Nhìn về vốn văn hóa dân tộc
Nhìn về vốn văn hóa dân tộc là một trích đoạn của tiểu
luận Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc được Trần Đình Hượu viết từ
năm 1986. Với tiểu luận này mục đích chính mà tác giả đặt ra không phải là xác
định rõ ràng từng điểm một về cái gọi là bản sắc văn hóa dân tộc mà gợi mở
con đường nghiên cứu về nó trong tư cách một vấn đề thời sự của chiến lược
phát triển đất nước thời kỳ đổi mới. Như vậy ở đây "nhìn về" cũng
chính là "hướng tới" và hành động "nhìn về" truyền thống
"nhìn về" quá khứ trở thành một yếu tố then chốt của hành động
"hướng tới" hiện đại "hướng tới" tương lai.
Trong tiểu luận bên cạnh khái niệm vốn văn hoá dân tộc tác
giả cũng dùng một số khái niệm khác như : đặc sắc văn hóa dân tộc thiên hướng
văn hóa dân tộc tinh thần chung của văn hóa dân tộc. Cách diễn đạt của tác giả
không cố định cứng nhắc. Có khi tác giả chỉ viết đơn giản : bản sắc dân tộc hoặc
nói hơi khác : bản sắc dân tộc của văn hóa. Nhìn chung theo tinh thần
toát lên từ toàn bộ tiểu luận có thể hiểu vốn văn hoá dân tộc hay bản
sắc văn hóa dân tộc là cái giúp khu biệt văn hóa của dân tộc này với văn
hóa của dân tộc khác. Bản sắc văn hóa dân tộc là hiện tượng kết tinh là thành
quả tổng hợp của một quá trình sáng tạo tiếp xúc văn hóa nhào trộn cái vốn
có riêng có của dân tộc với những cái tiếp thu từ bên ngoài. Bản
sắc văn hóa vừa có mặt ổn định vừa có mặt biến đổi. ổn định không đối
lập mà tạo tiền đề cho biến đổivà biến đổi cũng để đi đến một dạng ổn
định mới cao hơn phong phú hơn. Khái niệm vốn văn hóa dân tộc mà
tác giả dùng vừa có mặt rộng hơn vừa có mặt hẹp hơn khái niệm bản sắc văn
hóa dân tộc. Nói rộng là vì : bản sắc văn hóa làm nên cái vốn
văn hóa. Còn nói hẹp là bởi : vốn văn hóa dường như chỉ nói được mặt ổn
định cố hữu mà chưa nói được mặt biến đổi của bản sắc văn hóa. Với các
khái niệm thiên hướng văn hóa tinh thần chung của văn hóa có lẽ tác
giả muốn nói chiều động chiều phát triển của bản sắc văn
hóa.
Ngoài đoạn mở đầu mang tính chất đặt vấn đề cả tiểu luận (phần
được trích học) tập trung nêu lên và nhận xét về một số điểm mà theo tác giả là
có "liên quan gần gũi" với cái gọi là đặc sắc văn hóa dân tộc. Cách
triển khai lập luận của tác giả khá đặc biệt. Bắt đầu ông đã không nói về cái có mà
nói về cái không của vốn văn hoá dân tộc. Có thể dễ dàng đếm được
trong bài có đến trên vài chục lần từ không được lặp lại - từ không với
hàm nghĩa chỉ ra những cái mà dân tộc ta không có (so với các dân tộc khác trên
thế giới). Bên cạnh từ không các cụm từ và từ như chưa bao giờ
ít cũng chở theo một nội dung tương tự. Khó nói rằng tác giả cố tình
"độc đáo" cố tình gây ấn tượng ở điểm này. Cái gây ấn tượng nếu có
toát lên từ cách nhìn trực diện về vấn đề hơn là cách tung hứng ngôn từ. Vào thời
điểm tiểu luận của Trần Đình Hượu ra đời người ta vốn đã quen nghe những lời ca
tụng về dân tộc mình (Càng nhìn ta lại càng say - Tố Hữu) bởi vậy khi giáp
mặt với một cách đặt vấn đề khác một cảm hứng nghiên cứu khác nhiều người dễ có
cảm tưởng rằng tác giả đã "nói ngược" hay đã cực đoan trong các nhận
định. Kì thực nếu nắm được mạch nghiên cứu lịch sử tư tưởng của Trần Đình Hượu
đồng thời chấp nhận nét đặc thù của lối văn "phát biểu ý kiến" ít có
trích dẫn cũng như ít đưa dẫn chứng (ở cấp độ cụ thể chi tiết) lại chủ yếu hướng
vào giới chuyên môn vốn am hiểu sâu sắc các vấn đề hữu quan ta sẽ dễ dàng chia
sẻ tán đồng với tác giả về hầu hết những luận điểm then chốt mà ông nêu lên.
Khi khẳng định : "Giữa các dân tộc chúng ta không thể tự
hào là nền văn hóa của ta đồ sộ có những cống hiến lớn lao cho nhân loại hay có
những đặc sắc nổi bật" tác giả đã dựa vào khá nhiều căn cứ : ở Việt Nam
kho tàng thần thoại không phong phú (xét theo những gì còn được bảo tồn đến bây
giờ) ; tôn giáo triết học đều không phát triển ; không có một ngành khoa học
kĩ thuật nào phát triển đến thành có truyền thống ; âm nhạc hội họa kiến
trúc đều không phát triển đến tuyệt kĩ ; thơ ca rất được yêu thích nhưng
các nhà thơ không ai nghĩ sự nghiệp của mình là ở thơ ca;... Dĩ nhiên đây
mới chỉ là những "căn cứ lớn" mà bản thân chúng có thể và cần phải được
chứng minh bằng hàng loạt dữ kiện cụ thể. Do định hướng riêng của bài viết tác
giả đành lướt qua vấn đề này.
Điều quan trọng hơn đối với ông là nói rõ tiền đề mà dựa trên đó các "căn cứ lớn" đã được nêu lên: "ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo hoặc là một trường phái triết học một ngành khoa học một nền âm nhạc hội họa ... phát triển rất cao ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó". Theo lô gích vấn đề ở cuối đoạn 2 tác giả còn cắt nghĩa lí do của các "kiểu lựa chọn văn hóa" vừa được chính ông trình bày để ta thấy rõ tính qui luật của nó : "Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng hứng thú sự ưa thích nhưng hơn thế còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của cư dân nông nghiệp định cư không có nhu cầu lưu chuyển trao đổi không có sự kích thích của đô thị". Bằng cách lật đi lật lại vấn đề như thế tác giả đã thực sự làm tăng sức thuyết phục cho luận điểm của mình.
Điều quan trọng hơn đối với ông là nói rõ tiền đề mà dựa trên đó các "căn cứ lớn" đã được nêu lên: "ở một số dân tộc hoặc là một tôn giáo hoặc là một trường phái triết học một ngành khoa học một nền âm nhạc hội họa ... phát triển rất cao ảnh hưởng phổ biến và lâu dài đến toàn bộ văn hóa thành đặc sắc văn hóa của dân tộc đó thành thiên hướng văn hóa của dân tộc đó". Theo lô gích vấn đề ở cuối đoạn 2 tác giả còn cắt nghĩa lí do của các "kiểu lựa chọn văn hóa" vừa được chính ông trình bày để ta thấy rõ tính qui luật của nó : "Thực tế đó cho ta biết khuynh hướng hứng thú sự ưa thích nhưng hơn thế còn cho ta biết sự hạn chế của trình độ sản xuất của đời sống xã hội. Đó là văn hoá của cư dân nông nghiệp định cư không có nhu cầu lưu chuyển trao đổi không có sự kích thích của đô thị". Bằng cách lật đi lật lại vấn đề như thế tác giả đã thực sự làm tăng sức thuyết phục cho luận điểm của mình.
Dễ dàng nhận thấy rằng với tiểu luận này tác giả đã thoát khỏi
thái độ hoặc ca ngợi hoặc chê bai đơn giản thường thấy khi tiếp cận vấn đề. Tinh
thần chung của bài viết là tiến hành một sự phân tích đánh giá khoa học đối với
những đặc điểm nổi bật của văn hóa Việt Nam. Thực ra khen hay chê vốn là một phản
ứng tình cảm bình thường hoàn toàn có đủ lí do để có mặt trong một bài nghiên cứu.
Nhưng điều quan trọng là nếu người viết không vượt lên được vòng trói buộc của
sự khen - chê chủ quan thì mọi kiến nghị đề xuất sau đó sẽ ít tính thuyết phục.
Trần Đình Hượu hẳn ý thức sâu sắc về điều đó nên đã sử dụng một giọng văn điềm
tĩnh khách quan để trình bày các luận điểm. Người đọc chỉ có thể nhận ra được
nguồn cảm hứng thật sự của tác giả nếu hiểu cái đích xa mà ông hướng đến : góp
phần xây dựng một chiến lược phát triển mới cho đất nước đưa đất nước thoát khỏi
tình trạng nghèo nàn lạc hậu kém phát triển hiện thời.
Sau khi đã nêu một loạt điểm "không đặc sắc" của
văn hóa Việt Nam tác giả lại khẳng định : "người Việt Nam có nền văn hóa của
mình". Nếu việc làm trước không đồng nghĩa với cái gọi là "chê"
thì việc làm sau không phải là biểu hiện cụ thể của cái gọi là
"khen". Không có gì mâu thuẫn ở đây cả bởi thứ nhất theo tác giả quan
niệm việc đi tìm cái riêng của văn hóa Việt Nam không nhất thiết phải gắn liền
với việc cố chứng minh dân tộc Việt Nam không thua kém các dân tộc khác ở những
điểm mà thế giới đã thừa nhận là rất nổi bật ở họ (ví dụ như sự phát triển của
hệ thống thần thoại tôn giáo triết học các ngành nghệ thuật kiến trúc ....). Nỗ
lực chứng minh như thế là một nỗ lực vô vọng. Tác giả chỉ ra những điểm
"không đặc sắc" của văn hóa Việt Nam là trên tinh thần ấy. Việc làm của
tác giả rõ ràng hàm chứa một gợi ý về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề bản sắc
văn hóa dân tộc : đi tìm đặc sắc văn hóa Việt Nam phải có cái nhìn sát với thực
tế Việt Nam không thể vận dụng những mô hình cố định ; điều quan trọng khác là
phải tìm ra cội nguồn của hiện tượng không có những điểm đặc sắc nổi bật
như của các dân tộc khác để thấy được cái "đặc sắc" của văn hóa
Việt Nam. Vấn đề "có" hay "không" nhiều khi chưa quan trọng
bằng vấn đề "tại sao có ?" "tại sao không ?".
Thứ hai tác giả quan niệm văn hóa là sự tổng hòa của nhiều yếu tố trong đó lối sống quan niệm sống là yếu tố then chốt ; mà lối sống quan niệm sống ấy cũng lại là một hệ thống kết quả sự tổng hòa của muôn vàn yếu tố khác nhỏ hơn. Khi quan sát thấy người Việt Nam có lối sống quan niệm sống riêng biểu hiện qua việc ta đã tự tạo ra được cho mình một cái "màng lọc" nhằm gạt bỏ hoặc tiếp thu lựa chọn những cái gì không cần thiết hoặc cần thiết cho mình tác giả hoàn toàn có cơ sở để khẳng định : người Việt Nam có nền văn hóa riêng. Hóa ra "không đặc sắc" ở một vài điểm thường hay được người ta nhắc tới không có nghĩa là không có gì ! Phải nói rằng tác giả đã có một quan niệm toàn diện về văn hóa và hơn thế biết triển khai công việc nghiên cứu của mình dựa vào việc khảo sát thực tế khách quan chứ không phải vào các "tri thức tiên nghiệm" các định đề.
Thứ hai tác giả quan niệm văn hóa là sự tổng hòa của nhiều yếu tố trong đó lối sống quan niệm sống là yếu tố then chốt ; mà lối sống quan niệm sống ấy cũng lại là một hệ thống kết quả sự tổng hòa của muôn vàn yếu tố khác nhỏ hơn. Khi quan sát thấy người Việt Nam có lối sống quan niệm sống riêng biểu hiện qua việc ta đã tự tạo ra được cho mình một cái "màng lọc" nhằm gạt bỏ hoặc tiếp thu lựa chọn những cái gì không cần thiết hoặc cần thiết cho mình tác giả hoàn toàn có cơ sở để khẳng định : người Việt Nam có nền văn hóa riêng. Hóa ra "không đặc sắc" ở một vài điểm thường hay được người ta nhắc tới không có nghĩa là không có gì ! Phải nói rằng tác giả đã có một quan niệm toàn diện về văn hóa và hơn thế biết triển khai công việc nghiên cứu của mình dựa vào việc khảo sát thực tế khách quan chứ không phải vào các "tri thức tiên nghiệm" các định đề.
Trong đoạn 3 tác giả có nêu khái quát một đặc điểm của văn
hóa Việt Nam :"Cái đẹp vừa ý là xinh là khéo. Ta không háo hức cái tráng lệ
huy hoàng không say mê cái huyền ảo kì vĩ. Màu sắc chuộng cái dịu dàng thanh
nhã ghét sặc sỡ. Quy mô chuộng sự vừa khéo vừa xinh phải khoảng. Giao tiếp ứng
xử chuộng hợp tình hợp lí áo quần trang sức món ăn đều không chuộng sự cầu kì.
Tất cả đều hướng vào cái đẹp dịu dàng thanh lịch duyên dáng và có quy mô vừa phải".
Vào thời điểm tiểu luận ra đời khái quát nêu trên có thể đã gây được những ngạc
nhiên thú vị bởi nó giống như kết quả của một cái nhìn đến từ phía bên ngoài hoặc
của một nỗ lực phản tỉnh cố gắng tách mình ra khỏi mình nhằm tự đánh giá. Thực
tế cho thấy : thật khó nhận diện được nét đặc sắc văn hoá của dân tộc mình một
khi ta đang hít thở trong bầu khí quyển của nó quá quen với nó. Giờ đây khái
quát trong tiểu luận của Trần Đình Hượu gần như đã trở thành một nhận thức phổ
biến thường được nhắc lại với một ít biến thái trong nhiều tài liệu khác nhau.
Điều này thực ra khá dễ hiểu vì có vô số dẫn chứng trong đời sống và trong văn
học chứng tỏ sự xác đáng của nó ví dụ : Việt Nam không có những công trình kiến
trúc đồ sộ như Kim tự tháp Vạn lí trường thành Ăng - ko Vát... Chùa Một cột
(chùa Diên Hựu) - một biểu tượng của văn hóa Việt Nam - có quy mô rất bé ; chiếc
áo dài rất được phụ nữ Việt Nam ưa chuộng có vẻ đẹp nền nã dịu dàng thướt tha ;
nhiều câu tục ngữ ca dao khi nói về kinh nghiệm sống ứng xử rất đề cao sự hợp
lí hợp tình : Khéo ăn thì no khéo co thì ấm ; ở sao cho vừa lòng
người/ ở rộng người cười ở hẹp người chê ; Lời nói chẳng mất tiền
mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau...
Kết luận quan trọng nhất của tác giả về tinh thần chung của
văn hóa Việt Nam nằm ở câu in nghiêng trong phần cuối đoạn trích : Tinh thần
chung của văn hóa Việt Nam là thiết thực linh hoạt dung hòa. Toàn bộ những
từ như tinh nhanh khôn khéo dung hợp sàng lọc tinh luyện tiếp nhận ...
được dùng trong đoạn văn cũng có tác dụng "phụ hoạ" cho kết luận
đó. Tác giả còn chỉ rõ : trên lĩnh vực văn hóa bản lĩnh của dân tộc Việt Nam thể
hiện tập trung ở sự "đồng hóa" "dung hợp" chứ không phải ở
sự "tạo tác". Về các khái niệm vừa dẫn dựa vào văn cảnh chúng được sử
dụng có thể xác định:
- "Tạo tác" là khái niệm có tính chất quy ước chỉ
những sáng tạo lớn của một dân tộc - những sáng tạo mà các dân tộc khác không
có hoặc có mà không đạt tầm vóc kì vĩ gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến chung quanh tạo
thành những mẫu mực đáng học tập đến như thế.
- Khái niệm "đồng hóa" vừa chỉ vị thế tồn tại nghiêng
về phía tiếp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài những ảnh hưởng lan đến từ các nền
văn minh văn hóa lớn vừa chỉ khả năng tiếp thu chủ động của chủ thể
tiếp nhận - cái khả năng cho phép một dân tộc biến những cái ngoại lai thành
cái của mình trên cơ sở gạn lọc và thu giữ.
- Khái niệm "dung hợp" vừa có những mặt gần gũi với
khái niệm "đồng hóa" vừa có điểm khác. Với khái niệm này hẳn tác giả
muốn nhấn mạnh đến khả năng "chung sống hòa bình" của nhiều yếu tố tiếp
thu từ nhiều nguồn khác nhau có thể hài hòa được với nhau trong một hệ thống một
tổng thể mới.
Nhìn chung theo Trần Đình Hượu văn hóa Việt Nam xa lạ với sự
cực đoan không chấp nhận sự cực đoan và riêng việc không chấp nhận điều đó đã
biểu hiện một bản lĩnh đáng trọng. Như vậy khi khái quát bản sắc văn hóa Việt
Nam qua các từ như "đồng hóa" "dung hợp" tác giả Trần Đình
Hượu không hề rơi vào thái độ tự ti hay miệt thị dân tộc.
Cũng cần nói thêm : trên con đường xác định cái gọi là bản
sắc văn hoá dân tộc Trần Đình Hượu đã có những điểm gặp gỡ với nhiều nhà nghiên
cứu tư tưởng văn hóa văn học khác. Nhà Đạo học Cao Xuân Huy từng hình dung triết
lí Việt Nam là triết lí Nước hay Nhu đạo. Còn nhà sử học Trần
Quốc Vượng thì viết: "Tôi gọi cái bản lĩnh - bản sắc biết nhu biết cương
biết công biết thủ biết "trông trời trông đất trông mây..." rồi tùy
thời mà làm ăn theo chuẩn mực "nhất thì nhì thục"... ấy là khả
năng ứng biến của người Việt Nam của lối sống Việt Nam của văn hóa Việt
Nam!"[1] v.v...
Trong bối cảnh thời đại ngày nay việc tìm hiểu bản sắc văn
hóa dân tộc trở thành một nhu cầu tự nhiên. Chưa bao giờ dân tộc ta có cơ hội
thuận lợi như thế để xác định "chân diện mục" của mình qua hành động
so sánh đối chiếu với "khuôn mặt" của các dân tộc khác. Giữa hai vấn
đề hiểu mình và hiểu người có mối quan hệ tương hỗ. Tìm hiểu
bản sắc văn hóa dân tộc rất có ý nghĩa đối với việc xây dựng một chiến lược
phát triển mới cho đất nước trên tinh thần làm sao phát huy được tối đa mặt mạnh
vốn có khắc phục được những nhược điểm dần thành cố hữu để tự tin đi lên. Tìm
hiểu bản sắc văn hóa dân tộc dĩ nhiên cũng gắn liền với việc quảng bá cái hay
cái đẹp của dân tộc để "góp mặt" cùng năm châu thúc đẩy một sự giao
lưu lành mạnh có lợi chung cho việc xây dựng một thế giới hòa bình ổn định và
phát triển. Đến với tiểu luận Vấn đề tìm đặc sắc văn hoá dân tộc cụ
thể là đến với đoạn trích Nhìn về vốn văn hoá dân tộcchúng ta cảm nhận được
những điều gợi mở quý báu đó từ một nhà nghiên cứu tâm huyết với tiền đồ phát
triển của dân tộc.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét