"Mai
sau những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi và còn lại ở cái thời kỳ
này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử". (Chế Lan Viên)
Trong các nhà thơ tiền chiến Hàn Mặc Tử ở vào một hoàn cảnh rất đặc biệt: Ông mắc bệnh phong vào khoảng 1930 phát bệnh năm 1936 và mất ở nhà thương phong Quy Hòa (Quy Nhơn) ngày 11/11/1940.
Trong các nhà thơ tiền chiến Hàn Mặc Tử ở vào một hoàn cảnh rất đặc biệt: Ông mắc bệnh phong vào khoảng 1930 phát bệnh năm 1936 và mất ở nhà thương phong Quy Hòa (Quy Nhơn) ngày 11/11/1940.
Trước năm
1941 năm các nhà khoa học tìm ra DDS một loại thuốc đặc trị bệnh phong bệnh này
được xếp vào một trong tứ chứng nan y. Do những tổn thương bệnh làm lở loét tứ
chi mặt mũi sần sùi trông rất gớm ghiếc người đời mặc cảm với những người mắc bệnh
phong tìm cách xa lánh họ. Hàn Mặc Tử cũng rơi vào tình trạng như vậy. Năm 1936
khi kỳ lưng cho Tử mẹ ông chợt phát hiện trên lưng con mình có những đám màu hồng
nhạt. Hỏi Tử cho biết một đêm đi chơi với Mộng Cầm khi về bị trời mưa và trên
đường lại qua một khu mả mới. Tưởng rằng Tử bị mề đay cả nhà không ai để ý. Những
mảng đỏ trên da cứ ngày một lan rộng và sau đó hai dái tai cũng bị sưng đỏ. Căn
cứ vào những mô tả của ông Nguyễn Bá Tín em ruột của nhà thơ hiện đang sống ở
Nha Trang thì những thương tổn như vậy là những dát phong tương đương giai đoạn
BL của bệnh phong. Đi khám thầy thuốc bắc thầy bảo bị phong (một chứng ngứa
thông thường) và cho uống thuốc tễ. Bệnh của Tử vẫn không thuyên giảm. Thương
con mong cho con mau khỏi bệnh bà mẹ của Tử đưa con đến khắp lượt các danh y
trong vùng. Các thầy thuốc bắc thời bấy giờ có quan điểm rất lạ: lấy độc trị độc
nên đã cho Tử uống các loại thuốc có nọc rắn mai gầm nọc rắn hổ mang. Trước đó
khi từ Sài Gòn về tử đã nhận lời làm biên tập cho tờ "Phụ nữ Tân văn"
nên rất nóng lòng trở vào nhận việc. Chính vì vậy Tử đã uống gấp đôi gấp ba liều
quy định. Có khi uống xong mặt mày xây xẩm ngã lăn xuống đất. Các loại nọc rắn
có độc lực rất mạnh đã làm hỏng gan và thận và cuối cùng Hàn Mặc Tử được đưa
vào điều trị ở Quy Hòa (21/9/1940). Hồ sơ nhập viện mang ký hiệu 1134 còn ghi
rõ: bệnh nhân Nguyễn Trọng Trí (tên thật của nhà thơ) chẩn đoán lúc vào: Lèpre
bacteriloriquement confirmé (phong thể nhiều vi khuẩn) và lúc ra: Tử vong vì kiết
lị.
Tử đến
Quy Hòa vào một sáng mùa thu chớm lạnh. Hành trang chẳng có gì trong túi không
một đồng xu. Tử mặc bộ quần áo bà ba trắng đã cũ đi đôi giày ba ta sờn đội chiếc
khăn bông trắng dài quá lưng chừng như sợ lạnh. Các nữ tu người Pháp đón Tử với
một tình cảm thương mến. Soeur Juetta người làm việc lâu năm ở đây đã tự tay trải
giường cho Tử nằm pha sữa cho Tử uống. Mẹ Marie de la Resuression giám đốc nhà
thương nhận hồ sơ từ bệnh viện Quy Nhơn chuyển đến bố trí cho Tử nằm ở giường số
3 khu nhà lá tập thể đối diện với nhà thờ. Ở đây Tử đã sớm làm quen với những
người bạn cùng cảnh: anh Nguyễn Văn Xê (mới mất năm 1993) anh Nguyễn Văn Trung
có quán tạp hóa nhỏ dành cho người bệnh và hai người Pháp cũng bị bệnh phong ở
nhà bên cạnh. Anh Xê kể lại rằng lúc đó không ai biết Tử là nhà thơ là người có
học nhưng do Tử rất hiền lành nên ai cũng mến thương Tử. Anh Xê còn cho biết
thêm Tử giỏi tiếng Pháp nhưng không khi nào dùng tiếng Pháp để nói chuyện với các
soeur. Cho đến một hôm người giúp việc cho Tử - em Hành - đưa đồ ăn từ Quy Nhơn
vào mang theo cuốn sách cũ cuốn Deux centmorceaux de poemes d auteurs Francais
(hai trăm bài thơ của các tác giả Pháp) Xê hồ nghi và cằn nhằn: "Anh biết
tiếng Pháp sao cứ bắt tôi làm thông ngôn hoài!". Tử cười: "Anh em
mình cả mà ai nói mà không được!". Trong thời gian Tử nằm điều trị ở Quy
Hòa anh Xê cho biết ngoài em Hành không có ai vào thăm. Có lẽ bây giờ người đời
ghê sợ và xa lánh bệnh nhân phong.
Tình trạng của Tử lúc ấy rất bi đát: "Hai mắt nằm lọt vào hai lỗ hõm sâu hoắm đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc xương chân tay co rút mà đầu tóc bù xù rối trết lại trong đó nhô nhúc những chấy là chấy (Thư của anh Nguyễn Văn Xê đề tại Quy Hòa ngày 25/3/1941)".
Với thực trạng như vậy việc sáng tác của Hàn Mặc Tử rất khó khăn. Ông có viết thư cho gia đình và bạn bè. Qua nét chữ xiêu vẹo người ta thấy được thảm cảnh của Tử lúc ấy.
Tình trạng của Tử lúc ấy rất bi đát: "Hai mắt nằm lọt vào hai lỗ hõm sâu hoắm đến không còn mở ra được. Thân hình chỉ còn da bọc xương chân tay co rút mà đầu tóc bù xù rối trết lại trong đó nhô nhúc những chấy là chấy (Thư của anh Nguyễn Văn Xê đề tại Quy Hòa ngày 25/3/1941)".
Với thực trạng như vậy việc sáng tác của Hàn Mặc Tử rất khó khăn. Ông có viết thư cho gia đình và bạn bè. Qua nét chữ xiêu vẹo người ta thấy được thảm cảnh của Tử lúc ấy.
Sau một
thời gian điều trị khoảng ba tuần lễ nhờ sự chăm sóc của các nữ tu dòng
Franciscain đặc biệt đặc biệt nhờ sự tận tình chăm sóc của soeur Juetta sức khoẻ
của Tử khá lên rất nhiều. Tử đề nghị các soeur cho tiêm thuốc Huille de moogra
ethereé loại dầu chế từ hạt đại phong tử do bác sĩ Gourvit giám đốc bệnh viện
Quy Nhơn chế.
Tiêm được
một mũi chừng một phần ba phân khối Tử cảm thấy rất mệt kèm theo sự rối loạn hấp
thu do tì vị bị hư hỏng Tử bị kiết lỵ cơ thể suy sụp rất nhanh chóng buộc các
soeur phải đưa vào buồng biệt lập. Tử lường được sức chuẩn bị cho mình một cái
chết thanh thản. Một hôm soeur Julien đến thăm Tử. Biết Tử không qua nổi nhiều
người bệnh quanh đó lo lắng theo dõi từng cử chỉ của soeur. Souer Julien có tài
chẩn bệnh bằng cách bắt mạch. Khi thấy souer chau mày lắc đầu mọi người đều thất
vọng. Linh mục Nicola Cận được mời đến xức dầu và làm phép giải tội cho Tử. Tử
không chịu nằm mà quỳ xuống dưới chân cha. Cha khẽ đỡ Tử dậy và bảo: "Con
ngồi". Tử khẽ gật đầu: "Dạ" và đây là lần xưng tội sau
cùng.
Những giờ phút cuối đời của Tử anh Xê thường có mặt bên cạnh. Đêm 8/11/1940 đến ca trực đêm của anh Xê Tử đột ngột ngồi dậy lấy trong chiếc áo gối mang theo từ nhà hai tập giấy đánh máy mỏng rất đẹp và hỏi anh Xê: "Anh Xê có tình yêu chưa?". Xê trả lời: "Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ có tình yêu với Thiên chúa". Tử nói tiếp: "Đây là gia tài của tôi xin tặng anh tập thơ Cầu Nguyện" và lấy bút chì trong túi áo ra ghi dòng chữ: thơ Cầu Nguyện đề tặng anh Xê - Francois Trí. Đó là tập thơ đánh máy trên giấy poluya mỏng chữ không có dấu. Anh Xê phân vân: "Không có dấu làm sao tôi đọc được ?". Tử: "Để khi nào mạnh tớ thêm dấu cho". Tử vẫn lạc quan tin yêu cuộc sống ngay cả khi thần chết đã đến gần kề.
Đặc biệt trong 51 ngày ở Quy Hòa do sức khỏe bị suy kiệt Tử chỉ viết một bài thơ văn xuôi viết bằng tiếng Pháp có nhan đề: "La purté de âme" (sự trong sạch của tâm hồn). Bài thơ được viết trên giấy ca rô kẻ nhỏ với cây bút chì cùn dài non đốt ngón tay và tuyệt nhiên không một dấu tẩy xóa không một lỗi chính tả nào. Ngờ đâu đó là tác phẩm cuối cùng kết thúc cuộc đời tài ba sau hơn mười hai năm cầm bút. Bài thơ được viết vào những đêm khuya khi những người bệnh đã ngủ. Cuối bài thơ có ghi rõ ngày tháng trong đó có một đoạn như sau:
Những giờ phút cuối đời của Tử anh Xê thường có mặt bên cạnh. Đêm 8/11/1940 đến ca trực đêm của anh Xê Tử đột ngột ngồi dậy lấy trong chiếc áo gối mang theo từ nhà hai tập giấy đánh máy mỏng rất đẹp và hỏi anh Xê: "Anh Xê có tình yêu chưa?". Xê trả lời: "Tôi từ nhỏ tới giờ chỉ có tình yêu với Thiên chúa". Tử nói tiếp: "Đây là gia tài của tôi xin tặng anh tập thơ Cầu Nguyện" và lấy bút chì trong túi áo ra ghi dòng chữ: thơ Cầu Nguyện đề tặng anh Xê - Francois Trí. Đó là tập thơ đánh máy trên giấy poluya mỏng chữ không có dấu. Anh Xê phân vân: "Không có dấu làm sao tôi đọc được ?". Tử: "Để khi nào mạnh tớ thêm dấu cho". Tử vẫn lạc quan tin yêu cuộc sống ngay cả khi thần chết đã đến gần kề.
Đặc biệt trong 51 ngày ở Quy Hòa do sức khỏe bị suy kiệt Tử chỉ viết một bài thơ văn xuôi viết bằng tiếng Pháp có nhan đề: "La purté de âme" (sự trong sạch của tâm hồn). Bài thơ được viết trên giấy ca rô kẻ nhỏ với cây bút chì cùn dài non đốt ngón tay và tuyệt nhiên không một dấu tẩy xóa không một lỗi chính tả nào. Ngờ đâu đó là tác phẩm cuối cùng kết thúc cuộc đời tài ba sau hơn mười hai năm cầm bút. Bài thơ được viết vào những đêm khuya khi những người bệnh đã ngủ. Cuối bài thơ có ghi rõ ngày tháng trong đó có một đoạn như sau:
Pureté de I âme
...Anges du Ciel Anges du Dieu
Anges de Paix et de Gaieté
Lancez-vous des roses et des nénupherds
des chant mélodieux et des notes enbaumeés
et versez avec effusion les vertus le courage
et labonheur parmi les servantes de Dieu
Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940
Tạm dịch:
Sự trong sạch của tâm hồn
Hỡi Thiên thần của Trời Thiên thần của Chúa
Thiên thần của Hòa bình và Hoan lạc
Xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng hoa súng
Những điệu hát reo rắt và những nốt nhạc thơm tho
Và hãy xin tưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh
Can đảm và hạnh phúc cho những vị nữ tu của Thiên chúa.
Đêm thứ tư 24/10/1940
Francois Trí.
...Anges du Ciel Anges du Dieu
Anges de Paix et de Gaieté
Lancez-vous des roses et des nénupherds
des chant mélodieux et des notes enbaumeés
et versez avec effusion les vertus le courage
et labonheur parmi les servantes de Dieu
Nuit de Mercredi 24 Octobre 1940
Tạm dịch:
Sự trong sạch của tâm hồn
Hỡi Thiên thần của Trời Thiên thần của Chúa
Thiên thần của Hòa bình và Hoan lạc
Xin hãy ném cho nhau những đóa hoa hồng hoa súng
Những điệu hát reo rắt và những nốt nhạc thơm tho
Và hãy xin tưới trút cho tràn trề nào là đức hạnh
Can đảm và hạnh phúc cho những vị nữ tu của Thiên chúa.
Đêm thứ tư 24/10/1940
Francois Trí.
Đây là
bài thơ Tử viết tặng các souer những ân nhân những người mẹ người chị của mình ở
Quy Hòa. Sau khi Tử mất người ta tìm được trong túi áo ngực của Tử và trao lại
cho các souer.
Suốt thời gian ở Quy Hòa Tử vận động rất khó khăn phải có người dìu hai bên nách mới ra được chỗ ăn cơm. Mặt khác da tay bị cứng lại cầm bút rất khó. Đây là thời kỳ khủng hoảng trong sáng tác vì Tử hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với thần chết. Có được một bài thơ như vậy là một nỗ lực phi thường của Tử. Tiếc thay bài thơ đó lại không được những người làm tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử chọn vào.
Suốt thời gian ở Quy Hòa Tử vận động rất khó khăn phải có người dìu hai bên nách mới ra được chỗ ăn cơm. Mặt khác da tay bị cứng lại cầm bút rất khó. Đây là thời kỳ khủng hoảng trong sáng tác vì Tử hàng ngày hàng giờ phải đối mặt với thần chết. Có được một bài thơ như vậy là một nỗ lực phi thường của Tử. Tiếc thay bài thơ đó lại không được những người làm tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử chọn vào.
Trải qua
bốn năm vật lộn với bệnh tật tử phải chịu nỗi đau đớn cùng cực cả thể xác lẫn
tinh thần. Dù được các souer tận tình cứu chữa nhưng do cơ thể suy kiệt Tử đã lặng
lẽ qua đời lúc 11 giờ sáng ngày 11 tháng 11 năm 1940.
Gia đình ở xa bạn bè ở xa không một ai đến đưa đám không ai thắp một nén nhang hay một vòng hoa tưởng niệm trên mộ Tử. Chỉ có các souer những người bạn bệnh cùng thời theo sau chiếc xe tang phủ vải đen và những lời cầu kinh vĩnh biệt.
Than ôi Hàn Mặc Tử thiên tài đã vĩnh biệt chúng ta khi tuổi đời 28. Sự bất lực của y học thời bấy giờ đã cướp đi sự sống của nhà thơ. Hàn Mặc Tử không phải chết vì bệnh phong mà vì sự sai lầm của những ông lang băm dốt nát. Ngày nay bệnh phong không còn là chứng nan y và với quyết tâm của ngành y tế bệnh phong sẽ được thanh toán vào năm 2000. Ở Quy Hòa nơi Hàn Mặc Tử nằm điều trị và viết bài thơ cuối cùng hiện có một phòng lưu niệm về nhà thơ tài ba nhưng bất hạnh này.
Gia đình ở xa bạn bè ở xa không một ai đến đưa đám không ai thắp một nén nhang hay một vòng hoa tưởng niệm trên mộ Tử. Chỉ có các souer những người bạn bệnh cùng thời theo sau chiếc xe tang phủ vải đen và những lời cầu kinh vĩnh biệt.
Than ôi Hàn Mặc Tử thiên tài đã vĩnh biệt chúng ta khi tuổi đời 28. Sự bất lực của y học thời bấy giờ đã cướp đi sự sống của nhà thơ. Hàn Mặc Tử không phải chết vì bệnh phong mà vì sự sai lầm của những ông lang băm dốt nát. Ngày nay bệnh phong không còn là chứng nan y và với quyết tâm của ngành y tế bệnh phong sẽ được thanh toán vào năm 2000. Ở Quy Hòa nơi Hàn Mặc Tử nằm điều trị và viết bài thơ cuối cùng hiện có một phòng lưu niệm về nhà thơ tài ba nhưng bất hạnh này.
Nguồn: Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh- 1998.
Số 10 (Ngày 9 tháng 4) (1.594); KHPL:
BĐ.04 (91)





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét