Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023
Sài Gòn ngày dài nhất 2
CHƯƠNG 6
Chiếc xe tăng dẫn đầu đã đến bùng binh. Nó có vẻ làm bộ làm
tich. Nó có vẻ khinh khi, ngạo mạn. Đằng sau nó, đám bộ đội nón cối, dép râu ngụy
trang cành lá trông dễ ghét. Chúng ôm súng AK lò mò bước y hệt chúng diễn trò
khỉ. Vị đại úy đâu rồi? Chiếc xe tăng thứ hai lừ lừ bò ở cửa Bộ Tư Pháp. Một
phát súng nổ. Lính nhẩy dù xuất hiện. Không thèm nấp. không thèm nằm, lính nhẩy
dù đứng thẳng, bước tới, chắc tay súng, nhằm xe tăng và kẻ thù nhả đạn xối xả.
Vị đại úy đó, thần tượng của Dzũng Đakao, Chương còm đó, sát cánh chiến hữu,
phóng nhiệt tình và danh dự vào trận chiến cuối cùng. Để trả lời thế giới:
Chúng tôi không đầu hàng. Bọn Mỹ và bọn tướng phường chèo khiếp nhược đầu hàng.
Lính Việt Nam không biết đầu hàng. Chiến trường kết thúc mau lẹ. Vị đại úy và
hơn ba mươi người lính nhẩy dù gục chết trên đại lộ Thống Nhất. Máu của họ, máu
Việt Nam anh dũng, bất khuất đã thấm đỏ đường lịch sử tháng 4. Lính nhẩy dù, tại
sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở tòa đại sứ Mỹ, ở bờ sông? Tổ quốc đã
cho anh cái gì? Dân tộc đã cho anh cái gì? Ngôi sao nào trên cầu vai anh, trên
mũ anh? Bảo quốc huân chương nào, Bắc đẩu bội tinh nào trước ngực anh?
17 giờ. Đường phố Sài gòn ngập đầy bộ đội miền Bắc nón cối và
giải phóng quân mũ tai bèo và cỏ đuôi chó. Cỏ đuôi chó mỗi lúc một đông thêm!
Chắc ăn rồi, chắc ăn lắm rồi, lính sư đoàn 304 gây khí thế cách mạng. Xe tăng của
cộng sản, trước sau chỉ có mười chiếc, nghiến xích sắt thị uy khắp đường phố
Sài gòn. Xe tăng thị uy xong đến mô-lô-tô-va Liên xô và GMC Trung Quốc. Máy
phóng thanh oang oang bài ca Giải phóng miền Nam của Lưu Hữu Phước.
19 giờ. Bóng tối trùm thành phố. Đèn đường chưa lên. Đạn vẫn
nhằm ông Trời mà bắn. Tôi đi trong cái âm u của Sài gòn lịm chết. Hình tưởng một
nghĩa địa hoang vắng? Sài gòn ở đó. Tiếng đạn bắn chỉ thiên cơ hồ tiếng nứt vỡ
của hàng triệu trái tim. Rồi tiếng đạn ngưng hẳn. Dân chúng bỏ chạy tán loạn. Bộ
đội miền Bắc và quân giải phóng xuất hiện trên các vỉa hè. Mạnh phe nào phe ấy
nhặt nhạnh "chiến lợi phẩm". Bộ đội miền Bắc chú trọng quân trang,
quân dụng nhiều hơn võ khí. Chắc chắn, họ thèm quân trang, quân dụng của lính
ta. Họ liệng "chiến lợi phẩm" lên mô-lô-tô-va. Quân giải phóng chú trọng
vũ khí. Họ thu lượm vội vàng và phương tiện chuyên chở là xe ba bánh đạp và gắn
máy. Đường phố, lúc này, đầy người. Chỉ còn xe quân sự của cộng sản qua lại Cộng
sản nằm vùng đã sách động quần chúng xuống đường làm mùa vui giải phóng. Tôi thấy
dọc phố Công Lý, cờ mới đã treo nhiều. Quả thực, tôi không nhận ra mầu cờ nữa.
Vì bóng tối. Vì mắt tôi mờ. Tai tôi cũng đã điếc, chẳng thể nghe nổi tiếng hoan
hô xem chừng đã cuồng nhiệt. Nhạc cộng sản muốn lấp vùng trời Sài gòn.
Rồi tôi cũng mua được hai chai Courvoisier. Trên đường về
nhà, bất ngờ tôi gặp Phan Kim Thịnh, chủ nhiệm tạp chí Văn Học. Xuất thân của
ông chủ nhiệm họ Phan từ chân tùy phái của tạp chí Quê Hương. Tạp chí Quê Hương
do ông Nguyễn Cao Hách đứng tên chủ nhiệm, quy tụ nhiều trí thức khoa bảng khuất
thân chế độ Ngô Đình Diệm. Tạp chí Quê Hương nhận tài trợ của Sở nghiên cứu
chính trị. Phan Kim Thịnh là mật vụ thứ yếu của Sở nghiên cứu chính trị được biệt
phái "nằm" ở Quê Hương, giữ chức loong toong khiêm tốn để theo rõi
sinh hoạt của tòa soạn Quê Hương. Thời ông Diệm, các nhật báo đều có người của
Sở nghiên cứu chính trị "nằm" cả. Các "người" này, đa số là
nhà văn, nhà báo có danh. Do đó, dưới chế độ ông Diệm không có nạn "tự ý đục
bỏ" và "tịch thu bừa bãi". Riêng tạp chí Quê Hương, Sở nghiên cứu
chính trị đã tỏ ra khôn ngoan, chỉ "cài" chân tùy phái sai vặt. Khoảng
năm 1962, tùy phái Phan Kim Thịnh rầm rộ quảng cáo tạp chí Văn Học do ông ta
làm chủ nhiệm. Xuất bản báo có nghị định của nhà nước vào thời kỳ này rất khó.
Phan Kim Thịnh đã "vượt" khó, vì là người của Sở nghiên cứu chính trị.
Với chủ bút Dương Kiền, mấy số đầu Văn Học thật giá trị. Về sau, Dương Kiền
thành luật sư, bỏ chức chủ bút. Văn Học xuống dốc từ chế độ Ngô Đình Diệm bị lật
đổ. Năm 1968, Phan Kim Thịnh sang Gia Định làm phụ tá cho cò Tùy ở Ty cảnh sát.
Tạp chí Văn Học ra số đực, số cái.
Những thằng nằm vùng lõa lồ như Thế Nguyên, Lữ Phương, Nguyễn
Trọng Văn, không có gì đáng nguy hiểm cả. Vì chúng nó chỉ biết đi về một phía
và húc đầu vào một phía. Thằng nằm vùng tôi sắp kể là thằng nằm vùng thượng thặng.
Nó là biểu tượng của bọn cộng sản nằm vùng nên tôi không nêu đích danh. Có thể,
nó vừa mới ăn phở với bạn ở California, vừa uống bia với bạn ở Stuttgart, vừa
nhâm nhi cà phê với bạn ở Paris. Cũng có thể, nó vừa phẫn nộ, rất phẫn nộ chuyện
bạn bị chụp mũ cộng sản và xui bạn nộp đơn kiện kẻ chụp mũ bạn. Và, rất có thể,
nó đang điều khiển một cơ sở truyền thông chửi cộng sản vung xích chó. Tại sao
kỳ vậy? A, xin bạn nhớ giùm câu này "Cứu cánh biện minh cho phương tiện".
Đó là bí kíp... nằm vùng?
Những kẻ đào ngũ, đào nhiệm, chạy trốn là những kẻ chưa một lần
táo bạo để quên, chưa một lần hát, chưa một lần dám thử đau đớn. Thì chiến đấu
của họ chỉ là chiến đấu giả. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam triền miên bất hạnh đã
chán chường những cuộc chiến đấu giả. Hãy chiến đấu thật? Bằng không dám thì
nên im lặng. Để tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi nguyên vẹn cảm
xúc và phẫn nộ.
Cửa mở. Khí thế cách mạng bên ngoài ùa vào nhà tôi "Nhân
dân" ca hát, hô khẩu hiệu vang trời. "Nhân dân" không ngủ đêm
nay. Họ không ngủ trong bóng tôi. Và họ khóc. Sao 30-4 dài thế? Với tôi, nó dài
hơn cả đời tôi. Côn lại khép cửa. Chúng tôi uống rượu, hút thuốc chờ sáng. Đêm
qua tôi đã chờ sáng. Đêm nay tôi vẫn chờ sáng. Tôi chẳng bao giờ ngu dại tin rằng
cộng sản tha tôi. Ngày Chu Tử bị ám sát, tôi viết bài Nỗi cô đơn của người cầm
bút đọc tại Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia là tôi đã tiên đoán thân phận của
tôi. Rồi tôi viết thêm bài nữa, đăng trên Sống*. Khẳng định tôi là kẻ cộng sản
không tha, quốc gia không dung. Đến cuốn Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
xuất bản tháng 2-1975, tôi miệt thị cộng sản là bọn trả thù vặt và nói rõ,
"đời sẽ có kẻ gọi ta là phản động." Thế thì cộng sản phải trả thù
tôi. Họ không trả thù tôi là họ thiếu lô-gích, họ hết là cộng sản. Cộng sản
không tha tôi, đã đành. Nhưng tại sao quốc gia không dung tôi? Cái thứ gọi là
quốc gia mà biểu tượng là Nguyễn văn Thiệu, Đặng văn Quang không được tôi xếp hạng
quốc gia chân chính. Người quốc gia chân chính chưa hề nắm quyền bính tối cao.
Tôi hằng coi Hà Nội như phỉ quyền, Sài gòn như ngụy quyền. Tôi thiết tha tranh
đấu để có một chính quyền trên quê hương tôi. Muốn thế, cuộc chiến đấu của tôi
phải loại bỏ phỉ quyền tôi tớ của Liên xô và ngụy quyền tôi tớ của Hoa kỳ. Và
đích thị tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Họa may, quốc gia
chân chính sẽ dung tôi. Tôi hy vọng thế.
Những người lính thủy quay giang dinh, lao nhanh về căn cứ. Cầu
Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là cộng sản,
cây cầu sẽ bị đánh sập Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với Việt Nam,
cây cầu không bị đánh sập. Hình như nhận loại chưa biết chuyện này. Chúng ta
thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa.
Các em nhi đồng vỗ tay hoan hô. Chị cán bộ tuyên văn giáo dục
tiếp các em nhi đồng Sài gòn những bài ngắn thù hận giặc Mỹ, thù hận đế quốc.
Không có gì lạ cả. Tháng 7-1954, tôi đã thấy ở những góc phố thị xã quê hương
tôi, các chị cán bộ tuyên văn giáo dục các em nhi đồng thù hận giặc Pháp, thù hận
đế quốc, thù hận địa chủ, ca ngợi Bác Hồ, Bác Mao, ca ngợi Liên xô, Trung quốc
Thù hận "trồng" từ 1954, tiếp tục "trồng" đến 1975, và vô tận,
theo chủ trương "trồng người" của ông Hồ Chí Minh. Tôi biết, từ chập
tối ở các góc phố, ở các khu phố, cán bộ tuyên truyền văn hóa của cộng sản đã tụ
tập thiếu niên, nhi đồng để dạy những bài ca cách mạng cho rộn ràng cách mạng
sáng mai. Về điểm này, cộng sản rất "nghề". Trẻ con mau thuộc bài và
hăng say hát. Tôi chợt nghĩ thân phận tôi. Tôi quả là không khá. Riêng bài thơ
Em bé của tôi đăng trên tạp chí Chỉ Đạo năm 1960 đã đủ gây hệ lụy cho tôi rồi.
Nhưng tôi bằng lòng thân phận tôi, tự hào thân phận tôi. Tôi
chống cộng sản tự nguyện. Mười lăm năm cầm bút của tôi, tôi không hề điếm nhục
ngửa tay nhận tiền của Mỹ, của các chế độ Sài gòn để làm công việc đánh đĩ văn
chương - tư tưởng. Tôi chống cộng sản và vì lý tưởng chống cộng sản, tôi chống
luôn cả chính sách xấc xược của Mỹ áp đặt lên số phận dân tộc tôi, chống luôn cả
tập đoàn thống trị bù nhìn và bè lũ điếu đóm, chống luôn bọn tham nhũng thối
nát, bất tài, vô tướng, chống luôn đám hề chính trị rẻ tiền. Nói tóm lại, tôi
chống tất cả những gì nuôi dưỡng cộng sản và làm sáng chính nghĩa cộng sản.
Theo tôi, những bất công xã hội, những đàn áp phát-xít đã dồn dân chúng miền Nam
vào con đường cùng. Dân chúng xa quốc gia, gần cộng sản là bởi lãnh đạo quốc
gia ngu dốt. Tôi chống cả đảng phái hèn mạt lẫn những kẻ đội lốt tôn giáo lãnh
đoạn chính trường. Người ta bảo tôi có lắm kẻ thù. Tôi không tin. Tôi đã viết
50 tác phẩm văn chương. Độc giả của tôi nuôi dưỡng tôi tận tình, cống hiến tôi
đời sống vật chất dư dả. Tôi tự hào là một nhà văn chuyên nghiệp nhiều độc giả
nhất nước, nhiều độc giả tuổi trẻ nhất nước. Những kẻ coi tôi là kẻ thù là những
kẻ không được tôi xếp vào hạng kẻ thù của tôi Họ ở dưới kẻ thù của tôi vô số bậc.
Còn những kẻ đố kỵ tài năng của tôi, cay cú với lòng yêu mến của độc giả của
tôi dành cho tôi là những kẻ luôn luôn đứng sau tôi, xa tít tắp. Họ rất đáng tội
nghiệp và cần được khích lệ như những người có triển vọng ở tương lai. Tôi cô
đơn sáng tạo. cô đơn chiến đấu và cô đơn chết. Nhân danh điều thiện, người thiện
chống việc ác, kẻ ác tôi chết. Tôi chưa biết cộng sản bức tử tôi kiểu nào.
Hãy hồn nhiên, em bé! Hãy nhẩy múa, hát hò, reo vui Em đừng
thèm nghĩ đến chiến tranh, em bé nhé? Chiến tranh là ác quỷ. Đã có anh diệt ác
quỷ. Em bé thiên thần ơi, mãi mãi là mắt ngọc, tóc ngọc, môi ngọc, lời ngọc, hồn
ngọc. Để anh nhẹ bước chiến chinh. Người lính Việt Nam cộng hòa tuyệt vời. Chẳng
còn ngôn ngữ nào cao quý hơn để vinh danh lính của chúng ta, những con người biết
sống, biết chiến đấu và biết chết. Hơn cả hào hùng, lính của chúng ta lãng mạn
nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cho sự sống còn của dân tộc và cả cho tình
yêu của mọi người. Nói rõ rệt, lính của chúng ta chiến đấu để làm rực rỡ ý
nghĩa của Cái Thật, Cái Tốt, Cái Đẹp của con người. Đó là những người lính đi
chiến đấu vì con người, vì tình người, vì đạo nghĩa Việt Nam, vì tình tự Việt
Nam, vì những cái tồn tại vĩnh cửu của Việt Nam. Yên vui hậu phương, đó là mềm
vui của người lính sa trường, đó là lý do chắc tay súng và ngắm đúng kẻ thù.
Không có thứ huy chương nào xứng đáng cho sự hy sinh của người lính Việt Nam cộng
hòa cả. Chắc chắn, họ không chiến đấu vì huy chương. Lý tưởng chiến đấu của họ
chỉ được nhìn thấy khi chúng ta chứng kiến họ đứng giữa biên giới sống chết. Họ
sống vì cái sống của mọi người. Họ chết cũng vì cái sống của mọi người. Người
lính đã quên cả sự sống lẫn sự chết của mình. Và ngay cả lúc đứng giữa biên giới
của sống chết, người lính Việt Nam cộng hòa vẫn còn thừa niềm xúc động để nhỏ
nước mắt xót thương đồng bào mình trong điêu linh, tang tóc của chinh chiến. Có
lẽ, chúng ta đã vô tình không chịu hỏi lính của chúng ta nghĩ gì. Vậy thì anh
làm ơn trả lời đồng bào anh, anh đã nghĩ gì, người lính?
Nỗi khổ của dân tộc chúng ta còn là đường rầy oan nghiệt cho
chuyến tầu hữu nghị phản phúc của nước lớn nghiến nát thô bạo. Bom Mỹ, hỏa tiễn
Liên xô, đại bác Trung quốc đã tàn phá đất nước chúng ta hai mươi năm. Nhân
danh ai, nhân danh cái gì? Lái buôn súng đạn, phù thủy chủ nghĩa đem thân phận
tổ quốc chúng ta, đem xương máu dân tộc chúng ta mua bán, đổi chác? Chẳng có gì
cao quý để nhân danh cả, ngoài quyền lợi tư bản và quyền lợi cộng sản. Những
tâm hồn tư bản bần tiện, những tâm hồn cộng sản bần tiện, những tâm hồn bá quyền
bần tiện, bọn đấu thầu chiến tranh lại lột lưỡi đấu thầu hòa bình. Mỏ con ó cứ
nhọn. Móng vuốt con gấu cứ sắc ác điểu và ác thú ôm nhau hôn, ôm nhau khiêu vũ
trên bãi tha ma. Cùng với sự phản phúc của tư bản, sự bẻ gẫy lương tâm của thế
giới tự do, nước mắt Việt Nam ứa ra cho một chia lìa đòi đoạn...
Thế thì những giọt nước mắt lưu vong sẽ soi sáng nỗi khổ Việt
Nam, em ơi! Nỗi khổ ấy ở quê nhà, nỗi khổ ấy ở quê người. Nỗi khổ ấy chỉ hết
khi những giọt nước mắt vỡ ra thắp rực một hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là ngày anh
em mình hồi hương. Em, ngày mai sẽ đến. Anh em mình về Việt Nam như loài én báo
hiệu mùa xuân trên khắp đất nước. Đêm đen của chủ nghĩa cộng sản tuyệt tích.
Chúng ta đã xóa nó rồi.
Vó ngựa lại một phen tung bụi mịt mù đất nước. Chiến tranh
xâm lăng từ phương Bắc tràn xuống. Như tất cả tuổi trẻ thành phố, nông thôn, những
chàng trai Sài gòn xếp bút nghiên theo việc đao cung, tạm biệt phồn hoa để dấn
thân bảo vệ non sông. Mỗi tấc đất quê hương ông cha gửi lại đều ký thác bằng mồ
hôi, nước mắt và máu. Thì chiến đấu giành lại từng tấc đất lọt vào tay quân thù
cũng phải đổ mồ hôi, nước mắt và máu. Tuổi trẻ Việt Nam đã kiêu hùng, vẫn kiêu
hùng, mãi mãi kiêu hùng. Sự kiêu hùng ấy đã làm nên những chiến thắng Bạch Đằng,
Chi Lăng, Đống Đa...lại làm nên những chiến thắng Bình Long, Kontum, Quảng Trị...
Tuổi trẻ Sài gòn đã vinh dự đóng góp xương máu cho những trang sử đấu tranh của
giống nòi...
Gửi gì về cho vừa đủ một quê hương bỏ lại, một quê hương chất ngất sầu đau? Gửi gì về cho ruộng đồng bát ngát, cho sông nước mênh mông? Gửi gì về cho con kinh mới đào, cho con lạch vừa khơi? Gửi gì về cho bờ xa, cho bãi rộng? Gửi gì về cho đồi thấp, cho núi cao? Gửi gì về cho rừng sâu, cho biển thẳm. Gửi gì về cho lúa vào sữa, cho heo may giải đồng? Gửi gì về cho hoa bưởi, hoa cau? Gửi gì về cho sầu riêng, măng cụt? Gửi gì về cho câu hò lan tỏa, cho điệu ru ấm nồng? Gửi gì về cho đường thơm tình tự, cho ngói đình ái ân, cho nhịp cầu thương nhớ? Gửi gì về? Gửi gì về? ôi quê hương, chỉ khi khuất xa gần như vĩnh biệt, ta mới biết tương tư mùi rơm mới, mùi khói đốt đồng, mùi hoa hèn, mùi cỏ dại. Và ta mới thấy cái đơn giản nhất, cái bình thường nhất đều đã bùi ngùi nhất trên khói sóng hoàng hôn. Không có nơi nào đẹp hơn quê hương ta. Gửi gì về? Cho gửi một mơ ước trở lại.
Người Việt Nam vĩnh viễn. Tình Việt Nam vĩnh cửu. Đã không mất
con người thì không bao giờ mất quê hương. Và những kỷ niệm thuộc về quê hương
cũng không mất. Còn đó, Sài gòn với Nhà Thờ Đức Bà, với Thảo Cầm Viên, với Bảo
Tàng Viện, với Lăng ông Bà Chiểu. Còn đó, Huế với bầy phượng vĩ đỏ ối mùa hè rắc
rơi sắc máu trên lối Huế cổ kính, thầm lặng. Còn đó, Huế với lăng tẩm, điện
đài. Còn đó, Huế với "dấu xưa xe ngựa" với "nền cũ lâu
đài". Còn đó, linh hồn tiền nhân bảng lảng trên lớp rêu phong, trên những
thềm bậc vang bóng một thời. Hỡi tiền nhân bất hủ, có phải người không chết,
người chỉ Tĩnh Tâm dưới hồ sen. Và ý nghĩa sống của người vẫn vàng thắm nhụy
sen, vẫn thơm ngát hoa sen. Ta thèm rung một hồi chuông Thiên Mụ gọi về những
xao xuyến Huế ở mỗi hàng cây, mỗi viên gạch, mỗi bờ tường, mỗi mái ngói, mỗi vạc
đỉnh, mỗi hoa lăn của một triều đại đã khuất lấp ngậm ngùi. Còn đó, Huế với
sông Hương núi Ngự, với cầu Trường Tiền, cầu Bạch Hổ. Còn đó, Huế với những lá
đò dìu nhẹ trên mặt nước bình yên. Còn đó, Huế với giòng An Cựu "nắng đục
mưa trong" và những con thuyền đêm đêm chở đầy trăng xuôi về Vĩ Dạ.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét