Thư của một nông dân
Áo xông hương của chàng vắt mắc
Đêm em nằm em đắp lấy hơi
Gửi khăn gửi túi gửi lời,
Gửi đôi chàng mạng cho người đường xa
Tôi là một nông dân, biết đọc, biết viết và làm những con tính cộng trừ nhân
chia đơn giản. Trước đây như vậy đã được coi là xóa nạn mù chữ, nhưng so với học
vấn bây giờ, thì coi như chưa biết gì. Việc nhà nông cày bừa gặt hái, trồng lúa
và trồng màu, chăn nuôi và làm nhà, tôi đều làm được cả bằng kiến thức cha truyền
con nối. Xem âm lịch, nhìn trời đất thì biết thời tiết, tính toán ít nhiều cho
phù hợp với vụ mùa. Ốm đau thì đánh gió bằng gừng, xông hơi bằng lá tre, ngải cứu
tía tô và sả. Tóm lại là người nông dân có thể hoàn toàn sống tự cung tự cấp, cốt
yếu là giữ đạo gia phong: kính cha mẹ thuận vợ chồng, con cái biết nghe lời,
yên vui với làng xóm, thế cũng tạm gọi là hạnh phúc. Chính sách của nhà nước vừa
nhiều vừa ở xa, chúng tôi chỉ có thể hiểu bằng sự cụ thể hóa trong hành vi của
cán bộ xã thôn. Chủ trương tốt thì làng xóm yên bình, nhà nhà no đủ. Chủ trương
có điều bất cập thì đời sống lộn xộn, lòng người phân tán, nhà ai biết nhà ấy,
chuyện hay dở ngoài đường mặc kệ.
Khi đời sống phát triển, khoa học kỹ thuật ít nhiều cũng đã về đến làng quê,
tuy nhiên phần nhiều không phải do trí thức kỹ sư từ thành phố, mà do nhu cầu của
nông dân và sự buôn bán các máy móc công cụ. Máy bơm, máy tuốt, máy xay xát, xe
công nông, máy kéo, máy cày, người quê mày mò học lấy, điều khiển và sửa chữa.
Nhiều xưởng cơ khí sản xuất và chữa máy móc ra đời. Kỹ thuật tuy thô sơ, nhưng
tay nghề không phải là kém và ứng dụng được, thay cho lao động thủ công. Tiện
thì có tiện, nhưng tai nạn do thiếu hiểu biết cũng nhiều. Kỹ thuật hiện đại
thay thế cho các kinh nghiệm cổ truyền, cũng làm mất đi hầu hết những chế tác
cũ. Nông dân trẻ không còn biết cày bừa và chữa bệnh theo kinh nghiệm nữa. Ốm
đau nhất nhất phải đi viện, tốn kém vô cùng. Người nông dân là nơi đào mỏ của
các bác sĩ thành phố. Ruộng đất không tăng. Nhưng người lại đẻ nhiều. Làng xóm
trở nên chật chội. Đất canh tác đã ít nay lại càng thu hẹp cho các doanh nghiệp.
Thanh niên không có việc làm tràn ra thành phố, làm cửu vạn, ôsin, buôn bán, thậm
chí làm đĩ điếm, khá giả thì chạy chọt đi xuất khẩu lao động. Nếu học không giỏi
hơn người, một con em nông dân muốn vào một trường đại học mất từ 30-50 triệu đồng
hối lộ, đi lao động nước ngoài mất từ 120-150 triệu. Số tiền đó là mấy cơ nghiệp
đối với những gia đình nông dân Bắc bộ, mà cả họ phải góp lại cho một cháu.
Làng quê tôi vốn rất thuần hậu tươi đẹp. Lũy tre xanh bao phủ xóm làng. Đồng ruộng
rập rờn cánh cò bay. Bãi ngô ven sông xanh xa tắp. Cua cá, chim thú đầy đồng ruộng
bụi cây, sống hài hòa với con người, thỉnh thoảng bắt ăn không mất tiền. Trong
làng có ngôi đình mái cong duyên dáng, có việc làng các cụ và hội đồng kỳ mục kỳ
lão tới họp, ngày hội trai gái tới vui chơi. Có ngôi chùa nhiều tượng Phật đẹp,
thập phương xa xôi cũng tìm đến hương khói. Có nghề in tranh khắc gỗ dân gian,
nghề làm tương, làm bún, làm đậu phụ. Mùa đông có mía ngọt ăn không hết thì kéo
mật. Mùa thu có bưởi và hồng. Mùa hạ có nhãn vải và chuối. Mùa xuân thì đủ các
thức bánh chưng, bánh dày, bánh tét, bánh giò, bánh gio, chè lam, chè bà cốt.
Rượu nấu bằng men lá thơm và nồng, có thể ngâm thuốc chữa bệnh.
Tất cả những thứ giản dị ấy dần dà chìm vào trong giấc mộng. E rằng mươi năm nữa
không biết có còn cái làng cổ truyền từ hàng ngàn đời nữa không? Có còn ai là
người nông dân không? Và không biết chúng tôi có trở thành công nhân nông nghiệp
như các nhà khoa học vẫn nói hay không.
Ruộng cấy lúa ngày một mất dần vì dành cho công nghiệp. Đương nhiên phát triển
kinh tế cần có công nghiệp, nhưng tôi nghĩ khu công nghiệp phải tập trung và xa
dân cư. Đằng này huyện nào cũng xây nhà máy, chất thải cứ tự nhiên tuôn ra đồng
ruộng, khác nào đem thuốc chuột rải ra toàn tỉnh. Khi khu công nghiệp hình
thành, hàng trăm đến hàng nghìn công nhân tới, đông hơn cả dân làng, lại còn vợ
con bè bạn của họ. Hàng quán, cờ bạc, hút sách, nhà thổ kéo theo, thanh niên
làng tôi đâm hỏng cả. Lời hứa sau khi lấy đất sẽ cho con em nông dân vào làm
trong nhà máy phần nhiều là hão huyền, vì nông dân lấy đâu ra trình độ mà trúng
tuyển. Nhiều gia đình trong cảnh lộn xộn cải biến dần đất ruộng thành đất vườn.
Đất vườn khó bị lấy hơn và nếu có giải tỏa thì đền bù lại cao hơn. Nhiều nhà
máy do cổ phần của quan lại trong tỉnh chứ chẳng phải ai khác. Với đồng lương
nhà nước, họ đào đâu ra hàng chục, trăm tỷ mà đầu tư như vậy. Đất ruộng là cả
quá trình đào luyện của nhà nông mới trồng được lúa, không dễ gì có được. Vậy tại
sao không dùng đất đồi, bãi hoang, mà cứ nhè vào đồng ruộng.
Làng dần thành phố. Thuần phong mỹ tục chẳng còn ý nghĩa gì. Chẳng còn lá lành
đùm lá rách, tắt lửa tối đèn hàng xóm có nhau. Tôi nhớ lắm những ngày chạy ra
cánh đồng, triền đê hứng gió thả diều. Những ông đồ cẩn thận điền từng nét chữ
Nho vào tờ sớ. Những bà già váy đụp quần chùng gánh nồi đất ra giếng khơi. Nhớ
những ngày năm ba đứa trẻ vít dây đạp cối giã gạo. Nhớ hình ảnh mẹ và chị buông
mái tóc dài gội nước hoa bưởi và quay tóc nước tung bay như mưa phùn. Nhớ ông
già làng đóng dại cưa, đan thuyền thúng, cẩn trọng chuốt từng cật tre quây rổ
giá. Nhớ con giẻ cùi màu lông sặc sỡ chuyên ăn cứt chó, nhớ tiếng ếch ương lộng
trong đêm mưa rào. Nhớ căn nhà lá vách đất trộn rơm hăng mùi bùn, mẹ già tựa liếp
khóc ngày chúng tôi ra trận. Nhớ những cây đa, cây đề đầu làng, ven đường treo
cái bình vôi, cạnh những miếu hoang, không thấy thần linh mà vẫn rờn rợn thế
nào. Mọi người thường bảo trước đây quê hương nghèo nàn lạc hậu, nay ai nấy đều
khá giả, có xe máy ti vi, thóc gạo dồi dào.
Thế nhưng để đổi lấy những cái như thế mà thay đổi cả làng xã cổ xưa thì thật đắt
giá. Người nông dân trước thì phụ thuộc vào thiên nhiên, giờ thì phụ thuộc vào
biến động xã hội. Văn hóa đất Việt sinh ra từ nông thôn và nông dân. Khi hai
cái đó mất đi hoặc biến đổi thì ta sẽ có thứ văn hóa gì.
Kiến thức trong nông dân không nhiều, nhưng có tính chất thực tiễn và truyền thừa,
là kết quả của nhiều đời trồng cấy và sinh sống. Nhà nông có thể cảm nhận những
biến đổi của thời tiết, trông trời đất mà đoán mưa nắng, hiểu rõ cỏ cây cũng
sinh trưởng như con người. Tháng giêng trồng khoai, tháng hai trồng đậu, tháng
ba trồng cà. Thấy trăng quầng thì biết có hạn, thấy trăng tán thì biết có mưa.
Thấy gió hanh thì lật đất cho khô, vung vài nhát vồ là vỡ vụn, đợi mưa phùn cấy
vụ đông xuân. Cây quả chua như me, khế, sấu gặp khói lò thường sớm rụi vì chúng
nhạy cảm. Cây quả ngọt chịu môi trường ô nhiễm tốt hơn. Bùn lầy tưởng bẩn, chát
vào vết thương lại mau lành. Đồ gốm đất nung nấu cơm kho cá thường ngon, lại giảm
triệt được độc tố. Nhà tường đất chống ẩm mùa nồm ấm áp mùa đông. Những kinh
nghiệm đó chẳng những không được sách vở tổng kết mà những thế hệ trẻ ở nông
thôn không còn biết nữa. Chúng thích mặc quần bò áo phông, phóng xe bạt mạng, bật
nhạc rất to, và sẵn sàng rời bỏ quê hương ra thành phố, hoặc không ngần ngại kết
hôn với một người xa lạ nước ngoài.
Tôi thuộc về một nền văn hoá khác, lạc lõng trước dòng chảy hào nhoáng của cuộc
sống công nghiệp. Một nền văn hoá đang tàn lụi, đang trở lại với ông bà, không
có cách gì ngăn được. Có lẽ không còn lâu nữa chuyện về người nông dân Bắc bộ
chỉ còn giống như trong chuyện cổ tích và truyền thuyết Tấm Cám, Sơn tinh Thủy
tinh, Cây khế hay trong những câu ca dao, những lời Quan họ thấm đẫm tình người. Thơ
rằng:
Thân em như giếng giữa đàng
Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân
Khi những dòng sông Tiêu Tương, sông Dâu đã chết, sông Châu Giang không chảy đục ngầu, sông Đáy trong xanh giờ thành ao rau muống. Khi đầm hồ bị lấp dần, đình chùa bị tô vẽ xanh đỏ sặc sỡ, khi nhưng nhà bê tông thay cho nhà đất nhà gạch với kiến trúc vì kèo thì con người cũng đổi khác. Tôi là người nông dân già nua như cây cổ thụ lưu luyến cởi bỏ chiếc áo nâu sồng cuối cùng của mình.
30/5/2005
Phan Cẩm Thượng
Nguồn: Phan Cẩm Thượng, Nghệ thuật ngày thường, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2008
Theo http://www.talawas.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét