Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023
Thằng Khoa
CHƯƠNG 1
Bọn Việt gian dội nước ướt hết áo Kim Đồng. Anh Kim đồng chửi
bới um sùm. Anh bị giặc Pháp trói ghì cánh khỉ, giam ở chân đống rơm. Henri
Rivière sai quân phục kích ngả chùa Đại Đồng. Nó đã mắc mưu trung đội trưởng
Khoa. Quân ta tụ họp tại cầu Chờ, một lúc lâu. Khi biết chắc anh Kim Đồng quê
hương Việt Bắc xa mù đã rơi vào tay giặc, cánh quân tiên phong, do trung đội
phó Mẫn sẹo chỉ huy, lên đường. Tiếng lá ngụy trang kêu sột soạt. Trung đội trưởng
Khoa nhìn đoàn quân đi, cảm khái:
Ta nhớ bao nhiêu mỗi tấc đất Hà Nội nhuộm thắm máu hồn ta
Liên đi chậm dần. Rồi, con bé đi cạnh Khoa. Hai đứa sóng đôi
bước. Cu Đường bỏ hai đứa một quãng xa. Trăng tỏ hơn. Cơn gió lạ, vô tình, luồn
qua bờ tre, khóm lá. Tiếng gì đó xao động, cơ hồ tiếng thầm tình tự của cỏ cây.
Con đường đã hẹp, tự nhiên, hẹp hơn. Cũng tự nhiên, nó chẳng còn dài như những
đêm Khoa tập kịch, về một mình. Khoa ngoái nhìn khúc đường sau lưng. Nó, mơ hồ,
thấy dấu chân nó in lên dấu chân Liên, và cả bóng hình nó in đầy dấu chân Liên.
Khoa bỗng yêu con đưòng đất nhỏ nhễ nhãi ánh trăng. Yêu con ngòi bé. Yêu chiếc
cầu đá. Yêu bụi tre, khóm lá, bờ cỏ. Có lẽ, tại con đường Liên đã in dấu chân,
con ngòi Liên đã soi bóng, chiếc cầu Liên đã đứng chờ, bụi tre, khóm lá, bờ cỏ
Liên đã nhìn, và đã nghe nổi dậy, từ đó, tiếng thầm tình tự của cỏ cây.
Khoa giầu mơ mộng hơn Vũ. Nó lớn lên, cùng với giấc mơ to lớn
của dân tộc. Giấc mơ của Khoa trải rộng, như heo may lướt trên đồng lúa sữa, và
không bị thành phố đánh đai. Giấc mơ ấy, được ướp thơm bằng mùi hoa lý, hoa bưởi,
hoa cau, và, luôn luôn, lên tiếng gọi bằng lời thầm tình tự của cỏ cây đồng nội.
Ngay cả tiếng buồn của hòa âm kèn đám ma, trống cơm đêmnvắng cũng gây xúc động.
Khoa yêu tiếng sáo diều. Lên cao, lan tỏa, ru ngủ êm đềm, chẳng làm ai thổn
thúc. Tiếng quê hương của Khoa đó, tiếng nói yêu thương, tiếng nói khơi ở mỗi
trái tim một dòng suối mộng mơ. Và, dòng suối mộng mơ róc rách chẩy mãi, ở tâm
hồn ta. Không bao giờ đầy. Chẳng bao giờ vơi. Dòng suối làm mát nỗi vui, làm ấm
nỗi buồn. Vui hay buồn, hạnh phúc hay khổ đau cũng chỉ man mác như hoa lý, hoa
cau, lơ lửng như sáo diểu đêm hạ. Khoa không muốn rời xa cái không gian hiền
hòa này. Rời xa, để đi đâu? Đi đâu tìm được mùi thơm của hoa cau, hoa lý. Đi
đâu nghe được tiếng thầm tình tự luồn qua bụi tre, khóm lá. Quê hương ta đã thừa
tất cả. Cố tình thoát ly kiếm cái đẹp, cái hay, rổi sẽ có lần trở về, mang tâm
sự của kẻ du sơn du thủy, trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư: Chỗ quê hương là đẹp
hơn cả. Khoa bằng lòng khung cảnh quen thuộc, tầm thường đến hèn mọn của quê
hương. Lớn khôn, chắc chắn, Khoa sẽ không đi đâu xa. Nó muốn suốt đời được ướp
hồn, bằng mùi thơm muôn thuở của quê hương mộc mạc. Nơi ấy, có con đường tắm
ánh trăng, một đêm nào, nó và con bé Liên đã sóng đôi bước. Con đường đất nhỏ,
câm nín đã dạy Khoa yêu thương, và dẫn nó tới miền yêu thương, dìu nó vào niềm
bí ẩn không thể giải nghĩa.
Hôm nay, là ngày kiểm điểm kết quả. Con đường duy nhất thông
ra đường Lầy, để qua Thọ Bi, và đi đến chợ Ô Mễ, bị chắn ngang bằng cây tre
bương. Có hai cổng: Cổng sáng và cổng dốt. Cổng dốt là cái hố sâu, đầy bùn quyện
lấy rơm và phân trâu bò. Cổng sáng rộng thênh thang, sạch sẽ. Một tấm bảng đen
dựng bên cổng sáng. Rất đông người đứng ở ải địa đầu của dân đi chợ. Bất cứ ai,
muốn qua lối này, phải đọc nổi hàng chữ viết sẵn trên bảng. Đọc nổi thì qua cổng
sáng, được vỗ tay hoan hô. Không đọc được thì… lội bùn, bị chế nhạo xấu hổ. Phần
đông, các cô đọc thông, vì đã đi học Bình dân học vụ. Còn các bà đứng tuổi, các
cụ già vẫn mù chữ. Nhiều bà đội gạo nặng, không thể đội gạo lội bùn, phải nhờ
người đỡ thúng gạo xuống, chuyển sang bên kia đường, rồi mới vén váy tới háng,
mà lội bùn. Quang cảnh buồn cười vỡ bụng. Nhiều bà sợ lội bùn, phải trở lại,
tìm đường tắt qua cánh đồng, đi chợ. Lội bùn xong, đi kiếm vũng nước rửa bùn.
Còn bị gọi là giặc dốt, người mù chữ… Cụ già sáu mươi van nài qua cổng sáng
không xong, chửi ầm ỹ, rồi cũng đành lội bùn. Đạo quân diệt giặc dốt trẻ không
tha, già không thương. Muốn thoát cảnh lội bùn, đi học i tờ. Học i tờ dễ lắm. I
tờ giống móc cả hai, I ngắn có chấm tờ dài có ngang.
Như thế, tết, hay không tết, đối với Khoa, cũng chả ăn thua
gì. Chỉ làm Khoa tương tư mùi khói pháo, không thoát lên được, bởi lớp sương dầy,
trong không khí lạnh. Khoa đã hết nhỏ bé, để thích tranh gà, tranh lợn, để
thích tiền mừng tuổi và mặc quần áo mới. Mà, chẳng ai mừng tuổi ai. Người ta mừng
tuổi cụ Hồ, gửi tiền mừng tuổi bộ đội. Tết kháng chiến đó. Tết kháng chiến. Đám
cưới kháng chiến. Đám giỗ kháng chiến. Đám ma, cũng kháng chiến nốt! Nhiều tập
tục đã bị kháng chiến giết chết oan uổng. Cái trống cơm, cái kèn đám ma chết
trước. Đàn bầu thôi nẩy những điệu lãng mạn thuần túy của quê hương. Mà, chơi…
chào cờ, mặc niệm! Ngay cả tranh gà, tranh lợn mộc bản cũng bị khắc thêm câu
thơ thi đua tăng gia sản xuất:
- Cu Đường là cu Cuội… Liên kể chuyện Trên bến Búng cho cu Đường
nghe bao giờ? Người ta mới hứa kể, đã khoe.
- Tản cư về đây, thì đây là thôn mình.
Yêu nước, động từ này bọc dầy lớp vỏ thiêng liêng. Không ai
có thể phì cười. Tản cư là yêu nước. Đi học là yêu nước. Tăng gia sản xuất là
yêu nước. Đóng thuế là yêu nước. Giết chuột là yêu nước! Không một công việc
gì, dù hèn mọn đến đâu, là không thể hiện lòng yêu nước. Mấy năm chưa có những
khẩu hiệu yêu nước, giết chuột là cái lệ làng đặt ra, và mỗi người chỉ góp đủ số
đuôi chuột làng bắt nộp. Nhà giầu bỏ tiền mua đuôi chuột. Nay đã khác. Giết chuột
là yêu nước. Nên cả làng thi đua bắt chuột. Chuột phá hại mùa màng, chuột nguy
hiểm hơn giặc Pháp. Khói hun ổ chuột, bốc mù mịt khắp cánh đồng. Ai nộp nhiều
đuôi chuột, người ấy yêu nước nhiều. Mà, ai cũng thích yêu nước nhiều, khiến
chuột bị tiêu diệt hết.
- Trung đội phó Mẫn sẹo đã theo bố lên Giai, từ chức rồi. Tôi
đề nghị bầu đồng chí Vĩ thay thế. Đồng chí Vĩ bắt cá trê xuất sắc.
- Tao phê bình thằng đồng chí Hội. Nhi đồng cứu quốc không được
xưng ông.
Hai đứa đi gần nhau. Trăng cuối năm sáng tỏ. Trăng mãi mãi
sáng tỏ, ỡ đồng nội. Mưa dầm gió bấc đã qua rồi. Năm nay, mưa sớm, mưa nhiều,
nên gần tết, trời tạnh ráo. Sáng sớm còn lạnh, nhưng cái lạnh dễ chịu, cái lạnh
không nỡ xoáy buốt vào da thịt. Buổi trưa nắng. Nắng vàng đẹp, như rơm vụ mùa.
Nắng cho cải trổ ngồng, để hoa cải vàng đua cùng nắng. Nắng cho lá cải héo, cho
nải dưa nén hành thơm mùi tết. Nắng cho ấm một sửa soạn đón xuân. Ban đêm, lạnh
hơn đôi chút. Lạnh cho bếp lửa gần người, cho ổ rơm ý nghĩa. Cho những người đi
bên nhau nhìn rõ hơi thở của nhau. Trăng trải ánh bạc. Cũng lạnh. Khoa, mơ hồ,
thấy ánh trăng bốc khói. Không phải trăng đượm hơi sương đâu. Chỉ biết trăng bốc
khói. Khói gì, Khoa chẳng biết. Khoa đưa cho Liên gói lạc rang:
Đã đến cầu Chờ. Những chiếc cầu bắc ngang những khúc ngòi ở
quê nhà Khoa, luôn luôn, là những phiến đá dầy, và lớn. Và, ngay cả những cây cột
cao chống đỡ những phiến đá mặt cầu cũng bằng đá. Mặt cầu, qua nhiều năm tháng,
phẳng lì, nhẵn bóng như mặt bàn gụ. Những bàn chân dính đất cát của người quê
hương là thuốc đánh bóng mặt cầu đá. Buổi trưa có thể thấy rõ mặt mình trên cầu.
Các cô thôn nữ thường dùng mặt cầu làm gương, sửa sang mớ tóc mai, chiếc khăn mỏ
quạ, nếu quãng đường trước mặt đang đi tới mấy anh chàng xinh trai. Ngồi ở cầu,
buông thõng hai chân, nhìn xuống con ngòi, để mộng mơ đôi chút. Tiếng sáo diều
lơ lửng trời xanh. Những chiếc lá trang xanh non. Lũ gọng vó cứ thích bơi ngược
dòng. Và, lá trang là chỗ nghỉ chân của những chú gọng vó dừng bước giang hồ.
Đêm đêm, bất kể mùa xuân, hay mùa hạ, mùa thu, hay mùa đông, đều có một người
ngồi trên cầu chờ đợi một gnười. Cầu, do đó, mang tên cầu Chờ. Cái tên thật
lãng mạn. Lãng mạn như người quê hương, như người đã đặt tên cho chiếc cầu. Hẳn
người này là thi sĩ, là tác giả những vần ca dao bồng bế, óng ả.
- Chắc chắn. Anh không còn phiêu lưu cống Đậu nữa. Anh không
thích bị bố bắt về.
- Có anh Vũ thổi ác mô ni ca, Liên sẽ khóc.
Hồ chủ tịch đã dạy thì khó sai. Loài chó, kẻ thù của kháng chiến, gặp đại họa. Chó lớn, chó nhỏ, chó con, chó mới đẻ đều bị mã tấu du kích chặt ngang thây. Không có nhà nào được nuôi chó. Chó chết đã có chính phủ thay chó, canh gác trộm cướp. Nếu nhà nào cố tình nuôi chó, du kích sẽ khám xét, và giết ngay tại chỗ. Một tháng liền, ở làng Tường An, người ta hạ chó đánh chén ồn ào. Ai không nỡ giết con vật trung thành với chủ, đành an ủi chó nhà mình vài câu, rồi đánh đuổi nó đi. Du kích rượt theo, xung phong giết. Du kích ăn thịt chó mãi đâm ra chán, chó bị giết chết ngổn ngang, thối om. Du kích căm thù chó cực độ. Mã tấu vung lên, cả đàn chó sơ sinh, mắt vừa kịp mở nhìn du kích căm thù, bị chặt mỗi con thành hai khúc.
1. Khúc ca giữ làng, nhạc và lời của Canh Thân, sáng tác ngoài
kháng chiến, và đổi lời mới khi tác giả về tề, thành Khúc ca mùa hè.
- Muốn tiêu diệt quân nhẩy dù Pháp, toàn dân phải chuẩn bị
khí giới sẵn sàng. Mọi người phải mang theo khí giới, bất cứ đi đâu.
- Mẫu đơn. Có cả mầu vàng, mầu hồng nữa. À, hồi nhỏ, mẹ Liên
có xỏ lỗ tai cho Liên không?
Chuẩn bị tổng phản công, thanh niên phải lên đường hàng tháng
xa gia đình, đắp ụ, đào đường. Bài thơ Phá đường, ai nấy đều thuộc:
Mùa hạ qua. Mùa thu sang. Mùa đông tới. Mùa xuân về. Làng xóm
vẫn bình yên. Máy bay khu trục đen thui chỉ bay thật cao, trên vùng trời Tường
An. Bay qua. Giặc sợ hãi không dám nhẩy dù. Khoa cũng chẳng biết giặc đã nhẩy
dù ở Việt Bắc, đã đuổi giạt bộ đội và chính phủ ta vào tận rừng sâu, nước độc.
Làng Tường An chưa ăn bom đạn giặc, là bộ đội đang chiến thắng. Gần ba năm sống
đời kháng chiến xa nhà nhịp theo đời sống mới, biệt ly thành phố rực rỡ ánh đèn
điện, Khoa yêu đời sống áo nâu vô cùng. Thôn ổ dạy Khoa nhiều thứ, cho Khoa nhiều
thứ. Khoa lớn vội, và Khoa cảm xúc nhanh. Tâm hồn Khoa mở rộng. Hương đồng gió
nội ùa ngập, cùng với mộng ước êm đềm. Mộng ước đó, mỗi ngày, một thắm đặm, tưởng
không bao giờ tàn phai. Nếu kháng chiến thành công, nếu giặc Pháp đừng bén mảng
sang Thái Bình, mộng ước sẽ no tròn. Bàn tay Khoa sẽ nắm gọn mộng ước đó. Mộng
ước làm người dân của một nước độc lập. Mộng ước được sống hoài với kỷ niệm tuyệt
với, trên mảnh đất quê hương mình.
Ngay buổi tối hôm ấy, nhi đồng Tường An đã vác trống đồng
sang ngôi chùa làng mình bị ông tiên hạng bét đánh cờ thua, mà khua ầm ỹ. Một
ông tiên cừ khôi đã lấy lại chùa cũ. Ông tiên đó là Khoa, là Kim Đồng, là tuổi
thơ lồng lộng và thần thánh của Việt Nam kháng chiến chống xâm lăng. Ông tiên
mê gái. Ông tiên chiến thắng nhờ gái. Ông tiên chẳng hề biết điều ấy.
Hai đứa trẻ cởi áo đưa cho Liên cầm. Những người tham dự trò
chơi khắc phục gian khổ để chiến thắng đang làm trò cười cho khán giả. Họ đi
trên cây tre bương, như đi cột mỡ. Mgã là thường. Mỗi lần, một người rớt xuống
ao, cây tre lại rung rinh. Đường xung phong đi trước. Nó chờ cây tre hết rung
rinh, mới đặt chân lên. Đường giống con khỉ. Đường giống người làm xiếc đi trên
dây. Nó không được cầm cây tre dài, lấy thăng bằng thân thể. Đường đã tới giữa
đường khắc phục. Đường rón rén thêm chút nữa. Nó mở kỷ lục. Khán giả hoan hô Đường.
Đường nắm chắc giải thưởng rồi.
Khoa nhẩy lên bờ. Khoa lại khắc phục gian khổ. Đề, làm vui
lòng Liên. Để, chiến thắng Liên. Lúc này, chỉ có Liên. Chỉ vì Liên. Khoa đã đi
quá giữa. Quá một chút nữa. Cây tre rung rinh nhiều. Khoa nghiêng mình bên phải.
Khoa nghiêng mình bên trái. Khoa rung rinh cùng với cây tre bương quái ác. Khoa
hồi hộp. Liên còn hồi hộp hơn. Khán giả vỗ tay rền vang. cu Đường nhẩy cỡn, hét
ỏm tỏi:
Mùa xuân lại sắp về. Kháng chiến, thế mà, đã được bốn năm. Cuộc
trường kỳ kháng chiến có thể kéo dài hằng trăm năm. Vua Lê Lợi, ngày xưa, kháng
chiến chống quân nhà Minh, ròng rã, mười năm mới chiến thắng. Hồ chủ tịch kêu gọi
toàn dân đẩy mạnh cách mạng thành công, kháng ciến thắng lợi, dù phải hy sinh tới
giọt máu cuối cùng. Nhất định, trường kỳ kháng chiến sẽ đánh bại thực dân xâm
lăng Pháp. Nhất định, Việt Nam sẽ độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch đoan quyết:
Chúng ta sắp thắng lợi. Chỉ cần toàn dân thi đua giết giặc.
Côn đau nhói ở tim. Côn chợt hiểu, lớn khôn là biết đón nhận
những nỗi đau sót. Cha Khoa không gọi Côn là cháu nữa. Sự thân mật vất trả về
quá khứ. Côn nâng chén nước. Uống cạn nỗi buồn.
Buổi sáng đầy sương mù. Mặt trời đã nhô lên cao. Ánh nắng còn
quá yếu, chưa đủ làm tan sương mù che kín làng thôn. Khoa thức dậy, thật muộn.
Nó ra vườn, kiếm vài trái bòng đẹt rụng muộn, đem sang cho Liên đánh chuyền.
Qua hàng dậu tre thưa, Khoa ngạc nhiên thấy, trên đường Lầy, lố nhố những người
gồng gánh, chạy nhanh về Đồng Đức, Tường An. Những điểm đen nổi bật trong không
gian mù sương. Khoa mở căng mắt nhìn. Cảnh tượng thật đẹp. Y hệt đứng xem người
giấy chạy quanh chiếc đèn kéo quân. Những người gồng gánh đã như một hàng kiến
dài, trên đường Lầy. Văng vẳng tiếng quát tháo, tiếng giục giã, và tiếng khóc.
Khiến Khoa càng ngạc nhiên hơn. Nó chạy vào nhà, thưa chuyện với cha. Hai cha
con, tất tả, chạy ra đầu làng, thăm hỏi sự tình. Mới tới nửa đường, đã gặp ông
phó Đẩu, mặt mày tái ngắt, lắp bắp báo tin:
Đêm im lặng. Những con chó sống sót lại bị giết hết. Trống đồng
của thiếu nhi thôi đánh. Đêm sợ hãi. Gió lạnh thổi dữ dội. Tiếng tre già cọ sát
nhau nghe rụng rời. Không ai thiết nghĩ đón tết nữa. Ban ngày, dân làng kéo
nhau lên miễu Vang. Nếu giặc tới từ ngả Giai, Lạng, thì chạy xuống Thụy Bình. Nếu
giặc tới từ ngả Ô Mễ, thì chạy lên Giai, Lạng. Đứng miễu Vang, có thể, nhìn rõ
đường số 10, nhìn rõ những chiếc xe căm nhông giặc chở quân. Những chiếc xe nhỏ
bé, cơ hồ như những con bọ hung nhúc nhích.
Một tràng đạn liên thanh quạt ròn rã, Khoa hoảng quá, chạy vụt ra khỏi nhà, vướng vào bức mành mành, và kéo đứt bức mành mành. Khoa ngã xuống sân gạch. Nó đứng ngay dậy, cắm cổ, chạy sang nhà ông Năm, quên hết các thế bò trận giả, các thế nằm tránh đạn máy bay. Đạn nổ ròn rã. Tiếng chân giặc chạy huỳnh huỵch đã thật gần. Khoa rồi trí, nó chạy thục mạng qua con ngòi, lách dậu, vào vườn dâu của bác Hạch. Khoa nằm ở góc vườn, đôi mắt nhắm chặt. Kim Đồng sợ giặc Pháp. Anh quên luôn giấc mộng mơ thành người sông Lô. Anh Kim Đồng phóng khỏi nhà, té nhào trên sân, vùng lên chạy trốn. Trung đội trưởng Khoa đánh rơi nhiệm vụ chỉ huy nhi đồng rồi.
Du kích xuống thớ, không dám ti toe. Du kích được mỗi cái tài
tiêu diệt chó. Giặc vừa càn lướt, chưa đầy tiếng đồng hồ, mà tinh thần trường kỳ
kháng chiến đã lép xẹp 2. Không khí cách mạng, không khí thi đua lập công tan
rã. Mặt đất khô cằn, câm nín tưởng đã nứt nẻ cho mầm hy vọng đâm chồi. Hy vọng ấy
vừa nhú lên, đã bị đâm nát, bởi giầy đinh bạo tàn của quân xâm lược. Mặt đất,
bây giờ, lộ rõ những kẽ kinh hoàng.
Đống Năm không còn. Đống Năm đã tan nát. Những người tản cư bốn
phưong về Thái Bình, tạo Đống Năm thành một thị trấn ở hậu phương kháng chiến,
cũng biến hết. Kẻ lê gót lên Việt Bắc xa mù, kẻ về tề sống an phận. Đất tề lạnh,
nhưng đất tề không lo chạy giặc. Tin đồn thị xã Thái Bình, dân chúng hồi cư về,
mỗi ngày một đông. Người ta dựng nhà mái rạ, mái tôn tạm bợ, trên những nền nhà
tiêu thổ kháng chiến năm xưa. Giặc Pháp đặt chân qua khắp mười hai phủ, huyện rồi.
Xa tít tắp, như Thần Đầu, Thần Huống, giặc còn tới chém giết, đốt phá, hãm hiếp.
Và, chẳng thấy bộ đội tổng phản công.
- Liên mới chỉ nghe bố nói. Hôm nào Liên đi, Liên sẽ bảo Khoa.
Khoa từ từ đứng dậy. Nó ngước nhìn trời. Trời chưa có sao.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Bùi Thanh Truyền và Văn nhân xứ Quảng ở Sài Gòn “Bao nhiêu chữ đó bấy nhiêu tâm” (Phan Bội Châu) Hiện nay, dân gốc Quảng có hơn 1,3 tr...
-
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi Vũ Thị Huê Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát tri...
-
Hồ Xuân Hương - Bà chúa thơ Nôm Thơ Xuân Hương lớn tiếng đả kích tất cả những nhân vật tiêu biểu của xã hội phong kiến, từ đám sĩ tử, n...
-
Ngày tháng rong chơi bên trời Đất trời như một định luật sẵn có: Hết ngày rồi đêm, tối rồi lại sáng; ngày tháng cứ mãi dần trôi và tôi ...

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét