Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Chuông gọi hồn ai 1

Chuông gọi hồn ai 1

Chương 1
Chàng nằm sấp trên những xác lá thông, chống cằm trên đôi tay khoanh lại, nghe gió rì rào trong cây lá ở thật cao trên đầu chàng. Triền núi thoai thoải, những dốc núi phía dưới đổ dồn, và chàng trông thấy bóng đen của con đường nhựa tạo thành một đường con vắt qua đèo. Môt giòng nước đổ dọc theo đường đi và thật xa phía dưới, người ta nhác thấy một trại cưa nằm bên dòng suối và bên cái thác đập nước, nó hiện lên trắng xóa dưới ánh nắng mùa hè. Chàng hỏi:
- Có phải trại cưa đó không?
- Phải.
- Tôi không còn nhớ ra nữa.
- Người ta dựng nó lên từ ngày đồng chí bỏ đi. Trại cưa cũ ở dưới đèo.
Chàng trải bản sao tấm địa đồ của Bộ Tham Mưu dưới đất và chăm chú ngắm nghía. Kẻ nọ, một lão già, nhỏ thó và khỏe mạnh, mặc áo blouson đen và quần vải xám, mang dép, ngước mắt nhìn qua vai người đồng hành. Lão mệt nhoài vì chuyến leo dốc và bàn tay lão đặt thân mật trong hai ba lô nặng nề mà lão đã mang lên.
- Vậy chớ đứng đây không thấy chiếc cầu à?
- Không - Lão già nói - Ở đây, dốc đèo hãy còn thoai thoải. Dòng nước còn đổ nhẹ. Phía dưới, nơi khúc quanh, sau những đám cây, nó bất chợt đổ xuống và có một khe núi hiểm trở.
- Tôi nhớ ra rồi.
- Chính chiếc cầu nằm vắt ngang qua khe núi này, còn những đồn canh của bọn chúng ở đâu?
- Có một cái trại cưa mà đồng chí thấy phía dưới kia.
Người thanh niên đang nghiên cứu địa hình, lấy ra chiếc ống dòm từ túi áo sơ-mi vải ka-ki đã phai màu vì nắng gió, lau chùi lớp kính bằng một chiếc mù xoa và điều chỉnh nó cho đến khi trại cưa chợt xuất hiện rõ ràng dưới mắt chàng. Chàng nhận ra chiếc ghế gỗ dài cạnh cửa ra vào, đống mạt cưa to tướng sau nhà kho và một khoảng đất phẳng nghiêng nơi những thân cây chạy dài từ trên xuống, băng ngang qua giòng nước lũ. Dòng suối này xuất hiện rõ ràng và hợp nhất xuyên qua ống dòm và gió làm tung bọt của cái đập.
- Không có lính canh.
- Có ống khói nghi ngút - Lão già nói - Và có quần áo đang phơi.
- Phải rồi, nhưng không thấy lính canh.
- Có thể chúng vô trong mát - Lão già giải thích - Ở dưới đó giờ này trời nóng bức. Hẳn bọn chúng đang ở trong bóng mát, ở chỗ người ta không thấy được.
- Có thể. Đồn bót kế tiếp ở nơi nào?
- Dưới cầu, đó là một cái chòi của phu lục lộ cách chóp đeo năm cây số.
- Có bao nhiêu người cả thảy? (chàng chỉ về phía trại cưa)
- Bốn, không nghi ngờ gì nữa, và một tên cai.
- Ở dưới kia thì sao?
- Nhiều hơn. Tôi sẽ tìm cách dò xem.
- Và ở trên cầu?
- Luôn luôn có hai tên. Mỗi tên ở một đầu cầu.
- Ta cần phải có đủ người - Chàng nói - Đồng chí có thể tập họp bao nhiêu người đây?
- Tôi có thể dẫn về số người đồng chí muốn - Lão già nói - Trên núi lúc này có nhiều người lắm.
- Bao nhiêu người?
- Hơn trăm. Nhưng họ chia từng nhóm nhỏ. Cần phải có bao nhiêu người?
- Tôi sẽ cho đồng chí biết khi quan sát chiếc cầu xong.
- Đồng chí muốn quan sát ngay bây giờ à?
- Không, bây giờ tôi muốn tìm một chỗ kín đáo để đặt ba cái cốt mìn này cho đến khi nào cần sử dụng tới. Tôi muốn đặt chúng vào nơi chắc chắn, nếu có thể, ở một nơi cách cầu không đầy nửa tiếng.
- Dễ mà - Lão già nói - Từ chỗ chúng ta khởi hành, có lối đi thẳng xuống cầu. Nhưng bây giờ thì ta phải leo dốc khá vất vả mới tới nơi. Đồng chí đói chưa?
- Đói - Người thanh niên nói - Nhưng tôi sẽ ăn sau. Đồng chí tên gì nhỉ, tôi quên mất rồi.
Đối với chàng điều quên bẵng này là điều không tốt.
- Anselmo - Lão già nói - Tôi tên Anselmo và tới thuộc giòng Barco de Avila. Để tôi mang hộ cái kia cho đồng chí. Người thanh niên cao lớn và dong dỏng người, với mái tóc vàng cháy nắng và một khuôn mặt xạm màu, chàng mặc một chiếc áo sơ-mi bằng nỉ đã cũ kỹ, một chiếc quần nông dân, mang giày vải. Chàng nghiêng người về phía trước, luồn tay trong một cái đai da và nhấc cái ba lô nặng nề trên vai. Chàng luồn tay kia trong cái đai khác và chuyển gánh nặng qua lưng. Chiếc áo sơ-mi của chàng hãy còn ướt đẫm ở chỗ cái ba lô đè lên.
- Xong rồi - Chàng nói - Mình đi ngã nào đây?
- Ta leo dốc - Anselmo nói - Lưng cong xuống dưới sức nặng của những chiếc ba lô, mồ hôi nhễ nhại họ bước đều lên dốc, xuyên qua khu rừng thông bao phủ triền núi, người thanh niên không nhận ra đường sá nhưng họ vẫn khập khễnh tiến bước trên núi, họ băng qua dòng nước nhỏ, và lão già tiếp tục leo dốc đi mon men theo một lối đi lởm chởm.
Con đường dốc hiểm trở hơn chạy dài đến nơi có dòng suối chảy về phía họ từ trên chóp một tảng đá phẳng lì. Lão già dừng bước dưới chân tảng đá này đợi người thanh niên.
- Sao, được chớ?
- Được lắm. - Người thanh niên nói. Chàng toát mồ hôi dầm dề và những bắp thịt căng phồng của chàng săn lại vì chuyến leo dốc.
- Đồng chí đợi tôi ở đây. Tôi đi trước để báo cho bọn họ. Họ không nên nhắm đồng chí mà bắn với các món cồng kềnh trên lưng như thế này.
- Không phải chuyện đùa đâu, - Người thanh niên nói - còn xa không?
- Không, sát bên đây, đồng chí tên gì?
- Roberto. - Người thanh niên trả lời, chàng đã tháo đai da ra khỏi vai, nhẹ nhàng đặt cái ba lô giữa hai tảng đá bên dòng suối.
- Đồng chí đợi tôi ở đó nghe, tôi sẽ trở lại tìm đồng chí.
- Được rồi. - Người thanh niên nói - Nhưng có phải đồng chí định xuống cầu bằng con đường này không?
- Không, người ta xuống cầu bằng một lối khác ngắn và dễ hơn.
- Tôi không mườn đặt những vật này xa cầu quá.
- Đồng chí sẽ thấy mà. Nếu đồng chí không vừa ý thì ta sẽ tìm một chỗ khác.
- Để xem. - Người thanh niên nói. Chàng ngồi xuống bên những chiếc ba lô và nhìn theo lão già đang leo lên núi đá. Đó không phải chuyện dễ dàng gì và nhìn cách lão mò mẫm, tay không có vật gì để tựa, người ta thấy rõ đường đi nước bước nơi đây đã trở nên quen thuộc đối với lão.
Tuy vậy, dân cư ở phía bên kia, dù là ai đi nữa, cũng đã cẩn thận làm mất đi dấu vết.
Người thanh niên tên Robert Jordan đã đói lả và chàng cảm thấy lo ngại. Chàng đã từng đi như thế nhưng thông thường chàng không lo ngại về điều đó, bởi chàng vẫn xem nhẹ những chuyện có thể xảy ra cho mình. Kinh nghiệm cho chàng biết rằng người ta dễ dàng di chuyển trong vùng nằm phía sau những phòng tuyến này, và với một hướng đạo giỏi, người ta dễ dàng vượt qua. Xem nặng điều có thể xảy ra cho mình nếu phải bị bắt, đó chính là điều làm cho mọi sự trở nên phức tạp, ngoài ra phải biết chọn những người đáng tin cậy và biết đặt trọn niềm tin ở họ. Được cả ngã về không, Robert Jordan không lo ngại về những vấn đề này nhưng còn bao vấn đề khác nữa.
Lão Anselmo kia là một người hướng đạo giỏi và lão đi núi rất tài tình. Robert Jordan đi bộ không tệ và chàng biết rằng để bám sát theo gót lão già ngay từ trước hừng đông, hẳn lão sẽ làm chàng chết đi vì mệt. Đến đây chàng đã tin cậy nơi lão Anselmo về mọi điều, trừ điều khơi lên từ sự xét đoán, óc xét đoán là thủ thuật riêng của chàng. Không, Anselmo không gây cho chàng nỗi lo ngại nào, và vấn đề cây cầu không vất vả hơn vấn đề khác. Chàng biết phá tung tất cả những cây cầu mà người ta muốn phá, chàng đã từng phá đủ cỡ và đủ loại cầu.
Chàng có đủ chất nổ và tất cả sự trang bị cần thiết trong hai cái ba lô, đủ để giựt sập cây cầu kia cho dù nó lớn gấp đôi cây cầu mà Anselmo đã nói, như chàng nhớ đã từng đi qua trên đường đến La Granja trong một chuyến du hành bằng chân năm 1933, như Golz đã từng mô tả với chàng đêm nọ trên căn gác của ngôi nhà gần Escurial.
- Phá cây cầu này chẳng có gì khó. - Gok vừa nói vừa cầm bút chì chỉ vào một điểm trên tấm bản đồ lớn, dưới ánh sáng ngọn đèn, chiếc đầu cạo trọc của hắn trơ ra những vết thẹo - Đồng chí hiểu chớ?
- Dạ, tôi hiểu.
- Tuyệt đối chẳng có gì khó. Do đó, hài lòng với việc phá cầu chẳng lợi lộc gì.
- Dạ, thưa đồng chí Đại tướng.
- Phá cầu đúng lúc, theo thời khắc ấn định để tấn công, đó mới là điều đáng kể, đồng chí biết rõ mà. Tự đồng chí làm sao cho ăn khớp. - Golz nhìn cây bút chì đoạn vỗ khẽ vào giữa hai hàm răng.
Robert Jordan không nói gì.
- Đồng chí biết chớ. Tự đồng chí biết phải hành động sao cho ăn khớp. - Golz tiếp tục vừa hất đầu nhìn chàng.
- Tại sao, thưa đồng chí Đại tướng?

- Tại sao? - Golz nói, giọng nóng nảy - Đồng chí đã thấy bao nhiêu cuộc tấn công rồi và đồng chí hỏi tôi tại sao? Có gì bảo đảm lịnh của tôi đưa ra sẽ không thay đổi? Có gì bảo đảm rằng cuộc tấn công sẽ không bị hủy bỏ? Có gì bảo đảm cuộc tấn công sẽ không được hoãn lại? Có gì bảo đảm rằng nó sẽ không bắt đầu trong sáu tiếng đồng hồ sau phút ấn định? Không cuộc tấn công nào xảy ra ngoài điều dự liệu hết sao?
- Nó sẽ được khởi sự đúng giờ, bởi vì đó là cuộc tấn công của Đại tướng. - Robert Jordan nói.
- Đó không hề là những cuộc tấn công của tôi, Golz nói - Chính tôi điều khiển chúng, nhưng chúng không phải của tôi. Pháo binh không phải của tôi. Tôi phải dùng những gì người ta cung cấp cho tôi. Người ta chưa hề cho tôi đúng cái tôi cần, ngay khi người ta có sẵn. Chưa hết, đồng chí hiểu họ thế nào rồi. Hơi đâu mà lặp lại tất cả những điều đó. Luôn luôn có một cái gì đó. Luôn luôn có một kẻ nào đó xen vào việc. Vậy thì đồng chí hãy cố hiểu lấy.
- Bao giờ phá cầu? - Robert Jordan hỏi.
- Khi cuộc tấn công bắt đầu. Ngay khi cuộc tấn công bắt đầu và không phải trước khi đâu nhé! Trong điều kiện là viện binh không thể lên được bằng đường này (ông ta chỉ nó bằng bút chì). Tôi chắc rằng không có cái gì lên được bằng đường này.
- Và bao giờ cuộc tấn công xảy ra?
- Tôi sẽ nói với đồng chí sau. Nhưng đồng chí chỉ được ghi ngày giờ theo chỉ thị. Đồng chí phải sẵn sàng để phá tung cầu khi cuộc tấn công khởi sự. Đồng chí thấy chưa? (Ông ta điểm bằng bút chì). Đây là con đương duy nhất họ có thể đưa tiếp viện tới. Đây là con đường duy nhất của chúng có thể đưa chiến xa lên được, hay pháo binh, hoặc ngay cả một chiếc cam nhông, hướng về nơi tôi tấn công. Tôi phải chắc chắn rằng cái cầu không còn nữa. Chắc chắn trước, bởi người ta có thể sửa chữa lại nó nếu cuộc tấn công xảy ra chậm trễ. Không, cầu phải sập khi cuộc tấn công bắt đầu và tôi phải chắc chắn được là nó bị giựt sập. Chỉ có hai tên lính canh. Người sẽ đi theo đồng chí gốc ở đó. Dường như đó là một người rất đang tin cậy, đồng chí sẽ thấy rõ mà. Thiếu gì người ta ở trên núi. Đồng chí có thể dùng bao nhiêu người nếu cần. Hãy dùng càng ít càng tốt, nhưng phải đủ để thành công. Tôi không cần phải nói tất cả điều đó.
- Và bằng cách nào tôi được biết cuộc tấn công sẽ được khởi sự?
- Nó xảy ra với nguyên một sư đoàn, sẽ có cuộc chuẩn bị không tập. Đồng chí không điếc đó chứ?
- Vậy thì tôi có thể cho rằng khi máy bay ném bom thì cuộc tấn công bắt đầu?
- Không nên luôn luôn tin cậy vào đó - Golz nói vừa lắc đầu - Nhưng trong trường hợp này thì được. Đây là cuộc tấn công của tôi.
- Tôi hiểu - Robert Jordan nói - Tôi không thể nói rằng việc này không thích thú lắm.
- Tôi cũng vậy. Nếu đồng chí không muốn thì nói ngay cho tôi biết. Nếu đồng chí nghĩ rằng đồng chí không thể làm nổi thì nói ngay cho tôi biết.
- Tôi sẽ thi hành công tác - Robert Jordan nói - Vâng, đồng chí Đại tướng hãy tin nơi tôi.
- Đó là điều tôi muốn biết - Golz nói - Mong rằng không có gì đi qua trên cây cầu này. Đó là điều hệ trọng.
- Tôi hiểu.
- Tôi không thích bắt người ta thi hành thứ công tác này và bằng cách này - Golz nói tiếp - Tôi không thể ra lệnh để đồng chí thi hành nó. Tôi biết vì đâu đồng chí chịu ép mình vào những điều kiện do tôi đặt ra. Tôi giải thích một cách chính xác điều đó để đồng chí hiểu rõ những khó khăn có thể xảy ra và tất cả tầm quan trọng trong nhiệm vụ của mình.
- Và đồng chí sẽ tiến quân bằng cách nào đến La Granja khi cây cầu kia đã nổ tung?
- Chúng tôi sẽ đến sửa chữa nó sau khi chiếm đèo xong. Đó là một công tác rất đẹp mắt. Đẹp mắt và phức tạp như tất cả mọi khi. Kế hoạch đã được thiết lập tại Madid, lại một tác phẩm của Vicente Rojo, vị giáo sư kém may mắn. Tôi tấn công và như mọi khi, với những lực lượng yếu kém. Nhưng đó là một công tác rất có thể thành công. Tôi hài lòng nhiều hơn mọi khi. Nó có thể thành công một khi cây câu đã bị thanh toán xong, ta có thể đánh chiếm Ségovie. Đồng chí nhìn xem. Tôi sẽ cho đồng chí biết công việc tiếp diễn ra sao. Đồng chí biết không, ta không tấn công vào chóp đèo: ta giữ lấy nó. Tấn công ở bên ngoài kia. Kìa.... Như vầy...
- Tôi thích tốt hơn là không nên biết. - Robert Jordan nói.
- Tốt lắm, - Golz nói - luôn luôn mang ít hành lý như thế sang bên kia, phải không?
- Tôi thấy tốt hơn là không bao giờ biết. Vậy cái gì sẽ tới thì sẽ tới, không phải tôi nói đâu!
- Tốt hơn không nên biết (Golz gõ nhẹ cây bút chì lên trán) nhiều lần, chính tôi cũng không thích biết nữa. Nhưng về vấn đề cây cầu, đồng chí đã biết rõ rồi chớ.
- Dạ rõ.
- Tốt, - Golz nói - thôi tôi không thuyết vặt với đồng chí nữa. Bây giờ ta hãy uống một ly. Nói chuyện như vầy tôi đâm ra khát. Đồng chí Jordan. Đồng chí có cái tên Tây Ban Nha kỳ lạ đó, đồng chí Jordan.
- Golz đọc theo tiếng Tây Ban Nha là gì, thưa đồng chí Đại tướng.
- Hotze - Golz vừa nói vừa cười với một âm điệu rúc sâu trong cổ họng, giống như một cơn ho. Hotze, ông ta phát âm như tiếng quạ kêu - Nếu tôi biết trước người ta đọc Golz như thế nào theo tiếng Tây Ban Nha, tôi đã chọn một cái tên khác trước khi tới đây. Khi tôi nghĩ mình tới đây chỉ huy một sư đoàn và mình có thể lấy một cái tên nào tùy ý và tôi đã chọn Hotze, Đại tướng Hotze. Bây giờ thì quá trễ để thay đổi. Đồng chí thấy công tác của người partizan này ra sao? (Đó là từ ngữ Nga dùng chỉ du kích quân sau các phòng tuyến).
- Thú vị - Robert Jordan vừa nói vừa cười - Rất lành mạnh. Người ta được ở ngoài trời.

- Khi tôi còn ở tuổi đồng chí, tôi thích việc đó lắm - Golz nói - Nghe đâu đồng chí phá cầu cừ lắm. Rất khoa học. Người ta bảo tôi vậy. Tôi chưa hề thấy tận mắt đồng chí hành động. Sau hết, có thể người ta không cho tôi biết rành. Đồng chí phá chúng sập ngon lành đó chớ? Lần này thì tôi nói đùa đó. Đồng chí uống cái này đi - Ông ta nói vừa đưa cho Robert Jordan ly rượu mạnh Tây Ban Nha - Chúng sập ngon lành đó chớ.
- Thỉnh thoảng thôi.
- Không “thỉnh thoảng” được với cây cầu này, tôi xin đồng chí. Không, thôi đừng nói nữa về cây cầu này. Bây giờ thì đồng chí đã hiểu khá rành rồi, chúng ta quá nghiêm trang và vì vậy mà ta có thể tán dóc nhiều chuyện, này, đồng chí có nhiều bà ở bên kia phòng tuyến chớ?
- Không. Tôi không có thì giờ để lo nghĩ tới đàn bà.
- Tôi không đồng ý với đồng chí, công tác bất thường thì đời sống phải bất thường chớ. Đồng chí có một công tác thật bất thường. Và đồng chí cần đi cắt tóc mới được.
- Tôi đi cắt tóc khi cần. - Robert Jordan nói, không đời nào chàng muốn cạo đầu trọc lóc như Golz - Tôi có nhiều chuyện để nghĩ tới hơn là lo chuyện gái. - Chàng nói bằng một giọng tự phụ và tiếp - Tôi nên mặc đồng phục ra sao đây?
- Không cần. Tóc đồng chí được lắm. Tôi trêu đồng chí đó mà. Đồng chí khác tôi nhiều. - Golz vừa nói vừa châm đầy hai ly rượu - Đồng chí không hề nghĩ tới chuyện gái. Có chuyện gái là đồng chí không hề nghĩ tới phải không? Còn tôi thì tôi không hề nghĩ tới chuyện gì cả. Tại sao phải nghĩ ngợi? Tôi là Général Soviétique [1], tôi không nghĩ ngợi bao giờ. Đừng bắt tôi nghĩ ngợi khi tôi không muốn.
Một người trong bộ tham mưu của ông ta đang ngồi trên một chiếc ghế, đang dựng một tấm bản đồ trên một tấm ván vẽ, kề tai lẩm bẩm với ông ta một điều gì bằng một thứ tiếng mà Robert Jordan không hiểu được.
- Im ngay. - Golz nói bằng tiếng Anh - Tôi đùa giỡn khi tôi thích. Chính vì tôi thật nghiêm trang mà tôi có quyền đùa giỡn. Bây giờ thì đồng chí uống cái này và đi ngay. Đồng chí hiểu rồi chớ?
- Dạ - Robert Jordan nói - Tôi hiểu rồi.
Họ bắt tay nhau, người thanh niên nghiêng đầu chào và bước xuống khỏi căn gác, đi về phía chiếc xe nhà binh có lão già đang đợi chàng nhưng đã ngủ từ lúc nào. Chiếc xe đưa họ đi suốt một con đường ở ngoài địa phận Guadarrana trong khi lão già vẫn ngủ. đoạn rẽ sang con đường đi Navacerrada, tới cái chòi của Hội Leo Núi, nơi Robert đã đánh một giấc ngủ ba tiếng đồng hồ trước khi bắt tay vào việc.
Kể từ lúc đó, chàng không gặp lại Golz. Golz với gương mặt trắng bệch mót cách kỳ lạ, với cặp mắt cú mèo, chiếc mũi to, đôi môi mỏng và cái sọ hằn lên những vết nhăn và những vết sẹo. Chiều mai, trước điện Escurial, trên con đương tăm tối, những hàng cam nhông chở đầy lính bộ binh; bọn người được trang bị nặng nề, leo lên những chiếc cam nhông, nơi những chi đội trang bị súng máy đang giơ cao vũ khí; những chiếc xe thiết giáp chạy thành những hàng dài. Sư đoàn bắt đầu di chuyển trong đêm đi tấn công đèo, chàng không muốn nghĩ tới điều đó. Đó không là chuyện của chàng. Đó là chuyện của Golz, chàng chỉ có một việc để làm và chàng chỉ phải nghĩ tới việc đó; chàng phải nghĩ cho rành rẽ, tóm thâu sự việc y như nó xảy đến và không được ngại ngần lo âu. Nỗi lo ngại cũng nguy hiểm như lòng sợ hãi và chỉ làm rối rắm thêm công việc.
Chàng ngồi xuống bên dòng suối, nhìn nước trong vắt chảy trong những kẽ đá; chàng chú ý tới một đám rau kết song ở bờ bên kia. Chàng tới ngắt hai nắm, rửa sạch chất bùn dính trên rễ trong giòng nước, đoạn ngồi lại cạnh ba lô và ăn những chiếc lá xanh sạch sẽ và tươi mát, những cọng rau có mùi vị cay nồng. Chàng quỳ xuống bên dòng nước, đẩy khẩu súng lục tự động chạy dài theo thắt lưng đến bên hông để khỏi ướt, nghiêng xuống giữa hai kẽ đá, hai tay chống lên đó và uống nước ngay ở dòng suối. Nước lạnh đến tê miệng.
Nhổm người trên đôi tay, chàng quay đầu lại và thấy ông lão đang bước trở xuống.
Theo sau ông là một người đàn ông khác cũng mặc áo bơ lu đen kiểu nông dân và một cái quần dài xám thẩm gần như là một thứ đồng phục của vùng quê này, chân mang giày vải và lưng đeo các bin. Người đàn ông đầu trần. Cả hai đổ bước trên đá như những con dê cái.
Họ đến gần chàng và Robert Jordan đứng dậy:
- Salud camarada [2]. - Chàng nói với người đàn ông mang các bin và mỉm cười với hắn.
- Salud. - Người kia nói, vẻ gắt gỏng; Robert Jordan nhìn khuôn mặt nặng nề và cạo gọt dối trá của người đàn ông. Khuôn mặt tròn, cái đầu cũng tròn, thụt xuống vai. Đôi mắt hắn nhỏ và dang rộng ra, đôi tai hắn nhỏ và dán vào sọ. Đó là một người đàn ông cao lớn và dình dàng với chân tay mập bự, mũi gãy, miệng đứt ở một góc, một cái sẹo vắt ngang môi trên và hàm dưới hiện rõ sau những chân râu phủ đầy mặt hắn.
Lão già ngẩng đầu về phía người đàn ông và mỉm cười.
- Ông chủ đây. - Lão vui vẻ nói, đoạn cong cánh tay lại như để làm cho những bắp thịt nổi lên và nhìn người đàn ông đeo các bin với một vẻ vừa thán phục vừa chế giễu. Một người thật khỏe.
- Tôi thấy rồi. - Robert Jordan nói và chàng lại mỉm cười với hắn. Chàng không thích cái dáng vẻ của người đàn ông này và trong thâm tâm chàng không mỉm cười chút nào.
- Đồng chí có thể chứng tỏ lai lịch của mình không? - Người đàn ông đeo các bin hỏi.
Robert Jordan tháo cây kim ghim trên nắp túi áo, lấy ra một tờ giấy xếp lại và trao cho người đàn ông. Hắn banh mảnh giấy ra, nhìn bằng môt vẻ nghi ngờ và xoay nó trong đôi bàn tay.
Hắn không biết chữ, Robert Jordan nghĩ thầm.
- Đồng chí hãy nhìn vào con dấu. - Chàng nói.
Lão già dùng ngón tay trỏ chỉ con dấu mà người đàn ông mang các bin ngắm nghía vừa xoay đi xoay lại giữa những ngón tay.
- Con dấu này là cái gì đây?
- Đồng chí không thấy nó bao giờ hết à?
- Không.
- Có hai loại con dấu. Một của Cục Tình báo Quân đội. Một của Bộ Tham mưu.

- Phải rồi, tôi đã thấy con dấu này. Nhưng ở đây chỉ có tôi chỉ huy - Người đàn ông nói, giọng gay gắt - Cái gì trong mấy cái ba lô này đây?
- Thuốc nổ - Lão già nói, giọng kiêu hãnh - Chiều hôm qua, chúng tôi đã vượt phòng tuyến trong bóng tối và cả ngày trời chúng tôi đã mang chất nổ này trên núi.
- Cốt mìn thì có thể giúp ích cho tôi được lắm. - Người đàn ông mang các bin nói. Hắn trả mảnh giấy cho Robert Jordan và nhìn thẳng vào mặt chàng - Phải, cốt mìn thì có thể giúp ích cho tôi được lắm, đồng chí mang tới cho tôi bao nhiêu đó?
- Tôi không mang cốt mìn tới cho đồng chí - Robert Jordan nói một cách bình thản - Cốt mìn dùng vào việc khác. Đồng chí tên gì?
- Đồng chí hỏi tên làm gì?
- Pablo đó. - Lão già nói. Người đàn ông mang các bin nhìn cả hai bằng một dáng vẻ xấc láo.
- À! Tôi đã nghe nói nhiều về đồng chí. - Robert Jordan nói.
- Người ta nói gì về tôi? - Pablo hỏi.
- Người ta nói với tôi rằng đồng chí là một lãnh tụ du kích hảo hạng, trung thành với nền Cộng hòa, rằng đồng chí luôn chứng tỏ lòng trung thành bằng hành động và đồng chí vừa đứng đắn lại vừa can đảm. Tôi mang đến đồng chí lời chào của Bộ Tổng Tham Mưu.
- Ai bảo với đồng chí tất cả những điều đó? - Pablo hỏi, Robert Jordan để ý hắn không phản ứng gì trước những lời ve vãn của chàng.
- Người ta nói từ Buitrago tới Escurial, - Chàng nói - và như vậy là bao gồm trọn vùng ở bên kia phòng tuyến.
- Tôi không biết ai ở Buitrago cũng như ở Escurial cả. - Pablo nói.
- Nhiều người bên kia núi xưa không có ở đó. Đồng chí đến từ đâu?
- Avial. Đồng chí làm gì với cốt mìn đây?
- Giựt sập cầu.
- Cầu nào?
- Việc của tôi.
- Nếu cây cầu nằm trên vùng này thì việc đó liên hệ tới tôi. Người ta không thể giựt sập một cây cầu ở nơi người ta đang ở. Phải ở một nơi và hành động ở một nơi khác. Tôi biết việc của tôi. Trong vòng một năm mà người ta còn sống chính vì người ta biết rõ công việc của mình.
- Lần này thì là việc riêng của tôi, Robert. - Jordan nói - Ta có thể thảo luận chung với nhau về việc đó. Đồng chí có muốn giúp chúng tôi mang những cái ba lô không.
- Không. - Pablo lắc đầu.
Lão già quay phắt về phía hắn với một vẻ giận dữ và nói bằng một thứ thổ ngữ mà Robert Jordan chỉ hiểu đôi chút. Chàng tưởng đang nghe người ta đọc thơ Quevedo. Anselmo nói bằng tiếng Castillan cổ và đại khái như: Đồng chí có phải là thằng điên không? Phải. Đồng chí có đúng là con vật không? Đúng. Đúng lắm. Đồng chí có đầu óc không? Không, không có tí nào. Chúng tôi đến đây để làm một công việc có tầm quan trọng quyết định và đồng chí, vì sợ làm rộn chỗ cư trú của đồng chí, đồng chí đặt cái hang chồn của đồng chí trước quyền lợi nhân loại. Trước quyền lợi của dân tộc. Tôi... thế này và thế nọ, thế này và thế nọ cái thằng cha của đồng chí. Đồng chí hãy xách cái ba lô kia lên đi.
Pablo nhìn xuống đất.
- Mỗi người phải cố sức làm trong những giới hạn mình có thể làm được - Hắn nói - Tôi sống ở đây và tôi hoạt dộng ở vùng Ségovie bên kia. Nếu đồng chí gây xáo trộn ở đây, bọn này sẽ bị đuổi khỏi những ngọn núi này. Đó là quan điểm của con chồn.

- Phải rồi - Anselmo nói một cách cay đắng - Đó là quan điểm của con chồn nhưng chúng tôi cần một con chó sói.
- Tôi chó sói hơn đồng chí mà. - Pablo nói. Hắn xách cái ba lô lên. Robert Jordan đã hiểu ý hắn.
- Ô hô! (Anselmo nhìn hắn). Đồng chí chó sói hơn tôi, nhưng tôi, tôi đã sáu mười tám tuổi rồi.
Lão nhổ nước họt xuống đất và lay nhẹ tên thủ lãnh du kích.
- Đồng chí nhiều tuổi thế cơ à? - Robert Jordan hỏi, chàng nhận thấy công việc đã xong xuôi tốt đẹp và chàng xoa dịu cho bầu không khí bớt căng thẳng đi.
- Sáu mươi tám tuổi vào tháng Bảy này.
- Phải chi đừng bao giờ đến tháng đó - Pablo nói - Đồng chí để tôi mang giúp cái ba lô này - Hắn nói với Robert Jordan - Còn lão già mang cái kia. - Hắn không còn nói chuyện với một vẻ cáu gắt nữa nhưng bằng một giọng buồn bã. Đối với một ông già, lão ta thừa sức mạnh.
- Tôi mang cái ba lô này. - Robert Jordan nói.
- Không - Lão già nói! - Để cái này cho đồng chí kia.
- Tôi mang cái đó cho - Pablo nói với chàng và trong giọng nói thiếu cáu gắt của hắn toát lên một vẻ buồn bã làm cho Robert Jordan phải ái ngại. Chàng đã từng biết đến sự buồn bã này và chàng lo lắng thấy nó xuất hiện ở đây.
- Đưa cây các bin cho tôi. - Chàng nói, Pablo trao khẩu súng cho chàng và chàng đeo nó lên vai, chàng bước theo sau hai người đàn ông, cả bọn cùng nặng nề leo dốc, rút người lên tảng đá hoa cương, tới đỉnh, họ bước vào một cánh rừng.
Họ đi dọc theo một đồng cỏ hẹp. Bây giờ, không còn gánh nặng trên vai, Robert Jordan cất bước một cách nhẹ nhàng.
Khẩu các bin chạm mạnh vào vai gây cho chàng một cảm giác dễ chịu hơn sau gánh nặng của chiếc ba lô khiến chàng vã mồ hôi đầm đìa. Chàng lưu ý thấy cỏ bị trụi gốc ở nhiều nơi, và những cái cọc hẳn đã cắm xuống đất, với nhiều dấu vết để lại. Băng qua đồng cỏ, chàng thấy một con đường mòn trên đó hẳn người ta đã dẫn ngựa đi uống nước bên dòng nước, và chàng thấy những đống phân ngựa còn mới. Hẳn người ta phải cột chúng nơi đó, vào buổi chiều, để cho chúng ăn cỏ và ban ngày người ta đã giấu chúng trong những lùm cây. “Tôi tự hỏi lão Pablo này có bao nhiêu con ngựa”, chàng nghĩ.
Bây giờ thì chàng chợt nhớ, mình đã chú ý tới chỗ sờn nơi chiếc quần của Pablo, khoảng từ đầu gối đến đùi. Chàng nghĩ: Không hiểu hắn mang giày ống hay hắn cưỡi ngựa với đôi alpargatas [3] kia. Hẳn hắn phải có đủ dụng cụ. Nhưng tôi không thích vẻ buồn bã đó. Đó là một vẻ buồn bã chẳng lành: nó đến với con người khi hắn toan bỏ rơi hay phản bội, nó mở đầu cho sự buông tay rũ bỏ.

Phía trước họ, một con ngựa hí vang sau những lùm cây và một ánh nắng yếu ớt chiếu rọi qua những ngọn cây dày khít khao nhau. Robert chợt trông thấy khoảng đất rào bằng những sợi dây cột chặt vào những thân cây. Những con ngựa ngẩng cổ lên khi bọn người đến gần. Bên ngoài khoảng đất đó, dưới một gốc cây, những cái yên ngựa đặt chồng lên nhau dưới một tấm vải bố.
Hai người đàn ông mang ba lô dừng bước và Robert Jordan biết ngay là để cho chàng ngắm mấy con ngựa.
- Phải, - Chàng nói - chúng trông thật là đẹp (chàng quay sang Pablo), đồng chí có kỵ binh và tất cả mọi thứ.
Có năm con ngựa trong khoảng đất: ba con màu hồng, một con màu nâu, một con màu hung.
Sau khi ngắm chung đám ngựa, Robert Jordan bắt đầu nhìn từng con một, xem xét một cách chăm chú.
Pablo và Anselmo biết rõ đặc tính của chúng. Và trong khi Pablo đứng thẳng người nhìn những con ngựa của hắn một cách trìu mến, lúc này hắn có vẻ hãnh diện và trông bớt buồn đi, lão già có vẻ như đang đứng trước sự ngạc nhiên mà chính lão vừa mới mang lại.
- Đồng chí thấy chúng thế nào? - Lão hỏi chàng.
- Tất cả những con ngựa này, chính tôi đã bắt chúng đó. - Pablo nói. Và Robert Jordan sung sướng nghe hắn nói một cách hãnh diện.
- Con này đây, - Robert Jordan nói - là một con ngựa giống to lớn với ngôi sao trắng trên trán và một chân duy nhất màu trắng là chân trước. Đây là một con ngựa đúng nghĩa.
Đó là một con ngựa tuyệt đẹp như từ tranh Velasquez bước ra.
- Con nào cũng tốt hết. - Pablo nói - Đồng chí biết về ngựa chớ?
- Biết.
- Tốt - Pablo nói - Đồng chí có thấy một khuyết điểm nơi một con ngựa trong số đó chớ?
Bây giờ thì Robert Jordan biết rằng con người mù chữ đang xem xét giấy tờ chàng đây.
Mấy con ngựa đều đứng yên ngẩng đầu nhìn người đàn ông. Robert Jordan chui qua giữa những sợi dây đôi căng trên khoảng đất, vỗ nhẹ vào hông con ngựa màu hung. Tựa lưng vào những sợi dây, chàng nhìn những con ngựa bước lòng vòng trong khoảng đất, chàng nhìn chúng thêm một phút nữa trong lúc chúng đứng yên, đoạn cong người xuống bước trở ra ngoài.
- Con ngựa màu nâu què ở chân sau - Chàng nói với Pablo mà không nhìn hắn - Chiếc móng nó bị nứt. Có thể là không đến nỗi nào với điều kiện phải đóng móng nó kỹ lưỡng, nhưng nó có thể ngã nếu phải đi nhiều trên đường cứng.
- Móng nó nứt sẵn như vậy rồi khi chúng tôi bắt được nó.
- Con ngựa tốt nhất của đồng chí, con ngựa có đốm trắng bị một vết sưng ở cổ xương đùi mà tôi không thích.
- Không sao - Pablo nói - Nó bị xây xát cách đây ba ngày. Nếu trầm trọng thì đã thấy ngay rồi.
Hắn kéo tấm vải bố và chỉ vào những cái yên ngựa. Có ba cái yên của người chăn bò, hai cái đơn giản và một cái làm rất khéo léo với da thuộc bằng tay và đôi bùn đạp nặng khép lại, và hai yên nhà binh bằng da đen.
- Bọn tôi đã giết hai tên guardias civiles [4]. - Hắn nói, giải thích sư hiện diện của hai cái yên nhà binh.
- Đó là một trò thể thao hạng nặng.
- Tụi nó xuống ngựa trên con đường giữa Ségovie và Santa Maria del Real. Bon nó xuống ngựa để xét giấy của một người đánh xe bò. Bọn tôi đã thừa sức giết chúng mà không động đến ngựa.
- Đồng chí đã giết nhiều tên dân vệ lắm phải không? - Roert Jordan hỏi.
- Nhiều - Pablo nói - Nhưng không làm hại đến ngựa, thì chỉ có hai tên đó thôi.
- Chính Pablo đã làm nổ tung xe lửa ở Arevalo. - Anselmo nói - Chính hắn, Pablo đó.
- Có một người lạ cùng tham dự với bọn chúng tôi trong trận đánh - Pablo nói - Đồng chí biết chứ?
- Hắn tên gì?
- Tôi không nhớ nổi. Một cái tên rất quái dị.
- Hắn ra làm sao?
- Có tóc vàng như đồng chí vậy, nhưng hắn lại không to lớn bằng. Hắn có đôi bàn tay mập bự và một cái mũi gãy.

- Kachkine - Robert Jordan nói - Kachkine chớ không ai khác.
- Đúng rồi - Pablo nói - Một cái tên thật quái dị. Hắn ra sao rồi?
- Hắn chết vào tháng Tư rồi.
- Đó là cái gì xảy ra cho bọn họ hết thảy. - Pablo nói với một dáng vẻ u tối - Tất cả bọn mình rồi sẽ kết thúc như vậy hết.
- Tất cả mọi người đều kết thúc như vậy - Anselmo nói - Tất cả mọi người đều kết thúc bằng cách đó. Đồng chí làm sao thế? Đồng chí có cái gì trong bụng vậy?
- Chúng mạnh vô cùng. - Pablo nói, người ta ngỡ hắn đang nói với chính mình. Hắn nhìn những con ngựa với một vẻ u tối - Đồng chí không biết chúng mạnh đến đâu, tôi thấy chúng luôn mạnh hơn, luôn luôn được trang bị chu đáo hơn. Luôn có sẵn phương tiện. Tôi với những con ngựa như thế kia, nhưng cái gì sẽ dành cho tôi đây. Người ta săn đuổi tôi và người ta giết tôi. Thế thôi...
- Đồng chí vừa là thợ săn vừa là con thịt mà.
- Không - Pablo nói - Bây giờ hết rồi. Tôi chán bị săn đuổi rồi. Ở đây rất yên thân. Nhưng khi đồng chí giựt sập một cây cầu trong vùng thì người ta sẽ lùng ngay. Ngay khi chúng biết được bọn mình ở đây, chúng sẽ tìm kiếm bọn mình bằng máy bay, chúng sẽ tìm thấy bọn mình và bọn mình sẽ phải bỏ đi. Tôi chán tất cả những thứ đó, đồng chí nghe chớ? - Hắn quay sang Robert Jordan - Đồng chí từ đâu tới đây, đồng chí, một kẻ lạ mặt, tới đây để bảo cho tôi biết những điều phải làm?
- Tôi đâu có bảo đồng chí về những điều đồng chí phải làm. - Robert Jordan nói với hắn.
- Nhưng đồng chí sẽ bảo - Pablo nói - Đó, chính đó là điều tệ hại.
Hắn chỉ hai cái ba lô mà hắn đã đặt xuống đất lúc ngắm nghía những con ngựa. Dường như việc ngắm nghía những con ngựa đã đặt lại tất cả những điều đó trong đầu hắn, và việc Robert Jordan tỏ ra am tường về ngựa dường như đã làm cho hắn dạn miệng hơn. Bây giờ cả ba đang đứng cạnh khoảng đất căng dây. nắng lấp lánh trên bộ lông của con ngưa màu hồng, Pablo nhìn chàng đoạn dùng chân đẩy mạnh cái ba lô nặng nề: “Điều tệ hại nó ở đây này”.

- Tôi chỉ đến đây làm tron bổn phận của tôi - Robert Jordan bảo hắn - Tôi đến theo lịnh của những kẻ điều khiển cuộc chiến tranh này. Nếu tôi xin đồng chí giúp đỡ tôi, đồng chí có thể từ chối, và tôi sẽ tìm những người khác giúp tôi. Tôi cũng chưa nhờ đồng chí giúp nữa. Tôi phải làm điều người ta ra lịnh tôi phải làm và tôi có thể đoan chắc với đồng chí rằng đây là việc quan trọng. Nếu tôi là kẻ lạ mặt đến đây, điều đó không phải là lỗi ở tôi. Tôi thích sinh ra ở đây hơn.
- Với tôi, điều quan trọng nhất là người ta đừng đến quấy rầy bọn tôi - Pablo nói - Bây giờ tôi chỉ có bổn phận đối với chính tôi và với những kẻ chung quanh tôi.
- Đồng chí, luôn luôn vẫn là đồng chí - Anselmo nói - Nghe đồng chí nói thì chỉ còn có đồng chí và mấy con ngựa của đồng chí thôi. Cho đến khi đồng chí có nhiều ngựa, đồng chí hãy còn đi với bọn tôi. Bây giờ đồng chí là một tên tư bản như bao nhiêu người khác.
- Đồng chí bất công - Pablo nói - Tôi luôn dùng ngựa phục vụ chính nghĩa.
- Ít khi lắm - Anselmo nói một cách ngạo nghễ - Theo tôi thì ít khi lắm. Để ăn cắp, đúng. Để no đủ hơn, đúng. Để giết người, đúng. Để tranh đấu thì không.
- Ông là một lão già ăn nói hồ đồ, nhảm nhí.
- Tôi là một lão già cóc sợ ai cả - Anselmo nói với hắn - Tôi cũng là một lão già cóc có ngựa.
- Ông là một lão già không còn bao nhiêu ngày nữa để sống.
- Tôi là một lão già sống cho tới khi nào chết thôi - Anselmo nói - Và tôi không sợ những con chồn.
Pablo không đáp, tách lên một cái ba lô.
- Không sợ những con chó sói nữa - Anselmo nói vừa xách lên cái ba lô còn lại - Nếu đồng chí là một con chó sói.
- Hãy câm họng đi. - Pablo nói với lão - Đồng chí là một lão già luôn luôn lắm mồm lắm miệng.
- Và luôn làm những điều đã nói là sẽ làm - Anselmo nói - Và bây giờ thì đang đói, đang khát. Bước lên đi nhà lãnh tụ du kích có khuôn mặt buồn bã. Đồng chí dẫn tôi đi ăn cái gì chớ?
Robert Jordan nghĩ công việc khởi sự không hay rồi đây. Nhưng Anselmo là một con người. Dân tộc gì kỳ lạ! Chàng nghĩ. Những con người gì kỳ lạ! Những người tốt thì tuyệt vời, không ai sánh bằng. Nhưng khi họ bắt đầu xấu xa thì không còn gì hơn nữa. Anselmo hẳn phải biết rõ điều lão ta làm khi đưa tôi tới đây. Nhưng tôi không thích vậy. Tôi không thích như vậy chút nào.
Duy có triệu chứng tốt là Pablo mang cái ba lô và giao khẩu các bin cho chàng. Có thể hắn luôn luôn như vậy, Robert Jordan nghĩ. Có thể hắn là một mẫu người tối tăm, khó hiểu.
Không, chàng nghĩ thầm, mày đừng lừa phỉnh chính mày. Mày không biết xưa kia hắn thế nào, nhưng mày biết hắn đang hư hỏng một cách nhanh chóng mà không cần giấu diếm điều đó. Mày hãy nhớ kỹ điều đó, chàng tự nhủ. Việc làm đáng yêu đầu tiên là hắn sẽ đi tới một quyết định. Nhưng những con ngựa của hắn thì xinh tốt quá, chàng nghĩ, những con ngựa tuyệt đẹp. Tôi tự hỏi điều gì có thể mang đến cho tôi cái cảm giác mà những con ngựa kia đã mang đến cho Pablo không. Lão già có lý. Ngựa chính là sự giàu có. Ngay khi hắn giàu có hắn đã muốn tận hưởng đời sống ngay. Không bao lâu nữa, tôi cho rằng hắn sẽ bất mãn vì hắn không có chân trong Hội Dô Kề, hắn nghĩ vậy. Pauvre Pablo. Il a manqué son Jockey. [5]
Ý nghĩ đó khiến chàng trở nên vui vẻ. Chàng mỉm cười vừa nhìn hai cái lưng cong xuống dưới hai cái ba lô nặng ở phía trước chàng, giữa những hàng cây. Lần thứ nhất trong ngày chàng đùa cợt với chính mình và giờ đây chàng cảm thấy dễ chịu hơn nhiều. Chàng nhủ thầm, mày giống như bao nhiêu người khác. Mày trở nên tối tăm khó hiểu, mày cũng vậy nữa. Quả thật chàng đã trở nên trầm trọng và khó hiểu đối với Golz. Nhiệm vụ có phần đề nặng lên chàng, chàng nghĩ, nhẹ nhàng đè nặng. Hoàn toàn đè bẹp. Golz vui tính và ông ta muốn trông thấy chàng được vui vẻ trước khi lên đường, nhưng ông ta đã không quyết định trong công việc đó.

Tất cả những người tốt đẹp hơn hết đều vui tính khi người ta nghĩ tới họ. Điều tốt hơn hết là nên vui và ngoài ra đó là dấu hiệu một cái gì bất diệt trên trái đất. Tế nhị làm sao! Vậy mà không còn lại bao nhiêu người vui tính. Chỉ còn lại ít xỉn. Và nếu mày tiếp tục nghĩ ngợi như thế thì kể cả mày nữa, thằng bé ạ, mày sẽ nhổ trại thôi. Bây giờ thì hãy đổi giọng đi người hùng, đồng chí thân mến. Giờ đây mày là một thằng phá cầu. Mày không là một nhà tư tưởng. Chàng nghĩ, mày đang đói đó chú nhỏ. Miễn sao được ăn ngon ở nhà Pablo là được rồi.  
Chú thích:
[1] Tiếng Pháp: Đại tướng Xô viết.
[2] Chào đồng chí.
[3] Giày vải.
[4] Dân vệ.
[5] Tiếng Pháp: Pablo tội nghiệp. Hắn lỡ cơ hội vào Hội Dô Kề.
Chương 2
Xuyên qua những thân cây chằng chịt, họ đi tới một khoảng đất hình lòng chảo tạo thành phần trên của thung lũng nhỏ. Robert Jordan đoán chừng trại hẳn nằm ở sau vách đá dựng lên trước mặt họ, trong rừng cây.
Quả thật, trại ở đó. Một cái trại lý tưởng mà người ta chỉ có nhận ra nó khi đến gần và - người ta thừa hiểu điều đó - phi cơ không nhìn thấy được. Nhìn từ trên, người ta không thấy gì. Nó được giấu kín như cái hang gấu. Nhưng nó lại được phòng thủ kỹ càng hơn bao giờ. Robert Jordan ngắm nhìn nó chăm chú trong khi chân vẫn leo dốc.
Có một cái hang lớn trong vách núi đá, và bên cửa ra vào, một người đàn ông đang ngồi dựa lưng vào tảng đá, chân duỗi thẳng trên mặt đất, khẩu các bin của hắn dựng bên thành đá.
Hắn đang cầm dao chuốt một cây gậy. Hắn ngước mắt nhìn bọn họ tiến đến gần đoạn tiếp tục công việc.
- Hola - Người đàn ông đang ngồi nói - Ai đến đó?
- Lão già và một người đặt cốt mìn. - Pablo nói vừa đặt cái ba lô xuống bên cửa hang, Anselmo cũng trút gánh nặng xuống, Robert Jordan tháo khẩu súng ra khỏi vai và dựng vào tảng đá.
- Đừng để cái đó gần hang quá. - Người đàn ông đang ngồi nói, hắn có đôi mắt xanh trên khuôn mặt của người dân du mục, u tối, uể oải và đẹp, khuôn mặt màu da ám khói. Có lửa ở phía trong kia.
- Đồng chí hãy đứng dậy mà đỡ lấy - Pablo nói - Đặt nó gần thân cây kia kìa.
Tên du mục không nhúc nhích, nhưng nói một tiếng gì đó mà người ta không thể hiểu nổi, đoạn: “Để nó chỗ kia, hãy nổ tung với nó - Hắn uể oải nói - Cái đó giúp đồng chí khỏi bịnh”.
- Đồng chí làm gì đó? - Robert Jordan vừa hỏi tên du mục vừa ngồi xuống bên hắn. Người này đưa cho chàng xem công việc của hắn: một cái bẫy có hình con số bốn, và hắn đang chuốt thanh ngang.
- Để bẫy chồn - Hắn nói - Đồng chí nhìn cây đòn này. Nó không tha đâu. Nó làm chúng dập thận luôn. - Hắn mỉm cười với Robert Jordan - Như thế này đây, đồng chí thấy không?
Hắn làm trượt cái khung cho thấy cái đòn sập xuống, đoạn lắc đầu rút hai bàn tay về trước ngực vừa dang hai cánh tay co lại để giả hình con chồn bị gãy lưng.
- Rất là thực tiễn. - Hắn giải thích.
- Hắn bẫy thỏ. - Anselmo nói - Hắn là dân du mục. Cho nên khi hắn bẫy được thỏ, hắn nói chồn. Nếu hắn bẫy được một con chồn thì hắn sẽ nói đó là một con voi.
- Và nếu tôi bẫy được một con voi thì sao? - Tên du mục hỏi vừa khoe một lần nữa hai hàm răng trắng vừa liếc mắt nhìn Robert Jordan.
- Đồng chí sẽ nói đó là một chiếc thiết giáp. - Anselmo nói.
- Nếu được một chiếc thiết giáp thì sao? - Tên du mục nói - Đồng chí sẽ thấy cái đó. Tôi sẽ bày một chiếc. Đồng chí sẽ gọi sao tùy ý đồng chí muốn.
- Dân du mục nói nhiều và không giết chóc ai cả. - Anselmo nói.
Tên du mục vừa nhìn Robert Jordan vừa chớp mắt và tiếp tục chuốt cái thanh ngang của hắn.
Pablo đã biến mất trong hang để tìm đồ ăn, Robert Jordan đoán thế! Chàng ngồi dưới đất cạnh tên du mục, chàng cảm thấy trên đôi chân duỗi thẳng của mình hơi ấm mặt trời chiều chiếu xuyên qua những ngọn cây. Bây giờ thì mùi nấu nướng xông lên từ trong hang: mùi dầu mỡ, mùi hành tỏi và thịt nướng. Chàng cảm thấy dạ dày thắt lại vì đói.
- Một chiếc thiết giáp - Chàng nói với tên du mục - Bẫy được nó không đến đỗi khó khăn gì.
- Với thứ đó hả? - Tên du mục chỉ vào hai cái ba lô.
- Phải - Robert Jordan trả lời - Tôi sẽ chỉ cho đồng chí. Ta sửa soạn một cái bẫy, không khó khăn gì lắm.
- Hai chúng mình hả?
- Ừ - Robert Jordan nói - Tại sao không?
- Ê! - Tên du mục nói với Anselmo - Đồng chí dặt hai cái bọc kia vào chỗ kín đáo được không? Quý lắm đó.
Anselmo càu nhàu: “Tôi đi kiếm rượu uống đây”, lão nói với Robert Jordan. Robert Jordan đứng dậy xách cái ba lô nơi cửa hang và đặt chúng nằm tựa vào hai bên một thân cây. Chàng biết chúng đựng gì ở bên trong và không muốn thấy người ta đụng chạm với chúng.
- Mang cho tôi một tách coi. - Tên du mục nói.
- Có rượu à? - Robert Jordan hỏi vừa ngồi xuống gần tên du mục.
- Rượu hả? Có cả một vò. Dù sao thì cũng được nửa vò.
- Và có gì ăn đây?
- Đủ mọi thứ, anh bạn ạ - Tên du mục nói - Người ta ăn uống như tướng tá.
- Và dân du mục làm gì trong chiến tranh? - Robert Jordan hỏi hắn.
- Họ tiếp tục làm dân du mục.
- Một cái nghề tốt đẹp.
- Nhất, - Tên du mục bảo - người ta gọi đồng chí là gì?
- Robert. Còn đồng chí?
- Rafael. Và chuyện xe thiết giáp, nói đứng đắn đó chớ hả?
- Chắc chắn rồi. Tại sao không?
Anselmo xuất hiện nơi cửa hang, lão ôm một cái hũ đá đầy rượu chát, mấy ngón tay của lão luồn trong quai của ba cái tách. “Nhìn xem - Lão nói - Họ có tách và đủ cả”. Pablo bước ra ngoài theo sau lão.
- Sắp đến giờ ăn tới nơi rồi - Hắn nói - Đồng chí có thuốc lá không?

Robert Jordan bước đến những cái ba lô, mở ra một cái, mò mẫm một cái túi bên trong và lấy ra những cái hộp dẹp đựng thuốc lá Nga mà chàng kiếm được ở tổng hành dinh của Golz. Chàng dùng móng ngón tay trỏ vạch quanh một cái hộp, mở nắp, đưa hộp thuốc về phía Pablo. Pablo lấy ra sáu điếu, giữ lấy chúng trong lòng bàn tay, rồi cầm lấy một điếu đưa lên nhìn cho rõ. Đó là điếu thuốc dài, nhỏ ở đầu có mang một cái ống bằng giấy cứng.
- Nhiều không khí và ít thuốc - Hắn nói - Tôi biết chúng mà. Anh chàng có cái tên quái dị hút loại thuốc này.
- Kachkine. - Robert Jordan nói. Chàng tặng thuốc hút cho tên du mục và cho Anselmo, họ lấy mỗi người một điếu.
- Lấy thêm đi. - Chàng nói. Họ lấy mỗi người một điếu. Chàng cho mỗi người thêm một điếu; họ hạ thấp bàn tay cầm thuốc hai lần, như người ta chào bằng gươm, để cám ơn chàng.
- Phải - Pablo nói - Một cái tên quái dị.
- Rượu đây rồi. - Anselmo lấy ra một cái tách mà lão đã nhúng sâu vào hũ rượu và đưa cho Robert Jordan, đoạn lặp lại động tác đó để múc rượu cho tên du mục và cho chính lão.
- Bộ không có rượu cho tôi à? - Pablo hỏi. Bọn họ ngồi chung bên nhau cạnh cửa hang.
Anselmo trao cái tách của lão cho hắn và đi vào trong hang tìm cái khác. Khi trở ra, lão cúi xuống hũ rượu và múc rượu đầy tách, sau đó mọi nguồi cùng nhậu. Rượu có mùi vị thơm ngon. Một dư vị cay gắt đến từ vò đựng rượu, nhưng người ta cảm thấy nó dễ chịu hơn và nghe mát dịu nhẹ nhàng nơi đầu lưỡi.
Robert Jordan uống chậm rãi, chàng nghe hơi nóng của nó từ từ xâm nhập vào cơn mệt của chàng.
- Sắp đến giờ ăn rồi đây - Pablo nói - Và anh chàng lạ mặt có cái tên quái dị kia, hắn chết bằng cách nào kìa?
- Hắn bị bắt và hắn tự sát.
- Chuyện xảy ra cách nào?
- Hắn bị thương và hắn không muốn bị bắt làm tù binh.
- Chuyện đó xảy ra làm sao?
- Tôi không biết. - Chàng nói dối. Chàng thừa biết chuyện xảy ra cách nào, và chàng đồng thời cảm thấy đề tài câu chuyện này hẳn không thích hợp ở đây.
- Hắn bảo, tụi tôi hứa phải giết hắn nếu hắn bị thương trong vụ xe lửa và nếu hắn không thoát được. - Pablo nói - Hắn nói bằng một giọng quái lạ.
Robert nghĩ chắc ngay trong lúc đó hắn đã bị dao động rồi. Tội nghiệp cho Kachkine.
- Hắn có thành kiến chống lại ý tưởng tự sát - Pablo nói - Hắn nói với tôi, hắn cũng rất sợ bị tra tấn.
- Hắn cũng nói thế à? - Robert Jordan hỏi.
- Phải - Tên du mục nói - Hắn đã nói như vậy với tất cả bọn này mà.
- Trong trận đánh xe lửa à? Đồng chí cũng ở đó à?
- Ừ. Mọi người đều dự trận đó.
- Hắn có một giọng nói quái lạ - Pablo nói - Nhưng hắn thật can đảm.
Tội nghiệp Kachkine, Robert Jordan nghĩ, ở đây hẳn là hắn phải làm hỏng việc nhiều hơn là được. Đáng tiếc là mình không biết hắn có chứng sợ hãi từ lâu. Lẽ ra người ta phải cho hắn ra khỏi đó. Những người thực hiện công việc này không nên nói như thế. Đó không là một cách nói. Ngay khi họ hoàn tất sứ mạng, họ làm hỏng nhiều hơn là được việc với những ý nghĩ kia trong đầu.
- Hắn trông hơi lạ lùng - Robert Jordan nói - Tôi nghĩ hắn hơi khùng.
- Nhưng hắn rất rành về những vụ nổ - Tên du mục nói - Về chuyện đó, hắn rất gan dạ.
- Nhưng mà lại khùng - Robert Jordan nói - Để làm công việc đó, người ta phải có đầu óc và đầu óc phải thật lanh. Hắn không bao giờ nên nói vậy.
- Còn đồng chí? - Pablo nói - Nếu đồng chí bị thương trong vụ như vụ cây cầu này, đồng chí có muốn người ta để đồng chí ở lại không?
- Đồng chí nghe đây này - Robert Jordan nói, và cúi xuống múc đầy một tách rượu mới - Nếu bao giờ tôi có việc phải nhờ một người, tôi nhờ hắn khi cơ hội xảy đến.
- Tốt - Tên du mục tán thành - Phải nói vậy mới được. Này, người ta mang thức ăn cho bọn mình rồi kìa.
- Anh đã ăn rồi hả? - Pablo nói.
- Nhưng tôi có thể ăn được hai lần nữa - Tên du mục nói - Nhìn coi ai tới kìa.
Người con gái cúi đầu bước ra khỏi hang, nàng bưng một cái mâm lớn bằng sắt, Robert Jordan trông thấy khuôn mặt bí ẩn của nàng và chàng nhận ra ngay dáng vẻ kỳ lạ của nàng. Nàng mỉm cười và nói: “Chào đồng chí”. “Salud”, Robert Jordan đáp lại và chàng nén giữ để khỏi nhìn thẳng vào mặt cô gái, tuy nhiên đôi mắt chàng vẫn không lảng tránh đi. Nàng đặt chiếc mâm sắt trước mặt chàng và chàng để ý hai bàn tay đẹp có nước da nâu ngọt của nàng. Bây giờ thì nàng nhìn thẳng vào mặt chàng và mỉm cười. Răng nàng trắng trên khuôn mặt nâu dòn, nước da và mặt nàng cùng một màu nâu tươi rực rỡ. Nàng có đôi gò má cao, đôi mắt linh động vui tươi, và một cái miệng sắc nét với đôi môi đầy đặn. Tóc nàng có một màu vang đã ngã sang nâu của cánh đồng lúa rực mặt trời, nhưng chúng lại được cắt ngắn đi khiến người ta nghĩ tới bộ lông của con hải ly. Nàng mỉm cười đưa mắt nhìn Robert Jordan, đặt bàn tay lên đầu ép mái tóc nằm rạp xuống để lại sẽ dựng lên trở lại sau đó. Nàng có một khuôn mặt xinh xắn, Robert Jordan nghĩ thầm. Nàng sẽ đẹp nếu người ta không cắt ngắn tóc nàng đi.
- Tôi chải tóc như thế đó - Nàng nói với Robert Jordan và nàng cười - Anh ăn đi chớ đừng mãi nhìn tôi như thế. Đây là kiểu ở Valladolid đấy. Bây giờ thì chúng đã mọc lại rồi.
Nàng ngồi đối diện với chàng và nhìn chàng. Chàng cũng nhìn nàng, nàng mỉm cười và hai bàn tay khoanh trên gối. Đôi chân thon dài và thanh tú của nàng hiện ra ở ngoài hai ống quần đàn ông trong khi nàng ngồi như thế, hai bàn tay khoanh ngang trên gối, và chàng trông thấy hình thể hai cái vú nhỏ nhắn của nàng nâng lên sau lần áo xám. Mỗi lần nhìn nàng, Robert Jordan cảm thấy như có một vật gì chận ngang cổ họng mình.
- Không có dĩa - Anselmo nói - Đồng chí cầm dao đi.

Người con gái đặt bốn cái nĩa trên rìa mâm. Họ ăn ngay trong mâm, không ai nói với ai, theo tục lệ người Tây Ban Nha. Thỏ nấu rượu chát với củ hành, ớt và đậu. Thức ăn được nấu kỹ, thịt chín rục rời hẳn khỏi xương, và nước sốt ngon tuyệt. Robert Jordan uống thêm một tách rượu trong bữa ăn. Những người khác thì nhìn vào thức ăn của họ trong lúc ăn. Robert Jordan dùng mẩu bánh mì quệt vào mớ nước sốt sau cùng trước mặt chàng, chất xương thỏ thành đống ở một nơi, đoạn quệt nước sất ở chỗ của những khúc xương, chàng dùng mẩu bánh mì chùi chiếc nĩa, chùi con dao, đoạn xếp nó lại và cho bánh mì vào miệng. Chàng cúi xuống múc đầy tách rượu. Người con gái vẫn nhìn chàng không chớp mắt.
Robert Jordan uống vơi nửa tách rượu nhưng khi chàng nhìn cô gái thì vẫn có cái gì chận ngang cổ họng chàng.
- Cô tên gì? - Chàng hỏi nàng.
Nghe tiếng chàng nói, Pablo trố mắt nhìn chàng.
Đoạn hắn dứng dậy đi chỗ khác.
- Maria. Còn anh?
- Roberto. Cô ở trên núi lâu rồi hả?
- Ba tháng.
- Ba tháng à? - Chàng nhìn mái tóc dầy và ngắn nằm rạp dưới bàn tay của cô gái đang lướt lên trên - lúc này nó trở nên ngượng nghịu - rồi lại dựng đứng lên như một cánh đồng lúa trên một ngọn đồi đang khi có gió.
- Người ta cạo trọc tôi đó - Nàng nói - Người ta vẫn thường cạo đầu ở khám Valladodid. Phải ba tháng tóc mới ra được như thế này. Tôi đang đi trên xe lửa. Người ta đưa tôi về miền Nam. Nhiều tù nhân bị bắt lại sau trận đánh, nhưng tôi, tôi trốn thoát được với những người này.
- Tôi thấy cô ta trốn trong những tảng đá - Tên du mục nói - Đó là lúc bọn này đang sửa soạn lên đường. Cô ta xấu thậm tệ. Bon này mang cô ta theo nhưng nhiều lúc tôi tưởng phải bỏ cô ta lại rồi đó.
- Và người cùng đi với họ trên chuyến xe lửa - Maria hỏi - Người đàn ông tóc vàng, người lạ mặt, hắn ở đâu?
- Chết rồi - Robert Jordan nói - Vào tháng Tư.
- Tháng Tư à? Vụ đánh xe lửa xảy ra vào tháng Tư à?
- Phải rồi. - Robert Jordan nói - Hắn chết mười ngày sau trận xe lửa.
- Tội nghiệp hắn - Nàng nói - Hắn ta thật can đảm. Và anh cũng làm một công việc ấy à?
- Phải.
- Anh cũng đánh xe lửa à?
- Phải, ba trận.
- Ở đây à?
- Ở Estramadure - Chàng nói - Tôi ở Estramadure trước khi tới đây. Có nhiều việc làm ở Estramadure, ở đó chúng tôi có nhiều người để công tác.
- Và tại sao bây giờ anh lại tới những ngọn núi này?
- Tôi thay chỗ cho người đàn ông tóc vàng kia. Lại nữa, tôi đã từng biết vùng này trước khi phong trào được phát động.
- Anh biết rõ nơi này không?
- Không rõ lắm, nhưng tôi học rất nhanh. Tôi có một tấm bản đồ và một người hướng dẫn giỏi.
- Lão già - Nàng vừa nói vừa ngẩng đầu nhìn lên - Lão già giỏi lắm.
- Cám ơn. - Anselmo nói, và Robert Jordan bỗng nhận ra là không chỉ có mình chàng với người con gái, và chàng cũng nhận ra rằng chàng đã bứt rứt khi nhìn nàng, đến nỗi chàng không ngăn cản được giọng nói chàng đổi khác đi vì chuyện đó. Chàng đang vi phạm quy luật thứ hai trong hai quy luật mà người ta cần phải áp dụng nếu muốn hòa hợp với người Tây Ban Nha: tặng thuốc cho đàn ông và không để tâm tới đàn bà. Và chàng chợt nhận ra rằng đối với chàng, việc đó cũng vậy thôi. Chàng đã từng phớt lờ đi nhiều điều, tại sao chàng lại lo ngại tới điều đó?
- Cô có một khuôn mặt tuyệt đẹp - Chàng nói với Maria - Tôi tiếc rẻ đã không có dịp trông thấy cô trước khi người ta cắt tóc cô.
- Chúng sẽ mọc ra mà - Nàng nói - Trong sáu tháng chúng sẽ khá dài.
- Phải trông thấy cô ta lúc bọn này mang cô ta ra khỏi xe lửa. Cô ta xấu trông đến sốt ruột.
- Cô là vợ của ai? - Robert Jordan hỏi, bấy giờ chàng cố lấy lại bình tĩnh - Của Pablo à?
Nàng nhìn chàng và phá lên cười, đoạn vỗ vào đầu gối chàng:
- Vợ của Pablo à?
- Cô đã gặp Pablo chưa?
- Vậy thì của Rafael. Tôi đã gặp Rafael rồi.
- Không của ai hết - Tên du mục nói - Đó là một người con gái kỳ lạ. Nàng không thuộc một người nào. Nhưng lại khéo nghề nấu nướng.
- Thật là không của ai đó chớ? - Robert Jordan lại nhìn nàng hỏi.
- Không của ai hết. Không của một người nào hết. Dù để vui đùa hay nói một cách đứng đắn. Cũng không phải của anh nữa.
- Không à? - Robert Jordan nói, và chàng cảm thấy cái gì đó lại phồng lên trong cuống họng chàng - Tôi không có thì giờ để bận tâm tới một người đàn bà. Đúng như vậy đó...
- Mười lăm phút cũng không được à? - Tên du mục hỏi giọng đùa bỡn - Không cả trong một khắc đồng hồ nữa à?
Robert Jordan không đáp. Chàng nhìn Maria và nghe cổ họng nghẹn ngào đến không nói được gì.
Maria nhìn chàng cười, đoạn nàng chợt đỏ mặt cả thẹn và lại tiếp tục nhìn chàng.
- Cô đỏ mặt rồi kìa - Robert Jordan nói với nàng - Cô thường đỏ mặt lắm hả?
- Không bao giờ.
- Bây giờ cô đỏ mặt đó.
- Vậy thì để tôi trở vào trong hang vậy.
- Ở lại đây, Maria.
- Không - Nàng nói, sắc mặt nghiêm lại - Tôi trở vào trong hang đây.
Nàng bưng lên cái mâm mà bọn họ đã ăn xong và nhặt lên bốn cái nĩa. Cử chỉ của nàng ngượng nghịu như một con gà con, nhưng chúng đồng thời có cái vẻ duyên dáng đáng yêu của một ngựa non và của một cô con gái mới lớn.
- Các đồng chí có muốn tôi để lại mấy cái tách này không? - Nàng hỏi.
Robert Jordan vẫn nhìn nàng không chớp mắt và khuôn mặt người con gái lại ửng đỏ.
- Đừng làm tôi mắc cỡ - Nàng nói - Tôi không thích như vậy đâu.

- Để đó cho bọn này. - Tên du mục nói. Hắn cho cái tách vào hũ rượu, múc đầy và trao cho Robert Jordan. Robert Jordan nhìn người con gái bưng mâm, khẽ cúi đầu xuống để bước trở vào trong hang.
- Cám ơn. - Robert Jordan nói. Bây giờ thì giọng nói chàng bình thường trở lại khi người con gái đã đi khỏi - Tách sau cùng đấy. Mình uống khá nhiều rồi.
- Chúng mình sắp uống cạn hũ rượu tới nơi rồi - Tên du mục nói - Hãy còn quá nửa vò. Người ta chở nó về bằng ngựa đó.
- Đó là chuyến sau cùng của Pablo - Anselmo nói - Từ đó hắn không làm gì cả.
- Các đồng chí có bao nhiêu người? - Robert Jordan hỏi.
- Bọn tôi gồm bảy người và hai người đàn bà.
- Hai?
- Phải. Mụ mujer của Pablo nữa.
- Bà ấy ở đâu?
- Trong hang. Cô bé biết nấu nướng chút đỉnh. Tôi bảo cô ta nấu nướng khéo là để làm vừa lòng cô ta đấy thôi.
Mà nhất là cô ta phụ giúp mụ mujer [1] của Pablo.
- Mu mujer của Pablo, bà ấy thế nào?
- Một người đàn bà man rợ - Tên du mục vừa nói vừa mỉm cười - Một người đàn bà man rợ thật sự. Đồng chí trông Pablo xấu xí nhưng anh phải nhìn thấy vợ hắn kia. Thật gan dạ. Gan dạ gấp trăm lần Pablo, nhưng là một người đàn bà man rợ.
- Pablo gan dạ lúc đầu - Anselmo nói - Lúc đầu Pablo luôn nghiêm chỉnh.
- Hắn giết người nhiều hơn là bịnh thổ tả - Tên du mục nói - Lúc phong trào mới khởi sự, Pabio giết người nhiều hơn là bịnh thương hàn.
- Nhưng từ lâu rồi, hắn rất muy flojo [2] - Anselmo nói - Hắn rất nhát gan. Hắn rất sợ chết.
- Có thể vì hắn đã giết quá nhiều vào lúc đầu - Tên du mục nói một cách hiền triết - Pablo hắn giết nhiều hơn bịnh dịch hạch.
- Điều đó, và những sự giàu có - Anselmo nói - Và rồi hắn uống rượu nhiều. Bây giờ hắn muốn rút lui như một matador de toros [3]. Như một tay đấu bò. Nhưng hắn không thể rút lui được.
- Nếu hắn qua bên kia phòng tuyến, người ta sẽ đoạt ngựa hắn và tống cổ hắn vào quân đội - Tên du mục nói - Tôi cũng vậy, tôi không thích quân đội lắm.
- Không một tên du mục nào có sở thích đó. - Anselmo nói.
- Tại sao họ phải có sở thích đó mới được chớ? - Tên du mục hỏi - Ai muốn vào quân đội nào? Có phải bọn mình làm cách mạng để được nhận vào quân đội không? Tôi rất muốn chiến đấu nhưng không muốn vào quân đội.
- Những người kia đâu hết rồi? - Robert Jordan hỏi. Lúc này chàng cảm thấy trong người thoải mái, và rượu khiến chàng buồn ngủ và thèm được nằm dài trên mặt đất trong rừng, nhìn xuyên qua những cành cây cao, theo dõi những cụm mây nhỏ chầm chậm trôi qua trên bầu trời Tây Ban Nha.
- Hai người ngủ trong hang - Tên du mục nói - Hai người đang canh gác trên kia cạnh khẩu súng máy. Một người đang canh gác phía dưới. Chắc họ ngủ hết rồi.
Robert Jordan quay sang bên cạnh.
- Súng máy loại nào?
- Một cái tên rất quái dị. Bây giờ thì tôi quên rồi, nhưng đó là một khẩu súng máy.
Chắc là một khẩu liên thanh, Robert Jordan nghĩ thầm.
- Khẩu súng cân nặng bao nhiêu? - Chàng hỏi.
- Một người có thể mang được nó nhưng nó rất nặng. Nó có chân xếp. Bọn tôi vớ được nó trong một chuyến công tác nghiêm chỉnh, chuyến sau cùng trước chuyến rượu.
- Các đồng chí có bao nhiêu đạn?
- Đồng chí muốn bao nhiêu cũng có. - Tên du mục nói - Cả một thùng đầy, nặng kinh khủng.
Phải đến năm trăm, Robert Jordan nghĩ.
- Người ta nạp bằng băng hay hộp đạn?
- Với những hộp sắt tròn trên nòng súng.
Robert Jordan nghĩ, chu choa, chính là một khẩu Lewis.
- Đồng chí biết về súng tự động không? - Chàng hỏi lão già.
- Nada - Anselmo nói - Không biết gì hết.
- Còn đồng chí? - Chàng hỏi tên du mục.
- Tôi biết súng đó bắn nhanh lắm và nòng súng nóng đến phỏng tay nếu người ta đụng vào. - Tên du mục nói một cách tự phụ. 
- Cái đó thì ai cũng biết. - Anselmo nói bằng giọng ngạo mạn.
- Có thể - Tên du mục nói - Nhưng mà đồng chí ấy hỏi tôi biết gì về một khẩu máquina [4], và tôi đã trả lời đồng chí ấy. - Đoạn hắn tiếp - Lại nữa, nó không giống một khẩu súng thường. Người ta cứ bóp cò thì nó bắn mệt nghỉ.

- Trừ lúc nó bị kẹt, hết đạn hay nóng đến phát chảy ra. - Robert Jordan nói bằng tiếng Anh.
- Đồng chí nói sao? - Anselmo hỏi chàng.
- Không - Robert Jordan nói - Tôi chỉ nói tới chuyện trong tương lai, bằng tiếng Anh.
- Kỳ lạ thật - Tên du mục nói - Nói tới chuyện trong tương lai bằng tiếng Inglés! Đồng chí biết xem chỉ tay không?
- Không - Robert Jordan nói, và chàng lại múc đầy tách rượu của mình - Nếu đồng chí biết, tôi muốn đồng chí xem chỉ tay tôi và nói cái gì sắp sửa xảy ra trong ba ngày nữa.
- Mujer của Pablo biết xem chỉ tay - Tên du mục nói - Nhưng bà ta dễ cáu và dữ dằn đến nỗi tôi không biết bà ấy có chịu xem không.
Robert Jordan ngồi xuống và nốc một ngụm rượu.
- Ta đi thăm mujer của Pablo ngay bây giờ đi - Chàng nói - Nếu bà ta khó cho ta đến gần như vậy thì ta chịu khó một lần cho xong đi.
- Tôi không muốn quấy rầy bà ta - Rafael nói - Bà ta rất ghét tôi.
- Sao vậy?
- Bà cho tôi vô tích sự.
- Bất công chưa! - Anselmo mỉa mai.
- Bà ta không thể ngửi được bọn du mục.
- Lầm lẫn chưa! - Anselmo nói.
- Bà ta có máu du mục trong người - Rafael nói - Bà ta biết rõ điều mình nói. - Hắn mỉm cười - Nhưng bà ta có một giọng nói nảy lửa và độc địa như một cây roi đánh bò rừng. Bà ta có một giọng làm cho cái gì cũng phải tróc vỏ ra từng mảnh. Bà ta hung dữ kinh khủng.
- Làm sao bà ta hòa hợp với cô bé Maria được? - Robert Jordan hỏi.
- Tốt đẹp. Bà ta yêu cô bé đó nhưng mà bà ta không để bất luận một kẻ nào lăm le tới gần cô ta đâu... - Hắn lắc đầu, tặc lưỡi.
- Bà ta rất tốt với cô bé - Anselmo nói - Bà ta săn sóc cô bé dữ lắm.
- Khi bọn này nhặt cô bé đó trong vụ xe lửa, cô ta kỳ lạ lắm - Rafael nói - Cô không muốn nói chuyện với ai hết, lúc nào cô cũng khóc lóc và nếu có ai đụng tới thì cô run bắn lên như con chó mắc mưa vậy. Chỉ sau đó cô ta mới bắt đầu đỡ hơn. Bây giờ thì cô đã khá hẳn rồi. Mới tức thì đây khi cô nói chuyện với đồng chí cô đã khá hẳn rồi, lẽ ra sau vụ chuyến xe lửa bọn này đã bỏ rơi cô rồi. Chắc chắn là người ta không nên chậm trễ vì một cái gì trông buồn bã, xấu xí đến như thế và có vẻ như không có giá trị gì. Vậy mà mụ già lại cột một sợi dây quanh mình cô ta, và khi cô gái kêu không thể đi tới được nữa, bà ta đánh nàng bằng đầu sợi dây để giục nàng bước. Kế đó, khi cô gái thật sự không thể đi xa hơn, bà ta đã cõng cô trên lưng. Khi bà ta không thể cõng được nữa, chính tôi phải phụ trách việc đó. Người ta leo lên ngọn núi này, trong những đám bụi rậm mọc cao tận ngực. Và khi tôi không đủ sức cõng cô ta nữa thì Pablo lại thay phiên cho tôi. Nhưng bà ta đã phải nói mãi với bọn tôi để bọn tôi làm công việc đó! (Hắn lắc đầu khi nhớ việc này). Đúng là cô gái chỉ có cặp giò dài và không nặng mấy. Xương xẩu cô ta nhẹ và người cô ta không nặng nề bao nhiêu. Nhưng cô ta trở nên cồng kềnh trĩu nặng trên lưng bọn tôi khi bọn tôi phải cõng cô ta và phải dừng lại để bắn, rồi lại cõng cô ta, với mụ già dùng dây đánh vào Pablo và mang hộ súng cho hắn, mụ đặt súng vào tay hắn khi hắn muốn bỏ rơi cô gái, buộc hắn phải tiếp tục mang cô gái theo, vừa vô đạn cho khẩu súng của hắn vừa nguyền rủa hắn, mụ móc ra những viên đạn từ trong bọc của hắn, lắp vào súng và tiếp tục nguyền rủa hắn... Đến chiều và với bóng đêm phủ xuống, mọi sự diễn ra tốt đẹp. Nhưng cũng may là chúng không có kỵ binh.
- Hẳn đồng chí đã sông qua một khắc đồng hồ bết bát tệ hại - Anselmo nói - Tôi thì không có mặt ở trận xe lửa. - Lão giải thích cho Robert Jordan nghe - Lúc đó có nhóm của Pablo, nhóm của El Sordo mà ta sẽ gặp tối nay, và còn có hai nhóm khác nữa trên những ngọn núi này. Bấy giờ tới đang ở bên kia phòng tuyến.
- Còn có thêm anh chàng tóc vàng có cái tên quái dị nữa chớ. - Tên du mục nói.
- Kachkine.

- Đúng rồi. Một cái tên mà tôi không tài nào nhớ nổi. Bọn tôi có hai người với một khẩu liên thanh Bọn họ cũng được quân đội phái tới. Họ không mang nổi khẩu liên thanh, họ đã đánh mất nó rồi. Chắc chắn nó không nặng nề bằng cô bé kia đâu và nếu có mụ già trên lưng thì hẳn là họ đã mang theo khí giới được rồi. (Hắn lắc đầu khi nhớ lại chuyện này, đoạn nói tiếp). Trong đời tôi chưa từng thấy một trận nào như vậy. Chuyến xe lửa lù lù tới. Người ta trông thấy nó từ đàng xa. Và tôi đã sống trong một trạng thái căng thẳng đến không nói năng gì được nữa. Bọn tôi trông thấy khói xe lửa bay lên và rồi có tiếng còi rúc lên. Đoạn nó tiến tới gần và kêu xình xịt, xình xịt, xình xịt, mỗi lúc một to hơn. Sau đó lúc xảy ra tiếng nổ, những bánh trước của chiếc xe lửa tung lên cao. Có thể nói là tất cả đất cát đều tung lên trong một vùng mây mù đen kịt.
Đầu xe lửa nổ tung trong đám bụi, những thanh gỗ bay lên trong không khí như có một phép mầu kỳ lạ và tiếp theo, đầu máy rơi xuống một bên chẳng khác gì một con vật khổng lồ bị trọng thương và khi đất cát lần lượt rơi xuống hết, người ta còn nghe tiếng nổ của hơi nước... Súng bắt đầu nổ tạch! tạch! - Tên du mục nói tiếp, vừa gặt mạnh hai nắm tay khi giơ cao khi hạ thấp, với hai ngón tay chỉ lên không với một khẩu liên thanh tưởng tượng - Tạch! Tạch tạch tạch! - Hắn kêu lên, ngây ngất - Trong đời tôi chưa hề thấy cảnh nào như vậy, với bọn lính ào ạt nhảy ra khỏi xe lửa và với khẩu máquina khạc đạn trên đầu chúng và với bọn người ngã gục. Chính lúc đó tôi đặt bàn tay lên khẩu máquina, tôi bị khích động làm sao và tôi nhận ra nồng súng nóng bỏng. Trong lúc đó, mụ già đã cho tôi một cái tát tai và bảo: bắn đi, đồ ngu! Mi có chịu bắn hay không, hay là ta đập mi vỡ sọ! Do đó tôi mới bắt đầu bắn, nhưng tôi phải vất vả lắm mới giữ chặt khẩu súng được thăng bằng, và bọn lính xô nhau lủi trốn trên ngọn núi xa. Sau đó, khi bọn tôi bước xuống chỗ chiếc xe lửa xem có gì để lấy không. Một viên sĩ quan cầm súng lục trong tay đang uy hiếp bọn lính chống lại bọn này. Hắn lăm le khẩu súng và la hét ầm ĩ ở phía sau, bọn này ai nấy cũng đều nhắm vào hắn mà bắn, nhưng không trúng. Bọn lính đều nằm rạp xuống đất và bắt đầu bắn, tên sĩ quan đi tới đi lui ở đàng sau bọn chúng, nhưng bọn này vẫn không bắn trúng hắn, và khẩu máquina thì không thể bắn vào hắn được vì bị chiếc xe lửa án ngữ. Tên sĩ quan kia đã giết chết hai người của hắn ở dưới đất và mặc dầu vậy, những tên khác vẫn không muốn đứng dậy, hắn mắng nhiếc bọn chúng thậm tệ và sau cùng bọn chúng cũng đứng dậy được, một, hai, ba đứa cùng một lúc, và chúng vừa đi vừa chạy về phía bọn này và phía chiếc xe lửa. Đoạn chúng hè nhau nằm rạp xuống mặt đất và bắn. Sau đó bọn này rút lui với khẩu máquina tiếp tục khạc đạn trên đầu chúng. Chính lúc đó, tôi bắt gặp cô bé vừa thoát khỏi chiếc xe lửa chạy trốn trong các kẹt đá và cô ta chạy thoát được với bọn này. Chính bọn lính kia đã đuổi theo bọn này tới tối.
- Trận đụng độ hẳn phải ác liệt - Anselmo nói - Và nó ác liệt làm sao!
- Đó là việc tốt đẹp duy nhất mà bọn này đã làm được - Một giọng nói trầm trọng lên tiếng - Bây giờ lão làm gì đó hở lão già say, lão già lười biếng, đồ con rơi con rớt của đồ đĩ du mục vô danh tiểu tốt? Lão làm gì đó?
Trong lúc đó, Robert Jordan trông thấy một người đàn bà tuổi trạc năm mươi, to lớn không kém gì Pablo, về chiều ngang cũng như chiều cao, bà ta mặc thứ váy của người nhà quê và áo bờ-lu đen, đôi chân nặng nề mang vớ len dầy, bà ta đi dép đen và có khuôn mặt màu nâu sẫm tưởng chừng người ta có thể dùng bà để làm mẫu cho một đền đài bằng đá hoa cương. Bà ta có đôi bàn tay to nhưng lại ưa nhìn, mái tóc dày của bà đen và quăn, được quấn thành búi trên gáy của bà ta.
- Nào, trả lời cho tôi nghe coi. - Bà ta nói với tên du mục, không quan tâm gì tới những người khác.
- Tôi đang trò chuyện với các đồng chí. Người này mới vừa đến, hắn có bổn phận bắn cốt mìn.
- Tôi biết cả rồi - Vợ Pablo nói - Thôi đồng chí đi thay Anselmo đang gác trên kia.
- Me voy - Tên du mục nói - Tôi đi đây. - Hắn quay về phía Robert Jordan - Tôi sẽ gặp đồng chí vào giờ cơm.
- Không đùa chứ? - Người đàn bà nói với hắn - Tôi tính ra hôm nay đồng chí ăn hết ba lần rồi - Thôi đi đi và gọi Andrés cho tôi.
- Hola! - Bà ta nói với Robert Jordan, và bà ta chìa tay ra vừa mỉm cười - Đồng chí mạnh giỏi chớ và tình hình vùng Cộng Hòa ra sao?
- Tốt lắm - Chàng nói và đáp lại cái bắt tay thân mật của bà ta - Tốt cho tôi và cho vùng Cộng Hòa.
- Như vậy đủ làm tôi khoái rồi. - Bà ta nói với chàng. Bà ta nhìn ngay mặt chàng và mỉm cười với chàng. Chàng để ý bà ta có đôi mắt đẹp màu tro - Đồng chí tới đây để giúp vào việc phá một chiếc xe lửa khác phải không?
- Không - Robert Jordan nói, chàng đặt lòng tin cậy ngay vào người đàn bà - Một cây cầu.
- No es nada - Bà ta nói - Một cây cầu thì dễ như không. Bây giờ đã có ngựa rồi liệu bao giờ làm một vụ xe lửa khác đây?
- Thong thả đã. Cây cầu này quan trọng lắm.
- Cô bé nói tôi biết là bạn của đồng chí, người cùng chiến đấu với chúng tôi trong lần đánh xe lửa, đã chết.
- Đúng.

- Đáng tiếc. Tôi chưa bao giờ trông thấy một trận đánh mìn như vậy. Đó là một người rành việc. Tôi rất hài long với hắn. Người ta không thể làm một trận xe lửa khác sao? Trong vùng núi này hiện có rất nhiều người. Quá nhiều và vấn đề tìm lương thực đã trở nên khó khăn. Tốt hơn là nên tìm cách đi khỏi nơi đây. Và ta đã có sẵn ngựa.
- Phải giựt sập cây cầu đó.
- Đâu vậy?
- Gần bên đây thôi.
- Càng tốt - Muier của Pablo nói - Mình hãy giựt sập tất cả những cây cầu ở đây và bỏ đi. Tôi chán nơi này rồi. Có quá nhiều người ở đây. Điều này không tốt chút nào. Ở đây người ta mụ người đi, nó tởm làm sao ấy.
Bà ta thấy Pablo qua những hàng cây.
- Borracho! - Bà ta gọi - Đồ say rượu! Đồ khốn say rượu! - Bà ta trở lại với Robert Jordan, mặt mày vui vẻ - Hắn mang theo một vò rượu để uống một mình trong rừng - Bà ta nói - Lúc nào hắn cũng uống. Đời sống này đang giết hắn. Này anh chàng trẻ tuổi, tôi rất hài lồng thấy đồng chí tới đây. - Bà ta vỗ nhẹ lên vai chàng - Này, đồng chí to lớn hơn người ta tưởng đó. - Và bà ta để tay lên vai người thanh niên, rờ vào bắp thịt dưới lớp áo sơ-mi bằng nỉ mỏng - Tốt lắm. Tôi rất hài lòng thấy đồng chí tới đây.
- Tôi cũng vậy.
- Chúng ta sẽ nhất trí với nhau thôi - Bà nói - Đồng chí uống một tách rượu đi.
- Chúng tôi đã uống nhiều rồi - Robert Jordan nói - Nhưng đồng chí có muốn uống không?
- Không, không uống trước bữa cơm chiều. - Bà ta nói - Nó làm nóng ruột gan. - Sau đó, bà ta lại trông thấy Pablo - Borracho! - Bà ta kêu lên - Đồ say rượu - Bà ta quay sang Robert Jordan, và lắc đầu - Đó là một người rất khá - Bà ta nói với chàng - Nhưng bây giờ thì hết rồi. Và tôi muốn nói thêm với đồng chí một điều. Phải đối xử tốt và tế nhị với con bé Maria. Nó có điều bất hạnh, đồng chí biết chớ?
- Biết. Tại sao đồng chí nói vậy?
- Tôi thấy vẻ mặt của nó sau khi gặp đồng chí, lúc nó bước vào trong hang. Tôi thấy nó nhìn đồng chí trước khi bước ra ngoài.
- Tôi có đùa với nàng một chút.
- Nó đã từng trải qua một trạng thái kinh hồn - Bà vợ Pablo nói - Bây giờ thì nó khá rồi. Nó phải ra khỏi chỗ này...
- Người ta có thể gởi nàng qua bên kia phòng tuyến với Anselmo.
- Đồng chí và Anselmo, hai người có thể mang nó đi khi việc này xong xuôi.
Robert Jordan cảm thấy cuống họng mình phồng lên đau đớn và giọng nói chàng khan đi. Chàng nói:
- Điều đó có thể được.
Bà vợ Pablo nhìn chàng lắc đầu:
- Ái chà chà! Có phải bọn đàn ông đều như vậy cả?
- Tôi nói gì đâu... Nàng đẹp lắm. Đồng chí biết chớ?
- Không, nó không đẹp. Nó chỉ khởi sự đẹp, đồng chí muốn nói vậy chớ gì? Bọn đàn ông! Thật là cả một điều xấu hổ cho bọn đàn bà chúng tôi. Khi nghĩ rằng chính bọn tôi đã tạo ra họ. Không. Để nói một cách đứng đắn, dưới nền Cộng Hòa liệu có những trung tâm săn sóc cho những cô gái như nó không?
- Có chớ. Còn tốt nữa là đàng khác. Trên bờ biển gần Valence. Chỗ khác cũng có. Ở đó người ta sẽ săn sóc nàng rất chu đáo, và nàng có thể trông trẻ em. Có nhiều trẻ em được mang ra khỏi những thôn làng. Người ta sẽ dạy nàng trông coi chúng.
- Đó là điều tôi muốn, Pablo đã phát ốm rồi, chỉ cần nhìn thấy nó thôi. Tuy nhiên hắn cũng không cần cái đó. Tốt hơn nó nên đi.
- Chúng tôi có thể dẫn nàng đi khi vụ này xong xuôi.
- Và đồng chí sẽ săn sóc nó nếu bây giờ tôi giao nó cho đồng chí chớ? Tôi nói với đồng chí như đã quen biết với đồng chí từ lâu.
- Chính vậy, đôi khi người ta hiểu nhau.
- Đồng chí ngồi xuống đây. Tôi không đòi đồng chí hứa hẹn. Cái gì sẽ xảy ra ắt sẽ xảy ra. Chỉ khi nào đồng chí không muốn dẫn nó theo ra khỏi chỗ này tôi mới xin đồng chí một lời hứa. Tôi không muốn thấy nó điên ở đây trước khi đồng chí đi. Tôi đã thấy nó điên trước đây rồi, mà không có chuyện đó tôi cũng đã đủ mệt rồi.
- Chúng tôi sẽ đưa nàng đi sau vụ cây cầu. - Robert Jordan nói - Nếu chúng tôi còn sống sau vụ cây cầu, chúng tôi sẽ đưa nàng đi.
- Tôi không thích nghe đồng chí nói như vậy. Cách nói đó không đem lại may mắn bao giờ hết.
- Tôi chỉ nói vậy bởi vì tôi hứa hẹn. - Robert Jordan nói - Tôi không thuộc hạng người luôn luôn khoác lên một vẻ u ám trong cách nói chuyện.
- Đưa tay đồng chí cho tôi xem coi nào!
Robert Jordan chìa bàn tay ra và người đàn bà mở bàn tay chàng ra, đặt nó lên bàn tay mập bự của bà ta, đặt ngón cái vào lòng bàn tay của chàng và ngắm nghía nó một cách chăm chỉ, đoạn buông nó rơi thõng xuống. Bà ta đứng dậy. Chàng cũng đứng dậy và bà ta nhìn chàng, nghiêm sắc mặt. Robert Jordan hỏi:
- Đồng chí trông thấy gì? Tôi không tin đâu. Đồng chí không làm tôi sợ đâu.
Bà ta nói:
- Không có gì. Tôi không thấy gì hết.
- Có chớ. Đồng chí đã thấy. Tôi hỏi vì tò mò. Tôi không tin vào những thứ đó.
- Vậy chớ đồng chí tin gì?
- Tôi tin nhiều thứ nhưng không tin vào cái này.
- Tin cái gì?
- Công việc của tôi.
- Phải rồi, tôi thấy điều đó.
- Đồng chí nói cho tôi biết đã thấy điều gì khác nữa.
Bà ta nói một cách khô khan.
- Tôi không thấy điều gì khác. Đồng chí nói vụ cây cầu khó khắn lắm hả?
- Không, tôi nói nó rất quan trọng.
- Và nó có thể khó khăn?
- Đúng. Và bây giờ thì tôi phải đi quan sát nó đây. Đồng chí có bao nhiêu người hết thảy ở đây?

- Năm người đáng kể. Tên du mục không ích lợi nhưng hắn có nhiều thiện ý. Hắn tốt bụng. Tôi không tin ở Pablo nữa.
- El Sordo có được bao nhiêu người khá?
- Có thể được đến tám. Tối nay sẽ gặp. Ông ta đến đây. Đó là một người rất thực tế. Ông ta cũng có cốt mìn nữa. Nhưng không bao nhiêu. Đồng chí sẽ nói chuyện với ông ta.
- Đồng chí đã cho tìm ông ta chưa?
- Ông ta đến đây mỗi tối. Người láng giềng mà, ông ta vừa là bạn vừa là đồng chí.
- Đồng chí nghĩ gì về ông ta?
- Đó là một người rất giỏi và cũng rất thực tế. Trong vụ chiếc xe lửa, ông ta ngon lành không chê được.
- Còn những nhóm khác thì sao?
- Nếu kịp thông báo thì người ta có thể tập trung được năm mươi khẩu súng có thể tin cậy được.
- Sao, có thể à?
- Tùy theo mức quan trọng của tình hình.
- Mỗi khẩu súng có được bao nhiêu tút đạn?
- Có thể được hai mươi. Điều này tùy vào số đạn họ mang theo cho vụ này, một vụ có thể không làm họ quan tâm lắm để có thể tốn công họ. Đồng chí nên nhớ rằng trong vụ cây cầu này không có tiền bạc lẫn chiến lợi phẩm, và, điều đồng chí không nói ra, là có nhiều nguy hiểm. Nhiều người sẽ chống lại vụ cây cầu này.
- Dĩ nhiên rồi.
- Vậy thì tốt hơn đừng nói về nó quá nhiều.
- Đó đúng là ý của tôi rồi.
- Vậy thì khi đồng chí nghiên cứu xong cây cầu, tối nay, ta sẽ nói chuyện với El Sordo.
- Tôi xuống đó ngay bây giờ với Anselmo đây.
- Vậy thì đồng chí gọi lão dậy. Đồng chí cần một khẩu các bin không?
- Cám ơn. Không đến nỗi vô ích lắm, nhưng tôi không muốn dùng nó. Tôi đi xem xét, không để quấy rối. Cám ơn về những điều đồng chí nói. Tôi thích lối nói của đồng chí lắm.
- Tôi có nói một cách thẳng thắn.
- Vậy đồng chí cho tôi biết, đồng chí đã thấy gì trong bàn tay tôi.
Người đàn bà lắc đầu:
- Không. Tôi không thấy gì hết. Bây giờ thì đồng chí hãy đi, tôi lo trông giữ đồ đạc của đồng chí.
- Đồng chí phủ kín nó lại và đừng để ai mó vào nó. Để nó ở đó tốt hơn là để trong hang.
- Nó sẽ được phủ kín và không ai mó vào nó. Bây giờ đồng chí đi xem xét chiếc cầu của đồng chí đi.
Anselmo, Robert Jordan vừa nói vừa đặt tay lên lão già đang nằm ngủ, đầu kê lên đôi cánh tay.
Lão già ngẩng đầu dậy.
- Ừ. À. Ừ. Mình đi đi. 
Chú thích:
[1] Vợ.
[2] Rất hèn.
[3] Người đấu bò.
[4] Súng máy.
Chương 3
Họ bước xuống đoạn đường hai trăm thước sau cùng, dè dặt đi trong mát, từ gốc cây này sang gốc cây khác và khi đi tới những cây thông sau cùng của triền đồi dốc đứng, họ trông thấy chiếc cầu cách năm mươi thước. Nắng chiều còn chói lọi trên dãy núi nâu sẫm chiếu sấp bóng xuống chiếc cầu trông mờ tối nằm sát bên khe núi, đó là một chiếc cầu sắt chỉ có một nhịp duy nhất với một chiếc chòi canh ở mỗi đầu. Cầu khá rộng, hai chiếc xe có thể chạy sóng đôi trên đó. Bằng một vòng cung kiên cố nó bắc qua một khe núi sâu, với một vẻ duyên dáng pha trộn với vẻ chắc chắn. Tuốt ở phía dưới là một dòng suối nước trong chảy róc rách qua những kẽ đá, xuôi về phía thác nước từ trên đèo cao đổ xuống.
Robert Jordan bị chói mắt và chỉ nhìn thấy dạng chiếc cầu. Sau đó ánh sáng mờ dần và lịm tắt, nhìn xuyên qua những bóng cây chạy dài về phía đỉnh núi tròn màu nâu thẫm che kín bóng mặt trời lăn phía sau, Robert Jordan thấy cảnh vật mờ hẳn dưới mắt chàng, triền núi nhuộm màu xanh dịu dàng mới lạ và những dấu tuyết cũ hãy còn in trên đỉnh núi cao.
Chàng bắt đầu xem xét chiếc cầu và nghiên cứu cách cấu tạo của nó trong cơn ngưng đọng bất thình lình của ánh sáng. Chuyện phá hủy cây cầu không khó khăn gì. Vừa nhìn ngắm, chàng rút một cuốn sổ tay từ trong túi và vẽ phác vài bức vẽ rất nhanh vào đó. Chàng không cần tính toán sức nặng của những lượng thuốc nổ. Công tác đó chỉ đến sau này. Giờ thì chàng chỉ cần ghi nhận những điểm sẽ đặt chúng để phá vỡ trục chống đỡ vòng cung của cây cầu và kéo đổ một mảnh vòng cung này xuống khe núi. Kết quả này có thể đạt được một cách thong thả, khoa học và chính xác với sáu thỏi cốt mìn đặt cách nào để chúng tuần tự phát nổ, hoặc một cách dữ dội hơn chỉ cần với hai thỏi lớn. Chúng phải thật lớn, đặt ở hai đầu và phát nổ cùng một lúc. Chàng vẽ rất nhanh với một dáng vẻ hài lòng. Sau cùng chàng lấy làm sung sướng được có một vấn đề để giải quyết, sung sướng được đặt hết sự chú tâm của mình vào đó. Đoạn chàng xếp lại cuốn sổ, đẩy cây bút chì vào chiếc bao da ở cạnh bìa, cho cuốn sổ và túi và gài nút cẩn thận.
Trong lúc đó, Anselmo trông chừng con đường, chiếc cầu và những đồn canh. Lão thấy họ quá gần chiếc cầu để được an toàn và khi bức vẽ đã thực hiện xong, lão thở một hơi dài nhẹ nhõm.
Gài xong nắp túi áo, Robert Jordan nằm sấp xuống đất sau một thân cây thông, đôi mắt vẫn chăm chăm nhìn về phía cầu, Anselmo đặt bàn tay vào khuỷu tay của chàng và giơ ra một ngón tay.
Trong chiếc chòi canh đối diện với họ, cao khỏi mặt đường, tên lính đang ngồi, ghì khẩu súng có gắn lưỡi lê giữa hai đầu gối. Hắn đang hút thuốc, đầu đội một chiếc mũ đen và khoác một chiếc áo choàng bằng vải làm mền. Cách xa năm mươi thước, người ta không thể phân biệt được từng đường từng nét của hắn. Robert Jordan cầm lên chiếc ống dòm, dùng lòng bàn tay che kỹ mặt kính, dù không còn ánh sáng mặt trời để phản chiếu vào đó, và chàng thấy hiện ra dưới mắt cái lan can cầu, trông rõ ràng đến nỗi người ta tưởng có thể đưa tay chạm vào nó, khuôn mặt tên lính canh hiện lên rõ ràng đến nỗi Robert Jordan phân biệt được đôi gò má hóp lại của hắn, đầu điếu thuốc cháy đỏ và lưỡi lê lấp lánh. Người đàn ông có khuôn mặt dân quê, đôi má gầy dưới cặp quyền cao, những chân râu tua tủa, đôi mắt lẩn khuất dưới cặp lông mày dày, hai bàn tay to lớn ghì lấy khẩu súng, đôi giày ống nặng nề vượt khỏi những nếp gấp của chiếc áo choàng. Một bầu rượu cũ kỹ bằng da đã ngả sang màu đen, treo lủng lẳng trên vách chòi canh. Người ta còn nhận ra một vài tờ báo, nhưng không thấy điện thoại đặt nơi đâu. Dĩ nhiên là có thể có một máy điện thoại đặt ở một nơi nào kín đáo, nhưng người ta không trông thấy một đường dây nào chuyền ra ngoài cái chòi. Một đường điện thoại chạy dọc theo con đường và những sợi dây của nó chuyền ngang qua cầu.
Ở cửa vào chòi canh có một cái lò than làm bằng cái bình xăng cũ được cắt ra làm đôi và xoi lỗ. Cái lỗ đặt trên hai cục đá nhưng không đun lửa. Vài chiếc lon đồ hộp rỗng cháy đen nằm trong đám tro than.
Robert Jordan đưa ống dòm cho Anselmo đang nằm dài cạnh chàng. Lão già mỉm cười và lắc đầu. Lão dùng ngón tay gõ gõ lên đầu ở sát bên mắt.
- Ya lo veo - Lão nói - Tôi thấy rồi.
Lão nói bằng chót miệng gần như không động đậy tới môi, lão nói thật nhỏ, nhỏ hơn cả tiếng thì thầm. Lão nhìn tên lính canh trong khi Robert Jordan mỉm cười, đoạn lão đưa ngón trỏ của bàn tay trái ra trước mặt lão và dùng ngón trỏ bàn tay mặt chĩa ngang qua cuống họng lão. Robert Jordan gật nhẹ đầu nhưng chàng không mỉm cười nữa.
Chồi canh ở đầu kia của chiếc cầu nhìn từ phía khác ra con đường đang đổ dốc và người ta không thể nhìn thấy phía trong.

Con đường rộng, tráng nhựa, thực hiện công phu, rẽ sang phía trái ở đầu cầu bên kia mất hút trong một khúc quanh chạy về phía tay phải. Ở đây, nó trải ra và nới rộng con đường cũ bằng một dải đất, khoét vào vách đá kiên cố ở bên kia khe núi. Ở mé trái tức về phía Tây từ đèo và cầu ngó xuống, có một dãy đá tảng chạy dọc theo bờ dốc đứng. Ở vào chỗ con suối có chiếc cầu bắc qua đang chảy vào dòng nước lũ từ đèo đổ xuống, cái khe kia trông giống như một cái hố dài.
Robert Jordan hỏi Anselmo:
- Còn đồn canh kia thì sao?
- Cách năm trăm thước ở phía dưới khúc quanh này. Trong một cái chồi của phu lục lộ cất lên bên sườn núi đá.
- Có bao nhiêu người? - Robert Jordan hỏi.
Chàng lại quan sát tên lính canh xuyên qua ống dòm.
Người đàn ông dụi điếu thuốc lên vách chòi bằng ván, đoạn móc từ trong túi ra một bao thuốc bằng da, xé lớp giấy quấn của mẩu tàn thuốc và trút lượng thuốc còn lại vào bao. Hắn đứng dậy, dựng khẩu súng vào vách và vươn vai đoạn hắn cầm khẩu súng lên, bắt lên vai và đi về phía cầu. Anselmo nằm sát xuống mặt đất, Robert Jordan cho ống dom vào túi áo và lách sau thân cây thông.
Anselmo ghé sát vào tai Robert Jordan:
- Có cả thảy bảy người và một tên cai. Tôi được tên du mục cho biết như vậy.
Robert Jordan nói:
- Mình sẽ đi ngay khi hắn đứng im. Mình ở gần quá.
- Đồng chí đã thấy điều đồng chí muốn thấy chớ?
- Phải, tất cả những gì tôi muốn.
Giờ đây hơi lạnh xuống nhanh khi mặt trời đã lặn và ánh sáng yếu đi trong khi những tia nắng sau cùng tắt lịm trên những rặng núi sau lưng hai người.
- Đồng chí thấy thế nào? - Anselmo khẽ lên tiếng hỏi trong khi cả hai đang nhìn tên lính canh băng qua cầu theo hướng chiếc chòi canh bên kia, lưỡi lê ánh lên trong một tia sáng cuối cùng, bóng dáng không hình thù của hắn phủ trong lớp áo choàng.
Robert Jordan đáp:
- Tốt lắm. Tốt lắm.
Anselmo nói:
- Tôi lấy làm hài lòng lắm rồi. Bây giờ mình đi, không còn sợ hắn trông thấy mình nữa.
Tên lính canh đứng quay lưng lại ở đầu cầu bên kia. Từ khe núi vọng lên tiếng nước dội vào đá. Sau đó, xuyên qua tiếng động này, người ta nghe vọng tới một tiếng rú đều đều và họ trông thấy tên lính canh ngửa mặt nhìn lên trời, chiếc mũ của hắn tuột ra sau gáy, và lúc bấy giờ họ cũng quay đầu nhìn lên không, họ trông thấy ba chiếc phi cơ một tầng cánh đang bay theo hình chữ V trên bầu trời chiều. Những chiếc phi cơ xuất hiện trên những độ cao còn được soi sáng bởi mặt trời, trông như những món đồ chơi bằng bạc xinh xắn, chúng bay thật nhanh qua nền trời theo nhịp động cơ đều đều.
Anselmo hỏi:
- Máy bay của phe ta hả?
- Chắc thế.
Robert Jordan nói, nhưng chàng biết rằng ở độ cao như vậy người ta không phân biệt được gì một cách chính xác. Có thể đó là một chuyến bay thám thính thuộc hàng ngũ bên này hay bên kia. Nhưng người ta luôn nói: những chiếc khu trục đó thuộc phe ta, bởi điều đó làm phấn khởi mọi người. Đối với những loại phóng pháo thì đó là việc khác.
Anselmo san sẻ tình cảm này một cách hiển nhiên. Lão nói:
- Của phe ta. Tôi nhận ra chúng mà. Đó là những chiếc Mosca.
Robert Jordan nói:
- Đúng rồi. Tôi cũng thấy đó là những chiếc Mosca.
- Đó là những chiếc Mosca.
Robert Jordan chỉ cần nhìn chúng với ống dòm của mình để tức thì biết ngay một cách chính xác, nhưng chàng tốt hơn là không cần biết chúng thuộc phe nào, và nếu lão già cần nuôi ảo tưởng thì chàng cũng không muốn tước bỏ chúng ra khỏi lão một chút nào.
Tuy nhiên, giờ đây khi mà họ dời bước đi về hướng Ségovie, chúng không còn giống những chiếc phi cơ có cánh thấp, sơn màu đỏ ở hai đầu, những chiếc Boeing P. 32 của Nga đã được cải tiến mà người Tây Ban Nha gọi là những chiếc Mosca. Người ta không phân biệt được màu sắc, nhưng hình thể thì lại khác. Không. Đó là một chiếc phi cơ thám thính của bọn phát xít vừa bay trở về.
Tên lính canh vẫn đứng quay lưng lại cạnh chiếc chòi canh xa nhất.
Robert Jordan nói:
- Ta đi thôi.
Chàng bắt đầu leo ngược dốc, chàng bước dè dặt dưới những cành lá che phủ, Anselmo theo sau chàng khoảng một trăm thước, khi đã chắc chắn rằng họ đã đi khuất khỏi chiếc cầu. Lão già đã theo kịp chàng và bước lên phía trước đi đều bước tới gần đèo, và trong bóng tối lão đang leo lên một cái dốc đứng.
Lão già nói một cách mãn nguyện:
- Phe ta có một không lực phi thường.
- Đúng vậy.
- Và phe ta sẽ thắng. Phe ta phải thắng mới được.
- Đúng vậy. Và khi phe ta thắng trận rồi, đồng chí phải đi săn mới dược.
- Săn cái gì?
- Heo rừng, gấu, chó sói, nai.
- Đồng chí thích đi săn không?
- Thích ác ôn đi! Thích hơn cả mọi thứ. Trong làng tôi mọi người đều đi săn. Đồng chí không thích đi săn à?
- Không - Robert Jordan nói - Tôi không thích giết loài vật.
- Với tôi thì trái lại, tôi không thích giết loài người.
- Không ai thích vậy, trừ những kẻ có bộ óc hư hỏng. Nhưng tôi không chống lại chút nào khi đó là điều cần thiết. Khi nó bảo vệ chính nghĩa.
- Dù sao, đó lại là chuyện khác - Anselmo nói - Trong nhà tôi - khi tôi còn nhà kia, bây giờ thì không còn nữa - có những nanh heo rừng mà tôi đã giết được trong khu rừng phía dưới. Có những bộ da của những con chó sói mà tôi đã giết được. Tôi săn chúng trong tuyết, vào mùa đông. Một con thật lớn, tôi giết được vào lúc ban đêm, ở gần làng, trên đường về nhà vào một buổi chiều tháng Mười một. Có bốn bộ da chó sói trải trên mặt đất trong nhà tôi. Chúng đã cũ lắm rồi, nhưng đó là những bộ da chó sói. Có cặp sừng con nai mà tôi đã hạ được trong vùng núi Sierra, có một con chim ưng được nhồi rơm do một tay thợ chuyên môn ở Avial, với đôi cánh dang rộng và đôi mắt màu vàng, giống hệt đôi mắt của một con chim ưng còn sống. Đó là một vật trông rất đẹp mắt và tôi khoái nhìn tất cả những thứ đó.
- Đúng vậy.
- Tại cửa nhà thờ ở làng tôi người ta đóng dính, ở phía trên, một cái chân của con gấu mà tôi đã hạ vào mùa xuân. Tôi thấy nó trên một ngọn đồi đang dùng chân lật một thanh cây trong tuyết.
- Bao lâu rồi?
- Sáu năm rồi. Và mỗi lần trông thấy cái chân kia giống như một bàn tay người, nhưng với những cái vuốt dài, khô queo bị đóng xuyên qua lòng bàn chân dính vào cánh cửa nhà thờ, điều đó làm tôi khoái trá.
- Đồng chí hãnh diện với nó?
- Hãnh diện được nhớ lại cuộc gặp gỡ với con gấu trong núi vào đầu xuân năm đó. Nhưng hãnh diện được giết một người vốn là một người như ta thì không có gì tốt hết.
- Người ta không thể đóng dính bày tay của hắn nơi cửa nhà thờ.
- Không. Người ta hẳn không dã man thế đâu, tuy vậy bàn tay một người, nó giống cái chân một con gấu.
- Như ngực một người giống ngực một con gấu. Bóc da con gấu đi, có nhiều điểm tương đồng nơi các bắp thịt.
- Đúng vậy. Dân du mục tin rằng gấu là anh em với loài người.
- Dân da đỏ ở Mỹ châu cũng vậy, và khi họ giết một con gấu, họ tạ lỗi bên cạnh nó và xin nó tha thứ. Họ đặt cái sọ của nó trong một gốc cây và xin lỗi nó trước khi bỏ lại ở đó.
- Dân du mục tin rằng loài gấu là anh em với loài người vì nó cũng có một thân thể sau lớp da của nó, bởi nó biết uống bia, nghe nhạc và thích nhảy múa.
- Dân da đỏ có phải là dân du mục không?
- Không. Nhưng họ có cùng một ý tưởng về loài gấu giống như dân du mục.
- Tôi hiểu rồi, dân du mục cũng tin gấu là anh em, bởi nó ăn cắp để nghịch ngợm.
- Bộ đồng chí có máu du mục à?
- Không, nhưng tôi đã gặp họ rất nhiều, dân du mục, và chắc chắn là nhiều hơn từ khi chiến tranh bộc phát. Bọn họ rất nhiều ở trong núi. Đối với họ, giết người ngoài bộ lạc của mình không phải là một cái tội. Họ không thú thật điều dó, nhưng đúng như vậy.
- Như dân Maures.
- Đúng vậy. Nhưng dân du mục họ có nhiều luật lệ mà họ không nói ra. Trong các trận đánh nhau nhiều người du mục trở lại xấu xa như thời xưa.
- Họ không biết tại sao ta chiến đấu.
- Không - Anselmo nói - Họ chỉ biết rằng có chiến tranh và người ta có thể giết người như thời xưa mà tin chắc không bị trừng phạt.
- Đồng chí đã giết người? - Robert Jordan hỏi trong tình thân mật gây nên từ trong bóng tối và từ một ngày sống chung với nhau.

- Đã. Nhiều lần nhưng không vui thích, với tôi, đó là một tội lỗi khi phải giết một người. Ngay cả bọn phát xít mà người ta phải giết. Với tôi có một sự khác biệt lớn lao giữa một con gấu và con người, và tôi không tin ở sự khoác lác của dân du mục về tình huynh đệ với loài vật, không, tôi chống mọi hình thức giết người.
- Tuy nhiên đồng chí đã giết người.
- Đúng vậy, và tôi còn giết nữa. Nhưng nếu sau đó mà tôi còn sống, tôi sẽ cố sống không làm hại ai, sống bằng cách nào để được tha thứ.
- Bởi ai?
- Biết đâu! Bởi ta không còn Thượng đế ở đây nữa, cũng không còn con của Ngài, cũng không còn Thánh Linh, ai tha thứ đây? Tôi không biết.
- Đồng chí không tin Thượng đế nữa?
- Không. Chắc chăn là không, nếu có Thượng đế, Ngài không đời nào cho phép những điều tôi đã thấy tận mắt tôi. Thượng đế, người ta có thể để Ngài cho bọn họ.
- Họ vẫn đòi hỏi điều đó.
- Chắc chắn là tôi cần Ngài vì tôi là một kẻ được nuôi dưỡng trong tôn giáo. Nhưng bây giờ một người phải trách nhiệm đối với chính mình.
- Vậy thì chính đồng chí sẽ tha thứ cho đồng chí về tội đã giết người.
- Có lẽ. Bởi vì đồng chí đã nói điều đó một cách rõ ràng như vậy, tôi tin rằng điều đó phải đúng. Nhưng mà có hay không có Thượng đế, tôi tin rằng giết người là một cái tội. Tôi sẽ giết khi cần phải giết nhưng tôi không thuộc dòng giống của Pablo.
- Muốn thắng một trận giặc, người ta phải giết kẻ địch. Bao giờ cũng thế.
- Dĩ nhiên! Trong chiến tranh, người ta phải chém giết nhưng tôi lại có những ý nghĩ rất kỳ lạ. - Anselmo nói. Bây giờ thì hai người đang đi gần sát bên nhau trong bóng tối. Anselmo nói rất khẽ, thỉnh thoảng quay đầu lại trong khi vẫn leo dốc - Tôi sẽ không giết ngay cả một ông giám mục. Tôi sẽ không giết một nghiệp chủ. Tôi sẽ buộc họ làm việc mỗi ngày, như người ta vẫn làm việc ngoài đồng và như người ta vẫn làm củi trên núi, và cứ như vậy trong suốt quãng đời còn lại của họ. Họ phải ngủ nơi ta ngủ, họ phải ăn như ta ăn. Nhưng cần nhất là họ phải làm việc. Điều đó có thể giúp họ học hỏi.
- Và họ sẽ sống sót để rồi họ sề áp bức đồng chí.
- Giết họ, điều này không dạy bảo họ được gì. Người ta không thể khử trừ tất cả bọn họ được, người ta càng giết họ thì họ lại càng sinh sôi nảy nở thêm, và luôn luôn họ trở nên căm hận hơn. Tù ngục, cái đó cũng không ích lợi gì. Tù ngục chỉ làm nên từ lòng thù hận. Phải để cho tất cả những kẻ địch của ta tự giáo hóa lấy họ.
- Vậy mà đồng chí đã giết người.
- Đúng. Nhiều lần rồi, và tôi lại sẽ tiếp tục. Nhưng không hứng thú gì và tôi xem đó là một tội lỗi.
- Và tên lính canh? Đồng chí nghĩ rằng phải giết nó, và đồng chí đã dùa.
- Đúng, tôi đã đùa và tôi sẽ giết tên lính canh. Đúng, chắc chắn như thế, và với tấm lòng trong sạch khi nghĩ tới công việc của ta. Nhưng không hứng thú.
- Ta nhường lại cho những ai thích việc đó. Có tám và năm người. Vậy là có mười ba người cho ai thích việc đó.
- Có nhiều người thích việc đó - Anselmo nói trong bóng tối - Ta có nhiều người loại đó. Nhiều hơn là những kẻ đắc dụng trong một trận đánh.
- Đồng chí đã từng tham dự một trận đánh?
- Không. Bọn tôi đã đánh nhau tại Ségovie từ những ngày đầu của phong trào và bọn tôi đã bỏ trốn. Tôi cùng chạy với những người khác. Thực ra bọn tôi không hiểu điều bọn tôi làm cùng với cách thế bọn tôi phải làm. Kế đó, tôi chỉ có độc một khẩu súng lục với những túi đạn chì nhỏ li ti con những tên guardias civiles [1] thì có những khẩu súng Mauser. Tôi không thể bắn chúng với những thỏi chì nhỏ li ti cách xa một trăm thước và bọn chúng ở cách xa ba trăm thước chúng giết bọn tôi như giết thỏ, đúng theo ý muốn. Chúng bắn nhiều và bắn giỏi, và bọn này chẳng khác gì những con trừu trước mặt chúng - Lão im tiếng, đoạn hỏi - Đồng chí nghĩ liệu có một trận đánh nhau trên cầu không?
- Có thể.
- Tôi chưa bao giờ thấy đánh nhau mà không tìm đường lẩn trốn - Anselmo nói - Tôi không biết mình sẽ xoay sở ra làm sao. Tôi già rồi và tôi tự hỏi...
- Tôi chịu trách nhiệm với đồng chí.
- Con đồng chí, đồng chí đã trải qua nhiều trận đánh rồi chớ?
- Nhiều.
- Và đồng chí nghĩ gì về vụ cây cầu này?
- Trước hết tôi nghĩ về cây cầu. Đó là nghề của tôi. Phá hủy cây cầu không phải chuyện khó. Vậy thì chúng ta sẽ đi tới quyết định về phần còn lại... về những khái niệm. Tất cả sẽ được ghi chép rõ ràng.
- Có rất ít người biết đọc chữ.
- Mọi người sẽ đọc trên chữ viết những gì họ phải làm và do đó sẽ nắm vững vấn đề, nhưng đồng thời những giải thích cũng sẽ được nêu ra rõ ràng rành mạch.
- Tôi sẽ làm điều gì người ta bảo tôi làm - Anselmo nói - Nhưng khi tôi nhớ cuộc chạm súng ở Ségovie, nếu xảy ra một trận đụng độ hay có quá nhiều tiếng súng, tôi muốn được biết rõ ràng điều mình phải làm trong mọi trường hợp. Bởi vì nó như vậy đó, có thể tôi không tìm cách lẩn trốn, như ở Ségovie. Ở Ségovie tôi luôn có ý co giò lủi chạy.
- Ta sẽ ở chung bên nhau - Robert Jordan nói với lão - Tôi luôn luôn cho đồng chí biết mình phải làm gì.
- Vậy thì không có gì rắc rối. Tôi có thể làm bất cứ điều gì người ta dặn dò tôi làm.
- Về phần ta, cây cầu và trận đánh, nếu trận đánh xảy ra. - Robert Jordan nói và khi thốt lên những lời này trong bóng tối, chàng cảm thấy mình hơi cải lương một chút, nhưng nói bằng tiếng Tây Ban Nha thì nghe nó kêu lắm.
- Vụ này sẽ có tầm lợi ích vô cùng. - Anselmo nói và khi nghe lão ta nói thế một cách đứng đắn, rõ ràng và không ngập ngừng, không có cái vẻ kín đáo giả vờ của người Anh, cũng không có cái vẻ khiêu khích của người La tinh, Robert Jordan nghĩ rằng chàng may mắn lớn được có lão già này bên chàng, giờ đây khi chàng đã trông thấy cây cầu, đã nghiên cứu và giản lược vấn đề hẳn sẽ bao gồm trong việc đột kích đồn canh và hoàn tất việc hủy diệt cây cầu một cách bình thường, chàng bắt đầu bất mãn với những mệnh lệnh của Golz và với tính cách tất yếu của chúng. Chàng bất mãn với chúng vì những hậu quả mà chúng có thể gây ra cho chàng và cho lão già kia. Đó là những mệnh lệnh quá đỗi xấu xa cho những kẻ thừa hành.
Chàng nhủ thầm, đó không phải là một cách suy nghĩ, suy nghĩ về những gì có thể xảy ra cho mày và cho kẻ khác, điều này vô nghĩa, cả mày lẫn lão già kia không là gì cả. Chúng mày chỉ là những công cụ của bổn phận. Có những mệnh lệnh tất yếu mà chúng mày vô phương cưỡng chống lại có một cây cầu, và chiếc cầu này có thể là điểm từ đó, tương lai loài người có thể rẽ sang một đường hướng khác.
Cũng như bất luận một biến cố nào của cuộc chiến này. Mày chỉ có một điều phải làm và một điều thôi. Một điều thôi? Mẹ khỉ! Chàng nghĩ thầm. Nếu chỉ có một điều thôi thì mọi sự sẽ diễn ra như trên những bàn ru lết. Thôi đủ rồi thằng oắt con. Đừng bận tâm với nó, chàng nhủ thầm với chính mình. Hãy nghĩ tới điều khác đi.
Sau đó, chàng nghĩ tới Maria với làn da, mái tóc, và đôi mắt đều cùng một màu nâu ngon rực rỡ. Tóc cô gái trông có phần sẫm hơn cả, nhưng hẳn chúng sẽ trở nên rực rỡ hơn, trong khi làn da nàng sẽ đen sạm hơn, làn da dịu dàng với lớp vàng nhạt phủ lên trên một màu hung tối tăm hơn. Dịu dàng, hẳn nàng phải dịu dàng với tất cả tấm thân của nàng. Nàng cử động một cách thẹn thùng, như một cái gì nơi nàng hay ở chung quanh làm cho nàng áy náy khó chịu, một cái gì không chỉ hiện hữu trong trí nàng. Nàng đỏ mặt khi chàng nhìn vào nàng, nàng ngồi, hai bàn tay chập trên gối, chiếc sơ-mi hở cổ, đôi gò vú phồng lên dưới lớp vải. Robert Jordan thấy cổ họng mình nghèn nghẹn và thấy mình đi đứng khó khăn. Anselmo và chàng cùng im lặng mãi cho đến lúc lão già lên tiếng: “Giờ đây mình bước xuống giữa những tảng đá này để về trại đi”.
Và khi họ bước xuống giữa những tảng đá trong bóng tôi âm u thì có một giọng nói quát về phía họ.
- Đứng lại, ai đó?
Họ nghe rõ hai tiếng súng lách cách mở chốt và lên đạn.
- Đồng chí đây mà. - Anselmo nói.
- Đồng chí nào?
- Đồng chí của Pablo. Đồng chí không nhận ra bọn này à?
- Nhận ra chớ. Nhưng đây là lịnh, các người có mật hiệu không?
- Không! Bọn này từ phía dưới lên đây mà.
- Tôi biết - Người đàn ông trong bóng tối nói - Các người từ phía cầu tới. Tôi biết hết rồi. Không phải tôi ra lịnh. Các người phải biết nửa câu sau của mật hiệu.
- Nửa trước là gì? - Robert Jordan hỏi.
- Tôi quên rồi - Người đàn ông trong tối nói, và hắn cười - Đồng chí hãy lo ba cái cốt mìn quỷ yêu của đồng chí.
- Đó là cái người ta gọi là kỷ luật du kích đó - Anselmo nói - Đồng chí có vô đạn súng đồng chí không?
- Nó có đạn rồi. Nhưng tôi ghì nó lại bằng ngón cái và ngón trỏ.
- Đồng chí sẽ làm như thế nào vào một ngày gần đây với một khẩu Mauser không có mấu lẫn khóa an toàn và nó vẫn khạc đạn?
- Nhưng mà đây chính là một khẩu Mauser. Tôi chỉ cần ghìm chặt ngón cái và ngón trỏ là hơn cả. Tôi luôn ghì nó như vậy.
- Súng đồng chí nhắm vào đâu đó? - Anselmo hỏi trong bóng tối.
- Vào đồng chí. Luôn luôn như thế từ phút đầu. Và khi đồng chí vô tới trại, đồng chí nhớ nói ai đó tới đây thay tôi bởi vì tôi đói run và tôi đã quên mật hiệu mất mẹ nó rồi.
- Đồng chí tên gì? - Robert Jordan hỏi.
- Angustin. Tôi tên Angustin và tôi buồn đến chết rũ trong cái xó này.
- Chúng tôi sẽ làm theo lời đồng chí dặn. - Robert Jordan nói và chàng nghĩ rằng tiếng aburrimiento của Tây Ban Nha có nghĩa là buồn chán, là một tiếng mà không một người nông dân nào dùng trong một thứ tiếng nào khác. Đó lại là một trong những tiếng thông thường nhất nơi cửa miệng một người Tây Ban Nha thuộc bất cứ một giai cấp nào.
- Đồng chí đợi tôi với. - Angustin nói và tiến lại gần, đặt bàn tay lên vai Robert Jordan. Đoạn, hắn bật quẹt máy, giơ lên cao và thổi ở đầu ngọn bấc để nhìn khuôn mặt người thanh niên dưới ánh sáng ngọn lửa.
- Đồng chí trông giống người kia lắm - Hắn nói - Không hẳn vậy, tuy nhiên đồng chí nghe đây, nghe đây... - Hắn hạ thấp chiếc quẹt máy và đứng dậy, cầm lấy khẩu súng - Đồng chí nói cho tôi biết chuyện người ta kể có đúng không? Chuyện cây cầu ấy?
- Cây cầu làm sao?
- Người ta sắp giựt tung cây cầu chó đẻ và phải chuồn khỏi vùng này phải không?
- Tôi không biết.
- À! Đồng chí không biết à? Đồ hạng bét! Vậy thì cốt mìn của ai vậy?
- Của tôi.
- Và đồng chí không biết nó để làm gì à? Đừng có nói phét với tôi.
- Tôi biết nó để làm gì chớ, đồng chí cũng sẽ biết khi đến lúc - Robert Jordan nói - Nhưng mà bây giờ thì chúng tôi đi vô trại đây.
- Vậy thì đồng chí đi vào cái trại chết bầm và đồng chí liệu mà xoay xở lấy một mình. Nhưng đồng chí có muốn tôi nói với đồng chí một điều gì có thể giúp ích cho đồng chí không?
- Muốn, nếu không phải là điều chó đẻ. - Robert Jordan nói, chàng dùng cái tiếng thô lỗ vẫn thường trở lại trong những câu chuyện của Angustin. Người đàn ông này nói chuyện với một giọng điệu bẩn thỉu, tanh hôi, bằng cách ghép sự tục tằn vào mỗi danh từ thay cho tiếng hình dung từ, đoạn dùng nó như một tiếng động từ đến nỗi Robert Jordan tự hỏi không biết hắn có thể xướng lên một câu nói thích hợp được hay không. Angustin cười trong bóng tối khi nghe tiếng đó. Hắn nói:
- Đó là một cách nói của tôi. Có thể nó vô duyên. Biết đâu! Mỗi người một cách mà. Đồng chí nghe tôi nói này. Cây cầu nó không ăn nhậu gì tới tôi. Cây câu hay cái gì khác. Lại nữa, tôi chán chết trong vùng núi này. Nếu phải chuồn thì cứ chuồn chớ. Những hòn núi này không nghĩa lý gì với tôi hết. Nên đi phứt cho rồi. Nhưng tôi muốn nói với đồng chí một điều, đồng chí hãy giữ kỹ những cốt mìn của đồng chí.
- Cám ơn - Robert Jordan nói - Giữ kỹ đối với đồng chí à?
- Không. Với những người trang bị ít hơn tôi kìa.
- Rồi sao?
- Đồng chí biết tiếng Tây Ban Nha mà - Angustin nói, lần này một cách đứng đắn - Đồng chí hãy coi chừng những cốt mìn chó đẻ của đồng chí.
- Cám ơn.
- Không. Đừng cám ơn mất công. Hãy coi chừng vật liệu của đồng chí.
- Có cái gì xảy ra cho nó à?
- Không, hoặc tôi sẽ không mất thì giờ để nói với đồng chí điều đó.
- Vẫn cám ơn đồng chí. Bây giờ chúng tôi đi vào trại đây.
- Được rồi. Và bảo họ phái ra đây một người nào biết mật hiệu nhé!
- Sẽ gặp đồng chí trong trại chớ?
- Đúng đấy, ông bạn... hẹn chốc nữa.
- Thôi mình đi. - Robert Jordan nói với Anselmo. Họ bước dọc theo một đồng cỏ phủ một màn sương xám. Cỏ mềm dưới chân họ qua thảm lá thông, và sương thấm vào dép họ. Trước mặt họ, trong đám mây, Robert Jordan trông thấy một vùng ánh sáng tỏa ra nơi cửa vào hang.
Anselmo nói:
- Angustin là một người rất khá. Hắn ăn nói rất thô lỗ và luôn khoác lác, nhưng đó là một người rất đàng hoàng.
- Đồng chí biết rõ hắn hả?
- Biết. Từ lâu. Tôi rất tin nơi hắn.
- Và nơi điều hắn nói nữa à?
- Đúng vậy. Tên Pablo kia thì chả có danh giá gì. Đồng chí có thể biết rõ điều đó.
- Và mình phải làm gì đây?
- Luôn luôn phải canh chừng.
- Ai?
- Đồng chí. Tôi. Người đàn bà. Và Angustin, bởi vì hắn biết rõ sự nguy hiểm.
- Đồng chí nghĩ rằng ở đây sự việc sẽ xảy ra tệ hại đến như vậy không?
- Không - Anselmo nói - Sự việc xấu đi thật nhanh. Nhưng mình phải tới đây. Đây là đất của Pablo và của El Sordo. Trong vùng của họ, mình phải thỏa thuận với họ khi mình không thể hành động riêng rẽ được.
- Và El Sordo thì sao?
- Tốt. Tên kia xấu bao nhiêu thì hắn tốt bấy nhiêu.
- Đồng chí tin quả thật hắn đáng nghi ngờ à?
- Suốt buổi xế tôi đã nghĩ tới điều đó và giờ đây khi mình đã nghe được những gì mình đã nghe, tôi tin rằng phải. Đúng như vậy.
- Tốt hơn ta có nên bỏ đi, viện cớ phải lo vụ một cây cầu khác và xin người ở các nhóm khác không?
- Không. Đây là vùng của hắn. Đồng chí không thể cựa quậy mà hắn không biết. Nhưng mình phải cựa quậy với rất nhiều dè dặt. 
Chú thích:   
[1] Dân vệ.
Chương 4
Họ đổ bước về cửa hang. Có ánh sáng lọt qua bên rìa một chiếc mền căng trước cửa ra vào. Hai cái ba lô nằm bên gốc cây, dưới một tấm bạt. Robert Jordan quỳ gối xuống, vỗ nhẹ vào lớp vải ướt át và cứng đờ.
Trong bóng tối, chàng luồn tay dưới tấm bạt, lục trong chiếc túi bên ngoài của một cái ba lô, lấy ra cái bình bọc da và cho vào túi quần đùi. Mở cái khóa móc chạy qua những cái lỗ trên miệng ba lô và tháo những sợi dây nhỏ ra, chàng sờ soạng phía bên trong và dùng bàn tay kiểm soát lại đồ vật. Ở dưới đáy của một chiếc ba lô, chàng nhận ra những khối bọc trong những cái túi nhỏ, những cái túi nhỏ cuốn tròn trong túi ngủ. Sau đó, khi đã cột xong những sợi dây nhỏ bên trong và cài lại khóa móc của cái bọc thứ nhất, chàng luồn bàn tay vào trong cái bọc còn lại và chạm phải đường viền cứng cáp của chiếc hộp cây đựng kíp nổ và chiếc hộp xì gà đựng những thỏi cốt mìn. Mỗi thỏi nhỏ được quấn tròn nhiều lượt trong hai sợi dây của nó. Robert Jordan đã cẩn thận bao lại tất cả như ngày còn nhỏ chàng đã bao mớ trứng chim rừng. Bộ phận chính của khẩu tiểu liên, được tháo rời khỏi nòng súng, và cuốn tròn trong chiếc áo da, hai bánh đạn và năm gắp đạn lắp trong một cái túi bên trong ba lô, những cuộn dây đồng nhỏ và một cuộn dây lớn biệt lập trong một cái túi khác, tất cả vẫn nằm ở chỗ cũ, trong cái túi nhỏ, chàng nhận ra một cái kìm và hai cái dùi cây dùng để chọc thủng nơi đầu những thỏi mìn. Sau hết, từ túi trong cùng, chàng lấy ra một hộp thuốc lá Nga trong số những hộp mà chàng lấy ở Tổng Hành Dinh của Golz. Ấn chặt phía trong bọc xong, chàng cài móc, khóa nắp và trải lại tấm bạt trên hai cái ba lô. Anselmo đã bước vào hang. Robert Jordan đứng dậy để bước theo lão, sau đó chàng đổi ý, đỡ tấm bạt trên hai cái ba lô, xách chúng lên và rán sức mang chúng về phía cửa hang. Chàng đặt một trong hai cái ba lô nặng xuống và vẹt tấm man cửa cúi xuống, mỗi tay xách một cái đai da của chiếc ba lô và bước vào trong hang.
Bên trong, bầu không khí oi bức và đục lờ. Một cái bàn kê dọc theo vách với một cây đèn sáp dựng đứng trong một cái chai. Pablo, ba người đàn ông lạ mặt và tên du mục Rafael đang ngồi nơi bàn, ngọn đèn sáp hắt những cái bóng lên vách phía sau mọi người, Anselmo đứng phía bên phải của chiếc bàn. Vợ Pablo đang nghiêng xuống ngọn lửa than đang cháy trong lò. Quỳ gối cạnh bà ta là Maria đang quậy thức gì đó trong cái nồi sắt. Nàng cầm lên cái muỗng cây và nhìn Robert Jordan đang đứng trên ngưỡng cửa. Dưới ánh sáng ngọn lửa mà người đàn bà đang nhóm lên với một cái ống thổi, chàng trông thấy khuôn mặt cô gái, hai cánh tay của nàng và những giọt nước từ cái muỗng chảy xuống nồi sắt.
Pablo hỏi:
- Đồng chí mang cái gì đó?
- Đồ đạc của tôi. - Robert Jordan nói. Và chàng đặt hai ba lô xuống bên cửa hang ở chỗ đối diện cạnh bàn.
- Không để nó bên ngoài được à? - Pablo nói.
- Trong bóng tối, một người nào đó có thể dẫm lên nó. - Robert Jordan nói và chàng tiến lại bàn, đặt hộp thuốc lá trên đó.
- Tôi không thích có cốt mìn trong hang. - Pablo nói.
- Nó ở xa lửa mà, các đồng chí hút thuốc? - Chàng dùng móng ngón tay cái lướt dọc theo chiếc nắp hộp bọc bằng giấy, trên có hình một thiết giáp hạm lớn tô màu, và chàng đẩy hộp thuốc về phía Pablo. Anselmo mang đến cho chàng một cái ghế đấu bọc da thú, và chàng ngồi vào bàn.
Pablo nhìn chàng như sắp sửa nói với chàng điều gì nữa, đoạn thò tay lấy thuốc lá.
Robert Jordan chuyền hộp thuốc sang những người khác. Chàng không nhìn vào họ nữa. Nhưng chàng để ý một người nhận thuốc hút và hai người kia thì không. Tất cả sự chú ý của chàng tập trung vào Pablo.
Chàng nói với Rafael:
- Sao, khỏe chớ đồng chí du mục?
- Khỏe. - Tên du mục nói. Robert Jordan cảm thấy mọi người đang nói về chàng khi chàng bước vào đây. Ngay cả tên du mục cũng có vẻ ngượng nghịu.
Chàng hỏi tên du mục:
- Bà ta sắp sửa cho phép đồng chí ăn nữa chớ?
- Ừ, tại sao không? - Tên du mục nói. Họ không còn những câu nói đùa giỡn lúc ban xế.
Vợ Pablo không nói gì và tiếp tục thổi lửa.
Robert Jordan nói:
- Một đồng chí tên Angustin bảo chán chết trên kia kìa.
- Không chết chóc gì đâu - Pablo nói - Hắn chỉ khổ chút thôi.
- Có rượu không? - Robert Jordan hỏi bông lông, vừa nghiêng người về phía trước, hai tay đặt trên bàn.
- Không còn bao nhiêu. - Pablo nói với một vẻ mặt gắt gỏng, Robert Jordan quyết định tốt hơn hết là nhìn vào ba người kia để thử dò xét hắn.
- Thôi thì tôi xin một tách nước. Cô bé, - Chàng nói với cô gái - cô cho tôi một tách nước.
Cô gái nhìn người đàn bà đang im thin thít và ra vẻ như không nghe gì, đoạn nàng đến bên cái thùng đựng nước, nhúng một cái tách vào đó. Nàng mang tách nước đến đặt trên bàn, trước mặt chàng, Robert Jordan mỉm cười với nàng. Đồng thời chàng thót ruột và hơi xoay người về phía trái trên chiếc ghế đẩu để cho khẩu súng lục tuột dọc theo thắt lưng đúng chỗ như ý muốn của chàng. Chàng hạ thấp bàn tay xuống phía túi quần. Pablo nhìn chàng. Chàng biết rằng tất cả mọi người đang nhìn chàng, nhưng chàng chỉ nhìn vào Pablo. Bàn tay chàng rút từ trong túi áo ra một cái chai bọc bằng da. Chàng mở nút đoạn nâng tách uống cạn phân nửa và rót thật nhẹ vào tách một ít chất lỏng đựng trong chai.
- Cái này quá mạnh đối với đồng chí - Chàng nói với cô gái và chàng lại mỉm cười với nàng - Chỉ còn một ít, nếu không tôi mời đồng chí. - Chàng nói với Pablo.
- Tôi không thích rượu hồi. - Pablo nói.
Mùi vị hăng nồng tỏa khắp bàn và chàng nhận ra trong thức uống này cái chất duy nhất quen thuộc đối với chàng.
- Càng tốt, - Robert Jordan nói - bởi vì nó con rất ít.
- Cái gì đó? - Tên du mục hỏi.
- Một thứ rượu thuốc, - Robert Jordan nói - đồng chí muốn thử không?
- Chữa cái gì vậy?
- Cái gì cũng được cả - Robert Jordan nói - Nó chữa trị đủ thứ. Đồng chí đau gì nó trị cũng khỏi.
- Cho tôi thử coi. - Tên du mục nói.
Robert Jordan đẩy chiếc tách về phía hắn. Chất lỏng trộn với nước đã thành một màu ngà ngà, và chàng đinh ninh tên du mục sẽ không uống quá một ngụm. Chàng chỉ còn lại một ít và một tách nước này thay thế cho những tờ nhật báo xuất bản vào buổi chiều, cho tất cả những chiều nào ngồi trong quán cà phê, cho tất cả những cây dẻ hẳn đang trổ bông vào tháng này, cho tất cả những con ngựa chậm chạp bước đi trên các đại lộ bên ngoài, cho những tiệm sách, những gian hàng, những viện bảo tàng, công viên Montsouris, vận động trường Buffalo và những gò Chaumont, Đại Công Ty Bảo Hiểm và cù lao Đô thị, khách sạn Foyot cũ kỹ và nỗi khoan khoái được nằm đọc sách báo và nghỉ ngơi vào buổi chiều, tất cả những điều chàng đã yêu thích và đã quên lãng, nhưng vẫn trở lại với chàng mỗi khi chàng thưởng thức cái thứ rượu đục lờ, gay gắt làm tê lưỡi, làm nóng đầu, thiêu đốt bao tử và làm lung lay ý tưởng kia.
Tên du mục nhăn mặt, trả lại cái tách cho chàng. Nó có mùi rượu hồi, nhưng lại đắng hơn mật, hắn nói.
- Tôi thà chịu bệnh hơn là uống thuốc này.
- Đây là rượu ngải - Robert Jordan bảo hắn - Đây là rượu ngải, thứ thiệt đó. Người ta nói nó phá óc não nhưng tôi không tin. Nó thay đổi thần trí. Phải rót nước vào rất nhẹ, từng giọt một. Nhưng tôi thì tôi lại rót rượu ngải vào nước.
- Đồng chí nói gì? - Pablo nói bằng giọng khó chịu vì cảm thấy mình bị chế nhạo.
- Để tôi nói về thứ thuốc này cho đồng chí ở đây nghe - Robert Jordan bảo, hắn vừa mỉm cười - Tôi mua nó ở Madrid. Đây là chai sau cùng và tôi uống đã ba tuần rồi đó.
Chàng hớp một ngụm lớn và nghe đầu lưõi tê mê dịu dàng. Chàng nhìn Pablo và lại mỉm cười:
- Công việc ra sao rồi? - Chàng hỏi. Pablo không đáp. Robert Jordan chăm chú nhìn vào ba người đàn ông khác đang ngồi quanh bàn. Một người có khuôn mặt to tướng, bẹt và nâu sẫm chẳng khác gì một thỏi ram bông ở tiệm Serrano, với một chiếc mũi tẹt và gãy, một điếu thuốc Nga dài và mỏng nằm thẳng góc với khuôn mặt đó, khiến cho nó càng bẹt hơn nữa. Người đàn ông đó có mái tóc muối tiêu hớt ngắn, và những chồm râu rậm cũng màu muối tiêu. Hắn mặc chiếc áo bờ-lu quen thuộc, gài nút ở cổ. Hắn ta nhìn xuống mặt bàn trong khi Robert Jordan nhìn hắn nhưng trông hắn vẫn bình thản và không chút chớp mắt. Hai người kia thì trông rõ là anh em với nhau. Họ giống nhau như tạc, cả hai đều nhỏ người, vạm vỡ, tóc đen mọc thấp xuống trán, hai mắt âm u, da ngăm nâu. Một người mang một vết thẹo nơi trán ở phía trên con mắt trái. Khi chàng nhìn họ thì bắt gặp đôi mắt họ thản nhiên nhìn trả lại. Một người tuổi độ hai mươi sáu hay hai mươi tám, còn người kia thì lớn hơn khoảng đôi ba tuổi gì đó.
- Đồng chí nhìn gì đó? - Một trong hai anh em lên tiếng, người có thẹo.
- Nhìn đồng chí. - Robert Jordan nói.
- Bộ lạ lắm sao?
- Không. - Robert Jordan nói - Một điếu thuốc nghe?
- Tại sao không? - Hắn nói. Khi nãy hắn chưa rút điếu nào - Thuốc này trông giống thuốc của anh chàng kia lắm. Anh chàng trong lần đánh xe lửa ấy mà.
- Đồng chí có mặt trong trận xe lửa à?
- Mọi người đều ở đó - Hắn ôn tồn nói - Mọi người, trừ lão già.
- Bây giờ cần phải làm một công việc như vậy - Pablo nói - Thêm một chuyến xe lửa nữa.
- Ta có thể làm một vụ như vậy - Robert Jordan nói - Sau vụ cây cầu.
Chàng trông thấy vợ Pablo đang quay mặt khỏi bếp lửa và lắng nghe. Khi chàng đề cập tới hai tiếng cây cầu thì mọi người đều giữ im lặng.
- Sau vụ cây cầu. - Chàng lặp lại thật chậm, và chàng uống một ngụm rượu ngải. Tốt hơn nên nói toạc ra, chàng nghĩ. Dù sao điều đó phải đến.
- Về vụ cây cầu, tôi không đồng ý - Pablo nói vừa nhìn xuống mặt bàn - Tôi và những người của tôi.
Robert Jordan không đáp. Chàng nhìn Anselmo vừa nâng tách.
- Vậy thì lão đồng chí, hai ta sẽ làm công việc đó. - Chàng nói và mỉm miệng cười.
- Không cần tới tên nhát gan này. - Anselmo nói.
- Đồng chí nói sao chớ? - Pablo nói với lão già.
- Không mắc mớ gì tới đồng chí. Tôi không nói tới chí. - Anselmo bảo hắn.
Robert Jordan nhìn bên kia mặt bàn, nơi vợ Pablo đang đứng cạnh bếp lửa. Bà ta vẫn chưa nói lời nào, cũng không biểu lộ một dấu hiệu gì. Nhưng bây giờ thì bà ta nói gì với cô gái và chàng không nghe được; cô gái đang quỳ bên ngọn lửa bếp, chợt đứng dậy, đi theo vách, gạt chiếc mền treo trước cửa hang bước ra ngoài. Robert Jordan nghĩ, bây giờ thì đã đến lúc rồi đây. Chắc là xong rồi đây. Tôi không thích câu chuyên tiếp diễn như thế, nhưng dường như nó không tránh khỏi.
- Vậy thì chúng tôi sẽ làm vụ cây cầu mà không có sự giúp đỡ của đồng chí. - Robert Jordan bảo Pablo.
- Không - Pablo nói, và Robert Jordan thấy khuôn mặt hắn ướt đẫm mồ hôi - Đồng chí sẽ không phá cây cầu ở đây.
- Không à?
- Đồng chí không được phá cầu. - Pablo nói một cách hằn học.
- Còn đồng chí thì sao? - Robert Jordan nói với vợ Pablo đang đúng cạnh ngọn lửa, thân thể đồ sộ và lặng lẽ. Bà ta quay sang bọn họ và nói: “Tôi đồng ý vụ cây cầu”. Dưới ánh sáng của ngọn lửa hắt lên, khuôn mặt bà ta có vẻ nóng rục và âm u, bây giờ thì trông nó đẹp ra, dưới ngọn lửa.
- Bà nói gì chớ? - Pablo hỏi bà ta. Robert Jordan trông thấy cái nhìn của hắn lạc lõng và mồ hôi trán hắn vã ra khi hắn quay đầu lại.
- Tôi đồng ý vụ cây cầu và tôi chống lại ông - Vợ Pablo nói với hắn - Chỉ có vậy.
- Tôi cũng vậy, tôi đồng ý vụ cây cầu. - Người đàn ông có khuôn mặt bẹt và mũi gãy nói, vừa dụi đầu điếu thuốc lên bàn.
- Với tôi thì tôi cóc cần tới cây cầu - Một trong hai anh em nói - Tôi chỉ biết ủng hộ vợ Pablo mà thôi.
- Tôi cũng vậy. - Người còn lại trong hai anh em nói.
- Tôi cũng vậy nữa. - Tên du mục nói.
Robert Jordan quan sát Pablo và trong khi quan sát hắn, chàng hạ bàn tay phải mỗi lúc một thấp hơn, trong tư thế sẵn sàng nếu thấy cần thiết, chàng hy vọng một phần câu chuyện sẽ xảy ra như thế. Có thể chàng cảm thấy việc đó dễ dàng và đơn giản hơn cả, đồng thời chàng cũng không muốn làm hư công việc đang tiếp diễn tốt dẹp, chàng thừa biết cả một gia đình, cả một phe nhóm, cả một đảng có thể tức thì quay ra chống lại kẻ lạ mặt trong một cuộc tranh luận, tuy nhiên, chàng cũng nghĩ rằng việc tự tay chàng thực hiện được sẽ là điều giản dị nhất, tốt đẹp nhất và đúng theo phẫu thuật thì đó là điều lành mạnh nhất, chàng nghĩ thế, bây giờ khi cơ sự xảy ra; chàng cũng thấy vợ Pablo đứng đó, và chàng nhìn bà ta đỏ mặt lên một cách tự phụ và lành mạnh trước những biểu lộ về sự đồng tình kia.
- Tôi thì tôi ủng hộ nền Cộng Hòa - Vợ Pablo nói một cách hoan hỉ - Và nền Cộng Hoa chính là vụ cây cầu. Sau đó mình sẽ có đủ thì giờ thực hiện những kế hoạch khác.
- À, lại bà. - Pablo nói giọng gay gắt. Bà với cái đầu bò mộng và cái bụng đĩ điếm của bà! Bà tưởng còn có một cái “sau đó” tiếp theo vụ cây cầu à? Bà có một ý nghĩ nào về chuyện xảy ra không?
- Chuyện phải đến, - Vợ Pablo nói - chuyện phải đến sẽ đến.
- Và bà không hề hấn gì khi bị xua đuổi như một con vật sau cái vụ vô tích sự này à? Và bà không nguy hiểm với tính mạng nữa à?
- Không - Vợ Pablo nói - Ông đừng có rung cây nhát khỉ, đồ hèn nhát.
- Hèn nhát - Pablo cay đắng nói - Bà cho là hèn nhát, một người biết nghĩ đến chiến thuật, biết thấy trước những hậu quả của một hành động điên khùng à? Nhận ra cái gì điên khùng không phải là hèn nhát.
- Và nhận ra cái gì hèn nhát cũng không phải là điên khùng. - Anselmo nói, lão không kềm giữ nổi ý muốn ném ra câu nói đó.
- Đồng chí muốn chết à? - Pablo hỏi lão bằng một giọng nghiêm nghị, và Robert Jordan hiểu ngay rằng đó không chỉ là một cách nói mà thôi.
- Không.
- Vậy thì hãy giữ mồm giữ miệng đó. Đồng chí nói quá nhiều điều mà đồng chí không hiểu cái mẹ gì cả. Đồng chí không thấy chuyện hệ trọng à? - Hắn tiếp lời với một giọng điệu thương hại - Có phải chỉ có mình tôi thấy được tính cách nghiêm trọng của vấn đề thôi sao?
Robert Jordan nghĩ, tôi tin điều đó, Pablo, đồng chí thân mến, tôi tin đồng chí thấy điều đó, tôi cũng thấy nữa, và người đàn bà cũng đã mường tượng ra điều đó trên bàn tay tôi, nhưng bà ta vẫn chưa nhìn ra. Chưa, bà chưa trông thấy.
- Có phải tôi chỉ là một thủ lãnh bù nhìn hay không? - Pablo hỏi - Tôi biết tôi nói gì. Còn các người, các người không biết. Lão già kia chỉ nói nhảm. Đó là một lão già, một người đưa tin, một người hướng đạo cho những kẻ lạ mặt. Còn kẻ lạ kia tới đây để làm một công việc chỉ có lợi cho những người lạ. Vì quyền lợi của hắn, bọn ta phải bị hy sinh. Tôi, tôi nhất quyết đứng về phía quyền lợi và sự an toàn của tất cả mọi người.
- An toàn! - Vợ Pablo nói - An toàn là điều không có. Hiện có lắm kẻ tìm kiếm sự an toàn ở đây mà cả lũ phải chịu nguy hiểm. Ông còn tìm kiếm sự an toàn tức là ông mất hết rồi đó.
Bây giờ thì bà ta đang đứng bên chiếc bàn với chiếc muỗng trong tay.
- Sự an toàn, có chớ - Pablo nói - Trong gian nguy người ta được an toàn nếu biết những sự rủi ro nào đang chờ đợi. Một người đấu bò biết mình làm gì. Nếu hắn không liều mạng, ấy là để được an toàn.
- Cho đến khi hắn bị đâm lòi ruột - Người đàn bà nói với một giọng cay đắng - Đã bao nhiêu lần tôi nghe những anh đấu bò nói như vậy trước khi bị banh ruột. Đã bao nhiêu lần tôi nghe Finito nói rằng tất cả điều đó chỉ là vấn đề thông hiểu và con bò mộng không hề húc banh ruột ai cả, rằng đúng ra chính người ta tự banh ruột mình trên sừng con bò mộng. Luôn luôn trong sự ngạo mạn của họ, họ nói như thế trước khi banh ruột. Sau đó người ta đi viếng thăm họ trong nhà thương. - Bây giờ thì bà nhại lại một cuộc thăm viếng bên đầu giương của người bị thương. “Chào ông bạn, chào”, bà nói sang sảng, đoạn: “Puenas, Compadre [1]. Thế nào, Pilar?”, bà bắt chước giọng nói yếu ớt của người đấu bò đang nằm. “Cơ sự xảy ra thế nào? Finito, Chico? Tai nạn bẩn thỉu đó xảy ra thế nào?”, bà nói bằng một giọng rõ ràng của chính bà, đoạn nhỏ lại: “Không có gì, mụ ạ, không có gì. Lẽ ra nó không xảy ra như vậy. Tôi đã giết nó chết, mụ biết chớ. Không ai có thể giết nó kỹ hơn. Tôi đã giết nó một cách chính xác, y như nó phải như thế. Nó chết hẳn, nó đứng run rẩy và sẵn sàng ngã ập xuống, lúc đó tôi tách ra khỏi nó với rất nhiều bay bướm và kiểu cách và rồi từ đàng sau, nó đã húc sừng vào giữa hai mông đít của tôi và luồn qua gan”. Bà bật cười, bỏ lửng việc nhại giọng và nói - Ông và sự an toàn của ông! Tôi đã sống qua chín năm trời với ba trong số những người đấu bò được trả lương tệ nhất thế giới, tôi biết thế nào là sự sợ hãi và sự an toàn. Còn ông! Những ảo tưởng tôi đã nuôi nấng về ông, và những gì chúng đã trở thành: qua một năm giặc giã, ông trở nên lười biếng, một thằng say rượu, một kẻ hèn nhát.
- Bà không có quyền nói vậy - Pablo nói - Càng không hơn nữa trước nhiều người và trước mặt kẻ lạ mặt.
- Tôi muốn nói thì tôi cứ nói. - Vợ Pablo tiếp tục - Ông không nghe à? Ông tưởng ông chỉ huy ở đây à?
- Ừ - Pablo nói - Chính tôi chỉ huy đó.
- Đùa - Người đàn bà nói - Chính tôi chỉ huy! Ông không nghe à? Ở đây không ai chỉ huy ngoài tôi ra. Ông có thể ở lại nếu ông muốn, ông cứ ăn nhậu, nhưng không được say sưa và làm việc với tụi này nếu ông muốn. Nhưng ở đây tôi chỉ huy.
- Tôi phải giết cả hai, bà và người lạ mặt. - Pablo nói với một dáng vẻ hắc ám.
- Thử coi xem sao. - Người đàn bà nói.
- Cho tôi một ly nước. - Robert Jordan nói, đôi mắt không rời người đàn ông có cái đầu nặng nề, gắt gỏng, và người đàn bà tự phụ, tự tin, đang cầm chiếc muỗng to như một cây gậy chỉ huy.
- Maria! - Vợ của Pablo gọi. Cô gái bước vào - Nước cho đồng chí kìa.
Robert Jordan thò tay nắm lấy chai rượu trong túi đồng thời tháo nhẹ khẩu súng lục ra khỏi bao, và kéo nó lại gần thêm trong tầm tay. Chàng rót một lần thứ nhì rượu ngải vào tách, đón lấy nước của cô gái mang tới và bắt đầu rót vào rượu ngải từng giọt một. Cô gái vẫn đứng bên cạnh và nhìn chàng.
- Ra ngoài đi. - Vợ của Pablo bảo nàng với một cái khoác bằng chiếc muỗng.
- Bên ngoài trời lạnh. - Cô gái nói, má nàng kề bên má Robert Jordan, và nàng nhìn vào cái tách nơi chất lỏng làm thành một đám mây.
- Có thể - Vợ của Pablo nói - Nhưng ở đây lại quá nóng. - Đoạn bà ta nói tiếp, dịu giọng - Không lâu đâu...
Cô gái gật đầu, bước ra ngoài. Robert Jordan nhủ thầm, tôi không nghĩ hắn chịu đựng nhiều hơn nữa. Một bàn tay chàng cầm tách và một bàn tay bây giờ đặt hẳn trên khẩu súng lục. Chàng đã tháo khóa an toàn và chàng nghe một cảm giác yên tâm và thân mật khi chạm vào báng súng kẻ ô vuông đã mòn cũ, gần như nhẵn bóng. Pablo không nhìn chàng nữa mà chỉ nhìn vợ hắn. Bà ta nói tiếp: “Nghe tôi này, tên say rượu, ông biết ai chỉ huy ở đây không?”.
- Chính tôi.
- Không. Nghe đây. Hãy cạy bỏ cái chất ráy trong hai cái lỗ tai lông lá của ông đi. Hãy nghe kỹ đây. Tôi, chính tôi chỉ huy.
Pablo nhìn bà và người ta không thể nào đọc được tư tưởng trên khuôn mặt hắn. Hắn nhìn bà thật lặng lẽ, đoạn đảo mắt về phía cạnh bàn kia, phía Robert Jordan. Hắn ngắm chàng một lúc lâu, dáng điệu trầm tư, đoạn lại nhìn vợ hắn.
- Tốt lắm. Chính bà chỉ huy. - Hắn nói - Và nếu bà muốn, hắn cũng có thể chỉ huy nữa. Và các người, cả hai, có thể cút đi. - Hắn nhìn thẳng vào mặt vợ hắn, không chút nhượng bộ trước sự áp đảo của bà ta và không tỏ ra bối rối lắm trước những điều bà ta đã nói với hắn - Có thể tôi lười biếng và tôi uống rượu nhiều. Và bà có thể xem tôi như một tên hèn nhát, tuy rằng bà đã lầm, nhưng tôi không ngu - Hắn ngừng lời giây lát - Bà cứ chỉ huy cho bằng thích. Và bây giờ, nếu bà vừa là một người đàn bà vừa là một lãnh tụ, thì hãy cho chúng tôi ăn đi.
- Maria! - Vợ Pablo lên tiếng gọi, cô gái vén màn ló đầu vào - Bây giờ hãy tới đây và dọn súp ra đi.
Cô gái bước vào, đến gần chiếc bàn thấp cạnh lò sưởi, lấy ra những cái chén tráng men, dọn ra chiếc bàn lớn.
- Có đủ rượu cho tất cả mọi người - Vợ Pablo nói với Robert Jordan - Đừng để ý tới lời lẽ tên say rượu này. Khi vụ này xong, ta sẽ có vụ khác. Đồng chí hãy nốc cạn cái chất nước kỳ dị mà đồng chí đang uống đi và dùng một tách rượu.
Robert Jordan nốc một hơi phần rượu ngải còn lại và nghe nó tỏa trong chàng một hơi ấm dịu dàng, tinh nguyên, mơ hồ ẩm ướt, tạo nên những phản ứng hóa học, và chàng chìa tách ra để đón nhận rượu. Cô gái rót đầy tách và mỉm cười.
- Vậy thì đồng chí đã trông thấy cây cầu rồi chớ? - Tên du mục hỏi.
Những người khác không ai hé môi từ khi câu chuyện dịu lại, giờ đây đang nghiêng người lắng nghe.
- Rồi - Robert Jordan nói - Dễ ợt, đồng chí muốn tôi chỉ cho đồng chí thấy không?
- Muốn, ông bạn à. Tôi muốn biết lắm.
Robert Jordan móc ra cuốn sổ tay trong túi áo và chỉ cho hắn xem những phác họa.
- Hãy nhìn cái này xem, - Người đàn ông có khuôn mặt bẹt nói - người ta gọi hắn là Primitivo. Trông giống hệt cây cầu.
Robert Jordan dùng đầu bút chì, chỉ cách phá sập cầu và giải thích chỗ đặt những thỏi cốt mìn.
- Giản dị thật! - Người có thẹo tên là Andrés nói - Và bằng cách nào đồng chí làm nổ tung chúng đây?
Robert Jordan cũng giải thích điều đó. Chàng cảm thấy cánh tay cô gái đặt lên vai chàng trong lúc nàng mải mê nhìn vào sổ tay. Vợ Pablo cũng nhìn, chỉ có Pablo là không lưu tâm gì tới, hắn ngồi tách xa khỏi tách rượu mà hắn mới múc đầy trong cái cốc lớn do Maria chiết ra từ cái vò rượu treo bên trái cửa ra vào.
- Công việc này đồng chí đã làm nhiều rồi à? - Cô gái dịu dàng hỏi Robert Jordan.
- Ừ.
- Và tôi xem có được không?
- Đồng chí sẽ thấy - Pablo nói từ đầu bàn - Sẽ thấy mà, tôi chắc chắn như vậy.
- Thôi im đi - Vợ Pablo nói, và chợt nhớ điều đã thấy được trong bàn tay chiều hôm nay, bà nghe nổi lên một cơn giận man rợ và mù quáng - Im đi, đồ hèn nhát. Im đi, đồ xui xẻo. Im đi, đồ sát nhân.
- Được rồi - Pablo nói - Tôi im. Bây giờ chính bà chỉ huy và bà có thể tiếp tục nhìn ngắm những hình ảnh đẹp. Nhưng bà nhớ cho là tôi không ngu đâu!
Vợ Pablo cảm thấy cơn thịnh nộ của bà ta biến thành sự buồn rầu và thành một tình cảm chán nản xóa tan mọi hy vọng, mọi hứa hẹn. Từ ngày còn trẻ bà ta đã biết đến tình cảm này và trọn đời, bà ta biết lý do của nó. Tình cảm đó chợt xâm chiếm lấy bà ta, nhưng bà ta đánh đuổi nó đi, bà ta không muốn tổn hại tới bà ta, hay tới nền Cộng Hòa. Bà ta nói:
- Bây giờ hãy ăn đi. Hãy múc đồ ăn trong nồi ra đầy các chén đi, Maria. 
Chú thích:
[1] Chào bạn.
Chương 5
Robert Jordan vén tấm màn treo nơi cửa hang, bước ra ngoài. Chàng hít thật mạnh bầu không khí lạnh lẽo của đêm. Sương mù đã tan. Những vì sao hiện rõ. Trời không có gió và bây giờ thì chàng đã ra khỏi cái bầu không khí nóng nực trong hang, nồng nặc khói thuốc và than đun, xông đầy mùi gạo và thịt nấu chín, mùi rượu và hắc ín từ cái vò lớn bằng bộ da thú treo gần cửa, treo nơi cổ, bốn chân dang rộng, rượu trút ra theo một miệng vòi gắn nơi một cái chân và nhỏ giọt xuống đất, làm bụi bậm cũng xông mùi. Bây giờ thì chàng đã ra khỏi cái mùi hương của những loài cỏ, mà chàng không biết tên, treo lủng lẳng thành bó trên trần với những củ tỏi kết thành tràng, xa hẳn mùi vị cay nồng của rượu chát và tỏi, mùi mồ hôi của ngựa và người ráo khô trong những bộ đồ của những người ngồi quanh bàn (mùi chua chua và ngà ngà của mồ hôi người, mùi dịu dịu và ngai ngái của bọt mồ hôi ngựa đã khô ráo và chải sạch). Robert Jordan thở sâu vào lồng ngực hơi đêm mát dịu của miền núi, nghe thoảng mùi thông và sương đọng trên nội cỏ trải dài bên dòng suối.
Sương trở nên nặng hột từ lúc gió xuống thấp, nhưng khi Robert Jordan đứng hòa hoãn nơi đó, chàng nói thầm rằng sáng hôm sau trời sẽ đóng băng.
Chàng đứng đó, thở sâu vào lồng ngục, nghe ngóng đêm thâu, trước hết chàng nghe những tiếng súng xa xôi, kế đó chàng nghe tiếng một con chim cú kêu trong những cành cây ở phía dưới, nơi có khoảng đất dùng làm chỗ tập trung ngựa. Từ bên trong hang chàng nghe tiếng tên du mục bắt đầu cất giọng ca và tiếng đàn ghi-ta nghe nhức tai của hắn.
- Tôi thừa hướng gia tài của cha tôi. Giọng ca gồ gẫm một cách giả tạo, cất cao, nghe khàn khàn và lơ lửng ở đó. Đoạn tiếp tục:
Đó là mặt trăng và mặt trời
Và cho dù tôi lang thang khắp thế giới
Nó không hề tan biến.
Tiếng ghi-ta rung lên trong những tiếng vỗ tay chào mừng người ca sĩ. “Hay lắm”, một giọng nói kêu lên. “Hát bài Catalan nghe đi, chàng du mục”.
- Không.
- Hát chớ, hát chớ, bài Catalan đi!
- Được rồi. - Tên du mục nói và hắn cất tiếng hát giọng ai oán.
Mũi tôi tẹt
Mặt tôi đen
Nhưng tôi vẫn là một thằng người.
- Hoan hô! - Tiếng một người nói - Tiếp tục đi, chàng du mục! - Giọng tên du mục cất lên trong một âm điệu ai oán, bi thảm:
Cảm tạ trời, tôi là dân da đen
Và không phải dân Catalan.
- Ồn quá, - Tiếng Pablo nói - im đi, tên du mục.
Chàng nghe giọng nói đàn bà.
- Ừ. Ồn quá. Đồng chí có thể tập hợp bọn guardia civil lại với cái giọng không đẹp đẽ gì đó.
- Còn một khúc nữa. - Tên du mục nói, và điệu đàn ghi-ta lại bắt đầu.
- Đồng chí có thể giữ nó lại. - Người đàn bà nói với hắn. Cây ghi-ta im bặt.
- Đêm nay, tôi không được tốt giọng lắm. Vậy thì chả mất mát gì. - Tên du mục nói và vén màn bước ra ngoài bóng tối.
Robert Jordan nhìn hắn đi về phía một gốc cây, đoạn bước đến gần chàng.
Tên du mục dịu dàng nói:
- Roberto.
- Tôi đây, Rafael. - Chàng nói. Qua giọng nói của hắn, chàng đoán biết hắn bị rượu hành. Chính hắn đã uống hai ngụm rượu ngải của chàng và cả rượu trong vò, nhưng đầu óc hắn vẫn minh mẫn và lạnh lùng sau bị căng thẳng vì cuộc cãi vã với Pablo.
- Sao đồng chí không giết Pablo? - Tên du mục hỏi thật dịu dàng.
- Sao lại giết hắn?
- Sớm hay muộn gì đồng chí cũng phải giết hắn. Tại sao không chọn lúc này?
- Đồng chí nói đứng đắn chớ?
- Đồng chí tưởng tất cả mọi người mong đợi gì? Đồng chí biết tại sao người đàn bà đuổi cô gái đi? Đồng chí tưởng người ta có thể tiếp tục mãi như vậy sau những gì người ta đã nói hay sao?
- Chính các đồng chí phải giết hắn mới phải.
- Qué va - Tên du mục lặng lẽ nói - Đó chính là việc của đồng chí mà, ba hay bốn lượt gì đó, người, ta tưởng đồng chí sắp giết hắn. Pablo không có ai làm bạn với hắn cả.
- Tôi đã có ý đó - Robert Jordan nói - Nhưng tôi bỏ rơi.
- Chắc chắn là mọi người thấy ý định đó. Mọi người thấy những cuộc sửa soạn của đồng chí. Tại sao đồng chí không thực hiện nó?
- Tôi nghĩ chuyện đó có thể gây khổ tâm cho các đồng chí hay cho người đàn bà.
- Qué va! Người đàn bà mong đợi chuyện đó xảy ra chớ, như một con điếm mong đợi một con chim lạ. Đồng chí trẻ hơn người ta tưởng, yếu quá.
- Có thể.
- Hãy giết hắn ngay bây giờ đi. - Tên du mục nhấn mạnh.
- Đó là hành động sát nhân.
- Càng hay - Tên du mục thấp giọng - Càng ít nguy hiểm. Đi đi. Giết hắn ngay bây giờ.
- Tôi không thể làm như vậy. Tôi chán việc đó và đó không phải là cách hành động cho chính nghĩa.
- Vậy thì khiêu khích hắn đi. Nhưng phải giết hắn. Không cách nào khác.
Trong khi hắn nói, một con chim cú lặng lẽ chuyền qua các cành cây bay xuống trước mặt họ, đoạn bay lên cao, đôi cánh đập nhanh nhưng không gây một tiếng động nào trong sự rình rập, săn đuổi của nó.
- Đồng chí hãy nhìn nó kìa - Tên du mục nói trong bóng tối - Phải như thế đó mới được.
- Và ban ngày thì mù loa trên cây với những con quạ chung quanh chớ gì! - Robert Jordan nói.
- Cái đó thì hiếm lắm - Tên du mục nói - Hoặc là do sự tình cờ. Giết hắn đi, hắn tiếp tục. Trước khi công việc trở nên khó khăn.
- Bây giờ thì cơ hội đã qua.
- Khiêu khích hắn đi - Tên du mục nói - Hoặc lợi dụng sự yên tĩnh.
Tấm mền che cửa hang vẹt ra và ánh sáng tỏa rộng. Một người đang tiến về phía họ.
- Một đêm trời đẹp - Người đàn ông nói bằng một giọng nặng nề khó nghe - Thời tiết sắp sửa quang đãng rồi đây.
Người đó chính là Pablo.
Hắn hút một điếu thuốc Nga. Hắn rít một hơi thuốc và khuôn mặt tròn trĩnh của hắn hiện ra. Dưới ánh sao, người ta phân biệt được tấm thân dình dàng với đôi cánh tay dài của hắn.
- Đừng chú ý tới người đàn bà. - Pablo nói với Robert Jordan. Trong bóng tối, điếu thuốc của hắn lại ánh lên và chiếu sáng trong bàn tay hắn hạ thấp xuống - Thỉnh thoảng bà ta khó tính. Đó là một người bà gan dạ. Rất trung thành với nền Cộng Hòa. - Đầu điếu thuốc đang cháy khẽ rung lên. Hẳn hắn đang ngậm nó ở một bên miệng, Robert Jordan nghĩ - Chúng ta không nên tạo khó khăn. Chúng ta nên đồng ý với nhau. Đừng để ý tới những cuộc cãi vã, - Hắn nói - đồng chí được chào mừng ở đây. Bây giờ, xin miễn lỗi cho tôi - Hắn nói - Tôi phải đi xem họ cột ngựa ra thế nào đây.
Hắn bước đi trong đám cây hướng về phía mép đồng cỏ và họ nghe tiếng một con ngựa đang hí phía dưới.
- Đồng chí thấy chưa? - Tên du mục nói - Bây giờ thì đồng chí thấy chưa? Như vậy là một cơ hội đã đi qua.
Robert Jordan không trả lời.
- Tôi đi xuống dưới kia. - Tên du mục nói, hắn có vẻ không hài lòng.
- Làm gì?
- Qué va, làm gì. Ít ra là ngăn hắn chuồn.
- Hắn có thể đi ngựa từ phía dưới không?
- Không.
- Vậy thì đồng chí hãy tới nơi đồng chí có thể ngăn chận được hắn.
- Angustin đang ở đó.
- Vậy thì hãy nói với Augustin. Cho hắn biết chuyện gì đã xảy ra.
- Angustin sẽ giết hắn bằng thích.
- Càng hay - Robert Jordan nói - Đồng chí hãy lên trên kia và kể lại cho hắn mọi việc đã xảy ra.
- Rồi sao nữa?
- Còn tôi, tôi đi xem xét ở phía dưới, nơi đồng cỏ.
Được rồi. Chàng không thấy được khuôn mặt Rafael trong bóng tối nhưng chàng cảm thấy hắn mỉm cười.
- Bây giờ thì đồng chí nổi khùng rồi đó. - Rafael nói bằng một giọng tán đồng.
- Đồng chí đi gặp Angustin đi. - Robert Jordan bảo hắn.
Robert Jordan lần bước giữa những cây thông, từ cây này sang cây khác, tới mép bãi cỏ nơi ánh sáng của những vì sao làm tan loãng phần nào bóng đêm dày đặc. Chàng đảo mắt nhìn khắp bãi cỏ; trong khoảng cách giữa chàng và dòng suối, chàng thấy bóng đen của những con ngựa. Chàng đếm chúng. Có năm con. Robert Jordan ngồi dưới chân một cội thông, hai mắt hướng về phía đồng cỏ.
Chàng nghĩ, tôi mệt, có thể trí phán đoán của tôi không được sáng suốt lắm, nhưng sứ mạng của tôi chính là vụ cây cầu, và để hoàn tất sứ mạng này, tôi không nên liều mạng một cách vô ích. Đến bây giờ, tôi đã thử để yên cho hoàn cảnh đưa đẩy. Nếu quả thật như lời tên du mục đã nói, rằng bọn họ mong mỏi tôi loại trừ Pablo, hẳn tôi có bổn phận phải làm điều đó. Nhưng tôi không hề cảm nghiệm được điều đó: đối với một người lạ mặt, giết người tại nơi mà sau đó hắn còn cần sự hợp tác của mọi người, đó là một chiến thuật quá kém cỏi.
Người ta có thể chấp nhận điều đó đang lúc hành động, hoặc khi người ta tuân theo một kỷ luật vững chắc. Trong trường hợp hiện giờ, tôi cho rằng tôi đã lầm. Tuy nhiên nó quyến rũ, nó có vẻ đơn giản và nhanh chóng. Nhưng tôi lại không tin điều gì có thể nhanh chóng hay đơn giản như thế trong xứ này, và tôi tuyệt đối tin cậy nơi người đàn bà, người ta không thể biết được bà ta sẽ phản ứng ra sao, trước một hành động tàn bạo như thế. Trông thấy một kẻ nào chết trong một hoàn cảnh tương tự, điều này có thể là rất xấu xa, bẩn thỉu, ghê tởm. Người ta không thể dự liệu được phản ứng của người đàn bà đó. Không có bà ta thì cả tổ chức và kỷ luật cũng không có, và với bà ta, mọi việc có thể tiếp diễn rất tốt đẹp. Điều lý tưởng là bà ta giết hắn, hoặc tên du mục (nhưng hắn sẽ không làm việc đó), hoặc Angustin, tên gác. Anselmo sẽ làm công việc đó nếu tôi đòi hỏi, nhưng lão nói lão chống lại. Tôi tin lão phản đối việc đó và lão đã tín nhiệm tôi, lão tin nơi tôi như người đại diện cho điều lão tin tưởng. Chỉ có lão và người đàn bà là thật sự tin tưởng nơi nền Cộng Hòa, theo như tôi biết được nhưng hãy con quá sớm để biết rõ điều này.
Nhờ đôi mắt chàng đã quen nhìn trong đêm trời sao chàng trông thấy Pablo đang đứng bên cạnh một trong số những con ngựa của hắn. Con ngựa ngưng ăn cỏ, ngẩng đầu lên, đoạn hạ thấp đầu xuống một cách nôn nóng, Pablo đứng tựa người bên con ngựa, di động theo nó dọc sợi dây và vuốt ve lên cái bờm của nó. Con ngựa tỏ vẻ khó chịu với những cái vuốt ve này khi nói đang ăn cỏ. Robert Jordan không thể trông thấy Pablo đang làm gì, cũng không nghe hắn nói gì với con ngựa nhưng chàng biết hắn không rời nó cũng không thắng yên nó. Chàng đứng đó để quan sát, đồng thời cố nhìn rõ vấn đề hơn.
“Con ngựa to lớn, con ngựa giỏi giang và bé bỏng của ta”, Pablo nói với con vật trong bóng tối, hắn đang nói với con ngựa cao lớn. “Mi lớn, mi đẹp, với cái mặt trắng xinh xắn, với chiếc cổ dài cong cong như chiếc cầu cạn trong pueblo [1] ta - Hắn ngừng lời - Nhưng cong hơn và đẹp hơn nhiều”. Con ngựa đứng ăn cỏ, nghiêng đầu xuống một bên để bứt lấy những cọng cỏ, như bị quấy rầy bởi người đàn ông và lời lẽ của hắn. “Mi không phải là một mẹ đàn bà cũng không phải một thằng điên”. Pablo nói với con ngựa. “Con ngựa to lớn, đẹp đẽ, yêu quý của ta. Mi, mi không phải là một mụ đàn bà giống như một núi đá bốc lửa. Mi không là một đứa con gái trọc đầu với những cử chỉ của một con ngựa mới lọt khỏi lòng mẹ, mình mẩy còn ẩm ướt. Mi không chửi rủa, mi không gian dối, mi không nhìn ngắm mọi sự lệch lạc”.
Robert Jordan hẳn lấy làm thú vị khi nghe Pablo nói chuyện với con ngựa, nhưng chàng không nghe được lời hắn nói, bởi giờ đây chàng tin rằng Pablo không làm gì hơn là trông chừng các con ngựa của hắn, và sau khi đã quyết định rằng việc giết hắn không thích đáng gì, chàng đứng dậy và bước trở vào hang. Pablo còn đứng nói chuyện với con ngựa khá lâu. Con ngựa không hiểu được gì về những lời lẽ của chủ. Nó chỉ hiểu được vẻ mơn trớn dịu dàng trong giọng nói của hắn. Suốt ngày nó ở trong vuông đất và nó đói. Nó nhai cỏ một cách nôn nóng trong giới hạn của sại dây, và người đàn ông chỉ quấy rầy nó. Sau cùng Pablo cắm sâu cái cọc xuống và đứng bên con ngựa không nói năng gì nữa. Con ngựa tiếp tục nhai cỏ, hẳn nó yên trí rằng người đàn ông không quấy rầy nó nữa.
 
---------------------------------
[1] Làng.
Chương 6
Trong góc hang, Robert Jordan đang ngồi cạnh ngọn lửa trên một chiếc ghế đẩu bọc da thô, nghe người đàn bà nói. Bà ta đang rửa dĩa và cô gái lau chúng cho khô trước khi xếp dọn chúng, nàng quỳ xuống trước một chỗ lõm của vách hang dùng làm kệ.
- El Sordo không đến, lạ thật - Bà ta nói - Lẽ ra ông ta đến đây từ một giờ rồi mà.
- Chị gọi ông ta đến à?
- Không, ông ta đến đây mỗi buổi tối mà.
- Có thể ông ta bận công việc.
- Có thể - Bà ta nói - Nếu ông ta không đến, ngày mai ta phải đi gặp ông ta.
- Đúng rồi, có xa đây không?
- Không. Một cuộc đi dạo tốt. Tôi cần vận động.
- Em có thể đi tới đó không? - Maria hỏi - Em tới đó được mà chị Pilar.
- Được rồi, cô em gái xinh của chị - Người đàn bà nói, đoạn quay khuôn mặt nặng nề của bà lại - Nàng không đẹp à? - Bà hỏi Robert Jordan - Đồng chí thấy nàng ta thế nào? Hơi ốm hả?
- Tôi thấy nàng khá lắm. - Robert Jordan nói, Maria đong đầy tách rượu cho chàng.
- Đồng chí uống cái này đi. Đồng chí sẽ còn thấy tôi khá hơn nữa. Phải uống rượu nhiều mới thấy tôi đẹp thêm hơn nữa.
- Đó là một cách nói - Người đàn bà nói - Đồng chí khéo nói. Đồng chí thấy nàng có đặc điểm nào không?
- Thông minh. - Robert Jordan nói, vì không biết phải trả lời sao. Maria phá lên cười, và người đàn bà lắc đầu buồn bã - Đồng chí bắt đầu hay nhưng lại kết thúc dở làm sao, don [1] Roberto ạ!
- Đừng gọi tôi là don Roberto.
- Đùa mà. Ở đây người ta gọi ông Pablo để đùa. Cũng như người ta gọi senorita [2] Maria vậy.
- Tôi không đùa giỡn quá dễ dãi như vậy - Robert Jordan nói - Trong trận giặc này ta phải gọi nhau bằng “đồng chí” cho có vẻ đứng đắn. Trong sự đùa giỡn đã có một sự mục nát rồi.
- Đồng chí quá cuồng tín trong chính trị - Người đàn bà nói để trêu chọc chàng - Đồng chí không vui đùa bao giờ à?
- Có chớ. Tôi rất thích những trò đùa nhưng không phải trong cách gọi tên nhau. Nó như một màu cờ.
- Tôi thì tôi có thể đùa chơi trên một lá cờ. Bất luận lá cờ nào - Người đàn bà nói và cười - Với tôi, người ta có thể đùa chơi về mọi sự. Lá cờ cũ màu đỏ và vàng, người ta gọi nó là mủ và máu. Lá cờ nền Cộng Hòa có thêm màu tía, người ta gọi nó là máu, mủ và thuốc tím. Đó là một trò đùa vô hại.
- Hắn là người cộng sản - Maria nói - Đó là những gente rất đạo mạo.
- Đồng chí là cộng sản à?
- Không, tôi là người chống phát xít.
- Từ bao lâu rồi?
- Từ khi tôi hiểu phát xít là gì.
- Hiểu như vậy bao lâu rồi?
- Gần mười năm nay.
- Không lâu gì - Người đàn bà nói - Tôi thì theo chế độ Cộng Hòa hai mươi năm rồi.
- Cha tôi suốt đời theo chế độ Cộng Hòa - Maria nói - Chính vì vậy mà bọn họ đã bắn ông ấy.
- Cha tôi cũng suốt đời theo chế độ Cộng Hòa. Và ông tôi cũng vậy. - Robert Jordan nói.
- Ở nước nào?
- Hoa Kỳ.
- Người ta có giết họ không? - Người đàn bà hỏi.
- Qué va - Maria nói - Hoa Kỳ là xứ sở của những người Cộng Hòa. Ở đó người ta không giết đồng chí vì đồng chí là một người Cộng Hòa.
- Dầu sao có một người ông theo chế độ Cộng Hòa là một điều tốt - Người đàn bà nói - Nó chứng tỏ người ta thuộc dòng dõi tinh anh.
- Ông tôi có chân trong Ủy Ban Cộng Hòa toàn quốc - Robert Jordan nói. Điều chàng nói có vẻ hấp dẫn cả đối với Maria.
- Và ông cụ của đồng chí vẫn luôn phục vụ nền Cộng Hòa chớ? - Pilar hỏi.
- Không, ông ấy chết rồi.
- Tôi có thể hỏi ông ấy chết cách nào được không?
- Ông ấy tự tử.
- Để khỏi bị hành hạ à? - Người đàn bà hỏi.
- Đúng - Robert Jordan nói - Để khỏi bị hành hạ. - Maria nhìn chàng với những ngấn lệ trong mắt.
- Cha tôi không có được khí giới - Nàng nói - Ôi! Tôi rất hài lòng vì cha của đồng chí may mắn có khí giới trong tay.
- Ừ. Đó là một sự may mắn - Robert Jordan nói - Nếu ta nói chuyện khác được không?
- Vậy thì, đồng chí và tôi, chúng mình giống nhau. - Maria nói. Nàng đặt bàn tay lên cánh tay chàng và nhìn thẳng vào mặt chàng. Chàng nhìn khuôn mặt nâu dòn của nàng, và đôi mắt của nàng chưa bao giờ trông trẻ như tất cả những đường nét còn lại ở khuôn mặt nàng, nhưng giờ đây chúng chợt trở nên háo hức, tươi thắm và đầy nhiệt tình dưới cái nhìn của chàng.
- Trông hai người giống anh em với nhau lắm - Người đàn bà nói - Nhưng tôi cho rằng cũng may là các người không anh em với nhau.
- Bây giờ tôi hiểu ra cái cảm giác mà tôi đã có - Maria nói - Bây giờ thì sáng tỏ rồi.
- Qué va. - Robert Jordan nói và cúi xuống đặt tay lên đầu cô gái. Trọn ngày chàng đã mơ ước được thực hiện cử chỉ này và bây giờ chàng lại thấy cổ họng mình phồng lên. Nàng lay nhẹ đầu nàng dưới bàn tay chàng và mỉm cười với chàng.
Tóc nàng dày và mướt dưới những ngón tay của chàng. Rồi bàn tay chàng chạm tới cổ và buông xuống.
- Nữa đi - Nàng nói - Trọn một ngày tôi đã muốn được đồng chí làm như vậy.
- Thong thả. - Robert Jordan lí nhí nói bằng một giọng khó nghe rõ.
- Còn tôi? - Bà vợ Pablo nói bằng một giọng nói oang oang của bà - Tôi có bổn phận phải chứng kiến cảnh này à? Tôi không được bối rối à? Không được. Có Pablo ở đây cũng đỡ khổ phần nào.
Maria không còn để tâm tới bà ta cũng không để tâm tới mọi người đang đánh bạc nơi bàn dưới ánh sáng của ngọn nến.
- Đồng chí muốn uống một tách rượu nữa không, Roberto? - Nàng hỏi.
- Muốn, tại sao không? - Chàng nói.
- Em sắp sửa có được một tên say rượu như chị - Người đàn bà nói - Với các thứ nước kỳ dị mà hắn đã uống và với tất cả cái này. Nghe tôi nói này, Inglés [3].
- Không phải Inglés. Mà Mỹ.
- Nghe này, anh chàng Mỹ. Đồng chí có ý định ngủ đâu đây?
- Ở ngoài. Tôi có một cái túi ngủ.
- Tốt - Bà ta nói - Đêm trời sáng chớ hả?
- Trời sáng, và sẽ lạnh.
- Vậy thì hãy ra ngoài - Bà ta nói - Đồng chí hãy ngủ ở ngoài. Và đồ đạc của đồng chí có thể ở lại ngủ với tôi.
- Được rồi - Robert Jordan nói - Đồng chí để chúng tôi nói chuyện một chốc. - Chàng nói với cô gái vừa đặt bàn tay lên vai nàng.
- Chi vậy?
- Tôi muốn nói với Pilar.
- Tôi phải đi à?
- Ừ.
- Chuyện gì đó? - Vợ Pablo hỏi khi cô gái bước ra tới cửa và đứng ở đó dưới cái vò rượu lớn, nhìn bọn người đang đánh bạc.
- Tên du mục nói rằng đúng ra tôi phải... - Chàng bắt đầu nói, giọng ngập ngừng.
- Không. - Người đàn bà chận ngang - Hắn lầm đó.
- Tôi phải... - Robert dịu dàng nói nhưng một cách khó khăn.
- Lẽ ra đồng chí phải làm điều đó, tôi tin như vậy - Người đàn bà nói - Không, không cần thiết. Tôi đã quan sát đồng chí. Nhưng sự phán đoán của đồng chí đúng lắm.
- Nhưng mà nếu cần....
- Không - Người đàn bà nói - Tôi nói với đồng chí là điều đó không ích lợi gì. Đầu óc tên du mục bị hư hỏng...
- Nhưng một người nhu nhược có thể sẽ rất nguy hiểm.
- Không. Đồng chí không hiểu. Người đàn ông đó cũng không còn khả nàng để trở nên nguy hiểm nữa.
- Tôi không hiểu đồng chí muốn nói gì.
- Đồng chí còn trẻ lắm - Bà ta nói - Đồng chí sẽ hiểu. - Đoạn bà nói với cô gái - Đến đây, Maria. Chúng tôi hết nói chuyện rồi.
Cô gái trở lại. Robert Jordan đưa bàn tay vuốt lên tóc nàng. Nàng nũng nịu dưới bàn tay chàng như một con mèo bé bỏng.
Sau đó, chàng tưởng nàng sắp khóc. Nhưng hai khóe môi của nàng nhếch lên và nàng nhìn chàng mỉm cười.
- Tốt hơn đồng chí nên đi ngủ đi - Người đàn bà nói với Robert Jordan - Đồng chí đã đi đường xa.
- Xong rồi - Robert Jordan nói - Tôi đi thu xếp đồ đạc đây.
Chú thích:
[1] Ngài.
[2] Quý cô: cách gọi quý tộc.
[3] Người Anh.
Chương 7
Robert Jordan nằm dài trong túi ngủ, trên đất rừng. Chàng nằm khuất sau những tảng đá, cạnh cửa hang. Và trong khi ngủ, chàng xoay người nằm lăn trên khẩu súng lục với sợi dây da buộc vào một cổ tay của chàng. Chàng đã đặt khí giới sát bên cạnh chàng dưới tấm chăn khi chàng ngả lưng nằm xuống, vai, lưng và chân cẳng nặng nề; các bắp thịt mỏi đừ đến nỗi chàng có cảm giác đất cát mềm nhũn ra. Chỉ cần nằm sải dài trong cái túi lót lớp nỉ mỏng, chàng đã nghe một nỗi khoan khoái rã rời. Chàng bừng tỉnh giấc với cái cảm giác vừa ngủ qua một giấc dài, chàng tự hỏi mình đang ở đâu, chợt hiểu ra, đoạn rút khẩu súng lục từ cạnh sườn, và khoan khoái dỗ giấc ngủ trở lại với một bàn tay đặt trên mớ quần áo cuốn tròn cẩn thận quanh đôi giày vải của chàng để gối đầu. Và cánh tay kia vòng qua cái gối.
Sau đó chàng nghe một bàn tay đặt trên vai, chàng quay phắt người lại, nắm tay ghì chặt trên khẩu súng trong túi ngủ.
- À! Cô bé. - Chàng nói và buông khí giới, đưa hai cánh tay kéo nàng về phía chàng. Chàng nghe nàng run lên trong đôi cánh tay của chàng.
- Vào trong này đi - Chàng dịu dàng nói - Bên ngoài trời lạnh lắm.
- Không. Không nên.
- Vào đây - Chàng nói - Rồi bàn cãi sau mà.
Nàng run. Một bàn tay chàng nắm lấy cổ tay nàng và với bàn tay kia chàng nhẹ đỡ nàng lên. Nhưng nàng lại quay đầu đi.
- Vào đây, dê con. - Chàng nói và đặt một cái hôn vào gáy nàng.
- Em sợ lắm.
- Không. Đừng sợ. Đến đây với anh.
- Cách nào?
- Em lướt vào trong này. Còn rộng chỗ lắm. Em muốn tôi giúp em không?
- Không. - Nàng nói. Bây giờ nàng đã ở trong túi ngủ, chàng ghì nàng vào người chàng và tìm cách đặt môi chàng lên môi nàng. Nàng vùi mặt vào trong cuộn quần áo dùng làm gối đầu, nhưng nàng đã đặt hai cánh tay lên cổ chàng và ghì mạnh vào người nàng. Đoạn chàng nghe hai cánh tay nàng nới lỏng ra và nàng khẽ run lên.
- Không - Chàng vừa nói vừa cười - Đừng sợ. Đó là khẩu súng lục mà.
Chàng cầm khẩu súng đặt ra phía sau.
- Em xấu hổ quá. - Nàng vừa nói vừa quay mặt đi.
- Không. Không nên. Coi kìa! Nào!
- Không, đúng như vậy, không nên. Nhưng mà em xấu hổ và em sợ.
- Đừng, dê con. Anh xin em.
- Không nên. Nếu anh không yêu em thật tình.
- Anh yêu em.
- Em yêu anh. Ồ! Em yêu anh. Anh đặt tay lên đầu em nè. - Nàng nói, gương mặt vẫn gục vào gối. Chàng đặt bàn tay lên đầu nàng và vuốt ve. Mặt Maria chợt rời khỏi gối.
Họ ghì chặt lấy nhau, má họ kề sát nhau. Nàng khóc, chàng ôm chặt nàng vào lòng, bất động, chàng cảm thấy trọn cái chiều dài của tấm thân tươi trẻ. Chàng vuốt ve lên đầu nàng, khẽ hôn lên chất muối ướt đẫm của đôi mắt nàng và trong khi nàng khóc, đôi vú tròn với đầu vú cứng khẽ chạm vào người chàng qua lớp áo sơ-mi nàng mặc.
- Em không biết phải hôn làm sao - Nàng nói - Em không biết người ta làm thế nào để hôn nữa!
- Người ta không bó buộc phải hôn nhau mới được.
- Có chớ. Em phải hôn anh. Em phải làm mọi sự.
- Người ta không phải làm gì hết. Như vậy tốt lắm rồi. Nhưng mà em mặc quần áo nhiều quá.
- Phải làm sao bây giờ anh?
- Anh giúp em.
- Như vậy dễ chịu hơn chớ anh?
- Ừ. Dễ chịu hơn, em không thấy dễ chịu hơn à?
- Thấy. Em thấy dễ chịu hơn nhiều. Và em sẽ theo anh, như chị Pilar đã nói, phải không anh?
- Ừ.
- Nhưng không đi tới một trung tâm. Mà đi với anh phải không?
- Không. Tới một trung tâm.
- Không. Không. Không. Em đi với anh thôi, và em sẽ là vợ anh.
Cả hai nằm dài bên nhau trong túi ngủ và tất cả những gì che đậy trước đó đều đã vén mở. Những nơi từng in vẻ sần sùi của những lớp vải quần áo, tất cả giờ đây là sự dịu dàng, sự áp sát êm ái, chặt chịa, tròn trĩnh, và vẻ tươi mát dai dẳng, nồng nàn, mát dịu ở ngoài mặt và nóng bức ở phía trong, trong sự ghì siết của hai thân thể; sự dịu dàng đơn côi, tràn ngập, vây phủ, đầy khoái cảm, đầy tươi mát, đầy tình tứ, và sau đó nó trở thành nóng bỏng với một vẻ cô đơn hủy hoại, khốn khổ, xót xa đến nỗi Robert Jordan không chịu đựng được nữa và lên tiếng “Em đã yêu nhiều người rồi hả?”.
- Chưa bao giờ cả.
Bất chợt sau đó, nàng bất động trong đôi tay ôm ghì của chàng. “Nhưng người ta đã gây cho em lắm điều”.
- Ai?
- Nhiều người.
Bây giờ nàng nằm dài ra, bất động hoàn toàn, trông như một thân thể chết và nàng quay đầu đi.
- Bây giờ anh sẽ không yêu em nữa.
- Anh yêu em. - Chàng nói.
Nhưng một cái gì đã đến với chàng và nàng biết rõ điều đó.
- Không - Nàng nói. Giọng nàng không ngữ điệu - Anh sẽ không yêu em nữa. Nhưng có thể anh sẽ đưa em tới Trung Tâm và em sẽ tới Trung Tâm nhưng em sẽ không là vợ anh mà cũng không là gì cả.
- Anh yêu em, Maria.
- Không. Không đúng. - Nàng nói. Và sau cùng bằng một giọng thương tâm và đầy hy vọng - Nhưng mà em chưa từng hôn một người đàn ông nào.
- Vậy thì hôn anh bây giờ đi.
- Em muốn lắm - Nàng nói - Nhưng em không biết phải làm cách nào. Khi người ta làm nhục em, em đã vùng vẫy cho tới khi không còn trông thấy gì nữa. Em vùng vẫy cho tới khi.... cho tới khi... cho tới khi một tên trong bọn họ ngồi trên đầu em... và em đã cắn hắn... và rồi người ta bóp miệng em và người ta giữ chặt hai cánh tay em ra sau đầu... và những tên khác đã làm nhục em.
- Anh yêu em, Maria - Chàng nói - Và không ai làm gì được em cả. Em, người ta không thể chạm vào em được, không ai chạm vào em được, con dê con của anh.
- Anh tin như vậy à?
- Anh biết chắc như vậy.
- Và anh còn có thể yêu em nữa không? - Nàng nói, thân thể nàng nóng hổi ép sát vào người chàng.
- Càng nhiều hơn nữa.
- Em thử hôn anh thật khéo nghe!
- Hôn anh đi!
- Em không biết hôn.
- Hôn anh đơn giản thôi.
Nàng hôn chàng nơi má.
- Không.
- Người ta làm gì bằng mũi hở anh? Em luôn hỏi người ta làm gì bằng mũi.
- Nhìn đây, em quay đầu lại đi. - Và miệng họ gặp nhau. Nàng siết chặt lấy chàng, miệng nàng từ từ hé mở. Trong khi ôm cô gái vào lòng như thế, chàng chợt cảm thấy mình hạnh phúc hơn lúc nào cả, một thứ hạnh phúc ở bên trong, nhẹ nhàng, tình tứ, đầy hứng khởi, không vướng bận một ý tưởng hay một tình cảm uể oải nào, chàng không còn chút ưu tư nào và thấy lòng mình tràn đầy khoái cảm. Chàng nói: con dê con của anh, em yêu của anh, em dịu dàng của anh, người tình mến yêu của anh.
- Anh nói gì? - Nàng nói nhưng đang ở một nơi nào xa xôi lắm.
- Người tình của anh. - Chàng nói.
Họ nằm như vậy, chàng nghe tim nàng đập bên tim chàng và chàng dùng cạnh bàn chân mơn trớn lên đôi chân nàng thật dịu dàng.
- Em đi chân tới đây à?
- Dạ.
- Vậy thì em biết rằng em đến đây để ngủ với anh phải không?
- Dạ.
- Và em không sợ chớ?
- Sợ. Rất sợ. Càng sợ hơn khi em không biết cởi dép bằng cách nào.
- Và bây giờ mấy giờ rồi? Lo sabes [1]?
- Em không biết. Anh không có đồng hồ à?
- Có. Nhưng nó nằm sau lưng em kìa.
- Anh với tay lấy đi.
- Không.
- Vậy thì nhìn qua vai em.
Một giờ khuya. Mặt đồng hồ sáng lên trong bóng tối của túi ngủ.
- Râu cằm của anh cào vào vai em.
- Xin lỗi em. Anh không có đồ cạo râu.
- Em thích thế. Râu anh màu vàng chớ?
- Ừ.
- Và nó sẽ dài ra hả anh?
- Không, cho tới khi nổ cầu. Maria, nghe này. Em có....?
- Gì?
- Em có muốn không?
- Dạ. Muốn tất cả. Em van anh. Và nếu chúng ta cùng làm mọi sự với nhau thì có thể vũ trụ còn lại không hề có nữa.
- Em thấy vậy à?
- Không. Em nghĩ vậy, nhưng chính Pilar đã nói với em.
- Bà ta khôn ngoan quá.
- Còn nữa - Maria nói nhỏ - Chị bảo em nói với anh rằng em không có bịnh. Chị biết những chuyện đó và bảo em nói với anh như vậy.
- Bà ta bảo em nói với anh như vậy à?
- Dạ. Em đã nói chuyện với chị và em đã nói em yêu anh. Em yêu anh ngay khi em gặp anh hôm nay, em đã yêu anh, nhưng em chưa hề trông thấy anh trước đây, em đã nói chuyện với Pilar và chị bảo em hãy cho anh biết rằng em không có bịnh hoạn gì. Còn chuyện kia thì chị đã nói với em lâu rồi. Một khoảng thời gian sau vụ xe lửa lận.
- Bà ta bảo gì với em?
- Chị bảo rằng không điều gì hề hấn tới mình khi mình không chấp nhận nó và nếu em có yêu ai, thì điều này sẽ bôi bỏ hết mọi thứ, em đã muốn chết cho rồi, anh biết không?
- Điều bà ta nói với em rất đúng.
- Và giờ đây em hài lòng rằng mình chưa chết. Em hài lòng biết bao thấy mình chưa chết. Và anh có thể yêu em được không?
- Ừ. Lúc này anh yêu em.
- Và em có thể làm vợ anh không?
- Với công việc anh đang làm, anh không muốn lấy vợ. Nhưng em là vợ anh bây giờ đây.
- Nếu em làm vợ anh một lần thì em sẽ tiếp tục mãi như vậy. Em là vợ anh bây giờ đây hả anh?
- Đúng vậy, Maria. Đúng vậy, con dê con của anh.
Nàng siết chặt lấy chàng, nàng tìm kiếm và bắt gặp đôi môi của chàng, hai người hôn nhau.

Chàng cảm thấy nàng tươi thắm hẳn lên, nàng mới mẻ và trơn mịn, trẻ trung và kỳ diệu trong cái vẻ tươi thắm và nóng bỏng của nàng, và điều không thể tin được chính là sự hiện diện của Maria trong cái túi ngủ này vốn đã quen thuộc với chàng, không khác gì quần áo chàng đang mặc, giày dép chàng đang mang, bổn phận chàng thi hành, và sau cùng, nàng nói, giọng sợ sệt: “Bây giờ thì mình hãy làm ngay những gì phải làm để tất cả không còn nữa”.
- Em muốn không?
- Dạ muốn - Nàng nói gần như trong cơn hung tợn - Dạ muốn. Dạ muốn. Dạ muốn. 
Chú thích:
[1] Em biết không?
Chương 8
Đêm thoảng hơi lạnh. Robert Jordan nằm ngủ say sưa. Chàng thức giấc một lần và trong lúc vươn vai, chàng cảm thấy cô gái vẫn còn đó, nằm cuốn tròn ở dưới thấp hơn chàng trong túi ngủ, hơi thở nhẹ và đều. Rồi thì, trong bóng tối chàng thò đầu ra ngoài hơi lạnh, bầu trời cứng nạm những vì sao, bầu không khí lạnh lẽo xông đầy vào mũi chàng; chàng vùi trong hơi ấm của túi ngủ và hôn lên bờ vai dịu mềm của cô gái. Cô gái vẫn ngủ, chàng xoay người qua một bên, nằm dang ra, và - đầu chàng lại thò ra khỏi túi ngủ, trong hơi lạnh - chàng tiếp tục thức trong khoảnh khắc, hưởng thụ tất cả cái vẻ xa xỉ của cơn mệt, rồi niềm khoái cảm trơn nhẵn, thuộc phần xúc giác của đôi thân thể họ đang sáp lại bên nhau; đoạn chàng duỗi thẳng đôi chân đến khi đụng vào đáy túi ngủ và chàng lại chìm sâu tức thì trong giấc ngủ.
Chàng thức dậy vào sáng sớm, cô gái đã ra đi. Chàng nhận ra điều đó khi bừng mắt dậy, và khi giơ thẳng tay ra, chàng cảm thấy cái túi ngủ hãy còn nóng ở chỗ nàng nằm. Chàng nhìn vào cửa hang nơi có cái mềm treo rũ xuống, thấm đẫm sương đêm, và chàng thấy một làn khói xám, mỏng bay lên từ một kẽ hở của những tảng đá báo hiệu lửa bếp đã nhóm lên rồi.
Một người đàn ông bước ra từ rừng cây, một cái mền trùm lên đầu, giống như một cái poncho: đó chính là Pablo, hắn đang hút một điếu thuốc. Jordan nghĩ, hắn vừa dẫn ngựa vào khoảng đất căng dây.
Pablo đẩy cánh cửa và bước vào hang, mắt không nhìn về hướng Robert Jordan.
Robert Jordan dùng tay sờ lên lớp sương phủ trên lớp lụa mỏng, cũ, và lấm lem bọc ngoài tấm chăn chàng vẫn dùng từ năm năm nay, sau đó lại vùi đầu vào bên trong. Bueno, chàng nhủ thầm, đồng thời nghe cơn vuốt ve nhẹ nhàng của lớp nỉ lót trên đôi chân duỗi thẳng của chàng; chàng dang hai chân ra, đoạn khép chúng lại và xoay người về một bên bằng cách nào cho đầu chàng không nằm ở hướng mặt trời chiếu xuống. Que mas da, tôi dư sức ngủ nữa mà.
Chàng ngủ cho đến khi có tiếng động cơ của máy bay đánh thức chàng dậy.

Chàng nằm ngả người trên lưng, chàng trông thấy chúng, phi đoàn tuần thám của bọn phát xít gồm ba chiếc Fiat, nhỏ, sáng, bay vút qua vùng trời miền núi, hướng về phía mà Anselmo và chàng đã tới vào bữa trước. Ba chiếc đó biến mất, đoạn chín chiếc khác bay tới ở trên cao hơn nhiều, đội hình ba chiếc một.
Pablo và tên du mục đang đứng bên cửa hang, trong bóng tối, họ ngẩng mặt nhìn trời, trong khi Robert Jordan vẫn còn nằm bất động. Bầu trời bây giờ đầy tiếng gầm thét ầm ĩ nổi lên và ba chiếc phi cơ khác xuất hiện, lần này cỡ non ba trăm thước trên khu rừng. Ba chiếc này thuộc loại phóng pháo Heinkel 111, hai máy.
Trong bóng tối của các tảng đá, Robert Jordan biết rằng chúng không thấy chàng và nghĩ rằng dù chúng có trông thấy được chàng thì điều đó không có gì quan hệ. Chàng biết chúng có thể trông thấy những con ngựa trong vuông rào nếu chúng đang tìm kiếm một dấu hiệu nào đó trên những ngọn núi này. Nếu trông thấy, hẳn nhiên chúng sẽ cho là những con ngựa đó thuộc đội kỵ binh của chúng. Đoạn có một tiếng gầm thét khác mạnh hơn. Ba chiếc Heinkel 111 xuất hiện, vụt đến gần, xuống thấp hơn nữa, tiếng gầm lên cao dần tới độ điếc tai, đoạn hạ thấp xuống khi chúng qua khỏi khu rừng.
Robert Jordan mở ba lô quần áo dùng làm gối đầu và lấy ra chiếc áo sơ-mi. Chàng đang mặc áo thì nghe những chiếc phi cơ kế tiếp; chàng mặc quần, chàng vẫn nằm im trong túi ngủ, khi trên nền trời hiện ra ba chiếc phóng pháo mới loại Heinkel hai máy. Trước khi chúng khuất dạng sau đỉnh núi, chàng đã cài xong khẩu súng lục, cuốn tròn cái túi ngủ và đặt nó sát bên những tảng đá, và chàng đang ngồi tựa lưng vào đó, cột lại giày, trong khi tiếng gầm thét lại đến gần, trở nên ầm ĩ, điếc tai hơn bao giờ hết, và chín chiếc phóng pháo khác loại Heinkel cỡ nhẹ bay đến gần, từng đợt một, chẻ đôi bầu trời.
Robert Jordan đi mon men dọc theo những tảng đá đến bên cửa hang, nơi một người trong đôi anh em, Pablo, tên du mục, Anselmo, Angustin và người đàn bà đang đứng nhìn.
- Đã có nhiều phi cơ bay như vậy chưa? - Chàng hỏi.
- Không hề - Pablo nói - Đồng chí vào đi. Chúng trông thấy đồng chí bây giờ.
Ánh nắng chưa rọi tới cửa hang. Nó chỉ mới soi sáng bãi cỏ gần con suối. Robert Jordan biết rằng những chiếc phi cơ khó lòng trông thấy được chàng trong bóng tối, nhờ bóng cây buổi sáng sớm, bóng râm của núi đá hắt xuống, tất cả đã che phủ lấy chàng. Nhưng chàng vẫn bước vào trong hang để khỏi làm cho bọn họ phải cáu kỉnh.
- Có nhiều phi cơ lắm. - Người đàn bà nói.
- Và chúng sẽ trở lại nữa. - Robert Jordan nói.
- Sao đồng chí biết? - Pablo hỏi, giọng ngờ vục.
- Những chiếc này sẽ có loại khu trục bay theo chúng.
Đúng vào lúc đó, họ nghe tiếng chúng rống dữ dội hơn, giống như tiếng rên rỉ, và trong khi chúng bay đến còn cách độ một ngàn hai trăm thước, Robert Jordan đếm được mười lăm chiếc Fiat phối trí giếng như chuyến bay của loài ngỗng trời, theo từng nhóm ba chiếc bay thành hình chữ V.
Tại cửa hang, mọi người đều mang bộ mặt trầm trọng và Robert Jordan hỏi: “Các đồng chí chưa hề trông thấy nhiều máy bay như vậy à?”
- Chưa bao giờ. - Pablo nói.
- Ở Ségovie có nhiều phi cơ như vậy lắm không?
- Chưa bao giờ nhiều như vậy cả. Bình thường người ta chỉ thấy vài ba chiếc khu trục, thỉnh thoảng sáu. Có thể có ba chiếc Junkers loại lớn có ba máy, bay với những chiếc khu trục. Chưa bao giờ người ta trông thấy lắm phi cơ đến như vậy.
Điềm xấu, Robert Jordan nhủ thầm, xấu thật, việc tập trung phi cơ này quả là một điềm thật xấu. Mình phải lắng nghe xem chúng trút đạn xuống đâu. Nhưng mà không, chúng chưa mang bộ đội tấn công tới. Chắc chắn là chưa trước chiều nay hay chiều mai, chắc chắn là chưa. Chưa có đơn vị nào di chuyển vào giờ phút này.

Chàng vẫn còn nghe tiếng gầm thét đang xa dần. Chàng nhìn đồng hồ. Bây giờ hẳn chúng đã bay trên các phòng tuyến, chắc hẳn là các phòng tuyến đầu tiên. Chàng bấm nút điều khiển cây kim chỉ giây và nhìn nó quay. Không, có thể chưa đâu. Bây giờ. Rồi. Bây giờ thì chúng bay xa rồi. Bốn trăm cây số một giờ cho những chiếc 111. Phải năm phút chúng mới tới dưới đó được. Bây giờ chúng đã bay khỏi đèo, đang lượn trên vùng Castille toàn màu vàng và màu hung hung trong buổi sáng, màu vàng bị kẻ ngang dọc bởi những con đương trắng xóa, lấm tấm điểm những làng mạc nhỏ, bóng của những chiếc Heinkel lướt trên vùng thôn dã trông như bóng những con cá mập trên bãi cát dưới đáy đại dương.
Chàng không nghe một tiếng bom nào. Chiếc đồng hồ của chàng vẫn tiếp tục kêu tic-tac.
Chúng bay về Colmenar, Escurial hoặc về phi trường Mandanarès el Real, chàng nghĩ, nơi có một lâu đài cổ nằm trên bờ hồ và những con vịt bơi len lỏi trong đám lau sậy, và một phi trường giả nằm ngay phía sau phi trường thật, với những chiếc phi cơ giả ngụy trang hết phân nửa, những cánh quạt quay trong gió. Hẳn chúng phải tới đó. Chúng không thể nào biết trước cuộc tấn công, chàng nghĩ thầm như vậy, và một cái gì lên tiếng trong chàng: tại sao vậy? Chúng đã biết trước hầu hết những cuộc tấn công khác kia mà.
- Đồng chí tin rằng chúng đã trông thấy ngựa rồi à? - Pablo hỏi.
- Những chiếc phi cơ đó không chủ ý tìm kiếm ngựa.
- Nhưng liệu chúng có trông thấy ngựa không?
- Không, trừ phi người ta bảo chúng tìm.
- Chúng có thể trông thấy không?
- Có thể không - Robert Jordan nói - Trừ phi có ánh sáng mặt trời trên những ngọn cây.
- Trời hãy còn sớm. - Pablo buồn bã nói.
- Tôi tin rằng chúng có nhiều điều để nghĩ tới hơn là mấy con ngựa của đồng chí. - Robert Jordan nói.
Tám phút đã trôi qua kể từ lúc Robert Jordan bấm nút chiếc đồng hồ. Người ta vẫn chưa nghe tiếng bom nào.
- Đồng chí làm gì với chiếc đồng hồ vậy. - Người đàn bà hỏi.
- Tôi nghe xem chúng đi đâu.
- À! - Bà ta nói. Trong vòng mười phút, chàng không nhìn vào đồng hồ nữa, hiểu rằng bây giờ chúng đã cách quá xa để có thể nghe được, dù có kể tới một phút cho đường đi của âm thanh. Và chàng nói với Anselmo: “Tôi muốn nói với đồng chí chút việc”.
Anselmo ra khỏi hang; hai người đàn ông đi được vài bước thì ngừng lại dưới một cây thông. “Qué fal [1] - Robert Jordan hỏi - Thế nào?”
- Được lắm.
- Đồng chí ăn chưa?
- Không. Chưa ai ăn cả.
- Vậy thì đồng chí ăn đi và mang theo món gì cho buổi trưa. Tôi muốn đồng chí quan sát con đường. Đồng chí hãy ghi nhận những gì xảy ra trong hai chiều.
- Tôi không biết viết.
- Không cần. - Robert Jordan xé hai trang giấy từ cuốn sổ tay, và dùng con dao cắt một đoạn ba phân của cây bút chì của chàng - Đồng chí cầm cái này và đánh dấu những chiếc chiến xa như vầy đây (chàng vẽ sơ lược một chiếc chiến xa) mỗi chiếc một gạch và khi có được bốn, đồng chí gạch ngang lên cả bốn để chỉ chiếc thứ năm.
- Bọn này cũng đếm bằng cách đó.

- Tốt. Đồng chí hãy làm một cái dấu khác, hai cái bánh xe và một cái thùng cho những chiếc xe cam nhông. Xe trống thì vẽ một hình tròn. Xe đầy thì hình một cây gậy. Vẽ một cái dấu cho những khẩu đại bác. Lớn thì thế này. Nhỏ thì thế này. Một dấu cho xe hơi. Một dấu cho xe hồng thập tự. Như thế này, hai cái bánh xe và một cái thùng với một dấu chữ thập ở trên. Một dấu cho từng đại đội bộ binh, như thế này, đồng chí thấy chớ? Một hình vuông và một dấu cho kỵ binh, như thế này, đồng chí thấy chớ? Giống như một con ngựa. Một hình chữ nhật có bốn chân. Như vầy là một đội gồm hai chục con ngựa. Đồng chí hiểu rồi chớ? Mỗi đội một cái dấu.
- Hiểu rồi. Lối này tinh thật.
- Bây giờ - Chàng vẽ hai cái bánh xe lớn có những vòng tròn chung quanh và một gạch ngắn chỉ một khẩu đại bác - những cái này là những khí giới chống chiến xa. Chúng có bánh xe. Một cái dấu cho chúng. Những cái này là những ổ phòng không, hai bánh xe với một khẩu đại bác chĩa lên trời. Một cái gạch cho chúng nữa. Đồng chí hiểu chớ? Đồng chí đã thấy những khẩu đại bác như thế này chưa?
- Rồi - Anselmo nói - Dĩ nhiên. Rõ quá mà.
- Đồng chí hãy dẫn tên du mục đi theo để hắn biết đồng chí ở đâu và để người ta có thể tới đón đồng chí về. Hãy chọn một địa điểm chắc chắn, đừng gần quá, và là nơi đồng chí có thể trông rõ ràng và thuận tiện. Hãy ở lại đó cho tới khi người ta tới đón đồng chí về.
- Hiểu rối.
- Tốt lắm. Và khi đồng chí trở về, tôi muốn biết tất cả những gì xảy ra trên con đường. Có một tờ cho bận lên, một tờ cho bận xuống.
Họ trở về hang.
- Gọi Rafael đến đây cho tôi - Robert Jordan nói. Và chàng đứng đợi sau một thân cây. Chàng nhìn Anselmo bước vào hang và tấm mền buông trở xuống sau lưng lão. Tên du mục uể oải bước ra ngoài đưa lưng bàn tay lên chùi miệng.
- Qué tal - Tên du mục nói - Đêm rồi đồng chí vui vẻ chớ?
- Tôi ngủ.
- Càng hay, - Tên du mục nói - đồng chí có thuốc lá không?
- Đồng chí nghe này - Robert Jordan vừa nói vừa sờ các túi tìm thuốc lá - Tôi muốn đồng chí đi với Anselmo tới chỗ lão ta trông chừng con đường. Đến đó, đồng chí để lão ở lại đồng thời ghi nhận địa điểm để có thể dẫn tôi tới đó, tôi hay một người nào khác sẽ tới đón lão về sau đó. Sau đó, đồng chí đi quan sát trại cưa và ghi nhận xem có gì thay đổi trong đồn canh không.
- Thay đổi gì?
- Bây giờ có bao nhiêu người trong đó?
- Tám. Tin giờ chót.
- Đồng chí xem trong lúc này có bao nhiêu người. Đồng chí ghi nhận xem cứ cách khoảng chừng bao lâu người ta lại đổi phiên gác trên cây cầu đó.
- Cách khoảng làm sao?
- Tên lính gác ở lại trong bao lâu và giờ nào người ta thay hắn.
- Tôi không có đồng hồ.
- Đồng chí lấy đồng hồ tôi. - Chàng tháo đồng hồ của mình ra.
- Đồng hồ đẹp chưa! - Rafael kêu lên, trầm trồ - Trong những cái rối rắm phức tạp của nó kìa. Một cái đồng hồ như vầy hẳn phải biết viết và biết đọc. Hãy trông giùm tôi vẻ rắc rối của những con số. Đây là một cái đồng hồ vô địch.
- Đừng đùa - Robert Jordan nói - Đồng chí biết xem giờ không?
- Tại sao không? Mười hai giờ trưa. Đói bụng. Mười hai giờ khuya. Ngủ. Sáu giờ sáng, đói bụng. Sáu giờ chiều, say. Nếu may ra. Mười giờ tối...
- Thôi - Robert Jordan nói - Đồng chí không cần làm trò hề. Tôi muốn đồng chí quan sát tên lính gác nơi cây cầu lớn và đồn canh trên con đường phía dưới cũng như quan sát đồn canh và lính gác của trại cưa và cây cầu nhỏ.
- Nhiều việc quá - Tên du mục mỉm cười - Đồng chí có chắc hắn là không còn ai để giao phó công việc hay hơn tôi không?

- Không, Rafael ạ. Điều rất hệ trọng là đồng chí phải làm việc rất cẩn trọng và đừng để lộ tung tích.
- Tôi tin rằng tôi sẽ không để bị lộ đâu - Tên du mục nói - Tại sao đồng chí bảo tôi là đừng để bị lộ. Đồng chí tưởng tôi muốn ăn đạn lắm à?
- Đồng chí nên đứng đắn một chút - Robert Jordan nói - Đây là việc đứng đắn.
- Đồng chí bảo tôi phải đứng đắn sau những gì đồng chí đã làm trong đêm vừa rồi à? Khi đồng chí phải giết một người và thay vì giết, đồng chí làm điều đã làm? Đồng chí có bổn phận giết một người, không phải tạo nên một người. Khi bọn tôi vừa nhìn thấy trên trời đầy những phi cơ dùng để tàn sát bọn tôi, từ cha ông bọn tôi xuống tới cháu chắt bọn tôi hãy còn chưa đẻ, ngang qua súc vật, từ dê tới rệp. Những chiếc máy bay gây nên tiếng động làm sữa phải đông đặc trong vú của mẹ đồng chí khi chúng bay đen trời và khi chúng rống như sư tử, và đồng chí bảo tôi phải đứng đắn. Tôi đứng đắn lắm rồi chớ!
- Hay lắm - Robert Jordan nói, chàng cười và đặt bàn tay lên vai tên du mục - Kìa, đừng đứng đắn quá. Bây giờ thì hãy kết thúc bữa điểm tâm của đồng chí và lên đường đi.
- Còn đồng chí - Tên du mục hỏi - Đồng chí làm gì?
- Tôi sắp sửa gặp El Sordo.
- Sau khi những chiếc phi cơ kia bay qua, rất có thể đồng chí không tìm thấy một người nào trên tất cả các ngọn núi này - Tên du mục nói - Hẳn có nhiều người toát mồ hôi hột sáng nay khi phi cơ bay qua.
- Những chiếc phi cơ đó làm việc gì khác hơn là săn đuổi du kích quân.
- Đúng rồi - Tên du mục nói. Đoạn hắn lắc đầu - Nhưng bao giờ chúng bắt đầu làm công việc đó?
- Làm sao có chuyện đó - Robert Jordan nói - Đó là những chiếc tốt nhất của tất cả loại phi cơ phóng pháo cỡ nhẹ của Đức, người ta không gởi những thứ đó tới để chống lại dân du mục đâu.
- Chúng làm tôi kinh hồn - Rafael nói - Những cái đồ đó, đúng, chúng làm tôi khiếp.
- Chúng sắp sửa oanh tạc một phi trường - Robert Jordan vừa nói vừa bước vào trong hang - Tôi gần như chắc chắn là chúng bay tới đó.
- Đồng chí nói gì? - Bà vợ của Pablo hỏi. Bà ta rót đầy một chén cà phê cho chàng và trao cho chàng một hộp sữa đặc.
- Có sữa à? Sang quá!
- Có đủ mọi thứ - Bà ta nói - Và từ khi có máy bay tới, thiên hạ ai cũng sợ hãi. Theo đồng chí thì chúng bay đi đâu?
Robert Jordan cho chảy một ít sữa đặc kẹo vào cà phê qua kẽ hở của cái hộp, chùi nó vào miệng tách và quậy cà phê cho tới khi nó có một màu nâu sáng.

- Tôi nghĩ, chúng sắp sửa oanh tạc một phi trường. Chúng cũng có thể tới Escurial hay Colmenar. Có thể cả ba điều.
- Phải chi chúng bay thật xa và đừng trở lại đây. - Pablo nói.
- Và tại sao bây giờ chúng lại xuất hiện ở đây? - Người đàn bà hỏi - Cái gì bắt chúng tới? Người ta chưa hề trông thấy nhiều máy bay như vậy. Cũng không từng thấy một số lượng máy bay như vậy. Chúng sửa soạn một cuộc tấn công à?
- Đêm rồi có cuộc vận chuyển nào trên con đường không? - Robert Jordan hỏi. Maria đang đứng sát bên chàng nhưng chàng không nhìn vào nàng.
- Không. - Một người đàn ông đáp. Hắn có khuôn mặt cởi mở, tuổi độ ba mươi lăm, có một con mắt sưng húp, mà trước đây Robert Jordan chưa trông thấy - Một vài chiếc cam nhông như thường lệ. Những chiếc xe hơi. Không có cuộc động binh nào khi tôi ở đó.
- Đồng chí tới La Granga mỗi đêm chớ? - Robert Jordan hỏi hắn.
- Tôi hoặc một người khác - Fernando nói - Luôn có người tới đó.
- Họ lo về tin tức, thuốc lá, công việc. - Người đàn bà nói.
- Ta có người ở đó không?
- Có. Những người làm việc ở nhà máy điện. Và nhiều người khác nữa.
- Tin tức ra sao?

- Pues nadas [2], không có gì. Tình hình tiếp tục tệ hại ở miền Bắc. Không mới lạ gì. Ở miền Bắc tình hình tệ hại từ lúc đầu.
- Không nghe nói gì về Ségovie à?
- Không, hombre, tôi không hỏi.
- Đồng chí có tới Ségovie à?
- Thỉnh thoảng - Fernando nói - Nhưng nguy hiểm lắm. Có nhiều trạm kiểm soát, ở đó chúng hỏi giấy tờ.
- Đồng chí biết phi trường chớ?
- Không, hombre [3], tôi biết nó ở đâu rồi, nhưng chưa tới đó bao giờ. Ở chỗ đó người ta hỏi giấy tờ gắt lắm.
- Không ai nói về những chiếc phi cơ hồi chiều hôm qua à?
- Ở La Granja à? Không ai nói hết. Nhưng chắc chắn họ sẽ nói vào chiều nay. Người ta nói về bài diễn văn của Queipo de Llano đọc trên đài phát thanh. Không có gì khác. À, có... Dường như là quân Cộng Hòa đang chuẩn bị một cuộc tấn công.
- Dường như là cái gì?
- Là quân Cộng Hòa đang chuẩn bị một cuộc tấn công.
- Tin này ở đâu ra?
- Ở đâu? Ơ kìa! Ở nhiều chỗ khác nhau. Bọn sĩ quan nói trong các tiệm cà phê, ở Segovie và Avila, và tụi bồi nghe được. Những tiếng đồn lan rộng ra. Từ ít ngày nay, người ta nói về một cuộc tấn công của quân Cộng Hòa tại đây.
- Của quân Cộng Hòa hay của bọn phát xít?
- Của quân Cộng Hòa. Đây là một cuộc tấn công quan trọng. Nhiều người còn nói là sẽ có tới hai cuộc tấn công lận. Một ở đây và một ở Alto de Léon gần Escurial. Đồng chí có nghe không?
- Người ta còn nói gì với đồng chí nữa không?
- Không, hombre, à! Có. Người ta còn nói là phe Cộng Hòa định phá sập các cây cầu nếu có xảy ra một cuộc tấn công. Nhưng những cây cầu đều được phòng thủ.
- Đồng chí có đùa không đó? - Robert Jordan nói, vừa uống cà phê.
- Không đâu, hombre. - Fernando nói.
- Tên đó không đùa đâu - Người đàn bà nói - Và đáng tiếc.
- Vậy, - Robert Jordan nói - cám ơn đồng chí về những tin tức này. Đồng chí không biết gì khác à?
- Không. Người ta nói, như lúc nào người ta cũng nói, về những bộ đội được gửi tới để san bằng những ngọn núi này. Người ta nói họ đang trên đường đi tới. Họ đã tới Valladodid. Nhưng mà người ta vẫn luôn nói vậy. Không nên chú ý tới làm gì.
- Còn ông, - Người đàn bà nói với Pablo bằng một giọng gần như hung dữ - ông với những lý sự về sự an toàn của ông.
Pablo nhìn bà ta dáng nghĩ ngợi, hắn gãi cằm.
- Bà thì lúc nào cũng với những cây cầu của bà. - Hắn nói.
- Những cây cầu nào? - Fernando vui vẻ hỏi.
- Đồ ngu - Người đàn bà nói với hắn - Đồ tối dạ. Tonto [4]. Hãy uống thêm một tách cà phê và thử nhớ lại những tin tức khác coi nào.
- Đừng nổi nóng, Pilar - Fernando nói, trầm tĩnh và vui vẻ - Đừng lo ngại gì với những câu chuyện tào lao. Tôi đã nói với đồng chí này tất cả những gì tôi nhớ được.
- Đồng chí không nhớ gì thêm à? - Robert Jordan hỏi.
- Không - Fernando nói với một vẻ trịnh trọng - Và may mắn mà tôi còn nhớ điều này, bởi vì đó là những chuyện tào lao và tôi không chú ý tới làm gì.
- Vậy chắc còn điều gì nữa hả?
- Ừ, có thể. Nhưng tôi không chú ý tới. Từ cả năm nay tôi nghe toàn những chuyện tào lao.
Robert Jordan nghe có tiếng cười khúc khích, chính cô gái Maria đang đứng sau lưng chàng đã không thể nín cười được.
- Đồng chí hãy nói cho chúng tôi nghe thêm một chuyện tào lao nữa đi, Fernando. - Nàng nói và một lần nữa hai vai nàng rung lên vì tràng cười nắc nẻ.
- Nếu tôi còn nhớ, tôi sẽ không lặp lại đâu - Fernando nói - Người nghe những chuyện tào lao mà coi chúng quan trọng là người thiếu tư cách.
- Và chính nhờ đó mà ta cứu nền Cộng Hòa đó. - Người đàn bà nói.
- Không. Các người sẽ cứu nền Cộng Hòa bằng cách phá cầu. - Pablo nói với bà.
- Đi đi - Robert Jordan nói với Anselmo và Rafael. - Nếu các đồng chí đã ăn rồi.

- Bọn tôi đi đây. - Lão già nói và cả hai đứng dậy. Robert Jordan cảm thấy một bàn tay đặt lên vai chàng. Đó là Maria: “Anh phải ăn - Nàng nói, và nàng để tay nàng nằm yên trên vai chàng - Anh ăn cho nhiều để bao tử anh còn có thể chịu được những câu chuyện tào lao khác”.
- Những chuyện tào lao làm cho anh hết muốn ăn.
- Không. Không nên. Bây giờ anh hãy ăn cái này, còn nhiều chuyện tào lao khác nữa. - Nàng đặt cái chén trước mặt chàng.
- Đùng chế nhạo tôi - Fernando bảo nàng - Tôi là bạn của đồng chí mà, Maria.
- Tôi không chế nhạo đồng chí đâu, Fernando. Tôi chế nhạo anh ấy đó, và anh ấy phải ăn, không thì đói.
- Bọn mình ai cũng phải ăn hết. - Fernando nói - Pilar, có chuyện gì, sao không ai dọn cho tụi tôi ăn cả?
- Không có chuyện gì đâu, hombre - Vợ Pablo nói, và bà núc món ra gu đầy chén Fernando - Ăn đi. Ừ, việc này thì đồng chí có thể làm được. Bây giờ thì đồng chí ăn đi.
- Món này thật ngon, Pilar ạ! - Fernando bảo, với tất cả cái dáng vẻ đầy trịnh trọng của hắn.
- Cám ơn, - Người đàn bà nói - cám ơn và cám ơn.
- Đồng chí giận tôi à? - Fernando hỏi.
- Không. Ăn đi. Ăn rút lên đi.
Robert Jordan nhìn Maria, đôi vai cô gái lại bắt đầu rung lên trong tràng cười rũ rượi và nàng quay mắt đi.
Fernando ăn một cách từ tốn, vẻ đạo mạo hiện rõ trên mặt, sự đạo mạo mà cái muỗng to lớn lẫn dong nước mỏng của thức ăn chảy dài nơi khóe miệng hắn cũng không làm tổn hại được.
- Thức ăn vừa ý đồng chí chớ? - Người đàn bà hỏi.
- Vâng, Pilar ạ. - Hắn nói, miệng đầy thức ăn - Như thường lệ.
Robert Jordan nhận ra bàn tay của Maria đặt trên cánh tay của chàng và những ngón tay của cô gái siết lại trong khoan khoái.

- Chính món này đồng chí thích đây phải không - Người đàn bà hỏi Fernando - Ừ - Bà ta nói tiếp - Tôi thấy mà. Món ra gu, như thường lệ. Como siempre [5]. Công việc tệ hại ở miền Bắc, như thường lệ. Một cuộc tấn công ở đây, như thường lệ. Bộ đội đến đây săn đuổi chúng ta, như thương lệ. Đồng chí có thể ngồi làm mẫu cho một bức tượng, như thường lệ.
- Nhưng hai điều sau cùng chỉ là chuyên tào lao thôi, Pilar ạ.
- Ôi xứ Tây Ban Nha - Vợ Pablo chua chát thốt lên. Đoạn bà ta quay sang Robert Jordan - Ở các nước khác liệu có những người như thế này không?
- Không có nước nào giống Tây Ban Nha cả. - Robert Jordan trả lời một cách lịch sự.
- Đồng chí có lý. - Fernando nói - Không có nước nào trên thế giới giống nước Tây Ban Nha cả.
- Đồng chí có trông thấy những nước khác bao giờ chưa à?
- Không - Fernando nói - Và tôi cũng không muốn trông thấy làm gì.
- Đồng chí thấy không? - Vợ Pablo nói với Robert Jordan.
- Fernando - Maria nói - Hãy kể lại cho chúng tôi nghe cái lần đồng chí đi Valence đi.
- Tôi không thích Valence.
- Sao vậy? - Maria hỏi, đồng thời lại siết mạnh cánh tay Robert Jordan.
- Dân ở đó kỳ cục và tôi không hiểu nổi họ. Họ chỉ biết kêu che [6] với nhau.
- Còn họ, họ có hiểu đồng chí không? - Maria hỏi.
- Họ ra tuồng không hiểu. - Fernando nói.
- Và đồng chí đã làm gì ở đó?
- Tôi đã phải đi ngay, không kịp xem biển nữa - Fernando nói - Tôi không thích những người đó.
- Ối! Ra khỏi đây ngay, đồ gái già - Vợ Pablo nói - Ra khỏi đây ngay, đồng chí làm tôi phát bịnh. Ở Valence, tôi đã sống qua đoạn đời đẹp nhất của tôi. Vamos [7]. Valence! Đừng nói tới Valence nữa.

- Chị làm gì ở đó vậy? - Maria hỏi. Vợ Pablo ngồi nơi bàn với một chén cà phê, một mẩu bánh mì và một chút ra gu.
- Qué va [8]. Bọn tôi làm gì ở đó hả? Tôi đã có mặt ở đó trong thời gian Finito ký hợp đồng cho ba cuộc đua ở kỳ hội chợ. Tôi chưa bao giờ trông thấy người ta đông đảo như thế. Tôi chưa bao giờ thấy những quán cà phê đông người như thế. Phải đợi hằng nhiều giờ mới có chỗ ngồi và người ta không thể nào bước lên xe điện được. Ở Valence có nhiều cảnh náo động xảy ra suốt ngày đêm.
- Nhưng mà chị làm gì ở đó? - Maria hỏi.
- Đủ mọi trò - Người đàn bà nói - Chúng tôi ra bãi và chúng tôi tắm, có nhiều thuyền buồm mà người ta dùng bò để kéo ra khỏi mặt nước. Người ta dẫn bò xuống nước cho tới khi chúng nó buộc phải lội, sau đó người ta buộc những chiếc thuyền vào chúng, và khi chân chúng chấm đất, chúng kéo thuyền lên bờ cát. Buổi sáng mười đôi bò kéo một chiếc thuyền buồm từ biển vào, với làn sóng nhỏ vỗ vào bờ. Đó chính là Valence.
- Nhưng mà chị có làm gì khác hơn là nhìn những con bò không?
- Chúng tôi ăn uống trong những ngôi lều dựng trên cát. Những miếng bánh làm bằng cá thái nhỏ với bằng những hạt tiêu đỏ và xanh, những trái hạnh đào to bằng hạt thóc. Bột bánh mềm dịu và với rất nhiều cá không tưởng tượng được. Những con tôm tươi rói chưa ráo nước biển, được nặn chanh vào. Chúng có màu hương và bóng lưỡng, mỗi con ăn trong bốn miếng. Món này, chúng tôi ăn rất nhiều. Sau đó, người ta ăn tới món paella [9], với hến tươi, trai, tôm, chạch nhỏ. Và sau đó người ta ăn những con chạch con nhỏ hơn nữa, riêng món này thôi, rán với dầu, chúng như những hạt đậu cô ve cuốn xoắn, chúng mềm tới độ tan ngay trong miệng khỏi phải nhai nữa. Và luôn luôn, người ta uống thứ rượu trắng để lạnh, nhẹ và ngon, giá bán ba chục céntimos một chai. Và sau hết là dưa gang. Đó là xứ dưa gang mà.
- Dưa gang ở Castille ngon nhất. - Fernando nói.
- Qué va - Vợ Pablo nói - Dưa gang castille là để triển lãm. Còn dưa gang Valence là để ăn. Khi tôi nghĩ tới những trái dưa gang đó, dài bằng cánh tay, xanh lơ như biển, cắt ra trông dồn dã và ứa đầy nước. A! Khi tôi nghĩ tới tất cả những con chạch bé bỏng, nhỏ nhắn, thơm ngon, chất thành núi trên dĩa! Người ta còn uống bia trong cốc suốt buổi xế chiều, thứ bia lạnh đến toát ra hơi nước trên những cái cốc to bằng những cái vại đựng nước.
- Và chị đã làm gì khi chị không phải ăn uống?

- Chúng tôi làm tình trong phòng, với những bức mành mành rũ xuống bao lơn và với một làn gió nhẹ thổi qua cửa sổ mà người ta có thể mở toang. Chúng tôi làm tình ở đó, trong gian phòng tối tăm, ngay vào lúc ban ngay nhờ những tấm mành mành, và từ ngoài đường vọng tới mùi thơm của chợ hoa và mùi thuốc pháo đốt vang trên khắp các ngã đường vào mỗi buổi trưa trong suốt kỳ Hội Chợ. Người ta đốt pháo bông trong khắp thành phố và những tiếng nổ chuyền đi trên những cây cột và những dây xe điện, và nó nổ từ cây cột này sang cây cột khác với những ánh chớp và những tiếng động vang dậy mà người ta không thể nào ngờ được.
Chúng tôi làm tình, và sau đó chúng tôi gọi một cốc bia đóng hơi lạnh trên lớp thủy tinh và khi cô gái mang bia tới, tôi đón lấy tại cửa và đặt cái cốc lạnh vào lưng Finito lúc bấy giờ đang ngủ, không chịu thức dậy khi người ta mang bia tới, và hắn nói: “Không, Pilar ạ. Không, mụ ạ. Để anh ngủ”. Và tôi nói: “Không, hãy thức dậy và uống cái này xem nó lạnh ngần nào”, và hắn uống, không mở cả mắt, và hắn ngủ trở lại, còn tôi, tôi nằm dài trên một chiếc gối, dưới chân giường, tôi nhìn hắn ngủ, người hắn xạm nâu, tóc hắn đen, trông hắn trẻ trung và bình yên trong giấc ngủ của hắn, và tôi uống hết cốc bia, vừa lắng nghe điệu nhạc của một hội ca cầm đang đi qua. Ông đã biết những điều đó chưá? - Bà hỏi Pablo.
- Chúng, ta đã làm nhiều trò ra gì với nhau!
- Ừ - Người đàn bà nói - Và ông có vẻ đàn ông hơn là Finito ở vào thời của ông. Nhưng mà mình chưa bao giờ tới Valence. Mình chưa hề ngủ với nhau chung giường, vừa nghe một hội ca cầm đi qua trong thành phố Valence.
- Không thể được - Pablo nói với bà ta - Mình không có dịp đi Valence. Bà thừa biết điều đó, nếu bà hiểu biết một chút. Nhưng mà với Finito, bà chưa hề làm nổ tung xe lửa bao giờ cả.
- Không - Người đàn bà nói - Đó là cái gì còn lại của tụi mình. Xe lửa. Ừ. Lúc nào cũng xe lửa. Không ai có thể nói ngược lại cả. Đó là cái còn lại từ những biếng lười, những xì hơi, những tịt ngòi. Đó là cái còn lại từ nỗi sợ hãi, nhát gan của lúc này. Còn nhiều điều trước đó nữa chớ. Tôi không muốn mình bất công. Nhưng mà cũng không nên nói điều gì chống lại thành phố Valence, ông nghe tôi chớ?
- Tôi không thích nó - Fernando lặng lẽ nói - Tôi không thích thành phố Valence.
- Và người ta nói rằng con lừa thì cứng đầu - Người đàn bà nói - Dọn dẹp đi Maria, để người ta con lên đường nữa chớ.
Khi bà ta nói câu đó, mọi người nghe những âm thanh đầu tiên báo hiệu những chiếc máy bay trở lại.
Chú thích:
[1] Thế nào.
[2] Không có gì.
[3] Người đàn ông.
[4] Đồ ngu.
[5] Như thường lệ.
[6] Này.
[7] Ôi! Ồ!
[8] Cái gì?
[9] Một món cơm đặc biệt.
Chương 9
Họ đứng bên cửa hang, nhìn những chiếc phi cơ phóng pháo, lần này bay trên cao thành hình những mũi giáo nhanh như chớp hung hăng rạch bầu trời trong tiếng động cơ vang rền. Chúng có hình những con cá mập, Robert Jordan nhủ thầm, giống cá mập vùng nhiệt lưu với đôi vi to lớn và chiếc mũi nhọn hoắt. Nhưng những con cá mập này, với những đôi vi bạc to lớn, với tiếng gầm thét, với những cánh quạt chói chang ánh mặt trời, những con cá mập này không di chuyển giống như những con cá mập. Chúng di chuyển không giống bất cứ một loài vật nào. Chúng phóng tới như một định mệnh cơ giới hóa.
Chàng nhủ thầm, mày phải viết mới được. Có thể một ngày nào đó mày sẽ viết. Chàng nhận ra Maria đang nắm lấy cánh tay chàng. Nàng ngó lên không, và chàng bảo nàng:
- Em trông chúng nó giống cái gì, guapa [1]?
- Em không biết - Nàng nói - Giống thần chết, em nghĩ như vậy.
- Với tôi thì chúng giống những chiếc máy bay - Vợ Pablo nói - những chiếc nhỏ đâu rồi?
- Có thể chúng bay đi nơi khác - Robert Jordan bảo - Những chiếc phóng pháo này bay thật nhanh, không đợi những chiếc khác và chúng phải trở về một mình. Chúng ta không thể vượt phòng tuyến đuổi theo chúng. Không có đủ phi cơ để liều làm việc đó.
Đúng vào lúc đó, ba chiếc khu trục loại Heinkel bay theo hình chữ V, thật thấp trên đầu họ, sát ngọn cây, trông như những món đồ chơi xấu xí, náo động, với đôi cánh lắc lư, mũi choắt lại, rồi bất chợt chúng trở nên to lớn một cách khủng khiếp và bay qua với tất cả hình thù nguyên vẹn của chúng, trong tiếng rền vang ầm ĩ. Chúng bay thấp đến nỗi tất cả mọi người đứng bên cửa hang có thể nhìn thấy những tên phi công với chiếc mũ cùng cặp kính to của chúng, thấy cả khăn choàng bay sau đầu của người trưởng đoàn thám thính.
- Chúng có thể trông thấy ngựa. - Pablo nói.
- Chúng có thể trông thấy cả mẩu thuốc lá của ông - Người đàn bà nói - Ông hãy kéo tấm mền xuống đi.
Những chiếc phi cơ không còn bay tới nữa. Những chiếc khác hẳn đã bay xa lắm rồi. Khi tiếng rì rầm đã tắt, tất cả mọi người bước ra khỏi hang.
Giờ đây bầu trời trở nên trống trơn, thăm thẳm, xanh lơ và trong sáng.
- Tưởng vừa mới nằm mơ xong. - Maria nói với Robert Jordan. Không ai còn nghe tiếng rì rầm rất khẽ của phi cơ mất hút, tiếng rì rầm giống như một ngón tay chạm khẽ vào ta và dang xa rồi lại chạm khẽ vào ta lần nữa.
- Không phải là giấc mơ đâu, và em hãy đi lo việc nội trợ đi - Pilar bảo nàng - Rồi sao đây? - Bà ta quay sang Robert Jordan - Ta đi ngựa hay đi bộ đây?
Pablo nhìn bà ta và lẩm bẩm điều gì trong cổ họng.
- Tùy theo ý muốn của đồng chí.
- Vậy thì đi bộ - Bà ta nói - Tốt cho lá gan của tôi.
- Đi ngựa cũng tốt cho gan vậy.

- Nhưng mà đau đít. Ta sẽ đi bộ. Còn ông. - Bà ta quay sang Pablo - Ông hãy đi xuống dưới và đếm những con vật của ông xem tụi nó có bay theo chúng không?
- Đồng chí có cần một con ngựa không? - Pablo hỏi Robert Jordan.
- Không. Cám ơn nhiều lắm. Còn cô gái?
- Tốt hơn để cô ta đi bộ - Pilar nói - Cô ta sẽ bị mỏi mệt ở nhiều nơi và không ích lợi gì ráo.
Robert Jordan nghe mặt mình đỏ bừng.
- Đồng chí ngủ ngon chớ? - Pilar hỏi. Đoạn bà ta bảo - Quả đúng là không có bịnh gì. Không thể có bịnh hoạn gì được. Tôi không hiểu tại sao lại không có bịnh. Sau cùng có thể là có Thượng đế mặc dầu ta đã dẹp ổng. Đi đi - Bà ta nói với Pablo - Cái này không có liên quan gì tới ông. Những chuyện này liên hệ tới những người trẻ hơn ông... và thuộc một nơi khác hơn kìa. Đi. - Đoạn bà ta quay sang Robert Jordan - Angustin sẽ trông coi đồ đạc của đồng chí. Ta sẽ lên đường khi hắn tới.
Trời trong sáng, chói lọi và nóng bức. Robert Jordan nhìn người đàn bà to lớn với khuôn mặt rám nâu, đôi mắt to dịu dàng, khuôn mặt vuông vúc, nặng nề, nhăn nheo trông xấu xí mà lại ưa nhìn, đôi mắt bà ta háo hức nhưng khuôn mặt bà ta lại buồn bã khi bà ta hé miệng. Chàng nhìn bà ta đoạn nhìn người đàn ông cục mịch, nặng nề, đang đi xa dần trong đám cây cối, tiến về phía trại. Người đàn bà cũng đưa mắt nhìn theo hắn.
- Hai người đã làm tình với nhau rồi hả? - Người đàn bà hỏi.
- Nàng đã nói sao?
- Nàng không muốn nói với tôi chuyện đó.
- Tôi cũng không muốn nói.
- Vậy thì các người đã làm tình rồi - Người đàn bà nói - Hãy rán lo lắng cho nàng.
- Nếu nàng có con?
- Đó không là điều bậy - Người đàn bà nói - Đó chỉ là một điều hay mà thôi.
- Ở đây không phải chỗ.
- Nàng sẽ không ở lại đây. Nàng sẽ đi theo đồng chí.
- Và liệu tôi sẽ đi đâu đây? Tôi không thể mang một người đàn bà kè kè đi theo tôi được.
- Biết đâu đó! Đồng chí có thể mang nổi đến hai người như vậy mà.
- Đó không phải là một cách nói.
- Nghe đây - Người đàn bà nói - tôi không phải là một người nhát gan, nhưng sáng sớm hôm nay tôi thấy nhiều điều rất rõ, và tôi nghĩ rằng trong số tất cả những người mà ta còn thấy mặt hôm nay, có nhiều người sẽ không bao giờ biết tới một ngày Chúa nhật nào khác nữa cả.
- Hôm nay thứ mấy?
- Chúa nhật.
- Qué va - Robert Jordan nói - Vậy thì Chúa nhật tới hãy còn xa. Nếu ta thấy được ngày thứ tư thì tốt lắm. Nhưng tôi không thích nghe ai nói vậy cả.
- Tất cả mọi người đều cần được nói chuyện với một kẻ nào đó - Người đàn bà nói - Trước đây, người ta có tôn giáo và những trò điên rồ khác. Bây giờ mỗi người cần phải có một kẻ nào đó để nói một cách thẳng thắn. Mặc dù người ta có thể có tất cả sự can đảm, càng lúc người ta vẫn thấy cô đơn thêm.
- Chúng ta không cô đơn. Chúng ta luôn luôn sát cánh bên nhau.
- Trông thấy những máy móc đó, người ta cảm thấy có một cái gì đó - Người đàn bà nói - Ta không là gì cả đối với những máy móc đó.
- Vậy mà ta có thể thắng chúng nó được.
- Nghe này - Người đàn bà nói - Tôi thú thật với đồng chí sự buồn bực của tôi nhưng đừng tưởng rằng tôi thiếu cương quyết. Tôi lúc nào cũng cương quyết.
- Sự buồn bực tan biến theo ánh nắng mặt trời. Nó như một lớp sương mù.
- Tốt - Người đàn bà nói - Như đồng chí muốn. Đó là do những lời lẽ dông dài về Valence và con người vất đi đang đi xem ngựa kia. Tôi đã làm tổn thương hắn nhiều với câu chuyện nọ. Giết hắn, được. Nguyền rủa hắn, được. Nhưng mà làm tổn thương hắn thì không nên.
- Bằng cách nào đồng chí tới với hắn?
- Như người ta tới với bất luận một kẻ nào đó. Trong những ngày đầu của cuộc chiến, và trước đó nữa, hắn là một cái gì. Một cái gì đàng hoàng. Nhưng mà bây giờ thì hắn hết thời rồi. Người ta mở nút ra và tất cả rượu đều đã chảy ra khỏi vò.
- Tôi không thích hắn.
- Hắn cũng không thích đồng chí, nhưng có lý do. Đêm rồi tôi đã ngủ với hắn. Bây giờ thì - Bà ta mỉm cười và ngẩng đầu lên - Vamos a ver [2] - Bà ta nói - Tôi đã nói với hắn - Pablo, sao ông không giết kẻ lạ mặt đi? Đó là một thanh niên can đảm, Pilar ạ, hắn bảo tôi. Đó là một thanh niên can đảm. Lúc bấy giờ tôi bảo: bây giờ ông biết là chính tôi chỉ huy rồi chớ? Biết, Pilar ạ, biết, hắn bảo tôi. Sau đó trong đêm, tôi nghe hắn thức dậy, và hắn khóc. Hắn khóc với những tiếng khúc khích ngắn, khó nghe, như bọn đàn ông vẫn khóc, người ta bảo rằng có một con vật gì nơi họ, làm cho người họ run lên. Ông làm sao vậy, Pablo? Tôi hỏi và ôm hắn vào lòng. Không có gì hết. Pilar ạ, không có gì. Tôi nói có, ông đang gặp một chuyện gì đây mà. Hắn nói, tất cả mọi người và cái cách họ bỏ rơi tôi. Tôi bảo, đúng rồi, nhưng họ theo tôi và tôi thì là vợ của ông. Hắn nói, Pilar, bà nên nhớ vụ xe lửa. Đoạn hắn nói tiếp, cầu Trời phù hộ cho bà, Pilar. Tôi nói, tại sao ông lại nói tới Thượng đế? Nói vậy có nghĩa là gì? Hắn nói, ừ, Chúa và Đức Virgen. Tôi nói, sao, Thượng đế và Đức Virgen, đó có phải là một cách nói hay không. Hắn nói, tôi sợ chết lắm, Pilar, Tengo nicho de morir, bà biết chớ? Tôi bảo vậy thì ông hãy bước ra khỏi giường, trên giường không có chỗ cho tôi, ông và sự sợ hãi của ông nằm chung với nhau; lúc đó hắn xấu hổ, im bặt và tôi ngủ vùi, nhưng mà người đàn ông đó chính là một sự đổ vỡ.
Robert Jordan không nói gì.
Người đàn bà bảo:
- Trọn đời tôi, có những lúc tôi buồn bã như thế. Nhưng không phải là sự buồn bã của Pablo. Cái đó không ảnh hưởng gì tới quyết định của tôi.
- Tôi tin vậy.
- Có thể nó giống như kinh nguyệt của một người đàn bà, có thể nó không là gì cả - Bà ta ngừng lời đoạn nói tiếp - Tôi đã đặt nhiều ảo tưởng vào nền Cộng Hòa. Tôi tin tưởng vào nền Cộng Hòa. Và tôi có niềm tin, tôi tin vào niềm tin của tôi giống như những người có đạo tin vào những điều huyền bí.
- Tôi tin nơi đồng chí.
- Còn đồng chí, đồng chí có đức tin đó không?
- Nơi nền Cộng Hòa.
- Có?
- Có. - Chàng nói, đồng thời hy vọng rằng mình nói đúng sự thật.
- Tôi hài lòng lắm. Và đồng chí không sợ chớ?
Chàng nói, thành thật:
- Tôi không sợ chết.
- Nhưng sợ cái thứ khác không?
- Tôi chỉ sợ không làm đúng bổn phận mình.
- Không sợ bị bắt, như người nọ chớ?
- Không - Chàng nói giọng thành thật - Nếu sợ điều đó, người ta sẽ xao xuyến lo âu đến độ không giúp ích gì cho ai được.
- Đồng chí trầm tĩnh lắm.
- Không. Tôi không tin.
- Không. Chính đồng chí có đầu óc trầm tĩnh.
- Chính vì tôi rất bận tâm với công việc tôi.
- Nhưng đồng chí không yêu đời sao?
- Yêu chớ. Nhiều. Nhưng không nên để công việc tổn hại vì nó.
- Đồng chí thích uống rượu, tôi biết. Tôi thấy mà.
- Ừ. Thích lắm. Nhưng không nên để nó gây xáo trộn công việc.
- Và đàn bà?
- Tôi thích họ lắm nhưng tôi không hề cho đó là điều quan trọng lắm.
- Đồng chí không quan tâm đến họ à?
- Quan tâm chớ. Nhưng tôi chưa tìm thấy một người nào làm tôi rung động như người ta bảo họ phải làm mình rung động.
- Tôi nghĩ đồng chí nói dối.
- Một phần nào có thể.
- Nhưng đồng chí yêu Maria mà.
- Ừ, yêu một cách bất chợt và yêu rất say đắm.
- Tôi cũng vậy. Tôi yêu nó lắm. Ừ. Nhiều lắm.
- Tôi cũng vậy - Robert Jordan nói và cảm thấy nghẹn lời - Tôi cũng vậy. Ừ! - Chàng thấy thích thú trong câu nói đó và chàng nói một cách trịnh trọng bằng tiếng Tây Ban Nha: “Tôi yêu nàng say đắm”.
- Tôi sẽ để cho hai người tự do với nhau khi chúng tôi gặp El Sordo.
Robert Jordan không trả lời.
Đoạn chàng nói:
- Không cần thiết.
- Cần chớ, hombre. Điều đó cần thiết, bởi vì người ta không có nhiều thì giờ.
- Đồng chí đã thấy điều đó trong bàn tay tôi à?
- Không. Không nên tin vào những điều nhảm nhí đó.
Bà ta tránh nói điều đó cũng như tất cả những gì có thể phương hại đến nền Cộng Hòa.
Robert Jordan không nói gì. Chàng nhìn Maria đang dọn dẹp chén dĩa trong hang. Cô gái lau tay, quay lại và mỉm cười với chàng. Nàng không nghe được những lời lẽ của Pilar, nhưng khi nàng mỉm cười với Robert Jordan, nàng rất đỗi e thẹn, và sau đó lại mỉm cười với chàng. Người đàn bà nói:
- Có ban ngày nữa. Hai người có ban đêm nhưng còn có ban ngày nữa chớ. Ở đây không có nhiều sự xa xỉ thừa mứa như ở Valence vào thời của tôi. Nhưng đồng chí có thể hái vài quả dâu rừng hoặc một thứ nào khác. Bà ta cười.
Robert Jordan đặt bàn tay lên cái vai to lớn của Pilar:
- Tôi cũng yêu đồng chí nữa. Tôi yêu đông chí lắm.
Người đàn bà nói, vẻ bối rối:
- Đồng chí đúng là một chàng Don Juan. Đồng chí chớm yêu thương tất cả mọi người rồi đó. Kìa, Angustin tới kia rồi.
Robert Jordan bước vào hang và đến gần Maria. Nàng đứng yên nhìn chàng đến gần, đôi mắt nàng sáng rực, sự xấu hổ lại làm đỏ mặt mày và cổ nàng.
- Chào dê con.
Chàng nói và đặt một cái hôn lên miệng nàng. Nàng ôm chặt lấy chàng, đoạn nhìn thẳng vào mặt chàng:
- Chào anh. Ồ! Anh. Anh.
Fernando hãy còn ngồi nơi bàn, hút thuốc, hắn đứng dậy, lắc đầu và cầm lên cây các bin dựng bên vách, bước ra ngoài. Hắn nói với Pilar:
- Thật là kỳ dị. Tôi không thích vậy. Đồng chí phải trông chừng cô bé này.
- Tôi trông chừng chớ. - Pilar nói - Đồng chí kia là novio [3] của cô ta đó.
- À! - Fernando nói - Trong trường hợp này, khi họ đính ước với nhau rồi, tôi nhìn nhận chuyện đó rất bình thường.
- Tôi rất sung sướng vì vậy. - Người đàn bà nói.
- Tôi cũng vậy. - Fernando gật đầu, trịnh trọng - Salud, Pilar.
- Đồng chí đi đâu đó?
- Lên chồi canh đổi phiên cho Primitivo về.
- Đồng chí làm cái chó gì vậy? - Angustin hỏi người đàn ông nhỏ thó có dáng vẻ trầm trọng, khi người này bước lên con đường mòn.
- Nhiệm vụ. - Fernando nói với một vẻ đầy kiểu cách trang trọng.
Angustin nói giọng nhạo báng:
- Nhiệm vụ đồng chí à. Tổ mẹ nhiệm vụ đồng chí. - Đoạn hắn quay sang người đàn bà - Cái chó gì mà tôi phải gìn giữ ở đâu rồi?
Pilar nói:
- Trong hang. Trong hai cái bọc. Và tôi mệt nhọc với sự thô tục của đồng chí lắm rồi đó?
Angustin nói:
- Đ. cần sự mệt nhọc của đồng chí.
- Vậy thì đồng chí cút ngay đi và cứ đ. cần với mẹ đồng chí đi. - Pilar nói với hắn, vẻ mặt không giận dỗi chút nào.
- Và mẹ đồng chí nữa chớ. - Angustin đáp lại.
- Còn lâu đồng chí mới có mẹ - Pilar nói với hắn. Những lời mạt sát đạt tới mức độ nặng nề cùng tột trong tiếng Tây Ban Nha khi mà sự việc không còn diễn tả nữa mà chỉ ngầm hiểu.
- Họ làm cái giống gì trong đó? - Angustin nói, giờ đây với một vẻ kín đáo.
Pilar bảo:
- Nada, không có gì cả. Dầu sao ta đang ở vào mùa Xuân mà, đồ súc sinh.
- Súc sinh - Angustin nói, nhấm nháp từng tiếng - Súc sinh. Thế còn đồng chí thì sao? Đồ con cái của đĩ điếm. Tôi đ. cần mùa Xuân.
- Đồng chí, - Bà ta nói vừa cười lanh lảnh - đồng chí thiếu sự biến hóa trong những tiếng chửi thề. Nhưng mà đồng chí chửi khỏe đó. Đồng chí đã trông thấy máy bay chưa?
- Tôi ỉa trong những bộ máy của chúng. - Angustin nói, vừa ngẩng đầu lên và cắn vào môi dưới.
- Không tệ lắm, - Pilar nói - đúng là không tệ lắm, nhưng khó thực hiện lắm.
- Ở độ cao đó thì đúng - Angustin mỉm cười - Desde luego [4]. Nhưng mà tốt hơn hết là phịa cho sướng miệng.
- Đúng - Vợ Pablo nói - Tốt hơn hết là phịa, đồng chí là một mẫu người can đảm và những lời khoác lác của đồng chí nghe cứng cỏi lắm.
Angustin nói một cách nghiêm nghị:
- Nghe này, Pilar. Người ta đang chuẩn bị cái gì, có đúng không?
- Đồng chí nghĩ sao về việc đó?
- Một điều tệ không gì tệ hơn. Có quá nhiều máy bay. Quá nhiều máy bay.
- Và đồng chí sợ chúng giống như những người khác chớ?
- Qué va, đồng chí nghĩ họ đang sửa soạn gì?
- Nhìn kìa, phía Cộng Hòa đang chuẩn bị một cuộc tấn công, nên họ đã phái một người thanh niên tới lo về cầu. Và bọn phát xít sửa soạn nghinh tiếp cuộc tấn công đó bởi vì chúng gửi máy bay tới. Nhưng sao lại biểu diễn những chiếc máy bay như vậy?
- Trận giặc này, - Angustin nói - là một điều ngu xuẩn không có giới hạn.
- Đúng như vậy rồi - Pilar nói - Không có vậy thì ta đã không có mặt ở đây.
- Đúng. Từ một năm rồi, bọn mình sống trong sự ngu xuẩn. Nhưng mà Pablo là tên khôn lanh. Hắn rất khôn lanh.
- Tại sao đồng chí nói vậy?
- Tôi nói vậy đó.
- Nhưng mà đồng chí phải hiểu rõ mới được - Pilar giải thích - Bây giờ thì đã quá trễ để tự cứu mình bằng sự khôn lanh, và hắn đã mất đi những cái khác.
- Tôi hiểu - Angustin nói - Tôi biết bọn mình phải chuồn. Và bởi vì ta phải thắng nếu ta muốn sống sót, thì cây cầu phải sập. Nhưng Pablo có trở nên hèn nhát thì hắn vẫn khôn lanh quá.
- Tôi cũng khôn lanh vậy.
- Không, Pilar ạ - Angustin nói - Đồng chí không khôn lanh. Đồng chí can đảm. Đồng chí cương quyết. Đồng chí biết quyết định, đồng chí có trục giác. Nhiều ý chí cương quyết và nhiều tình cảm, nhưng đồng chí không có khôn lanh.
- Đồng chí tin vậy à? - Pilar hỏi, vẻ nghĩ ngợi.
- Đúng vậy, Pilar ạ.
- Chàng thanh niên là người khôn lanh - Người đàn bà nói - Xảo quyệt và trầm tĩnh. Rất trầm tĩnh trong đầu.
- Đúng - Angustin nói - Hắn phải biết công việc hắn nếu không người ta không giao việc cho hắn. Nhưng tôi không biết hắn có khôn lanh không. Còn Pablo, tôi biết hắn xảo quyệt.
- Nhưng không ích lợi gì bởi hắn sợ hãi và chán hoạt động rồi.
- Nhưng hắn vẫn khôn lanh.
- Đồng chí nói sao?
- Không. Tôi thử nhìn sự việc một cách minh mẫn. Trong lúc này phải hành động minh mẫn. Sau vụ cây cầu, phải chuồn ngay. Tất cả phải sẵn sàng. Phải biết đi đâu và đi cách nào.
- Dĩ nhiên rồi.
- Về điều này... Pablo... Ta phải khôn lanh lắm mới được.
- Tôi không tin nơi Pablo.
- Về điều đó, đúng.
- Không. Đồng chí không biết hắn hư hỏng.
- Pero es muy vivo [5]. Hắn rất khôn lanh. Và nếu chúng ta không khôn lanh trong vụ này thì nguy.
- Tôi sẽ nghĩ tới điều đó - Pilar nói - Tôi có trọn một ngày để nghĩ.
- Về vụ cây cầu đã có người thanh niên kia rồi - Angustin nói - Hắn phải biết cách hành động. Hãy xem như người thanh niên nọ đã khéo léo tổ chức vụ xe lửa.
- Đúng - Pilar nói - Chính hắn quyết định mọi sự.
- Còn đồng chí thì lo về nghị lực và sự quyết tâm - Angustin nói - Nhưng Pablo thì lo việc di chuyển. Pablo lo việc rút lui. Hãy bắt hắn nghiên cứu việc đó ngay từ bây giờ.
- Đồng chí thông minh lắm.
- Thông minh, đúng - Angustin nói - Nhưng sin picardia [6]. Cái đó của Pablo.
- Cùng với sự sợ hãi của hắn và tất cả à?
- Cùng với sự sợ hãi của hắn và tất cả.
- Và đồng chí nghĩ gì về vụ cây cầu?
- Rất cần thiết. Bởi tôi biết rõ. Chúng ta phải làm hai điều. Ta phải rút lui khỏi chỗ này và chúng ta phải thắng. Những cây cầu rất cần thiết nếu chúng ta muốn thắng.
- Nếu Pablo tinh ranh và xảo quyệt thì tại sao hắn không thấy vậy?
- Vì yếu đuối, hắn muốn mọi sự vẫn ở chỗ cũ. Hắn muốn yên thân trong sự nhu nhược của hắn. Nhưng cái nồi sắp sôi lên rồi. Nếu bắt buộc phải thay đổi thì dù sao hắn cũng phải khôn lanh ra. Es muy vivo.
- May mà người thanh niên chưa giết hắn.
- Sao, tên du mục đã muốn tôi hạ hắn chiều hôm qua. Tên du mục là một con vật.
- Đồng chí cũng là một con vật - Pilar nói - Nhưng là một con vật thông minh.
- Cả hai ta đều thông minh. Nhưng tài năng, chính là Pablo.
- Nhưng khó mà chịu được hắn. Đồng chí không biết hắn hư hỏng ra sao đâu.
- Biết. Nhưng đó là một tài năng. Pilar nhìn xem. Để đánh giặc, tất cả những gì cần phải có chính là trí thông minh. Nhưng để thắng, phải có tài năng và vũ khí.
- Tôi sẽ suy nghĩ về điều đó - Bà ta nói - Bây giờ ta phải lên đường. Trễ rồi.
Đoạn bà ta cao giọng gọi.
- Inglés! Đến đây. Ta lên đường.
Chú thích:
[1] Cô bé xinh đẹp.
[2] Anh sẽ thấy.
[3] Vị hôn phu.
[4] Dĩ nhiên.
[5] Nhưng hắn rất khôn lanh.
[6] Không xảo quyệt.
Chương 10
Ta nghỉ đi - Pilar bảo Robert Jordan - Ngồi xuống đây đi Maria, ta nghỉ một chút.
- Chúng ta nên tiếp tục - Robert Jordan nói - Tới trên kia rồi nghỉ. Tôi phải gặp người đó.
- Thế nào rồi đây đồng chí cũng gặp ông ta - Người đàn bà nói - Tôi không vội gì. Ngồi xuống đây đi Maria.
- Thôi đi mà - Robert Jordan nói - Tới đỉnh rồi nghỉ.
- Tôi nghỉ ở đây. - Người đàn bà nói và ngồi xuống bên bờ suối. Người con gái ngồi bên cạnh bà ta, trên đám hoa thạch thảo. Mặt trời chiếu lấp lánh trên tóc nàng. Chỉ có Robert Jordan là đứng đó nhìn qua bãi cỏ trên núi cao nơi có ngọn suối chảy qua. Có những cành hoa thạch thảo mọc ở chỗ chàng đứng. Có những tảng đá màu xám nhô lên khỏi đám dương xỉ màu vàng thay cho những khóm hoa thạch thảo ở những chỗ thấp hơn trên bãi cỏ và tận phía dưới là rặng thông màu tối sẫm.
- Còn bao xa nữa thì tới chỗ của El Sordo? - Chàng hỏi.
- Không xa - Người đàn bà nói - Ngang qua khoảng đồng trống này dưới thung lũng, phía trên đám cây ở đầu nguồn suối. Đồng chí cứ ngồi xuống đây và bỏ cái vẻ quan trọng của đồng chí đi coi.
- Tôi muốn gặp ông ấy và tính cho xong việc.
- Tôi thì muốn rửa chân - Người đàn bà nói và cởi đôi giày vầi, tuột đôi vớ len dày, bà ta cho chân mặt xuống giòng suối - Trời ơi! Lạnh!
- Lẽ ra mình nên đi bằng ngựa. - Robert Jordan bảo.
- Với tôi, thế này mà hay - Người đàn bà nói - Đây mới chính là điều mà tôi cần. Đồng chí sao đó?
- Không sao cả. Có điều tôi rất gấp.
- À, vậy thì bình tĩnh đi. Còn chán thì giờ. Thật là một ngày tốt dẹp và tôi quá vui thích khi không còn phải ở trong rừng thông. Đồng chí không thể tưởng tượng được người ta chán ngán những cây thông đến bực nào rồi. Em không chán những cây thông chứ, guapa?
- Thích lắm chớ. - Người con gái đáp.
- Em thích cái gì của chúng đây?
- Em thích mùi hương của chúng và cái cảm giác khi bắt gặp những lá thông dưới chân mình. Em thích gió trên cây cao và tiếng kêu răng rắc khi những cành cây cọ vào nhau.
- Cái gì em cũng thích - Pilar nói - Em sẽ là một món quà quý cho bất cứ một người đàn ông nào nếu em có thể nấu ăn khá hơn. Nhưng rừng thông thì thật buồn chán. Em chưa bao giờ biết một khu rừng cây dẻ gai, cây sồi, cây lật. Đó mới là rừng. Trong những cánh rừng như vậy, mỗi cây mỗi khác, nó có bản sắc và vẻ đẹp riêng của nó. Một cánh rừng thông là cả một sự buồn chán. Thế nào, Inglés?
- Tôi cũng thích những cây thông.
- Pero, venga [1], cả hai người đều thích cả. Tôi cũng từng thích những cây thông. Nhưng chúng tôi đã ở quá lâu giữa những cây thông này. Tôi cũng đã chán những ngọn núi. Trên núi chỉ có hai hướng đi. Đi xuống và đi lên, nhưng khi đi xuống người ta lại gặp đường cái và những thành phố của bọn phát xít.
- Có bao giờ đồng chí đến Ségovie không?
- Qué va, với bộ mặt này à? Bộ mặt này thì đã chán người biết. Nếu em là một cô gái xấu xí thì em sẽ nghĩ sao đây hở người đẹp? - Bà ta hỏi Maria.
- Chị đâu có xấu!
- Vamos, tôi không xấu à? Tôi sinh ra đã xấu xí rồi. Cả đời tôi, tôi đã xấu xí. Còn đồng chí, Inglés người chẳng biết gì về đàn bà, đồng chí có biết một người đàn bà xấu có cảm nghĩ như thế nào không? Đồng chí có biết xấu cả đời mà bên trong vẫn thấy mình đẹp là sao không? Rất là kỳ cục. - Bà ta đặt bàn chân kia xuống suối rồi rút lên - Trời, lạnh quá! Kìa, trông con chim chìa vôi kìa - Bà ta nói và chỉ con chim màu xám đang bay từ hòn đá này sang hòn đá nọ ngược theo giòng nước - Chẳng ích lợi gì. Không hót cũng không ăn. Chỉ lúc lắc cái đuôi lên xuống. Cho tôi điếu thuốc, Inglés. - Bà ta lấy điếu thuốc, châm lửa bằng chiếc hộp quẹt bò trong túi áo bờ-lu. Bà ta bập bập điếu thuốc, nhìn Maria và Robert Jordan.
- Chuyện đời nghĩ cũng lạ thật - Bà ta nói và thở khói ra đằng mũi - Lẽ ra tôi có thể là một người đàn ông tốt. Nhưng tôi lại là một người đàn bà và tôi xấu xí. Tuy nhiên nhiều người đàn ông đã yêu tôi và tôi đã yêu nhiều người. Lạ thật. Này Inglés, ông nghe đây, điều này thật lý thú. Hãy nhìn tôi, xấu như tôi đây. Hãy nhìn cho gần, Inglés ạ.
- Đồng chí không xấu đâu!
- Qué no? [2] Đừng dối tôi - Bà cười ngất - Hay là cái đó bắt đầu có tác dụng đối với ông rồi? Không. Nói đùa thôi. Không. Hãy nhìn vào cái vẻ xấu xí này. Tuy nhiên người ta vẫn có được thứ tình cảm nó làm người đàn ông mù quáng trong tình yêu. Với thứ tình cảm người ta làm hắn mù quáng và làm chính mình mù quáng. Rồi một ngày, chẳng bởi một lý do nào, hắn nhìn thấy quả thật ta xấu xí và hắn không còn mù quáng nữa và rồi ta nhận ra ta xấu xí như chính hắn thấy, rồi ta mất người đàn ông, mất cả thứ tình cảm đó. Cô hiểu không cô bé? - Bà vỗ vai người con gái.
- Không - Maria nói - Vì chị không xấu.
- Em đừng để tình cảm lấn át lý trí và hãy nghe đây - Pilar nói - Tôi đang kể những điều rất lý thú. Nó có làm ông thích thú không Inglés?
- Có, nhưng chúng ta nên đi.
- Qué va, đi à? Ở đây tôi thấy thoải mái lắm. - Và rồi, bà ta lại tiếp tục thuyết cho Robert Jordan nghe như thể đang nói trước một lớp học, gần giống như đang giảng bài - Sau một thời gian, cái thứ cảm tưởng xuẩn ngốc rằng mình đẹp lại bắt đầu lớn mạnh trở lại. Nó lớn lên như bắp cải. Và rồi khi cái cảm tưởng đó trở lại, một người đàn ông khác gặp ta và cho ta đẹp. Tất cả tái diễn lại. Bây giờ thì tôi cho là tôi đã qua cái thời ấy, nhưng nó cũng có thể còn trở lại. Em có được cái may mắn, là không xấu, guapa ạ!
- Em xấu chớ. - Maria cả quyết.
- Hỏi ổng đi - Pilar nói - Đừng thọc chân xuống nước, bị lạnh cóng bây giờ.
- Nếu Robert Jordan bảo chúng ta phải đi, em nghĩ là chúng ta nên đi đi. - Maria nói.
- Nghe đây - Pilar nói - Chuyện này can hệ tới chị cũng như tới Roberto. Nhưng chị bảo là hãy ở đây nghỉ cho khỏe. Và chúng ta còn chán thì giờ. Hơn nữa chị muốn được nói. Đó là điều văn minh duy nhứt chúng ta có được. Không thì biết làm sao cho khuây khỏa đây! Những chuyện tôi nói không có gì lý thú đối với ông sao, Inglés?
- Đồng chí nói hay lắm. Nhưng còn nhiều chuyện khác làm tôi bận tâm hơn là chuyện đẹp hay không đẹp.
- Vậy thì nói đến chuyện gì mà đồng chí thích thú đi.
- Lúc chiến tranh bộc phát thì đồng chí ở đâu?
- Tại thành phố của tôi.
- Avila?
- Qué va. Avila à?
- Pablo nói quê đồng chí ấy cũng tại Avila.
- Ông ta nói dối. Ông ta muốn nhận một thành phố lớn làm quê mình. Thành phố của ông ta là... - Và bà ta nói tên một thành phố.
- Và cái gì đã xảy ra?
- Nhiều lắm - Người đàn bà nói - Nhiều lắm. Và toàn những chuyện xấu xa. Ngay cả điều hiển hách cũng thế.
- Kể cho tôi nghe về chuyện đó đi. - Robert Jordan nói.
- Hung bạo lắm - Người đàn bà nói - Tôi không muốn kể trước mặt cô bé.
- Cứ kể đi - Robert Jordan nói - Và nếu không phải là chuyện của cô ấy thì cô ấy đừng nghe.
- Tôi nghe được chớ. - Maria nói. Nàng đặt bàn tay vào lòng bàn tay của Robert Jordan - Không có chuyện gì là em không thể nghe được.
- Không phải là em có thể hay không có thể nghe, vấn đề là chị có nên kể cho em nghe để tạo cho em những cơn ác mộng không?
- Em không khi nào có những cơn ác mộng vì một câu chuyện - Maria nói - Sau những gì đã xảy ra cho chúng ta, chị còn nghĩ là em sẽ có những cơn ác mộng vì một câu chuyện sao?
- Có thể nó sẽ gây cho Inglés những cơn ác mộng.
- Thử đi rồi sẽ thấy.
- Không, Inglés ạ. Tôi không đùa đâu. Đồng chí có trông thấy phong trào nổi dậy tại một thành phố nhỏ nào không?
- Không. - Robert Jordan đáp.
- Vậy là đồng chí chưa thấy gì hết. Đồng chí đã thấy Pablo bây giờ thảm hại ra sao. Nhưng đồng chí phải gặp được Pablo trong những ngày ấy.
- Kể nghe đi.
- Thôi. Tôi không muốn kể.
- Kể nghe.
- Thôi được. Tôi sẽ kể. Có sao tôi kể vậy. Nhưng cô bé, nếu tới chỗ làm cho cô không chịu đựng nổi thì cho tôi biết nghen!
- Em sẽ không nghe nữa nếu thấy hết chịu được - Maria bảo - Chắc nó không thể khủng khiếp hơn nhiều chuyện đã xảy ra đâu.
- Có thể lắm chớ - Người đàn bà nói - Cho xin một điếu thuốc nữa chiến hữu Inglés, và vamonos [3].
Người con gái tựa lưng lên bờ dốc và Robert Jordan nằm dài ra vai chạm mặt đất, đầu tựa lên một cây thạch thảo. Bàn tay chàng gặp bàn tay Maria, chàng nắm lấy cọ vào những cành thạch thảo đến khi Maria xòe tay ra đặt hẳn lên bàn tay chàng trong khi họ vẫn lắng nghe.
- Lúc bọn civiles trong trại đầu hàng thì trời vừa mới sáng. - Pilar bắt đầu.
- Đồng chí đã tấn công trại lính? - Robert Jordan hỏi.
- Pablo đã bao vây doanh trại trong đêm, hắn đã cắt đứt các đường dây điện thoại, đặt chất nổ dưới một bức tường và kêu bọn guardia civil đầu hàng. Chúng nó không đầu hàng. Và lúc tảng sáng hắn cho nổ tung bức tường. Súng nổ. Hai tên trong bọn chúng bị hạ. Bốn bị thương và bốn đầu hàng.
Tất cả chúng tôi nằm trên mái nhà, dưới đất và dưới chân tường của các tòa nhà trong ánh nắng của buổi sáng, đám bụi do vụ nổ chưa tan vì chúng bốc lên cao trên không và không có một cơn gió nào đến mang đi. Tất cả chúng tôi nhả đạn về phía tòa nhà bị phá vỡ, chúng tôi nạp đạn và bắn tưới xượi vào đám khói và trong ấy còn lóe lên mấy phát súng trường. Rồi từ trong đám khói có tiếng kêu thôi bắn, và bốn tên civiles đi ra, tay giơ lên cao. Một khoảng lớn của mái nhà bị đổ xuống và tường cũng đã bay mất.
Bọn chúng bước ra đầu hàng.
- Còn ai bên trong nữa không? - Pablo thét lên.
- Còn những người bị thương.
- Giữ mấy tên này lại - Pablo nói với bốn người trong bọn tôi vừa ra khỏi chỗ đứng núp để bắn - Đứng đó, sát vào tường - Hắn ra lịnh cho bọn civiles. Bốn tên civiles đứng sát vào tường, mình mẩy bẩn thỉu dính đầy bụi và khói với bốn người chĩa súng đứng canh, Pablo và mấy người khác vào trong thanh toán mấy tên bị thương. Sau khi họ thanh toán xong, không còn nghe tiếng của mấy tên bị thương nữa, tiếng rên tiếng la cũng không còn, tiếng súng bên trong trại cũng không. Pablo và mấy người kia đi ra, Pablo đeo súng trên vai, tay cầm một khẩu Mauser.
- Xem đây Pilar - Hắn nói - Cái này nằm trong tay của một tên sĩ quan đã tự sát. Tôi chưa bao giờ bắn súng lục. Ê mày, - Hắn nói với một trong bốn civiles - chỉ tao cách bắn coi. Không, đừng chỉ, cắt nghĩa tao nghe đi.
Bốn tên civiles nãy giờ đứng sát vào tường, mồ hôi như tắm và không nói một lời khi nghe những phát súng nổ trong doanh trại. Tất cả đều cao lớn, gương mặt chúng rõ là mặt bọn civiles, giống như bộ mặt của tôi hôm nay đây, chỉ khác ở chỗ mặt họ đầy những gốc râu của buổi sáng cuối cùng chưa kịp cạo, và chúng đứng đó, lặng thinh.
- Mày - Pablo nói với tên đứng gần hắn nhứt - Làm sao bắn hở mày?
- Kéo cái cần nhỏ xuống - Tên đàn ông nói bằng một giọng nhợt nhạt - Kéo cơ bẩm ra sau và buông cho nó chạy về phía trước.
- Cơ bẩm là cái gì?
- Bộ phận phía trên.
Pablo kéo nó ra, nhưng kẹt.
- Làm sao bây giờ? - Hắn hỏi - Kẹt rồi. Mày gạt tao.
- Kéo ra sau thêm hơn nữa rồi để nó từ từ đóng lại phía trước. - Tên kia nói. Tôi chưa bao giờ nghe được một giọng như vậy. Nó buồn bã còn hơn một buổi sáng không ánh mặt trời.
Pablo kéo và buông ra theo như lời người đàn ông kia chỉ và khối cơ bẩm chạy về phía trước đúng vào vị trí và khẩu súng lục đã lên đạn, chó lửa nằm ra phía sau. Một khẩu súng lục xấu xí, bá súng nhỏ tròn, nhưng nòng dẹp và to, khó sử dụng. Suốt khoảng thời gian đó bọn civiles đứng im nhìn Pablo không nói một lời.
- Ông sắp sửa làm gì chúng tôi đây? - Một người hỏi hắn.
- Bắn tụi bây. - Pablo nói.
- Chừng nào? - Người đàn ông hỏi bằng một giọng buồn bã âm u.
- Bây giờ. - Pablo đáp.
- Ở đâu? - Người đàn ông hỏi.
- Tại đây - Pablo nói - Tại đây. Bây giờ. Tại đây và bây giờ. Mày còn gì để nói không?
- Nada - Tên kia nói - Không có gì nói hết. Nhưng thật là một điều kinh tởm.
- Nhưng chính mày cũng đáng kinh tởm vậy. - Pablo nói - Mày, kẻ tàn sát đồng bào nông dân. Không chừng mày cũng đã giết mẹ mày nữa.
- Tôi chưa hề giết một ai - Tên kia nói - Và xin đừng nói động tới mẹ tôi.
- Nói tao biết người ta chết ra sao đi! Thằng kia, kẻ chẳng biết gì ngoài việc giết người.
- Đừng nhục mạ chúng tôi vô ích - Một tên khác nói - Chúng tôi biết cách chết mà.
- Quỳ gối xuống coi! Đầu kê sát vào tường! - Pablo ra lệnh. Bọn chúng nhìn nhau.
- Tao bảo quỳ xuống - Pablo nói - Quỳ xuống đất.
- Thấy thế nào Paco? - Một tên civil nói với tên cao nhất, người đã chỉ cho Pablo về cách dùng súng lục. Gã đeo cấp bậc trung sĩ trên hai tay áo, mồ hôi ướt đẫm mặc dù buổi sáng hãy còn lạnh.
- Quỳ xuống đi cho xong - Gã đáp - Không có gì quan trọng.
- Thế này gần với đất hơn - Tên lên tiếng đầu tiên nói, cố pha trò. Nhưng tất cả đều quá nghiêm trọng cho một câu pha trò. Và không ai hé được một nụ cười.
- Mình quỳ gối xuống đi - Tên thứ nhất nói và cả bốn người quỳ xuống vụng về, lúng túng vô cùng, chúng kê đầu sát vào tường, hai tay buông xuôi. Pablo đi qua phía sau chúng và dùng khẩu súng lục bắn từng tên một, đi từ tên này đến tên khác dí nòng súng vào đầu, từng tên ngã xuống khi hắn bắn. Tôi còn có thể nghe tiếng súng lục chát chúa nhưng có vẻ như tắt nghẹn, tôi trông thấy nòng súng nẩy ngược và chiếc đầu gục về phía trước. Người thì giữ đầu ngẩng thẳng khi mũi súng chạm vào. Người thì đưa đầu về trước, trán gục vào tường đá. Người thì toàn thân run lên và đầu lắc lư. Chỉ có một người đưa hai tay lên che mắt và hắn là tên chót. Bốn xác chết đã rũ vào chân tường khi Pablo quay lại phía chúng tôi với khẩu súng lục còn cầm trong tay.
- Giữ cái này cho anh, Pilar. - Hắn nói - Anh không biết làm sao kéo cò xuống. - Hắn đưa tôi khẩu súng lục và đứng đó nhìn bốn tên civiles nằm sát bờ tường của doanh trại. Tất cả những người đi theo chúng tôi cũng đứng đó, đưa mắt nhìn, và không ai nói một lời nào.
Chúng tôi đã chiếm được thành phố, lúc bấy giờ hãy còn sớm, chưa ai ăn sáng hoặc uống cà phê và chúng tôi nhìn nhau, người đầy bụi bặm do vụ nổ doanh trại, trông như mấy người đập lúa. Tôi đứng cầm khẩu súng lục nặng nề trong tay, tôi nghe nôn nao trong bụng khi nhìn mấy tên civiles chết bên bờ tường, tất cả bọn chúng cũng đầy bụi bặm như chúng tôi, những xác chết vấy máu trên đất khô nơi chân tường. Và lúc chúng tôi còn đứng đó, mặt trời đã lên cao trên những ngọn đồi ngoài xa, chiếu xuống con đường nơi chúng tôi đang đứng, chiếu xuống những bức tường màu trắng của doanh trại, và đám bụi trong không khí chuyển sang màu vàng óng ả dưới những tia nắng đầu tiên. Người nông phu đứng gần bên tôi nhìn bức tường, nhìn doanh trại và nhìn những xác người nằm đàng kia rồi lại nhìn chúng tôi, nhìn mặt trời, đoạn cất tiếng:
- Vaya, một ngày bắt đầu.
- Bây giờ đi uống cà phê đi. - Tôi nói.
- Được rồi, Pilar, được rồi. - Hắn nói. Và chúng tôi kéo lên chợ, đến tận plaza [4]. Đó là những người sau cùng bị bắn trong làng.
- Còn những tên khác thì sao? - Robert Jordan hỏi - Trong làng không còn tên Phát xít nào nữa sao?
- Qué va, không còn ai là phát xít nữa à? Còn hơn hai chục. Nhưng không ai bị bắn.
- Người ta làm thế nào?
- Pablo cho đập chết chúng bằng những cây đòn gánh rồi vứt xác từ trên đồi cao xuống sông.
- Cả hai chục mạng như vậy hả?
- Tôi sẽ kể cho đồng chí nghe. Không phải đơn giản vậy đâu. Và trong đời tôi không bao giờ tôi dám ước là có thể trông thấy cảnh dùng đòn gánh đập chết người tại plaza nơi ngọn đồi trên dòng sông.
Thành phố xây trên một bờ sông cao, nơi đó có một công viên với một hồ nước và những chiếc ghế dài, có những cây to rũ bóng. Các bao lơn đều nhìn ra plaza. Sáu con đường tỏa ra từ plaza và trừ một phía, chung quanh đều là nhà có cửa tò vò. Người ta có thể đi bộ dưới bóng mát những cánh cửa tò vò khi trời nắng. Phía còn lại lối đi được che mát bởi những tàng cây bên bờ đá mà tận phía dưới là dòng sông. Dòng sông nằm dưới sâu ba trăm bộ.
Pablo tổ chức tất cả, như đã tổ chức cuộc tấn công trại lính. Trước tiên các đầu đường đều bị phong tỏa bằng xe bò như để chuẩn bị cho một capea. Một cuộc đấu bò tài tử. Tất cả những tên Phát xít đều bị giữ trong tòa Ayuntamiento, tòa thị sảnh, tòa nhà lớn nhất nằm một bên plaza. Tại đây có chiếc đồng hồ gắn trên tường, và chính tòa nhà dưới những ô cửa tò vò đó đã làm câu lạc bộ của bọn phát xít. Dưới những cửa tò vò, ngay trên lối đi trước câu lạc bộ, chúng bày ra những chiếc bàn, những chiếc ghế dựa. Chính nơi đây, trước khi phong trào bùng lên, bọn chúng có thói quen đến dùng rượu khai vị. Bàn ghế làm bằng mây. Trông giống như một quán cà phê nhưng lịch sự hơn.
- Nhưng các chiến hữu đã bắt giữ được bọn chúng mà không cần đến một trận đánh phải không?
- Pablo đã bắt chúng trong đêm trước cuộc tấn công doanh trại. Nhưng hắn đã bao vây doanh trại trước rồi. Bọn chúng tất cả đều bị bắt tại nhà vào lúc doanh trại bắt đầu bị tấn công. Thật là tinh ma. Pablo đúng là một tay tổ chức. Nếu không thì hắn đã bị đánh mạnh vào cạnh sườn và phía sau trong lúc hắn tấn công doanh trại của bọn guardia civil.
Pablo rất thông minh nhưng rất tàn bạo. Hắn đã tổ chức và ra lệnh rất kỹ về cuộc tấn công trong thành phố. Sau khi cuộc tấn công thành công, bốn tên dân vệ đã đầu hàng và bị hắn bắn chết dưới chân tường, và sau khi uống cà phê tại một chiếc quán luôn luôn mở cửa sớm nhất vào buổi sáng tại góc đường, nơi chiếc xe buýt sớm rời bến, Pablo bắt đầu tiến hành theo kế hoạch. Các xe bò được chất đống y như để chuẩn bị cho một cuộc capea, ngoại trừ phía bờ sông thì không được vây kín. Nó được để trống. Kế đó, Pablo ra lịnh cho vị linh mục làm lễ xưng tội và các phép thánh cần thiết cho mấy tên phát xít.
- Làm ở đâu?
- Trong tòa Ayuntamiento, như tôi đã nói. Bên ngoài người ta đông nghẹt và trong khi công việc này được tiến hành bên trong với vị linh mục thì bên ngoài có tiếng la ó, chửi tục, nhưng phần đông rất nghiêm chỉnh và đầy vẻ kính cẩn. Những người pha trò là những người đã say vì uống mừng việc chiếm được doanh trại, và những phần tử vô dụng mà bất cứ lúc nào cũng có thể say được.
Trong lúc vị linh mục đang làm phận sự bên trong thì Pablo tập hợp những người ngoài plaza lại thành hai hàng.
Hắn xếp người ta thành hai hàng như thể người ta xếp hàng để thi kéo dây, hay đứng trong một thành phố để xem đua xe đạp lúc gần tới mức ăn thua, chỉ chừa đủ chỗ cho các tay đua chạy qua, hoặc đứng xem một đám rước. Hai hàng cách nhau hai mét và kéo dài từ của tòa Ayuntamiento chạy qua suốt quảng trường tới tận bờ đá dốc, như vậy từ cửa tòa nhà nhìn ra quảng trường, một người đang bước ra sẽ thấy hai hàng người đang chờ đợi.
Họ võ trang bằng những cây đòn gánh như những lúc họ đập lúa và đứng xa nhau đúng một tầm đòn. Không phải ai cũng có đòn gánh, vì lẽ tìm không đủ. Nhưng hầu hết đều cầm đòn gánh lấy từ trong kho của Don Guillermo Martin, lão là tên Phát xít bán đủ loại nông cụ. Những ai không có đòn gánh thì cầm gậy lùa bò. Có người đùng chĩa, những cái chĩa răng bằng gỗ dùng để tung lúa lép và rơm lên sau khi dập lúa xong. Có người cầm lưỡi liềm phát cỏ và lưỡi hái cắt lúa, nhưng những người này thì Pablo đặt đứng tuốt đằng cuối nơi hai hàng người bên vách đá.
Những hàng người im lặng, hôm đó trời trong, trong như hôm nay, và có những đám mây tận trên cao, như bây giờ đây, plaza chưa phủ bụi vì đêm qua có sương nhiều, những cây cao đổ bóng lên những người đang đứng trong hàng và người ta có thể nghe được tiếng nước chảy qua ống đồng trong miệng con sư tử đổ vào hồ nước, nơi mà những người đàn bà vẫn hay mang thùng đến lấy nước.
Chỉ ở gần tòa Ayuntamiento, nơi vị linh mục đang làm lễ với mấy tên Phát xít mới có tiếng ồn ào thô lỗ của mấy tên vô tích sự đã say mèm, bọn chúng bu quanh cửa sổ, chõ mỏ qua song cửa, la ó tục tằn và pha trò bằng những câu vô duyên. Hầu hết những người đứng trong hàng đang im lặng, chờ đợi và tôi nghe có một người hỏi một người khác. Có đàn bà không? Và một người khác trả lời, lạy Chúa đừng có. Rồi một người khác nói, vợ Pablo đây rồi. Chị Pilar này! Có đàn bà không?
Tôi nhìn hắn, đó là một gã nông dân mặc áo vét ngày Chúa nhựt, mồ hôi nhễ nhại, và tôi nói, không, Joaquin. Không có đàn bà. Chúng ta không giết những người đàn bà. Tại sao lại phải giết vợ, mẹ và con gái của họ. Đoạn hắn nói: Cám ơn Chúa, không có đàn bà! Và chừng nào khởi sự đây?
Tôi nói, ngay khi vị linh mục chấm dứt buổi lễ.
- Còn vị linh mục thì sao?
- Tôi không biết. - Tôi thấy mặt hắn run run và mồ hôi hắn chảy trên trán - Tôi chưa bao giờ giết người. - Hắn nói.
- Rồi anh sẽ học - Người nông dân đứng kế hắn nói - Nhưng tôi không tin là đập bằng cái này là giết được một người. - Rồi anh ta cầm cây đòn gánh bằng hai tay và nhìn nó với vẻ nghi ngờ.
- Hay là ở chỗ đó - Một người nông dân khác nói - Phải đập nhiều cái.
- Chúng đã chiếm Valladolid. Chúng đã kiểm soát Avila - Có người nói - Tôi đã nghe chuyện đó trước khi chúng ta vào thành phố.
- Chúng sẽ không bao giờ chiếm được thành phố này. Thành phố này là của chúng ta. Chúng ta đã đánh trước chúng - Tôi nói - Pablo không đợi chúng đánh trước.
- Pablo có đủ sức - Một người khác nói - Nhưng trong cái vụ thanh toán mấy tên civiles kia, ông ấy thật ích kỷ. Chiến hữu có nghĩ thế không Pilar?
- Có - Tôi nói - Nhưng bây giờ thì tất cả đã tham dự vào công cuộc này.
- Ừ - Hắn nói - Tổ chức chu đáo thật. Nhưng sao chúng ta không nghe tin tức gì thêm về phong trào?
- Pablo đã cắt đứt mấy đường dây điện thoại trước khi tấn công vào doanh trại. Bây giờ vẫn chưa sửa chữa lại.
- À - Hắn nói - Thì ra vì vậy mà chúng ta chẳng hay biết được gì. Tôi nghe nhiều tin tức trong radio hồi sáng sớm này.
- Sao cái vụ này phải làm như vầy? - Hắn hỏi tôi.
- Để tiết kiệm đạn - Tôi nói - Và để cho mỗi người đều được chia xẻ trách nhiệm.
- Vậy thì bắt đầu đi! Vậy thì bắt đầu đi! - Tôi nhìn hắn và thấy hắn khóc.
- Sao đồng chí lại khóc, Joaquin? - Tôi hỏi hắn - Không phải chuyện để khóc.
- Tôi không cầm được, Pilar à - Hắn nói - Tôi chưa từng giết ai.
- Nếu đồng chí chưa thấy được một ngày cách mạng tại một thành phố nhỏ nơi mọi người đều biết nhau cả và lúc nào cũng quá hiểu nhau là chiến hữu chưa biết gì ráo. Và ngày hôm ấy hầu hết những người đứng trong hai hàng người chạy qua plaza kia đều mặc quần áo làm việc ngoài đồng, họ đã đến thành phố một cách vội vàng, nhưng có một vài người không biết phải ăn mặc thế nào cho ngày đầu của phong trào đã mặc những y phục dành cho ngày Chúa nhựt và ngày lễ, và những người này thấy những kẻ khác, kể cả những người đã tấn công trại lính, mặc những bộ đồ cũ nhứt của mình thì đâm ra xấu hổ vì ăn mặc không đúng cách. Nhưng họ không thích cởi áo vét ra vì sợ mất hoặc bị mấy tên vô tích sự ăn cắp, cho nên họ cứ đứng đó, mồ hôi nhễ nhại dưới ánh mặt trời và đợi cho việc ấy bắt đầu.

Rồi gió nổi lên và bây giờ thì bụi bặm đã khô ráo trên plaza, người ta đi, đứng, chà, lết làm tung bụi lên. Một người đàn ông trong chiếc áo ngày Chúa nhựt màu xanh sậm hét lên. Angua! Angua! Nước! Nước! Người phu quét plaza với công việc là dùng một vòi nước để tưới lên plaza mỗi buổi sáng, đến quay vòi nước và bắt đầu dồn bụi từ bìa plaza vào giữa. Rồi hai hàng người lùi ra sau để lão tưới bụi ở chính giữa plaza, vòi nước quét thành những vòng cung rộng và nước lóng lánh dưới ánh mặt trời, những người đàn ông chống đòn gánh, hoặc gậy gộc hoặc chĩa gỗ màu trắng đứng ngắm tia nước quét qua. Và rồi khi plaza đã được thấm đều nước và bụi bặm đã lắng xuống, những hàng người được tái lập, và có một người nông dân la lớn: Chừng nào chúng tôi mới có được tên phát xít đầu tiên? Chừng nào tên thứ nhất chui ra đây?
- Có ngay - Pablo đáp từ cửa tòa Ayuntamiento - Tên thứ nhất sẽ ra ngay. - Tiếng hắn khàn đi vì mải hò hét trong cuộc tấn công và vì khói trong trại lính.
- Mắc cái gì mà chần chờ hoài vậy? - Có người hỏi.
- Còn bận với mấy cái tội của chúng. - Pablo nói to.
- Có tới hai mươi tên lận mà. - Một người nói.
- Hai mươi đứa thì có lắm tội để kể.
- Đúng, nhưng tôi nghĩ đây là một kế để câu giờ. Chắc chắn là trước một tình thế nghiêm trọng như vầy, người ta không thể nhớ hết được tội lỗi của mình, ngoại trừ cái tội lớn nhất.
- Vậy thì hãy kiên nhẫn đi, vì với hai mươi tên, có thừa những tội lớn để làm mất một số giờ nào đó.
- Tôi có thừa kiên nhẫn, - Người kia nói - nhưng cũng nên chấm dứt đi cho bọn chúng và bọn ta được nhờ. Bây giờ là tháng Bảy, và có thiếu gì công việc. Chúng ta đã gặt lúa xong nhưng chưa đập. Chưa lúc để hội hè.
- Nhưng chính hôm nay ngày hội - Một người khác nói - Ngày Hội Tự Do và kể từ ngày hôm nay, khi bọn này không còn nữa, thành phố này và đất đai này là của chúng ta.
- Hôm nay chúng ta đập những tên phát xít - Một người nói - Và tự do của làng này sẽ bay ra từ thứ rơm trấu kia.
- Ta phải quản lý nó cho tốt để được xứng đáng - Một người khác nói - Pilar, - Hắn nói với tôi - chừng nào chúng ta mới có một cuộc hội họp để tổ chức đây?
- Ngay khi xong vụ này - Tôi nói với hắn - Cũng trong tòa Ayuntamiento này - Lúc đó tôi đang đội một chiếc mũ vành ba múi đánh vẹt ni của bọn guardia civil để làm trò, tôi kéo chó lửa của khẩu súng lục xuống giữ nó lại đồng thời kéo cò, có vẻ tự nhiên lắm; khẩu súng lục cột vào sợi dây quấn ngang thắt lưng, nòng súng dài nhét vào dây. Giắt súng như vậy xong tôi thấy thích thích và tiếc là đã không lấy bao súng theo thay vì lấy chiếc nón. Có người bảo tôi. “Pilar à, tôi thấy cô em đội cái nón đó coi không được. Bây giờ thì chúng ta đã dứt khoát với bọn guardia civil rồi”.
- Vậy thì - Tôi nói - tôi sẽ lột nó xuống. - Và tôi lột mũ xuống.
- Đưa cho qua - Lão ta bảo - Nên thủ tiêu nó đi.
Và vì chúng tôi đứng ở cuối hàng, nơi có lối đi chạy dọc theo vách đá cạnh bờ sông, lão cầm chiếc nón và ném nó xuống phía dưới bằng động tác của người mục đồng ném đá để gom bò. Chiếc nón tung lên xa trong không gian và tôi thấy nó càng lúc càng nhỏ đi, màu da vẹt ni ánh lên trong bầu không khí trong sáng, chiếc nón bay lên xoay tròn đáp xuống dòng sông. Nhìn qua quảng trường, trên các cửa sổ và bao lơn, tôi thấy người ta đông nghẹt và hai hàng người chạy ngang qua quảng trường đến tận cửa tòa Ayuntamiento, đám đông lúc nhúc bên ngoài, bu sát vào các cửa sổ của tòa nhà đó, có tiếng ồn ào của nhiều người nói chuyện và rồi tôi nghe có tiếng reo lên và có người nói: “Tên thứ nhất kia rồi”. Và đó là Don Benito Garcia, tên thị trưởng. Lão đi ra, đầu trần, bước từ từ xuống những bực thềm, không việc gì xảy ra. Lão qua khỏi hai người, bốn người, tám người, mười người, vẫn không việc gì xảy ra và lão bước đi giữa hai hàng người, đầu ngẩng lên, khuôn mặt xám ngắt, mắt ngó thẳng phía trước, liếc qua liếc lại hai bên rồi tiếp tục bước đi. Vẫn không việc gì xảy ra.
Trên bao lơn có người hô to: Qué passa, Cobardes? Cái gì vậy, quân hèn nhát? Và Don Benito vẫn bước đi giữa hai hàng người, vẫn không chuyện gì xảy ra. Đoạn tôi thấy một người ở cách chỗ tôi đứng ba thước, mặt hắn đanh lại, hắn cắn môi, hai bàn tay trắng toát nắm chặt lấy cây đòn gánh của hắn. Tôi thấy hắn nhìn về phía Don Benito, ngó lão đang tiến tới. Vẫn không có chuyện gì xảy ra. Rồi khi Don Benito đến trước người đàn ông kia, hắn đưa cao cây đòn gánh lên đến đụng người bên cạnh và giáng xuống một bên đầu của Don Benito một cây, Don Benito ngó hắn, người đàn ông đập thêm và hét lên: Cho mi đây, đồ carbon. Cú đánh trúng một bên mặt, Don Benito đưa tay lên ôm mặt. Và họ đập lão đến khi lão té xuống. Người đàn ông đập lão đầu tiên kêu những người khác giúp sức hắn, còn hắn thì kéo cổ áo lão, mấy người khác nắm hai tay, mặt lão úp xuống những lớp bụi trong plaza. Và họ lôi lão xềnh xệch trên lối đi, đến bờ đá và vất lão xuống sông. Người đàn ông đập lão đầu tiên quỳ xuống bên bờ đá nhìn lão và nói: Đồ carbon! Đồ carbon! Ồ quân carbon! Hắn là một tá điền của Don Benito và họ chẳng bao giờ thuận thảo nhau. Trước có chuyện cãi vã về miếng đất bên bờ sông mà Don Benito đã lấy của hắn để cho một người khác mướn và hắn đã ghét lão từ lâu. Hắn không trở lại hàng mà ngồi tại mé vách đá nhìn xuống chỗ Don Benito đã rơi xuống.
Sau Don Benito chẳng có ai bước ra. Plaza bây giờ không một tiếng động vì tất cả đang chờ đợi xem ai sẽ bước ra. Rồi bỗng một tên say rượu hét to lên: “Lôi cổ chúng ra! Mau lên! Lôi cổ chúng ra”. Rồi một tên say rượu khác hét lớn: “Qué salga el toro! Thả bò ra!”.
Đoạn, có người đứng gần mấy cánh cửa sổ của tòa Ayuntamiento thét lên: “Tụi nó không nhúc nhích. Tụi nó đang cầu nguyện”.
Một tên say rượu khác la to: “Lôi cổ chúng ra. Mau lên, lôi cổ chúng ra. Giờ cầu nguyện đã hết”. Không ai ra. Nhưng sau đó tôi thấy một người đàn ông bước ra.
Đó là Don Federico Gonzalez, chủ nhà máy xay và chủ tiệm thực phẩm súc vật; hắn là một tên phát xít hạng nặng. Lão cao và ốm, tóc chải tém qua một bên để che cái đầu hói, và lão mặc một chiếc áo ngủ bỏ trong quần. Lão đi chân đất như lúc bị bắt tại nhà và lão bước đi có Pablo theo sau, nòng súng dí sát vào lưng lão cho đến khi Federico bước vào giữa hai hàng người. Nhưng khi Pablo rời lão và trở vào cửa tòa thị chính, Don Federico không thể bước tới được và đứng đó, mắt lão trợn ngược, hai tay giơ lên như muốn níu lấy bầu trời.
- Lão không có chân để đi. - Có người nói.
- Cái gì đó Don Federico? Không đi nổi à?
Có người lớn tiếng với lão. Nhưng Don Federico vẫn đứng đó, hai tay giơ lên cao và chỉ có đôi môi mấp máy.
- Đi tới - Pablo từ bực thềm hét lên - Đi!
Don Federico vẫn đứng đó, không nhúc nhích. Một trong mấy tên say rượu dùng cán đòn gánh thọt vào lưng lão. Don Federico nhảy dựng lên như ngựa chứng, nhưng rồi vẫn đứng tại chỗ cũ, hai tay đưa lên cao và mắt ngước lên trời.
Đoạn người nông dân đứng gần tôi nói: “Xấu hổ thật. Tôi chẳng có gì chống đối lão nhưng cảnh như vầy phải chấm dứt”. Xong gã bước xuống khỏi hàng và chen tới chỗ Don Federico đứng và nói: “Xin phép cụ” và bổ mạnh một cây vào người lão.
Lúc bấy giờ Don Federico bỏ tay xuống, ôm lấy đỉnh đầu chỗ hói tóc, đầu cúp xuống, mấy sợi tóc mịn, dài len qua các kẽ tay, lão chạy nhanh giữa hai hàng người trong khi những cây đòn đập lúa bổ lên lưng, lên vai cho đến khi lão ngã xuống và những người đứng ở cuối hàng hốt lão lên và tung lão qua bên kia mé đá. Từ lúc bước ra với khẩu súng của Pablo dí sau lưng, lão chẳng hề hé môi. Nỗi khó khăn duy nhất của lão là bước tới. Dường như lão đã không thể điều khiển được cặp chân của lão.
Sau Don Federico tôi thấy những người hung hăng nhất bu lại ở cuối hàng, nơi mé đá và tôi rời nơi đó để đến dưới những khung cửa tò vò của tòa Ayuntamiento, tôi đẩy hai người say rượu qua một bên và nhìn vào cửa sổ. Trong phòng lớn của tòa Ayuntamiento, tất cả bọn chúng đang quỳ thành nửa vòng tròn và cầu nguyện, vị linh mục cũng đang quỳ và cầu nguyện với chúng. Pablo và một người tên Cuato Dedos, Bốn Ngón, một người thợ khâu giày đã gần gũi rất nhiều với Pablo trong thời gian ấy, cùng với hai người khác đang cầm súng đứng đó. Pablo nói với vị linh muc: “Bây giờ tới phiên ai?” Vị linh mục vẫn tiếp tục đọc kinh cầu nguyện và không trả lời hắn.
- Nghe đây - Pablo nói với vị linh mục bằng giọng khàn khàn của hắn - Bây giờ tới phiên ai? Ai sẵn sàng đây?
Vị linh mục không trả lời Pablo và làm như hắn không có mặt ở đó. Tôi thấy hắn nổi giận.
- Tất cả chúng tao cùng đi ra. - Don Ricardo Montalgo, một tên điền chủ nói với Pablo, lão ngẩng đầu lên, ngưng cầu nguyện để cất lời.
- Qué va - Pablo nói - Từng người một, nếu tụi bây sẵn sàng.
- Vậy tao đi đây - Don Ricardo nói - Tao sẽ chẳng bao giờ sẵn sàng hơn. - Vị linh mục làm phép lành cho lão trong lúc lão nói và làm phép lành cho lão một lần nữa lúc lão đứng dậy, không ngừng cầu nguyện, và đưa thánh giá lên cho Don Ricardo hôn. Don Ricardo hôn thánh giá đoạn quay qua nói với Pablo. “Chẳng bao giờ sẵn sàng hơn nữa. Quân khốn kiếp. Đi mày!”.
Don Ricardo là một người lùn, tóc hoa râm, cổ to, lão mặc chiếc áo sơ-mi không cổ. Chân lão khuỳnh ra vì cưỡi ngựa nhiều quá. Xin từ giã, lão nói với tất cả những người đang quỳ. Đừng buồn. Chết chẳng là gì hết. Cái tệ duy nhứt là chết trong tay bọn canalla [5] này. Đừng chạm đến ta, lão nói với Pablo. Đừng chạm đến ta bằng cây súng của mi.
Lão bước ra trước tòa Ayuntamiento với mái tóc hoa râm, đôi mắt nhỏ màu xám và chiếc cổ to, trông lão nhỏ thó và giận dữ. Lão nhìn hai hàng nông dân và nhổ nước bọt xuống đất. Lão nhổ ra nước bọt thật sự, nước bọt, như chiến hữu thừa biết, vốn rất hiếm hoi trong mấy lúc như vậy, và lão nói: “Arriba Espana [6]. Đả đảo nền Cộng Hba giả hiệu, sư cha chúng bây!”.
Rồi vì lời nguyền rủa đó, họ đập lão chết rất mau, đập lão ngay khi lão bước đến bên người thứ nhất, họ đập lão trong khi lão cố bước tới, đầu thẳng lên, họ đập lão cho đến khi lão ngã xuống và bầm lão bằng vòng hái, bằng lưỡi liềm, nhiều người áp lại rinh lão đến mé đá vất đi, giờ thì vẫn còn máu dính trên tay, trên quần áo họ, và họ bắt đầu có cảm giác là những người bước ra đây đích thật là những kẻ thù cần phải giết chết.
Cho tới khi Don Ricardo bước ra với vẻ dữ tợn và những lời chửi rủa, tôi tin chắc là trước lúc ấy có rất nhiều người trong hàng đã sốt ruột. Và nếu có người hô to từ trong hàng: “Thôi, tha cho tụi còn lại đi. Bây giờ chúng đã có được bài học rồi”. Thì tôi tin chắc hầu hết đã đồng ý.
Nhưng Don Ricardo, bằng tất cả sự bạo gan của lão, đã làm hại những người khác. Vì lão khích động những người trong hàng nên dù trước đó người ta chỉ hành động không mấy thích thú, bây giờ họ đã giận dữ, và người ta thấy rõ sự việc đã đổi khác.
- Cho ông thầy tu ra là công việc được mau chóng hơn. - Có người nói lớn.
- Cho ông thầy tu ra đi.
- Sau ba thằng ăn cắp, bây giờ đến lượt ông thầy tu đi.
- Hai thằng ăn cắp - Một anh nông dân lùn tịt nói với người đàn ông vừa la lớn - Đó là hai thằng ăn cắp và Chúa của chúng ta!
- Chúa của ai? - Người đàn ông nói, mặt hắn giận dữ đến đỏ rần.
- Chúa của chúng ta là một cách nói.
- Không phải là Chúa của tôi, không, không đùa đâu. Và tốt nhứt là anh nên giữ mồm giữ miệng nếu không muốn bước vào giữa hai hàng người.
- Tôi cũng là một con người Cộng Hòa tự do tốt như anh - Gã nông dân lùn tịt nói - Tôi đã đập Don Ricardo ngay miệng, tôi đã đập Don Federico ngay lưng, tôi đã đập hụt Don Benito. Nhưng tôi nói Chúa của chúng ta chỉ là một cách nói để chỉ người được đề cập đến, và ta có hai tên ăn cắp.
- Tôi chửi cha cái thứ Cộng Hòa của anh. Anh còn kêu là Don này, Don nọ nữa à.
- Ở đây người ta gọi tụi nó như thế.
- Tôi thì không gọi những thằng cabrones như thế. Và Chúa của anh nữa... A kia! Có một tên mới đây rồi.
Và chính bây giờ tôi mới chứng kiến một cảnh chướng mắt, vì người bước ra cửa tòa thị chính là Don Faustino Rivero, con trai lớn nhất của Don Faustino Rivero, một chủ điền. Hắn cao và tóc vàng, tóc hắn vừa mới chải ngược ra sau vì hắn luôn luôn mang theo trong túi một chiếc lược, và hắn vừa mới chải đầu trước khi bước ra. Hắn là một tên tán gái có tiếng và là một tên hèn nhát, hắn lúc nào cũng muốn trở nên một tay đấu bò tài tử. Hắn la cà với bọn du mục, bọn đấu bò và những tay nuôi bò, hắn rất thích mặc y phục kiểu Andalou nhưng lại nhát gan và được coi như một thứ trò hề. Có lần hắn được giới thiệu xuất hiện trong một cuộc đầu bò tài tử để giúp viện dưỡng lão tại thành phố Avila, và hắn phải giết một con bò mộng theo lối Andalou. Hắn đã bỏ rất nhiều thì giờ để nghiên cứu luyện tập nhưng lúc hắn trông thấy dáng vóc con bò giao cho hắn thay cho con bò nhỏ xíu, chân cẳng yếu ớt mà hắn đã lựa thì hắn cáo bịnh và có người nói rằng hắn đã thọt sâu ba ngón tay vào cổ họng để ói.
Khi những hàng người trông thấy hắn thì họ bắt đầu la lớn: “Ê kìa Don Faustino! Coi chừng ói nghe!”
- Nè Don Faustino! Có gái đẹp bên kia mé đá kìa.
- Don Faustino. Đợi một chút, chúng tôi sẽ đem ra cho ngài con bò lớn hơn con kia.
Và có người khác nói, “Này Don Faustino, có bao giờ mày nghe nói đến cái chết chưa?”
Don Faustino đứng đó, cố làm gan. Hắn hãy còn sống trong nỗi thôi thúc đã khiến hắn tuyên bố với những tên khác là hắn sắp bước ra. Cũng chính sự thôi thúc đó trước đây đã khiến hắn tuyên bố dự cuộc đấu bồ. Điều đó đã làm hắn tin tưởng và hy vọng là hắn có thể là một tay đấu bò tài tử. Bây giờ thì hắn lấy làm hứng khởi vì cái gương của Don Ricardo, và hắn đứng đó trông vừa đẹp trai vừa can trường khiến cho bộ mặt hắn trông rất dễ ghét. Nhưng hắn không nói được lời nào.
- Ra đây Don Faustino. - Có người trong hàng gọi hắn - Ra đây, Don Faustino. Đây là con bò mộng lớn nhất.
Don Faustino nhìn vào bọn và tôi nghĩ trong lúc Don Faustino nhìn, là chẳng ai trong hàng mảy may thương hại hắn. Tuy nhiên hắn vẫn đứng đó, trông đẹp trai và đầy vẻ kiêu hãnh, nhưng thời gian ngắn dần và chỉ có một con đường duy nhất cho hắn.
- Don Faustino! - Có người gọi - Mi còn đợi gì nữa, Don Faustino?
- Nó sắp ói. - Có người nói và những người trong hàng cười.
- Don Faustino! - Một người nông dân gọi - Ói đi nếu mày cần ói. Với tao thì cũng vậy thôi.
Rồi trong sự chờ đợi của mọi người, Don Faustino nhìn dọc theo hai hàng người, ngang qua quảng trường đến tận bờ đá, và khi thấy bờ đá và khoảng trống ngoài xa, hắn quay nhanh lại và lủi trở vô của tòa Ayuntamiento.
Cả hai hàng người nhao nhao lên, có kẻ hét to, “Đi đâu đó, Don Faustino? Mày đi đâu đó?”
- Hắn đi ói. - Một người khác la lớn và cả bọn lại cười rộ lên.
Rồi tôi thấy Don Faustino lại trở ra, phía sau có Pablo cầm khẩu súng đi theo, tất cả cái dáng vẻ oai phong của hắn biến đi đâu mất và bây giờ hắn đi ra với Pablo theo sau như thể Pablo đang quét đường và Don Faustino là rác rến mà Pablo đùa ra phía trước. Bây giờ Don Faustino bước ra làm dấu thánh giá, đọc kinh cầu nguyện, đưa hai tay lên che mắt và bước xuống các bậc thềm tiến về phía hai hàng người, đôi môi mấp máy.
Không ai nói gì, không ai chạm đến hắn, đi được nửa đường thì hắn không thể đi xa được nữa và sụp xuống trên hai đầu gối.
Không ai đánh hắn. Tôi đến đứng phía sau một trong hai hàng người để xem việc gì xảy ra cho hắn, một người nông dân cúi xuống đỡ hắn lên và nói, “Đứng dậy Don Faustino, đi tiếp đi chớ, con bò chưa ra mà”.
Don Faustino không thể đi một mình và người nông dân mặc áo bờ-lu đen phải đỡ hắn một bên và một người nông dân khác trong chiếc áo bờ-lu đen và đôi ủng mục đồng phải đỡ hắn bên kia, họ đỡ hai cánh tay hắn và Don Faustino bước đi giữa hai hàng người, hai tay che mắt, môi mấp máy luôn, mái tóc của hắn dán sát vào đầu, ánh lên dưới ánh mặt trời, và trong khi hắn đi qua những người nông dân luôn mồm nói, “Don Faustino, buen provecho [7]. Don Faustino, chúc mi ăn ngon miệng”, và những người khác nói, “Don Faustino, a sus ordenes [8]. Don Faustino, xin tuân lệnh ngài”. Có người giả đò đánh hụt hắn theo kiểu đấu bò và nói, “Don Faustino matador, a sus ordenes”. Một người khác lại nói. “Don Faustino ơi, trên trời nhiều gái đẹp lắm”. Và họ dìu Don Faustino đi qua hai hàng người, giữ chặt lấy hắn, đỡ hắn đứng thẳng lên trong khi hắn bước đi và hai tay cứ che mắt. Nhưng có lẽ hắn đã nhìn thấy qua mấy kẽ ngón tay của hắn vì khi họ dìu hắn vừa tới bờ đá, hắn lại quỳ sụp xuống, nằm vật xuống đất, vừa bám vào mặt đất, níu lấy cỏ vừa nói, “Không, không. Tôi van các ông. Đừng! Đừng!”.
Đoạn mấy người nông dân đi với hắn và những tay hung hăng nhứt đứng ở cuối hàng đã nhanh như chớp tóm phía sau hắn, lúc hắn đang quỳ, xô mạnh hắn tới trước và hắn bay xuống sông mà chẳng hề bị đánh đập, và người ta còn nghe tiếng kêu thất thanh của hắn trong lúc hắn rơi xuống.
Chính vào lúc bấy giờ, tôi thấy những người trong hàng đã trở thành hung dữ. Trước tiên là những lời nguyền rủa của Don Ricardo và kế đến là sự hèn nhát của Don Faustino đã làm cho họ thành ra như vậy.
- Mình làm một tên nữa đi! - Một người nông dân kêu to, một người khác vỗ mạnh vào vai hắn và nói, “Don Faustino! Thứ đồ gì đâu mà bết quá. Don Faustino!”
- Bây giờ thì hắn đã thấy được con bò mộng to lớn rồi - Một người khác nói - Bây giờ thì hắn có ói mửa cũng vô ích.
- Trong đời tôi, Một người nông dân khác nói - trong đời tôi chưa thấy cái thứ gì như tên Don Faustino.
- Còn nhiều nữa - Một người nông dân khác nói - Kiên nhẫn đi. Ai biết được mình sẽ còn trông thấy thứ gì nữa đây.
- Có thể là những tên khổng lồ và những tên lùn - Người nông dân thứ nhất nói - Có thể là những người da đen và những con thú hiếm có từ Phi châu. Nhưng theo tôi sẽ không có thứ gì giống như Don Faustino. Nhưng chúng ta làm một tên nữa đi chớ. Mau lên! Làm một tên nữa đi!
Những tên say rượu đang chuyền nhau mấy chai rượu hồi và cô nhác cuỗm được trong câu lạc bộ của bọn phát xít, và chúng uống như uống rượu vang. Nhiều tên trong hàng cũng đã bắt đầu chếnh choáng vì đã uống sau những cảm xúc mạnh do Don Benito, Don Ricardo và nhất là Don Faustino mang tới. Những kẻ không uống trong những chai rượu mạnh thì uống bằng những bình đựng rượu vang được chuyền tay, có người đưa tôi bình rượu và tôi uống một hơi dài, để cho rượu vang làm mát lạnh cổ họng vì tôi rất khát.
- Giết người dễ khát nước lắm. - Tên cầm bình rượu nói với tôi.
- Qué va, - Tôi nói - chiến hữu đã giết người chưa?
- Tôi đã giết bốn tên - Hắn nói, một cách hãnh diện - Không kể mấy tên civiles. Có đúng là chiến hữu đã giết một tên civile không, Pilar?
- Không phải một - Tôi nói - Tôi đã bắn vào trong đám khói như mấy người khác lúc tường sập. Chỉ có vậy thôi.
- Đồng chí lấy đâu ra được cây súng lục vậy, Pilar?
- Của Pablo, Pablo đưa cho tôi sau khi dùng nó bắn vào mấy tên civiles.
- Tôi xem chút có được không, Pilar? Tôi cầm nó một chút có được không?
- Sao lại không, hombre. - Tôi nói và rút khẩu súng ra khỏi sợi dây đưa cho hắn. Tôi tự hỏi sao không có tên nào khác bước ra, và đúng lúc đó, có ai ra kìa? Chính Don Guillermo Martin, chủ nhân của những cây đòn gánh, những cây gậy mục đồng và những cây chĩa mà người ta lấy từ kho của lão. Don Guillermo chỉ có mỗi cái tội là làm phát xít, ngoài ra không có gì để oán trách lão.
Đúng là lão đã trả rất rẻ cho những người làm ra mấy cây đòn gánh, nhưng lão cũng đã bán chúng ra với giá rất thấp, và nếu có người không muốn mua những cây đòn của lão Don Guillermo thì cũng có thể tự làm lấy và chỉ chịu tốn tiền gỗ và tiền da thôi. Lão có lối ăn nói không được nhã nhặn mấy và lão là một tên phát xít, đó là điều không chối cãi được, lão là một hội viên trong câu lạc bộ của bọn chúng. Vào buổi chiều tối lão vẫn hay ngồi trên chiếc ghế mây trong câu lạc bộ để đọc tờ El Debate, gọi người đến đánh giày, uống rượu Vermouth với nước suối Seitz, ăn hạnh nhân rang, tôm khô và cá đối. Nhưng người ta không giết lão vì chuyện đó và tôi chắc chắn rằng nếu không có những lời nhục mạ của Don Ricardo Montalvo và cái cảnh thảm hại của Don Faustino, chuyện say sưa tác động lên cảm xúc của nhiều người, hẳn có người sẽ kêu lên: “Thôi cho lão Don Guillermo đó được yên đi. Chúng ta có mấy cây đòn của lão. Tha cho lão đi”.
Vì dân chúng trong thành phố này ác thì có ác, nhưng hiền thì cũng có hiền và họ có một tinh thần yêu chuộng lẽ phải và mong ước được làm điều phải. Nhưng sự hung ác cũng như sự say xỉn đã thâm nhập vào hai hàng người, và họ không còn được như lúc Don Benito bước ra nữa. Tôi không biết ở những xứ khác thì thế nào và không ai khoái thú uống rượu hơn tôi; nhưng ở Tây Ban Nha sự say rượu, khi nó do những yếu tố khác hơn là chính chất rượu, thì quả là một điều thật thô bỉ và người ta có thể làm được những điều mà trước đó họ không hề làm. Bên xứ đồng chí không có thế chớ, Inglés?
- Cũng vậy - Robert Jordan nói - Hồi tôi bảy tuổi và theo mẹ dự một tiệc cưới ở tiểu bang Ohio, mà hôm đó tôi là đứa con trai trong cặp bé trai và gái ôm hoa...
- Anh làm việc đó à? - Maria hỏi - Thích quá!
- Trong thành phố đó có một người da đen bị treo lên cột đèn và sau đó bị đốt. Đó là một cây đèn hình cung. Cái đèn có thể hạ thấp xuống vỉa hè. Và gã bị kéo lên cao bằng một bộ phận dùng đưa cây đèn lên nhưng nửa chừng bộ phận đó gãy.
- Một người da đen? - Maria nói - Dã man quá!
- Những người đó có say không? - Pilar hỏi - Họ có say quá đến độ có thể đốt được một người da đen không?
- Tôi không biết - Robert Jordan nói - Vì tôi chỉ nhìn thấy qua phía dưới màn cửa sổ của ngôi nhà bên góc đường đối diện với cây đèn cánh cung. Đường phố đầy người và khi họ kéo người da đen lên lần thứ hai...
- Nếu đồng chí mới có bảy tuổi và ở trong nhà thì chiến hữu không biết được họ có say hay không đâu. - Pilar nói.
- Như tôi đã nói, khi họ kéo người da đen lên lần thứ hai, mẹ tôi kéo tôi đi khỏi cửa sổ nên tôi không thấy được gì nữa - Robert Jordan nói - Nhưng từ đó tôi đã chứng kiến nhiều chuyện cho thấy rằng sự say sưa nơi xứ tôi thì cũng giống y vậy. Nó xấu xa, hung bạo.
- Bảy tuổi, nghĩa là lúc ấy anh còn quá nhỏ tuổi - Maria nói - Anh còn bé bỏng quá đối với những chuyện như vậy. Em chưa bao giờ trông thấy được một người da đen ngoại trừ trong một gánh xiệc. Ngoại trừ trường hợp người Maure cũng đen.
- Có người đen, có người không - Pilar nói - Chị có thể nói cho em nghe về giống người Maure.
- Không hơn em đâu - Maria nói - À, chị không thể biết hơn em đâu nhé.
- Thôi bỏ chuyện đó đi - Pilar nói - Chẳng ích gì. Chúng ta kể đến đâu rồi?
- Đến chỗ sự say xỉn của mấy người trong hàng - Robert Jordan nói - Tiếp tục đi.
- Bảo là say xỉn thì cũng không đúng lắm - Pilar nói - Vì họ chưa đến nỗi say. Nhưng đã có một sự thay đổi trong họ. Và khi Don Guillermo bước ra đứng thẳng người, với hai mắt cận thị, đầu bạc hoa râm, tầm cao vừa phải, lão đứng đó, làm dấu thánh giá và nhìn thẳng về phía trước, không có kiếng nên lão chẳng thấy được gì nhiều, thế nhưng lão vẫn bước đi chững chạc và lặng lẽ. Lão có cái dáng vẻ làm động lòng trắc ẩn người khác. Nhưng có người trong hàng hô lên. “Lại đây Guillermo. Lại đây, Don Guillermo. Đi về phía này. Tụi tôi có đủ loại sản phẩm của cụ đây!”
Họ đã bỡn cợt với Don Faustinon quá nhiều nên họ không còn thấy được Don Guillermo là một cái gì khác, và nếu mà Don Guillermo có phải bị giết đi thì cũng nên giết một cách mau chóng và với sự kính cẩn.
- Don Guillermo! - Một người khác gọi to - Tụi tôi có cần sai người về nhà lấy mắt kiếng cho cụ không?
Nhà của Don Guillermo thật ra không phải là một cái nhà vì lão không có nhiều tiền, lão chỉ làm Phát xít cho nó oai và để tự an ủi rằng lão buộc phải kiếm sống một cách hèn mọn với cửa hàng bán nông cụ bằng gỗ. Lão còn làm phát xít vì đạo của vợ lão mà lão vì thương vợ nên coi như đạo của chính mình. Lão ở một căn trong tòa nhà nằm cách quảng trường ba căn về phía dưới. Và lúc Don Guillermo đứng đó, nhìn hai hàng người bằng đôi mắt cận thị, lão biết là khi lão bước, vào giữa hai hàng người đó thì một người đàn bà sẽ khóc ngất lên từ bao lơn của căn nhà lão ở. Từ bao lơn, bà ta có thể nhìn thấy lão và bà ta là vợ của lão.
- Guillermo! - Bà ta kêu lên - Guillermo. Chờ tôi, tôi sẽ theo ông.
Don Guillermo quay mặt về phía phát ra những tiếng gọi. Lão không nhìn thấy được bà ta. Lão cố nói lên một điều gì nhưng rồi không nói được. Rồi lão vẫy tay về phía người đàn bà đang lên tiếng gọi và bắt đầu đi vào giữa hai hàng người.
- Guillermo! - Bà kêu lên - Guillermo. Ôi! Guillermo. - Hai tay bà nắm chặt vào lan can bao lơn và lắc mạnh - Guillermo!
Don Guillermo vẫy tay một lần nữa về phía tiếng gọi và bước vào giữa hai hàng người, đầu giữ thẳng và người ta không biết lão cảm thấy như thế nào nếu không thấy sắc mặt của lão.
Đoạn có tên say rượu nào đó hét lên từ trong hàng, “Guillermo!” hắn nhái giọng thật nhanh của người đàn bà và Don Guillermo chạy nhanh về phía người đó, như mù quáng, nước mắt chảy dài trên má, và người đàn ông dùng đòn gánh đập mạnh vào mặt lão. Don Guillermo ngồi phệt xuống đất vì sức mạnh của cú đánh, và lão ngồi đó khóc, nhưng không phải vì sợ hãi, khi đó mấy tên say rượu đập lão, một tên nhảy đè lên người lão, cưỡi lên vai lão và đập lên đầu lão bằng cái vỏ chai.
Sau vụ đó nhiều người rời khỏi hàng, thay vào đó là mấy tên say rượu vẫn bu quanh cửa sổ tòa Ayuntamiento để chế nhạo và pha trò với những câu vô duyên.
- Chính tôi đã xúc động rất nhiều khi Pablo bắn bọn guardia civil - Pilar nói - Thật là một việc ghê tởm, nhưng tôi nghĩ nếu phải như vậy thì cũng đành phải vậy và ít ra ta không tàn nhẫn, đó chỉ là việc tước đoạt sự sống. Điều ghê tởm chúng tôi biết được trong mấy năm gần đây lại là cần thiết nếu chúng ta phải chiến thắng và bảo vệ chế độ Cộng Hòa.
Lúc quảng trường bị phong tỏa và những hàng người được tập họp, tôi rất cảm kích và biết đó là ý kiến của Pablo, tuy nhiên tôi vẫn thấy có hơi quá đáng, và tôi nghĩ tất cả những gì phải làm thì nên làm cho phải phép để người ta đừng ghê tởm.
Thật ra nếu bọn phát xít cần phải để cho nhân dân xử tội thì tốt hơn nên để cho tất cả dân chúng tham dự, và tôi cũng mong được chia sẻ trách nhiệm với mọi người khi thành phố này thuộc về ta. Nhưng sau vụ Don Guillermo tôi cảm thấy xấu hổ và ghê tởm, rồi khi mấy tên say rượu cùng bọn vô lại bước vào trong hàng và nhiều người bỏ hàng ra đi như một cách phản đối sau vụ Don Guillermo, tôi hoàn toàn không muốn dính líu gì đến những người trong hàng, và tôi bỏ đi, băng qua quảng trường ngồi trên chiếc ghế dài dưới gốc mấy cây to đang rũ bóng.
Hai người nông dân đang nói chuyện với nhau bước đến một người cất tiếng hỏi tôi. “Chị sao đó, Pilar?”
- Có gì đâu, hombre. - Tôi bảo hắn.
- Có chớ - Hắn nói - Nói đi. Cái gì đã xảy ra?
- Chắc tôi đã ớn tới cổ rồi. - Tôi bảo hắn.
- Chúng tôi cũng thế. - Hắn nói và cả hai ngồi xuống ghế dài. Một trong hai người cầm vò rượu đưa cho tôi.
- Uống đi! - Hắn nói. Người kia tiếp tục câu chuyện của họ - Tệ nhất là việc đó sẽ đem lại điều xui xẻo. Không ai dám bảo rằng những việc như cái kiểu giết Don Guillermo lại không mang đến chuyện xui xẻo.
Đoạn người kia nói: “Nếu cần phải giết cả bọn, và tôi vẫn không tin là có sự cần thiết đó, thì cũng phải giết họ một cách đàng hoàng tử tế, không nên chế nhạo họ làm gì”.
- Sự chế nhạo có thể hiểu được trong trường hợp Don Faustino - Người nọ nói - Vì lẽ hắn lúc nào cũng là một tên hề, không bao giờ là một con người đàng hoàng đứng đắn. Nhưng chế nhạo một con người có tư cách như Don Guillermo thì không được.
- Tôi đã ớn đến cổ rồi. - Tôi bảo hắn, và quả tình là có thật như vậy, vì tôi nghe bên trong tôi một sự khó ở, mồ hôi tôi tuôn ra và tôi muốn nôn mửa như thể vừa nuốt phải món đồ biển đã thối.
- Vậy thì dứt khoát nhé - Một người trong bọn nói với tôi - Chúng ta sẽ thôi không dự vào đó nữa. Nhưng tôi không biết việc gì lại xảy ra tại những thành phố khác.
- Họ chưa sửa lại những đường dây điện thoại - Tôi nói - Nên lo việc đó.
- Rõ ràng là vậy - Hắn nói - Ai biết được đâu rằng tốt hơn chúng ta nên lo phòng thủ thành phố hơn là đi tàn sát với cả sự rề rà và tàn bạo này.
- Tôi sẽ đi nói với Pablo. - Tôi bảo họ và đứng dậy rời khỏi chiếc băng, bước trên lối đi dưới những ô cửa tò vò dẫn đến cửa tòa Ayuntamiento. Những hàng người bây giờ không còn trật tự gì nữa, những người say sưa bây giờ rất đông và nhiều người thì say quắc cần câu. Hai người đàn ông té nằm dài giữa quảng trường, đang chuyền chai rượu qua lại với nhau. Một người cứ mỗi lần tu một ngụm rượu là hét lên, “Viva la anarquia!” [9], hắn cứ nằm ngửa ra đó mà hét như một tên điên, cổ hắn quấn một chiếc khăn màu đỏ đen. Người kia thì la, “Viva la libertad” [10]. Hắn cũng quấn khăn đỏ đen, một tay hắn vẫy chiếc khăn và một tay hắn đá chai rượu.
Một người nông dân đã rời những hàng người, đang đứng dưới những ô cửa tò vò nhìn họ với vẻ kinh tởm và nói, “Đáng lẽ chúng phải hô lên là say rượu muôn năm mới phải. Những gì chúng tin tưởng chỉ có thế”.
- Chúng lại cũng chẳng tin tưởng ngay cả ở chuyện đó - Một người nông dân khác nói - Bọn đó thì chẳng hiểu biết gì cả và chẳng tin tưởng ở một điều gì cả.
Ngay lúc đó, một trong hai tên say rượu đứng dậy, hai tay giơ cao, bàn tay nắm chặt đưa lên khỏi đầu và hô to “Vô chánh phủ muôn năm! Tự do muôn năm! Cộng Hòa chó chết!”
Tên say rượu kia, còn nằm ngửa, chộp lấy cổ chân tên đang đứng la, hắn lăn tròn làm tên say rượu đang la hét té nhào lên hắn, hai người ôm nhau lăn tròn, rồi ngồi dậy, đoạn tên kéo cẳng ôm cổ tên la hét và đưa cho hắn một chai rượu, rồi hôn lên chiếc khăn đen đỏ của tên này và cả hai cùng uống.
Ngay lúc đó có tiếng hét lên trong hàng và khi nhìn lên lối đi tôi chẳng thấy được ai đang bước ra vì đầu của người đó khuất dưới những cái đầu của những kẻ đang chen chúc trước của tòa Ayuntamiento. Tôi chỉ thấy là có người bị Pablo và Cuatro Dedos dùng mũi súng đẩy ra, nhưng tôi không thấy được là ai, và tôi đến sát những hàng người đang chen chúc trước cửa để xem thử ai.
Bây giờ thì họ chen lấn quá dữ và bàn ghế trong các quán cà phê của bọn phát xít bị lật nhào, trừ một chiếc bàn trên đó có một tên say rượu đang nằm đầu trút xuống, mồm há ra. Tôi nhặt một chiếc ghế kê sát vào một cây cột và leo lên để có thể nhìn qua đầu đám đông.
Người đang bị Pablo và Cuatro Dedos đẩy ra là Don Anastadio Rivas, lão là một tên phát xít chánh hẩu và là người mập nhứt trong thành phố. Lão là một tay buôn lúa và là nhân viên của nhiều công ty bảo hiểm, lão còn là một người cho vay cắt cổ.
Đúng trên ghế tôi có thể trông thấy lão bước xuống các bực thềm, đi về phía hai hàng người, chiếc cổ mập bự của lão to phình trên cổ sơ-mi, và chiếc đầu hói của lão bóng lưỡng dưới ánh mặt trời, nhưng lão chẳng chịu bước vào giữa hai hàng người vì có tiếng la hét, và lần này không phải là tiếng la ó của nhiều người mà là tiếng thét đồng loạt của toàn thể. Một tiếng thét ghê rợn. Những tên người say rượu hè nhau thét lên cùng một lúc, và hàng ngũ bị tan rã vì người ta chay ùa về phía lão, tôi thấy Don Anastasio nằm vật xuống đất hai tay ôm đầu, rồi người ta không còn nhìn thấy lão đâu nữa vì họ đè chồng lên người lão. Và lúc người ta đứng dậy bỏ đi thì Don Anastasio đã chết, đầu bị dập vào đá vệ đường, dưới những ô cửa tò vò, bây giờ thì không còn hàng lối gì nữa mà chỉ còn một đám đông hỗn loạn.
- Mình nhào vô đi - Họ bắt đầu la - Vô tìm tụi nó đi!
- Thằng này nặng quá rinh không nổi - Một người đá vào xác của Don Anastasio đang nằm úp mặt xuống đất - Để nó đó.
- Sao lại phải lôi cái cây thịt đó ra bờ đá? Bỏ mẹ nó đó đi.
- Ta sẽ thanh toán tụi bên trong - Một người la lên - Chúng ta vào đi.
- Sao lại phải đợi cả ngày ngoài nắng! - Một người khác hét to - Nè, tụi mình vào đi!
Đám đông hỗn loạn bây giờ dồn về lối đi dưới những ô cửa tò vò. Họ hò hét, xô đẩy nhau như một bầy thú và tất cả đồng la lên, “Mở ra! Mở ra! Mở ra!” vì mấy tên gác cửa đã đóng chặt cửa tòa Ayuntamiento lúc họ rã hàng.
Đứng trên ghế, tôi có thể nhìn qua khung cửa sổ song sắt, thấy tận trong gian phòng lớn của tòa Ayuntamiento và trong đó, quang cảnh vẫn y như trước. Vị linh mục đang đứng, và tất cả những người còn lại đang quỳ thành nửa vòng tròn quanh ông, tất cả đang cầu ngyện. Pablo đang ngồi trên một chiếc bàn to trước ghế bành của thị trưởng với khẩu súng đeo trên lưng. Hai chân hắn bỏ thõng xuống từ trên bàn và hắn đang vấn một điếu thuốc. Cuatro Dedos thì đang ngồi trong chiếc ghế của tên thị trưởng, chân gác lên mặt bàn và đang phì phà một điếu thuốc.
Tất cả những người có bổn phận canh gác đều ngồi trong các chiếc ghế của bọn viên chức, súng trong tay. Chiếc chìa khóa của cánh cửa cái nằm trên mặt bàn bên cạnh Pablo.
Đám đông cứ la, “Mở ra! Mở ra! Mở ra” như đang hợp ca và Pablo vẫn ngồi đó như không nghe gì. Hắn nói điều gì với vị linh mục nhưng tôi không nghe được vì tiếng ồn ào của đám đông.
Vị linh mục vẫn không trả lời và tiếp tục cầu nguyện. Vì có nhiều người xô lấn, tôi phải dời chiếc ghế sát vào tường, tôi đẩy chiếc ghế ra phía trước trong lúc người ta xô lấn tôi từ phía sau. Tôi đứng lên ghế, mặt dán sát vào song cửa sổ và tay bám chặt lấy mấy chấn song. Một người đàn ông cũng leo lên ghế, đứng lên tay ôm choàng qua cánh tay tôi và nắm lấy mấy chấn song phía ngoài.
- Gãy ghế bây giờ. - Tôi bảo hắn.
- Gãy thì gãy chứ ăn thua gì? - Hắn nói - Coi họ kìa. Coi tụi nó cầu nguyện kìa. - Hơi thở của hắn phà vào cổ tôi sặc mùi của đám đông, của mấy đống ói trên vỉa hè, và mùi say xỉn, đoạn hắn đút mỏ vào giữa mấy song của phía trên vai tôi và la to. “Mở ra! Mở ra! Mở ra!”, và tôi nghe như cả một đám đông đè lên lưng tôi, giống như lúc ta nằm mơ thấy ma đè.
Bây giờ thì đám đông lấn nghẹt về phía cửa đến nỗi những người phía trước muốn dẹp ra, và từ quảng trường một tên say rượu to lớn mặc áo bờ-lu đen quấn khăn đen đỏ chạy ùa tới càn đại vào đám đông, té ra phía trước đè lên mấy người đang xô lấn, rồi đứng dậy, lùi ra xa rồi lại chạy ùa tới nhào lên mấy người đang xô lấn và la to, “Tao muôn năm! Vô chánh phủ muôn năm!”.
Trong lúc tôi đang theo dõi thì người đàn ông này quay đi khỏi đám đông, tìm chỗ ngồi và tu rượu từ trong chai, lúc ngồi xuống, trông thấy Don Anastasio, vẫn còn nằm úp mặt trên lối đi, nhưng đã bị đạp nhừ. Tên say rượu đứng dậy, bước tới chỗ Don Anastasio và cúi xuống đổ rượu lên đầu, lên quần áo của lão rồi cho tay vào túi lấy hộp diêm, hắn đánh lên nhiều que diêm và cố nhóm một đống lửa với Don Anastasio. Nhưng bây giờ gió thổi mạnh, mấy que diêm bị tắt, một lát sau hắn ngồi xuống bên cạnh Don Anastasio, vừa lắc đầu vừa tu rượu từ trong chai, thỉnh thoảng hắn lại nghiêng qua vỗ vai xác chết.
Trong khi đó đám đông hỗn loạn vẫn la hét đòi mở cửa, và người đàn ông cùng đứng trên ghế với tôi cứ nắm chặt lấy song cửa mà réo mở cửa làm tôi lùng bùng cả lỗ tai và cái hơi thở hôi hám của hắn cứ phà vào tôi, tôi thôi không nhìn tên say rượu đang cố châm lửa vào Don Anastasio và quay lại nhìn vào gian phòng rộng của tòa thị sảnh, vẫn y như cũ. Họ vẫn đọc kinh như trước, tất cả những người đó đang quỳ, áo sơ-mi hở cổ, có người gục đầu xuống, có người ngẩng đầu lên và sau lưng họ, Pablo với điếu thuốc bây giờ đã châm lửa, vẫn ngồi đó, trên bàn, hai chân đong đưa, khẩu súng đeo trên vai và tay mân mê chiếc chìa khóa.
Tôi thấy Pablo lại cúi xuống về phía trước để nói với vị linh mục, và vì họ la ó quá nên tôi chẳng nghe được hắn nói gì! Nhưng vị linh mục không trả lời mà tiếp tục đọc kinh. Rồi một người đứng dậy bước ra khỏi đám người quỳ thành hình vòng cung, đang cầu nguyện. Tôi thấy lão muốn bước ra. Đó là Don José Castro, người mà mọi người vẫn gọi là Don Pepe, một tên phát xít chánh hiệu con nai vàng và là một tên lái ngựa; lão đứng dậy, trông dáng người gọn gàng vén khéo, dù rằng râu lão chưa cạo, lão mặc chiếc áo pyjama cho vào trong chiếc quần sọc xám. Lão hôn thánh giá, vị linh mục làm phép lành cho lão, lão đứng dậy, nhìn Pablo và hất đầu về phía cửa.
Pablo lắc đầu, tiếp tục hút thuốc. Tôi có thể trông thấy Don Pepe đang nói cái gì đó với Pablo nhưng không thể nghe được. Pablo không trả lời, chỉ lắc đầu, và nhìn ra cửa.
Đoạn tôi thấy Don Pepe quay lại nhìn ra cửa, thì ra lão chưa hay là cửa đã khóa. Pablo chỉ lão chiếc chìa khóa, lão đứng nhìn nó trong giây lát và lão quay đi, đến quỳ trở lại. Tôi thấy vị linh mục nhìn Pablo chăm chú, Pablo mỉm cười với ông ta và chỉ cho ông ta chiếc chìa khóa, vị linh mục dường như chợt nhận ra là của đã khóa, và dường như ông định lắc đầu nhưng ông chỉ mới nghiêng đầu qua một bên rồi lại tiếp tục cầu nguyện.
Tôi không biết tại sao họ lại không hiểu cửa đã khóa trừ phi họ quá chú tâm đến việc cầu nguyện của họ và những ý nghĩ riêng tư của họ, bây giờ thì chắc chắn họ đã hiểu, hiểu những tiếng la ó và hẳn họ đã hiểu rằng tất cả đã thay đổi. Nhưng họ thì vẫn như trước.
Bây giờ thì tiếng la ó quá to đến nỗi người ta không còn nghe gì được nữa, và tên say rượu cùng đứng trên ghế với tôi cố lắc mạnh mấy song cửa và quát to “Mở ra! Mở ra! Mở ra!” đến lạc cả giọng.
Tôi nhìn Pablo nói chuyện với vị linh mục và vị linh mục không hé miệng trả lời, tôi thấy Pablo lắc đầu. Đoạn hắn ngoái cổ lại nói với Cuatro Dedos, và Cuatro Dedos ra lịnh cho mấy người canh gác, rồi tất cả đứng dậy và lui xa cuối phòng, đứng nhìn xuống.
Tôi thấy Pablo nói cái gì đó với Cuatro Dedos và hắn lật hai cái bàn và mấy chiếc ghế dài tạo nên một chướng ngại vật trong một góc phòng, mấy người canh gác đứng phía sau, tay ghìm súng. Pablo cúi xuống dùng mũi súng gõ nhẹ vào vai vị linh mục, vị linh mục lại cũng không để ý gì đến hắn, nhưng tôi thấy Don Pepe nhìn hắn thì hắn lại lắc đầu, cầm chìa khóa đưa cao lên cho Don Pepe thấy. Don Pepe hiểu ý, lão gục đầu xuống và bắt đầu cầu nguyện rất nhanh.
Pablo nhảy khỏi bàn, đi vòng lại chiếc ghế của viên thị trưởng đặt trên bục cao sau chiếc bàn họp dài. Hắn ngồi vào ghế và vấn một điếu thuốc, luôn đưa mắt theo dõi mấy tên phát xít đang cầu nguyện với vị linh mục. Trên mặt hắn không biểu lộ một nét gì, chiếc chìa khóa vẫn nằm trên bàn, trước mặt hắn. Đó là một chiếc chìa khóa to bằng sắt dài hơn ba tấc. Rồi Pablo kêu mấy người canh gác lại dặn dò điều gì đó mà tôi không nghe được và một người canh gác đi ra cửa. Tôi thấy họ đọc kinh nhanh hơn lúc nào hết và tôi biết là bây giờ thì tất cả đều đã hiểu rõ.
Pablo nói điều gì đó với vị linh mục, nhưng vị linh mục vẫn không trả lời. Rồi Pablo chồm tới lấy chiếc chìa khóa tung lên cho người canh gác ở cửa. Người này bắt lấy và Pablo mỉm cười với hắn. Hắn tra chìa khóa vào cửa, mở và kéo cửa về phía hắn đoạn nhảy thụt ra sau cánh cửa trong lúc đám đông hỗn loạn tràn vào.
Tôi thấy họ tuôn vào và ngay lúc ấy tên say rượu cùng đứng chung trên ghế với tôi bắt đầu hét to, “Hê! Hê!” và lủi đầu tới trước làm tôi không thấy được gì, hắn lại la to, “Giết tụi nó! Đập tụi nó! Đập tụi nó. Ừ, vậy đó! Đập tụi nó! Giết tụi nó! Đồ súc sinh! Đồ cabrones! Đồ cabrones!”
Tôi dùng khuỷu tay thúc mạnh vào hắn và nói: “Đồ cabron! Đồ say rượu! Để tao coi nào!”
Rồi hắn lấy hai tay nhận đầu tôi xuống để trông thấy rõ hơn và chồm lên đè cả lên đầu tôi và tiếp tục la, “Đập tụi nó! Ừ, vậy đó! Đập tụi nó!”
- Đập mày đây nè - Tôi nói và thúc mạnh vào chỗ nhược làm hắn đau điếng, hắn buông tay khỏi đầu tôi và ôm vào chỗ đau, hắn nói: “No hay derecho, mujer [11]. Mụ này không được quyền làm vậy!”. Và lúc đó, nhìn qua các song cửa sổ, tôi thấy gian phòng đầy người, họ đang dùng gậy mà nhịp, dùng đòn mà đập và dùng chĩa mà chọt, mà đánh, mà đẩy, mà xeo lên và những chiếc chĩa bằng gỗ màu trắng bây giờ đã thành màu đỏ, răng cỏ gãy hết. Cảnh đó diễn ra khắp phòng, chỗ nào cũng có trong khi Pablo vẫn ngồi trong ghế bành với khẩu súng đặt trên hai đầu gối, theo dõi; họ vừa la, vừa đập, vừa đâm, còn những người kia thì rú lên như bầy ngựa trong cơn hỏa hoạn. Tôi trông thấy vị linh mục, áo xống tốc lên, đang leo lên một chiếc ghế dài và mấy người rượt theo dùng lưỡi liềm, vòng hái mà chém, có người chộp được áo ông, có tiếng thét lên, rồi lại có tiếng thét lên và tôi thấy có hai người dùng lưỡi liềm và vòng hái chém vào lưng ông trong lúc ba người khác giữ lấy vạt áo dài của ông, hai tay vị linh mục đưa lên cao, bám vào thành một chiếc ghế; và chiếc ghế mà tôi đang đứng bỗng gãy, tôi và tên say rượu té xuống vỉa hè nặc nồng mùi rượu, mùi ói mửa, tên say rượu chỉ ngón tay vào mặt tôi và nói: “No hay derecho mujer, no hay derecho. Mụ này làm tôi bị thương rồi”. Và người ta dẫm lên chúng tôi để vào tòa Ayuntamiento. Tôi chỉ thấy toàn là chân của những người đang chạy ùa vào cửa, tên say rượu ngồi dậy trên vỉa hè nhìn tôi vừa ôm chỗ đau.
Đó là đoạn kết của cuộc tàn sát bọn phát xít tại thành phố của tôi và tôi lấy làm mừng là đã không, thấy được gì thêm, nhưng nếu không có tên say rượu, chắc là tôi đã chứng kiến tất cả. Như vậy hắn cũng có ích ở chỗ nào đó. Vì nếu chứng kiến những điều xảy ra trong tòa Ayuntamiento, chắc ta sẽ hối hận.
Nhưng tên say rượu ngoài quảng trường còn lạ hơn nữa. Lúc chúng tôi đứng dậy sau khi chiếc ghế bị gãy, người ta còn bu đen trong tòa Ayuntamiento. Tôi trông thấy tên say lúc nãy với chiếc khăn quàng đen đỏ đang đổ thứ gì đó lên người của Don Anastisio. Hắn ngả đầu qua lại, hắn ngồi không muốn vững, nhưng hắn vẫn tưới, rồi châm lửa, rồi tưới, rồi lại châm lửa. Tôi bước lại gần hắn và nói, “Làm gì đó thằng nham nhở?”.
- Nada, mujer, nada. Làm gì đâu mụ! - Hắn nói - Để cho tôi yên coi nào!
Và có lẽ vì tôi đứng đó, chân tôi che gió nên que diêm bắt lửa, một ngọn lửa xanh bắt đầu chạy trên vai áo của Don Anastasio và lan ra phía sau cổ; tên say rượu ngẩng đầu lên kêu to: “Tụi nó đốt thây ma! Tụi nó đốt thây ma!”.
- Ai? - Có người hỏi.
- Ở đâu? - Có kẻ khác hỏi to.
- Đây nè - Tên say rượu rống lên - Ngay đây nè.
Rồi có người dùng đòn đập mạnh vào đầu tên say rượu, hắn bật ngủa ra, nằm dài dưới đất, hắn nhìn lên người vừa đánh hắn rồi nhắm mắt lại, tay khoanh trước ngực, hắn nằm đó, bên cạnh Don Anastasio như nằm ngủ. Người đàn ông thôi không đập hắn nữa và hắn vẫn còn nằm đó cho tới khi người ta nhặt xác Don Anastasio và quăng hắn chung với những người khác trên một chiếc xe bò rồi đem ném tất cả xuống sông vào chiều hôm đó, cùng với những tên khác bị thanh toán xong phía bên trong tòa Ayuntamiento. Nếu mà họ đem vất đi chừng hai chục hoặc ba chục tay say rượu thì thành phố hẳn phải khá hơn, nhứt là mấy tên quàng khăn đen đỏ, và nếu có bao giờ chúng ta làm một cuộc cách mạng khác thì tôi tin là chúng ta nên thủ tiêu bọn chúng ngay từ đầu. Nhưng hồi đó chúng tôi chưa nhận ra điều này, ngày hôm sau chúng tôi mới vỡ lẽ ra.
Đêm hôm đó chúng tôi không biết chuyện gì sẽ xảy đến. Sau vụ tàn sát tại tòa Ayuntamiento không còn một vụ giết chóc nào, nhưng đêm đó chúng tôi không thể hội họp gì được bởi có quá nhiều người say rượu. Không thể nào có được trật tự và cuộc hội họp đành phải dời lại ngày sau.
Đêm đó tôi ngủ với Pablo. Lẽ ra chị không nên kể điều này cho em nghe, guapa ạ, nhưng về phương diện khác, dầu sao em cũng nên biết mọi chuyện và ít ra thì những điều chị kể cho em nghe đều có thật. Nghe đây Inglés à, chuyện này hay lắm.
Như tôi đã nói, đêm đó chúng tôi đi ăn, và thật lạ. Giống như sau một cơn bão lụt hay một trận đánh, mọi người thấy mệt mỏi và không ai nói nhiều. Riêng tôi, tôi nghe trống rỗng và khó chịu, lòng tràn đầy hối hận và xấu hổ về việc làm sai lầm, tôi buồn bã hết sức và có cảm tưởng sẽ có điều không lành xảy ra, như mấy chiếc máy bay hồi sáng này. Và quả nhiên điều không lành đã xảy ra ba ngày sau đó.
Trong lúc ăn Pablo nói rất ít.
- Em thích như vậy không Pilar. - Sau cùng hắn hỏi tôi, miệng vẫn còn ngậm miếng thịt dê quay. Chúng tôi đang ăn tại chiếc quán nơi trạm khởi hành của xe buýt, phòng ăn đông nghẹt, người ta đang ca hát và việc chạy bàn thành khó khăn.
- Không - Tôi nói - Trừ trường hợp của Don Faustino, em không thấy thích chút nào.
- Anh thích. - Hắn nói.
- Tất cả à? - Tôi hỏi hắn.
- Tất cả - Hắn đáp và dùng dao cắt một miếng bánh mì thật to, chấm nước sốt và nhai ngấu nghiến - Tất cả, ngoại trừ ông linh mục.
- Anh không vừa lòng về ông linh mục à? - Tôi biết hắn ghét linh mục còn hơn cả ghét phát xít nữa.
- Lão làm anh vỡ mộng - Pablo nói. Có quá nhiều người ca hát đến nỗi chúng tôi gần như phải la lớn mới có thể nghe nhau được.
- Tại sao vậy?
- Lão chết coi tệ quá - Pablo nói - Tư cách yếu quá.
- Sao? Anh muốn lão có tư cách đến cỡ nào nữa trong lúc lão bị săn đuổi bởi đám đông thế kia? - Tôi nói - Em nghĩ lão có thừa tư cách trong suốt khoảng thời gian trước đó. Tất cả tư cách mà một con người có thể có được.
- Đúng - Pablo nói - Nhưng ở phút chót lão đã lạnh cẳng dữ quá.
- Ai lại không lạnh cẳng? - Tôi hỏi - Anh có thấy người ta rượt lão với những thứ gì không?
- Sao lại không - Pablo nói - Nhưng anh thấy lão đã chết một cách tệ hại.
- Trong những trường hợp như vậy bất cứ ai cũng chết nhát hết - Tôi bảo hắn - Phải thế nào mới đích đáng? Mọi việc xảy ra tại tòa Ayuntamiento thật là tồi.
- Đúng - Pablo nói - Tổ chức kém. Nhưng một linh mục phải làm gương.
- Em nghĩ anh không ưa mấy ông nhà tu.
- Đúng - Pablo nói và cắt thêm bánh mì - Nhưng một linh mục Tây Ban Nha nên chết sao cho dẹp mắt.
- Em nghĩ lão đã chết đẹp mắt lắm - Tôi nói - Dù đã bị tước đoạt hết mọi nghi thức.
- Không - Pablo nói - Lão đã làm anh quá thất vọng. Suốt ngày anh trông đợi cái chết của lão linh mục. Anh những tưởng lão sẽ là kẻ sau cùng bước vào giữa hai hàng người. Anh đã chờ đợi việc đó với tất cả sự sốt ruột, chờ đợi như chờ đợi một đỉnh cao, anh chưa bao giờ trông thấy một linh mục chết.
- Còn thì giờ mà - Tôi nói với hắn một cách mỉa mai chua chát - Hôm nay phong trào mới bắt đầu mà.
- Không - Hắn nói - Anh thất vọng rồi.
- Em cho là anh sắp mất niềm tin. - Tôi nói.
- Em không hiểu, Pilar à - Hắn nói - Lão là một linh mục Tây Ban Nha.
- Ôi người Tây Ban Nha! Một dân tộc lạ lùng. - Tôi nói với hắn.
Họ là một dân tộc quá kiêu căng hở Inglés? Một dân tộc lạ lùng!
- Ta phải tiếp tục lên đường đi - Robert Jordan nói và nhìn lên mặt trời - Gần trưa rồi.
- Vâng - Pilar nói - Chúng ta sẽ đi ngay bây giờ nhưng để tôi kể cho đồng chí nghe về Pablo. Đêm đó hắn bảo tôi, “Pilar, đêm nay chúng ta sẽ không làm gì cả”.
- Tốt - Tôi bảo hắn - Em thích thế.
- Anh sợ làm như vậy coi kỳ lắm, sau khi đã giết quá nhiều người.
- Qué va - Tôi bảo hắn - Anh làm như là thánh không bằng. Anh tưởng sống mấy năm trời với mấy tên đấu bò em lại chẳng biết họ thế nào sau những lần đấu bò à?
- Có thật thế không, Pilar? - Hắn hỏi tôi.
- Em có nói dối với anh bao giờ không? - Tôi bảo.
- Anh nói thật, Pilar à. Tối nay anh tiêu rồi, không còn gì nữa. Em không trách anh chớ?
- Không, hombre - Tôi bảo hắn - Nhưng đừng giết người mỗi ngày Pablo ạ!
Và đêm đó hắn ngủ như một đứa trẻ thơ và tôi đánh thức hắn vào lúc hừng sáng. Nhưng đêm đó tôi lại không ngủ được, tôi thức dậy, ngồi trên chiếc ghế dựa nhìn ra cửa sổ, và tôi trông thấy quảng trường dưới ánh trăng, nơi có những hàng người đứng, và ở đầu quảng trường bên kia, tôi trông thấy hàng cây lấp lánh dưới trăng và những cái bóng đen của chúng, những chiếc ghế dài cũng rực lên dưới ánh trăng, những vỏ chai nằm rải rác lóng lánh và rìa bờ đá là nơi chúng bị vứt đi. Không một âm thanh, chỉ có tiếng róc rách ngoài hồ nước, tôi ngồi đó và nghĩ thầm là chúng tôi đã bắt đầu một cách sai lầm.
Cửa sổ mở và phía trên quảng trường, ở quán Fonda, tôi nghe tiếng một người đàn bà đang khóc. Tôi bước ra bao lơn, đứng chân không trên sắt, vầng trăng soi sáng mặt trước các tòa nhà nơi quảng trường và tiếng khóc phát ra từ bao lơn của căn nhà Don Guillermo. Người đàn bà ấy là vợ của lão và bà ta đang quỳ trên bao lơn mà khóc.
Đoạn tôi trở vào phòng và ngồi xuống. Tôi không muốn nghĩ ngợi vì hôm đó là ngày xấu nhất trong đời tôi, cho tới khi ngày kia đến.
- Cái ngày kia thì sao? - Maria hỏi.
- Ba ngày sau, lúc bọn phát xít chiếm thành phố.
- Đừng cho tôi nghe chuyện đó - Maria nói - Em không muốn nghe. Thế đủ rồi. Thế cũng đã quá nhiều rồi.
- Chị đã bảo là em không nên nghe mà. Đây rồi nằm mơ thấy chuyện dữ cho mà coi.
- Không - Maria nói - Nhưng em không muốn nghe nữa.
- Tôi muốn lúc nào đó chiến hữu sẽ kể cho tôi nghe. - Robert Jordan nói.
- Để rồi tôi sẽ kể - Pilar nói - Nhưng Maria nghe có hại.
- Em không muống nghe đâu. - Maria khẩn khoản - Chị Pilar à, nếu có em đó thì chị đừng kể, vì lúc đó dù cho không muốn nghe, em vẫn phải nghe.
Môi nàng run run, và Robert Jordan nghĩ là nàng có thể bật khóc.
- Thôi, Pilar. Đừng kể.
- Đừng lo! Em bé à - Pilar nói - Đừng lo. Nhưng hôm nào chị sẽ kể cho Inglés nghe.
- Nhưng em muốn có mặt với Inglés lúc đó - Maria nói - Ồ chị Pilar, đừng có kể gì hết.
- Chị sẽ kể cho ông ấy nghe lúc em đang bận công việc.
- Đừng, đừng. Em xin. Thôi đừng nói gì hết về chuyện đó.
- Đúng ra là phải kể chuyện đó một khi chị đã kể những chuyện bọn này đã làm, như vậy mới công bằng - Pilar nói - Nhưng em sẽ không bao giờ được nghe.
- Không có chuyện gì vui để nói sao? - Maria hỏi - Mình có bắt buộc phải kể đến những chuyện khủng khiếp mãi hay không?
- Chiều nay, - Pilar nói - em và Inglés, hai người muốn nói gì thì nói.
- Vậy xin buổi chiều hãy đến - Maria nói - Xin buổi chiều hãy đến mau.
- Buổi chiều sẽ tới - Pilar nói với nàng - Buổi chiều sẽ tới như bay và cũng sẽ ra đi nhanh rồi ngày mai cũng sẽ đến như bay.
- Chiều nay, - Maria nói - chiều nay. Xin buổi chiều hãy đến mau.
Chú thích:
[1] Nhưng lại đây.
[2] Không à?
[3] Nào!
[4] Quảng trường.
[5] Bọn vô lại.
[6] Tây Ban Nha muôn năm.
[7] Tốt, có ích lắm.
[8] Xin chờ lịnh.
[9] Vô chính phủ muôn năm!
[10] Tự do muôn năm!
[11] Không đúng, mụ này.
Chương 11
Sau khi rời đồng cỏ trên cao để xuống khoảng thung lũng mọc đầy cây cối, rồi leo lên đường mòn chạy dọc theo con suối và rời bỏ con đường mòn để trèo lên một bờ đá dốc đứng cheo leo, giờ đây họ đang đi trong bóng râm của rừng thông. Một người đàn ông cầm khẩu các bin bước ra từ một gốc cây.
- Đứng lại - Hắn nói - Hola, kìa Pilar! Đi với ai đó?
- Một ông người Inglés - Pilar nói - Nhưng có tên là Roberto. Đường lên đây dốc quá xá vầy nè.
- Salud, Camarada, chào đồng chí - Người canh gác chào Robert Jordan và đưa tay ra - Đồng chí mạnh giỏi chớ?
- Vâng, - Robert Jordan nói - còn đồng chí?
- Cũng thế. - Người canh gác nói. Hắn rất trẻ, tướng người mảnh khảnh, mũi hơi quặp, lưỡng quyền cao, mắt xám. Hắn đầu trần, tóc den lõa xõa, cái siết tay của hắn mạnh và thân mật. Đôi mắt của hắn cũng đầy vẻ thân thiện.
- Chào Maria, - Hắn nói với người con gái - đồng chí không mệt chứ?
- Qué va, Joaquin - Người con gái nói - Chúng tôi đã ngồi trò chuyện nhiều hơn là đi.
- Có phải đồng chí là chuyên viên chất nổ đó không? - Joaquin hỏi - Người ta bảo có đồng chí tới đây.
- Chúng tôi đã qua đêm tại chỗ của Pablo - Robert Jordan nói - Đúng tôi là chuyên viên chất nổ đó.
- Chúng tôi mừng được gặp đồng chí nơi đây - Joaquin nói - Có phải để tính chuyện đánh xe lửa không?
- Đồng chí có mặt trong lần đánh xe lừa cuối cùng chứ? - Robert Jordan mỉm cười hỏi.
- Có chứ, không sao được - Joaquin nói - Chính tại đó tôi đã bắt gặp được của này, - Hắn nhe răng cười với Maria - đồng chí đẹp lắm - Hắn nói với Maria - Họ đã khen đồng chí đẹp đến thế nào chưa?
- Im mồm đi Joaquin, cám ơn nhiều đó - Maria nói - Đồng chí sẽ đẹp ra nếu chịu khó đi hớt tóc.
- Tôi đã vác đồng chí - Joaquin bảo người con gái - Tôi đã vác đồng chí trên vai, đồng chí quên rồi sao?
- Thì cũng như mấy người khác. - Pilar nói, trầm giọng - Ai mà khỏi vác cô ta. Còn lão già đâu?
- Trong trại.
- Đêm qua lão ở đâu?
- Ở Ségovie.
- Lão có đem tin tức gì về không?
- Có - Joaquin nói - Có tin mới.
- Lành hay dữ?
- Có lẽ dữ.
- Đồng chí có thấy máy bay không?
- Ái chà! - Joaquin lắc đầu nói - Đừng nói với tôi chuyện đó. Này đồng chí chuyên viên chất nổ, phi cơ gì vậy?
- Phóng pháo cơ Heinkel 111 và chiến đấu cơ Fiat. - Robert Jordan bảo hắn.
- Mấy chiếc to có cánh thấp là gì vậy?
- Heinkel 111.
- Gọi chi cũng được, nhưng cái nào cũng nguy hiểm như nhau cả - Joaquin nói - Nhưng tôi đã làm mất thì giờ mấy đồng chí quá. Tôi sẽ đưa mấy đồng chí đến gặp chỉ huy trưởng.
- Chỉ huy trưởng? - Pilar hỏi.
Joaquin gật đầu một cách nghiêm trọng.
- Tôi thích tiếng đó hơn tiếng “sếp”, - Hắn nói - nghe nó nhà binh hơn.
- Đồng chí đã bị quân phiệt hóa quá đi mất. - Pilar cười và bảo hắn.
- Không - Joaquin nói - Nhưng tôi thích những danh từ quân sự, vì lệnh đâu ra đấy và kỷ luật được khá hơn.
- Đúng sở thích đồng chí rồi đó, Inglés - Pilar nói - Đây là một cậu trai đàng hoàng đứng đắn.
- Muốn tôi vác đồng chí không? - Joaquin hỏi người con gái. Hắn choàng tay qua vai cô gái và nhìn vào mặt cô ta mỉm cười.
- Một lần đã đủ rồi - Maria bảo hắn - Dù sao cũng cám ơn đồng chí.
- Đồng chí con nhớ không? - Joaquin hỏi nàng.
- Tôi còn nhớ là mình được vác đi - Maria nói - Bởi đồng chí thì không. Tôi nhớ tên du mục vì hắn làm tôi rớt xuống nhiều lần. Nhưng tôi cám ơn đồng chí, Joaquin à, và để lúc nào đó tôi sẽ vác lại đồng chí.
- Tôi không nhớ rõ lắm - Joaquin nói - Tôi còn nhớ tôi nắm chặt hai chân đồng chí và bụng đồng chí đè trên vai tôi, đầu đồng chí sau lưng tôi và hai tay đồng chí thòng xuống dọc theo lưng tôi.
- Đồng chí nhớ dai quá - Maria nói và mỉm cười với hắn - Tôi không nhớ gì về chuyện đó. Tay đồng chí, vai đồng chí, lưng đồng chí, không nhớ gì cả.
- Đồng chí có muốn biết chuyện này không? - Joaquin hỏi nàng.
- Chuyện gì vậy?
- Tôi khoái được vác đồng chí trên lưng, trong lúc đạn đàng sau bắn tới.
- Đồ heo - Maria nói - Có phải vì vậy mà tên du mục chịu khó vác tôi rất lâu không?
- Vì chuyện đó và vì được ôm lấy chân đồng chí.
- Ôi những vị anh hùng của tôi! - Maria nói - Ôi những vị ân nhân cứu tử của tôi!
- Nghe này, guapa - Pilar bảo nàng - Anh chàng này đã vác em quá lâu, và lúc đó thì đôi chân của em chẳng nói với ai một lời nào. Trong những giây phút đó chỉ có tiếng đạn reo là rõ. Và nếu họ bỏ em xuống thì họ có thể thoát khỏi tầm đạn mau hơn.
- Em đã cám ơn rồi - Maria nói - Và một lúc nào đó em sẽ vác lại đồng chí ấy. Cho phép em nói đùa một chút. Em không cần phải khóc lóc để bày tỏ sự biết ơn chớ?
- Lẽ ra tôi đã bỏ đồng chí xuống. - Joaquin tiếp tục trêu nàng - Nhưng tôi sợ Pilar sẽ bắn tôi.
- Tôi không bắn ai cả. - Pilar nói.
- No hace falta - Joaquin nói - Đồng chí không cần bắn. Nội cái mồm của đồng chí cũng đủ làm cho người ta sợ đến chết rồi.
- Nói cho quá - Pilar bảo hắn - Hồi đó đồng chí là một cậu bé rất lễ phép. Và trước chiến tranh đồng chí làm những gì, hở cậu bé?
- Rất ít - Joaquin nói - Hồi đó tôi mới mười sáu tuổi.
- Nhưng làm cái gì mới được?
- Thỉnh thoảng được mấy đôi giày.
- Đóng giày à?
- Không, đánh giày kìa.

- Qué va - Pilar nói - Hẳn không phải chỉ có thế thôi đâu. - Bà ta nhìn vào gương mặt sạm nắng, thân hình nhỏ nhắn, mớ tóc bù xù, và dáng đi thoăn thoắt của hắn - Sao đồng chí lại không thành công về vụ đó?
- Vụ nào?
- Vụ nào? Đồng chí biết vụ nào chứ. Đồng chí mọc đuôi rồi đó.
- Tôi chắc là tại sợ quá.
- Tướng tá đồng chí coi khá lắm - Pilar bảo hắn - Nhưng gương mặt không được khá. Vậy là tại sợ phải không? Trong vụ đánh xe lửa đồng chí trông được lắm.
- Bây giờ thì tôi không sợ chúng nữa - Người con trai nói - Không sợ thứ nào hết. Chúng ta đã chứng kiến những thứ ghê gớm hơn và nguy hiểm hơn cả bò mộng. Rõ ràng là không có một con bò mộng nào nguy hiểm bằng một khẩu súng máy. Nhưng thí tỉ như bây giờ tôi đang ở trong vòng chiến đấu, không biết là tôi có điều khiển được cặp giò tôi không nữa.
- Trước đây hắn muốn trở thành một tay đấu bò - Pilar giải thích cho Robert Jordan - Nhưng hắn lại nhát gan.
- Đồng chí có thích bò mộng không hở đồng chí, chuyên viên chết nổ? - Joaquin nhe răng cười, khoe hàm răng trắng hếu.
- Rất thích - Robert Jordan nói - Rất thích, thích ghê lắm.
- Ở Valladolid đồng chí có xem không? - Joaquin hỏi.
- Có, vào tháng Chín, lúc có hội chợ.
- Quê tôi đó - Joaquin nói - Thật là một thành phố xinh đẹp nhưng những buena gente, những người dân hiền lành trong thành phố ấy đã quá khổ vì trận giặc này. - Rồi mặt hắn sa sầm - Người ta đã bắn chết cha tôi. Mẹ tôi. Anh rể tôi và bây giờ là chị tôi.
- Thật là bọn dã man. - Robert Jordan nói.
Biết bao lần chàng đã nghe điều này? Biết bao lần chàng đã nhìn người ta nghẹn ngào kể ra điều này? Biết bao lần chàng đã trông thấy họ nước mắt lưng tròng, cổ họng khô cứng khi nói đến mấy tiếng cha tôi, hoặc anh tôi, hoặc mẹ tôi, hoặc chị tôi. Chàng không thể nào nhớ được bao nhiêu lần chàng đã nghe họ nói đến những người thân đã chết của họ như thế này. Gần như lúc nào họ cũng kể lại với một kiểu như gã con trai này vừa kể, và lần nào cũng thế, khi nhắc tên một thành phố, người ta vẫn phải thốt lên: “Thật quân dã man!”.
Người ta chỉ hay tin về cái chết. Người ta không thấy được cha mình ngã xuống, chết một cái chết giống như những tên phát xít mà Pilar mô tả lại nơi đồng cỏ, bên dòng suối. Người ta hay tin cha mình chết nơi một góc sân, hoặc bên một chân tướng nào đó, hoặc trên một thửa ruộng hay một miếng vườn, hoặc trong đêm dưới ngọn đèn xe vận tải bên lề một con đường. Người ta đã trông thấy những ánh đèn xe hơi trên các ngọn đồi, nghe tiếng súng nổ và sau đó người ta đi xuống những con đường và tìm nhưng thấy những xác chết. Người ta không chứng kiến được cảnh mẹ mình bị bắn chết; người ta được báo tin; người ta đã nghe tiếng súng nổ và người ta đã trông thấy những xác chết.
Pilar đã giúp chàng trông thấy cái cảnh chết chóc đó nơi thành phố kia. Chàng nghĩ phải chi người đàn bà kia có thể viết được. Chàng sẽ cố gắng viết lại câu chuyện, và nếu chàng có được cái may mắn là có thể nhớ được hết thì có lẽ chàng sẽ ghi lại y như lời người đàn bà kể. Trời ơi, sao mà Pilar có thể kể lại một cách tài tình như vậy được! Bà ta khá hơn Quevedo, chàng nghĩ, ông chưa bao giờ viết về cái chết của một tên Don Faustino nào một cách tài tình như lối bà kể. Ước gì mình có đủ tài viết lách để ghi lại câu chuyện, chàng nghĩ. Ghi lại những gì ta đã làm. Không phải những gì kẻ khác đã gây cho ta. Chàng thừa biết câu chuyện kể trên. Chàng đã thừa biết những gì đã xảy ra sau những chiến tuyến. Nhưng phải biết rõ mọi người trước đây. Phải biết lúc đó, ở trong làng họ như thế nào.
Vì tính cách lưu động của chúng ta và vì chúng ta không bao giờ phải ở lại sau đó để nhận lãnh sự trừng phạt nên chúng ta không bao giờ biết được sự việc thật sự kết thúc như thế nào, chàng nghĩ. Chúng ta ở tại nhà một người nông dân, trong gia đình hắn. Chúng ta đến lúc ban đêm và cùng ăn uống với họ. Ban ngày chúng ta trốn và đêm sau là ta đi mất. Ta thi hành công tác và thoát đi. Lần sau nếu có ghé qua, ta lại hay tin là họ đã bị bắn. Chỉ giản dị như thế.
Nhưng luôn luôn là chuyện đó xảy ra lúc ta đã đi xa. Những du kích quân đến phá hoại rồi bỏ đi. Những người nông dân thì ở lại để đón nhận sự trừng phạt. Ta thừa biết như vậy, chàng nghĩ. Những gì ta gây cho chúng ngay từ lúc đầu. Ta luôn luôn biết được điều đó và ta ghê tởm nó. Ta đã nghe nhắc tới chuyện đó, trơ trẽn có, nhục nhã có, và người ta khoác lác, khoe khoang, bênh vục, giải thích, hay chối bỏ nó. Nhưng chính mụ đàn bà kỳ lạ này đã làm ta trông thấy nó y như thể lúc đó ta cũng có mặt tại nơi xảy ra câu chuyện.
Được, chàng nghĩ, âu cũng là một phần của sự giáo dục con người, đến khi chung cuộc nó sẽ là một sự giáo dục hoàn toàn. Ta sẽ học hỏi được từ cuộc chiến này nếu ta chịu lắng nghe. Phần đông chúng ta đã lắng nghe. Chàng được cái may là đã sống ở Tây Ban Nha một thời của mười năm trước cuộc chiến. Người ta tin tưởng vào ta phần lớn là ở cái ngôn ngữ. Họ tin cậy ở ta vì ta rành ngôn ngữ của họ, sử dụng được cả những thành ngữ của họ và vì ta biết rõ từng hang cùng ngõ hẻm trong xứ họ. Và cuối cùng một người Tây Ban Nha chỉ thật sự trung thành với xóm làng của hắn. Trước tiên tự nhiên là với xứ Tây Ban Nha, thứ đến là bộ tộc của chính hắn, gia đình hắn và cuối cùng là công việc làm ăn của hắn. Nếu ta nói được tiếng Tây Ban Nha hắn sẽ có tiên kiến tốt về ta, nếu ta biết được tỉnh lỵ nơi hắn ở thì càng tốt hơn, nhưng nếu ta biết được làng mạc của hắn và nghề nghiệp của hắn thì ta có thể tiến xa tới mức tối đa mà một người ngoại quốc có thể đạt đến. Khi nói tiếng Tây Ban Nha, người ta chẳng bao giờ cảm thấy mình là người ngoại quốc. Và gần như chẳng bao giờ người ta đối xử với mình như một người ngoại quốc, chỉ trừ trường hợp người ta chống lại ta.
Hẳn nhiên là họ thường chống lại ta như họ luôn chống lại mọi người. Họ chống lại cả chính họ nữa. Hễ có được ba người thì có hai người họp lại để chống một và rồi hai người đó lại khởi sự phản bội nhau, không phải là luôn luôn, nhưng thường là như vậy. Đủ để đưa ta đến một kết luận.
Đấy không phải là một lối suy tư, nhưng ai kiểm duyệt được sự suy tư của mình. Không ai ngoài chàng. Chàng chẳng bao giờ cho phép tnình có được một tư tưởng chủ bại. Vấn đề trước tiên là phải thắng cho được trận giặc này. Nếu ta không thắng thì sẽ mất tất cả. Chàng để ý, lắng nghe và ghi nhớ mọi sự. Chàng đang phục vụ cho một cuộc chiến và chàng dâng hiến cho cuộc chiến này một sự trung thành tuyệt đối và một sự hoạt động trọn vẹn nhất. Nhưng đầu óc chàng, cũng như khả năng nghe thấy của chàng không dành riêng cho một ai, và nếu cần phải có những phán đoán thì đó là chuyện về sau. Và chàng sẽ có đầy đủ dữ kiện cho những phán đoán đó, chàng đã có nhiều dữ kiện rồi, có khi quá nhiều là khác.
Hãy nhìn Pilar đây, chàng nghĩ. Dù có chuyện gì đi nữa, nếu có thì giờ ta phải bảo bà ta kể hết phần còn lại của câu chuyện. Hãy nhìn bà ta bước đi bên cạnh hai đứa trẻ kia. Ta không thể nào tìm ra ba sản phẩm đẹp mắt hơn của xứ Tây Ban Nha. Bà ta giống như một trái núi, đứa con trai và đứa con gái như những cây non. Tất cả những cây già bị đốn xuống và những cây non đang mọc lên trong sáng như vậy đó. Mặc cho những gì đã xảy ra cho cả hai, chúng vẫn tươi mát và trong sáng, mới mẻ và trinh nguyên như thể chúng chưa bao giờ nghe nói đến điều bất hạnh. Nhưng theo Pilar thì Maria vừa mới khá trở lại. Trước đó chắc trông nàng thiểu não lắm.
Chàng còn nhớ một thanh niên Bỉ, trong Lữ Đoàn Mười Một, đến đăng lính cùng với năm người con trai khác ở cùng làng. Đó là một ngôi làng khoảng hai trăm dân và người con trai trước đó chưa từng đi ra khỏi làng bao giờ. Lúc chàng gặp hắn lần đầu tiên ngoài Tổng Hành Dinh của Lữ Đoàn Hans thì năm người con trai kia đã chết và hắn trông thật thảm hại. Người ta đang dùng hắn làm hầu bàn tại Câu lạc bộ của Tổng Hành Dinh. Hắn có gương mặt to và đỏ ửng của người dân miền Flandre, hai bàn tay nông dân vụng về, kệch cợm. Hắn bưng dĩa đi chậm chạp, vụng về như con ngựa kéo xe. Lại nữa hắn khóc luôn. Trong suốt bữa ăn hắn cứ khóc rưng rức.
Cứ nhìn lên là thấy hắn khóc, đang khóc. Gọi rượu là hắn khóc. Đưa dĩa lấy món ra gu, hắn lại khóc, và quay đầu ngó chỗ khác. Rồi hắn nín, nhưng nếu người ta nhìn hắn thì là nước mắt hắn lại bắt đầu tuôn ra. Giữa khi đang ăn thì hắn vô nhà bếp khóc. Ai nấy đều rất tốt với hắn. Nhưng cũng không giúp được gì. Robert Jordan nghĩ là phải cố tìm hiểu xem hắn ra làm sao vậy, và xem hắn có bao giờ bình tĩnh trở lại và có thể tiếp tục cầm súng nữa được không.
Bây giờ thì Maria đã khá lắm rồi. Dù sao thì nàng cũng có vẻ như vậy. Nhưng chàng không phải là một bác sĩ tâm thần. Pilar mới là bác sĩ tâm thần. Hẳn nhiên sự chung chạ trọn đêm qua đã đem lại điều tốt cho cả hai, cho người con gái lẫn chàng. Chắc chắn là nó đã đem lại cho chàng điều tốt đẹp. Hôm nay chàng thấy dễ chịu, sảng khoái và khỏe khoắn, không lo âu và sung sướng. Tình cảnh khá bất lợi nhưng chàng đã quá may mắn. Chàng đã từng chứng kiến tình cảnh tương tự của nhiều người khác và họ cho thấy là “không khá”. Cho thấy là... chàng nghĩ bằng tiếng Tây Ban Nha. Maria thật đáng yêu.
Hãy nhìn nàng, chàng tự nhủ. Hãy nhìn nàng.
Chàng nhìn nàng tung tăng vui vẻ dưới ánh mặt trời. Chiếc sơ-mi ka ki hở cổ. Nàng bước đi như con ngựa con, chàng nghĩ. Chưa ai có được cái may mắn như vậy. Những chuyện như vậy không có trong thực tế. Có thể cũng chưa bao giờ xảy ra trong chiêm bao, chàng nghĩ. Biết đâu rằng ta đã nằm mơ, đã tự tưởng tượng ra chớ không có thật. Có thể nó cũng giống như những giấc mơ ta nằm thấy có người đã gặp trong xi-nê, đến bên giường ta lúc đang đêm, thật dịu hiền, thật đáng yêu. Chàng đã từng ngủ với tất cả những người đó như thế, những khi ngon giấc trên giường. Chàng vẫn Còn nhớ Garbo và Harlow. Vâng, rất nhiều lần với Harlow. Biết đâu rằng lần này cũng giống như những giấc mơ kia.
Nhưng chàng còn nhớ lúc Garbo vào giường chàng trong đêm trước cuộc tấn công ở Pozoblanco, nàng mặc một chiếc áo len êm như lụa, khi chàng choàng tay qua ôm nàng và khi nàng cúi xuống, tóc nàng đổ xuống phía trước, phủ lên khuôn mặt chàng và nàng hỏi tại sao chàng chưa bao giờ nói yêu nàng trong khi nàng đã yêu chàng từ lâu. Nàng không e thẹn không lạnh lùng, không xa cách, nàng thật đáng yêu trong vòng tay chàng, dịu dàng và đáng yêu như những ngày nào với Jack Gilbert. Và chuyện xảy ra y như có thật, và chàng đã yêu nàng thật nhiều, hơn cả Harlow mặc dù Garbo chỉ đến có một lần trong khi Harlow thì... biết đâu rồi chuyện này cũng giống như những giấc mơ kia.
Tuy nhiên cũng có thể là không phải như vậy, chàng tự nhủ. Có thể ngay bây giờ đây ta đưa tay ra là có thể chạm được người cô bé Maria kia, chàng tự nhủ. Liệu ta có dám không, chàng tự nhủ. Có thể ta sẽ nhận ra rằng điều đó chưa hề xảy ra và không có thật, đó chỉ là điều do ta tưởng tượng ra như những giấc mơ về những nữ tài tử điện ảnh, những người tình cũ vẫn trở lại ngủ trong cái túi ngủ kia, trên những sàn nhà trần trụi, trong những ổ rơm, những vựa cỏ, những chuồng ngựa, những công viên, những nông trại, những khu rừng, những nhà xe, những chiếc xe vận tải và tất cả những núi đồi thuộc xứ Tây Ban Nha. Tất cả đã đến trong cái túi ngủ kia, trong giấc ngủ của chàng và tất cả những người đó đều xinh tươi hơn sự thật ngoài đời. Có thể lần này cũng vậy. Có thể ta sẽ sợ hãi không dám chạm đến nàng để xem nàng có thật hay không. Có thể, có thể ta sợ vì có lẽ đó chỉ là mộng mơ và tưởng tượng.
Chàng băng qua lối mòn và đặt bàn tay lên cánh tay người con gái. Dưới những ngón tay của mình, chàng bắt gặp sự êm ái của cánh tay nàng qua làn vải ka ki đã mòn cũ. Nàng nhìn chàng mỉm cười.
- Chào Maria. - Chàng nói.
- Chào Inglés. - Nàng đáp lại. Chàng nhìn người con gái, gương mặt nàng đỏ ửng, đôi mắt màu tro, đôi môi đầy đặn tươi cười và mái tóc ngắn cháy nắng, nàng ngửa mặt lên và cười trong ánh mắt chàng. Tất cả là sự thật, hoàn toàn có thật đây mà.
Bây giờ thì họ đã trông thấy doanh trại của El Sordo dưới cuối rừng thông, nơi có núi đá hình cái chậu to lật úp. Tất cả những núi đá vôi hình cái chậu ở phía trên đó chắc đầy hang động, chàng nghĩ. Đàng kia, phía trước mặt có hai cái hang. Những cây thông con mọc trên đá che kín lấy chúng. Chỗ này tốt, có thể còn tốt hơn chỗ của Pablo.
- Vụ tàn sát những người trong gia đình đồng chí đã xảy ra như thế nào? - Pilar hỏi Joaquin.
- Không có gì đặc biệt - Joaquin nói - Những người trong gia đình tôi thuộc phe tả, như nhiều người khác trong thành phố Valladolid. Khi bọn phát xít thanh lọc thành phố, chúng bắn cha tôi trước. Ông đã bỏ phiếu cho những người theo xã hội chủ nghĩa. Rồi tụi nó bắn mẹ tôi. Bà cũng đã bỏ phiếu như vậy. Đó là lần đầu tiên trong đời bà đi bỏ phiếu. Sau đó tụi nó bắn người chồng của một trong hai người chị của tôi. Anh này là một đoàn viên trong nghiệp đoàn tài xế xe điện. Hiển nhiên là ảnh sẽ không lái xe điện được nếu không có chân trong nghiệp đoàn. Nhưng ảnh đâu có để ý gì tới chính trị. Tôi biết rõ điều đó. Anh hơi nhu nhược nữa là đàng khác. Tôi lại cũng không tin ảnh có thể là một đồng chí tốt nữa. Kế đó là chồng của người chị gái khác của tôi, cũng trong nghiệp đoàn tài xế xe điện và cũng đã vào núi như tôi. Tụi nó tưởng chị biết ảnh ở đâu. Nhưng thật ra chị không biết. Cho nên tụi nó bắn chị vì chị không chịu khai chỗ ở của ảnh.
- Dã man quá - Pilar nói - El Sordo đâu? Tôi không thấy ông ta.
- Ông ta ở đây, có lẽ trong này. - Joaquin trả lời và ngừng lại, chống báng súng xuống đất - Pilar này, và Maria nữa, xin các đồng chí tha lỗi cho tôi, nếu tôi có làm hai người khó chịu khi kể những chuyện gia đình. Tôi biết là tất cả đều có những phiền muộn và tốt hơn là đừng nói ra.
- Đồng chí cứ nói ra đi - Pilar nói - Chúng ta sinh ra để làm gì, nếu không phải để giúp nhau. Lắng nghe và im lặng là sự giúp đỡ tối thiểu người ta có thể làm được.
- Nhưng có thể Maria không chịu nổi. Cô ấy cũng có quá nhiều những phiền muộn riêng tư lắm rồi.
- Qué va, - Maria nói - những phiền muộn của tôi như cái bầu mà đồng chí có thể trút hết những ưu phiền của đồng chí vào đó cũng không làm đầy được. Tôi xin chia buồn cùng đồng chí và mong rằng người chị của đồng chí còn được mạnh khỏe.
- Cho tới bây giờ thì chị ấy vẫn được bình yên - Joaquin nói - Tụi nó giam chị trong tù và hình như tụi nó không xử tệ với chị ấy lắm.
- Còn người nào trong gia đình nữa không? - Robert Jordan hỏi.
- Không - Người con trai đáp - Còn tôi thôi, không còn ai nữa. Ngoại trừ người anh rể đã vào núi và tôi chắc ảnh chết rồi.
- Có thể anh ấy còn mạnh giỏi - Maria nói - Còn đang sống với một nhóm người trên đó, trên những vùng núi khác.
- Theo tôi thì anh ấy đã chết. Hồi đó chẳng mấy khi anh ấy được khỏe mạnh lắm. Anh ấy là tài xế xe điện, đâu có thích ứng được với núi rừng. Tôi không chắc là anh ấy có thể sống nổi một năm. Vả lại phổi anh ấy hơi yếu.
- Nhưng biết đâu anh ấy vẫn được mạnh giỏi. - Maria choàng tay qua vai người thanh niên.
- Đúng rồi, sao lại không. - Joaquin nói.
Trong lúc người con trai đứng đó, Maria với lên choàng tay qua cổ hắn và hôn hắn. Joaquin quay đầu đi phía khác vì hắn đang khóc.
- Như là một người anh ruột - Maria nói với hắn - Tôi hôn đồng chí như hôn một người anh ruột.
Người con trai lắc đầu và lặng lẽ khóc.
- Tôi là em gái của đồng chí - Maria nói - Tôi thương đồng chí và như vậy đồng chí đã có một gia đình. Tất cả ở đây đều là người trong gia đình của đồng chí.
- Kể cả Inglés - Pilar nói với giọng tở mở - Có phải thế không, Inglés?
- Phải - Robert Jordan nói với người con trai - Tất cả chúng tôi đều là những người trong gia đình của đồng chí, Joaquin à.
- Hắn là em đồng chí - Pilar nói - Phải không Inglés?
Robert Jordan choàng tay qua vai người con trai. “Chúng ta là anh em với nhau”, chàng nói. Người con trai lắc đầu.
- Tôi xấu hổ là đã trót nói ra - Hắn nói - Nói về những chuyện như vậy chỉ làm nhọc lòng mọi người. Tôi xấu hổ đã làm mọi người phải áy náy khó chịu.
- Thôi dẹp cái xấu hổ của đồng chí lại đi cho được việc - Pilar nói bằng một giọng đầm ấm - Và nếu Maria lại hôn đồng chí thì chính tôi đây cũng bắt đầu hôn đồng chí đây. Mấy năm trôi qua rồi, tôi chưa được hôn một tay đấu bò nào; ngay cả một tay đấu bò hạng bét đã trở thành con người cộng sản. Giữ chặt lấy gã coi Inglés, để tôi hôn cậu ta một cái ngon lành coi.
- Qué va - Người con trai nói và quay phắt đi chỗ khác - Để tôi yên. Tôi không sao cả và tôi thấy xấu hổ quá.
Hắn đứng đó, cố giữ bình tĩnh. Maria đặt tay vào lòng bàn tay của Robert Jordan. Bấy giờ Pilar đứng chống nạnh nhìn người con trai một cách chế giễu.
- Khi tôi hôn đồng chí - Bà ta nói - tôi sẽ không phải hôn như một người chị đâu. Lại có cái trò hôn như một người chị nữa!
- Không cần phải pha trò - Người con trai nói - Tôi đã bảo là tôi không sao, và tôi lấy làm tiếc là đã kể câu chuyện.
- À, vậy ta vào gặp ông già đi - Pilar nói - Tôi đã mệt vì những sự mủi lòng này rồi.
Người con trai nhìn bà ta. Trong ánh mắt hắn ta có thể thấy là hắn bị thương tổn đến tột độ.
- Không phải những sự mủi lòng của đồng chí - Pilar nói - Của tôi kìa. Đồng chí thật hiền từ đối với một tay đấu bò.
- Tôi đã thua cuộc - Joaquin nói - Đồng chí không phải lặp đi lặp lại chuyện đó.
- Đồng chí lại mọc đuôi rồi.
- Vâng, sao lại không. Những người lính chiến đem dùng vào việc đấu bò là nhứt rồi còn gì nữa, về phương diện kinh tế. Nhiều người sẽ có việc làm. Và nhà nước sẽ trông coi tất cả chuyện đó. Và biết đâu rằng lúc bấy giờ tôi không còn hèn nhát nữa.
- Không chắc thế đâu - Pilar nói - Không chắc thế đâu.
- Sao chị lại có thể ăn nói một cách tàn nhẫn như vậy, Pilar? - Maria hỏi bà ta - Em thương chị nhiều nhưng chị hành động dã man quá.
- Có thể là tôi dã man. - Pilar nói - Nhưng Inglés à, đồng chí có biết mình sẽ nói gì với El Sordo không?
- Biết.
- Bởi vì ông ta không lắm lời, không giống như tôi, đồng chí và con người giàu tình cảm này.
- Sao chị lại nói vậy? - Maria lại hỏi, vẻ giận dỗi.
- Chị không biết - Pilar nói và bỏ đi - Theo em thì tại sao vậy, em biết không?
- Em không biết.
- Có những lúc nhiều chuyện làm chị mệt - Pilar nói một cách cau có - Em hiểu không? Và một trong những chuyện đó là cái con số bốn mươi tám tuổi. Em nghe rõ không? Bốn mươi tám tuổi với một gương mặt xấu xí. Và chuyện khác là việc trông thấy cái nỗi sợ hãi trên nét mặt một tên đấu bò thất bại có khuynh hướng cộng sản này khi tôi làm bộ nói là sẽ hôn hắn.
- Không phải vậy đâu, Pilar à - Người con trai nói - Không đúng vậy đâu.
- Qué va, không đúng à? Dẹp mấy người đi. À, ông ta kia rồi. Hola, Santiago! Qué tal?
Người đàn ông mà Pilar vừa cất tiếng chào có dáng người thấp nặng nề, mặt nâu sậm, cằm bạnh, tóc hoa râm, đôi mắt màu vàng nâu và dang xa nhau, chiếc mũi có sóng nhỏ và cong giống mũi người Ấn Độ, môi trên dài, miệng rộng và mỏng, mày râu nhẵn nhụi. Ông ta từ trong cửa hang bước tới, chân đi chữ bát, xứng với chiếc quần cụt và đôi ủng của người chăn bò.
Trời nóng nhưng ông ta mặc áo vét da phủ lớp lông cừu, gài nút lên tận cổ. Ông ta giơ bàn tay kịch cợm sạm nắng ra cho Pilar. “Hola, bà chị” ông ta nói “Hola” ông ta chào Robert Jordan, ông ta bắt tay chàng và nhìn chăm chú vào mặt chàng. Robert Jordan thấy đôi mắt ông ta vàng như mắt mèo và phẳng như mắt rắn. “Guapa” ông ta vừa nói vừa vỗ vai Maria.
- Ăn chưa? - Ông ta hỏi Pilar. Bà ta lắc đầu - Ăn nhé! - Ông ta nói và nhìn Robert Jordan - Uống rượu nghe? - Ông ta hỏi, phác một cử chỉ bằng tay, ra dấu rót rượu, ngón cái chỉ xuống.
- Vâng, cám ơn.
- Tốt - El Sordo nói - Huýt ky nghe?
- Đồng chí có cả huýt ky à?
El Sordo gật đầu.
- Người Anh à? Không phải người Nga chớ?
- Americano.
- Ở đây ít người Mỹ. - Ông ta nói.
- Bây giờ thì có nhiều.
- Càng tốt. Bắc hay Nam đây?
- Bắc.
- Coi cũng như dân Inglés. Chừng nào giựt cầu đây?
- Đồng chí biết chuyện cây cầu chứ?
El Sordo gật đầu.
- Sáng mốt.
- Tốt - El Sordo nói - Còn Pablo? - Ông ta hỏi Pilar.
Bà ta lắc đầu. El Sordo mỉm cười.
- Đi chỗ khác chơi đi - Ông ta bảo Maria, rồi lại mỉm cười - Thôi trở lại đây - Ông ta kéo chiếc đồng hồ ra khỏi túi áo, cột bằng một sợi dây da... - Nửa tiếng.
Ông ta ra dấu cho họ ngồi xuống trên một thân cây được đẽo gọt dùng làm ghế ngồi và nhìn Joaquin, chỉ ngón tay cái xuống phía đường mòn về hướng họ đã đến.
- Tôi đi xuống dưới với Joaquin và sẽ trở lại sau. - Maria nói.
El Sordo vào hang và trở ra với một chai huýt ky và ba cái ly. Chai rượu cắp dưới nách, ba cái ly trong tay, mỗi ngón tay thọc trong một cái, tay kia xách cổ một bình nước bằng đất nung. Ông để chai rượu và mấy cái ly lên thân cây, và đặt bình nước dưới đất.
- Không có nước đá. - Ông ta nói với Robert Jordan và đưa cho chàng chai rượu.
- Tôi không uống. - Pilar nói, vừa lấy tay đậy ly của mình đi.
- Đêm rồi có nước đá - El Sordo mỉm cười nói - Giờ tan hết rồi. Có nước đá trên kia - El Sordo nói và chỉ tuyết trên những đỉnh núi trọc - Quá xa!
Robert Jordan bắt đầu rót rượu vào ly cho El Sordo nhưng người đàn ông ù tai lắc đầu và ra dấu cho Robert Jordan tự rót lấy cho mình.
Robert Jordan rót thật nhiều rượu vào ly và El Sordo nhìn chàng một cách thích thú. Khi chàng uống cạn, ông ta đưa bình nước và Robert Jordan nghiêng chiếc bình đất nung cho nước lạnh từ vòi chảy vào đầy ly.
El Sordo rót cho mình nửa ly rượu rồi rót nước lạnh vào cho đầy.
- Rượu à? - Pilar hỏi.
- Không. Nước. Này, cầm lấy đi. - Ông ta nói.
- Không tốt, tôi quen nhiều người Anh. Lúc nào cũng uống nhiều huýt ky.
- Ở đâu?
- Ranch - El Sordo nói - Mấy người bạn của xếp.
- Đồng chí kiếm đâu ra huýt ky này đây?
- Cái gì? - Ông ta không nghe.
- Phải nói lớn - Pilar nói - Bên lỗ tai kia. - El Sordo chỉ lỗ tai khá hơn của mình và mỉm cười.
- Đồng chí kiếm đâu ra huýt ky này đây? - Robert Jordan hét lớn.
- Làm lấy. - El Sordo nói và thấy Robert Jordan dừng tay lại nửa chừng khi đang đưa ly rượu lên môi - Không - El Sordo nói và vỗ vai chàng - Đùa thôi. Từ La Granja đấy. Đêm qua nghe nói có đồng chí chuyên viên chất nổ tới. Tốt. Tôi rất vui mừng. Bèn đi kiếm rượu. Cho đồng chí. Thích chứ?
- Rất thích - Robert Jordan nói - Huýt ky rất ngon.
- Tôi hài lòng - Sordo mỉm cười - Tối nay tôi muốn mang nó tới và cho hay một tin.
- Tin gì?
- Nhiều cuộc chuyển quân.
- Ở đâu?
- Ségovie. Đồng chí có thấy phi cơ không?
- Có.
- Tin xấu hả?
- Xấu.
- Chuyển quân thế nào?
- Nhiều, giữa Villacastin và Ségovie. Trên đường Valladolid. Nhiều giữa Vallacastin và San Rafael. Nhiều, nhiều lắm.
- Đồng chí nghĩ thế nào?
- Chúng ta sẽ chuẩn bị một cái gì chớ?
- Có thể.
- Chúng biết. Chúng cũng chuẩn bị.
- Có thể.
- Sao không giựt cầu đêm nay?
- Lệnh.
- Lệnh gì?
- Tổng Tham Mưu.
- Thì ra vậy.
- Thời điểm giựt cầu có quan trọng lắm không? - Pilar hỏi.
- Quan trọng nhứt.
- Nhưng nếu chúng chuyển quân lên thì sao?
- Tôi sẽ gởi Anselmo với báo cáo đầy đủ về tất cả những cuộc chuyển quân và tập trung quân. Lão đang quan sát con đường.
- Đồng chí có cho người nào nằm trên con đường không? - Sordo hỏi.
Robert Jordan không biết ông ta nghe được tới đâu. Với một người điếc thì không thể nào biết được hắn đã nghe được tới đâu.
- Có. - Chàng nói.
- Tôi cũng thế - El Sordo nói - Sao không giựt cầu ngay bây giờ?
- Tôi có lệnh.
- Tôi không thích thế - El Sordo nói - Cái này thì tôi không thích.
- Tôi cũng không. - Robert Jordan nói.
El Sordo lắc đầu và hớp một hớp rượu.
- Đồng chí cần đến tôi không?
- Đồng chí có được bao nhiêu người?
- Tám.
- Để cắt đường dây điện thoại, tấn công, chiếm đồn canh ở trạm lục lộ và rút lên cầu.
- Dễ ợt.
- Tất cả sẽ được ghi chép rõ ràng.
- Đừng lo. Còn Pablo thì sao?
- Sẽ cắt đường điện thoại phía dưới, tấn công, chiếm đồn canh ở trại cưa, và rút lên cầu.
- Và sau cùng làm sao để rút lui? - Pilar hỏi - Chúng tôi tất cả có bảy người đàn ông, hai người đàn bà và năm con ngựa. Đồng chí có bao nhiêu? - Bà ta hét vào tai của Sordo.
- Tám người với bốn con ngựa. Vậy thì thiếu ngựa - Ông ta nói - Thiếu ngựa.
- Mười bảy người với chín con ngựa - Pilar nói - Chưa kể trường hợp phải chở này chở nọ.
Sordo làm thinh.
- Không có cách nào kiếm thêm ngựa sao? - Robert Jordan nói vào lỗ tai còn nghe được của Sordo.
- Một năm trời chiến đấu - Sordo nói - Kiếm được bốn con ngựa - Ông ta đưa lên bốn ngón tay - Bây giờ đồng chí cần tám con cho ngày mai?
- Vâng - Robert Jordan đáp - Bây giờ đồng chí sắp sửa rời bỏ nơi đây, không cần phải thận trọng như những khi còn sống ở đây nữa. Bây giờ ở đây đồng chí không cần gìn giữ nữa. Đồng chí không thể lẻn xuống đánh cắp tám con ngựa à?
- Có thể lắm chớ - Sordo nói - Có thể không được con nào. Có thể nhiều hơn.
- Đồng chí có một khẩu tự động không? - Robert Jordan hỏi.
Sordo gật đầu.
- Đâu?
- Trên đồi.
- Loại nào?
- Không biết tên. Có nồi đạn.
- Bao nhiêu đạn?
- Năm nồi.
- Có ai biết sử dụng không?
- Tôi. Biết chút ít. Không bắn nhiều lắm. Ở đây không muốn gây nhiều tiếng động. Không muốn dùng súng đạn.
- Tôi sẽ coi lại - Robert Jordan nói - Có lựu đạn ném tay không?
- Thiếu gì!
- Bao nhiêu?
- Một trăm rưởi. Có thể nhiều hơn nữa.
- Còn những người khác thì sao?
- Để làm gì?
- Để đủ lực lượng chiếm đồn canh và yểm trợ cây cầu trong lúc tôi lo giựt sập nó. Chúng ta phải có gấp đôi cái ta hiện có.
- Chiếm đồn thì đừng lo. Vào lúc nào trong ngày?
- Buổi sáng.
- Đừng lo.
- Tôi có thể dùng thêm hai mươi người nữa, cho chắc. - Robert Jordan nói.
- Không có người giỏi. Đồng chí có dùng được những người không đáng tin cậy không?
- Không. Có bao nhiêu người có khả năng?
- Có lẽ bốn.
- Sao ít vậy?
- Không dám tin.
- Chỉ để giữ ngựa thôi à?
- Phải, đáng tin cậy lắm mới cho giữ ngựa.
- Tôi cần thêm mười người đáng tin cậy nếu có thể được.
- Bốn.
- Anselmo đã bảo tôi có hơn một trăm trên vùng đồi này mà!
- Tệ lắm.
- Đồng chí đã bảo là ba mươi - Robert Jordan nói với Pilar - Ba mươi với một mức độ đáng tin cậy nào đó.
- Còn mấy người của Elias thì sao? - Pilar hét lớn cho El Sordo nghe.
- Dở ẹt. - Ông ta lắc đầu.
- Đồng chí không tìm ra nổi một chục à? - Robert Jordan hỏi. Sordo nhìn chàng với đôi mắt phẳng bẹt màu vàng và lắc đầu.
- Bốn. - Ông ta nói và giơ bốn ngón tay lên.
- Người của đồng chí ngon lành chớ? - Robert Jordan hỏi, chàng hối hận là đã thốt lên câu đó.
Sordo gật đầu.
- Dentro de la gravedad - Ông ta nói bằng tiếng Tây Ban Nha - Trong giới hạn của sự nguy hiểm - Ông ta mỉm cười - Gay đó hả?
- Có thể.
- Với tôi cũng thế thôi. - Sordo nói gọn lỏn, không vẻ gì khoác lác - Bốn người giỏi còn hơn đông mà dở. Trong cuộc chiến này luôn luôn có quá nhiều thứ dở, thứ hay thì ít. Cái thứ hay, thứ tốt ngày một ít đi. Còn Pablo? - Ông ta nhìn Pilar.
- Như đồng chí biết đó - Pilar nói - Càng ngày càng tệ.
Sordo nhún vai.
- Uống đi - Sordo bảo Robert Jordan - Tôi sẽ đem người của tôi đến, thêm bốn người nữa, thành ra được mười hai. Tối nay chúng ta sẽ tính qua tất cả. Tôi có sáu chục thỏi cốt mìn. Đồng chí cần không?
- Thứ mấy phần trăm?
- Không rõ. Thứ cốt mìn thường. Tôi sẽ đem tới.
- Ta sẽ dùng nó để giựt sập cây cầu nhỏ phía trên - Robert Jordan nói - Vậy là tốt lắm. Tối nay đồng chí xuống chứ? Đem theo thứ đó nghe. Tôi không được lệnh về cây câu nhỏ đó nhưng nên giựt sập nó đi.
- Tối tôi đến. Rồi còn đi kiếm ngựa.
- Có hy vọng tìm ra ngựa không?
- Có thể, bây giờ ăn đi.
Có phải ông ta vẫn nói chuyện lối đó với mọi người chăng, Robert Jordan tự hỏi. Hay theo ý ông ta thì phải làm thế để cho người ngoại quốc hiểu được?
- Và xong vụ nay chúng ta sẽ đi đâu? - Pilar la lớn vào tai của El Sordo.
Ông ta nhún vai.
- Phải lo liệu tất cả chứ. - Người đàn bà nói.
- Dĩ nhiên - Sordo nói - Sao lại không?
- Công việc khởi sự bết quá - Pilar nói - Phải tổ chức cho chu đáo chứ?
- Đúng thế, đồng chí à. - Sordo nói - Đồng chí lo ngại về chuyện gì?
- Mọi chuyện. - Pilar la lớn.
Sordo nhìn bà ta, nhe ràng cười.
- Đồng chí đã sống với Pablo khá lâu rồi đó. - Ông ta nói.
À thì ra ông ta chỉ nói thứ tiếng Tây Ban Nha bồi đó với người ngoại quốc. Robert Jordan nghĩ. Tốt, ta hài lòng khi nghe ông ta nói một cách xuôi tai như vậy.
- Đồng chí nghĩ chúng ta nên đi đâu? - Pilar hỏi.
- Đi đâu?
- Vâng, đi đâu?
- Thiếu gì chỗ - El Sordo nói - Thiếu gì chỗ. Đồng chí có biết Gredos không?
- Ở đó đông người lắm. Tất cả những nơi đó sẽ bị thanh toán khi chúng có thì giờ.
- Vâng. Nhưng đó là một vùng quê rộng lớn và hoang vu.
- Khó đến đó lắm. - Pilar nói.
- Cái gì cũng khó khăn cả - El Sordo nói - Chúng ta có thể tới Gredos cũng như tới bất cứ nơi nào. Đi ban đêm. Bây giờ ở đây nguy hiểm lắm. Chúng ta ở đây được thế này là một điều lạ. Ở Gredos thì an toàn hơn ở đây.
- Đồng chí có biết tôi muốn đi đâu không? - Pilar hỏi ông ta.
- Đâu? Paramera à? Không ích gì.
- Không - Pilar nói - Không phải tới Siera de Paramera đâu. Tôi muốn tới vùng Cộng Hòa.
- Có thể chứ!
- Mấy người của đồng chí có đi không?
- Có, nếu có lịnh tôi.
- Người của tôi thì tôi không được biết - Pilar nói - Pablo sẽ không ưng đi, dù rằng, thật ra, hắn có thể sẽ cảm thấy an toàn hơn khi sống ở đó. Hắn quá già để đi lính, trừ phi người ta gọi thêm các lớp khác. Tên du mục cũng sẽ không muốn đi. Mấy người khác thì tôi không biết.
- Vì lâu lắm rồi ở đây không có gì xảy ra nên người ta không thấy được sự nguy hiểm. - El Sordo nói.
- Sau mấy chiếc máy bay, bữa nay người ta sẽ thấy rõ hơn - Robert Jordan nói - Nhưng tôi nghĩ từ Gredos đồng chí có thể tung ra những hoạt động rất ngoạn mục.
- Cái gì? - El Sordo nói và nhìn chàng với đôi mắt trao tráo. Không có chút thân mật nào trong câu hỏi của ông ta.
- Từ đó đồng chí có thể mở những cuộc tấn công hữu hiệu hơn. - Robert Jordan nói.
- À - El Sordo nói - Đồng chí biết Gredos à?
- Biết, từ đó đồng chí có thể tung ra những hoạt động nhằm vào thiết lộ chính. Đồng chí có thể tiếp tục cắt đứt con đường trong khi chúng tôi đánh sâu vào miền Nam tại Estremadura. Ở đó mà hoạt động thì có lợi hơn là trở về vùng Cộng Hòa. Robert Jordan nói - Đồng chí ở đó có ích hơn.
Nghe chàng nói, cả hai có vẻ buồn.
Sordo nhìn Pilar rồi quay lại nhìn chàng.
- Đồng chí biết Gredos? - Sordo hỏi - Thật chứ?
- Thật. - Robert Jordan đáp.
- Đồng chí sẽ đi đâu?
- Phía trên Barco de Avila. Có những chỗ tốt hơn ở đây. Để tấn công trục lộ chánh và thiết lộ giữa Béja và Plasencia.
- Rất khó. - Sordo nói.
- Chúng tôi đã từng phá một thiết lộ giống y thế ở vùng nguy hiểm hơn tại Estremadura. - Robert Jordan nói.
- Chúng tôi là những ai?
- Toán du kích ở Estremadura.
- Các đồng chí có đông không?
- Khoảng bốn mươi.
- Cái anh chàng yếu thần kinh có cái tên kỳ lạ có phải gốc ở đó không? - Pilar hỏi.
- Phải.
- Bây giờ hắn ở đâu?
- Chết rồi, như tôi đã kể cho đồng chí nghe.
- Hắn cũng từ đó đến à?
- Phải.
- Đồng chí hiểu ý tôi chứ? - Pilar hỏi chàng. Ta đã phạm một lỗi lầm, Robert Jordan nghĩ. Ta đã lỡ bảo cho những người Tây Ban Nha rằng bọn ta đã làm một điều gì đó hay hơn họ trong khi đúng luật là không bao giờ nói về những chiến công hoặc khả năng riêng biệt của chính ta.
Trong khi lẽ ra phải tâng bốc họ, tôi đã trót bảo cho họ biết những điều mà tôi nghĩ họ nên làm, và bây giờ họ đã nổi giận. Và rồi họ sẽ nguôi đi hoặc giả vẫn còn giận mãi. Và thật ra ở Gredos họ sẽ có ích hơn ở đây nhiều. Chứng cớ là ở đây, kể từ trận đánh xe lửa do Kachkine tổ chức đến nay họ đã chẳng làm được điều gì? Và đó cũng chẳng phải là một thành công lớn lao gì cho lắm. Nó chỉ gây thiệt hại cho bọn phát xít có một đầu máy xe lửa và vài tên lính bị giết chết, nhưng tất cả bọn họ đều nói đến việc ấy như một cao điểm của cuộc chiến. Có thể họ sẽ quyết định đến vùng Gredos. Vâng, nhưng cũng có thể là tôi sẽ bị tống cổ ra khỏi chốn này. Và dù sao thì tình cảnh cũng chẳng đẹp gì để mà trông đợi.
- Nghe đây, Inglés - Pilar bảo chàng - Thần kinh của đồng chí sao đó?
- Không sao cả - Robert Jordan nói - Không sao cả.
- Bởi vì, người chuyên viên cốt mìn sau cùng được gởi đến làm việc với chúng tôi trước đây, mặc dù là một chuyên viên tài giỏi phi thường, nhưng phải cái tội là dễ bị kích động.
- Chúng ta không thiếu gì người dễ bị kích động. - Robert Jordan nói.
- Tôi không bảo đồng chí ấy là một kẻ hèn nhát, vì đồng chí ấy đã hành động rất đúng mức - Pilar tiếp tục - Nhưng hắn có cái lối ăn nói rất quái lạ và bâng quơ. - Bà ta lên giọng - Có đúng như vậy không, Santiago, cái ông chuyên viên cốt mìn vừa rồi, cái người đánh xe lửa ấy mà, hắn có vẻ hơi kỳ quặc, có đúng không?
- Hơi lạ. - Người đàn ông điếc lác gật đầu, và đưa mắt nhìn vào khuôn mặt của Robert Jordan, cái nhìn của ông ta làm chàng nhớ lại cái lỗ vòi của một chiếc máy hút bụi, Si, algo raro, pero bueno [1].
- Murio - Robert Jordan nói lớn vào tai người điếc - Hắn chết rồi.
- Sao vậy? - Người đàn ông điếc hỏi, ông ta rời đôi mắt chàng để nhìn vào đôi môi.
- Tôi đã bắn hắn. - Robert Jordan nói - Hắn bị thương nặng quá không thể đi nổi, và tôi đã bắn hắn chết.
- Hắn lúc nào cũng nói đến cái chết - Pilar nói - Đó là mối ám ảnh cố định của hắn.
- Como fué [2]? - Người đàn ông điếc hỏi - Trong vụ xe lửa phải không?

- Lúc quay về sau trận đánh xe lửa - Robert Jordan nói - Vụ chiếc xe lửa thì thành công. Lúc trở về trong đêm chúng tôi đã gặp một toán tuần tiễu của bọn phát xít và trong lúc bọn tôi tháo chạy hắn bị bắn trúng ở phần trên lưng, không trúng xương sống mà trúng xương bả vai. Hắn đã đi được một khoảng khá xa, nhưng vì vết thương nên không đi được nữa. Hắn không muốn bị bỏ lại một mình và tôi đã bắn chết hắn.
- Memos mal - El Sordo nói - Vậy mà đỡ hơn.
- Đồng chí có cho rằng đầu óc mình bình thường không? - Pilar hỏi Robert Jordan.
- Có - Chàng bảo bà ta - Tôi tin rằng đầu óc tôi sáng suốt và khi tôi thanh toán xong cây cầu này thì các đồng chí nên kéo đến vùng Gredos.
Khi chàng nói thế, người đàn bà bắt đầu chửi xối xả vào mặt chàng.
Người đàn ông điếc ngó Robert Jordan lắc đầu và nhe răng cười đắc chí. Ông ta tiếp tục lắc đầu một cách vui thích khi Pilar tiếp tục xỉ vả và Robert Jordan biết rằng vậy mà lại êm chuyện. Cuối cùng bà ta thôi không chửi nữa, với tay lấy bình nước, dốc bình uống một hơi và nói một cách điềm tĩnh. “Hãy câm họng lại và đừng thắc mắc về cái mục chúng tôi phải làm gì sau đó có được không, Inglés? Đồng chí rồi sẽ trở về vùng Cộng Hòa với ‘món hàng’ của mình và bỏ mặc chúng tôi ở lại đây để quyết định xem chúng tôi sẽ chết tại nơi nào giũa vùng đồi núi này”.
- Sống chớ - El Sordo nói - Bình tĩnh coi, Pilar.
- Sống và chết - Pilar nói - Tôi đã thấy rõ cái kết cuộc rồi. Tôi quý đồng chí lắm, Inglés, nhưng xin đừng chõ mỏ vào những chuyện gì chúng tôi phải làm khi công việc của đồng chí được hoàn tất.
- Đó là việc của đồng chí - Robert Jordan nói - Tôi không dám xen vào.
- Nhưng đồng chí đã xen vào - Pilar nói - Hãy mang cái con đĩ đầu trọc của đồng chí về vùng Cộng Hòa đi, nhưng đừng đóng cửa rút cầu với kẻ khác, họ không phải là những người ngoại quốc và họ đã biết thương yêu xứ Cộng Hòa của họ trong khi đồng chí miệng còn hôi sữa.
Maria đã leo lên theo lối mòn trong lúc hai người nói chuyện và nàng nghe được câu chót khi Pilar thét to vào mặt Robert Jordan. Maria nhìn Robert Jordan, lắc đầu lia lịa, và đưa ngón tay ra dấu bảo đừng. Pilar thấy Robert Jordan nhìn người con gái mỉm cười. Bà ta quay lại và nói: “Ừ tao nói mày là con đĩ. Mấy người rủ nhau mà về thành phố Valence đi. Bọn này về Gredos gậm cứt dê khô được mà”.
- Em là một con đĩ nếu chị muốn thế, Pilar à - Maria nói - Chị nói như vậy chắc là đúng đó. Nhưng hãy bình tĩnh. Chị sao vậy?
- Không sao cả - Pilar nói và ngồi phệt xuống chiếc băng, giọng của bà ta dịu xuống, tất cả cái giọng chanh chua biến đâu mất - Chị không muốn nói em như vậy. Nhưng chị ao ước được về vùng Cộng Hòa quá đi.
- Tất cả chúng ta có thể cùng đi. - Maria nói.
- Sao lại không? - Robert Jordan nói - Vì lẽ em có vẻ không ưa Gredos.
Sordo nhìn chàng nhe răng cười.
- Để coi - Pilar nói, cơn giận dữ của bà ta đã biến mất - Cho tôi một ly rượu kỳ khôi kia đi. Cơn giận làm tôi rát cả cổ. Để rồi xem. Để rồi xem chuyện gì xảy ra.
- Đồng chí có thấy không - El Sordo giải thích - Chính cái buổi sáng mới là lôi thôi. - Bây giờ thì ông ta không nói cái thứ tiếng Tây Ban Nha bồi ấy và ông ta đang nhìn đôi mắt của Robert Jordan một cách bình tĩnh như muốn phân bua, không phải dò xét cũng không phải nghi kỵ, không với vẻ e dè cũng không với cái vẻ trịch thượng của một lão tướng có cái kiêu hãnh đã nhập cuộc trước - Tôi hiểu được những nhu cầu của đồng chí, tôi biết là phải diệt các đồn canh, và cây cầu phải được yểm trợ trong lúc đồng chí thi hành công tác. Điều này thì tôi hiểu rất thấu đáo. Chuyện này có thể làm được dễ dàng trước lúc trời sáng hoặc trước hừng đông.
- Đúng vậy - Robert Jordan nói - Đi chơi một chút đi, được không? - Chàng nói với Maria, không quay lại nhìn nàng.
Người con gái đi xa đến chỗ không còn nghe được câu chuyện và ngồi xuống, hai tay bắt tréo qua hai mắt cá.
- Đồng chí thấy không, - Sordo nói - chuyện đó không có gì rắc rối. Nhưng phải rút lui sau đó và đi khỏi vùng này giữa ban ngày là cả một vấn đề.
- Hẳn là vậy - Robert Jordan nói - Tôi đã nghĩ đến chuyện đó. Tôi cũng phải di chuyển giữa ban ngày vậy.
- Nhưng đồng chí có một mình - El Sordo nói - Bọn tôi thì đông.
- Ta cũng có thể trở về trại, và đợi trời sụp tối hãy ra đi. - Pilar nói. Bà ta đưa chiếc ly lên môi rồi hạ xuống.
- Việc đó lại cũng rất nguy hiểm - El Sordo giải thích - Có thể còn nguy hiểm hơn là đàng khác.
- Tôi có thể nghiên cứu chuyện đó. - Robert Jordan nói.
- Thanh toán cây cầu trong đêm thì lại dễ - El Sordo nói - Vì lẽ đồng chí ra điều kiện là phải thanh toán lúc ban ngày thành ra nó lại đưa đến những hậu quả trầm trọng.
- Tôi hiểu điều đó.
- Đồng chí không thể hành động vào lúc ban đêm sao?
- Làm vậy tôi sẽ bị xử bắn ngay.
- Nhưng nếu hành động giữa ban ngày thì rất có thể là cả bọn sẽ bị bắn.
- Đối với cá nhân tôi thì việc đó cũng không quan trọng mấy một khi chiếc cầu đã bị giựt sập - Robert Jordan nói - Nhưng tôi đã thấy được quan điểm của đồng chí. Đồng chí không thể tính ra một cuộc rút lui giữa ban ngày sao?
- Đúng vậy - El Sordo nói - Chúng tôi sẽ tính ra một cuộc rút lui như vậy. Nhưng tôi muốn cắt nghĩa cho đồng chí thấy tại sao người ta lo âu và tại sao người ta lại đổ quạu. Đồng chí nói đến chuyện kéo về Gredos như đó là một cuộc thao diễn quân sự. Tới được Gredos sẽ là một phép lạ.
Robert Jordan làm thinh không nói gì.
- Nghe đây - Người đàn ông điếc nói - Tôi nói nhiều quá. Nhưng có như vậy chúng ta mới hiểu nhau. Chúng tôi còn tồn tại ở đây là nhờ một phép lạ. Cái phép lạ của sự lười biếng và ngu đần của bọn phát xít và rồi theo thời gian chúng sẽ sửa chữa. Dĩ nhiên chúng tôi rất thận trọng và chúng tôi không hề gây một xáo trộn nào trong vùng này.
- Tôi biết.
- Nhưng bây giờ, với cái vụ này, chúng tôi phải đi. Chúng tôi phải suy nghĩ thật nhiều về cách thức ra đi của chúng tôi.
- Hiển nhiên là vậy.
- Vậy thì, - El Sordo nói - bây giờ chúng ta ăn đi. Tôi đã nói quá nhiều.
- Chưa bao giờ tôi nghe đồng chí nói nhiều như vậy - Pilar nói - Có phải tại cái này không? - Bà ta đưa cao chiếc ly lên.
- Không - El Sordo lắc đầu - Không phải tại huýt ky. Tại chưa bao giờ tôi có nhiều chuyện để nói như vậy.
- Tôi quý trọng sự giúp đỡ và lòng trung thực của đồng chí - Robert Jordan nói - Tôi ghi nhận nỗi khó khăn gây ra do việc ấn định giờ giấc cho công cuộc giựt sập cây cầu.
- Đừng nói đến chuyện đó - El Sordo nói - Chúng tôi có mặt ở đây để làm hết khả năng của chúng tôi. Nhưng chuyện này thật rắc rối.
- Và trên giấy tờ thì rất giản dị - Robert Jordan mỉm cười - Trên giấy tờ thì cây cầu bị giựt sập đúng vào lúc cuộc tấn công bắt dầu để cho không có cái gì có thể tiến lên trên con đường được. Rất là giản dị.
- Ước gì người ta để cho chúng ta hành động trên giấy tờ - El Sordo nói - Ước gì chúng ta được quan niệm và thực hiện một điều gì đó bằng giấy tờ.
- “Giấy tờ ít đổ máu” - Robert Jordan dẫn một câu châm ngôn.
- Nhưng nó rất hữu ích - Pilar nói - Es muy util. Điều tôi muốn làm là dùng những mênh lệnh của đồng chí trong mục đích đó.
- Tôi cũng vậy - Robert Jordan nói - Nhưng chúng ta sẽ không bao giờ thắng trận bằng cách đó.
- Không - Người đàn bà nói - Tôi cho là không. Nhưng đồng chí có muốn biết tôi thích cái gì không?
- Về vùng Cộng Hòa - El Sordo nói. Ông ta đã chìa lỗ tai thính sát vào lúc bà nói - Ya iras, mujer [3]. Chúng ta hãy thắng trận giặc này đi và rồi tất cả sẽ thuộc về Cộng Hòa.
- Được rồi - Pilar nói - Và bây giờ thì chúng ta ăn cho rồi đi. 

Chú thích:
[1] Đúng, rất lạ nhưng tốt.
[2] Xảy ra thế nào?
[3] Mụ sẽ đi, mụ à.
27/7/2016
Ernest Miller Hemingway
Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...