Ở HUẾ
Từ thập niên 60, nghĩa là lúc đó tôi khoảng 14 tuổi. Vậy
mà không hiểu sao tôi luôn trăn trở về phận người và mê hai câu thơ của thi sĩ
Vũ Hoàng Chương như điếu đổ:
… Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa
Bị quê hương ruồng
bỏ, giống nòi khinh…
Và càng thấm thía hơn
khi ghiền “Đoạn Trường Tân Thanh” của thi hào Nguyễn Du.
Càng đọc càng soi và càng thấy:
Trăm năm
trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh
khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc
bể dâu
Những điều trông
thấy mà đau đớn lòng… (Truyện Kiều)
Thời gian này chiến tranh đang manh nha để gặm nhấm hai miền Nam Bắc. Tôi ở vùng “xôi đậu” nên
đêm đêm phải lên ngủ nhờ nhà anh Lê Bá Lăng, là thầy giáo là bạn văn nghệ của tôi ở Vỹ Dạ. Thời gian này anh tôi thành lập
Thi Văn Đoàn Mây Ngàn.
Báo tự chép tay quy tụ một nhóm bạn bè Quốc Học. Nội dung họ
viết là những thao thức đầy nhân bản về Tình yêu Quê Hương, Đất Nước. Thấy họ nhóm họp, trao đổi văn chương mỗi cuối tuần mà tôi háo hức đến lạ. Thế rồi
một ngày tôi đưa bài thơ cho anh ấy xem. Anh gật đầu rồi cho tôi vào nhóm. Ngoài
nhóm bạn của anh, tôi còn biết đến những người làm văn nghệ như Mường Mán, Từ Hoài Tấn, Nguyễn Miên Thảo,
Lê Bá Lăng, Hồ Minh Dũng, Lương Viết Khiêm, Võ Quê, Tần Hoài Dạ Vũ…
Nhờ trái tim và đầu óc trời cho mà chỉ hai năm sau
là tôi thay thế chỗ anh tôi để miệt mài lo tờ báo viết tay ấy. Vừa học, vừa đi dạy
kèm vừa sáng tác, tôi đã tự mình đi vào các tạp chí thời ấy như Văn Học, Văn, Thời Nay, Bách Khoa… mà
không thông qua một người nào giới thiệu. Thật hạnh phúc khi thấy báo đăng thơ
mình vừa phát hành còn thơm mùi giấy mực…
Đặc biệt là ba người rất ấn tượng với tôi. Đó là chị Lê Thị Ái
Niệm, anh Lê Bá Lăng và anh Lương Viết Khiêm. Chị Niệm là chị con cô ruột của
tôi. Hồi đó chị cũng tập tành làm thơ và cũng tham gia thi văn đoàn Mây Ngàn. Hai
chị em thương yêu nhau như là tri kỷ. Lúc đó chị học trường nữ Trung Học Đồng
Khánh. Nhà ở quê chỉ đèn dầu tù mù nhưng đêm đêm tôi và chị thường trao đổi chuyện
thơ văn. Có khi say mê viết, muỗi cắn không cần biết. Sau năm 68 chị theo gia
đình vào Đà Nẵng nhưng không quên đứa em con cậu ruột. Thơ chị viết bằng trái
tim nên dễ đi vào lòng người đọc: THƠ LÊ THỊ ÁI NIỆM
TIỄN ĐƯA
Tin em đi chị
bỗng buồn như biển
Trời thu mưa
hiu hắt mấy dặm xa
Áo sờn
vai mưa thơ em có ướt
Bến sông nào
em dừng nhớ quê xưa?
Mai em
đi gầy gò thân lữ thứ
Tiễn
đưa em có lá rụng ven sông
Em đi
rồi ai làm thơ chị đọc
Suốt một
đời chị làm bến trông mong
Dăm ba
người thân bỏ đi trăm ngả
Mùa
thu nào cũng vàng lá chia ly
Chị ngồi
lại bên bờ thương nhớ cũ
Giọt nước mắt
nào thầm đưa tiễn người đi
Mai em
đi vui với khung trời rộng
Đem
tim lòng hòa điệu với đại dương
Hát vỡ
cổ những khúc tình ca biếc
Hãy
yêu người như chị đã yêu em…
Người
thứ hai tôi muốn nhắc đến là anh Lê Bá Lăng. Nhà anh ở chợ Vỹ Dạ. Quen nhau cũng nhờ
đọc báo cọp ở nhà sách đối diện chợ Vỹ Dạ. Nơi này tôi còn gặp và quen cả Viêm Tịnh,
Võ Công Liêm. Nhà sách này là của bố hai anh ấy. (Vừa là tiệm vàng vừa nhà
sách). Anh Lăng là nhà giáo rất nghiêm túc nhưng tâm hồn thì rất phóng
khoáng. Nhà anh là chỗ trú cho anh em văn nghệ mà tôi là “ủy viên thường trực”
ngủ nhờ… Tôi còn nhớ Hồ Minh Dũng, em rễ của anh) Lê Khắc Cầm, Lê Văn Ngăn, Ngụy
Ngữ, Trần Hoài Thư. Hồi ấy có thanh niên nào lớn lên mà không trăn trở về Quê
Hương, Đất Nước khi không bình yên nhỉ? Kỷ niệm khó quên nhất là có một
đêm Trần Hoài Thư từ Quy Nhơn về thăm rồi ngủ lại. Sau khi nhâm nhi cà
phê, nhắc chuyện văn nghệ, ba anh em (LBL, THT và tôi) cùng viết bài gửi cho tạp
chí Văn ở SG. Và cả ba đều được Văn giới thiệu trang trọng. Mẹ và anh Lê Bá
Lăng rất thương tôi. Suýt là em rễ anh ấy. Điều tôi không tin mà đã chứng nghiệm. Có
lần tôi rủ L, em gái anh Lăng lên chùa Thiên Mụ… và sau đó thì chia xa biền
biệt!.
Anh LBL không chỉ làm thơ mà còn viết truyện nữa. Truyện
thì không thể trích ra đây nên tôi post một bài thơ của anh:
Lê Bá Lăng
Nuôi
bây giờ ta nuôi tình yêu em bằng nỗi nhớ
nỗi nhớ đã khiến ta nhắc tên em nhiều lần
mỗi ngày mỗi đêm
mỗi khi ăn cơm
mỗi lần uống nước
mỗi khi cầm súng đứng canh
mỗi khi nằm ngủ dưới hào
mỗi lần soi gương
mỗi khi muỗi cắn
bây giờ ta nuôi ước vọng ta bằng mồ hôi
mồ hôi đã làm mỏi tay ta
đã làm sạm mặt ta
đã giết chết thơ ta
đã làm hôi hám ta
bây giờ ta nuôi căm thù cho quê hương ta bằng nước mắt
nước mắt đã khiến ta phiền muộn
đã làm ta đau thương
nước mắt đã làm cho ta khóc bạn bè
khóc mẹ cha
khóc nhà tan cửa nát
và bây giờ ta chỉ còn biết nuôi tình yêu em bằng nỗi
nhớ
nuôi ước vọng ta bằng mồ hôi
và nuôi căm thù cho quê hương ta bằng nước mắt.
Sau anh Lê Bá Lăng, tôi không thể
không nhắc đến anh Lương Viết Khiêm. Cũng là một nhà giáo nhưng sống hết
mình. Cháy hết mình khác nào que diêm sinh chờ ngún, mà tôi và bạn bè hay đùa
là M.113.
Anh học giỏi và là người đi dạy rất sớm. Khi
tôi đang còn mài đũng quần ở trường Nguyễn Tri Phương thì anh đã là giáo sinh
vào thực tập ở đây. Một buổi thực lớp đệ ngũ A2 anh hỏi: Ở đây có em nào viết
trên tạp chí Văn lấy bút hiệu là Trần Dzạ Lữ? (Tôi đoán không lầm là anh
hỏi báo chí). Tôi rụt rè giơ tay. Anh bước đến bắt tay và giới thiệu với cả lớp:
Em này làm thơ hay đấy. Từ buổi thực tập tôi và anh có những giao tình cũng rất
hay. Nhà ba mẹ anh ở Vân Dương nhưng anh có một căn phòng riêng ở sát bờ Đập
Đá. Tôi cũng thường hay lui tới. Hồi ấy nghe đâu anh cũng đã có một nhóm văn nghệ
với nhà văn Trần Duy Phiên. Tôi cũng có một mối tình không may với LTTB,
em gái của anh. Thơ anh cũng như người anh đầy triết lý hiện sinh. Anh khoái J.P
Satre là thế. Tôi thích những bài 4 câu của anh ý tại ngôn ngoại:
Người thì làm thơ thật
Ta thì làm thơ chơi
Mượn tạm trang giấy trắng
Cho thơ có chỗi ngồi (Bài Tự Bạch)
Hay:
Ta thả tình ta xuống biển em
Mênh mông sóng nước biết đâu tìm
Cuối nẻo trần gian sông biển cạn
Ta vớt tình lên đâu thấy em (Bài Thả Tình)
Hoặc:
Dừng ngay từ dấu hỏi
Vì không thể trả lời
Đã đánh mất tiếng nói
Tôi gật đầu với tôi (Bài Độc Thoại)
Tôi thích tính cách của anh. Nhân hậu và bao dung. Vì thế
anh rất nhiều bạn.
Một người tôi muốn nhắc đến là
Võ Quê. Bạn ở Quảng Trị song gốc gác là làng Chuồn - An Truyền (Vào Huế học). Cũng tham gia vào tờ Mây Ngàn. Thơ bạn ấy đầy lửa đấu tranh. Lúc giao tình bạn
hay nhắc về nhà thơ Ngô Kha (bạn mê anh Ngô Kha thì đúng hơn). Chúng tôi hay ngồi
cà phê Lạc Sơn. Có khi gặp cả anh Ngô Kha (anh cũng rủ tôi tham gia tranh đấu). Tôi cười cười bảo là thích thuần túy văn nghệ thôi. Võ Quê có chí hương
riêng. Tôi vẫn tôn trong bạn. Và thích bài thơ:
Thừa Phủ ơi! Lòng ta hồng biển lửa!
khi mùa đông rớt xuống vai người
chiếc lá vàng khô chết hồn vui
lòng em có đau ơi người tù thiếu nữ
manh áo nâu bùn em
nép mình đằng sau cánh cửa
những cánh cửa chua ngoa
giam hãm bóng chim hiền
giọt nước mắt em rưng rức từng đêm
ta biết em đang vo thành lửa bỏng
ngày em đến đây
ngờ nghệch vô cùng
tội tình gì
một sáng ven sông
lũ chúng bạo hành em
lưỡi lê ghìm đầu súng
mẹ rên xiết gào lên uất hận
con tôi! tội nghiệp con tôi
Hai ơi con đã đi rồi
vườn hoang cỏ cháy mẹ ngồi khóc con
từ đó không còn bay áo mỏng
trên quê hương hào khí ngất Trường Sơn
trong khám lạnh lòng càng cao căm phẫn
em lớn khôn theo chí căm hờn
em đang mơ ngày bứt xiềng bạo lực
đời hồn nhiên hoa bướm thong dong
sau cánh cửa nhà giam nụ cười thơm giấy mực
tiếng hát em về réo rắt giòng sông
ơi người tù thiếu nữ trưa nay
đang quét lá khô rơi trên vỉa hè Lê Lợi
hồn em đau trong từng nhát chổi lạnh lùng
ta biết lòng em đang rực hồng biển lửa
chờ gió ngày bão lớn thổi bùng lên
Chí Hòa Tân Hiệp Côn Sơn
cuồng phong Thừa Phủ cuốn tan ngục tù
mắt em sáng nắng mùa thu
tình long lanh ý ngoc
em đang mơ ngày bạo quyền ngã gục
xác chúng phơi trên ngưỡng cửa đề lao
kiêu hùng tóc biếc bay cao
em tung nón rách
em gào tự do!
ngày mai trên những chuyến đò
có cô con gái học trò sang sông
áo bay thơm má em hồng
cờ vươn cao ngọn gió
Thừa Phủ ơi! Thừa Phủ ơi!
Lòng ta hồng biển lửa!
chiếc lá vàng khô chết hồn vui
lòng em có đau ơi người tù thiếu nữ
manh áo nâu bùn em
nép mình đằng sau cánh cửa
những cánh cửa chua ngoa
giam hãm bóng chim hiền
giọt nước mắt em rưng rức từng đêm
ta biết em đang vo thành lửa bỏng
ngày em đến đây
ngờ nghệch vô cùng
tội tình gì
một sáng ven sông
lũ chúng bạo hành em
lưỡi lê ghìm đầu súng
mẹ rên xiết gào lên uất hận
con tôi! tội nghiệp con tôi
Hai ơi con đã đi rồi
vườn hoang cỏ cháy mẹ ngồi khóc con
từ đó không còn bay áo mỏng
trên quê hương hào khí ngất Trường Sơn
trong khám lạnh lòng càng cao căm phẫn
em lớn khôn theo chí căm hờn
em đang mơ ngày bứt xiềng bạo lực
đời hồn nhiên hoa bướm thong dong
sau cánh cửa nhà giam nụ cười thơm giấy mực
tiếng hát em về réo rắt giòng sông
ơi người tù thiếu nữ trưa nay
đang quét lá khô rơi trên vỉa hè Lê Lợi
hồn em đau trong từng nhát chổi lạnh lùng
ta biết lòng em đang rực hồng biển lửa
chờ gió ngày bão lớn thổi bùng lên
Chí Hòa Tân Hiệp Côn Sơn
cuồng phong Thừa Phủ cuốn tan ngục tù
mắt em sáng nắng mùa thu
tình long lanh ý ngoc
em đang mơ ngày bạo quyền ngã gục
xác chúng phơi trên ngưỡng cửa đề lao
kiêu hùng tóc biếc bay cao
em tung nón rách
em gào tự do!
ngày mai trên những chuyến đò
có cô con gái học trò sang sông
áo bay thơm má em hồng
cờ vươn cao ngọn gió
Thừa Phủ ơi! Thừa Phủ ơi!
Lòng ta hồng biển lửa!
Và có một chàng trai gốc Quảng
Nam khiến tôi khó quên đó là Tần Hoài Dạ Vũ. Thập niên 60 anh anh về Huế học Quốc
Học. Đệ Tam là anh đã có thơ đăng trên các tạp chí ở SG. Đặc biệt là thơ
tình. Lúc này mà giọng điệu thơ anh như vậy là rất mới và thi cảm đầy hồn
vía. Tôi rất thích. Huể nhỏ nên đi lui đi tới rồi cũng quen nhau. Tôi thích nhất
là hai bài DI NGÔN và HẸN VỀ VỚI HUẾ.
THƠ TẦN HOÀI DẠ VŨ
DI NGÔN
Rồi anh sẽ gối đầu lên giấc mộng
ngủ quên đời trong giường mộ bình yên
em hãy khuấy hai tay làm biển động
che giùm anh tiếng đại bác vang rền
Xin em hãy liệm anh bằng tiếng hát
đắp mặt anh bằng mái tóc em buồn
cho anh quên những xác người tan nát
những kẽm gai còn rào kín tâm hồn
Em có nhớ, thắp hương bằng nước mắt
ngọt vô cùng anh sẽ uống no say
để anh quên chuyện trần gian đói khát
chén cơm đen muối mặn nuốt qua ngày
Và em hãy viết thư bằng cổ tích
đừng nhắc chuyện quê hương chinh chiến hận thù
anh sẽ tưởng hồn anh không xiềng xích
bay tìm em dù gió cát, sương mù.
Ở ĐÀ NẴNG
Năm 1968 tôi bỏ học vào ĐN để trốn lính… Ở nhà người cậu được
một thời gian rồi cũng bị bắt đưa vào TTHL Hòa Cầm. Số gặp may được quý nhân giúp đỡ tôi trở thành
lính cậu mà không phải ra mặt trận. Vô cùng cảm ơn Trời Phật. Những ngày tháng ở
Đà Nẵng từ 1968 đến 1973 là những xâu chuỗi kỷ niềm tràn đầy tôi mang vào hồn đăm đắm. Ở đấy tôi
gặp gỡ các bạn bè như những đốm lửa kết nối thân thương: Trường Thi (đã có bài
viết riêng về anh), Đynh Trầm Ca, Hoàng Đặng, Hồ Đắc Ngọc, Đoàn Huy Giao, Hà
Nguyên Thạch, Trần Quang Lộc, Vũ Hữu Định, Trần Thị Loan, Thành Tôn, Thái Tú Hạp,
Hạ Quốc Huy, Lý Văn Chương, Phạm Thị Lộc, Lê Thị Ngọc Quý, Vô Ưu, Cao Bá Minh,
Nguyễn Tam Phù Sa, Nguyễn Gia Hữu, Phạm Phú Hải, Trần Trung Sáng… và sau này là
Nguyễn Ngọc Hạnh, Gia Nguyễn, Nguyễn Duy Ninh, Vũ Ngọc Giao, Lê Công Đào…
Một thời đáng nhớ vì tình bạn trong văn nghệ chân tình, không ganh ghét đố kỵ nhau. Những quán cà phê ở ĐN là nơi để anh em hẹn hò đọc thơ, hát nhạc cho nhau nghe... Từ đó khơi nguồn, thúc giục nhau trong sáng tác. Đặc biệt là Vũ Hữu Định. Luôn kêu tôi về ngủ lại với anh trong căn nhà nhỏ ở chợ Cồn. Nhà nghèo nhưng anh và vợ anh (chị Vân) rất tốt bụng. Khi nào tôi về chị Vân cũng đi ngủ riêng để tôi và VHĐ nằm trò chuyện, đọc thơ, hát nhạc… một chút mà đến sáng! Trước đó VHĐ viết cũng nhiều lấy tên là Hàn Phong Lệ. Anh khoe với tôi bài thơ Còn Một Chút gì Để Nhớ viết ở tận Pleiku. Tôi đọc xong vỗ đét một cái. Hay. Rất Hay. Chưa ai viết về Pleiku hay như thế. Vậy là tôi xúi anh gửi bài cho các tạp chí và động viên anh vào SG gặp nhạc sĩ Phạm Duy.
Sau đó anh giang hồ và vào gặp Phạm Duy thật. Ông ta khoái chí nên phổ bài thơ. Từ đó tên tuổi anh bắt đầu nổi…
Một thời đáng nhớ vì tình bạn trong văn nghệ chân tình, không ganh ghét đố kỵ nhau. Những quán cà phê ở ĐN là nơi để anh em hẹn hò đọc thơ, hát nhạc cho nhau nghe... Từ đó khơi nguồn, thúc giục nhau trong sáng tác. Đặc biệt là Vũ Hữu Định. Luôn kêu tôi về ngủ lại với anh trong căn nhà nhỏ ở chợ Cồn. Nhà nghèo nhưng anh và vợ anh (chị Vân) rất tốt bụng. Khi nào tôi về chị Vân cũng đi ngủ riêng để tôi và VHĐ nằm trò chuyện, đọc thơ, hát nhạc… một chút mà đến sáng! Trước đó VHĐ viết cũng nhiều lấy tên là Hàn Phong Lệ. Anh khoe với tôi bài thơ Còn Một Chút gì Để Nhớ viết ở tận Pleiku. Tôi đọc xong vỗ đét một cái. Hay. Rất Hay. Chưa ai viết về Pleiku hay như thế. Vậy là tôi xúi anh gửi bài cho các tạp chí và động viên anh vào SG gặp nhạc sĩ Phạm Duy.
Sau đó anh giang hồ và vào gặp Phạm Duy thật. Ông ta khoái chí nên phổ bài thơ. Từ đó tên tuổi anh bắt đầu nổi…
THƠ VŨ HỮU ĐỊNH
CÒN MỘT CHÚT GÌ ĐỂ NHỚ
Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương
Phố núi cao phố núi trời gần
Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
Em Pleiku má đỏ môi hồng
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong
Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên mắt em ướt và tóc em ướt
Da em mềm như mây chiều trong
Xin cảm ơn thành phố có em
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc bên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.
Còn Một Chút Gì Để Nhớ - Sĩ Phú - Nhac.vn
Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc bên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ để quên.
Còn Một Chút Gì Để Nhớ - Sĩ Phú - Nhac.vn
Bài thơ được phù thủy âm nhạc Phạm Duy chắp thêm cánh cho thơ
bay lên cao cùng âm nhạc. Rất nhiều người nghe, thuộc và hát. Vậy mà có một dạo
trên FB, có người tự nhận mình là tác giả bài thơ trên. Tôi đã lên tiếng thì người
đó lặn mất tăm. Buồn cười thật!.
Tôi mừng cho anh. Từ đó anh cũng “đi bụi” nhiều hơn. Để chị Vân gánh vác hết mọi chuyện. Thấy tình cảnh chị tôi thật se lòng. Càng ”đi bụi“ thơ anh càng hay và sâu sắc hơn nữa. Năm 1981 anh qua đời trong một bữa rượu tại nhà em trai anh. Tôi chẳng hay. Sau này Lữ Thưọng Thọ vào SG gặp tôi mới hay. Thọ nói với tôi là trước khi chết VHĐ có làm hai bài thơ thật cảm động. Đó là một bài thơ viết cho vợ và một bài viết cho tôi. Thọ đưa bản thảo chép tay cho tôi. Tôi đọc mà lòng rưng rưng nỗi nhớ thương bạn.
Bạn qua đời. Con cái lớn lên làm ăn khấm khá. Chị Vân được hưởng an nhàn. Tôi mừng vì gần hết đời người chị khổ vì chồng vì con mà chẳng bao giờ buông ra một câu than thở…
Người thứ hai ở Đà Nẵng tôi nói đến là Đynh Trầm Ca (tên thật là Mạc Phụ). Anh ở con phố nhỏ là Vĩnh Điện. Gặp nhau anh hay rủ tôi vào chơi. Cuối tuần đến hẹn lại lên. Con phố buồn hiu. Hồi ấy chưa có đèn điện. Đêm xuống anh giăng mùng xong là ôm đàn hát cho tôi nghe từ nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn rồi nhạc anh sáng tác. Anh sớm nổi tiếng bởi bài hát RU CON TÌNH CŨ qua giọng hát của Lệ Thu. Nghe anh hát tôi se lòng không chịu nổi bởi nỗi buồn cứ quấn chặt lấy trái tim không buông tha:
Tôi mừng cho anh. Từ đó anh cũng “đi bụi” nhiều hơn. Để chị Vân gánh vác hết mọi chuyện. Thấy tình cảnh chị tôi thật se lòng. Càng ”đi bụi“ thơ anh càng hay và sâu sắc hơn nữa. Năm 1981 anh qua đời trong một bữa rượu tại nhà em trai anh. Tôi chẳng hay. Sau này Lữ Thưọng Thọ vào SG gặp tôi mới hay. Thọ nói với tôi là trước khi chết VHĐ có làm hai bài thơ thật cảm động. Đó là một bài thơ viết cho vợ và một bài viết cho tôi. Thọ đưa bản thảo chép tay cho tôi. Tôi đọc mà lòng rưng rưng nỗi nhớ thương bạn.
Bạn qua đời. Con cái lớn lên làm ăn khấm khá. Chị Vân được hưởng an nhàn. Tôi mừng vì gần hết đời người chị khổ vì chồng vì con mà chẳng bao giờ buông ra một câu than thở…
Người thứ hai ở Đà Nẵng tôi nói đến là Đynh Trầm Ca (tên thật là Mạc Phụ). Anh ở con phố nhỏ là Vĩnh Điện. Gặp nhau anh hay rủ tôi vào chơi. Cuối tuần đến hẹn lại lên. Con phố buồn hiu. Hồi ấy chưa có đèn điện. Đêm xuống anh giăng mùng xong là ôm đàn hát cho tôi nghe từ nhạc Phạm Duy, Trịnh Công Sơn rồi nhạc anh sáng tác. Anh sớm nổi tiếng bởi bài hát RU CON TÌNH CŨ qua giọng hát của Lệ Thu. Nghe anh hát tôi se lòng không chịu nổi bởi nỗi buồn cứ quấn chặt lấy trái tim không buông tha:
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình buồn
Xin một đời thôi tiếc thương nhau
Xin một đời ngủ yên dĩ vãng
Ngồi ru con như ru tình buồn
Xin một đời thôi tiếc thương nhau
Xin một đời ngủ yên dĩ vãng
Ba năm qua em trở thành thiếu phụ
Ngồi ru con như ru tình sầu
Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay
Cho lòng này dài những cơn đau
Ngồi ru con như ru tình sầu
Kỷ niệm nào ghi dấu trên tay
Cho lòng này dài những cơn đau
ĐK:
Ôi ba năm qua rồi
Đời chưa nguôi gió bão
Người xa xôi phương nào
Người có trách gì không?
Ôi ba năm qua rồi
Đời chưa nguôi gió bão
Người xa xôi phương nào
Người có trách gì không?
Thôi anh ơi anh đừng hờn trách nữa
Đời em như rong rêu tội tình
Xin gục đầu ghi dấu ăn năn
Thôi đừng buồn em nữa nghe anh...
(Nhạc và lời Đynh Trầm Ca)
Ru Con Tình Cũ - Lệ Thu - NhacCuaTui
Đời em như rong rêu tội tình
Xin gục đầu ghi dấu ăn năn
Thôi đừng buồn em nữa nghe anh...
(Nhạc và lời Đynh Trầm Ca)
Ru Con Tình Cũ - Lệ Thu - NhacCuaTui
Đynh Trầm Ca sống chân tình và hết lòng vì bè bạn. Sau năm 75
anh lưu lạc phương Nam và lấy một người con gái Cần Thơ nhỏ hơn anh cả con
giáp. Anh vẫn âm thầm sáng tác cả nhạc cả thơ. Cuối cùng vợ chồng anh cũng quay về Vĩnh Điện mở quán cà phê làm
kế sinh nhai… Nhiều năm rồi tôi chưa gặp. Lúc có dịp tôi ra đó anh lại đi Cần
Thơ. Nhưng thế nào rồi tôi cũng sẽ gặp.
Người thứ ba tôi muốn nhắc đến là Đoàn Huy Giao. Một người làm thơ đầy trăn trở về phận người. Thơ anh viết một cách rất riêng. Tính cách cũng rất lạ nhưng là người có trái tim nhân hậu. Chúng tôi quen biết nhau ở tòa soạn tuần báo Thời mới ở ĐN do anh Nguyễn Hương Nhân làm chủ bút. Đoàn Huy Giao biên tập bài vở. Ở đây tôi cũng quen luôn anh Thiếu Khanh, Ngy Xuân Sơn (Phạm Sĩ Sáu).
Sau năm 1975 anh làm cho đài truyền hình. Hết làm việc anh cất công lên tận Tây Nguyên tìm tòi những dấu tích văn hóa… và xây dựng được một Bảo Tàng bên núi Sơn Trà. Một kỳ công thầm lặng nhưng đáng bái phục. Một chuyện nhỏ song tôi cũng khó quên. Số là sau năm 1975, tôi đem vợ về quê ở Ngọc Anh làm ruộng. Tuy làm ruộng mà vẫn thiếu gạo ăn vì tôi được giao ruộng “đốt lóng" tức là ruộng xấu nhất. Thu nhập không bao nhiêu thì phải đóng cho hợp tác xã.
Một ngày nọ vợ chồng tôi đang ở ngoài ruộng thì có người báo tin là có hai người vào nhà nhà chờ. Tôi tất tả chạy vào. Ngó quanh quất chẳng thấy ai. Một chặp Đoàn Huy Giao và Vũ Hữu Định tung mền dậy cười ngặt nghẻo. Để tạo bất ngờ hai bạn vào giường ngủ của vợ chồng tôi nằm. Nhà thiếu gạo ăn, trống huơ nên đâu sợ trộm mà đóng cửa? Thấy bạn mừng muốn chết! Hai bạn đưa ra một bao cát gạo khoảng 10 ký tặng tôi. Hồi đó còn ngăn sông cấm chợ, không biết bằng cách nào mà Giao mang gạo ra Huế được cũng là chuyện lạ!
Cặp kè với Đoàn Huy Giao là Hồ Đắc Ngọc.
Anh này thật đúng là quái kiệt. Bất cứ nơi đâu, làm gì miệng anh luôn lẩm bẩm QUỐC TẾ (Ý nói mình là cỡ quốc tế). Tôi và Ngọc quen nhau qua Đoàn Huy Giao. Lúc này anh đã nổi tiếng trên tạp chí Văn qua hình minh họa bìa bằng bút sắt. Anh cũng trốn lính, vào ở một ngôi chùa gần phi trường. Tôi tới chơi với anh thì gặp một người nữ rất Huế tên Loan (sau này mới biết là tình nhân của nhau) ăn nói dịu ngọt và duyên dáng lạ kỳ. Có lần Loan đến, tôi đang ngồi chơi thì Ngọc xua đuổi tôi ”Mi về đi. Mi về đi…”. Thế là tôi biết mình phải như thế nào rồi. Loan yêu da diết Ngọc có lẽ từ bức tranh anh triễn lãm ở Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kỳ.
Bức sơn dầu anh vẽ thiếu nữ áo vàng đẹp mê hồn. Anh không bán mà để dành tặng
cho Loan thì phải. Mối tình giữa chàng họa sĩ và cô giáo gốc Cầu Hai đẹp như cổ
tích. Sau 75 cô ấy đưa Ngọc qua Mỹ. Một thời gian nghe đâu hai người chia tay. Vẫn
còn biết tin Trần Thị Loan nhưng Hồ Đắc Ngọc thì biệt vô âm tín. Không biết anh chàng “quốc tế“ ấy bây giờ
ra sao? Cứ mỗi lần xem lại hình bìa bút sắt tôi lại mường tượng ra bạn: Một con
người thật kỳ lạ!.
Người thứ ba tôi muốn nhắc đến là Đoàn Huy Giao. Một người làm thơ đầy trăn trở về phận người. Thơ anh viết một cách rất riêng. Tính cách cũng rất lạ nhưng là người có trái tim nhân hậu. Chúng tôi quen biết nhau ở tòa soạn tuần báo Thời mới ở ĐN do anh Nguyễn Hương Nhân làm chủ bút. Đoàn Huy Giao biên tập bài vở. Ở đây tôi cũng quen luôn anh Thiếu Khanh, Ngy Xuân Sơn (Phạm Sĩ Sáu).
Sau năm 1975 anh làm cho đài truyền hình. Hết làm việc anh cất công lên tận Tây Nguyên tìm tòi những dấu tích văn hóa… và xây dựng được một Bảo Tàng bên núi Sơn Trà. Một kỳ công thầm lặng nhưng đáng bái phục. Một chuyện nhỏ song tôi cũng khó quên. Số là sau năm 1975, tôi đem vợ về quê ở Ngọc Anh làm ruộng. Tuy làm ruộng mà vẫn thiếu gạo ăn vì tôi được giao ruộng “đốt lóng" tức là ruộng xấu nhất. Thu nhập không bao nhiêu thì phải đóng cho hợp tác xã.
Một ngày nọ vợ chồng tôi đang ở ngoài ruộng thì có người báo tin là có hai người vào nhà nhà chờ. Tôi tất tả chạy vào. Ngó quanh quất chẳng thấy ai. Một chặp Đoàn Huy Giao và Vũ Hữu Định tung mền dậy cười ngặt nghẻo. Để tạo bất ngờ hai bạn vào giường ngủ của vợ chồng tôi nằm. Nhà thiếu gạo ăn, trống huơ nên đâu sợ trộm mà đóng cửa? Thấy bạn mừng muốn chết! Hai bạn đưa ra một bao cát gạo khoảng 10 ký tặng tôi. Hồi đó còn ngăn sông cấm chợ, không biết bằng cách nào mà Giao mang gạo ra Huế được cũng là chuyện lạ!
Cặp kè với Đoàn Huy Giao là Hồ Đắc Ngọc.
Anh này thật đúng là quái kiệt. Bất cứ nơi đâu, làm gì miệng anh luôn lẩm bẩm QUỐC TẾ (Ý nói mình là cỡ quốc tế). Tôi và Ngọc quen nhau qua Đoàn Huy Giao. Lúc này anh đã nổi tiếng trên tạp chí Văn qua hình minh họa bìa bằng bút sắt. Anh cũng trốn lính, vào ở một ngôi chùa gần phi trường. Tôi tới chơi với anh thì gặp một người nữ rất Huế tên Loan (sau này mới biết là tình nhân của nhau) ăn nói dịu ngọt và duyên dáng lạ kỳ. Có lần Loan đến, tôi đang ngồi chơi thì Ngọc xua đuổi tôi ”Mi về đi. Mi về đi…”. Thế là tôi biết mình phải như thế nào rồi. Loan yêu da diết Ngọc có lẽ từ bức tranh anh triễn lãm ở Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kỳ.
Hình ảnh tôi và họa sĩ Duy
Ninh Nguyen
Viết về Hồ Đắc Ngọc mà không nói đến Trần Thị Loan là một thiếu sót bởi vì Loan
chính là “hậu phương lớn “của bạn mình. Cô người Cầu Hai, Nước Ngọt. Môt cô giáo thông minh
và bản lĩnh lạ thường. Rất nhan sắc về hai khía cạnh: Thân xác và tâm hồn. Vì yêu Ngọc
mà hy sinh tất cả. Qua ngày tháng cưu mang Ngọc ở Đà Nẵng cô ấy không biết bằng cách nào mà
dắt Ngọc qua thấu Mỹ. Được một thời gian vì Ngọc lúc nào cũng “quốc tế” nên họ
chia tay nhau.
Sau đó Loan sống với Phạm Công Thiện. Họ có một đứa con riêng rồi cũng Ok bye tác giả Ngày Sinh Của Rắn này. Một mình đơn thân nuôi con ăn học thành tài và cháu ấy đã thành luật sư. Lần lượt Loan đưa cả gia đình gần 20 người ở Việt Nam quá xứ Cờ Hoa. Mấy năm trước Loan có về Việt Nam gặp cả Hoàng Đặng và tôi. Nghe cô ấy nói là làm trong một công ty hàng không của Mỹ. Tôi thật bái phục.
Người thứ tư là Vô Ưu. Vô ưu xuất hiện trên Bách Khoa với những truyện ngắn hay và lạ. Là cây bút trẻ của Đà Nẵng hồi đó. Do yêu thích văn chương mà tôi và Vô ưu quen biết nhau. Vô Ưu học cùng lớp với Lê Thị Ngọc Quý. Là hai hoa khôi của trường Phan Chu Trinh. Từ đó chúng tôi luôn trao đổi với nhau mọi vấn đề, nhất là vấn đề thanh niên trước thời cuộc. Cùng có chung suy nghĩ để cùng sáng tác. Như là anh em thân thiết nên chẳng bao giờ che giấu nhau điều gì. Năm 1973 tôi vào SG. Dần dà Vô Ưu cũng vào SG học đại học. Sợi dây liên hệ vẫn được kết nối. Năm 1974 sắp giải ngủ tôi về phụ giúp lo tờ Văn Học cùng anh chị Phan Kim Thịnh và Lê Vĩnh Thọ. Sang năm 1975. Số Văn Học đang in nửa chừng giới thiệu Vô Ưu với bạn đọc thì biến cố xảy ra. Thật tiếc là tờ báo in chưa xong để thấy cái tâm của tạp chí Văn Học và bài giới thiệu của tôi về Vô Ưu. Bẵng đi một thời gian vì kế sinh nhai tôi không còn gặp được Vô Ưu.
Đến năm 1995, khi xuất bản tập thơ đầu tay Hát Dạo Bên trời tôi đến báo Tuổi Trẻ kiếm Vô Ưu để tặng. Không gặp, tôi đành gửi lại cho tòa soạn. Hôm sau đọc báo Tuổi Trẻ số 106/95 ra ngày 9.9.1995 trang Văn Hóa Nghệ Thuật thấy bài của Vô Ưu (Ngô Thị Kim Cúc) với tựa VỚI THƠ ANH KHÔNG LỖI HẸN. Tôi đọc liền một mạch và rưng rưng cảm động vì tình anh em ngày cũ vẫn chứa chan. Bài viết thật hay và sâu sắc. Chỉ có là người thấu hiểu tôi mới viết được như thế. Sau này do công việc của mỗi người không gặp được nhau nhưng vẫn biết tin và thăm hỏi nhau qua mạng FB. Cô vẫn là một Vô Ưu tài hoa và một Ngô Thị Kim Cúc có những bài viết trên báo mà bạn đọc ưa thích. Tôi mừng vì từ ấy đến giờ Vô Ưu vẫn là chính mình.
Sau đó Loan sống với Phạm Công Thiện. Họ có một đứa con riêng rồi cũng Ok bye tác giả Ngày Sinh Của Rắn này. Một mình đơn thân nuôi con ăn học thành tài và cháu ấy đã thành luật sư. Lần lượt Loan đưa cả gia đình gần 20 người ở Việt Nam quá xứ Cờ Hoa. Mấy năm trước Loan có về Việt Nam gặp cả Hoàng Đặng và tôi. Nghe cô ấy nói là làm trong một công ty hàng không của Mỹ. Tôi thật bái phục.
Người thứ tư là Vô Ưu. Vô ưu xuất hiện trên Bách Khoa với những truyện ngắn hay và lạ. Là cây bút trẻ của Đà Nẵng hồi đó. Do yêu thích văn chương mà tôi và Vô ưu quen biết nhau. Vô Ưu học cùng lớp với Lê Thị Ngọc Quý. Là hai hoa khôi của trường Phan Chu Trinh. Từ đó chúng tôi luôn trao đổi với nhau mọi vấn đề, nhất là vấn đề thanh niên trước thời cuộc. Cùng có chung suy nghĩ để cùng sáng tác. Như là anh em thân thiết nên chẳng bao giờ che giấu nhau điều gì. Năm 1973 tôi vào SG. Dần dà Vô Ưu cũng vào SG học đại học. Sợi dây liên hệ vẫn được kết nối. Năm 1974 sắp giải ngủ tôi về phụ giúp lo tờ Văn Học cùng anh chị Phan Kim Thịnh và Lê Vĩnh Thọ. Sang năm 1975. Số Văn Học đang in nửa chừng giới thiệu Vô Ưu với bạn đọc thì biến cố xảy ra. Thật tiếc là tờ báo in chưa xong để thấy cái tâm của tạp chí Văn Học và bài giới thiệu của tôi về Vô Ưu. Bẵng đi một thời gian vì kế sinh nhai tôi không còn gặp được Vô Ưu.
Đến năm 1995, khi xuất bản tập thơ đầu tay Hát Dạo Bên trời tôi đến báo Tuổi Trẻ kiếm Vô Ưu để tặng. Không gặp, tôi đành gửi lại cho tòa soạn. Hôm sau đọc báo Tuổi Trẻ số 106/95 ra ngày 9.9.1995 trang Văn Hóa Nghệ Thuật thấy bài của Vô Ưu (Ngô Thị Kim Cúc) với tựa VỚI THƠ ANH KHÔNG LỖI HẸN. Tôi đọc liền một mạch và rưng rưng cảm động vì tình anh em ngày cũ vẫn chứa chan. Bài viết thật hay và sâu sắc. Chỉ có là người thấu hiểu tôi mới viết được như thế. Sau này do công việc của mỗi người không gặp được nhau nhưng vẫn biết tin và thăm hỏi nhau qua mạng FB. Cô vẫn là một Vô Ưu tài hoa và một Ngô Thị Kim Cúc có những bài viết trên báo mà bạn đọc ưa thích. Tôi mừng vì từ ấy đến giờ Vô Ưu vẫn là chính mình.
Người kế tiếp tôi muốn nói đến là Lý Văn Chương. Chương và Phạm
Thị Lộc là cặp bài trùng trong phong trào du ca ở Đà Nẵng mà hai người đầu đàn là anh Trần
Đình Quân và Tôn Thất Lan. Không có buổi nào Lý văn Chương và Phạm Thị Lộc hát mà thiếu
tôi. Là một người trẻ tuổi say mê ca nhạc đến lạ kỳ. Chính niềm say mê đó đã khiến
Chương sáng tác lúc chưa bước chân vào đại học. Lúc đó Chương phổ thơ tôi rồi. Hai bài mà tôi
thích là Tình Ca Ngày Về và Đưa Người Đi (do Ẩn Lan - Phạm Thị Lộc hát). Sau
này qua Mỹ Chương phổ thơ tôi thêm mấy bài. Nhưng tôi ưa nhất là bài Đêm Mưa
Nghe Tiếng Đàn Bầu. Gần 30 năm xa quê hương. Có dạo Chương về thăm Việt Nam đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Gặp bạn
bè, người thân cũ Chương vui quá nên uống suốt ngày dù đang bệnh tiểu đường. Khi
về Mỹ Chương qua đời ở tuổi trên 40. Tương lai của Chương khép lại thiên thu. Nếu còn sống chắc Chương còn làm được nhiều việc và sáng tác nhạc sẽ thăng hoa.
Nói đến Lý Văn Chương là phải nhắc đến Phạm Thị Lộc bởi hai người này như hình với bóng từa tựa như nhạc Trịnh Công Sơn phải có Khánh Ly hát vậy. Lộc gốc An Cựu nhưng theo gia đình vào Đà Nẵng sinh sống. Khi Chương đi rồi cô tiếp tục học lấy cử nhân thanh nhạc để làm việc ở nhà văn hóa. Và đêm đêm, cô vẫn cất tiếng hát như con chim họa mi phải hót giữa trời xanh. Có lần về ĐN, gặp nhau kể chuyện xưa nay không ngớt. Cô cũng phổ thơ tôi mấy bài như Gửi Người Xa Huế, Gửi Người Năm Cũ. Lúc gặp nhau Phạm Thị Lộc đã tròm trèm 50. Vậy mà tiếng hát của cô còn trầm ấm và truyền cảm lạ lùng. Nếu người nghe mà không thấy dung nhan sẽ nghĩ cô còn rất thanh xuân trời ạ!
Một chuyện rất tức cười khi nhắc đến cô cháu Vũ Ngọc Giao (con gái của Đoàn Huy Giao) xinh đẹp và cá tính. Là vậy: Hơn 3 năm trước, nghĩa là năm 2013 tôi có trang cá nhân FB. Người kết bạn với tôi cũng ngót nghét cả ngàn. Qua thời gian, tôi sàng lọc bớt vì thích những cmt văn chương chứ không thích đùa cợt… Trong số người đó có Vũ Ngọc Giao xin kết bạn mà tôi không Ok. Mấy tháng sau qua tin nhắn chat cô bé kêu tôi chảnh và khai là con gái của bố ĐHG. Tôi sửng người và nói với Giao: “Sao cháu không nói cho chú biết? Nếu nói sớm là chú Ok cái rột. Cô bé cười nói là để chú bất ngờ chơi” Chú biết không, lúc còn nhỏ xíu bố Giao đã kể về chú và đọc thơ cho cháu nghe rồi (cũng có thể từ lúc còn trong bụng mẹ!).
Cuối năm 2013 tôi và cháu thỉnh thoảng trò chuyện qua FB hoặc điện thoại. Cháu động viên tôi: Cháu biết thím mất mấy năm rồi. Chú nên kiếm một người để hủ hỉ vì người xưa nói: "Con chăm cha không bằng bà chăm ông“ con hiểu điều này nên muốn bố tục huyền cho đỡ hiu quanh. Giao thấu đáo khi nói vậy với tôi. Nhưng tôi nói với cháu là con gái chú không được như cháu. Vả ại chú quen hiu quạnh rồi. Khi tôi gặp người tri kỷ, báo cho Giao hay cháu rất mừng. Năm 2015 tôi và tri kỷ của tôi về ĐN có hẹn gặp cháu Vũ Ngọc Giao. Cuộc gặp gỡ thật thú vị, sau cà phê Giao đãi tôi bữa bún chả cá Đà Nẵng ngon nhớ đời. Cô bé này trên FB rất cá tính. Hay đưa hình tự chụp mình rất nghệ thuật. Có những bài viết về bố mẹ cảm động. Cô bé thường trích thơ Nguyễn Đình Toàn. Chắc cô ấy quý tác giả này nhất (bởi chính tôi cũng thích thơ của anh ấy). Cũng có lúc tôi điện thoại để nhờ cháu “Gỡ rối tơ lòng” thay thế bà Tùng Long cơ đấy! Tranh bút sắt của Hồ Đắc Ngọc trên tạp chí Văn hình dưới.
Nói đến Lý Văn Chương là phải nhắc đến Phạm Thị Lộc bởi hai người này như hình với bóng từa tựa như nhạc Trịnh Công Sơn phải có Khánh Ly hát vậy. Lộc gốc An Cựu nhưng theo gia đình vào Đà Nẵng sinh sống. Khi Chương đi rồi cô tiếp tục học lấy cử nhân thanh nhạc để làm việc ở nhà văn hóa. Và đêm đêm, cô vẫn cất tiếng hát như con chim họa mi phải hót giữa trời xanh. Có lần về ĐN, gặp nhau kể chuyện xưa nay không ngớt. Cô cũng phổ thơ tôi mấy bài như Gửi Người Xa Huế, Gửi Người Năm Cũ. Lúc gặp nhau Phạm Thị Lộc đã tròm trèm 50. Vậy mà tiếng hát của cô còn trầm ấm và truyền cảm lạ lùng. Nếu người nghe mà không thấy dung nhan sẽ nghĩ cô còn rất thanh xuân trời ạ!
Một chuyện rất tức cười khi nhắc đến cô cháu Vũ Ngọc Giao (con gái của Đoàn Huy Giao) xinh đẹp và cá tính. Là vậy: Hơn 3 năm trước, nghĩa là năm 2013 tôi có trang cá nhân FB. Người kết bạn với tôi cũng ngót nghét cả ngàn. Qua thời gian, tôi sàng lọc bớt vì thích những cmt văn chương chứ không thích đùa cợt… Trong số người đó có Vũ Ngọc Giao xin kết bạn mà tôi không Ok. Mấy tháng sau qua tin nhắn chat cô bé kêu tôi chảnh và khai là con gái của bố ĐHG. Tôi sửng người và nói với Giao: “Sao cháu không nói cho chú biết? Nếu nói sớm là chú Ok cái rột. Cô bé cười nói là để chú bất ngờ chơi” Chú biết không, lúc còn nhỏ xíu bố Giao đã kể về chú và đọc thơ cho cháu nghe rồi (cũng có thể từ lúc còn trong bụng mẹ!).
Cuối năm 2013 tôi và cháu thỉnh thoảng trò chuyện qua FB hoặc điện thoại. Cháu động viên tôi: Cháu biết thím mất mấy năm rồi. Chú nên kiếm một người để hủ hỉ vì người xưa nói: "Con chăm cha không bằng bà chăm ông“ con hiểu điều này nên muốn bố tục huyền cho đỡ hiu quanh. Giao thấu đáo khi nói vậy với tôi. Nhưng tôi nói với cháu là con gái chú không được như cháu. Vả ại chú quen hiu quạnh rồi. Khi tôi gặp người tri kỷ, báo cho Giao hay cháu rất mừng. Năm 2015 tôi và tri kỷ của tôi về ĐN có hẹn gặp cháu Vũ Ngọc Giao. Cuộc gặp gỡ thật thú vị, sau cà phê Giao đãi tôi bữa bún chả cá Đà Nẵng ngon nhớ đời. Cô bé này trên FB rất cá tính. Hay đưa hình tự chụp mình rất nghệ thuật. Có những bài viết về bố mẹ cảm động. Cô bé thường trích thơ Nguyễn Đình Toàn. Chắc cô ấy quý tác giả này nhất (bởi chính tôi cũng thích thơ của anh ấy). Cũng có lúc tôi điện thoại để nhờ cháu “Gỡ rối tơ lòng” thay thế bà Tùng Long cơ đấy! Tranh bút sắt của Hồ Đắc Ngọc trên tạp chí Văn hình dưới.
Viết đến đây sực nhớ họa sĩ Hoàng Đặng. Anh là người gốc Huế
“thiên di” vào Đà Nẵng sống và vẽ. Họa sĩ không gặp thời thì sống được là may. Tôi quen Hoàng Đặng qua Hồ Đắc Ngọc. Anh không bươn chải như người khác nhưng sống cũng “phiêu“ tận cùng.
Khi vẽ đam mê bừng cháy. Lúc nhậu cũng tận sáng. Giao du cũng nhiều. Anh có một xưởng vẽ bên Sơn Trà. Năm 2015 tôi về ngủ lại. Thế là chuyện đời, chuyện văn nghệ huyên thuyên. Tuy lận đận nhưng anh cũng có hai cuộc triển lãm tranh ở nước ngoài. Một lần ở Ireland mà báo Thanh Niên ngày 19.8.2006 giới thiệu: ”Để được cầm cọ vẽ, suốt 35 năm Hoàng Đặng lầm lũi làm đủ thứ công việc; thợ hồ, phụ lò bánh mì, dạy kèm, vẽ Pa nô, Xinê… Từng phải vào chùa trốn lính để thỏa mãn một đam mê duy nhất trong đời là hội họa... Đó là chuyện đời, chuyện nghề của họa sĩ Hoàng Đặng, hội viên hội Mỹ Thuật Việt Nam. Những ngày này, Hoàng Đặng đang ở Ireland, có lẽ anh là người đầu tiên được mời đến để vẽ và triển lãm tranh tại xứ sở hoa hồng” Và báo Đà Nẵng cuối tuần ra ngày 25.10.2009 chạy tít: TRIỂN LÃM TRANH CỦA HỌA SĨ HOÀNG ĐẶNG TẠI MỸ. Với chủ đề “Phong Cảnh và Đời Sống Việt Nam“ từ ngày 18.10.2009 họa sĩ Hoàng Đặng đã lên đường sang Hoa Kỳ cùng 30 bức tranh với chất liệu sơn dầu và Arcrylic để khai mạc cuộc triển lãm theo lời mời của hai trường đại học St Benedict, St John. Sự thành công của anh cũng có cái giá của nó: Vượt qua gian nan đời sống và đốt hết đem mê của tâm hồn trên ngọn thời gian…
Khi nhắc nhở bạn bè ngoài Hồ Đắc Ngọc, anh thường nói đến Đỗ Toàn. Một nhà điêu khắc đáng quý với cái tâm mà trong giới văn nghệ gọi là Bồ Tát (cùng thời với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng - một người rất nổi tiếng và sống đầy chất nghệ sĩ). Khi vào SG, tỉnh thoảng tôi điện thoại thăm bạn. Vẫn sống và làm việc không ngừng và cũng chẳng quên rong chơi.
Trái lại, họa sĩ Nguyễn Duy Ninh mỗi ngày một đẹp ra và sống hạnh phúc với vợ con đầm ấm. Anh có những cuộc triển lãm thành công. Tạp chí Sông Hương đã viết về anh: Họa sĩ Duy Ninh là một trong những gương mặt điển hình, thuộc thế hệ đầu tiên của mỹ thuật Đà Nẵng sau 1975. Suốt nhiều năm qua, Duy Ninh đã có những đóng góp sáng tạo không mệt mỏi, qua nhiều thể loại: sơn dầu, lụa, khắc gỗ… Thế nhưng, đến hiện nay, nhắc đến họa sĩ Duy Ninh, dường như nhiều người nghĩ ngay cái tên anh gắn liền với thể loại thủ ấn họa (monoprint). Bởi đây cũng chính là thể loại mà anh tâm đắc nhất, như có lần anh từng bộc bạch: “Với thể loại này, người nghệ sĩ có thể bày tỏ trên tranh những suy nghĩ sâu kín nhất, hoặc cũng có thể là những ý tưởng bất chợt. Cái hay của thể loại này là sự ngẫu nhiên mà người xem cảm nhận được lại chính là điều tác giả đã sắp xếp trước”. Với Duy Ninh, hẳn lĩnh vực này là một trò chơi lý thú của người khéo tay, vừa là tâm huyết của một họa sĩ trên con đường tìm kiếm tiếng nói của riêng mình. Tranh của anh thường thể hiện qua nhiều đề tài dàn trải phong phú, từ cụ thể… đến trừu tượng, bằng các chất liệu màu dầu, sơn ta, phấn tiên, thuốc nước… trên giấy trắng, giấy dó. Có thể nói, mọi ưu thế phóng túng trong việc sử dụng chất liệu cho thủ ấn họa đã được Duy Ninh khai thác một cách triệt để và hiệu quả.
Năm 1991, Duy Ninh có cuộc Triển lãm cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh. Đây cũng là lần đâu tiên Duy Ninh đã đem đến với công chúng một cái nhìn khá đầy đủ về nghệ thuật Thủ ấn họa của mình. Với 51 tác phẩm mang nặng những nội dung suy niệm sâu lắng về những thân phận, những mảnh đời giữa trần gian đầy bất trắc… đã khiến đông đảo người thưởng ngoạn và giới chuyên môn đánh giá cao. Cũng chính dịp này, chương trình nghệ thuật Đông dương (Indochina Art Project) của Hoa Kỳ, do David Thomas đại diện, đã chọn của Duy Ninh 7 tranh (trong tổng số 45 tranh được chọn tại Việt Nam) để trưng bày tại cuộc triển lãm chủ đề Two peoples - One land (Hai dân tộc - Một miền đất) ở Mỹ vào năm 1992…
Tính tình Nguyễn Duy Ninh lại hiền hòa dễ mến. Trước 75 là khóa khăn xanh Thủ Đức. Tôi khóa khăn tím (khóa huynh trưởng). Hồi ấy học thì ít mà chơi thì nhiều. Buổi chiều gần chạng vạng là Tôi, Nguyễn Duy Ninh, Lê Công Đào, Nguyễn Minh Nữu thường kéo nhau lên đồi Tăng Nhơn Phú hát nhạc, đọc thơ cho nhau nghe.
Năm 2015 tôi về thăm. Nguyễn Duy Ninh hú gọi bạn bè. Thế là các bạn Lê Công Đào, Hoàng Đặng, Trần Trung Sáng “e” tôi mấy bữa, cà phê, nhậu khắp Đà Nẵng. Bây giờ khi nghe ai nói về ĐN lại nhớ…
Đang viết tự nhiên nhớ đến Hoàng Đăng Nhuận. Một người không học trường lớp nào về Mỹ Thuật lại rất nổi tiếng như sóng lừng do lòng đam mê hội họa ngời ngời. Trước 75 tôi hay lên chơi chỗ họa sĩ Lê Văn Tài ở đường Trần Hưng Đạo Huế. Gặp và quen Hoàng Đăng
Nhuận từ đó. Sau năm 1968 anh vào Đà Nẵng sinh sống và làm việc. Nhưng nghiệp hội họa vẫn là chính. Anh có mấy xưởng vẽ nhưng một xưởng vẽ ở Thanh Bồ là ấn tượng với tôi nhất. Lâu lâu anh rủ tôi về đó ngủ lại. Hoàng Đăng Nhuận như một kiếm sĩ trên khung vải và màu.
Anh miệt mài không kể giờ giấc đêm ngày. Khu biển có rừng cây và gió hú ở Thanh Bồ có lúc khiến tôi rợn người. Nhưng với anh là bất sá và hiện hình cung cách của một đạo sĩ. Cũng chính nỗ lực nội tại cộng thêm thiên phú anh đã bước vào vườn địa đàng của hội họa
HỌA SĨ HOÀNG ĐĂNG NHUẬN: GIẤC MƠ TRÀN NGẬP SẮC MÀU
Báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 10.10.2015 có giới thiệu như sau:
Khi vẽ đam mê bừng cháy. Lúc nhậu cũng tận sáng. Giao du cũng nhiều. Anh có một xưởng vẽ bên Sơn Trà. Năm 2015 tôi về ngủ lại. Thế là chuyện đời, chuyện văn nghệ huyên thuyên. Tuy lận đận nhưng anh cũng có hai cuộc triển lãm tranh ở nước ngoài. Một lần ở Ireland mà báo Thanh Niên ngày 19.8.2006 giới thiệu: ”Để được cầm cọ vẽ, suốt 35 năm Hoàng Đặng lầm lũi làm đủ thứ công việc; thợ hồ, phụ lò bánh mì, dạy kèm, vẽ Pa nô, Xinê… Từng phải vào chùa trốn lính để thỏa mãn một đam mê duy nhất trong đời là hội họa... Đó là chuyện đời, chuyện nghề của họa sĩ Hoàng Đặng, hội viên hội Mỹ Thuật Việt Nam. Những ngày này, Hoàng Đặng đang ở Ireland, có lẽ anh là người đầu tiên được mời đến để vẽ và triển lãm tranh tại xứ sở hoa hồng” Và báo Đà Nẵng cuối tuần ra ngày 25.10.2009 chạy tít: TRIỂN LÃM TRANH CỦA HỌA SĨ HOÀNG ĐẶNG TẠI MỸ. Với chủ đề “Phong Cảnh và Đời Sống Việt Nam“ từ ngày 18.10.2009 họa sĩ Hoàng Đặng đã lên đường sang Hoa Kỳ cùng 30 bức tranh với chất liệu sơn dầu và Arcrylic để khai mạc cuộc triển lãm theo lời mời của hai trường đại học St Benedict, St John. Sự thành công của anh cũng có cái giá của nó: Vượt qua gian nan đời sống và đốt hết đem mê của tâm hồn trên ngọn thời gian…
Khi nhắc nhở bạn bè ngoài Hồ Đắc Ngọc, anh thường nói đến Đỗ Toàn. Một nhà điêu khắc đáng quý với cái tâm mà trong giới văn nghệ gọi là Bồ Tát (cùng thời với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng - một người rất nổi tiếng và sống đầy chất nghệ sĩ). Khi vào SG, tỉnh thoảng tôi điện thoại thăm bạn. Vẫn sống và làm việc không ngừng và cũng chẳng quên rong chơi.
Trái lại, họa sĩ Nguyễn Duy Ninh mỗi ngày một đẹp ra và sống hạnh phúc với vợ con đầm ấm. Anh có những cuộc triển lãm thành công. Tạp chí Sông Hương đã viết về anh: Họa sĩ Duy Ninh là một trong những gương mặt điển hình, thuộc thế hệ đầu tiên của mỹ thuật Đà Nẵng sau 1975. Suốt nhiều năm qua, Duy Ninh đã có những đóng góp sáng tạo không mệt mỏi, qua nhiều thể loại: sơn dầu, lụa, khắc gỗ… Thế nhưng, đến hiện nay, nhắc đến họa sĩ Duy Ninh, dường như nhiều người nghĩ ngay cái tên anh gắn liền với thể loại thủ ấn họa (monoprint). Bởi đây cũng chính là thể loại mà anh tâm đắc nhất, như có lần anh từng bộc bạch: “Với thể loại này, người nghệ sĩ có thể bày tỏ trên tranh những suy nghĩ sâu kín nhất, hoặc cũng có thể là những ý tưởng bất chợt. Cái hay của thể loại này là sự ngẫu nhiên mà người xem cảm nhận được lại chính là điều tác giả đã sắp xếp trước”. Với Duy Ninh, hẳn lĩnh vực này là một trò chơi lý thú của người khéo tay, vừa là tâm huyết của một họa sĩ trên con đường tìm kiếm tiếng nói của riêng mình. Tranh của anh thường thể hiện qua nhiều đề tài dàn trải phong phú, từ cụ thể… đến trừu tượng, bằng các chất liệu màu dầu, sơn ta, phấn tiên, thuốc nước… trên giấy trắng, giấy dó. Có thể nói, mọi ưu thế phóng túng trong việc sử dụng chất liệu cho thủ ấn họa đã được Duy Ninh khai thác một cách triệt để và hiệu quả.
Năm 1991, Duy Ninh có cuộc Triển lãm cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh. Đây cũng là lần đâu tiên Duy Ninh đã đem đến với công chúng một cái nhìn khá đầy đủ về nghệ thuật Thủ ấn họa của mình. Với 51 tác phẩm mang nặng những nội dung suy niệm sâu lắng về những thân phận, những mảnh đời giữa trần gian đầy bất trắc… đã khiến đông đảo người thưởng ngoạn và giới chuyên môn đánh giá cao. Cũng chính dịp này, chương trình nghệ thuật Đông dương (Indochina Art Project) của Hoa Kỳ, do David Thomas đại diện, đã chọn của Duy Ninh 7 tranh (trong tổng số 45 tranh được chọn tại Việt Nam) để trưng bày tại cuộc triển lãm chủ đề Two peoples - One land (Hai dân tộc - Một miền đất) ở Mỹ vào năm 1992…
Tính tình Nguyễn Duy Ninh lại hiền hòa dễ mến. Trước 75 là khóa khăn xanh Thủ Đức. Tôi khóa khăn tím (khóa huynh trưởng). Hồi ấy học thì ít mà chơi thì nhiều. Buổi chiều gần chạng vạng là Tôi, Nguyễn Duy Ninh, Lê Công Đào, Nguyễn Minh Nữu thường kéo nhau lên đồi Tăng Nhơn Phú hát nhạc, đọc thơ cho nhau nghe.
Năm 2015 tôi về thăm. Nguyễn Duy Ninh hú gọi bạn bè. Thế là các bạn Lê Công Đào, Hoàng Đặng, Trần Trung Sáng “e” tôi mấy bữa, cà phê, nhậu khắp Đà Nẵng. Bây giờ khi nghe ai nói về ĐN lại nhớ…
Đang viết tự nhiên nhớ đến Hoàng Đăng Nhuận. Một người không học trường lớp nào về Mỹ Thuật lại rất nổi tiếng như sóng lừng do lòng đam mê hội họa ngời ngời. Trước 75 tôi hay lên chơi chỗ họa sĩ Lê Văn Tài ở đường Trần Hưng Đạo Huế. Gặp và quen Hoàng Đăng
Nhuận từ đó. Sau năm 1968 anh vào Đà Nẵng sinh sống và làm việc. Nhưng nghiệp hội họa vẫn là chính. Anh có mấy xưởng vẽ nhưng một xưởng vẽ ở Thanh Bồ là ấn tượng với tôi nhất. Lâu lâu anh rủ tôi về đó ngủ lại. Hoàng Đăng Nhuận như một kiếm sĩ trên khung vải và màu.
Anh miệt mài không kể giờ giấc đêm ngày. Khu biển có rừng cây và gió hú ở Thanh Bồ có lúc khiến tôi rợn người. Nhưng với anh là bất sá và hiện hình cung cách của một đạo sĩ. Cũng chính nỗ lực nội tại cộng thêm thiên phú anh đã bước vào vườn địa đàng của hội họa
HỌA SĨ HOÀNG ĐĂNG NHUẬN: GIẤC MƠ TRÀN NGẬP SẮC MÀU
Báo Đà Nẵng cuối tuần số ra ngày 10.10.2015 có giới thiệu như sau:
Nhiều người sinh ra trong khoảng thập niên 40 của thế kỷ XX
nói Hoàng Đăng Nhuận vì mê vẽ tranh mà bỏ nghề thợ vàng, lang thang theo người
bạn họa sĩ là Lê Văn Tài để học vẽ từ cuối thập niên 60.
Câu chuyện Hoàng Đăng Nhuận trở thành họa sĩ nổi tiếng cũng có nhiều ẩn khuất được truyền miệng từ các thế hệ cùng thời ông. Nhà phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy nhận xét: “Mê thế giới của giá vẽ và màu sắc, nên thời còn rất trẻ, trước năm 1968, Nhuận rời gia đình và sống trong cảnh phiêu lãng với họa sĩ Lê Văn Tài ở Huế, rồi khi Lê Văn Tài trở thành người lính của Mặt trận Giải phóng, đi lên rừng, rồi đi ra miền Bắc, thì Hoàng Đăng Nhuận đã trở thành họa sĩ lúc nào mà cũng chẳng hay. Tự học vẽ, không vào trường Mỹ thuật, vậy mà bước đầu triển lãm thì lại bày tranh với hai họa sĩ rất danh tiếng thời bấy giờ là Đinh Cường và Rừng”.
Tranh của anh triển lãm nhiều nơi và được Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam sưu tập.
Sau năm nhiều năm giang hồ, Hoàng Đăng Nhuận cũng đã quay về Huế để sống và vẽ.
Cơn tai biến đã khiến anh ngưng vẽ mấy năm.Nghe đâu bây giờ anh đã dần phục hồi sức khỏe và cầm cọ trở lại.Năm 2015 tôi về Huế có ghé thăm. Lúc ấy anh nằm trên giường mừng vui khi thấy lại bạn cũ nhưng đọc trong mắt anh tôi biết anh rất buồn… khi phải tạm ngưng cuộc hôn phối với hội họa.
Thêm một người hiện rõ trong hồi ức tôi: Anh Luân Hoán.Từ thập niên 60 anh đã nổi tiếng
Và là một người mà tạp chí Văn Học luôn quan tâm. Hai tập thơ của anh được được nhà xuất bản Văn Học SaiGon ấn hành năm 1964. Tôi quen biết anh từ năm 1970. Một cây bút tài hoa của đất Quảng. Trần Trung Thuần đã viết về anh như sau:
Luân Hoán là một người làm thơ có tiếng tăm, điều này ai cũng công nhận - từ thập niên 60 thế kỷ 20, các báo miền Nam Việt Nam đều thường xuyên đăng thơ Luân Hoán, anh cũng có nhiều tập thơ xuất bản đàng hoàng ở tuổi khi còn rất trẻ. Luân Hoán nổi tiếng nhờ tài làm thơ mau, hay… và xuất chúng. Anh là người sinh trưởng ở đất Quảng Nam, nơi có nhiều người làm thơ nổi danh nhất Việt Nam mình, cả hai miền Nam - Bắc, nhưng anh là người làm thơ sung sức và trường thọ. Nào Vũ Hữu Định, Hoàng Trúc Ly, Tạ Ký, Bùi Giáng…đều đã chết, họ làm thơ một thời với Luân Hoán đấy thôi. Sau Luân Hoán không bao lâu thì có Hoàng Lộc, Thành Tôn, Phan Xuân Sinh, Nguyễn Lương Vỵ, Hồ Thành Đức, Thái Tú Hạp, Ý Nga, Bích Xuân… Những người này hay lắm về thơ, tức về “chất lượng”, nhưng “số lượng” thơ thì tùy theo thời tiết, tức không bình thường, nay trồi, mai sụt, nay tăng, mai giảm, tùy hứng mà có thơ! Bền bỉ thi gan cùng tuế nguyệt thì duy nhất Luân Hoán. Anh vốn không “bình thường” về thể chất, chỉ còn một chân, một chân gửi trên chiến trường Quảng Ngãi năm 1969, mà anh làm thơ “bá cháy” và không bài thơ nào của anh bị gọi là “thơ sượng” hay “thơ gượng”. Anh em đọc thơ Luân Hoán đều tấm tắc: “cha này còn ngon”, và ngon thật…ở cái tuổi hết chừng mực rồi, Luân Hoán vẫn có thơ cho… nữ sinh Huế ngày xưa! Luân Hoán… như một người bình thường, làm tròn bổn phận đối với đất nước, với bạn bè (trai và gái), với vợ, với con, với thân thuộc còn ở quê nhà… Tôi không thấy trong thơ Luân Hoán lời ai oán nào, lời than van nào, thơ anh đượm tình và đậm tình…Quả thật xưa nay hiếm vậy!
Đến năm 1973 tôi vào SG thì không còn gặp anh nữa. Năm 1985 anh được gia đình bảo lãnh qua CANADA. Trước khi đi anh có ghé thăm tôi. Hai anh em chở nhau lên Lái Thiêu thăm nhà thơ Lê Vĩnh Thọ. Khi qua xứ người, dù mất một bàn chân trái nhưng anh vẫn làm việc cật lực và đã xuất bản thêm nhiều tập thơ nữa. Nhớ và thương anh. Nhất là khi đọc được bài thơ viết cho vợ có những khổ thơ khiến tôi giật mình:
GIẶT ÁO QUẦN CHO VỢ
Trộn chút tình ta vào bột giặt
vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
vải còn đượm mùi thịt da em thơm ngát
tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
Câu chuyện Hoàng Đăng Nhuận trở thành họa sĩ nổi tiếng cũng có nhiều ẩn khuất được truyền miệng từ các thế hệ cùng thời ông. Nhà phê bình mỹ thuật Huỳnh Hữu Ủy nhận xét: “Mê thế giới của giá vẽ và màu sắc, nên thời còn rất trẻ, trước năm 1968, Nhuận rời gia đình và sống trong cảnh phiêu lãng với họa sĩ Lê Văn Tài ở Huế, rồi khi Lê Văn Tài trở thành người lính của Mặt trận Giải phóng, đi lên rừng, rồi đi ra miền Bắc, thì Hoàng Đăng Nhuận đã trở thành họa sĩ lúc nào mà cũng chẳng hay. Tự học vẽ, không vào trường Mỹ thuật, vậy mà bước đầu triển lãm thì lại bày tranh với hai họa sĩ rất danh tiếng thời bấy giờ là Đinh Cường và Rừng”.
Tranh của anh triển lãm nhiều nơi và được Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam sưu tập.
Sau năm nhiều năm giang hồ, Hoàng Đăng Nhuận cũng đã quay về Huế để sống và vẽ.
Cơn tai biến đã khiến anh ngưng vẽ mấy năm.Nghe đâu bây giờ anh đã dần phục hồi sức khỏe và cầm cọ trở lại.Năm 2015 tôi về Huế có ghé thăm. Lúc ấy anh nằm trên giường mừng vui khi thấy lại bạn cũ nhưng đọc trong mắt anh tôi biết anh rất buồn… khi phải tạm ngưng cuộc hôn phối với hội họa.
Thêm một người hiện rõ trong hồi ức tôi: Anh Luân Hoán.Từ thập niên 60 anh đã nổi tiếng
Và là một người mà tạp chí Văn Học luôn quan tâm. Hai tập thơ của anh được được nhà xuất bản Văn Học SaiGon ấn hành năm 1964. Tôi quen biết anh từ năm 1970. Một cây bút tài hoa của đất Quảng. Trần Trung Thuần đã viết về anh như sau:
Luân Hoán là một người làm thơ có tiếng tăm, điều này ai cũng công nhận - từ thập niên 60 thế kỷ 20, các báo miền Nam Việt Nam đều thường xuyên đăng thơ Luân Hoán, anh cũng có nhiều tập thơ xuất bản đàng hoàng ở tuổi khi còn rất trẻ. Luân Hoán nổi tiếng nhờ tài làm thơ mau, hay… và xuất chúng. Anh là người sinh trưởng ở đất Quảng Nam, nơi có nhiều người làm thơ nổi danh nhất Việt Nam mình, cả hai miền Nam - Bắc, nhưng anh là người làm thơ sung sức và trường thọ. Nào Vũ Hữu Định, Hoàng Trúc Ly, Tạ Ký, Bùi Giáng…đều đã chết, họ làm thơ một thời với Luân Hoán đấy thôi. Sau Luân Hoán không bao lâu thì có Hoàng Lộc, Thành Tôn, Phan Xuân Sinh, Nguyễn Lương Vỵ, Hồ Thành Đức, Thái Tú Hạp, Ý Nga, Bích Xuân… Những người này hay lắm về thơ, tức về “chất lượng”, nhưng “số lượng” thơ thì tùy theo thời tiết, tức không bình thường, nay trồi, mai sụt, nay tăng, mai giảm, tùy hứng mà có thơ! Bền bỉ thi gan cùng tuế nguyệt thì duy nhất Luân Hoán. Anh vốn không “bình thường” về thể chất, chỉ còn một chân, một chân gửi trên chiến trường Quảng Ngãi năm 1969, mà anh làm thơ “bá cháy” và không bài thơ nào của anh bị gọi là “thơ sượng” hay “thơ gượng”. Anh em đọc thơ Luân Hoán đều tấm tắc: “cha này còn ngon”, và ngon thật…ở cái tuổi hết chừng mực rồi, Luân Hoán vẫn có thơ cho… nữ sinh Huế ngày xưa! Luân Hoán… như một người bình thường, làm tròn bổn phận đối với đất nước, với bạn bè (trai và gái), với vợ, với con, với thân thuộc còn ở quê nhà… Tôi không thấy trong thơ Luân Hoán lời ai oán nào, lời than van nào, thơ anh đượm tình và đậm tình…Quả thật xưa nay hiếm vậy!
Đến năm 1973 tôi vào SG thì không còn gặp anh nữa. Năm 1985 anh được gia đình bảo lãnh qua CANADA. Trước khi đi anh có ghé thăm tôi. Hai anh em chở nhau lên Lái Thiêu thăm nhà thơ Lê Vĩnh Thọ. Khi qua xứ người, dù mất một bàn chân trái nhưng anh vẫn làm việc cật lực và đã xuất bản thêm nhiều tập thơ nữa. Nhớ và thương anh. Nhất là khi đọc được bài thơ viết cho vợ có những khổ thơ khiến tôi giật mình:
GIẶT ÁO QUẦN CHO VỢ
Trộn chút tình ta vào bột giặt
vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
vải còn đượm mùi thịt da em thơm ngát
tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
nuôi chồng con dài năm tháng gian nan
ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
nuôi chồng con dài năm tháng gian nan
vòi nước nhỏ chảy qua từng thớ vải
như chảy vào trong cùng tận lòng ta
em có thấy giọt lệ ta thầm nhỏ
và tan trên màu vải những thiết tha?…
như chảy vào trong cùng tận lòng ta
em có thấy giọt lệ ta thầm nhỏ
và tan trên màu vải những thiết tha?…
đời không giữ giùm ta hai chân đứng
có lẽ nào vô dụng mãi hay sao
giặt giũ làm thơ đọc vài trang báo
hai mươi bốn giờ thường trực chiêm bao.
có lẽ nào vô dụng mãi hay sao
giặt giũ làm thơ đọc vài trang báo
hai mươi bốn giờ thường trực chiêm bao.
Luân Hoán
Dù ở nơi đâu, chân trời góc bể nào mà cái CHÂN - THIỆN - MỸ ta
lấy làm đầu cho văn chương thì thì đó là ĐẠO vậy…
Hình 3: Họa sĩ Nguyễn Duy Ninh
chụp trước tranh của anh
chụp trước tranh của anh
Nhà văn Sơn Nam “Ông vua đi bộ”
Hồi ức
Tôi quen biết ông từ thập niên 80. Lúc ấy địa chỉ 81
Trần Quốc Thảo quận 3 TP. HCM là
nơi “quần anh hội” của giới văn nghệ thời còn bao cấp: Bia hơi là chính. Văn nghệ
sĩ chân chính cũng có mà văn nghê sĩ tự phong không thiếu. Vui cũng uống. Buồn
cũng uống. Bia vào, lời ra. Có khi la hét. Chửi bới và phang nhau nữa. Nhưng địa chỉ
này chính xác là một thời để nhớ... Ngoài bạn bè văn nghệ thì hai ông già khiến
tôi nhớ nhất: Nhà Văn Sơn Nam và nhạc sĩ Châu Kỳ (ham nhậu đến nỗi để quên và mất
đến 7 chiếc xe đạp Phượng Hoàng).
Ông Sơn Nam thì cuốc bộ từ quận Bình Thạnh lên tới quận 3 uống vài ly bia hơi rồi lại đi bộ trở về. Tính ông trầm trầm, ít nói nhưng rất dễ gần gũi. Bởi dễ tính (luôn như TCS: Thôi kệ!) nên có tay văn nghệ “đánh đồng” ông ngang hàng với gã (dù tuổi gã đáng con, đáng cháu ông). Khi đọc bài viết trên báo tôi rất bất bình bởi văn chương phải có trên, có dưới. Có trước, có sau chứ không thể gom vào một nùi. Tác giả Hương Rừng Cà Mau có hai điều đam mê mà tôi thích và cần tập theo ông là Thú Đi Bộ (nhờ đi bộ mà ông dẻo dai) và Đọc Sách ở Thư Viện (Sách chính là nơi ghi dấu tri thức của nhân loại). Từ hai đam mê này và tính cần mẫn mà ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị (đặc biệt viết về vùng đất Nam Bộ) như:
Chuyện xưa tình cũ (1958)
Tìm hiểu đất Hậu Giang (nghiên cứu, 1959)
Hương rừng Cà Mau (1962)
Chim quyên xuống đất (1963)
Hình bóng cũ (1964)
Vạch một chân trời (1968)
Gốc cây - Cục đá và Ngôi sao (1969)
Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam
Danh thắng Miền Nam
Theo chân người tình và một mảnh tình riêng
Từ U Minh đến Cần Thơ - Ở chiến khu 9 - 20 năm giữa lòng đô thị - Bình An
Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang
Xóm Bàu Láng
Mùa len trâu
Ông Sơn Nam thì cuốc bộ từ quận Bình Thạnh lên tới quận 3 uống vài ly bia hơi rồi lại đi bộ trở về. Tính ông trầm trầm, ít nói nhưng rất dễ gần gũi. Bởi dễ tính (luôn như TCS: Thôi kệ!) nên có tay văn nghệ “đánh đồng” ông ngang hàng với gã (dù tuổi gã đáng con, đáng cháu ông). Khi đọc bài viết trên báo tôi rất bất bình bởi văn chương phải có trên, có dưới. Có trước, có sau chứ không thể gom vào một nùi. Tác giả Hương Rừng Cà Mau có hai điều đam mê mà tôi thích và cần tập theo ông là Thú Đi Bộ (nhờ đi bộ mà ông dẻo dai) và Đọc Sách ở Thư Viện (Sách chính là nơi ghi dấu tri thức của nhân loại). Từ hai đam mê này và tính cần mẫn mà ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị (đặc biệt viết về vùng đất Nam Bộ) như:
Chuyện xưa tình cũ (1958)
Tìm hiểu đất Hậu Giang (nghiên cứu, 1959)
Hương rừng Cà Mau (1962)
Chim quyên xuống đất (1963)
Hình bóng cũ (1964)
Vạch một chân trời (1968)
Gốc cây - Cục đá và Ngôi sao (1969)
Lịch sử khẩn hoang miền Nam
Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam
Danh thắng Miền Nam
Theo chân người tình và một mảnh tình riêng
Từ U Minh đến Cần Thơ - Ở chiến khu 9 - 20 năm giữa lòng đô thị - Bình An
Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang
Xóm Bàu Láng
Mùa len trâu
Tiểu sử
Nhà văn Sơn Nam tên khai sinh là Phạm Minh Tài (sinh 11 tháng 12 năm 1926 - mất ngày 13 tháng 08 năm 2008). Ông được gọi yêu là Ông già Ba Tri vì thường hay cuốc bộ.
Ông sinh tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, trước khi mất sinh sống tại Sài Gòn. Ông học tại Cần Thơ, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp định Genève 1954, ông trở lại Sài Gòn tham gia viết sách, báo. Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “pho từ điển sống về miền Nam” hay là “nhà Nam Bộ học.” (trích tiểu sử).
Riêng tôi tập truyện Hương Rừng Cà Mau là tập truyện đậm dấu ấn nhất. Trong đó có truyện Mùa Len Trâu đã chuyển thế thành phim: Mùa len trâu là bộ phim đầu tay của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh được khởi quay tháng 9 năm 2003.
Bộ phim có kinh phí khoảng hơn 1 triệu USD, với sự tham gia của ba hãng: Hãng phim Giải Phóng Việt Nam, 3B Productions Pháp và Novak Prod Bỉ. Bộ phim được trình chiếu ở Pháp với tên Gardien de buffles và ở Mỹ với tên Buffalo boy.
Chuyện phim dựa trên tác phẩm Mùa len trâu trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, kể về cuộc sống của những người nông dân miền Nam đầu thế kỷ 20. Mỗi khi mùa mưa về, nước tràn ngập mọi nơi, có những người làm nghề "len trâu", đưa trâu đi tìm cỏ để sống qua mùa lũ.
Nhà văn Sơn Nam tên khai sinh là Phạm Minh Tài (sinh 11 tháng 12 năm 1926 - mất ngày 13 tháng 08 năm 2008). Ông được gọi yêu là Ông già Ba Tri vì thường hay cuốc bộ.
Ông sinh tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, trước khi mất sinh sống tại Sài Gòn. Ông học tại Cần Thơ, rồi tham gia kháng chiến chống Pháp. Sau Hiệp định Genève 1954, ông trở lại Sài Gòn tham gia viết sách, báo. Nhà văn Sơn Nam đã viết nên nhiều tác phẩm dấu ấn, ông được nhiều người gọi yêu là “ông già Nam Bộ”, “ông già Ba Tri”, “pho từ điển sống về miền Nam” hay là “nhà Nam Bộ học.” (trích tiểu sử).
Riêng tôi tập truyện Hương Rừng Cà Mau là tập truyện đậm dấu ấn nhất. Trong đó có truyện Mùa Len Trâu đã chuyển thế thành phim: Mùa len trâu là bộ phim đầu tay của đạo diễn Việt kiều Nguyễn Võ Nghiêm Minh được khởi quay tháng 9 năm 2003.
Bộ phim có kinh phí khoảng hơn 1 triệu USD, với sự tham gia của ba hãng: Hãng phim Giải Phóng Việt Nam, 3B Productions Pháp và Novak Prod Bỉ. Bộ phim được trình chiếu ở Pháp với tên Gardien de buffles và ở Mỹ với tên Buffalo boy.
Chuyện phim dựa trên tác phẩm Mùa len trâu trong tập truyện Hương rừng Cà Mau của nhà văn Sơn Nam, kể về cuộc sống của những người nông dân miền Nam đầu thế kỷ 20. Mỗi khi mùa mưa về, nước tràn ngập mọi nơi, có những người làm nghề "len trâu", đưa trâu đi tìm cỏ để sống qua mùa lũ.
MÙA LEN TRÂU
Nước tràn bờ sông Hậu chảy qua. Nước trên trời tuôn xuống.
Gió biển triền miên thổi lộng về. Từ Sáng đến chiều, mặt trời biến dạng sau lớp
mưa: ánh nắng pha loãng đều đều không làm chóa mắt kẻ ưu tư đang ngồi hút thuốc
mà ngắm mấy lượn sóng chạy dài tiếp lưng trời. Núi Ba Thê bên này, núi Cấm trước
mặt, hòn Sóc, hòn Đất bên kia bình thường xem hùng vĩ, thơ mộng thì nay trở
thành lè tè, bé bỏng trong cảnh bao la trời nước.
Chú Tư Đinh lại vấn điếu thuốc thứ nhì, mỉm cười khi thấy từ chân trời một cơn mưa to hơn sắp kéo đến.
– Ừ! Mưa hoài đi. Ông trời năm nay biết điệu, thuận mùa, thuận tiết…
Thiếm Tư như phản đối ý chồng:
– Mưa vài đám nữa thì có môn leo lên nóc nhà mà ở. Ba cái lu, ba cái hũ trôi lểnh nghểnh trong nhà rồi, ba nó chưa hay sao? Gạo hết, tiền hết.
– Mình đừng trách trời. Hồi nào tới giờ, trời cứ vậy hoài, hết mùa hạn thì phải tới mùa nước lụt chớ.
Chú Tư muốn giải nghĩa sự lạc quan của mình dài dòng hơn để thiếm Tư nghe. “Đàn bà giỏi tài chú ý lặt vặt chuyện bếp núc. Nhìn ra đồng thì họ chỉ thấy những chuyện trên mặt nước, hơi đâu mà cãi”. Nghĩ vậy, chú im lặng, vấn thêm điếu thuốc nữa. Giờ này, dưới đáy nước, sát mặt ruộng, mớ đất cày mềm nhũn, trở mình trắng phau. Gió thổi mạnh, trôi nhà trôi cửa nhưng lúa một tấc; thân lúa đuối sức cố nằm dài trên mặt nước vừa hấp hối ngột thở là nhánh non nứt ra trong nháy mắt để chào đón cuộc sống.
Sau hè nhà, nước dậy đùng đùng, sóng gợn từng lượn lớn, vỗ lát chát vào vách. Chú Tư bước nhè nhẹ trên sàn tay vịn mái nhà, tay che mắt rồi cau mày; thằng Nhi đứa con trai của chú đang cưỡi trâu về.
Đôi trâu bước lên nền chuồng trâu lúc trước, tuy đã đắp cao thêm gần một thước vậy mà nước leo lên lé đé.
Chú Tư chờ thằng Nhi vào nhà. Nó cổi cái áo ướt mem quăng trên sân:
– Xung quanh đây hết cỏ rồi. Làm sao bây giờ hả ba? Trâu đói nữa, con mắt nó đổ ghèn hoài.
Chú nói:
– Bên giồng cát Sóc Xoài… Mày có qua tới đó không?
– Có. Mà hết cỏ rồi. Mấy lõm cỏ sau chùa không đủ cho trâu bò ở đó ăn, đâu có dư tới mình. Trâu mình ốm nhiều. Từ Đây tới nước giựt còn trên ba tháng nữa, làm sao chịu nổi?
– Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu mình họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Má mày ngăn cản. Bây giờ tới nước này rồi…
Thiếm Tư trầm ngâm suy nghĩ, nhìn đôi trâu đã mòn sức, be sườn lòi rõ rệt từng hàng như vòng cung. Để ở nhà, trâu chết đói; giao cho thiên hạ len đi thì làm sao bảo đảm được? Trâu của trăm chủ khác nhau gom lại chung một bầy, tha hồ lấn hiếp, chém lộn bầy trâu gần bốn trăm con mà chỉ có năm sáu người chăn giữ.
Đường dài thăm thẳm, lội nước băng rừng, rủi khi bịnh hoạn thì trâu đành bỏ mạng nơi xứ lạ quê người. Thật là tấn thối lưỡng nan! Đôi trâu nhà đứng khúm núm đó, trên nền chuồng, như hai pho tượng bằng đồng đen dựng lên mặt nước. Thiếm nói:
– Ba nó tính sao thì tính. Tôi rối trí quá rồi.
Chú Tư chép miệng:
– Không nên cãi mạng trời. Muốn cãi cũng không được. Không lẽ họ giết trâu mình? Trăm con, chết chừng đôi ba con là nhiều. Muốn vững bụng hơn, mình cho thằng Nhi theo coi chừng.
Thằng Nhi há miệng ngạc nhiên không dè mùa nước năm nay nó lại được đi du lịch bất ngờ như vầy. Chú Tư hỏi:
– Muốn đi không mậy? Chặng đầu, họ mới len trâu tới chân núi Ba Thê, mình đuổi theo nhập bầy còn kịp, đây qua đó chừng nửa ngày đường. Lấy cái nóp mới của tao mà đem theo. Dọc đường muỗi mòng, mưa gió nhớ đi theo sát hai con trâu của mình, đừng ham chơi lêu lổng. Nói với tằn khao (đầu nậu, cai thầu) rằng mình chịu đóng cho y mười giạ lúa tiền công len trâu, mùa này.
Mưa cứ mưa trút xuống. Gió cứ dậy sóng lên. Từ lúc thằng Nhi dẫn trâu đi, nhà cửa lần lần trở nên vắng lạnh. Thiếm Tư cằn nhằn:
– Giao sanh mạnh hai con trâu cho họ, ba nó chưa vừa bụng sao? Lại còn bày đặt cho thằng Nhi đi theo! Rủi bề gì…
Chú Tư nói:
– Má nó khéo lo thì thôi! Trâu hễ tới số thì dẫu cầm ở nhà nó cũng không sống. Tôi buồn lắm. Trâu giúp mình tạo ra hột lúa; bù lại, mình không kiếm đủ cỏ cho nó ăn no. Như vậy là mình bất nhân. Còn thằng Nhi… dịp này để nó học nghề với người ta.
Thiếm Tư hơi giận:
– Nghề gì? Nghề chăn trâu mà cũng học nữa à? Tôi không ham cái nghề đó.
– Má nó nói giỡn sao chớ! Chăn trâu còn khó hơn diều binh khiển tướng. Đời xưa, nhiều người nhờ lúc nhỏ chăn trâu mà tới lớn được làm vua. Con nít chăn trâu ca hát nghe bậy bạ nhưng nhiều khi linh nghiệm như sấm truyền, đoán trúng những chuyện quốc sự. Tôi nhớ coi… Trong truyện Phong Thần gì đó nhắc cái tích ông Nịnh Thích ngồi trên lưng trâu, gõ sừng mà hát công kích vua đời… Liệt Quốc Đông Châu! Vua giựt mình, mời ông Nịnh Thích về làm quân sư. Nghe đâu lúc về hưu trí, ông Nịnh Thích lại cữi trâu mà du sơn ngoạn thủy. Như, tiều, canh, mục là bốn điều quan trọng mà.
Thiếm Tư vẫn chưa nguôi cơn buồn:
– Ba nó nói chuyện đời xưa. Chăn trâu theo kiểu ở xứ mình có khác, tối ngày đeo đuôi trâu mà lặn hụp dưới nước, ăn không no, ngủ không yên…
– Nhưng mà học khôn nhiều chuyện. Mà nó hồi nào tới giờ chưa từng tới núi Ba Thê, vậy mà bây giờ thằng Nhi nó rành đó! Cảnh núi non thanh lịch, tâu ăn cỏ ngẩng đầu coi mây bay lui tới; ngứa lưng thì trâu cọ mình vô cột của đền vua chùa mà gãi sốn sột. Má nó biết không? Ở núi Ba Thê, trâu len ăn cỏ trên đền vua đời xưa… Vua chùa mất hết, trâu đời đời kiếp kiếp còn đứng dửng dưng trên mặt đất này hoài!
Thiếm Tư bực bội:
– Đói, không đủ cỏ ăn mà cũng sang trọng. Thôi ông ơi! Đừng nói nữa.
– Hết cỏ thì qua chỗ khác, má nó đừng lo. Từ Ba Thê cả bầy trâu len qua miệt Bảy Núi. Oai vệ lắm kìa! Voi đi một lần đôi ba chục con là cùng, cọp đi hai ba con là nhiều; cảnh đó ở miệt rừng ai cũng thấy. Đằng này, trâu lội nước năm ba trăm con, đen đầu, đặc nước. Kiếm bạc trăm là dễ chớ muốn thấy được cảnh đó không phải dễ, giống như hồi thiên hạ sơ khai, càn khôn hỗn độn… Mấy ông thầy chùa, bà vãi ẩn mình trong cốc trên núi, chán cảnh trần tục vậy mà họ còn bước ra ngóng mắt theo bầy trâu len dữ dội…
Càng nhắc tới, chú Tư càng thích chí, thiếm Tư trái lại ngồi buốn xo, không tin nơi lời chồng , cho rằng đó là kiểu an ủi gượng của kẻ túng cùng. Chú Tư lại vấn thuốc, hỏi vợ:
– Má nó ngủ hay thức? Nãy giờ có nghe không? Sao không ừ hử gì ráo, hay là ngủ rối…
– Tôi nằm nghe đây mà. Nghe bằng lỗ tai chớ nghe bằng miệng sao mà phải ừ hử từng chập?
Chú Tư lại nói tiếp:
– Ở Bảy Núi thanh khiết hơn ở Ba Thê. Trâu ăn toàn cỏ lạ hoa thơm; lắm thứ cỏ phảng phất mùi gì giống như vị thuốc Bắc. Ban đêm, muỗi mòng cũng ít, tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh gõ mõ thì nhiều… Mặc dầu ăn cỏ ở dưới chân núi, trâu cũng được phong làm chúa sơn lâm. Cọp beo trên núi quỳ xuống mà đầu hàng chớ không dám xáp lại.
Bên kia sàn nhà, thiếm Tư bắt đầu thở nhẹ rồi ngáy pho pho. Chú Tư mỉm cười, không chút hờn giận. “Vợ mình chán không thèm nghe nữa vì nãy giờ mình nói toàn những chuyện vui tươi, sung sướng, giấu giếm những nỗi cực nhọc trong nghề chăn trâu. Nhưng cần gì? Cốt ý là mình nhắc lại cuộc đời len trâu của mình hồi thuở con nhỏ cho riêng mình nghe mà thôi”. Chú lại vấn thuốc hút. Bên ngoài trời vẫn mưa, sóng nước vẫn chạy ùa tới đập vào vách nhà. Khói thuốc phun mờ mờ, bay thoảng lên cao. Chân trời lại hiện ra, lúa nằm dài xanh rờn, nhấp nhô trên ngọn sóng. Và… Đằng xa kia là Bảy Núi, nơi mà giờ này thằng Nhi và hai con trâu của chú đang tung hoành, sắp lội nước hằng mươi cây số để vượt ra mé biển đến vùng rừng tràm miệt Linh Quỳnh.
Rừng tràm xanh đậm, rọi xuống mặt nước đỏ ngầu, rung rinh. Nhứt là về đêm khi trăng chiếu, đom đóm bay về đậu khắp nhánh tràm như họp chợ phiên! Hồi thuở nhỏ, chú đến đó nhiều lần. Cảnh ấy bây giờ thay đổi vì nhà nước đã đào thêm con kinh Xáng Rạch Giá – Hà Tiên và đắp xong con lộ đá. Trâu vượt qua lộ xe hoặc ngủ tạm trên lộ cho tới sáng. Lội dưới nước lâu ngày, móng trâu trở nên mềm, đứng trên đá, trâu đau chân. Chú Tư bỗng hình dung trước mặt một cảnh tượng oai hùng, khi mặt trời vừa lố dạng, đàn trâu phải rút vào rừng tìm nơi ăn nằm. Nhà nước đắp lộ xe nào phải để cho trâu đứng, phá hoại… Trâu chạy ầm ầm. Không mấy chút, tràm gãy rôm rốp ngã liệt xuống, lõm rừng trở thành một cái đầm rộng lớn. Người len trâu tạm nghỉ ngơi vài ngày. Mấy “tay riều” đốn củi gần đó tụ họp lại làm quen, đánh bài cào, uống rượu, đốt lửa lên bàn chuyện tiếu lâm. Lắm khi họ sắp đặt công việc đi ăn cướp, ăn cướp kẻ khác và ăn cướp lẫn nhau. Mấy tay len trâu giựt tiền của tay riều; mấy tay riều xúm nhau giựt trâu của mấy tay len. Rừng lại đẫm máu… Trong cuộc xô xát dao búa đó, sanh mạng của con người như con kiến, hà huống chi đứa trẻ bé bỏng như thằng Nhi, con trai chú!
Chú Tư giựt mình, e ngại.
Trong giấc mơ, có lẽ thiếm Tư không tưởng tượng được tới cảnh chém giết rùng rợn đó. Thiếm nói lảm nhảm rồi lại trở mình, ngáy khò khò.
Tháng mười, nước giựt xuống. Đến cuối tháng, mặt ruộng lộ ra, cỏ non nhú mọc xanh tươi đến tận chân trời. Mưa dứt sớm. Núi non lại trở nên hùng vĩ. Suốt mùa, lúa nương theo nước mà vươn lên đến bốn năm thước; bây giờ lúa nằm rạp xuống đất, chồng chất cao ngùn ngụt. Cái sàn nhà của chú Tư cũng hạ xuống. Cuộc sống trở lại bình thường.
Đêm ấy, quá canh ba, có tiếng kêu vang dội:
– Ba ơi ba! Má ơi má! Trâu mình nè…
Chú Tư, thiếm Tư mừng quýnh, tốc mùng chạy ra: Thằng Nhi về đó, coi dị hợm hơn mọi ngày, máng trên vai một đống gì cao nghệu. Chú Tư xanh mặt. Nó thảy đống ấy xuống đất:
– D.m. chết hết một con. Đem cặp sừng bộ da của nó về nè! Nặng gần chết. Đ.m. không lẽ bỏ luôn.
Thiếm Tư mếu máo, mừng vì gặp được con, buồn vì mất hết phân nửa gia sản:
– Mô Phật. Mạnh giỏi hả con? Trời ơi! Con đi theo coi chừng mà làm sao nó chết? Dọc đường con có đau ốm gì không… Con, Con…
Chú Tư im lặng, buồn buồn. Mừng con, tiếc của là một lẽ. Nhưng còn lẽ khác đáng lo ngại hơn… Hồi nào tới giờ, thằng Nhi ăn nói đàng hoàng mà chuyến về này, trong câu nói hồi nãy, nó pha vô hai lần chửi thề mà nó không hay.
Thiếm Tư nhìn cặp sừng và bộ da trâu mà rơi nước mắt:
– Thôi! Lần này lần chót. Năm tới bán con trâu còn lại, không làm ruộng nữa. Đất nước gì kỳ cục quá, cái xứ này…
Chú Tư nghiêm mặt:
– Nói bậy nữa đi. Đất của mình, nước của mình mà bà dám nguyền rủa hả? Hồi nào cúng vái, bà nói bà phục ông bà đất nước lắm mà…
Thiếm Tư đi ra sân lo đốt lửa để un trâu. Chú Tư cũng đến vuốt ve con trâu còn lại rồi trở vô thấy thằng Nhi đang chụp gói thuốc rê trên bàn; nó mở ra, xé giấy vấn hút phì phà một cách tự nhiên, ngon lành.
– Ghiền rồi hả mậy? Chú hỏi.
– Hai ba bữa rày, hút có mấy điếu. Ở rừng, họ hút kịch liệt lắm kìa… ba.
Chú Tư đem chai rượu đế ra, rót vào chén. Chú thấy thằnh Nhi hít mũi lia lịa.
– Nhậu thì nhậu một chút cho ấm đi! Cỡ này mày sanh nhiều tật lạ.
Rồi chú day ra sân mỉm cười:
– Bà nó ơi! Coi thằng con của bà nè! Nó giống hệt tôi hồi nhỏ quá chừng.
Thiếm Tư chạy vào, không hiểu rõ đầu đuôi. Thiếm lau nước mắt rồi nấu cơm cho thằng Nhi ăn, dọn mùng cho nó ngủ… Chú Tư thức mãi tới khuya, thỉnh thoảng hé mùng dòm thằng Nhi. Mùng rộng rãi nhưng nó vẫn co rút như hồi nằm trong nóp chật hẹp. Tay và bụng của nó xăm đầy những chữ nho, chữ quốc ngữ. Không cần đọc kỹ, chú đoán đó là “ngũ hồ tứ hải giai huynh đệ” hoặc “ái tình vạn tuế” mà một tay hảo hớn nào đã xăm cho nó.
– Mình không lỗ lã gì đâu! Chú Tư lẩm bẩm một mình.
Chuyến đi len trâu này, đứa con của chú mhiễm nhiều tật xấu nhưng nó khôn lớn hơn, nghe thấy được nhiều việc mà ở nhà chú không nghe thấy. Chú ra sân. Dưới ánh trăng suông, con trâu Pháo bước tung tăng, nhịp móng xuống lớp phù sa mát rượi, đứng trên mặt đất hôm nay mà sao thấy hơi khác lạ hơn mặt đất hôm nao, cũng ở chốn này. Nó hinh hỉnh lỗ mũi như cố phân biệt mùi thơm của cỏ núi hoa rừng với mùi thơm của mùi lúa sạ đang độ chín.
Sơn Nam
Chú Tư Đinh lại vấn điếu thuốc thứ nhì, mỉm cười khi thấy từ chân trời một cơn mưa to hơn sắp kéo đến.
– Ừ! Mưa hoài đi. Ông trời năm nay biết điệu, thuận mùa, thuận tiết…
Thiếm Tư như phản đối ý chồng:
– Mưa vài đám nữa thì có môn leo lên nóc nhà mà ở. Ba cái lu, ba cái hũ trôi lểnh nghểnh trong nhà rồi, ba nó chưa hay sao? Gạo hết, tiền hết.
– Mình đừng trách trời. Hồi nào tới giờ, trời cứ vậy hoài, hết mùa hạn thì phải tới mùa nước lụt chớ.
Chú Tư muốn giải nghĩa sự lạc quan của mình dài dòng hơn để thiếm Tư nghe. “Đàn bà giỏi tài chú ý lặt vặt chuyện bếp núc. Nhìn ra đồng thì họ chỉ thấy những chuyện trên mặt nước, hơi đâu mà cãi”. Nghĩ vậy, chú im lặng, vấn thêm điếu thuốc nữa. Giờ này, dưới đáy nước, sát mặt ruộng, mớ đất cày mềm nhũn, trở mình trắng phau. Gió thổi mạnh, trôi nhà trôi cửa nhưng lúa một tấc; thân lúa đuối sức cố nằm dài trên mặt nước vừa hấp hối ngột thở là nhánh non nứt ra trong nháy mắt để chào đón cuộc sống.
Sau hè nhà, nước dậy đùng đùng, sóng gợn từng lượn lớn, vỗ lát chát vào vách. Chú Tư bước nhè nhẹ trên sàn tay vịn mái nhà, tay che mắt rồi cau mày; thằng Nhi đứa con trai của chú đang cưỡi trâu về.
Đôi trâu bước lên nền chuồng trâu lúc trước, tuy đã đắp cao thêm gần một thước vậy mà nước leo lên lé đé.
Chú Tư chờ thằng Nhi vào nhà. Nó cổi cái áo ướt mem quăng trên sân:
– Xung quanh đây hết cỏ rồi. Làm sao bây giờ hả ba? Trâu đói nữa, con mắt nó đổ ghèn hoài.
Chú nói:
– Bên giồng cát Sóc Xoài… Mày có qua tới đó không?
– Có. Mà hết cỏ rồi. Mấy lõm cỏ sau chùa không đủ cho trâu bò ở đó ăn, đâu có dư tới mình. Trâu mình ốm nhiều. Từ Đây tới nước giựt còn trên ba tháng nữa, làm sao chịu nổi?
– Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu mình họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Má mày ngăn cản. Bây giờ tới nước này rồi…
Thiếm Tư trầm ngâm suy nghĩ, nhìn đôi trâu đã mòn sức, be sườn lòi rõ rệt từng hàng như vòng cung. Để ở nhà, trâu chết đói; giao cho thiên hạ len đi thì làm sao bảo đảm được? Trâu của trăm chủ khác nhau gom lại chung một bầy, tha hồ lấn hiếp, chém lộn bầy trâu gần bốn trăm con mà chỉ có năm sáu người chăn giữ.
Đường dài thăm thẳm, lội nước băng rừng, rủi khi bịnh hoạn thì trâu đành bỏ mạng nơi xứ lạ quê người. Thật là tấn thối lưỡng nan! Đôi trâu nhà đứng khúm núm đó, trên nền chuồng, như hai pho tượng bằng đồng đen dựng lên mặt nước. Thiếm nói:
– Ba nó tính sao thì tính. Tôi rối trí quá rồi.
Chú Tư chép miệng:
– Không nên cãi mạng trời. Muốn cãi cũng không được. Không lẽ họ giết trâu mình? Trăm con, chết chừng đôi ba con là nhiều. Muốn vững bụng hơn, mình cho thằng Nhi theo coi chừng.
Thằng Nhi há miệng ngạc nhiên không dè mùa nước năm nay nó lại được đi du lịch bất ngờ như vầy. Chú Tư hỏi:
– Muốn đi không mậy? Chặng đầu, họ mới len trâu tới chân núi Ba Thê, mình đuổi theo nhập bầy còn kịp, đây qua đó chừng nửa ngày đường. Lấy cái nóp mới của tao mà đem theo. Dọc đường muỗi mòng, mưa gió nhớ đi theo sát hai con trâu của mình, đừng ham chơi lêu lổng. Nói với tằn khao (đầu nậu, cai thầu) rằng mình chịu đóng cho y mười giạ lúa tiền công len trâu, mùa này.
Mưa cứ mưa trút xuống. Gió cứ dậy sóng lên. Từ lúc thằng Nhi dẫn trâu đi, nhà cửa lần lần trở nên vắng lạnh. Thiếm Tư cằn nhằn:
– Giao sanh mạnh hai con trâu cho họ, ba nó chưa vừa bụng sao? Lại còn bày đặt cho thằng Nhi đi theo! Rủi bề gì…
Chú Tư nói:
– Má nó khéo lo thì thôi! Trâu hễ tới số thì dẫu cầm ở nhà nó cũng không sống. Tôi buồn lắm. Trâu giúp mình tạo ra hột lúa; bù lại, mình không kiếm đủ cỏ cho nó ăn no. Như vậy là mình bất nhân. Còn thằng Nhi… dịp này để nó học nghề với người ta.
Thiếm Tư hơi giận:
– Nghề gì? Nghề chăn trâu mà cũng học nữa à? Tôi không ham cái nghề đó.
– Má nó nói giỡn sao chớ! Chăn trâu còn khó hơn diều binh khiển tướng. Đời xưa, nhiều người nhờ lúc nhỏ chăn trâu mà tới lớn được làm vua. Con nít chăn trâu ca hát nghe bậy bạ nhưng nhiều khi linh nghiệm như sấm truyền, đoán trúng những chuyện quốc sự. Tôi nhớ coi… Trong truyện Phong Thần gì đó nhắc cái tích ông Nịnh Thích ngồi trên lưng trâu, gõ sừng mà hát công kích vua đời… Liệt Quốc Đông Châu! Vua giựt mình, mời ông Nịnh Thích về làm quân sư. Nghe đâu lúc về hưu trí, ông Nịnh Thích lại cữi trâu mà du sơn ngoạn thủy. Như, tiều, canh, mục là bốn điều quan trọng mà.
Thiếm Tư vẫn chưa nguôi cơn buồn:
– Ba nó nói chuyện đời xưa. Chăn trâu theo kiểu ở xứ mình có khác, tối ngày đeo đuôi trâu mà lặn hụp dưới nước, ăn không no, ngủ không yên…
– Nhưng mà học khôn nhiều chuyện. Mà nó hồi nào tới giờ chưa từng tới núi Ba Thê, vậy mà bây giờ thằng Nhi nó rành đó! Cảnh núi non thanh lịch, tâu ăn cỏ ngẩng đầu coi mây bay lui tới; ngứa lưng thì trâu cọ mình vô cột của đền vua chùa mà gãi sốn sột. Má nó biết không? Ở núi Ba Thê, trâu len ăn cỏ trên đền vua đời xưa… Vua chùa mất hết, trâu đời đời kiếp kiếp còn đứng dửng dưng trên mặt đất này hoài!
Thiếm Tư bực bội:
– Đói, không đủ cỏ ăn mà cũng sang trọng. Thôi ông ơi! Đừng nói nữa.
– Hết cỏ thì qua chỗ khác, má nó đừng lo. Từ Ba Thê cả bầy trâu len qua miệt Bảy Núi. Oai vệ lắm kìa! Voi đi một lần đôi ba chục con là cùng, cọp đi hai ba con là nhiều; cảnh đó ở miệt rừng ai cũng thấy. Đằng này, trâu lội nước năm ba trăm con, đen đầu, đặc nước. Kiếm bạc trăm là dễ chớ muốn thấy được cảnh đó không phải dễ, giống như hồi thiên hạ sơ khai, càn khôn hỗn độn… Mấy ông thầy chùa, bà vãi ẩn mình trong cốc trên núi, chán cảnh trần tục vậy mà họ còn bước ra ngóng mắt theo bầy trâu len dữ dội…
Càng nhắc tới, chú Tư càng thích chí, thiếm Tư trái lại ngồi buốn xo, không tin nơi lời chồng , cho rằng đó là kiểu an ủi gượng của kẻ túng cùng. Chú Tư lại vấn thuốc, hỏi vợ:
– Má nó ngủ hay thức? Nãy giờ có nghe không? Sao không ừ hử gì ráo, hay là ngủ rối…
– Tôi nằm nghe đây mà. Nghe bằng lỗ tai chớ nghe bằng miệng sao mà phải ừ hử từng chập?
Chú Tư lại nói tiếp:
– Ở Bảy Núi thanh khiết hơn ở Ba Thê. Trâu ăn toàn cỏ lạ hoa thơm; lắm thứ cỏ phảng phất mùi gì giống như vị thuốc Bắc. Ban đêm, muỗi mòng cũng ít, tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh gõ mõ thì nhiều… Mặc dầu ăn cỏ ở dưới chân núi, trâu cũng được phong làm chúa sơn lâm. Cọp beo trên núi quỳ xuống mà đầu hàng chớ không dám xáp lại.
Bên kia sàn nhà, thiếm Tư bắt đầu thở nhẹ rồi ngáy pho pho. Chú Tư mỉm cười, không chút hờn giận. “Vợ mình chán không thèm nghe nữa vì nãy giờ mình nói toàn những chuyện vui tươi, sung sướng, giấu giếm những nỗi cực nhọc trong nghề chăn trâu. Nhưng cần gì? Cốt ý là mình nhắc lại cuộc đời len trâu của mình hồi thuở con nhỏ cho riêng mình nghe mà thôi”. Chú lại vấn thuốc hút. Bên ngoài trời vẫn mưa, sóng nước vẫn chạy ùa tới đập vào vách nhà. Khói thuốc phun mờ mờ, bay thoảng lên cao. Chân trời lại hiện ra, lúa nằm dài xanh rờn, nhấp nhô trên ngọn sóng. Và… Đằng xa kia là Bảy Núi, nơi mà giờ này thằng Nhi và hai con trâu của chú đang tung hoành, sắp lội nước hằng mươi cây số để vượt ra mé biển đến vùng rừng tràm miệt Linh Quỳnh.
Rừng tràm xanh đậm, rọi xuống mặt nước đỏ ngầu, rung rinh. Nhứt là về đêm khi trăng chiếu, đom đóm bay về đậu khắp nhánh tràm như họp chợ phiên! Hồi thuở nhỏ, chú đến đó nhiều lần. Cảnh ấy bây giờ thay đổi vì nhà nước đã đào thêm con kinh Xáng Rạch Giá – Hà Tiên và đắp xong con lộ đá. Trâu vượt qua lộ xe hoặc ngủ tạm trên lộ cho tới sáng. Lội dưới nước lâu ngày, móng trâu trở nên mềm, đứng trên đá, trâu đau chân. Chú Tư bỗng hình dung trước mặt một cảnh tượng oai hùng, khi mặt trời vừa lố dạng, đàn trâu phải rút vào rừng tìm nơi ăn nằm. Nhà nước đắp lộ xe nào phải để cho trâu đứng, phá hoại… Trâu chạy ầm ầm. Không mấy chút, tràm gãy rôm rốp ngã liệt xuống, lõm rừng trở thành một cái đầm rộng lớn. Người len trâu tạm nghỉ ngơi vài ngày. Mấy “tay riều” đốn củi gần đó tụ họp lại làm quen, đánh bài cào, uống rượu, đốt lửa lên bàn chuyện tiếu lâm. Lắm khi họ sắp đặt công việc đi ăn cướp, ăn cướp kẻ khác và ăn cướp lẫn nhau. Mấy tay len trâu giựt tiền của tay riều; mấy tay riều xúm nhau giựt trâu của mấy tay len. Rừng lại đẫm máu… Trong cuộc xô xát dao búa đó, sanh mạng của con người như con kiến, hà huống chi đứa trẻ bé bỏng như thằng Nhi, con trai chú!
Chú Tư giựt mình, e ngại.
Trong giấc mơ, có lẽ thiếm Tư không tưởng tượng được tới cảnh chém giết rùng rợn đó. Thiếm nói lảm nhảm rồi lại trở mình, ngáy khò khò.
Tháng mười, nước giựt xuống. Đến cuối tháng, mặt ruộng lộ ra, cỏ non nhú mọc xanh tươi đến tận chân trời. Mưa dứt sớm. Núi non lại trở nên hùng vĩ. Suốt mùa, lúa nương theo nước mà vươn lên đến bốn năm thước; bây giờ lúa nằm rạp xuống đất, chồng chất cao ngùn ngụt. Cái sàn nhà của chú Tư cũng hạ xuống. Cuộc sống trở lại bình thường.
Đêm ấy, quá canh ba, có tiếng kêu vang dội:
– Ba ơi ba! Má ơi má! Trâu mình nè…
Chú Tư, thiếm Tư mừng quýnh, tốc mùng chạy ra: Thằng Nhi về đó, coi dị hợm hơn mọi ngày, máng trên vai một đống gì cao nghệu. Chú Tư xanh mặt. Nó thảy đống ấy xuống đất:
– D.m. chết hết một con. Đem cặp sừng bộ da của nó về nè! Nặng gần chết. Đ.m. không lẽ bỏ luôn.
Thiếm Tư mếu máo, mừng vì gặp được con, buồn vì mất hết phân nửa gia sản:
– Mô Phật. Mạnh giỏi hả con? Trời ơi! Con đi theo coi chừng mà làm sao nó chết? Dọc đường con có đau ốm gì không… Con, Con…
Chú Tư im lặng, buồn buồn. Mừng con, tiếc của là một lẽ. Nhưng còn lẽ khác đáng lo ngại hơn… Hồi nào tới giờ, thằng Nhi ăn nói đàng hoàng mà chuyến về này, trong câu nói hồi nãy, nó pha vô hai lần chửi thề mà nó không hay.
Thiếm Tư nhìn cặp sừng và bộ da trâu mà rơi nước mắt:
– Thôi! Lần này lần chót. Năm tới bán con trâu còn lại, không làm ruộng nữa. Đất nước gì kỳ cục quá, cái xứ này…
Chú Tư nghiêm mặt:
– Nói bậy nữa đi. Đất của mình, nước của mình mà bà dám nguyền rủa hả? Hồi nào cúng vái, bà nói bà phục ông bà đất nước lắm mà…
Thiếm Tư đi ra sân lo đốt lửa để un trâu. Chú Tư cũng đến vuốt ve con trâu còn lại rồi trở vô thấy thằng Nhi đang chụp gói thuốc rê trên bàn; nó mở ra, xé giấy vấn hút phì phà một cách tự nhiên, ngon lành.
– Ghiền rồi hả mậy? Chú hỏi.
– Hai ba bữa rày, hút có mấy điếu. Ở rừng, họ hút kịch liệt lắm kìa… ba.
Chú Tư đem chai rượu đế ra, rót vào chén. Chú thấy thằnh Nhi hít mũi lia lịa.
– Nhậu thì nhậu một chút cho ấm đi! Cỡ này mày sanh nhiều tật lạ.
Rồi chú day ra sân mỉm cười:
– Bà nó ơi! Coi thằng con của bà nè! Nó giống hệt tôi hồi nhỏ quá chừng.
Thiếm Tư chạy vào, không hiểu rõ đầu đuôi. Thiếm lau nước mắt rồi nấu cơm cho thằng Nhi ăn, dọn mùng cho nó ngủ… Chú Tư thức mãi tới khuya, thỉnh thoảng hé mùng dòm thằng Nhi. Mùng rộng rãi nhưng nó vẫn co rút như hồi nằm trong nóp chật hẹp. Tay và bụng của nó xăm đầy những chữ nho, chữ quốc ngữ. Không cần đọc kỹ, chú đoán đó là “ngũ hồ tứ hải giai huynh đệ” hoặc “ái tình vạn tuế” mà một tay hảo hớn nào đã xăm cho nó.
– Mình không lỗ lã gì đâu! Chú Tư lẩm bẩm một mình.
Chuyến đi len trâu này, đứa con của chú mhiễm nhiều tật xấu nhưng nó khôn lớn hơn, nghe thấy được nhiều việc mà ở nhà chú không nghe thấy. Chú ra sân. Dưới ánh trăng suông, con trâu Pháo bước tung tăng, nhịp móng xuống lớp phù sa mát rượi, đứng trên mặt đất hôm nay mà sao thấy hơi khác lạ hơn mặt đất hôm nao, cũng ở chốn này. Nó hinh hỉnh lỗ mũi như cố phân biệt mùi thơm của cỏ núi hoa rừng với mùi thơm của mùi lúa sạ đang độ chín.
Sơn Nam
Giọng văn ông thủng thỉnh, thong thả như tính cách của người
Nam bộ nhưng cũng thâm trầm, da diết khôn nguôi. Lúc này, qua Bình Thạnh, về 81
Trần Quốc Thảo tôi lại nhớ ông... Ông mất đã 10 năm. Nhà văn đã an
nhiên rời cõi tạm để về nơi vĩnh hằng...
TÔ LANG (TÔ KIỀU NGÂN), TIẾNG SÁO TRÚC LÀM MÊ HOẶC LÒNG NGƯỜI
Tô Kiều Ngân tên thật là Lê Mộng Ngân, sinh năm 1926 tại Huế. Từ nhỏ ông đã sớm
tỏ ra có chất nghệ sĩ, thường trốn học, đi chơi đó đây với cây sáo trúc không mấy
khi rời tay.
Năm 1946 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, phục vụ ban kịch của Vệ quốc đoàn khu IV từ Huế ra Thanh Hoá. Được một thời gian, ông xin tình nguyện chiến đấu tại mặt trận đèo Hải Vân, sau đó bị Pháp bắt năm 1948. Ba tháng sau bà được thả. Từ đó, Tô Kiều Ngân bắt đầu hoạt động văn nghệ. Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ Ngã ba đường do ban kịch Sông Ô trình diễn trên sân khấu Huế.
Năm 1950 ông gia nhập quân đội Quốc gia Việt Nam. Ba năm sau bà đưa gia đình vào miền Nam. Tại đây ông lần lượt viết cho các báo Đời Mới, Người Sống Mới, đồng thời cũng cộng tác với một vài tờ báo xuất bản tại Hà Nội như Hồ Gươm, Giác Ngộ…
Năm 1955 ông cùng Đinh Hùng, Thanh Nam, Hồ Điệp, Hoàng Oanh... thành lập ban thi văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó ông lại cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm mỹ, rồi cộng tác với Sáng Tạo, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San, Văn Nghệ Chiến Sĩ... Những năm cuối đời ông vẫn viết truyện ngắn, viết sách biên khảo, cộng tác với một số tạp chí trong nước.
Tô Kiều Ngân mất ngày 20/10/2012 tại nhà riêng, quận Bình Thạnh.(trích tiểu sử).
Năm 1946 ông tham gia kháng chiến chống Pháp, phục vụ ban kịch của Vệ quốc đoàn khu IV từ Huế ra Thanh Hoá. Được một thời gian, ông xin tình nguyện chiến đấu tại mặt trận đèo Hải Vân, sau đó bị Pháp bắt năm 1948. Ba tháng sau bà được thả. Từ đó, Tô Kiều Ngân bắt đầu hoạt động văn nghệ. Tác phẩm đầu tiên của ông là kịch thơ Ngã ba đường do ban kịch Sông Ô trình diễn trên sân khấu Huế.
Năm 1950 ông gia nhập quân đội Quốc gia Việt Nam. Ba năm sau bà đưa gia đình vào miền Nam. Tại đây ông lần lượt viết cho các báo Đời Mới, Người Sống Mới, đồng thời cũng cộng tác với một vài tờ báo xuất bản tại Hà Nội như Hồ Gươm, Giác Ngộ…
Năm 1955 ông cùng Đinh Hùng, Thanh Nam, Hồ Điệp, Hoàng Oanh... thành lập ban thi văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn. Sau đó ông lại cùng Thanh Nam chủ trương tuần báo Thẩm mỹ, rồi cộng tác với Sáng Tạo, Văn Nghệ Tiền Phong, Tiểu Thuyết Tuần San, Văn Nghệ Chiến Sĩ... Những năm cuối đời ông vẫn viết truyện ngắn, viết sách biên khảo, cộng tác với một số tạp chí trong nước.
Tô Kiều Ngân mất ngày 20/10/2012 tại nhà riêng, quận Bình Thạnh.(trích tiểu sử).
Từ thập niên 60 dù đang mài đũng quần ở ghế nhà trường Nguyễn
Tri Phương Huế tôi đã mê hai ông thi sĩ Đinh Hùng và Tô Kiều Ngân trong ban
sáng lập Thi Văn Tao Đàn trên đài phát thanh Sài Gòn. Một giọng Bắc. Một giọng Huế. Hồi
ấy, đêm đêm tôi theo dõi chương trình này và có gừi bài cộng tác với mấy bút hiệu
khác nhau. Giọng nói của thi sĩ Đinh Hùng (người Hà Đông) trầm ấm cuốn hút người
nghe bao nhiêu thì giọng ngâm thơ của Tô Kiều Ngân như mật rót vào tai bấy
nhiêu. Không những uống hết lời của hai ông mà tôi còn ghiền các giọng ngâm thơ
khác nữa như Hoàng Thư, Quách Đàm, Hoàng Oanh... Đặc biệt Tô Kiều Ngân còn là tiếng
sáo làm mê hoặc lòng người: Réo rắt. U Uẩn lạ thường như một người đã nhận định:
Tiếng sáo của những cảm xúc
Thật ra Tô Kiều Ngân hoạt động trong nhiều lãnh vực, làm báo, viết văn (tác phẩm đầu tay của anh là tập truyện ngắn “Người đi qua lô cốt”), làm thơ, ngâm thơ, bài sáo anh thổi ở Tao Đàn do chính anh sáng tác và đã xuất bản. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là tiếng sáo Tao Đàn. Bây giờ người ta nhớ đến tài năng tuyệt vời của anh vì tiếng sáo đó và giọng ngâm thơ mang âm điệu Huế hơn tất cả những thứ khác. Nếu so sánh với tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa, theo nhận xét của tôi, mỗi người có một cái hay riêng. Tiếng sáo của Tô Kiều Ngân cất lên theo cảm xúc từ bài thơ của tác giả và phong cách của người ngâm thơ nên bay bổng và dễ làm rung động lòng người hơn. Tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa hay về bài bản. Nếu anh thổi một bài như Thiên Thai, rất điêu luyện. Nhưng nhiều thính giả vẫn nhớ họ Tô hơn (Phan Anh Dũng)
Mê nhà thơ gốc Huế là thế. Song, suối trôi đời suối. Sông chảy đời sông...
Mãi đến thập niên 80 tôi mới được diện kiến anh ở 81 Trần Quốc Thảo khi “tha phương ngộ cố tri“ bằng những ly bia hơi và tâm sự về chuyện đời, chuyện thi ca. Anh ít nói nhưng khi nói ra lời lẽ chân tình bằng chất giọng thỏ thẻ của một người Huế chính gốc. Gặp anh tôi mới vỡ ra anh chính là ông già vợ của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan. Anh sống và viết nhiều thể loại. Nhưng điều làm nên tên tuổi anh vẫn là giọng ngâm thơ, tiếng sáo trúc và thi ca. Hai bài thơ tôi yêu thích nhất, đó là hai bài:
Giọng Huế
Tác giả: Tô Kiều Ngân
Thật ra Tô Kiều Ngân hoạt động trong nhiều lãnh vực, làm báo, viết văn (tác phẩm đầu tay của anh là tập truyện ngắn “Người đi qua lô cốt”), làm thơ, ngâm thơ, bài sáo anh thổi ở Tao Đàn do chính anh sáng tác và đã xuất bản. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là tiếng sáo Tao Đàn. Bây giờ người ta nhớ đến tài năng tuyệt vời của anh vì tiếng sáo đó và giọng ngâm thơ mang âm điệu Huế hơn tất cả những thứ khác. Nếu so sánh với tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa, theo nhận xét của tôi, mỗi người có một cái hay riêng. Tiếng sáo của Tô Kiều Ngân cất lên theo cảm xúc từ bài thơ của tác giả và phong cách của người ngâm thơ nên bay bổng và dễ làm rung động lòng người hơn. Tiếng sáo của Nguyễn Đình Nghĩa hay về bài bản. Nếu anh thổi một bài như Thiên Thai, rất điêu luyện. Nhưng nhiều thính giả vẫn nhớ họ Tô hơn (Phan Anh Dũng)
Mê nhà thơ gốc Huế là thế. Song, suối trôi đời suối. Sông chảy đời sông...
Mãi đến thập niên 80 tôi mới được diện kiến anh ở 81 Trần Quốc Thảo khi “tha phương ngộ cố tri“ bằng những ly bia hơi và tâm sự về chuyện đời, chuyện thi ca. Anh ít nói nhưng khi nói ra lời lẽ chân tình bằng chất giọng thỏ thẻ của một người Huế chính gốc. Gặp anh tôi mới vỡ ra anh chính là ông già vợ của nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan. Anh sống và viết nhiều thể loại. Nhưng điều làm nên tên tuổi anh vẫn là giọng ngâm thơ, tiếng sáo trúc và thi ca. Hai bài thơ tôi yêu thích nhất, đó là hai bài:
Giọng Huế
Tác giả: Tô Kiều Ngân
Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức
Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài
Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm
Thêm mây vào e tan nát lòng ta.
Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài
Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm
Thêm mây vào e tan nát lòng ta.
Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó
Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng
Chắc tại em ngồi bên anh thỏ thẻ
Tiếng quê hương sao động đến vô cùng
Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng
Chắc tại em ngồi bên anh thỏ thẻ
Tiếng quê hương sao động đến vô cùng
"Hẹn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm"
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như từng thương câu hát Huế êm đềm
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như từng thương câu hát Huế êm đềm
Cảm ơn em đã cho anh nhìn lại
Giòng sông Hương trên bến cảng Sài gòn
Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh
Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non
Giòng sông Hương trên bến cảng Sài gòn
Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh
Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non
Nếu lại được em ru bằng giọng Huế
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành, không nuối tiếc chi mô...
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành, không nuối tiếc chi mô...
Tô Kiều Ngân
NHỚ HUẾ
Anh nhìn em như nhìn thấy quê mình
Ôi xứ Huế thân yêu chừ xa khuất
Nghe em ngâm những âm thanh trong vắt
Anh hình dung thấy bóng
Một con thuyền
Một giải sương mờ
Một khóm trúc nghiêng nghiêng…
Những kỷ niệm ngày xa xưa bừng dậy
Âm thanh ấy thoát từ câu mái đẩy
Tiếng “hò… ơ...” nghe đứt ruột, buồn sao
Biết mấy đau thương, cũng biết mấy ngọt ngào
Lưu luyến ngàn đời
Như không muốn dứt
Giàn mướp vàng con ong bay hút mật
Trưa thiu thiu chày giã gạo buồn tênh
Giọng hò ru em rười rượi cất lên
Em đã ngủ sao chị còn ru mãi
“À… a… ời..
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng,tao dùi, tao nhớ, tao thương”
Có phải trưa nay chị nhớ người thương
Nên mượn cớ ru em để ru lòng mình thương nhớ
Có phải ngàn năm thương thương, nhớ nhớ
Khiến tiếng đàn bầu thêm xé ruột bào gan
Tiếng Nam Ai rung tận đáy tâm hồn
Tiếng sáo Huế dài thêm thổn thức
Và tiếng em ngâm lơi lơi, dìu dặt
Chở buồn về vây phủ kín hồn anh
Bọn chúng mình bỏ Huế tha phương
Những thổ ngữ lâu ngày quên lững mất
Bỗng hôm nay em ngâm lên như nhắc
Ôi vui sao giọng Huế của quê mình
Tưởng như mình đang đừng ở Bao Vinh
Đang thơ thẩn bên bờ sông Gia Hội
Vỹ Dạ, Kim Luông, Nam Giao, Đất mới…
Nghe thân yêu biết mấy tiếng quê ta
Nhớ giọng hò, điệu hát lời ca
Nhớ hường thầu đâu ngát đường Giao Thủy
Nhớ mái chèo khua bên bờ thôn Vỹ
Nhớ bánh bèo, cơm hến, nhớ chè sen
Nhớ phấn thông vàng rụng lối đi quen
Hột móc, hột muồng, trái sim, trái vả
Nhớ hồ Tịnh tâm thơm sen chiều hạ
Nhớ quít Hương Cần, nhớ cốm Hai lu
Nhớ bờ tre vọng mãi tiếng chim cu…
Ngâm nữa đi em bài thơ giọng Huế
Chúng ta sẽ đưa nhau về thăm quê mẹ
Bằng con thuyền êm ái của thanh âm
Ngâm nữa đi em, ngâm nữa đi em.
Cho vợi nhớ thương thầm…
Ôi xứ Huế thân yêu chừ xa khuất
Nghe em ngâm những âm thanh trong vắt
Anh hình dung thấy bóng
Một con thuyền
Một giải sương mờ
Một khóm trúc nghiêng nghiêng…
Những kỷ niệm ngày xa xưa bừng dậy
Âm thanh ấy thoát từ câu mái đẩy
Tiếng “hò… ơ...” nghe đứt ruột, buồn sao
Biết mấy đau thương, cũng biết mấy ngọt ngào
Lưu luyến ngàn đời
Như không muốn dứt
Giàn mướp vàng con ong bay hút mật
Trưa thiu thiu chày giã gạo buồn tênh
Giọng hò ru em rười rượi cất lên
Em đã ngủ sao chị còn ru mãi
“À… a… ời..
Hai tay cầm bốn tao nôi
Tao thẳng,tao dùi, tao nhớ, tao thương”
Có phải trưa nay chị nhớ người thương
Nên mượn cớ ru em để ru lòng mình thương nhớ
Có phải ngàn năm thương thương, nhớ nhớ
Khiến tiếng đàn bầu thêm xé ruột bào gan
Tiếng Nam Ai rung tận đáy tâm hồn
Tiếng sáo Huế dài thêm thổn thức
Và tiếng em ngâm lơi lơi, dìu dặt
Chở buồn về vây phủ kín hồn anh
Bọn chúng mình bỏ Huế tha phương
Những thổ ngữ lâu ngày quên lững mất
Bỗng hôm nay em ngâm lên như nhắc
Ôi vui sao giọng Huế của quê mình
Tưởng như mình đang đừng ở Bao Vinh
Đang thơ thẩn bên bờ sông Gia Hội
Vỹ Dạ, Kim Luông, Nam Giao, Đất mới…
Nghe thân yêu biết mấy tiếng quê ta
Nhớ giọng hò, điệu hát lời ca
Nhớ hường thầu đâu ngát đường Giao Thủy
Nhớ mái chèo khua bên bờ thôn Vỹ
Nhớ bánh bèo, cơm hến, nhớ chè sen
Nhớ phấn thông vàng rụng lối đi quen
Hột móc, hột muồng, trái sim, trái vả
Nhớ hồ Tịnh tâm thơm sen chiều hạ
Nhớ quít Hương Cần, nhớ cốm Hai lu
Nhớ bờ tre vọng mãi tiếng chim cu…
Ngâm nữa đi em bài thơ giọng Huế
Chúng ta sẽ đưa nhau về thăm quê mẹ
Bằng con thuyền êm ái của thanh âm
Ngâm nữa đi em, ngâm nữa đi em.
Cho vợi nhớ thương thầm…
Tô Kiều Ngân
Anh ít làm thơ. Vậy mà thơ anh cũng được các nhạc sĩ nổi tiếng chắp cánh như
Hoàng Nguyên (Tiếng Chuông Linh Mụ - HN - TKN) Trầm Tử Thiêng (Những Con Đường Trắng
TTT - TKN)
Sheet: Nốt nhạc và lời - Tiếng chuông linh mụ - Hoàng Nguyên & Tô
NHỮNG CON ĐƯỜNG TRẮNG (Trầm Tử Thiêng) - Hoàng Oanh
Sheet: Nốt nhạc và lời - Tiếng chuông linh mụ - Hoàng Nguyên & Tô
NHỮNG CON ĐƯỜNG TRẮNG (Trầm Tử Thiêng) - Hoàng Oanh
Trong những lần tâm sự anh Tô Kiều Ngân nói với tôi ”Chỉ có
những đứa con Huế đi xa mới thương yêu Huế như thế nào”. Tôi rất đồng tinh với
anh. Cái đau của kẻ tha hương là “rất thương Huế mà phải đành xa Huế”. Tôi cũng
hiểu ”Những kẻ không ra khỏi làng làm sao thấy được thế giới bên ngoài để nhìn
lại?”. Tuy không mỗi ngày một gặp và chả nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có một kỷ
niệm tôi không bao giờ quên:
Số là năm 1995 tôi in tập thơ đầu tay HÁT DẠO BÊN TRỜI sau khi được báo chi nhắc đến và nhà thơ Hồ Thi Ca đã trực tiếp mời đến đến thu âm ở đài Tiếng Nói Nhân Dân TP Hồ Chí Minh thì anh Tô Kiều Ngân và Bảo Cường có mỹ ý là tổ chức một đêm thơ cho tôi. Không phụ lòng hai anh, tôi đã đồng ý. Địa điểm tổ chức là công viên Bạch Tùng Diệp ở quận 1 (nơi thường diễn ra ca nhạc, giới thiệu thơ). Sau nhiều lần liên hệ xin giấy phép, liên hệ tổ chức của hai anh tất bật. Đêm thơ cũng đã diễn ra. Đêm ấy bạn bè đến dự rất đông. Chỉ còn 15 phút nữa là chương trình bắt đầu thì xảy ra sự cố cúp điện. Và tôi cũng như bạn bè bàng hoàng, hỏi ra mới biết hai công ty văn hóa đang đấu đá nhau. Họ đấu đá ngay lúc đêm thơ của tôi sắp diễn. Thế là ntất cả tiu nghĩu ra về. Riêng tôi thì “quê độ” không còn biết nói gì hơn nữa. Dù sao, tôi cũng cảm ơn tấm lòng của hai anh Tô Kiều Ngân, Bảo Cường và bạn bè tôi. Từ đó trở đi có người gợi ý tổ chức đêm thơ cho tôi như ở nhà văn Hóa Lao Động TP và các nơi khác tôi đều lắc đầu. Đúng là một lần không chín. Chín lần không nên. Tốt nhất là lui vào bóng tối. Nếu là nghiệp dĩ thì viết và viết. Chỉ có tác phẩm, thời gian và công chúng mới là người phán xét cuối cùng...
Nhà thơ Tô Kiều Ngân mất đã 6 năm rồi. Nhưng với tôi, tiếng sáo trúc, giọng ngâm và thơ anh còn mãi nơi dương thế.
Số là năm 1995 tôi in tập thơ đầu tay HÁT DẠO BÊN TRỜI sau khi được báo chi nhắc đến và nhà thơ Hồ Thi Ca đã trực tiếp mời đến đến thu âm ở đài Tiếng Nói Nhân Dân TP Hồ Chí Minh thì anh Tô Kiều Ngân và Bảo Cường có mỹ ý là tổ chức một đêm thơ cho tôi. Không phụ lòng hai anh, tôi đã đồng ý. Địa điểm tổ chức là công viên Bạch Tùng Diệp ở quận 1 (nơi thường diễn ra ca nhạc, giới thiệu thơ). Sau nhiều lần liên hệ xin giấy phép, liên hệ tổ chức của hai anh tất bật. Đêm thơ cũng đã diễn ra. Đêm ấy bạn bè đến dự rất đông. Chỉ còn 15 phút nữa là chương trình bắt đầu thì xảy ra sự cố cúp điện. Và tôi cũng như bạn bè bàng hoàng, hỏi ra mới biết hai công ty văn hóa đang đấu đá nhau. Họ đấu đá ngay lúc đêm thơ của tôi sắp diễn. Thế là ntất cả tiu nghĩu ra về. Riêng tôi thì “quê độ” không còn biết nói gì hơn nữa. Dù sao, tôi cũng cảm ơn tấm lòng của hai anh Tô Kiều Ngân, Bảo Cường và bạn bè tôi. Từ đó trở đi có người gợi ý tổ chức đêm thơ cho tôi như ở nhà văn Hóa Lao Động TP và các nơi khác tôi đều lắc đầu. Đúng là một lần không chín. Chín lần không nên. Tốt nhất là lui vào bóng tối. Nếu là nghiệp dĩ thì viết và viết. Chỉ có tác phẩm, thời gian và công chúng mới là người phán xét cuối cùng...
Nhà thơ Tô Kiều Ngân mất đã 6 năm rồi. Nhưng với tôi, tiếng sáo trúc, giọng ngâm và thơ anh còn mãi nơi dương thế.
MỆ KIM TUẤN (GỌI MỆ VÌ LÀ HẬU DUỆ 5 ĐỜI TÙNG THIỆN VƯƠNG MIÊN
THẨM)
Mỗi lần nghe ca khúc Anh Cho Em Mùa Xuân (Nguyễn Hiền - Kim Tuấn) và Những Bước Chân Âm Thầm (Y Vân và Kim Tuấn) hình ảnh mệ KT lại hiện ra
trước mắt tôi mồn một. Một người mập mạp, hiền lành, ít nói. Thơ thì kiệm lời
nhưng giàu hình tượng và cảm xúc. Biết nhau trên báo chí, mãi đến năm 1980 tôi mới
quen anh. Lúc đó anh về ngành giáo dục quận 4. Tôi thì phụ trách thư viện Quận
Tư. Thời gian này sinh hoạt văn nghệ ở quận 4 sôi nổi hẳn lên vì anh Ba Khanh (Nguyễn Khắc Vỹ, người làm tờ Tin Văn trước 75) đã mạnh dạn nhận về những văn
nghệ sĩ cũ như Từ Kế Tường (phụ trách nhà Văn Hóa) Trần Áng Sơn (phụ trách văn
phòng ban Văn Hóa Thông Tin Quận) Nguyễn Tôn Nhan (phụ trách Bảo Tàng) và một số
người như Nguyễn Đạt, Phạm Kiều Tùng, Chu Vương Miện... Mệ Kim Tuấn thường giao
lưu với anh chị em bên ban chúng tôi. Mỗi lần có chuyện gì bức xúc anh Kim Tuấn
thường can ngăn và cũng dùng hai từ: Thôi Kệ! Anh cũng thường kể cho tôi nghe
những chuyện ở trường dạy nghề anh phụ trách về những con người bất hạnh, thiếu
may mắn trên đời này. Và anh luôn là người chia sẻ trước nhất bằng trai tim nhân
văn của mình - trái tim của nhà thơ chân chính. Hai ca khúc phổ thơ tôi nói trên
đã khiến tên tuổi anh bất tử. Trước khi chấm dứt trang viết này cũng cần nhắc lại
tiểu sử và hai bài thơ ấy của anh.
Kim Tuấn tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Khuê, ông sinh năm 1938 tại Huế nhưng quê gốc ở Hà Tĩnh. Ông là hậu duệ 5 đời Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Là con trai duy nhất của gia đình. Thuở nhỏ sống cùng gia đình ở Phan Thiết. Lớn lên vào Sài Gòn học. Ông có tính cách hiền lành; ngoại hình mập mạp, da hơi ngăm đen, nụ cười híp mắt. Năm 20 tuổi cưới người vợ đầu là Hồ Thị Mộng Sương (em Hồ Đình Phương). Sau 1975 hai người ly dị, Mộng Sương sang Pháp, Kim Tuấn cưới người vợ thứ nhì là chị Minh Phương và có hai người con trai. [2]
Kim Tuấn làm thơ từ năm 13 tuổi. Bắt đầu có thơ đăng trên các tạp chí đầu thập niên 1960. Tập thơ đầu tiên xuất bản là tập Hoa Mười Phương. Ông từng có một thời gian nhập ngũ và làm thông dịch viên tiếng Anh cho Quân đoàn II tại Pleiku. Thời gian này ông còn là phóng viên chiến trường với ký danh Vĩnh Khuê. Sau thời gian làm việc ông thường về nhà phụ vợ bán thuốc tây tại nhà riêng - hiệu thuốc cùng tên Kim Tuấn trên đường Phan Bội Châu.
Năm 1977, ông về Thành phố Hồ Chí Minh làm hiệu trưởng Trường Anh văn và dạy nghề Thăng Long ở quận 4 - một ngôi trường do người Anh tài trợ dành cho trẻ em lang thang và dạy học ở đó cho đến cuối đời. Ngày 11/9/2003, sau khi tham dự một buổi văn nghệ phát quà Trung thu cho trẻ em nghèo tại trường, ông về nhà ăn bánh, uống trà, ngắm trăng với vợ con rồi đột ngột bị nhồi máu cơ tim và mất trên đường đưa đến bệnh viện.
THƠ KIM TUẤN
NỤ HOA VÀNG NGÀY XUÂN
Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây
Kim Tuấn tên thật là Nguyễn Phước Vĩnh Khuê, ông sinh năm 1938 tại Huế nhưng quê gốc ở Hà Tĩnh. Ông là hậu duệ 5 đời Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Là con trai duy nhất của gia đình. Thuở nhỏ sống cùng gia đình ở Phan Thiết. Lớn lên vào Sài Gòn học. Ông có tính cách hiền lành; ngoại hình mập mạp, da hơi ngăm đen, nụ cười híp mắt. Năm 20 tuổi cưới người vợ đầu là Hồ Thị Mộng Sương (em Hồ Đình Phương). Sau 1975 hai người ly dị, Mộng Sương sang Pháp, Kim Tuấn cưới người vợ thứ nhì là chị Minh Phương và có hai người con trai. [2]
Kim Tuấn làm thơ từ năm 13 tuổi. Bắt đầu có thơ đăng trên các tạp chí đầu thập niên 1960. Tập thơ đầu tiên xuất bản là tập Hoa Mười Phương. Ông từng có một thời gian nhập ngũ và làm thông dịch viên tiếng Anh cho Quân đoàn II tại Pleiku. Thời gian này ông còn là phóng viên chiến trường với ký danh Vĩnh Khuê. Sau thời gian làm việc ông thường về nhà phụ vợ bán thuốc tây tại nhà riêng - hiệu thuốc cùng tên Kim Tuấn trên đường Phan Bội Châu.
Năm 1977, ông về Thành phố Hồ Chí Minh làm hiệu trưởng Trường Anh văn và dạy nghề Thăng Long ở quận 4 - một ngôi trường do người Anh tài trợ dành cho trẻ em lang thang và dạy học ở đó cho đến cuối đời. Ngày 11/9/2003, sau khi tham dự một buổi văn nghệ phát quà Trung thu cho trẻ em nghèo tại trường, ông về nhà ăn bánh, uống trà, ngắm trăng với vợ con rồi đột ngột bị nhồi máu cơ tim và mất trên đường đưa đến bệnh viện.
THƠ KIM TUẤN
NỤ HOA VÀNG NGÀY XUÂN
Anh cho em mùa xuân
nụ hoa vàng mới nở
chiều đông nào nhung nhớ
đường lao xao lá đầy
chân bước mòn vỉa phố
mắt buồn vin ngọn cây
Anh cho em mùa xuân
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
thơ còn thương cõi đời
con chim mừng ríu rít
vui khói chiều chơi vơi
mùa xuân này tất cả
lộc non vừa trẩy lá
thơ còn thương cõi đời
con chim mừng ríu rít
vui khói chiều chơi vơi
Đất mẹ gầy có lúa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mõ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa
đồng ta xanh mấy mùa
con trâu từ đồng cỏ
giục mõ về rộn khua
ngoài đê diều thẳng cánh
trong xóm vang chuông chùa
chiều in vào bóng núi
câu hát hò vẳng đưa
Tóc mẹ già mây bạc
trăng chờ trong liếp dừa
con sông dài mấy nhánh
cát trắng bờ quê xưa
trăng chờ trong liếp dừa
con sông dài mấy nhánh
cát trắng bờ quê xưa
Anh cho em mùa xuân
bàn tay thơm sữa ngọt
dải đất liền chim hót
người yêu nhau trọn đời
mái nhà ai mới lợp
trẻ đùa vui nơi nơi...
hết buồn mưa phố nhỏ
hẹn cho nhau cuộc đời
bàn tay thơm sữa ngọt
dải đất liền chim hót
người yêu nhau trọn đời
mái nhà ai mới lợp
trẻ đùa vui nơi nơi...
hết buồn mưa phố nhỏ
hẹn cho nhau cuộc đời
Khi hoa vàng sắp nở
trời sắp sang mùa xuân
anh cho em tất cả
tình yêu non nước này
bài thơ còn xao xuyến
nắng vàng trên ngọn cây...
trời sắp sang mùa xuân
anh cho em tất cả
tình yêu non nước này
bài thơ còn xao xuyến
nắng vàng trên ngọn cây...
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc thành bài
hát "Anh cho em mùa xuân".
KIM TUẤN
KỶ NIỆM
Từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
rặng thông già lặng câm
hai đứa nhiều hối tiếc
sương mù giăng mấy đồi
tay đan đầy kỷ niệm
mưa giữa mùa tháng năm
dật dờ cơn gió thổi
một tháng không trăng rằm
mây núi ôm trời thấp
giá rét về căm căm
cao nguyên mù đất đỏ
từng bước từng bước thầm
cúi đầu in dấu mỏi
tuổi trẻ buồn lặng câm
núi nghiêng đầu thủ thỉ
từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
tuổi trẻ buồn lặng câm
víu hồn hoang cỏ dại
từng bước từng bước thầm...
KỶ NIỆM
Từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
rặng thông già lặng câm
hai đứa nhiều hối tiếc
sương mù giăng mấy đồi
tay đan đầy kỷ niệm
mưa giữa mùa tháng năm
dật dờ cơn gió thổi
một tháng không trăng rằm
mây núi ôm trời thấp
giá rét về căm căm
cao nguyên mù đất đỏ
từng bước từng bước thầm
cúi đầu in dấu mỏi
tuổi trẻ buồn lặng câm
núi nghiêng đầu thủ thỉ
từng bước từng bước thầm
hoa vông rừng tuyết trắng
tuổi trẻ buồn lặng câm
víu hồn hoang cỏ dại
từng bước từng bước thầm...
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Y Vân phổ nhạc thành bài hát "Những
bước chân âm thầm".
Những thi phẩm đã xuất bản:
• Hoa mười phương (1959) ~ Trường Giang
• Ngàn thương (chung với Định Giang, Vương Đức Lệ, 1961)
• Dấu bụi hồng (1971) ~ Minh Đức
• Thơ Kim Tuấn 1962-1972 (1974) ~ Gìn Vàng Giữ Ngọc
• Thời của trái tim hồng (1990) ~ Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé
• Tuổi phượng hồng (1991) ~ Nhà xuất bản Trẻ
• Tạ tình phương Nam (1994)
• Thơ Lý và thơ ngắn (2002) ~ Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM.
• Hoa mười phương (1959) ~ Trường Giang
• Ngàn thương (chung với Định Giang, Vương Đức Lệ, 1961)
• Dấu bụi hồng (1971) ~ Minh Đức
• Thơ Kim Tuấn 1962-1972 (1974) ~ Gìn Vàng Giữ Ngọc
• Thời của trái tim hồng (1990) ~ Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé
• Tuổi phượng hồng (1991) ~ Nhà xuất bản Trẻ
• Tạ tình phương Nam (1994)
• Thơ Lý và thơ ngắn (2002) ~ Nhà xuất bản Văn Nghệ TP.HCM.




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét