Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023
Sài Gòn ngày dài nhất 1
SÀI GÒN TRƯỜNG CA
Tôi nhìn đồng hồ: 0 giờ 1 phút. Ngày mới của nhân gian đã sang
được 60 giây. Hoàng hôn của đời tôi khởi sự. Từ đốm lửa ở đầu điếu thuốc loé
lên mỗi hơi rít đẫy đà, tôi mơ hồ thấy nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của
nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Tôi linh cảm tôi sẽ là một trong cả triệu nạn
nhân bị đẩy vào cuộc tàn sát tuyết hận ghê gớm của cộng sản như người Mỹ khẳng
định và như Soljenitsyne quả quyết. Tôi sợ hãi. Tôi sợ hãi vô cùng: Vì tôi chưa
hiểu cộng sản sẽ dành cho những nhà văn chống đối họ cách chết nào, lối chết
nào, kiểu chết nào. Khái Hưng đã bị dìm dẫy sặc dưới nước. Lan Khai đã bị nhét
vô rọ liệng xuống sông. Sắp đến lượt chúng tôi. Sắp đến lượt Doãn Quốc Sĩ,
Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Như Phong... Chẳng biết những người này có
nhanh chân và may mắn hơn tôi? Chẳng biết anh em nào đã ra đi, anh em nào còn kẹt
lại? Riêng tôi, tôi tuyệt vọng di tản từ lúc cổng sắt của Phòng thông tin Mỹ
góc đường Lê Quý Đôn - Phan Đình Phùng mở tung, dân Sài gòn ùa vào đập phá cho
hả giận bị đánh lừa và hôi đồ cho bõ tức. Với tôi, định mệnh an bài hồi 14 giờ,
ngày 29-4-1975. Sứ thần Lan Carter không trở lại thực thi lời tâm huyết của tổng
thống Gerald Ford: "Phải dành ưu tiên di tản những nhà văn, những nhà báo,
những chủ bút"... Tôi nhớ Phạm Duy, trước phút chạy thục mạng, đã cố gọi
giây nói khuyên tôi: "Tìm lối thoát lẹ đừng tin Mỹ, bọn Mỹ chó đẻ lắm"?
Bọn Mỹ chó đẻ thật. Nó năn nỉ chúng tôi đến Usis ghi tên di tản. Nó lập danh
sách, ghi rõ tên tuổi, bút hiệu, địa chỉ của chúng tôi. Nó đem danh dự của dân
tộc nó quả quyết sẽ không bao giờ để chúng tôi lọt vào tay cộng sản. Chúng tôi
tin nó. Và chúng tôi đã không kiếm đường khác. Bấy giờ, ông đại sứ John Dan
chưa công bố thư riêng của hoàng thân Sirit Matak sau khi cuốn cờ sao xọc rời
Phnom Penh: "Sống chết đối với tôi không quan trọng. Điều quan trọng là
tôi đã trót tin người Mỹ"? Sirit Matak khước từ di tản. Nếu tôi không lưỡng
lự giữa hợp pháp và bất hợp pháp, chỉ cần xỉa cho chị me Mỹ đen dưới chợ Xóm
Lách mỗi đầu người ba trăm đô-la, tôi đã leo máy bay Mỹ ở phi trường Tân Sơn Nhất.
Mới hay, me Mỹ giá trị hơn lời của tổng thống Gerald Ford và danh dự Hiệp Chủng
Quốc Hoa Kỳ. Khi tôi quán triệt tâm huyết Mỹ, đó là lúc tôi chờ đợi cái chết.
Tôi đã chưa hề tin Mỹ. Lần đầu tôi tin Mỹ và tôi e rằng không còn dịp để nói là
lần cuối cùng. Mỹ giống hệt cộng sản. Nó bảo trắng thì là đen. Nó bảo thắng thì
là bại. Nó bảo đồng minh thì là đầy tớ. Nó bảo chung thủy thì là phản phúc. Nó
dọa biển máu, biển máu. Nó vẽ ra những cảnh tượng hãi hùng. Nó sáng tạo sự khiếp
đảm. Nó bắt thần kinh con người phải căng thẳng. Nó khiến con người gần như mất
hết phẩm cách vì sợ chết, ôm lấy nó để nó giáng những báng súng thô bạo lên
thân thể, nó đấm, nó đạp mà vẫn cam đành nhục nhã, ê chề, đau đớn cho sự sống
hèn mọn ngoài biển máu quyết đoán của nó. Rồi nó thản nhiên vất cả một dân tộc
lại, thoi thóp từng giây với ác mộng biển máu. Từ khai thiên lập địa, từ có
loài người, chưa có giống người nào dã man, độc ác, lạnh lùng hơn giống tư bản.
Cái giống tư bản đã viện trợ thêm cho chúng tôi cảm giác rụng rời của tưởng tượng
nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào tính bằng héo khô của
mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Tư bản làm tê liệt tâm hồn con người
để cộng sản kết thúc cuộc sống của con người. Hai kẻ tội đồ của nhân loại đã
thông đồng một trò chơi khốn kiếp ở nhiều nước nhỏ trên trái đất. Hôm nay, ở nước
tôi.
Bây giờ, ông xuất hiện trên ti vi, nắm quyền Tổng tham mưu
trưởng vào giờ thứ hai mươi lăm. ông ta có vẻ bối rối trong Nhật lệnh đọc từng
câu rời rã. Sự thung dung cần thiết lúc này để gây lại phấn khởi, để lấy lại niềm
tin đã thiếu hẳn ở người hùng Pleiku. Cái vẻ phẫn nộ pha lẫn chán nản của tướng
Vĩnh Lộc đã làm tôi buồn bã thêm. Tôi bỏ ra sân. Nghe tiếng xích xe tăng nghiến
trên mặt đường, tôi mở cổng ra xem. Một đoàn xe tăng của ta từ hướng Tân Sơn Nhất
chạy vào Sài gòn. Bất chợt, một chiếc dừng ngay trước cổng nhà tôi. Những chiếc
tăng phía trước và phía sau dừng lại hết. Ngã tư Công Lý - Yên Đổ đủ một chỗ trống
cho xe hơi qua lọt. Người lính xe tăng mở nắp, cầm cái búa lớn nhẩy xuống đường.
Chiếc tăng bị trục trặc. Bình tĩnh, người lính giáng những nhát búa. Chắc chắn,
anh ta không nghe tướng Vĩnh Lộc hài tội tập đoàn Nguyễn văn Thiệu và kêu gọi
tiếp tục chiến đấu. Người lính ấy, biểu tượng rực rỡ và đích thực của quân đội,
còn nguyên vẹn danh dự và trách nhiệm. Anh ta thừa hiểu bọn tướng lãnh đầu sỏ
đã chạy trốn hết. Bọn thống trị bù nhìn đã chạy trốn hết. Nhưng anh ta là lính,
dù thoi thóp một phút chiến đấu, anh ta vẫn bảo vệ danh dự quân đội, anh ta vẫn
chứng tỏ trách nhiệm của anh ta với tổ quốc, dân tộc. Người lính im lặng làm
công việc của anh ta. Hẳn nhiên, anh ta không hò hét. Nên, anh ta vẫn còn đây,
trước cổng nhà tôi số 225 Bis đường Công Lý, sửa xích xe tăng một cách thản
nhiên. Sự thản nhiên của người lính tôi đã không tìm thấy ở tướng Vĩnh Lộc trên
vô tuyến truyền hình. Nếu "cái dũng của thánh nhân" đã biểu hiện rõ
nét ở các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, chắc chắn, những
cái chết của các ông ấy đã phục sinh một ý nghĩa chiến đấu tuyệt vời. Chỉ tiếc
các ông ấy tự sát quá vội vàng, tự sát chưa đúng lúc. Cần một tướng Nguyễn Khoa
Nam có đủ cái thung dung tự tại phút nguy cơ, vùng 4 đã là những chiến khu lý
tưởng dẫu thất thế sau 30-4. Tuy nhiên, các ông tướng tự sát vẫn xứng đáng con
nhà tướng, vẫn để lại những dấu ấn khó phai nhòa trong quân sử và trong lịch sử.
ông tướng Vĩnh Lộc quên cái dũng, vì ông pha trộn sự phẫn nộ Nguyễn văn Thiệu,
Cao văn Viên và bọn tướng đào ngũ, vào sự đối phó tình hình khẩn trương. Người
lính xe tăng đang sửa xe đã biết dằn sự phẫn nộ. Danh dự của anh soi sáng trách
nhiệm của anh. Danh dự ấy, có soi sáng những khuôn mặt tướng tá đào ngũ trong
những cái lều ở đảo Guam?
Than ôi, năm 39 tuổi, đất nước vào Dương lịch 1975, tôi phải
cõng vợ con di tản và không di tản được. Bây giờ, thơ tình là thơ cù nhầy Phan
Khôi khi vợ tôi hỏi tôi "ở với việt Cộng có làm sao không"?
Súng vẫn nổ ròn ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Trực thăng
Hoa Kỳ vẫn vần vũ một góc trời Sài gòn. Ở những nơi nào nữa, trên quê hương miền
Nam, những người lính Cộng Hòa đang trả lời chính quyền Mỹ, dân tộc Mỹ và thế
giới rằng, họ không phải là tên bù nhìn Nguyễn văn Thiệu. Khẩu khí Nguyễn văn
Thiệu là, khẩu khí một tên lính đánh mướn. Thiệu không chống cộng, Thiệu nhả
ngôi vị tổng thống vì Mỹ cúp viện trợ. Lính và sĩ quan liêm sỉ của nước Việt
Nam cộng hòa tiếp tục chiến đấu chiến đấu vào lúc "đại tướng" Cao văn
Viên đã đào ngũ chạy trốn sang đảo Guam. Bây giờ tôi mới thấy tôi hèn nhát. Nếu
tôi đã là lính, lúc này, tôi được chiến đấu, được chết anh dũng, chết xứng
đáng. Dẫu không có quan tài, không có quốc kỳ phủ trên quan tài, không cả da ngựa
bọc thây, vẫn còn giọt nước mắt tiếc thương của chiến hữu. Vì tôi trót hèn nhát
nên tôi phải ngồi chờ chết, chờ chết nhục, chết thảm. Chợt nhớ đoàn xe tăng tối
hôm qua, tôi băn khoăn không hiểu xe tăng của ta đi về đâu chặn giặc cứ điểm
nào. Bên kia biên giới của tuyệt vọng là hy vọng. Câu này áng trong tôi một đốm
sáng. Tôi kiếm cái radio nhỏ mở nghe tin tức xem Tân tổng tham mưu trưởng quân
lực Việt Nam cộng hòa, trung tướng Vĩnh Lộc, còn tuyên bố gì thêm không.
Tôi cảm giác thời gian ngừng lại. Khi tôi mong trời vỡ sáng
thì trời không muốn vỡ sáng. Mới 4 giờ. Tiếng súng từ phi trường Tân Sơn Nhất vọng
vào đã thưa thớt, nhưng tiếng phi cơ trực thăng vẫn ầm ĩ một góc trời thành phố.
Tôi bật ti-vi. Màn ảnh nhỏ trắng xóa. Không có cái bất ngờ như tôi tưởng tượng.
Tôi đâm ra tương tư người lính sửa xe tăng trước cửa nhà mình tối qua và ông tướng
Vĩnh Lộc. Tôi mở radio. Giới nghiêm 24 trên 24 kể tử 0 giờ ngày 30-4-1975. Lệnh
giới nghiêm không thay đổi. Tôi tắt ngay radio để khỏi bị nghe Nối vòng tay lớn
và giọng tanh tưởi của Lý Quý Chung luận về tình nghĩa Trung Nam Bắc. Có vẻ như
thằng ở giữa đần độn này muốn mở đường chào đón "anh em Việt cộng" của
nó. Tôi nghĩ rằng đã có sự phân chia trong chế độ phù du Dương văn Minh. Quân sự
chủ chiến. Dân sự chủ hòa. Thật sự, tôi không thiết nhớ lại cái chính trường vỏ
tôm Sài gòn những ngày tháng tư. Mà tôi cứ bị nhớ. Con người khó thoát khỏi sự
chi phối của chính trị, dù là chính trị cà chớn của những thằng cà chớn.
10 tháng 7 năm 1954, là ngày dài nhất ấy, là ngày quân đội
liên hiệp Pháp rút khỏi thị xã Thái Bình, là ngày dân chúng di tản. Thực sự, những
người có máu mặt và hiểu thời cuộc đã "rút lui chiến thuật" trước
10-7. Ngày dài nhất ấy, với tuổi 19 của tôi, thật phũ phàng. Tôi nhớ lại. Như
thế này...
-Rất nhiều người không ngủ đêm qua.
Nghị sĩ chạy cả rồi. Dân biểu chạy cả rồi. Chiến hay hòa
không có tiếng vang rung chuyển nơi đây. Cho nên, những trang lịch sử chó đẻ nhất
của dân tộc phải tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn
cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy
nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ.
Người có duyên, dù thù hận cách mấy, dù không ưa một tí ti
ông lão nào cả, người ta vẫn phải công nhận ông ta có duyên với lịch sử, là Hồ
Chí Minh. Bất ngờ, về nước năm 1945, ông Hồ Chí Minh lơ thơ vài sợi râu. Và ông
ta được suy tôn là "cha già dân tộc", một cách lãng xẹt. Nguyễn Thanh
Trịnh, nhà văn trẻ của tuần báo Tuổi Ngọc kể với tôi rằng, đã gặp Nguyễn Đình
Thi, đã chất vấn bộ râu của "Bác Hồ" và được trả lời:
Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác
chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái
nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần
đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh
thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự "thoát chết, bung ra." Nếu
lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài
gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du
roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi:
Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt
trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình
cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ,
cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết.
Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót.
"Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán." Cao Dao khuyên tôi thế.
Tôi cần sống sót. "Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ"?
Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn
không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những
cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm
rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự
sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi
người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ
bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền
kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết
hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ
không hề có một cái gì để lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng
lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái
độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự
tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào - nhà
văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết - khi chết được
vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà
văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả,
nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ
can đảm. Người ta còn bắt nhà văn dấn thân, nhà văn tranh đấu cho đủ thứ quyền
của con người, nhưng, mỉa mai thay, cái quyền lợi thiết thực của nhà văn là tác
phẩm mồ hôi, tim óc của họ bị đạo tặc công khai tước đoạt, không ai tranh đấu
cho nhà văn cả Tôi đã thấy chính xác nhà văn tạo hào quang rực rỡ cho anh hùng,
liệt sĩ, thần thánh. Nhân loại đã thờ phụng hình chúa Giêsu vẽ theo trí tưởng
tượng của Michel Ange mà không thờ Michel Ange. Những bức tượng, những tranh vẽ
trong giáo đường của Léonard de Vinci, của Raphael về Đức Mẹ, về thiên thần đều
được kính cẩn thờ phụng cả đấy. Ai đã nói cho nhân loại biết tài năng của
Michel Ange, Léonard de Vinci, Raphael? Nhà văn. Nhà văn viết về Thượng Đế. Nhà
văn làm ra Thượng Đế. Thượng Đế không làm ra nhà văn. Gần gũi chúng ta nhất,
người Tầu và cả người Việt Nam đều đèn nhang, trầm hương xì xụp vái lạy ba anh
Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà quên nhà văn La Quán Trung đã phong thánh cho
ba anh rất lơ mơ trong lịch sử Trung Hoa. Tài năng của nhà văn La Quán Trung đã
biến nhân vật tiểu thuyết thành thánh. Không ai thờ La Quán Trung cả. Người ta
hằng luận về hào khí Võ Tòng, Lâm Xung mà quên Thị Nại Am; ngợi ca Kiều Phong,
Lệnh Hồ Xung, Dương Quá, Quách Tĩnh mà quên Kim Dung. Vân vân... ở thời đại của
tôi và ở đất nước tôi, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc đã phong thánh cho Hồ Chí
Minh. Khi đất sét được nặn hóa thánh, thánh tưởng mình thiêng đã bỏ tù những kẻ
phong thánh cho mình. Nhân Văn giai phẩm là thí dụ điển hình. Nguyễn Bính có
câu thơ mà tôi rất thích: Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ. Cái đám thế nhân mắt
trắng có thánh để thờ, có thần tượng để chiêm ngưỡng, có lãnh tụ để suy tôn, có
ước mơ để mơ ước, đã không đem gạo nuôi nhà văn, đã không biết ơn nhà văn, lại
còn ong óng lời chó dại, lại còn phun phì nọc rắn rết lên án nhà văn, thống
trách nhà văn. Vậy thì nhà văn, anh đã sáng suốt nhận ra anh chưa? (Tôi đã nhận
ra tôi. Và tôi cho rằng tôi chỉ có trách nhiệm với những thống khổ tôi đã kinh
qua, đã thể nghiệm. Tôi không được phép phản bội những oan khiên, những cay đắng,
những cô đơn đã soi sáng cuộc đời tôi. Và tôi hiểu rằng nhà văn có quyền phép
ghê gớm. Nhà văn đưa thằng bán chiếu Lưu Bị lên ngôi anh hùng và bắt kẻ anh
hùng Tào Tháo làm đứa gian hùng. Thế nhân mắt trắng, cái đám ưa hạch sách nhà
văn, vấn nạn nhà văn, thị phi nhà văn, chụp mũ nhà văn, sống nghìn đời vẫn
không đủ tư cách và khả năng hủy diệt nổi tác phẩm của nhà văn. Nhưng, nhà văn
chỉ cần cuốn sách mỏng, viết bằng chân trái, cũng đủ nhốt cái đám gian dối
lương tâm vào ngục tù muôn thuở. Đừng có đùa với văn chương Và đừng có rỡn mặt
nhà văn. Chưa quán triệt sức mạnh của văn nghệ, học đòi làm lãnh tụ, học đòi
mưu đồ quốc sự, đã không biết kính trọng nhà văn còn xúi dục tiểu yêu bôi bẩn
nhà văn, quả là bọn cắn hạt gạo chưa vỡ đôi Người ta chỉ đố kỵ niềm vinh quang
của nhà văn mà không chịu cảm thông nỗi nhục nhằn nhà văn phải kiên nhẫn chịu đựng,
chịu đựng không ngừng. Và nhà văn làm việc cho ai, tác phẩm của nhà văn để lại
cho ai, người ta cứ giả vờ không thèm biết. Rồi mỗi năm bao nhiêu tiến sĩ tốt
nghiệp và bao nhiêu năm mới nẩy sinh một danh sĩ, người ta cũng cứ giả vờ không
biết. Và nhà văn chờ đợi cái chết vì tác phẩm của mình thì không ai biết. Nhưng
cần gì ai biết mình sống ra sao, viết trong những hoàn cảnh nào, nhà văn, có vẻ
như kiêu ngạo để không lý tới cái hôm nay. Mà đúng thế, nhà văn đã không lý tới
cái hôm nay, cũng chẳng thèm lý tới những phán xét ngu xuẩn của thời nay. Trên
sầu đạo và ngược dòng nghịch lũ oan khiên, nhà văn mang tâm sự của con gọng vó,
âm thầm bước, âm thầm lội. Và âm thầm đợi chết. Như tôi. Không ai chia xẻ với
tôi nỗi sợ hãi cả. Ngày nào đó "thoát chết, bung ra", tôi viết những
trang sách ghi lại cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu
chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời
rạc của nhịp tim, chắc chắn, tôi vẫn được chiếu cố tận tình bởi soi mói của cú
vọ, bởi phẩm bình của quạ diều. Có phải đó là sự trả nghiệp, theo nhà Phật?
Sử ký và Tư Mã Thiên đã đủ soi sáng thân phận nhà văn và tác
phẩm hoàn thành bất chấp nghịch cảnh, bất chấp mọi hoàn cảnh, bất chấp cung
cách sống, bất chấp cảnh ngộ sống chưa? Có lẽ, với ngự sử vô học, với "sa
đích phê bình văn nghệ rẻ tiền", cần được giáo dục thêm nữa. Tôi không thừa
thì giờ nói với hai hạng người vừa kể. Tôi tâm sự với nhà văn. Nhà văn có sức mạnh
tuyệt luân. Nhà văn là con người như mọi con người. Y cũng phải chết thôi. Có
thểà, y sẽ bị chết theo cung cách Gandhi đã bị chết. Nhưng tác phẩm của y không
bao giờ chết. Y có thể chịu hình phạt nhục, chịu phán xét ngu xuẩn như Tư Mã
Thiên, như Gheorghiu. Chính sự chịu nhục sống hèn (hiểu theo nghĩa bần tiện của
thế nhân mặt trắng) của nhà văn đã làm tác phẩm của y rực rỡ và tác phẩm của y
phục sinh y sau cái chết. Nhà văn, có thể, chết thảm như Khái Hưng và Lan Khai.
Cộng sản đã nhận chìm Khái Hưng, Lan Khai dưới nước mà không thể nhận chìm tác
phẩm của tác giả Hồn bướm mơ tiên, Dọc đường gió bụi, của tác giả Cái hột mận,
Lầm than... dưới nước. Cộng sản kiêu ngạo nhất loài người, đầy đủ quyền uy và
biết chơi bạo lực mà vẫn ngậm ngùi sợ hãi văn chương - tư tưởng: "Cơ sở
giai cấp của bọn phá hoại còn tồn tại lâu dài trong xã hội ta. Khi đã hết giai
cấp, thù địch vẫn còn. Vì tư tưởng của giai cấp có sức sống dai hơn giai cấp
tính ra nó"* . Nghĩ cũng tội nghiệp cho đám lãnh tụ ễnh ương của quyền uy ảo
tưởng và đồ đệ cứ hăm hở đòi hủy diệt nhà văn và tư tưởng của nhà văn. Phải nói
rõ rệt là nhà văn cố gắng soi sáng những mê muội của thời đại mình. Thời đại mê
sảng, cố tình mê sảng thì người đời sau sẽ làm công việc thương người đời xưa.
Nguyễn Du còn ngờ vực, 300 năm sau, có ai hiểu ta chăng, thì nhà văn xá chi những
hạch hỏi vô lý, vô nghĩa, vô học, vô ơn của cóc nhái thời thượng. Song, cần thiết,
nhà văn phải nhận ra mình, phải nhận ra sức mạnh tuyệt luân của mình và phải biết
xử dụng, dám xử dụng sức mạnh đó để chế ngự bạo lực đến từ bất cứ phía nào, ở bất
cứ nơi đâu, dẫu sự chế ngự có mang tới những cay đắng nghiệt ngã, những oan
khiên ứa máu, những ngộ nhận nứt tim. Và cả nỗi chết. Và luôn sự thèm sống hèn
đểà thoát chết. Tôi nghĩ rằng cái cứu cánh biện minh cho cung cách sống chết của
nhà văn là tác phẩm y để lại cho đời sống. Trong bộ cassette tưởng mộ Victor
Hugo, một vị viện sĩ của Viện Hàn Lâm Pháp quốc đã múa một tuyệt chiêu:
"Nước Pháp không được phép nói tha thứ những bê bối trong cuộc đời của
Victor Hugo mà phải có bổn phận chấp nhận những bê bối ấy. Vì sự nghiệp văn
chương của Hugo đã làm rạng rỡ cho đất nước Pháp và dân tộc Pháp."
Nếu câu chuyện kể trên đúng 80%, nếu anh chuyên viên của Đài phát thanh Sài gòn bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất, nếu anh chuyên viên quên Dương văn Minh, quên lệnh đầu hàng về ngủ với vợ, tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài gòn 30-4-1975. Và đó là những dòng máu cần thiết cho Sài gòn ngày mai...
"Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị
Nghè". Tôi biết rõ những người lính ấy. Họ là nhà báo vô danh, là kép cải
lương thứ yếu, là ca sĩ tân nhạc hạng xoàng. Họ còn là thanh niên Chợ Lớn,
thanh niên con nhà giàu sợ hãi chiến trường, được ẩn thân ở Cục Tâm lý chiến dưới
sự "bảo trợ" của tướng bà Cao văn Viên. Hai hạng người dưới, lương
quân đội lĩnh xong phải cộng thêm tiền gia đình nộp cho người bảo trợ hàng
tháng, chưa kể khoản tiền nặng ra mắt và được chấp thuận bảo trợ. Lính văn nghệ
cơ hữu của Cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho Cục ngày
và đêm. Sự canh gác mang tính cách trình diễn, dù đã học 9 tuần quân sự ở Trung
tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của Cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo
vệ an ninh của Cục an ninh quân đội, của Đài phát thanh Sài gòn lo giùm hết. Vậy
bên đây cầu Thị Nghè, kế sát Cục, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo
vệ Đài phát thanh quân đội, tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các
quan văn nghệ... Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm trình diễn
tinh thần kiểng và tạo oai phong cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược
những đêm trực.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa Người ta thường ví đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Tôi cũng có thể nói, thơ là ô cửa của tâm hồn được chăng? Nế...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét