Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Chuông gọi hồn ai 2

Chuông gọi hồn ai 2

Chương 12
Họ bắt tay từ giã El Sordo sau bữa cơm và bước xuống con đường mòn. El Sordo tiễn chân họ tới tận đồn canh phía dưới.
- Chào nhé! - Ông ta nói - Hẹn tối nay.
- Chào đồng chí. - Robert Jordan nói với ông ta và cả ba bước xuống con đường mòn trong khi ông ta đứng yên, dõi mắt nhìn theo. Maria quay đầu lại và vẫy tay. El Sordo cũng vẫy tay vừa dùng cánh tay làm cái cử chỉ nhanh nhẹn có ý nghĩa một sự tiễn biệt theo lối Tây Ban Nha, nhưng lại nhắc nhở nhiều hơn tới việc ném một hòn đá. Trong suốt bữa ăn, ông ta đã không mở nút áo vét da trừu và đã một mực tỏ ra lịch sự bằng cách luôn luôn cẩn thận quay đầu lại trong khi lắng nghe, ông ta lại khởi sự dùng thứ tiếng Tây Ban Nha dung dị để hỏi Robert Jordan một cách lễ độ về tình hình nền Cộng Hòa, nhưng điều trông thấy rõ là ông ta không muốn bận tâm đến nó.
Trong lúc từ giã, Pilar đã hỏi ông ta: “Có gì không, Santiago?”
- Không có gì, đồng chí ạ - Người đàn ông điếc trả lời - Rất tốt đẹp nhưng tôi đang suy nghĩ.
- Tôi cũng vậy. - Pilar nói và bây giờ bọn họ bước trên con đường mòn, trong chuyến đi bộ đầy khỏe khoắn và vui vẻ, xuyên những rặng cây thông, dọc theo con đường dốc mà mới đây họ đã nhọc nhằn leo lên, Pilar không nói gì. Robert Jordan và Maria cũng lặng thinh, và cả ba người dồn bước đi nhanh. Họ băng qua khoảng thung lũng có rừng cây thưa thớt, rồi vượt con dốc để tới một rùng cây lớn sau cùng họ tới vùng đất cao phủ đầy những đồng cỏ.
Trời oi bức vào buổi xế chiều một ngày cuối tháng Năm, và đến cái dốc sau cùng, người đàn bà bỗng dừng chân. Robert Jordan cũng đứng lại, quay đầu lại nhìn, thấy mồ hôi đổ hột trên trán Pilar. Chàng thấy khuôn mặt rám nâu của bà ta như xanh xao, nước da nhợt nhạt và đôi mắt thâm quầng. Chàng nói:
- Ta nghỉ một chút đi. Ta đi nhanh quá.
Bà ta bảo:
- Không. Ta tiếp tục đi thôi.
Maria nói:
- Chị hãy nghỉ mệt đi, Pilar - Maria nói - Trông chị không được khỏe.
Bà ta lại tiếp tục leo dốc con đường mòn nhưng khi tới chóp, bà ta bắt đầu thở dốc và người ta thấy rõ khuôn mặt dẫm mồ hôi của bà tái hẳn.
- Chị ngồi xuống đi, Pilar - Maria nói - Em van chị, em van chị, ngồi xuống đi.
- Ừ. - Pilar nói.
Cả ba người ngồi dưới một gốc thông và phóng tầm mắt qua khỏi đồng cỏ cao, nhìn những ngọn thông như trồi lên từ các thung lũng, phủ đầy một lớp tuyết sẽ ánh lên trong mặt trời buổi xế chiều.
- Tuyết trông bẩn thỉu nhưng lại đẹp làm sao - Pilar nói - Nó dễ gây ảo tưởng làm sao. - Bà quay sang Maria - Chị xin lỗi đã xử tệ với em, guapa. Chị không biết cái gì nó bắt chị bây giờ nữa. Chị không được vui.
- Em không bao giờ để ý tới những gì chị nói trong lúc giận dữ - Maria trả lời - Và chị thì thường hay giận dữ.
- Không, còn tệ hơn là giận dữ nữa lận. - Pilar vừa nói vừa nhìn về phía những đỉnh cao.
- Chị không được khỏe. - Maria nói.
- Cũng không phải như vậy đâu - Người đàn bà nói - Đến đây, guapa, kê đầu lên gối chị đây này.
Maria đến bên bà ta, dang tay ra, đoạn khoanh lại trong dáng điệu của người ngủ không có gối và nàng kê đầu trên vai người đàn bà. Nàng ngẩng mặt về phía Pilar và mỉm cười với bà ta, nhưng người đàn bà to khỏe thì mãi nhìn về phía bên kia đồng cỏ, phía những ngọn núi xa. Bà ta vuốt ve mái đầu người thiếu nữ trong khi vẫn không nhìn vào nàng, một ngón tay nhẹ lần lên trán, tiếp theo là vành tai, tiếp theo là làn tóc mọc sau gáy.
- Đồng chí sẽ được nàng trong một chốc lát, Inglés ạ. - Bà ta nói. Robert Jordan đang ngồi phía sau lưng bà.
- Chị đừng nói vậy. - Maria nói.
- Đúng vậy mà, hắn sẽ được cưng - Pilar nói và bà ta lần ngón tay quanh trái tai của cô gái - Nhưng chị lại rất ghen tuông.
- Nhưng mà, Pilar - Maria nói - Chính chị đã giải thích với em rằng giữa chúng ta không có chuyện đó.
- Luôn luôn có một cái gì giống như vậy - Người đàn bà nói - Luôn luôn có một cái gì lẽ ra không nên có. Nhưng với chị thì không có chuyện gì hết. Đúng ra, chị mong em có hạnh phúc và không mong gì khác hơn.
Maria im lặng và tiếp tục nằm dài như vậy, cố gượng để đầu nàng khỏi đè nặng xuống.
- Nghe đây, guapa, - Pilar nói, và bây giờ ngón tay bà ta lướt đi, e dè nhưng lại chính xác trên gò má - Nghe đây, em cưng, chị thương em, hắn có thể sở hữu được em, chị không phải một tortillera [1] mà là một người đàn bà sính đàn ông. Thật đó. Nhưng bây giờ thì chị khoái nói điều này giữa thanh thiên bạch nhật, rằng chị thương em.
- Em cũng thương chị.
- Qué va, đừng nói bậy. Em không hiểu chị nói gì mà.
- Hiểu, em hiểu chớ.
- Sao. Em hiểu à. Em thuộc về ông Inglés. Nó phải như vậy mà. Đó là điều chị mong muốn. Chị không cho phép điều gì khác. Chị không làm điều gì bậy bạ. Chị chỉ nói lên một sự thật. Không có bao nhiêu người dám nói sự thật với em, càng không có người đàn bà nào dám nói. Chị ghen và chị nói tuốt luốt cho em nghe.
- Chị đừng nói vậy - Maria nói - Chị đừng nói vậy, chị Pilar.
- Por qué [2] không nói vậy được - Người đàn bà nói nhưng vẫn không nhìn họ - Chị nói vậy cho tới khi nào chị không còn muốn nói nữa thì thôi. Và (bây giờ bà ta nhìn xuống cô gái) lúc đó đã tới: chị không muốn nói nữa. Chị không nói điều đó với em nữa, em hiểu chưa?
- Chị Pilar - Maria nói - Chị đừng nói vậy.
- Em là một con dê con kỳ cục - Pilar nói - Và bây giờ thì em hãy nhấc đầu lên đi. Những câu chuyện nhảm nhí đã qua rồi.
- Đó không là chuyện nhảm nhí - Maria nói - Và em thích tựa đầu như vầy.
- Không, nhấc đầu lên đi. - Pilar bảo nàng. Bà ta luồn đôi bàn tay mập bự dưới đầu cô gái và nâng nó lên - Còn đồng chí thì sao, hở Inglés? - Bà ta hỏi, hai tay vẫn nâng đầu cô gái và đôi mắt nhìn ra dãy núi xa - Bộ con mèo nó ăn thụt lưỡi đồng chí rồi à?
- Không, không phải mèo. - Robert Jordan nói.
- Vậy thì con gì nào? - Bà ta đặt đầu cô gái xuống đất.
- Không phải con gì hết. - Robert Jordan bảo bà ta.
- Vậy thì đồng chí đã nuốt chửng nó rồi hả?
- Có thể.
- Ngon không? - Bây giờ thì Pilar quay sang phía chàng và mỉm cười với chàng.
- Không ngon lắm đâu.
- Tôi nghĩ vậy - Pilar nói - Tôi nghĩ vậy. Nhưng tôi trả lại con dê con cho đồng chí đây. Hơn nữa, chị chưa bao giờ muốn đoạt hắn khỏi tay em đâu, con dê con của chị. Cái tiếng này hợp với nàng lắm. Tôi đã nghe đồng chí gọi nàng như vậy sáng nay.
Robert Jordan cảm thấy đỏ mặt, chàng bảo bà ta.
- Đồng chí là phụ nữ mà thô lỗ quá.
- Không - Pilar nói - Tôi đơn giản lắm và tôi cũng phức tạp lắm. Đồng chí không phức tạp lắm chớ, Inglés?
- Không. Tôi cũng không đơn giản lắm.
- Tôi thích đồng chí, Inglés ạ - Pilar bảo. Đoạn bà ta mỉm cười và nghiêng về phía trước, tiếp tục mỉm cười và lắc đầu - Và nếu tôi có thể đoạt con dê con của đồng chí và đoạt đồng chí khỏi tay con dê con thì sao?
- Đồng chí không làm nổi.
- Tôi biết - Pilar nói và bà ta lại mỉm cười - Và tôi cũng không muốn làm vậy nữa. Nhưng khi tôi còn trẻ tôi làm được.
- Tôi tin như vậy.
- Đồng chí tin như vậy à?
- Chắc rồi - Robert Jordan nói - Nhưng mà lối nói chuyện này nghe vô nghĩa quá.
- Chị không quen nói vậy tí nào. - Maria nói.
- Bây giờ thì chị không giống với chính chị lắm đâu - Pilar nói - Chị đã đổi khác lắm rồi. Cây cầu của đồng chí làm tôi nhức đầu đó, Inglés à!
- Người ta có thể gọi đó là cây cầu Nhức Đầu - Robert Jordan nói - Nhưng mà tôi sẽ làm cho nó rơi vào khe núi như một cái lồng chim bị đập vỡ.
- Tốt lắm - Pilar nói - Hãy tiếp tục nói như vậy đi.
- Tôi sẽ làm nó ngã xuống như người ta bẻ một trái chuối sau khi đã lột vỏ nó.
- Bây giờ tôi có thể ăn chuối được rồi - Pilar nói - Hãy tiếp tục đi, Inglés. Hãy tiếp tục nói một cách cương quyết như vậy.
- Không cần - Robert Jordan nói - Ta đi về trại đi.
- Nhiệm vụ của đồng chí, nó sẽ đến nhanh lắm - Pilar nói - Tôi đã nói rằng tôi sẽ để hai người tự do với nhau.
- Không, tôi có nhiều điều phải làm.
- Cái đó cũng lắm việc vậy và nó không làm mất thì giờ nhiều đâu.
- Chị im đi Pilar - Maria nói - Chị ăn nói thô tục quá.
- Chị thô tục - Pilar nói - Nhưng chị cũng tế nhị lắm. Soy muy delicada. Tôi để hai người tự do còn chuyện ghen tương kia là điều ngu xuẩn. Chị giận dữ với Joaquin bởi vì chị thấy mình quá xấu xí trong con mắt của cậu ta. Chị ghen bởi vì em mười chín tuổi, có vậy thôi. Đó không phải là cơn ghen kéo dài. Em sẽ không mười chín tuổi mãi mãi đâu. Bây giờ chị đi đây.
Bà ta đứng dậy, chống tay bên hông, nhìn Robert Jordan cũng đã đứng dậy. Maria tiếp tục ngồi dưới đất bên gốc cây, đầu cúi xuống thấp.
- Bọn mình cùng đi về trại đi. - Robert Jordan nói - Như vậy tốt hơn và mình có nhiều việc phải làm.
Pilar ngẩng cằm về phía Maria đang ngồi dưới đất và quay mặt đi, im lặng. Đoạn bà mỉm cười, khẽ nhún vai và nói:
- Các người biết đường đi chớ?
- Biết. - Maria nói, đầu tiếp tục cúi thấp.
- Pues me voy [3]. Có mấy thức ăn bổ dưỡng cho đồng chí đó. Inglés à!
Bà ta băng qua đồng cỏ tiến về phía dòng nước lũ để tìm đường xuống trại.
Robert Jordan gọi bà ta lại.
- Chờ chút. Tốt hơn là mình cùng về chung với nhau.
Maria vẫn ngồi, không nói gì.
Pilar không quay đầu lại.
- Sao đi chung với nhau, à? - Bà ta nói - Tôi sẽ gặp lại đồng chí trong trại.
Robert Jordan đứng im. Chàng hỏi Maria:
- Bà ta khỏe chớ? Mới đây bà ta có vẻ bịnh hoạn.
Maria nói, đầu vẫn cúi xuống:
- Để chị ấy yên.
- Anh nghĩ mình nên theo bà ta.
- Để chị ấy yên. Để chị ấy yên.
Chú thích:
[1] Người làm món ăn tortilla.
[2] Tại sao.
[3] Thôi, tôi đi đây.
Chương 13
Họ bước đi, chân dẫm trên thảm cỏ của cánh đồng cỏ cao. Robert Jordan cảm thấy đám thạch thảo cọ sát vào đôi chân chàng, sức nặng của khẩu súng lục trên đùi, mặt trời trên đầu, chàng nghe lưng chàng thấm đẫm hơi mát của cơn gió nhẹ ùa xuống từ các đỉnh cao tuyết phủ, và trong bàn tay chàng, chàng nhận ra bàn tay rắn chắc khỏe mạnh của cô gái, và những ngón tay của họ đan lẫn vào nhau. Từ lòng bàn tay kia ép sát vào lòng bàn tay chàng, từ những ngón tay họ đan lẫn vào nhau, từ chiếc cổ tay khẽ chạm vào cổ tay chàng, một cái gì bắt đầu từ bàn tay kia, từ những ngón tay kia và từ chiếc cổ tay kia lan truyền tới chàng, một cái gì tươi mát như hơi gió đầu tiên đến từ biển cả, khẽ làm gợn mặt nước lấp lánh, nhẹ nhàng như một cánh lông phớt nhẹ lên môi hoặc như một chiếc lá đang buông rơi trong bầu không khí im lìm, một cảm giác nhẹ nhàng chỉ có những ngón tay họ chạm vào nhau mới nghe thấy, nhưng nó lại ngào ngạt và nặng nề làm sao, nó trở nên khẩn thiết, sôi nổi và mạnh mẽ bởi áp lực của những ngón tay, của lòng bàn tay và của cổ tay họ đang siết chặt lấy nhau, đến nỗi người thanh niên cứ ngỡ rằng có một luồng điện chạy dọc theo cánh tay và xâm nhập vào cơ thể chàng trong một nỗi ước muốn nồng nàn, thấm thía. Mặt trời chiếu trên mái tóc óng ả màu lúa chín của cô gái, trên khuôn mặt có màu nâu vàng ánh, tròn và mịn, trên đường cong của vòng ngực nàng. Chàng nghiêng đầu nàng ra phía sau, siết chặt nàng vào lòng, và nàng run lên trong đôi tay ghì chặt của chàng, và chàng nhận ra đôi vú của nàng qua hai lần vải kaki, chàng nhận ra chúng, nhỏ nhắn và cứng chắc, chàng đưa hai tay mở những chiếc nút áo sơ-mi, đoạn nghiêng người xuống và hôn nàng. Nàng vẫn đứng, người run rẩy, đầu ngửa ra sau, phó mặc cho đôi bàn tay ghì chặt lấy nàng. Sau đó, nàng hạ thấp cằm nàng xuống sát vào đầu chàng, và chàng nhận ra hai bàn tay nàng đang ôm lấy đầu chàng và ghì sát nó vào người nàng. Chàng đứng thẳng người lại và ghì chật nàng trong đôi cánh tay, chặt đến nỗi nàng phải rướn người khỏi mặt đất, dán chặt vào người chàng. Chàng nghe nàng run lên và nàng đặt môi lên cổ chàng. Chàng vừa đặt nàng xuống đất trở lại vừa nói: “Maria, em Maria yêu mến của anh”.
Đoạn chàng bảo:
- Đi đâu bây giờ em?
Nàng không đáp nhưng luồn tay nàng vào trong áo sơ-mi của Robert Jordan, và chàng nhận ra nàng đang mở những nút áo của chàng: “Anh nữa. Em cũng muốn hôn anh nữa”, nàng nói.
- Không được, con dê con của anh.
- Được. Được chớ. Đúng như anh đã làm vậy.
- Không được. Không thể được.
- Được, kìa anh. Ô! Kìa. Ô! Kìa. Ô!
Sau đó người ta nghe xông lên mùi cỏ bị vùi dập. Maria nhận ra vẻ sần sùi của những thân cây nằm rạp dưới đầu nàng và mặt trời chói lọi trên đôi mắt nàng nhắm nghiền lại. Còn chàng, trọn đời chàng hẳn sẽ còn nhớ mãi tới cái hình ảnh của Maria với cái đầu ngửa lên trong đám thạnh thảo, với làn cong chạy từ cổ xuống ngực, đôi môi lay động thật khẽ và những sợi lông mi chớp nhẹ trên hai mắt nhắm nghiền dưới ánh mặt trời và trước mọi sự. Đối với nàng, chỉ còn có màu đỏ, màu cam, chỉ có màu đỏ vàng ánh của mặt trời chiếu trên đôi mắt nàng nhắm nghiền, và tất cả đều cùng một màu sắc đó, tất cả, sự sung mãn, sự chiếm hữu, sự toại nguyện, tất cả đều có màu sắc đó, tất cả đều rực lên trong màu sắc đó. Đối với chàng, đó là lối đi tăm tối không dẫn dắt về đâu, một lần nữa không dẫn dắt về đâu, và một lần nữa không dẫn dắt về đâu, và rồi một lần nữa không dẫn dắt về đâu, bao giờ cũng vậy, không ngừng nghỉ như vậy, không dẫn dắt về đâu cả. Thân thể tựa trên hai khuỷu tay chống xuống mặt đất, điều đó không để làm gì cả. Lối đi tăm tối và vô cùng tận, mãi mãi lơ lửng ở một hư vô không lối thoát, lần này và lại thêm một lần khác nữa, luôn luôn không để làm gì cả, giờ đây, a! Thôi không tái sinh một lần nữa rồi cũng không tới đâu; và giờ đây, ở ngoài mọi điều mà người ta còn có thể chịu đụng được, lên cao hơn, nó đưa cao hơn nữa, cao hơn nữa và không tới đâu cả. Thốt nhiên, người ta nghe một trạng thái rạng rỡ, êm đềm, tất cả những gì tối tăm và rỗng không chợt biến mất, thời gian tuyệt đối ngưng đọng, cả hai nằm đó trong khoảng thời gian đang lơ lửng, và chàng nghe như mặt đất đang động đậy và đang tan biến dưới thân thể hai người.
Sau đó, chàng xoay người nằm nghiêng, đầu chàng vùi sâu trong cỏ. Chàng hít thở từ trong đám cỏ, mùi hương của rễ đất và nắng mặt trời trộn lẫn với nhau, mặt đất sần sùi dưới đôi vai trần và cạnh sườn của chàng, cô gái nằm dài bên cạnh chàng, hai mắt nhắm nghiền. Nàng mở mắt và mỉm cười với chàng. Chàng nói rất khẽ, như đang nói từ một nơi nào rất xa xôi và tuy vậy rất gần gũi: “Chào, dê con”. Nàng mỉm cười và ghé sát vào chàng, nói: “Chào, Inglés của em”.
- Anh không phải là một người Inglés - Chàng nói một cách uể oải.
- Ơ kìa, phải chớ, anh là chàng Inglés của em.
Nàng đưa tay nắm lấy hai tay của chàng và đặt một chiếc hôn lên trán của chàng.
- Đó - Nàng nói - Như vậy được chưa, anh? Có phải em hôn anh khá hơn không?
Sau đó, họ cùng thả bước đi dọc theo con suối và chàng nói. “Maria, anh yêu em, em kỳ diệu, đáng yêu và đẹp tới độ khi gần em, anh có cảm tưởng mình muốn chết. Đang lúc anh yêu em”.
- Ồ! - Nàng nói - Em thì lần nào em cũng đều chết cả. Còn anh, anh không chết à?
- Không. Gần như vậy thôi. Nhưng mà em có cảm thấy đất động đậy không?
- Có. Trong khi em chết lịm đi. Anh hãy đặt tay anh quanh người em đi anh.
- Không. Anh đã có bàn tay em. Bàn tay em đủ rồi.
Chàng nhìn nàng đoạn nhìn lên phía trên đồng cỏ nơi một con chim ưng đang bay lượn kiếm mồi. Bây giờ thì những đám mây to buổi xế chiều đã kéo xuống đỉnh núi.
- Anh với những người khác không có như vậy hả? - Maria hỏi chàng, trong khi họ bước bên nhau, tay nắm tay.
- Không. Đúng vậy.
- Anh đã yêu nhiều người khác lắm hở anh?
- Một vài người nhưng không giống em.
- Và không có như vậy hả anh? Đúng không anh?
- Đó là một khoái cảm, nhưng không thể sánh bằng.
- Và đất cát chuyển động. Trước đó đất cát không chuyển động với anh à?
- Không. Đúng vậy đó em. Không bao giờ.
- A! - Nàng nói - Và ta chỉ có một ngày.
Chàng không nói gì.
- Nhưng dầu sao ta cũng có được điều đó - Maria nói - Và em có làm anh vừa lòng không anh? Anh thấy em có được không anh? Sau này em sẽ đẹp hơn.
- Bây giờ em đã đẹp lắm rồi.
- Không - Nàng nói - Nhưng anh hãy đặt tay lên đầu em đi anh.
Chàng đặt bàn tay lên đầu nàng, nhận ra mái tóc ngắn, mịn màng, nằm rạp xuống đoạn bung lên dưới những ngón tay chàng. Chàng đặt cả hai bàn tay lên đầu nàng, lật ngửa khuôn mặt nàng ra phía sau và chàng hôn nàng.
- Em thích hôn lắm - Nàng nói - Nhưng mà em hôn không khéo.
- Em không cần phải biết hôn em ạ.
- Cần chớ, em cần phải biết hôn chớ anh. Nếu là vợ anh em phải biết mang lại lạc thú cho anh bằng đủ mọi cách.
- Em làm anh lạc thú đủ lắm rồi. Không ai có thể làm hơn nữa.
- Nhưng rồi anh sẽ thấy - Nàng nói trong cơn hạnh phúc tràn trề - Bây giờ, tóc em làm anh buồn cười vì nó dị hợm. Nhưng mà chúng sẽ mọc trở lại. Chúng sẽ dài ra và lúc đó em không còn xấu xí nữa và có thể anh sẽ yêu em nhiều.
- Em có một thân hình đẹp - Chàng nói - Một thân hình đẹp nhất thế giới.
- Thân hình em trẻ trung và mảnh dẻ, thế thôi.
- Không phải vậy. Trong một thân hình đẹp, luôn luôn có cái gì như là ma lực. Anh không hiểu tại sao thứ ma lực đó lại có ở một thân thể này thay vì một thân thể khác. Nhưng em, em có ma lực đó.
- Dành cho anh đó. - Nàng nói.
- Không.
- Dành cho anh chớ. Dành cho anh, luôn luôn cho anh và riêng cho anh. Nhưng cái đó không đủ. Em sẽ học cách săn sóc, nuông chiều anh. Nhưng mà anh hãy nói sự thật cho em nghe, trước đây, anh chưa hề thấy đất cát chuyển động sao?
- Chưa hề. - Chàng thành thật nói.
- Bây giờ thì em thấy em hạnh phúc. - Nàng nói - Bây giờ em hạnh phúc thật sự. Và anh đang nghĩ tới chuyện khác à?
- Đúng, anh đang nghĩ tới công việc của anh.
- Em muốn mình có ngựa để cưỡi - Maria nói - Trong hạnh phúc của em, em mong được ngồi trên lưng một con ngựa tốt và cho ngựa phi nhanh với anh đang phi mỗi lúc một nhanh hơn. Ta luôn phi ngựa nhanh hơn nhưng sẽ không vượt khỏi hạnh phúc của em được.
- Ta có thể cho hạnh phúc của em đi bằng máy bay. - Chàng lơ đãng nói.
- Và cho nó lên cao, lên cao trên nền trời như những chiếc khu trục sáng loáng dưới ánh mặt trời - Nàng nói - Đồng thời kết nó thành những bông hoa thả xuống. Que bueno! - Nàng cười - Hạnh phúc của em cũng không thấy điều đó nữa.
- Hạnh phúc của em có cái bao tử tốt đó. - Chàng nói. Chàng chỉ thoáng nghe nửa câu nói của nàng.
Bởi lúc bây giờ Robert Jordan không còn ở đó nữa. Chàng bước bên cạnh nàng nhưng đầu óc chàng mãi bận rộn với vấn đề cây cầu. Tất cả đều chắc chắn, rõ ràng như lúc ống kính máy chụp hình đã được điều chỉnh. Chàng trông thấy hai cái đồn canh và Anselmo cùng tên du mục đang canh chừng. Chàng nhìn thấy con đường vắng vẻ và lại nhìn thấy những sinh hoạt trên đó. Chàng tìm ra địa điểm mà chàng sẽ đặt hai khẩu súng tự động để có được một trường bắn lý tưởng nhất. Và ai sẽ sử dụng chúng đây? Sau cùng là tôi, chàng nghĩ, nhưng để bắt đầu là ai? Chàng đặt những thỏi thuốc nổ, chêm và cột chúng lại, tháo dây, mắc chúng lại và trở lại địa điểm nơi chàng đã đặt cái hộp đựng bộ phận làm nổ, đoạn chàng bắt đầu nghĩ tới tất cả những gì có thể xảy ra và tất cả những gì có thể sai lạc đi. Chàng nhủ thầm vậy là đủ rồi. Mày đã làm tình với con bé đó, giờ đây thì đầu óc mày đang minh mẫn, quá minh mẫn và mày khởi sự lo âu. Người ta có thể nghĩ ngợi mà không cần phải lo âu gì cả. Đừng lo âu. Mày không được lo âu. Mày biết tất cả những điều phải làm và mày biết điều gì có thể xảy tới. Chắc chắn rồi, điều đó có thể xảy tới.
Mày đã vào cuộc đồng thời biết tại sao mày chiến đấu. Người ta chiến đấu và người ta làm điều phải làm để có cơ hội thắng lợi. Chính vì vậy mà giờ đây Robert Jordan bó buộc phải dùng những người mà chàng yêu mến như người ta dùng những người chiến sĩ và không được có một tình cảm nào với họ nếu chàng muốn thành công. Pablo hiển nhiên là người thông minh nhất trong cả bọn. Hắn đã biết ngay công việc khó khăn, tệ hại tới đâu. Người đàn bà thì hoàn toàn thích hợp với công tác, bà ta vẫn còn tiếp tục như vậy, nhưng mà ý thức về tầm vóc thật sự của vấn đề đã dần dần xâm chiếm lấy tâm hồn bà ta và đã làm cho bà ta thay đổi nhiều. Sordo đã hiểu ra tức thì và ông ta hẳn phải làm tất cả những gì phải làm nhưng không hăng hái bằng chính Robert Jordan.
Vậy thì, chàng nghĩ, có phải mày bảo rằng mày bận tâm về điều có thể xảy ra cho người đàn bà, cho cô gái và cho tất cả mọi người chớ không phải bận tâm về điều có thể xảy ra cho mày à? Cho là đúng đi. Điều gì sẽ xảy ra cho họ nếu mày không tới đây? Không nên nghĩ tới điều đó. Mày không trách nhiệm về họ trong hành động. Lệnh không đến từ mày. Nó đến từ Golz, mà Golz là ai? Đó là một ông tướng tốt. Ông tướng giỏi nhất mà mày được phục vụ dưới quyền. Nhưng mà một người liệu có bổn phận phải thi hành những mệnh lệnh khó khăn cực cùng khi biết chúng đưa mình đi tới đâu không? Ngay khi chúng phát xuất từ Golz, và Golz chính là đảng, đồng thời lại là quân đội? Đúng. Chàng phải thực hiện chúng. Không thử thì làm sao biết được? Ngay trong lúc đón nhận mệnh lệnh, nếu mọi người đều bảo rằng đó là những mệnh lệnh không thể thực hiện được thì thử hỏi người ta sẽ đi tới đâu? Chúng ta sẽ đi về đâu nếu chỉ biết nói “không thế được” mỗi khi nhận lệnh?
Chàng đã từng biết tới nhiều cấp trên chỉ biết đưa ra những mệnh lệnh không thể thực hiện được. Như tên đểu Gomez ở Estramadure chắng hạn. Chàng đã từng biết tới những cuộc tấn công, trong đó cánh quân hai mạn sườn không tiến lên được vì tiến lên là chuyện vô khả hữu. Không, chàng sẽ thi hành lệnh trên nhưng chàng không được thương yêu những người cùng thực hiện công tác với chàng.
Trong mỗi công tác cua họ, những du kích quân luôn mang lại bội phần nguy hiểm và rủi ro cho những người có bổn phận che chở và giúp đỡ họ. Với mục dích gì đây? Rốt cuộc lại là để cho đất nước được thoát khỏi gian nguy và để mọi người có thể sống bình yên trên đó. Điều này đúng và nó có vẻ tầm thường nữa.
Nếu phe Cộng Hòa thua trận thì những ai tin tưởng nơi nó sẽ không sống được ở Tây Ban Nha này. Nhưng mà liệu có chắc như vậy không đấy? Chắc chắn như vậy, chàng thừa hiểu điều đó căn cứ theo những gì xảy ra tại các vùng bị phát xít chiếm đóng.
Pablo là một tay đểu cáng nhưng những người khác là những tâm hồn cừ khôi đáng khen. Và thử hỏi khi bắt họ thi hành công tác này, điều này có phải là phản bội lại họ hay không? Có thể, nhưng mà nếu không thì hai trung đội kỵ binh sẽ tới đánh bật họ khỏi vùng núi này trong vòng một tuần lễ.
Không. Để họ yên, người ta chả được gì. Trừ phi phải để yên mọi người và không quấy rầy ai. Chàng nghĩ, vậy thì mày tin thế à, mày tin rằng lý tưởng nhất là để mọi người được yên thân à? Đúng, chàng tin như vậy. Nhưng rồi sau đó, xã hội có tổ chức cùng tất cả những thứ khác thì sao? Đó là việc của kẻ khác. Còn chàng thì chàng có việc khác để lo sau trận giặc này. Chàng hiện chiến đấu trong trận giặc này bởi nó đã khởi sự trong một xứ sở mà chàng yêu mến, bởi chàng tin tưởng ở nền Cộng Hòa và bởi nếu nó bị hủy diệt thì tất cả những ai tin tưởng nơi nó sẽ khó sống được ở đây, tại nước Tây Ban Nha này, chính những người cộng sản đã cung cấp thứ kỷ luật tốt đẹp nhất, thứ kỷ luật hợp lý và lành mạnh nhất để theo đuổi chiến tranh. Chàng chấp nhận những huấn điều của họ trong khoảng thời gian thi hành công tác bởi vì trong vấn đề chỉ đạo chiến tranh, họ là đảng duy nhất có chương trình và kỷ luật khiến chàng nể nang.
Nhưng những quan điểm chính trị của chàng thì sao? Bây giờ thì chàng không có. Chàng nghĩ, nhưng mày đừng bảo ai biết điều đó. Đừng bao giờ thú thật điều đó. Và mày sẽ làm gì sau này? Tôi sẽ trở về nước tôi và tôi sẽ mưu sinh bằng việc dạy tiếng Tây Ban Nha như trước đây và tôi sẽ viết một cuốn sách xác thật. Chàng nghĩ, tôi có cảm tưởng rằng việc đó không khó khăn gì.
Hẳn là chàng phải nói chuyện chính trị với Pablo. Chắc hẳn là chàng sẽ lấy làm lý thú được biết tiến trình về chính trị của hắn. Rất có thể đó là diễn biến cổ điển đi từ tả sang hữu phái. Giống như lão già Lerroux. Pahlo rất giống Lerroux. Còn Prietro thì không bằng.
Pablo và Prieto có niềm tin tưởng gần như ngang nhau ở thắng lợi sau cùng, cả hai cùng có quan điểm chính trị của kẻ ăn cắp ngựa. Chàng thì tin ở nền Cộng Hòa như một hình thức chính phủ, nhưng nền Cộng Hòa phải thoát khỏi bước đường cùng gặp phải khi cuộc nổi loạn dấy lên. Liệu đã có một dân tộc nào mà giai cấp lãnh đạo thật sự là kẻ thù của nó như dân tộc này chưa?
Kẻ thù của dân tộc. Đó chính là một từ ngữ phải tránh, một sáo ngữ phải dứt bỏ. Đó chính là hậu quả của cuộc chung chạ với Maria. Từ ít lâu nay, những ý tưởng chính trị của chàng đã trở nên chật hẹp và công thức chẳng khác gì một tâm hồn mê muội, và những từ ngữ như “kẻ thù của dân tộc” vẫn đến với chàng trong sự lười biếng thụ động của chính chàng. Tất cả những sáo ngữ về cách mạng và lòng ái quốc, tư tưởng chàng du nhập chúng mà không chỉ trích, luận bàn. Quả thật là chúng đúng đó, nhưng có điều là chàng làm quen với chúng một cách dễ dãi. Tuy nhiên, kể từ đêm trước và từ buổi chiều nay, tinh thần chàng minh mẫn và thuần khiết hơn trước những vấn đề đó. Lòng mê muội kể cũng kỳ cục. Để trở nên một người mê muội, người ta tuyệt đối phải chắc chắn rằng mình có lý, và không gì cho ta sự xác tín - tình cảm về sự hợp lý của mình - bằng sự tiết dục. Sự tiết dục là kẻ thù của tà thuyết.
Ý tưởng này liệu có gây khó khăn cho người ta không? Rất có thể là những người cộng sản đã vịn vào đó mà buộc tội khá nhiều người dân du mục. Khi người ta say rượu hay khi người ta phạm tội xác thịt hoặc tội ngoại tình, người ta khám phá sự hư hỏng của mình ngay trong sự chuyển hóa linh động của niềm tin giáo sĩ: đường lối của đảng. Đả đảo hạng người phóng đãng, tội lỗi của Mayakovsky.
Nhưng Mayakovsky đã trở thành một ông thánh trở lại. Bởi vì ông đã chết và đã được chôn cất, điều này đã hẳn như vậy rồi. Bây giờ thì thôi đừng nghĩ dông dài nữa. Hãy nghĩ tới Maria.
Maria đã từng chống đối kịch liệt sự cuồng tín của chàng. Cho tới giờ phút này, nàng không ảnh hưởng gì tới quyết định của chàng, nhưng chàng không muốn chết tí nào. Chàng sẽ lấy làm vui sướng mà từ chối cái chết của một ông thánh hay một kẻ tử vì đạo. Chàng không vọng tới trận Thermopyles, chàng không thích làm một thứ Horatius của bất luận một cây cầu nào, cũng không muốn làm một cậu bé Hòa Lan với ngón tay thọc vào trong một cái lỗ của con đê. Không. Chàng khoái được sống một thời gian bên cạnh Maria. Chính đó là biểu tượng đơn sơ nhất của những gì chàng ao ước. Chàng khoái sống với nàng trong một khoảng thời gian thật lâu dài, trong một vĩnh cửu. Chàng không tin rằng còn có một “vĩnh cửu” cho chàng trên mặt đất này, nhưng nếu có nó, chàng mong được sống trọn vẹn với nàng. Ta có thể tới khách sạn và ghi tên là ông tấn sĩ và bà Livingstone. Tại sao không? Chàng nhủ thầm.
Tại sao không cưới nàng làm vợ? Chàng nghĩ, chắc hẳn rồi, tôi sẽ cưới nàng. Lúc đó, chúng tôi sẽ làm ông và bà Robert Jordan ở Sun Valley, Idaho. Hoặc Corpus Christi, Texas, hoặc Bute, Montana.
Đàn bà Tây Ban Nha là những người vợ kỳ diệu. Tôi biết điều đó bởi vì tôi chưa hề có vợ. Và khi tôi trở lại với công việc của tôi tại đại học, nàng sẽ là một bà vợ giáo sư rất tốt, và khi bọn sinh viên Tây Ban Nha đến nhà vào buổi chiều để hút thuốc và bàn thảo một cách tự do và bổ ích, về Quevedo, Lope de Vega, Galdos cùng những người quá cố tuyệt vời khác. Maria có thể kể lại cho họ nghe chuyện những quân thập tự của niềm tin đích thật mặc áo xanh, đã ngồi trên đầu nàng trong khi những người khác vặn tay nàng, vén váy nàng lên và nhét vào họng nàng ra sao.
Tôi tự hỏi bằng cách nào Maria có thể làm vừa lòng mọi người ở Missoula, Montana trong trường hợp tôi tìm lại được việc làm ở Missoula. Tôi giả dụ rằng hiện tôi bị chụp cho chiếc mũ đỏ và người ta sẽ liệt tôi vào một danh sách đen, mặc dù đúng ra không ai biết được, không ai nói gì được. Họ không có bằng cớ gì về hành tung của mọi người và ngoài ra cho dù người ta kể lại cho họ nghe về điều đó, họ cũng không đời nào chịu tin. Giấy thông hành của tôi có giá trị ở Tây Ban Nha trước khi ban hành những điều luật mới.
Tôi không thể trở về trước mùa thu năm 37. Tôi bỏ đi vào mùa hè năm 36 và thời gian nghỉ phép chỉ kéo dài trong một năm, và tôi không cần có mặt ở đó trước khi mãn hạn kỳ vào năm tới. Từ bây giờ đến ngày đó, thì giờ hãy còn lâu. Không, tôi không tin rằng mình phải lo lắng gì về công việc ở đại học. Mày chỉ cần tới đó vào mùa thu và mọi việc sẽ êm xuôi. Hãy cố mà trở về kịp lúc đó.
Nhưng mà kỳ lạ thay, nếp sống mà mày đã kéo dài từ bấy lâu nay. Kỳ lạ một cách nghiệt ngã! Tây Ban Nha chính là công việc của mày, nghề nghiệp của mày, vậy thì mày có mặt ở Tây Ban Nha là chuyện tự nhiên rồi. Mày đã làm việc suốt nhiều mùa hè về những dự án xây cất và những công tác kiểm lâm liên quan tới việc làm đường xá. Mày đã học cách sử dụng thuốc nổ và những công tác phá hoại của nó cũng bình thường và tự nhiên cho mày không kém. Luôn luôn phải hối hả một chút, nhưng mà lại bình thường.
Một khi đã chấp nhận ý tưởng về phá hoại dưới hình thức một vấn đề, người ta không còn vấn đề gì nữa. Nhưng những công cuộc phá hoại luôn kèm theo những chi tiết sẽ làm cho chúng trở nên phức tạp hơn mặc dù là người ta xem chúng nhẹ như không. Chàng nhủ thầm, có một nỗ lực cố định để tạo những điều kiện tốt đẹp nhất nhằm thực hiện những cuộc ám sát khi kèm theo những công tác phá hoại. Liệu những danh từ dao to búa lớn có biện giải được những hành động đó không? Liệu chúng có giúp người ta giết người êm ái hơn không? Chàng nhủ thầm, nếu mày cần một ý kiến, thì đây, mày làm được việc một cách dễ dàng. Và mày thành cái gì, hay đúng hơn, điều gì phù hợp với mày khi mày rời khỏi công tác của phe Cộng Hòa? Điều đó có vẻ như bấp bênh vô cùng, chàng nghĩ. Nhưng mà có lẽ mày sẽ thoát khỏi tất cả những kỷ niệm này khi mày ném chúng lên giấy trắng. Mày có một quyển sách hay để viết, nếu mày có khả năng viết. Hay hơn quyển sách kia nhiều.
Nhưng trong khi chờ đợi, tất cả cuộc sống mà mày có được trong hiện tại cũng như trong tương lai, đó chính là ngày hôm nay, là buổi chiều nay, là ngày mai, hôm nay, chiều nay, ngày mai và mãi mãi như thế đến vô tận (hy vọng như thế). Vậy thì tốt hơn hết là mày nên đón lấy cơ hội xảy đến và cám ơn số phận. Và nếu vụ cây cầu không diễn ra tốt đẹp thì sao?.... Hiện bây giờ thì nó khơi mào không sáng sủa gì lắm.
Nhưng mà Maria thì ngoan ngoãn. Có phải không? Ờ! Chàng nghĩ, nàng đã ngoan ngoãn với mày biết bao. Đó có thể là điều mà cuộc đời dành riêng cho tôi. Có thể đó chính là cuộc sống của tôi và thay vì kéo dài sáu mươi năm, nó chỉ kéo dài trong sáu mươi tiếng đồng hồ. Hay đúng ra là bảy mươi hai tiếng đồng hồ, trong ba ngày.
Tôi nghĩ người ta có thể sống trọn một đời người trong bảy mươi tiếng đồng hồ cũng như trong bảy mươi năm... với điều kiện là đời sống bạn phải tràn đầy cho tới lúc khởi đầu của bảy mươi tiếng đồng hồ và lúc người ta đã đạt tới một tuổi nào đó.
Bậy thật! Chàng nghĩ. Cứ nghĩ ngợi một mình như vầy thì ngu xuẩn thật. Đúng là ngu xuẩn. Có thể nó không đến nỗi ngu xuẩn đến như vậy, nghĩ cho cùng. Thôi được, để rồi xem. Lần cuối cùng tôi ngủ với một đứa con gái, là ở Madrid. Không, ở Escurial kìa. Tôi đã thức giấc vào nửa đêm, tưởng người đang nằm bên cạnh mình là một người nào khác, và tôi đã vui sướng tới điên khùng lên, mãi cho tới lúc nhận ra mình lầm, lần đó tôi đã chỉ khơi dậy một đống tro tàn. Nhưng mà ngoài việc đó ra thì đêm đó không đến nỗi tệ lắm. Lần trước nữa là ở Madrid. Tôi đã tự dối mình một chút và trong những trò nghịch ngợm, tôi đã lai rai đùa giỡn về lai lịch cô gái. Rốt cuộc thì luôn luôn vẫn là cùng một câu chuyện. Tôi không phải là kẻ ngưỡng mộ đầy lãng mạn trước người đàn bà Tây Ban Nha và ngoài ra ở bất luận nước nào, tôi cũng vẫn luôn luôn xem một trò qua đường là một trò qua đường. Thế mà tôi đã yêu Maria đến độ khi gần nàng, tôi cảm thấy mình chết thật sự. Tôi không bao giờ tin rằng chuyện đó có thể xảy ra được.
Bởi vậy cuộc đời mày có thể đổi bảy mươi năm lấy bảy mươi tiếng đồng hồ: giờ đây tôi đã sở hữu được kho vàng quý báu đó và tôi may mắn được chiêm ngưỡng nó. Nếu không có được những cái “lâu bền”, những cái “trọn đời”, những cái “từ đây mãi mãi về sau”, mà chỉ có cái “bây giờ”, thì phải tạ ơn chính cái giây phút hiện tại này và tôi lấy làm sung sướng với nó. Bây giờ: ahora, now, heute. Bây giờ, một từ ngữ kỳ cục dùng chỉ cả một thế giới và một đời sống. Đêm nay: tonight, esta noche, heute avend. Life và wife. Đời sống và đàn bà. Vie, Marie, mari. Đời sống, Marie, chồng. Không, nghe không ổn à? Để chỉ “bây giờ”, có tiếng now và frau, nhưng cũng không chứng tỏ được gì. Như tiếng chết, người ta có mort, muerto và tot. Trong ba tiếng này chỉ có tiếng tot là diễn tả ý tưởng về cái chết đúng hơn hết. Chiến tranh: guerre, guerra và krieg. Tiếng krieg nghe gần gũi với ý nghĩa chiến tranh nhiều nhất. Không đúng sao? Hay chính vì chàng biết tiếng Đức ít hơn những tiếng khác? Còn những tiếng chỉ người tình như chérie, sweethart, prenda và schatz, những tiếng đó, chàng luôn đổi chúng ra “Maria” cả. Maria, đúng đó là một cái tên.
Được lắm, chúng nhập vào cái tên đó hết thảy và bây giờ thì không còn chi dài dòng nữa. Quả thật là vụ cây câu càng lúc càng cho thấy những triệu chứng xấu. Đó là một công tác mà người ta không thể thực hiện một cách tốt đẹp vào buổi sáng. Những vị trí không giữ nổi phải đợi tới đêm mới rời bỏ được. Người ta cố gắng kéo dài cho tới đêm. Công việc sẽ êm xuôi với điều kiện là người ta có thể đợi tới đêm để rút lui. Còn phải cầm cự từ sáng tới chiều... Và ông già ngốc Sordo đáng thương kia nữa, ông ta đã bỏ cái thứ tiếng Tây Ban Nha bồi để giải thích cặn kẽ cho chàng nghe. Như thể chàng đã không từng sống với ý nghĩ cố định đầy khổ tâm đó kể từ đêm hôm kia chẳng khác gì một thứ bột khó tiêu lúc nào cũng làm cho ta nặng bụng.
Chuyện kỳ cục! Trọn đời người ta tin rằng những cuộc phiêu lưu tương tự có một ý nghĩa gì khá ghê gớm, và sau cùng chúng không có một ý nghĩa gì cả. Chúng không hề có một ý nghĩa nào. Người ta tưởng sẽ không đời nào biết tới điều đó. Để rồi trong một công việc đầy phiền toái như việc phối hợp hai nhóm du kích quân vô tích sự để giúp người ta giựt sập một cây cầu trong những điều kiện khó khăn vượt bực, để đập tan một cuộc phản công có thể đã khởi sự rồi, người ta sa ngã trước một người đàn bà như con bé Maria kia. Quả thật việc đó phải đến với mày. Mày đã yêu nàng hơi muộn, chỉ có thế thôi.
Vậy, một người đàn bà như Pilar kia đã thật sự đẩy con bé đó vào trong túi ngủ của mày và cái gì xảy ra? Phải, cái gì xảy ra? Cái gì xảy ra? Hãy vui lòng nói cái gì xảy ra. Ừ. Đó là điều xảy ra. Đó chính thật là điều đã xảy ra.
Mày dối lòng với chính mày khi cho rằng Pilar đã đẩy con bé kia vào túi ngủ của mày. Mày đừng gắng súc chối bỏ mọi sự hay bôi bẩn mọi sự làm chi cho thất công. Mày đã bị hốt hồn ngay khi mày thấy mặt Maria. Lần đầu tiên khi nàng mở miệng và nói chuyện với mày, thì đâu đó đã xong xuôi rồi, và mày biết như thế rồi mà. Giờ đây khi mày đã nắm giữ được kho vàng quý báu trong tay rồi, mày không có lý do gì để trách cứ, viện lẽ rằng mày đã chưa hề nghĩ tới một ngày nào đó mày chiếm hữu được nó. Mày thừa hiểu rằng mày chiếm hữu lấy nó và thừa hiểu ngay từ cái phút đầu tiên khi mày nhìn Maria, từ lúc nàng nghiêng người bước ra ngoài, tay bưng cái mâm sắt nọ.
Điều đó đã hốt hồn mày ngay từ cái khoảnh khắc nọ và mày biết rõ như thế, vậy thì tại sao mày lại dối lòng? Trong bụng mày, mày tự cảm thấy kỳ lạ mỗi khi mày nhìn nàng hay nàng nhìn mày. Vậy thì tại sao lại không chịu nhìn nhận chớ? Được rồi. Tốt lắm. Tôi nhìn nhận nó rồi đó. Và đến lượt Pilar khi đẩy nàng tới trước mặt mày, Pilar chỉ xử sự như một người đàn bà thông minh: bà ta đã săn sóc con bé kia khá chu đáo và bà ta thừa biết chuyện gì đang xảy ra ngay từ cái phút con bé trở vào hang với cái mâm đồ ăn.
Sau đó, bà ta đã biến mọi sự thành dễ dàng. Bà ta đã biến mọi sự thành dễ dàng để rồi mới xảy ra cái buổi chiều hôm qua và cái buổi xế chiều hôm nay. Bà ta văn minh hơn mày quá đỗi và bà ta biết rõ giá trị của thời gian. Bà ta đã chuồn êm bởi vì bà ta không muốn kẻ khác phải mất mát điều bà ta đã từng mất mát. Sau đó, vì ý tưởng về sự mất mát lại vượt quá sự chịu đựng của mình, bà ta muốn thối lui vào trong vùng đồi núi kia, và tôi nghĩ rằng chúng tôi đã không giúp đỡ bà ta được gì.
Vậy thì đó là điều đang xảy đến và điều đã xảy đến cho mày. Mày có thể chấp nhận nó một cách dễ dàng. Mày sẽ không bao giờ nữa trải qua hai đêm trọn với nàng. Không có được một đời để sống trọn, không có được một đời để sống chung với nhau, không có những điều rất bình thường của tất cả mọi người, không có gì ráo trọi. Chỉ có một đêm đã sống qua, một lần vào buổi chiều nay, một đêm sắp tới, có thể. Không đâu, ngài ạ.
Mày không có thì giờ, không có hạnh phúc, không có lạc thú, không có con cái, không có nhà cửa, không có buồng tắm, không có đồ pyjama sạch sẽ, không có tờ nhật báo buổi sáng, không có phút thức giấc rực lên với ý nghĩ rằng nàng còn nằm bên cạnh đó và mình không cô đơn. Không có, không có tất cả những thứ đó đâu. Nhưng bởi vì đó là tất cả những điều mày ước ao trong cuộc sống, bởi vì mày đã tìm thấy nó, tại sao lại không có được đến một đêm, chỉ một đêm thôi, nằm trên giường với những gối chăn ấm cúng?
Mày luôn đòi hỏi cái không thể xảy ra được. Mày luôn đòi hỏi chính cái vô khả hữu. Vậy thì nếu mày yêu con bé đó như mày đã từng thú thật, tốt hơn hết là mày nên yêu nó như vũ bão và hãy đặt trọn cho bằng được những gì mày thiếu hụt trong thời gian và trong sự liên tục. Mày nghe chưa đó? Ngày xưa người ta phó thác vào đó cả một đời người. Và bây giờ đây khi mày đã tìm thấy nó, nếu mày có được hai đêm, mày tự hỏi sự may mắn từ đâu mà có. Hai đêm. Hai đêm để thương yêu, ngưỡng vọng và trìu mến. Trong cái tốt đẹp nhất và trong cái tồi tệ nhất. Trong bịnh hoạn và trong sức khỏe. Cho đến khi nào cái chết ngăn cách chúng ta. Trong hai đêm. Có thể hơn nữa. Có thể hơn nữa, và bây giờ thì mày hãy dứt bỏ những ý tưởng đó đi. Bây giờ mày có thể ngừng suy nghĩ. Cái đó không tốt cho mày đâu. Đừng làm điều gì không tốt cho mày. Đừng làm điều gì không tốt cho mày. Và chắc chắn là cái đó không tốt rồi.
Golz đã nói tới chính điều đó. Mỗi lúc, Golz càng tỏ ra thông minh. Chính ông ta đã hỏi chàng về chuyện đó: sự đền bù cho một công tác bất thường. Có phải Golz đã biết tới điều đó hay không, và có phải sự hối hả, sự khiếm khuyết thì giờ và những hoàn cảnh đã tạo ra nó? Chàng có nghĩ rằng đó là cái gì đặc biệt bởi vì nó đã xảy đến cho riêng chàng? Có phải Golz đã từng lăn lộn trong giấc ngủ hối hả khi ông ta chỉ huy đội kỵ binh không chính quy của Hồng Quân, phải lo phối trí những điều kiện, những hoàn cảnh khác biệt và tất cả những công việc đó có giúp cho ông ta tìm thấy ở những người đàn bà kia một cái gì giống như ở Maria không?
Dĩ nhiên là Golz, ông ta cũng thừa biết rõ điều đó và muốn quy định cho ta phải sống trọn vẹn đời mình trong hai đêm mà mình được ban tặng; khi phải sống như ta đang sống bây giờ, cần phải tập trung tất cả những gì ta cần phải có trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà ta sở hữu được chúng.
Phương cách tốt. Nhưng chàng không tin rằng Maria hoàn toàn chỉ do hoàn cảnh tạo nên. Dĩ nhiên, trừ phi nàng là phản ứng của những hoàn cảnh sống của chính nàng cũng như những hoàn cảnh sống của chính chàng, về phần nàng, những hoàn cảnh không lấy gì làm thuận tiện lắm, chàng nghĩ. Không. Không thuận tiện lắm đâu.
Nếu cơ sự đã như thế thì chính vì nó như thế. Nhưng chàng không thấy một quy luật nào buộc chàng phải nói rằng chàng thích điều đó. Chàng nghĩ, tôi không biết liệu bao giờ mình còn có thể cảm nhận điều mình đã từng cảm nhận hay không. Cũng không biết điều đó đã có thể xảy tới cho mình. Tôi muốn có nàng bên cạnh suốt đời. Mày sẽ được nàng, một phần khác của chính con người chàng nói vậy. Mày sẽ được nàng mà. Mày được nàng bây giờ đây, và cái bây giờ đây chính là trọn vẹn cuộc đời mày rồi đó. Không còn có cái gì khác ngoài cái bây giờ. Chắc chắn không có hôm qua, cũng không có ngày mai. Mày phải đợi tới bao nhiêu tuổi trước khi biết điều đó? Chỉ mới hai ngày. Này, hai ngày, đó chính là đời mày, và tất cả những gì sẽ xảy ra trong đó sẽ được tính theo tỷ lệ. Chính bằng cái cách như thế mà người ta sống trọn một cuộc đời trong hai ngày. Và nếu mày đừng có than van hay đòi hỏi cái không thể được thì mày sẽ sống được một cuộc đời tốt đẹp. Một cuộc đời tốt đẹp không tính bằng thời gian trong kinh Thánh.
Vậy thì bây giờ mày đừng lo nghĩ vẩn vơ nữa, hãy chấp nhận cái gì xảy đến cho mày và lo hoàn tất công việc của mày. Và mày sẽ được sống lâu và hạnh phúc. Cuộc sống chàng há không có hạnh phúc trong những lúc sau này hay sao? Mày than phiền cái gì mới được chớ. Chàng nhủ thầm, với loại công việc này thì phải như vậy đó. Chàng hài lòng với ý nghĩ của mình. Người ta không học hỏi nhiều ở đó bằng ở những người mình gặp gỡ. Chàng lấy làm hài lòng bởi vì chàng đang thích thú và chàng trở về với cô gái, chàng nói với nàng:
- Anh yêu em, con dê con của anh. Em nói gì đó?
Nàng bảo:
- Em nói rằng anh không nên lo phiền với công việc anh đang làm bởi vì em sẽ không xen vào đó, em sẽ không quấy rầy anh. Nếu có việc gì em làm được, anh nói cho em biết.
- Không có việc gì cả - Chàng nói - Công việc thật là đơn giản, em ạ.
- Pilar sẽ dạy em phải làm gì để săn sóc một người đàn ông cho được chu đáo, và em sẽ làm theo đó - Maria nói - Sau đó, trong khi học hỏi tự em cũng sẽ thấy được nhiều thứ, và còn nhiều điều nữa mà anh có thể nói cho em biết.
- Không có gì để làm hết em ạ.
- Que va, hombre, không có gì hết à! Cái túi ngủ của anh đó, sáng nay lẽ ra phải giũ nó cho khô ráo và máng nó ở nơi có nắng và rồi phải để nó vào trong trước khi sương xuống.
- Nói tiếp đi, cưng!
- Phải giặt và phơi khô vớ của anh. Em lo cho anh được có hai đôi.
- Còn gì nữa?
- Nếu được anh chỉ bảo thì em sẽ chùi và lau đầu khẩu súng lục của anh.
- Hôn anh đi em. - Robert Jordan nói.
- Đừng anh, em nói chuyện đứng đắn mà. Anh có chịu chỉ cho em cách lau khẩu súng lục cho anh không? Pilar có nùi giẻ và dầu. Ở trong hang có một chiếc đũa dùng được lắm.
- Xong rồi, anh sẽ chỉ cho em.
- Và sau đó, - Maria nói - nếu anh dạy em cách bắn súng thì một trong hai đứa mình có thể bắn đứa kia và tự sát trong trường hợp có một đứa bị thương và phải làm như vậy để khỏi bị bắt.
- Lý thú lắm - Robert Jordan nói - Em có nhiều ý nghĩ như vậy lắm phải không em?
- Không nhiều lắm đâu - Maria nói - Nhưng ý nghĩ đó tốt. Pilar đã cho em vật này và dạy em cách sử dụng. - Nàng mở túi áo sơ-mi và lấy ra cái bao da giống như những cái bao dùng đựng lược giắt túi, đoạn nàng tháo cái băng cao su ở hai đầu cái bao da và lấy ra một lưỡi dao cạo - Em luôn mang cái này trong mình, chị Pilar nói phải cắt ở chỗ này, đúng phía sau lỗ tai, đồng thời rạch từ ở chỗ đó. - Nàng dùng ngón tay phác nên cử chỉ đó - Chị ấy nói ở nơi đó có một động mạch lớn và khi cắt nó trong cái hướng kia thì người ta không sẩy được nữa. Chị ấy nói việc đó không ăn thua gì và người ta không phải làm gì cả khi động mạch bị cắt đứt.
- Đúng vậy - Robert Jordan nói - Đó là động mạch cổ.
Chàng nghĩ, nàng luôn mang theo lưỡi dao trong người, như thể đã chấp nhận và thấy trước việc gì xảy ra.
- Nhưng mà em lại muốn giết em hơn - Maria nói - Anh hãy hứa là khi nào cần, anh sẽ giết em nghe anh?
- Đúng rồi - Robert Jordan nói - Anh xin hứa.
- Cám ơn anh nhiều - Maria bảo chàng - Em thừa biết rằng chuyện đó không dễ gì đâu.
- Đúng. - Robert Jordan nói. Chàng nghĩ rằng mình đã quên phứt những thứ đó. Chàng đã quên tất cả những vẻ đẹp của cuộc nội chiến khi chàng quá lo nghĩ tới công việc của chàng. Mày đã quên điều đó. Lạ thật! Nó phải như vậy mới được. Kachkine đã không quên được chuyện đó và chính vì vậy hắn đã hỏng việc. Hay là mày không nghĩ rằng chàng thanh niên đó có một viên thuốc trong người? Lạ chưa, bởi vì chàng tuyệt đối không thấy một xúc động nào khi bắn vào Kachkine. Chàng nghĩ rằng điều đó có thể giúp ích cho hắn. Nhưng mà quả thật là chàng tuyệt đối không cảm thấy gì hết.
- Nhưng em có thể giúp cho anh được nhiều việc. - Maria nói với chàng vừa bước đi bên cạnh chàng, lúc ấy giờ trông nàng rất nghiêm trọng và cũng rất đàn bà.
- Trừ chuyện giết anh à?
- Dạ. Em có thể vấn thuốc cho anh khi nào anh hết thuốc điếu có ống. Chị Pilar đã dạy em vấn thuốc khéo lắm, vừa chắc vừa chặt vừa gọn.
- Giỏi lắm - Robert Jordan nói - Em tự liếm lấy chúng à?
- Dạ - Cô gái nói - Và nếu anh bị thương em sẽ săn sóc anh, em sẽ băng bó những vết thương cho anh, em sẽ lau chùi tắm rửa cho anh, em sẽ làm thức ăn cho anh.
- Chắc anh không để mình bị thương đâu. - Robert Jordan nói.
- Vậy thì nếu anh đau ốm thì em sẽ săn sóc cho anh, em sẽ nấu súp cho anh, em sẽ tắm rửa cho anh, em sẽ làm đủ mọi sự cho anh. Và em sẽ đọc sách báo cho anh nghe nữa.
- Có thể anh cũng không bịnh hoạn gì đâu!
- Vậy thì khi anh thức dậy, em sẽ mang cà phê tới bên giường anh...
- Có thể anh không thích uống cà phê. - Robert Jordan bảo nàng.
- Có chớ, anh thích nó mà - Cô gái vui vẻ nói - Anh đã uống đến hai tách sáng nay rồi.
- Và nếu anh chán uống cà phê, nếu người ta không cần bắn anh, anh không bị thương cũng không đau ốm gì, anh chê thuốc lá, anh chỉ có một đôi vớ, và anh tự tay máng lấy cái túi ngủ của anh, thì sao hở con dê con? - Chàng vỗ nhẹ vào lưng nàng - Thì sao, hở cưng?
- Thì em sẽ mượn kéo của chị Pilar và em cắt tóc anh.
- Anh không thích người ta cắt tóc anh.
- Em cũng vậy nữa. - Maria nói - Em thích tóc anh để như vầy. Nếu em không làm gì được cho anh, thì em sẽ ngồi cạnh anh và em sẽ nhìn anh, rồi thì ban đêm, mình làm tình với nhau.
- Tốt - Robert Jordan nói - Ý kiến sau cùng rất khôn ngoan.
- Em cũng thấy như vậy. - Maria mỉm cười - Ô! Inglés - Nàng bảo.
- Anh tên Roberto.
- Không. Em muốn gọi anh là Inglés kia, như Pilar vẫn gọi.
- Dẫu sao anh vẫn tên là Roberto.
- Không - Nàng nói - Bây giờ cho đến trọn ngày, em gọi là Inglés. Này Inglés, em có thể giúp đỡ gì trong công việc của anh không?
- Không. Điều anh đang làm, anh làm lấy một mình, và tất cả đều đã sẵn trong đầu anh rồi.
- Được rồi - Nàng nói - Bao giờ thì xong việc hở anh?
- Đêm nay, nếu anh may mắn.
- Tốt. - Nàng bảo.
Trước mặt họ, những hàng cây sau cùng chạy dài xuống trại.
- Cái gì đó? - Robert Jordan vừa hỏi vừa giơ ngón tay chỉ.
Ở mé dưới của đồng cỏ, nơi có những thân cây đầu tiên đứng sững, người đàn bà đang ngồi gục đầu lên đôi cánh tay. Trong khoảng cách đó, trông bà ta giống như một cái gói âm u, đen tối dựa vào thân cây màu nâu sẫm.
- Đi em. - Robert Jordan bảo, và chàng cắm đầu chạy về phía người đàn bà. Cỏ gai cao tới đầu gối chàng và vướng víu lấy chân chàng. Đến một khoảng cách nào đó, chàng chậm bước lại và bắt đầu bước. Người đàn bà tựa đầu trên đôi tay khoanh lại và bà ta có vẻ to lớn, đen đũi bên thân cây. Chàng đến bên bà ta và nói: “Pilar!” bằng một giọng dịu dàng.
Người đàn bà ngẩng đầu lên nhìn chàng.
- Ồ! - Bà ta nói - Các người đã xong rồi à?
- Đồng chí có chuyện gì buồn phiền à? - Chàng lên tiếng hỏi vừa cúi người xuống bên bà ta.
- Qué va - Bà ta bảo - Tôi ngủ mà.
- Chị Pilar - Maria nói, nàng đã đến bên họ và đang quỳ gối xuống bên cạnh bà ta - Sao vậy chị? Chị thấy khỏe không?
- Chị thấy khỏe lắm. - Pilar bảo. Nhưng bà ta vẫn không chịu đứng dậy. Bà ta nhìn cả hai - Kìa, này Inglés - Bà ta nói - Đồng chí đã lại làm phận sự đàn ông đó chớ?
- Đồng chí có thấy khỏe không? - Robert Jordan hỏi, không chú ý trả lời câu hỏi của bà ta.
- Tại sao không. Tôi ngủ. Còn đồng chí?
- Không.
- Này, - Pilar bảo cô gái - em thấy cái đó đạt chớ?....
Maria thẹn đỏ mặt, không nói gì.
- Hãy để cho nàng yên. - Robert Jordan bảo.
- Không ai hỏi gì tới bản mặt đồng chí. - Pilar bảo chàng.
- Này Maria - Bà nói và giọng bà trở nên rắn rỏi. Cô gái không ngước mắt nhìn lên.
- Maria - Người đàn bà lại nói - Em thấy cái đó đạt chớ?
- Hãy để cho nàng yên. - Robert Jordan lặp lại.
- Đồng chí câm họng lại đi - Pilar nói trong khi vẫn không nhìn chàng - Nghe này, Maria, hãy nói với chị cái gì đi em.
- Không. - Maria nói, và nàng lắc đầu.
- Maria - Pilar nói và giọng của bà ta rắn rỏi không thua gì nét mặt của bà ta lúc đó. Không có chút gì gọi là thân thiện trên khuôn mặt đó - Hãy nói cho chị nghe một cái gì về chính em.
Cô gái lắc đầu.
Robert Jordan nghĩ: nếu tôi không có bổn phận phải làm việc chung với con mụ đàn bà này, với cái thằng chồng say rượu của mụ và với đám người vô tích sự của mụ, tôi sẽ tát mụ ta đến...
- Nói đi, kể cho chị nghe coi nào! - Pilar bảo cô gái.
- Không - Maria nói - Không.
- Hãy để nàng yên. - Robert Jordan nói, và giọng nói chàng không còn bình thường nữa. Chàng nghĩ, tôi sắp sửa phải tát mụ ta rồi đây.
Pilar vẫn không trả lời chàng. Robert Jordan trông không có chút gì giống một con rắn đang mê hoặc một con chim hoặc một con mèo đang rình rập con mồi của nó. Chàng không thể nào tìm ra sự gian dối hay tính xấu xa. Trái lại chàng có cảm tưởng mình đang đứng trước một tâm hồn cởi mở chẳng khác chi một con rắn đang nhô đầu ra. Chàng cảm nghiệm được điều đó. Chàng có thể nhận ra mối hăm dọa của sự cởi mở phơi bày. Dù vậy, sự phơi bày này dường như được hướng dẫn bằng một bản năng khám phá hơn là bởi ước muốn làm điều xấu, Robert Jordan nghĩ thầm rằng tốt hơn là mình đừng chứng kiến cảnh này. Dẫu sao điều đó cũng không đáng cho một cái tát.
- Maria - Pilar nói - Chị sẽ không động tới em đâu. Bây giờ thì em hãy tự ý kể cho chị nghe.
“De tu propia voluntad” [1], đó là những tiếng Tây Ban Nha.
Cô gái lắc đầu.
- Maria - Pilar nói - Bây giờ và tự ý em. Em nghe chị nói chớ? Em hãy kể chuyện gì cũng được.
- Không - Cô gái nói một cách nhỏ nhẹ - Không và không.
- Bây giờ, em sắp sửa kể cho chị nghe rồi đây - Pilar bảo nàng - Bất luận chuyện gì. Rồi em sẽ thấy mà. Bây giờ em sắp sửa kể cho chị nghe rồi đây.
- Đất đã rung rinh - Maria nói. Không nhìn vào người đàn bà - Đúng như vậy. Đó là điều mà em không thể nói cho chị nghe được.
- Có thế chớ. - Pilar nói, giọng nói của bà ta nghe nồng nàn trìu mến và không có vẻ gì gọi là cưỡng ép trong đó. Nhưng Robert Jordan để ý tới những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán và môi của bà ta. À! Đất rung rinh. Thì ra sự thật như vậy.
- Đúng như vậy. - Maria nói, và nàng bậm môi lại.
- Dĩ nhiên là đúng như vậy - Pilar nói một cách hiền hòa - Nhưng mà em đừng nói điều đó ra, ngay với gia đình em, bởi người ta sẽ không tin em đâu. Đồng chí có máu Cali chớ, đồng chí Inglés?
Bà ta đứng dậy, Robert Jordan phải đỡ bà ta lên.
- Không - Chàng nói - Không, theo chỗ tôi biết.
- Maria cũng vậy, theo chỗ nàng biết - Pilar bảo - Lạ thật.
- Nhưng đó là chuyện đã xảy ra, chị Pilar ạ. - Maria nói.
- Como que no, hija? - Pilar nói - Tại sao không? Khi tôi con trẻ, đất rung rinh đến nỗi người ta nghe nó trượt đi trong không gian và người ta sợ nó tan biến đi mất dưới thân thể của mình. Đêm nào chuyện đó cũng xảy ra cả.
- Chị nói dối. - Maria bảo.
- Đúng vậy - Pilar nói - Chị nói dối. Người ta không bao giờ nghe đất rung rinh quá ba lần trong đời mình. Nhưng mà nó có rung rinh thật không?
- Dạ có - Cô gái nói - Đúng vậy mà.
- Với đồng chí cũng vậy chớ, Inglés? Đừng nói dối.
- Đúng - Chàng nói - Đúng như vậy.
- Tốt - Pilar nói - Tốt. Khá lắm.
- Nhưng mà chị muốn nói gì với ba lần của chị? - Maria hỏi - Tại sao chị lại nói vậy?
- Ba lần - Pilar nói - Với em thì đã một lần rồi.
- Chỉ có ba lần thôi à?
- Với phần đông mọi người thì không hề có - Pilar bảo nàng - Em chắc chắn là nó rung rinh chớ?
- Em tưởng đã ngã ập xuống. - Maria bảo.
- Vậy thì nó đã rung rinh thật rồi - Pilar nói - Thôi đi em, chúng ta về trại.
- Ba lần đó là cái quái gì? - Robert Jordan nói với người đàn bà to con trong lúc mọi người cùng bước đi trong đám cây thông.
- Cái quái gì à? - Bà ta liếc xéo chàng - Đừng nói cái quái gì với tôi, Inglés ạ.
- Có phải đó là một trò bùa chú, giống như những đường chỉ tay không?
- Không, với dân du mục thì ai cũng biết rõ và minh chứng được điều đó.
- Nhưng mà chúng tôi không phải là dân du mục.
- Không phải, nhưng các người có chút may mắn. Thỉnh thoảng những người không thuộc dân du mục cũng có chút may mắn.
- Có đúng là đồng chí nghĩ về điều mình nói không? Những ba lần?...
Bà ta lại nhìn chàng một cách quái dị.
- Để tôi, Inglés - Bà ta nói - Đừng làm tôi bực mình. Đồng chí còn quá trẻ để nghe tôi kể chuyện.
- Nhưng mà, chị Pilar... - Maria nói.
- Im đi - Pilar bảo nàng - Em chỉ biết mới có một lần, như vậy và hãy còn đến hai lần cho em nữa trong cuộc đời này.
- Sao vậy chị? - Maria hỏi.
- Ồ! Im đi - Pilar bảo - Im đi... Chị mệt với Busness [2] của tuổi em quá.
- Tại sao không phải là lần thứ ba? - Robert Jordan hỏi.
- Ồ! Đồng chí có chịu im đi không? - Pilar nói - Im đi.
Được rồi, Robert Jordan nhủ thầm. Chả sao cả. Tôi đã từng biết hàng tá dân du mục và họ đều kỳ lạ. Nhưng mà chúng ta cũng kỳ lạ vậy. Có điều khác là chúng ta phải kiếm sống lương thiện. Không ai biết chúng ta thuộc dòng dõi bộ lạc nào, chúng ta có những đặc tính di truyền nào, cũng không ai biết trong những khu rừng nơi xưa kia tổ tiên ta sống có những bí mật gì. Tất cả những gì ta biết được là ta không biết gì. Ta không biết gì về những điều xảy đến cho ta trong đêm tối. Nhưng khi chuyện đó xảy ra vào lúc ban ngày, thì đó là điều lạ. Dẫu sao thì cơ sự đã như vậy rồi và giờ đây không những người đàn bà có bổn phận buộc cô gái phải nói về điều đó trong khi nàng không muốn nói, mà bà ta còn có bổn phận nắm lấy nó và biến nó thành chuyện của mình. Bà ta phải biến nó thành một đề tài của dân du mục. Tôi nghĩ rằng bà ta đã lên núi sống và giờ đây bà ta lại đóng vai bạo chúa. Nếu bà ta mượn điều đó để làm bậy thì hẳn bà ta đáng tội chết. Nhưng đó không phải là điều bậy. Đó chỉ là ước muốn giúp cho bà ta vững tin ở cuộc sống. Ước muốn bám lấy đời sống xuyên qua Maria.
Khi mày bước ra khỏi trận giặc này, mày có thể khởi công nghiên cứu về đàn bà. Chàng tự nhủ thầm, mày có thể bắt đầu với Pilar. Bà ta đã tạo nên cho mọi người một ngày sống khá phức tạp, nếu mày cần hỏi đến ý kiến của tao. Cho tới bây giờ, bà ta chưa hề đưa ra những câu chuyện thuộc về dân du mục của bà ta. Trừ chuyện bàn tay, chàng nghĩ. Dĩ nhiên là trừ chuyện bàn tay ra. Và tôi không tin rằng bà ta đã ngụy tạo trong chuyện bàn tay. Dĩ nhiên bà không muốn nói cho tôi biết điều bà trông thấy. Bất luận điều gì bà trông thấy được, bà cũng đều tin là thật. Nhưng mà điều này không chứng tỏ được gì.
- Nghe này, Pilar. - Chàng nói với người đàn bà.
Pilar nhìn chàng và mỉm cười.
- Chuyện gì đó? - Bà ta hỏi.
- Đồng chí đừng có bí mật quá như vậy - Robert Jordan nói - Những chuyện kỳ bí làm tôi mệt quá.
- Rồi sao? - Pilar nói.
- Tôi không tin chuyện chằn tinh, chuyện bói toán, cũng như chuyện phù thủy của bọn du mục vất đi.
- Ồ! - Pilar kêu lên.
- Không. Và đồng chí có thể để cho cô gái được yên thân.
- Tôi sẽ đẽ cho cô ta yên.
- Và tất cả những chuyện kỳ bí đó nữa - Robert Jordan nói - Ta có nhiều việc và nhiều điều để làm mà không cần làm cho chúng trở nên rối rắm thêm với những trò vô tích sự. Bớt chuyện kỳ bí đi và làm việc nhiều hơn.
- Đồng ý. - Pilar nói vừa gật đầu biểu đồng tình - Nhưng mà hãy nghe này, Inglés - Bà ta nói và mỉm cười với chàng - Có phải là đất đã rung rinh?
- Đúng rồi, cái con khỉ giọc, nó đã rung rinh đó.
Pilar cất tiếng cười vang và dừng bước đứng lại, nhìn Robert Jordan và càng cười già hơn nữa.
- Ô! Inglés, Inglés - Bà ta vừa nói vừa cười - Đồng chí trông tức cười lắm - Bây giờ thì đồng chí phải làm việc nhiều lắm để lấy lại tư cách của đồng chí đó.
Robert Jordan nghĩ, đồ quỷ dịch. Nhưng chàng im lặng.
Trong khi hai người đang nói chuyện thì mặt trời đã lẩn trong mây, và khi người thanh niên ngoảnh nhìn những dãy núi phía sau, chàng thấy bầu trồi đã trở nên xám xịt, nặng nề.
- Chắc chắn là sắp có tuyết. - Pilar vừa nói vừa nhìn trời.
- Bây giờ à? Gần tháng Sáu à?
- Tại sao không? Vùng núi không biết gì tới tháng nào là tháng nào cả. Ta đang ở vào tuần trăng tháng Năm.
- Không thể nào có tuyết được - Chàng nói - Trời không thể có tuyết được.
- Tuyết vẫn cứ rơi, Inglés. - Bà ta bảo chàng.
Robert Jordan ngẩng đầu nhìn lên bầu trời xám xịt nơi mặt trời đã chuyển sang màu vàng nhạt và biến mất hắn. Màu xám lan rộng, nhợt nhạt và nặng trĩu, màu xám giờ đây đã tô đậm hình các đỉnh núi.
- Đúng - Chàng nói - Có lẽ đồng chí có lý đó.
Chú thích:
[1] Tự ý em.
[2] Chuyện.
Chương 14
Khi họ về tới trại thì tuyết đã rơi những bông tuyết rơi xiên xiên trong đám thông lác đác trong rừng thông. Họ đổ dốc nghiêng nghiêng giữa những hàng cây, những bông tuyết ban đầu còn thưa thớt và quay tròn, sau đó khi gió lạnh bắt đầu thổi từ trên núi xuống, chúng bắt đầu cuốn xoáy và trở nên dày kịt. Trong một cơn tức bực, Robert Jordan dừng bước trước hang để nhìn chúng.
- Tuyết sắp rơi nhiều. - Pablo nói.... Hắn có giọng nói nhừa nhựa và đôi mắt đỏ ngầu, đục lờ.
- Tên du mục trở về chưa? - Robert Jordan hỏi hắn.
- Chưa - Pablo nói - Cả hắn lẫn lão già đều chưa về.
- Đồng chí có muốn đi với tôi lên đồn canh phía trên, nơi con đường kia không?
- Không - Pablo nói - Tôi không muốn xen vào việc này.
- Vậy thì tôi lên đó một mình vậy.
- Trong trận bão này, đồng chí dễ đi lạc lắm. Bây giờ thì tôi không đi đâu.
- Chỉ cần bước xuống con đường, và sau đó người ta nương theo dốc của nó mà leo lên.
- Đồng chí có thể tìm và ra được, nhưng giờ này thì hai tên lính canh sắp trở lên, với trời tuyết như vầy đồng chí sẽ lạc họ trên đường đi.
- Lão già đang đợi tôi.
- Không đâu. Lão sắp trở về ngay bây giờ đây với trời tuyết như vầy. - Pablo nhìn tuyết đang rơi mau trước cửa hang, và nói - Đồng chí không thích tuyết hả, Inglés?
Robert Jordan buột miệng chửi thề, Pablo nhìn chàng bằng đôi mắt đục lờ của hắn và hắn bật cười.
- Trời như vầy thì công việc của đồng chí vất đi rồi, Inglés ạ - Hắn bảo - Thôi ta vào trong hang đi, người của đồng chí sẽ tới ngay bây giờ.
Trong hang, Maria đang bận rộn bên bếp lửa và Pilar nơi bàn ăn. Lửa bốc khói, cô gái cời lửa cho cháy bằng một thanh cây, đoạn phe phẩy quạt nó bằng một tờ giấy xếp lại, sau đó ngọn lửa bùng lên và củi bắt đầu bốc cháy bằng một ngọn lửa cao và sáng rực với cơn gió thổi vào qua cái lỗ trên mái.
- Còn tuyết kia - Robert Jordan nói - Đồng chí tưởng rằng nó sẽ rơi xuống nhiều lắm à?
- Nhiều chớ - Pablo nói với một vẻ mãn nguyện. Đoạn hắn lên tiếng gọi Pilar - Còn bà nữa, bà cũng không thích vậy à? Giờ đây khi bà đã chỉ huy, bà không thích tuyết rơi như vầy à?
- A mi qué [1] - Pilar nói qua bờ vai - Tuyết rơi thì tuyết cứ rơi chớ sao?
- Uống rượu đi Inglés - Pablo nói - Phần tôi thì tôi đã uống suốt ngày trong khi đợi tuyết rơi.
- Cho tôi một tách đi. - Robert Jordan nói.
- Mừng tuyết rơi. - Pablo vừa nói vừa cụng tách với chàng. Robert Jordan nhìn sâu vào đôi mắt hắn vừa cho tách chàng chạm vào tách hắn. Đồ đểu cáng, thằng sát nhân với đôi mắt đục ngầu, chàng nghĩ. Tao muốn đập cái tách này vào răng mày. Nhưng rồi chàng lại nhủ thầm, hãy bình tĩnh, hãy bình tĩnh.
- Tuyết rơi trông thật đẹp - Pablo nói - Tuyết rơi như vầy thì đồng chí không thể ngủ ở ngoài được đâu!
Robert Jordan nghĩ, à! thì ra như vậy. Mày có nhiều mối lo âu quá đi, Pablo ạ!
- Không được à? - Chàng lịch sự nói.
- Không được. - Pablo nói - Lạnh lẽo và ẩm ướt lắm.
Mày không biết tại sao những lớp chăn lông tơ kia trị giá tới 65 đô-la, Robert Jordan nghĩ. Tao muốn được một đô-la cho mỗi lần nằm ngủ ngoài trời, dưới cơn mưa tuyết.
- Vậy thì tôi phải ngủ ở đây à? - Chàng lịch sự hỏi.
- Ừ.
- Cám ơn. - Robert Jordan nói - Tôi sẽ ngủ ở bên ngoài.
- Ngủ trong tuyết à?
- Ừ. (Mẹ kiếp đôi mắt lợn đỏ ngầu, vấy máu và cái bản mặt lợn với những lông lợn của mày). Trong tuyết (trong cái thứ tuyết mẹ kiếp tai ác, bất chợt và đầy chủ bại này).
Chàng tiến đến bên Maria đang vừa mới cho một thanh củi thông vào lửa.
- Tuyết đẹp dữ. - Chàng nói với cô gái.
- Nhưng lại tai hại cho công việc, phải không? - Nàng hỏi chàng - Anh không lo ngại à?
- Sao lại lo ngại - Chàng bảo - Lo ngại không ích lợi gì cả. Bao giờ thì buổi cơm chiều sẵn sàng đây em?
- Tôi chắc là đồng chí sẽ ăn ngon - Pilar nói - Đồng chí có cần ăn một miếng pho mách trong khi chờ đợi không?
- Được lắm. - Chàng nói. Bà ta cắt miếng pho mách bao trong một lớp vải lưới treo lủng lẳng trên trần, và trao cho chàng một lát dầy. Chàng đứng ăn. Phó mách có mùi vị hơi gắt.
- Maria! - Từ chỗ ngồi nơi bàn, Pablo kêu lên.
- Chi đó? - Cô gái hỏi.
- Lau bàn đi, Maria. - Pablo vừa nói và mỉm cười với Robert Jordan.
- Ông hãy lau lấy - Pilar bảo hắn - Trước hết hãy lo chùi cằm và áo của ông rồi sau đó hãy lau bàn.
- Maria! - Pablo gọi.
- Em đừng để ý tới hắn. Hắn say nhừ tử rồi. - Pilar nói.
- Maria! - Pablo gọi - Tuyết vẫn rơi, tuyết trông thật đẹp mắt.
Robert Jordan nghĩ, hắn không biết cái túi ngủ này. Cái con mắt lợn đó không biết tại sao tôi đã phải trả cái túi này tới sáu mươi lăm đô-la tại tiệm Woods. Ngay khi tên du mục trở về đây, tôi sẽ đi tìm lão già. Lẽ ra tôi phải tới đó bây giờ nhưng rất có thể là tôi lạc mất họ. Tôi không biết lão ở đâu nữa.
- Đồng chí có muốn ném tuyết không? - Chàng nói với Pablo - Đồng chí có muốn chơi đánh giặc bằng những hòn tuyết không?
- Cái gì? - Pablo hỏi - Đồng chí rủ rê cái gì?
- Không. - Robert Jordan nói - Đồng chí đã đậy kỹ mấy cái yên ngựa của đồng chí chưa?
- Rồi.
Đoạn Robert Jordan nói bằng tiếng Anh: “Đồng chí cho mấy con ngựa của đồng chí ăn hay là cứ buộc chúng lại và để chúng đào xới kiếm ăn?”
- Cái gì?
- Không. Đó là việc của đồng chí, đồng chí ạ. Phần tôi thì tôi sẽ rời khỏi nơi này bằng chân.
- Tại sao đồng chí lại nói tiếng Anh? - Pablo hỏi.
- Tôi cũng không hiểu nữa - Robert Jordan nói - Đôi lúc tôi nói tiếng Anh khi nào quá mệt. Hoặc khi nào tôi quá chán chường. Hoặc thối chí, nói cho đúng. Khi tôi quá đỗi thối chí, tôi trâm tiếng Anh để nghe cái âm thanh của nó. Đó là tiếng rủ rỉ rù rì làm cho người ta yên tâm. Đồng chí phải thử xem, một ngày nào đó.
- Đồng chí nói cái quái gì vậy hở Inglés? - Pilar hỏi - Nghe ra có vẻ thú vị lắm, nhưng mà tôi chả hiểu cái mẹ gì cả.
- Không có gì cả, Robert Jordan nói. Tôi nói “không có gì cả” bằng tiếng Anh đấy.
- Nào, bây giờ thì đồng chí hãy nói tiếng Tây Ban Nha đi - Pilar nói - Nói tiếng Tây Ban Nha nó ngắn, gọn và đơn giản hơn.
- Chắc chắn rồi. - Robert Jordan nói. Nhưng mà trời đất, chàng nghĩ, ồ Pablo, ồ Maria, ồ các người, hai anh em trong góc mà tôi đã quên mất tên nhưng lại phải nhớ, và lắm lúc tôi mệt mỏi với điều đó. Với điều đó, với các người, với tôi, với cuộc chiến tranh, và hơn nữa, tại sao tuyết lại rơi bây giờ? Mẹ kiếp, dù sao như thế cũng quá lắm rồi. Không. Không quá lắm đâu. Không có cái gì gọi là quá lắm cả. Phải chấp nhận và tìm cách thoát khỏi nghịch cảnh. Và bây giờ thì mày đừng có viển vông nữa, hãy chấp nhận việc tuyết rơi, sau đó hãy lắng nghe báo cáo của tên du mục và hãy đi đón lão già về đây. Nhưng mà tuyết rơi, bây giờ đây, vào giữa tháng này! Chàng nhủ thầm, thôi đủ rồi. Đủ rồi và mày hãy chấp nhận. Cái cốc.... Cái cốc... đó là cái quái gì, chuyện cái cốc? Robert Jordan nghĩ, tốt hơn là vận dụng trí nhớ hoặc đừng bao giờ tìm kiếm những đoạn dẫn chứng lôi thôi, bởi vì khi người ta quên mất một đoạn thì sau đó những manh mối của nó lại nhảy múa không ngớt trong đầu. Vậy thì chuyện cái cốc đó là cái quái gì?
- Làm ơn cho tôi rượu đi - Chàng nói bằng tiếng Tây Ban Nha. Đoạn nói tiếp - Tuyết nhiều lắm hả? Ê - Chàng gọi Pablo - Tuyết nhiều lắm hả?
Tên say rượu ngước mắt nhìn chàng và mỉm cười. Hắn ngẩng đầu lên và lại mỉm cười.
- Không có tấn công. Không có avioines [2], không có chuyện phá cầu. Chỉ có tuyết. - Pablo nói.
- Đồng chí tưởng tình trạng này có thể kéo dài à? - Robert Jordan ngồi kế bên hắn. Đồng chí tưởng tuyết rơi xuống đầu ta trọn mùa hè sao Pablo, đồng chí của tôi?
- Trọn mùa hè thì không - Pablo nói - Nhưng đêm nay và ngày mai thì có.
- Do đâu mà đồng chí nghĩ như vậy?
- Có hai thứ bão - Pablo nói bằng một giọng nghiêm trọng - Một thứ đến từ vùng nui Pyrénées. Những trận bão đó mang hơi lạnh tới. Nhưng mà mùa màng tới sớm hơn.
- Đúng - Robert Jordan nói - Luôn luôn như vậy.
- Còn trận bão kia, nó đến từ Cantebrico - Pablo nói - Nó đến từ vùng biển. Với gió thổi về hướng này thì đó là trận bão lớn với rất nhiều tuyết.
- Đồng chí học điều đó ở đâu vậy hở đồng chí tiền bối. - Robert Jordan hỏi.
Giờ đây khi cơn giận dữ đã qua, trận bão kia lại khuấy động chàng như bất luận một trận bão nào khác. Trong một trận gió, một cơn giông, một cơn mưa rào bất chợt, một cơn mưa nhiệt đới hay một cơn bão mùa hạ thổi qua núi, chàng nghe một kích thích lạ mà chàng không tìm thấy ở một trường hợp nào khác. Nó giống như sự kích thích thuần túy nhất đẩy người ta vào cuộc chiến đấu. Có một thứ gió nếu nung lòng chiến đấu, nhưng đó lại là thứ gió nóng sốt, nóng sốt và khô ran như mồm mép con người, nó thổi nghe nặng nề, nóng sốt và bẩn thỉu, nó nổi lên và tàn theo chuyện hung kiết trong ngày. Robert Jordan đã từng biết rõ thứ gió đó.
Nhưng một trận bão tuyết thì trái lại hẳn, khi tuyết rơi thành cơn bão, người ta đến gần các loài dã thú và chúng không biết sợ sệt là gì. Chúng đi qua miền thôn dã một cách ngu ngơ, không biết phương hướng là gì, và con hoẵng thỉnh thoảng dừng bước dưới mái hiên ngôi nhà ván.
Trong một trận bão tuyết, người ta cưỡi ngựa sải về phía một con hươu, nó tưởng ngựa là một con hươu khác và cứ đâm bổ vào. Trong một trận bão tuyết, gió có thể thổi hàng loạt, những luồng gió tinh khiết đượm màu tuyết trắng và không khí lúc bấy giờ đầy những luồng trắng trùng điệp, tất cả đều biến dạng và khi tàn cơn gió thì trời tĩnh lặng hẳn.
Đây đúng là một trận bão lớn và chàng nghĩ, hãy cứ vui đùa với nó.
Nó phá hủy tất cả nhưng ít ra người ta có thể vui đùa với nó.
- Tôi đã từng xuôi ngược đây đó trong nhiều năm trời - Pablo nói - Người ta chở hàng hóa trên những chiếc xe bò lớn băng qua những trái núi trước khi có xe cam nhông. Nhờ công việc đó người ta học được cách đoán thời tiết.
- Đồng chí đã gia nhập phong trào bằng cách nào?
- Tôi thì lúc nào cũng thuộc về phe tả - Pablo nói - Chúng tôi tiếp xúc nhiều với những người ở Asturies, nơi mà về mặt chính trị họ rất tiến bộ. Tôi luôn luôn ủng hộ nền Cộng Hòa.
- Nhưng mà trước khi gia nhập phong trào đồng chí làm gì?
- Thời đó tôi giúp việc cho một người buôn ngựa ở Saragosese. Hắn cung cấp ngựa trong các cuộc đấu bò và cho các cuộc chuyển vận của quân đội. Chính vào thời đó tôi đã gặp Pilar lúc bấy giờ đang sống với anh chàng đấu bò tên Finito, như bà ta đã nói với đồng chí.
Hắn nói điều đó với rất nhiều tự phụ.
- Hắn không sáng giá gì cho lắm với tư cách một tay đấu bò. - Một trong hai anh em đang ngồi nơi bàn vừa nói vừa nhìn vào lưng Pilar đang đứng trước cái chảo.
- Không à? - Pilar nói vừa quay đầu lại nhìn người đàn ông - Hắn không sáng giá gì cho lắm với tư cách một tay đấu bò à?
Bây giờ thì trong cái góc hang đó, bên ngọn lửa bếp, bà ta đang mường tượng lại người chồng cũ của mình, với thân hình tầm thước và nước da xạm nâu, với khuôn mặt sắc nét, đôi mắt buồn, đôi má hóp, với mái tóc đen uốn xoăn, rịn ướt trên trán đúng vào nơi chiếc mũ đấu bò hằn lên một đường đỏ ửng mà không một ai khác nhận ra được. Bà ta mường tượng ra hắn dang đối diện với con bò mộng năm tuổi, đối diện với cặp sừng đã từng hất tung những con ngựa, với chiếc cổ to đã hất con ngựa lên cao, lên cao mãi trong không khí, trong lúc người ngồi trên lưng ngựa thúc sâu ngọn giáo vào chiếc cổ đó, và tiếp tục đẩy nó lên cao mãi cho đến khi con ngựa rơi ập xuống và người cỡi ngựa bổ nhào vào hàng rào cây trong lúc con bò mộng phục trên hai chân trước, chiếc cổ to lại phóng cặp sừng về phía trước, húc vào con ngựa và tìm cách giết nó chết. Giờ đây thì bà ta trông thấy Finito, tên đấu bò tồi, đang đứng trước con bò mộng và quay cạnh sườn về phía nó. Bà ta lại trông thấy hắn rõ mồn một đang cuộn tròn tấm vải dày màu đỏ quanh cây gậy, tấm vải dính đầy máu mà hắn dùng để quét trên đầu và vai con bò mộng.
Bà ta mường tượng thấy cái bướu loang máu và lưng con bò mộng trong khi nó vừa giãy giụa vừa lắc lư những mũi giáo ghim trên cổ nó. Bà ta thấy Finito nghiêng người đứng sững ở năm bước cách đầu con vật nặng nề, bất động, đoạn hắn chầm chậm giơ cao thanh gươm cho đến khi mũi gươm ở ngang vai nó, và nghiêng lưỡi gươm vào một điểm mà hắn không trông thấy được, vì đầu con bò mộng cao hơn đôi mắt hắn. Hắn tìm cách cho con bò mộng hạ thấp đầu nó xuống bằng cách vẩy tấm vải ướt át nặng nề trong tay trái hắn. Nhưng bây giờ thì hắn đang nhón gót lùi lại từ từ và nhìn dọc theo lưỡi gươm, đứng nghiêng trước chiếc sừng bị sứt của con bò, trong lúc con bò đang thở hổn hển và nhìn chăm chăm vào tấm vải.
Bây giờ thì bà ta trông thấy hắn thật rõ ràng, bà ta nghe cái giọng nói nhỏ nhẹ trong trẻo của hắn khi hắn quay đầu nhìn về phía hàng ghế đầu tiên của đấu trường ở bên trên hàng rào sơn đỏ, hắn nói: “Nhìn xem, tôi có thể giết nó như thế này không!”.
Bà ta nghe hắn nói và tưởng chừng đang trông thấy chàng đấu bò rùn gối tiến tới trước. Bà ta nhìn hắn bước thắng tới cặp sừng con bò đang hạ thấp xuống một cách kỳ diệu trong khi mõm con vật đang hướng về tấm dạ đỏ quét trên mặt đất, cổ tay nhỏ và chắc của hắn điều khiển cặp sừng hạ thấp xuống và chế ngự lấy chúng trong khi lưỡi gươm thọc sâu vào khối thịt âm u trên bướu vai của nó.
Bà ta trông thấy lưỡi gươm thọc vào một cách nhẹ nhàng và chắc chắn như thể cơn xô đẩy của con bò mộng chỉ làm cho lưỡi gươm đâm sâu thêm vào người nó trước khi tước nó ra khỏi tay người đấu bò. Bà ta nhìn lưỡi gươm thọc sâu mãi cho tới khi người đàn ông nhỏ thó và nâu sẫm, với hai mắt không rời khỏi chỗ lưỡi gươm cắm phập vào, bây giờ đã xê cái bụng bị thương tích của mình ra khỏi chiếc sừng và đang ra xa con vật để đứng thẳng người, tay trái cầm cây gậy quấn tấm dạ, tay phải giơ cao đồng thời nhìn con bò mộng giẫy chết.
Bà ta trông thấy hắn đứng sừng sững, hai mắt chăm chăm nhìn con bò mộng đang cố hết sức chồm dậy, đang lắc lư như một thân cây sắp ngã, đang vận dụng toàn lực để đứng lên, trong khi bàn tay hắn giơ cao trong một cử chỉ đắc thắng. Bà ta trông thấy hắn đứng đó, mình mẩy đẫm mồ hôi, trong niềm vui sướng, khuây khỏa không bờ, hắn nhẹ nhõm nhìn con bò mộng giẫy chết, hắn nhẹ nhõm đã không gặp một sự va chạm hay một nhát sừng nào lúc nhảy thoát ra xa, thế rồi khi hắn còn đứng thẳng người ở đó, thì con bò mộng ngã lăn ra chết, chỏng bốn cẳng lên trời, và bà ta thấy người đàn ông nhỏ thó, nâu sẫm lần bước về phía bờ rào, mệt nhoài và không nở nổi một nụ cười.
Bà ta thừa hiểu rằng hắn không thể chạy băng qua đấu trường bởi hắn có thể chết lắm, và bà ta nhìn hắn bước chầm chậm về phía bờ rào, cầm chiếc khăn lau miệng, nhìn vào chiếc khăn và lắc đầu, đoạn lau mặt và bắt đầu đi vòng quanh đấu trường khoe chiến thắng vẻ vang.
Bà ta trông thấy hắn chầm chậm tiến tới, chân kéo lê từng bước quanh đấu trường. Hắn mỉm cười, vẫy chào mọi người, rồi lại mỉm cười, đi trước những người phụ tá của hắn, cúi xuống lượm những điếu xì gà, ném trả lại những chiếc nón, đi vòng đấu trường, mỉm cười với đôi mắt buồn bã để kết thúc chuyến đi vòng quanh dưới mắt bà ta. Bà ta vẫn tiếp tục nhìn và bây giờ thì bà ta trông thấy hắn ngồi trên bực hàng rào bằng cây với một chiếc khăn ấp vào miệng.
Bà ta trông thấy tất cả khi bà ta đứng đó, cạnh bếp lửa, và bà ta nói:
- Vậy chớ hắn ta không phải là một tay đấu bò cừ khôi à? Vậy tôi hiện đang sống với hạng người nào đây?
- Đó là một tay đấu bò cừ khôi - Pablo nói - Nhưng mà hắn khó chịu với vóc người nhỏ thó của hắn.
- Và chắc chắn là hắn bị bịnh lao. - Primitivo nói.
- Lao à? - Pilar nói - Ai mà không bị lao sau khi đã chịu đựng tất cả những gì hắn đã chịu đựng? Trong cái đất nước mà một kẻ nghèo không thể nào hy vọng được kiếm sống no đủ trừ phi phải làm sát nhân như Juan March hoặc làm tên đấu bò trên sân khấu nhạc kịch hoặc một tên ca sĩ hát giọng tê no? Làm sao hắn không mang bịnh lao mới được chớ? Trong cái xứ sở mà bọn trưởng giả ăn nhiều đến phải đau dạ dày, chúng không thể sống nếu thiếu chất muối diêm trong khi kẻ nghèo thì bị đói kém ngay từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới ngày chết mới thôi, thử hỏi làm sao hắn không mang bịnh lao cho được chớ? Nếu đồng chí đã từng du lịch bằng cách trốn chui trốn nhủi dưới những hàng ghế trong các toa hạng ba để đi từ hội chợ này sang hội chợ khác mà khỏi cần phải mua vé, giống như lũ trẻ con học nghề đấu bò ngay trên mặt đất, đầu vùi trong cát bụi bẩn thỉu với những bãi đờm còn tươi hay đã khô, liệu đồng chí có tránh khỏi bịnh lao không nếu đồng chí bị sừng bò mộng húc vào ngực?
- Dĩ nhiên rồi - Primitivo nói - Tôi chỉ nói hắn bị lao thôi mà.
- Dĩ nhiên là hắn bị lao - Pilar nói trong khi bà ta vẫn đứng thẳng người với chiếc muỗng lớn cầm trong tay - Hắn nhỏ người, ăn nói nhỏ nhẹ và rất sợ bò mộng. Tôi chưa hề thấy một ai lại sợ hãi, nhát gan đến thế trước giờ giao đấu và tôi cũng chưa hề thấy ai lại gan lì đến thế một khi đã bước vào đấu trường. Còn ông, - Bà ta nói với Pablo - ông đang mãi sợ chết. Ông quan trọng hóa công việc. Nhưng mà Finito, lúc nào hắn cũng lo sợ. Và trong đấu trường thì hắn là một con sư tử.
- Hắn nổi tiếng gan dạ mà. - Một người trong hai anh em nói.
- Tôi chưa thấy ai nhát gan đến thế - Pilar nói - Hắn không muốn có cả một cái đầu bò mộng trong nhà. Một lần nọ, trong kỳ hội chợ ở Valladolid, hắn đã giết một con bò mộng của Pablo Romero thật kỹ...
- Tôi nhớ ra rồi - Người kia trong hai anh em nói - Tôi có mặt ở đó mà. Đó là một con bò mộng màu vàng xám, trán xoắn và sừng thật cao, nặng hơn 30 arrobas. Đó là con bò mộng sau cùng mà hắn hạ được ở Valladolid.
- Đúng vậy - Pilar nói - Và sau đó, hội những người ái mộ đã họp nhau tại quán cà phê Colon và đã chọn tên hắn để đặt cho hội và họ cũng đã nhồi rơm vào đầu con bò mộng để tặng hắn trong một tiệc nhỏ tại quán Colon. Trong bữa ăn, đầu con bò mộng được máng trên vách nhưng lại phủ bằng một lớp vải. Tôi có mặt ở đó và còn có nhiều người khác nữa, có Pastora là một cô gái xấu hơn tôi, có Nina de los Peines và nhiều phụ nữ du mục cùng gái điếm hạng sang nữa. Đó là một bữa tiệc nhỏ nhưng lại rất huyên náo, đến độ gần như là dữ dội với cuộc cãi vã xảy ra giữa Pastora và một trong số những gái điếm nổi danh vào bực nhứt về một vấn đề xã giao. Tôi thì chưa bao giờ sung sướng đến như thế. Tôi ngồi cạnh Finito và tôi để ý thấy hắn luôn tránh để khỏi nhìn vào đầu con bò mộng phủ bằng một lớp vải màu tía trông giống như hình ảnh các vị thánh nơi nhà thờ trong tuần lễ khổ nạn của Chúa. Finito ăn ít, bởi trong cuộc đấu hàng năm ở Saragosse hắn đã nhận một palotazo, một nhát sừng quẹt vào, hắn đã lịm người một hồi lâu, và ngay trong lúc đó, hắn không thể nào giữ yên được thức ăn trong dạ dày. Hắn đưa mù xoa lên miệng thỉnh thoảng hắn đã phải khạc máu vào đó trong suốt bữa tiệc. Tôi muốn kể cho các đồng chí điều gì quên mất rồi kìa?
- Đầu con bò mộng - Primitivo nói - Đầu con bò mộng nhồi rơm.
- Phải rồi, Pilar. Phải rồi. Nhưng mà tôi phải kể cho các đồng chí biết rõ hơn. Các đồng chí thừa biết Finito không được vui tính gì lắm. Đúng ra hắn luôn có vẻ trầm trọng và tôi không hề thấy hắn tự nhiên lại thốt lên cười mỗi khi còn có hai đứa chúng tôi với nhau. Hắn thiếu cả óc trào phúng. Lúc nào hắn cũng đạo mạo hết. Hắn đạo mạo gần như là Fernando vậy. Nhưng mà trong bữa tiệc kia do hội những tay aficionados [3] đãi hắn và sau đó lập nên hội Finito, dĩ nhiên hắn phải tỏ ra vui vẻ và lịch sự, do đó mà trong suốt bữa ăn, hắn luôn mỉm cười và nói nhiều điều dễ thương, và chỉ có tôi là trông thấy hắn đang làm gì với chiếc mù xoa của hắn. Hắn có cả thảy ba chiếc mù xoa trong người hắn và hắn đã làm ướt đẫm cả ba. Sau đó hắn nói với tôi thật khẽ, “Pilar, anh không chịu được nữa. Có lẽ anh phải về”. “Nào thì mình cùng về vậy”, tôi nói. Bởi tôi trông hắn khổ sở lắm. Trong lúc đó, người ta vui cười tở mở chung quanh bàn và tiếng ồn ào trở nên ầm ĩ khó chịu.
- Không. Anh không thể nào bỏ đi được - Finito nói - Dầu sao đây là một cái hội mang danh nghĩa của anh và anh có nhiều ràng buộc.
- Nếu anh bịnh, thì ta chuồn. - Tôi bảo.
- Không - Hắn nói - Anh ở lại. Rót rượu manzanilla cho anh đi.
Tôi nhận thấy về phía hắn, hắn không nên uống rượu, với dạ dày của hắn đang trong trạng thái nọ, nhưng dĩ nhiên là hắn không thể chịu đựng lâu hơn nữa những cuộc vui đùa, những tràng cười cùng tất cả những tiếng động ồn ào kia. Sau đó tôi nhìn hắn uống thật nhanh gần trọn một chai manzanilla đầy. Hắn đã xài hết khăn mù xoa, bây giờ thì hắn dùng tới chiếc khăn ăn của hắn.
Giờ đây thì buổi tiệc đã trở nên cuồng nhiệt, một vài cô gái điếm nhẹ người được cổ võ và chuyền đi quanh bàn trên vai các hội viên. Người ta yêu cầu Pastora lên ca. El Nino Ricardo đánh đàn guitare. Bầu không khí thật vui vẻ, cảm động và tràn ngập tình bằng hữu. Tôi chưa bao giờ trông thấy một quang cảnh cuồng nhiệt đặc biệt flamenco [4] đến như vậy trong một buổi tiệc. Tuy nhiên người ta vẫn chưa vén mở cái đầu bò mộng ra, và đó chính là lý do của buổi tiệc đó.
Tôi đã được dịp vui đùa thỏa thích, tôi phải vỗ vào tay luôn để phụ họa với tiếng đàn của Ricardo và giúp vào việc tổ chức nhóm người phụ họa cho tiếng hát của Nina de los Peines. Lúc bấy giờ tôi chợt nhận ra Finito đã khạc đầy vào chiếc khăn ăn của hắn và hắn đã giựt lấy chiếc khăn của tôi. Hắn vẫn uống rượu manzanilla, hắn có đôi mắt thiệt sáng và ngẩng đầu nhìn từng người một cách hài lòng. Hắn không nói chuyện được nhiều bởi vì bất cứ lúc nào khi nói, hắn buộc lòng phải lấy chiếc khăn ăn ra, nhưng hắn tỏ ra vô cùng thích thú, và dù sao chính vì vậy mà hắn có mặt ở đó.
Cứ như vậy mà buổi tiệc tiếp diễn và người ngồi cạnh tôi là ông bầu cũ của Rafael el Gallo, hắn kể cho tôi nghe một câu chuyện kết thúc như vầy: Rồi thì Rafael đến bên tôi và nói: “Anh là thằng bạn tốt bụng nhất và cao quý nhất của tôi trên đời này. Tôi thương anh như một thằng anh và tôi muốn tặng anh một món quà”. Đoạn hắn trao cho tôi một cây kẹp cà vạt bằng kim cương, hắn hôn tôi ở hai bên má, và cả hai chúng tôi đều cảm động vô cùng. Sau đó Rafael el Gallo bước ra khỏi quán, và tôi nói với Renata đang ngồi nơi bàn tôi: “Cái thằng du mục bẩn thỉu đó vừa ký hợp đồng với một ông bầu khác”. Renata hỏi tôi, “Anh muốn nói cái gì? Tôi đã làm ông bầu của hắn trong mười năm nay rồi và hắn chưa hề tặng quà cho tôi”. Ông bầu của El Gallo đã bảo như vậy. Điều đó không có ý nghĩa nào khác. Nó hoàn toàn đúng như vậy và đó là cách mà El Gallo đã rời bỏ hắn.
Nhưng trong lúc đó, Pastora lại xen vào câu chuyện, hẳn không phải để binh vục tiếng tăm Rafael, bởi không ai nói xấu hắn nhiều bằng cô ả, nhưng bởi vì ông bầu đã miệt khinh bọn du mục bằng cách nói “tên du mục bẩn thỉu”. Cô ả xen vào câu chuyện một cách dữ tợn và bằng những tiếng mà ông bầu không dám dùng. Tôi cũng dự vào câu chuyện để trấn an Pastora và một ả du mục khác nữa cũng lại đến trấn an tôi. Vì có nhiều tiếng la lối om sòm nên không thể nghe người ta nói gì trừ tiếng “điếm” là nổi bật lên hơn cả, cho tới khi quang cảnh được yên lặng trở lại, ba người thuộc bọn chúng tôi đã xen vào chuyện kẻ khác lúc bấy giờ mỗi người đang ngồi nhìn ly rượu của mình. Và tôi thấy Finito với một vẻ hãi hùng trên mặt, đang nhìn đầu con bò mộng hãy con bọc trong lớp vải đỏ.
Đúng vào lúc đó, viên chủ tịch hội bắt đầu đọc diễn văn trước khi mở cái đầu bò mộng ra, trong suốt bài diễn văn được tán thưởng vang dậy với những tiếng “hoan hô” và những tiếng đập bàn, tôi nhìn thấy Finito đang dùng chiếc khăn ăn của hắn, không, của tôi, ngồi tuột trong ghế, và hãi hùng nhìn lên cái đầu được bao lại của con bò mộng đang đối diện của hắn, trông hắn như bị mê hoặc, hốt hồn.
Ở phần chót diễn văn, Finito khởi sự lắc đầu và luôn ngồi tuột sâu trong ghế.
“Sao, khá chớ cưng?” Tôi hỏi hắn và khi hắn nhìn tôi, hắn không nhận ra tôi, hắn chỉ gật đầu và nói “Không, không, không”.
Viên chủ tịch đã chấm dứt bài diễn văn và sau đó mọi người đều hoan hô hắn khi hắn bước lên một chiếc ghế để cắt sợi dây buộc vào miếng vải đỏ. Hắn chậm rãi vén mở cái đầu bò, nhưng miếng vải mắc vào một cái sừng. Hắn tháo miếng vải ra và cặp sừng nhọn hoắc, láng lẩy hiện ra. Con bò mộng to lớn màu vàng chĩa cặp sừng đen bóng, bén nhọn về phía trước, cặp sừng với những mũi nhọn bén ngót giống như những cây kim nhọn của loài nhím. Trông nó giống như cái đầu con bò còn sống, trán nó vẫn xoắn như lúc nào, hai lỗ mũi mở toang, hai mắt sáng quắc: nó ở đó và nó nhìn thẳng vào mặt Finito.
Mọi người hò hét và vỗ tay ầm ĩ, trong khi Finito vẫn lùi lại và ngồi tuột sâu trong ghế. Và rồi mọi người im bặt và nhìn hắn: hắn nói không, không, hắn nhìn đầu con bò mộng, hắn lùi ra sau nữa và nói “không” thật lớn, và máu cuồn cuộn tuôn ra. Hắn không dùng đến chiếc khăn ăn và máu chảy xuống cằm hắn, hắn vẫn nhìn đầu con bò mộng và nói: “Trọn mùa, đồng ý. Để lãnh tiền, đồng ý. Để ăn, đồng ý. Nhưng tôi không thể ăn được. Các người nghe không? Tôi đau dạ dày. Và bây giờ mùa đấu bò đã mãn: Không! Không! Không!”. Hắn nhìn quanh bàn, đoạn hắn nhìn đầu con bò mộng và hắn nói “Không” một lần nữa và cúi đầu xuống, đặt chiếc khăn ăn lên cằm. Sau đó hắn ngồi lì ở đó trong dáng ngồi như vậy, không nói gì thêm nữa. Buổi tiệc đã khởi sự tốt đẹp bao nhiêu, lẽ ra phải là một ngày đáng ghi nhớ mãi trong lịch sử vui đùa và bằng hữu, đã không mang lại một kết quả nào.
- Sau đó bao lâu thì hắn chết? - Primitivo hỏi.
- Ngay mùa đông năm ấy - Pilar nói - Hắn không bao giờ bình phục lại được sau khi lãnh nhát sừng bò mộng ở Saragosse. Điều đó còn tệ hơn là bị sừng bò húc nữa, vì vết thương thuộc phần bên trong và không chạy chữa được. Gần như là hắn đã nhận một nhát tương tự như vậy mỗi lần hạ thủ một con bò mộng, và chính vì vậy, hắn không được thành công hơn. Hắn phải vất vả tránh sừng vì lẽ vóc người hắn nhỏ. Gần như lần nào cũng vậy, hắn để cạnh sừng chạm tới hắn. Nhưng đương nhiên, hầu hết đều là những nhát nhẹ.
- Nếu hắn nhỏ người thì lẽ ra hắn không nên làm nghề đấu bò mộng. - Primitivo nói.
Pilar nhìn Jordan và ngẩng đầu lên. Đoạn bà ta cúi đầu nhìn xuống cái nồi sắt và lại tiếp tục ngẩng đầu lên.
Dân tộc gì lạ thật, bà ta nghĩ thầm. Lạ thật, cái dân Tây Ban Nha này! Và “Nếu hắn nhỏ người thì lẽ ra hắn không nên làm nghề đấu bò”. Tôi nghe và tôi không nói gì. Điều đó không đủ làm tôi giận dữ và khi tôi giải thích xong, tôi im lặng. Thật là đơn giản khi người ta chẳng hiểu gì! Qué sencillo! [5] Khi người ta chẳng hiểu gì, người ta nói: “Hắn chẳng sáng giá bao nhiêu trong tư cách của một tay đấu bò mộng”. Cũng không hiểu gì, một kẻ khác lại nói: “Hắn bị bịnh lao”. Và khi có người nào giải thích xong xuôi cho họ hiểu, thì một kẻ khác lại nói: “Nếu hắn nhỏ người thì lẽ ra hắn không nên làm nghề đấu bò”.
Giờ đây, cúi xuống bếp lửa, bà ta thấy lại hắn đang nằm trên giường, tấm thân trần trụi, nâu sẫm với những vết sẹo phù lên ở hai bên đùi, vết thương lõm sâu đã kéo da non ở dưới cạnh sườn và vết thương trắng từ bên sườn chạy dài tới tận nách. Bà ta trông thấy đôi mắt cùng với khuôn mặt trầm trọng, mái tóc đen và xoắn hất ra phía sau. Bà ta ngồi cạnh hắn trên giường, xoa chân hắn, đấm bóp những bắp thịt sưng phồng nơi mông hắn, bà ta nắn nót chúng, buông chúng ra, đoạn dùng hai tay chắp lại vỗ nhẹ vào chúng.
- Sao, khá không? - Bà ta bảo hắn - Chân cẳng thế nào, hở cưng?
- Khá lắm, Pilar ạ. - Hắn nói trong khi mắt vẫn nhắm nghiền.
- Anh có cần em xoa bóp ngực anh không?
- Không, Pilar. Đừng đụng vào đó.
- Thôi thì xoa bóp đùi anh nghe?
- Không. Anh đau lắm.
- Nhưng mà nếu em xoa bóp với dầu nóng thì nó sẽ làm cho ấm và anh sẽ bớt đau.
- Không, Pilar, cám ơn em. Anh thích tốt hơn hết là đừng đụng vào các chỗ đó.
- Để em dùng rượu lau mình cho anh nghe!
- Ừ. Nhẹ thôi nghe em.
- Với con bò mộng sau cùng, anh đấu chì lắm. - Bà ta bảo hắn.
- Ừ, anh đã giết nó rất kỹ.
Sau đó khi đã lau chùi hắn sạch sẽ và dùng tấm ra đắp lên người hắn, bà ta nằm bên cạnh hắn trên giường và hắn nắm tay bà ta, bảo: “Pilar, em là một người đàn bà tuyệt diệu”. Chưa bao giờ hắn đùa cợt vui vẻ đến như vậy và thông thường, sau trận đấu, hắn vẫn ngủ vùi. Và rồi bà ta vẫn nằm đó, nắm lấy bàn tay Finito trong hai bàn tay của bà ta và nghe hắn thở.
Hắn thường sợ hãi trong lúc ngủ. Bà ta nghe thấy bàn tay hắn co lại và trông thấy mồ hôi rịn trên trán hắn. Mỗi lần hắn thức giấc, bà ta bảo hắn: “Không có gì”, và rồi hắn lại nhắm mắt ngủ. Bà ta vẫn sống như vậy với hắn trong suốt năm năm trời và bà ta đã không hề, hay gần như không hề lừa dối hắn. Và sau đó, khi chôn cất hắn xong, bà ta bắt đầu sống với Pablo là người dẫn ngựa cho các kỳ thủ trong đấu trường và trông giống tất cả các con bò mộng mà Finito đã trải qua trọn một đời người để hạ thủ. Nhưng mà sức mạnh lẫn lòng can đảm của loại bò mộng đều chẳng bền vững. Bây giờ đây bà ta đã hiểu được điều đó. Vậy thì cái gì mới bền vững được đây? Tôi sống bền bỉ. Phải, tôi đã sống một cách bền bỉ. Nhưng tại sao mới được?
- Maria - Bà ta nói - Coi chừng đó nghe. Em nhóm lửa bếp chớ không phải đốt nhà.
Trong lúc đó, tên du mục xuất hiện trên ngưỡng cửa. Người hắn phủ đầy tuyết. Hắn cầm trong tay khẩu các bin và đang dậm chân để giũ tuyết.
- Sao?
- Cứ sáu giờ thay lính gác một lần, có hai người cùng gác trên cây cầu lớn - Tên du mục nói - Có tám người và một tên cai trong cái chòi của phu lục lộ. Đó là thời biểu mà đồng chí cần biết.
- Còn cái đồn ở trại cưa thì sao?
- Lão già đang ở đó. Lão có thể cùng lúc quan sát đồn canh lẫn con đường.
- Và con đường? - Robert Jordan nói.
- Sinh hoạt bình thường - Tên du mục nói - Không có gì lạ. Nhiều xe chạy.
Tên du mục có vẻ lạnh cóng, mặt hắn hóp lại vì lạnh và hai bàn tay hắn đỏ ửng. Hắn vẫn đứng nơi cửa vào hang, cởi áo và giũ tuyết. Hắn nói:
- Tôi đã ở đó cho tới khi chúng đổi phiên gác. Một phiên gác dài. Cũng may là tôi không có mặt trong quân đội chúng.
- Mình đi tìm lão già đi. - Robert nói vừa khoác chiếc áo da vào người.
- Không có tôi - Tên du mục nói - Tôi bây giờ thì chỉ cần lửa và súp nóng. Tôi sẽ nói với một trong đám người kia biết lão ta ở đâu để hắn có thể đưa đồng chí đi. Ê, bọn ăn bám, - Hắn kêu về phía bọn người đang ngồi nơi bàn - ai muốn dẫn Inglés tới chỗ lão già đang nằm quan sát con đường đây?
- Tôi đi cho - Fernando đứng dậy - Cho tôi biết ở đâu đi.
- Nghe này - Tên du mục bảo - Ở chỗ kia kìa... - Và hắn giải thích cho biết lão già đang ở đâu.
Chú thích:
[1] Thế thì sao?
[2] Máy bay.
[3] Tay đấu bò tài tử.
[4] Một điệu nhạc vùng Andalousie.
[5] Thật đơn giản!
Chương 15
Anselmo đang ngồi chồm hổm trong cái hốc của một thân cây lớn. Ở hai bên lão, tuyết bay lác đác trong gió. Lão nép sát vào thân cây. Hai bàn tay lão giấu trong túi áo vét, và lão cố hết sức rúc đầu vào cổ áo. Nếu tôi còn ở đây lâu, lão nghĩ, có lẽ tôi sẽ chết cóng đi mất, và công việc chả nên trò trống gì. Inglés đã bảo tôi cứ ở đây cho tới khi nào có người tới đón, nhưng mà lúc đó, hắn không biết có trận bão tuyết này. Không có biến động bất thường nào trên mặt lộ và tôi đã biết rõ những cách bố trí và những quy luật áp dụng trong đồn canh tại trại cưa. Bây giờ có lẽ tôi phải về trại. Lão nghĩ, tôi sẽ tiếp tục đợi thêm một chút nữa và sau đó tôi sẽ về trại. Lỗi ở mệnh lệnh quá cứng rắn. Người ta không chịu tiên liệu gì cả trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi. Lão dùng chân cọ lên nhau. Đoạn lão cho tay ra ngoài túi áo, nghiêng người về phía trước, cọ chân vào nhau cho máu chạy đều. Trời đã bớt lạnh, lão ngồi tránh gió trong hốc cây một cách khá an toàn, nhưng lão phải về ngay. Trong lúc đó lão nghe có tiếng xe chạy dưới đường, với nhựng tiếng khua vang. Chiếc xe leo lên con đường dốc phủ đầy tuyết trắng, sơn màu xanh và nâu với những mảng to tướng, với những cánh cửa sổ bôi màu xanh để che giấu phần bên trong, với chỉ một khung kính hình bán nguyệt trong suốt để người trong xe nhìn ra ngoài. Đó là một chiếc Rolls Royce cũ độ hai năm, một chiếc xe trong thành phố được ngụy trang, theo nhu cầu của Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng Anselmo không biết điều đó. Lão ta không thể trông thấy ba tên sĩ quan mặc áo choàng ngồi trong xe. Hai người ngồi ở phía sau và một người ngồi ở băng trước. Khi chiếc xe qua khỏi chỗ Anselmo đang nấp, tên sĩ quan nhìn qua khung kính màu xanh hình bán nguyệt. Nhưng Anselmo không trông thấy hắn. Cả hai đều không trông thấy nhau.
Chiếc xe chạy trong tuyết ngay phía dưới lão. Anselmo trông thấy tên tài xế mặt đỏ gay, đầu dội mũ sắt, cả khuôn mặt và chiếc mũ nhô lên khỏi chiếc áo choàng may bằng vải làm mền quấn lấy người hắn. Lão trông thấy họng súng tiểu liên của tên lính ngồi cạnh tên tài xế. Rồi thì chiếc xe biến mất và Anselmo thọc tay mò mẫm phía bên trong áo vét, lão móc từ túi áo sơ-mi hai tờ giấy xé ra từ cuốn sổ tay của Robert Jordan và đánh một dấu trước hình vẽ một chiếc xe hơi. Đó là chiếc xe thứ mười leo lên con đường dốc ngày hôm ấy. Sáu chiếc đã trở xuống. Bốn chiếc hãy còn ở phía trên. Đó không phải là một số lượng bất thường, nhưng Anselmo không phân biệt những chiếc Ford, Opel, Renault, Citroën thuộc Bộ Tham Mưu Sư đoàn đang đóng trên các con đường đèo và trục giao thông trên núi, cùng với những chiếc Rolls Royce, Lancia, Mercedes, Isolta thuộc Tổng Hành Dinh. Hẳn Robert Jordan biết phân biệt những thứ xe đó và nếu chàng ở vào địa vị của lão già, chàng sẽ biết ngay ý nghĩa của những chiếc xe đang leo dốc. Nhưng mà chàng ta không có ở đó và lão già đành phải đánh một cái dấu vào tờ giấy cho mỗi chiếc xe leo dốc.
Bây giờ thì Anselmo nghe lạnh đến nỗi lão ta quyết định tốt hơn hết là trở về trại trước khi đêm xuống. Lão ta không sợ lạc nhưng lão nghĩ không nên ở lại lâu nơi đây làm gì vô ích. Gió càng lúc càng thổi mạnh và tuyết vẫn rơi dày đặc. Tuy nhiên khi lão ta đúng dậy, vừa nhịp chân vừa nhìn con đường xuyên qua những nắm tuyết rơi dầy, lão vẫn chưa chịu cất bước mà vẫn tiếp tục đứng đó, tựa vào gốc thông.
Ông Inglés đã bảo tôi ở lại, lão nghĩ thầm. Trong lúc này đây, có thể hắn đang trên đường tới đây. Nếu tôi đi, có thể hắn sẽ đi lạc trong tuyết khi tìm kiếm tôi. Trong suốt trận giặc này, ta đã khổ nhiều vì thiếu kỷ luật và vì bất tuân thượng lịnh, tôi sẽ đợi ông Inglés thêm một chút nữa. Nhưng nếu hắn không đến ngay, có lẽ tôi đành bỏ đi vậy, mặc dù đã có lịnh, bởi vì tôi cần báo cáo ngay và tôi còn phải làm nhiều việc trong những ngày này, lại nữa, người ta không nên đứng chết cóng nơi này một cách vô bổ.
Bên kia đường, tại trại cưa, có khói bay lên từ ống khói, và Anselmo cảm thấy gió thổi bật nó về phía lão. Bọn phát xít lúc nào cũng sống trong cảnh ấm cúng, lão nghĩ, bọn chúng lúc nào cũng có đầy đủ tiện nghi. Vào chiều mai, chúng tôi sẽ giết sạch bọn chúng. Thật là một công việc lạ kỳ, và tôi không thích nghĩ tới nó. Tôi đã trải qua trọn một ngày để quan sát chúng, họ cũng là người như bọn tôi chớ chẳng khác gì. Tôi tin rằng tôi có thể tới trại cưa và gõ cửa, tôi sẽ được tiếp đón ân cần trừ khi nào chúng được lịnh hỏi giấy tất cả mọi người. Chúng ta bị chi phối bởi lịnh này lịnh nọ. Bọn người đó không phải là phát xít. Tôi gọi chúng là phát xít, kỳ thật không phải vậy. Đó là những con người khốn khổ đáng thương như chúng tôi. Lẽ ra bọn chúng không đời nào chống lại chúng tôi cả, và tôi không thích cái ý tưởng giết người.
Những người ở trong đồn đó đều thuộc miền Galice. Tôi biết được điều đó sau khi nghe được câu chuyện của bọn chúng vào buổi xế chiều hôm nay. Chúng không thể đào ngũ được bởi người ta sẽ mang những người trong gia đình của chúng ra bắn. Dân miền Galice thường hoặc rất thông minh, hoặc thật đần độn và tàn bạo. Tôi biết rõ hai hạng người đó. Lister cũng là dân Galice, thuộc cùng một thành phố với Franco. Không biết bọn người đó nghĩ gì khi thấy tuyết rơi giũa mùa này. Bọn chúng sống trong vùng không có núi non cao ngất như ở đây. Ở xứ sở của bọn chúng, trời mưa dầm dề và cỏ cây lúc nào cũng xanh tươi.
Từ cánh cửa sổ của trại cưa, đèn đã bật sáng. Anselmo rùng mình và rủa thầm, thằng Inglés phải gió này! Kìa là dân Galice đang sống phề phỡn trong nhà êm cửa ấm ngay trên đất nước của chúng tôi, còn tôi, tôi phải chịu tê cóng vì lạnh sau một gốc cây như vầy, và bọn tôi phải sống trong một cái hang đá chẳng khác gì loài vật trên núi. Lão nghĩ, nhưng mà ngày mai này, những con vật sẽ ra khỏi hang, và bọn người trong lúc này đang sống đầy đủ thừa mứa sẽ chết trong chăn ấm nệm êm của chúng. Như những kẻ đã chết trong đêm chúng tôi tấn công Otero. Lão không muốn nhớ lại vụ Otero chút nào.

Tại Otero, đêm đó, lần đầu tiên, lão đã giết người, và lão sẽ không phải giết nữa. Chính ở Otero, Pablo đã đâm chết tên lính gác trong khi Anselmo chụp chiếc mền lên đầu hắn. Tên lính gác bị quấn tròn lại trong chiếc mền và bị kềm cứng dưới chân Anselmo, kêu thét lên những tiếng thất thanh, hãi hùng. Anselmo mò mẫm bên trong chiếc mền và cầm dao đâm vào người hắn cho tới khi hắn xuội lơ và im bặt. Lão đã dùng đầu gối chận ngang cổ họng của hắn để bắt hắn im khi Pablo ném bom vào căn phòng qua khung của sổ nơi tất cả bọn người trong đồn đều ngủ say. Khi tiếng nổ phát ra người ta tưởng cả thế giới đang nổ tung dưới mắt, và hai trái bom khác được Pablo ném vào tiếp theo đó qua ngả cửa sổ. Bọn chúng nếu không chết ngay trên giương ngủ thì cũng chết vì tiếng nổ của trái bom thứ nhì khi chúng lạng quạng đứng dậy. Đó là thời vàng son của Pablo, thời mà hắn gây sôi sục khắp nơi như một tên giặc Mông Cổ và là thời mà không có một đồn bót Phát xít nào được an toàn vào ban đêm.
Và bây giờ, Anselmo nghĩ, hắn tàn tạ và bất lực chẳng khác gì một con heo giống bị thiến. Người ta thiến xong thì tiếng kêu la cũng chấm dứt, người ta ném hai cái hòn d... đi, và con heo giống, lúc bấy giờ cũng không còn là con heo giống nữa, đến bên chúng, phồng mũi ngửi và lục lạo, sau đó nó không ngần ngại ăn lấy chúng; không, Anselmo nghĩ thầm vừa mỉm cười, hắn không tệ đến đỗi đâu, người ta có thể nói quá, ngay cả với Pablo. Dù sao phải nói là hắn đã thay đổi và trở nên xấu xí, tệ hại.
Trời quá lạnh, lão nghĩ, cần nhất là ông Inglés tới đây. Cần nhất là tôi không phải giết người trong cái đồn canh đó. Bốn tên thuộc miền Galice kia và tên cai của chúng, tất cả dành cho những kẻ thích giết chóc. Ông Inglés bảo vậy. Tôi sẽ làm vậy nếu có bổn phận phải làm, nhưng mà ông Inglés đã bảo tôi sẽ ở lại với hắn trên cây cầu, còn chuyện giết chóc thuộc phần vụ của kẻ khác. Trên cầu sẽ xảy ra trận đánh nhau và lúc đó tôi sẽ làm tất cả những gì một ông già có thể làm được trong cuộc chiến này. Nhưng mà phải chi ông Inglés đến ngay bây giờ thì tốt quá bởi vì tôi đang chịu lạnh và cứ tưởng tượng bọn người đang sống ấm cúng trong trại cưa dưới kia, tôi càng thấy lạnh hơn nữa. Tôi mong được sống trong ngôi nhà của mình và cuộc chiến này chấm dứt cho rồi. Nhưng mà, lão lại nghĩ, mày đâu có nhà cửa gì. Mày chỉ có thể trở về sau khi đã thắng trận giặc này.
Bên trong trại cưa, một tên lính đang ngồi trên bộ ván và đánh bóng đôi giày ống của hắn. Một tên khác đang nằm dài ra ngủ. Một tên thứ ba đang làm bếp và tên cai thì đang xem báo. Những chiếc nón máng trên tường. Những khẩu súng dựng bên vách ván.
- Cái xứ sở gì mà kỳ lạ, chưa tới tháng Sáu đã có tuyết rơi đầy trời rồi. - Tên lính ngồi trên phản buột miệng nói.
- Lạ thật. - Tên cai nói.
- Mới đang vào tuần trăng tháng Năm - Tên lính đang làm bếp nói - Tuần trăng tháng Năm vẫn chưa hết.
- Xứ sở gì mà có tuyết vào tháng Năm? - Tên lính ngồi trên phản gằn giọng.
- Trên vùng núi này, tuyết rơi vào tháng Năm không phải là chuyện lạ đâu - Tên cai nói - Ở miền Castille này, tháng Năm là tháng nóng dữ nhưng cũng có thể lạnh gắt.
- Hoặc là mưa - Tên lính ngồi trên phản nói - Tháng Năm này, trời mưa gần như mỗi ngày.
- Đâu có mưa - Tên lính đang làm bếp nói - Vả lại tháng Năm này hãy còn tuần trăng của tháng Tư mà.
- Tao muốn điên đầu với những tuần trăng của mày - Tên cai bảo - Mày dẹp những tuần trăng của mày giùm tao coi nào.
- Tất cả những ai ở gần biển hoặc ở miệt đồng ruộng đều tính theo tuần trăng chớ không phải theo tháng - Tên lính làm bếp nói - Thí dụ như bây giờ đúng là bắt đầu tuần trăng tháng Năm đây. Tuy nhiên lại sắp tới tháng Sáu rồi.
- Vậy thì tại sao người ta lại không trễ nải mùa màng? Tao điên đầu với tất cả câu chuyện này.
- Ông ở thành phố. Ông ở Lugo, ông biết gì về biển và đồng ruộng chớ?
- Ở thành phố người ta biết nhiều chuyện hơn là bọn analfabetos [1] chúng mày ở miền biển và đồng ruộng.
- Chính với tuần trăng này mà từng đàn cá mòi khổng lồ kéo tới. Với tuần trăng này, người ta sửa soạn những tàu đánh cá mòi. Trong khi cá cháy thì xuôi về miền Bắc.
- Tại sao mày không vào hải quân, bởi mày từ Noya tới? - Tên cai hỏi.
- Tôi đâu có đăng ở Noya, tôi đăng ở Negreira, nơi tôi sinh trưởng. Và ở Negreira, ở cái thành phố trên bờ sông ấy, người ta tóm ông vào quân đội không sẩy được.
- Rủi quá há! - Tên cai nói.
- Đừng tưởng vào hải quân mà không có nguy hiểm - Tên lính ngồi trên phản nói - Ngay lúc không có đánh nhau, đây là một bờ biển nguy hiểm vào mùa đông.
- Không có gì tệ hơn là quân đội. - Tên cai nói.
- Ông làm cai mà ông ăn nói như vậy đó hả? - Tên lính làm bếp nói.
- Không - Tên cai nói - Tao nói về những hiểm nguy. Tao nói về những cuộc dội bom, những cuộc tấn công, về đời sống chui rúc dưới hầm.
- Ở đây không có những chuyện đó. - Tên lính trên bộ ván nói.
- Nhờ Trời - Tên cai nói - Nhưng ai biết được bao giờ thì những thứ đó rơi xuống đầu mình đây? Chắc chắn là người ta không để mình yên ổn hoài như vậy đâu.
- Không biết mình còn phải tiếp tục công việc này tới bao giờ đây?
- Không biết - Tên cai nói - Nhưng tao muốn tình trạng này kéo dài tới hết chiến tranh.
- Sáu giờ gác, quá nhiều. - Tên lính đang làm bếp nói.
- Nếu trận bão này còn tiếp tục, mình sẽ gác trong ba giờ. Cho nó được bình thường.
- Những chiếc xe kia của Bộ Tham Mưu làm gì đó? - Tên lính trên phản nói - Tôi không ưa những chiếc xe đó tí nào.
- Tao cũng vậy - Tên cai nói - Đó là dấu hiệu không tốt.
- Còn không quân - Tên lính đang làm bếp nói - Không quân: lại một dấu hiệu xấu.
- Nhưng mà phe ta có một lực lượng không quân ác liệt lắm - Tên cai nói - Bọn Đỏ không bằng ta. Những chiếc máy bay sáng nay làm khoái mắt mọi người.
- Tôi đã từng trông thấy phi cơ của bọn Đỏ trong những lúc nghiêm trọng - Tên lính trên bộ ván nói - Tôi đã trông thấy những chiếc oanh tạc cơ hai máy, cũng khiếp đảm lắm chớ không vừa đâu.
- Đúng rồi. Nhưng chúng không ác liệt bằng không quân ta đâu - Tên cai nói - Phe ta có một không lực vô địch.
Trong trại cưa, bọn chúng đã nói với nhau như vậy, trong lúc Anselmo ngồi đợi dưới bão tuyết vừa trông chừng con đường và ánh sáng từ khung cửa sổ trại cưa.
Anselmo nghĩ, tôi hy vọng rằng mình không phải có mặt trong trại cưa. Có lẽ sau chiến tranh, người ta phải sám hối nhiều. Sau chiến tranh, nếu người ta không còn tin vào tôn giáo nữa, có lẽ người ta phải tổ chúc một thứ lễ sám hối cho mọi công dân để tẩy uế những ám ảnh giết chóc nơi họ, nếu không thì người ta sẽ không bao giờ có được một căn bản nhân đạo và chính thật để sống cả. Tôi thừa biết người ta cần phải giết chóc, nhưng dù sao đó là điều xấu xa cho mỗi cá nhân, và tôi nghĩ rằng khi tất cả tấn tuồng này chấm dứt và khi ta đã thắng trận, ta phải thực hiện một cuộc lễ sám hối để rửa tội cho tất cả mọi người.
Anselmo quả thật là một con người rất tốt và mỗi khi lão ngồi lâu một mình ở đâu, thông thường lão vẫn lẻ loi như vậy, vấn đề giết chóc lại ám ảnh, giày vò lão.
Lão nghĩ, tôi không hiểu nổi cái anh chàng Inglés nọ. Hắn bảo tôi là hắn không chút quan tâm gì tới chuyện đó. Vậy mà hắn rất nhạy cảm và tốt bụng. Đối với tuổi trẻ, có thể chuyện giết chóc không quan trọng gì. Với người ngoại quốc, hoặc với kẻ không cùng tín ngưỡng với bọn tôi, có lẽ tình cảm không còn nữa. Nhưng tôi tin rằng tất cả những ai đã giết người sớm muộn gì rồi cũng sẽ khổ tâm vì đó, và mặc dù là chuyện thiết yếu, nhưng đó lại là một trọng tội và sau đó người ta phải chịu đền tội rất nặng.
Trời đã vào đêm, Anselmo nhìn ánh sáng từ bên kia đường và lão ta vỗ vào cạnh sườn cho bớt lạnh. Lão nghĩ bây giờ thì mình phải về trại đây, nhưng một cái gì cầm chân lão lại nơi đó, cạnh gốc cây, ở phía trên con đường. Tuyết rơi dữ hơn, và Anselmo lại nghĩ: phải chi đêm nay người ta có thể phá sập cây cầu. Gặp phải một đêm như đêm nay, chiếm đồn canh và phá cầu là những việc sẽ xong xuôi ngay. Gặp phải một đêm như đêm nay, người ta có thể làm bất luận điều gì.
Lão tiếp tục ở đó, đứng tựa vào thân cây, khẽ nhịp chân, và lão không nghĩ tới chuyện cây cầu nữa. Cảnh đêm lặng lẽ buông xuống lúc nào cũng gây cho lão một cảm giác cô đơn, và đêm nay, lão thấy mình cô đơn đến nỗi lão nghe thấy một khoảng trống tương tự như cơn đói.
Xưa kia, lão có thể trừ khử được cái cảm giác cô đơn kia bằng những lời cầu nguyện. Thông thường, khi đi săn về, lão lẩm rẩm đọc nhiều lần một bài kinh là lão cảm thấy đỡ ngay. Nhưng từ lúc phong trào nổi dậy, lão không còn cầu nguyện lần nào nữa. Lão không cầu nguyện nữa, nhưng hắn lão cảm thấy mình không lương thiện và đạo đức giả nếu phải tiếp tục cầu nguyện. Lão không muốn có một ân huệ đặc biệt nào, lão không muốn sự ưu đãi nào khác hơn tất cả mọi người.
Không, lão nghĩ, tôi chỉ sống một mình, một thân. Và mọi người đều như vậy cả, tất cả những chiến sĩ và những kẻ đã mất gia đình, thân quyến. Tôi không có vợ, nhưng tôi hài lòng vì bà ấy đã chết trước khi phong trào nổi dậy. Bà ta hẳn không hiểu được điều đó. Tôi không có con và sẽ không bao giờ có con. Tôi trơ trọi một mình vào những ngày không làm việc, và khi bóng tối trở về, lúc đó tôi mới thấy mình cô đơn ghê gớm. Nhưng tôi có được một điều mà không kẻ nào cũng như Trời Phật nào có thể tước đoạt: tôi phục vu đắc lực cho nền Cộng Hòa. Tôi đã phục vụ trong gian khổ cho những giá trị mà mọi người sẽ thụ hưởng sau này. Tôi đã phục vụ hết sức mình ngay từ đầu phong trào và tôi đã không làm điều gì đáng xấu hổ.
Duy có điều tôi tiếc, đó là sự giết chóc. Nhưng chắc hẳn người ta có cách cứu gỡ, bởi vì với một tội lỗi như vậy, người ta phải tìm ra một phương thức xá miễn thích đáng. Tôi rất muốn nói cho Inglés biết, điều đó, nhưng mà hắn còn trẻ quá, chắc hắn không hiểu gì đâu. Chính hắn đã từng nói về sự giết chóc. Hay thật ra chính tôi đã khơi chuyện trước tiên? Chắc hẳn hắn đã giết nhiều người, nhưng hắn có vẻ không thích thú việc đó chút nào. Ở những kẻ nào còn thích giết chóc, luôn luôn có một cái gì thối nát, tệ hại.
Lão nghĩ, đó phải là một tội tày trời. Cho dù có cần thiết, chắc chắn đó lại là điều người ta không có quyền làm. Nhưng ở Tây Ban Nha, người ta giết người quá dễ, và thường giết một cách không cần thiết. Như vậy tức nhiên là người ta không kịp sửa đổi nữa. Tốt hơn đừng nghĩ nhiều tới chuyện đó. Tôi mong được sám hối ngay bởi vì trong đời tôi, đó là hành động duy nhất làm tôi phải khổ tâm những lúc sống trong cô đơn. Và tất cả những điều còn lại thì được xá miễn. Người ta may mắn được bôi xóa những lỗi lầm của mình bằng cách sống một cuộc đời lương thiện tốt lành. Nhưng mà tôi cho rằng cuộc chém giết kia phải là một trọng tội và tôi muốn trang trải nó. Sau này hẳn có ngày người ta sẽ phục vụ cho quốc gia hoặc người ta sẽ làm nhiều việc để bôi xóa cái dấu vết đó, có thể đó là điều người ta có bổn phận phải trả như vào thời của Giáo hội. Lão nghĩ vậy và mỉm cười. Giáo hội đã được tổ chức khá chu đáo để lo lắng cho tội lỗi mọi người. Ý nghĩ này khiến lão thích thú và lão mỉm cười trong bóng tối khi Robert Jordan bước tới. Chàng tới thật lặng lẽ và lão già chỉ biết vào giây phút chót.
- Hola, viejo [2] - Robert Jordan nói thật nhỏ vừa vỗ vào lưng lão già - Thế nào?
- Lạnh quá xá đi. - Anselmo nói (Fernando đang đứng trong khoảng hơi xa, quay lưng về phía tuyết vẫn rơi đều).
- Đi - Robert Jordan thì thầm - Đi về trại để hơ cho ấm đi. Để đồng chí đứng đây quá lâu thật là bậy.
- Ánh sáng của bọn chúng kìa! - Anselmo đưa tay chỉ.
- Tên lính canh đâu?
- Đứng đây không thấy. Nó ở khúc quanh bên kia.
- Kệ xác bọn chúng - Robert Jordan nói - Đồng chí sẽ kể cho tôi nghe khi về trại. Bây giờ thì đi. Mình đi ngay đi.
- Để tôi chỉ cho đồng chí xem.
- Tôi sẽ xem xét vào sáng mai - Robert Jordan nói - Này, uống một hớp đi.
Chàng đưa chai rượu cho lão già. Anselmo uống một ngụm.
- Ái cha! - Lão nói, và lão đưa tay quẹt lên miệng - Đúng là lửa.
- Đi - Robert Jordan nói trong bóng tối - Mình đi đi.
Bây giờ thì trời tối hẳn. Người ta chỉ còn phân biệt những nắm tuyết bay trong gió, và những thân cây thông chạy dài thành con đường thẳng. Fernando đang đứng ở trên cao hơn một chút. Hãy nhìn tên da đỏ trên hộp xì gà kìa. Robert Jordan nhủ thầm. Có lẽ phải cho hắn uống.
- Ê Fernando! - Chàng nói vừa đến bên hắn - Một ngụm nghe.
- Không - Fernando nói - Cám ơn.
Chính ta phải cám ơn ông bạn chớ, chàng nghĩ thầm. Thật đáng mừng khi bọn da đỏ trên hộp xì gà lại không uống rượu, Robert Jordan lại nghĩ, tôi sung sướng gặp lại lão già này. Chàng nhìn Anselmo và vỗ lưng lão một lần nữa. Họ bắt đầu leo lên con đường dốc.
- Gặp đồng chí tôi khoái quá, viejo à! - Chàng bảo Anselmo - Mỗi khi tôi chán nản, chỉ cần trông thấy đồng chí là tôi đủ lên tinh thần rồi. Đi, mình đi nhanh lên đi.
Họ bước trong tuyết.
- Mình về biệt thự Pablo đi. - Robert Jordan nói với lão già. Tiếng Tây Ban Nha, câu đó nghe kêu thật.
- El Palacio del Miedo - Anselmo nói - Biệt thự của tên nhát gan.
- La cueva de los huevos perdidos - Robert Jordan nói một cách vui vẻ - Cái hang của những quả trứng lạc loài.
- Những quả trứng nào? - Fernando hỏi.
- Không biết - Robert Jordan nói - Hãy lật sách ra mà tìm. Hãy hỏi Pilar - Đoạn chàng quàng tay qua người lão ta vừa bước - Nghe đây, - Chàng nói - tôi khoái gặp đồng chí lắm đồng chí nghe không? Đồng chí không biết người ta nghĩ sao về xứ sở này khi gặp lại một người đúng vào chỗ mà người ta đã đặt hắn?
Cách phê bình này chính là một bằng cớ hùng hồn về lòng tin cậy và sụ thân tình.
- Tôi hài lòng gặp lại đồng chí - Anselmo nói - Nhưng tôi sắp sửa bỏ đi rồi đó.
- Đồng chí nói sao đó chớ - Robert Jordan vui vẻ nói - Đồng chí suýt chết cóng thì đúng hơn.
- Ở trên đó ra làm sao? - Anselmo hỏi.
- Tốt - Robert Jordan nói - Tất cả đều tốt đẹp.
Chàng tiếp nhận cái cảm giác sung sướng bất chợt và hiếm hoi kia có thể xâm chiếm tràn ngập tâm hồn của bất luận một người chỉ huy nào trong lực lượng cách mạng. Đó là thứ hạnh phúc được thấy một bên sườn của mình được vũng chắc. Nếu cả hai bên đều vững chắc, điều này có lẽ quá nhiều để người ta có thể chịu đựng được. Tôi tự hỏi mình có thể chịu đựng được điều đó không. Và một bên sườn, bất luận một bên sườn nào, lúc nào cũng tận cùng bằng một con người. Phải, chỉ một con người thôi.
Đó không là một tiền đề chàng mong muốn. Nhưng chàng đã có lão già này dưới tay mình. Một người, chỉ có một người, nhưng là một người đúng nghĩa. Đồng chí sẽ là cạnh sườn trái của tôi lúc lâm trận, chàng nghĩ. Tốt hơn không nên nói điều đó bây giờ. Đây là một trận rất nhỏ nhưng cũng rất cam go. Nào, tôi vẫn luôn mong được một trận như thế. Từ vụ Azincourt, tôi luôn có một quan niệm riêng của tôi về những gì sai lạc, hư hỏng nơi kẻ khác. Trận này phải tiến hành tốt đẹp. Nó sẽ tầm thường, bé nhỏ, nhưng nó lại rất sáng giá. Nếu phải làm điều gì mà tôi nghĩ lẽ ra mình phải làm, đương nhiên đây là một trận sáng giá.
- Nghe này - Chàng bảo Anselmo - Tôi rất hài lòng gặp lại đồng chí.
- Tôi cũng vậy. - Lão già nói.
Họ leo dốc trong đêm tối, gió quất lên lưng họ, bão tố vây phủ lấy họ, Anselmo không còn thấy đơn độc nữa. Lão không còn thấy cô đơn nữa kể từ lúc hắn vỗ lên vai lão. Hắn có vẻ sung sướng và hài lòng. Và cả hai đều vui đùa thích thú. Hắn đã nói rằng mọi sự tốt đẹp và hắn không lo âu gì cả. Rượu trong dạ dày khiến lão nóng ran, và chân lão cũng nóng ran khi leo lên dốc.
- Trên đường không có gì đáng kể. - Lão nói.
- Tốt. Đồng chí sẽ cho tôi biết khi về tới trại.
Bây giờ thì Anselmo lấy làm sung sướng, và lão khoan khoái đã ở lại địa điểm quan sát.
Nếu lão trở về trại, điều này cũng rất hợp lý, Robert Jordan nghĩ trong hoàn cảnh đó, lão làm đúng. Nhưng lão tiếp tục ở lại nơi ta chỉ định cho lão. Chính đó là điều hiếm thấy nhất ở Tây Ban Nha, chàng nghĩ. Tiếp tục ở lại trong bão tuyết, sự kiện này nói lên rất nhiều điều. Không phải vô lý mà bọn Đức đã dùng tiếng bão tố để chỉ một cuộc tấn công. Chắc hẳn tôi có được hai người như vậy. Tôi tin rằng có, tôi tự hỏi tên Fernando có thể ở lại như lão già không. Có thể. Rốt cuộc, chính hắn mới đây đã đề nghị tới đây. Liệu hắn có ở lại không? Được vậy thì hay lắm. Có thể hắn hơi cứng đầu. Tôi phải tìm hiểu hắn một chút. Không biết tên da đỏ trên hộp xì gà kia đang nghĩ gì trong lúc này.
- Đồng chí đang nghĩ gì đó hở, Fernando? - Robert Jordan hỏi.
- Tại sao hỏi vậy?
- Tò mò. Tôi bình sinh rất tò mò.
- Tôi nghĩ tới bữa ăn tối.
- Đồng chí khoái ăn lắm à?
- Ừ, khoái lắm.
- Pilar làm bếp ra thế nào?
- Trung bình.
Đây chính là một Coolidge thứ nhì đây, Robert Jordan nghĩ. Nhưng với tất cả những điều hắn mới nói, tôi cho rằng hắn sẽ ở lại như lão già.
Trong mưa tuyết, cả ba leo lên ngọn núi.
Chú thích:
[1] Dốt, mù chữ.
[2] Chào cụ.
Chương 16
El Sordo đã qua đây. - Pilar nói với Robert Jordan. Bọn họ vừa từ vùng bão tuyết trở về với bầu không khí ấm cúng trong hang và người đàn bà ra dấu cho Robert Jordan đến gần bà ta, hắn đã đi kiếm ngựa.
- Được rồi. Hắn không nhắn gì với tôi à?
- Hắn chỉ lo kiếm ngựa.
- Còn chúng ta thì sao?
- No sé [1] - Bà ta nói - Nhìn hắn kìa.
Robert Jordan trông thấy Pablo ngay khi hắn trở vô, và Pablo mỉm cười với chàng. Chàng lại nhìn hắn bấy giờ đã ngồi vào bàn, và chàng vừa mỉm cười với hắn vừa vẫy tay.
- Inglés - Pablo gọi - Tuyết vẫn còn rơi hoài đó hả, Inglés?
Robert Jordan gật đầu.
- Đưa đôi giày anh cho em để em hơ khô cho - Maria nói - Em treo chúng trên ngọn lửa.
- Coi chừng kẻo đốt chúng cháy tiêu đó nghe - Robert Jordan bảo nàng - Anh không thích đi dạo bằng chân không ở đây chút nào. Chuyện gì đã xảy ra vậy? - Chàng hỏi Pilar - Hội họp à? Đồng chí không cắt người gác bên ngoài sao?
- Trong bão tuyết như vầy à? Qué va.
Có sáu người đang ngồi vào bàn, tựa lưng vào vách. Anselmo và Fernando hãy còn đang giũ lớp tuyết đóng trên áo vét, phủi quần và chà đế giày trên vách gần cửa ra vào.
- Đưa áo vét của anh cho em - Maria nói - Đừng để tuyết tan trên đó.
Robert Jordan cởi áo vét, phủi lớp tuyết dính trên quần và tháo giày ra khỏi chân.
- Coi chừng, đồng chí làm ướt hết nơi này đó! - Pilar nói.
- Chính đồng chí gọi tôi mà.
- Đó không phải là lý do để đồng chí khỏi bước ra cửa để giũ tuyết xuống.
- Xin lỗi - Robert Jordan nói và chàng đi trên mặt đất đầy bụi, chân trần - Kiếm giùm anh một đôi vớ đi, Maria.
- Vị lãnh chúa và chủ nhân ông đó đa. - Pilar nói, và bà ta tiếp tục nhóm lửa.
- Hay que aprovechar el tiempo. - Chàng bảo bà ta - Phải sống cho hợp thời hợp cảnh chớ sao!
- Khóa hết cả rồi. - Maria nói.
- Chìa khóa nè. - Và chàng ném chìa khóa về phía nàng.
- Không phải chìa khóa của cái bọc này.
- Cái bọc kia. Chúng nằm phía trên, ngay bên cạnh.
Cô gái đã tìm ra đôi vớ, mang chúng đến cho chàng cùng với chìa khóa sau khi đã khóa lại cái bọc.
- Anh ngồi đây, mang vớ vào đi và chà chân kỹ nghe. - Nàng nói, Robert Jordan mỉm cười với nàng.
- Em không thể lau chúng khô bằng tóc em à? - Chàng nói cố tình cho Pilar nghe.
- Quê một cục! - Bà ta nói - Mới đây là vị lãnh chúa trong lâu đài, bây giờ thì là cựu lãnh chúa. Hãy tặng cho hắn một thanh củi coi nào, Maria!
- Không - Robert Jordan nói - Tôi khoái chí nên đùa một chút mà.
- Đồng chí khoái chí à?
- Ừ. Tôi nghĩ mọi sự tiến hành tốt dẹp.
- Roberto - Maria nói - Ngồi xuống đây anh, lau chân cho khô và em sẽ kiếm cho anh cái gì uống cho ấm.
- Người ta sẽ bảo rằng đây là lần thứ nhứt trong đời chàng trai này bị ướt cẳng - Pilar nói - Và cũng không hề thấy tuyết rơi.
Maria mang đến cho chàng một tấm da trừu mà nàng đặt dưới mặt đất đầy bụi.
- Này, anh hãy giữ cái này dưới chân cho tới khi đôi giày anh khô.
Tấm da trừu mới phơi khô, chứ chưa được thuộc. Robert Jordan đặt hai bàn chân mang vớ lên đó, chàng có cảm tưởng lớp da khô kêu răng rắc như một lớp da giấy thuộc.
- Thổi lửa đi chớ, đồ đứng đường. Bộ đây là nhà hàng bán thức ăn hun khói sao chớ!
- Chị thổi lấy, - Maria nói - để em đi tìm chai rượu của El Sordo để lại.
- Nó ở đàng sau những chiếc ba lô kìa - Pilar nói với nàng - Bộ em định săn sóc hắn như đứa bé còn bú à?
- Không phải - Maria nói - Như một kẻ bị ướt và lạnh run. Một kẻ mới trở về nhà. Nó đây. - Nàng mang chai rượu cho Robert Jordan - Chai rượu ban trưa đó. Có thể làm nên một cái đèn tuyệt đẹp với cái chai này. Khi nào có điện trở lại, ta sẽ làm nên một ngọn đèn đẹp biết mấy với cái chai này đây! - Nàng trầm trồ nhìn cái chai - Anh thấy cái này thế nào hở Roberto?
- Anh tưởng anh là dân Inglés. - Robert Jordan bảo nàng.
- Em gọi anh là Roberto trước tất cả mọi người - Nàng nói nhỏ và mặt ửng đỏ vì thẹn - Anh thích vậy không, Roberto.
- Roberto - Pablo nói bằng một giọng nhừa nhựa vừa ngẩng đầu lên - Ông thích vậy không hở Don Roberto?
- Đồng chí thích như vậy không? - Robert Jordan hỏi lại hắn.
Pablo lắc đầu.
- Tôi thì chỉ lu bù với rượu thôi. - Hắn nói một cách đạo mạo.
- Vậy thì cút đi với Bacchus [2] - Robert Jordan nói.
- Bacchus là ai vậy? - Pablo nói.
- Bồ tèo của đồng chí chớ ai.
- Tôi chưa hề nghe nói tới hắn bao giờ - Pablo nói bằng một giọng nặng nề khó nghe - Không hề nghe trên vùng núi này.
- Hãy cho Anselmo một tách - Robert Jordan bảo Maria - Lão ta đang lạnh - Chàng tròng đôi vớ khô vào chân, rượu huýt ky pha nước đã sưởi ấm chàng ngây ngất. Nhưng nó không đến nỗi cuốn xoáy vào trong người như rượu ngải, chàng nghĩ. Không có rượu nào giống rượu ngải cả.
Chàng nghĩ, có ai tưởng tượng được rằng có huýt ky để uống nơi đây không? Quả thật La Granja là nơi dễ tìm ra huýt ky nhất là ở Tây Ban Nha. Tưởng tượng lão Sordo nọ đi mua một chai cho tên chuyên viên chất nổ đang đi ngang qua, nghĩ tới việc mang nó xuống núi và để nó lại. Đó không chỉ là phép lịch sự của bọn họ. Phép lịch sự lẽ ra là phải lấy chai ra, trịnh trọng rót cho mỗi người một ly. Đó là điều người Pháp hay làm, và phần còn lại người ta để dành cho dịp khác. Không, sự lưu tâm sâu xa đó, ý tưởng cho rằng khách thích được đối xử như thế cùng với ý định mang tặng hắn một chai để làm đẹp lòng hắn giữa lúc người ta đang dấn thân vào một công việc cho phép người ta chỉ nghĩ đến mình, đến công việc đang tiến hành, đó chính là lối của người Tây Ban Nha. Đó là một phép lịch sự đặc biệt Tây Ban Nha, chàng nghĩ. Nhớ lại sự việc đó cũng chính là một trong những lý do để yêu mến dân tộc này hơn nữa. Thôi, đừng tiểu thuyết hóa bọn họ quá dỗi, chàng nghĩ, dân Tây Ban Nha có nhiều hạng cũng như dân Mỹ vậy thôi. Nhưng nên nhớ rằng việc mang tặng chai rượu này bao gồm một mỹ ý.
- Đồng chí chịu thứ này chớ hả? - Chàng hỏi Anselmo.
Lão già ngồi bên ngọn lửa, mặt điểm một nụ cười, hai bàn tay gồ ghề cầm lấy cái tách, lão lắc đầu.
- Không à? - Robert Jordan hỏi lão.
- Cô bé đã đổ nước lạnh vào đây. - Anselmo nói.
- Roberto cũng uống như vậy - Maria nói - Bộ đồng chí muốn uống thứ đặc biệt à?
- Không phải, không đặc biệt chút nào. Nhưng mà tôi khoái uống tới đâu thì nghe thiêu đốt tới đó.
- Đưa cái đó cho anh - Chàng bảo cô gái - Rót cho lão cái thứ thiêu đốt đó.
Chàng trút tách rượu vào tách chàng và chìa cái tách không cho cô gái, cô gái nghiêng chai rượu rót một cách cẩn trọng.
- À, đây rồi. - Anselmo đón lấy chiếc tách, ngả người ra phía sau để cho chất rượu chạy vào cuống họng. Đoạn lão ta nhìn Maria đang đứng bên, tay cầm chai rượu, và lão chớp chớp cặp lông mày, mắt rươm rướm. - Phải vậy - Lão nói - Phải vậy chớ - Lão liếm môi - Cái này mới giết nổi sâu bọ.
- Roberto - Maria nói. Nàng đến bên chàng - Bây giờ anh đói bụng chưa?
- Cơm nước sẵn sàng chưa?
- Sẵn sàng.
- Mọi người ăn chưa em?
- Rồi, trừ anh, Anselmo và Fernando.
- Vậy thì cho bọn anh ăn đi, còn em ăn chưa?
- Em ăn sau với Pilar.
- Ăn với bọn anh luôn thể đi.
- Không. Như vậy không tốt.
- Cứ ăn với bọn anh. Ở xứ anh, chồng không khi nào ăn cơm trước vợ.
- Xứ anh khác, ở đây, vợ nên ăn sau.
- Hãy ăn với hắn - Pablo vừa nói vừa nhìn họ - Hãy ăn với hắn. Hãy uống rượu với hắn. Hãy ngủ với hắn. Hãy chết luôn với hắn. Hãy làm như ở xứ hắn.
- Đồng chí say rồi hả? - Robert Jordan nói, chàng đang đứng trước mặt Pablo. Người đàn ông có khuôn mặt xồm xoàm, bẩn thỉu nhìn chàng, tươi cười.
- Ừ - Pablo nói - Xứ sở đồng chí ở đâu vậy hở Inglés, ở đâu mà đàn bà lại ăn chung với đàn ông, nói nghe coi.
- Ở Estado Unidos, thuộc tiểu bang Montana.
- Có phải ở đó đàn ông mặc váy giống như đàn bà không?
- Không. Cái đó ở Tô Cách Lan kìa!
- Nhưng mà nghe này, Inglés, khi đồng chí mặc váy như vậy...
- Tôi chả mặc nó bao giờ.
- Khi đồng chí mặc như thế thì có cái gì ở bên trong không? - Pablo vẫn tiếp tục cù nhầy.
- Tôi không biết người Tô Cách Lan ăn mặc ra sao - Robert Jordan nói - Tôi cũng từng tự hỏi như vậy.
- Không, không phải dân Tô Cách Lan - Pablo nói - Ai nói chuyện dân Tô Cách Lan với đồng chí bao giờ? Ai lưu tâm tới cái dân có cái tên gọi lạ như thế bao giờ? Không có tôi. Tôi cóc cần. Còn dân tộc của đồng chí. Tôi nói dân tộc của đồng chí. Ở xứ các người, các người mang cái gì ở bên trong cái váy hả?
- Tôi đã nói với đồng chí và đã lặp lại là tôi không có mặc váy. Ngay lúc say rượu cũng không nữa, ngay khi đùa cợt cũng không nữa.
- Nhưng mà dưới chiếc váy của các người kìa - Pablo nhấn mạnh - Mọi người đều biết các người mặc váy mà. Ngay cả bọn lính cũng vậy. Tôi đã thấy trong hình. Và tôi cũng thấy thật sự như vậy trong gánh xiệc. Này Inglés, các người mặc gì sau chiếc váy hả?
- Los cojones [3] - Robert Jordan nói.
Anselmo buột miệng cười, những người khác đang theo dõi câu chuyện cũng cười theo, trừ Fernando. Tiếng nói sống sượng thốt lên trước mặt bọn phụ nữ đã khiến hắn khó chịu.
- Cái đó là chuyện bình thường - Pablo nói - Nhưng mà theo tôi, trong trường hợp đó người ta không cần mặc váy nữa.
- Thôi đừng khích hắn nữa, Inglés à - Người đàn ông mặt bẹt, mũi gãy tên Primitivo nói - Hắn say nhừ rồi. Này, đồng chí nói cho tôi biết ở xứ đồng chí người ta chăn nuôi loại thú nào.
- Bò và trừu. Người ta còn trồng trọt nữa, có nhiều lúa và đậu phọng lắm. Cả củ cải đường nữa.
Ba người đàn ông vừa mới tới đã ngồi vào bàn, bên cạnh những người khác. Chỉ có mình Pablo là ngồi biệt lập với chén rượu của hắn, người ta dọn món ra gu như đêm rồi và Robert Jordan cắm đầu ăn ngon lành.
- Ở xứ đồng chí, có nhiều núi non không? Chắc là nhiều lắm hả? - Primitivo khơi chuyện một cách lịch sự. Hắn có vẻ khó chịu vì cơn say của Pablo.
- Nhiều núi lắm, và núi cao nữa.
- Và nhiều đồng cỏ xanh tốt nữa chớ hả?
- Không chê được. Những đồng cỏ bát ngát trong những khu rừng của chánh phủ. Và rồi mùa thu, người ta lùa súc vật xuống.
- Đất cát có thuộc về nông dân không?
- Phần lớn đều là sở hữu của những ai canh tác chúng. Lúc đầu, đó là sở hữu của nhà nước, một người đến lập nghiệp và chính thức canh tác có thể được xem là sở hữu chủ của một trăm năm chục mẫu.
- Đồng chí nói nghe coi - Angustin nói - Đó là một cuộc cải cách điền địa đáng kể đó.
Robert Jordan giải thích phương thức cho họ nghe. Chàng không hề nghĩ đó là một cuộc cải cách điền địa.
- Hay thiệt - Primitivo nói - Vậy thì ở xứ đồng chí có chủ nghĩa cộng sản à?
- Không. Dưới chính thể Cộng Hòa người ta thực hiện việc đó.
- Theo tôi, - Angustin nói - chuyện gì cũng thực hiện được dưới chính thể Cộng Hòa cả. Tôi không thấy một hình thức chính phủ nào tốt đẹp, cần thiết hơn.
- Ở đó không có nhiều đại nghiệp chủ lắm à? - Andrés hỏi.
- Nhiều lắm chớ.
- Vậy thì hẳn phải có những cảnh quá trớn.
- Chắc chắn rồi, có nhiều cảnh quá trớn lắm.
- Vậy các người có định san bằng chúng không?
- Mỗi ngày người ta mỗi cố gắng làm công việc đó. Nhưng những cảnh quá trớn, hà lạm vẫn còn.
Nhưng có nên phân tán những tài sản lớn lao ra không?
- Nên chớ. Nhiều người cho rằng có thể thực hiện việc đó bằng cách đánh thuế.
- Bằng cách nào?
Robert Jordan vừa dùng mẩu bánh mì quệt vào nước sốt trong chén vừa giải thích người ta đánh thuế cách nào trên lợi tức và sản nghiệp, chàng nói.
- Nhưng mà những tài sản lớn thì luôn luôn có mặt ở đấy. Ngoài ra còn thuế đánh trên đất cát nữa.
- Chắc chắn như vậy rồi, những đại nghiệp chủ và bọn giàu sụ sẽ chống lại các thứ thuê má đó không? Tôi thấy các thứ thuế đó có vẻ cách mạng lắm. Bọn họ sẽ nổi loạn với chính phủ khi họ thấy quyền lợi bị hăm dọa, đúng như bọn phát xít đã từng làm ở đây. - Primitivo nói.
- Có thể lắm chớ.
- Vậy thì các người phải chiến đấu ngay trên đất nước các người như chúng tôi chiến đấu tại đây. - Primitivo nói.
- Đúng vậy, phải chiến đấu.
- Ở xứ đồng chí, có nhiều phát xít không?
- Có nhiều người không biết chúng là phát xít, nhưng lúc cần thì họ sẽ thấy điều đó.
- Không thể tiêu diệt chúng trước khi chúng làm loạn sao?
- Không - Robert Jordan nói - Chúng tôi không thể tiêu diệt chúng được. Nhưng chúng tôi có thể hướng dẫn quần chúng để họ ghê sợ chúng, nhận diện được chúng khi chúng chường mặt ra, và đánh ngã chúng.
- Đồng chí biết ở đâu không có phát xít không? - Andrés hỏi.
- Ở đâu?
- Trong thành phố của Pablo - Andrés nói. Và hắn mỉm cười.
- Đồng chí có biết ở đó người ta làm gì không? - Primitivo hỏi Robert Jordan.
- Biết. Tôi có nghe kể.
- Pilar à?
- Ừ.
- Bà ta làm sao kể cho đồng chí được - Pablo nói bằng một giọng nhừa nhựa - Bởi vì bà ta không thấy đoạn sau cùng, bà ta đã bị ngã từ một chiếc ghế trước cánh cửa sổ mà.
- Vậy thì ông kể lại đi - Pilar nói - Bởi ông biết rõ chuyện mà, kể cho hắn nghe đi.
- Không - Pablo nói - Tôi chưa kể chuyện đó bao giờ.
- Không - Pilar nói - Và ông sẽ không bao giờ kể nó ra cả. Và bây giờ thì ông rất muốn chuyện đó đừng xảy ra bao giờ cả.
- Không - Pablo nói - Không phải vậy đâu. Nếu mọi người đều giết phát xít như tôi thì làm gì có trận giặc này. Và tôi không muốn sự việc xảy ra như đã xảy ra.
- Sao đồng chí lại nói vậy? - Primitivo hỏi hắn - Bộ đồng chí đổi lập trường rồi à?
- Không. Nhưng mà nó dã man quá - Pablo nói - Vào thời đó tôi là một thằng dã man.
- Và bây giờ ông là một thằng say. - Pilar nói.
- Đúng rồi, với sự cho phép của bà.
- Khi ông dã man tôi lại khoái ông hơn. Cái bệ rạc nhất của bọn đàn ông là nát rượu. Kẻ cắp khi hắn không ăn cắp, hắn cũng như mọi người. Cũng như ke lừa bịp khi hắn không lừa bịp trong nhà hắn. Kẻ sát nhân cũng có thể rửa tay trong nhà hắn. Nhưng mà tên say rượu thì chỉ biết có ụa mửa trên chính cái giường của hắn và hắn chỉ biết hủy hoại thân thể hắn trong rượu mà thôi.
- Bà là đàn bà, bà chẳng biết gì đâu - Pablo nói với một vẻ nhân nhượng - Tôi say rượu và tôi sẽ được hạnh phúc hơn nếu không có những kẻ đã chết dưới tay tôi. Họ luôn làm tôi buồn thảm. - Hắn ngẩng đầu lên trong một dáng vẻ ảm đạm.
- Cho hắn thêm rượu của El Sordo mang tới đi - Pilar nói - Giúp cho hắn lên tinh thân chút coi. Coi bộ hắn buồn rầu lắm rồi, thật là không chịu nổi mà.
- Nếu tôi có thể làm cho họ sống lại, tôi sẽ làm ngay.
- Dẹp đồng chí đi - Angustin nói - Vậy chớ ta đang làm gì ở đây?
- Tôi sẽ làm cho họ sống lại - Pablo buồn bã nói - Tất cả.
- Mẹ họ - Angustin hét vào mặt hắn - Đừng có nói cái giọng đó nữa hay ra khỏi nơi này. Chính là bọn phát xít mà đồng chí đã giết chớ có ai vô đây.
- Đồng chí nghe rõ chớ - Pablo nói - Tôi sẽ trả lại sự sống cho họ.
- Và sau đó, ông sẽ bước đi trên mặt nước - Pilar nói - Trong đời tôi chưa thấy ai hèn nhát như vậy. Cho tới hôm qua ông còn có chút đàn ông. Bây giờ thì không bằng con mèo bịnh. Đã vậy mà ông còn hài lòng với những lời nói nôn mửa của ông nữa chớ.
- Lẽ ra nên giết tất cả hay là không giết một ai (Pablo ngẩng đầu lên). Tất cả hay không một ai.
- Nghe đây Inglés - Angustin nói - Đồng chí đến Tây Ban Nha bằng cách nào đó. Đừng để ý tới Pablo. Hắn say rồi.
- Lần đầu tiên tôi tới đây mười hai năm trước, để tìm hiểu và học nói tiếng ở đây. Tôi dạy tiếng Tây Ban Nha trong một viện đại học.
- Đồng chí không có vẻ giáo sư chút nào. - Primitivo nói.
- Hắn không có râu - Pablo nói - Nhìn hắn kìa. Hắn không có râu.
- Đồng chí là giáo sư thật à?
- Giảng viên.
- Nhưng có dạy học không?
- Có chớ.
- Nhưng sao lại dạy tiếng Tây Ban Nha chớ? - Andrès hỏi - Dạy tiếng Anh phải dễ hơn không, bởi đồng chí là dân Anh mà?
- Hắn nói tiếng Tây Ban Nha chẳng khác gì chúng ta - Anselmo nói - Vậy thì tại sao hắn lại không dạy tiếng Tây Ban Nha được chớ?
- Phải rồi, nhưng nói cho cùng người ngoại quốc mà dạy tiếng Tây Ban Nha thì cũng hơi kỳ - Fernando nói - Không phải công kích ông đâu, Don Roberto ạ!
- Hắn là một giáo sư giả mạo - Pablo nói một cách tự mãn - Hắn không có râu.
- Chắc chắn là đồng chí giỏi tiếng Anh hơn - Fernando nói - Có phải tốt hơn, dễ hơn và bình thường hơn là đồng chí nên dạy tiếng Anh không?
- Hắn không dạy cho dân Tây Ban Nha. - Pilar lên tiếng - Hắn dạy tiếng Tây Ban Nha cho dân Mỹ, cho dân Nam Mỹ.
- Bộ họ không biết tiếng Tây Ban Nha sao? - Fernando hỏi - Dân Bắc Mỹ châu biết tiếng Tây Ban Nha mà!
- Đồ lừa - Pilar nói - Hắn dạy tiếng Tây Ban Nha cho dân Bắc Mỹ nói tiếng Anh.
- Dẫu sao tôi cũng cho rằng dạy tiếng Anh dễ cho hắn hơn, bởi vì hắn nói tiếng đó. - Fernando nói.
- Đồng chí không nghe hắn nói tiếng Tây Ban Nha à? - Pilar nhìn Robert Jordan tỏ dấu thất vọng.
- Có, nhưng hắn nói một giọng.
- Giọng ở đâu? - Robert Jordan hỏi.
- Ở Estramadure. - Fernando nói với một vẻ trang trọng.
- Ối mẹ cha ơi! - Pilar nói - Người gì tôi chẳng hiểu nổi.
- Có thể lắm - Robert Jordan nói - Tôi đã từng ở đó trước khi tới đây.
- Hắn biết rõ điều đó mà - Pilar nói - Đúng là gái già, - Bà ta quay sang Fernando - đồng chí ăn no rồi chớ hả?
- Tôi còn có thể ăn nữa nếu cần - Fernando bảo bà ta - Đừng tưởng rằng tôi muốn công kích ông nghe, Don Roberto.
- Đồ cứt đái - Angustin nói - Đồ cứt đái thật mà. Người ta làm cách mạng cái chó gì mà gọi một đồng chí là Don Roberto.
- Với tôi, cách mạng là gọi mọi người bằng Don - Fernando nói - Chính thể Cộng Hòa phải vậy chớ sao.
- Đồ cứt đái - Angustin nói - Đồ cứt đái bẩn thỉu.
- Và dầu sao tôi cũng cứ cho rằng Don Roberto dạy tiếng Anh dễ dàng và trơn tru hơn.
- Don Roberto không có râu - Pablo nói - Tôi thì tôi cho rằng cái gì cũng trơn tru, bình thường hết, trừ việc Don Roberto không có râu.
Maria đưa bàn tay lên má Robert Jordan.
- Hắn có râu chớ. - Nàng bảo Pablo.
- Dĩ nhiên là cô biết rõ rồi. - Pablo nói, và Robert Jordan nhìn hắn.
Robert Jordan nghĩ, tôi không tin hắn say. Không, hắn không say đến nỗi đâu. Và tốt hơn hết là tôi nên đề phồng.
- Này - Chàng bảo Pablo - Đồng chí tin rằng tuyết còn rơi nữa à?
- Đồng chí nghĩ sao?
- Tôi hỏi đồng chí mà.
- Hãy hỏi kẻ khác - Pablo bảo chàng - Tôi không có bổn phận lo việc thông tin cho đồng chí. Đồng chí đã có bản tin tức rồi mà! Hãy hỏi mụ đàn bà. Chính mụ ta chỉ huy.
- Tôi hỏi đồng chí.
- Hãy cút khỏi đây, đồng chí, mụ đàn bà và đứa con gái.
- Hắn say bí tỉ rồi - Primitivo nói - Đừng để ý tới, Inglés à.
- Tôi không tin hắn say đến độ đó đâu. - Robert Jordan nói.
Maria đang đúng sau lưng chàng, và Robert Jordan trông thấy đôi mắt Pablo đang nhìn chầm chập vào nàng qua vai chàng. Hắn nhìn nàng với đôi mắt nhỏ giống heo rừng, trên cái đầu bờm xờm. Và chàng nghĩ, tôi đã gặp nhiều tên sát nhân trong trận giặc này, và trước đó nữa, chúng đều khác nhau, không có điểm nào giống nhau và cũng không có một loại sát nhân nào đặc biệt, nhưng Pablo quả thật xấu xí.
- Tôi không tin đồng chí biết uống rượu - Chàng bảo Pablo - cũng không tin đồng chí say.
- Tôi say mà - Pablo nói một cách đạo mạo - Uống rượu thì chả nghĩa lý gì. Điều cần là phải say. Estoy muy borracho [4].
- Tôi nghi lắm - Robert Jordan nói - Đồng chí hèn nhát thì đúng hơn.
Bầu không khí trong hang chợt lặng im lạ thường đến nỗi người ta có thể nghe tiếng củi reo trong lò, nơi Pilar đang nấu nướng. Chàng nghe tiếng da trừu rơm rớp dưới chân chàng. Chàng tưởng chừng nghe cả tiếng tuyết rơi bên ngoài. Chàng không nghe nó rơi, nhưng chàng nghe thấy niềm im lặng trong đó nó rơi vào.
Tôi muốn giết quách hắn cho xong, Robert Jordan nghĩ. Tôi không biết hắn sắp sửa làm gì, nhưng mà không gì tốt đẹp đâu. Ngày mốt là bắt đầu đánh cầu. Con người này đã thối nát lắm rồi và chỉ gây tai họa cho mọi công việc. Nào ra tay đi một lần cho xong.
Pablo mỉm cười với chàng, đưa một ngón tay lên cổ họng. Hắn lắc đầu, đầu hắn lắc lư một cách khó khăn trên cái cổ ngắn ngủn mập bự của hắn.
- Không, Inglés à. Đừng khiêu khích tôi - Hắn nhìn Pilar và bảo bà ta - Bà đừng hòng loại tôi bằng cách đó.
- Sinverguenza [5], Robert Jordan bảo hắn, chàng đã quyết định sẵn sàng hành động. Cobarde [6].
- Có thể lắm - Pablo nói - Nhưng tôi không để bị khiêu khích đâu. Uống cái gì đi, Inglés, và hãy nói với mụ đàn bà là hỏng việc rồi.
- Câm họng đi - Robert Jordan nói - Nếu tôi khiêu khích đồng chí, đó là phần tôi thôi.
- Đồng chí chỉ mất thời giờ - Pablo bảo chàng - Tôi thì chẳng khiêu khích ai cả.
- Đồng chí là một bichro raro [7]. Robert Jordan nói, chàng không muốn bỏ rơi cũng không muốn bỏ lỡ cơ hội một lần thứ nhì, chàng thừa biết rằng trong lúc chàng nói, tất cả điều đó đã xảy ra từ trước, chàng có cảm tưởng mình đang đóng một vai tuồng thuộc nằm lòng, với tất cả những gì chàng đã từng đọc qua hay mơ tưởng tới, và tất cả đang quay mòng mòng trong đầu chàng.
- Rất hiếm lạ, đúng lắm - Pablo nói - Rất lạ và rất say sưa. Mừng sức khỏe của đồng chí - Hắn ngâm cái tách vào chậu rượu và giơ lên - Salud y cojones.
Một con chim lạ, đúng lắm, vừa tinh quái lại vừa phức tạp, Robert Jordan nghĩ thầm, chàng nghe cơn giận lắng xuống.
- Mừng sức khỏe đồng chí - Robert Jordan nói, và chàng ngâm cái tách vào hũ rượu. Chàng nghĩ nếu không có tất cả những cung cách tôn kính thì sự phản bội chẳng còn ý nghĩa gì. Vậy thì xin chúc mừng. Chàng nói, salud, salud và salud. Chàng nghĩ, salud, mày đây, salud.
- Don Roberto. - Pablo nói, giọng nhừa nhựa.
- Don Pablo. - Robert Jordan nói.
- Đồng chí không phải là giáo sư, - Pablo nói - bởi đồng chí không có râu. Và rồi để trừ khử tôi, đồng chí phải ám sát tôi, và để làm việc đó, đồng chí lại không có cojones.
Hắn nhìn Robert Jordan, miệng mím chặt, hai môi chỉ còn là đường thẳng, trông như miệng con cá, Robert Jordan nghĩ. Với cái đầu như vậy, người ta sẽ nói rằng đó là một con cá cưa đang nuốt hơi và phồng lên khi mắc câu.
- Salud Pablo - Robert Jordan nói. Chàng nâng tách và uống - Tôi học nhiều ở đồng chí.
- Tôi dạy giáo sư à? - Pablo ngẩng đầu lên - Đến đây Don Roberto, mình là bạn với nhau.
- Mình đã là bạn. - Robert Jordan nói.
- Nhưng giờ đây mình sẽ là bạn thân với nhau.
- Mình đã là bạn thân rồi.
- Tôi phải chuồn khỏi chỗ này - Angustin nói - Tai tôi nghe hết vô rồi đây.
- Cái gì bắt mày vậy hở negro [8]? - Pablo hỏi hắn - Mày không thích thấy tình bạn giữa Don Roberto với tao à?
- Coi chừng đó, đừng gọi tao là negro. - Angustin tiến về phía Pablo, đứng trước mặt hắn, hai tay đu đưa.
- Thì người ta vẫn gọi mày như thế.
- Mày không được gọi như vậy.
- Được lắm, blanco [9].
- Cũng không được nữa.
- Vậy mày là gì hở mọi dỏ?
- Ừ mọi đỏ. Rojo [10]. Với ngôi sao Hồng quân; và tao phục vụ nền Cộng Hòa. Tên tao là Angustin.
- Ái quốc dữ đa - Pablo nói - Inglés nhìn coi. Đây là một nhà ái quốc gương mẫu.
Angustin dùng mu bàn tay trái tát mạnh vào miệng hắn. Pablo vẫn ngồi yên. Khóe miệng hắn còn nhòe nhoẹt rượu, sắc mặt hắn không thay đổi, nhưng Robert Jordan quan sát thấy đôi mắt bé nhỏ của hắn trông giống như cặp con ngươi gần như sổ thẳng của một con mèo trong lớp ánh sáng chói chang.
- Không sao, - Pablo nói - đừng cậy trông gì, mụ à. - Hắn quay sang Pilar - Tôi không để bị khiêu khích đâu.
Angustin lại vung tay đánh hắn. Lần này hắn ném ra một quả đấm vào miệng, Robert Jordan ghì chặt khẩu súng lục dưới gầm bàn. Chàng đã tháo chốt an toàn và dùng tay trái đẩy Maria ra. Nàng khẽ nhích người ra một chút và chàng dùng bàn tay trái đẩy mạnh vào cạnh sườn nàng để nàng đi chỗ khác. Lần này, nàng đi thật và chàng liếc nhìn nàng lướt đi dọc theo vách tiến về phía ngọn lửa, lúc bấy giờ Robert Jordan dò xét khuôn mặt của Pablo. Người đàn ông có sọ dừa tròn quay đang ngồi nhìn Angustin bằng đôi mắt bẹt của hắn. Đôi con ngươi của hắn như thu hẹp lại. Hắn liếm môi, chùi miệng bằng lưng bàn tay rồi nhìn máu đỏ dính trên bàn tay. Hắn thè lưỡi và nhổ xuống đất.
- Không sao - Hắn nói - Tôi không ngu. Tôi không thích khiêu khích ai cả.
- Cabron. - Angustin nói.
- Mày biết rõ hơn ai - Pablo nói - Mày hiểu bà ta mà.
Angustin lại giáng một đấm vào miệng hắn thật mạnh và Pablo phá lên cười ngất, khoe những chiếc răng vàng khè bể nát, xệu xạo giữa hai làn môi dấy máu.
- Thôi đi chớ, - Pablo nói, và hắn cầm tách múc ít rượu trong hũ - không ai ở đây đủ cojones để giết được tao. Chơi tay chân thì chẳng hay ho gì.
- Đồ hèn. - Augustin nói.
- Chơi chữ cũng vậy thôi - Pablo nói, và hắn ực một ngụm rồi sức miệng bằng rượu, đoạn phun xuống đất - Tao ở trên các thứ đó.
Angustin đứng nhìn hắn và nguyền rủa hắn thậm tệ. Hắn nói bằng những tiếng chậm rãi, rõ ràng và ngạo mạn, những tiếng chửi bới nguyền rủa của hắn đều đều và liên tục bất tận như đang rải phân bón ruộng.
- Mày chửi mãi cũng vậy thôi, chẳng chết chóc ai. Thôi đi Angustin. Đừng cum tao nữa. Chỉ đau tay mày thôi.
Angustin rời khỏi hắn và bước đến gần cửa ra vào.
- Đừng đi - Pablo nói - Bên ngoài tuyết còn rơi mà. Hãy ở đây cho ấm.
- Ồ mày! Tao chán mày! - Angustin quay lại để nói với hắn, nhấn mạnh ở tiếng “mày” đầy vẻ khinh miệt.
- Ừ, tao vậy đó - Pablo nói - Tao sẽ tiếp tục sống khi mày chết nhăn răng.
Hắn lại đong đầy tách rượu và đưa về phía Robert Jordan, “Chúc mừng giáo sư”, hắn nói. Đoạn quay sang Pilar: “Chúc mừng senora commandante [11]” và đảo mắt nhìn quanh, “Chúc mừng tất cả những ai nuôi ảo tưởng”.
Angustin tiến về phía hắn và nhanh tay tát hắn, làm văng tách rượu ra khỏi bàn tay hắn.
- Phung phí quá - Pablo nói - Đồ điên.
Angustin nguyền rủa hắn bằng những lời lẽ bẩn thỉu, rác rến.
- Không - Pablo nói, vừa múc thêm một tách rượu khác từ trong hũ - Mày thấy rõ tao say mà. Khi tao không say, tao chẳng thích nói chút nào. Mày chưa thấy tao nói nhiều đến vậy. Nhưng đôi khi một người thông minh buộc lòng phải say để có thể chịu đựng bọn ngu đần.
- Ông hãy cút đi với sự hèn nhát của ông - Pilar bảo hắn - Tôi chán ngấy ông và sự hèn nhát của ông rồi.
- Mụ nói vậy thì tôi đi thăm ngựa đây.
- Đi làm trò khỉ với chúng đi - Angustin nói - Đó không là thói quen của mày à?
- Không. - Pablo nói, và hắn lắc đầu. Hắn đang gỡ chiếc áo choàng bằng vải làm mền máng trên vách, hắn nhìn Angustin nói - Coi bộ mày khoái bạo động lắm đó.
- Mày định làm gì với những con ngựa đây? - Angustin nói.
- Tao săn sóc chúng.
- Mày làm trò khỉ với chúng.
- Tao thương chúng lắm - Pablo nói - Ngay khi nhìn từ phía sau trông chúng con đẹp đẽ và tốt lành hơn bọn người này. Các người hãy vui đùa cho thỏa thích - Hắn nói và mỉm cười - Đồng chí hãy nói cho họ biết phải rút lui cách nào. Sau vụ cây cầu, đồng chí còn đưa họ đi tới đâu nữa hở Inglés? Đồng chí đưa họ đi tới đâu, những con người yêu nước của đồng chí? Suốt ngày tôi đã vừa uống rượu vừa nghĩ tới chuyện đó.
- Mày nghĩ gì? - Angustin hỏi.
- Tao nghĩ gì à? - Pablo nói, hắn cọ lưỡi vào trong đôi môi. Điều tao nghĩ, qué te importa [12]?
- Nói nghe coi.
- Nhiều điều lắm, Pablo - Hắn tròng chiếc mền lên đầu. Cái sọ tròn quay của hắn thò ra khỏi những nếp nhăn vàng vọt bẩn thỉu của chiếc mền - Tao nghĩ đến nhiều thứ lắm.
- Cái gì? Cái gì?
- Tao nghĩ rằng bọn bây là một đám người nhiễm đầy ảo tưởng - Pablo nói - Tụi bây bị xỏ mũi bởi một mụ đàn bà có bộ óc ở giữa hai đùi và một kẻ lạ mặt đến đây để tiêu diệt bọn bây.
- Thôi đi đi - Pilar hét với hắn - Thôi đi vùi đầu ngoài tuyết đi. Đưa cái máu xấu ra khỏi chỗ này, đồ mê ngựa.
- Phải nói vậy mới vừa. - Angustin nói với một vẻ vừa thán phục vừa lơ đãng. Hắn có vẻ lo âu.
- Tôi đi đây - Pablo nói - Nhưng mà tôi sẽ trở vào ngay. - Hắn vén tấm mền căng ở cửa ra vào.
Hắn đứng ngoài cửa gọi vào trong, “Tuyết còn rơi hoài, Inglés à”.
Chú thích:
[1] Không biết.
[2] Thần rượu (huyền thoại Hy Lạp).
[3] Tiếng tục: hạ bộ.
[4] Tôi say lắm đây.
[5] Phóng đãng, dâm đãng.
[6] Hèn nhát.
[7] Con vật lạ.
[8] Thằng đen.
[9] Người da trắng.
[10] Da đỏ.
[11] Bà chỉ huy trưởng.
[12] Can gì tới mày?
Chương 17
Trong hang bây giờ chỉ còn có tiếng rít từ bếp lửa khi tuyết từ cái lỗ hổng trên mái rơi xuống đám than hồng.
- Pilar à, - Fernando nói - còn ra gu không đó?
- Thôi, câm họng đi. - Người đàn bà bảo. Mặc dầu vậy, Maria vẫn lấy chén của Fernando đi đến gần cái nồi to đặt bên bếp lửa và múc đầy vào đó. Nàng đặt cái chén trên bàn và vỗ nhẹ vào vai Fernando đang cong lưng xuống để ăn. Hắn không ngước mắt. Hắn chỉ còn biết có món ra gu của hắn.
Angustin vẫn đứng bên bếp lửa. Mọi người khác đang ngồi. Pilar ngồi vào bàn, đối diện với Robert Jordan. Bà ta nói.
- Inglés, bây giờ đồng chí đã biết chuyện gì xảy ra rồi chớ?
- Hắn sắp sửa làm gì? - Robert Jordan hỏi.
- Bất luận. - Người đàn bà nhìn xuống mặt bàn - Bất luận chuyện gì. Chuyện gì hắn cũng làm được.
- Khẩu súng máy đâu rồi? - Robert Jordan hỏi.
- Kìa, trong góc, bao trong lớp mền - Primitivo nói - Đồng chí muốn lấy ra à?
- Chưa - Robert Jordan nói - Tôi muốn biết nó ở đâu mà.
- Nó ở đó - Primitivo nói - Tôi đã giấu nó trong chiếc mền của tôi cho khỏi ướt. Hộp đạn thì ở trong bao.
- Hắn không làm thế đâu - Pilar nói - Hắn không làm gì với khẩu súng máy đâu.
- Đồng chí mới bảo hắn làm được mọi sự mà.
- Đúng vậy, nhưng hắn không làm gì được với khẩu súng máy. Có lẽ hắn sẽ ném một trái bom thì đúng hơn. Đó là sở trường của hắn mà.
- Không giết hắn thì quả là ngu xuẩn và yếu hèn - Tên du mục nói, từ chiều đến giờ hắn không xen vào câu chuyện một tiếng nào - Chiều hôm qua đáng lý ra Roberto đã giết hắn.
- Giết hắn - Pilar nói, khuôn mặt bà ta trở nên âm u, mệt mỏi - Bây giờ thì tôi đồng ý.
- Trước thì tôi chống lại - Angustin nói. Hắn đang đứng bên bếp lửa, hai tay buông thõng, hai má in bóng đám râu tua tủa dưới cặp quyền sâu hóm dưới ánh lửa - Bây giờ hắn trở nên nguy hiểm rồi và hắn muốn mọi người bị hạ gục hết.
- Mọi người hãy cho ý kiến đi - Pilar nói, giọng bà ta trở nên mệt mỏi hơn - Andrés, đồng chí thấy sao?
- Matardo [1] - Một trong hai anh em có mái tóc mọc xuống trán nói, và ngẩng đầu nhìn lên.
- Còn Eladio thì sao?
- Cũng vậy - Người kia nói - Theo tôi hắn trở thành một mối nguy lớn. Và hắn chả có ích lợi gì.
- Primitivo thế nào?
- Cũng vậy.
- Còn Fernando?
- Mình không thể cầm tù hắn à? - Fernando hỏi.
- Ai giữ hắn đây? - Primitivo nói - Phải có hai người để giữ một tù binh, rồi sau cùng thì tính sao?
- Có thể bán hắn cho bọn phát xít không? - Tên du mục nói.
- Không nên làm vậy - Angustin nói - Tởm lắm.
- Đó chỉ là một ý kiến, Rafael - Tên du mục nói - Chắc bọn facciosos [2] được hắn thì sẽ khoái chí lắm.
- Thôi đi, Angustin. Tôi nghe tởm quá.
- Không tởm bằng Pablo. - Tên du mục nói để biện hộ cho ý kiến của mình.
- Một việc ghê tởm không biện minh gì được cho một chuyện ghê tởm khác - Angustin nói - Rồi, vậy là xong hết rồi. Trừ lão già và Inglés.
- Họ không liên quan gì tới việc này - Pilar nói - Hắn đâu phải là thủ lãnh của họ.
- Khoan - Fernando nói - Tôi chưa hết ý.
- Nói đi - Pilar nói - Hãy tiếp tục nói cho tới khi nào hắn quay lại, cho tới khi hắn ném một quả lựu đạn vào dưới chiếc mền kia và làm nổ tung hết nơi này. Thuốc nổ và tất cả.
- Đồng chí nói quá lời - Fernando nói - Tôi không tin hắn có những dự định tương tự.
- Tôi cũng không tin như vậy - Angustin nói - Bởi vì làm vậy hắn cũng chỉ khổ làm cho người ta chú ý hắn, và có lẽ hắn sẽ trở về trong chốc lát để uống rượu.
- Tại sao không giao hắn cho El Sordo và để El Sordo bán hắn cho bọn phát xít? - Rafael đề nghị - Mình có thể làm đui mắt hắn và lúc đó mặc tình dẫn dắt hắn.
- Câm họng đi - Pilar nói - Khi đồng chí nói như vậy, tôi lại nghĩ điều đó cũng đúng cho đồng chí nữa.
- Lại nữa, bọn phát xít khỏi phải trả một cái gì để được hắn - Primitivo nói - Lắm kẻ đã thử làm như vậy và chúng chẳng mất gì. Chúng cũng sẽ bắn đồng chí nữa.
- Hắn mà bị đui rồi, tôi tin người ta có thể đổi hắn lấy một cái gì.
- Im đi - Pilar nói - Nếu đồng chí còn nói tới việc chọc đui mắt bất luận người nào, đồng chí có thể đi cùng đường với kẻ đó được lắm.
- Nhưng mà hắn, Pablo, hắn đã chọc đui mắt thằng dân vệ bị thương đó sao - Tên du mục nhấn mạnh - Đồng chí quên rồi à?
- Câm họng đi. - Pilar nói, bà ta có vẻ khó chịu khi nghe những đề nghĩ như vậy trước Robert Jordan.
- Các đồng chí không chịu cho tôi nói hết. - Fernando ngắt lời.
- Nói hết đi - Pilar nói - Nói đi. Nói hết cho rồi đi.
- Bởi vì cầm tù Pablo không thực tế chút nào, và bởi vì giao hắn cho bọn phát xít để đổi chác thì tởm quá, - Fernando lặng lẽ tiếp lời - tôi nghĩ tốt hơn là loại hắn để những công tác dự trù đạt được kết quả tối đa.
Pilar nhìn người đàn ông nhỏ thó, bà ta gật đầu, cắn môi, không nói gì.
- Đó là ý kiến của tôi - Fernando nói - Tôi tưởng ta có quyền nghĩ rằng hắn đang gây trở ngại cho nền Cộng Hòa...
- Mẹ chúa ơi! - Pilar nói - Không ngờ là ngay ở đây người ta có thể trở thành một thứ quan liêu chỉ với cái mồm.
-.... bằng những lời nói cũng như bằng hoạt động của hắn - Fernando tiếp tục - Và nếu quả thật là người ta nên biết ơn hắn về những hoạt động ngay từ đầu phong trào cho tới những lúc gần đây thì...
Pilar quay trở về bên bếp lửa. Bà ta trở lại bàn.
- Fernando - Bà ta lặng lẽ nói vừa trao cho hắn một cái chén - Làm ơn cầm cái chén ra gu này đi, đừng ngại gì, lo cáng cho đầy họng đi và đừng nói nữa. Chúng tôi dư biết quan niệm của đồng chí rồi.
- Nhưng mà coi kìa... - Primitivo hỏi, hắn không nói hết câu.
- Estoy listo [3] - Robert Jordan nói - Tôi đã sẵn sàng. Bởi vì các đồng chí đều đồng ý với nhau về điều phải làm, đây là một công tác mà tôi có thể hoàn tất.
Cái gì bắt ta vậy, chàng nghĩ. Mải nghe Fernando nói, ta đã bắt đầu nói giọng điệu của hắn rồi đây. Đúng là bị lây cái giọng điệu đó rồi đây. Tiếng Pháp là ngôn ngữ ngoại giao. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ quan liêu.
- Không - Maria nói - Không.
- Cái đó không can gì tới em - Pilar bảo cô gái - em im đi.
- Tôi sẽ làm việc đó tối nay. - Robert Jordan nói.
Chàng trông thấy Pilar nhìn chàng, một ngón tay đặt trên môi. Bà ta quay ra cửa.
Chiếc mền nơi cửa hang vén ra và Pablo thò đầu vào. Hắn mỉm cười với tất cả mọi người, bước vào trong, quay đầu cột lại chiếc mền sau hắn. Hắn đứng đối diện với mọi người, cởi chiếc áo choàng trên đầu hắn và giũ cho tuyết rớt ra.
- Các người nói về tôi đó hả? - Hắn hỏi tất cả mọi người - Tôi làm các người mất tự nhiên hả?
Không ai trả lời hắn. Hắn máng chiếc áo choàng lên vách và đến bên bàn.
- Cái gì đó? - Hắn hỏi. Hắn cầm lên cái tách của hắn để lại khi nãy và nhúng vào hũ rượu. Hết rượu rồi, hắn bảo Maria. Ra vò lấy thêm rượu coi.
Maria bưng hũ rượu đi về phía cái vò bám đầy bụi, căng phồng và đen đủi, treo trên vách, cổ vò rượu nghiêng xuống đất. Nàng mở nút từ một cái chân. Pablo nhìn nàng đang quỳ gối xuống, nâng hũ rượu lên cao và trông chừng rượu chát chảy òng ọc vào đó.
- Coi chừng đó - Hắn nói - Bây giờ thì rượu đã cạn tới thắt lưng rồi đó.
Không ai nói gì.
- Hôm nay tôi đã uống từ rún tới bao tử đây - Pablo nói - Nhu cầu trong ngày mà. Tất cả mọi người làm sao vậy? Các người thụt lưỡi hết rồi à?
- Vặn nút lại đi, Maria - Pablo nói - Đừng để rượu chảy ra.
- Còn đủ rượu mà, đồng chí cứ chén cho say mèm đi. - Angustin nói.
- Người ta nói được rồi đây - Pablo nói, và hắn chào Angustin - Khá lắm. Tôi tưởng đồng chí bị cái gì làm cho câm rồi chớ.
- Cái gì? - Angustin hỏi.
- Việc tôi trở vào.
- Quan trọng lắm à?

Hắn đang hừng chí, Robert Jordan nghĩ. Có thể Angustin sắp sửa ra tay rồi đây. Chắc chắn là hắn thù ghét Pablo. Còn tôi, tôi không thù ghét gì hắn. Không, tôi không thù ghét gì hắn. Hắn làm tôi nản chí thì có chớ tôi không thù ghét gì hắn. Mặc dù chuyện chọc đui mắt kẻ thù đã là quái chiêu rồi. Dù sao đây cũng là cuộc chiến của họ. Trong hai ngày tới đây, hắn chẳng giúp ích được gì. Tôi sẽ đứng ngoài việc đó, chàng nghĩ. Tối nay tôi đã một lần dại dột với hắn và tôi đã quyết định thanh toán hắn. Nhưng tôi không muốn làm trò dại dột bây giờ. Sẽ không có cuộc đấu súng cũng như sẽ không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra khi tất cả thuốc nổ còn đây. Dĩ nhiên là Pablo đã biết điều đó. Còn mày, mày có biết hay không? Chàng tự hỏi chính mình. Không. Và Angustin cũng không biết. Chàng nghĩ, mày thật đáng nhận tất cả những gì có thể xảy ra cho mày.
- Angustin. - Chàng nói.
- Cái gì? - Angustin ngước mắt nhìn lên với một vẻ gắt gỏng vừa quay về phía Pablo.
- Tôi có chuyện muốn nói với đồng chí, Robert Jordan nói.
- Khoan đã.
- Bây giờ - Robert Jordan nói - Por favor [4].
Robert Jordan đã đến gần cửa ra vào và Pablo dõi mắt nhìn theo chàng. Angustin, người cao lớn với đôi má hóp, đứng dậy bước đến bên chàng. Hắn bước đi với một dáng vẻ vừa luyến tiếc vừa khinh khỉnh.
- Đồng chí quên trong mấy cái ba lô có gì à? - Robert Jordan hỏi nhỏ hắn.
- Đ.M. - Angustin nói - Tôi đã quen rồi lại quên.
- Tôi cũng quên luôn.
- Đ.M. - Angustin nói - Ngu thật - Hắn quay đi, bước đi lửng thửng về bàn và ngồi vào đó - Một ly nghe, ông bạn Pablo - Hắn nói - Mấy con ngựa ra sao rồi?
- Khá lắm - Pablo nói - Tuyết bớt rơi rồi.
- Đồng chí có tin rằng tuyết sắp hết rơi rồi không?
- Ừ - Pablo nói - Bớt rồi, chỉ còn những lọn nhỏ và cứng. Gió thì vẫn còn thổi nhưng tuyết sắp hết rồi. Gió đã đổi chiều.
- Đồng chí có tin rằng ngày mai hết tuyết không? - Robert Jordan hỏi hắn.
- Ừ - Pablo nói - Chắc trời sẽ lạnh và trong. Gió đang xoay chiều.
Robert Jordan nghĩ thầm, trông hắn kìa. Bây giờ thì hắn lại có vẻ dễ thương. Chính hắn cũng xoay chiều nhanh như gió. Mặt mày người ngợm hắn giống heo thật. Và tôi biết hắn đã giết nhiều người. Tuy nhiên hắn lại nhạy cảm như một cây phong vũ biểu loại tốt. Đúng vậy, chàng nghĩ, hắn giống như một con heo, nhưng heo cũng là một loài vật thông minh vậy. Pablo thù chúng tôi, có thể chỉ vì những dự định chúng tôi. Hắn khích ta tới cùng, với những lời nhục mạ đầy hằn học, và sau đó khi hắn biết ta sắp sửa loại bỏ hắn thì lúc đó hắn lại bỏ qua và bắt đầu lại như chưa có gì.
- Bọn ta sẽ được thời tiết tốt để làm công việc, Inglés ạ. - Pablo nói với Robert Jordan.
- Bọn ta à? - Pilar nói - Bọn ta nào?
- Ừ, bọn ta - Pablo mỉm cười với bà ta và nốc một hớp rượu - Tại sao không? Tôi đã suy nghĩ kỹ trong lúc còn ở ngoài. Tại sao bọn ta không đồng ý với nhau chớ?
- Đồng ý cái gì? - Người đàn bà hỏi - Đồng ý cái gì đây?
- Tất cả. Trong vụ cây cầu. Bây giờ thì tôi đứng về phe bà.
- Bây giờ thì đồng chí đứng về phe bọn này à? - Angustin hỏi - Sau những gì đồng chí đã nói phải không?
- Ừ, với sự thay đổi thời tiết này tôi đồng ý với đồng chí.
Angustin lắc đầu.
- Thời tiết - Hắn vừa nói vừa tiếp tục lắc đầu - Và sau những cái tát tay tôi đã tặng cho đồng chí à?
- Ừ - Pablo mỉm cười với hắn và đưa mấy ngón tay sờ môi - Sau chuyện đó nữa.
Robert Jordan dò xét Pilar. Bà ta đang nhìn Pablo như một con vật kỳ lạ. Trên khuôn mặt bà ta vẫn còn thoáng hiện những bóng tối âm u của câu chuyện móc mắt vừa rồi. Bà ta lắc đầu như để thoát ra khỏi tất cả điều đó. Bà ta bảo Pablo:
- Nghe đây ông.
- Cái gì, bà?
- Cái gì bắt ông đó?
- Không có gì cả. Tôi đổi ý. Vậy thôi.
- Ông nghe trộm từ ngoài cửa phải không?
- Ừ, nhưng tôi không nghe được cái quái gì hết.
- Ông sợ người ta giết ông hả?
- Không - Hắn nói, vừa nhìn lên miệng tách - Tôi cóc sợ chết đâu. Bà biết tôi mà.
- Vậy thì cái gì xui khiến đồng chí vậy? - Angustin nói - Trong lúc đồng chí say rượu, đồng chí chửi rủa hết thảy mọi người, đồng chí bỏ bê công việc, đồng chí nói năng một cách đê tiện về cái chết của bọn này, đồng chí nhục mạ đàn bà con gái, và đồng chí lại còn làm kỳ đà cản mũi nữa.
- Tôi say mà!
- Và bây giờ...
- Tôi hết say rồi. Và tôi đổi ý.
- Những người khác tin được đồng chí. Tôi không tin.
- Tin tôi hay không, tùy ý. Nhưng chỉ có tôi mới đưa đồng chí tới Gredos.
- Gredos?
- Sau vụ cây cầu chỉ còn cách đến đó.
Robert Jordan nhìn Pilar, giơ bàn tay ở phía khuất tầm mắt Pablo vỗ nhẹ vào tai như ngầm hỏi điều gì.
Người đàn bà gật đầu, rồi lại gật đầu lần nữa. Bà ta nói điều gì với Maria và cô gái đến bên Robert Jordan.
- Chị ấy bảo, chắc chắn là hắn đã nghe. - Maria nói nhỏ vào tai Robert Jordan.
- Vậy thì, Pablo này - Fernando nói một cách nghiêm trang - Bây giờ đồng chí theo phe bọn tôi và đồng ý vụ cây cầu phải không?
- Đúng vậy đồng chí ạ. - Pablo nói. Hắn nhìn thẳng vào mắt Fernando và gật đầu.
- Thật vậy à? - Primitivo hỏi.
- Thật vậy.
- Và đồng chí thấy liệu có thành công không? - Fernando hỏi - Bây giờ đồng chí đã tin tưởng chưa?
- Tại sao không? - Pablo nói - Còn đồng chí không tin à?
- Tin chớ. Tôi lúc nào lại không tin.
- Tôi phải ra ngoài đây. - Angustin nói.
- Bên ngoài lạnh lắm. - Pablo nói bằng một giọng thân thiện.
- Có thể - Angustin nói - Tôi không thể ở lâu trong cái manicomio này được.
- Đừng gọi cái hang này là nhà thương điên. - Fernando nói.
- Một cái manicomio với những người điên cuồng bạo - Angustin nói - Tôi rút lui trước khi trở thành điên đi mất.
Chú thích:
[1] Hãy giết nó.
[2] Phát xít.
[3] Tôi sẵn sàng.
[4] Làm ơn đi.
Chương 18
Có thể nói đó là một vòng quay trong kỳ hội chợ, Robert Jordan nghĩ thầm. Không phải là vòng quay thật nhanh theo tiếng đại phong cầm máy, với những đứa bé cỡi trên lưng những con bò cái có sừng sơn màu vàng chói, tay cầm gậy bắt vòng trong ánh sáng chập chờn của hai đốt trên đại lộ Maine sụp tối... một vòng quay dựng bên chiếc quán bán cá rán và bên một gian hàng xổ số với vòng bánh xe quay tròn, rà những cái dải bằng da của nó trên những cái ô đánh số, với những hộp đường phèn chất thành hình kim tự tháp dùng làm phần thưởng... Không, đây không phải là một vòng quay loại đó, mặc dù ở đây mọi người vẫn chờ đợi, như những người đàn ông đội mũ cát két, những người đàn bà mặc áo săng đai và để đầu trần ở những nơi đó đang nhìn bánh xe may rủi quay đều. Vâng, mọi người đủ mặt cả. Nhưng đây lại là một cái bánh xe khác. Một cái bánh xe vừa quay tròn vừa lên, xuống.
Bây giờ thì nó đã quay hết hai vòng. Đó là một cái bánh xe lớn quay tròn trên một mặt phẳng nghiêng. Mỗi lần như vậy, nó quay thành một vòng và trở lại khởi điểm. Một phía của nó cao hơn phía khác và trước hết nó đưa ta lên đoạn hạ ta xuống đúng vào chỗ cũ. Và rồi không có lô trúng chàng nghĩ, và không ai muốn bước lên bánh xe đó cả. Nhưng người ta lại ở trên đó từng hồi và người ta quay thành vòng một cách miễn cưỡng. Chỉ có một vòng hình bầu dục lên, xuống, và sau đó người ta lại trở về chỗ cũ. Chàng nghĩ, ta lại về chỗ cũ, và không có gì được giải quyết cả.
Không khí trong hang nóng bức và bên ngoài gió đã ngưng. Giờ đây chàng đã ngồi vào bàn với cuốn sổ tay trước mặt và chàng phác họa phần kỹ thuật của việc phá cầu. Chàng vẽ ba bản phác họa, đặt ra những công thức, ghi chú phương pháp thực hiện vụ nổ bằng hai bức vẽ giản lược như những bức vẽ trong các lớp mẫu giáo, để cho Anselmo có thể kết thúc được khi chàng gặp sự cố trong lúc phá cầu. Chàng hoàn tất mấy búc phác họa và bắt đầu nghiên cứu chúng.
Maria ngồi cạnh chàng, nhìn qua vai chàng. Chàng ý thức sự hiện diện của Pablo ở đầu bàn bên kia và của những người khác đang trò chuyện hoặc đánh bài. Chàng cảm nhận những mùi vị xông lên trong hang, không phải là mùi vị của bếp núc nữa, mà là những mùi vị làm nên từ khói lửa bếp, mùi da thịt đàn ông, mùi thuốc lá, mùi rượu chát và mùi ngai ngái của thân thể. Maria nhìn chàng kết thúc công việc, nàng đặt một bàn tay lên bàn, chàng cầm lấy bàn tay của nàng, đưa nó lên tận mặt chàng và hít lấy hương vị tươi thắm của nước mát và xà bông đen mà nàng dùng để rửa chén. Chàng trả bàn tay về chỗ cũ, không nhìn cô gái và vì chàng tiếp tục vùi đầu trong công việc của mình nên chàng không thấy nàng đỏ mặt. Nàng tiếp tục đặt bàn tay nơi đó, sát bên bàn tay chàng, nhưng chàng không nắm lấy nó nữa.
Chàng đã làm xong dự án về công tác phá hoại, trên một trang sổ mới chàng thảo những điều dặn dò của chàng. Tâm trí chàng trong sáng, thoải mái và chàng lấy làm hài lòng với công việc của mình. Chàng viết đầy hết hai trang giấy và chăm chú đọc lại.
Chàng nhủ thầm, tôi nghĩ như vậy là xong. Như vậy là rõ ràng lắm rồi và không thể nào có những sơ sót, khuyết điểm. Hai đồn canh sẽ bị tiêu diệt và cây cầu của bọn chúng sẽ bị nổ tung đúng theo lệnh của Golz. Đó là tất cả những gì tôi trách nhiệm. Có lẽ tôi không bao giờ nên nhúng tay vào câu chuyện của Pablo. Việc đó rồi cũng sẽ ổn thỏa, bằng cách này hay cách khác. Có mặt Pablo hay không có mặt Pablo trong công tác này, dù sao đi nữa, tôi cũng cóc cần. Nhưng mà tôi sẽ không leo lên cái bánh xe đó nữa đâu. Tôi đã leo lên đó hai lần rồi, và đã hai lần, nó quay tròn và trở về khởi điểm, còn tôi, tôi không quay tròn nữa.
Chàng gấp cuôn sổ tay lại, nhìn Maria nói:
- Hola, guapa, em có hiểu chút gì trong tất cả những điều này không?
- Không, Roberto. - Cô gái nói và nàng đặt bàn tay nàng lên bàn tay hãy con cầm cây viết chì. Xong chưa?
- Xong rồi, tất cả đều được ghi chép và tổ chức chu đáo.
- Đồng chí làm gì đó Inglés? - Pablo hỏi từ cạnh bàn bên kia. Đôi mắt hắn lại có vẻ bối rối.
Robert Jordan nhìn hắn chăm chú. Chàng nghĩ thầm tôi không ngồi lên bánh xe quay tròn nữa đâu. Đừng leo lên bánh xe. Có lẽ nó lại khởi sự quay tròn rồi đây.
- Tôi lo vụ cây cầu. - Robert Jordan lễ độ nói.
- Ra thế nào? - Pablo hỏi.
- Tốt đẹp lắm. Tất cả đều thật khả quan.
- Tôi thì lo vụ rút lui.
Robert Jordan nhìn vào đôi mắt đục ngầu vì rượu của hắn, đoạn nhìn hũ rượu hầu như đã cạn.
Chàng nghĩ thầm, tôi không leo lên bánh xe đâu. Chàng lại uống rượu. Đúng vậy. Đừng leo lên bánh xe. Người ta không bảo rằng tướng Grant đã say bí tỉ một phần lớn trong suốt thời kỳ nội chiến à? Đồng ý là hắn cũng say. Nhưng tướng Grant hẳn sẽ nổi trận lôi đình về sự so sánh này, nếu ông ta trông thấy Pablo, vả lại, tướng Grant thì hút xì gà. Có lẽ phải tìm một điếu xì gà cho Pablo. Đúng là phải thêm vào cái khuôn mặt kia một điếu xì gà trông mới được. Phải kiếm ở đâu ra điếu xì gà cho Pablo đây?
- Thế nào? - Robert Jordan lịch sự hỏi.
- Tốt đẹp - Pablo nói bằng một giọng rõ ràng vừa nặng nề hất đầu lên - Muy bien.
- Đồng chí có ý kiến gì không? - Angustin hỏi, hắn ngồi từ trong góc, đang đánh bài.
- Có - Pablo nói - Nhiều lắm.
- Đồng chí tìm thấy chúng ở đâu đó? Trong hũ rượu à? - Angustin hỏi.
- Có thể - Pablo nói - Biết đâu đó? Maria, đong đầy hũ rượu giùm tôi đi.
- Chính trong vò rượu mới có những ý kiến hay - Angustin nói tiếp tục đánh bạc - Tại sao đồng chí không chung vào đó.
- Không - Pablo trầm tĩnh nói - Tôi tìm chúng trong hũ được rồi.
Robert Jordan nghĩ, hắn cũng không thích leo lên bánh xe. Vậy thì bánh xe phải quay một mình. Tôi không tin người ta có thể ở mãi trên đó được. Cái bánh xe đó bắt buộc đưa tới cái chết. Tôi khoái chí thấy người ta không còn ngồi trên đó nữa. Nó đã từng làm tôi chóng mặt một hai lần gì đó. Nhưng chính bằng những trò tương tự mà những tên say và những kẻ vô lại hoặc hung ác quay cho tới khi chết thì thôi. Nó quay, nó lên cao và hoạt động của nó hẳn không bao giờ y như cũ, và sau đó, nó hạ thấp xuống vừa tiếp tục quay. Chàng nghĩ, nó có thể quay mãi mãi. Đừng ai hòng mang tôi lên đó. Không, ông tướng ạ. Tôi không còn ở trên chiếc bánh xe quay nữa, tướng Grant ạ!
Pilar ngồi cạnh bếp lửa, chiếc ghế kê đúng chỗ để bà ta có thể nhìn qua vai của hai người đang đánh bạc quay lưng về phía bà ta. Bà ta theo dõi cuộc chơi.
Robert Jordan nghĩ, điều kỳ lạ nhất ở đây là sự chuyển tiếp từ những khoảnh khắc phong ba hiểm nghèo tới trạng thái bình yên, ấm cúng của một đời sống gia đình thật sự. Lúc cái bánh xe quỷ quái kia hạ xuống chính là lúc nó móc lấy ta, chàng nghĩ. Nhưng mà không ai có thể đưa tôi lên đó được nữa.
Cách đây hai ngày, tôi vẫn chưa biết rằng Pilar, Pablo và những người khác có mặt ở trên đời này, chàng nghĩ. Cũng không có Maria trên đời này nữa. Lúc đó chắc hẳn là thế giới đơn sơ hơn nhiều. Tôi đã nhận từ Golz những chỉ thị thật rõ ràng và có vẻ như để thực hiện được một cách hoàn hảo mặc dù nó bày ra một vài khó khăn và lôi cuốn theo một số hậu quả. Một khi cây cầu đã bị giựt sập, hoặc tôi sẽ lên đường trở về phòng tuyến hoặc không bao giờ. Nếu vạn bất đắc dĩ mà phải trở về, tôi đã có ý định xin được sống một thời gian ở Madrid. Không có chuyện nghỉ phép trong trận giặc này. Nhưng tôi tin chắc rằng tôi có thể được hai hoặc ba ngày phép ở Madrid.
Ở Madrid, chàng nghĩ, tôi thích đi mua sách báo, đến khách sạn Florida, thuê một phòng, tắm rửa bằng nước thật nóng. Tôi sẽ sai tên gác cửa chạy đi mua một chai rượu ngải nếu hắn có thể tìm ra thứ rượu đó ở Mantequerias Leonesas hay ở bất luận nơi nào tại Gran Via, và rồi sau khi tắm xong, tôi sẽ nằm đọc, vừa uống một hoặc hai ly rượu ngải. Sau đó tôi sẽ điện thoại đến quán Gaylord để coi có thể đến ăn tối tại đó được hay không.
Chàng không thể dùng bữa tối tại Gran Via bởi vì đầu bếp ở đó không khéo tay lắm và chàng phải đến thật sớm mới có hy vọng thưởng thức các món ăn tại đây. Lại nữa, ở đó có nhiều nhà báo quá và chàng không thích phải giữ kẽ trong lời ăn tiếng nói. Chàng thích uống rượu ngải và mặc tình đấu láo. Vậy thì chàng sẽ tới quán Gaylord dùng một bữa tối thật ngon lành với Karkov, uống rượu bia thứ thiệt và thăm dò về diễn tiến của cuộc chiến.
Lần đầu tiên chàng tới Madrid, chàng không thích quán Gaylord nơi những người Nga vừa mới đến, vì nó có vẻ xa hoa quá, ở đó thức ăn có vẻ quá sang trọng so với hoàn cảnh của một thành phố bị bao vây và những câu chuyện có vẻ quá cục súc khi đang có chiến tranh. Nhưng mà mày cũng là một tên dễ bị lôi cuốn lắm, chàng nghĩ. Tại sao người ta không được ăn ngon khi vừa mới hoàn tất một công tác như thế này? Và những câu chuyện mới nghe qua lần đầu chúng có vẻ cục súc nhưng thật ra chúng chỉ nói lên bộ mặt của sự thật. Chàng nghĩ, cái vụ này mà hoàn tất thì cũng đáng mang ra kể lại tại đó lắm. Ừ, khi nó đã hoàn tất.
Có nên dẫn Maria tới quán Gaylord không đây? Không, không thể được. Nhưng chàng có thể để nàng ở lại khách sạn để nàng tắm nước nóng và chàng có thể gặp lại nàng ở đó khi từ quán Gaylord về. Vâng, chàng có thể làm vậy được. Sau đó, khi nói về nàng cho Karkov nghe xong, chàng có thể dẫn nàng đi giới thiệu với bọn họ bởi bọn họ chắc sẽ tò mò và muốn biết nàng.
Có thể chàng cũng không tới quán Gaylord nữa. Chàng có thể đi ăn thật sớm ở Gran Via và trở về khách sại Florida. Nhưng mà mày thừa biết rằng mày sẽ tới quán Gaylord bởi vì mày muốn nhìn lại tất cả ở đó, mày muốn dùng lại một lần nữa những món ăn ở đó, muốn nhìn lại tất cả cái tiện nghi và xa xỉ ở đó sau khi hoàn thành sứ mạng này. Sau đó, mày sẽ trở lại khách sạn Florida và Maria sẽ có mặt ở đó. Chắc chắn là nàng sẽ có mặt ở đó khi sứ mạng đã xong xuôi. Nếu chàng thành công trong sứ mạng này, chàng sẽ rất xứng đáng với một bữa ăn tối tại quán Gaylord.
Quán Gaylord là nơi gặp gỡ của những lãnh tụ nông dân và thợ thuyền nổi tiếng ở Tây Ban Nha, họ đã xuất thân từ quần chúng, không cần trải qua một thời kỳ huấn luyện tại một quân trường nào để có thể cầm súng ngay từ đầu cuộc chiến, và người ta khám phá ra rằng nhiều người trong bọn họ nói tiếng Nga. Vài tháng trước đây, đó chính là nỗi thất vọng lớn lao đầu tiên của chàng, và chàng đã nảy sinh ra vài ghi nhận cay đắng. Nhưng mà sau đó chàng kịp nhận ra rằng sự việc phải như vậy. Họ đúng là nông dân và thợ thuyền. Họ đã tham dự vào cuộc cách mạng năm 1934 và sau khi cách mạng thất bại, họ đã phải trốn khỏi xứ; tại Nga, người ta gởi họ vào học tại trường quân sự và viện Lénine, đặt dưới quyền điều khiển của Cộng sản Đệ Tam, để chuẩn bị những cuộc chiến đấu sắp tới và đón nhận những chỉ thị quân sự cần thiết để trở thành người chỉ huy.
Ở đó, Cộng sản Đệ Tam đã huấn luyện cho họ. Trong một cuộc cách mạng, ta không cho phép những người ủng hộ ta hoặc bất luận ai được biết hơn điều cần biết. Họ đã dạy như vậy. Nếu một điều nào đúng ngay từ nền tảng của nó, người ta có nói dối thì cũng không quan hệ gì. Nhưng mà người ta đã nói dối nhiều quá. Lúc đầu chàng không thích nói dối. Về sau chàng bắt đầu yêu thích sự nói dối. Nó bước vào vai trò của người đảng viên nhưng nơi đó có một cái dốc thật hiểm nghèo.
Chính tại quán Gaylod người ta được biết Valentin Gonzalés mệnh danh là El Campesino hay Tên Nông Dân không hề làm nông dân bao giờ mà là một cựu trung sĩ của đạo quân Lê dương Tây Ban Nha, đã từng đào ngũ và chiến đấu với Abd-el-Krim. Chuyện đó nghe cũng thật ly kỳ. Tại sao không, cần phải có những lãnh tụ nông dân sẵn sàng trong trận giặc kiểu này, và một lãnh tụ nông dân thật sự thì dễ giống Pablo lắm. Người ta không thể đợi một lãnh tụ nông dân chính hiệu ra đời. Vả chăng có thể người đó sẽ có nhiều đặc chất nông dân quá. Vậy thì phải tạo nên một người kiểu đó. Sau những gì chàng trông thấy được ở Campesino, với bộ râu đen, cặp môi dày như người da đen và đôi mắt cuồng nhiệt của hắn, Jordan tự nhủ là hắn phải khó lòng sai khiến và sử dụng chẳng khác gì một lãnh tụ nông dân chánh hiệu. Lần sau cùng chàng gặp lại hắn, hắn có vẻ như đắc chí với điều mà hắn tự quảng cáo cho mình và tưởng hắn là một nông dân chính hiệu. Đó là một con người chắc chắn và gan dạ, gan dạ không ai bằng. Nhưng mà Trời Phật ơi! Hắn lại già chuyện quá đỗi. Và khi mà hắn đã vô cơ rồi thì hắn có thể nói bất kể chuyện gì, không màng gì tới hậu quả của những điều hắn bật mí. Hậu quả thì cũng đã không vừa gì. Nhưng hắn lại tỏ ra là một người cầm binh tuyệt diệu trong những hoàn cảnh hiểm nguy tưởng đã tuyệt vọng. Hắn không bao giờ tuyệt vọng và hắn luôn luôn thoát được.
Tại quán Gaylord, chàng cũng đã gặp tên thợ hồ quèn tên là Enrique Lister ở Galice, hiện đang chỉ huy một sư đoàn và hắn cũng nói tiếng Nga. Chàng cũng gặp ở đó anh chàng thợ mộc tên Juan Modesto ở Andalousie, người ta vừa mới giao một binh chủng cho hắn chỉ huy. Hắn không học tiếng Nga ở Puerto de Santa Maria mặc dù hắn có khả năng theo học nếu ở đó có một trường Berlitz dành riêng cho thọ mộc. Trong số tất cả những quân nhân trẻ, hắn là người mà người Nga tin cậy nhiều nhất, bởi hắn là một đảng viên thật sự, một con người “trăm phần trăm”, như bọn họ vẫn bảo, với sự hãnh diện trong lối nói kiểu Mỹ này. Hắn thông minh hơn Lister El Campesino nhiều.
Vậy quán Gaylord chính là nơi ta phải đến để bổ túc kiến thức của mình. Ở đó người ta biết được tất cả mọi việc xảy ra thế nào thay vì được giả định là sẽ xảy ra. Chàng chỉ cần bắt đầu công việc giáo dục chính mình, chàng nghĩ. Chàng tự hỏi không biết chàng có được làm công việc đó lâu bền không. Quán Gaylord ngon lành và tinh khiết. Chàng chỉ cần có vậy. Lúc đầu, khi chàng còn cả tin vào tất cả những trò ngu xuẩn, quán Gaylord làm chàng khó chịu. Bây giờ chàng có chút đỉnh hiểu biết để chấp nhận sự cần thiết của tất cả những sự dối trá, và những gì chàng thu thập ở quán Gaylorđ chỉ có thể khiến chàng vững tin thêm ở những gì chàng cho là thật. Chàng bằng lòng khi được biết sự việc thật sự xảy ra cách nào chớ không phải như chúng được giả định xảy ra. Trong một cuộc chiến tranh, luôn luôn có những sự dối trá. Nhưng sự thật về Lister, Moderto, và El Campesino có giá trị hơn tất cả mọi sự dối trá và tất cả những huyền thoại. Vâng, một ngày nào đó, người ta sẽ nói lên sự thật cho tất cả mọi người. Và trong khi chờ đợi, chàng bằng lòng có được một quán Gaylord để được tùy nghi đến đó thu thập nhưng thông tin cần thiết.
Vâng, chàng sẽ đến đó một khi có mặt tại Madrid, sau khi đi mua mấy quyển sách, tắm nước nóng, uống rượu và nằm đọc được chút ít. Nhưng mà chương trình này chỉ thực hiện khi chưa có Maria kìa. Vậy thì, họ sẽ mướn hai phòng. Nàng có thể tùy nghi muốn làm gì thì làm trong khi chàng đến đó, và trên đường về từ quán Gaylord, chàng sẽ đến gặp nàng. Nàng đã chờ đợi trong trọn thời kỳ này trên những vùng đồi núi. Nàng có chờ đợi thêm chút nữa ở khách sạn Florida cũng chẳng sao. Hẳn họ sẽ được sống ba ngày tại Madrid. Ba ngày thì quá nhiều. Chàng sẽ đưa nàng đi xem bọn Marx Brothers trong phim “Một đêm ở nhà hát nhạc kịch”. Người ta chiếu phim này đã ba tháng nay rồi và dư sức chiếu trong ba tháng nữa. Nàng sẽ thích phim “Một đêm ở nhà hát nhạc kịch”. Và chàng cũng sẽ thích.
Nhưng mà quán Gaylord thì cách xa cái hang này quá. Không, đó không phải là chuyện khó khăn bực nhứt. Có xa là từ cái hang này đi tới Gaylord. Lần đầu tiên chàng đã đến đó với Kachkine, và chàng đã không lấy gì làm thích nơi đó. Kachkine nói là chàng phải gặp Karkov bởi Karkov thích quen với những người Mỹ và bởi hắn là người khoái Lope de Vega nhất; hắn cho rằng “Fuente Ovejuna” là vở kịch vĩ đại nhất từ xưa tới giờ. Có thể đúng như vậy, nhưng đó không là ý kiến của Robert Jordan.
Chàng thích Karkov, nhưng không thích chỗ đó. Karkov là người thông minh nhứt mà chàng đã gặp. Hắn mang giày ống đen dùng cưỡi ngựa và mặc quần xám áo choàng xám. Chân tay hắn ốm yếu. Mặt mày và thân thể hắn ẻo lả, bịnh hoạn, hắn có lối nói chuyện làm văng nước bọt giữa hai hàm răng hư hỏng xệu xạo của hắn. Lần đầu tiên gặp hắn, chàng thấy hắn có vẻ khôi hài. Nhưng hắn lại là người thông minh, nhiều tư cách, có tính khí ngang tàng và óc trào phúng hơn bất cứ một người nào.
Quán Gaylord tự nó có vẻ xa hoa, trụy lạc một cách quá lộ liễu, sỗ sàng. Nhưng tại sao những sứ giả của một cường quốc cai trị trên một phần sáu quả địa cầu lại không được một chút tiện nghi chớ? Lúc đầu, Robert Jordan khó chịu về tất cả những tiện nghi thừa mứa của bọn họ nhưng rồi sau cùng chàng cũng đã chấp nhận việc đó và ngay cả chính chàng cũng thích như vậy nữa.
Kachkine đã giới thiệu hắn như một mẫu người lạ thường và Karkov lúc đầu đã biểu lộ một phép lịch sự làm cho kẻ khác phải khó chịu, sau đó vì lẽ Robert Jordan không tỏ ra anh hùng chút nào mà lại kể một câu chuyện thật kỳ dị và thật thô lỗ không tốt đẹp gì cho chàng, lúc đó Karkov mới bỏ tác phong lịch sự, ăn nói vung vít, thô lỗ và sau cùng hắn trở nên xỏ lá ba que không chịu được. Sau đó họ trở thành đôi bạn.
Kachkine chỉ được dung thứ trong khung cảnh này. Chắc chắn trong quá khứ hắn có một vết đen nào đó và hắn đã có mặt tại Tây Ban Nha là để cứu chuộc mình. Người ta không cho chàng biết câu chuyện nhưng có thể người ta sẽ cho chàng biết một ngày nào đó bởi Kachkine đã chết. Dù sao Karkov và chàng đã trở thành đôi bạn, và chàng đồng thời cũng là bạn với người đàn bà kỳ lạ, da ngăm ốm yếu, mệt mỏi, tình cảm, nóng tính, chơn thật và dửng dưng, người đàn bà có thân hình hốc hác, không trang điểm, có mái tóc ngắn, hơi điểm bạc là vợ của Karkov, làm thông ngôn trong những đội thiết kỵ. Chàng còn là bạn của tình nhân Karkov, người đàn bà có đôi mắt mèo, có mái tóc màu vàng hung (hung hơn hoặc vàng hơn tùy theo người thợ làm tóc), có thân hình uể oải và đầy nhục dục (một thân hình có lẽ chỉ dùng để dán chặt vào những thân hình khác một cách khoan khoái), một chiếc miệng lúc nào cũng như chờ đợi một nụ hôn, một tâm hồn đần độn, đầy tham vọng và một mực thắng thắn. Cô tình nhân này hay ngồi lê đôi mách và lúc nào cũng dây vào những mối tình thoáng qua, điều này dường như làm cho Karkov lấy làm thích thú. Người ta bảo rằng Karkov còn một người vợ khác nữa ngoài người đàn bà của những đội thiết kỵ, nhưng không ai chắc chắn là điều này có thật hay không. Robert Jordan rất thích cả vợ hắn lẫn cô nhân tình của hắn. Chàng nghĩ, rất có thể chàng cũng thích người vợ khác kia của hắn nếu chàng được gặp nàng ta, giả dụ rằng nàng ta có thật. Karkov là một tên sành sõi về đàn bà kia mà.
Có nhiều lính canh với lưỡi lê gắn sẵn trên nòng súng ở trước quán Gaylord và đó là nơi tràn đầy an lạc của trọn thành phố Madrid đang vị vây khổn. Đêm nay chàng thích có mặt ở đó hơn là ở nơi này mặc dù giờ đây chàng đang rất thoải mái tại đây, khi mà bọn họ đã ngừng bánh xe lại. Và tuyết cũng đã ngừng rơi.
Chàng thích giới thiệu Maria với Karkov nhưng chàng không thể đưa nàng tới quán Gaylord mà không có phép, và chàng cũng cần phải biết người ta sẽ tiếp đón chàng ra sao sau sứ mạng này. Cuộc tấn công chấm dứt, Golz sẽ có mặt đó và nếu chàng thi hành công tác xuất sắc thì hẳn mọi người đều sẽ biết qua Golz. Chắc Golz sẽ không quên chế nhạo chàng về chuyện Maria sau những gì Jordan nói với hắn về vấn đề gái.
Chàng múc một tách rượu trong hũ rượu của Pablo. “Cho tôi xin”, chàng nói.
Pablo ngẩng đầu. Chắc hẳn là hắn đã sẵn sàng trong những kế hoạch quân sự của hắn, Robert Jordan nghĩ. Hắn không tìm kiếm một chiến thắng gian trá trong họng súng cà nông, nhưng tìm kiếm lối thoát cho một vấn đề nằm trong cái chén kia. Dù sao phải nhìn nhận hắn có đầy đủ khả năng để chỉ huy đám người kia một cách thành công cho tới bây giờ. Chàng nhìn Pablo, vừa tự hỏi hắn có thể là loại thủ lãnh du kích nào trong trận nội chiến tại Mỹ. Có hàng khối người loại đó, chàng nghĩ. Nhưng ta không biết nhiều về họ. Không phải là nhóm Quantrill hoặc nhóm Mosby, cũng không phải chính người ông của chàng, nhưng mà là những con người nhỏ bé, những người buôn da thú. Còn về chuyện rượu thì Grant có thật sự là người say xỉn? Ông của chàng đã xác nhận điều đó. Grant luôn luôn say rượu vào khoảng 4 giờ chiều, người nói. Khi ở Vicksburg ông ta đã say nhừ trong hai ngày trời. Nhưng ông chàng lại quả quyết rằng ông ta hành động rất mực bình thường ngay trong lúc say rượu, trừ một đôi khi người ta phải vất vả đánh thức ông ta dậy. Và khi thức dậy rồi thì ông ta rất bình thường.
Cho tới bây giờ ở khắp mọi nơi trong trận giặc này, người ta không thấy một Grant, một Sherman, hay một Stonewal Jackson. Không. Job Stuart cũng không. Sheridan cũng không nốt. Còn cỡ Mc Clellans thì đếm không hết. Bọn phát xít có rất nhiều Mc Clellans trong khi phía chúng ta thì có ít lắm là ba người như vậy.
Quả thật chàng chưa thấy ai là thiên tài quân sự trong cuộc chiến này. Không có đến một mống để làm thuốc. Một mống tàm tạm gọi là cũng chẳng có. Kleber, Lucasz và Hanz đã tỏ ra xuất sắc trong vị trí của họ trong suốt thời gian phòng thủ Madrid với những lữ đoàn quốc tế. Còn Miaja, lão già sói đầu mang kính, tự phụ, đần độn như một con cú mèo, không hở môi, gan dạ và tối đầu như một con bò mộng, lão già mà người ta tuyên truyền là kẻ bảo vệ Madrid đã ganh tị với những tiếng tăm thêu dệt quanh cái tên Kleber đến đỗi đã phải thúc giục người Nga cất chức chỉ huy của Kleber và gởi hắn tới Valence. Kleber là một quân nhân tốt, nhưng lại thiển cận và quá bép xép trong chức vụ của hắn. Golz đúng là một tướng tài, một chiến sĩ gan dạ, nhưng người ta luôn dành cho hắn một địa vị phụ thuộc và không khi nào để hắn được toàn quyền. Cuộc tấn công này chính là một sứ mạng quan trọng vào bực nhứt của hắn cho tới bây giờ, và Robert Jordan không ưa thích gì lắm về tất cả những gì liên quan tới cuộc tấn công ngày. Ngoài ra còn có Hall, người Hung Gia Lợi mà người ta tưởng đã bị bắn chết nếu chỉ tin vào phân nửa những tin đồn ở quán Gaylord. Robert Jordan nghĩ, đúng ra chỉ cần tin vào mười phần trăm thôi.
Chàng thích xem trận đánh trong đó người ta thắng bọn Ý trên vùng cao nguyên nằm ở sau Guadalajara. Nhưng lúc đó chàng đang ở Estramadure. Mười lăm ngày trước, Hans đã nói cho chàng biết điều đó tại quán Gaylord và hắn đã giải thích cho chàng nghe mọi việc. Có một lúc tình thế thật là tuyệt vọng, khi bọn Ý chọc thủng các phòng tuyến ở Trijueque. Nếu con đường từ Torija-Brihuega bị cắt đứt thì lữ đoàn thứ 12 hẳn đã bị bao vây. “Nhưng mà để đánh với bọn Ý, - Hans nói - chúng tôi đã liều thực hiện một cuộc hành binh có thể không hợp lý nếu đụng những lực lượng khác. Và cuộc hành binh thành công”.
Hans đã chỉ cho chàng biết trên những tấm bản đồ về vùng hành quân nơi diễn ra trận đánh. Hắn luôn mang chúng theo bên mình, trong cái cặp giấy của hắn, và lúc nào cũng có vẻ kinh ngạc về chuyện lạ đó. Hans là một quân nhân cừ khôi và một đồng chí tốt bụng. Hắn đã kể lại rằng những đội quân Tây Ban Nha của Lister, Modesto và Compesino đều đã chiến đấu hữu hiệu trong trận giặc này. Đó là nhờ ở tài năng và kỷ luật của những người chỉ huy. Nhưng mà Lister, Compesino và Modesto đã thực hiện phần đông những cuộc hành quân của họ căn cứ trên những chỉ thị của đám cố vấn Nga. Họ giống như những sinh viên phi công lái máy bay với hai bộ phận điều khiển, bằng cách là người huấn luyện viên có thể can thiệp trong trường hợp người sinh viên phạm sai lầm. Rốt cuộc, năm nay ta sẽ thấy những điều họ đã học được. Tới một lúc nào đó, họ không cần lái như thế nữa, và người ta sẽ thấy bằng cách nào tự tay họ, họ điều khiển được hàng sư đoàn và hàng binh chủng.
Họ là người cộng sản và họ có tinh thần kỷ luật. Thứ kỷ luật mà họ yêu sách mang lại nhiều kết quả tốt. Lister rất hung tợn trong vấn đề kỷ luật. Đó là một người cuồng tín thật sự và hắn có tất cả sự miệt thị về đời người rất thuần Tây Ban Nha. Kể từ các cuộc xâm lăng đầu tiên của dân Tartares, không có quân đội nào mà trong đó người ta bị hành hình dễ dàng như dưới sự chỉ huy của hắn. Nhưng hắn biết biến một sư đoàn thành một đơn vị thiện chiến. Giữ một địa thế là một việc. Tấn công và chiếm giữ một địa thế là một việc khác nữa, Robert Jordan nghĩ thầm, chàng đang ngồi trước bàn. Theo những gì tôi biết được về hắn, tôi tự hỏi liệu Liester hành động cách nào nếu bỏ chuyện học lái như thế. Nhưng cũng có thể người ta không bỏ. Hay là họ lại hỗ trợ thêm? Còn quan niệm của người Nga? Phải tới quán Gaylord mà thôi.
Có lúc, chàng nghĩ quán Gaylord không hợp với chàng. Nó là cái gì rất trái ngược với chủ nghĩa cộng sản khắc khổ đạo hạnh, với số nhà 63 Velasquez, đại khách sạn Madrid đã biến thành Tổng hành dinh của Lữ đoàn Quốc tế. Ở 63 Velasquez, người ta có cảm tưởng mình là tín đồ của một hệ phái tôn giáo nào đó. Bầu không khí ở quán Gaylord cũng rất xa lạ với cảm giác của chàng khi đến Tổng hành dinh của liên đội năm trước khi liên đội này giải tán để gia nhập vào những lữ đoàn thuộc quân đội mới.
Ở đó, người ta cảm thấy mình thuộc một đội thập tự quân. Đó là danh từ thích hợp nhứt dù người ta đã sử dụng hay lạm dụng nhiều đến nỗi nó không còn ý nghĩa đích thật của nó nữa. Không kể thói quan liêu, khả năng hạn chế và những tranh luận trong nội bộ đảng, ta vẫn nhận ra một cái gì giống như tình cảm ta vẫn mong đợi, nhưng không thấy, trong buổi lễ ban thánh thể đầu tiên của mình: một tình cảm bổn phận có tính cách tự nguyện đối với tất cả những kẻ bị áp bức trên thế giới chẳng khác gì một kinh nghiệm tôn giáo. Tuy nhiên tình cảm này lại chân thật giống như tình cảm ta có được lúc nghe nhạc Bach hoặc chiêm ngưỡng trong lớp ánh sáng rọi xuống từ các khung kính nhà thờ Chartres hay nhà thờ Leon, hoặc xem tranh Mantegna, Greco và Brueghel tại Prado. Nó cho phép ta tham dự vào một cái gì ta có thể đặt trọn vẹn niềm tin và ta cảm thấy mình hòa đồng hợp nhất với tất cả những tâm hồn khác cũng dấn thân vào đó bằng một tình thân ái tuyệt đối. Cho tới bây giờ tình cảm đó hãy còn xa lạ nhưng nó lại quan trọng biết bao trong khi chính cái chết của ta lại không có vẻ gì quan trọng, một cái gì ta chỉ nên lẩn tránh vì nó ngăn trở ta hoàn tất bổn phận. Nhưng điều tốt hơn hết là ta làm sao để tuân phục vào tình cảm đó và sự cần thiết đó. Để có thể chiến đấu.
Vậy thì mày đã chiến đấu, chàng nghĩ. Trong cuộc tranh đấu, tính cách thuần khiết của tình cảm sớm biến mất nơi những con người còn sống sót, những kẻ thắng trận. Trong sáu tháng, không còn lại gì. Tử thủ một địa điểm hay một thành phố là một hình thức chiến tranh trong đó người ta cảm nghiệm như vậy. Trận Sierra là trường hợp đó. Ở đó, họ đã chiến đấu trong thứ tình đồng chí thật sự của người cách mạng. Ở đó, khi phải tăng cường kỷ luật, chàng lĩnh hội và cảm nhận ngay vấn đề. Dưới áp lực của những quả đại pháo, nhiều người đã vội hoảng sợ và tìm đường lẩn trốn. Chàng đã trông thấy người ta nổ súng vào họ. Người ta đã để mặc cho xác họ sình lên bên vệ đường, không ai màng tới họ nếu không phải là để lột đạn được, giày ống, áo da của họ. Đó là công việc bình thường hợp lý. Đó là một công việc rất thực tế. Để khỏi phải nhường lại cho bọn vô chính phủ.
Bắn vào những kẻ bỏ chạy là đúng đắn và cần thiết. Không có gì sai trái trong những vụ đó cả. Họ bỏ chạy vì ích kỷ. Bọn phát xít đã tấn công và người ta đã chận bước tiến của chúng trên dốc núi thuộc vùng Guadarrama, nơi có toàn những núi đá xám với những cây thông nhỏ và bụi rậm. Quân ta đã kháng cự mãnh liệt trên con lộ dưới những trận mưa bom và sau đó dưới những quả đại pháo khi chúng kịp mang pháo binh tới. Buổi chiều, những người còn sống sót đã phản công và đẩy lui được bọn phát xít. Sau đó, khi chúng cố gắng rút xuống dưới về phía trái, vừa luồn lách giữa những đám núi đá và cây cối, chúng tôi đang chiếm đóng viện điều dưỡng, đã nã súng bắn ra từ các khung cửa sổ và từ trên mái, mặc dầu chúng đã tiến đến hai mặt, và lúc đó chúng tôi mới biết thế nào là bị bao vây, mãi cho tới khi cuộc phản công một lần nữa đẩy lui chúng ra sau con đường.
Trong suốt thời gian đó, trong cơn sợ làm khô cả mồm mép và cuống họng, trong những vụn thạch cao mịt mù và nỗi hãi hùng trước một bức tường đổ sập, cuốn theo ngọn lửa đỏ rực và tiếng gào thét của những quả đại pháo, chúng tôi lấy khẩu súng máy ra, chúng tôi kéo thây các xạ thủ bị đè bẹp đang nằm dưới những mảnh vụn, chúng tôi tháo máy nạp đạn đã hư, kéo thẳng dây đạn, nằm dài sau miếng chắn, và khẩu súng máy lại bắt đầu ria xuống con lộ; chúng tôi đã làm tất cả những gì phải làm và chúng tôi biết rằng chúng tôi có lý. Mày đã biết cảnh mồm mép khô ran, mày đã biết tới niềm phấn khích càng thuần khiết trong sự sợ hãi, tất cả do cuộc chiến đấu đem lại, và trong suốt mùa hè và mùa thu này, mày đã chiến đấu cho tất cả những con người khốn khổ trên thế giới này, chống lại tất cả những bạo quyền, mày đã chiến đấu cho tất cả những điều mày tin tưởng, cho một thế giới mới mà nền giáo dục của mày đã chuẩn bị cho mày. Chàng nghĩ, mùa thu này, mày đã biết người ta phải đau khổ và miệt thị sự đau khổ cách nào, với những ngày dài sống trong cảnh đói lạnh, ẩm ướt và lầy lội khi phải đào đất, đắp mô để chiến đấu. Và cái cảm giác của suốt một mùa hè và mùa thu đã bị vùi dập dưới những cơn mệt mỏi, buồn ngủ, nôn nóng và trong cảnh sống tù túng thiếu tiện nghi. Tuy nhiên tình cảm đó vẫn còn và tất cả những gì chúng tôi chịu đựng đã chỉ xác nhận nó mà thôi. Chàng nghĩ chính trong những ngày tháng đó, mày mới biết được niềm tự phụ sâu xa, tinh khiết và đầy lòng vị tha... niềm tự phụ chỉ có thể biến mày thành một thằng người nhảm nhí, đột nhiên chàng nghĩ như vậy, nếu mày ở quán Gaylord.
Không, ở quán Gaylord, lúc đó, mày sẽ không thoải mái đâu. Mày quá ngây thơ đó thôi. Mày đã sống trong một trạng thái ân sủng. Nhưng có thể quán Gaylord dạo đó không giống như bây giờ. Không, thật ra không phải vậy, chàng tự nhủ. Không phải vậy chút nào. Trong lúc này không có chuyện quán Gaylord.
Karkov đã từng nói với chàng về thời kỳ những người Nga đến Madrid ở tại khách sạn thành phố. Lúc bấy giờ Robert Jordan không biết chuyện. Đó là lúc trước khi thành lập những toán quân du kích đầu tiên, trước khi chàng gặp Kachkine và những người khác. Kachkine ở miền Bắc, tại Irun, thuộc Saint-Sébastien và đã từng tham dự vào những trận đánh non yểu tại Victoria. Hắn chỉ đặt chân tới Madrid vào tháng Giêng trong khi Robert Jordan chiến đấu ở Carabanchel và ở Usera trong suốt ba ngày trời khi mọi người đã chận đứng cánh phải của cuộc tấn công của bọn phát xít vào thành phố Madrid, đẩy lui bọn Maures và bọn Tercio [1] từ nhà này sang nhà khác để giải phóng vùng ngoại ô đang bị bắn phá tơi bời bên rìa vùng cao nguyên xám trải rộng dưới ánh mặt trời gay gắt, sau đó lập một tuyến phòng thủ trên cao để bảo vệ góc thành phố đó, trong khi đó Karkov đang ở Madrid.
Chính Karkov cũng không thể nói về thời kỳ này bằng một giọng trơ trẽn. Đó là thời kỳ mà mọi người ai cũng đã trải qua, thời kỳ mà tất cả dường như đã mất hết, và giờ đây mỗi người còn giữ được kỷ niệm về thái độ cùng tâm trạng của mình khi tất cả đã tiêu ma, kỷ niệm đó còn quý báu hơn cả một chiếc huy chương hay một cuộc tuyên dương công trạng. Chính phủ đã rời khỏi thành phố, mang theo tất cả những chiếc xe thuộc Bộ Chiến tranh và lão già Miaja đã phải thị sát mặt trận phòng thủ của lão bằng xe đạp.
Robert Jordan chỉ tin một cách mờ ở vào câu chuyện đó. Ngay cả với sức tưởng tượng của một người yêu nước nhứt, chàng cũng không thể nghĩ tới việc Miaja có thể đi xe đạp; tuy vậy, Karkov đã nói là chuyện đó có thật. Nhưng bởi vì hắn đã viết điều đó trên những tờ báo Nga, có thể chàng cố tin vào những bài báo của hắn.
Karkov đã kể cho chàng nghe một câu chuyện khác mà hắn không viết ra. Tại đại khách sạn có ba người Nga bị thương mà hắn có trách nhiệm săn sóc: hai người lái thiết kỵ và một phi công, cả ba đều không thể di chuyển được vì tính cách trầm trọng của vết thương. Bởi điều quan trọng nhất là đừng để lộ bằng cớ về sự ủng hộ của Nga, điều sẽ biện minh cho sự can thiệp công khai của quân phát xít, Karkov có bổn phận làm thế nào để ba người bị thương không rơi vào tay bọn phát xít trong trường hợp thành phố phải sơ tán.
Trong trường hợp sơ tán, Karkov bắt buộc phải đầu độc họ để tiêu diệt mọi bằng cớ về lai lịch của họ trước khi rồi khỏi khách sạn. Không ai nhận ra một đặc tính Nga nào trên thi thể của ba người bị thương: một người với một viên đạn ở bụng, một người mất quai hàm với những dây thanh lòi ra, người thứ ba với xương bánh chè dập nát, tay và mặt bị phỏng nặng đến nỗi khuôn mặt hắn chỉ còn là một vết thương không có lông mi, lông mày lẫn tóc. Trên những cái xác hắn bỏ lại sau hắn, trên những chiếc giường khách sạn, không ai còn nhận ra họ là người Nga nữa. Không có gì phát giác được quốc tịch hoặc đảng phái của một người chết.
Robert Jordan đã hỏi Karkov về những tình cảm của hắn trước sự cần thiết phải làm như vậy, và Karkov đã cho biết là điều đó chẳng thích thú tí nào. “Bằng cách nào đồng chí làm được?” Robert Jordan hỏi, và tiếp lời: “Đồng chí thừa biết là đầu độc liên tiếp bao nhiêu người như vậy không phải là một việc đơn giản chút nào”. Và Karkov đã nói: “Ô! Đơn giản chớ, khi người ta luôn luôn cần phải sẵn sàng thích nghi với hoàn cảnh”. Đoạn hắn mở hộp thuốc lá và chỉ cho Robert Jordan thấy vật dựng trong đó.
- Nhưng mà điều đầu tiên đồng chí phải làm khi bị bắt làm tù binh là lấy hộp thuốc lá ra - Robert Jordan nhận xét - Người ta sẽ bắt đồng chí giơ tay lên.
- Tôi cũng có chút ít ở đây - Karkov nói và vừa mỉm cười vừa lật bề trái chiếc áo choàng của hắn - Chỉ cần giữ trong miệng như vậy, cắn một cái và nuốt trọng.
- Như vậy tiện hơn nhiều - Robert Jordan nói - Này, nó có giống trái hạnh nhân đắng trong những tiểu thuyết trinh thám không?
- Tôi không biết nữa - Karkov nói thật vui vẻ - Tôi không nghe gì hết. Đồng chí có muốn mình bẻ một ống để xem chơi không.
- Tốt hơn hết đồng chí nên giữ lấy.
- Ừ. - Karkov nói vừa bỏ hộp thuốc vào túi - Đồng chí thừa hiểu rồi, nhưng luôn luôn rất có thể là ta lại gặp những trường hợp nghiêm trọng như thế và không phải ở đâu cũng tìm được món này. Đồng chí đã đọc thông cáo của mặt trận Cordoue rồi chớ? Hay lắm. Đó là bản thông cáo mà tôi thích nhất bấy giờ đó.
- Nó nói gì? - Robert Jordan đã từ mặt trận Cordue đến Madrid và chàng chợt thấy ái ngại khi nghe đùa về một đề tài mà lẽ ra chỉ có chàng là được quyền đùa - Đồng chí nói tôi nghe coi.
- Nuestra gloriosa tropa sigue avanzando sin perder ni una sola palona de terreno. - Karkov nói bằng thứ tiếng Tây Ban Nha kỳ dị của hắn.
- Không thể được. - Robert Jordan nói, chàng có vẻ nghi ngờ.
- Các toán quân anh dũng của ta tiếp tục tiến bước không bỏ lỡ một tấc đất nào - Karkov lặp lại bằng tiếng Anh. Trong thông cáo đó - Tôi sẽ tìm lại cho đồng chí xem.
Riêng mày, mày vẫn nhớ những người mà mày từng quen biết đã ngã gục trong trận đánh diễn ra quanh Pozoblanco, nhưng ở Gaylord thì đó là một đề tài đùa cợt.
Đó là không khí của quán Gaylord bây giờ. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có được một quán Gaylord, và nếu hoàn cảnh hiện tại cũng giống với hoàn cảnh đã làm nảy sinh những hiện tượng như quán Gaylord trong số những gì còn sống sót trong những ngày đầu thì nhứt định là chàng lấy làm hài lòng đã nhìn thấy quán Gaylord và được dịp biết đến nó. Mày không còn sống trong những tình cảm khi còn ở Sierra, Carabanchel và Usera, chàng nghĩ. Mày dễ bị hư hỏng thật. Nhưng đó có phải là hư hỏng hay ít ra đó có nghĩa là mày đã đánh mất đi tâm hồn ngây thơ trong sáng của những ngày đầu? Có phải tâm hồn đó vẫn như cũ trong mọi hoàn cảnh không? Vậy thì ai con giữ được sự trong sáng ban đầu mà những y sĩ trẻ, những thầy tu và những người lính trẻ thường có đủ trên bước đường khởi nghiệp của họ? Những thầy tu trẻ còn giữ nó, hoặc họ không ngần ngại từ bỏ. Chàng nghĩ, tôi tin rằng bọn phát xít cũng còn giữ nó, và cả người cộng sản nữa, với kỷ luật nội tâm nghiêm khắc của họ. Nhưng mà hãy nghĩ về Karkov.
Chàng vẫn không ngừng tra xét trường hợp Karkov. Lần sau cùng ở quán Gaylord, Karkov có vẻ hớn hở về vụ một nhà kinh tế người Anh nào đó sống nhiều năm tại Tây Ban Nha. Robert Jordan đã từng đọc qua những bài viết của người này từ lâu và chàng luôn dành cho hắn nhiều cảm tình mặc dù chưa biết mặt hắn bao giờ. Chàng không thích lắm những điều hắn viết về Tây Ban Nha. Vì chúng có vẻ sáng sủa và đơn giản quá, chúng phân minh quá, nhiều bản thống kê sai lạc vì ảo tưởng lạc quan, chàng thừa biết điều đó. Chàng nghĩ, quả thật là người ta ít để ý tới những tác phẩm viết về một xứ sở mà mình biết rõ, và chàng có thiện cảm với hắn vì những thiện ý của hắn.
Sau đó, chàng gặp hắn vào một buổi chiều trong khi xảy ra cuộc tấn công Carabanchel. Robert Jordan và các đồng chí của chàng đang ngồi trong sân đấu trường, có tiếng súng nổ vang trên hai con đường và mọi người có vẻ nóng lòng đợi cuộc tấn công. Người ta hứa với bọn chàng một chiếc xe tăng mà vẫn chưa thấy. Montero đang ngồi, hai tay ôm đầu, lặp đi lặp lại câu nói: “Chiến xa chưa tới. Chiến xa chưa tới”.
Đó là một ngày trời lạnh, một lớp bụi vàng cuốn xoáy trên mặt đường. Montero bị thương ở cánh tay trái và cánh tay phải thì trở nên cứng đơ. “Chúng ta cần một chiến xa - Hắn nói - Phải đợi chiến xa nhưng mà ta không thể đợi được nữa”. Vết thương hắn trở nên nhức nhối, khó chịu.
Robert Jordan đi tìm chiếc chiến xa. Montero nói rằng chàng có thể bị bắt sau tòa nhà lớn bên đường xe điện. Nó nằm ra đấy. Nhưng không phải là chiến xa. Vào thời đó, gặp cái gì bọn Tây Ban Nha cũng gọi là chiến xa hết. Đó là một chiếc xe bọc sắt cũ. Người lái xe không muốn rời bỏ góc tòa nhà lớn để đến sân đấu trường. Hắn đứng sau chiếc xe, hai tay khoanh trên thành kim khí, đầu đội mũ da kê lên hai tay. Khi Robert Jordan nói chuyện với hắn, hắn chỉ lắc đầu trong hai cánh tay. Sau cùng hắn quay đầu đi, không nhìn Robert Jordan.
- Tôi không có lịnh. - Hắn nói bằng một giọng cáu kỉnh.
Robert Jordan rút khẩu súng lục ra khỏi bao và kề mũi súng vào chiếc áo da của người lái xe bọc sắt.
- Đây là lịnh. - Chàng bảo hắn. Người đàn ông lắc đầu, hắn đội một chiếc nón da nặng nề bên trong có nhồi bông như nón cầu thủ bóng đá, và hắn nói: “Không có đạn cho súng máy”.
- Có đạn trong sân đấu trường - Robert Jordan bảo hắn - Nào, đi đi. Mình sẽ lắp đạn ở đó. Đi.
- Không có ai sử dụng cả.
- Hắn đâu rồi? Đồng đội của đồng chí đâu?
- Chết rồi. Hắn chết ở trong kia kìa.
- Kéo hắn ra đi - Robert Jordan bảo hắn - Kéo hắn ra khỏi chỗ đó đi.
- Tôi không muốn đụng vào đó - Người lái xe nói - Hơn nữa, hắn bị gập làm đôi, bị kẹt vào giữa khẩu súng máy và tay lái, và tôi không thể nào bước qua được.
- Đến đây, ta cùng kéo hắn ra.
Chàng bị va vào đầu trong khi leo lên chiếc xe bọc sắt và bị sướt ở trên mí mắt, máu chảy dài xuống mặt chàng. Xác chết thì nặng nề và cứng đơ đến nỗi người ta không gấp lại được, chàng đã phải vỗ mạnh vào đầu để kéo nó ra khỏi cái góc nó bị kẹt, giữa ghế ngồi và vô lăng, mặt úp xuống. Sau cùng chàng cho được đầu gối vào dưới đầu xác chết, đoạn nắm chặt chiếc áo ngắn, kéo xác chết ra khỏi cửa xe với cái đầu ra trước.
- Phụ tôi với coi nào. - Chàng bảo người lái xe.
- Tôi không thể đụng vào hắn. - Người lái xe nói và Robert Jordan trông thấy hắn khóc. Nước mắt theo hai bên mũi, chạy dài trên khuôn mặt dính đầy bụi, nước mũi hắn cũng chảy ra.
Đứng bên cửa xe, Robert Jordan kéo xác chết lúc bây giờ đã rơi xuống vệ đường, bên đường xe điện, nó vẫn cong queo, cứng đờ. Nó nằm đó, khuôn mặt xám ngắt úp xuống vỉa hè xi-măng, hai tay chấp dưới thân thể, như đang trên một chiếc xe.
- Lên đi chớ, trời ơi - Robert Jordan nói, dùng khẩu súng lục ra dấu cho người lái xe - Lên lập tức coi nào.
Chính trong lúc đó, chàng trông thấy người đàn ông bước ra từ phía sau tòa nhà. Hắn mặc một chiếc áo khoác dài, đầu trần, tóc hoa râm, lưỡng quyền rộng, hai mắt lõm sâu và gần sát với nhau. Hắn cầm trong tay một gói thuốc Chesterfield, hắn rút ra một điếu mời Robert Jordan đang dùng khẩu súng lục thúc vào hông người lái xe trên chiếc xe bọc sắt.
- Chờ chút, đồng chí - Hắn nói với Robert Jordan bằng tiếng Tây Ban Nha - Đồng chí có thể giải thích cho tôi biết chút gì về trận đánh được không?
Chàng nhận ra hắn nhờ những tấm hình chàng đã xem được. Đó là nhà kinh tế học người Anh.
- Thôi dẹp mẹ nó đi - Chàng bảo hắn bằng tiếng Anh đoạn nói với người lái xe bằng tiếng Tây Ban nha: “Đến đó. Đấu trường. Biết chưa?”. Chàng đóng sầm cửa xe lại và chiếc xe chở họ chạy dọc theo con đường dốc trong khi súng bắt đầu nã đạn tới tấp vào xe nghe như sỏi đá ném vào chiếc nồi sắt. Sau đó, khi khẩu súng máy bắt đầu khạc vào họ, họ tưởng chừng như đó là tiếng búa đập liên hồi. Đến sau đấu trường, nơi những tấm áp phích tháng Tám vẫn còn dán la liệt cạnh nơi bán vé, họ ngừng lại bên những thùng quân nhu mở toang. Những đồng chí võ trang bằng súng, với lựu đạn giắt nơi dây lưng và bỏ trong túi, đang chờ đợi họ.
Montero nói: “Tốt lắm. Thiết giáp đây rồi. Bây giờ thì ta có thể tấn công được rồi”.
Sau đó, trong đêm, khi họ đã chiếm được những ngôi nhà sau cùng trên đồi, Jordan nằm dài sảng khoái sau bức tường gạch có khoét lỗ để bắn ra, và chàng nhìn trường bắn lý tưởng trải dài từ chỗ tập họp của họ tới đường viền nơi bọn phát xít đã rút lui.
Với một niềm khoan khoái đê mê, chàng nghĩ tới ngọn đồi với những biệt thự đổ nát dùng che chở cho cánh trái của họ. Chàng nằm dài trên một đống rơm, trong bộ quần áo ướt đẫm mồ hôi, và chàng quấn mình trong một chiếc mền để lau cho khô. Nằm đó, nghĩ tới nhà kinh tế học, chàng thốt cười một mình và tiếc rẻ về sự khiếm nhã của mình. Nhưng mà trong lúc người đàn ông đưa thuốc lá cho chàng như một món buộc boa dùng đền đáp những tin tức của chàng, lúc đó niềm oán hận của kẻ chiến đấu đối với kẻ không chiến đấu có lý do nổi dậy trong lòng chàng.
Bấy giờ thì chàng nhớ quán Gaylord và Karkov khi hắn nói về người đàn ông đó với chàng: “Như vậy thì đồng chí đã gặp hắn ở đó. Tôi thì ngày hôm đó, tôi chưa đi xa khỏi Puente de Toledo. Hắn ở sát mặt trận. Đó là ngày dũng cảm sau cùng của hắn. Ngày hôm sau hắn rời Madrid. Chính tại Toledo, hắn tỏ ra là một người gan dạ nhứt, theo chỗ tôi nghĩ. Ở Toledo, hắn thật tuyệt vời. Hắn là một trong những người có công đầu trong việc chiếm Aleazar. Phải trông thấy hắn ở Toledo kìa! Tôi tin rằng nếu cuộc bao vây của chúng ta thành công, đó là nhờ những nỗ lực và chỉ dẫn của hắn. Đó là giai đoạn ngu xuẩn nhất của cuộc chiến tranh. Nó đạt tới cao độ của sự ngu xuẩn. Nhưng mà hãy nói cho tôi biết ở bên Mỹ, người ta nghĩ gì về hắn?”
- Ở bên Mỹ, - Robert Jordan nói - người ta xem hắn như là người rất mật thiết với Moscou.
- Không đúng vậy đâu - Karkov nói - Nhưng hắn có một khuôn mặt kỳ lạ, một khuôn mặt với những dáng vẻ dễ đem lại thành công cho hắn. Còn tôi thì với cái mặt chả làm nên trò trống gì. Mặt mày tôi không giúp ích gì cho tôi trong một số công việc tôi hoàn tất được, nó không biết phải làm gì để kích thích kẻ khác hoặc khiến cho họ yêu thích hay tin cậy vào tôi. Còn hắn, Mitchell, hắn có một khuôn mặt đáng đồng tiền bát gạo. Đó là khuôn mặt của tên mưu sĩ. Tất cả những ai đã đọc qua lịch sử của những tên mưu sĩ đều tin cậy vào hắn tức thì. Và rồi mưu sĩ cũng có nhiều thứ. Không bao giờ người ta thấy hắn bước vào một gian phòng mà không biết ngay rằng đó là một tên mưu sĩ hảo hạng. Tất cả những người đồng hương giàu sụ của đồng chí đã vì tình cảm, muốn giúp đỡ Liên Bang Xô Viết (mà họ tin tưởng) hoặc đón chút gió trước sự thành công có thể xảy ra của đảng, những người đó trông thấy ngay khi nhìn thấy khuôn mặt và dáng vẻ của hắn, rằng hắn chắc mẻm là một nhân viên trung thành của Cộng sản Đệ Tam.
- Hắn không có liên lạc gì với Moscou sao?
- Không, nghe đây đồng chí Jordan. Đồng chí có nghe chuyện tếu về hai hạng ngu đần chớ?
- Kẻ ngu thường tình và kẻ ngu hạnh phúc hả?
- Không. Hai hạng người ngu ở xứ Nga chúng tôi - Karkov mỉm cười và bắt đầu kể - Trước hết có hạng người ngu mùa đông. Tên ngu mùa đông thường đến trước nhà thiên hạ và đạp cửa inh ỏi. Đồng chí chỉ cần mở cửa và trông thấy hắn đứng đó, đồng chí chưa hề gặp hắn bao giờ, hắn cao lớn, mặc áo lông cừu và đội nón lông cừu, người phủ đầy tuyết. Trông hắn ngoạn mục lắm. Hắn bắt đầu dậm đôi giày ống của hắn cho tuyết rơi ra. Đoạn hắn cởi áo ra giũ và tuyết lại rơi ra. Đoạn hắn giở nón và đập vào cửa. Tuyết lại rơi ra từ chiếc nón lông cừu của hắn. Hắn lại dậm chân một lần nữa và bước vào nhà. Lúc đó đồng chí nhìn hắn và nhận ra đó là một thằng ngu. Một thằng ngu mùa đông. Nhưng vào mùa hè, đồng chí lại có một hạng người ngu khác bước ra đường vừa khoa tay múa chân vừa quay đầu sang hết phía này tới phía kia. Đứng cách xa hai trăm thước, ai ai cũng nhận ra đó là một thằng ngu. Một thằng ngu mùa hè. Nhà kinh tế học đó là một thằng ngu mùa đông.
- Nhưng tại sao ở đây lại kính nể hắn? - Robert Jordan hỏi.
- Nhờ mặt mày và mồm mép mưu sĩ của hắn cùng cái vẻ tuyệt khéo lúc nào cũng làm ra vẻ như vừa tới từ một nơi hắn được kính nể và được xem là quan trọng. Đúng vậy, - Karkov mỉm cười - hắn buộc lòng phải đi đây đi đó nhiều để tiếp tục biểu diễn cái trò đó. Đồng chí biết chớ, dân Tây Ban Nha thật là kỳ lạ. Cái chính phủ này là một chính phủ giàu. Với rất nhiều vàng. Nhưng họ lại không cho bạn hữu của họ được gì. Đồng chí là một người bạn? Tốt lắm. Đồng chí cứ hành động một cách vô vị lợi và đừng mong một sự đền đáp nào. Nhưng mà với những người đại diện cho một công ty quan trọng hay một nước không lấy gì làm thân thiện mà họ cần gây ảnh hưởng, thì họ lại ban bố rất nhiều. Nếu ta chịu quan sát kỹ thì thấy được nhiều điều hay lắm.
- Tôi không thích điều đó. Vả lại tiền bạc đó là của thợ thuyền Tây Ban Nha.
- Tôi không đòi đồng chí ưa thích mà phải hiểu vấn đề - Karkov nói - Tôi sẽ giải thích cho đồng chí về tất cả chuyện đó trong mỗi lần gặp nhau, sau cùng đồng chí sẽ nắm vững mọi sự. Đối với một giáo sư như đồng chí thì cũng nên học hỏi lắm.
- Không biết khi trở về nước tôi còn là giáo sư hay không nữa. Rất có thể người ta sẽ trục xuất tôi vì lý do thân cộng.
- Kìa, đồng chí có thể tới Liên Bang Xô Viết và tiếp tục việc dạy học ở đó. Có thể đó là giải pháp tốt nhất cho đồng chí đó.
- Nhưng phạm vi của tôi là tiếng Tây Ban Nha.
- Có nhiều nước nói tiếng Tây Ban Nha - Karkov bảo - Tất cả các nước đó không thể vất vả, khó khăn như nước Tây Ban Nha này. Và rồi đồng chí nên nhớ rằng đồng chí không còn là giáo sư từ chín tháng nay. Trong chín tháng trời, có thể đồng chí đã học được một nghề mới. Đồng chí có nghiên cứu biện chứng pháp không?
- Tôi có đọc một quyển viết về chủ nghĩa Mác của Emil Burns. Chỉ có vậy.
- Nếu đọc kỹ thì quyển đó đã là một bước đầu nho nhỏ rồi đó. Có cả thảy 1.500 trang và đồng chí có thể dừng lại một chút trên mỗi trang. Nhưng mà còn nhiều điều mà đồng chí phải đọc.
- Bây giờ tôi không có thì giờ.
- Tôi biết - Karkov nói - Tôi nói sau này kìa. Có nhiều điều phải đọc nếu người ta muốn tìm hiểu một phần nào những sự việc xảy ra. Một ngày nào đó một cuốn sách sẽ được ra đời từ những kinh nghiệm ta đang sống bây giờ. Một cuốn sách rất bổ ích sẽ giải thích tường tận những điều ta phải biết qua. Có thể tôi sẽ viết cuốn sách đó. Hy vọng rằng tôi là người viết nên cuốn sách đó.
- Tôi cũng không thấy ai hơn đồng chí.
- Đừng bốc thơm - Karkov nói - Tôi là nhà báo. Nhưng mà cũng như tất cả những người làm báo, tôi mơ làm văn chương. Hiện tôi đang bỏ hết thì giờ nghiên cứu Calvo Sotelo. Đó là một tên phát xít hảo hạng, một tên phát xít chính hiệu của Tây Ban Nha. Franco và những tên khác thì không thế. Tôi đã nghiên cứu tất cả những bài viết và những bài diễn văn của Sotelo. Hắn rất thông minh và chính vì vậy phải giết hắn.
- Tôi không tin đồng chí là người chủ trương những vụ ám sát chính trị.
- Đó là một biện pháp thông dụng, rất thông dụng là đằng khác.
- Nhưng mà...
- Chúng tôi không chủ trương những hành vi khủng bố có tính cách cá nhân - Karkov vừa nói vừa mỉm cười - Nhất là khi những hành vi đó lại được thực hiện bởi bọn sát nhân hoặc những tổ chức phản cách mạng. Chúng tôi kinh tởm sự gian xảo và dã tâm của bọn ác ôn côn đồ Bukharinít, cả bọn ăn hại của nhân loại như Zinoviev, Kamenev, Rykov và những tên dao phủ của chúng. Chúng tôi căm thù bọn người bỉ ổi đó (hắn lại mỉm cười). Nhưng mà dù sao tôi cũng có thể nói rằng ám sát chính trị là một phương sách rất thông dụng.
- Đồng chí muốn nói....
- Tôi không muốn nói gì hết. Nhưng nhứt định chúng tôi phải xử tử và thủ tiêu những nhân vật khả ố đó, những tên ăn hại, những tướng lĩnh phản bội và những tên thủy sư đề đốc khả ố mất lòng tin. Những bọn người đó, chúng tôi thủ tiêu họ. Chúng tôi đâu có ám sát họ. Đồng chí có thấy sự khác biệt không?
- Thấy. - Robert Jordan nói.
- Thỉnh thoảng tôi cũng thích đùa, và đồng chí biết đùa cợt như vậy nguy hiểm tới ngần nào chớ, dầu chỉ để cười mà thôi. Tôi đùa cợt, nhưng đừng tưởng rằng một ngày nào đó dân tộc Tây Ban Nha sẽ không bùi ngùi tiếc rẻ đã tha tội chết cho một vài tướng lãnh hiện đang giữ quyền chỉ huy. Tôi không ưa thích gì những sự trừng phạt đó cả, đồng chí hiểu bụng tôi chớ?
- Tôi không thắc mắc chuyện đó - Robert Jordan nói - Tôi không thích chuyện đó nhưng tôi không thắc mắc gì nữa.
- Tôi biết. Người ta đã nói với tôi.
- Có quan trọng lắm không? - Robert Jordan hỏi - Tôi chỉ muốn thành thật.
- Đáng tiếc - Karkov nói - Nhưng đó là một trong những lý do cho phép người ta thấy những ai đáng tin cậy nếu không thì họ phải mất nhiều thì giờ để được liệt vào hạng người đó.
- Người ta có tin cậy nơi tôi không?
- Trong công việc, đồng chí được tin cậy là người đáng tin cậy. Một ngày nào đó, tôi phải nói chuyện nhiều với đồng chí để tìm hiểu những ý nghĩ thầm kín của đồng chí. Rất tiếc là chúng ta chưa hề nói chuyện nghiêm chỉnh với nhau.
- Tư duy tôi sẽ còn bỏ lửng cho tới khi nào ta thắng trận. - Robert Jordan nói.
- Vậy thì có thể nó còn thất nghiệp lâu lắm. Nhưng tốt hơn là cho nó hoạt động một chút.
- Tôi đang đọc tờ Mundo Obrero.
- Tốt lắm. Tôi cũng là người thích đùa. Nhưng có nhiều điều thật thông minh trong Mundo Obrero. Những điều thông minh độc nhứt mà người ta đã viết được về trận giặc này.
- Vâng - Robert Jordan nói - Đồng ý. Nhưng để có được một hình ảnh đẩy đủ về tình thế, người ta không thể chỉ đọc những gì do đảng đưa ra.
- Không phải vậy. Đồng chí có đọc hai chục tờ nhật báo thì cũng vậy thôi. Vả lại, không biết đồng chí sẽ làm gì với cái hình ảnh đó. Tôi thì gần như luôn luôn có một cái nhìn cố định về loại này. Nhưng tất cả những điều tôi làm là để quên nó.
- Bộ đồng chí thấy tình hình tệ lắm sao?
- Bây giờ thì đỡ rồi. Chúng ta đã vượt qua những tình cảnh tệ hại nhứt. Nhưng sự thối nát vẫn đầy dẫy khắp mọi nơi. Vài phần tử thuộc đám người của Modesto, El Campesino Lister và Duran rất chắc chắn. Họ còn hơn cả sự chắc chắn nữa, họ tuyệt diệu. Rồi đồng chí sẽ thấy điều đó. Và rồi chúng ta luôn có binh đoàn mặc dù vai trò của chúng đã thay đổi. Nhưng một quân đội gồm những phần tử tốt và những phần tử xấu thì không thể thắng trận được. Tất cả phải đạt tới một trình độ trưởng thành nào đó về chính trị. Họ phải biết lý do và tầm quan trọng của cuộc chiến đấu của họ. Tất cả mọi người phải tin vào cuộc chiến đấu của họ và tất cả phải chấp nhận kỷ luật. Chúng tôi đã thành lạp một quân lực thật hùng hậu bằng chính sách quân dịch mà không có thì giờ đề đặt vào đó một kỷ luật cần thiết cho một quân đội loại đó để nó có thể chiến đấu thích đáng. Chúng tôi gọi đó là một quân đội nhân dân nhưng nó sẽ không có được những căn bản của một quân đội nhân dân thật sự và nó sẽ không có được một kỷ luật sắt cần thiết. Rồi đồng chí sẽ thấy. Phương sách thật là nguy hiểm.
- Hôm nay trông đồng chí không được vui lắm.
- Không - Karkov nói - Tôi vừa từ Valence về, nơi đó tôi đã gặp nhiều người. Đi Valence về thì không khi nào vui được. Tại Madrid, người ta cảm thấy mình được thoải mái, tinh khiết, và người ta không thể tưởng tượng được là mình thất bại. Valence thì khác. Những tên hèn nhát đã trốn khỏi Madrid vẫn còn đang tiếp tục cai trị dưới kia. Chúng mang nặng óc lười biếng và tinh thần quan liêu. Chúng chỉ khiến cho những người ở thành phố Madrid khinh bỉ mà thôi. Mối ám ảnh của chúng bây giờ chính là sự suy yếu của Bộ Chiến tranh. Còn Barcelone nữa. Phải trông thấy thành phố Barcelone.
- Nó ra làm sao?
- Lúc nào cũng như một vở nhạc kịch hài hước. Lúc đầu, đó là thiên đường của bọn tốc kê và bọn lãng tử làm cách mạng. Bây giờ là thiên đường của bọn lính kiểng. Những tên lính thích nghinh ngang với bộ quân phục của chúng, thích ăn tục nói phét, thích quấn khăn đen đỏ. Chúng thích tất cả mọi thứ, trừ việc chiến đấu. Valence thì đáng buồn nôn, còn Barcelone thì buồn cười chết được.
- Thế còn cuộc nổi dậy của tổ chức P.O.U.M. thì sao?
- Tổ chức P.O.U.M. thì không đứng đắn bao giờ. Đó là một thứ tà thuyết của bọn tốc kê và bọn đấu bò, thật ra đó chỉ là một trò con nít. Ở đó có những người gan dạ không được chỉ huy đúng mức. Có một bộ óc hảo hạng và một ít tiền bạc của bọn phát xít. Không nhiều. Tội nghiệp cho bọn chúng thì thôi. Nói chung thì đó là những tên thật ngu đần.
- Nhưng trong cuộc nổi loạn rất có nhiều người chết.
- Ít hơn những người bị bắn sau đó và sẽ còn bị bắn nữa. P.O.U.M. vẫn còn giữ nguyên tên hiệu của nó. Nghe không đứng đắn chút nào. Lẽ ra nên gọi nó là G.H.E.L.O. hoặc Đ.Â.U.M.U.A. Nhưng mà không. Bịnh đậu mùa nguy hiểm hơn nhiều. Nó có thể ảnh hưởng tới thị giác và thính giác. Nhưng mà đồng chí có biết bọn chúng đã âm mưu giết tôi, Walter Modesto và Prieto không? Đồng chí thấy đó, bọn chúng lầm lẫn mọi sự. Tất cả đều không có chung lập trường. Tội nghiệp cho tổ chúc P.O.U.M. Bọn chúng chưa hề giết chóc ai. Ở ngoài mặt trận cũng như ở một nơi nào khác. Tại Barcelone thì có, một vài người.
- Đồng chí đã từng ở đó rồi à?
- Đã. Tôi đã đánh về một bài báo về sự thối nát của cái tổ chúc sát nhân nổi tiếng kia, giống bọn Trốt-kít và những âm mưu đê tiện rập theo phát xít của chúng, nhưng mà giữa chúng ta với nhau thì tổ chúc P.O.U.M. không có đàng hoàng lắm đâu. Nin là người duy nhứt đáng kể của bọn chúng. Ta đã bắt được hắn nhưng hắn đã tẩu thoát.
- Bây giờ hắn ở đâu?
- Paris. Đó là một con người đầy thiện cảm, nhưng hắn lại có nhiều sai lầm về chính tri.
- Nhưng bọn chúng có tiếp xúc nhiều với bọn phát xít, có phải vậy không?
- Ai lại tránh khỏi việc đó?
- Chúng ta.
- Biết đâu. Tôi hy vọng là không. Chính đồng chí thường đi tới sau phòng tuyến của chúng - Hắn vừa nói vừa mỉm cười - Nhưng tuần rồi, anh của một viên thư ký thuộc Sứ quán Cộng Hòa tại Paris có đi Saint de Lug để gặp bọn người từ Burgos tới.
- Tôi thích mặt trận hơn. Càng gần mặt trận, người ta càng khá hơn.
- Sau các phòng tuyến của bọn phát xít, đồng chí có được toại nguyện không?
- Nhiều. Ta có nhiều người khá ở nơi đó.
- Ồ! Đồng chí cũng thừa biết là bọn chúng cũng có nhiều người khá sau các phòng tuyến của ta chớ? Nếu ta bắt được chúng và mang chúng ra bắn thì bọn chúng cũng bắt người của ta và mang ra bắn. Khi các đồng chí có mặt tại vùng của chúng, luôn luôn các đồng chí nên nghĩ tới số người mà chúng đã gởi tới vùng ta.
- Tôi có nghĩ tới điều đó.
- Tốt lắm - Karkov nói - Hôm nay chắc đồng chí đã có nhiều đề tài để nghĩ ngợi. Vậy mình uống ly bia này đi và lo chuồn bởi tôi còn phải gặp nhiều người thuộc cỡ nặng kí. Hãy trở lại ngay nhé!
Vâng, Robert Jordan nghĩ. Ở quán Gaylord người ta biết được nhiều chuyện. Karkov đã đọc mỗi một quyển sách duy nhứt mà Jordan đã xuất bản. Cuốn sách chưa phải là một thành công. Nó vỏn vẹn có 200 trang và có thể không được hai ngàn độc giả. Jordan đã đem vào cuốn sách đó tất cả những gì chàng khám phá được tại Tây Ban Nha trong mười năm đi khắp đó đây bằng chân, bằng toa xe lửa hạng ba, bằng xe buýt, bằng ngựa, bằng la, bằng xe bò. Chàng biết rõ xứ Basque, cả miền Navarra, Aragon, Galice, Castilles và Estramadure. Borrow, Ford và nhiều người khác đã viết nên hàng khối sách hay mà chàng không cần phải thêm vào điều gì hơn nữa. Nhưng mà Karkov đã bảo là cuốn sách của chàng tốt.
- Chính vì vậy mà tôi quan tâm tới đồng chí - Hắn nói thêm - Tôi thấy đồng chí viết bằng một cách tuyệt đối chính xác và đó là điều hiếm có. Vì vậy mà tôi muốn đồng chí biết qua một vài điều.
Vậy thì chàng sẽ viết một cuốn sách khác nữa khi cuốn này xong, vẫn chỉ với những điều mà chàng đã mắt thấy tai nghe. Chàng nghĩ, nhưng để có thể diễn tả đầy đủ tất cả, có lẽ tôi phải là một nhà văn lớn. Bởi những điều chàng thu thập học hỏi được trong cuộc chiến này không đơn giản chút nào.
Chú thích:
[1] Binh đoàn ba.
Chương 19
Anh làm gì đó? - Maria hỏi. Nàng đang đứng bên chàng. Chàng quay đầu nhìn nàng, mỉm cười.
- Không - Chàng nói - Anh suy nghĩ.
- Về cái gì? Cây cầu à?
- Không. Cây cầu thì xong rồi. Anh đang nghĩ tới em và tới một khách sạn tại Madrid, nơi có những người Nga mà anh quen biết, cũng như tới một cuốn sách mà một ngày nào đó anh sẽ viết.
- Ở Madrid có nhiều người Nga lắm à?
- Không đâu. Ít lắm.
- Nhưng trên những tờ nhật báo phát xít, người ta nói có tới hàng trăm ngàn người đó sao.
- Láo. Rất ít thôi em à.
- Anh thích bọn Nga không? Người đàn ông nọ đã từng có mặt ở đây có phải là người Nga không anh?
- Em thích hắn không?
- Thích. Hôm đó em bị bịnh và em thấy hắn thật đẹp trai và thật gan dạ.
- Thật đẹp trai, đồ ngốc - Pilar nói - Hắn có mũi bẹt ra như bàn tay và lưỡng quyền bự như hai mông đít con trừu.
- Đó là một người bạn rất thân của anh, hắn còn là một đồng chí - Robert Jordan nói với Maria - Anh thương hắn lắm.
- Chắc chắn rồi - Pilar nói - Nhưng mà đồng chí đã giết hắn.
Nghe câu này, ba người đàn ông đang đánh bài ngẩng đầu lên và Pablo nhìn Robert Jordan. Không ai nói gì nhưng trong khoảnh khắc sau đó, Rafael, tên du mục, lên tiếng hỏi.
- Có đúng vậy không, Roberto?
- Đúng vậy. - Robert Jordan nói, chàng tiếc rẻ vì Pila đã nói ra chuyện đó, chàng tiếc rẻ đã kể điều đó tại nhà El Sordo. Theo lời yêu cầu của hắn vì lúc đó hắn bị thương nặng.
- Qué cosa mas rara [1] - Tên du mục nói - Lúc nào ở bên cạnh chúng tôi hắn cũng nói tới việc đó. Không biết bao nhiêu lần tôi hứa với hắn là sẽ làm việc đó. Lạ thật. - Hắn vừa nói vừa ngẩng đầu lên.
- Đó là một người kỳ lạ - Primitivo nói - Một người thật đặc biệt.
- Này, Andrès - Một trong hai anh em nói - đồng chí là giáo sư đồng thời là tất cả các thứ, đồng chí có tin rằng người ta có thể biết được tương lai cùng tất cả những việc sẽ xảy đến cho mình không?

- Tôi chắc chắn rằng không. - Robert Jordan nói. Pablo nhìn chàng kinh ngạc, và Pilar thì nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của chàng, về chuyện anh chàng đồng chí người Nga, hắn ta trở nên nóng nảy khi ở mãi ngoài mặt trận. Hắn đã chiến đấu ở Iran, nơi mà các đồng chí thừa biết là tình trạng thật xấu xa, tệ hại. Thật tệ hại. Sau đó, hắn chiến đấu tại miền Bắc. Và tiếp theo, khi những bộ đội đầu tiên làm việc sau phòng tuyến được thành lập, hắn làm việc tại đây, tại Estramadure và tại Andalousie. Tôi nghĩ hắn phải mệt mỏi, căng thắng và hắn phải nghĩ tới nhiều điều ghê gớm.
- Chắc chắn là hắn đã thấy lắm chuyện hãi hùng. - Fernando nói.
- Như tất cả mọi người - Andrès nói - Nhưng mà nghe này ông đồng chí người Anh. Đồng chí có tin rằng người ta biết trước được chuyện sắp xảy ra cho mình không?
- Không - Robert Jordan nói - Đó là chuyện ngu si, mê tín.
- Cứ tiếp tục - Pilar nói - Ta hãy nghe quan điểm của giáo sư. - Bà ta nói như đang nói với một chú nhóc con.
- Tôi cho rằng sự sợ hãi đã gây cho hắn những ảo tưởng hãi hùng - Robert Jordan nói - Khi hắn trông thấy những điềm xấu...
- Như những chiếc phi cơ bay trong ngày hôm nay hả? - Primitivo nói.
- Như việc đồng chí tới đây, từ cạnh bàn bên kia. - Pablo nói, giọng nhẹ nhàng. Robert Jordan nhìn hắn và nhận ra đó không phải là một lời khiêu khích, nhưng là một ý kiến đơn giản. Chàng tiếp tục:

- Khi trông thấy những điềm xấu thì kẻ nhát gan mường tượng ra ngay cái chết của mình và hắn xem những điều hắn tưởng tượng ra chính là những linh cảm. Tôi tin tất cả là như vậy. Tôi không tin chuyện chằn tinh, chuyện thần thánh cũng như tất cả những sự việc phi thường. - Robe Jordan kết luận.
- Nhưng mà anh chàng có cái tên kỳ lạ kia, hắn thấy rõ những gì đang chờ đợi hắn - Tên du mục nói - Và sự việc đã xảy ra đúng như vậy.
- Hắn không thấy điều đó đâu - Robert Jordan nói - Hắn sợ chết và cái chết trở thành một ám ảnh. Không ai có thể tự hào thấy trước bất luận chuyện gì.
- Kể cả tôi nữa à? - Pilar hỏi chàng. Bà ta nhặt một mớ tro vào trong lòng bàn tay và thổi cho nó bay đi. Kể cả tôi cũng không thể tự hào về điều đó à?
- Không, dù cho với tất cả những trò phù thủy của đồng chí, thuộc dân du mục hay thuộc những giống dân nào khác nữa, đồng chí cũng không thể tự hào về điều đó được.
- Bởi đồng chí là cái thứ điếc không sợ súng - Pilar nói, khuôn mặt bà ta hiện rõ dưới ánh của những ngọn đèn cầy, mập bự và dữ dằn. Không phải vì đồng chí là thằng ngu. Đồng chí chỉ điếc mà thôi. Một thằng điếc không thể nghe âm nhạc được. Hắn cũng không thể nghe radio nữa. Vậy vì không nghe thấy những điều đó, vì hắn chẳng hề nghe thấy những điều đó bao giờ, hắn tưởng tất cả những chuyện đó không có. Qué va, Inglés. Tôi đã từng thấy cái chết của người thanh niên có cái tên kỳ lạ đó hiện rõ lên mặt hắn, như thể nó đã được hằn lên đó bắng một thanh sắt đỏ.
- Đồng chí chẳng thấy gì về điều đó cả - Robert Jordan quả quyết - Đồng chí đã thấy sự sợ hãi và sự lo ngại, sự sợ hãi đến từ những kinh nghiệm hắn đã trải qua, sự lo ngại đến từ những chuyện khủng khiếp mà hắn nghĩ tới.
- Qué va - Pilar nói - Tôi đã trông thấy cái chết đó, rõ ràng như nó đang đè nặng lên vai hắn. Và hơn thế nữa, chính hắn cảm thấy cái chết.
- Hắn cảm thấy cái chết - Robert Jordan lặp lại bằng một giọng nhạo báng - Sự sợ hãi thì có thể. Có một mùi vị sợ hãi.

- De la muete [2], nghe đây này - Pilar nói - Khi còn làm việc theo lịnh của Granero, Blanquet, một peón de brega [3] xuất sắc từ nào tới giờ đã kể với tôi rằng, vào cái ngày Manolo Granero chết, khi họ dừng chân bên nhà nguyện trước khi tới sân đấu trường, thì mùi vị của cái chết nó mãnh liệt trên người Manolo đến nỗi Blanquet muốn phát bịnh. Và hắn đã tháp tùng theo Manolo trong khi hắn tắm rửa, mặc quần áo tại khách sạn trước khi lên đường tới đấu trường. Khi mọi người chen chúc lên xe để tới quảng trường thì không còn ai nghe mùi vị đó nữa, ngoài Juan Luis de la Rosa, cả Marcial, cả Chicuelo cũng không nghe thấy gì, và cả bọn họ nữa khi ra đứng thành hàng cũng không nghe thấy gì. Nhưng mà Juan Luis lúc bấy giờ trông như chết rồi, Blanquet đã kể lại với tôi, và lúc bấy giờ Blanquet bảo hắn: “Anh cũng vậy nữa à?”.
- Muốn nghẹt thở - Juan Luis bảo hắn - Nó đến từ tên đấu bò của anh đó.
- Pues nada - Blanquet nói - Chả làm gì được. Hy vọng rằng chúng ta lầm lẫn.
- Còn những người khác? - Juan Luis hỏi Blanquet.
- Nada - Blanquet nói - Chẳng làm gì được. Nhưng mà tay này toát mùi còn hơn thằng José ở Talavera nữa.
Và chính buổi xế chiều hôm đó, con bò mộng Pocapen thuộc trại Veraqua đã húc Manolo Granero ngã vào bờ rào, trước tendido [4] nhì, tại Plaza de Toros ở Madrid. Tôi có mặt ở đó với Finito và tôi đã trông thấy hắn. Chiếc sừng cày nát ngướu sọ của Manolo bị tấn dưới cái barrera [5], dưới sức đẩy của con bò mộng.
- Nhưng đồng chí có nghe thấy gì không? - Fernando hỏi.
- Không - Pilar nói - Tôi ở quá xa. Tôi ở hàng ghế thứ bảy của tendido ba. Ở đó tôi thấy mọi sự việc xảy ra. Nhưng ngay vào buổi chiều hôm đó, Blanquet, người thuộc quyền sai khiến của Joselito khi chính hắn cũng bị giết, đã kể lạ việc đó cho Finito nghe tại nhà Fornos, và Finito đã hỏi chuyện Juan Luis de la Rosa trong khi tên này chả muốn nói gì hết. Hắn chỉ gật đầu xác nhận là sự việc có thật. Tôi ở đó. Vậy thì Inglés ạ, có thể đồng chí bịt tai nhắm mắt trước nhiều chuyện như Chicuelo, Marcial Lalanda, tất cả những tay đấu bò và những tay kỵ thủ của họ cùng tất cả đám người của Juan Luis và Manolo Granero đã từng bịt tai nhắm mắt. Nhưng mà Juan Luis và Blanquet thì không điếc chút nào. Tôi cũng vậy, tôi không bịt tai nhắm mắt trước những chuyện đó.
- Tại sao bảo rằng điếc khi đây là chuyện mùi vị? - Fernando nói.
- Leche [6], chính đồng chí phải thay chức giáo sư của Inglés mới đúng. Nhưng tôi còn có thể kể nhiều điều nữa Inglés ạ, và đồng chí đừng nghi ngờ về tất cả những điều gì mà người ta không thể thấy hoặc nghe được. Đồng chí không thể nghe như một con chó nghe, hoặc cảm giác như một con chó cảm giác. Nhưng mà dù sao đồng chí cũng có một ít hy vọng về tất cả những gì có thể xảy ra cho một người.
Maria đặt một bàn tay lên vai Robert Jordan và để yên nơi đấy. Chàng thốt nghĩ: hãy chấm dứt ở những trò nhảm nhí này và lợi dụng thì giờ còn lại. Nhưng còn sớm chán. Phải tiêu pha buổi chiều còn lại. Chàng hỏi Pablo:
- Còn đồng chí, đồng chí có tin những chuyện bùa chú đó không?
- Không biết - Pablo nói - Có lẽ tôi đồng ý với đồng chí hơn. Tôi không thể thấy chuyện gì phi thường xảy ra cho tôi cả. Sợ thì có, chắc rồi. Nhưng tôi tin rằng Pilar có thể đọc được tương lai trong lòng bàn tay. Nếu bà ta không nói dối thì có thể là bà ta đã nghe thấy cái mùi vị đó rồi.
- Sao, tôi nói dối à? Không phải tôi đặt điều ra đâu. Tên Blanquet kia là một người đàn ông rất mực đàng hoàng, lại nữa, hắn rất ngoan đạo. Hắn không phải là một tên du mục mà là một tên trưởng giả tại Valence, đồng chí chưa hề gặp hắn à?
- Gặp rồi - Robert Jordan nói - Tôi gặp hắn thường lắm. Hắn nhỏ người, da xám, không ai sử dụng tấm vải giỏi như hắn. Hắn chạy lẹ như thỏ.
- Đúng - Pilar nói - Hắn có nước da xám vì hắn đau tim, và bọn du mục bảo hắn mang cái chết trong người hắn, nhưng hắn có thể đuổi nó đi bằng tấm vải của hắn như người ta phủi bụi trên bàn vậy. Tuy vậy, dầu không là dân du mục, hắn cũng nghe thấy mùi vị cái chết phảng phất trên người Joselito tại Talavera. Ngoài ra tôi không hiểu bằng cách nào hắn có thể nghe được cái mùi vị đó rõ hơn mùi vị của rượu manzanilla. Sau cùng, Blanquet đã chỉ tiết lộ điều đó với rất nhiều ngừng ngập và những ai từng nghe hắn tiết lộ thì bảo rằng đó là một ý nghĩ và hắn đã chỉ linh cảm được đoạn đời của José trong giai đoạn đó, phát hiện cùng với mồ hôi toát ra dưới đôi cánh tay của hắn. Nhưng mà rồi sau đó, đến chuyện của Manolo Granero và Juan Luis de la Rosa nữa. Điều chắc chắn, Juan Luis là một người rất ít danh giá, nhưng hắn say mê công việc và hắn lại là một anh chàng đào hoa có hạng, còn Blanquet thì rất đạo mạo, rất trầm lặng và tuyệt đối không bao giờ nói dối. Và tôi thì tôi cho đồng chí biết là tôi đã nghe thấy cái chết của ông bạn của đồng chí lúc bấy giờ có mặt tại đây.

- Tôi không tin - Robert Jordan nói - Lại nữa, đồng chí bảo rằng Blanquet đã cảm thấy điều đó đúng vào lúc sắp sửa vào cuộc đấu. Nhưng tại đây, đồng chí và Kachkine đã thành công trong vụ đánh xe lửa. Hắn không chết ở đó. Vậy bằng cách nào đồng chí thấy trước được điều đó.
- Chả hề hấn gì - Pilar giải thích - Trong mùa đấu sau cùng của Sanchez Mejias. Cái chết hiện rõ nơi hắn đến đỗi nhiều người không dám ngồi chung bàn với hắn trong quán cà phê. Tất cả mọi người du mục đều biết điều đó.
- Khi hắn chết rồi thì người ta thêu dệt những điều đó - Robert Jordan cắt ngang - Mọi người đều biết rằng Sanchez Mejias dễ bị sừng húc bởi lâu ngày hắn không tập dượt, lối biểu diễn của hắn nặng nề và nguy hiểm, bởi sức lực và sự nhanh nhẹn của đôi chân không còn nữa và bởi phản xạ của hắn không như xưa.
- Chắc rồi - Pilar nói - Tất cả điều đó đều đúng. Nhưng mọi người dân du mục đều thấy trước cái chết của hắn và khi hắn bước vào Villa Rosa, người ta thấy nhiều người như Ricardo và Felipe Gonsalez chuồn mất bằng cánh cửa nhỏ sau quán.
- Có thể họ thiếu tiền hắn thì sao? - Robert Jordan hỏi.
- Bà ta nói đúng đó, Inglés à - Rafael, tên du mục nói - Tụi này ai cũng biết.
- Tôi không tin chút nào. - Robert Jordan nói.
- Nghe đây, Inglés - Anselmo bắt đầu lên tiếng - Tôi chống mọi trò phù thủy kia. Nhưng mà Pilar nổi tiếng là tiến bộ trong loại đó.
- Nhưng bằng cách nào cảm thấy nó được chớ? - Fernando nói - Người ta nghe thấy gì? Nếu nó có mùi vị thì đó phải là mùi vị rõ ràng mới được chớ.
- Đồng chí muốn biết không, Fernando? - Pilar vừa nói vừa mỉm cười với hắn.
- Nếu có thì tại sao tôi không thấy như người khác.
- Tại sao không? - Pilar trêu hắn, hai bày tay bà ta chấp trên hai gối - Đồng chí chưa bao giờ xuống một chiếc tàu sao, Fernando?
- Chưa. Và tôi cũng không muốn xuống đó làm gì?
- Vậy thì có thể đồng chí không nhận ra nó. Bởi một phần, đó là mùi vị đến từ một chiếc tàu khi có bão tố và khi các cửa sổ trên thành tàu đã đóng lại. Hãy dán mũi vào nắm cửa bằng đồng trên một cánh cửa sổ đóng chặt, trên một chiếc tàu đang lảo đảo dưới chân đồng chí, làm cho đồng chí phải buồn nôn, với một cái lỗ bọng trong dạ dày, lúc đó đồng chí sẽ biết được một phần mùi vị đó.
- Tôi sẽ không nhận ra nó bởi tôi sẽ không bao giờ bước chân xuống một chiếc tàu. - Fernando nói.
- Tôi thì đã nhiều lần bước xuống tàu - Pilar nói - Để đi Mễ Tây Cơ và Venezuela.
- Còn phần còn lại của mùi vị đó thì sao, nó ra làm sao? - Robert Jordan hỏi.
Pilar lúc bấy giờ đang hồi tưởng những cuộc phiêu lưu của bà ta một cách kiêu hãnh, bà ta ném vào Jordan một cái nhìn mỉa mai.

- Được rồi, Inglés ạ. Hãy học. Phải thế mới được. Hãy học. Được rồi. Sau cái mùi vị dưới tàu kia, buổi sáng sớm, phải bước vào lò sát sinh ở cầu Toledo, Madrid, và dừng chân trên lớp đá ướt, khi sương mù đùn lên từ Manzanares, và đợi những mụ già sẽ tới trước bình minh để uống máu những con vật bị thọc huyết. Và khi một trong những mụ già đó bước ra khỏi lò sát sinh, quấn mình trong chiếc khăn với với một khuôn mặt xám ngắt, đôi mắt sâu hoắm và những cọng râu của tuổi già mọc dưới cằm, trên má của mụ ta, thứ râu mọc từ lớp da mặt trắng bệch giống như những mầm non nảy ra từ một hột đậu phọng, không phải là lông, mà là những mầm nhợt nhạt mọc trên khuôn mặt đầy sự chết chóc, lúc đó đồng chí hãy ôm chật lấy mụ ta, ghì mạnh mụ ta vào lòng mình, hôn lên miệng mụ ta và đồng chí sẽ biết tới cái phần còn lại của mùi vị đó.
- Cái đó làm tôi ăn mất cả ngon. - Tên du mục nói, những cái mầm thì quá đáng.
- Đồng chí muốn biết rõ hơn không? - Pilar hỏi Robert Jordan.
- Muốn - Chàng nói - Bởi phải học cơ mà.
- Những cái mầm mọc trên mặt các mụ già làm tôi phát ớn - Tên du mục nói - Tại sao lại có chuyện đó nơi các mụ già hở Pilar? Với tụi tôi đâu có chuyện đó.
- Không... - Pilar nói, giọng chế nhạo - Ở xứ chúng tôi, đàn bà thường rất mảnh dẻ lúc trẻ, dĩ nhiên là trừ cái bầu kinh niên mà họ mang trước bụng, đặc ân của các ông chồng mang tới...
- Đừng nói như vậy - Rafael bảo - Nghe gớm quá.
- Đồng chí khó chịu à - Pilar nói - Đồng chí chưa bao giờ trông thấy một người đàn bà du mục gần tới ngày sanh hay vừa mới sanh xong à?
- Đồng chí chớ còn ai.
- Nhờ đồng chí tí - Pilar nói - Không ai tránh khỏi điều đó. Điều tôi muốn nói là tuổi tác làm cho mọi người trở nên xấu xí đi. Khỏi phải đi vào chi tiết, làm gì. Nhưng mà nếu ông Inglés phải học nghe cái mùi vị mà ông ta nóng lòng muốn nhận ra kia, ông ta phải vào lò sát sinh vào buổi sáng sớm.
- Tôi sẽ đi - Robert Jordan nói - Tôi sẽ biết được cái mùi vị đó khi các mụ già nọ đi qua, khỏi phải hôn họ làm gì. Tôi cũng sợ những cái mầm đó như Rafael vậy.
- Hãy hôn một mụ - Pilar nói - Hãy hôn một mụ mới biết được, Inglés ạ! Và rồi, với cái mùi đó trong mũi, đồng chí trông thấy một cái thùng rác với cánh hoa ủng thối, hãy cho đầu vào đó và hít vào để mùi hương đó trộn lẫn với những mùi đã có sẵn trong mũi đồng chí.
- Đồng ý - Robert Jordan nói - Những cánh hoa nào đó?
- Cúc.
- Nói tiếp đi. Tôi cảm nhận được mùi hương của chúng rồi đấy.
- Rồi thì, vào một ngày mùa thu có mưa hay ít ra có sương mù, hoặc một ngày chớm đông, đồng chí phải tiếp tục đi bộ trong thành phố và trong Calle de Salud để nghe cái mùi mà đồng chí từng nghe khi người ta quét dọn các cascul de putas [7] khi người ta trút các chậu nước vào cống, với cái mùi xác thịt chán chường trộn lẫn với mùi dìu dịu của nước xà bông và mùi thuốc lá, với cái mùi đó thoáng qua mũi đồng chí, đồng chí phải vào vườn Botanico, nơi mà ban đêm, các chị em ta không thể hành nghề tại nhà đành phải đi kiếm khách bên những song sắt của công viên và trên vỉa hè. Chính nơi đó, trong bóng tối của cây cối, sát bên những song sắt, họ thỏa mãn mọi thèm muốn của người đàn ông, từ những đòi hỏi đơn giản nhất với giá 10 centimos, tới một peseta trả cho cái tác động linh thiêng đó. Tại đó, trên thảm hoa héo úa làm cho mặt đất trở nên êm ái hơn, êm ái hơn vỉa hè rất nhiều, đồng chí sẽ bắt gặp một cái túi vải người ta bỏ lại, với mùi đất ướt, mùi hoa héo và mùi của những gì xảy ra trong đêm đó. Trong cái túi đó, sẽ có đầy đủ bản tính của mọi sự, của đất bị chà xéo, của những cành hoa chết với những cánh hoa ung thối, và đó là mùi của sự chết chóc đồng thời lại là mùi sinh nở của con người. Đồng chí sẽ cho đầu vào chiếc túi đó và thử hít lấy bầu không khí trong đó.
- Không được đâu.
- Được chớ - Pilar nói - Đồng chí sẽ cho đầu vào trong túi và thử thở trong đó, sau đó nếu đồng chí vẫn còn giữ lại tất cả những mùi vị trước trong khi đồng chí thở vào thật mạnh, lúc đó đồng chí sẽ biết được mùi vị của cái chết sắp tới như chúng tôi đã từng biết.
- Được rồi - Robert Jordan nói - Và đồng chí bảo rằng Kachkine đã từng có cái mùi đó khi hắn ở đây à?
- Ừ.
- Vậy thì, - Robert Jordan nói bằng một giọng trầm trọng - trong trường hợp đó tôi giết hắn là phải rồi.
- Olé - Tên du mục nói - Đồng ý - Mọi người cùng phá lên cười.
- Được lắm - Primitivo biểu đồng tình - Cho bà ta hết nói lôi thôi.
- Nào, Pilar này - Fernando nói - Đồng chí không nghĩ rằng một người có học thức như Don Roberto lại có thể làm được những việc gớm ghiếc đó sao?
- Không. - Pilar nhìn nhận.
- Những chuyện đó nghe thật tởm.
- Đúng. - Pilar nhìn nhận.
- Quả thật đồng chí không nghĩ rằng chàng ta sẽ làm những việc đê tiện đó chớ?
- Không - Pilar nói - Thôi đồng chí đi ngủ đi chớ?
- Nhưng mà Pilar này. - Fernando vẫn tiếp tục lải nhải.

- Câm họng đi nghe không? - Pilar nói, nghiêm sắc mặt lại. Đừng có ngốc quá và tôi thì tôi sẽ cố tránh những điều xuẩn ngốc khi nói với những người không thể hiểu kẻ khác nói gì.
- Tôi thú thật không hiểu. - Fernando nói.
- Đừng thú thật cũng đừng cố hiểu làm gì. - Pilar nói - Có phải tuyết vẫn rơi đó không?
Robert Jordan bước ra cửa hang, vén màn nhìn ra ngoài. Đêm sáng và lạnh, tuyết không còn rơi nữa. Chàng nhìn tuyết trắng phủ những thân cây, đoạn ngước mắt nhìn lên bầu trời giờ đây đã sáng tỏ. Khí lạnh thâm sâu vào ngực chàng, lạnh như cắt.
El Sordo sắp để lại nhiều dấu vết nếu đêm nay ông trộm ngựa.
Chàng buông màn và trở vào cái hang hun khói.
- Trời đẹp - Chàng nói - Đã hết bão rồi.
Chú thích:
[1] Chuyện lạ quá.
[2] Của cái chết.
[3] Trợ thủ.
[4] Bậc nhiều từng để ngồi.
[5] Hàng rào.
[6] Sữa (Tiếng chửi).
[7] Ổ điếm.
Chương 20
Trong đêm tối, chàng đợi cô gái đến. Trời lặng gió, những rừng thông im lìm. Nhưng thân cây mọc lên từ những thảm tuyết dày. Chàng nằm trong túi ngủ và cảm thấy êm ái trên chiếc giường do chính chàng tự tay làm, khí lạnh vây phủ trên đầu và trong mũi chàng. Chàng nằm nghiêng, gối đầu trên chiếc ba lô gồm có đôi giày quấn tròn trong chiếc quần dài và chiếc áo vét dùng làm gối, chạm vào cạnh sườn chàng là chất kim khí lạnh lẽo của khẩu súng lục mà chàng đã tháo ra khỏi bao trong lúc cởi đồ và cột dính vào cổ tay bằng sợi dây súng. Chàng gạt khẩu súng sang một bên, và thò tay vào sâu trong bao, trong khi hai mắt vẫn chăm chăm nhìn qua đám tuyết cái kẽ hở tối đen giữa hai tảng đá, lối vào hang. Bầu trời trong xanh và ánh sáng phản chiếu trên tuyết vừa đủ để người ta có thể phân biệt được những thân cây và những tảng đá quanh hang.
Ban chiều, chàng đã xách búa bước ra khỏi hang, dẫm tuyết đi thẳng tới bìa rừng, đốn một cây tùng nhỏ. Trong bóng đêm, chàng đã kéo nó tới dưới chân vách đá. Chàng dựng đứng thân cây dậy và chặt sạch các nhánh, đoạn, cành lá chất đống nơi đó, chàng đặt thân cây trần trụi nằm trên lớp tuyết và trở vào hang lấy tấm ván dựng bên vách. Chàng dùng tấm ván gạt tuyết dưới vách đá, đoạn lượm những cành lá, giũ cho tuyết rơi xuống, xếp chúng thành hàng chất chồng lên nhau như những chiếc lò so, để làm thành một cái giường. Chàng đặt thân cây nằm ngang ở dưới chân chiếc giường lá đó để giữ cho những nhánh cây nằm ở chỗ cũ. Chàng giữ chặt nó lại với hai miếng cây nhọn chặt từ bìa tấm ván. Sau đó chàng trở vào hang, đặt chiếc búa  và tấm ván bên vách.
- Đồng chí làm gì bên ngoài vậy? - Pilar hỏi.
- Làm một cái giường.
- Đừng bửa cái tủ kệ của tôi mà làm giường đó nghe.
- Rất tiếc.
- Chả sao - Bà ta nói - Hãy còn nhiều tám ván ở trại cưa. Đồng chí làm giường ra sao đó?
- Như ở xứ tôi.
- Vậy thì vào đó mà ngủ đi. - Bà ta nói. Robert Jordan lấy ra cái túi ngủ từ một trong hai cái ba lô, xếp đặt lại đồ đạc trong ba lô, đoạn trở ra ngoài với cái túi ngủ, vừa cúi đầu để bước qua tấm mền. Chàng trải cái túi ngủ trên những nhánh cây, đầu bít đặt trên thân cây cột chặt vào chân giường, đầu hở đặt sát bên vách đá. Chàng lại trở vào hang để lấy mấy cái ba lô, nhưng Pilar bảo chàng. Chúng có thể ngủ với tôi mà, như hôm qua vậy.
- Đồng chí không đặt người canh à? - Chàng hỏi - Đêm tối trời và bão tuyết hết rồi.
- Có Fernando. - Pilar nói.
Maria đang ở cuối hang. Jordan không trông thấy nàng.
- Chào hết thảy mọi người - Chàng nói - Tôi đi ngủ đây.
Từ trong đám người đang tém dẹp bàn ghế sang một bên để trải chăn gối sửa soạn chỗ ngủ, Primitivo và Andrès ngẩng đầu lên nói “Buenas noches” [1].
Anselmo đã ngủ từ lúc vào trong góc, người quấn tròn kín mít trong chiếc áo choàng và trong cái chăn của lão, Pablo thì ngủ trên ghế.
- Đồng chí có cần một lớp da trừu trải trên giường không? - Pilar hỏi chàng, giọng dịu dàng.
- Không. Cám ơn. Không cần.
- Ngủ ngon nhé - Bà ta bảo hắn - Tôi sẽ lo giữ những vật liệu của đồng chí.

Fernando cùng bước ra ngoài với chàng. Hắn đứng lại giây phút nơi Robert Jordan trải rộng cái túi ngủ ra.
- Sao lại có ý nghĩ ngủ ngoài trời lạ vậy, Don Roberto. - Hắn nói, đứng yên trong bóng tối, người quấn trong chiếc áo choàng, khẩu các bin chĩa thẳng trên vai.
- Quen rồi. Chào đồng chí.
- À! Khi mà đồng chí quen rồi.
- Bao giờ thay phiên?
- Bốn giờ.
- Ở đó sẽ lạnh lắm nghe!
- Quen rồi. - Fernando nói.
- À! Khi mà đồng chí quen rồi. - Robert Jordan trả lời một cách lễ độ.
- Ừ - Fernando nói - Bây giờ tôi phải lên trên đó. Ngủ ngon nghe, Don Roberto.
- Chào Fernando.
Đoạn Robert Jordan lấy quần áo quấn thành chiếc gối, chui vào túi ngủ và bắt đầu nằm đợi. Chàng cảm thấy những nhánh cây êm ái dưới hơi ấm nồng nàn của cái túi ngủ. Chàng nằm đó, chờ đợi, tim đập mạnh, hai mắt nhìn chăm chăm về phía cửa hang ở bên kia vùng tuyết trắng.
Đêm trong sáng, đầu óc chàng cũng sáng rực và lạnh lẽo như bầu không khí bên ngoài. Chàng ngủi mùi hương của những nhánh tùng, những lá thông khô và chất nhựa hăng nồng rỉ ra từ những cành cây bị chặt. Pilar, chàng nghĩ. Pilar và mùi vị cái chết. Còn tôi, tôi thích cái mùi hương này ở tại đây. Mùi hương này cùng với cỏ tươi mới cắt, mùi cây từ bi bị dập nát dưới chân ngựa tôi lúc tôi đuổi đàn bò, mùi khói từ những lửa củi và mùi lá mùa thu đốt lên. Mùi hương này, mùi hương của những làn khói bay lên từ những đống lá khô gom thành hàng dọc theo các con đường tại Missoula, vào mùa thu, hẳn đó là mùi vị của nhớ nhung. Mày thích mùi gì hơn cả? Mùi cỏ tươi ngon đựng trong những chiếc thúng của bọn da đỏ? Mùi da ám khói? Mùi đất ẩm vào mùa xuân sau một trận mưa rào? Mùi nước biển thoảng lại khi người ta tiến về một mũi đất tại Galice, xuyên qua những bụi rậm? Hay mùi hương trong gió từ đất liền thổi tới khi người ta tiến gần tới Cuba trong đêm tối? Đó là mùi của đám xương rồng đang đơm bông, những cây mimosa và những loài rong biển. Hay là mày thích mùi giăm bông chiên vào buổi sáng khi bụng đói? Hoặc mùi cà phê buổi điểm tâm? Hoặc của một trái táo cắn lút răng? Hoặc mùi rượu mới ép? Hoặc mùi bánh mì vừa mới ra lò? Mày phát đói bụng rồi đó, chàng nhủ thầm. Chàng nằm nghiêng sang một bên, nhìn về phía cửa hang, dưới ánh sáng của những vì sao bị khúc xạ trong tuyết.
Một người đàn ông bước ra từ sau tấm màn và chàng nhận ra một bóng người đứng bên khe đá. Chàng nghe có tiếng sột soạt trên tuyết. Kế đó bóng người đàn ông cúi xuống và trở vào trong.

Có lẽ nàng sẽ không tới trước khi mọi người đã đi ngủ, chàng nghĩ. Rõ phí thì giờ, đêm đã trôi qua đến một nửa. Ôi, Maria. Đến mau lên, Maria, chúng ta không có nhiều thì giờ. Chàng nghe tiếng động êm ái của tuyết từ trên một cành cây rơi xuống mặt đất trắng xóa. Gió thoảng tới. Chàng nghe gió thoảng qua mặt mình. Một niềm xao xuyến bất chợt xâm chiếm lấy chàng trong ý nghĩ nàng không thể đến được. Gió nổi lên, nhắc chàng nhớ rằng không còn bao lâu nữa bình minh ló dạng. Tuyết vẫn cứ rơi từ những cành cây trong tiếng gió lay động trên những ngọn thông.
- Đến đi, Maria. Anh van em, đến mau lên, chàng nhủ thầm. Ô, đến đi, đến ngay bây giờ đi. Còn đợi gì nữa. Không cần gì phải đợi cho tới khi bọn họ đi ngủ.
Rồi thì chàng trông thấy nàng vén màn bước ra khỏi cửa hang. Nàng đứng đó một hồi. Chàng nhận ra nàng ngay, nhưng chàng không thể biết được nàng đang làm gì. Chàng huýt sáo thật nhỏ. Nàng vẫn đứng trước cửa hang, bận làm điều gì trong bóng tối của vách đá mà chàng không biết được. Đoạn nàng vừa đi vừa chạy, nàng ôm món đồ gì trong hai tay. Chàng trông thấy nàng chạy trên cặp giò dài xuyên qua đám tuyết. Và nàng đến, quỳ gối bên cái túi ngủ, đâu nàng kề sát vào đầu chàng, nàng phủi lớp tuyết dính trên hai bàn chân. Nàng hôn chàng và trao cho chàng cái bọc.
- Đặt cái này bên cái gối của anh - Nàng nói - Em lấy tất cả để khỏi mất thì giờ.
- Em đi chân không trên tuyết đến đây à!
- Dạ. - Nàng nói - Và với độc cái áo cô dâu trên người.
Chàng siết chặt nàng trong đôi cánh tay, và nàng vùi đầu dưới cằm chàng.
- Đừng đụng vào chân em - Nàng nói - Chân em lạ lắm, Roberto.
- Đặt chúng vào đây cho ấm.
- Không - Nàng nói - Chúng sẽ ấm sau mà. Bây giờ hãy nói anh yêu em nhanh lên đi.
- Anh yêu em.
- Tuyệt, ồ! Tuyệt làm sao.
- Anh yêu em, dê con của anh.
- Anh có thích chiếc áo cô dâu của em không?
- Vẫn chiếc áo đó?
- Đúng, vẫn chiếc áo chiều hôm qua. Đây là áo cưới của em.
- Đặt chân em vào đây.
- Ồ! Không, không cần đâu, anh. Tự chúng cũng ấm được rồi. Em không thấy lạnh. Chúng chỉ lạnh với anh thôi; vì tuyết. Nói nữa đi anh.
- Anh yêu em, dê con của anh.
- Em cũng yêu anh và em là vợ anh.
- Bọn họ ngủ rồi hả em?
- Chưa. Nhưng em không thể đợi lâu hơn được. Quan trọng gì hở anh?
- Không quan trọng gì - Chàng nói và chàng ôm sát vào lòng chàng thân hình mảnh khảnh, nóng hổi và mềm dịu của nàng - Không còn gì quan trọng nữa em ạ!
- Đặt tay lên đầu em đi anh - Nàng nói - rồi để em xem thử có biết hôn anh không. Được không anh? - Nàng hỏi.
- Được - Chàng nói - Em cởi chiếc áo cô dâu của em đi.
- Phải cởi hả anh?
- Ừ, nếu em không lạnh.
- Sao, lạnh à. Em nóng ran là đàng khác.
- Anh cũng vậy. Nhưng sau đó, em sẽ không lạnh chớ?
- Không. Sau đó em sẽ như một con thú trong rừng và ta gần nhau đến đỗi không ai có thể nói rằng mình là mình mà không là người kia. Anh không thấy rằng tim em là tim anh sao?
- Không. Không có sự khác biệt nào.
- Anh là em và tất cả những gì của em là của anh hết. Em yêu anh, ồ, em yêu anh vô cùng. Ta không phải là một sao anh? Anh không thấy điều đó à?
- Thấy chớ. Đúng như vậy đó em.
- Bây giờ thì anh nghe đây. Anh không có trái tim nào khác ngoài trái tim của em.
- Cũng như anh không có đôi chân nào khác, đôi bàn chân nào khác cùng thân thể nào khác.
- Nhưng mà mình lại khác biệt nhau - Nàng nói - Em muốn mình phải giống nhau thật sự kia.
- Không phải em muốn nói như vậy.
- Có, có chớ, đó là điều em phải nói với anh.
- Không phải em muốn nói như vậy.

- Có thể - Nàng nói nhỏ, đôi môi đặt trên vai chàng - Nhưng em vẫn thích nói như vậy. Bởi vì mình khác biệt nhau, em rất hài lòng vì anh là Roberto, em là Maria. Nhưng mà nếu anh muốn đổi thì em cũng chịu đổi nữa. Em sẽ là anh vì em yêu anh vô cùng.
- Anh không muốn đổi. Tốt hơn chỉ nên là chính mình mà thôi và mỗi người hãy cứ là mình thôi.
- Nhưng mà giờ đây mình chỉ là một và không còn cách biệt nữa. Em là anh khi anh không có đó. Ồ! Em yêu anh làm sao, em phải săn sóc anh chu đáo mới được.
- Maria.
- Dạ.
- Maria.
- Dạ.
- Maria.
- Da, dạ, em đây anh.
- Em không lạnh à?
- Ô! không. Anh kéo cái túi lên vai anh đi.
- Maria.
- Em không nói được nên lời anh à.
- Ồ, Maria, Maria, Maria.
Sau đó, họ nằm sát bên nhau, với đêm lạnh giá vây quanh họ, họ nằm vùi trong hơi ấm của chiếc túi ngủ, đầu Maria chạm vào má Robert Jordan. Nàng nằm trải dài, lặng lẽ sung sướng, sát bên người chàng, nàng nói bằng một giọng thật dịu dàng.
- Còn anh thì sao?
- Cũng như em vậy. - Chàng nói.
- Đúng - Nàng bảo - Nhưng không giống buổi chiều này.
- Không.
- Nhưng em vẫn hài lòng với điều đó hơn. Mình không cần phải chết.
- Ojala no - Chàng nói - Anh mong rằng không.
- Em không muốn nói vậy đâu.
- Anh biết. Anh biết em muốn nói gì, ta cùng nghĩ về một điều giống nhau.
- Vậy thì tại sao anh nói vậy thay vì nói điều em nghĩ.
- Với một người đàn ông thì khác em à.
- Vậy thì em bằng lòng thấy mình khác nhau.
- Anh cũng vậy. Nhưng anh hiểu em muốn nói gì khi nhắc tới chuyện chết chóc. Anh chỉ nói như một người đàn ông, theo thói quen. Anh cũng thấy một điều giống như em.
- Dầu anh có là gì và dù anh có nói gì đi nữa, em vẫn muốn anh như vậy.
- Và anh yêu em, anh yêu cái tên của em, Maria à.
- Một cái tên tầm thường.
- Không. Không tầm thường đâu.
- Bây giờ mình ngủ chớ anh? - Nàng bảo - Em dễ ngủ lắm.
- Mình ngủ đi. - Chàng nghe nói. Chàng nghe tấm thân manh dẻ, nhẹ nhàng, nóng ran của nàng ép sát vào người chàng, nó xoa dịu, nó đánh tan sự cô độc, kỳ diệu thay, chỉ bằng sự va chạm của cạnh vai và chân cẳng với nhau, nó tạo thành một sự liên kết chặt chẽ chống lại cái chết, và chàng nói.
- Hãy ngủ ngon, con dê con mảnh dẻ của anh.
- Em ngủ rồi đây. - Nàng nói.
- Anh sắp ngủ đây. - Chàng nói - Hãy ngủ ngon, em cưng của anh. - Và chàng buông mình trong giấc ngủ đầy khoan khoái.

Nhưng trong đêm, chàng chợt thức giấc và ghì nàng vào lòng như thể nàng là tất cả sự sống và người ta toan tước đoạt lấy nàng. Chàng ôm nàng và chàng cảm thấy nàng là tất cả sự sống, quả đúng như vậy. Nhưng nàng đã ngủ một cách bình yên, say sưa. Lúc đó, chàng dang ra khỏi nàng và quay sang bên cạnh. Chàng kéo cái túi ngủ trên đâu Maria, chàng hôn vào cổ nàng trong túi ngủ, đoạn chà kéo sợi dây súng lên đặt khẩu súng sang bên đúng trong tầm tay, và chàng tiếp tục nằm đó, thân thể duỗi dài trong bóng tối, và chàng bắt đầu nghĩ ngợi.
Chú thích:
[1] Chúc ngủ ngon.
Chương 21
Trời về sáng, một làn gió ấm thổi qua và Robert Jordan nghe tuyết tan trên cành cây nặng nề rơi xuống. Đó là một buổi sáng vào cuối mùa xuân. Trong làn không khí đầu tiên hít vào buồng phổi, chàng biết rằng cơn bão núi gây nên trận mưa tuyết chẳng đáng kể gì rồi sẽ chóng qua. Chàng nghe tiếng chân ngựa sải nước kiệu trên tuyết ướt. Chàng lại nghe tiếng lách cách của kim khí khẽ chạm vào nhau và tiếng da răng rắc.
- Maria - Chàng nói vừa vỗ vai cô gái để đánh thức nàng dậy - Em trốn trong túi đi - Và một tay chàng gài nút áo một tay chàng cầm khẩu súng, dùng ngón tay tháo chốt an toàn. Chàng trông thấy cái đầu bị cạo trọc của cô gái chợt thụt sau vào túi ngủ, đoạn chàng ngước mắt nhìn tên kỵ mã đang tiến tới trong đám cây cối. Chàng tuột sâu vào túi ngủ hai tay nắm chặt khẩu súng, chĩa thẳng vào người đàn ông đang tiên về phía chàng. Lần đầu tiên chàng trông thấy hắn.
Bây giờ hắn gần như đang đối diện với chàng. Hắn ngồi trên lưng một con ngựa to, xám và đội một chiếc mũ ka ki, một cái áo choàng cắt ra từ một cái mền trông giống một cái poncho, chân mang giày ống đen nặng nề. Từ cái bao treo ở bên phải yên ngựa, nhô lên cái báng súng và băng đạn thuôn dài của khẩu súng liên thanh cỡ nhỏ. Hắn có khuôn mặt non choẹt và dữ tợn. Lúc đó hắn cũng vừa trông thấy Robert Jordan.
Hắn hạ bàn tay xuống gần khẩu súng và trong lúc hắn cúi xuống, kéo và giật cái bao súng, Robert Jordan thấy cái huy hiệu đo đỏ gắn trên ngực áo choàng bên trái hắn.
Nhắm vào giữa ngục hắn, xê một chút xuống phía dưới huy hiệu, Robert Jordan lảy cò.
Tiếng súng vang lên trong rừng cây phủ tuyết trắng.
Con ngựa chồm lên và người thanh niên vẫn cúi người về phía cái bao súng, hắn té nhào xuống đất, bàn chân phải vẫn dính vào bàn đạp ngựa.

Con ngựa bắt đầu chạy nhanh trong đám cây, kéo lê người thanh niên đang cố chồm lên, mặt va xuống đất. Roben Jordan đứng dậy, một tay còn cầm khẩu súng lục.
Con ngựa chạy băng qua rừng thông, kéo xệch người thanh niên phía sau, tạo thành một nét rạch lớn trên tuyết, với những tia máu chạy dài ở một bên. Nhiều người bước ra khỏi hang. Robert Jordan nghiêng người xuống, mở cái quần dài mà chàng đã dùng làm gối và bắt đầu mặc vào.
- Mặc đồ vào đi em. - Chàng bảo Maria. Chàng nghe có tiếng động cơ máy bay thật cao trên đầu. Nhìn vào trong đám cây chàng trông thấy con ngựa xám đã dừng lại với người thanh niên vẫn bị mắc vào bàn đạp, mặt ập xuống đất.
- Đến bắt con ngựa đi - Chàng kêu to về phía Primitivo đang bước đến gần chàng - Ai đang gác ở trên đó?
- Rafael. - Pilar đứng nơi cửa hang trả lời. Bà ta đứng đó, tóc vẫn còn thắt thành hai cái bím như lúc sắp sủa đi ngủ.
- Kỵ binh xuất hiện rồi đó - Robert Jordan nói - Hãy mang khẩu đại liên cổ lỗ sĩ của các người lên trên cao kia kìa.
Chàng nghe Pilar quay vào trong gọi “Angustin”. Bà ta lộn bước trở vào trong, sau đó hai người đàn ông vừa bước ra khỏi hang vừa chạy, một người vác khẩu súng tự động với chân ba càng lắc lư trên vai, còn người kia mang túi đạn.
- Hãy lên trên kia với bọn họ đi - Robert Jordan bảo Anselmo - Đồng chí hãy nằm dài cạnh khẩu súng cà meng để giữ mấy cái chân của nó.
Cả ba người cùng chạy lên con đường mòn ăn sâu vào rừng.
Mặt trời chưa lên tới các ngọn núi, Robert Jordan đứng cài nút quần và thắt dây nịt. Khẩu súng lục vẫn lủng lẳng nơi cổ tay chàng qua một sợi dây da. Chàng bỏ nó trở vào bao nơi thắt lưng. Đoạn chàng tuột gút sợi dây da và trồng đầu vào vòng dây.
Chàng nhủ thầm, rồi một ngày nào đó một kẻ nào đó sẽ thắt cổ mày với sợi dây này. Cũng may mà mày có nó. Chàng rút khẩu súng ra khỏi bao, tháo băng đạn, cho thêm vào đó một viên đạn lấy từ hàng đạn dọc bao súng, đoạn trả băng đạn về chỗ cũ.
Chàng nhìn qua đám cây, thấy Primitivo đang giữ lấy cương ngựa, rán sức tháo bàn chân của người thanh niên ra khỏi bàn đạp. Cái xác nằm sóng soài, úp mặt vào trời tuyết và trong khi chàng mải nhìn thì Primitivo bắt đầu lục lạo trong mấy cái túi của người chết.
- Thôi về. - Chàng kêu lên. Dẫn ngựa về. Khi quỳ xuống để cột lại giày, chàng nghe Maria đang loay hoay mặc đồ trong túi ngủ. Nàng không còn chỗ trong đời chàng lúc bây giờ đây.
Chàng nghĩ người thanh niên cưỡi ngựa đâu có ngờ chuyện đó xảy ra. Hắn đâu có đi trên một con đường mòn và hắn đâu có cảnh giác. Chắc hẳn là hắn thuộc một toán tuần thám phân tán mỏng trong vùng núi này. Nhưng mà khi toán tuần thám ghi nhận được sự mất tích của hắn, thì người ta sẽ lần theo dấu vết của hắn đến tận nơi này. Trừ phi tuyết tan sớm. Hoặc trừ phi có chuyện gì xảy ra cho toán tuần thám.
- Giờ đây tốt hơn đồng chí nên xuống đi. - Chàng bảo Pablo.

Mọi người đã bước ra khỏi hang với các bin cầm tay, lựu đạn giắt trong dây nịch. Pilar trao cho Robert Jordan một cái túi da đầy lựu đạn. Chàng lấy ra ba trái bỏ vào túi. Chàng bước trở vào hang, đến bên hai cái ba lô, mở cái ba lô đựng khẩu tiểu liên, lấy ra báng và nòng súng, ráp lại những bộ phận của khẩu súng tháo rời, lắp vào một băng đạn, và bỏ ba băng khác vào túi. Chàng nghĩ, túi mình tra bị đầy ắp miễn đừng có bung ra. Chàng bước ra khỏi hang, nói với Pablo:
- Tôi lên đó. Angustin có biết sử dụng khẩu đại liên của đồng chí không?
- Biết. - Pablo nói. Hắn nhìn Primitivo đang dẫn con ngựa về.
- Mira qué caballo [1] - Hắn nói - Nhìn giùm tôi con ngựa kìa.
Con ngựa xám to lớn thở hào hển và khẽ run rẩy. Robert Jordan khẽ vỗ lên cổ nó.
- Tôi sẽ cho nó nhập vào những con khác. - Pablo nói.
- Không - Robert Jordan nói - Nó để lại dấu vết khi tới đây. Những dấu vết đó phải nổi bật lắm.
- Đúng - Pablo nhìn nhận - Tôi sẽ lên đường với nó. Tôi sẽ giấu nó và sẽ dẫn nó về khi tuyết tan. Đồng chí có ý kiến hay đó, ông đồng chí Inglés à.
- Hãy cho một người xuống phía dưới - Robert Jordan nói - Còn bọn mình thì phải đi lên phía trên.
- Chẳng cần đâu - Pablo nói - Những kẻ đi ngựa không thể đến bằng ngả ở phía dưới, còn chúng ta, chúng ta có thể chuồn bằng ngả này và bằng hai ngả khác nữa. Tốt hơn hết là đừng để lộ tung tích trong trường hợp có máy bay. Đưa bầu rượu cho tôi coi, Pilar.
- Để ông đi say xỉn à - Pilar nói - Thôi cầm đỡ cái này đi. - Hắn đưa tay đón lấy hai trái lựu đạn bỏ vào túi.
- Sao, say xỉn à - Pablo nói - Tình thế đang lúc nghiêm trọng mà. Nhưng mà đưa bầu rượu cho tôi. Tôi không thể làm tất cả công việc đó vừa uống nước lạnh.
Hắn nắm chặt dây cương, và nhảy phóc lên yên ngựa. Hắn mỉm cười, vuốt ve con ngựa cộc cằn. Robert Jorda trông thấy hắn âu yếm dùng chân cạ dọc theo hông của nó.
- Qué caballo mas bonito [2] Hắn nói vừa tiếp tục vuốt ve con ngựa. Qué caballo mas hermoso [3]. Đi nào. Nó đi khỏi nơi này sớm chừng nào tốt chừng đó.
Hắn nghiêng mình, rút khẩu tiểu liên từ trong bao, đó là một khẩu súng ria loại nhỏ có thể lắp loại đạn 9 ly, hắn ngắm nghía khẩu súng: “Hãy coi chúng, võ trang ngon lành như vầy, - Hắn nói - đúng là thứ kỵ binh tân tiến”.
- Đúng là thứ kỵ binh tân tiến, dưới kia kìa, với mặt úp xuống đất đó. - Robert Jordan nói - Vámonos.
- Andrès, đồng chí hãy thắng yên ngựa và hãy chuẩn bị chúng cho sẵn sàng. Hễ nghe có tiếng súng thì cho chúng chạy lên rừng, ở sau khe núi, và đến gặp tụi này với súng ống đầy đủ, còn phụ nữ thì lo giữ ngựa. Fernando, đồng chí sẽ lo việc mang mấy cái ba lô cho tôi. Cần nhất là phải mang chúng đi một cách cẩn trọng. Tôi cũng giao việc này cho bà - Hắn bảo Pilar - Và bà hãy trông chừng việc chở chúng bằng ngựa.
- Vámonos - Chàng nói - Ta đi đi.
- Còn Maria và tôi sẽ sửa soạn cho việc lên đường. - Pilar nói. Đoạn bà ta ghé sát vào Robert Jordan - Hãy nhìn hắn kìa. - Bà ta chỉ về phía Pablo đang ngồi trên lưng con ngựa xám trông như một anh cao bồi điệu nghệ, mũi con vật nở ra trong khi Pablo thay băng đạn cho khẩu tiểu liên. - Hãy nhìn hắn hí hửng với con vật kìa.
- Nếu tôi có được hai con ngựa thì tốt quá. - Robert Jordan nói, giọng thành thật.
- Con ngựa của đồng chí chính là sự nguy hiểm.
- Vậy thì hãy cho tôi một con la - Robert Jordan vừa nói vừa cười - Hãy lột hết tên này cho tôi - Chàng bảo Pilar vừa quay đầu nhìn người thanh niên nằm sấp trên tuyết. Và lấy hết giấy má thư từ của hắn, bỏ chúng vào túi ngoài của cái ba lô của tôi. Tất cả, đồng chí nghe không?
- Nghe rồi.
- Vámonos. - Chàng nói.
Pablo đi ngựa phía trước, tiếp theo là hai người đàn ông kẻ trước người sau đang thận trọng từng bước đi để khỏi để lại dấu vết. Robert Jordan mang tiểu liên, nòng súng quay xuống. Chàng nghĩ, phải chi có thể lắp nó bằng cùng thứ đạn với khẩu súng kỵ binh kia. Nhưng mà không được. Đây là loại súng Đức. Khẩu súng của anh chàng Kachkine.
Mặt trời đã nhô lên trên ngọn núi. Từng ngọn gió nóng thổi tới làm tan tuyết đi. Đó là một buổi sáng mùa xuân êm dịu.
Robert Jordan nhìn ra phía sau và thấy Maria đang đứng cạnh Pilar. Sau đó, cô gái bắt đầu leo con đường mòn vừa co giò chạy.
- Em có thể đến với anh không? - Nàng nói.
- Không. Hãy phụ với Pilar.
Nàng đi bên cạnh chàng và nắm lấy cánh tay chàng.
- Được chớ, em đến với anh.
- Không được.
Nàng tiếp tục bước đi cạnh chàng.
- Em có thể giữ chân cho khẩu máy, như anh đã nói với lão Anselmo.
- Em sẽ không giữ chân, ngay cả chân súng máy.
Nàng cho bàn tay vào túi Robert Jordan.
- Không - Chàng nói - Nhưng hãy lo giữ gìn chiếc áo cô dâu của em.
- Hôn em đi anh - Nàng nói - Nếu ta phải xa nhau.
- Em không biết thẹn là gì. - Chàng nói.
- Không. Em không thẹn chút nào hết.
- Bây giờ em đi đi. Công việc nhiều lắm. Có thể bọn anh phải chiến đấu nếu chúng theo dõi dấu vết của con ngựa.
- Này anh, - Nàng nói - anh có thấy hắn mang vật gì trên ngực không?
- Thấy, rồi sao nữa?
- Đó là hình Thánh Tâm.
- Đúng rồi. Dân Navarre nào cũng có cái đó.
- Anh đã nhắm vào đó mà bắn à?
- Không, ở dưới kìa. Thôi em đi đi.
- Anh biết chứ - Nàng nói - Em thấy hết.

- Em không thấy gì đâu. Một người đàn ông. Một người đàn ông ngã ngựa. Vete [4]. Đi đi.
- Nói yêu em đi.
- Không. Bây giờ không phải lúc.
- Bây giờ anh không yêu em sao?
- Dejamos [5]. Đi đi. Không thể cùng một lúc làm công việc này lại vừa yêu được.
- Em muốn giữ chân khẩu súng máy và được yêu anh, trong lúc súng nổ: tất cả những công việc đó cùng một lúc.
- Em điên rồi. Thôi đi đi.
- Em không điên - Nàng nói - Em yêu anh.
- Vậy thì trở xuống đi.
- Được rồi. Em đi đây. Và nếu anh không yêu em thì em sẽ yêu anh đủ cho cả hai.
- Khi nghe tiếng súng, - Chàng nói - em sẽ tới với mấy con ngựa. Em hãy phụ Pilar mang mấy cái ba lô. Có thể sẽ không có chuyện gì xảy ra đâu. Anh hy vọng thế.
- Em đi đây. Anh nhìn con ngựa Pablo kìa, nó đẹp làm sao.
Con ngựa to màu xám đang leo dốc con đường mòn.
- Ừ. Nhưng mà em đi đi.
Chàng nghe trong túi quần nắm tay của cô gái cọ sát vào đùi chàng. Chàng nhìn nàng và thấy đôi mắt nàng ứa lệ. Nàng rút tay ra khỏi túi quần và choàng tay ôm cổ Jordan, nàng hôn chàng.
- Em đi đây - Nàng nói - Me voy. Em đi đây.
Chàng quay đầu lại, nhìn nàng đứng yên trong những tia sáng đầu tiên của buổi bình minh đang ve vuốt lên khuôn mặt màu nâu ngon phủ một mái tóc ngắn màu vỏ cây và màu vàng cháy xém. Nàng giơ nắm tay về phía chàng, quay lưng đi và bước trở xuống theo con đường mòn, đầu nàng cúi xuống.
Primitivo quay lại nhìn theo nàng.
- Nếu không có mái tóc ngắn quá thì đó là một cô gái đẹp. - Hắn nói.
- Ừ. - Robert Jordan nói. Chàng nghĩ tới một điều nào khác.
- Ở trên giường, cô ta thế nào? - Primitivo hỏi.
- Cái gì?
- Trên giường.
- Câm họng đi.
- Không có gì phải khó chịu mà, bởi vì...
- Thôi. - Robert Jordan nói. Và chàng bắt đầu ngắm nghía vị trí.
Chú thích:
[1] Hãy nhìn con ngựa đẹp sao.
[2] Con ngựa tốt làm sao!
[3] Con ngựa đẹp làm sao!
[4] Em thấy không.
[5] Hãy để mặc chúng tôi.
Chương 22
Chặt cho tôi mấy nhánh thông và mang lại đây mau lên - Robert Jordan bảo Primitivo - Tôi không thích đặt khẩu súng máy tại đây. - Chàng bảo Angustin.
- Sao vậy?
- Đặt nó chỗ kia kìa. Tôi sẽ giải thích cho đồng chí sau. Đó, như vậy đó. Để tôi phụ với đồng chí một tay. Ở đó được rồi. - Chàng vừa nói vừa ngồi xổm cạnh hắn.
Chàng nhìn xuyên qua lối đi chật hẹp, ghi nhận chiều cao của núi đá ở hai bên.

- Phải đặt nó xa hơn - Chàng nói - Xa hơn chỗ kia nữa. Tốt. Chỗ đó. Trong lúc này thì được rồi. Chỗ kia kìa. Hãy để đá ở đây đi. Có một hòn đây rồi. Đặt một hòn khác chỗ kia. Hãy để cho nòng súng có chỗ xoay trở. Hãy để hòn đá kia xa hơn. Anselmo, lão trở xuống hang và mang lên cho tôi một cái rìu. Mau lên nào.
- Bộ đồng chí không thể nào tìm ra một vị trí thích hợp cho khẩu súng máy được à? - Chàng hỏi Angustin.
- Tụi tôi vẫn đặt nó ở chỗ đó.
- Kachkine không hề nói phải đặt nó ở chỗ này sao?
- Không, khi người ta mang súng tới thì hắn đã đi rồi.
- Những người mang nó tới không biết sử dụng à?
- Không. Họ chỉ khuân vác.
- Làm việc cách gì mà lạ thật - Robert Jordan nói - Người ta gởi súng tới như thế mà không có lời chỉ dẫn nào hết à?
- Đúng vậy. Như một món quà. Một khẩu cho bọn này và một khẩu cho El Sordo. Bốn người đã mang chúng tới, dưới sự chỉ đường của lão Anselmo.
- Mang chúng về tới quả là kỳ diệu. Bốn người phải băng qua phòng tuyến.
- Tôi cũng nghĩ như vậy - Angustin nói - Tôi nghĩ rằng những người gởi bọn họ tới cũng muốn họ lạc mất nữa, nhưng mà Anselmo đã hướng dẫn họ đi thật tài tình.
- Đồng chí biết sử dụng nó không?
- Biết. Tôi có tập. Tôi biết sử dụng. Pablo biết. Primitivo biết. Fernando cũng biết nữa. Bọn này tập tháo ráp ngay trên bàn, trong hang. Một lần bọn tôi tháo nó ra và phải mất hai ngày mới biết cách ráp nó lại. Từ đó bọn tôi không tháo ra nữa.
- Bây giờ thì ít ra nó cũng nhả đạn chớ?
- Ừ. Nhưng người ta không để cho tên du mục và mọi người đùa với nó.
- Đồng chí thấy chớ? Chỗ kia không sử dụng được - Chàng nói - Nhìn kìa. Những núi đá kia phải bảo vệ hai bên sườn của các đồng chí thì lại che chắn cho những kẻ tấn công các đồng chí. Với một vũ khí như vậy, cần có một khoảng trống trải trước mặt. Lại nữa, cần phải chĩa vào cạnh sườn chúng. Đồng chí thấy chưa? Nhìn xem này, chúng ta chế ngự tất cả vùng này.
- Hiểu rồi - Angustin nói - Nhưng mà bọn tôi chưa hề đánh trong thế thủ cả, trừ phi chúng tấn công thành phố. Trong trận xe lửa, có nhiều lính trang bị maquina.
- Nào, chúng ta hãy học tập chung với nhau một chút - Robert Jordan nói - Có nhiều quy luật cần phải thông qua. Tên du mục đâu rồi? Hắn phải có mặt tại đây mới được.
- Tôi không biết.
- Hắn có thể đi đâu kìa?
- Không biết.
Pablo đã cưỡi ngựa đi xuyên qua đèo và đã đi vòng quanh ngọn núi trống trải làm thành trường bắn của khẩu súng tự động. Bây giờ thì Robert Jordan đang nhìn hắn xuống triền dốc, đi dọc theo con đường in dấu chân ngựa lúc hắn đi lên. Hắn biến mất trong đám cây ở phía trái.
Robert Jordan nghĩ thầm, mong hắn đừng nhào đầu vô tụi kỵ binh, chỉ ngại hắn lại rơi vào vòng tay chúng tôi đúng chỗ này.
Primitivo mang những cành lá thông tới. Robert Jordan cắm chúng xuống mặt đất xuyên qua lớp tuyết dầy chưa đông và chàng uốn cong chúng lại trên nòng súng.
- Lấy thêm nữa đi - Chàng nói - Cần ngụy trang hai người sử dụng súng. Không quan trọng gì nhưng không phải là vô ích lắm đâu. Này. Trong trường hợp nghe có máy bay thì bất luận đồng chí đang ở đâu cũng phải nằm rạp xuống đất dưới vách núi đá nghe. Tôi ở lại đây với khẩu súng.

Mặt trời đã lên cao, gió thổi ấm áp, bầu trời trở nên quang đãng trên những dải núi đá. Robert Jordan nghĩ thầm, bốn con ngựa, hai người đàn bà và tôi, Anselmo, Primitivo, Fernando, Angustin và anh chàng tên gì nữa trong hai anh em vậy kìa? Tất cả tám người. Không kể đến tên du mục. Như vậy là chín. Cộng thêm Pablo là mười. À đúng rồi, anh chàng tên Andrès. Còn người kia là Eladio. Cả thảy mười một người. Không đủ cả ngựa cho hai người trên lưng mỗi con. Ba người có thể giữ chỗ này và bốn người ra đi. Với Pablo nữa là năm. Còn lại hai. Với Eladio là ba. Quỷ dịch, hắn ở đâu rồi kìa?
Có trời biết cái gì đang đợi Sordo hôm nay đây, nếu bọn chúng tìm ra dấu ngựa trên tuyết. Tuyết ngừng rơi thế này thì đểu thật. Nhưng mà nó cũng sắp tan hết rồi, cũng đỡ. Nhưng không đỡ cho Sordo. Tôi sợ quá trễ cho hắn.
Nếu ngày nay không đụng độ thì ngày mai người ta có thể khởi công với toàn lực của mình. Tôi biết khả nàng của họ. Có thể không khá lắm. Có thể không được đúng mức để làm tròn công việc như ta mong muốn, nhưng nếu sử dụng toàn thể nhân lực thì có thể ra tay được. Với điều kiện là hôm nay không đụng độ. Nếu hôm nay mà phải chiến đấu thì cầu Trời Phật phù hộ vậy.
Trong khi chờ đợi, không thấy địa điểm nào tốt hơn ở đây. Nếu bây giờ mà đi thì sẽ để lại dấu vết. Địa điểm không đến đỗi thất lại và nếu công việc không tiến hành tốt đẹp thì có ba lối thoát thân. Sau đó sẽ đến đêm và dầu ở bất luận nơi nào trong vùng núi này tôi cũng có thể đi lần tới cầu và làm nổ tung nó vào sáng mai. Tôi không hiểu sao mình lại lo âu. Bây giờ thì công việc đã có vẻ dễ dàng rồi. Hy vọng rằng không quân sẽ đến kịp lần này. Ừ. Tôi hy vọng như vậy. Ngày mai sẽ có chuyện lộn xộn xảy ra.
Được rồi, ngày hôm nay có thể sẽ rất thú vị, hoặc rất nhạt nhẽo. Tôi rất hài lòng vì con ngựa kia đi xa khỏi nơi đây. Ngay khi bọn chúng tới đây, tôi không tin chúng có thể nhận ra những dấu vết đã bị xóa nhòa. Chúng sẽ nghĩ rằng nó đã dừng lại và quay bước đi. Chúng sẽ theo những dấu vết của Pablo. Không biết cái thằng đểu cáng đó đi đâu vậy kìa? Có thể khi lên dốc hắn để lại những dấu chân ngựa và tiếp theo đó, khi tuyết tan đi, hắn sẽ đi lòng vòng ở phía dưới. Đúng là con ngựa giúp hắn nhiều việc, có thể hắn lợi dụng nó để dù đi mất. Nhưng đó là chuyện riêng tư của hắn. Hắn phải biết xoay sở cho hắn và hắn phải biết lâu rồi. Với tất cả những công việc đó, tôi không tin tưởng ở hắn lắm.
Tôi thấy giấu khẩu súng trong những kẽ đá và ngụy trang nó cho khéo còn hơn là tạo cho nó một chỗ ẩn giấu thật sự. Nếu chúng tới, chúng hay phi cơ của chúng, chúng sẽ bắt gặp chúng tôi đang hì hục đào bới. Ở trong vị trí này nếu là nàng thì nàng sẽ bám trụ tới cùng đấy. Còn tôi thì dù sao tôi không thể chậm trễ trong việc chiến đấu được. Tôi phải rút lui khỏi nơi này với vật liệu của mình và tôi sẽ dẫn Anselmo theo. Ai ở lại để bắn che cho chúng tôi rút lui trong trường hợp xảy ra trận đánh nhau đây?
Trong lúc đó khi chàng còn mải quan sát địa thế, chàng trông thấy tên du mục đi tới ở phía trái, giữa những tảng đá. Hắn có lối đi trông khệnh khạng, núng nính, khẩu các bin khoác trên vai, khuôn mặt tươi cười mỗi tay xách một con thỏ rừng, đầu chúng thòng xuống đất.
- Chào Don Roberto. - Hắn kêu lên vui vẻ.
Robert Jordan đưa bàn tay lên trước miệng, và tên du mục hiểu ý, im bặt. Hắn lướt đi sau những tảng đá, đến tận chỗ Robert Jordan đang ngồi xổm, cạnh khẩu súng máy khuất lấp trong các cành lá. Hắn ngồi xổm cạnh chàng và đặt hai con thỏ trong tuyết. Robert Jordan nhìn hắn.
- Sao, hijo de la gran puta [1] - Chàng nói nhỏ - Ở đâu ra đó?
- Tôi theo dấu của chúng - Tên du mục nói - Tôi đón được cả hai. Chúng đang làm tình trên tuyết.
- Còn trạm canh của đồng chí?
- Không được lâu - Tên du mục thì thầm - Chuyện gì xảy ra vậy? Có báo động à?
- Những cuộc di chuyển của kỵ binh.
- Redios [2] - Tên du mục nói - Đồng chí thấy chúng à?
- Có một tên ở trong trại. Hắn đi ăn sáng.
- Rõ ràng tôi có nghe một tiếng súng nổ hay một tiếng gì tương tự như vậy - Tên du mục nói - Bố tiên sư nó đến bằng ngã này à?
- Bằng ngã này, ngã trạm canh của đồng chí.
- Ay mi madre [3]! - Tên du mục nói - Tôi xui quá.
- Nếu đồng chí không phải là dân du mục, tôi đã hạ đồng chí rồi.

- Đừng, Roberto. Đừng nói vậy chớ. Tôi rất buồn. Tại tôi bận với hai con thỏ này. Trước bình minh, tôi nghe con đực nhảy trong tuyết. Đồng chí không thể nào tưởng tượng được cuộc vui đùa của chúng. Tôi lặng lẽ bước đến gần nhưng chúng vọt ngay. Thế rồi tôi lần theo dấu chúng để lại trên tuyết và trong khi bước lên dốc, tôi lại trông thấy chúng và tôi hạ cả hai. Hãy coi chúng mập thế này. Hãy tưởng tượng những món ăn Pilar sẽ tự tay nấu nướng với chúng. Tôi buồn lắm, Roberto ạ, buồn không thua gì đồng chí đâu. Tên kỵ binh bị giết chết rồi chớ?
- Ừ.
- Đồng chí giết à?
- Ừ.
- Que tio! [4] - Tên du mục nói, giọng bợ đỡ. Đồng chí chì lắm.
- Mẹ mày! - Robert Jordan nói, nhưng chàng không nín cười được với tên du mục - Thôi mang mấy con thỏ về trại và mang điểm tâm ra coi nào!
Chàng đưa tay xoa nắn hai con thỏ rừng nằm sóng soải trên tuyết, con nào con nấy trông dài sọc và nặng nề với lớp da dầy cộm, chân và tai dài, mắt âm u và tròn xoe, mở thao láo.
- Chúng mập thiệt. - Chàng bảo.
- Mập - Tên du mục nói - Mỗi con có cả dề mỡ ở hai bên hông. Trong đời tôi chưa hề thấy những con thỏ nào như vậy, ngay trong lúc nằm chiêm bao.
- Thôi đi đi, Robert Jordan nói - hãy trở lại ngay với món điểm tâm, và nhớ mang cho tôi những tài liệu của tên requeté [5] kia. Nhớ hỏi Pilar.
- Đồng chí không giận tôi chớ, Roberto?
- Không giận. Chỉ nản chí về việc đồng chí bỏ trạm canh thôi. Nếu có cả một đội kỵ binh thì sao?
- Redios! - Tên du mục nói - Đồng chí nói có lý.
- Nghe này, đừng tái diễn chuyện bỏ trạm canh nữa nghe chưa. Đừng bao giờ. Khi tôi đòi hạ đồng chí, tôi không nói đùa đâu.
- Dĩ nhiên, vả lại, không còn cơ hội nào gặp hai con thỏ như thế này nữa. Chuyện đó không xảy ra đến hai lần trong một đời người.
- Anda - Robert Jordan nói - Thôi hãy cô trở lại cho nhanh.
Tên du mục lượm lên hai con thỏ và dời bước, len lỏi giữa những tảng đá. Robert Jordan bắt đầu quan sát cái lỗ hổng và cái dốc chạy xuống. Một con quạ lượn vòng trên đầu chàng đáp xuống một cành thông oằn xuống thấp. Một con quạ khác sắp tới gần và Robert Jordan nghĩ, đó là những tên lính canh của tôi. Khi chúng không động đậy gì cả đó là vì không có ai tới gần trong rừng cây.
Tên du mục, chàng nghĩ, quả thật là vô dụng. Hắn không có một chút ý thức chính trị lẫn tinh thần kỷ luật và người ta không thể tin cậy được gì ở hắn. Nhưng ngày mai tôi cần tới hắn. Tôi có việc làm cho hắn ngày mai. Trông thấy một tên du mục trong chiến tranh quả là điều kỳ cục. Người ta phải miễn họ như phải miễn cho những kẻ trốn quân dịch vịn vào lương tâm của họ. Hoặc những kẻ không ích lợi gì cho công việc, về tinh thần hay về vật chất. Bọn họ chẳng có giá trị gì. Nhưng những kẻ trốn tránh quân dịch vì lương tâm vẫn không bị loại trừ trong cuộc chiến này. Không có ai bị loại trừ cả. Chiến tranh xảy đến và thâu tóm tất cả mọi người. Phải, lần này chiến tranh lại đến với bọn ăn không ngồi rồi, bọn vô tích sự. Bây giờ thì chúng đã ở trong chiến tranh.
Angustin và Primitivo leo lên triền dốc vừa mang theo những cành lá, Robert Jordan khéo léo ngụy trang cho khẩu súng máy để cho phi cơ khỏi nhìn thấy. Chàng chỉ bảo họ phải cắt đặt một người ở trên những tảng đá ở phía bên phải để có thể nhìn thấy toàn vùng ở cánh đó, và một người khác phải ở đâu để có thể trông chừng cuộc xâm nhập ở vách núi bên trái.
- Đừng bắn dù trông thấy ai đi nữa - Robert Jordan nói - Hãy thả một hòn sỏi lăn xuống dưới để thông báo cho tôi, một hòn sỏi nhỏ thôi, và ra dấu bằng khẩu súng như thế này - Chàng giơ cao khẩu súng và để yên nó trên đầu - Và cho biết số lượng của chúng như thế này. - Chàng giơ cao và hạ thấp khẩu súng - Nếu chúng xuống ngựa, thì các đồng chí chĩa họng súng xuống đất. Như thế này. Đừng bắn khi chưa nghe tiếng súng máy. Hãy nhắm vào đầu gối mà bắn nếu bắn từ trên cao như chỗ này. Khi nghe tôi thổi ba lần với cái còi này, thì các đồng chí hãy kín đáo đi lần xuống và đến bên khẩu súng máy.
Primitivo giơ khẩu súng lên.
- Hiểu rồi - Hắn nói - Dễ ợt mà.
- Nhớ ném hòn đá trước tiên để thông báo cho tôi, đoạn cho biết hướng đi và số lượng. Coi chừng đừng để lộ...
- Xong rồi - Primitivo nói - Tôi ném lựu đạn được không?
- Trước khi khẩu súng máy khai hỏa thì không được. Chúng có thể đến đây tìm đồng bọn và không dám đi sâu hơn về phía trước. Chúng có thể theo dấu Pablo. Chúng ta không nên đụng độ nếu có thể tránh được. Cần nhất là cố tránh đụng độ. Bây giờ hãy đi lên trên đi.
- Me voy. - Primitivo nói, và hắn cầm các bin trong tay bước lên những tảng đá cao.
- Còn Angustin, - Robert Jordan nói - đồng chí có biết làm gì với khẩu súng máy này không?
Angustin bước tới, hắn đen đúa, dinh dàng, cằm lỏm chởm râu, mắt sâu hoắm, môi mỏng, đôi tay nặng nề và chai sạn vì công việc.
- Pues [6], tôi biết nạp đạn. Nhắm. Bắn. Chỉ có vậy.
- Đồng chí đừng bắn trước khi chúng chưa cách năm chục thước và chỉ bắn khi đồng chí chắc chắn rằng chúng sắp đi vào con đường đưa tới hang. - Robert Jordan nói.
- Đồng ý. Cách bao xa đây?
- Chỗ tảng kia. Nếu có một tên sĩ quan, thì hãy bắn vào hắn trước hết. Đoạn chĩa vào những tên khác. Bắn thật chậm. Ghì cho mạnh để súng khỏi giựt. Nhắm thật cẩn thận và đừng bắn liên tiếp hơn sáu phát nếu có thể. Nhưng cứ mỗi lần nhắm một tên rồi quay sang một tên khác. Nếu là một người cưỡi ngựa thì hãy nhắm vào bụng.
- Ừ.
- Phải có người giữ chân ba càng để khẩu súng khỏi rung. Như thế này đây. Và để lắp đạn cho đồng chí.
- Còn đồng chí lúc đó ở đâu?

- Tôi ở đàng kia, bên trái. Ở trên kia kìa, để có thể nhìn thấy hết mọi sự và tôi sẽ bắn che cánh trái của đồng chí với khẩu tiểu liên. Nếu chúng tới, phải tàn sát chúng. Nhưng không nên bắn trước khi chúng đến thật gần.
- Tôi tin có thể tàn sát chúng. Menuda matanza! [7]
- Nhưng tôi hy vọng chúng không tới.
- Nếu không có vụ nổ cầu của đồng chí, ta có thể tiêu diệt chúng và chuồn êm.
- Việc này có lợi gì? Nó chả ích lợi gì. Cây cầu góp phần vào chương trình để thắng trận giặc này. Còn cái này, đúng là con số không. Đây chỉ là việc phụ. Chả quan trọng gì.
- Sao, chả quan trọng gì à, mỗi tên phát xít chết đi là đỡ một tên phát xít.
- Đúng. Nhưng với chuyện phá cầu, ta có thể tiến chiếm Ségovie, thủ phủ của tỉnh lỵ. Hãy nghĩ kỹ điều đó. Đó là vùng đầu tiên ta tiến chiếm.
- Đồng chí nói thật chớ? Ta có thể chiếm Ségovie à?
- Thật. Có thể, nếu cây cầu nổ tung như dự định.
- Tôi muốn tiêu diệt chúng tại đây và cũng muốn nổ sập cầu nữa.
- Đồng chí tham lam quá. - Robert Jordan bảo hắn. Trong lúc đó, chàng trông chừng mấy con quạ. Chàng lưu ý thấy một con đang nhìn vào một vật gì. Nó cất tiếng kêu và vỗ cánh bay đi. Nhưng con kia vẫn đứng im trên cành cây. Robert Jordan nhìn về phía trạm canh của Primitivo ở trên núi đá. Chàng trông thấy hắn đang quan sát cánh đồng nhưng hắn không ra dấu hiệu gì. Robert Jordan nghiêng người về phía trước mở cuy lách của khẩu súng máy và kiểm điểm máy nạp đạn. Đoạn chàng đóng cuy lách. Con quạ vẫn còn trên cành cây, con kia lượn thành một vòng lớn trên tuyết và đáp trở xuống cành cây. Trong nắng và gió nóng, những cành thông để rơi từng mảng tuyết.
- Tôi hứa với đồng chí là sẽ có một cuộc tàn sát vào sáng mai - Robert Jordan nói - Cần phải thanh toán đồn canh tại xưởng cưa.
- Tôi sẵn sàng - Angustin nói - Estoy listo.
- Và cả đồn canh trong cái chòi của phu lục lộ dưới chân cầu nữa.
- Tôi sẵn sàng cho cái này hoặc cái kia - Angustin nói - Hoặc cả hai.
- Không cả hai được. Ta tấn công chúng cùng một lúc. - Robert Jordan nói.
- Vậy thì một trong hai vậy - Angustin nói - Lâu rồi tôi muốn được hành động trong trận giặc này. Pablo làm tụi này chết rũ ở đây.
Anselmo bước tới, xách theo cái rìu.
- Đồng chí còn cần nhánh cây nữa không? - Lão hỏi - Tôi thì thấy kín đáo lắm rồi.
- Không phải cành cây - Robert Jordan nói - Mà hai cây nhỏ cắm ở đây, thiếu cây cối để trông có vẻ tự nhiên.
- Tôi đi lấy về cho.
- Hãy chặt ở xa xa một chút để người ta đừng trông thấy gốc.
Robert Jordan nghe tiếng rìu vang lên trong đám cây sau chàng. Chàng ngước mắt nhìn về phía Primitivo ở trên núi đá, đoạn quan sát những cây thông phía dưới ở bên kia cánh rừng. Con quạ vẫn còn đó. Chàng nghe tiếng rống chát chúa đầu tiên của một chiếc phi cơ đang bay tới gần. Chàng ngước mắt nhìn lên và trông thấy nó ở trên cao, bé nhỏ và lấp lánh dưới mặt trời. Nó có vẻ di động thật chậm trên trời.
- Nó không trông thấy ta được đâu - Chàng bảo Angustin - Nhưng phải cẩn thận. Đó là chiếc phi cơ quan sát thứ nhì trong ngày hôm nay.
- Còn những chiếc hôm qua? - Angustin hỏi.
- Bây giờ thì nó chỉ còn là một cơn ác mộng. - Robert Jordan nói.
- Chúng phải ở Ségovie. Cơn ác mộng còn đợi dưới kia để trở thành sự thật.
Bây giờ thì chiếc phi cơ đã biến mất trên những ngọn núi nhưng tiếng động cơ vẫn còn vẳng lại.
Và khi nhìn lên không, chàng bỗng thấy con quạ bay đi. Nó bay thẳng trong đám cây mà không cất lên một tiếng kêu nào. 

Chú thích:
[1] Con của đồ đĩ.
[2] Trời.
[3] Mẹ ơi.
[4] Cừ thật.
[5] Người theo phái bảo tàng.
[6] Rồi thì.
[7] Cuộc tàn sát nhỏ.
27/7/2016
Ernest Miller Hemingway
Người dịch: Huỳnh Phan Anh
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...