Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022
Sơn La ký sự
LỜI THƯA
- Một là nơi “mó nước” đầu bản: Đó là nơi có ống nước tự chảy
dẫn qua ống máng tre từ trên nguồn đổ về trong sạch tuôn suốt ngày đêm… thường
có hai ống: một bên nam, một bên nữ. Ngăn cách hai bên là một phên nứa để bên nào
bên ấy “tắm truồng” thoải mái.
Khi chum rượu lẩu xá đã mở là trống, khèn, cồng chiêng hòa
theo các điệu “khắp”, múa xòe dập dìu say sưa tới sáng.
Thời Pháp (trước 1945) Quốc lộ 6 chỉ hết địa phận tỉnh Hòa
Bình, sang tới địa phận Sơn La là đường 41 (xã Chiềng Yên): Khởi đầu cây số 0
là chỗ suối Rút đổ vào sông Đà, đi một chặng tới cây số 22 (năm 1963) ô tô sáng
đi từ Hòa Bình hay chợ Bờ lên tới cây số 22 (Sơn La) là trạm Công an kiểm tra
giấy tờ và nghỉ ăn trưa, có cửa hàng mậu dịch Quốc doanh. Ăn trưa xong đi lên
ngược dốc tới đỉnh Đèo 46 (cây số 46) cao khoảng 1500m ngang núi Tam Đảo - Đây
là bản Mèo (Hmông) đỉnh núi sương mù, nước suối giữa tháng tư dương lịch nhúng lạnh
buốt tay; tại đây cũng có một cửa hàng Mậu dịch Quốc doanh (vùng cao) nơi hội tụ dân
bản đến mua hàng gặp gỡ khá đông vui. Xe ô tô ca (giá 12đồng/ từ bến Kim Liên
Hà Nội lên tới Sơn La, cây số 302 km đầu cầu Trắng bắc trên suối Nậm La qua thị
xã tới bản Xẳng (xã Chiềng Xôm) chui qua gầm đèo Cao Pha đổ xuống Nậm Bú (xã Mường
Bú rồi tới Sông Đà chỗ bến Tạ Bú).
“Lũng Lô”, tên bản địa là “Trảng nương hoang giữa rừng cây cổ thụ”. Đèo Lũng Lô ngăn cách hai tỉnh Yên Bái - Sơn La, đỉnh đèo ngợp trong sương mù bao phủ, bốn mùa ẩm ướt, nước chảy qua đường đá gồ ghề. Trước ngày hình thành đường 13A, Lũng Lô chỉ là một con đường mòn men theo triền núi, rất ít người qua lại. Thi thoảng mới có dân bản Cơi (Phù Yên) và bản Dạ (Văn Chấn) qua lại thăm nhau hoặc đi săn muông thú, vào rừng đèo lấy song mây, đào củ mài trong những ngày giáp hạt. Người Mường ở vùng này gọi là đèo Lũng Lỗ (lỗ thủng) với hình tượng là trên đỉnh đèo mây mù trắng, nhìn từ chân đèo lên đỉnh xuyên qua một lối mòn dưới tán cây cổ thụ thì thấy như một cái lỗ thủng trên trời cao? Cũng có ý kiến giải thích “lũng” là thung lũng, “lô” là cây lau? Trước ngày giải phóng Tây Bắc (1953) Lũng Lô thuộc khu du kích Mường Thải (Phù Yên) đánh quân Pháp rất kiên cường. Giặc Pháp và tay sai ở Phù Yên sợ không dám bén mảng đến. (theo Đinh Chanh - văn nghệ Sơn La “suối reo” số 6/2004).
Thật là cái đẹp, cái ngọt, cái mát trời cho giữa ngày tháng 3
nắng nóng ngột ngạt.
Ngoài hoa Ban, ở Sơn La - Tây Bắc dọc theo các khe suối còn
có cây hoa Mạ (hoa ngựa) gắn với sự tích “bó mạ khun chương”: Kể về con ngựa của
anh hùng Lạn Chượng khi chết hóa thành bông hoa Mạ, xuân đến nở rực vàng bên bờ
suối, đón các cô gái chàng trai đến gặp gỡ tự tình nơi bến tắm bản quê.
Nhà ở người Thái: hầu hết là gianh, tre, gỗ, nứa - đục đẽo
đơn giản, đa số là không ngăn buồng (2 loài: cột chôn và cột kê) hoàn toàn là vật
liệu tự nhiên sẵn có ở rừng núi bản địa.
“Xửa cỏm” cổ truyền vừa là lễ phục vừa là thường phục, chỉ khác là về chất liệu vải (vải thường hay tơ lụa, cát bá, sa tanh) khi đi lễ thì quàng thêm tấm thổ cẩm rộng chừng ba bốn mươi phân hơi lệch chéo sang một bên, cách điệu một chút nghệ thuật ở phần hạ bán thân, chỗ ngay thắt lưng “xửa eo” xuống.
Khách quan mà chiêm ngưỡng: Ngắm phụ nữ Thái với trang phục xửa
cỏm ta ngỡ đó là một nàng vệ nữ rất cổ điển mà vẫn hiện đại, bó sát tạo eo, nổi
bật các đường cong lý tưởng (như thi hoa hậu)… chị em Thái đã rất táo bạo trong
sắp xếp đường nét (gây gợi cảm). Cái váy dài tha thướt xúng xính như muốn kéo
dài thêm cho phận hạ bán thân, làm sao chân dài thêm; còn cái xửa cỏm thì cứ
như hơi quá ngắn lại ôm xít thân thể vùng trên như dồn nén chật chội, căng phồng
như muốn bung ra “bong ra” hiến dâng cho người tình “của em của anh đây mà” rất
gần gũi thân thương đầy chất nhục cảm.
Qua phần huyền thoại… đến lúc Then (trời) cho tạo Tum Hoàng
xuống làm chủ vùng đầu sông Nậm Lài, Ao Xe, Nậm Tè (Sông Đà), Nậm Tào (Sông
Thao)… rồi tạo Tum Hoàng cho hai em là Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống ăn đất Mường
Ôm, Mường Ai ngoài vòm trời, rồi tới dựng Mường Lò Luông, cùng theo có các tay
chân họ Lò, Lương, Quàng, Tòng, Lèo… tôn họ Lò làm chủ. Lúc đó đất Mường Lò đã
có người. Mọi (Mường), người Mang cư trú. Xây dựng theo Mường Lò thì Tạo Xuông ở
lại lấy vợ sinh ra Tạo Lò, cho Khun Lường làm mo, Tạo Lò làm chúa. Về sau Tạo
Xuông cũng trở về quê cũ Mường Ôm, Mường Ai.
Năm 1922 Tây bắt dân đổi tiền “cống chảy” lấy tiền “hua cỏm”
hẹn một năm phải xong, cứ 3 đồng cống chảy được 1 đồng hua cỏm. Dân mường thời
đó túng tiền lắm, họ phải bán gạo, trâu với giá rẻ mạt (trâu mộng 12 đồng/1 con
và mua hàng với giá cắt cổ như sợi vải, thuốc lào, 1 kg muối giá 5 hào).
(Mình không nghĩ ngợi, ý tứ gì (vô tư) thì sẽ có người khác
nghĩ (nhớ) đến mình).
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm
Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét