Niềm an ủi cuối cùng
Người chị và người bạn của tứ đã bỏ ra ngoài. Ánh sáng
buổi chiều vừa dội vào trước cửa đã bị bít lại ngay.
Tứ lắng nghe ngóng. Anh hy vọng sẽ nghe thấy giọng nói mừng rỡ
của chị và bạn với một người đến thăm anh. Nhưng chỉ có tiếng lao xao của những
người dưới thung lũng vọng lên. Thứ tiếng xa xôi mơ hồ này dường như Tứ đã nghe
nhiều trong những cơn mê sảng. Và không hiểu sao, kèm với âm thanh mơ hồ này,
bao giờ anh cũng thấp thoáng khuôn mặt có gò má cao, cái cổ nhỏ, khẳng khiu của
cô Dậu. Mỗi lần khuôn mặt tê dại ấy dần dần hiện rõ trước mặt tứ, vành môi nặng
chịch bắt đầu nhúc nhích như sắp nói. Tứ lại giật mình tỉnh dậy. Tiếng gió ào
ào trút trên đồi thông sau nhà đã ngăn cản Tứ không được lại gần tiếng nói quen
thuộc của cô anh. Mà lúc này anh lại khao khát tiếng nói ấy, anh muốn chết
trong một không khí đó.
Lúc này, Tứ mới thấy núi đồi ở đây bí ẩn và xa lạ. Anh tưởng
tượng đến những lớp sương xám, những đám khí đất dầy đặc sớm chiều bưng bít cỏ
cây xung quanh anh. Và anh không hiểu gió ở đâu thổi về đây lắm thế, nghe rào
rào hoang vắng quá đổi. Ý nghĩ vơ vẩn này không phải bây giờ Tứ mới có. Chiều
qua, khi tỉnh dậy, thấy Nguyễn Văn Việt – bạn anh – và Liên – chị anh – Tứ cũng
bàng hoàng, không hiểu họ từ đâu tới tuy anh vẫn biết họ là người thân của
mình. Mãi tới gần tối, Tứ mới giật mình nhớ lại, sau khi nghe Liên và Nguyễn
Văn Việt nói chuyện với nhau ở ngoài sân:
- Chị Liên thích đọc thơ không?
- Thích vừa thôi anh ạ. Tôi ưa đọc tiểu thuyết hơn.
- Chị ưa đọc tác giả nào?
- Những tác giả tiền chiến và … Nguyễn Văn Việt.
Tứ nghe tiếng Nguyễn Văn Việt cười dòn:
- Dù biết chị quá khen tôi vẫn thấy sung sướng.
Giọng Liên trang nghiêm:
- Anh chớ nên nhún mình. Tôi chỉ nói thực những điều tôi đã
nghĩ.
Những lời trao đổi này đủ để Tứ nghĩ đến tủ sách đầy tiểu
thuyết của nhà giáo, đến tờ báo Nguyễn Văn Việt là cây bút chính về tiểu thuyết.
Tứ nghĩ thầm:
Có cùng một ý thích, hai nguời sẽ đỡ buồn khi ở bên cạnh
mình.
Anh nhếch môi cười ngô nghê. Những cái răng trắng nhởn nổi
trên bộ mặt má hóp sâu, mũi vêu ra. Trong bóng tối, Tứ thấy rõ mình cười, cười
ngô nghê, ngớ ngẩn như mẹ Tứ hồi trước.
Ánh trăng lạnh in bóng cái giường dựng đứng bên bờ tre. Vài
con chuột đen thui chạy nhởn trên những thành gỗ loang lổ vô trắng.
Hôm qua mẹ nó còn nằm trên giường đó, hỏi chuyện các con. Mẹ
nó hỏi hai chị em nó, có đứa nào đã thấy con chim bối cá xanh biếc đôi cánh,
phơi nắng sớm trên cành cây sì mọc bên bờ mương ở cánh đồng làng Nhạn? Nó không
biết gì, còn chị nó nói:
Con mới được nghe nói đến làng Nhạn thôi. Có phải đứng trên
bãi chám đầu làng thì trông thấy ngôi cổng quét vôi trắng của làng Nhạn?
Mẹ nó ngơ ngẩn nhếch môi cười không đáp. Một lát sau mẹ nó lại
nói:
Chiều nay, khỏi sốt, mẹ phải về đó thăm bà cô già của mẹ. Bà
yếu lắm rồi, mỗi lần ra chợ Tó bà vẫn phải chống gậy, không biết sống chết thế
nào. Ngày mẹ chưa về bên này, mỗi lần đi xem hội đều có bà ở bên cạnh, chăm nom
săn sóc.
Dứt lời mẹ nó nhắm mắt lại. Nụ cười ngẩn ngơ lại nở trên môi.
Bấy giờ, cái giường đã bỏ ra ngoài bụi tre cho trăng chiếu xuống,
cho chuột leo lên chạy lăng quăng. Gian nhà trống hẳn một khoảng, ánh đèn Hoa Kỳ
lây lất chiếu thêm một vũng đất đen trên nền.
Khi chị ngủ say, nó chợt vùng dậy ôm đầu khóc. Lần đầu tiên
nó khóc lâu mà không thấy mẹ lên tiếng vỗ về. Nó lạ lùng, lắng tai nghe ngóng.
Chỉ có dư âm tiếng khóc của nó vang lên rành rẽ trong đêm.
Vuông khăn trắng trên đầu nó xổ tung, một đầu dính vào mấy
cái mụn nhớp mủ trên trán, một đầu buông xuống lưng nó. Trong vùng ánh sáng tờ
mờ, vuông vải vạch một đường trắng gẫy trên cái bóng đen nhỏ bé gầy guộc. Nó há
mồm nhìn chị, môi dưới thưỡn xuống.
Con bé vẫn ngủ mê mệt, mặt lòa xòa những tóc quay vào vách,
chân tay co quắp, người cong rúm lại, trên lưng lấm tấm những vệt đất thó. Vẻ
thiêm thiếp bất động của chị làm nó rùng mình. Chị nó dường như rất gần gũi mẹ
và xa cách nó vô cùng. Nó chợt lờ mờ thấy thế.
Nó lại òa lên khóc, hai chân đạp túi bụi lên người chị.
Con bé đang mơ thấy mẹ cười rộng vành môi trở về, giật mình tỉnh
dậy. Tấm vải trắng chạy dọc trên cái bóng đen gầy guộc rung rinh trước đôi mắt
nhòe ướt của nó.
Nó ôm em vào lòng. Vòng tay đánh quanh tấm thân còn đang thổn
thức. Đôi vai xương xẩu của thằng bé thỉnh thoảng lại run lên như một con chim
bị ướt. Ngực nó dần dần trở nên ấm áp nhưng sống lưng lại ớn lạnh. Nó không dám
quay lại phía sau một lần.
Cả hai đứa cùng im thin thít, tạo thành một khối đen câm sau
khung cửa sổ trắng sáng trông ra phía bờ tre có cái giường dựng đứng.
Đêm dần về khuya, vòng tay con bé dần dần lỏng lẻo trong lúc
em nó bắt đầu thở đều đều. Cánh tay nhỏ nhắn của thằng bé thỉnh thoảng lại dơ
ra ngoài khoảng không, quờ quạng, tìm kiếm. Có lúc nó đột nhiên rên lên một hồi
như một con vật bị lạnh.
Trong tiếng gió vù vù, chốc chốc lại phảng phất có tiếng kẻng
rời rạc từ một điếm gác vọng lại. Con bé gục đầu trong âm thanh hoang vắng đó.
Cuối cùng nó chỉ còn thoang thoảng mùi tanh tưởi ở trên đầu thằng bé.
Khi hai chị em bừng mắt dậy thấy có bàn tay ai đặt lên mình.
Đó là bàn tay của cô Dậu.
Bàn tay này đã thu vén mọi việc trong nhà chú Dậu ở từ ngày
cô mười bảy tuổi. Và sau ngày về nhà chồng được ba năm, đã nhiều lần cô Dậu ngượng
ngập đưa tay cho những ông thầy số ở đầu cầu chợ Lũ, ở góc hàng Quạt, ở bến Nứa…
để nhờ xem về đường tử tức. Đã nhiều lần đôi bàn tay ấy chấp thành kính trước
tượng thần, Phật ở điện, ở chùa để cầu một mụn con trai. Nhưng mười mấy năm
ròng, bàn tay của cô vẫn chưa được bế một đứa trẻ cô hằng đợi và vẫn tiếp tục,
vẫn ngượng ngập đưa cho những ông thầy số….
Cô Dậu tự nhiên biến thành một người đặc biệt trong những người
đặc biệt ở trong làng. Nói đến người giầu mà keo kiệt, người ta nghĩ
đến ông đốc Bưu thôn Đông; nói đến tính nhát ngựa người ta nghĩ đến ông tổng Nhạ,
nói đến thói ăn chơi bạt mạng người ta nói đến cậu cả Phong và nói đến cô Dậu,
không ai không biết người ta muốn nói đến sự hiếm muộn của cô. Nhiều lúc cô thấy
mình đang chờ đợi một việc chẳng lành xẩy tới.
Sự lo lắng của cô đột nhiên tăng lên năm cô ba mươi tuổi, năm
chú Dậu bắt đầu có những biến đổi lạ lùng. Đang lúc làm ăn phát đạt, chú bỏ đi
Hà-Nội với một người làng đi lính mới về thăm quê. Rồi từ đó cứ mươi ngày, nửa
tháng chú lại đi một lần. Có ai hỏi chú trả lời gượng gạo là đi kiếm một việc
làm. Cô Dậu nghe phong phanh chồng thường đi hát ả đầu ở Khâm Thiên, ngỏ lời
ngăn cản thì chú Dậu nổi giận mắng cho một trận tàn tệ, rồi lại bỏ đi. Thấy vậy
mọi người càng tin chú Dậu đã truỵ lạc.
Nhưng ít lâu sau cả làng ngạc nhiên thấy chú Dậu và vợ ra
Hà-Nội buôn bán. Ai nấy bắt đầu nghi ngờ cái tin chú Dậu tối ngày lai vãng tới
ngỏ Khâm Thiên.
Ra Hà-Nội chú Dậu mở cửa hàng bán gạo.
Thực ra đây chỉ là một cớ để chú Dậu dành cho vợ một cơ hội
cuối cùng hầu chuộc lại cái lỗi của cô. Trong mười mấy năm trời chung sống, nếu
có lúc chú thấy mỗi lời nói của vợ là một lời nhắc nhở sự có mặt hầu như hơi thừa
của cô đồng thời với sự vắng bóng một đứa con, thì cũng có lúc chú thấy nụ cười
quen thuộc nhất và hợp với mình nhất là nụ cười vì những lời nói xốc nổi của vợ.
Vì vậy chú còn ngần ngại chưa nghĩ tới một người đàn bà khác.
Ngay khi ra Hà-Nội, chú đã nói rõ ý định với vợ. Chú định sẽ
xin một đứa con trai chừng vài tháng về nuôi và giấu không cho một ai biết. Như
thế, sau này, ai cũng sẽ yên trí đó chính là đứa trẻ do cô chú sinh ra. Chú nói
thêm:
- Đấy là cách cuối cùng để tránh cảnh chồng chung vợ chạ.
Cô Dậu nghe chồng nói, cảm động ứa nước mắt. Đã từ lâu, bây
giờ cô mới lại thấy sẽ được sống bình yên bên chồng.
Nhưng chỉ ít ngày sau, cô chợt nhận được tin người chị dâu
đang hấp hối. Cô hấp tấp về làng để thấy hai đứa cháu thiểu não ôm nhau ngủ
trong căn nhà tối tăm như một căn nhà mồ.
Trước cảnh tượng đó, cô Dậu không còn đủ bình tĩnh để suy
nghĩ thiệt hơn nữa. Cô mang hai cháu ra Hà-Hội. Và suốt trong một năm trời, cô
vẫn như một người đứng trước cảnh một đứa bé đang bò trên miệng giếng.
Đứa cháu gái cô, cái Liên, sau một tháng ở với cô, đã được một
ông bác họ đem xuống Hải Phòng. Lúc nó ra khỏi tiệm bán gạo, chợt nghe tiếng em
nó khóc thét lên. Tuy biết thằng Tứ chưa biết nó phải bỏ đây mà đi, nhưng nó vẫn
phải mím môi lại, rùng mình. Nó như thấy hiện ra trước mắt thằng bé đầu nhuộm
phẩm xanh, mủ rề rề, đang đập chân tay, đầu cầy xuống mặt giường. Căn bệnh của
thằng bé, tuy nó không rõ tên nhưng rất thuộc. Một cái mụn vỡ bật máu, một lời
gọi không đáp, một tiếng nói to, đều khiến thằng Tứ khóc thét, đập chân tay rồi
bằn bặt thiếp đi. Mỗi lần như vậy cô Dậu lại hốt hoảng, lật đật lấy thuốc dốc
vào miệng nó và lay gọi rối rít. Lúc đầu, chân tay cô luýnh quýnh, luống cuống
trông thật tức cười. Chính cô cũng nhận ra điều đó. Sau mỗi lần thằng Tứ khóc,
cô thấy nhẹ nhõm cả người nhưng đồng thời, cô lại ngậm ngùi nghĩ ngợi.
Trong thời gian cô Dậu bận mang cháu đi thầy thuốc, bận pha sữa,
bận thức đêm, chú Dậu đi kiếm một người đàn bà.
Khi thằng Tứ bắt đầu lên da lên thịt, cô Dậu bắt đầu được thư
thả. Thư thả để thấy căn nhà hẹp hẳn đi vì bị ngăn làm đôi, một nửa kê cái giường
của cô, một nửa dành cho người đàn bà có đôi mắt lá răm, có đôi guốc đỏ. Cô
không biết nhiều về gốc tích người đàn bà này. Thứ nhất, vì chú Dậu không muốn
nói tới, thứ hai, người đàn bà luôn luôn có dáng điệu lầm lì.
Vẻ lầm lì này lại càng nổi rõ bên cái tính hay nói của cô Dậu.
Cô có thể vừa cân gạo, vừa nói về bốn người vợ người cảnh binh già ở số nhà 16
hoặc chuyện con bé bán sôi lạp xường ở góc phố bỏ đi theo một tên Ma-Rốc. Những
người nói chuyện với cô phần nhiều là những người đàn bà có nhiều thì giờ và cần
vay cô một món tiền, rủ cô một chân họ. Nhiều người còn biết lợi dụng tính nói
nhiều của cô để khất một món nợ. Khi cô nhắc đến một số tiền họ thiếu, họ chỉ cần
làm như không nghe thấy, rồi đột nhiên lại gần cô thì thào:
- Bà có rõ chuyện con mụ Trùm Xức bị lừa không?
Hoặc:
- Nghe cà-phê ở ngã tư bị bắt, chẳng hiểu hư thực thế nào?
Chỉ cần mấy câu như vậy, họ đủ khiến cô Dậu bắt ngay vào một
chuyện khác chuyện đòi nợ của cô.
Thường thường, khi đã dứt chuyện, cô Dậu quên hẳn ý định đòi
nợ của mình. Hoặc giả đôi khi nhớ được, cô cũng chỉ hỏi lại con nợ cho có lệ.
Lúc đó cô mới chợt nghĩ mình còn phải làm nhiều việc. Thì giờ để tiếp con nợ
như vậy đã quá lâu, cần chấm dứt ngay để bắt đầu một công việc khác. Cô vội vã,
xuýt xoa ngỏ lời tạm biệt người nghe chuyện. Đây cũng là một thói quen của cô.
Khi nói, bao giờ cô cũng có vẻ vội vã như thấy còn phải nói nhiều mới đủ ý, và
xuýt xoa vì lúc nào cô cũng như tiếc rẻ một điều gì.
Tính hay nói của cô làm khổ thằng Tứ không ít.
Mỗi khi cô gắng gượng cãi lại những lời cộc lốc, dữ dội của
chồng, Tứ hồi hộp, sợ hãi. Nó thấy giọng cô thường trở nên tẻ nhạt những lúc đó
và gây thêm sự tức giận của chồng. Có lần chú Dậu tàn nhẫn bảo vợ:
Giọng nói của mày như thế, bao giờ mày xuống được!
Tứ nghe nói vừa giận chú vừa thương cô. Nó muốn quấn quýt bên
cô tối ngày, nói chuyện với cô để cô cười nhiều. Một hôm nó bỏ những bạn chơi,
vào đứng bên một bì gạo giương mắt nhìn cô. Cô đang ngồi trên tấm ván ngựa nói
chuyện với mấy người đàn bà láng giềng. Những người này vừa nhai trầu ướt đỏ
môi, vừa cười, cô cũng vừa nhai trầu vừa cười. Có mấy đứa trẻ con trạc Tứ hay cỡ
hai ba tuổi, chơi tản mác ở chung quanh. Đứa thì ngồi lê la ở bậu cửa, đứa đứng
lên cái cân táy máy, đứa chạy ra cửa quay kẹo kéo. Không có đứa nào đứng yên
bên một bao gạo như Tứ cả. Tứ nhìn cô hoài, cô không nhìn lại một lần. Cô còn bận
nói, bận nhai trầu, bận cười với những người đàn bà.
Tứ ngạc nhiên và hờn dỗi nhưng cô vẫn chẳng thấy. Nó thấy cô
chỉ âu yếm nó khi bị chồng rỉa rói hay lúc nó ốm liệt giường. Còn bình thường
những truyện “con bé góc phố bỏ đi theo Ma rốc” “con mụ Trùm Xức bị lừa” vẫn hấp
dẫn cô nhiều hơn. Tứ buồn rầu nhớ lại những lần chân tay nó nóng bỏng, tai ù,
cô luôn luôn ẩn hiện trước mắt nó, tiếng nói của cô luôn luôn phảng phất bên
tai nó. Cô nói đến cái kèn xanh đỏ, cái xe đạp có ba bánh cao su nhỏ xíu, cái
bánh đậu Hải Dương … những thứ này lúc ấy hiện ra đầy đủ trong trí nó, tuy vô
cùng xa xôi nhưng lại vô cùng dịu dàng, đẹp đẽ.
Đến ngày được đi học Tứ lại càng thấy cô thiếu nhiều lời nói,
cử chỉ vuốt ve với mình. Cô không bao giờ nói với Tứ những lời mẹ hiền trong
sách. Mà Tứ lại thèm những lời đó hơn thèm cái xe ba bánh, cái bánh đậu Hải
Dương. Có lúc nó nghĩ giá mình đổi được đôi giầy mới mua, hộp bi trong như pha
lê để cô Dậu nói đựơc những lời âu yếm, nó cũng đổi.
Những ngày mùa đông, xách cặp đi trên đê Yên Phụ, nhìn những
bức tường thành rêu bọc dây kẽm gai hoặc ngồi ở bụi mía sau trường Mạc-Đĩnh-Chi,
nhìn những bè rau muống tàn rụi ven bờ Trúc Bạch, Tứ ngạc nhiên, không hiểu sao
lại ở đấy một mình. Nó thấy xa cô Dậu như đã xa chị Liên, xa mẹ.
Từ ngày bắt đầu có những ý nghĩ ngậm ngùi như vậy, Tứ sống
khác hẳn những đứa trẻ cùng tuổi. Tứ có vẻ một người lớn ốm yếu. Đến khi phải rời
bỏ khu nhà máy điện đầy bụi than, bỏ vườn bách thảo có những người lính tập
kèn, bỏ Hồ Tây có những buổi chiều nắng gắt, để bắt đầu ngồi trên xe buýt, làm
quen với mùi sầu riêng, Tứ thấy mình trưởng thành. Những buổi trưa nằm dưới sức
nóng hừng hực của căn lều vải trong trại học sinh, Tứ nghĩ đến tiếng nói vội
vã, xuýt xoa của cô Dậu.
Những ngày nghỉ, Tứ thường kiếm tiền về một tỉnh miền Hậu
Giang để thăm cô và nói dự tính tương lai của mình. Cô Dậu trong vài năm đã vụt
trở nên già yếu. Tóc cô đã điểm nhiều sợi cháy. Nhưng mỗi lần gặp cháu cô vẫn
chăm chú nghe một câu chuyện tương lai. Mỗi lần Tứ về chơi, cô thường than thở,
nhắc nhở đến ông bà, làng mạc hoài hoài không dứt. Những ngày ở Hà Nội, cô đã
nghe nói đến vườn nhãn, bãi chám, ao bèo, đến những câu đối, chậu lan, nhành
đào của ông nội. Nhưng hồi đó giọng cô đâu có thiết tha kể lể như bây giờ. Dường
như lúc ra đi, cô đã để quên lại những nơi đó một cái gì vừa quí vừa cần thiết
cho cô. Nhiều lúc nghe cô, Tứ đã phải dùng kế của những con nợ ngày trước.
Nhưng Tứ không thì thào bên tai cô câu: “Con mụ Trùm Xức bị lừa” mà lại làm bộ
lơ đãng nói: “nếu không có gì trở ngại, cháu sẽ thi vào trường sư phạm”. Nghe
cháu nói, vẻ ngậm ngùi trên mặt cô vụt tan biến. Cô chuyển ngay sang giọng vội
vã, xuýt xoa để bàn với cháu về chuyện “nên” và “chẳng nên”. Nên chịu kham chịu
khổ để sau này kiếm được một nghề nhàn chân nhàn tay. Khi đã có địa vị, chẳng
nên lấy những hạng vợ giàu sang để mang tiếng thân trai nấp bóng một đứa đàn
bà.
Câu sau này, cô Dậu muốn ám chỉ bác Giáo.
Bác Giáo là người đã nuôi chị Tứ từ ngày Tứ còn nhỏ. Bác sống
khá sung túc và nhàn hạ nhờ người vợ vừa lắm tiền lại vừa buôn bán giỏi. Đã nhiều
người chê bác bất tài, sống bám vào vợ, nhưng bác chẳng để tâm, chỉ chăm sóc đến
thú vui của mỉnh. Cái thú của bác là đọc những sách do các tác giả tiền chiến
viết và nói những lời thương hại kẻ cùng khổ trong xã hội. Đã nhiều lần, tại
nhiều nơi, bác bảo Tứ là một kẻ tiêu biểu cho những kẻ khốn khó trong cái xã hội
nhiễu nhương này. Trường hợp Tứ như vậy, đáng thương lắm lắm.
Những ngày mới lớn, Tứ rất khó chịu vì những lời nói thương
yêu quá nhiều của bác. Có lần anh ví bác với người trang sức bằng đồ giả, quá ư
lộ liễu mà vẫn không biết thẹn. Sau này, thấy sự liên lạc giữa hai bác cháu còn
hay mất là tùy mình, Tứ không để ý đến tính tình bác nữa. Thỉnh thoảng anh lại
nhà bác, hỏi han vài lời, nói dăm câu chuyện với chị Liên rồi thản nhiên đi như
thản nhiên đến.
Không ngờ vẻ lạnh lùng của Tứ lại khiến Liên cảm động. Nàng
thấy em có vẻ khắc khổ của một người dầy dạn gió bụi. Những lần Tứ đột nhiên đến,
đột nhiên đi, cười nửa vành môi, nói lời trầm trầm khiến Liên tưởng tượng nhiều
hình ảnh buồn và đẹp. Nàng hình dung đến những mẩu thuốc lập lòe trong bóng tối
một căn gác trọ, đến những thành phố đất đỏ cao nguyên, đến cái đế giầy mòn của
Tứ.
Liên muốn được ở gần, săn sóc em. Ý muốn này thuở nhỏ Liên đã
có. Nhưng ngày ấy, Liên muốn thấy cái đầu nhuộm phẩm xanh, ngửi cái mùi tanh tưởi
của em vì thấy đó là những cái vừa quen thuộc vừa gần các kỷ niệm của mẹ. Bây
giờ Liên muốn gần Tứ vì đã có lần nàng thổn thức với đứa trẻ vơ vất, bị em bỏ
rơi trong truyện “Sống nhờ”, vì có lần nàng đã gấp cuốn “Đoạn Tuyệt” lại, mơ
màng đến hình ảnh một chàng trai âm thầm ngồi trên chuyến xe lửa chạy băng băng
trong đêm dài.
Một lần nghe tin Tứ đã bỏ học đi buôn củi với một người quen,
Liên đột nhiên thất vọng. Nàng vì Tứ như một bảo vật vừa mới tìm lại được, nỗi
vui mừng chưa kịp đến, nàng đã thấy lo ngại có kẻ chiếm mất.
Nguyễn Văn Việt đứng bên cây anh đào xanh lá, nhìn xuống con
đường đất dốc, trơn như bôi mỡ, ngoằn ngoèo chạy xuống lòng thung lũng. Anh hồi
hộp vô cùng.
Người đàn bà, một tay xách cái làn nặng, một tay kéo cao ống
quần. Mười ngón chân bấm trên mặt đất thô đỏ, dò dẫm từng bước lên phía đồi. Đến
những chỗ người ta vứt cỏ cho dễ đi, bà ta lại dừng chân, chắc để thở. Cái đuôi
khăn mỏ quạ ở sau gáy bà bay lất phất.
Trông vẻ vất vả của bà ta, Nguyễn Văn Việt định xuống
xách đỡ cái làn song lại ngần ngại. Anh không muốn bao tin Tứ chết trên con đường
bà Dậu đã cố vượt lên. Trong lúc xúc động, biết đâu bà chẳng lăn xuống những ruộng
sâu hút ở hai bên đường.
Nguyễn Văn Việt chỉ còn cách đứng im chờ đợi …
Bỗng anh cười chua chát nghĩ thầm:
Nguyên cái chết của Tứ cũng đủ khiến bà ngất xỉu, lọ là phải
nói đến những sự dối trá của Từ từ trước tới giờ,
Anh liên tưởng đến vẻ mặt hốc hác gớm ghê nhưng khẩn thiết của
Tứ lúc trối trăng.
Trong căn phòng ánh sáng lờ mờ, Nguyễn Văn Việt và Liên cúi
xuống nghe Tứ dặn dò. Trong họ như hai cái bóng bên một xác ma. Trong lúc Liên
sùi sụt khóc, giọng Tứ thật yếu đến tai Việt:
Tôi không thấy sợ chết, chỉ sợ cô tôi biết tôi đã chết ở đây.
Nói được bấy nhiêu lời. Tứ như đã hết hơi. Mắt anh nhắm lại,
mồm anh méo xệch đi.
Liên kinh hãi thấy “món đồ quý giá vừa lấy lại được” nay đã
hoàn toàn tan nát, không còn mong gì chiếm lại được như trước kia. Còn Nguyễn
Văn Việt cũng sửng sốt. Ngũ quan anh dường như mở rộng ra để đón lấy tất cả những
nét thê lương đặc biệt đang diễn ra bên một cái chết. Tai anh lắng nghe từng
hơi thở, mắt anh mở rộng nhìn từng vũng đen, khối sáng trên mặt bạn. Anh bỗng
nhiên buồn rầu nghĩ thầm:
Có bao giờ mình làm sống lại được giờ phút này trong tác phẩm!
Anh thấy cái chết hoàn toàn mới mẻ. Nhất là cái chết của một
người bạn thân lại càng khiến anh có nhiều rung động lạ thường.
Bỗng Tứ lại cất tiếng nói:
Nhớ nói với cô Dậu, tôi hối hận vì những câu chuyện tương lai
đã nhiều lần tôi nói với cô.
Nói xong câu này, Tứ chết.
Bây giờ nhìn bà Dậu hăm hở đi ngược lên, Nguyễn Văn Việt thấy
làm theo lời dặn của Tứ là thừa. Anh lại cười vì một ý nghĩ vẩn vơ:
Nếu có linh hồn, Tứ sẽ oán mình lắm.
Chợt anh giật mình. Có tiếng la thất thanh của bà Dậu ở dưới
đường. Anh nhìn xuống, thấy bà trượt chân, lảo đảo ngã xuống con đường dốc. Cái
làn văng xuống một ruộng rau.
Nguyễn Văn Việt vội vã chạy xuống.
Khi anh xuống tới nơi, bà Dậu đã đứng dậy được. Bà lom khom lại
bên một mép đường ngồi bệt xuống một cụm cỏ lá dài như lá mía. Vạt áo lấm lem,
hai bàn tay dăn deo bết đất thó đỏ. Bà lúng túng nhìn xuống một ruộng rau ở dưới
chân. Cái làn của bà đang nằm yên bên một đống phân cá phủ kín.
Nguyễn Văn Việt hỏi:
Bác có sao không?
Bà Dậu không đáp, lại trách:
Đường trơn thế này, thấy tôi xách nặng anh chẳng xuống giúp một
tay, lại cứ đứng trên nhìn xuống.
Nhìn xuống ruộng rau, Nguyễn Văn Việt nói:
Cái làn của bác, để cháu …
Bệnh tình em Tứ ra sao hả anh?
Bà Dậu chợt lo lắng ngắt lời Nguyễn Văn Việt .
Nguyễn Văn Việt lúng túng như lúc mới thấy bà Dậu ở cuối đường
dốc. Anh ngập ngừng nhìn vẻ mặt đăm chiêu chờ đợi của bà Dậu. Rồi không hiểu
sao anh buồn rầu đáp:
Tứ đã mất chiều hôm qua.
Nguyễn Văn Việt không biết mình nói xong lúc nào, chỉ thấy có
tiếng la thật to đập ù vành tai.
Tứ đã mồ yên mả đẹp.
Sáng nay, sau khi thu xếp xong mọi việc, bà Dậu, Liên và Nguyễn
Văn Việt xuống cuối con đường dốc chờ xe.
Trong khi Nguyễn Văn Việt châm thuốc hút đứng ngóng xe từ
thành phố xuống, bà Dậu ngồi trên chiếc va li để bên vệ đường ngẩn ngơ, thì
Liên nhìn lần cuối căn nhà chênh vênh trên sườn đồi như một căn chòi bỏ hoang.
Căn nhà này hoàn toàn xa lạ với Liên khi nàng đứng đây trông lại. Nó không còn
một dấu hiệu chứng tỏ đã có thời kỳ Tứ ở đó, mê sảng liên hồi, chập chờn thấy
bóng dáng cô Dậu. Và chính Liên cũng không ngờ ở đó, có một cánh cửa đóng im ỉm
thỉnh thoảng lại vội vã hé ra để Liên lặng lẽ bước ra sân hay lặng lẽ đi vào.
Nhớ lại mấy ngày qua, Liên bàng hoàng như vừa qua một giấc mộng
dài đầy chuyện buồn phiền. Bây giờ, Liên chỉ còn thấy rã chân tay, muốn có một
chỗ để ngồi.
Nguyễn Văn Việt lại bên Liên, nói:
Chị còn nhìn căn nhà đó làm gì.
Để từ biệt. Vì từ nay hai chị em tôi không còn bao giờ tới
đây nữa.
Ngạc nhiên, Nguyễn Văn Việt lập lại:
“Hai chị em” chị?
Liên cười buồn, ngước nhìn Nguyễn Văn Việt như để gợi sự chú
ý rồi chậm rãi:
Tôi không rõ Tứ chết tôi thiệt hại những gì. Chỉ rõ, từ giờ
phút này, tôi thấy Tứ luôn luôn ở bên cạnh. Tôi không còn những nỗi lo sợ mơ hồ
ám ảnh hết ngày này qua ngày khác. Trước kia tôi vẫn ví Tứ như một vật quí giá
tôi vừa chiếm lại được, tuy tôi sung sướng nhưng tôi cũng lo âu không ít …
Nguyễn Văn Việt nghe từng lời của Liên, nghĩ đến từng cuốn tiểu
thuyết hồi tiền chiến. Anh ta vung tay vu vơ như muốn nói một câu gì nhưng rồi
lại yên lặng chờ Liên nói tiếp. Trí tò mò của anh đang chỗi dậy một cách quá ư
mạnh mẽ.
- Bây giờ, Tứ chết, bảo vật đã tan nát nhưng nó vẫn mãi mãi
là của tôi mỗi khi nghĩ đến nó. Từ nay Tứ sẽ trở nên hiền lành hơn, dễ thương
hơn bên cạnh tôi.
Liên nói tới đây ngừng lại hẳn. Nguyễn Văn Việt thoáng nhìn
nàng, tò mò. Anh thấy những lời trên thốt ra từ miệng Liên là thường nhưng vẻ mặt
tha thiết, thành thật khi nói khiến anh ta lấy làm lạ.
Nguyễn Văn Việt chợt lại vung tay vu vơ, anh vội nói để bắt kịp
ý nghĩ:
Còn tôi, sự thực tôi xúc động mạnh khi biết Tứ chết. Đây là lần
đầu tiên phải chứng kiến cái chết của một người thân. Những nỗi hoảng hốt, đau
đớn của tôi mấy ngày vừa qua sao lại lạ lùng, mới mẻ đến thế.
Liên cười khô môi ngắt ngang:
Những rung động mới mẻ này sẽ giúp anh trở nên phong phú hơn,
thành thật hơn trong các tác phẩm tương lai.
Nguyễn Văn Việt đáp:
- Tôi đã nghĩ như chị từ khi bước chân tới đây. “Những đau khổ
làm cuộc sống phong phú hơn” nhưng phải cái mua hơi đắt.
Nói xong, Nguyễn Văn Việt cười vu vơ, Liên cười theo.
Trong lúc ấy nắng lên cao, khí lạnh bắt đầu tan. Bà Dậu ngồi
trên chiếc va-li bên vệ đường, buộc lại cái khăn mỏ quạ. Hai bàn tay còn dính đất
sét dần dần trở nên trắng khô.
1/10/2008 Y Uyên
1/10/2008
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét