việt Nam lại "vu
khống NTL ăn cắp cravate ở một hiệu buôn" (NTL ám chỉ Nguyễn Tường Lân
tức Thạch Lam) (Ngày Nay số 78).
Hoàng Đạo "nổi trận lôi đình",
trong mục Người và việc (Ngày Nay số 80, 10-10-37), in đậm câu
này:
"Đối với
Phan Trần Chúc mà tôi coi là một kẻ hết sức hèn mạt, từ đây tôi không thèm nói
tới. Hễ gặp hắn bất cứ ở đâu, tôi sẽ cho hắn một cái tát: hắn chỉ đáng có thế
thôi". Câu này
gây xì căng đan. Nội vụ đưa đến việc triệu tập Hội nghị các nhà báo hòa giải việc bút chiến giữa Tân Việt Nam (Phan Trần Chúc) và Ngày
Nay (Thạch Lam và Thế Lữ). Có biên bản làm ngày 20-10-37 của Trần Huy
Liệu và Nguyễn Trọng Trạc (Ngày Nay số 83, 31-10-37).
Sau vụ Phan Trần Chúc còn vài vụ lẻ tẻ
nữa, hội Ánh Sáng lờ đi, không trả lời.
Nhưng đến tháng 6 năm 1939, báo Avenir
du Tonkin, số ra ngày 5-6-39, lại trích và dịch ra tiếng Pháp những lời công
kích đoàn Ánh Sáng của báo Nước Nam và báo Vịt Đực, nên Hội Ánh Sáng phải viết
bài Đoàn Ánh Sáng cùng những lời vu cáo, in trên Ngày
Nay số 167 (24-6-39) để trả lời.
Chúng tôi xin tóm tắt hai điểm chính:
1- Nước Nam: Tố cáo Thế Lữ nhận số tiền
350 đồng để làm việc thiện.
Trả lời: Thế Lữ có lĩnh số tiền đó thật,
nhưng để chi phí cho hai buổi diễn kịch (Đoạn Tuyệt) với các diễn viên nhà
nghề: 12 vai kép, 7 vai đào, chưa kể những vai phụ, vai câm, vừa nam, vừa nữ.
Sau khi trả tiền Thế Lữ, đoàn vẫn còn thu được 1.306 đ745.
2- Vịt Đực: Nhiều hội viên Ánh Sáng nhân
dịp đi Hải Phòng đã lợi dụng đi Đồ Sơn nghỉ mát, tốn thêm 100 đồng.
Trả lời: Sao không nói 1000 đồng luôn thể. Sự
thực thì hôm 3-3-38, bốn hội viên có đi Kiến An (phải qua Hải Phòng) vì được
ông Công sứ tỉnh ấy mời về việc hai nhà mẫu Ánh Sáng xây ở một khu vừa bị hỏa
hoạn (hiện đã xây xong và khánh thành hồi tháng 4 vừa qua). Rồi từ Kiến An, ban
cổ động đi Thái Bình để lập một chi đoàn ở Thái Bình, và về Nam Định, tiếp xúc
với chi đoàn Nam Định vừa thành lập. Anh em có thuê một chiếc xe hơi trong hai
ngày và một đêm, tất cả mọi chi phí, tiền cư trú, tiền xăng, tiền ăn, tiền qua
phà, tổng cộng hết 37đ02, như các tờ giấy chứng thực.
Việc này có lẽ là giọt nước làm tràn ly.
Cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự chán nản, tan rã, trong lòng
những người làm việc cho Hội Ánh Sáng.
Thế Lữ không
phải là Nhất Chi Mai?
Trong những bài công kích Hội Ánh Sáng,
có bài của Vũ Trọng Phụng, mà nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân vừa gửi cho chúng
tôi, trong đó xác định Nhất Chi Mai là Phạm Văn Bính, đó là
bài "Việc trong… việc ngoài", in trên Đông Dương tạp
chí, số 37 (27-1-38),
Bài này có hai điểm đáng chú ý:
- Vũ Trọng Phụng cho rằng Nhất Chi Mai
là Phạm Văn Bính, với câu: "Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính".
- Chỉ trích Nhất Linh và hoạt động của
Hội Ánh Sáng. Vũ Trọng Phụng viết:
"Theo
tin một tờ báo hàng ngày, thì khi đến dự bữa tiệc của hội Ánh Sáng, quan toàn
quyền Brévié đã hứa là sẽ trợ cấp cho hội ấy.
Thật là một
tin mừng cho nhóm Ngày Nay.
Và do đó, cái
câu "ra Ánh Sáng để lẩn vào bóng tối", mà thiên hạ gán cho ông Nguyễn
Tường Tam không phải là lời vu cáo.
Chúng tôi xin
mừng cho ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, nhất là ông đã biết từ chức giám đốc
báo Ngày Nay, nhường cho nhà danh sĩ Khái Hưng, để có thể cung cúc tận tụy với
hội Ánh Sáng.
Hoàng thiên
bất phụ hỏa tâm nhân, quan toàn quyền Brévié đã hứa trước công chúng như thế,
thì chẳng còn nghi ngờ gì nữa.
Thảo nào mà
đương lúc đắc thời, sách nào ra cũng chạy như tôm tươi, mà bỗng dưng ông Nhất
Linh Nguyễn Tường Tam lại thôi chức chủ nhiệm Ngày Nay, lại chẳng viết cuốn
sách nào nữa. Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính hiện làm thư ký tạm thời của hội
Ánh Sáng chắc chắn nay mai sẽ được chân thư ký vĩnh viễn, và như vậy, cũng bõ
cái công đầu tắt mặt tối bấy nay. Còn ông Nguyễn Tường Tam, chắc ông sẽ được
một chân nào to hơn thế nữa, lương cao hơn thế nữa. Xưa kia ông Nguyễn Tường
Tam đã xin cụ Nguyễn Hữu Bài một chân tri huyện không xong. Bây giờ, ông khéo
xoay xở lập hội Ánh Sáng…"
Để hiểu rõ hơn về những lời công kích
trên đây, trước hết xin nói qua về nguồn cội:
Vũ Trọng Phụng và Tự Lực văn đoàn, ban
đầu, không có hiềm khích gì, vì cuốn phóng sự đầu tiên của Vũ Trọng
Phụng, Cạm bẫy người được An Nam xuất bản cục của Tự Lực văn
đoàn in năm 1934.
Năm 1935, Ngày Nay số 2 (10-2-35) còn
đăng phóng sự Tết của Tù của Vũ Trọng Phụng.
Không hiểu sao, năm 1936, Vũ Trọng Phụng
viết Số đỏ (in trên Hà Nội báo từ tháng 10-36) lại
"đánh" vào chương trình cải tiến xã hội của Tự Lực văn đoàn.
Số đỏ mô tả một Hà Nội lai căng dưới
thời Pháp thuộc, đưa ra những nhân vật điển hình để kín đáo chế giễu các chủ
trương: giải phóng phụ nữ, đưa mỹ thuật vào đời sống, vận động cho thể thao,
chủ trương theo mới, hoàn toàn theo mới, theo chủ nghĩa bình dân, làm nhà Ánh
Sáng, thiết kế y phục tân thời… Các hình thức cải tiến xã hội của Tự Lực văn
đoàn đều được Vũ Trọng Phụng nhái lại, thổi phồng và hài hước hóa, thành các
nhân vật, các mốt lai căng, nực cười, như sân quần bà Phó Đoan
xây cho Xuân Tóc Đỏ, tiệm may Âu Hóa của ông bà Văn
Minh với ông mỹ thuật Típ Phờ Nờ (T.Y.P.N, hay Tôi
Yêu Phụ Nữ) vẽ những kiểu: áo Ỡm ờ, quần Hãy chờ một phút,
áo lót Hạnh phúc, coóc-sê Ngừng tay, áo Nữ
Quyền… đều nhằm chế giễu Hoàng Đạo, Cát Tường, nói riêng và Tự Lực văn đoàn
nói chung, kể cả nhân vật Xuân Tóc Đỏ, ma cà bông, nhờ tham dự vào cuộc
cải cách xã hội, mà trở nên vô địch thể thao, vĩ nhân cứu quốc…
Nhưng Tự Lực văn đoàn không có phản ứng
gì về việc này.
Đến tháng 4, năm 1937, trên Ngày Nay số
54 (11-4-37), Khái Hưng có bài tường thuật về hai vở kịch diễn Không
một tiếng vang của Vũ Trọng Phụng và Mua giây mà buộc vào mình.
Ông khen vở thứ hai, nhưng chê vở thứ nhất: Sau khi liệt kê một số nhân vật của
Vũ Trong Phụng như Thị Mịch, bà phó Đoan… Khái Hưng cho rằng với nhân vật
nào: "ông Vũ Trọng Phụng cũng chỉ nhìn thấy những cái mà ông tha
thiết muốn nhìn, thấy những cái khốn nạn đê hèn, bẩn thỉu của người đời. Rồi
ông tức tối, rồi ông lên tiếng nguyền rủa nhiếc móc". Nhận định như
thế kể cũng hơi nặng.
Nhưng trên Ngày Nay, ba số trước, tức là
số 51 (14-3-37) có bài viết của Nhất Chi Mai, tựa đề "Dâm hay
không dâm", phê bình Lục xì của Vũ Trọng Phụng,
viết với ý "để vạch những cái bẩn thỉu nhơ nhớp, dơ dáy của văn ông ta" thì
lời lẽ có chỗ thực nặng nề.
Để trả lời, Vũ Trọng Phụng viết
bài Để đáp lời báo Ngày Nay (Tương Lai, số
9 (25-3-37) (in trong website Lại Nguyên Ân: http://lainguyenan.free.fr/).
Trong bài này, Vũ Trọng Phụng còn chưa biết Hàn Đãi Đậu là Khái Hưng và cũng
chưa biết Nhất Chi Mai là ai (vì không thấy ông nhắc đến Phạm Văn Bính).
Riêng bài "Việc trong… việc
ngoài" in trên Đông Dương tạp chí số 37 (27-1-38), đã trích dẫn ở
trên, nhằm đả phá phong trào Ánh Sáng, nên Vũ Trọng Phụng đưa tên Phạm Văn Bính
vào, vì Phạm Văn Bình lúc đó là thư ký tạm thời của Hội Ánh Sáng.
Điểm đáng chú ý trong bài này, là
câu: "Ông Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính hiện làm thư ký tạm thời của
hội Ánh Sáng", do Vũ Trọng Phụng viết.
Còn những điều ông chỉ trích sai Nhất
Linh, chẳng cần cải chính, vì những gì chúng tôi trình bày trong chương này, đã
nói rõ cả rồi.
Nhất Chi Mai
có phải là Phạm Văn Bính không?
Bây giờ xin trở lại câu hỏi: Nhất Chi
Mai có phải là Phạm Văn Bính không?
Trong chương Ngày Nay phóng sự,
chúng tôi cho rằng Nhất Chi Mai là Thế Lữ, vì đã dựa trên sáu nhận xét sau đây:
1- Khi giao cho Nguyễn Tường Cẩm làm chủ
nhiệm, Thạch Lam chủ bút Ngày Nay, Nhất Linh dư biết chỉ mình Thạch Lam có kinh
nghiệm làm báo, cho nên ông cử Thế Lữ cùng làm, bởi vì Thạch Lam thân với Thế
Lữ.
2- Những phóng sự ký tên Nhất Chi Mai
trong thời kỳ này, đều viết về vùng Hải Phòng, Moncay là nơi gia đình Thế Lữ cư
ngụ.
3- Giọng văn Nhất Chi Mai trong phóng
sự Buôn người, mang dấu ấn một nhà văn quen thuộc có bản lĩnh,
giọng của tác giả Vàng và Máu, Một đêm trăng.
4- Trên Phong Hóa số 125 (23-11-34), khi
thấy Thế Lữ vắng mặt, độc giả Lê Văn Bổng làm bài thơ hỏi: Thế Lữ ở đâu mà
không thấy có mặt trên Phong Hóa? Thế Lữ đã viết bài thơ dài Trả lời,
trong có hai câu:
"Tôi
muốn trốn cảnh phồn hoa đã chiếm
Mất lòng tôi,
tìm cho thấy bạn Ly Tao"
5- Bài viết Dâm hay
không dâm của Nhất Chi Mai, phê bình Lục xì của Vũ
Trọng Phụng, trong có câu: "Đọc xong một đoạn văn, tôi thấy trong
lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối".
Cách lập ngôn này, tôi đã thấy trong
bài Trên núi voi của Lêta (Thế Lữ), phê bình Lưu Trọng Lư:
"Đọc xong câu truyện ấy, tôi thấy nẩy ra hai ý tưởng" (Phong
Hóa số 91, 30-3-34); và xét về nội dung chỉ trích của hai bài, cũng thấy giống
nhau, dùng chữ mạt sát, coi thường.
6- Việc bút chiến của Tự Lực văn đoàn
với các tác giả khác, luôn luôn do ba cây bút trẻ: Hoàng Đạo, Thế Lữ và Thạch
Lam đảm nhiệm, họ không nhờ "người ngoài".
Nay thấy Vũ Trọng Phụng viết: Ông
Nhất Chi Mai Phạm Văn Bính, thì không biết thế nào?
Vũ Trọng Phụng là người cùng thời, tất
ông biết rõ hơn chúng ta? Nhưng sự cùng thời cũng không có gì bảo đảm, ví dụ:
Tú Mỡ không những cùng thời, và còn là thành viên của Tự Lực văn đoàn, mà ông
lại "tưởng" rằng Hoàng Đạo là anh Nhất Linh, và "quyết"
rằng: Nhất Linh theo Hitler, học cả cách ăn mặc và dáng điệu!
Phạm Văn Bính chỉ viết ít bài trên Ngày
Nay trong thời kỳ cộng tác với hội Ánh Sáng, có khoảng ba truyện ngắn Của
hồi môn (Ngày Nay số 40), Hai thế giới (Ngày Nay số
42), Năm xưa (Ngày Nay số 45), với lối viết nhẹ nhàng, chưa
sâu sắc, nhưng cho biết ông ở Huế, hoặc quê ở Huế. Và hai bài vận động cho
phong trào hướng đạo: Tiếng gọi thanh niên Việt Nam cần vào đoàn hướng
đạo (Ngày Nay số 45), và Hướng đạo một phương pháp giáo dục
hoàn toàn (Ngày Nay 52), cổ võ cho sự góp mặt của Hướng đạo sinh trong
phong trào Ánh Sáng.
Văn Phạm Văn Bính thật thà, chân chỉ,
như người mới tập viết văn:
"Dần
dần, trời sáng hẳn. Mặt trời lộ lên, chiếu xuống một ánh nắng ấm áp, dễ chịu.
Bến tầu mỗi lúc một đông hơn. Bọn phu "bát tê" lang sang đi lại, bàn
tán rộn rịp".
"Chiều
chiều, trên cầu Tràng Tiền, thiên hạ được trông thấy một đôi thiếu niên sánh
vai nhau đi hóng mát. Ai nấy cũng rầm rộ khen: "Tốt đôi thực! Vợ chồng
tiên!" (Của
hồi môn)
Khác hẳn với giọng văn điêu luyện, vũ
bão của Nhất Chi Mai:
"Những tiếng gió vi vút, gầm
thét trong hang, những tiếng hò não nuột của lũ chim đêm, những tiếng sóng dạt
dào, những cái bóng đen lù lù của đàn cá mập bơi theo, những cảnh tượng thâm u,
sầu thảm của trời nước, một đêm không có trăng sao, không đủ làm nao lòng bọn
"lái thán", bọn khách chuyên nghề chở người từ Haiphong ra Moncay." (Buôn
người)
Vì vậy, chúng tôi nghĩ, nếu có một cớ
nữa chứng minh Phạm Văn Bính là Nhất Chi Mai, từ một nguồn tin khác, ngoài Vũ
Trọng Phụng, thì đáng tin cậy hơn.
Nhất Linh
chấm dứt vai trò trong hội Ánh Sáng
Ngày 23-8-39, Toàn quyền Jules Brévié
hết nhiệm kỳ, về nước. Ông là một vị toàn quyền tương đối cởi mở, tuy không cho
tự do báo chí nhưng cũng không bóp nghẹt, ông đã để cho Ngày Nay được tương đối
tự do, trong hai năm rưỡi ông cầm quyền ở Đông Dương.
Về vấn đề dựng nhà Ánh Sáng, có thể nói
rằng: hoạt động nhà Ánh Sáng đã đình trệ sau khi Thống sứ Châtel về Pháp, Hội
Ánh Sáng chỉ còn quyên tiền giúp việc từ thiện mà thôi.
Chính trị Pháp cũng bước sang giai đoạn
mới để đối đầu với chiến tranh. Ở thuộc địa, kể từ năm 1939, phần "tự
do" do chính phủ Mặt trận Bình dân ban hành, bị thu hẹp lại, báo chí bị
kiểm duyệt gắt gao hơn, Ngày Nay bị cắt từng đoạn, từng trang, có khi cả bài và
vòng vây bắt đầu khép chặt chung quanh những người hoạt động cách mạng, từ Nam
ra Bắc.
Chương trình làm nhà Ánh Sáng ở thôn Voi
Phục, không thực hiện được. Cuối năm 1939, chiến tranh thế giới bùng nổ, các
lãnh đạo cách mạng bị lùng bắt, Nhất Linh phải trốn tránh, công trình Ánh Sáng
bị bỏ dở.
Nhìn lại sự điều hành tờ Ngày Nay trong
thời kỳ Ánh Sáng, ta thấy những mốc đáng chú ý sau đây:
Nhất Linh không có bài viết trên Ngày
Nay từ số 48 (28-2-37). Sáu tháng sau, ông xuất hiện lại và đọc diễn văn khai
mạc Hội Ánh Sáng ngày 16-8-37 tại nhà Hát Lớn Hà Nội, quy tụ đông đảo đủ mọi
giới, theo báo Ngày Nay số 73 (22-8-37), có tới 4000 hội viên tới dự, 2000 vào
được bên trong, 2000 phải ở ngoài hội trường.
Hơn một tháng sau, ông chính thức bỏ
chức Giám đốc Ngày Nay kể từ số 78 (26-9-37) và trở thành Sáng lập chủ
nhân, để Khái Hưng Trần Khánh Giư làm Giám
đốc từ số 80 (10-10-37), Thạch Lam Nguyễn Tường Lân, Quản lý.
Tuy nhiên, Nhất Linh vẫn viết tiểu thuyết: Hai tác phẩm lớn của ông là Đôi
bạn và Bướm trắng, được in trên Ngày Nay trong năm 1938 và
1940. Bướm trắng chắc được viết trong năm 1939, thời kỳ ông
phải trốn tránh.
Hội Ánh Sáng liên quan đến hoạt động
cách mạng của Nguyễn Tường Tam và Tự Lực văn đoàn như thế nào? Đó là một câu
hỏi.
Tác giả giữ bản quyền -
http://thuykhue.free.fr Ngay Nay - Nha AnhSang.doc trang 19/19.
Chú thích:
[1] Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[2] Từ số 51, 14-3-37 đến số 73,
22-8-37.
[3] Số 40 (27-12-36), lấy tên là Để
đi tới việc thành lập hội bài trừ những nhà "hang tối" Ánh Sáng, ý
kiến của độc giả. Từ số 41, rút gọn thành: Góp ý kiến về Ánh Sáng.
[4] Những bài Góp ý kiến về
Ánh Sáng được in trên Ngày Nay: số 41 (3-1-37), số 42
(10-1-37), số 43 (17-1-37) số 44 (24-1-37), số 45 (31-1-37),
số 47 (21-2-37), số 48 (28-2-37), số 49 (7-3-37), số 50 (14-3-37), số 51
(14-3-37), số 52 (28-3-37), số 53 (4-4-37), số 55 (18-4-37), số 57 (2-5-37), số
58 (9-5-37), số 59 (16-5-37), số 60 (23-5-37), số 61 (30-5-37), số 62 (6-6-37),
63 (13-6-37), số 64 (20-6-37), số 65 (27-6-37), số 67 (11-7-37), số 68
(18-7-37), số 69 (25-7-37), số 71 (8-8-37).
[5] Ngày Nay số 43, 17-1-37.
[6] Bài của Nhất Linh đăng trên Ngày
Nay số 74 (29-8-37). Bài của Phạm Văn Bính in trên Ngày Nay số 75 (5-9-37) và
số 76 (12-9-37). Bài của Hoàng Như Tiếp đăng trên Ngày Nay số 77 (19-9-37) và
số 78 (26-9-37).
[7] Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[8] Ngày Nay số 90 (19-12-37).
[9] Ngày Nay số 94 (16-1-38).
[10] Ngày Nay số 98 (20-2-38).
[11] Ngày Nay số 100 (6-3-38).
[12] Ngày Nay số 106 (17-4-38).
[13] Ngày Nay số 109
(8-5-38).
[14] Ngày Nay số 111 (22-5-38).
[15] Ngày Nay số 114 (12-6-38) và số
116 (26-6-38).
[16] Theo tin trên Ngày Nay số 143
(31-12-38), 144 (7-1-39), 145 (14-1-39) và 146 (21-1-39).
Các phong
trào tranh đấu hiện đại
Muốn hiểu rõ con đường tranh đấu của
Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn, chúng ta cần phải nhìn lại:
- Bối cảnh Việt Nam trong tranh đấu bí
mật và bạo động.
- Sự đàn áp của chính quyền thực dân.
- Cuộc cách mạng bất bạo động đầu tiên ở
Pháp và Việt Nam.
trước khi Tự Lực văn đoàn ra đời.
Bởi vì, trước khi chính phủ Bình dân lên
cầm quyền tại Pháp từ 1936 đến 1938, Đông Dương ở dưới sự cai trị tàn ác của
hai Toàn quyền Pierre Pasquier (1928-1934) và René Robin (1934-1936). Trước đó
Pasquier làm Khâm sứ ở Huế (1920-1927) và René Robin làm Thống sứ Bắc Kỳ
(1925-1930).
Đảng bí mật
hay Hội kín
Dưới thời Pháp thuộc, những năm 1920-40,
các phong trào tranh đấu, có thể xin ra báo, nếu không ở trong sổ đen, nhưng
không có quyền lập đảng. Họ thường bắt đầu bằng một tổ chức văn hoá, thí dụ
Việt Nam Quốc Dân Đảng:
Cuối năm 1925, ba thanh niên: Phạm Tuấn
Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân [Nhượng Tống] tổ chức Nam Đồng
Thư Xã, chuyên trước tác, dịch thuật và xuất bản sách thuộc loại ái quốc
như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách mạng thế giới, Chủ
nghĩa Tam Dân… Sau có thêm Nguyễn Thái Học, sinh viên trường Cao đẳng
Thương Mại, Phó Đức Chính, sinh viên trường Cao Đẳng Công Chính và Hồ Văn Mịch,
sinh viên trường Cao đẳng Sư Phạm, tham gia.
Năm 1925, Nguyễn Thái Học gửi cho Toàn
quyền Varenne hai bức thư đề nghị cải cách nền công thương Việt Nam và thành
lập một trường Cao đẳng Công nghệ ở Hà Nội, cùng với dự án giúp đỡ dân nghèo.
Nhưng không được trả lời.
Tháng 6-1927, Nguyễn Thái Học gửi đơn
lên Thống sứ Bắc kỳ xin phép xuất bản tờ nguyệt san tên là Nam Thanh để
phổ biến và nâng cao trình độ trí đức và thể dục của đồng bào ông, nhưng không
được nhà cầm quyền Pháp chấp nhận. Vì Nguyễn Thái Học ở trong tổ chức Nam
Đồng Thư Xã, nên đã bị ghi tên vào số đen của sở Mật thám Bắc kỳ.Nguyễn Thái HọcVào khoảng cuối tháng 10 năm 1927,
Nguyễn Thái Học triệu tập một phiên họp đưa ra ý định thành lập một đảng
bí mật, dùng võ lực để lật đổ chế độ thực dân, lập một chính thể Cộng
Hòa. Ngày 25-12-1927, với sự hiện diện của 36 đại biểu cho 14 tỉnh Bắc kỳ và Bắc
Trung kỳ, Việt Nam Quốc Dân Đảng được chính thức thành lập dưới quyền lãnh đạo
của Nguyễn Thái Học [1].
Và họ quyết định Tổng Khởi Nghĩa vào đêm 10 rạng ngày 11 tháng
2 năm 1930, thường được gọi là Khởi nghĩa Yên Bái, như
ta đã biết.
Trong thời kỳ hai năm Mặt trận
Bình dân cầm quyền tại Pháp (1936-1938), chính sách cai trị ở thuộc
địa cởi mở hơn, báo chí được "tự do" hơn, nên các phong trào cách
mạng ở Việt Nam cũng tương đối dễ thở hơn, nhưng họ vẫn chưa được quyền
chính thức lập đảng, mà chỉ hoạt động trong khuôn khổ những "hội
kín".
Phong Hóa và các báo thời đó như Hà
Thành ngọ báo, Phụ Nữ Tân Văn… thỉnh thoảng đưa tin những vụ bắt người thuộc
"hội kín". Dưới đây là một bản tin trong mục: "Những việc
chính cần biết trong tuần lễ", trên Phong Hóa số 18 (20-10-32):
"Vụ
bắt bớ ở Cẩm Giàng
"Có tin
báo và sau một cuộc dò la của sở Mật thám Hà Nội, đêm hôm 5 Octobre, liền có 12
thám tử Tây - Ta đi hai chiếc ô tô về huyện Cẩm Giàng. Hồi 12 giờ, đáng lẽ hai xe
đi thẳng tới huyện lỵ, nhưng Thám tử sợ lộ khó cho việc bắt bớ, nên lúc hai xe
đến Kẻ Sặt cách Cẩm Giàng hai cây số, thì các Thám tử cho xe đỗ lại và đi bộ
vào Cẩm Giàng. Lúc các Thám tử đến Cẩm Giàng thì đúng một giờ đêm. Lập tức 12
người bổ vây làng Bình Phiên, chiếu đèn "Pile" sáng rực, dở súng lục
thị oai, bắt được tất cả 10 người trai trẻ và ba ông cụ già.
Các nhà Thám
tử bắt những người đó rất dễ dàng, như bắt cá bỏ vào dọ [rọ], không ai chốn [trốn] được
hoặc chống cự gì cả. Ba ông già thì giao cho ông Huyện lấy cung rồi giải về Hải
Dương, còn 19 người kia đưa về sở Mật thám chiếu sổ còn sót một người tên là
Cai Sơ thì các nhà chức trách yêu cầu ông Huyện bắt cho được. Ba giờ đêm hôm đó
ông Huyện đã bắt được Cai-Sơ, đến sáng 6 Octobre ông Huyện cho lính giải ngay
lên nộp sở Mật thám nốt.
Bắt được chi
bộ 23 người này, thì nhờ đó mà khám phá ra còn được nhiều người nữa; hồi 12 giờ
đêm [mấy chữ in
không rõ] Mật thám lại phái các Thám tử về huyện Chí Linh cách tỉnh lỵ
hai mươi tám cây số về mạn Đông Triều, bắt được sáu người nữa, nhưng xét ra có
bốn người "đích" còn hai người vô can thì được tha, bốn người đó cũng
bị đưa lên giam tại sở Mật thám. Lại 5 giờ chiều sáng hôm thứ bảy 8 Octobre sở
Mật thám lại có cuộc bắt bớ ở huyện Kim Thành làng Lại Vụ. Lần này bắt được có
hai người, hiện cũng đưa về sở Mật thám.
Thế là cả ba
nơi Cẩm Giàng, Chí Linh, Lại Vụ bắt được gần 30 người rồi, sở Mật thám tra xét
lấy cung đã giải về Hải Dương. Lúc giải hai mươi ba người ở Ga về có đem vào
trình quan Chánh Sứ Romanetti nhận và hạ lệnh tống giam vào Đề lao. Còn bốn người
ở bãi Chí Linh, hai người ở Lại Vụ thì tra xét chưa xong.
Trong chi bộ
bị bắt có một người rất quan trọng mà bấy lâu sở Mật thám truy nã mãi chưa bắt
được; ấy là Khóa Vác. Khóa Vác là người đã từng bị án về hội kín và bị giam ở
Thái Bình, nhưng bày mưu lập kế hắn lại vượt ngục chốn "biệt".
Bản tin trên đây không những rõ ràng mà
còn đi quá phạm vi thông tin, như để báo động cho những người trong hội
kín biết tình hình trầm trọng ở Cẩm Giàng (nơi gia đình Nguyễn Tường
cư ngụ) và cho thấy Phong Hóa có "tay trong" nên mới rõ từng chi tiết
các việc vây bắt của Mật vụ. Đồng thời cho biết không khí bắt bớ những năm ba
mươi, thế kỷ trước.
Những tay sai
thực dân - Không khí bắt bớ những năm ba mươi
Vụ bắt bớ quy mô này nằm trong vùng Thái
Bình, Hải Dương và Hải Phòng, là địa bàn hoạt động của hai tên tuổi nổi tiếng
Vi Văn Định, tổng đốc Thái Bình và Cung Đình Vận, tri huyện Vĩnh Bảo. Cung Đình
Vận được cử lên thay thế Hoàng Gia Mô (bị Việt Nam Quốc Dân Đảng ám sát hồi
tổng khởi nghĩa 1930, xem chương 80 Quan Thánh, Phần II), đều là
những người khét tiếng tàn ác.
Khái Hưng viết về nhân vật Cung Đình
Vận, sau khi thay thế Hoàng Gia Mô:
"Mấy tuần lễ sau, vì không bắt
được Trần Quang Diệu bọn thực dân Pháp sai viên huyện Vĩnh Bảo Cung
Đình Vận về làng đào mả ông tú Cư, thu cốt bỏ vào cái tiểu sành, rồi trói đem
về giam tại huyện lỵ" [2]
Trần Quang Diệu, là đảng viên Việt Nam
Quốc Dân Đảng, người tổ chức bắt và xử tử Hoàng Gia Mô. Ông bị Hội Đồng Đề Hình
Hải Dương, xử chém, cùng ba đồng chí: Vũ Văn Giáo, Trần Nhật Đồng và Nguyễn Văn
Phúc, ngày 23-6-1931. Ông tú Cư là cha Trần Quang Diệu.
Báo Phong Hóa số 173 (7-2-36) có bài
viết ngắn về Cung Đình Vận, nói rõ cách thăng tiến của viên quan này:
"Chắc ai
cũng biết tiếng ông Cung Đình Vận. Ông là một ông bố chánh, vẫn có danh là ông
"phủ bơi" (…) vì ông ấy đã bơi trong bể hoạn một cách nhanh chóng nữa:
không mấy lúc mà ông ta đã bơi được từ chức tri huyện cho tới chức bố chánh
vậy.
Gần đây, một
đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, tên Phạm Thượng Trợ, là người đã cùng Nguyễn
Thái Học và 30 bạn đồng chí đem ba chiếc thuyền định đến phá đồn Phả Lại, và bị
Hội Đồng Đề Hình ở Hải Dương kết án vắng mặt phải lưu chung thân, lẻn về thăm
nhà hôm ba mươi Tết, bị thám tử riêng của ông Cung Đình Vận dò biết. Thám tử
bèn phi báo cho ông Vận, ông Vận tức tốc chuyển thần lực đem lính tráng về làng
Lang Can, bắt được ông Trợ giữa lúc giao thừa".
Cung Đình Vận bị Việt Minh xử tử năm
1945.
Sau khi dội bom Cổ Am để trả thù việc
giết Hoàng Gia Mô, Robin, lúc đó là Thống sứ Bắc kỳ, gửi điện tín cho công sứ
cho các tỉnh:
"Làng Cổ
Am, thuộc tỉnh Hải Dương, chứa bọn giặc giết ông huyện Vĩnh Bảo, đã bị phi đội
Hà Nội dội bom. Các ông phải quảng bá rầm rộ việc này và nói thêm rằng bất cứ
làng nào dám làm như thế sẽ bị trừng trị thẳng tay." [3]
Không khí thanh trừng xảy ra trên địa
hạt toàn quốc, nhất là ở miền Nam, trên nguyên tắc là "đất Pháp" (vì
là thuộc địa Pháp 100%), tức là phải được hưởng quyền "công dân" của
Pháp!
Phong Hóa số 19 (27-10-32), đăng tin:
"Sở Mật thám bắt 70 người Hội
Kín. Sài Gòn - Sở Mật thám đã khám phá hai chi bộ hội kín ở Cầu Kho và Chợ Quán
(…) Chủ nhật vừa rồi vào khoảng 6 giờ sáng sở mật thám đến một căn nhà ở đường
Grimaud thì lúc đang sắp nhóm, lính tới thình lình nên không một đảng viên nào
trốn thoát: Thầy giáo Long cũng ở trong số những người bị bắt".
Phong Hóa số 26 (16-12-32) đăng tin nhóm
Troskyste ở Sài Gòn bị bắt (M. Chánh, M. Phương, Lê Văn Thử, Nguyễn Văn
Nghiệp…).
Phong Hóa số 27 (23-12-32) loan tin một
người hội kín ở Tàu về bị bắt, vì "người này đã làm môi giới cho các
đảng viên hội kín" (tức là sang Tàu liên lạc với các đảng viên Quốc
Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch).
Nguyễn An Ninh bị bắt nhiều lần cũng vì
tội "lập hội kín Nguyễn An Ninh", "âm mưu phá rối cuộc
trị an".
Và đến khi Nhất Linh "làm cách
mạng", tức là ra lập đảng Hưng Việt năm 1938, bà Nguyễn Thị Thế cũng chỉ
biết anh mình vắng mặt vì đi lập hội kín.
Hội Đồng Đề
Hình, một tòa án thời Trung Cổ
Hội đồng Đề Hình được Hoàng Đạo, trong
một bài viết, gọi là "quái thai của chế độ dân chủ". Nhà phê
bình Vũ Ngọc Phan đã ghi rõ thành tích của Hội đồng này, trên báo Ngày
Nay kỷ nguyên mới số 2 (12-5-45), dưới cái tựa rất dài sau đây:
"Chính sách khai hóa bằng súng
đạn - Trong ba năm (từ cuối năm 1929 đến năm 1933) bọn cầm quyền Pháp đã giết bao
nhiêu dân quê Việt Nam trong các cuộc biểu tình và đã tuyên bao nhiêu án tử
hình và khổ sai đối với các nhà cách mệnh Việt Nam để đàn áp phong trào bài
Pháp?
Công việc của
Hội Đồng Đề Hình".
Về Hội Đồng Đề Hình, Vũ Ngọc Phan trong
chú thích cho biết: Hội Đồng Đề Hình lập ra bởi sắc lệnh ngày
26-11-1896 của Pháp để xử những việc phản đối người Pháp hay làm hại đến chính
sách thực dân của Pháp. Hội Đồng gồm có:
Một viên chủ
tịch là một viên quan cai trị Pháp.
Hai viên bồi
thẩm (một viên quan tòa Pháp và một viên võ quan Pháp).
Người bị kết
án chỉ có quyền chống lên Hội Đồng Bảo Hộ (Conseil du Protectorat), nếu bị bác,
án sẽ bị thi hành ngay.
Và dưới đây là bài viết của Vũ Ngọc
Phan:
"Trong 3
năm: 1.100 người Việt Nam [4] bị kết án. Những án ấy chia ra
như sau này:
112 án tử
hình;
229 án khổ
sai chung thân, đày chung thân và chung thân cấm cố;
250 án 20 năm
khổ sai và cấm cố;
36 án 15 năm
khổ sai và cấm cố;
25 án 10 năm
khổ sai và cấm cố;
130 án từ 5
đến 8 năm khổ sai và cấm cố;
318 án từ 2
tháng đến 4 năm tù.
Nếu kể mỗi án
khổ sai chung thân là 40 năm, thì trong có 3 năm trời, ngoài 112 án tử hình,
Hội Đồng Đề Hình Pháp đã tuyên thêm được những án tổng cộng là 15.913
năm vừa khổ sai, vừa đày vừa cấm cố [do Vũ Ngọc Phan in đậm], để đàn áp
phong trào ái quốc của người Việt Nam.
Trong ba năm
ấy, người Pháp lại dùng bom và súng liên thanh để giải tán các cuộc biểu
tình, tổng số dân quê Việt Nam bị người Pháp giết trong các cuộc hội
họp ấy là 1.320 người, chưa kể số người chết ở các làng bị triệt hạ bằng
phi cơ oanh tạc.
Vì không có
chỗ để giam cầm (Theo lời khai của viên thiếu tá Pháp Lambert khai trước Tòa án
Hà Nội ngày 12-6-1933, thì các ngục thấy đông tù phạm quá, Robin đã dặn miệng
rằng: "Giết bới đi!") nên năm 1931, tàu Martinière của
Pháp phải đưa 538 chính trị phạm ở miền Bắc Việt Nam sang Inini [Guyane]. Năm 1933, tàu Forbin của
Pháp lại phải đưa 1.800 người Việt Nam [5] nữa
bị án khổ sai chung thân sang Guyane.
(Phí tổn về
hai chuyến hết 10 triệu Phật lăng, ngân sách Đông Dương phải chịu).
Tính đến năm
1933, ở Côn Lôn có 3.000 người Việt Nam bị giam cầm, trong số này hơn một phần
ba là chính trị phạm, về mỗi người chỉ chi phí mỗi ngày là 0đ47 là cùng (theo
nghị định năm 1933 của viên toàn quyền Pháp ở Đông Dương).
Ta cũng lại
nên nhớ rằng về sự tận tâm với người Pháp trong công cuộc đàn áp thì có ông
Tổng đốc Thái Bình và ông Tổng đốc Nghệ Tĩnh hồi đó là nổi tiếng hơn cả".
Hai ông Tổng đốc nổi tiếng mà Vũ Ngọc
Phan nói đến trên đây là:
- Vi Văn Định, Tổng đốc Thái Bình
(1929-1937) rồi Tổng đốc Hà Đông (1937-1941), có công truy nã các đảng viên
Việt Nam Quốc Dân Đảng và Cộng Sản.
Theo Hoàng Văn Đào: "Mỗi khi bắt
được một đảng viên VNQDĐ, Vi Văn Định liền ra lệnh đốt nhà, rồi bắt người về tra
tấn rất dã man. Tú tài Nguyễn Đức Triệu 84 tuổi, chi bộ trưởng chi bộ Phụ Dực
bị Vi Văn Định dùng chầy giã giò tra khảo đến bỏ mạng" [6].
Thủ bút của Nguyễn Hữu Đang ghi: "Cuối
năm 1930, bị tổng đốc Vi Văn Định (tay sai của đế quốc) bắt, tra tấn và giam
giữ hai tháng rưỡi ở nhà lao thị xã Thái Bình" [7].
Lúc đó Nguyễn Hữu Đang mới 17 tuổi.
Hoàng Văn Đào cho biết thêm về Hội Đồng
Đề Hình (tuy thành lập theo sắc lệnh ngày 26-11-1896, để xử các vụ án chính
trị, nhưng không mấy khi hoạt động): Khi Pasquier làm Toàn quyền [năm 1928],
ông thiết lập lại để xử Việt Nam Quốc Dân Đảng. Hội Đồng Đề Hình có thể thiết
lập ở bất cứ đâu, chỉ với một viên chức đầu tỉnh, như Công sứ và vài người phụ
thuộc.
"Toàn quyền Pasquier ký nghị
định thiết lập Hội Đồng Đề Hình (Commission Criminelle) để xét xử VNQDĐ. Thành
phần Hội Đồng Đề Hình gồm có:
Chánh Hội
Đồng: Brides, thanh tra hành chính, chính trị Bắc Việt [8]
Ủy viên:
Nicolas, Biện lý.
Ủy viên:
Delsalle, Đốc lý Hà Nội.
Ủy viên:
Guet, Đại úy
Thông ngôn:
Hoàng Hữu Phương.
Lục sự:
Arnoux Patrick;
Hội Đồng Đề
Hình làm việc ngay trên tầng lầu ngục thất Hỏa Lò, Hà Nội, nơi phòng giam cụ
Phan Sào Nam hồi trước đây [1925]. Số đảng viên VNQDĐ dần dần bị bắt giam
lên tới con số 227 người. (…) Riêng số đảng viên thuộc tỉnh đảng bộ
tỉnh Hưng Yên, Hội Đồng Đề Hình đặc ủy cho tuần phủ tỉnh ấy là Vi Văn Định được
cứu xét. Họ Vi dùng chó bẹc-giê Đức cùng số lính dõng [9] người
Thổ tra tấn một cách vô cùng khủng khiếp, nên số đảng viên tỉnh Hưng Yên đã bị
bắt nhiều nhất, còn các tỉnh khác, các Trung Ủy đã cố sức chịu đòn, không chịu
cung khai, Hội Đồng Đề Hình không tìm ra manh mối, nên giữ được an toàn" [10]
Vi Văn Định làm tuần phủ Cao Bằng
(1921-1922), tuần phủ Phúc Yên (1923-1927), tuần phủ Hưng Yên (1927-1929), có
lẽ công việc ông làm ở Hưng Yên, đã khiến ông được thăng Tổng đốc Thái Bình
(1929-1937). Ông đúng là người đắc lực giúp Toàn quyền Pasquier tiêu diệt Việt
Nam Quốc Dân Đảng ở ngoài Bắc.
- Tôn Thất Đàn, làm Tổng đốc Nghệ An - Hà
Tĩnh (1922-1927) rồi về kinh làm Thượng thư bộ Hình; năm 1930, ông được cử làm
Tổng đốc Nghệ Tĩnh trở lại để "dẹp loạn Cộng sản". Vũ Ngọc Phan viết
rằng: "về sự tận tâm với người Pháp trong công cuộc đàn áp thì có ông
Tổng đốc Thái Bình và ông Tổng đốc Nghệ Tĩnh hồi đó là nổi tiếng hơn cả",
nhưng ông Tôn Thất Đàn có viết tập hồi ký thanh minh việc này, xin xem
tài liệu sau đây: https://www.diendan.org/,
mà giáo sư Hoàng Dũng vừa chuyển cho chúng tôi.
Người Việt
chưa có quyền tự do lập đảng
Chữ Hội kín để chỉ các
đảng phái bí mật hồi đó, vì người Việt chưa có quyền tự do lập đảng.
Trong mục Tuần Lễ Một, có
bài Tự do lập đảng (Ngày Nay số 83, 31-10-37), Hoàng Đạo viết
rất rõ về vấn đề này và ông mong từ nay, những vụ án lập hội kín, sẽ không còn
xảy ra nữa. Dưới đây là nội dung toàn bài:
"Ông
Giám đốc Nha Tư Pháp Đông Dương mới gửi cho các ông Chưởng lý một tờ thông tư
rất quan trọng, ảnh hưởng sẽ rất lớn lao về phương diện chính trị.
Trong tờ
thông tư ấy, ông Giám đốc có ra ra lệnh từ nay các ông biện lý, các ông chánh
tòa và các ông công sứ sung chức chánh tòa không được dựa vào điều 91 luật hình
thêm thắt riêng cho người Nam mà truy tố những người có chân trong đảng Cộng
sản hoặc lập thành một tiểu tổ Cộng sản.
Vậy từ nay,
những vụ án "lập hội kín", "âm mưu rối cuộc trị an" sẽ
thuộc về quá khứ, một quá khứ nặng nề. Và nếu đảng Cộng sản đã được công nhiên
coi như một đảng hợp với pháp luật, thì những đảng khác lý do cũng có thể công
nhiên thành lập được. Nghĩa là từ nay, ta đã có quyền tự do lập đảng.
Nhưng… có
đảng tức là có hội. Mà hội muốn thành lập cần phải chính phủ cho phép, theo đạo
chỉ dụ năm 1933. Vậy nếu lập đảng, nghĩa là lập hội, mà không xin phép, sẽ là
trái luật: nghĩa là từ nay ta vẫn chưa có quyền tự do lập đảng vậy.
Trước cái
tình thế mập mờ nửa tối nửa sáng này, dân chúng thật đã khó tìm được lối đi.
Vậy muốn lối đi được quang đãng, không có gì hơn là Chính phủ Bình dân tuyên
hành một cách minh bạch sự tự do lập đảng ở Đông Dương và hủy bỏ đạo chỉ dụ
phản động năm 1933"
Bài này nói rõ thực trạng pháp luật năm
1937:
Ông Giám đốc nha Tư pháp ra lệnh cho các
ông tòa, "không được dựa vào điều 91 luật hình thêm thắt riêng cho
người Nam mà truy tố những người có chân trong đảng Cộng sản hoặc lập thành một
tiểu tổ Cộng sản". Tuy Hoàng Đạo không nói rõ điều 91 luật hình
sự thêm thắt vào cho người Nam là gì, nhưng ta cũng có thể đoán rằng: người
Việt không có quyền lập đảng, và vào đảng như đảng cộng sản thì bị truy tố
trước pháp luật.
Hoàng Đạo cũng nói thẳng: Nếu Chính phủ
Bình dân công khai tuyên bố cho tự do lập đảng và bãi
bỏ chỉ dụ 1933, thì ta mới có quyền tự do lập đảng.
Nhưng cho đến khi toàn quyền Brévié về
Pháp (1939), không thấy có chỉ dụ mới nào về việc này. Và cuối năm 1939, hầu
hết những nhà cách mạng chủ trương hội kín, đều bị truy lùng và bị
bắt.
Cũng phải nói thêm rằng Phan
Thanh vào Đảng Xã hội Pháp. Nhiều người viết tiểu sử Phan Thanh sau này,
ghi ông là đảng viên đảng Cộng sản, vì không hiểu rõ vấn đề: hồi đó đảng Cộng
sản còn ở trong bí mật. Nếu Phan Thanh là đảng viên đảng Cộng sản, thì ông bị
bắt ngay chứ không thể ra hội trường hùng biện bênh vực quyền lợi cho dân chúng
như ông đã làm. Và ông cũng không thể là nghị viên của Viện Dân Biểu Bắc Kỳ
(Bắc kỳ Nhân dân Đại biểu Viện - Chambre des Représentants du Peuple de
Tonkin).
Dân chúng
thuần thục dưới ách đô hộ
Dân chúng, sau nhiều thập kỷ bị nhiễm
độc bởi những sách lịch sử do thực dân viết ra rồi người Việt chép lại, đều đổ
trách nhiệm cho triều Nguyễn với chính sách cấm đạo mà ta "mất nước".
Trong những bài học lịch sử mà kẻ viết bài này được học, không có một chương
nào, dù chỉ một chương thôi, bàn về chủ trương đánh chiếm thuộc địa
của người Âu, từ thế kỷ XVI, để liên lạc việc ấy với việc Việt Nam "mất
nước" và chính sách của thực dân Pháp là chính sách mà người da trắng đi
cướp thuộc địa áp đặt trên các xứ da màu, từ Phi đến Á.
Vì vậy, những bài viết của Hoàng Đạo là
cần thiết: phải trình bày cho người dân biết nguồn cội của sự mất nước, biết
bản chất của chế độ thực dân, biết lịch sử chiếm hữu thuộc địa của người Âu
trên các châu khác, để đưa dân ta ra khỏi tình trạng dốt nát, khỏi thế thụ
động và tự ti của con người bị đô hộ trong ba phần tư thế kỷ, chỉ biết
lặp lại những gì mẫu quốc dạy bảo.
Sau các cuộc thanh trừng của Pasquier và
Robin với sự trợ giúp của những tay sai đắc lực trong đám quan trường, các phong
trào cách mạng hầu như tan rã hết.
Đến năm 1937, xã hội Việt Nam đã quen với
chế độ thực dân, đã thuần rồi, nhiều người tưởng mẫu
quốc là nước mẹ thật, được phục vụ mẫu quốc là vinh quang, là bổn
phận.
Trường hợp Tổng đốc Vi Văn Định là một
điển hình: Hoàng Đạo chỉ viết có một bài chế giễu ông ta mà báo Phong Hóa bị
đình bản ba tháng. Với tội ác không thể chối cãi được, nhưng Vi Văn Định vẫn
được "kính nể", thậm chí các thanh niên con nhà gia thế, nổi tiếng
học giỏi, như Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, không ngần ngại theo
nhau xin làm con rể, cháu rể ông, bởi vì người Việt đã "thuần thục"
rồi chăng? Việc tiếp tay với thực dân tiêu diệt các phong trào cách mạng được
một số người cho là phải, là "đích đáng" chăng? Khó có thể hiểu được.
Trong tình trạng ấy, ta không còn có thể
viết Lưu cầu huyết lệ thư như Phan Bội Châu, để kêu gọi lòng
yêu nước của toàn dân; cũng không thể viết Đầu Pháp chính phủ
thư, như Phan Châu Trinh, dùng lời lẽ hạ mình với Pháp mà "ngoa
ngoắt bôi nhọ quốc dân và quan lại" theo nhận định của
Hoàng Xuân Hãn [11],
để lên án gắt gao triều đình Huế.
Bởi buộc tội triều đình là sai, vì triều
đình do viên Khâm sứ lãnh đạo, và ta lại biết chắc, việc đánh chiếm thuộc địa
là chính sách toàn cầu của người da trắng trong nhiều thế kỷ và sự cai trị dã
man của thực dân là do một số Toàn quyền tàn ác, liên kết với bọn quan
lại dã man tay sai thực dân mà ra. Chủ trương Pháp Việt đề huề của Phan
Châu Trinh thực ngây thơ, nếu không muốn nói là lầm lẫn vì ông tin vào sự
"thành thật" của thực dân Pháp.
Ta cũng không thể kêu gọi dân đi biểu
tình, cắt tóc, chống thuế, xin xâu nữa, những phương pháp ấy được phong trào
Duy Tân dấy lên hồi 1908 ở miền Trung, đảng Cộng sản Đông Dương thực hiện năm
1930 ở Nghệ An, Hà Tĩnh, và đã phải chịu những đàn áp đẫm máu. Hoặc cầu cạnh sự
khoan hồng của chính phủ Pháp như Phan Châu Trinh đã làm trong nhiều năm ở Pháp
cũng vô hiệu.
Phan Văn Trường, nhà cách mạng cầm đầu
nhóm Ngũ Long, đã hết sức giúp Phan Châu Trinh khi ông đến Pháp, sau này ghi
lại trong hồi ký:
"Vị nhân
sĩ này [Phan Châu
Trinh] tượng trưng cho xã hội Annam xưa. Ông ra vào văn phòng của Bộ
Thuộc Địa như một nhân vật được ưu ái tín nhiệm (personna gratta), ông trình
bày những quan điểm chính trị, đặc biệt xin ân xá cho những người bạn cùng cảnh
ngộ còn ở trong tù, nhưng không bao giờ ông nhận được trả lời ngoài sự im lặng
khinh bỉ. Sự chăm sóc hời hợt của chính quyền thuộc địa lúc đầu,
lạnh dần để cuối cùng chuyển sang ác cảm và thù nghịch" [12].
Nguyễn An Ninh, khi trở lại Pháp năm
1925 để đón Phan Châu Trinh về nước, cũng đã bực bội than: ổng chả chịu
học tiếng Pháp gì cả. Ở Pháp mười lăm năm mà không học tiếng Pháp. Hơn một
tháng giời trên tàu thủy ổng chỉ ôm mấy cuốn sách chữ nho. Phan
Châu Trinh còn phản đối cả việc nhóm trẻ viết bài chống Pháp ký tên Nguyễn Ái
Quốc, cho là vô bổ. Ông không thể hiểu vấn đề dân chủ một cách tường tận qua
những tân thư của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, bằng những nhà tân học, tiếp
nhận dân chủ, nhân quyền, qua các triết gia thời kỳ Ánh Sáng của Pháp.
Ở thời điểm 1937, thế giới đã tân tiến
lắm. Sự tranh đấu cũng phải mô-đéc: Phải tranh đấu công khai bằng ngòi
bút, trên báo. Và như vậy phải có tài viết và có kiến thức sâu rộng về
những việc đem ra luận bàn.
Hình thức tranh đấu này, đã bắt đầu từ
năm 1912, tại Pháp với Phan Văn Trường, thủ lãnh nhóm Ngũ Long, cùng với Phan
Châu Trinh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí
Minh sau này.
Tranh đấu
hiện đại: Phan Văn Trường và nhóm Ngũ Long
Sau khi các phong trào tranh đấu của
nhóm cựu học Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Đông Kinh Nghĩa Thục… thất bại, cuộc
tranh đấu hiện đại bắt đầu với Phan Văn Trường (1878-1933), từ năm 1912, tại
Pháp với Hội Đồng Bào Thân Ái do ông sáng lập.
Nhưng phong trào cách mạng bất bạo động
này, cho đến nay, rất ít người Việt Nam biết đến. Chúng tôi đã viết về hoạt
động của Phan Văn Trường và nhóm Ngũ Long trong cuốn Nhân văn Giai phẩm
và vấn đề Nguyễn Ái Quốc [13],
ở đây chỉ xin tóm tắt những yếu tố chính:
Phan Văn
Trường sinh
năm 1878, tại làng Đông Ngạc, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), học trường Dòng,
trường Thông Ngôn, rồi làm phán sự ở Tòa sứ. Năm 1908, đậu vào ngạch tham tá,
được gửi sang Paris làm giáo sư phụ giảng tiếng Việt tại trường Ngôn Ngữ Đông
Phương và học Luật. Nhập quốc tịch Pháp năm 1911, cùng năm này, Phan Châu Trinh
và con trai được chính quyền bảo hộ chấp nhận cho sang Pháp.
Năm 1912, Phan Văn Trường đỗ cử nhân
luật, vào luật sư đoàn, tập sự tại tòa Thượng thẩm Paris, và bắt đầu đấu tranh
chống Pháp.
Năm 1912, Phan Văn Trường lập Hội
Đồng Bào Thân Ái tại Paris; cùng với Phan Châu Trinh, là hội người
Việt Nam yêu nước đầu tiên tại hải ngoại. Phan Văn Trường luôn luôn đi kèm và
dịch cho Phan Châu Trinh. Ông sửa và dịch bản Trung Kỳ dân biến thỉ
mạt của Phan Châu Trinh sang tiếng Pháp, gửi cho Hội Nhân Quyền, nội
dung trình bày với chính phủ Pháp nỗi khổ của người dân Trung kỳ, vì sưu cao
thuế nặng, phải nổi lên chống lại và đã bị đàn áp; mong chính phủ Pháp vì từ
tâm, nghĩ lại, áp dụng chính sách khoan hồng. Bài này Phan Văn Trường gửi đăng
báo của Hội Nhân Quyền ngày 31-10-1912, và ông chuyển đến Bộ Thuộc địa ngày
25-9-1912. Đầu năm 1913, toàn quyền Albert Sarraut hứa thả dần tù nhân chính
trị trong vụ Trung Kỳ dân biến.
Nhưng biện pháp trừng phạt Phan Văn
Trường cũng bắt đầu: Trường Ngôn Ngữ Đông Phương được lệnh phải sa thải ông, và
gia đình ông ở Hà Nội trực tiếp bị liên lụy: Thừa dịp Quang phục hội (của Phan
Bội Châu) ném bom giết chết hai sĩ quan Pháp tại Hà Nội tháng 3-1913, mật thám
bắt anh em Phan Văn Trường: Phan Tuấn Phong (anh cả) và Phan Trắc Cư, con trai
13 tuổi, cùng Phan Trọng Kiên (em). Tìm thấy thư từ liên lạc với ông Trường,
hai ông Phong và Kiên bị kết án chung thân biệt xứ vì tội "giết
quan tư Chapuis và Montgrand", bị đày sang Nouvelle Calédonie
cùng với Cư, 13 tuổi.
Ngày 13-3-1914, Phan Văn Trường diễn
thuyết tại trường Cao đẳng Xã hội (École des Hautes Études Sociales), đề
tài: Thỉnh nguyện của người bản xứ (Les revendications
indigènes), phê phán chính sách thực dân từ nguồn cội, thời La Mã đã đi chinh
phục các nước khác; bài diễn thuyết này làm phe thực dân nổi giận, và cũng là
bài mở đầu cho bản Thỉnh nguyện của dân tộc Annam (Les
revendications du peuple annamite), ông sẽ thảo năm 1919, năm năm sau.
- Tháng 9-1914, Phan Văn Trường và Phan
Châu Trinh bị bắt vì tội "quấy rối trị an", bị tù đến tháng
7-1915. Hội Đồng Bào Thân Ái bị giải tán.
Ra tù, Phan Văn Trường được gửi xuống
công binh xưởng Toulouse làm thông dịch viên cho lính thợ, ông cùng anh em Nguyễn
Thế Truyền (lúc đó Truyền đang học kỹ sư hóa học), đều là sinh viên: Nguyễn Thế
Song (em), Nguyễn Thế Phu (chú) Nguyễn Thế Tắc (em họ) tổ chức nhóm An
Nam Yêu Nước với những sĩ quan và hạ sĩ quan người Việt, tại Toulouse.
Năm 1918, Nguyễn An Ninh sang Pháp và
tháng 6-1919, Nguyễn Tất Thành, từ Anh sang Paris, cùng nhập tổ chức. Họ được
gọi là nhóm Ngũ Long, gồm có: Phan Văn Trường, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thế
Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành, thường hội họp ở nhà Phan Văn
Trường, số 6 villa des Gobelins, Paris 13.
- Tháng 6-1919, Phan Văn Trường viết
bản Les revendications du peuple annamite (Thỉnh nguyện của
dân tộc Annam) giao cho Nguyễn Tất Thành đem đến Hội nghị Hòa bình đang họp
tại Versailles. Ngày 18-6-1919, bản thỉnh nguyện được đăng trên báo L’Humanité,
dưới tựa đề: Les droits des peuples (Quyền của các dân tộc);
nội dung yêu cầu tám điểm:
1- Đại xá tất
cả tù binh chính trị bản xứ.
2- Cải tổ
luật pháp Đông Dương: bảo đảm quyền lợi cho người bản xứ như người Âu.
3- Tự do báo
chí và tự do tư tưởng.
4- Tư do lập
hội và hội họp.
5- Tự do di
dân và du lịch ra nước ngoài.
6- Tự do giáo
dục và xây dựng trường kỹ thuật và thực nghiệp cho người bản xứ ở các tỉnh.
7- Thay thế
chế độ pháp lý.
8- Có đại
diện dân biểu bản xứ ở nghị viện Pháp.
Ký tên: Thay mặt nhóm An Nam Yêu
Nước, Nguyễn Ái Quấc.
Đây là văn bản đầu tiên của
người Việt đòi tự do dân chủ, gửi đến chính quyền Pháp và Đồng
minh, được báo chí chống thực dân hỗ trợ, gây tiếng vang lớn.
Kể từ mùa thu năm 1919, nhóm An
Nam Yêu Nước có cột thường trực trên các báo cánh tả ở Paris, ban đầu
ký tên Nguyễn Ái Quấc, sau đổi thành Nguyễn Ái Quốc, viết những bài ngắn đả
kích chế độ thực dân dưới dạng châm biếm, do Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền
và Nguyễn An Ninh là ba người giỏi tiếng Pháp, thay nhau viết, đặc biệt giọng
Nguyễn Thế Truyền rất hóm hỉnh. Độc giả rất thích. Đồng thời họ thay phiên nhau
diễn thuyết tại các diễn đàn tự do khu La tinh, chủ đích đánh vào lòng tự hào
của dân tộc Pháp, kêu gọi người Pháp bãi bỏ chính sách thực dân. Trong thời kỳ
này Phan Văn Trường bị Albert Sarraut, lúc đó đã về Pháp, tìm mọi cách truy
bách. Nhưng sự tranh đấu trên đất Pháp, không mang lại kết quả thực tiễn, phe
thực dân vẫn thắng thế, lại không đánh động được dư luận trong nước. Họ bèn tìm
cách khác:
- Nguyễn An Ninh về nước năm 1922, lập
báo La Cloche fêlée (Chuông rè) ở Sài Gòn.
- Phan Văn Trường về nước năm 1923, lập
báo L’Annam ở Sài Gòn.
- Nguyễn Tất Thành đi Nga năm 1923, ông
còn dùng tên Nguyễn Ái Quốc trong một thời gian trước khi lấy các bí danh khác.
- Phan Châu Trinh về nước năm 1925. Mất
năm 1926, tại Sài Gòn.
- Nguyễn Thế Truyền ở lại, tiếp tục hoạt
động tại Pháp.
Phan Văn Trường về nước làm báo La
Cloche fêlée cùng Nguyễn An Ninh, sau mở rộng với nhóm đệ tứ Tạ Thu Thâu, ra
báo L’Annam năm 1926. Ông bị kết án 2 năm tù vì báo L’Annam đăng bài kêu gọi
hội Quốc Liên đòi quyền độc lập cho Việt Nam [14],
và cổ động làm lễ truy điệu Lương Văn Can. Năm 1928, ông sang Paris chống án.
Tòa phá án y án, Phan Văn Trường vào tù tháng 6-1929, luật sư Marius Moutet,
bạn ông, vận động ân xá, được trả tự do, tháng 2-1930, ông trở về Sài Gòn, lúc
đó Nguyễn An Ninh đã bị tù lần thứ hai và toàn quyền Pasquier đang đàn áp đẫm
máu Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Phan Văn Trường
phải ngừng hoạt động, mở phòng cố vấn pháp luật. Năm 1933, ông ra Bắc thăm gia
đình và mất tại Hà Nội vì bệnh ung thư gan.
Báo Phong Hóa số 44 (28-4-33), đăng tin
buồn, dè dặt, mà đầy ý nghĩa:
"Cụ Phan
Văn Trường tạ thế chiều hôm 22 Avril tại phố Gambetta số nhà 25. Năm nay cụ 58
tuổi. Theo như lời dặn cuối cùng của cụ, đám tang sáng hôm 23 cử hành một cách
rất đơn giản và tuy tang gia không báo tin buồn, không gửi giấy cáo phó mà
người đi đưa đám cũng đông lắm. Linh cữu cụ an táng tại làng Sét thuộc huyện
Thanh Trì.
Phong Hóa
đồng nhân xin có lời trân trọng kính viếng cụ và chia buồn cùng tang gia".Phan Văn Trường, Ngày Nay số 9 trang 7Hai năm sau, Ngày Nay số 9 (23-4-35)
đăng lời Tưởng niệm Trạng sư Phan Văn Trường kèm theo bức ảnh
trên đây, lời in đậm, cân nhắc từng chữ:
"Trạng sư Phan Văn Trường, sinh
năm 1887, mất ngày 20 tháng tư năm 1934, đến nay vừa đúng một năm. Ông đỗ luật
khoa tiến sĩ, rồi làm trạng sư, làm báo. Suốt đời, lúc nào ông cũng tận tụy với
công việc chung. Cuộc đời xã hội và chính trị của ông rất hoạt động".
Tờ báo in nhầm: mất ngày 20
tháng tư năm 1934, thật ra là: ngày 22 tháng tư năm
1933.
Ba chữ công việc chung ở
đây, có nghĩa là việc chống Pháp. Phan Văn Trường là nhà cách mạng đầu
tiên chủ trương tranh đấu theo đường lối hiện đại, nhưng cho đến nay
rất ít người biết đến ông. Nhưng phong cách và tư tưởng tranh đấu trong 20 năm
của ông, đã ảnh hưởng đến nhóm Tự Lực văn đoàn.
Sử gia Pháp Pierre Brocheux, trong
bài Phan Văn Trường, 1876-1933. Acteur d’une histoire partagée (Phan
Văn Trường, 1876-1999. Người chủ động trong một lịch sử phân tranh), viết
năm 2014 [15],
về Phan Văn Trường "người thầy của nhà nho Phan Châu Trinh, khi ông
Phan sống lưu đày ở Pháp từ 1911 đến 1926" (il fut le mentor du lettré
Phan Châu Trinh lorsque celui-ci vécut exilé en France de 1911 à 1926), như
sau:
"Cùng
với bốn bạn đồng hương Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành (nổi tiếng với tên Hồ
Chí Minh), Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường lập nhóm gọi là
Ngũ Long, trong thời kỳ ông ở Pháp (1908-1925). Nhưng trái ngược với hai người
đầu, ông không được hiện diện trên thánh miếu của dân tộc Việt Nam, không cả sự
được biết đến và nổi danh như hai vị đồng hương kia. Một người giấu tên, cho
biết, có một phố duy nhất - không phải đại lộ - ở thành phố Hồ Chí Minh - mang
tên ông. Chẳng hay ông có một lăng mộ, một bia đá, hay một tấm bảng truy niệm,
ở một thành phố lớn nào chăng? Trong nước Việt Nam hiện thời, danh tiếng ông và
Nguyễn An Ninh, đã bị lu mờ trước Hồ Chí Minh, riêng Nguyễn Thế Truyền, đã chịu
thiệt thòi vì chống cộng và chống nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên bị
loại khỏi thiên anh hùng ca dân tộc." [16]Nguyễn Thế TruyềnNguyễn Thế
Truyền (1898-1969),
là một trường hợp đặc biệt: được mẫu quốc nuôi để chống lại mẫu quốc.
Ông sinh ngày 17-12-1898 tại làng Hành
Thiện, tỉnh Nam Định, trong một gia đình khoa bảng nổi tiếng, là cháu nội tuần
phủ Thái Bình Nguyễn Duy Hàn, người đã bị bom của Phạm Văn Tráng (Quang Phục
Hội của Phan Bội Châu) hạ sát ngày 12-4-1913. Nguyễn Thế Truyền được Dupuy, phó
công sứ Pháp ở Thái Bình đem về Pháp du học khoảng 1908, 1910, lúc 10- 12 tuổi,
học trường Parangon. Trường này có mục đích đào tạo những trẻ em thuộc địa
thông minh để trở thành "công dân tốt", trung thành với mẫu quốc. Là
học sinh xuất sắc, Nguyễn Thế Truyền được học bổng Alliance Française từ 1913
đến 1922, ông đã học kỹ sư hóa học, tiến sĩ, đậu cử nhân triết năm 1922. Trong
thời kỳ này, ông về nước hai lần, học chữ Hán.
Nguyễn Thế Truyền gặp Phan Văn Trường từ
hồi còn học trường Parangon, hoạt động chung từ thời ở Toulouse. Diễn thuyết,
viết báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.
Khi các bạn đồng hành về nước, Nguyễn
Thế Truyền ở lại hoạt động tại Pháp. Năm 1922 ông làm phó tổng thư ký hội Liên
hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale) kiêm chủ bút tờ Le Paria, và vào đảng
Cộng sản. Ông thu thập tài liệu ở thuộc địa châu Phi và của lính thợ Việt Nam,
do Phan Văn Trường ghi chép từ khi ở Toulouse, soạn thành tập Le procès
de la colonisation (Bản án chế độ thực dân), viết tựa và đề tên
tác giả Nguyễn Ái Quốc, Librairie du Travail phát hành tháng 5 năm 1925. Lúc
đó, Nguyễn Tất Thành đã sang Nga được hai năm. Sau đó ông bỏ đảng Cộng sản, rời
tờ Le Paria, lập tờ Việt Nam Hồn và đảng Annam Độc Lập.
Năm 1927, Nguyễn Thế Truyền về nước hoạt
động, bị theo dõi, bị bắt năm 1933, nhờ hội chống Thực dân can thiệp mới được
tha. Dân làng Hành Thiện, quê ông, ghi nhớ hai thành tích:
- Tát tổng đốc Vi Văn Định
- Kiện chính
quyền bảo hộ [17].
Năm 1934, ông trở lại Pháp, hoạt động
cho Liên minh chống chính sách thực dân (Fédération
anticolonialiste) do Marius Moutet và Joseph Lagrosillière sáng lập năm 1935.
Ông thành lập Tập đoàn Đông Dương (Rassemblement Indochinoise)
năm 1936, vận động những tổ chức nhân quyền bênh vực Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn
Tạo, Tạ Thu Thâu… đang bị tù.
Tháng 6 năm 1936, ông gửi Thỉnh
nguyện thư của dân Đông Dương lên chính phủ Pháp yêu cầu triệt hồi
toàn quyền Robin về nước.
Năm 1937, ông làm Đại biểu của ủy ban
Báo Giới Bắc kỳ tại Pháp (Ngày Nay số 84). Năm 1938, ông trở về Việt Nam. Năm
1941, ông bị bắt cùng với em là Nguyễn Thế Song, bị đi đầy ở Madagascar, đến
1946, Marius Moutet mới can thiệp được cho hai anh em về nước. Ông mất năm
1969, tại Sài Gòn.Nguyễn An NinhNguyễn An
Ninh (1900-1943),
sinh ngày 5-9-1900 tại Chợ Lớn. Học trường Tây từ nhỏ, nổi tiếng đánh Tây. Năm
1918, sang Pháp du học, vào nhóm Ngũ Long, diễn thuyết và viết bài ký tên
Nguyễn Ái Quốc. Đậu cử nhân luật năm 1920. Về nước rồi sang lại Pháp, chuẩn bị
luận án tiến sĩ. Là nhà cách mạng đầu tiên trong nhóm Ngũ Long quyết định về
nước hoạt động, từ năm 1922, lập báo La Cloche fêlée (Chuông rè). Ông bị bắt và
bị tù tất cả 5 lần từ 1926 đến 1939:
Lần thứ nhất: ngày 20-3-26, bị kết án 18
tháng tù vì tội phá rối trị an, viết báo Chuông Rè, xúi dân
làm loạn.
Lần thứ hai: tháng 9-28, bị kết án 3 năm
tù vì tội lập Hội kín Nguyễn An Ninh, cuối năm 1930 được tha.
Lần thứ ba: tháng 4-36, bị bắt về
tội viết báo La Lutte (Tranh Đấu) quy tụ nhóm
đệ tứ Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, Phan Văn Hùm, phá rối trị an;
tháng 11-36, được tha.
Lần thứ tư: tháng 7-37, kết án 5 năm tù,
5 năm biệt xứ vì tội tổ chức biểu tình ở huyện Càn Long, xúi giục dân
chúng nổi loạn. Tháng 1-39, được ân xá.
Lần thứ năm: ngày 5-10-39, đệ nhị thế
chiến bùng nổ, ông bị bắt cùng với nhiều nhà cách mạng khác, tội phá
rối trị án, xúi giục nông dân, thợ thuyền nổi loạn chống chính phủ… Bị kết
án 5 năm tù, 10 năm biệt xứ. Nguyễn An Ninh mất tại Côn Đảo ngày 14-8-1943.
Chiến thuật
của Hoàng Đạo
Đi theo con đường đấu tranh bằng ngòi
bút, nhưng rút kinh nghiệm của nhóm Ngũ Long, lại là luật gia như Phan Văn
Trường, Hoàng Đạo chuẩn bị kỹ càng những điều sẽ viết trên Ngày Nay, để chính
quyền thuộc địa không thể bắt bẻ được, cũng không cho vào tù được. Hoàng Đạo
đến sau, nhưng có ảnh hưởng sâu rộng hơn nhóm Ngũ Long, vì lý thuyết của ông
viết bằng tiếng Việt, trên một tờ tạp chí có đông độc giả nhất Việt Nam, trong
khi Nguyễn An Ninh và nhóm Đệ tứ trong Nam viết tiếng Pháp, nên chỉ truyền đạt
được trong khối trí thức biết tiếng Pháp. Nên có thể nói lý thuyết của Hoàng Đạo,
không chỉ ở trong vòng Tự Lực văn đoàn mà còn có ảnh hưởng chung cho cả một thế
hệ thanh niên yêu nước.
Viết tiếng Việt, người Việt sẽ đọc những
bài này, để hiểu rõ nguồn cội của chế độ thực dân, và phải hiểu thế nào là tự
do, mới có thể tham gia tranh đấu cho độc lập và dân chủ. Sau nữa, ông còn gửi
đến những người cai trị có đầu óc cởi mở lúc bấy giờ, như Thống sứ Chatel, Toàn
quyền Brévié, mong họ sẽ đọc báo Ngày Nay qua thông ngôn, hy vọng họ hiểu và
thay đổi chính sách cai trị ở thuộc địa.
Đó là những lý do chính khiến Hoàng Đạo
viết loạt bài: Vấn đề thuộc địa, Chính trị và đảng phái, Vấn
đề cần lao và Công dân giáo dục.
Chú thích:
[1] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân
Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 25-27-30 và 147.
[2] Khái Hưng, Bọn thực dân
Pháp vô nhân đạo đã diễn một tấn thảm kịch trên sân khấu Cổ Am, Ngày
Nay kỷ nguyên mới số 2 (12-5-45).
[3] Nguyên văn điện tín của Robin:
"Village Coam, province de Haiduong, où s’était refugiée bande rebelles
ayant mis à mort sous Préfet de Vinhbao, a été bombardé hier par escadrille
Hanoi. Vous prie donner large publicité et ajoute que tout village qui se
mettra dans situation analogue subira impitoyablement le même sort." (Hoàng
Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006,
California, trang 117).
[4] Chú thích của Vũ Ngọc Phan: Madelaine
Paz nói có 1.094 người bị kết án nhưng theo các báo xuất bản trong khoảng
1929-1933, thì thấy tổng số là 1.100 người.
[5] Số này gồm cả những người bị án từ
trước năm 1929 (chú thích của Vũ Ngọc Phan).
[6] Hoàng Văn Đào, Việt Nam
Quốc Dân Đảng, Tân Việt tái bản kỳ 4, 2006, California, trang 116.
[7] Thủ bút của Nguyễn Hữu Đang, tài
liệu của Thái Kế Toại, in trong bài Nguyễn Hữu Đang, thủ lĩnh một cuộc cách mạng của
Thái Kế Toại, Vanviet.info, ngày 12-5-2021.
[8] Brides được người dân Bắc Việt
liệt vào hạng "Tứ Hung": nhất Đác (Darles), nhì Ke (Eckert), tam Ma
(Delamare), tứ Bích (Brides) (chú thích của Hoàng Văn Đào; Việt Nam
Quốc Dân Đảng, trang 55). Darles là người đã tra tấn dã man
Lương Ngọc Quyến (con Lương Văn Can) xâu chân bằng xích sắt xuyên qua da thịt.
[9] Lính dõng là dân binh miền núi do Pháp lập ra.
[10] Hoàng Văn Đào, Việt Nam
Quốc Dân Đảng, trang 55-56:
[11] Trong bài Tựa cuốn Những
hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp của Thu Trang, Đông Nam Á,
Paris, 1983, trang 8.
[12] Hồi ký Phan Văn Trường: Une
histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la Vérité sur L’Indochine (Một
chuyện âm mưu của người Việt ở Paris hay Sự thật về Đông Dương), Nxb L’ Insomniaque,
Paris, 2003, trang 72).
[13] Xem Nhân văn Giai phẩm và
vấn đề Nguyễn Ái Quốc, từ chương 15 đến chương 20, nxb Tiếng Quê Hương, Hoa
Kỳ, trang 424-482, hay trên mạng điện tử: thuykhue.free.fr .
[14] Bài của báo Việt Nam Hồn và đảng
Annam Độc Lập của Nguyễn Thế Truyền, bên Pháp gửi về.
[15] In trên tạp chí Moussons, https://journals.openedition.org/moussons/3013.
[16] Nguyên văn tiếng Pháp: "En
compagnie de ses quatre compatriotes Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành (plus
connu sous le nom de Hồ Chí Minh), Nguyễn An Ninh et Nguyễn Thế Truyền, Phan
Văn Trương formait le groupe dit des Cinq Dragons durant son séjour en France
(1908-1925). Mais contrairement aux deux premiers d’entre eux, Phan Văn Trương
ne figure pas au panthéon national du Viêt Nam, il n’a pas la même visibilité
ni la même renommée que ses deux compatriotes. Un anonyme a fait remarquer
qu’une seule rue - pas une grande artère - d’Hô Chi Minh-Ville porte son nom.
Un mausolée, une stèle ou une plaque commémorative dans une grande ville du
pays existent-ils? Dans le Viêt Nam d’aujourd’hui, sa renommée, comme celle de
Nguyễn An Ninh, a été éclipsée par celle de Hồ Chí Minh; Nguyễn Thế Truyền,
pour sa part, a beaucoup pâti de son opposition au communisme et à la
République démocratique du Viêt Nam; il a été mis en marge de l’épopée nationale".
[17] Xem: Đặng Hữu Thụ,
Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, tác giả xuất
bản, Paris 1993.
Hoàng Đạo:
Vấn đề thuộc địaTình hình chính trị tại Pháp những thập
niên đầu thế kỷ XX, không mấy vững chắc, thay đổi thủ tướng luôn, phần lớn do
đảng Cấp tiến (Radical) hay Xã hội Cấp tiến (Radical
Socialiste) thay phiên nhau cầm quyền. Đảng Cấp tiến không chủ
trương chiếm thuộc địa. Đảng Xã hội Cấp tiến đồng ý việc lấy thuộc địa và tìm
cách chứng minh chính sách này "nhân đạo".
Chính sách
cai trị của toàn quyền
Tuy nhiên, các toàn quyền được cử sang
cai trị, dù thuộc đảng Cấp tiến, vẫn có thể áp dụng những chính sách cực kỳ
thực dân, như trường hợp Paul Doumer, toàn quyền từ 1897 đến 1902, thuộc đảng
Cấp tiến, là một thí dụ điển hình:
- Tự ý thay đổi hòa ước 1884, biến toàn
thể nước Việt thành thuộc địa Pháp:
- Bỏ chức Kinh lược sứ của vua, thay thế
bằng chức Thống sứ Pháp để cai trị toàn thể Bắc Kỳ.
- Đặt Công sứ Pháp đứng đầu mỗi tỉnh.
- Đặt Cơ Mật Viện dưới sự chủ tọa của
viên Khâm sứ Pháp.
- Ép vua Thành Thái nhường cho Toàn
quyền quyền khai thác những vùng đất hoang hay vô chủ, và cho người Pháp có
quyền sở hữu đất trên toàn thể nước Nam: Người Pháp trở thành chủ các đồn điền
mênh mông, đặc biệt đồn điền cao su, mang lại nguồn lợi bất tận. Chế độ mộ phu
tàn bạo đã dẫn đến vụ ám sát Bazin, giám đốc sở mộ phu, của Việt Nam Quốc Dân
Đảng, đầu năm 1929.
- Nhập nha phiến từ Ấn Độ vào, lập xưởng
chế biến thuốc phiện ở Sài Gòn, giữ độc quyền ba thứ: thuốc phiện, nấu
rượu, và bán muối.
- Xây cầu đường để mở mang và phát triển
nền "kỹ nghệ đầu độc" dân thuộc địa.
Nhờ cuốn hồi ký L’Indo-Chine
française (souvenirs) của Paul Doumer, người ta mới thấy
rõ "công lao vĩ đại" của ông với nước Pháp. (Xem chương: Ngày
Nay tranh đấu).
Việt Nam trở thành "Vương quốc vàng
son" ở Á châu, các chính quyền kế tiếp cứ thế tiếp tục khai thác, không
thể nhả "mỏ vàng" này ra được nữa.
Đến năm 1911, toàn quyền Albert Sarraut
được cử sang Đông Dương. Sarraut là toàn quyền "lớn" thứ nhì sau
Doumer. Ông thuộc đảng Xã hội Cấp tiến, làm toàn quyền hai lần (1911-1914) và
(1917-1919), quyết thể hiện chính sách đồng hóa và đề
huề: Muốn biến thuộc địa thành một tỉnh của Pháp. Phương pháp đồng
hóa (assimilation) này được trình bày trong tác phẩm La mise
en valeur des colonies françaises (Nêu cao giá trị thuộc địa Pháp),
như một thứ kim chỉ nam cho những toàn quyền đi sau.
Dĩ nhiên không thành, vì Tàu đã đô hộ ta
1000 năm mà chưa làm được.
Phản ứng dây
chuyền của thanh niên
Về mặt tranh đấu, cuộc khởi nghĩa Thái
Nguyên năm 1917 của Lương Ngọc Quyến (Quang Phục Hội - Phan Bội Châu) và Đội Cấn,
là ngòi châm lại lòng yêu nước của thanh niên.
Lương Ngọc Quyến được Nguyễn An Ninh coi
là thần tượng. Đội Cấn, được Nguyễn Thái Học noi gương. Năm 1924, khi Phạm Hồng
Thái giết hụt toàn quyền Merlin tại Quảng Châu, ảnh hưởng trái bom Sa Điện [1] bùng
nổ: Nguyễn Thái Học vùng dậy.
Sau vụ Merlin, để xoa dịu, chính phủ
Pháp phái Alexandre Varenne (1925-1927) thuộc đảng Xã hội, sang Đông Dương. Ông
chủ trương ôn hòa: ân xá Phan Bội Châu, áp dụng chính sách cởi mở, ký sắc lệnh
bảo vệ công nhân thợ thuyền, nhưng gặp sự cản trở mãnh liệt của giới thực dân,
đặc biệt Outrey (Thống đốc Nam Kỳ, dân biểu), vu cho ông tội buôn lậu thuốc
phiện.
Outrey còn là kẻ thù "không đội
trời chung" của Nguyễn An Ninh:
Ngày 18-9-1919, vấn đề Nguyễn Ái Quốc
được đem ra bàn cãi ở Nghị viện Pháp. Outrey chất vấn Longuet, chủ nhiệm báo Le
Populaire, tại sao cho in những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, "một kẻ thù
của nước Pháp, một tên phiến loạn đã bị truy tố ở Nam Kỳ".
Nguyễn An Ninh lúc đó đang nghỉ hè ở
Biarritz, phản pháo mãnh liệt với bài Thư gửi ông Outrey (Lettre
à Monsieur Outrey) ký Nguyễn Ái Quốc, đăng trên Le Populaire ngày
14-10-1919, trong có câu:
"Ông đã nói đi nói lại [ở
Hạ Viện] rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương, vì âm mưu chống Pháp, vậy
hãy nói cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì?"
Dĩ nhiên Outrey không trả lời được, vì
Nguyễn An Ninh hồi đó có đánh Tây thật, nhưng không bị án gì cả, vì còn vị
thành niên.
Năm 1927, Varenne bỏ cuộc, về Pháp.
Outrey bấy giờ mới xin lỗi Varenne là y đã "buộc tội lầm". Như vậy,
mục đích của giới thực dân là làm sao đánh gục được những toàn quyền có ý muốn
cải thiện đời sống dân bản xứ, đụng chạm đến quyền lợi của họ ở thuộc địa.
Giới tư bản thực dân thắng thế: năm
1928, chính quyền Pháp cử Pierre Pasquier lên thay, dẫn đến sự đàn áp đẫm máu
Việt Nam Quốc Dân Đảng và phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, năm 1930.
Khi Varenne mới sang Việt Nam, Nguyễn
Thái Học, theo chủ nghĩa Xã hội, đã tin tưởng vào Varenne, thuộc đảng Xã hội
(Hoàng Đạo sau này cũng tin Brévié như thế). Nguyễn Thái Học viết thư và xin
gặp Varenne, được ông tiếp đãi "nồng hậu", nhưng cuối cùng thấy những
yêu cầu của mình không được xét đến, Varenne lại bỏ về Pháp, nên ngày
25-12-1927, Nguyễn Thái Học và các đồng chí lập Việt Nam Quốc Dân Đảng để "lật
đổ chính quyền thực dân bằng võ lực".
Mười năm sau, Nhất Linh đi theo con
đường Nguyễn Thái Học: Chính phủ Bình dân chấm dứt, việc tranh đấu giải phóng
dân tộc bằng ngòi bút không đưa đến kết quả: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng,
Nguyễn Gia Trí bỏ bút để lên đường.
Con đường
Hoàng Đạo
Với Hoàng Đạo, sự tranh đấu đòi độc lập
và dân chủ trong thời kỳ 1937-1939, tưởng như sắp có triển vọng, không ngờ sẽ
bị tan rã với sự cáo chung của chính phủ Mặt trận Bình dân.
Trong giai đoạn hai năm này, Hoàng Đạo
quyết định công phá trên bốn mặt: viết lại lịch sử chế độ thuộc địa,
tìm hiểu các đường lối chính trị và đảng phái, đả phá chế
độ cần lao dã man của thực dân và tìm cách giáo dục công
dân về vấn đề dân chủ.
Tại sao phải viết về bốn đề tài này? Bởi
vì đó là sợi chỉ đỏ dẫn đường vào cuộc cách mạng dân chủ. Trước hết, phải giải
thích:
- Chế độ thực dân là gì? Tại
sao phải đánh đổ nó.
- Tranh đấu, nhưng dưới lập trường chính
trị, đảng phái nào? Tại sao?
- Bênh vực quyền lợi cho ai? - Cho giới
cần lao. Vậy phải tìm hiểu vấn đề cần lao.
- Và sau cùng, để xây dựng một thể chế
dân chủ thì phải giáo dục công dân cho họ hiểu thế nào là dân
chủ.
Loạt bài Vấn đề thuộc địa [2] viết
về lịch sử đánh chiếm thuộc địa và các chính sách thi hành ở thuộc địa.
Chính trị và
đảng phái [3] tìm hiểu các hình thức chính trị và các đảng phái khác
nhau, để chọn một con đường riêng áp dụng cho dân tộc.
Vấn đề cần lao [4] điều
tra hiện tượng người bóc lột người, phát xuất từ chế độ nô lệ, dẫn đến sự chiếm
đất và chế độ bóc lột cần lao ở Đông Dương.
Công dân giáo
dục [5] giảng giải cho quần chúng những bài học đầu tiên về tự
do dân chủ và quyền làm người. Vấn đề Công dân giáo dục rất
quan trọng cho nên đã được đưa vào chương trình học các lớp tiểu học từ thời
chính phủ Trần Trọng Kim (1945).
Bốn chủ đề này, đăng trên Ngày Nay, từ
tháng 8-1937 đến tháng 1-1940, có tính thuyết phục cao, xác định vai trò lý
thuyết gia Tự Lực văn đoàn của Hoàng Đạo.
Tố cáo chủ
đích chiếm thuộc địa: xâm lăng và kiếm lời
Trong loạt bài Vấn đề thuộc địa,
bài đầu tiên Thuộc địa ký ước, đăng trên Ngày Nay
số 74 (29-8-37), kể lại lai lịch chế độ thuộc địa, Hoàng Đạo viết:
"Ngày nay, nói đến thuộc địa,
người ta thường phô trương ra những mục đích cao thượng, không vẩn một chút tư
lợi nào, để biện hộ, để tán dương công cuộc khai thác của Mẫu quốc". Còn
ngày xưa họ thật thà hơn, họ nghĩ và nói thẳng ra rằng: "lấy thuộc
địa chỉ có một mục đích: làm lợi cho họ (…) Họ nghĩ rằng mất công đi chiếm lãnh
thổ của kẻ khác, không phải vì có lòng tốt tự nhiên muốn dìu dắt một dân tộc
thấp hèn lên một trình độ cao hơn (…) Ông Montesquieu, một nhà
tư tưởng Pháp về thế kỷ thứ XVIII cũng đã công nhận rằng "lập ra thuộc địa
cốt là để có nơi buôn bán có lợi hơn là buôn bán với những nước láng
giềng".
Những ý tưởng
ấy đã đào tạo nên một chính sách riêng về thuộc địa, người ta gọi là Thuộc địa
ký ước (Pacte Coloniale)".
Hoàng Đạo đã từ tốn chỉ ra sự thực: mục
đích đánh lấy thuộc địa chẳng cao thượng gì như quý vị rêu rao mà chỉ cốt
để kiếm lời đó thôi, không phải tôi nói đâu, chính cụ tổ nhân
quyền Montesquieu của quý vị nói đó.
Còn cái gọi là Thuộc địa Ký
ước mà quý vị đặt ra, cũng chỉ là để cho thuộc địa trở thành
một thị trường dành riêng cho mẫu quốc; nghĩa là dân thuộc địa chỉ có thể
bán nguyên liệu của mình cho mẫu quốc và họ bắt buộc phải mua sản phẩm mẫu quốc
tải sang, không có quyền lập xưởng công nghệ, bởi vì mẫu quốc sợ thuộc địa sẽ
tiêu thụ sản phẩm của mình, không mua hàng mẫu quốc nữa.
Chính sách kinh tế áp đặt một chiều này
dần dà xô đẩy dân thuộc địa đến chỗ nghèo khốn cùng cực.
Ngoài cái gốc kinh tế là kiếm
lời mà ăn, còn những cái gốc "nhân văn" là xâm lăng, cá
lớn nuốt cá bé, và nhất là kỳ thị chủng tộc của người da
trắng với người da màu:
"Những dân bản xứ, vì khác loài,
khác giống, da đỏ, da đen, mũi tẹt, môi dày, đều bị coi là một hạng nửa người
nửa thú, không đáng đứng ngang hàng với dân mẫu quốc về hết thảy mọi phương
diện. Hoặc vì họ yếu thế, hoặc vì họ hiền lành quá, nên đất nước thì bị chiếm,
mà nhân dân thì bị bắt làm nô lệ, làm tôi mọi cho dân mẫu quốc".
Hoàng Đạo đã nói trắng ra những điều mà
ít ai dám nói, trừ Nguyễn An Ninh.
Với luận điệu: người Âu đến để khai hóa
cho dân bản xứ u mê, dốt nát, Hoàng Đạo trả lời:
"Lẽ tự nhiên là không bao giờ
đột nhiên, vì cảm kích lòng hòa hiệp nhân đạo hay khâm phục tài trí của dân mẫu
quốc, mà dân bản xứ thân đến xin làm thuộc địa. Họ chịu làm thuộc địa chỉ là
một sự bất đắc dĩ, sau một cuộc tàn sát khốc hại. Họ phải lùi, bó tay hàng
trước sức mạnh. Địch quân thắng thế, bèn đem họ làm nô lệ cho mình, hoặc đem
bán cho người khác làm nô lệ. Dân thuộc địa khi ấy chỉ được coi như một con
vật, khỏe mạnh làm lụng được thì sống làm nô lệ cho chủ. Những dân tộc Phi châu
phần đông đều bị đè bẹp dưới cái chế độ vô nhân đạo ấy."
Hoàng Đạo nói rằng: dân bản xứ chúng
tôi, dù da đỏ, da đen, mũi tẹt, môi dày, có ngu đến mấy, cũng
không ai, tự ý dâng nước mình cho nước mẹ để được học cái văn
minh tân tiến. Nói thẳng ra là mẹ đến xâm lăng đấy ạ. Thắng
thế rồi, mẹ bắt con người ta làm nô lệ như
con vật. Mà chúng tôi có nói chuyện Đông Dương đâu, chúng tôi nói chuyện châu
Phi đấy chứ.
Một điều mẫu quốc, hai
điều mẫu quốc mà cái thứ nửa người nửa ngợm nửa đười
ươi là dân bản xứ này, phóng ra những mũi tên trúng phóc thực tâm
của nước mẹ, khiến mẹ không chạy kịp, trừ bịt tai
độn thổ. Lối viết của Hoàng Đạo là như vậy.
Chế độ tự trị của Anh
Từ trước đến nay, người ta vẫn tưởng,
nhờ Gandhi can trường tranh đấu bất bạo động, nên Ấn Độ mới được độc lập. Việt
Nam không có thánh Gandhi, nên đã rơi vào chiến tranh.
Thực ra không phải vậy: Việt Nam đã thử
bao nhiêu lần đấu tranh bất bạo động, từ Phan Châu Trinh và phong trào Duy Tân
đến Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thái Học, Tạ Thu
Thâu, Hoàng Đạo… nhưng không thể được, vì chính sách của Pháp khác chính sách
của Anh: Pháp chủ trương chế độ đồng hóa và Hoàng Đạo sẽ nói
rõ thực chất của chế độ này như thế nào.
Hoàng Đạo trình bày vấn đề khác hẳn: Ấn
Độ được độc lập, là nhờ chế độ tự trị của Anh, khác với chế
độ đồng hóa của Pháp.
Anh và Pháp là vô địch thực dân trong
thế kỷ XX (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha thuộc các thế kỷ trước), Anh áp dụng chế
độ tự trị, Pháp chế độ đồng hóa [6].
Chế độ tự trị của Anh, chủ trương "giáo
huấn" xứ thuộc địa cho có trình độ hơn, để họ có thể tự trị được.
Chế độ này Anh đã áp dụng cho các nước da trắng (do tù nhân Anh, bị án chung
thân, biệt xứ, sang "khai khẩn" các vùng đất mới mà thành) như Mỹ,
Úc, Canada, đó là các nước "con đẻ" thực sự của Anh. Chính sách này
được cho là "nhân đạo" hơn chính sách của Pháp. Ấn Độ, nhờ Gandhi
tranh đấu, cũng dần dần được hưởng quy chế tự trị, rồi độc lập.
Chế độ đồng
hóa của
Pháp
Pháp vẫn tự hào là nước có truyền thống
dân chủ lâu đời nhất, cách mạng Pháp 1789 mở ra một chân trời mới với những giá
trị về nhân quyền làm thay đổi bộ mặt thế giới:
"Mọi
người sinh ra đều tự do bình đẳng, quyền lợi ngang nhau, không phân biệt chủng
tộc, màu da. Bổn phận của con người là phải bênh vực những thành phần yếu
kém".
Vì thế, Pháp phải tìm cách giải thích
cho "hợp lý": Tại sao, một lý tưởng nhân quyền cao siêu như vậy lại
dẫn đến một chế độ thực dân tàn ác phi nhân thế kia?
Họ có hai lối giải thích:
1- Lý tưởng cao siêu ấy đã khiến La
Fayette sang giúp Mỹ, từ địa vị thuộc địa tự trị của Anh, đứng
lên chống lại mẫu quốc, thành lập nước Hoa Kỳ. Canada và Úc, cũng thành hình
trong những điều kiện tương tự. Tóm lại, chỉ những nước "da trắng"
mới được hưởng sự giúp đỡ, nhân danh quyền làm người, để được độc lập.
Nhưng sự "lập quốc" này cũng
không trong sáng gì lắm, vì nó nằm trên nấm mồ diệt chủng: người Anh, khi sang
Mỹ, Úc, Canada "khai khẩn đất hoang" đã tiêu diệt thổ dân để chiếm
đất của họ (không phải đất hoang) mà lập nên nước mới.
2- Giải pháp thứ nhì, dành cho các thuộc
địa da màu Á, Phi. Đối với các thuộc địa ở châu Phi và Đông Dương, Pháp thực
hiện chính sách đồng hóa. Chính sách này nghe qua rất bùi tai:
"Theo chính sách ấy lý tưởng
không phải là dạy dỗ thuộc địa trở nên một cường quốc như mẫu quốc mà là tìm
hết cách giao kết mẫu quốc với thuộc địa, khiến trở nên một khối bền chặt, một
đế quốc cùng chịu cung số phận. Người ta nhắc lại lời Nã Phá Luân: "Chỗ
nào có lá cờ bay, chỗ ấy là nước Pháp vậy" (…)
Thuộc địa coi
như mẫu quốc, mẫu quốc coi như thuộc địa, quyền lợi đồng, nghĩa vụ đồng".
Algérie và Nam Kỳ được hưởng chính sách
quý hóa này, cho nên:
"Các ông nghị xứ Algérie hay ông nghị miền Nam Đông
Dương ở nghị viện Pháp cũng có quyền bàn đến những việc có can hệ đến đảo Corse
hay hạt Lille như các ông nghị những hạt ấy".
Mới nghe qua rất hay: "mẫu quốc
coi như thuộc địa, quyền lợi đồng, nghĩa vụ đồng": thuộc địa sẽ sống
trong chế độ dân chủ y hệt như mẫu quốc, còn mong gì hơn nữa? Nhưng
đọc kỹ đoạn sau: cái quyền mà dân thuộc địa được hưởng như dân Pháp, rút lại là
quyền gì?
- Là quyền được bàn đến những việc ở
Lille, ở Corse. Hân hạnh lắm. Nghẹt vẫn có chỗ bất tiện: chúng tôi chỉ muốn
được tự do lựa chọn những người cai trị chúng tôi thôi, chứ
còn cái hân hạnh được ngồi trong Nghị viện mẫu quốc, để bàn điều này điều kia,
xảy ra ở thành phố Lille hay đảo Corse, đối với chúng tôi, nó cao sang mà cũng
diệu vợi lắm.
- Còn về quyền công dân ở Nam Kỳ, ta đã
quá rõ, chẳng cần Hoàng Đạo nói ra: về việc cả gan dám viết báo và lập hội
kín: dân Nam kỳ bị bắt nhiều nhất. Nguyễn An Ninh vô địch, bị bắt tới năm
lần vì tội viết báo và đã ở tù đến chết.Lấy thuộc địa
có chính đáng không? Ngày Nay số
77 Chiếm thuộc
địa là bất chính
Khi Hoàng Đạo đặt câu hỏi: Lấy
thuộc địa có chính đáng không?[7] Tức
là đã trả lời: Không!
Nhưng ông không trả lời trực tiếp mà trả
lời bằng một câu hỏi khác: Tại sao những nước có thuộc địa thường tự mãn về
công việc "khai hóa" của mình, và ngạc nhiên không hiểu sao những
nước bị trị không biết ơn mà còn oán nữa?
- Bởi vì:
1- Mẫu quốc luôn luôn che đậy hai động
cơ chính của việc đánh chiếm thuộc địa là kiếm lời và dùng sức
mạnh để chiếm đất của nước yếu hơn. Nhưng thay vì nhìn nhận sự
thực, họ lại biện minh sự xâm lăng ấy bằng một thứ lý thuyết "khoa
học", kiểu Darwin:
Họ bảo rằng họ làm "theo luật tự
nhiên của trời đất. Cái công lệ đào thải là khỏe thì sống, mà yếu thì chết. Côn
trùng, cầm thú đều chịu theo cái công lệ ấy, người ta cũng vậy.
Song cái lý
thuyết ấy không đứng vững được. Vì nó làm cho người ta chỉ phục có một điều: võ
lực. Vì nó hạ người ta xuống cái địa vị thấp hèn của loài vật vô tri.
Người ta có
hơn cầm thú, không phải là vì khỏe hơn, biết cách giết loài khác một cách nhanh
chóng hơn, mà chỉ vì có lương tâm, biết trọng công lý. Sự cường quyền dẫu
thắng, nhưng không bao giờ khuất phục được ai." [8]
Lời nhẹ nhàng nhưng ý gắt gao: Con người
chỉ hơn cầm thú vì có lương tâm và trọng công lý, nay chỉ biết dùng võ lực, cậy
khoẻ thắng yếu, thì có khác chi súc vật?
2- Một lập luận khác cho rằng: Đối với
những dân tộc "bán khai", không nên cho độc lập làm gì, vì chúng ngu,
không biết "sử dụng" sẽ gây tai nạn:
"Những dân tộc thuộc địa, theo
họ, đối với dân tộc khác, là những dân tộc bán khai, kém hèn, dẫu có được hưởng
giáo dục học vấn đến mức nào chăng nữa, cũng vẫn kém hèn, bán khai mà thôi. Đối
với những dân tộc ấy, sự tự do, độc lập là một sự đáng sợ, dùng tới cũng như
trẻ con chơi dao, thế nào cũng đến đứt tay, chảy máu. Đối với những dân tộc ấy,
cần phải có một dân tộc khác có trí thức hơn, chỉ dẫn, bắt ne bắt nét, thì may
họ còn sung sướng được". [9]
Thực đáng sợ trước một lập luận như thế.
Vị cầm quyền nào nghĩ như vậy, thì dù có bao nhiêu học vấn, bằng cấp, đắp lên
đầu, cũng không cách nào "khai hóa" y được.
3- Lập luận thứ ba cho rằng: Mẫu quốc
đem lại đời sống hạnh phúc cho dân chúng. Xin hỏi: Thế nào là hạnh phúc? Cách
sống của người Âu có phải là hạnh phúc chăng? Nếu chúng tôi yêu sự hỗn độn của
chúng tôi hơn là trật tự của của các người, thì các người nghĩ sao?
"Hạnh phúc của con người ta, lấy
cớ gì mà bảo rằng là sống một đời vội vã, hấp tấp như cái máy của người châu
Âu, chứ không phải là sống một đời êm tĩnh, giản dị của người bán khai? Vả lại
cứ sự thực mà xét, thì dân thuộc địa đã được những hạnh phúc gì đâu? Một phần
bị lưỡi gươm, hòn đạn mà chết, một phần bị đàn áp, xô đuổi về miền rừng xanh
núi đỏ, dân tộc da đỏ ở châu Mỹ hay dân tộc da đen ở châu Úc đến nay hầu như
không còn nữa"[10]
4- Lập luận cuối cùng cho rằng: có những
chủng tộc thuộc loại hạ đẳng.
"Việc đó nên dành riêng cho những
đồ đệ của Hitler. Không có gì chính đáng khiến cho ta phải khâm phục riêng một
chủng tốc như dân tộc Đức chẳng hạn và coi rẻ những dân tộc khác. Chủng tộc nào
cũng có thể tự xưng là đệ nhất chủng tộc trên hoàn cầu và lấy cường quyền mà
bắt chủng tốc khác công nhận như vậy. Nhưng tôi xin nhắc lại một lần nữa: cường
quyền không bao giờ bắt được lòng người khâm phục" [11]
Qua bài viết này, Hoàng Đạo, đã vén màn
lên những sự thực mà người Việt ít (dám) đề cập, vì ít nghĩ đến những vấn đề
thế giới, con người, hoặc vì không biết, hoặc biết mà không (dám) nói ra. Hoàng
Đạo kết luận bằng một lời khuyên chính quyền thuộc địa, có tính cách hòa giải:
"Nay thuộc địa đã có rồi, thì
cần phải thực lòng làm lợi cho thổ dân, có khi phải chịu thiệt thòi riêng nữa.
Có như vậy mới xóa bỏ được cái vết võ lực buổi trước và mới có đủ lẽ để lưu lại
ở đất nước người được".
Phản đối
chính sách đồng hóa và đề huề của Albert
Sarraut
Albert Sarraut, thuộc đảng Xã hội Cấp
tiến là người lão luyện nhất trong nghề cai trị thuộc địa, ông làm toàn quyền
Đông Dương hai lần, từ 1911 đến 1914, rồi từ 1917 đến 1919. Khi về Pháp, ông
trở thành Bộ trưởng Thuộc địa, từ 1920 đến 1924.
Ông đưa ra chính sách đồng hóa và đề
huề giữa thuộc địa và mẫu quốc, ông chủ trương "mở mang thuộc
địa" với quy mô rộng lớn và toàn diện, trong tác phẩm La mise en
valeur des colonies françaises, như một cuốn cẩm nang cho các toàn quyền sử
dụng. Trong bài giới thiệu sách này, Camille Guy cho biết những thông tin:
Đế quốc thực dân Pháp, năm 1923, có diện
tích 8.940.992 km2 (chưa kể Bắc Phi, rộng 1.300.318 km2, được coi
là "đất Pháp") tức là lớn gấp 18,5 lần diện tích nước Pháp. Camille
Guy ca tụng chính sách đồng hóa là cả tương
lai kinh tế của Pháp và coi cuốn sách của Sarraut như thành tựu của 50
năm đánh chiếm thuộc địa.
Tiếc rằng những sự cải tổ hữu ích như về
mặt vệ sinh, xã hội, mà ông Sarraut đề ra, đều không thể thực hiện được vì
"thiếu ngân quỹ"!
Vậy không hiểu lợi nhuận khổng lồ cao
như núi (đã được Nguyễn Gia Trí vẽ trong một bức phiếm họa) về: nha phiến,
rượu, muối, và cao su mà mẫu quốc độc quyền trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam, từ
đầu thế kỷ XX, dùng vào việc gì?Tranh Cộng tác, đề huề của
Ritg, trên Ngày Nay số 78Hoàng Đạo giới thiệu và trình bày chính
sách "cộng tác đề huề" của Albert Sarraut, không như cái nhìn
của Camille Guy, mà dưới cái nhìn của một người bản xứ, trên Ngày
Nay số 78 [12].
Theo ông, chính sách của vị cựu toàn quyền dựa trên hai điểm:
1- Bản điều lệ ngày 28-6-1919 của Hội
Quốc Liên "có nói rằng sự khai hóa cho những dân tộc chưa đủ tài lực để
tự quan sát công việc của mình, là một chức trách thiêng liêng của sự văn minh.
Khai hóa một cách mau chóng để những dân tộc ấy trở nên trưởng thành, có thể
thoát ly ra ngoài cái chế độ [thuộc địa] tạm thời kia".
Vậy Pháp sẽ dựa trên "sứ mệnh thiêng liêng" này để giúp những dân tộc
yếu hèn ấy tiến lên.
2- Các chính đảng Pháp cũng có những
quan niệm khác nhau về vấn đề thuộc địa: đảng Cấp Tiến không ủng hộ việc chiếm
thuộc địa. Đảng Xã hội (SFIO) chủ trương không lấy thuộc địa. Đảng
Xã hội Cấp tiến thừa nhận công cuộc khai phá thuộc địa, tìm cách bênh vực, làm
cho nó "có vẻ nhân đạo, chính đáng".
Vì thế, một chính sách mới xuất hiện,
gọi là chính sách đề huề hay hợp tác được
toàn quyền Albert Sarraut phát động để tạo ra một nhân loại mới, và
ông đã:
"Tỏ bày một cách rất văn hoa
trong nhiều cuộc diễn thuyết, trên nhiều sách vở và báo chí. Người dân bản xứ,
dẫu đen như mực hay vàng như nghệ, cũng không vì cái màu da mà mất hẳn tính
chất của con người. Không phải là đời đời, họ vẫn kém hèn về mọi phương diện,
như con vượn hay con đười ươi, dẫu tưởng văn minh bao nhiêu nữa cũng vẫn còn
kém hèn. Họ chỉ ở vào một trình độ văn minh thấp hơn mà thôi. Vậy bổn phận của
mẫu quốc là dẫn lối cho họ bước mau trên đường tiến bộ; nếu ta ví dân tộc bán
khai như miếng đất sét chưa thành hình, thì bổn phận của mẫu quốc là nặn nên
hình một nhân loại mới, có giá trị hơn. Tạo nên nhân loại mới, ông Sarraut
thường nói mục đích của công cuộc khai thác thuộc địa là thế".
Như vậy, theo ông Albert Sarraut, thuộc
địa không còn là cuộc đánh chiếm "cường quyền của kẻ mạnh hơn", mà
phát xuất từ một lý tưởng cao đẹp: "kẻ mạnh hơn có quyền giúp đỡ kẻ yếu
hơn" để "tạo ra một nhân loại mới". Ông
cựu Toàn quyền lại còn cho rằng:
"Dân bản xứ, ta phải tưởng
tượng, trước kia sống trong sự sợ hãi, đè nén, bất công. Mẫu quốc đem đến cho
họ công lý, làm cho họ được hưởng vệ sinh, học thức và hết thảy điều cốt yếu
của sự văn minh. Mẫu quốc cho họ quyền hợp tác với mình."
Nhưng đấy chỉ là lập luận của ông cựu
Toàn quyền. Còn dân bản xứ chúng tôi nghĩ khác:
1- Chúng tôi sẵn sàng hợp tác
với các ông, nếu các ông làm thế nào cho chúng tôi phục các ông là văn minh hơn
chúng tôi.
2- Chúng tôi sẵn lòng cộng sự với các
ông, nhưng chỉ khi nào sự cộng tác ấy có ích cho chúng tôi, nghĩa là dưới sự
chỉ huy của các ông, nước chúng tôi phát đạt hơn.
3- Chúng tôi sẵn lòng trả các
thứ thuế mà các ông đặt ra, nhưng tiền thuế đó cần phải ở trong nước chúng tôi,
làm lợi cho dân chúng tôi và nhất là tiền thuế đó không được tiêu ma vào sự vô
dụng, vào việc xa xỉ.
Nếu được như vậy thì dân bản xứ chúng
tôi không ngại gì mà không cộng tác, mà còn nhớ ơn mẫu quốc đã
thành thực hết lòng mưu cầu cho dân thuộc địa trở thành văn minh hơn.Tranh Các hạng thuộc địa của
Ritg, Ngày Nay số 79Đánh tráo giá
trị
Đào sâu hơn nữa, Hoàng Đạo viết thêm
bài Các hạng thuộc địa in trên Ngày Nay số 79 (3-10-37). Bài
này mở đầu bằng câu:
"Những đất, những xứ thuộc quyền
thống trị của một cường quốc châu Âu, người ta thường gọi chung là thuộc địa.
Thực ra gọi như vậy là lầm".
Đứng đầu là những nước do Hội Quốc Liên
ủy quyền cho một hội viên trông nom, được gọi là xứ ở dưới chế độ ủy quyền, xứ ủy quyền không phải là thuộc địa. Đó là trường hợp nhiều nước Ả
Rập.
Xứ bảo hộ cũng không
phải là thuộc địa: Bắc Kỳ và Trung Kỳ không phải là thuộc địa.
Việt Nam chỉ có Nam Kỳ là thuộc địa, tức
là đất mẫu quốc chiếm được rồi trở thành "đất của mẫu
quốc":
"Đất thuộc địa đã là đất của mẫu
quốc thì những người sống ở thuộc địa cũng là người mẫu quốc. Thí dụ như dân
Annam trong lục tỉnh đều là người Pháp cả. Nhưng là người Pháp, mà không phải
là công dân nước Pháp. Dân bản xứ, người ta cho là ở một trình độ văn minh thấp
kém, nên người ta bắt sống trong một quy luật riêng, chặt chẽ hơn và ít tự do
hơn".
Bài này tố cáo sự gian lận của chính
quyền thuộc địa: đánh tráo giá trị, do Paul Doumer chủ trương từ năm 1897: Tự ý
thay đổi hòa ước Giáp Thân (1884) biến toàn thể nước Việt Nam thành thuộc địa
của Pháp, đã nói đến ở trên.
Nước Việt chỉ có Nam Kỳ là thuộc địa và
được áp dụng "chính sách đề huề". Tuy nhiên, Nam Kỳ cũng chỉ
được đề huề ở chỗ: các cơ quan tư pháp và hành chính đều do mẫu quốc định đoạt,
và ông Thống đốc (Gouverneur) Nam Kỳ do mẫu quốc gửi sang. Nhưng người Nam
Kỳ không phải là công dân nước Pháp. Họ không được hưởng quyền công
dân, chỉ được hưởng quyền nô lệ.
Không thể áp
dụng chính sách đồng hóa ở Việt Nam
Mục đích sâu xa trong chính sách
đồng hóa là làm cho người Việt mất tiếng nói, như họ đã áp dụng ở Bắc
Phi. Lập luận ấy, theo Phạm Quỳnh, là như thế này: Người Annam trước đã học chữ
Tàu, nay học chữ Tây là phải. Cái tiếng Annam mọi rợ ấy, phải diệt dần đi, nó
chỉ là một thứ "thổ âm" (patois). Ngày nào mà trẻ con Annam nói toàn
tiếng Pháp, thì ngày ấy, nước Nam mới tiến bộ được. Đó là chính sách đồng
hóa và đề huề được ông Sarraut phát động.
Phạm Quỳnh tố cáo lập luận muốn tiêu
diệt tiếng Việt, năm 1922 ở Pháp, và ông đã đọc bốn bài diễn văn tại
các trường lớn và Viện Hàn Lâm, để thuyết phục chính phủ Pháp không bỏ tiếng
Việt và ông đã thành công. (Xem chương: Sự hình thành nền văn học quốc
ngữ).
Trong bài Thuộc địa Pháp - Chính
sách trên Ngày Nay số 80 (10-10-37), Hoàng Đạo tố cáo chính sách đồng
hóa muốn biến thuộc địa thành một tỉnh của Pháp. Ông cho rằng
chính sách này chỉ có thể áp dụng ở một số nước "không có một nền quá
khứ lộng lẫy, vì không có sẵn một nền văn minh riêng, nên văn minh Pháp, chữ
Pháp, tiếng Pháp, phong tục Pháp đem lại cho họ, họ hấp thụ một cách dễ dàng
như in chữ trên một tờ giấy trắng".
Còn đối với những dân tộc "có
một lịch sử vẻ vang, có một nền văn minh khá, thì sự đồng hóa cho đến tuyệt đối
không phải là một việc nên làm".
Và Hoàng Đạo nhấn mạnh:
"Tôi xin nhắc lại cho rõ: sự
đồng hóa tuyệt đối không nên làm. Tôi muốn nói rằng đối với dân tộc Việt Nam
chẳng hạn, hay dân tộc A-Rập; điều họ muốn nhất, không phải là thành ra một
công dân Pháp để có quyền bầu một người thay mặt họ ở Nghị Viện Pháp, mà là có
quyền coi sóc đến công việc của xứ, của nước họ. Một người Annam vào
làng Tây, không thành ra một người Tây được, một người Annam theo học chữ Tây
cho đến bậc cao đẳng, cũng không "hóa" ra một người Pháp; những
người Annam ấy không bao giờ mong được bàn bạc đến việc bên mẫu quốc cả".
Người Việt, dưới ngàn năm đô hộ của
người Tàu, không bao giờ trở thành người Tàu cả. Vậy người Pháp còn có thể kỳ
vọng gì vào chính sách đồng hóa với một dân tộc như thế?
Người Việt
muốn gì?
Nhưng người Pháp vẫn ngoan cố, nhất định
áp dụng chính sách đồng hóa ở Đông Dương. Mà Đông Dương gồm
nhiều xứ: có một thuộc địa là Nam Kỳ và
hai xứ bảo hộ là Trung Kỳ và Cao Mên; lại có
một xứ nửa bảo hộ nửa thuộc địa là Lào; một
xứ bảo hộ trực trị là Bắc Kỳ và một nhượng
địa trong vòng 99 năm là Quảng Châu Loan [13].
Hoàng Đạo chỉ ra:
"Nhưng quan trọng nhất và có
đoàn kết nhất là người Nam [Việt Nam]. Vì thế, nói đến vấn đề
Đông Dương là người ta ám chỉ vấn đề người Nam.
Đối với dân
Annam, một dân tộc có một dĩ vãng có thể nói là oanh liệt, đã tới một trình độ
văn minh khá cao, có tinh thần đoàn kết và rất có vẻ thống nhất về tình tình,
ngôn ngữ từ Nam chí Bắc, chính sách đồng hóa là một sự lầm. (…)
Người Nam chỉ
ao ước một điều: là được những sự tự do của nền dân chủ và được dần dà coi ngó,
đảm đang lấy việc công trong nước họ. Ngày nào dân Annam có quyền, trong sự tự
do, tự kén chọn lấy những người cầm quyền cai trị họ, ngày ấy, nguyện vọng của
người Nam đã đạt được nhiều rồi vậy" [14]
Sau khi xác định chính sách thuộc
địa đồng hóa sẽ đưa đến thất bại, và nói rõ nguyện vọng của người
Việt, Hoàng Đạo viết bài Thuộc địa Pháp - Chế độ chỉ dụ trên
Ngày Nay số 81 (17-10-37), để chỉ ra tính chất độc tài cơ bản trong
chính sách thuộc địa đồng hóa: Cai trị bằng chỉ dụ.
Phản bác việc
cai trị bằng chỉ dụ
Cho tới năm 1937, nước Pháp vẫn chưa
cho dân thuộc địa có một cái quyền gì về lập pháp.
Tức là họ vẫn áp dụng bản Hiến Pháp ngày
14-1-1852 của Nã Phá Luân Đệ Tam, mà theo điều 27 của bản Hiến pháp này, thì
Thượng Nghị Viện (Sénat) sẽ đặt một đạo luật làm hiến pháp cho dân thuộc địa [15].
Trong khi chờ đợi đạo luật hiến pháp ấy,
thì người ta cai trị bằng chỉ dụ. Nhưng bản hiến pháp đó không bao giờ ra đời,
cho nên dân thuộc địa vẫn sống dưới chế độ chỉ dụ, trong hơn 80 năm
(từ 1852 đến 1937), trước là chỉ dụ của vua, sau của tổng thống.
Nghĩa là một chế độ hoàn toàn độc đoán:
ông Tổng thống hoàn toàn có quyền thay đổi luật pháp của dân thuộc địa, hay tự
đặt ra luật mới rồi ban hành chỉ dụ để áp dụng theo ý muốn.
Chưa kể chỉ dụ có rồi, nhưng khi đến
thuộc địa mà Thống đốc (Gouverneur), hay Toàn quyền (Gouverneur général) không
muốn áp dụng, thì cái chỉ dụ ấy cũng chỉ vứt đi. Để bào chữa, người ta bảo
rằng: Chỉ dụ làm đã chóng mà ký cũng chóng!
"Nhưng nhanh chóng không phải là
một điều hay, nhất là đối với việc lập pháp. Lập pháp cũng như xây một tòa nhà.
Một tòa nhà cần phải chắc chắn kiên cố, một đạo luật cần phải khúc triết, đầy
đủ. Muốn thế, đạo luật phải dự thảo cho cẩn thận và đem ra bàn luận cho đích
đáng, rồi mới tuyên hành" [16]
Rồi Hoàng Đạo nhấn mạnh:
"Chế độ chỉ dụ trong một nước
cộng hòa là điều phi lý. Lập pháp cho thuộc địa là vấn đề quan
trọng". "Đem bỏ quyền ấy đi, là cho quyền hành pháp lấn
sang quyền lập pháp, một điều đáng lẽ không thể có trong chế độ cộng hòa".
Sự bất bình đẳng, theo Hoàng Đạo, bắt
nguồn từ cái gọi là Đẳng cấp tôn ti [17] có
sẵn trong đầu óc mỗi phần tử thực dân:
"Người mẫu quốc vượt biển đi
khai thác thuộc địa, sau khi đã chiếm được lãnh thổ của người, thì tự cho mình
là phú cường hơn, nghĩa là văn minh hơn, thuộc về một giống người siêu đẳng, có
thể làm gương cho người khác noi theo được. Giống người siêu đẳng ấy, bèn tự
đặt cho mình cái nghĩa vụ lớn lao là dìu dắt các giống nòi khác noi theo mình
và nhất là tự phó thác cho mình những quyền lợi rộng rãi. Trái lại, người bản
xứ bị coi là thuộc về một giống người hèn kém, nên chỉ được giữ một nhúm quyền
lợi, lớn nhỏ, tùy ở tay người [đô hộ]" [18]
Giọng nhẹ nhàng chỉ rõ nguyên nhân bất
bình đẳng: bởi vì ở thuộc địa, chỉ có hai hạng người: người văn minh và người
thấp hèn. Kẻ cai trị là người văn minh. Kẻ bị trị là hạng thấp hèn, dưới người,
nên không đáng hưởng quyền lợi của con người.
Bức tranh Nguyễn Gia Trí dưới đây, thể
hiện sâu sắc sự bất bình đẳng trong quan niệm đề huề. Tranh vẽ một người phu xe
ốm o, rạp người kéo chiếc xe có một ông Tây bự và một ông quan Ta nhỏ thó. Đội
xếp Tây gọi lại: Sao hai người lớn ngồi cùng một xe?
Ông Tây bự trả lời: "Hai người lớn
đâu? Một người lớn, một người bé đấy chứ!".Tranh của Ritg, Ngày Nay số 80Cái đẳng cấp tôn ti mà
Hoàng Đạo chỉ ra ấy, chính là cái óc thực dân ở mỗi con người.
Óc thực dân đã nằm trong xương thịt và tư
tưởng của một số người, không thể gỡ ra được, kể cả những người hiểu biết,
những danh nhân. Thí dụ Thủ tướng Jules Ferry, là nhà văn hóa, đã có công xây
dựng nền giáo dục hiện đại của Pháp, nhưng ông còn được mệnh danh là "Bắc
Kỳ nhân" (Tonkinois) tức là kẻ [có dã tâm chiếm hết] Bắc Kỳ.
Hoặc như Tướng De Gaulle, anh hùng dân
tộc của Pháp, ngay sau khi nước Pháp được giải phóng khỏi gông cùm Hitler, đã
hạ lệnh cho Tướng Leclerc đổ bộ chiếm lại Sài Gòn và Nam Bộ. Dẫn đến hai cuộc
chiến tranh ở Đông Dương và Algérie từ năm 1945 đến 1962, làm lụn bại nền kinh
tế Pháp, gây đau thương tang tóc cho hàng triệu con người.
Sự chinh phục thuộc địa của Pháp, đã bị
Tống thống Pháp Emmanuel Macron, khi còn đang tranh cử, kết án là "tội
ác chống nhân loại", nhưng ông đã bị nhân dân Pháp chống lại, kể cả
những nhà báo cấp tiến, khiến ông phải lùi bước, nhưng không chịu cải chính.
Xem như thế, chế độ thực dân, cướp đất,
giết người, đến thế kỷ XXI, ở Pháp, cũng vẫn còn là một điều "hiểu"
được và nhất là không thể lên án được.
Cho nên những lời của Hoàng Đạo trong
loạt bài phân tích này, đến nay, là 84 năm sau, vẫn còn đầy đủ ý nghĩa thời sự
và sẽ còn giá trị, một khi con người chưa tẩy não được đầu óc thực dân.
Chú thích:
[1] Các sách ngày trước đều viết là Sa
Điện. Giáo sư Hoàng Dũng giải thích: "Viết Sa Diện là đúng, chứ không phải
là Sa Điện. Vì chữ Hán là 沙面 (xin xem: https://en.wikipedia.org/wiki/Shamian).
Sa 沙 là "cát";
còn Diện 面 là "mặt". Chữ Hán đôi khi một
chữ có nhiều cách đọc, như Hoàng 皇 có thể đọc là Huỳnh.
Nhưng trường hợp Diện 面 thì khác, không ai đọc là Điện".
[2] Từ Ngày Nay số 74 (29-8-37) đến số
95 (23-1-38).
[3] Từ Ngày Nay số 98 (20-2-38) đến số
114 (12-6-38).
[4] Từ Ngày Nay số 125
(28-8-38) đến số 159 (20-4-39).
[5] Từ Ngày Nay số 160 (6-5-39) đến số
196 (13-1-1940).
[6] Hoàng Đạo, Thuộc địa tự
trị (Ngày Nay số 75, 5-9-37) và Chính sách đồng hóa (Ngày
Nay số 76, 12-9-37).
[7] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[8] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[9] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[10] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[11] Ngày Nay số 77 (19-9-37).
[12] Trong bài Cộng tác, đề
huề (Ngày Nay số 78, 26-9-37).
[13] Quảng Châu Loan
(Kouang-Tchéou-Wan) thuộc tỉnh Quảng Đông. Cuối thế kỷ XIX, nhà Thanh bị liệt
cường xâu xé, thi nhau "thuê" các tỉnh Trung Hoa. Pháp
"thuê" Quảng Châu Loan trong 99 năm. Năm 1946, Pháp ký với Tưởng Giới
Thạch hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946), trả lại Trung Hoa các tô giới: Quảng
Châu Loan, Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, và đổi lại Pháp sẽ vào thay thế
quân đội Tưởng Giới Thạch giải giới quân đội Nhật ở Việt Nam, bắc vĩ tuyến 16.
[14] Thuộc địa Pháp - Chính
sách, Ngày Nay số 80, 10-10-37.
[15] Vì vậy, ngày 3-5-1854. Thượng nghị
viện mới thảo nên một đạo luật, còn được thi hành tới ngày nay [1937]. Đó là
đạo Sénatus-consulte ra ngày 3-5-1854, chia thuộc địa Pháp ra
làm hai hạng: một bên là những thuộc địa cũ, như những đảo Martinique,
Guadeloupe và Réunion, còn có ít nhiều được bảo đảm quyền lợi của mình. Một bên
là tất cả những thuộc địa khác, không có chút bảo đảm nào. Chiếu theo điều lệ
thứ 18, của đạo Sénatus-consulte 1854, thì: "Những thuộc địa ấy, Hoàng
đế sẽ định pháp bằng chỉ dụ, cho đến khi nào một Sénatus-consulte [mới] định
đoạt". Nhưng cái Sénatus-consulte mới ấy,
không bao giờ ra đời.
[16] Thuộc địa Pháp - Chế độ chỉ dụ,
Ngày Nay số 81, 17-10-37.
[17] Thuộc địa Pháp - Đẳng cấp tôn
ti, Ngày Nay số 82, 24-10-37.
[18] Thuộc địa Pháp - Đẳng cấp tôn
ti, Ngày Nay số 82, 24-10-37.
Hoàng Đạo: Chính trị và đảng phái
Loạt bài Chính trị và đảng phái được Hoàng Đạo viết và in trên Ngày Nay từ số 98 (20-2-38) đến số 114 (12-6-38), trong thời gian Nhất Linh lập Đảng Hưng Việt. Vậy có thể hiểu rằng: vì phải tìm một đường lối cho đảng này, Hoàng Đạo đã nghiên cứu các chủ nghĩa chính trị để lựa chọn một hướng đi, ông tin rằng: "Trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được".Chính trị và đảng phái, không chỉ đơn thuần trình bày các hình thức đảng phái khác nhau, mà còn nói rõ cái hay cái dở của mỗi đảng, và giảng giải cho một quần chúng chưa có khái niệm rõ ràng về chính trị biết, thế nào là một thể chế chính trị. Tiến trình đi đến dân chủ như thế nào; bởi vì dân ta lúc đó mới từ chế độ quân chủ chuyển sang chế độ thực dân, chưa hiểu thế nào là dân chủ.Nhưng trước khi đi sâu vào nội dung các bài viết của Hoàng Đạo, chúng tôi muốn nhắc lại nguồn gốc chính trị của Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng đã có ảnh hưởng lớn đối với các nhà cách mạng Việt Nam.Mặt trận Bình dân (Le Front Populaire) lên cầm quyền tại Pháp từ tháng 5-36 tới tháng 4-38, hội tụ ba đảng: Đảng Xã hội (SFIO) thuộc cánh Tả, Đảng Cấp tiến (Radical) thuộc cánh Trung và Đảng Cộng sản. SFIO là chữ viết tắt của Section Française de l’Internationale Ouvrière, dịch sát nghĩa: Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động, do Jean Jaurès lập ra năm 1905; đến năm 1969, đổi tên thành Parti Socialiste (Đảng Xã hội) và giữ đến ngày nay. Mặt trận Bình dân thắng cử [1], Léon Blum, chủ tịch Đảng Xã hội lên làm Thủ tướng ngày 4-6-36 và Edouard Daladier (Đảng Cấp tiến), làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.Léon Blum và Jean Jaurès Hai lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp: Jean Jaurès và Léon Blum đều có ảnh hưởng tới cách mạng Việt Nam.Léon Blum (1872-1950), trước khi làm chính trị, là một nhà phê bình văn học có tư tưởng xã hội, đồng hành với Jean Jaurès, cả hai đều xuất thân từ trường Normale, học hiệu cao quý nhất của Pháp.Jean Jaurès (1859-1914), là nhà lãnh đạo Xã hội Pháp đầu tiên có khuynh hướng đổi mới: chủ trương đường lối cộng hòa xã hội. Ban đầu ông theo Đảng Cộng hòa, ủng hộ Jules Ferry, nhưng từ năm 1892, ông bắt đầu bênh vực thợ thuyền, ủng hộ đình công, làm dân biểu Đảng Xã hội từ 1893 đến 1898, rồi trở thành lãnh đạo. Năm 1905, ông quy tụ các khuynh hướng xã hội khác nhau lập thành Đảng SFIO, tức Section Française de l’Internationale Ouvrière (Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động). Chủ trương ôn hòa, chống chiến tranh, ông bị bọn cực hữu ám sát ngày 31-7-1914, trước đại chiến thứ nhất.Khi Jean Jaurès sáng lập báo L’Humanité (Nhân loại) năm 1905, Léon Blum giữ mục phê bình văn học. Khi nhóm Ngũ Long gửi bài ký tên Nguyễn Ái Quốc đến các báo L’Humanité, Le Populaire (Người Bình dân) của Đảng Xã hội, đều được đăng ngay.Trên Ngày Nay số 71 (8-8-37) Nhị Linh (Khái Hưng) viết bài Jean Jaurès, ghi lại tiểu sử và truy ơn Jean Jaurès, với những dòng:"Jaurès xin vào đảng Xã hội rất sớm, và chẳng bao lâu đã đứng đầu đảng.Được thế là nhờ về cái tài siêu việt và cái chí quả quyết phấn đấu của ông. Một nhà phê bình trào phúng bảo: khi diễn thuyết ông có sức hấp dẫn thính giả mạnh như nam châm hút sắt. Mỗi bài diễn văn của ông là một tác phẩm của thi sĩ kiêm âm nhạc gia. Và không có vấn đề gì là ông không thấu triệt: sử ký, luật pháp, kinh tế, lý tài, v.v... thứ gì ông cũng hiểu biết hơn ai hết. Cái tài ấy, cái chí phấn đấu ấy, Jaurès đem ra phụng sự xã hội và nhân loại".Sự khâm phục Jaurès của Nhị Linh trong bài này (viết trước loạt bài Chính Trị và đảng phái của Hoàng Đạo một năm) giải thích hiện tượng tại sao các nhà cách mạng Việt Nam, từ Phan Văn Trường qua Nguyễn Thái Học đến Hoàng Đạo, đều theo chủ nghĩa Xã hội. Bởi vì không những họ bị lý thuyết Xã hội thuyết phục, mà Đảng Xã hội Pháp còn chống chính sách thực dân và đã nâng đỡ cách mạng bất bạo động Việt Nam từ những bước đầu trên đất Pháp, khi Phan Văn Trường gửi Bản Thỉnh Nguyện Thư Tám Điểm, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã được báo L’Humanité đăng ngay. Có thể nói Đảng Xã hội Pháp là điểm tựa đầu tiên mà nhóm Phan Văn Trường có thể dựa vào. Người Việt phần lớn thường không phân biệt xã hội với cộng sản, (một phần vì các nước cộng sản cũng nhận là theo xã hội chủ nghĩa), nên đã hiểu sai và viết nhiều điều lầm lẫn, mặc dù Hoàng Đạo đã giải thích rõ ràng từ năm 1938, trong loạt bài Chính trị và đảng phái này.Loạt bài Chính trị và đảng phái, kéo dài trong nửa năm trên báo Ngày Nay, với những mục đích rõ ràng, ở đây chúng tôi lựa ra hai mục đích chính, và bài viết này sẽ có hai phần:Phần một: Hoàng Đạo trình bày các thể chế chính trị.Phần hai: Sự lựa chọn của Hoàng Đạo.I- Các thể chế chính trịKhái niệm chính trị đầu tiên: chủ tểBài Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38), là bài học đầu tiên. Hoàng Đạo dùng lập luận: Vì loài người là giống vật sinh ra đã có khuynh hướng về chính trị, cho nên ở thời nào, cũng có sự phân biệt: hạng người cai trị và hạng người bị trị. Nhưng ở thời cổ, con người chưa có khái niệm gì về thể chế chính trị mà họ đang sống. Phải đến một trình độ cao hơn, người ta mới hiểu rõ và xét đoán cái chính thể đang cai trị mình.Cái chính thể đó không "tự nhiên" mà có: "Chính thể của một nước lúc nào cũng do hoàn cảnh, do tình thế của xã hội lúc ấy gây nên; sức tưởng tượng của loài người dẫu dồi dào thật nhưng không thể bịa đặt ra một chính thể được." (Ngày Nay số 98)Vậy chính thể đã được hình thành như thế nào?Hoàng Đạo trả lời: Ta không thể biết ở thời cổ đại, gia đình có trước rồi mới lập thành xã hội hay từ sự ăn chung ở lộn của một đám đông rồi mới sinh ra gia đình. Qua những nhà nghiên cứu, ta chỉ biết rằng khi con người có thể ghi lại trí nhớ, thì gia đình đã có và gia đình là căn bản của xã hội.Trong gia đình, từ ngàn xưa, người gia trưởng nắm hết quyền hành.Ngoài xã hội, người nào đứng chủ tế trong việc tế tự quỷ thần, xin quỷ thần phò trợ cho xã hội, là người có quyền hành về chính trị.Tóm lại, trong thời cổ đại: người gia trưởng nắm hết quyền hành trong gia đình, và người chủ tế nắm hết quyền hành ngoài xã hội.Nhưng từ đây, Đông Tây phân chia đôi ngả:Hy Lạp, La Mã tin rằng quỷ thần phù trợ cho một đô thành [cité] tức là phù trợ cho người gia trưởng của một họ, đã lập nên đô thành đó. Hy La chưa có khái niệm chủ tể [maître suprême, souverain] của muôn loài.Trái lại, ở Trung Hoa, người ta đã sớm tin thờ một vị thượng đế, chủ tể của muôn loài.Sự khác nhau về tin tưởng dẫn đến sự khác nhau về chính thể:Đó là thời kỳ Âu, Á chịu sự khống chế nghiêm ngặt của một lãnh tụ.Nhưng ở Âu cũng như Á, con người dần dần không chịu khuất phục nữa, họ nổi lên chống lại. Ở Hy Lạp, La Mã bọn gia trưởng nổi lên chống lại quyền cai trị của vua. Ở Trung Hoa, các nước chư hầu đòi tự trị: Chính thể phong kiến ra đời. Nhưng rồi trải qua những trận giao tranh khốc liệt vì quyền lợi, chư hầu bị diệt vong. Chính thể quân chủ chuyên chế nối gót. Rồi chính thể quân chủ chuyên chế, sẽ bị lật đổ, như ở Pháp, bằng cách mạng 1789, để trở thành chính thể Cộng hòa. Và ở Nga, Cách mạng Tháng Mười lập ra chính thể Cộng sản.Dân tộc ta trước cơn lốc của lịch sửNhưng những thay đổi lớn lao trên thế giới, dân ta, cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn chưa biết, hoặc biết rất sơ sài, vẫn cứ rập theo "con đường vạch sẵn của cổ nhân, dân ta bình tĩnh mà theo, coi như là sự bất di bất dịch, không bao giờ thay đổi mà cũng không thay đổi được. Song cuộc đời bình tĩnh ấy bỗng bị làn gió lốc Tây phương đưa lại làm chấn động. Những tư tưởng cũ, ngơ ngác nhìn những tư tưởng mới xông xáo. Dân ta bỗng như bừng mắt dậy nhìn ra tứ phía, thấy những trời mới lạ, bao la, nghe thấy những giọng cao thấp, khác hẳn điệu đàn của nghìn xưa, và cảm thấy sự thay đổi vô cùng mãnh liệt.Nhưng trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được". (Ngày Nay số 98).Chủ đích của Hoàng Đạo đã rõ ràng: phải duyệt qua những chủ nghĩa chính trị đã hiện hữu trên thế giới mà dân ta vẫn còn mơ hồ hoặc chưa biết, trước khi lựa chọn một thứ chính thể cho nước mình.Chủ nghĩa thiên mệnh Vì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, tất nhiên có câu hỏi: Những người thống trị lấy danh nghĩa gì, để có uy quyền trên người khác? Đó là câu hỏi về "chính danh".Để "chính danh hóa" vai trò của nhà vua, Đông cũng như Tây bèn sáng tạo ra chủ nghĩa Thiên Mệnh, để nói rằng: Chủ quyền chính trị của một nước là do Chúa Trời hay Thượng Đế đã đào tạo và ủy thác cho một người, một nhà, hay một dòng dõi nào trong nước.Ở Pháp, Louis XIV, kể từ 1661, sau cái chết của Phụ chính Mazarin, đã thu hết chính quyền trong tay, thuyết Thiên mệnh được Pierre de L’Hommeau xác định rõ ràng trong mấy khoản:1- Nước Pháp là một nước quân chủ.2- Chỉ có mình vua là có chủ quyền trong cả nước.3- Chủ quyền đó do trời trao cho vua.4- Ý muốn của vua tức là luật. (Ngày Nay số 99)Bốn điều này đưa Louis XIV lên địa vị "vua Mặt trời" (Le roi Soleil), đứng đầu chế độ quân chủ chuyên chế, trên thế giới.Ở Nga, trước Cách mạng Tháng mười (1917), thuyết Thiên mệnh cũng được áp dụng triệt để: Nga Hoàng có quyền lực tuyết đối. Nhưng ở Á Châu, thuyết Thiên mệnh có một ý nghĩa khác, Hoàng đế ở Á Châu phải tu thân để hoàn thành sứ mệnh "phục vụ nhân dân":"Hoàng đế là một vị thần minh cao quý hơn loài người và rất gần gũi với Thượng Đế. Đó là một tin tưởng gây nên từ đời thái cổ mà Đức Khổng Tử đã có tài trạm khắc lại một cách rõ rệt (…) Chính vì Hoàng đế là một đấng thần minh, tài đức hơn hết thảy mọi người, Hoàng Đế lại càng phải theo thiên mệnh, là "yêu cái mà dân yêu, ghét cái mà dân ghét". Là vì Thiên thị tự ngã dân thi, thiên thính tự ngã dân thính (dân trông thấy ở đâu là trời trông thấy ở đó; dân nghe thấy ở đâu, là trời nghe thấy ở đó).(…) Hoàng đế Á Đông không lấy uy lực để ép người, chỉ lấy tài đức làm gương cho người. Hoàng đế luôn luôn phải tu thân, theo thiên lý, thì sự hòa hảo, sự hạnh phúc mới có được trong dân gian. Nếu có một giây phút lầm lỡ, thì Hoàng đế phải tự sửa lỗi, cầu trời tha thứ cho. Những thiên tai, hạn hán hay hỏa hoạn, đều là do lỗi của nhà vua kém đức, nhà vua phải sửa lễ tạ tội với trời. (…)Ai được mục kích những kỳ tế Nam Giao đã rõ. Nam Giao là ngày nhà vua thay mặt hết thảy thần dân mà tế Trời, Đất. Hôm ấy, nhờ sự tế lễ tôn nghiêm, nhờ sự trai tịnh, nhà vua tỏ được tấm lòng thành kính của mình và của bách tính đối với Thượng đế để Thượng đế thi ân tác phúc cho." (Ngày Nay số 100) Cựu hoàng Bảo Đại cũng xác định bổn phận của nhà vua, trong hồi ký:
"Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm qua loa, ông thầy đến giảng một đoạn của sách Luận ngữ, bắt tôi học và đọc lại. (…) Chính vì vậy, dựa vào Khổng học, mà quyền hạn của nhà Vua có gốc rõ rệt, đồng thời cái quyền năng ấy cũng bị tự chế do giáo lý này đưa lại. Chỉ có thấu đáo nền Khổng học, mới có thể hiểu được hình thái gần như mâu thuẫn trong cơ cấu xã hội của nước tôi. Khi học kỹ lưỡng bổn phận của bậc Đế vương, tôi mới làm tròn sứ mệnh của ngôi Hoàng đế, sứ mệnh làm Đại giáo chủ, làm Đại tư ý, làm cha mẹ dân và sứ mệnh làm thiên tử."[4]Tuy không có sự phân quyền rõ rệt, nhưng dưới thời Gia Long, vua không có quyền quyết định độc đoán, mà luôn luôn phải hỏi ý kiến quan Thượng thư trước khi quyết định. Khi xử án ai, nếu vua làm không đúng luật, thượng thư bộ hình có quyền can thiệp và vua phải theo, nhiều trường hợp ghi trong Đại Nam thực lục cho thấy điều đó.Vậy, có sự khác biệt sâu xa giữa chính thể quân chủ chuyên chế Tây phương và chính thể quân chủ Đông phương.Chủ nghĩa dân chủ - Khái niệm Ý chí chung"Phải đến thế kỷ XVII, mới có những thuyết rõ ràng về chủ nghĩa dân chủ: Hobbes, Jurien, Locke, là những nhà triết học đã bênh vực chủ nghĩa ấy: Trong một đoàn thể, hết thảy mọi người đều có ý chí riêng, nhưng gồm cả lại, thì có một ý chí chung để bênh vực cho sự sống của xã hội".[6]Cái Ý chí chung (la volonté de tous) ấy, chính là đầu mối của dân chủ.Hoàng Đạo nêu danh ba triết gia cùng đi từ ý chí chung nhưng có lập thuyết khác nhau:- Hobbes luận rằng cái ý chí chung ấy, là hết thảy các ý chí riêng đều phục tòng ý chí của một người, hay một vài người đại biểu cho tất cả đoàn thể. Như vậy, chủ nghĩa dân chủ của Hobbes đưa về chế độ quân chủ độc đoán.- Theo Jurien, cái ý chí chung ấy là của toàn dân, vậy chủ quyền đã ở người dân, thì dân có quyền phế vua lúc nào cũng được, không phải viện lẽ gì hết.- Locke đồng ý với Jurien, nhưng đi xa hơn: khi người ta đã nhập vào xã hội nào tức là đã giao quyền cho số đông để bảo vệ xã hội. Nhưng trước khi nhập xã hội, người ta đã có những quyền pháp tự nhiên, mà xã hội không thể bỏ hay đàn áp được. (Ngày Nay số 101)J.J. RousseauLý thuyết của Jean-Jacques RousseauThế kỷ XVIII, J.J. Rousseau (1712-1778), triết gia Pháp, cho rằng: Khi ta nhập vào xã hội, tức là ta đã ký một tờ giao ước (Contrat social) bằng lòng bỏ độc lập, tự do, tự nhiên của mình để nhận sự bảo hộ cho sinh mệnh mình. Vì có tờ giao ước, mới có xã hội, mới có một ý chí chung, một nhân cách chung.Ý chí chung ấy là ý chí của đoàn thể, được đặt lên trên ý chí riêng của mỗi người.Ý chí chung ấy được Rousseau gọi là Chủ tể Quần chúng (La Souveraineté Populaire), mọi người phải phục tòng cái ý chí chung ấy (tức là Chủ tể). Chủ tể mới này, không thể cầm bán mà cũng không thể phân chia được. Rousseau viết: "Chính phủ là bộ phận trung gian giữa người dân (les Sujets) và Chủ tể (le Souverain), giúp hai bên trao đổi với nhau, có nhiệm vụ hành pháp và gìn giữ tự do dân sự lẫn chính trị" (Vậy chính phủ tùy thuộc vào Chủ tể, nhận mệnh lệnh của Chủ tể). Những thành phần của bộ phận trung gian này [tức chính phủ] được gọi là Quan chức (Magistrats)" [7] Chủ tể Quần chúng là nền móng của Khế ước Xã hội (La Souraineté populaire est le principe fondamental du Contrat Social). (Ngày Nay số 101)Ta thấy rõ: chữ Chủ tể (Souverain) của Rousseau hoàn toàn khác với chữ Chủ tể thời cổ: Ngày trước Chủ tể là vị lãnh tụ tối cao. Ngày nay, Chủ tể là Ý chí chung của toàn dân và đó là cốt lõi của vấn đề dân chủ.Chế độ nghị viện Chủ nghĩa dân chủ đánh đổ các thứ "ngôi báu", đưa dân lên làm chủ sinh mệnh của mình, Hoàng Đạo viết:"Chủ nghĩa dân chủ đem áp dụng vào thực tế, sinh ra chế độ nghị viện. Toàn thể dân chúng đúng lý ra phải tự đảm nhiệm cái trách nhiệm lập pháp và hành pháp". Song "một đạo luật mà để cho hàng triệu người bàn tán, thì không biết bao giờ mới quyết định và thi hành được." Chưa kể, "phần đông dân chúng không đủ học lực để mà hiểu, lại không đủ thì giờ rỗi để nghiên cứu.". Vì vậy, ở những nước dân chủ lớn, dân chúng ủy quyền cho một số người có học thức và tài đức, thay mặt họ, để lập pháp và hành pháp. Những người được ủy quyền ấy là các nghị viên". Nhưng "Nghị viên do dân bầu lên có thể dự thảo được luật lệ, nhưng không thể quyết định được".Quyền quyết định hay hành pháp ở trong tay chính phủ. Những người cầm quyền hay nhóm hành pháp, giúp việc Tổng thống hay Thủ tướng thường được chọn trong số nhân viên của đảng đã được đại đa số nhân dân tín nhiệm và thường có chân trong nghị viện. "Như vậy, công việc của chính phủ, đối ngoại hay ở trong nước, bao giờ cũng hợp với nguyện vọng của đại đa số, với ý chí chung của nước"."Ở các nước dân chủ, bao nhiêu quyền chính thu vào lá phiếu của cử tri. Công dân mỗi người có một lá, nên đảng nào cũng vậy, cố vận động, dùng lời nói hay báo chí, sách vở, mục đích là mời mọi người vào đảng, mời được càng nhiều càng hay. Vì có nhiều đảng viên, tức là có nhiều phiếu bầu, nhiều phiếu bầu mới có thể thắng lợi cho đảng được." (Ngày Nay số 102).Chủ nghĩa xã hội "Chủ nghĩa Xã hội Khoa học (Socialisme Scientifique) của Karl Marx và Engels ra đời không bao lâu đã đánh đổ những chủ nghĩa Xã hội duy tâm (Socialisme utopique ou idéaliste), khiến những chủ nghĩa ấy trở nên những mộng tưởng lu mờ trong trí nhớ mọi người. Rồi, chưa đầy một thế kỷ, đã thành ra một sức mạnh đầy hứa hẹn, cả hoàn cầu đều chú ý và chính phủ nào cũng phải cân nhắc tới.Đặc điểm của chủ nghĩa ấy là một điều phát minh của Karl Marx về phương diện xã hội. Theo Marx, trong lịch sử của loài người, sự cần thiết nhất, là chế độ kinh tế, chế độ xuất sản. Ảnh hưởng của chế độ ấy đối với người đời rất là to tát, rất là mãnh liệt" (Ngày Nay số 105).Marx nhận ra rằng: những giai cấp quyền lợi tương phản không lúc nào là không tranh đấu lẫn nhau. Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp. Dưới chế độ nô lệ cũng như dưới chế độ phong kiến, không bao giờ giai cấp áp chế với giai cấp bị áp chế quên đấu tranh để giành hoặc giành lại quyền lợi của mình: "Cuộc tranh giành có khi rõ ràng có khi ngấm ngầm nhưng bao giờ cũng đi đến kết quả giống nhau: hoặc là cả hai giai cấp bị diệt vong, hoặc là có cuộc cách mệnh làm thay đổi hẳn xã hội". (Ngày Nay số 105)Trải bao thế kỷ, nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã qua đi, đến thế kỷ XIX, hai phái kình địch là tư bản và lao động.Tiền công càng ít, thì tư bản càng lợi nhiều."Cho nên dần dà, tiền công của thợ thuyền chỉ là số tiền cần dùng để họ nuôi thân và nuôi con. Ngoài ra, là tiền lãi. Mà tiền lãi ấy, chính là số tiền mà thợ thuyền làm công không cho giai cấp tư bản vậy. (…) Tiền lãi, đảng xã hội gọi là thặng dư (plus value), nó chỉ là giá của sự cần lao không giả tiền. Chính số tiền lãi ấy, số tiền thặng dư ấy tích trữ lại mới thành ra tư bản vậy." (Ngày Nay số 105)Nhưng giai cấp thợ thuyền không thể chịu mãi sự cực khổ khốn cùng, tới mức nào đó họ kiệt lực không sản xuất được nữa thì tư bản cũng tiêu vong. Vì vậy cần có một giải pháp: phá tan sự áp chế của một hạng người càng ngày càng trở nên ít ỏi là giai cấp đại tư bản, giai cấp này đã tiêu diệt dần dần giai cấp tiểu tư bản, để giữ độc quyền. Trong khi giai cấp thợ thuyền ngày càng đông, họ sẽ biết rõ giá trị của họ. Và chủ nghĩa xã hội, theo đuổi một mục đích là dẫn dắt sự tranh đấu của giai cấp lao động chống lại giai cấp tư bản. (Ngày Nay số 105). Đảng Xã hội và Đảng Cộng sảnTrong bài Đảng Xã hội và đảng Cộng sản, Hoàng Đạo viết tiếp:"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là phá bỏ hết giai cấp trong xã hội. Phương pháp để đạt mục đích ấy là sự tranh đấu của giai cấp lao động với giai cấp tư bản.Giai cấp lao động sẽ dấy lên một cuộc cách mạng, để cầm lấy chính quyền, cải tạo xã hội thành một xã hội mới, hợp với chủ nghĩa xã hội duy vật."Đảng Xã hội quốc tế hay đảng Cộng sản quốc tế đều theo chủ nghĩa ấy cả. Hai đảng đều nghĩ rằng chế độ sản xuất hiện hành không còn thích hợp với chế độ tài sản hiện có nữa; chỉ có sự thay đổi chế độ tài sản mới có thể đem lại sự nhịp nhàng đã mất." (Ngày Nay số 106)Và muốn thực hiện sự thay đổi ấy, thì phải có sự hợp lực của toàn thể giai cấp lao động thế giới. Vì vậy, Đảng xã hội và Đảng cộng sản đều có tính cách quốc tế cả.Nhưng đến đây có sự chia rẽ giữa Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản:Đảng Xã hội chủ trương: không thể làm cuộc cách mạng chính trị vội vàng mà chưa sửa soạn trước, phải cải cách xã hội dưới chế độ tư bản đã, để tạo ra một xã hội mới. Khi xã hội mới đã vững chắc rồi, mới có thể làm cuộc cách mạng chính trị.Nghĩa là, Đảng Xã hội chủ trương: cải cách xã hội trước khi làm cách mạng chính trị.Ngược lại, Đảng Cộng sản chủ trương phải làm cách mạng chính trị trước và khi đã nắm chính quyền rồi, mới có thể phá hủy chế độ tư bản hiện thời để lập nên xã hội mới, và Đảng Cộng sản chủ trương quyền độc tài của giai cấp vô sản:"Giai cấp lao động lúc đó sẽ giữ lấy quyền độc tài trong xã hội để trừ phá bằng đủ mọi cách sự chống đối của giai cấp tư bản, liên lạc giai cấp lao động với quần chúng, công, nông, rồi tổ chức nên xã hội mới, trong đó không còn giai cấp phân biệt nữa." (Ngày Nay số 106)Vì chính kiến bất đồng, nên hai đảng đã đi hai con đường khác nhau, hành vi nhiều khi trái ngược nhau. Nhưng trên thực tế, thì "đảng Xã hội ở các nước Anh, Đức, Thụy Điển, Na Uy, Áo cũng đã có lần lên cầm quyền chính, nhưng không lúc nào đem chủ nghĩa xã hội thực hành được. Ở Đức họ đã đưa dân chúng đến sự độc tài của Hiller, ở Áo cũng vậy" (Ngày Nay số 106)Đảng Cộng sản cũng chia thành hai phe, dẫn đến cuộc phân liệt ở Nga: phe theo Stalin hay Đệ tam quốc tế và phái theo Trotsky hay Đệ tứ quốc tế.Đệ tam quốc tế và đệ tứ quốc tếTrong bài Đệ tam quốc tế và Đệ tứ quốc tế (Ngày Nay số 107, 24-4-38), Hoàng Đạo trình bày sự khác biệt giữa hai chủ nghĩa Cộng sản Đệ tam và Đệ tứ quốc tế.Tại sao có chữ Quốc tế?Khi thuyết xã hội của Karl Marx ra đời, thợ thuyền mới bắt đầu ý thức về địa vị của mình trong xã hội. Marx-Engels cùng các đồng chí hô hào: toàn thể đại biểu lao động các nước trên thế giới họp lại để hành động chung trong một hội nghị quốc tế.Đệ Nhị quốc tế được tổ chức năm 1889, là "hội nghị của các đảng Xã hội, theo chủ nghĩa của Karl Marx, đồng lòng đi vào con đường giai cấp tranh đấu, nhưng trong vòng pháp luật và theo một lối từ tốn dè dặt cho đến lúc đủ sức để đánh đổ chế độ tư bản" (Ngày Nay số 107).Nhưng từ khi thế chiến xảy ra, sự rạn nứt trong Quốc tế Lao động bắt đầu: mỗi nước muốn đứng riêng, tranh đấu theo kiểu của mình. Đảng Cộng sản Nga sau khi đánh đổ Nga hoàng, hô hào lao động thế giới bỏ Đệ Nhị quốc tế (của Đảng Xã hội) để nhập vào Đệ Tam quốc tế (của Đảng Cộng sản). Đệ Tam quốc tế được tổ chức năm 1919, là hội nghị của các đảng Cộng sản.Nhưng trong khối Đệ Tam quốc tế cũng sẽ xảy ra những bất đồng: từ khi lãnh tụ Lénin qua đời năm 1924, bị phân liệt thành hai phái: phái Stalin và phái Trosky. Phái Stalin thắng, Trosky bị đuổi ra khỏi nước Nga, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động và triệu tập các đồng chí họp thành:Đệ Tứ quốc tế, ra đời năm 1936 [chính thức là năm 1938]. Và sự phân tranh khốc liệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ xảy ra như ta đã biết.Sự khác biệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ Khi giai cấp đã bị tiêu diệt, sự tranh đấu giai cấp không còn nữa, con người sẽ tự do hợp tác với nhau. Chính phủ sẽ bị diệt vong. Nhờ khoa học, con người sẽ dùng máy móc để sản xuất thật nhiều những đồ cần dùng cho nhân loại. Sản xuất được nhiều, quá sức tiêu thụ của thế giới, ai dùng bao nhiêu cũng được. Sự cần lao không còn là bó buộc nữa. Tiền bạc sẽ không còn nữa. Nói tóm lại, khi xã hội đã tiến tới mức cộng sản, thì "người ta làm được bao nhiêu thì làm, muốn lấy bao nhiêu thì lấy". (Ngày Nay số 107)Nhưng trước khi đi đến trình độ cao xa này, xã hội còn phải qua một trình độ dự bị, kém cỏi hơn, tức là trình độ xã hội, vì lực lượng sản xuất chưa hoàn hảo, tổng lượng sản phẩm chưa đủ để cung phụng cho cả nhân loại, thì không thể ai muốn lấy bao nhiêu cũng được, và phải theo cái thuyết "ai làm được bao nhiêu thì lấy chừng ấy". Người không làm gì, cố nhiên là không có ăn. Lúc đó, vẫn có sự bất bình đẳng trong xã hội, vì có người khỏe, người yếu, người thông minh, người ngu độn, vậy lẽ tự nhiên là có người được dùng nhiều hơn, người ít hơn. Sự bất bình đẳng sẽ bị tiêu diệt khi xã hội đạt đến trình độ cộng sản.Phái Đệ Tam cho rằng: nước Nga bây giờ [thời Stalin] chưa đạt đến trình độ cộng sản nhưng đã đạt được trình độ xã hội rồi:"Về mặt công nghệ, các đồ dùng sản xuất đã xung công hết. Ngân hàng, xưởng mỏ, xe lửa, rừng rú không còn là của riêng ai hết. Theo sự tiến hóa của khoa học, sự mở mang đã đi được một bước khổng lồ. Nga đương theo những bản chương trình to tát để đi tới một xã hội công đồng, và muốn đạt được chương trình ấy, hiện giờ còn cần đến nền độc tài của đảng". (Ngày Nay số 107)Đệ Tam quốc tế tin rằng: chỉ một nước Nga, riêng một nước Nga, cũng có thể lập thành một xã hội theo chủ nghĩa cộng sản. Phái Đệ Tứ coi tin tưởng này là một lầm lỗi lớn. Nước Nga là một nước công nghệ còn hèn kém lại đứng giữa những nước tư bản công nghệ phát đạt hơn, nên nếu muốn chủ nghĩa xã hội thắng, thì không thể đứng riêng một mình, mà phải hợp lực với lao động ở các nước tân tiến. Nếu cô lập xã hội cộng sản trong một nước, thì chỉ có thể đem sự nghèo khổ chung đến cho nước ấy, mà đã nghèo khốn thì sẽ có sự tranh giành, sự tranh giành sẽ đưa người ta trở lại chế độ tư bản cũ. Ngoài ra, việc nâng cao đời sống dân chúng ở Nga vẫn còn chậm chạp, lại bị nạn quan liêu hoành hành, vì chưa sản xuất đủ để cung ứng cho toàn dân nên chỉ có một số ít được hưởng quyền lợi hơn hết, họ giữ lấy chính quyền để bảo vệ quyền lợi riêng của họ, trái ngược với quyền lợi chung của xã hội. Vì thế, sẽ đưa đến cách mạng đảo chính hoặc phải trở lại chế độ tư bản.Chủ nghĩa Phát xítTiếp theo đó Hoàng Đạo viết hai bài Chủ nghĩa Phát xít của Mussolini và Chủ nghĩa quốc gia xã hội của Hitler, để trình bày thực chất của hai chủ nghĩa độc tài này.Trên Ngày Nay số 108 (1-5- 38), Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa Phát xít.Chủ nghĩa Phát xít do Mussolini tạo ra, thống trị nước Ý từ 1922-1945, xây dựng trên sự độc tài của một đảng duy nhất. Fascisme (phiên âm thành Phát xít), tiếng Ý là Fascimo. Mussolini, nguyên là một đảng viên xã hội quá khích, đã từng cầm đầu tờ báo Avanti của Đảng Xã hội. Sau thế chiến thứ nhất, ông bỏ chủ nghĩa quốc tế, theo chủ nghĩa quốc gia và tạo ra thuyết phát xít."Chủ nghĩa Phát xít trái hẳn với chủ nghĩa xã hội. Theo Mussolini, Karl Marx đã lầm khi tuyên bố rằng trong thế giới chỉ có hai giai cấp chiến đấu: lao động và tư bản. Riêng về mặt công nghệ, câu ấy đã không đúng, còn về mặt canh nông thì câu ấy lại càng sai". (Ngày Nay số 108)Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa tự do: Cá nhân trong một nước phát xít, phải hy sinh những quyền lợi riêng cho quốc gia, phải quên mình để chiến đấu cho quốc gia với lòng quả cảm. Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa dân chủ. Theo Mussolini, con người không thể bình đẳng được, mà có người hơn, người kém, tùy theo tài lực. Trong nước không thể để cho đại đa số (thắng phiếu) cầm quyền bởi vì dân chúng chẳng biết gì, vì vậy, "cần phải có một đảng, đảng phát xít, một đảng thôi, nêu một lý tưởng cao xa để mà sống theo một tin tưởng chung. Lại cần phải một "quốc gia" mạnh, có quyền bao quát hết cả quyền lợi và lòng hy vọng của cả dân tộc, để dân tộc trở nên hùng cường đến cực điểm. Vậy, theo chủ nghĩa phát xít, cao nhất là quốc gia. "Quốc gia" cần phải sống và hành động như một người: đứng im là chết. Quốc gia biểu hiệu cho quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc, quốc gia là một phương pháp để đời nọ truyền cho đời kia những quyền lợi đã chiếm được, những sáng kiến đã có, và để nâng cao dân tộc lên đến ý nghĩa đế quốc" (Ngày Nay số 108).Tóm lại, quốc gia ấy là của một người: Mussolini nắm quyền sinh sát cả một dân tộc trong tay. Chủ nghĩa Quốc gia xã hội của HitlerTrên Ngày Nay số 109 (8-5-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa quốc gia xã hội.Năm 1918, tại Munich, một chính đảng thành lập, tất cả chỉ có bảy người, đó là đảng Đức quốc lao nhân quốc gia xã hội [parti ouvrier allemand, anticapitaliste et antisémite] của Hitler, sau đổi tên thành Đảng Quốc gia xã hội (National-socialiste tức Nazi).Hồi ấy, ở Đức, Đảng Xã hội dân chủ (Social démocrate) theo chủ nghĩa Karl Marx, thế lực rất mạnh, đại đa số thợ thuyền đều ủng hộ. Nhưng dần dần, Đảng Quốc gia xã hội của Hiller chiếm ưu thế, Đảng Xã hội dân chủ lui dần và sau chỉ còn hành động trong bóng tối.Đảng ấy có một chương trình như thế nào khiến đại đa số dân Đức theo?"Chương trình ấy, Hitler và bọn đồng chí đã đem ra thảo luận ngày 24 tháng 2 năm 1920 ở Munich, và sau, Gottfrid Feder, nhà thuyết lý của đảng, đã phủ chính [sửa lại]. Theo chương trình ấy, mục đích của đảng theo đuổi là phục hưng nước Đức theo tư chất riêng của người Đức. Muốn vậy, cần phải đem sự ích chung đặt lên trên sự ích riêng của từng người, cần phải đặt quốc gia lên trên cá nhân. Chủ nghĩa quốc gia xã hội giống chủ nghĩa phát xít của Mussolini về nguyên tắc này, mà cũng vì thế, danh từ phát xít người ta vẫn thường dùng để tặng chủ nghĩa của Hitler.Quốc gia của Hitler, không phải là của chung của tất cả số người sống trên một khoảng đất, cùng mưu một cuộc sống chung, mà gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật-nhĩ-man ở trong nước Đức và ở nước ngoài, và chỉ những người ấy thôi". (Ngày Nay số 109)
Vậy điểm thứ nhất cần ghi nhận: Đối với chủ nghĩa Nazi: Quốc gia Đức gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật nhĩ man, ở trong và ngoài nước, mà thôi.Đặc điểm thứ nhì của chủ nghĩa Nazi là đặt quốc gia vào trong khuôn khổ giống nòi: "Thu tất cả những người Nhật Nhĩ Man [Đức chính gốc] trong thiên hạ để lập thành một nước Đức lớn (Deutschland) (…) Chỉ riêng giống người Đức là có quyền công dân, là có quyền tham dự vào bộ máy cai trị và lập pháp, là có quyền làm việc. Những người giống khác đến sinh nhai ở Đức bao giờ cũng chỉ được coi như kẻ ngụ cư; nếu chỉ đủ việc làm cho người giống Đức, thì chính phủ Đức sẽ có quyền trục xuất giống người khác ra ngoài cõi.Nhất là giống người Do Thái. Vì đảng Hitler coi giống Do Thái trái ngược hẳn với giống Đức. Giống Do Thái chỉ thiên về vật chất, có thể coi là nguồn gốc của hết thảy thói xấu điểu dở trong xã hội".Hitler cho rằng chỉ có giống Nhật Nhĩ Man, tức giống Đức, là đứng trên tất cả: "Nếu giống Đức cứ giữ nguyên chất từ xưa tới giờ, thì giống Đức đã trở nên tài giỏi nhất và đã làm bá chủ hoàn cầu. Nhưng trong năm sáu thế kỷ qua, vì giống Đức ăn chung ở lộn với giống khác, nên tư chất bớt ghê gớm đi nhiều." (Ngày Nay số 109)Nay phải khôi phục lại tư chất cũ, vì thế, người giống Đức phải lấy người giống Đức, lấy người khác giống là trái luật, lấy Do Thái là phải tù tội. Để cho có giống tốt hơn, chính phủ Đức bắt những người bệnh tật không được sinh nở.Tôn Dật Tiên Chủ nghĩa Tam dân của Tôn VănTrên Ngày Nay số 113 (5-6-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ Nghĩa "Tam dân" của Tôn Văn.Chủ đích của Tôn Văn là đuổi người ngoại quốc đi, khôi phục Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và phân chia đất đai đều dặn cho mọi người.Sau khi đi khắp nơi để học hỏi các khuynh hướng chính trị Âu Mỹ, bác sĩ Tôn Dật Tiên, lập ra chủ nghĩa Tam dân. Lý thuyết của ông thành hình trong thời kỳ vận động cuộc cách mạng Tân Hợi, 1912. Nhưng những văn bản ông soạn phần lớn đã bị thiêu hủy, phải đến khoảng 1924, người ta mới được nghe ông nói về chủ nghĩa Tam dân trong những buổi diễn thuyết có hàng ngàn người dự.Vậy Chủ nghĩa Tam dân là gì?Chủ nghĩa Tam dân gồm ba nguyên tắc chính: Dân tộc, dân quyền và dân sinh.1- Dân tộc hay quốc dân, quốc gia sẽ cứu nước Tàu ra khỏi sự áp chế của liệt cường. Hoàng Đạo viết:"Dân tộc Tàu là Hán tộc đã có một lịch sử vẻ vang từ năm, sáu nghìn năm nay, một dân tộc đông hơn hết và đã sớm văn minh hơn hết. Tuy nhiên, hiện giờ thì dân tộc Tàu (…) đã phải chịu nhượng lĩnh thổ của mình cho bọn đế quốc (…) Tàu thật khổ hơn một thuộc quốc, như Annam thì chỉ chịu dưới quyền một ông chủ, chứ như Tàu hiện giờ [dưới thời Từ Hy], là nô lệ cho hơn mười chủ, cho cả thế giới. Cường quốc muốn chiếm Tàu lúc nào cũng được, và bắt Tàu chịu gì cũng phải chịu, kể cả sự diệt vong" (Ngày Nay số 113).Trong tình cảnh ấy, Tôn Văn chủ trương: "Cần phải đòi lại nước Tàu cho người Tàu". "Và muốn vậy cần phải hiểu rõ tâm lý của người Tàu trước đã". 2- Dân quyền là nguyên tắc của các nước dân chủ, đặt nền tảng trên ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Nhưng tự do của người Tây phương khác tự do của người Tàu, theo Hoàng Đạo: tự do đối với người Âu Mỹ, giống như tiền bạc đối với người Tàu: người Tàu nghèo, họ cần tiền hơn, còn người Ây Mỹ thiếu tự do hơn người Tàu, vì vua chúa Tàu ngày xưa chỉ giữ ngôi báu và thu thuế, còn họ để cho người dân muốn làm gì thì làm.Bình đẳng cũng vậy: hai bông hoa còn khác nhau, huống chi con người, nên không thể có tuyệt đối bình đẳng, thế nào cũng có người ngu, người khôn, vậy chỉ nên đòi bình đẳng chính trị, tức là: công dân ai cũng có quyền ngang nhau. Nhưng sự bình đẳng này, người Tàu xưa nay cũng đã có nhiều hơn người Âu: vì nước Tàu không có giai cấp quý tộc đời đời giữ lấy đặc quyền. Vả lại trong thuyết Tam dân đã có bình đẳng: thuyết này lấy bác ái làm gốc để cho kẻ có trí giúp người ngu, cùng nhau đi đến bình đẳng.3- Dân sinh cũng từ chữ bác ái mà ra: Mưu cầu hạnh phúc cho bốn trăm triệu người Trung hoa thì cần phải có lòng bác ái. Lúc đó, máy móc đã phát triển, vì thế một số đông thợ thuyền không có việc làm. Theo Tôn Văn, chủ nghĩa duy tâm xã hội không đứng vững được vì không giải quyết được vấn đề việc làm. Chủ nghĩa xã hội duy vật của Karl Marx cũng có vấn đề, vì:1- Vật chất không phải là trung tâm điểm của lịch sử, người ta còn có ước vọng tinh thần nữa. 2- Đấu tranh giai cấp, cũng không phải là nguyên nhân của tiến bộ, nó chỉ là cái "bệnh" của một xã hội đang tiến mà thôi.Tôn Văn cho rằng: nguyên nhân của tiến bộ là sự điều hòa các giai cấp. Nhờ nhà nước đứng trung gian: tư bản càng giàu thì thợ thuyền sẽ càng sung sướng.Và trong sự sản xuất, không chỉ có thợ thuyền và tư bản, còn có hết thảy các giai cấp khác trong nước, như nhà nông chẳng hạn. Vậy thuyết thặng dư của Karl Marx không đúng nữa.Vì vậy, nước Tàu của Tôn Văn không cần phải theo nước khác, cứ tự mình cứu lấy mình là hơn. Và muốn thế cần xây móng sự cải tạo xã hội trên hòn đá Tàu. Hòn đá ấy là gỉ? Là nhận ra rằng: Ở Trung Hoa không có nhà giàu, chỉ có nghèo ít và nghèo lắm mà thôi. Vậy cần phải tìm phương pháp làm bớt sự bần cùng, làm cho dân giàu lên. Bằng hai cách:1- Bình quân về điền địa: chia đều đất đai cho mọi người.2- Đặt thuế lợi tức. Trước đây chỉ có thuế thân, tức mà mỗi người, giàu nghèo đều phải đóng thuế, tuy có chênh lệch khác nhau. Đặt ra thuế lợi tức là một bước tiến mới của xã hội.Chủ nghĩa dân sinh là làm sao thỏa mãn được bốn nhu cầu cốt yếu của dân tộc là: ăn, mặc, nhà ở và di chuyển. (Ngày Nay số 113)II- Sự lựa chọn của Hoàng ĐạoTuy nhiên, con đường tranh đấu chính trị và xã hội của Tự Lực văn đoàn, không chỉ bắt đầu từ năm 1938, với loạt bài Chính trị và đảng phái của Hoàng Đạo, mà đã được bộc lộ từ trước, với hai chữ bình dân.Hai chữ bình dân của Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoànTháng 3 năm 1934, bản Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn đã nhấn mạnh đến chữ xã hội và bình dân, ở điều 2, điều 3 và điều 6:Điều 2: Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội.Điều 3: Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tình cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.Điều 6: Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái. [13]Tóm lại, hai chữ bình dân của Tự Lực văn đoàn bao gồm cả hai thành phần: tiểu tư sản và lao động và được Hoàng Đạo xác định là đối lập với thành phần trưởng giả phú hào và quý phái.Nhưng những người chống Tự Lực văn đoàn, thường bỏ chữ lao động đi, chỉ giữ lại chữ tiểu tư sản và khuếch đại lên, để chỉ thành phần giàu có (trưởng giả, phú hào), rồi dựa vào cớ đó phê phán Tự Lực văn đoàn về phe người giàu, là hoàn toàn sai.Năm 1936, Hoàng Đạo viết bài Tả đảng với hữu đảng trên Ngày Nay số 16 (12-7-36) để chào mừng Đảng Xã Hội [15] lên cầm quyền tại Pháp.Bài này cho thấy Hoàng Đạo nhiệt liệt ủng hộ Đảng Xã hội Pháp, ông còn nói thêm: Nghị viện Pháp chia làm hai phe: tả, hữu. Phe tả chú trọng về bình dân, phe hữu nghiêng về phía những nhà tư bản. Năm 1936: phe tả có 378 nghị viên, và phe hữu, 236 nghị viên."Tả đảng gồm ba phái chính: đảng cộng sản, đảng xã hội và đảng xã hội cấp tiến. Chương trình ba đảng ấy khác xa nhau, nhưng may lại có chỗ giống nhau: là cả ba đều chú trọng về bình dân. Các phái hữu phần đông là của những nhà đại tư bản, đại doanh nghiệp chỉ muốn theo chủ nghĩa phát xít, nhưng theo một cách mập mờ". (Ngày Nay số16)Năm 1938, trong lúc Mặt trận Bình dân bị khó khăn tại Pháp, Léon Blum phải từ chức, Daladier lên thay ngày 10-4-38. Ngày Nay số 117 (3-7-38), đưa ra những khẩu hiệu tuyên truyền cho Mặt trận Bình dân như Mặt trận Bình dân đòi quyền sống. Hoặc như: Nhóm "Tự Lực" hết sức ủng hộ Mặt Trận dân chủ, châm ngôn của chúng tôi là:Hết sức giúp cho Mặt trân Bình dân thắng và bền. Hết sức giúp cho Mặt trận Bình dân đòi và làm.Tóm lại, từ năm 1934, Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn đã chọn Đảng Xã hội Pháp như một tổ chức chính trị cùng tư tưởng và như một "đồng minh" có thể dựa vào trong cuộc chiến chống chế độ thực dân.Trước Hoàng Đạo, Nhượng Tống và Nguyễn Thái Học cũng đã đề xướng con đường tranh đấu tương tự, nhưng cuộc cách mạng của họ quá ngắn ngủi, và họ cũng không có điều kiện ra báo để quảng bá lập trường chính trị của mình, Hoàng Đạo là người đầu tiên làm công việc giải thích con đường chính trị của ông, của Tự Lực văn đoàn và đồng thời cũng là con đường của Việt Nam Quốc dân Đảng.Con đường chính trị của Việt Nam Quốc Dân ĐảngNam Đồng Thư Xã, thành lập cuối năm 1926, là hạt nhân đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, ban đầu, chỉ có hai anh em Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân tức Nhượng Tống, in loại sách cổ động lòng ái quốc, như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách mạng thế giới, Chủ nghĩa Tam Dân [16]… Theo Nhượng Tống, sách in lúc bấy giờ chưa bị kiểm duyệt như báo, nhưng khi ra rồi, chính quyền thấy có hại, ra lệnh tịch thu, thì sách đã bán hết.Một mặt khác, Nhượng Tống và Hoàng Văn Đào (hai đồng chí của Nguyễn Thái Học) đều cho biết: đảng trưởng theo chủ nghĩa Xã hội.Nhượng Tống xác định: Sau khi cách mạng thành công sẽ tổ chức một chính thể Cộng hòa theo chủ nghĩa Dân chủ xã hội. [17]Nhượng Tống còn là dịch giả lỗi lạc sách chữ Hán, vậy chính ông đã dịch sách của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học cũng học Hán văn từ nhỏ: hẳn họ đã đồng ý với nhau khi lấy tên đảng là Việt Nam Quốc Dân.Việt Nam Quốc Dân Đảng, thừa kế tên Quốc Dân Đảng của Trung Hoa và kết hợp hai chủ nghĩa: Xã hội của phương Tây và Tam dân của Tôn Dật Tiên.Nhưng cả Nhượng Tống lẫn Nguyễn Thái Học đều không có thì giờ viết thành một lý thuyết riêng của đảng. Bởi vì:- Nhượng Tống bị bắt ở Huế, [khoảng tháng 3-1929] sau vụ ám sát Bazin [ngày 9-2-1929], khi ông thay đảng trưởng vào Huế, gặp cụ Phan Bội Châu, nhờ cụ viết thư giới thiệu với các tổ chức cách mạng bên ngoài. Ông bị bắt gần một năm trước ngày Tổng khởi nghĩa (11-2-1930), bị đưa ra tòa ngày 2-7-1929 [18]; bị đày đi Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến ngày 20-4-1933 mới được trở về [19] và bị quản thúc 5 năm nữa.- Nguyễn Thái Học lên máy chém ngày tháng 17-6-1930.Tám năm sau, qua loạt bài Chính Trị và đảng phái Hoàng Đạo đã giải thích sự lựa chọn của Việt Nam Quốc Dân Đảng mà Nguyễn Thái Học và Nhượng Tống chưa kịp làm.Đi sâu và đi xa hơn nữa, Hoàng Đạo trình bày các chủ thuyết chính trị khác nhau trong thế kỷ XX, để loại hẳn các chính sách đế quốc, quân phiệt, độc tài, kỳ thị chủng tộc ra, và chỉ giữ lại những điều thích hợp cho dân tộc, chủ yếu:1- Chủ nghĩa Xã hội Tây phương2- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên.1- Theo chủ nghĩa Xã hộiSự lựa chọn của Hoàng Đạo được ông diễn tả rõ ràng trong bài Vài lời nói thêm trên Ngày Nay số 114 (12-6-38), với những dòng ưu ái sau đây dành cho chủ nghĩa Xã hội:"Chủ nghĩa xã hội, mới phát sinh được gần một thế kỷ - tôi muốn nói chủ nghĩa xã hội duy vật - đã được nhiều người, rất nhiều người hưởng ứng. Là vì chủ nghĩa ấy lập luận chắc chắn khiến cho kẻ trí thức nhận rõ tính cách khoa học của chủ nghĩa ấy, lại vì chủ nghĩa ấy nêu ra sự bình đẳng cho cả nhân loại, khiến cho giai cấp thợ thuyền và những giai cấp thấp bé thường bị đè nén trong xã hội nức lòng coi như con đường thoát ly ra khỏi vòng lao lung. (…) Ngoài ra, ta còn có thể nói rằng chủ nghĩa ấy ảnh hưởng rất lớn ở bốn nước Suède, Norvège, Danemark và Finlande, bốn nước sung sướng trên hoàn cầu" (Ngày Nay số 114,12-6-38).Ở đây, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau trong quan niệm cần lao của Hoàng Đạo với quan niệm cần lao của Tây phương:Cùng là sự người bóc lột người, nhưng Đảng Xã hội Tây phương nhấn mạnh đến giai cấp tư bản bóc lột giai cấp lao động, còn đối với Hoàng Đạo, là sự tranh đấu kép:- Của giai cấp tiểu tư sản và lao động chống lại giai cấp đại tư bản.- Của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thực dân.Một bên là người cùng một dân tộc tranh đấu với nhau vì giàu nghèo khác biệt.Một bên là người khác dân tộc, tranh đấu để lấy lại quyền dân tộc tự quyết và quyền làm người.Cuộc tranh đấu sau chính là cuộc tranh đấu của những nước bị đô hộ chống lại bọn thực dân, cũng là trường hợp của nước Tàu và nước Việt.2- Theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên:Cùng trong cảnh đất nước còn cổ hủ và bị người Âu chiếm đoạt, những gì Tôn Dật Tiên khám phá cho Trung quốc, có thể áp dụng được ở Việt Nam.Tôn Dật Tiên lấy chủ trương: Đuổi người ngoại quốc, chấn hưng Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và chia đều đất đai cho dân, làm tôn chỉ cho cuộc cách mạng. Hoàng Đạo đã phối hợp đường lối của Đảng Xã Hội với chủ nghĩa Tam Dân, để rút ra bốn nguyên tắc sau đây:1- Dùng chủ nghĩa Quốc gia của Tôn Dật Tiên để đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ.2- Tranh đấu cho thành phần Cần lao, chống lại sự đán áp của tư bản và chống lại sự bóc lột của thực dân trên toàn lãnh thổ.3- Cải cách xã hội khỏi tình trạng lạc hậu, chậm tiến, san bằng giàu nghèo.4- Đưa nước đến chế độ dân chủ.Chữ quốc gia trong quan niệm Quốc dân đảng, chính là quốc dân; từ Tôn Dật Tiên đến Nguyễn Thái Học, Hoàng Đạo… đều có cùng một nội dung: quốc dân chống lại đế quốc thực dân, không liên hệ gì với chữ quốc gia độc tôn trên hết của Phát xít và Nazi.Sau 1954 chữ quốc gia được coi là một thứ "chủ nghĩa" để đối đầu với chủ nghĩa cộng sản, thì chỉ là một sự biến thiên của ngôn từ: Chữ quốc gia đã mất hẳn ý nghĩa nguyên thủy của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học. Sự đối đầu giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, tạo ra một mặt trận giữa người Trung Quốc với nhau. Hại thay, nước Việt cũng đi theo con đường đẫm máu ấy.Chú thích:[1] Ngày 26-4-1936 và 3-5-36, vì Pháp bầu cử hai lần.[2] Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38).[3] Ngày Nay số 99 (27-2-38) và Ngày Nay số 100 (6-3-38). [4] Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, bản dịch Le Dragon d’Annam, Nguyễn Phước tộc xuất bản 1990, Cali, trang 27.[5] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38) và số 102 (20-3-38). [6] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38). [7] Nguyên văn tiếng Pháp: "Le Gouvernement est "un corps intermédiaire établi entre les sujets et le Souverain pour leur mutuelle correspondance, chargé de l’exécution des lois et du maintien de la liberté, tant civile que politique" (le Gouvernement est donc subordonné au Souverain: il recoit ses instructions de celui-ci). Les membres de ce corps intermédiaire sont appelés "Magistrats." (Rousseau, Contrat social, livre III, chap. I).[8] In trên Ngày Nay số 105 (10-4-38) và Ngày Nay số 106 (17-4-38). [9] Công xã tức chính quyền vô sản ở một thị xã hay một thành phố.[10] Vùng sông Rhin, từ biên giới Pháp đến biên giới Hòa Lan. [11] Tôn Văn (1866-1925) tức Tôn Dật Tiên hay Tôn Trung Sơn, là một trong những người thành lập Quốc Dân Đảng Trung Hoa, có ảnh hưởng lớn trong việc đánh đổ nhà Thanh và xây dựng nước Trung Hoa dân quốc. Tôn Dật Tiên, quê Quảng Đông, học truyền thống đến năm 13 tuổi, rồi theo anh sang Honolulu, học trường Mỹ và nhập đạo Tin lành. Năm 1883, trở về nước, học Đại học Anh ở Hồng Kông, đỗ y khoa bác sĩ năm 1892. Hoạt động chính trị và lập đảng Trung Hưng 1894. Năm 1895, tổ chức lật đổ nhà Thanh nhưng thất bại, phải sống lưu vong ở châu Âu, Mỹ, Canada và Nhật Bản trong 16 năm.Ngày 10-10-1911, cách mạng nổi lên ở Vũ Xương, thành công, lúc đó Tôn Văn đang ở Mỹ, được mời về nước, và được bầu làm Tổng thống lâm thời đầu tiên của Trung Hoa (từ 29-12-1911 đến 10-3-1912). Dĩ nhiên sau đó, nền cộng hòa non trẻ còn phải trải nhiều thử thách, nhưng sự thành công ban đầu của Tôn Văn và lý thuyết Tam dân đã ảnh hưởng đến những nhà cách mạng Việt Nam, đặc biệt Việt Nam Quốc Dân Đảng. [12] Để đạt mục đích ấy, Tôn Văn đưa ra ba phương pháp:1- Trung quân sẽ đổi thành trung với nước. Còn, hiếu đễ, nhân, tín, lễ nghĩa, cần phải duy trì và mở mang thêm.2- Trở lại văn hóa xưa: Đạo tu thân của Đức Khổng Tử là một đạo nên theo; chính người Đức họ đến học lại ta (ý nói triết thuyết Kant, Nietzsche), vậy ta cần theo đạo ấy để sửa mình. 3- Theo khoa học Thái Tây. Về mặt vật chất, thì Thái Tây hiện nay văn minh hơn Tàu; vậy người Tàu phải theo họ để mạnh như họ.[13] Phong Hóa số 87, 2-3-34.[14] Ngày Nay số 33, 8-11-36.[15] Đảng Xã Hội, tiếng Pháp là SFIO (Section Française de L’Internationale Ouvrière) do Léon Blum đứng đầu. [16] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt, Cali, 2006, trang 25.[17] Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, chương 16, bản điện tử. (Sách này đã được Nhã Nam in lại năm 2014) [18] Theo Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, các chương 17, 18, 19, 20, bản điện tử. [19] Phong Hóa số 45 (5-5-33). Vậy mà mới đây có nhiều chỗ viết: ông bị Quốc Dân Đảng "dự định thủ tiêu" trước ngày Tổng khởi nghĩa, vì chống lại việc này!.
Loạt bài Chính trị và đảng phái được Hoàng Đạo viết và in trên Ngày Nay từ số 98 (20-2-38) đến số 114 (12-6-38), trong thời gian Nhất Linh lập Đảng Hưng Việt. Vậy có thể hiểu rằng: vì phải tìm một đường lối cho đảng này, Hoàng Đạo đã nghiên cứu các chủ nghĩa chính trị để lựa chọn một hướng đi, ông tin rằng: "Trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được".
Chính trị và đảng phái, không chỉ đơn thuần trình bày các hình thức đảng phái khác nhau, mà còn nói rõ cái hay cái dở của mỗi đảng, và giảng giải cho một quần chúng chưa có khái niệm rõ ràng về chính trị biết, thế nào là một thể chế chính trị. Tiến trình đi đến dân chủ như thế nào; bởi vì dân ta lúc đó mới từ chế độ quân chủ chuyển sang chế độ thực dân, chưa hiểu thế nào là dân chủ.
Nhưng trước khi đi sâu vào nội dung các bài viết của Hoàng Đạo, chúng tôi muốn nhắc lại nguồn gốc chính trị của Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng đã có ảnh hưởng lớn đối với các nhà cách mạng Việt Nam.
Mặt trận Bình dân (Le Front Populaire) lên cầm quyền tại Pháp từ tháng 5-36 tới tháng 4-38, hội tụ ba đảng: Đảng Xã hội (SFIO) thuộc cánh Tả, Đảng Cấp tiến (Radical) thuộc cánh Trung và Đảng Cộng sản. SFIO là chữ viết tắt của Section Française de l’Internationale Ouvrière, dịch sát nghĩa: Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động, do Jean Jaurès lập ra năm 1905; đến năm 1969, đổi tên thành Parti Socialiste (Đảng Xã hội) và giữ đến ngày nay.
Mặt trận Bình dân thắng cử [1], Léon Blum, chủ tịch Đảng Xã hội lên làm Thủ tướng ngày 4-6-36 và Edouard Daladier (Đảng Cấp tiến), làm phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng.
Léon Blum và Jean Jaurès
Hai lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp: Jean Jaurès và Léon Blum đều có ảnh hưởng tới cách mạng Việt Nam.
Léon Blum (1872-1950), trước khi làm chính trị, là một nhà phê bình văn học có tư tưởng xã hội, đồng hành với Jean Jaurès, cả hai đều xuất thân từ trường Normale, học hiệu cao quý nhất của Pháp.
Jean Jaurès (1859-1914), là nhà lãnh đạo Xã hội Pháp đầu tiên có khuynh hướng đổi mới: chủ trương đường lối cộng hòa xã hội. Ban đầu ông theo Đảng Cộng hòa, ủng hộ Jules Ferry, nhưng từ năm 1892, ông bắt đầu bênh vực thợ thuyền, ủng hộ đình công, làm dân biểu Đảng Xã hội từ 1893 đến 1898, rồi trở thành lãnh đạo. Năm 1905, ông quy tụ các khuynh hướng xã hội khác nhau lập thành Đảng SFIO, tức Section Française de l’Internationale Ouvrière (Chi bộ Pháp của Quốc tế Lao động). Chủ trương ôn hòa, chống chiến tranh, ông bị bọn cực hữu ám sát ngày 31-7-1914, trước đại chiến thứ nhất.
Khi Jean Jaurès sáng lập báo L’Humanité (Nhân loại) năm 1905, Léon Blum giữ mục phê bình văn học. Khi nhóm Ngũ Long gửi bài ký tên Nguyễn Ái Quốc đến các báo L’Humanité, Le Populaire (Người Bình dân) của Đảng Xã hội, đều được đăng ngay.
Trên Ngày Nay số 71 (8-8-37) Nhị Linh (Khái Hưng) viết bài Jean Jaurès, ghi lại tiểu sử và truy ơn Jean Jaurès, với những dòng:
"Jaurès xin vào đảng Xã hội rất sớm, và chẳng bao lâu đã đứng đầu đảng.
Được thế là nhờ về cái tài siêu việt và cái chí quả quyết phấn đấu của ông. Một nhà phê bình trào phúng bảo: khi diễn thuyết ông có sức hấp dẫn thính giả mạnh như nam châm hút sắt. Mỗi bài diễn văn của ông là một tác phẩm của thi sĩ kiêm âm nhạc gia. Và không có vấn đề gì là ông không thấu triệt: sử ký, luật pháp, kinh tế, lý tài, v.v... thứ gì ông cũng hiểu biết hơn ai hết. Cái tài ấy, cái chí phấn đấu ấy, Jaurès đem ra phụng sự xã hội và nhân loại".
Sự khâm phục Jaurès của Nhị Linh trong bài này (viết trước loạt bài Chính Trị và đảng phái của Hoàng Đạo một năm) giải thích hiện tượng tại sao các nhà cách mạng Việt Nam, từ Phan Văn Trường qua Nguyễn Thái Học đến Hoàng Đạo, đều theo chủ nghĩa Xã hội. Bởi vì không những họ bị lý thuyết Xã hội thuyết phục, mà Đảng Xã hội Pháp còn chống chính sách thực dân và đã nâng đỡ cách mạng bất bạo động Việt Nam từ những bước đầu trên đất Pháp, khi Phan Văn Trường gửi Bản Thỉnh Nguyện Thư Tám Điểm, ký tên Nguyễn Ái Quốc, đã được báo L’Humanité đăng ngay. Có thể nói Đảng Xã hội Pháp là điểm tựa đầu tiên mà nhóm Phan Văn Trường có thể dựa vào.
Người Việt phần lớn thường không phân biệt xã hội với cộng sản, (một phần vì các nước cộng sản cũng nhận là theo xã hội chủ nghĩa), nên đã hiểu sai và viết nhiều điều lầm lẫn, mặc dù Hoàng Đạo đã giải thích rõ ràng từ năm 1938, trong loạt bài Chính trị và đảng phái này.
Loạt bài Chính trị và đảng phái, kéo dài trong nửa năm trên báo Ngày Nay, với những mục đích rõ ràng, ở đây chúng tôi lựa ra hai mục đích chính, và bài viết này sẽ có hai phần:
Phần một: Hoàng Đạo trình bày các thể chế chính trị.
Phần hai: Sự lựa chọn của Hoàng Đạo.
I- Các thể chế chính trị
Khái niệm chính trị đầu tiên: chủ tể
Bài Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38), là bài học đầu tiên. Hoàng Đạo dùng lập luận: Vì loài người là giống vật sinh ra đã có khuynh hướng về chính trị, cho nên ở thời nào, cũng có sự phân biệt: hạng người cai trị và hạng người bị trị. Nhưng ở thời cổ, con người chưa có khái niệm gì về thể chế chính trị mà họ đang sống. Phải đến một trình độ cao hơn, người ta mới hiểu rõ và xét đoán cái chính thể đang cai trị mình.
Cái chính thể đó không "tự nhiên" mà có: "Chính thể của một nước lúc nào cũng do hoàn cảnh, do tình thế của xã hội lúc ấy gây nên; sức tưởng tượng của loài người dẫu dồi dào thật nhưng không thể bịa đặt ra một chính thể được." (Ngày Nay số 98)
Vậy chính thể đã được hình thành như thế nào?
Hoàng Đạo trả lời: Ta không thể biết ở thời cổ đại, gia đình có trước rồi mới lập thành xã hội hay từ sự ăn chung ở lộn của một đám đông rồi mới sinh ra gia đình. Qua những nhà nghiên cứu, ta chỉ biết rằng khi con người có thể ghi lại trí nhớ, thì gia đình đã có và gia đình là căn bản của xã hội.
Trong gia đình, từ ngàn xưa, người gia trưởng nắm hết quyền hành.
Ngoài xã hội, người nào đứng chủ tế trong việc tế tự quỷ thần, xin quỷ thần phò trợ cho xã hội, là người có quyền hành về chính trị.
Tóm lại, trong thời cổ đại: người gia trưởng nắm hết quyền hành trong gia đình, và người chủ tế nắm hết quyền hành ngoài xã hội.
Nhưng từ đây, Đông Tây phân chia đôi ngả:
Hy Lạp, La Mã tin rằng quỷ thần phù trợ cho một đô thành [cité] tức là phù trợ cho người gia trưởng của một họ, đã lập nên đô thành đó. Hy La chưa có khái niệm chủ tể [maître suprême, souverain] của muôn loài.
Trái lại, ở Trung Hoa, người ta đã sớm tin thờ một vị thượng đế, chủ tể của muôn loài.
Sự khác nhau về tin tưởng dẫn đến sự khác nhau về chính thể:
Đó là thời kỳ Âu, Á chịu sự khống chế nghiêm ngặt của một lãnh tụ.
Nhưng ở Âu cũng như Á, con người dần dần không chịu khuất phục nữa, họ nổi lên chống lại. Ở Hy Lạp, La Mã bọn gia trưởng nổi lên chống lại quyền cai trị của vua. Ở Trung Hoa, các nước chư hầu đòi tự trị: Chính thể phong kiến ra đời. Nhưng rồi trải qua những trận giao tranh khốc liệt vì quyền lợi, chư hầu bị diệt vong. Chính thể quân chủ chuyên chế nối gót. Rồi chính thể quân chủ chuyên chế, sẽ bị lật đổ, như ở Pháp, bằng cách mạng 1789, để trở thành chính thể Cộng hòa. Và ở Nga, Cách mạng Tháng Mười lập ra chính thể Cộng sản.
Dân tộc ta trước cơn lốc của lịch sử
Nhưng những thay đổi lớn lao trên thế giới, dân ta, cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn chưa biết, hoặc biết rất sơ sài, vẫn cứ rập theo "con đường vạch sẵn của cổ nhân, dân ta bình tĩnh mà theo, coi như là sự bất di bất dịch, không bao giờ thay đổi mà cũng không thay đổi được. Song cuộc đời bình tĩnh ấy bỗng bị làn gió lốc Tây phương đưa lại làm chấn động. Những tư tưởng cũ, ngơ ngác nhìn những tư tưởng mới xông xáo. Dân ta bỗng như bừng mắt dậy nhìn ra tứ phía, thấy những trời mới lạ, bao la, nghe thấy những giọng cao thấp, khác hẳn điệu đàn của nghìn xưa, và cảm thấy sự thay đổi vô cùng mãnh liệt.
Nhưng trong mớ tư tưởng mới, ta cần phải chọn lọc, cần phải quan sát cho tinh tường rồi lấy lẽ phải mà xét đoán mới mong tìm đến sự thực được". (Ngày Nay số 98).
Chủ đích của Hoàng Đạo đã rõ ràng: phải duyệt qua những chủ nghĩa chính trị đã hiện hữu trên thế giới mà dân ta vẫn còn mơ hồ hoặc chưa biết, trước khi lựa chọn một thứ chính thể cho nước mình.
Chủ nghĩa thiên mệnh
Vì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, tất nhiên có câu hỏi: Những người thống trị lấy danh nghĩa gì, để có uy quyền trên người khác? Đó là câu hỏi về "chính danh".
Để "chính danh hóa" vai trò của nhà vua, Đông cũng như Tây bèn sáng tạo ra chủ nghĩa Thiên Mệnh, để nói rằng: Chủ quyền chính trị của một nước là do Chúa Trời hay Thượng Đế đã đào tạo và ủy thác cho một người, một nhà, hay một dòng dõi nào trong nước.
Ở Pháp, Louis XIV, kể từ 1661, sau cái chết của Phụ chính Mazarin, đã thu hết chính quyền trong tay, thuyết Thiên mệnh được Pierre de L’Hommeau xác định rõ ràng trong mấy khoản:
1- Nước Pháp là một nước quân chủ.
2- Chỉ có mình vua là có chủ quyền trong cả nước.
3- Chủ quyền đó do trời trao cho vua.
4- Ý muốn của vua tức là luật. (Ngày Nay số 99)
Bốn điều này đưa Louis XIV lên địa vị "vua Mặt trời" (Le roi Soleil), đứng đầu chế độ quân chủ chuyên chế, trên thế giới.
Ở Nga, trước Cách mạng Tháng mười (1917), thuyết Thiên mệnh cũng được áp dụng triệt để: Nga Hoàng có quyền lực tuyết đối.
Nhưng ở Á Châu, thuyết Thiên mệnh có một ý nghĩa khác, Hoàng đế ở Á Châu phải tu thân để hoàn thành sứ mệnh "phục vụ nhân dân":
"Hoàng đế là một vị thần minh cao quý hơn loài người và rất gần gũi với Thượng Đế. Đó là một tin tưởng gây nên từ đời thái cổ mà Đức Khổng Tử đã có tài trạm khắc lại một cách rõ rệt (…) Chính vì Hoàng đế là một đấng thần minh, tài đức hơn hết thảy mọi người, Hoàng Đế lại càng phải theo thiên mệnh, là "yêu cái mà dân yêu, ghét cái mà dân ghét". Là vì Thiên thị tự ngã dân thi, thiên thính tự ngã dân thính (dân trông thấy ở đâu là trời trông thấy ở đó; dân nghe thấy ở đâu, là trời nghe thấy ở đó).
(…) Hoàng đế Á Đông không lấy uy lực để ép người, chỉ lấy tài đức làm gương cho người. Hoàng đế luôn luôn phải tu thân, theo thiên lý, thì sự hòa hảo, sự hạnh phúc mới có được trong dân gian. Nếu có một giây phút lầm lỡ, thì Hoàng đế phải tự sửa lỗi, cầu trời tha thứ cho. Những thiên tai, hạn hán hay hỏa hoạn, đều là do lỗi của nhà vua kém đức, nhà vua phải sửa lễ tạ tội với trời. (…)
Ai được mục kích những kỳ tế Nam Giao đã rõ. Nam Giao là ngày nhà vua thay mặt hết thảy thần dân mà tế Trời, Đất. Hôm ấy, nhờ sự tế lễ tôn nghiêm, nhờ sự trai tịnh, nhà vua tỏ được tấm lòng thành kính của mình và của bách tính đối với Thượng đế để Thượng đế thi ân tác phúc cho." (Ngày Nay số 100)
"Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm qua loa, ông thầy đến giảng một đoạn của sách Luận ngữ, bắt tôi học và đọc lại. (…) Chính vì vậy, dựa vào Khổng học, mà quyền hạn của nhà Vua có gốc rõ rệt, đồng thời cái quyền năng ấy cũng bị tự chế do giáo lý này đưa lại. Chỉ có thấu đáo nền Khổng học, mới có thể hiểu được hình thái gần như mâu thuẫn trong cơ cấu xã hội của nước tôi. Khi học kỹ lưỡng bổn phận của bậc Đế vương, tôi mới làm tròn sứ mệnh của ngôi Hoàng đế, sứ mệnh làm Đại giáo chủ, làm Đại tư ý, làm cha mẹ dân và sứ mệnh làm thiên tử."[4]
Tuy không có sự phân quyền rõ rệt, nhưng dưới thời Gia Long, vua không có quyền quyết định độc đoán, mà luôn luôn phải hỏi ý kiến quan Thượng thư trước khi quyết định. Khi xử án ai, nếu vua làm không đúng luật, thượng thư bộ hình có quyền can thiệp và vua phải theo, nhiều trường hợp ghi trong Đại Nam thực lục cho thấy điều đó.
Vậy, có sự khác biệt sâu xa giữa chính thể quân chủ chuyên chế Tây phương và chính thể quân chủ Đông phương.
Chủ nghĩa dân chủ - Khái niệm Ý chí chung
"Phải đến thế kỷ XVII, mới có những thuyết rõ ràng về chủ nghĩa dân chủ: Hobbes, Jurien, Locke, là những nhà triết học đã bênh vực chủ nghĩa ấy: Trong một đoàn thể, hết thảy mọi người đều có ý chí riêng, nhưng gồm cả lại, thì có một ý chí chung để bênh vực cho sự sống của xã hội".[6]
Cái Ý chí chung (la volonté de tous) ấy, chính là đầu mối của dân chủ.
Hoàng Đạo nêu danh ba triết gia cùng đi từ ý chí chung nhưng có lập thuyết khác nhau:
- Hobbes luận rằng cái ý chí chung ấy, là hết thảy các ý chí riêng đều phục tòng ý chí của một người, hay một vài người đại biểu cho tất cả đoàn thể. Như vậy, chủ nghĩa dân chủ của Hobbes đưa về chế độ quân chủ độc đoán.
- Theo Jurien, cái ý chí chung ấy là của toàn dân, vậy chủ quyền đã ở người dân, thì dân có quyền phế vua lúc nào cũng được, không phải viện lẽ gì hết.
- Locke đồng ý với Jurien, nhưng đi xa hơn: khi người ta đã nhập vào xã hội nào tức là đã giao quyền cho số đông để bảo vệ xã hội. Nhưng trước khi nhập xã hội, người ta đã có những quyền pháp tự nhiên, mà xã hội không thể bỏ hay đàn áp được. (Ngày Nay số 101)
J.J. Rousseau
Lý thuyết của Jean-Jacques Rousseau
Thế kỷ XVIII, J.J. Rousseau (1712-1778), triết gia Pháp, cho rằng: Khi ta nhập vào xã hội, tức là ta đã ký một tờ giao ước (Contrat social) bằng lòng bỏ độc lập, tự do, tự nhiên của mình để nhận sự bảo hộ cho sinh mệnh mình. Vì có tờ giao ước, mới có xã hội, mới có một ý chí chung, một nhân cách chung.
Ý chí chung ấy là ý chí của đoàn thể, được đặt lên trên ý chí riêng của mỗi người.
Ý chí chung ấy được Rousseau gọi là Chủ tể Quần chúng (La Souveraineté Populaire), mọi người phải phục tòng cái ý chí chung ấy (tức là Chủ tể). Chủ tể mới này, không thể cầm bán mà cũng không thể phân chia được. Rousseau viết:
"Chính phủ là bộ phận trung gian giữa người dân (les Sujets) và Chủ tể (le Souverain), giúp hai bên trao đổi với nhau, có nhiệm vụ hành pháp và gìn giữ tự do dân sự lẫn chính trị" (Vậy chính phủ tùy thuộc vào Chủ tể, nhận mệnh lệnh của Chủ tể). Những thành phần của bộ phận trung gian này [tức chính phủ] được gọi là Quan chức (Magistrats)" [7]
Chủ tể Quần chúng là nền móng của Khế ước Xã hội (La Souraineté populaire est le principe fondamental du Contrat Social). (Ngày Nay số 101)
Ta thấy rõ: chữ Chủ tể (Souverain) của Rousseau hoàn toàn khác với chữ Chủ tể thời cổ: Ngày trước Chủ tể là vị lãnh tụ tối cao. Ngày nay, Chủ tể là Ý chí chung của toàn dân và đó là cốt lõi của vấn đề dân chủ.
Chế độ nghị viện
Chủ nghĩa dân chủ đánh đổ các thứ "ngôi báu", đưa dân lên làm chủ sinh mệnh của mình, Hoàng Đạo viết:
"Chủ nghĩa dân chủ đem áp dụng vào thực tế, sinh ra chế độ nghị viện. Toàn thể dân chúng đúng lý ra phải tự đảm nhiệm cái trách nhiệm lập pháp và hành pháp". Song "một đạo luật mà để cho hàng triệu người bàn tán, thì không biết bao giờ mới quyết định và thi hành được." Chưa kể, "phần đông dân chúng không đủ học lực để mà hiểu, lại không đủ thì giờ rỗi để nghiên cứu.". Vì vậy, ở những nước dân chủ lớn, dân chúng ủy quyền cho một số người có học thức và tài đức, thay mặt họ, để lập pháp và hành pháp. Những người được ủy quyền ấy là các nghị viên". Nhưng "Nghị viên do dân bầu lên có thể dự thảo được luật lệ, nhưng không thể quyết định được".
Quyền quyết định hay hành pháp ở trong tay chính phủ. Những người cầm quyền hay nhóm hành pháp, giúp việc Tổng thống hay Thủ tướng thường được chọn trong số nhân viên của đảng đã được đại đa số nhân dân tín nhiệm và thường có chân trong nghị viện.
"Như vậy, công việc của chính phủ, đối ngoại hay ở trong nước, bao giờ cũng hợp với nguyện vọng của đại đa số, với ý chí chung của nước".
"Ở các nước dân chủ, bao nhiêu quyền chính thu vào lá phiếu của cử tri. Công dân mỗi người có một lá, nên đảng nào cũng vậy, cố vận động, dùng lời nói hay báo chí, sách vở, mục đích là mời mọi người vào đảng, mời được càng nhiều càng hay. Vì có nhiều đảng viên, tức là có nhiều phiếu bầu, nhiều phiếu bầu mới có thể thắng lợi cho đảng được." (Ngày Nay số 102).
Chủ nghĩa xã hội
"Chủ nghĩa Xã hội Khoa học (Socialisme Scientifique) của Karl Marx và Engels ra đời không bao lâu đã đánh đổ những chủ nghĩa Xã hội duy tâm (Socialisme utopique ou idéaliste), khiến những chủ nghĩa ấy trở nên những mộng tưởng lu mờ trong trí nhớ mọi người. Rồi, chưa đầy một thế kỷ, đã thành ra một sức mạnh đầy hứa hẹn, cả hoàn cầu đều chú ý và chính phủ nào cũng phải cân nhắc tới.
Đặc điểm của chủ nghĩa ấy là một điều phát minh của Karl Marx về phương diện xã hội. Theo Marx, trong lịch sử của loài người, sự cần thiết nhất, là chế độ kinh tế, chế độ xuất sản. Ảnh hưởng của chế độ ấy đối với người đời rất là to tát, rất là mãnh liệt" (Ngày Nay số 105).
Marx nhận ra rằng: những giai cấp quyền lợi tương phản không lúc nào là không tranh đấu lẫn nhau. Lịch sử loài người là lịch sử đấu tranh giai cấp. Dưới chế độ nô lệ cũng như dưới chế độ phong kiến, không bao giờ giai cấp áp chế với giai cấp bị áp chế quên đấu tranh để giành hoặc giành lại quyền lợi của mình:
"Cuộc tranh giành có khi rõ ràng có khi ngấm ngầm nhưng bao giờ cũng đi đến kết quả giống nhau: hoặc là cả hai giai cấp bị diệt vong, hoặc là có cuộc cách mệnh làm thay đổi hẳn xã hội". (Ngày Nay số 105)
Trải bao thế kỷ, nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã qua đi, đến thế kỷ XIX, hai phái kình địch là tư bản và lao động.
Tiền công càng ít, thì tư bản càng lợi nhiều.
"Cho nên dần dà, tiền công của thợ thuyền chỉ là số tiền cần dùng để họ nuôi thân và nuôi con. Ngoài ra, là tiền lãi. Mà tiền lãi ấy, chính là số tiền mà thợ thuyền làm công không cho giai cấp tư bản vậy. (…) Tiền lãi, đảng xã hội gọi là thặng dư (plus value), nó chỉ là giá của sự cần lao không giả tiền. Chính số tiền lãi ấy, số tiền thặng dư ấy tích trữ lại mới thành ra tư bản vậy." (Ngày Nay số 105)
Nhưng giai cấp thợ thuyền không thể chịu mãi sự cực khổ khốn cùng, tới mức nào đó họ kiệt lực không sản xuất được nữa thì tư bản cũng tiêu vong. Vì vậy cần có một giải pháp: phá tan sự áp chế của một hạng người càng ngày càng trở nên ít ỏi là giai cấp đại tư bản, giai cấp này đã tiêu diệt dần dần giai cấp tiểu tư bản, để giữ độc quyền. Trong khi giai cấp thợ thuyền ngày càng đông, họ sẽ biết rõ giá trị của họ. Và chủ nghĩa xã hội, theo đuổi một mục đích là dẫn dắt sự tranh đấu của giai cấp lao động chống lại giai cấp tư bản. (Ngày Nay số 105).
Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản
Trong bài Đảng Xã hội và đảng Cộng sản, Hoàng Đạo viết tiếp:
"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là phá bỏ hết giai cấp trong xã hội. Phương pháp để đạt mục đích ấy là sự tranh đấu của giai cấp lao động với giai cấp tư bản.
Giai cấp lao động sẽ dấy lên một cuộc cách mạng, để cầm lấy chính quyền, cải tạo xã hội thành một xã hội mới, hợp với chủ nghĩa xã hội duy vật.
"Đảng Xã hội quốc tế hay đảng Cộng sản quốc tế đều theo chủ nghĩa ấy cả. Hai đảng đều nghĩ rằng chế độ sản xuất hiện hành không còn thích hợp với chế độ tài sản hiện có nữa; chỉ có sự thay đổi chế độ tài sản mới có thể đem lại sự nhịp nhàng đã mất." (Ngày Nay số 106)
Và muốn thực hiện sự thay đổi ấy, thì phải có sự hợp lực của toàn thể giai cấp lao động thế giới. Vì vậy, Đảng xã hội và Đảng cộng sản đều có tính cách quốc tế cả.
Nhưng đến đây có sự chia rẽ giữa Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản:
Đảng Xã hội chủ trương: không thể làm cuộc cách mạng chính trị vội vàng mà chưa sửa soạn trước, phải cải cách xã hội dưới chế độ tư bản đã, để tạo ra một xã hội mới. Khi xã hội mới đã vững chắc rồi, mới có thể làm cuộc cách mạng chính trị.
Nghĩa là, Đảng Xã hội chủ trương: cải cách xã hội trước khi làm cách mạng chính trị.
Ngược lại, Đảng Cộng sản chủ trương phải làm cách mạng chính trị trước và khi đã nắm chính quyền rồi, mới có thể phá hủy chế độ tư bản hiện thời để lập nên xã hội mới, và Đảng Cộng sản chủ trương quyền độc tài của giai cấp vô sản:
"Giai cấp lao động lúc đó sẽ giữ lấy quyền độc tài trong xã hội để trừ phá bằng đủ mọi cách sự chống đối của giai cấp tư bản, liên lạc giai cấp lao động với quần chúng, công, nông, rồi tổ chức nên xã hội mới, trong đó không còn giai cấp phân biệt nữa." (Ngày Nay số 106)
Vì chính kiến bất đồng, nên hai đảng đã đi hai con đường khác nhau, hành vi nhiều khi trái ngược nhau.
Nhưng trên thực tế, thì "đảng Xã hội ở các nước Anh, Đức, Thụy Điển, Na Uy, Áo cũng đã có lần lên cầm quyền chính, nhưng không lúc nào đem chủ nghĩa xã hội thực hành được. Ở Đức họ đã đưa dân chúng đến sự độc tài của Hiller, ở Áo cũng vậy" (Ngày Nay số 106)
Đảng Cộng sản cũng chia thành hai phe, dẫn đến cuộc phân liệt ở Nga: phe theo Stalin hay Đệ tam quốc tế và phái theo Trotsky hay Đệ tứ quốc tế.
Đệ tam quốc tế và đệ tứ quốc tế
Trong bài Đệ tam quốc tế và Đệ tứ quốc tế (Ngày Nay số 107, 24-4-38), Hoàng Đạo trình bày sự khác biệt giữa hai chủ nghĩa Cộng sản Đệ tam và Đệ tứ quốc tế.
Tại sao có chữ Quốc tế?
Khi thuyết xã hội của Karl Marx ra đời, thợ thuyền mới bắt đầu ý thức về địa vị của mình trong xã hội. Marx-Engels cùng các đồng chí hô hào: toàn thể đại biểu lao động các nước trên thế giới họp lại để hành động chung trong một hội nghị quốc tế.
Đệ Nhị quốc tế được tổ chức năm 1889, là "hội nghị của các đảng Xã hội, theo chủ nghĩa của Karl Marx, đồng lòng đi vào con đường giai cấp tranh đấu, nhưng trong vòng pháp luật và theo một lối từ tốn dè dặt cho đến lúc đủ sức để đánh đổ chế độ tư bản" (Ngày Nay số 107).
Nhưng từ khi thế chiến xảy ra, sự rạn nứt trong Quốc tế Lao động bắt đầu: mỗi nước muốn đứng riêng, tranh đấu theo kiểu của mình. Đảng Cộng sản Nga sau khi đánh đổ Nga hoàng, hô hào lao động thế giới bỏ Đệ Nhị quốc tế (của Đảng Xã hội) để nhập vào Đệ Tam quốc tế (của Đảng Cộng sản).
Đệ Tam quốc tế được tổ chức năm 1919, là hội nghị của các đảng Cộng sản.
Nhưng trong khối Đệ Tam quốc tế cũng sẽ xảy ra những bất đồng: từ khi lãnh tụ Lénin qua đời năm 1924, bị phân liệt thành hai phái: phái Stalin và phái Trosky. Phái Stalin thắng, Trosky bị đuổi ra khỏi nước Nga, nhưng vẫn tiếp tục hoạt động và triệu tập các đồng chí họp thành:
Đệ Tứ quốc tế, ra đời năm 1936 [chính thức là năm 1938].
Và sự phân tranh khốc liệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ xảy ra như ta đã biết.
Sự khác biệt giữa Đệ Tam và Đệ Tứ
Khi giai cấp đã bị tiêu diệt, sự tranh đấu giai cấp không còn nữa, con người sẽ tự do hợp tác với nhau. Chính phủ sẽ bị diệt vong. Nhờ khoa học, con người sẽ dùng máy móc để sản xuất thật nhiều những đồ cần dùng cho nhân loại. Sản xuất được nhiều, quá sức tiêu thụ của thế giới, ai dùng bao nhiêu cũng được. Sự cần lao không còn là bó buộc nữa. Tiền bạc sẽ không còn nữa. Nói tóm lại, khi xã hội đã tiến tới mức cộng sản, thì "người ta làm được bao nhiêu thì làm, muốn lấy bao nhiêu thì lấy". (Ngày Nay số 107)
Nhưng trước khi đi đến trình độ cao xa này, xã hội còn phải qua một trình độ dự bị, kém cỏi hơn, tức là trình độ xã hội, vì lực lượng sản xuất chưa hoàn hảo, tổng lượng sản phẩm chưa đủ để cung phụng cho cả nhân loại, thì không thể ai muốn lấy bao nhiêu cũng được, và phải theo cái thuyết "ai làm được bao nhiêu thì lấy chừng ấy". Người không làm gì, cố nhiên là không có ăn. Lúc đó, vẫn có sự bất bình đẳng trong xã hội, vì có người khỏe, người yếu, người thông minh, người ngu độn, vậy lẽ tự nhiên là có người được dùng nhiều hơn, người ít hơn. Sự bất bình đẳng sẽ bị tiêu diệt khi xã hội đạt đến trình độ cộng sản.
Phái Đệ Tam cho rằng: nước Nga bây giờ [thời Stalin] chưa đạt đến trình độ cộng sản nhưng đã đạt được trình độ xã hội rồi:
"Về mặt công nghệ, các đồ dùng sản xuất đã xung công hết. Ngân hàng, xưởng mỏ, xe lửa, rừng rú không còn là của riêng ai hết. Theo sự tiến hóa của khoa học, sự mở mang đã đi được một bước khổng lồ. Nga đương theo những bản chương trình to tát để đi tới một xã hội công đồng, và muốn đạt được chương trình ấy, hiện giờ còn cần đến nền độc tài của đảng". (Ngày Nay số 107)
Đệ Tam quốc tế tin rằng: chỉ một nước Nga, riêng một nước Nga, cũng có thể lập thành một xã hội theo chủ nghĩa cộng sản.
Phái Đệ Tứ coi tin tưởng này là một lầm lỗi lớn. Nước Nga là một nước công nghệ còn hèn kém lại đứng giữa những nước tư bản công nghệ phát đạt hơn, nên nếu muốn chủ nghĩa xã hội thắng, thì không thể đứng riêng một mình, mà phải hợp lực với lao động ở các nước tân tiến. Nếu cô lập xã hội cộng sản trong một nước, thì chỉ có thể đem sự nghèo khổ chung đến cho nước ấy, mà đã nghèo khốn thì sẽ có sự tranh giành, sự tranh giành sẽ đưa người ta trở lại chế độ tư bản cũ. Ngoài ra, việc nâng cao đời sống dân chúng ở Nga vẫn còn chậm chạp, lại bị nạn quan liêu hoành hành, vì chưa sản xuất đủ để cung ứng cho toàn dân nên chỉ có một số ít được hưởng quyền lợi hơn hết, họ giữ lấy chính quyền để bảo vệ quyền lợi riêng của họ, trái ngược với quyền lợi chung của xã hội. Vì thế, sẽ đưa đến cách mạng đảo chính hoặc phải trở lại chế độ tư bản.
Chủ nghĩa Phát xít
Tiếp theo đó Hoàng Đạo viết hai bài Chủ nghĩa Phát xít của Mussolini và Chủ nghĩa quốc gia xã hội của Hitler, để trình bày thực chất của hai chủ nghĩa độc tài này.
Trên Ngày Nay số 108 (1-5- 38), Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa Phát xít.
Chủ nghĩa Phát xít do Mussolini tạo ra, thống trị nước Ý từ 1922-1945, xây dựng trên sự độc tài của một đảng duy nhất. Fascisme (phiên âm thành Phát xít), tiếng Ý là Fascimo. Mussolini, nguyên là một đảng viên xã hội quá khích, đã từng cầm đầu tờ báo Avanti của Đảng Xã hội. Sau thế chiến thứ nhất, ông bỏ chủ nghĩa quốc tế, theo chủ nghĩa quốc gia và tạo ra thuyết phát xít.
"Chủ nghĩa Phát xít trái hẳn với chủ nghĩa xã hội. Theo Mussolini, Karl Marx đã lầm khi tuyên bố rằng trong thế giới chỉ có hai giai cấp chiến đấu: lao động và tư bản. Riêng về mặt công nghệ, câu ấy đã không đúng, còn về mặt canh nông thì câu ấy lại càng sai". (Ngày Nay số 108)
Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa tự do: Cá nhân trong một nước phát xít, phải hy sinh những quyền lợi riêng cho quốc gia, phải quên mình để chiến đấu cho quốc gia với lòng quả cảm. Chủ nghĩa phát xít đi ngược với chủ nghĩa dân chủ. Theo Mussolini, con người không thể bình đẳng được, mà có người hơn, người kém, tùy theo tài lực. Trong nước không thể để cho đại đa số (thắng phiếu) cầm quyền bởi vì dân chúng chẳng biết gì, vì vậy, "cần phải có một đảng, đảng phát xít, một đảng thôi, nêu một lý tưởng cao xa để mà sống theo một tin tưởng chung. Lại cần phải một "quốc gia" mạnh, có quyền bao quát hết cả quyền lợi và lòng hy vọng của cả dân tộc, để dân tộc trở nên hùng cường đến cực điểm.
Vậy, theo chủ nghĩa phát xít, cao nhất là quốc gia. "Quốc gia" cần phải sống và hành động như một người: đứng im là chết. Quốc gia biểu hiệu cho quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc, quốc gia là một phương pháp để đời nọ truyền cho đời kia những quyền lợi đã chiếm được, những sáng kiến đã có, và để nâng cao dân tộc lên đến ý nghĩa đế quốc" (Ngày Nay số 108).
Tóm lại, quốc gia ấy là của một người: Mussolini nắm quyền sinh sát cả một dân tộc trong tay.
Chủ nghĩa Quốc gia xã hội của Hitler
Trên Ngày Nay số 109 (8-5-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ nghĩa quốc gia xã hội.
Năm 1918, tại Munich, một chính đảng thành lập, tất cả chỉ có bảy người, đó là đảng Đức quốc lao nhân quốc gia xã hội [parti ouvrier allemand, anticapitaliste et antisémite] của Hitler, sau đổi tên thành Đảng Quốc gia xã hội (National-socialiste tức Nazi).
Hồi ấy, ở Đức, Đảng Xã hội dân chủ (Social démocrate) theo chủ nghĩa Karl Marx, thế lực rất mạnh, đại đa số thợ thuyền đều ủng hộ. Nhưng dần dần, Đảng Quốc gia xã hội của Hiller chiếm ưu thế, Đảng Xã hội dân chủ lui dần và sau chỉ còn hành động trong bóng tối.
Đảng ấy có một chương trình như thế nào khiến đại đa số dân Đức theo?
"Chương trình ấy, Hitler và bọn đồng chí đã đem ra thảo luận ngày 24 tháng 2 năm 1920 ở Munich, và sau, Gottfrid Feder, nhà thuyết lý của đảng, đã phủ chính [sửa lại].
Theo chương trình ấy, mục đích của đảng theo đuổi là phục hưng nước Đức theo tư chất riêng của người Đức. Muốn vậy, cần phải đem sự ích chung đặt lên trên sự ích riêng của từng người, cần phải đặt quốc gia lên trên cá nhân. Chủ nghĩa quốc gia xã hội giống chủ nghĩa phát xít của Mussolini về nguyên tắc này, mà cũng vì thế, danh từ phát xít người ta vẫn thường dùng để tặng chủ nghĩa của Hitler.
Quốc gia của Hitler, không phải là của chung của tất cả số người sống trên một khoảng đất, cùng mưu một cuộc sống chung, mà gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật-nhĩ-man ở trong nước Đức và ở nước ngoài, và chỉ những người ấy thôi". (Ngày Nay số 109)
Vậy điểm thứ nhất cần ghi nhận: Đối với chủ nghĩa Nazi: Quốc gia Đức gồm hết thảy những người thuộc giống Nhật nhĩ man, ở trong và ngoài nước, mà thôi.
Đặc điểm thứ nhì của chủ nghĩa Nazi là đặt quốc gia vào trong khuôn khổ giống nòi:
"Thu tất cả những người Nhật Nhĩ Man [Đức chính gốc] trong thiên hạ để lập thành một nước Đức lớn (Deutschland) (…) Chỉ riêng giống người Đức là có quyền công dân, là có quyền tham dự vào bộ máy cai trị và lập pháp, là có quyền làm việc. Những người giống khác đến sinh nhai ở Đức bao giờ cũng chỉ được coi như kẻ ngụ cư; nếu chỉ đủ việc làm cho người giống Đức, thì chính phủ Đức sẽ có quyền trục xuất giống người khác ra ngoài cõi.
Nhất là giống người Do Thái. Vì đảng Hitler coi giống Do Thái trái ngược hẳn với giống Đức. Giống Do Thái chỉ thiên về vật chất, có thể coi là nguồn gốc của hết thảy thói xấu điểu dở trong xã hội".
Hitler cho rằng chỉ có giống Nhật Nhĩ Man, tức giống Đức, là đứng trên tất cả:
"Nếu giống Đức cứ giữ nguyên chất từ xưa tới giờ, thì giống Đức đã trở nên tài giỏi nhất và đã làm bá chủ hoàn cầu. Nhưng trong năm sáu thế kỷ qua, vì giống Đức ăn chung ở lộn với giống khác, nên tư chất bớt ghê gớm đi nhiều." (Ngày Nay số 109)
Nay phải khôi phục lại tư chất cũ, vì thế, người giống Đức phải lấy người giống Đức, lấy người khác giống là trái luật, lấy Do Thái là phải tù tội. Để cho có giống tốt hơn, chính phủ Đức bắt những người bệnh tật không được sinh nở.
Tôn Dật Tiên
Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Văn
Trên Ngày Nay số 113 (5-6-38) Hoàng Đạo viết bài Chủ Nghĩa "Tam dân" của Tôn Văn.
Chủ đích của Tôn Văn là đuổi người ngoại quốc đi, khôi phục Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và phân chia đất đai đều dặn cho mọi người.
Sau khi đi khắp nơi để học hỏi các khuynh hướng chính trị Âu Mỹ, bác sĩ Tôn Dật Tiên, lập ra chủ nghĩa Tam dân. Lý thuyết của ông thành hình trong thời kỳ vận động cuộc cách mạng Tân Hợi, 1912. Nhưng những văn bản ông soạn phần lớn đã bị thiêu hủy, phải đến khoảng 1924, người ta mới được nghe ông nói về chủ nghĩa Tam dân trong những buổi diễn thuyết có hàng ngàn người dự.
Vậy Chủ nghĩa Tam dân là gì?
Chủ nghĩa Tam dân gồm ba nguyên tắc chính: Dân tộc, dân quyền và dân sinh.
1- Dân tộc hay quốc dân, quốc gia sẽ cứu nước Tàu ra khỏi sự áp chế của liệt cường. Hoàng Đạo viết:
"Dân tộc Tàu là Hán tộc đã có một lịch sử vẻ vang từ năm, sáu nghìn năm nay, một dân tộc đông hơn hết và đã sớm văn minh hơn hết. Tuy nhiên, hiện giờ thì dân tộc Tàu (…) đã phải chịu nhượng lĩnh thổ của mình cho bọn đế quốc (…) Tàu thật khổ hơn một thuộc quốc, như Annam thì chỉ chịu dưới quyền một ông chủ, chứ như Tàu hiện giờ [dưới thời Từ Hy], là nô lệ cho hơn mười chủ, cho cả thế giới. Cường quốc muốn chiếm Tàu lúc nào cũng được, và bắt Tàu chịu gì cũng phải chịu, kể cả sự diệt vong" (Ngày Nay số 113).
Trong tình cảnh ấy, Tôn Văn chủ trương: "Cần phải đòi lại nước Tàu cho người Tàu". "Và muốn vậy cần phải hiểu rõ tâm lý của người Tàu trước đã".
2- Dân quyền là nguyên tắc của các nước dân chủ, đặt nền tảng trên ba chữ: tự do, bình đẳng, bác ái. Nhưng tự do của người Tây phương khác tự do của người Tàu, theo Hoàng Đạo: tự do đối với người Âu Mỹ, giống như tiền bạc đối với người Tàu: người Tàu nghèo, họ cần tiền hơn, còn người Ây Mỹ thiếu tự do hơn người Tàu, vì vua chúa Tàu ngày xưa chỉ giữ ngôi báu và thu thuế, còn họ để cho người dân muốn làm gì thì làm.
Bình đẳng cũng vậy: hai bông hoa còn khác nhau, huống chi con người, nên không thể có tuyệt đối bình đẳng, thế nào cũng có người ngu, người khôn, vậy chỉ nên đòi bình đẳng chính trị, tức là: công dân ai cũng có quyền ngang nhau. Nhưng sự bình đẳng này, người Tàu xưa nay cũng đã có nhiều hơn người Âu: vì nước Tàu không có giai cấp quý tộc đời đời giữ lấy đặc quyền. Vả lại trong thuyết Tam dân đã có bình đẳng: thuyết này lấy bác ái làm gốc để cho kẻ có trí giúp người ngu, cùng nhau đi đến bình đẳng.
3- Dân sinh cũng từ chữ bác ái mà ra: Mưu cầu hạnh phúc cho bốn trăm triệu người Trung hoa thì cần phải có lòng bác ái. Lúc đó, máy móc đã phát triển, vì thế một số đông thợ thuyền không có việc làm.
Theo Tôn Văn, chủ nghĩa duy tâm xã hội không đứng vững được vì không giải quyết được vấn đề việc làm. Chủ nghĩa xã hội duy vật của Karl Marx cũng có vấn đề, vì:
1- Vật chất không phải là trung tâm điểm của lịch sử, người ta còn có ước vọng tinh thần nữa.
2- Đấu tranh giai cấp, cũng không phải là nguyên nhân của tiến bộ, nó chỉ là cái "bệnh" của một xã hội đang tiến mà thôi.
Tôn Văn cho rằng: nguyên nhân của tiến bộ là sự điều hòa các giai cấp. Nhờ nhà nước đứng trung gian: tư bản càng giàu thì thợ thuyền sẽ càng sung sướng.
Và trong sự sản xuất, không chỉ có thợ thuyền và tư bản, còn có hết thảy các giai cấp khác trong nước, như nhà nông chẳng hạn. Vậy thuyết thặng dư của Karl Marx không đúng nữa.
Vì vậy, nước Tàu của Tôn Văn không cần phải theo nước khác, cứ tự mình cứu lấy mình là hơn. Và muốn thế cần xây móng sự cải tạo xã hội trên hòn đá Tàu. Hòn đá ấy là gỉ? Là nhận ra rằng: Ở Trung Hoa không có nhà giàu, chỉ có nghèo ít và nghèo lắm mà thôi. Vậy cần phải tìm phương pháp làm bớt sự bần cùng, làm cho dân giàu lên. Bằng hai cách:
1- Bình quân về điền địa: chia đều đất đai cho mọi người.
2- Đặt thuế lợi tức. Trước đây chỉ có thuế thân, tức mà mỗi người, giàu nghèo đều phải đóng thuế, tuy có chênh lệch khác nhau. Đặt ra thuế lợi tức là một bước tiến mới của xã hội.
Chủ nghĩa dân sinh là làm sao thỏa mãn được bốn nhu cầu cốt yếu của dân tộc là: ăn, mặc, nhà ở và di chuyển. (Ngày Nay số 113)
II- Sự lựa chọn của Hoàng Đạo
Tuy nhiên, con đường tranh đấu chính trị và xã hội của Tự Lực văn đoàn, không chỉ bắt đầu từ năm 1938, với loạt bài Chính trị và đảng phái của Hoàng Đạo, mà đã được bộc lộ từ trước, với hai chữ bình dân.
Hai chữ bình dân của Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn
Tháng 3 năm 1934, bản Tôn chỉ của Tự Lực văn đoàn đã nhấn mạnh đến chữ xã hội và bình dân, ở điều 2, điều 3 và điều 6:
Điều 2: Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội.
Điều 3: Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tình cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.
Điều 6: Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái. [13]
Tóm lại, hai chữ bình dân của Tự Lực văn đoàn bao gồm cả hai thành phần: tiểu tư sản và lao động và được Hoàng Đạo xác định là đối lập với thành phần trưởng giả phú hào và quý phái.
Nhưng những người chống Tự Lực văn đoàn, thường bỏ chữ lao động đi, chỉ giữ lại chữ tiểu tư sản và khuếch đại lên, để chỉ thành phần giàu có (trưởng giả, phú hào), rồi dựa vào cớ đó phê phán Tự Lực văn đoàn về phe người giàu, là hoàn toàn sai.
Năm 1936, Hoàng Đạo viết bài Tả đảng với hữu đảng trên Ngày Nay số 16 (12-7-36) để chào mừng Đảng Xã Hội [15] lên cầm quyền tại Pháp.
Bài này cho thấy Hoàng Đạo nhiệt liệt ủng hộ Đảng Xã hội Pháp, ông còn nói thêm: Nghị viện Pháp chia làm hai phe: tả, hữu. Phe tả chú trọng về bình dân, phe hữu nghiêng về phía những nhà tư bản. Năm 1936: phe tả có 378 nghị viên, và phe hữu, 236 nghị viên.
"Tả đảng gồm ba phái chính: đảng cộng sản, đảng xã hội và đảng xã hội cấp tiến. Chương trình ba đảng ấy khác xa nhau, nhưng may lại có chỗ giống nhau: là cả ba đều chú trọng về bình dân. Các phái hữu phần đông là của những nhà đại tư bản, đại doanh nghiệp chỉ muốn theo chủ nghĩa phát xít, nhưng theo một cách mập mờ". (Ngày Nay số16)
Năm 1938, trong lúc Mặt trận Bình dân bị khó khăn tại Pháp, Léon Blum phải từ chức, Daladier lên thay ngày 10-4-38. Ngày Nay số 117 (3-7-38), đưa ra những khẩu hiệu tuyên truyền cho Mặt trận Bình dân như Mặt trận Bình dân đòi quyền sống. Hoặc như: Nhóm "Tự Lực" hết sức ủng hộ Mặt Trận dân chủ, châm ngôn của chúng tôi là:
Hết sức giúp cho Mặt trân Bình dân thắng và bền.
Hết sức giúp cho Mặt trận Bình dân đòi và làm.
Tóm lại, từ năm 1934, Hoàng Đạo và Tự Lực văn đoàn đã chọn Đảng Xã hội Pháp như một tổ chức chính trị cùng tư tưởng và như một "đồng minh" có thể dựa vào trong cuộc chiến chống chế độ thực dân.
Trước Hoàng Đạo, Nhượng Tống và Nguyễn Thái Học cũng đã đề xướng con đường tranh đấu tương tự, nhưng cuộc cách mạng của họ quá ngắn ngủi, và họ cũng không có điều kiện ra báo để quảng bá lập trường chính trị của mình, Hoàng Đạo là người đầu tiên làm công việc giải thích con đường chính trị của ông, của Tự Lực văn đoàn và đồng thời cũng là con đường của Việt Nam Quốc dân Đảng.
Con đường chính trị của Việt Nam Quốc Dân Đảng
Nam Đồng Thư Xã, thành lập cuối năm 1926, là hạt nhân đầu tiên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, ban đầu, chỉ có hai anh em Phạm Tuấn Lâm, Phạm Tuấn Tài và Hoàng Phạm Trân tức Nhượng Tống, in loại sách cổ động lòng ái quốc, như Cách mạng Trung Hoa, Lịch sử Tôn Dật Tiên, Cách mạng thế giới, Chủ nghĩa Tam Dân [16]… Theo Nhượng Tống, sách in lúc bấy giờ chưa bị kiểm duyệt như báo, nhưng khi ra rồi, chính quyền thấy có hại, ra lệnh tịch thu, thì sách đã bán hết.
Một mặt khác, Nhượng Tống và Hoàng Văn Đào (hai đồng chí của Nguyễn Thái Học) đều cho biết: đảng trưởng theo chủ nghĩa Xã hội.
Nhượng Tống xác định: Sau khi cách mạng thành công sẽ tổ chức một chính thể Cộng hòa theo chủ nghĩa Dân chủ xã hội. [17]
Nhượng Tống còn là dịch giả lỗi lạc sách chữ Hán, vậy chính ông đã dịch sách của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học cũng học Hán văn từ nhỏ: hẳn họ đã đồng ý với nhau khi lấy tên đảng là Việt Nam Quốc Dân.
Việt Nam Quốc Dân Đảng, thừa kế tên Quốc Dân Đảng của Trung Hoa và kết hợp hai chủ nghĩa: Xã hội của phương Tây và Tam dân của Tôn Dật Tiên.
Nhưng cả Nhượng Tống lẫn Nguyễn Thái Học đều không có thì giờ viết thành một lý thuyết riêng của đảng. Bởi vì:
- Nhượng Tống bị bắt ở Huế, [khoảng tháng 3-1929] sau vụ ám sát Bazin [ngày 9-2-1929], khi ông thay đảng trưởng vào Huế, gặp cụ Phan Bội Châu, nhờ cụ viết thư giới thiệu với các tổ chức cách mạng bên ngoài. Ông bị bắt gần một năm trước ngày Tổng khởi nghĩa (11-2-1930), bị đưa ra tòa ngày 2-7-1929 [18]; bị đày đi Tân Đảo (Nouvelle Calédonie) đến ngày 20-4-1933 mới được trở về [19] và bị quản thúc 5 năm nữa.
- Nguyễn Thái Học lên máy chém ngày tháng 17-6-1930.
Tám năm sau, qua loạt bài Chính Trị và đảng phái Hoàng Đạo đã giải thích sự lựa chọn của Việt Nam Quốc Dân Đảng mà Nguyễn Thái Học và Nhượng Tống chưa kịp làm.
Đi sâu và đi xa hơn nữa, Hoàng Đạo trình bày các chủ thuyết chính trị khác nhau trong thế kỷ XX, để loại hẳn các chính sách đế quốc, quân phiệt, độc tài, kỳ thị chủng tộc ra, và chỉ giữ lại những điều thích hợp cho dân tộc, chủ yếu:
1- Chủ nghĩa Xã hội Tây phương
2- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên.
1- Theo chủ nghĩa Xã hội
Sự lựa chọn của Hoàng Đạo được ông diễn tả rõ ràng trong bài Vài lời nói thêm trên Ngày Nay số 114 (12-6-38), với những dòng ưu ái sau đây dành cho chủ nghĩa Xã hội:
"Chủ nghĩa xã hội, mới phát sinh được gần một thế kỷ - tôi muốn nói chủ nghĩa xã hội duy vật - đã được nhiều người, rất nhiều người hưởng ứng. Là vì chủ nghĩa ấy lập luận chắc chắn khiến cho kẻ trí thức nhận rõ tính cách khoa học của chủ nghĩa ấy, lại vì chủ nghĩa ấy nêu ra sự bình đẳng cho cả nhân loại, khiến cho giai cấp thợ thuyền và những giai cấp thấp bé thường bị đè nén trong xã hội nức lòng coi như con đường thoát ly ra khỏi vòng lao lung. (…) Ngoài ra, ta còn có thể nói rằng chủ nghĩa ấy ảnh hưởng rất lớn ở bốn nước Suède, Norvège, Danemark và Finlande, bốn nước sung sướng trên hoàn cầu" (Ngày Nay số 114,12-6-38).
Ở đây, chúng ta cần phân biệt sự khác nhau trong quan niệm cần lao của Hoàng Đạo với quan niệm cần lao của Tây phương:
Cùng là sự người bóc lột người, nhưng Đảng Xã hội Tây phương nhấn mạnh đến giai cấp tư bản bóc lột giai cấp lao động, còn đối với Hoàng Đạo, là sự tranh đấu kép:
- Của giai cấp tiểu tư sản và lao động chống lại giai cấp đại tư bản.
- Của giai cấp bị trị chống lại giai cấp thực dân.
Một bên là người cùng một dân tộc tranh đấu với nhau vì giàu nghèo khác biệt.
Một bên là người khác dân tộc, tranh đấu để lấy lại quyền dân tộc tự quyết và quyền làm người.
Cuộc tranh đấu sau chính là cuộc tranh đấu của những nước bị đô hộ chống lại bọn thực dân, cũng là trường hợp của nước Tàu và nước Việt.
2- Theo chủ nghĩa Tam dân của Tôn Dật Tiên:
Cùng trong cảnh đất nước còn cổ hủ và bị người Âu chiếm đoạt, những gì Tôn Dật Tiên khám phá cho Trung quốc, có thể áp dụng được ở Việt Nam.
Tôn Dật Tiên lấy chủ trương: Đuổi người ngoại quốc, chấn hưng Trung Hoa, xây dựng một nước cộng hòa và chia đều đất đai cho dân, làm tôn chỉ cho cuộc cách mạng.
Hoàng Đạo đã phối hợp đường lối của Đảng Xã Hội với chủ nghĩa Tam Dân, để rút ra bốn nguyên tắc sau đây:
1- Dùng chủ nghĩa Quốc gia của Tôn Dật Tiên để đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ.
2- Tranh đấu cho thành phần Cần lao, chống lại sự đán áp của tư bản và chống lại sự bóc lột của thực dân trên toàn lãnh thổ.
3- Cải cách xã hội khỏi tình trạng lạc hậu, chậm tiến, san bằng giàu nghèo.
4- Đưa nước đến chế độ dân chủ.
Chữ quốc gia trong quan niệm Quốc dân đảng, chính là quốc dân; từ Tôn Dật Tiên đến Nguyễn Thái Học, Hoàng Đạo… đều có cùng một nội dung: quốc dân chống lại đế quốc thực dân, không liên hệ gì với chữ quốc gia độc tôn trên hết của Phát xít và Nazi.
Sau 1954 chữ quốc gia được coi là một thứ "chủ nghĩa" để đối đầu với chủ nghĩa cộng sản, thì chỉ là một sự biến thiên của ngôn từ: Chữ quốc gia đã mất hẳn ý nghĩa nguyên thủy của Tôn Dật Tiên và Nguyễn Thái Học. Sự đối đầu giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, tạo ra một mặt trận giữa người Trung Quốc với nhau. Hại thay, nước Việt cũng đi theo con đường đẫm máu ấy.
Chú thích:
[1] Ngày 26-4-1936 và 3-5-36, vì Pháp bầu cử hai lần.
[2] Lần theo lịch sử (Ngày Nay số 98, 20-2-38).
[3] Ngày Nay số 99 (27-2-38) và Ngày Nay số 100 (6-3-38).
[4] Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, bản dịch Le Dragon d’Annam, Nguyễn Phước tộc xuất bản 1990, Cali, trang 27.
[5] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38) và số 102 (20-3-38).
[6] Chủ nghĩa dân chủ và các đảng cộng hòa, Ngày Nay số 101 (13-3-38).
[7] Nguyên văn tiếng Pháp: "Le Gouvernement est "un corps intermédiaire établi entre les sujets et le Souverain pour leur mutuelle correspondance, chargé de l’exécution des lois et du maintien de la liberté, tant civile que politique" (le Gouvernement est donc subordonné au Souverain: il recoit ses instructions de celui-ci). Les membres de ce corps intermédiaire sont appelés "Magistrats." (Rousseau, Contrat social, livre III, chap. I).
[8] In trên Ngày Nay số 105 (10-4-38) và Ngày Nay số 106 (17-4-38).
[9] Công xã tức chính quyền vô sản ở một thị xã hay một thành phố.
[10] Vùng sông Rhin, từ biên giới Pháp đến biên giới Hòa Lan.
[11] Tôn Văn (1866-1925) tức Tôn Dật Tiên hay Tôn Trung Sơn, là một trong những người thành lập Quốc Dân Đảng Trung Hoa, có ảnh hưởng lớn trong việc đánh đổ nhà Thanh và xây dựng nước Trung Hoa dân quốc. Tôn Dật Tiên, quê Quảng Đông, học truyền thống đến năm 13 tuổi, rồi theo anh sang Honolulu, học trường Mỹ và nhập đạo Tin lành. Năm 1883, trở về nước, học Đại học Anh ở Hồng Kông, đỗ y khoa bác sĩ năm 1892. Hoạt động chính trị và lập đảng Trung Hưng 1894. Năm 1895, tổ chức lật đổ nhà Thanh nhưng thất bại, phải sống lưu vong ở châu Âu, Mỹ, Canada và Nhật Bản trong 16 năm.
Ngày 10-10-1911, cách mạng nổi lên ở Vũ Xương, thành công, lúc đó Tôn Văn đang ở Mỹ, được mời về nước, và được bầu làm Tổng thống lâm thời đầu tiên của Trung Hoa (từ 29-12-1911 đến 10-3-1912). Dĩ nhiên sau đó, nền cộng hòa non trẻ còn phải trải nhiều thử thách, nhưng sự thành công ban đầu của Tôn Văn và lý thuyết Tam dân đã ảnh hưởng đến những nhà cách mạng Việt Nam, đặc biệt Việt Nam Quốc Dân Đảng.
[12] Để đạt mục đích ấy, Tôn Văn đưa ra ba phương pháp:
1- Trung quân sẽ đổi thành trung với nước. Còn, hiếu đễ, nhân, tín, lễ nghĩa, cần phải duy trì và mở mang thêm.
2- Trở lại văn hóa xưa: Đạo tu thân của Đức Khổng Tử là một đạo nên theo; chính người Đức họ đến học lại ta (ý nói triết thuyết Kant, Nietzsche), vậy ta cần theo đạo ấy để sửa mình.
3- Theo khoa học Thái Tây. Về mặt vật chất, thì Thái Tây hiện nay văn minh hơn Tàu; vậy người Tàu phải theo họ để mạnh như họ.
[13] Phong Hóa số 87, 2-3-34.
[14] Ngày Nay số 33, 8-11-36.
[15] Đảng Xã Hội, tiếng Pháp là SFIO (Section Française de L’Internationale Ouvrière) do Léon Blum đứng đầu.
[16] Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Tân Việt, Cali, 2006, trang 25.
[17] Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, chương 16, bản điện tử. (Sách này đã được Nhã Nam in lại năm 2014)
[18] Theo Nhượng Tống, Nguyễn Thái Học, các chương 17, 18, 19, 20, bản điện tử.
[19] Phong Hóa số 45 (5-5-33). Vậy mà mới đây có nhiều chỗ viết: ông bị Quốc Dân Đảng "dự định thủ tiêu" trước ngày Tổng khởi nghĩa, vì chống lại việc này!.
9/6/2021
Thụy Khuê

















































































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét