"Lê Ngộ Châu" chủ nhiệm tạp chí
Bách Khoa
Trước khi nói về sự gặp gỡ và giao tình của tôi và ông Lê Ngộ
Châu tôi trích lại bài viết của anh Đặng Tiến, nhà phê bình văn học:
Người điều hành tạp chí Bách Khoa
Nhà báo Lê Ngộ Châu, người điều hành tạp chí Bách Khoa vừa qua đời ngày 24.9 tại Thành phố HCM. Nhân dịp này, Đặng Tiến nhắc lại vai trò của ông và của tờ tạp chí có nhiều đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa miền Nam trước 1975.
Nhà báo Lê Ngộ Châu, người điều hành tạp chí Bách Khoa vừa qua đời ngày 24.9 tại Thành phố HCM. Nhân dịp này, Đặng Tiến nhắc lại vai trò của ông và của tờ tạp chí có nhiều đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa miền Nam trước 1975.
Lê Ngộ Châu, 160 Phan đình Phùng
Đặng Tiến
Nhà báo Lê Ngộ Châu, điều hành tạp chí Bách Khoa tại Sài Gòn
trước 1975, đã qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 9 năm 2006 vừa
qua, thọ 83 tuổi.
Ít người biết đến tên Lê Ngộ Châu vì ông không viết sách, viết báo, chỉ âm thần phụ trách tòa soạn tạp chí Bách Khoa trong non hai mươi năm. Nhưng đa số những người làm văn học tại Miền Nam trước đây đều biết và quý mến, thậm chí chịu ơn ông dẫn dắt. Muốn hiểu tình cảm sâu đậm đó, phải biết Bách Khoa không những là tạp chí có đời sống lâu dài nhất (1957-1975), mà còn có những đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa Miền Nam thời đó.
Nhà văn Võ Phiến là người hợp tác chặt chẽ với Bách Khoa suốt thời gian này, đã nhận định chính xác:
«Bảo tờ Bách Khoa thành công là không phải chỉ nghĩ đến cái tuổi thọ của nó mà thôi. Tuổi thọ dắt theo một số ưu điểm khác. Người ta nhận thầy Bách Khoa qui tụ được đông đảo cây bút thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau; nó phản ảnh các chuyển biến của văn học qua nhiều giai đoạn; nó lưu lại một khối lượng bài vở lớn lao và giá trị, một kho tài liệu cho việc tìm hiểu cuộc sống của Miền Nam trên nhiều phương diện: kinh tế, văn hóa, chính trị v.v… Trên Bách Khoa không phải chỉ có thơ văn, mà có cả những khảo luận về văn học, sử học, ngữ học, triết học, tôn giáo, hội họa, âm nhạc…; như thế không những trên Bách Khoa có những tìm tòi về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề của văn học cổ điển nước nhà chẳng hạn, mà còn liên tiếp có những giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu Tây mới nhất lúc bấy giờ: tiểu thuyết mới, hiện tượng học, cơ cấu luận v.v….
Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng.
Không có chủ trương «văn nghệ cách mạng» cũng không chủ trương «vượt thời gian», nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa: Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo…» (Văn học Miền Nam, Tổng Quan, 2000, tr. 239).
Nguyên Sa dùng chữ «xôi đậu» không nhất thiết là nói đùa. Ở một nơi khác, ông có viết «Bách Khoa với đời sống lâu dài không bị xếp vào hàng ngũ báo nhà nước» (Bách Khoa, số kỷ niệm 14 năm, 15-1-1971). Lời này bổ sung cho lời kia, và nói lên một sự thật kỳ lạ: Bách Khoa, nguyên ủy là của hội Văn Hóa Bình Dân, một hội đoàn trực thuộc văn phòng chính trị của Ngô Đình Nhu, do Huỳnh văn Lang chủ trì; hội này cai quản những trường Bách Khoa Bình Dân, do đó có tên báo Bách Khoa, còn gọi là Bách Khoa Bình Dân.
Huỳnh văn Lang là bí thư Liên Kỳ Nam Bắc Việt Nam của đảng Cần Lao mà Ngô Đình Nhu làm tổng bí thư. Năm đầu, 1957, ông Lang điều khiển tờ báo, viết bài về kinh tế khi Phạm ngọc Thảo viết về quân sự, chính trị; 1958 ông Lang đi tu nghiệp ở Mỹ, giao Bách Khoa cho Lê Ngộ Châu điều hành; năm 1963 ông Lang bị bắt vì tội kinh tài cho chế độ Diệm, thì Lê Ngộ Châu tiếp tục nhiệm vụ, anh em thường gọi là Lê Châu. Nhưng báo vẫn đứng tên Huỳnh văn Lang cho đến tháng 2-1965, báo phải đổi tư cách pháp nhân, lấy tên Bách Khoa Thời Đại, do Lê Ngộ Châu đứng tên chủ nhiệm, và đến tháng 1-1970, lấy lại tên Bách Khoa.
Với gốc gác như vậy mà Bách Khoa được xem như là báo «xôi đậu», không bị xếp vào hàng ngũ «báo nhà nước» như Nguyên Sa ghi lại, và đóng góp lớn lao với đời sống văn hóa như Võ Phiến nhận định, là nhờ công lèo lái của Lê Châu.
Nguyên Sa trong bài báo đã dẫn, đã mô tả một buổi họp tòa soạn, tại Ngân Hàng Quốc Gia, khoảng 1957: «bàn cãi về tờ Bách Khoa đã diễn ra sôi nổi. Lê Châu mặt trắng ngồi lặng lẽ, ít nói, hiền hòa. Thỉnh thoảng anh cất lời, toàn những lời nhẹ nhàng, vừa phải, nghiêm túc, không gây sóng gió nào». Đúng là hình ảnh Lê Châu. Về mặt ứng xử hằng ngày, thì Vũ Hạnh có lần tập Kiều: «ở ăn thì nết cũng hay, ra điều ràng buộc thì tay cũng già». Đúng là Lê Châu.
Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày.
Khi được tin Lê Châu mất, tôi có điện thư cho nhà văn Trần Hoài Thư, anh trả lời là đã được Lữ Quỳnh điện thoại thông báo: cả hai cùng lò Bách Khoa. Anh kể: mình là quân nhân, từ Cao Nguyên về Sài Gòn, hẹn với người yêu, vốn là độc giả hâm mộ, từ Lục Tỉnh lên, tại tòa soạn Bách Khoa, 160 Phan đình Phùng. Sau đó hai người thành vợ thành chồng. Trụ sở Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư; chuyện Trần Hoài Thư, lúc ấy dường như còn ký Trần Qúy Sách, là chuyện tình chính đáng, còn những quan hệ linh tinh, bay bướm của các nhà văn, nam và nữ, thì hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể.
Bây giờ thì anh vĩnh viễn im lặng.
Với nhiều bạn bè, dù là thân thuộc, Lê Châu vẫn là niềm bí ẩn lớn lao giữa cơn gió bụi của thời đại.
Đặng Tiến
27/9/2006
Ít người biết đến tên Lê Ngộ Châu vì ông không viết sách, viết báo, chỉ âm thần phụ trách tòa soạn tạp chí Bách Khoa trong non hai mươi năm. Nhưng đa số những người làm văn học tại Miền Nam trước đây đều biết và quý mến, thậm chí chịu ơn ông dẫn dắt. Muốn hiểu tình cảm sâu đậm đó, phải biết Bách Khoa không những là tạp chí có đời sống lâu dài nhất (1957-1975), mà còn có những đóng góp lớn lao cho đời sống văn hóa Miền Nam thời đó.
Nhà văn Võ Phiến là người hợp tác chặt chẽ với Bách Khoa suốt thời gian này, đã nhận định chính xác:
«Bảo tờ Bách Khoa thành công là không phải chỉ nghĩ đến cái tuổi thọ của nó mà thôi. Tuổi thọ dắt theo một số ưu điểm khác. Người ta nhận thầy Bách Khoa qui tụ được đông đảo cây bút thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau; nó phản ảnh các chuyển biến của văn học qua nhiều giai đoạn; nó lưu lại một khối lượng bài vở lớn lao và giá trị, một kho tài liệu cho việc tìm hiểu cuộc sống của Miền Nam trên nhiều phương diện: kinh tế, văn hóa, chính trị v.v… Trên Bách Khoa không phải chỉ có thơ văn, mà có cả những khảo luận về văn học, sử học, ngữ học, triết học, tôn giáo, hội họa, âm nhạc…; như thế không những trên Bách Khoa có những tìm tòi về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề của văn học cổ điển nước nhà chẳng hạn, mà còn liên tiếp có những giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu Tây mới nhất lúc bấy giờ: tiểu thuyết mới, hiện tượng học, cơ cấu luận v.v….
Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng.
Không có chủ trương «văn nghệ cách mạng» cũng không chủ trương «vượt thời gian», nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa: Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo…» (Văn học Miền Nam, Tổng Quan, 2000, tr. 239).
Nguyên Sa dùng chữ «xôi đậu» không nhất thiết là nói đùa. Ở một nơi khác, ông có viết «Bách Khoa với đời sống lâu dài không bị xếp vào hàng ngũ báo nhà nước» (Bách Khoa, số kỷ niệm 14 năm, 15-1-1971). Lời này bổ sung cho lời kia, và nói lên một sự thật kỳ lạ: Bách Khoa, nguyên ủy là của hội Văn Hóa Bình Dân, một hội đoàn trực thuộc văn phòng chính trị của Ngô Đình Nhu, do Huỳnh văn Lang chủ trì; hội này cai quản những trường Bách Khoa Bình Dân, do đó có tên báo Bách Khoa, còn gọi là Bách Khoa Bình Dân.
Huỳnh văn Lang là bí thư Liên Kỳ Nam Bắc Việt Nam của đảng Cần Lao mà Ngô Đình Nhu làm tổng bí thư. Năm đầu, 1957, ông Lang điều khiển tờ báo, viết bài về kinh tế khi Phạm ngọc Thảo viết về quân sự, chính trị; 1958 ông Lang đi tu nghiệp ở Mỹ, giao Bách Khoa cho Lê Ngộ Châu điều hành; năm 1963 ông Lang bị bắt vì tội kinh tài cho chế độ Diệm, thì Lê Ngộ Châu tiếp tục nhiệm vụ, anh em thường gọi là Lê Châu. Nhưng báo vẫn đứng tên Huỳnh văn Lang cho đến tháng 2-1965, báo phải đổi tư cách pháp nhân, lấy tên Bách Khoa Thời Đại, do Lê Ngộ Châu đứng tên chủ nhiệm, và đến tháng 1-1970, lấy lại tên Bách Khoa.
Với gốc gác như vậy mà Bách Khoa được xem như là báo «xôi đậu», không bị xếp vào hàng ngũ «báo nhà nước» như Nguyên Sa ghi lại, và đóng góp lớn lao với đời sống văn hóa như Võ Phiến nhận định, là nhờ công lèo lái của Lê Châu.
Nguyên Sa trong bài báo đã dẫn, đã mô tả một buổi họp tòa soạn, tại Ngân Hàng Quốc Gia, khoảng 1957: «bàn cãi về tờ Bách Khoa đã diễn ra sôi nổi. Lê Châu mặt trắng ngồi lặng lẽ, ít nói, hiền hòa. Thỉnh thoảng anh cất lời, toàn những lời nhẹ nhàng, vừa phải, nghiêm túc, không gây sóng gió nào». Đúng là hình ảnh Lê Châu. Về mặt ứng xử hằng ngày, thì Vũ Hạnh có lần tập Kiều: «ở ăn thì nết cũng hay, ra điều ràng buộc thì tay cũng già». Đúng là Lê Châu.
Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày.
Khi được tin Lê Châu mất, tôi có điện thư cho nhà văn Trần Hoài Thư, anh trả lời là đã được Lữ Quỳnh điện thoại thông báo: cả hai cùng lò Bách Khoa. Anh kể: mình là quân nhân, từ Cao Nguyên về Sài Gòn, hẹn với người yêu, vốn là độc giả hâm mộ, từ Lục Tỉnh lên, tại tòa soạn Bách Khoa, 160 Phan đình Phùng. Sau đó hai người thành vợ thành chồng. Trụ sở Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư; chuyện Trần Hoài Thư, lúc ấy dường như còn ký Trần Qúy Sách, là chuyện tình chính đáng, còn những quan hệ linh tinh, bay bướm của các nhà văn, nam và nữ, thì hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể.
Bây giờ thì anh vĩnh viễn im lặng.
Với nhiều bạn bè, dù là thân thuộc, Lê Châu vẫn là niềm bí ẩn lớn lao giữa cơn gió bụi của thời đại.
Đặng Tiến
27/9/2006
Như bài viết của anh Đặng Tiến, Ông Lê Ngộ Châu đã quy tụ được
nhiều cây bút tài hoa thời ấy nhờ tính tình hòa nhã, vui vẻ và nhất là rất quý
trọng hai chữ NHÂN VĂN.Tôi cũng là một cộng tác viên thường xuyên từ năm
67. Nhưng cũng phải đến năm 1973 tôi mới đặt chân đến tòa soạn tạp chí BÁCH
KHOA. Tòa soạn ở 160 Phan Đình phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu). Nơi đây được gặp
ông bà Lê Ngộ Châu trong niềm vui nhân ái. Ông rất điềm đạm. Bà Châu thì dịu dàng
nhân hậu. Nơi đây, tôi cũng gặp cây bút trẻ tài hoa thời ấy là Vô Ưu (Ngô Thị
Kim Cúc) và ông Châu cũng có con mắt xanh nên rất ưu ái nhà văn nữ này. Đặc biệt
là tôi đã gặp cả hai anh Võ Phiến và Vũ Hạnh. Hai nhà văn tuy có chính kiến khác
nhau nhưng khi ngồi lại ở đây thấy họ rất chan hòa. Điều nầy cho thấy văn chương
đã xóa nhòa khoảng cách, biên giới… Tòa soạn Bách Khoa cũng là chiếc cầu nối để
nhà văn lãng tử Trần Hoài Thư nên vợ nên chồng với chị Yến ở tận Tây Đô. Tuổi thọ
của tạp chí Bách Khoa rất dài (1957-1975). Tiếc là sau 75 phải đình bản. Thỉnh
thoảng tôi có đến thăm ông bà khi Vô Ưu gặp và nhắc tôi: Hãy đến 160 Phan Đình
Phùng. Và rồi ông Lê Ngộ Châu cũng về Trời… Một người sống trải lòng như thế tôi
luôn cầu mong ông bên kia cõi vĩnh hằng thường lạc…
Phan Kim Thịnh, chủ
bút tạp chí Văn Học
Viết về chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa tôi lại nhớ đến anh Phan
Kim Thịnh - người chủ trương tạp chí Văn Học. Tạp chí này đầu tiên là dành đất cho
Sinh Viên Học Sinh Sài Gòn như một bài viết của Trần Hoài Thư mà tôi xin trích hai đoạn như sau:
“Văn Học được ra đời do một số người trẻ nhập cuộc. Họ là những học sinh, sinh viên của các trường Trung học, Đại học trên toàn quốc, và một số đang du học tại ngoại quốc nhưng đã cùng nhau chung một lý tưởng thực hiện một tờ tạp chí nghiên cứu và phê bình về văn hóa và chính trị để làm diễn đàn chung cho những thanh niên tự do tại Miền Nam.
Số đầu tiến phát hành vào tháng 11/1962 trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, và số cuối cùng là số Mùa Xuân 75, kéo dài được 13 năm - số tuổi xem như rất thọ so với các tạp chí văn học miền Nam khác, ngoại trừ chỉ sau tạp chí Bách Khoa. Từ số 1 đến số 72 (1-5-67), khổ báo khổ lớn (15×25 cm). Từ số 73 đến số cuối cùng khổ giấy loại nhỏ (14×20 cm).
Hai năm đầu, báo được phát hành mỗt tháng một kỳ, sau đó, báo đổi thành bán nguyệt san, phát hành mỗi nửa tháng một kỳ (kể từ số 21).
Chủ nhiệm đứng tên là Phan Kim Thịnh, nhưng chủ bút thì thay đổi ba lần. Hai năm đầu (1961-1963), chủ bút là Dương Kiền, sau đó chủ bút là Phan Kim Thịnh. Tiếp đến vào năm 1966 là Nguyễn Đình Toàn (từ số 63 ngày 1-9-66 đến số 69 ngày 15-11-66). Sau đó vai trò chủ bút lại được giao lại cho Phan Kim Thịnh.
Hai năm đầu (từ số 1 đến số 20), tạp chí nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên như tiêu đề trên bìa của tạp chí: Nguyệt san văn hóa xã hội nghệ thuật. Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do. Mỗi số báo đều có mục liên quan đến sinh viên như Sinh Hoạt Sinh Viên do Trần văn Ngô, Phương Khanh, Hà Thanh phụ trách… Cộng thêm vào những bài viết liên quan đến những vấn đề của sinh viên như “Vài tâm trạng nghịch thường của thanh niên trước những giá trị xã hội (Dương Nhất Nhân - số 1), Sinh Viên và trí thức lảnh đạo (Quan điểm, số 2), Chính sách sinh viên (Quan điểm, số 3), cái nhìn của người sinh viên (Nguyễn Vũ, số 4). Dân chủ hóa nền đại học (Quan điểm, số 5), Chỉ huy hay hướng dẫn (Quan điểm, số 6) hay mỗi số có mục Vấn Đề của chúng ta ví dụ: Bài trả lời ông Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng đãi học văn khoa SG của Văn Học (số 4), Nhân các kỳ thi: Đặt lại vấn đề nguyên tắc (số 6) v.v…
Sau số 20, tiêu đề Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do được lấy ra, và nội dung Văn học có tinh cách khai phóng hơn, ảnh hưởng nhiều bởi thời sự. Sau 1965 chiến cuộc càng lúc càng leo thang, những người cộng tác viên trẻ phải vào quân ngũ, hay xa Saigon, để lại một khoảng trống lớn cho Văn Học. Cộng vào sắc luật 007 đã khiến chủ trương của Văn Học từ một tờ báo chính trị văn học đổi sang một tờ báo thuần túy văn học kể từ năm 1968…”
Và:
“Ngày từ số 3, ta thấy những nhà văn như Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu. Vũ Bằng, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nguyễn Đình Toàn, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đinh Hùng, Thanh Lãng, Nguyên Sa bắt đầu có mặt trên Văn Học cộng thêm vào lực lượng chủ chốt của Văn Học như Viêm Đẩu, Nguyễn Hữu Dung, Thế Viên, Hoàng Vũ. Lê Đôn Khoan, Vương Trân Nam, Dương Cự, Dương Kiền, Vương Thanh, Nguyễn Đông Ngạc, Trần Triệu Luật, Lôi Tam… Một tên tuổi cộng tác rất tích cực và thường xuyên ngay từ số đầu chuyên về lĩnh vực dịch thuật cũng như lãnh vực nghiên cứu văn học là Bác sĩ Hoàng Văn Đức, tức Hoàng Vũ Đức Vân.
Kể từ năm 1964 trở đi, độc giả thấy sự góp mặt tích cực của những cây bút trẻ miền Trung hay những người mới cộng tác với VH lần đầu. Số lượng này càng lúc càng đông đảo: Luân Hoán, Cao Thoại Châu, Thành Tôn, Hoàng Lộc, Chu Tân, Trần Dzạ Lữ, Đynh Hoàng Sa, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Nguyễn Nho Nhượng, Sâm Thương, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ), Lê Đình Phạm Phú, Thái Ngọc San, Phan Nhự Thức, Võ Quê, Khắc Minh, Trần Hoài Thư, Lê Nghiêm Vũ, Trần Hữu Nghiễm…”
Thực hiện được một tạp chí văn nghệ, văn học kéo dài tới 13 năm (1962-1975) như thế là một kỳ công, đáng nể. Trước tiên là vợ chồng anh Phan Kim Thịnh sau đó là Dương Kiền, Nguyễn Đình Toàn. Tôi có duyên với Văn Học từ khi còn mài đũng quần ở ghế nhà trường. Hồi ấy chỉ liên lạc với báo qua Bưu Điện. Gửi bài thơ đầu tiên là tôi được đăng ngay. Số Văn Học ấy để ở nhà chị tôi đã thất lạc. Tôi chỉ nhớ mấy câu:
Đời một lần năng rưng/ Rồi hoàng hôn bằn bặt/ Tôi một lần yêu em/ Rồi xa nhau mãi mãi… (1964). Năm 1965 tôi đăng bài thơ trên Văn Học khiến bạn đọc giật mình:
“Văn Học được ra đời do một số người trẻ nhập cuộc. Họ là những học sinh, sinh viên của các trường Trung học, Đại học trên toàn quốc, và một số đang du học tại ngoại quốc nhưng đã cùng nhau chung một lý tưởng thực hiện một tờ tạp chí nghiên cứu và phê bình về văn hóa và chính trị để làm diễn đàn chung cho những thanh niên tự do tại Miền Nam.
Số đầu tiến phát hành vào tháng 11/1962 trong thời Đệ nhất Cộng Hòa, và số cuối cùng là số Mùa Xuân 75, kéo dài được 13 năm - số tuổi xem như rất thọ so với các tạp chí văn học miền Nam khác, ngoại trừ chỉ sau tạp chí Bách Khoa. Từ số 1 đến số 72 (1-5-67), khổ báo khổ lớn (15×25 cm). Từ số 73 đến số cuối cùng khổ giấy loại nhỏ (14×20 cm).
Hai năm đầu, báo được phát hành mỗt tháng một kỳ, sau đó, báo đổi thành bán nguyệt san, phát hành mỗi nửa tháng một kỳ (kể từ số 21).
Chủ nhiệm đứng tên là Phan Kim Thịnh, nhưng chủ bút thì thay đổi ba lần. Hai năm đầu (1961-1963), chủ bút là Dương Kiền, sau đó chủ bút là Phan Kim Thịnh. Tiếp đến vào năm 1966 là Nguyễn Đình Toàn (từ số 63 ngày 1-9-66 đến số 69 ngày 15-11-66). Sau đó vai trò chủ bút lại được giao lại cho Phan Kim Thịnh.
Hai năm đầu (từ số 1 đến số 20), tạp chí nhắm vào thành phần thanh niên sinh viên như tiêu đề trên bìa của tạp chí: Nguyệt san văn hóa xã hội nghệ thuật. Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do. Mỗi số báo đều có mục liên quan đến sinh viên như Sinh Hoạt Sinh Viên do Trần văn Ngô, Phương Khanh, Hà Thanh phụ trách… Cộng thêm vào những bài viết liên quan đến những vấn đề của sinh viên như “Vài tâm trạng nghịch thường của thanh niên trước những giá trị xã hội (Dương Nhất Nhân - số 1), Sinh Viên và trí thức lảnh đạo (Quan điểm, số 2), Chính sách sinh viên (Quan điểm, số 3), cái nhìn của người sinh viên (Nguyễn Vũ, số 4). Dân chủ hóa nền đại học (Quan điểm, số 5), Chỉ huy hay hướng dẫn (Quan điểm, số 6) hay mỗi số có mục Vấn Đề của chúng ta ví dụ: Bài trả lời ông Nguyễn Đăng Thục, Khoa trưởng đãi học văn khoa SG của Văn Học (số 4), Nhân các kỳ thi: Đặt lại vấn đề nguyên tắc (số 6) v.v…
Sau số 20, tiêu đề Diễn đàn sinh viên Việt Nam tự do được lấy ra, và nội dung Văn học có tinh cách khai phóng hơn, ảnh hưởng nhiều bởi thời sự. Sau 1965 chiến cuộc càng lúc càng leo thang, những người cộng tác viên trẻ phải vào quân ngũ, hay xa Saigon, để lại một khoảng trống lớn cho Văn Học. Cộng vào sắc luật 007 đã khiến chủ trương của Văn Học từ một tờ báo chính trị văn học đổi sang một tờ báo thuần túy văn học kể từ năm 1968…”
Và:
“Ngày từ số 3, ta thấy những nhà văn như Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu. Vũ Bằng, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Nguyễn Đình Toàn, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Đinh Hùng, Thanh Lãng, Nguyên Sa bắt đầu có mặt trên Văn Học cộng thêm vào lực lượng chủ chốt của Văn Học như Viêm Đẩu, Nguyễn Hữu Dung, Thế Viên, Hoàng Vũ. Lê Đôn Khoan, Vương Trân Nam, Dương Cự, Dương Kiền, Vương Thanh, Nguyễn Đông Ngạc, Trần Triệu Luật, Lôi Tam… Một tên tuổi cộng tác rất tích cực và thường xuyên ngay từ số đầu chuyên về lĩnh vực dịch thuật cũng như lãnh vực nghiên cứu văn học là Bác sĩ Hoàng Văn Đức, tức Hoàng Vũ Đức Vân.
Kể từ năm 1964 trở đi, độc giả thấy sự góp mặt tích cực của những cây bút trẻ miền Trung hay những người mới cộng tác với VH lần đầu. Số lượng này càng lúc càng đông đảo: Luân Hoán, Cao Thoại Châu, Thành Tôn, Hoàng Lộc, Chu Tân, Trần Dzạ Lữ, Đynh Hoàng Sa, Trần Quang Long, Phan Duy Nhân, Nguyễn Nho Nhượng, Sâm Thương, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Văn Bổn (Tần Hoài Dạ Vũ), Lê Đình Phạm Phú, Thái Ngọc San, Phan Nhự Thức, Võ Quê, Khắc Minh, Trần Hoài Thư, Lê Nghiêm Vũ, Trần Hữu Nghiễm…”
Thực hiện được một tạp chí văn nghệ, văn học kéo dài tới 13 năm (1962-1975) như thế là một kỳ công, đáng nể. Trước tiên là vợ chồng anh Phan Kim Thịnh sau đó là Dương Kiền, Nguyễn Đình Toàn. Tôi có duyên với Văn Học từ khi còn mài đũng quần ở ghế nhà trường. Hồi ấy chỉ liên lạc với báo qua Bưu Điện. Gửi bài thơ đầu tiên là tôi được đăng ngay. Số Văn Học ấy để ở nhà chị tôi đã thất lạc. Tôi chỉ nhớ mấy câu:
Đời một lần năng rưng/ Rồi hoàng hôn bằn bặt/ Tôi một lần yêu em/ Rồi xa nhau mãi mãi… (1964). Năm 1965 tôi đăng bài thơ trên Văn Học khiến bạn đọc giật mình:
NHỚ NHẤT LINH
Người đi theo bóng thiên thu
Bỏ đây năm tháng sa mù nhân gian
Nhớ thương chim khóc trên ngàn
Nước ngơ đất ngẩn trời mang mang sầu
Bỏ đây năm tháng sa mù nhân gian
Nhớ thương chim khóc trên ngàn
Nước ngơ đất ngẩn trời mang mang sầu
Trần Dzạ Lữ
Bài này đăng trên Văn Học số 41 năm 1965. Cũng vì mê Tự Lực
Văn Đoàn và mê bài thơ này mà nhà văn Trần Hữu Ngư đã đi tìm tôi đến gần 50 năm
mới gặp (2017)… Tôi vô vùng cảm động và thân thiết như từ kiếp nào. (nghe anh
THN kể thì anh thích bài thơ này hồi còn học trung học ở Bình Tuy và có biết
bài thơ của tôi được được SVHS SàiGòn viết lên “băng rôn” khi tưởng niệm nhà
văn Nhất Linh)
Đăng thơ từ 1964 cho đến năm 1973 tôi mới có dịp diện kiến anh chị Phan Kim Thịnh ở làng Báo Chí Thủ Đức. Lúc ấy cũng gặp và quen biết nhà thơ Du Tử Lê khi bước chân vào SàiGòn. Giữa năm 1974 tôi bị thương ra loại 2 chờ giải ngũ. Đây là dịp tôi có điều kiện gặp gỡ anh chị em văn nghệ SG. Lúc này tôi và nhà thơ Lê Vĩnh Thọ phụ giúp anh chị Phan Kim Thịnh tờ văn học. Chính lúc này tôi mới thấy chị Phương Khanh (vợ anh Phan Kim Thịnh) là một người đàn bà giỏi dang lạ vừa chăm sóc tờ báo cùng chồng vừa là nội tướng tuyệt vời. Suốt đời lang bạt kỳ hồ, đây là những ngày tháng tôi được ăn ngon nhất do chính bàn tay chị nấu.
Thời gian này, phụ giúp anh Phan Kim Thịnh ra số chủ đề về miền Trung. Trong đó
tôi có bài viết giới thiệu hai cây bút trẻ tài hoa và cá tính là Vô Ưu và Quyên
Ca. Báo in nửa chừng thì có ngày 30.4.75…Thế là hết! Tiếc thay!.
Tan đàn xẻ nghé. Tôi phải làm thơ đụng. Đụng đâu làm đó để kiếm sống. Chủ nhiệm tờ Văn Học cũng có hơn gì tôi. Vẫn phải xoay chuyển để mưu sinh. Mỗi người một số phận phải cưu mang nên sự gặp gỡ là điều hiếm hoi. Năm 1990, nhờ đổi mới mà tôi cũng có thi hứng trở lại và cũng được biết anh Phan Kim Thịnh (người có nhiều tư liệu) để viết bài cho nhiều tờ báo, kiếm sống… Hiện nay, anh ấy dù tuổi cao nhưng đam mê viết lách vẫn như một dòng chảy không ngơi nghỉ. Chị Phương Khanh đã qua đời, tôi cũng không được biết để tiễn đưa chị đến nơi an nghỉ cuối cùng… Thôi đành kính mến trong lòng vậy. Lòng tôi vui khi thấy chủ bút Văn Học Phan Kim Thịnh giờ này còn ngồi trước computer.
Đăng thơ từ 1964 cho đến năm 1973 tôi mới có dịp diện kiến anh chị Phan Kim Thịnh ở làng Báo Chí Thủ Đức. Lúc ấy cũng gặp và quen biết nhà thơ Du Tử Lê khi bước chân vào SàiGòn. Giữa năm 1974 tôi bị thương ra loại 2 chờ giải ngũ. Đây là dịp tôi có điều kiện gặp gỡ anh chị em văn nghệ SG. Lúc này tôi và nhà thơ Lê Vĩnh Thọ phụ giúp anh chị Phan Kim Thịnh tờ văn học. Chính lúc này tôi mới thấy chị Phương Khanh (vợ anh Phan Kim Thịnh) là một người đàn bà giỏi dang lạ vừa chăm sóc tờ báo cùng chồng vừa là nội tướng tuyệt vời. Suốt đời lang bạt kỳ hồ, đây là những ngày tháng tôi được ăn ngon nhất do chính bàn tay chị nấu.
Tan đàn xẻ nghé. Tôi phải làm thơ đụng. Đụng đâu làm đó để kiếm sống. Chủ nhiệm tờ Văn Học cũng có hơn gì tôi. Vẫn phải xoay chuyển để mưu sinh. Mỗi người một số phận phải cưu mang nên sự gặp gỡ là điều hiếm hoi. Năm 1990, nhờ đổi mới mà tôi cũng có thi hứng trở lại và cũng được biết anh Phan Kim Thịnh (người có nhiều tư liệu) để viết bài cho nhiều tờ báo, kiếm sống… Hiện nay, anh ấy dù tuổi cao nhưng đam mê viết lách vẫn như một dòng chảy không ngơi nghỉ. Chị Phương Khanh đã qua đời, tôi cũng không được biết để tiễn đưa chị đến nơi an nghỉ cuối cùng… Thôi đành kính mến trong lòng vậy. Lòng tôi vui khi thấy chủ bút Văn Học Phan Kim Thịnh giờ này còn ngồi trước computer.
Hình 2 và 3: Thơ Trần Dzạ Lữ
Ông Khai Trí với tuyển thơ Tình
Việt Nam và thế giới
Cầm cuốn thơ Tình Việt Nam và Thế Giới do Ông Khai Trí sưu tầm, tuyển chọn dày cộm trên tay với lời giới thiệu của nhà xuất bản Thanh Niên như
sau:
Tuyển tập thơ tình Việt Nam và Thế giới chọn lọc được nhà xuất bản Thanh Niên cho ra mắt bạn đọc trong dịp này cũng nằm trong xu hướng “xã hội hóa”. Tác giả cuốn sách, người có công sưu tầm, tuyển chọn trên 1.000 bài thơ tình của hơn 500 tác giả trong và ngoài nước mà bạn đọc đang có trong tay là ông Nguyễn Hùng Trương, năm nay đã ngoài tuổi 70, nguyên là người sáng lập và là chủ nhà sách KHAI TRÍ nổi tiếng từ thập niên 50 đến tận năm 1975 ở SàiGòn trước đây, nay là thành phố Hồ Chí Minh. Gần trọn cuộc đời mình, ”Ông Khai Trí” - như nhiều người vẫn gọi - đã để tâm sức vào việc in ấn, xuất bản sách và Nhà sách KHAI TRÍ thực sự là một nhà sách lớn và uy tín nhất Miền Nam thời đó…
Lời giới thiệu của Nhà Xuất Bản Thanh Niên quả chính xác bởi vì thế hệ chúng tôi - thập niên 60 - hầu hết đều mê đọc sách và được nghe chuyện kể về Ông Khai Trí như một huyền thoại. Hiếm thấy một ấu thơ nào như ông đã nhịn đói đi học, dành tiền ăn sáng để mua sách. Và đam mê ấy được ông nung nấu từng ngày cho tới lúc hiện thực: Nhà Sách Khai Trí ở đường Lê Lợi SG. Hồi còn học trung học Nguyễn Tri Phương Huế tôi cũng đã từng mơ một ngày bước đến trung tâm văn hóa ấy. Mãi đến năm 1973, lúc hành phương nam tôi mới có dịp. Hôm ấy bước chân đến đó vì mê sách và phần nữa là muốn chiêm ngưỡng con người của huyền thoại. Nhưng tiếc thay, chủ nhà sách Khai Trí không hiện diện ở đó. Tôi ra về mà ngẩn ngơ…
Cơ ngơi đồ sộ ấy sau năm 75 đã không còn. Vật đổi sao dời và ông cũng “thăm thẳm chiều trôi”. Đến năm 1995 là thời kỳ đổi mới, ông lại hồi sinh đam mê của mình. Lúc ấy tôi quen cô HTTH là một người cũng đem mê sách đã là trợ thủ đắc lực cho ông Khai Trí. Ngày đêm cùng nhau suy nghĩ để vực dậy văn hóa nhân tâm. Nhưng ai cũng có một thời lên đỉnh mà thôi… Dịp này, nhờ quen cô H mà tôi được diện kiến ông Khai Trí. Một con người giản dị. Có nụ cười đôn hậu. Ăn nói nhỏ nhẹ và chân tình. Nhìn ông tôi lại tiếc một thời vàng son. Nghe đâu ông cũng có con nhưng chẳng có ai theo nghiệp của ông cả. Điều tôi tâm đắc nhất là ông dành thời gian sưu tầm và tuyển chọn thơ để năm 1998 in và phát hành tuyển thơ Tình Việt Nam và Thế giới dù tôi biết tuyển thơ vẫn còn thiếu những người tài hoa và không như ý bạn đọc. Nhưng vì tấm lòng của ông với sách, văn hóa và thi ca nên tôi giới thiệu như một nén tâm hương tưởng nhớ ông trong hồi ức này. Ông KHAI TRÍ mất ngày 11.3.2005. Vì tuyển thơ dày và nhiều tác giả nên tôi lật ra một số bài tình cờ để giới thiệu với Anh chị em FB:
Tuyển tập thơ tình Việt Nam và Thế giới chọn lọc được nhà xuất bản Thanh Niên cho ra mắt bạn đọc trong dịp này cũng nằm trong xu hướng “xã hội hóa”. Tác giả cuốn sách, người có công sưu tầm, tuyển chọn trên 1.000 bài thơ tình của hơn 500 tác giả trong và ngoài nước mà bạn đọc đang có trong tay là ông Nguyễn Hùng Trương, năm nay đã ngoài tuổi 70, nguyên là người sáng lập và là chủ nhà sách KHAI TRÍ nổi tiếng từ thập niên 50 đến tận năm 1975 ở SàiGòn trước đây, nay là thành phố Hồ Chí Minh. Gần trọn cuộc đời mình, ”Ông Khai Trí” - như nhiều người vẫn gọi - đã để tâm sức vào việc in ấn, xuất bản sách và Nhà sách KHAI TRÍ thực sự là một nhà sách lớn và uy tín nhất Miền Nam thời đó…
Lời giới thiệu của Nhà Xuất Bản Thanh Niên quả chính xác bởi vì thế hệ chúng tôi - thập niên 60 - hầu hết đều mê đọc sách và được nghe chuyện kể về Ông Khai Trí như một huyền thoại. Hiếm thấy một ấu thơ nào như ông đã nhịn đói đi học, dành tiền ăn sáng để mua sách. Và đam mê ấy được ông nung nấu từng ngày cho tới lúc hiện thực: Nhà Sách Khai Trí ở đường Lê Lợi SG. Hồi còn học trung học Nguyễn Tri Phương Huế tôi cũng đã từng mơ một ngày bước đến trung tâm văn hóa ấy. Mãi đến năm 1973, lúc hành phương nam tôi mới có dịp. Hôm ấy bước chân đến đó vì mê sách và phần nữa là muốn chiêm ngưỡng con người của huyền thoại. Nhưng tiếc thay, chủ nhà sách Khai Trí không hiện diện ở đó. Tôi ra về mà ngẩn ngơ…
Cơ ngơi đồ sộ ấy sau năm 75 đã không còn. Vật đổi sao dời và ông cũng “thăm thẳm chiều trôi”. Đến năm 1995 là thời kỳ đổi mới, ông lại hồi sinh đam mê của mình. Lúc ấy tôi quen cô HTTH là một người cũng đem mê sách đã là trợ thủ đắc lực cho ông Khai Trí. Ngày đêm cùng nhau suy nghĩ để vực dậy văn hóa nhân tâm. Nhưng ai cũng có một thời lên đỉnh mà thôi… Dịp này, nhờ quen cô H mà tôi được diện kiến ông Khai Trí. Một con người giản dị. Có nụ cười đôn hậu. Ăn nói nhỏ nhẹ và chân tình. Nhìn ông tôi lại tiếc một thời vàng son. Nghe đâu ông cũng có con nhưng chẳng có ai theo nghiệp của ông cả. Điều tôi tâm đắc nhất là ông dành thời gian sưu tầm và tuyển chọn thơ để năm 1998 in và phát hành tuyển thơ Tình Việt Nam và Thế giới dù tôi biết tuyển thơ vẫn còn thiếu những người tài hoa và không như ý bạn đọc. Nhưng vì tấm lòng của ông với sách, văn hóa và thi ca nên tôi giới thiệu như một nén tâm hương tưởng nhớ ông trong hồi ức này. Ông KHAI TRÍ mất ngày 11.3.2005. Vì tuyển thơ dày và nhiều tác giả nên tôi lật ra một số bài tình cờ để giới thiệu với Anh chị em FB:
FÉLIX ARVERS (1806-1850) Nhà Thơ Pháp
TÌNH TUYỆT VỌNG
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Hỡi ơi, người đó, ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi?
Dù người ngọc nói, hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
”Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?“
Sonnet d’ Arvers - Khái Hưng dịch
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Hỡi ơi, người đó, ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi?
Dù người ngọc nói, hoa cười
Nhìn ta như thể nhìn người không quen
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng
”Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây?“
Sonnet d’ Arvers - Khái Hưng dịch
BÙI GIÁNG
ÁO XANH
Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều bay qua
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.
Thơ Bùi Giáng - YouTube
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều bay qua
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh.
Thơ Bùi Giáng - YouTube
QUANG DŨNG
ĐÔI BỜ
Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?
Sông xa từng lớp lớp mưa dài
Mắt kia em có sầu cô quạnh
Khi chớm heo về một sớm mai?
Rét mướt mùa sau chừng sắp ngự
Bên này em có nhớ bên kia?
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Quạnh vắng chiều sông lạnh bến Tề
Bên này em có nhớ bên kia?
Giăng giăng mưa bụi qua phòng tuyến
Quạnh vắng chiều sông lạnh bến Tề
Khói thuốc khơi dòng xanh lối xưaĐêm đêm sông đáy lạnh đôi bờ
Thoáng hiện em về trong đáy cốc
Nói cười như chuyện một đêm mơ
Xa lắc rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
ĐÔI BỜ - Thơ Quang Dũng - Huyền Trân diễn ngâm - YouTube
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?
ĐÔI BỜ - Thơ Quang Dũng - Huyền Trân diễn ngâm - YouTube
NGUYÊN SA
CẦN THIẾT
Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má em hồng
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mù ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má em hồng
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…
Không có anh lỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mái tóc buồn thơ
Không có anh thì ai ve vuốt
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mái tóc buồn thơ
Không có anh thì ai ve vuốt
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc
Không có anh lỡ ngày mai em chết
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục…
CẦN THIẾT (Hoàng Thanh Tâm) - Mai Hương - YouTube
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục…
CẦN THIẾT (Hoàng Thanh Tâm) - Mai Hương - YouTube
MINH ĐỨC HOÀI TRINH
KIẾP NÀO CÓ YÊU NHAU
Anh đừng nhìn em nữa
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn chi em nữa
Xót lòng nhau mà thôi
Hoa xanh đã phai rồi
Còn nhìn chi em nữa
Xót lòng nhau mà thôi
Người đã quên ta rồi
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ
Quên ta rồi hẳn chứ
Trăng mùa thu gãy đôi
Chim nào bay về xứ
Chim ơi có gặp người
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở
Nhắn giùm ta vẫn nhớ
Hoa đời phai sắc tươi
Đêm gối sầu nức nở
Kiếp nào có yêu nhau
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận ngàn sau
Tình xanh không lo sợ
Nhớ tìm khi chưa nở
Hoa xanh tận ngàn sau
Tình xanh không lo sợ
Lệ nhòa trên gối trắng
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi?
Kiếp Nào Có Yêu Nhau - Ý Lan - YouTube
Anh đâu, anh đâu rồi
Rượu yêu nồng cay đắng
Sao cạn mình em thôi?
Kiếp Nào Có Yêu Nhau - Ý Lan - YouTube
XUÂN QUỲNH
THƠ TÌNH CUỐI MÙA THU
Cuối trời mây trắng bay
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Lá vàng thưa thớt quá
Phải chăng lá về rừng
Mùa thu đi cùng lá
Mùa thu ra biển cả
Theo dòng nước mênh mang
Mùa thu vào hoa cúc
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt lá
Hơi lạnh qua bàn tay
Là của mùa thu cũ
Chợt làn gió heo may
Thổi về xao động cả
Lối đi quen bỗng lạ
Cỏ lật theo chiều mây
Đêm về sương ướt lá
Hơi lạnh qua bàn tay
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Đã qua mùa bão gió
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại…
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.
Thơ Tình Cuối Mùa Thu - Anh Thơ [Official HD] - YouTube
Cùng tình yêu ở lại…
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.
Thơ Tình Cuối Mùa Thu - Anh Thơ [Official HD] - YouTube
QUANG HUY
NỖI NIỀM THỊ NỞ
Người ta cứ bảo dở hơi
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi, nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Chấp chi miệng thế lắm lời thị phi
Dở hơi, nào dở hơi gì
Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình
Làng này khối kẻ sợ anh
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay
Sợ anh chửi đổng suốt ngày
Chỉ mình em biết anh say rất hiền
Anh không nhà cửa, bạc tiền
Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo
Cái tên thơ mộng Chí Phèo
Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao
Quần anh ống thấp, ống caoLàm em hồn vía nao nao đêm ngày
Khen cho con Tạo khéo tay
Nồi này thì úp vung này chứ sao!
Đêm nay trời ở rất cao
Sương thì đẩm quá, trăng sao lại nhòa
Người ta… mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh
Sương thì đẩm quá, trăng sao lại nhòa
Người ta… mặc kệ người ta
Chỉ em rất thật đàn bà với anh
Thôi rồi, đắt lắm tiết trinh
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.
CẢM NHẬN BÀI THƠ “NỖI NIỀM THỊ NỞ” CỦA QUANG HUY
Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.
CẢM NHẬN BÀI THƠ “NỖI NIỀM THỊ NỞ” CỦA QUANG HUY
TRẦN DZẠ LỮ
TÔN NỮ CÓ CHỜ TA?
Xưa em buồn trong Nội
Mắt ướt mấy cửa thành
Chiều chiều ra hong tóc
Thấp thoáng mộng ngày xanh
Mắt ướt mấy cửa thành
Chiều chiều ra hong tóc
Thấp thoáng mộng ngày xanh
Ta, thường hay lui tới
Dưới đường mưa âm thầm
Vì yêu đời Tôn Nữ
Mong em, cháy nỗi lòng…
Dưới đường mưa âm thầm
Vì yêu đời Tôn Nữ
Mong em, cháy nỗi lòng…
Khi biết ta hàn sĩ
Giấu nỗi sầu trăm năm
Em che tình mái rộng
Ru nhau vào đời ngoan!
Giấu nỗi sầu trăm năm
Em che tình mái rộng
Ru nhau vào đời ngoan!
Yêu nhau như chim uyên
Đắm như ván trong thuyền
Dẫu búa rìu dư luận
Bủa vây ta và em
Đắm như ván trong thuyền
Dẫu búa rìu dư luận
Bủa vây ta và em
Những con đường thề thốt
Lá thấp mùa sương quen
Dấu chân tình ta dẫm
Tuyệt vời phải không em?
Lá thấp mùa sương quen
Dấu chân tình ta dẫm
Tuyệt vời phải không em?
Nhưng rồi tới một ngày
Ta khăn gói ra đi
Mộng tàn trong đáy cốc
Khôn xiết nỗi biệt ly…
Ta khăn gói ra đi
Mộng tàn trong đáy cốc
Khôn xiết nỗi biệt ly…
Bỏ em sầu trong Nội
Bỏ lại một đoạn lòng
Ta đi làm lữ khách
Viễn xứ hề long đong!
Bỏ lại một đoạn lòng
Ta đi làm lữ khách
Viễn xứ hề long đong!
Ta, đứa lạc trong sương
Mù thêm đời cô đơn
Ta đâu màng khanh tướng
Sao nát hồn Uyên Ương…
Tôn Nữ Còn Buồn - Hương Lan - NhacCuaTui
Mù thêm đời cô đơn
Ta đâu màng khanh tướng
Sao nát hồn Uyên Ương…
Tôn Nữ Còn Buồn - Hương Lan - NhacCuaTui
Hình 1: Tuyển tập thơ; THƠ TÌNH VIỆT NAM và
THẾ GIỚI CHỌN LỌC. Nhà
xuất bản Thanh Niên 1998.
Ở Đà Lạt mênh mang sương khói
cuộc tình
Nói đến Đà Lạt là nói đến một thành phố cao nguyên của xứ sở
ngàn hoa. Là vùng đất thơ mộng đến lạ kỳ. Con người thì sống chậm và ẩn mình
trong không khí se se lạnh nên không thiếu chất lãng mạn, trữ tình…Tôi mê Đà Lạt
khi nhìn thiên nhiên và con người ở đây. Càng bị mê hoặc hơn khi nghe những ca
khúc viết về Đà Lạt của những nhạc sĩ tài hoa như Hoàng Nguyên (Ai Lên Xứ Hoa
Đào) Minh Kỳ - Lê Dinh (Đà Lạt Hoàng Hôn); Trăng Mờ Bên Suối (Lê Mộng Nguyên)... Đà
lạt cũng là nơi sản sinh nhiều văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ. Chỉ
tiếc là tôi không có duyên kỳ ngộ nhiều nên chỉ viết một ít người tôi đã từng
quen biết trong hồi ức này. Xin bạn đọc thông cảm.
NT, GIỜ EM NƠI ĐÂU?
NT, GIỜ EM NƠI ĐÂU?
Tôi cũng “cuồng điên vì nhớ” trong những ngày chộn rộn 75 khi
nhận những lá thư liên tục của NT từ Đà Lạt bay về SàiGòn: Anh ơi! Anh ơi! Bây
giờ anh ở đâu? Nơi nào đó có nhớ em không? Riêng em thì mỗi sáng thức giấc
trong sương lạnh, em đều pha một ly cà phê cứt chồn đợi anh. Đợi anh… Nàng là người
ái mộ tôi trên tuần báo Khởi Hành, Thời Tập dù chưa gặp mặt nhưng qua liên lạc
thư từ thì “Hình Như Là Tình Yêu” theo cách của nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn. Những
ngày này tôi cũng “hàng thần lơ láo phận mình ra sao?“ song khó mà quên được
tâm tư nàng viết qua thư. Quay quắt và chờ đợi thôi. May thay năm 1982 có người
quen lên Đà Lạt. Thế là tôi gửi thư tay nhờ trao đến NT ở địa chỉ… Nửa tháng. Một
tháng. Rồi hai tháng không thấy thư hồi âm. Rồi người tôi quen cũng lặn mất tăm.
Sao vậy nhỉ? Năm 1983 tôi quyết định lên Đà Lạt tìm Nàng. Sau gần một ngày qua bao
làng mạc, núi đồi… đến Đà Lạt tôi đã rưng rưng muốn khóc… Nghe đâu người Làng
Vân Thê - quê Mạ tôi lên đây lập nghiệp nhiều lắm. Nhưng việc đầu tiên là tôi đi
tìm Nàng ở đường C. Quanh quất, hỏi han thì tôi cũng đã đứng trước ngôi nhà gỗ dễ
thương đáo để: Cho tôi gặp NT. Một cô gái cao to chừng 1m7 bước ra: Dạ. NT
đây. Tôi sửng sờ vì cứ nghĩ là một cô bé nho nhỏ, mềm mại như chữ cô viết trong
thư. Tôi là TDL, TVD đây! - Xin lỗi anh cho xem chứng minh thư. Tôi hỏi: Răng rứa
em? Vì trước đây có người mạo nhận là TDL. Lúc này thì tôi hiểu ra vấn đề rồi. Móc
chứng minh thư cho nàng xem. Sau cái gật đầu NT mời tôi vào nhà. Thế là bao nhiêu
chuyện xưa, nay chúng tôi hàn huyên không dứt. Nàng nói: Lần đó em cũng mời anh
ta uống cà phê. Nhưng khi chia tay anh ta có hành động không như em nghĩ và
không xứng đáng tư cách một TDL, nhà thơ em quý trọng. Em đã tặng cho anh ta một
cái tát… Tôi nói: Hèn gì tránh anh luôn…. Suốt 3, 4 tiếng đồng hồ NT dẫn tôi ngồi
cà phê Tùng đã rồi đi dạo quanh đồi Cù. Đi bên nhau lặng lẽ để có thể nghe từng
nhịp đập của con tim mình. Tôi hút thuốc. NT quẹt diêm mồi… Hình ảnh này như một
bài thơ hay chưa viết ra. Gặp nàng khi tôi đã có gia đình nên chia tay nàng là
câu: Em hãy lấy chồng và hạnh phúc. Bút tích của nàng qua thư từ tôi còn giữ là
một kỷ niệm đẹp… Qua bao năm tháng dâu bể, giờ này tôi hỏi NT em ở đâu là hỏi để
mà hỏi vậy thôi. Chứ mênh mang sương khói cuộc tình rồi cũng bay đi. Dù nơi đâu,
thế nào tôi cũng cầu mong cho NT luôn an vui, hạnh phúc. Có một điều tôi là lạ:
Là cô giáo dạy TDTT cao to mà lại ẩn chứa thơ, nhạc, văn chương trong một tâm
hồn nhạy cảm, trữ tình có phải là miên viễn? Hay rồi cũng phôi pha?
Chia tay nàng tôi còn tìm bà con của tôi nữa. Sáng hôm sau đang cà phê ở chợ Đà Lạt thì gặp một người trông lãng tử ngối kế bên. Đó là Nguyễn Tấn Cứ. Cứ rủ tôi về ở lại nhà vì nhà chỉ có Cứ và bà mẹ.
Chia tay nàng tôi còn tìm bà con của tôi nữa. Sáng hôm sau đang cà phê ở chợ Đà Lạt thì gặp một người trông lãng tử ngối kế bên. Đó là Nguyễn Tấn Cứ. Cứ rủ tôi về ở lại nhà vì nhà chỉ có Cứ và bà mẹ.
NGUYỄN TẤN CỨ (CỨ NGUYỄN) ÁO GIANG HỒ CỨ KHOÁC MÀ ĐI
Duyên gặp gỡ với Cứ trong một thời gian ngắn nhưng lại trở
nên thân tình khi cứ đưa tôi về gặp Mẹ của Cứ. Không giàu có về vật chất song lại
giàu có tâm hồn và tình thương. Bà xem tôi như con vậy. Nhờ có Cứ mà sau đó tôi gặp
thêm được một số người bà con của mình và anh em văn nghệ nữa ở Đà Lạt như nhà
thơ Nguyễn Dương Quang, nhạc sĩ Phan Bá Chức, họa sĩ Nguyễn Sông Ba…
Những ngày ở Đà Lạt tôi được nghe thơ của Cứ và đi lang thang để tìm kiếm cảm xúc. Đây là Thiên Đàng của nghệ sĩ, nói không ngoa chút nào. Thành thử Khánh Ly và Trịnh Công Sơn cất cao tiếng hát liêu trai, ma mị… Họa sĩ Đinh Cường căng bố để ném những gam màu cuộc sống con người, thiếu nữ và thiên nhiên vào cõi miên man của hội họa. Lê Uyên và Phương đã ôm đàn hát tình ca khôn dứt…Thi ca miền xứ lạnh tôi đã đọc của Cứ Nguyễn:
Những ngày ở Đà Lạt tôi được nghe thơ của Cứ và đi lang thang để tìm kiếm cảm xúc. Đây là Thiên Đàng của nghệ sĩ, nói không ngoa chút nào. Thành thử Khánh Ly và Trịnh Công Sơn cất cao tiếng hát liêu trai, ma mị… Họa sĩ Đinh Cường căng bố để ném những gam màu cuộc sống con người, thiếu nữ và thiên nhiên vào cõi miên man của hội họa. Lê Uyên và Phương đã ôm đàn hát tình ca khôn dứt…Thi ca miền xứ lạnh tôi đã đọc của Cứ Nguyễn:
THƠ NGUYỄN TẤN CỨ
NHÀ THỜ TRÊN ĐỉNH ĐỒI
NHÀ THỜ TRÊN ĐỉNH ĐỒI
Đêm. với hàng triệu vì sao
Cô đơn như tháp chuông gió hú
một mình em và lời nguyện cầu
bình an cho sớm mai
bình an cho ngày mới
Cô đơn như tháp chuông gió hú
một mình em và lời nguyện cầu
bình an cho sớm mai
bình an cho ngày mới
Sẽ không còn những ngày buồn thảm
những cuộc thiên di không ngày không tháng
không còn những căn nhà lang thang không kỷ niệm
những cuộc ra đi... không bao giờ trở lại
Em lãng du như một kiếp... giang hồ
những cuộc thiên di không ngày không tháng
không còn những căn nhà lang thang không kỷ niệm
những cuộc ra đi... không bao giờ trở lại
Em lãng du như một kiếp... giang hồ
Sẽ bắt đầu bằng những giọt nước mắt
Xót thương cho những ngày đã qua
Hân hoan cho những ngày sắp tới
Hãy quên đi... những lời cầu nguyện
rằng mời hôm qua thôi - em đã nguyện cầu
Xót thương cho những ngày đã qua
Hân hoan cho những ngày sắp tới
Hãy quên đi... những lời cầu nguyện
rằng mời hôm qua thôi - em đã nguyện cầu
em cô đơn như tháp chuông
trên ngọn đồi kia - ngôi nhà thờ đơn độc
chỉ có lời kinh đêm - chỉ có lời kinh mưa
rằng ngày mai rồi sẽ đến
rằng em có ra đi - rồi em sẽ quay về
trên ngọn đồi kia - ngôi nhà thờ đơn độc
chỉ có lời kinh đêm - chỉ có lời kinh mưa
rằng ngày mai rồi sẽ đến
rằng em có ra đi - rồi em sẽ quay về
có một ngôi nhà thờ - trên đồi cao
và cũng có một căn nhà trên tầng cao
ở nơi ấy có Chúa của em - một mình khổ nạn
Chúa đóng đinh cho Hạnh phúc của con người
và cũng có một căn nhà trên tầng cao
ở nơi ấy có Chúa của em - một mình khổ nạn
Chúa đóng đinh cho Hạnh phúc của con người
Anh sẽ cầu nguyện cho em vui - em mãi mãi tươi cười
cầu cho những giọt nước mắt sẽ lăn dài trong phúc hạnh
sẽ không còn có anh - trong tháp chuông kia ngân tiếng
trên ngọn đồi kia - ngôi nhà thờ thao thức
chỉ có mình anh thôi - chờ đợi đức tin về .
Nguyễn Tấn Cứ
cầu cho những giọt nước mắt sẽ lăn dài trong phúc hạnh
sẽ không còn có anh - trong tháp chuông kia ngân tiếng
trên ngọn đồi kia - ngôi nhà thờ thao thức
chỉ có mình anh thôi - chờ đợi đức tin về .
Nguyễn Tấn Cứ
Những Buổi Chiều Cuối Năm
Nguyễn Tấn Cứ
Nguyễn Tấn Cứ
Vẫn cố um lên những bếp lửa
Dù đã quá tro tàn
Vẫn cố lên xanh những liếp cải
Dù đã quá hẹp thửa vườn
Vẫn chen rồ lên cỏ lau bén ngọt
Cứa vào hồn tôi tan tác
Trên những nỗi buồn của mảnh đất hoang
Dù đã quá tro tàn
Vẫn cố lên xanh những liếp cải
Dù đã quá hẹp thửa vườn
Vẫn chen rồ lên cỏ lau bén ngọt
Cứa vào hồn tôi tan tác
Trên những nỗi buồn của mảnh đất hoang
Vẫn ngẫn ngơ như một lữ khách không nhà
Vẫn chết ngất như tuổi thơ đã mất
Vẫn chết ngất như tuổi thơ đã mất
Tâm hồn tôi như khói chiều xưa cũ
Vẫn rưng rưng khi chạm tới tháng năm tàn
Vẫn rưng rưng khi chạm tới tháng năm tàn
Tôi vẫn thương tôi
Dù đã quá những buổi chiều
Sự khủng khiếp của những buổi chiều phố chợ
Những con chó hoang chạy quanh
Những sạp hàng hiu quạnh
Những khói hương bay
Quanh quẩn những hiên nhà
Dù đã quá những buổi chiều
Sự khủng khiếp của những buổi chiều phố chợ
Những con chó hoang chạy quanh
Những sạp hàng hiu quạnh
Những khói hương bay
Quanh quẩn những hiên nhà
Có về không con nước sông Trà
Đã mệt mỏi lắm
Ôi cuộc đời trôi mỏi mệt
Lang thang mãi cứ ngỡ đời mình bạc phận
Có ngờ đâu chiều vẫn cuối năm… vàng
Nguyễn Tấn Cứ và thơ lục bát:
Đã mệt mỏi lắm
Ôi cuộc đời trôi mỏi mệt
Lang thang mãi cứ ngỡ đời mình bạc phận
Có ngờ đâu chiều vẫn cuối năm… vàng
Nguyễn Tấn Cứ và thơ lục bát:
NGUYỄN TẤN CỨ
ĐÃ LÀ EM XƯA
ĐÃ LÀ EM XƯA
Chu môi em thổi cái vèo
Mối tình ta đã vốn nghèo hai năm
Nhíu mày em liếc lạnh căm
Hai tay che mắt lâm thâm mưa phùn
Em mua chi một nỗi buồn
Bây giờ bán đứt không cần đến tôi
Không cần em mới cong môi
Tôi hôn một cái cho… trôi nỗi buồn.
Mối tình ta đã vốn nghèo hai năm
Nhíu mày em liếc lạnh căm
Hai tay che mắt lâm thâm mưa phùn
Em mua chi một nỗi buồn
Bây giờ bán đứt không cần đến tôi
Không cần em mới cong môi
Tôi hôn một cái cho… trôi nỗi buồn.
THÔI
Thôi người bụi ở sau lưng
Thôi môi mắt ấy rưng rưng thị thành
Thôi em đừng cố treo mành
Đừng khuynh nhất tiếu đừng hành hạ tôi...
Nguyễn Tấn Cứ
Thôi môi mắt ấy rưng rưng thị thành
Thôi em đừng cố treo mành
Đừng khuynh nhất tiếu đừng hành hạ tôi...
Nguyễn Tấn Cứ
Cứ tưởng anh chàng này quẩn quanh với xứ sương mù, ai ngờ Cứ
lại khoác áo giang hồ lên vai và Hành Phương Nam như thi sĩ Nguyễn Bính ngày
nào. Vậy là Sài Gòn có thêm một cư dân bởi đây là nơi đất lành chim đậu. Ai nỡ khước
từ một người làm thơ phải không Cứ Nguyễn?
NGUYỄN DƯƠNG QUANG, NHÀ THƠ NHÂN HẬU
Cũng nhờ Cứ mà tôi quen biết anh Nguyễn Dương Quang. Đây là nhà thơ rất nhân hậu và căn nhà anh là nơi giao tiếp tất cả anh chị em văn nghệ mỗi khi bước chân lên xứ ngàn hoa. Chỉ gặp anh chị một lần mà tôi nhớ mãi. Sau này cũng có vài lần lên Đà Lạt nhưng đi tour nên chẳng kịp ghé thăm. Vẫn hy vọng một ngày nào đó một mình ghé lên thăm nhà thơ. Cuộc sống nhân hậu nhưng anh không ngớt trăn trở, tư duy về phận người. Những bài thơ sau là một minh chứng:
NGUYỄN DƯƠNG QUANG
ĐIỀU RẤT KHÓ
Cũng nhờ Cứ mà tôi quen biết anh Nguyễn Dương Quang. Đây là nhà thơ rất nhân hậu và căn nhà anh là nơi giao tiếp tất cả anh chị em văn nghệ mỗi khi bước chân lên xứ ngàn hoa. Chỉ gặp anh chị một lần mà tôi nhớ mãi. Sau này cũng có vài lần lên Đà Lạt nhưng đi tour nên chẳng kịp ghé thăm. Vẫn hy vọng một ngày nào đó một mình ghé lên thăm nhà thơ. Cuộc sống nhân hậu nhưng anh không ngớt trăn trở, tư duy về phận người. Những bài thơ sau là một minh chứng:
NGUYỄN DƯƠNG QUANG
ĐIỀU RẤT KHÓ
Sống trong cuộc sống, điều rất khó
sống ngoài cuộc sống, điều rất khó
chết trong cuộc sống, điều rất khó
chết ngoài cuộc sống, điều rất khó
sống ngoài cuộc sống, điều rất khó
chết trong cuộc sống, điều rất khó
chết ngoài cuộc sống, điều rất khó
Lừa dối với người, điều rất khó
lừa dối chính mình, điều rất khó
thành thật với người, điều rất khó
thành thật với mình, điều rất khó
lừa dối chính mình, điều rất khó
thành thật với người, điều rất khó
thành thật với mình, điều rất khó
Giương một cánh cung, điều rất khó
bảo ta anh hùng, điều rất khó
nói ta hèn kém, điều rất khó
nghe một lời kinh, điều rất khó
bảo ta anh hùng, điều rất khó
nói ta hèn kém, điều rất khó
nghe một lời kinh, điều rất khó
Thốt một lời yêu, điều rất khó
thản nhiên vô tình, điều rất khó
ngày ngày líu lo, điều rất khó
nằm im giấu mỏ, điều rất khó
thản nhiên vô tình, điều rất khó
ngày ngày líu lo, điều rất khó
nằm im giấu mỏ, điều rất khó
Đi trước thời gian, điều rất khó
đi ngược thời gian, điều rất khó
chỉ biết có mình, điều rất khó
không biết có mình, điều rất khó
đi ngược thời gian, điều rất khó
chỉ biết có mình, điều rất khó
không biết có mình, điều rất khó
Biết điều rất khó, điều rất khó
làm điều rất khó, điều rất khó
không làm điều khó, điều rất khó
điều rất khó, hừ! điều rất khó
làm điều rất khó, điều rất khó
không làm điều khó, điều rất khó
điều rất khó, hừ! điều rất khó
BIỂN TRONG KÝ ỨC KẺ DU CƯ
Kẻ du cư đã gác đời mình trên đỉnh núi
nhưng trong anh vẫn là dòng máu mặn biển xa
buổi chiều lặng yên trên đồi cỏ mượt
nhìn trời xanh anh ngỡ biển quê nhà
nhưng trong anh vẫn là dòng máu mặn biển xa
buổi chiều lặng yên trên đồi cỏ mượt
nhìn trời xanh anh ngỡ biển quê nhà
Quê nhà anh xưa trải dài trên cátcát ngủ cùng anh từ trên chiếc võng nôi con
anh lớn lên dưới bóng dừa che chở
trong từng chiếc vỏ ốc khô đều ẩn giấu linh hồn
Anh đã sống và yêu bên biển
ôi! người anh yêu và biển anh yêu
rất xinh đẹp, lúc dịu hiền, khi giông bão
nên đời anh hạnh phúc nép thương đau
ôi! người anh yêu và biển anh yêu
rất xinh đẹp, lúc dịu hiền, khi giông bão
nên đời anh hạnh phúc nép thương đau
Có lúc một mình anh bên gành vắng,
khi cùng ai cuối bãi đợi bình minh
anh cô đơn, biển bao la cô đơn kinh khiếp
anh yêu, yêu đã đầy chưa biển tình?
khi cùng ai cuối bãi đợi bình minh
anh cô đơn, biển bao la cô đơn kinh khiếp
anh yêu, yêu đã đầy chưa biển tình?
Những đêm mùa hè anh nằm gối tay trên cát
biển ru anh vào những giấc mơ,
biển nói cùng anh về tình yêu thương, lòng tàn bạo
về những nỗi âm u sâu thẳm khôn dò
biển ru anh vào những giấc mơ,
biển nói cùng anh về tình yêu thương, lòng tàn bạo
về những nỗi âm u sâu thẳm khôn dò
Biển đã thấm vào anh tình yêu, nỗi đau và niềm yên ủi
anh ra đi, lạc vào cõi sương mù
anh vẫn mơ ngày cuối cùng trở về chốn cũ
mãi mãi là con sóng nhỏ biển thiên thu.
anh ra đi, lạc vào cõi sương mù
anh vẫn mơ ngày cuối cùng trở về chốn cũ
mãi mãi là con sóng nhỏ biển thiên thu.
EM Ạ! CHÚNG TA VÀ NỖI CÔ ĐƠN
gửi...
gửi...
Hình như con người không thể thấy
được hết nỗi cô đơn của mình
dù khi em viết những dòng thơ tình
đã tự xé lòng đau đến vậy
được hết nỗi cô đơn của mình
dù khi em viết những dòng thơ tình
đã tự xé lòng đau đến vậy
Bài thơ em khúc nhạc buồn chơi vơi
con chim hít cô kêu trong chiều hiu hắt
ta, cùng nỗi mênh mang một hồn gió giạt
mưa xanh, nắng bạc rũ bên trời
con chim hít cô kêu trong chiều hiu hắt
ta, cùng nỗi mênh mang một hồn gió giạt
mưa xanh, nắng bạc rũ bên trời
Có khi ta thầm hỏi lòng da diết
tại sao mình không thể thiếu cô đơn?
muốn thành trăng tự tròn, khuyết rồi tan
đọng thành mây rồi trôi… trôi biền biệt
tại sao mình không thể thiếu cô đơn?
muốn thành trăng tự tròn, khuyết rồi tan
đọng thành mây rồi trôi… trôi biền biệt
Khi tha thẩn trên đồi cao hay bên bờ biển vắng
lòng ta biêng biếc cõi tình quên
làm sóng hát cùng con thuyền trống
làm gió đùa cùng đám lá đầu non
lòng ta biêng biếc cõi tình quên
làm sóng hát cùng con thuyền trống
làm gió đùa cùng đám lá đầu non
Em ạ! làm sao chúng ta san sẻ được nỗi buồn?
mỗi người riêng một trái tim chưa khép
vậy xin ấp yêu đóa hoa lòng thật đẹp
là Cô Đơn! chất ngất cô đơn.
mỗi người riêng một trái tim chưa khép
vậy xin ấp yêu đóa hoa lòng thật đẹp
là Cô Đơn! chất ngất cô đơn.
Hình 2: Nhà thơ Nguyễn Tấn Cứ (Cứ Nguyễn)
Ở Nha Trang - Khánh Hòa:
Khi nghe bản nhạc Nha Trang Ngày Về của nhạc sĩ Phạm Duy
không ai không thể không mường tượng ,liên tưởng đến một Nha Trang - thành phố biển
của tỉnh Khánh Hòa thơ mộng... Tôi cũng vậy. Hình ảnh con dã tràng cứ ẩn hiện
trong tôi như một phận người kém may mắn với tình yêu, tình người. Ở đó, tôi
chưa hề có một tình yêu và tình người, bạn bè thân thiết thì càng hiếm hoi... dẫu
đây là vùng đất sản sinh nhiều văn nghệ sĩ lẫy lừng nói chung và thi ca nói
riêng. Có những tượng đài sừng sững mà tôi chưa hề gặp dù rất muốn. Vì vậy, trong
hồi ức này tôi chỉ quen biết và gặp gỡ được 3 nhân vật. Đó là Trần Vạn Giã, Tôn
Nữ Thu Dung và Nguyễn Vũ Sinh. Cho nên xin mọi người cảm thông. Trân trọng.
TRẦN VẠN GIÃ, NGƯỜI THƯƠNG ĐẤT, THƯƠNG LÀNG
Tình bạn giữa tôi và TVG đã ngót nửa thế kỷ. Phần
lớn thời gian chúng tôi trôi nổi trong chiến tranh nên ít có dịp gần gũi. Tuy vậy,
vẫn luôn mong ngóng, đọc thơ của nhau qua báo chí và bạn bè. Lần gần đây nhất, tôi đã có những suy nghĩ về TVG:
Cách đây gần 50 năm, tôi vẫn nhớ như in những ngày ở Đà
Nẵng. Chúng tôi Trần Dzạ Lữ, Vũ Hữu Định, Trần Vạn Giã, Phạm Thế Mỹ, Trường Thi, A
Khuê... thường bên nhau dọc sông Hàn say khướt trong men bia
Sài Gòn hoặc vượt sông Hàn qua bán đảo Sơn Trà đi trong gió cát tìm Đoàn Huy
Giao hay đến một ngôi chùa cô tịch nơi Hồ Đắc Ngọc đang ẩn tu trốn lính...
Trần Vạn Giã và tôi lang thang về quê tôi ở Ngọc Anh thắp
nhang ba tôi - Người mất sớm nên giấc mộng văn khoa của tôi tan tành. Thời đó
chúng tôi, tuổi vừa đôi mươi, yêu đời, yêu bạn bè văn nghệ, yêu đắm say thơ ca. Thế
mà chiến tranh bạo tàn đã đẩy chúng tôi phiêu dạt khắp mọi miền đất nước, đứa
vào tù, đứa đi lính, đứa trốn lính, đứa giang hồ, đứa đi tu... mỗi số phận khắc
nghiệt trên mỗi đời người, chúng tôi nổi trôi trong chiến tranh Việt Nam ngày
càng ác liệt và nỗi khát khao hoà bình về trên quê hương cháy bỏng trong lòng.
Tôi mất liên lạc với Trần Vạn Giã gần 50 năm.
Sau năm 1975, tôi ngóng tin bạn bè văn nghệ ai mất, ai còn, ai
đã bỏ quê hương ra đi. Riêng Trần Vạn Giã thỉnh thoảng tôi có đọc thơ anh trên
Văn nghệ Tp HCM, Kiến thức Ngày nay, Thanh niên CN, Tuổi Trẻ CN... lúc đó tôi tin
Trần Vạn Giã còn sống, còn ở Việt Nam. Tôi đã gặp lại Trần Vạn Giã ở Tp.HCM, tóc
trên đầu chúng tôi đã bạc và những lần gặp gỡ ấy rồi chia tay vội vàng bởi cơm
áo hối thúc. Chia tay để mà nhớ, nhớ ơi trong nỗi nhớ không bao giờ tàn
phai... (Với tôi tình cảm văn nghệ không biên giới, chẳng tả khuynh, hữu
khuynh. Hồn ai nấy giữ, không đố kỵ dù biết anh cũng ở trường hợp
THDV, TNS, NMT, VQ)
Đọc thơ anh tôi luôn cảm nhận: Anh sinh ra
để không ngớt thương đất, thương làng. Là người làm thơ không sao tránh khỏi oan
nghiệt đời thường và tình yêu mãi là điều bất hạnh (không chỉ riêng anh) mà với hầu thi sĩ trên thế gian này. Những bài thơ sau, nghe ra da
diết và cảm động khôn cùng:
CHIM QUYÊN XUỐNG ĐẤT ĂN TRÙN
Đành thôi ra ngẩn vào ngơ
Bài thơ cứ gởi. Bến chờ cứ mong
Tội tình con chữ chạy rong
Quanh đi quẩn lại trong vòng nhân gian
Đành thôi ra ngẩn vào ngơ
Bài thơ cứ gởi. Bến chờ cứ mong
Tội tình con chữ chạy rong
Quanh đi quẩn lại trong vòng nhân gian
Người ta đi hái hoa vàng
Còn tôi cô độc bên hàng cau xanh
Xa em như lá lìa cành
Chim Quyên xuống đất tôi đành lên non
Lên non: nước chảy đá mòn
Lên non: tìm lại đau còn cỏ may
Cát kia cồn nọ lưu đày
Đọng trên đầu lưỡi đắng cay thuở nào
Bên em ruộng thấp bờ cao
Và đi trong giấc chiêm bao đêm này.
THƯA MẸ CON VỀ
Con về lại mái nhà xưa
Rêu phong từ độ nay chưa lụn tàn
Khói rơm bay cuối đường làng
Xa xa bóng núi vắt ngang trời chiều
Tay con níu lại cánh diều
Càng thương dáng mẹ liu xiu cuối đời
Mưa đông đen nghịt góc trời
Thơ con vẫn ấm trong lời mẹ ru
Nửa đời đau bước lãng du
Thương quê, nhớ mẹ cho dù cách xa
Dù con nhung lụa, ngọc ngà
Cũng không quên thuở mẹ già áo nâu
Mẹ và con tóc bạc đầu
Bóng con và mẹ đêm sâu dãi dầu
Dãi dầu trôi dạt về đâu
Về đâu cát bụi nhuốm màu hư không
Mẹ ơi cây lúa ngoài đồng
Gié đang nở rộ những bông đầu mùa.
GẶP BẠN CŨ Ở LONG AN
Mời nhau một trái bần giòn
Mày và tao vẫn cứ còn chất quê
Người xưa uống rượu ăn thề
Ta nay uống rượu và mê đờn cò
Đờn rằng nhớ lẩu mắm kho
Chín dòng sông lớn đủ đo lòng người
Chiều nghiêng theo gió Tháp Mười
Tiếng con cúm núm tiễn người qua sông
Mênh mông mùa lúa chin đồng
Mây tan theo ngọn mưa giông cuối trời
Đi xa gần hết một đời
Gặp nhau rượu ngọt uống lời bạn quê
Người Nam lòng thật khà khề
Nước qua trăm rạch cũng về nghĩa nhân
Phèn ơi hãy dính bàn chân
Để cho chiều rụng trái bần trong mơ.
Có gì mà phải tái tê
Giữ thơm từng hạt gạo quê ở rừng
Trải qua ngày tháng biền bưng
Nồng nàn lối cỏ ta đừng xa nhau
Gian nan thì phải cơ cầu
Đừng quên cái thuở ban đầu lên non.
Và tôi đã dừng lại rất lâu ở bài thơ sau rất đời, rất thật rồi không khỏi chạnh lòng:
Còn tôi cô độc bên hàng cau xanh
Xa em như lá lìa cành
Chim Quyên xuống đất tôi đành lên non
Lên non: nước chảy đá mòn
Lên non: tìm lại đau còn cỏ may
Cát kia cồn nọ lưu đày
Đọng trên đầu lưỡi đắng cay thuở nào
Bên em ruộng thấp bờ cao
Và đi trong giấc chiêm bao đêm này.
THƯA MẸ CON VỀ
Con về lại mái nhà xưa
Rêu phong từ độ nay chưa lụn tàn
Khói rơm bay cuối đường làng
Xa xa bóng núi vắt ngang trời chiều
Tay con níu lại cánh diều
Càng thương dáng mẹ liu xiu cuối đời
Mưa đông đen nghịt góc trời
Thơ con vẫn ấm trong lời mẹ ru
Nửa đời đau bước lãng du
Thương quê, nhớ mẹ cho dù cách xa
Dù con nhung lụa, ngọc ngà
Cũng không quên thuở mẹ già áo nâu
Mẹ và con tóc bạc đầu
Bóng con và mẹ đêm sâu dãi dầu
Dãi dầu trôi dạt về đâu
Về đâu cát bụi nhuốm màu hư không
Mẹ ơi cây lúa ngoài đồng
Gié đang nở rộ những bông đầu mùa.
GẶP BẠN CŨ Ở LONG AN
Mời nhau một trái bần giòn
Mày và tao vẫn cứ còn chất quê
Người xưa uống rượu ăn thề
Ta nay uống rượu và mê đờn cò
Đờn rằng nhớ lẩu mắm kho
Chín dòng sông lớn đủ đo lòng người
Chiều nghiêng theo gió Tháp Mười
Tiếng con cúm núm tiễn người qua sông
Mênh mông mùa lúa chin đồng
Mây tan theo ngọn mưa giông cuối trời
Đi xa gần hết một đời
Gặp nhau rượu ngọt uống lời bạn quê
Người Nam lòng thật khà khề
Nước qua trăm rạch cũng về nghĩa nhân
Phèn ơi hãy dính bàn chân
Để cho chiều rụng trái bần trong mơ.
Có gì mà phải tái tê
Giữ thơm từng hạt gạo quê ở rừng
Trải qua ngày tháng biền bưng
Nồng nàn lối cỏ ta đừng xa nhau
Gian nan thì phải cơ cầu
Đừng quên cái thuở ban đầu lên non.
Và tôi đã dừng lại rất lâu ở bài thơ sau rất đời, rất thật rồi không khỏi chạnh lòng:
EM ĐÃ LÀ NHƯ THẾ
Alo em đang ở đâu
Cứ thế mỗi chiều anh không biết em đang ở đâu
Anh đón con
Anh giặt đồ
Anh lau nhà
Anh vào bếp
Mâm cơm thường xuyên trống một chỗ ngồi
Cứ thế mỗi chiều anh không biết em đang ở đâu
Anh đón con
Anh giặt đồ
Anh lau nhà
Anh vào bếp
Mâm cơm thường xuyên trống một chỗ ngồi
Mỗi chiều em điện thoại đang tiếp khách
Đang đón bạn đồng môn
Đang tiển bạn Việt Kiều ra sân bay
Đang sửa xe bị thủng lốp...
Những cái đang cứ đan xen thời gian
Đang đón bạn đồng môn
Đang tiển bạn Việt Kiều ra sân bay
Đang sửa xe bị thủng lốp...
Những cái đang cứ đan xen thời gian
Em gom về
Mùi thuốc lá trên môi em và núm nơi đỉnh cao bầu sữa mẹ
Dấu răng nựng trên vai em bệnh hoạn
Em ngủ vùi sau cơn lửa tình dồn dập
Sau cường lực vòng tay của gã tình nhân
Có những đêm trong cơn mơ sâu em ú ớ
Con giật mình
Gọi má má ơi
Mùi thuốc lá trên môi em và núm nơi đỉnh cao bầu sữa mẹ
Dấu răng nựng trên vai em bệnh hoạn
Em ngủ vùi sau cơn lửa tình dồn dập
Sau cường lực vòng tay của gã tình nhân
Có những đêm trong cơn mơ sâu em ú ớ
Con giật mình
Gọi má má ơi
Khởi thuỷ là lời
Nhưng bây giờ lời anh đã cạn
Thôi em cứ vô tư đi dọc về ngang
Tình yêu
Không là hữu hạn
Đành vậy thôi
Nếu bây giờ còn là thời trung cổ
Anh không ném đá em
Vì anh biết trái tim em nhiều cửa sổ
Và mùi đàn bà em ô nhiểm gió đa tình
Nhưng bây giờ lời anh đã cạn
Thôi em cứ vô tư đi dọc về ngang
Tình yêu
Không là hữu hạn
Đành vậy thôi
Nếu bây giờ còn là thời trung cổ
Anh không ném đá em
Vì anh biết trái tim em nhiều cửa sổ
Và mùi đàn bà em ô nhiểm gió đa tình
Em đi bình an với những người đàn ông mới
Về nhen con
Ngày sắp tàn và đêm buồn đang đợi
Ba không thể trả lời
Má bỏ con đi đâu???
Về nhen con
Ngày sắp tàn và đêm buồn đang đợi
Ba không thể trả lời
Má bỏ con đi đâu???
Trần Vạn Giã
Đến đây tôi nhớ hai câu thơ của
thi hào Nguyễn Du:
Bắt
phong trần phải phong trần
Cho
thanh cao mới dự phần thanh cao...
Theo tôi hầu hết những
thi sĩ trên thế gian này đều chịu phong trần và hạnh phúc với họ là điều xa xỉ... (chỉ hiếm hoi mới có người đẻ bọc nhận niềm hân hoan của Trời
ban tặng). Xa cách lâu ngày không hiểu hiện tại thế nào. Nhưng nếu thật như bài
thơ thì xin rưng rưng chia sẻ với anh đó Trần Vạn Giã.
TÔN NỮ THU DUNG - NIỀM ĐAM MÊ VĂN
CHƯƠNG CHÁY BỎNG
Tôn Nữ Thu
Dung là tên khai sinh, các bút hiệu khác là Nguyễn Phước Tiểu Di (vì mê bài
hát “Bay Đi Cánh Chim Biển”) và Trần Thụ Duy (vì mê bài hát “Khúc Thụy Du”)
Thời đi học, trước 75 viết cho Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa và các báo thiếu nhi.
Các tác phẩm đã xuất bản:
Các tập thơ: Kỷ Niệm, Nhật Ký, Tiểu Khúc
Các tập truyện ngắn: Hướng Dương Giấu Mặt, Thiên Thần Không Mang Đôi Cánh
Các tập truyện vừa: Ngày Tháng Nào, Mùi Bánh Kem,Thủy Tinh Tan Vỡ.
Hiện định cư tại Mỹ, nghề tay phải: nhân viên xã hội. Nghề tay trái: Tổng biên Tập trang mạng văn chương TUONGTRI.COM và nhà Xuất Bản TƯƠNG TRI
Có một số giải thưởng văn chương nho nhỏ như giải đặc biệt viết về nước Mỹ, giải nhất những bài thơ tình thời mới lớn.
Tóm một điều: Hạnh Phúc nhất là được nhận xét rằng: Đây là một người làm thơ biết viết văn và luôn có đông đảo những fan hâm mộ nhí!.
Lướt qua tiểu sử của nàng Tôn Nữ gốc Huế, sinh sống ở Nha Trang, sau đó định cư tại Mỹ, tôi thấy Dung mang theo bên đời mình niềm đam mê cháy bỏng trong sinh hoạt văn chương. Thời mới lớn, Dung đã là cây bút (cùng Trần Văn Nghĩa) xuất hiện thưòng xuyên trên tuần báo tuổi mới lớn (Tuổi Ngọc) của nhà văn Duyên Anh tại Sài Gòn và có nhiều fan nhí hâm mộ nàng. Khi sang Mỹ, Dung viết nhiều hơn không chỉ thơ mà còn truyện ngắn, truyện vừa... Tôi nghĩ chắc một điều là cô em gái này rất khéo vun vén gia đình nên dành nhiều thời gian cho viết lách. Đặc biệt là chăm sóc trang mạng Tương Tri.com và nhà xuất bản Tương Tri với cương vị là tổng biên tập. Một trang mạng uy tín, quy tụ nhiều tên tuổi lừng danh ở trong và ngoài nước. Phải như con ong, cái kiến cần mẫn cô mới làm được điều này bằng trái tim và trí tuệ của mình. Biết Dung từ thập niên 70 trên báo chí nhưng mãi đến năm 2013 mới gặp lúc cô về Việt Nam ra mắt tuyển tập TT ở nhà hàng Sông Trăng của Văn Công Mỹ. Một con người của hoàng tộc nhưng Dung bình dị, nhỏ nhẹ, khiêm tốn gì đâu bởi chẳng thấy cung cách “các mệ” của nàng. Do vậy mà anh em rất dễ thân tình, rất dễ thương mến.
Thời đi học, trước 75 viết cho Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa và các báo thiếu nhi.
Các tác phẩm đã xuất bản:
Các tập thơ: Kỷ Niệm, Nhật Ký, Tiểu Khúc
Các tập truyện ngắn: Hướng Dương Giấu Mặt, Thiên Thần Không Mang Đôi Cánh
Các tập truyện vừa: Ngày Tháng Nào, Mùi Bánh Kem,Thủy Tinh Tan Vỡ.
Hiện định cư tại Mỹ, nghề tay phải: nhân viên xã hội. Nghề tay trái: Tổng biên Tập trang mạng văn chương TUONGTRI.COM và nhà Xuất Bản TƯƠNG TRI
Có một số giải thưởng văn chương nho nhỏ như giải đặc biệt viết về nước Mỹ, giải nhất những bài thơ tình thời mới lớn.
Tóm một điều: Hạnh Phúc nhất là được nhận xét rằng: Đây là một người làm thơ biết viết văn và luôn có đông đảo những fan hâm mộ nhí!.
Lướt qua tiểu sử của nàng Tôn Nữ gốc Huế, sinh sống ở Nha Trang, sau đó định cư tại Mỹ, tôi thấy Dung mang theo bên đời mình niềm đam mê cháy bỏng trong sinh hoạt văn chương. Thời mới lớn, Dung đã là cây bút (cùng Trần Văn Nghĩa) xuất hiện thưòng xuyên trên tuần báo tuổi mới lớn (Tuổi Ngọc) của nhà văn Duyên Anh tại Sài Gòn và có nhiều fan nhí hâm mộ nàng. Khi sang Mỹ, Dung viết nhiều hơn không chỉ thơ mà còn truyện ngắn, truyện vừa... Tôi nghĩ chắc một điều là cô em gái này rất khéo vun vén gia đình nên dành nhiều thời gian cho viết lách. Đặc biệt là chăm sóc trang mạng Tương Tri.com và nhà xuất bản Tương Tri với cương vị là tổng biên tập. Một trang mạng uy tín, quy tụ nhiều tên tuổi lừng danh ở trong và ngoài nước. Phải như con ong, cái kiến cần mẫn cô mới làm được điều này bằng trái tim và trí tuệ của mình. Biết Dung từ thập niên 70 trên báo chí nhưng mãi đến năm 2013 mới gặp lúc cô về Việt Nam ra mắt tuyển tập TT ở nhà hàng Sông Trăng của Văn Công Mỹ. Một con người của hoàng tộc nhưng Dung bình dị, nhỏ nhẹ, khiêm tốn gì đâu bởi chẳng thấy cung cách “các mệ” của nàng. Do vậy mà anh em rất dễ thân tình, rất dễ thương mến.
Lần gần đây nhất là TNTD về ra mắt tuyển tập
thơ Hư Ảo Tôi 2018-Cũng ở nhà hàng Sông Trăng - Bình Quới có sự hiện diện đông đảo
văn nghệ sĩ tên tuổi ở SG. Tuyển tập khác lạ là mỗi bài thơ đều có chữ ký của
tác giả. Trình bày đẹp. Thơ hay. Hy vọng thời gian tới Tôn Nữ còn khiến bạn đọc ngạc
nhiên đến thú vị từ niềm đam mê văn chương ngồn ngộn của mình.
NÍU
Chiều níu tay vào gió
Mây níu tay vào trời
Sương níu tay vào cỏ
Đêm níu tay vào mộng
(Mộng chỉ là hư vô)
Biển níu tay vào sóng
Từng điệu buồn đuổi xô.
Lơ đãng hồn níu bóng
Hạnh ngộ níu tàn phai
Giữa cõi người tuyệt vọng
Tôi níu vào tay ai?
UYÊN
UYÊN
Uyên của ngày thu muộn
Khúc lạc cầm u hoài
Chìm nổi dòng luân lạc
Chiều Nội Thành mây bay.
Uyên của ngày ly biệt
Chạnh lòng mưa cuối sông
Vỡ toang mùa trăng biếc
Rơi những lời ăn năn.
Uyên của ngày hoan lạc
Khắc khoải rèm mi cong
Uyên của ngày hạnh phúc
Đong đưa tình trăm năm.
Uyên của ngày địa ngục
Tan chảy thành tro than
Lửa hành hình bí ẩn
Đốt một đời tan hoang...
KHÚC THÁNG CHÍN
KHÚC THÁNG CHÍN
Gác kiếm người xưa quy ẩn
Giang hồ chưa chắc lòng nguôi
Chỉ sợ nhớ thời giông bão
Lời thề lại xóa mất thôi
Qua sông, mịt mờ cố xứ
Ngửa tay, hứng giọt sương buồn
Tiếng sóng, tiếng lòng tan vỡ
Cuối trời... mây khói mênh mông...
Cúi xuống, soi mình bóng nước
Một vầng trăng khuyết chông chênh
Dáng mong manh gầy thuở trước
Chớp mắt... đã là lãng quên.
Bắt chước người xưa quy ẩn
Đừng gọi tôi hoài... lênh đênh
Bắt chước người xưa lận đận
Tình tôi,
chao đảo thác ghềnh...
KHÚC NGÂU
Thiên sứ muôn đời trong sáng
Thiền sư đôi lúc lỗi lầm
Từng ngày chia nhau khổ nạn
Đừng hỏi ai người vô tâm...
Đời vẫn trầm luân nhật nguyệt
Sương tàng rơi ướt đêm thâu
Thảng thốt những hàng lệ tuyết
Bờ xa, bến thẳm về đâu...
Một dòng mong manh khói biếc
Buông tay... gió tạt hiên người
Nhắm mắt... thả lời ly biệt
Một điều không nói
rơi...
PHƯƠNG ẤY
Nắng mật ong cho tôi vàng thương nhớ
Chiều tương tư em tóc xõa trên đồi
Hồn lơ đãng cứ mơ về cố xứ
Gót chân hồng em nhẹ đến xa xôi.
Mây có tụ thành những quầng ngũ sắc
Gió vẫn bay tan tác cuối chân trời
Sương còn đọng long lanh buồn phương ấy
Đêm nghẹn ngào ai thao thức cùng tôi.
Nhớ một thuở có còn đau một thuở
Ngày hoang vu mưa bong bóng chập chờn
Em cầm ngón tay tôi vàng khói thuốc
Lặng thinh nhìn... như gởi một yêu thương.
Và một truyện ngắn rất Huế:
CON TÒ HE
Huế của tôi buồn lắm, một thành phố buồn nhất hành tinh, những ngày mưa bão kéo
dài cả tháng úng trời úng đất không nói làm gì sao vẫn buồn cả những ngày nắng
hạ chói chang và phượng đỏ rực rỡ như màu môi thiếu phụ. Thành phố lúc nào như
cũng đắm chìm trong hồi ức vàng son và trong quá khứ nhạt nhòa rêu phủ.
… Nhưng bây giờ là mùa xuân, những hoa cúc Đại Đóa nở vàng rực
trong vườn ông ngoại, Đăng Tâm nói:
– Đăng Tâm thích màu vàng dễ sợ.
Tôi cười:
– Đó là màu bội bạc.
Đăng Tâm mím môi để lộ hai hạt gạo lún sâu hai bên khóe miệng:
– Ai nói? Màu vàng thật sự là màu cô độc kiêu sa nên dễ bị hiểu
lầm là bội bạc.
Bao giờ tôi cũng chịu thua Đăng Tâm để được nhìn nụ cười cô rạng
rỡ:
Đăng Tâm đốt xong mớ giấy tiền vàng bạc dưới chân trang thờ
và rải gạo muối chung quanh… Những con chim se sẻ từ đâu sà tới, ríu ra ríu rít
tranh nhau nhặt gạo. Đăng Tâm luôn được bà ngoại phân công việc cúng cô hồn
trong những ngày rằm, mùng một… Ông ngoại không thích điều này vì cho rằng bà
ngoại hối lộ cô hồn các đảng bằng cô cháu cưng xinh đẹp để mưu cầu lợi ích cho
đại gia đình. Ông ngoại giận giữ khi bà ngoại bày cho Đăng Tâm khấn vái cầu xin cô hồn các đảng cho cả nhà mạnh khỏe, bình an… Bà ngoại phải vuốt giận bằng
cách khi Đăng Tâm đi ra vườn cúng vào những chiều chạng vạng thì bị bôi lên mặt
mấy vết lọ nghẹ và có tôi đi theo hộ tống.
Không một khu vườn nào ở Huế mà không có một trang thờ leo
lét ngọn đèn dầu hiu hắt. Huế trải qua bao nhiêu tang thương biến động trong những
cuộc chiến, bao nhiêu người chết oan chết ức, bao nhiêu đền đài đổ nát tan
hoang. Nhà ông ngoại đã nhiều lần tan nát vì bom đạn nhưng lần nào ông
ngoại cũng xây lại với nguyên bản cũ: Một ngôi nhà rường ba gian hai chái, khuất
sau một bình phong cổ kính với chiếc hồ bán nguyệt thả sen thả súng cho cô cháu
nội cưng Đăng Tâm rửa chân… Cây Ngô Đồng cao rủ bóng thỉnh thoảng
rơi vài chiếc lá xuống hồ làm bầy cá quẫy lao xao.
Đăng Tâm đọc:
– Ngô Đồng nhất diệp lạc
Thiên hạ cộng tri thu
Tôi lắc đầu:
– Ngô Đồng nhất lạc diệp
Thiên hạ cộng tri xuân
Đăng Tâm cười:
– Tấn thông minh dễ sợ… Nhất lạc diệp… một chiếc lá reo vui
đón mùa xuân đang tới.
Đăng Tâm luôn đem niềm vui cho người khác và cô gặt lại cho
mình những mùa buồn đau.
Đăng Tâm rủ:
– Lên Điện Hòn Chén xin xăm đi Tấn. Rủ con Tò He luôn để nó
chèo thuyền.Trốn đi chớ bà nội bắt Đăng Tâm vô chia bài tứ sắc bây giờ.
Tôi chọc:
– Nhưng ở nhà có nhiều tiền lì xì hơn. Và chút nữa bác Tạo sẽ
dẫn anh con trai bác sĩ ở Mỹ về tới giới thiệu cho Đăng Tâm đó.
Đăng Tâm đỏ hồng hai má:
– Đăng Tâm còn nhỏ mà
– Bác Tạo sẽ mang gạo tới để nuôi Đăng Tâm thêm vài năm nữa.
Đăng Tâm hét lên bỏ chạy vô nhà:
– Tấn còn nói nữa thì Đăng Tâm nghỉ chơi với Tấn đó.
Tôi đã nhìn thấy con bác Tạo sau mười mấy năm không gặp, anh
chàng bác sĩ cao ráo đẹp trai… tôi hình dung Đăng Tâm đứng cạnh anh ta, đôi mắt
phượng ngơ ngác nhìn anh ta đầy ngưỡng mộ, nụ cười xinh xắn dành cho anh ta
tươi tắn dễ thương, bàn tay bé nhỏ mềm mại nằm trong tay anh ta dịu dàng tin cậy…
Tôi ghét Đăng Tâm rồi. Người luôn yêu cái màu vàng phản bội. Tôi ghét cái thành
phố buồn thỉu buồn thiu này làm người ta đi để mà nhớ chớ không phải là ở để mà
thương…
Nhưng tôi đâu dễ dàng bỏ cuộc, Đăng Tâm là của tôi từ nhỏ,
chúng tôi là anh em cô cậu, không ai có thể bắt Đăng Tâm của tôi. Tôi tìm con
Tò He, con nhóc em họ khác, rất thông minh, lanh chanh như hành không muối và
luôn coi tôi như thần tượng
– Mi tìm cách chia rẻ Đăng Tâm với Phước cho tao
Tò He le cái lưỡi dài nhọn hoắc (thỉnh thoảng nó lại biểu diễn liếm lổ mũi cho bọn tôi coi):
– Em không làm mô, bà ngoại cạo đầu em đó. Bà ngoại nói anh Phước ở Mỹ về mà hiền hậu dễ thương, chị Đăng Tâm khù khờ lấy anh thì không sợ bị ăn hiếp. Mà răng anh ghét anh Phước rứa?
– Mắc chi mà tao ghét Phước, nhưng tao không thích Đăng Tâm lấy chồng.
Tò He nhìn tôi, con mắt nó đọng đầy xót xa:
– Anh thương chị Đăng Tâm hả anh? Mình bà con với nhau mà.
Tôi cáu kỉnh:
– Đồ con nít nhiều chuyên, tao không muốn Đăng Tâm lấy chồng, mà tao cũng không thèm lấy vợ.
Tò He nhíu mày thương cảm:
– Anh nói cũng đúng, ai mà thèm lấy anh!
Phản xạ của Tò He nhanh hơn con sóc nếu không nó đã bị một cái bạt tai, nó mở to hai con mắt nâu khờ khạo hỏi:
– Rứa răng anh không nói với chị Đăng Tâm?
– Chưa thấy ai ngu như mi, nói thì Đăng Tâm sẽ cho là tao ganh tị.
– Được rồi, em hiểu, nhưng em lấy lý do chi để chia uyên rẽ thúy trong khi anh Phước thông minh giàu có đẹp trai phong độ…
Mỗi cái đức tính của Phước mà Tò He nêu ra như một mũi dao cứa vô trái tim tôi vì tôi thấy quá chính xác mình không thể nào bì được. Nhưng biết tẩy Tò He lậm nặng những điển tích cũ hoắc cũ huơ mà bà ngoại cứ bắt võng dưới gốc cây vãi thiều ầu ơ ngâm nga ru nó ngủ ngày xưa… À, nếu mi muốn nghe những câu chuyện lâm ly thì sẽ được nghe những chương hồi bi ai rơi nước mắt.
– Tò He, nghe anh nói đây, anh và Đăng Tâm là thanh mai trúc mã, anh không muốn Đăng Tâm đi lấy chồng xa… chim kêu vượn hú biết nhà mình mô… Anh không muốn bọn anh biến thành uyên ương gãy cánh mõi mòn mà chết!
Tò He hứ một tiếng bắt chước y bà ngoại:
– Rứa mà anh dám nói anh không thương chị Đăng Tâm!
Rồi nó chép miệng cũng y bà ngoại:
– Thôi được, để coi.
Tôi căn dặn:
– Tò He phải hứa danh dự là không được nói với ai.
– Dĩ nhiên rồi, nói thì anh cũng chẳng bị chi mô, bà ngoại cưng anh như vàng ngọc, còn em thì bị bà ngoại cạo đầu… Ủa, nhưng mà em được lợi chi trong việc ni?
Tôi mừng rỡ, biết nó thuộc lòng văn chương thi phú, tôi đốc khứa:
– Quân tử thi ân bất cầu báo, nhưng anh sẽ biết ơn Tò He cho tới mấy kiếp luôn!
Tò He nguýt:
– Thôi thôi, nói rứa chớ em không hứa chi hết đó nghe.
Tôi nịnh nọt:
– Biết rồi, nhưng một lời em nói là Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy!
Tò He lại nguýt, con mắt có cái đuôi ngoe ngoe nguẩy nguẩy.
– Mi tìm cách chia rẻ Đăng Tâm với Phước cho tao
Tò He le cái lưỡi dài nhọn hoắc (thỉnh thoảng nó lại biểu diễn liếm lổ mũi cho bọn tôi coi):
– Em không làm mô, bà ngoại cạo đầu em đó. Bà ngoại nói anh Phước ở Mỹ về mà hiền hậu dễ thương, chị Đăng Tâm khù khờ lấy anh thì không sợ bị ăn hiếp. Mà răng anh ghét anh Phước rứa?
– Mắc chi mà tao ghét Phước, nhưng tao không thích Đăng Tâm lấy chồng.
Tò He nhìn tôi, con mắt nó đọng đầy xót xa:
– Anh thương chị Đăng Tâm hả anh? Mình bà con với nhau mà.
Tôi cáu kỉnh:
– Đồ con nít nhiều chuyên, tao không muốn Đăng Tâm lấy chồng, mà tao cũng không thèm lấy vợ.
Tò He nhíu mày thương cảm:
– Anh nói cũng đúng, ai mà thèm lấy anh!
Phản xạ của Tò He nhanh hơn con sóc nếu không nó đã bị một cái bạt tai, nó mở to hai con mắt nâu khờ khạo hỏi:
– Rứa răng anh không nói với chị Đăng Tâm?
– Chưa thấy ai ngu như mi, nói thì Đăng Tâm sẽ cho là tao ganh tị.
– Được rồi, em hiểu, nhưng em lấy lý do chi để chia uyên rẽ thúy trong khi anh Phước thông minh giàu có đẹp trai phong độ…
Mỗi cái đức tính của Phước mà Tò He nêu ra như một mũi dao cứa vô trái tim tôi vì tôi thấy quá chính xác mình không thể nào bì được. Nhưng biết tẩy Tò He lậm nặng những điển tích cũ hoắc cũ huơ mà bà ngoại cứ bắt võng dưới gốc cây vãi thiều ầu ơ ngâm nga ru nó ngủ ngày xưa… À, nếu mi muốn nghe những câu chuyện lâm ly thì sẽ được nghe những chương hồi bi ai rơi nước mắt.
– Tò He, nghe anh nói đây, anh và Đăng Tâm là thanh mai trúc mã, anh không muốn Đăng Tâm đi lấy chồng xa… chim kêu vượn hú biết nhà mình mô… Anh không muốn bọn anh biến thành uyên ương gãy cánh mõi mòn mà chết!
Tò He hứ một tiếng bắt chước y bà ngoại:
– Rứa mà anh dám nói anh không thương chị Đăng Tâm!
Rồi nó chép miệng cũng y bà ngoại:
– Thôi được, để coi.
Tôi căn dặn:
– Tò He phải hứa danh dự là không được nói với ai.
– Dĩ nhiên rồi, nói thì anh cũng chẳng bị chi mô, bà ngoại cưng anh như vàng ngọc, còn em thì bị bà ngoại cạo đầu… Ủa, nhưng mà em được lợi chi trong việc ni?
Tôi mừng rỡ, biết nó thuộc lòng văn chương thi phú, tôi đốc khứa:
– Quân tử thi ân bất cầu báo, nhưng anh sẽ biết ơn Tò He cho tới mấy kiếp luôn!
Tò He nguýt:
– Thôi thôi, nói rứa chớ em không hứa chi hết đó nghe.
Tôi nịnh nọt:
– Biết rồi, nhưng một lời em nói là Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy!
Tò He lại nguýt, con mắt có cái đuôi ngoe ngoe nguẩy nguẩy.
Bà ngoại giận điên lên khi người Phước đòi cưới là Tò He chớ
không phải Đăng Tâm. Trời có sập xuống bà ngoại cũng không tin nỗi là Phước từ
chối cô cháu nội cưng tiểu thơ khuê các để chọn một cô cháu ngoại, cũng tiểu
thơ nhưng khá Lọ Lem. Cuối cùng bà ngoại chép miệng nhủ thầm: thôi mấy cái hủ
mắm treo đầu giàn ai rước hủ nào thì mừng hủ đó!
Ba má Phước khuyên lên khuyên xuống, bà con giòng họ nói tới
nói lui, bạn bè bàn qua bàn lại… bởi vì nếu đặt lên cân đo đong đếm thì Tò He
nhẹ hổng. Nhưng từ nhỏ tới lớn Phước đã nổi danh là con cua ngang ngạnh đâu dễ
gì ai thuyết phục.Hơn thế nữa, Phước thành đạt ở Mỹ mà chịu về Viêt Nam lấy vợ
con nhà đàng hoàng do gia đình chọn chứ không dính một cô Mỹ, cô Mễ nào
đó thì cũng thiệt là đại phước, cũng làm nguôi ngoai cơn giận của cả nhà.Thế là
mâm bưng quả rước, Tò He ngang xương trở thành bà bác sĩ dù chỉ mới học lớp 12.
Đã nói con gái học chi cho lắm, muốn được gọi là bà bác sĩ thì cứ lấy một ông
bác sĩ; muốn được gọi là bà giáo sư thì cứ lấy một ông giáo sư; muốn được gọi
là bà kỹ sư thì chỉ việc lấy một ông cư sĩ, ủa quên, một ông kỹ sư!
Trong thiệp hồng không đề tên Tò He Tò Hiếc, Cô là Hoàng Thị Cát Tường, cái tên và con người của cô luôn đem tới niềm may mắn cho người đối diện.
Không ai biết bà ngoại đã âm thầm tự trấn an, ai cũng tưởng bà ngoại buồn giận nên không cho Tò He đến gần bà ngoại. Cho đến khi bà ngoại gọi Tò He vào phòng khóa cửa, ai cũng xanh mặt tái mày lo sợ. Tôi và Đăng Tâm túc trực ở ngoài, chỉ sợ bà ngoại… bức tử Tò He, bắt nó uống thuốc độc hay thắt cổ bằng một dãi lụa trắng như trong kinh điển. Nghe tôi nói, Đăng Tâm tái xanh tái mét gõ cửa dồn dập, bà ngoại nạt:
– Đứa mô ồn rứa.
– Đăng Tâm đây bà nội ơi!
– Vô biểu
Cửa phòng mở hé, Đăng Tâm bước vô, tôi lò dò đi theo:
– Thằng quỷ nhỏ vô luôn đi, khi mô cũng tò tò đi theo con gái như cái đuôi.
Tôi vội vàng nhìn Tò He, nó vẫn tươi tắn chỉ có mấy giọt nước mắt trong veo còn trên má, tôi thở phào nhẹ nhỏm khi nhìn quanh không thấy ly thuốc độc lẫn dãi lụa nào.
Bà ngoại hỏi:
– Bọn mi cần chi mà gấp gáp rứa. Tao đang dạy con Tò He bổn phận làm dâu làm vợ. Tao không muốn về đó họ chưởi nhà mình vô phước!
Tôi lanh chanh:
– Đăng Tâm sợ bà ngoại bức tử Tò He!
– Thằng quỷ, răng mi cứ nhồi vô cái đầu con ngu nớ mấy cái điều bậy bạ?
Đăng Tâm suốt đời là một con nhóc khờ khạo hiền thục không giận hờn ai bao giờ:
– Con sợ thiệt mà bà nội. Rứa là bà nội tha cho Tò He cái tội giựt chồng của con.
Bà ngoại phì cười:
– Chồng mổng chổng mông,
Rồi chép miệng, bày tỏ nhân sinh quan rất hiện đai:
– Tình yêu biết răng mà nói cho ngạ! Tò He có lỗi chi mô khi cái thằng bác sĩ khù khờ nớ thương yêu và muốn rước hắn về thờ?
Trong thiệp hồng không đề tên Tò He Tò Hiếc, Cô là Hoàng Thị Cát Tường, cái tên và con người của cô luôn đem tới niềm may mắn cho người đối diện.
Không ai biết bà ngoại đã âm thầm tự trấn an, ai cũng tưởng bà ngoại buồn giận nên không cho Tò He đến gần bà ngoại. Cho đến khi bà ngoại gọi Tò He vào phòng khóa cửa, ai cũng xanh mặt tái mày lo sợ. Tôi và Đăng Tâm túc trực ở ngoài, chỉ sợ bà ngoại… bức tử Tò He, bắt nó uống thuốc độc hay thắt cổ bằng một dãi lụa trắng như trong kinh điển. Nghe tôi nói, Đăng Tâm tái xanh tái mét gõ cửa dồn dập, bà ngoại nạt:
– Đứa mô ồn rứa.
– Đăng Tâm đây bà nội ơi!
– Vô biểu
Cửa phòng mở hé, Đăng Tâm bước vô, tôi lò dò đi theo:
– Thằng quỷ nhỏ vô luôn đi, khi mô cũng tò tò đi theo con gái như cái đuôi.
Tôi vội vàng nhìn Tò He, nó vẫn tươi tắn chỉ có mấy giọt nước mắt trong veo còn trên má, tôi thở phào nhẹ nhỏm khi nhìn quanh không thấy ly thuốc độc lẫn dãi lụa nào.
Bà ngoại hỏi:
– Bọn mi cần chi mà gấp gáp rứa. Tao đang dạy con Tò He bổn phận làm dâu làm vợ. Tao không muốn về đó họ chưởi nhà mình vô phước!
Tôi lanh chanh:
– Đăng Tâm sợ bà ngoại bức tử Tò He!
– Thằng quỷ, răng mi cứ nhồi vô cái đầu con ngu nớ mấy cái điều bậy bạ?
Đăng Tâm suốt đời là một con nhóc khờ khạo hiền thục không giận hờn ai bao giờ:
– Con sợ thiệt mà bà nội. Rứa là bà nội tha cho Tò He cái tội giựt chồng của con.
Bà ngoại phì cười:
– Chồng mổng chổng mông,
Rồi chép miệng, bày tỏ nhân sinh quan rất hiện đai:
– Tình yêu biết răng mà nói cho ngạ! Tò He có lỗi chi mô khi cái thằng bác sĩ khù khờ nớ thương yêu và muốn rước hắn về thờ?
Tôi lại thở phào, mùa xuân này Tò He lên thuyền hoa (Đăng
Tâm đã thiết kế ý tưởng đó, thuyền hoa xuất phát từ bến sông Như Ý trước nhà,
xuôi về Vỹ Dạ, cập vào Cồn Hến… ăn chè bắp rồi chụp hình cưới nhìn nắng
hàng cau nắng mới lên…)
Không còn ai vét cho tôi lớp mứt gừng cháy thơm phức đáy nồi, không còn ai lột giùm tôi lớp lá bánh tét cho khỏi dơ tay… Từ khi Tò He đi theo chồng tôi bỗng dưng mất mác quá nhiều lợi ích!
Không còn ai vét cho tôi lớp mứt gừng cháy thơm phức đáy nồi, không còn ai lột giùm tôi lớp lá bánh tét cho khỏi dơ tay… Từ khi Tò He đi theo chồng tôi bỗng dưng mất mác quá nhiều lợi ích!
Còn Đăng Tâm, nhóc em họ làm tôi điêu đứng suốt tuổi học trò
vẫn luôn là một con bé sống ở trên mây… Nhiều năm sau gặp lại, nó đã là một ni
sư đáng kính, nhưng tôi cũng vẫn bâng khuâng như cũ… Nếu bà ngoại còn sống, bà
ngoại sẽ nat: Thằng quỷ, khi mô mi mới chịu lớn khôn?!
Nhưng bà ngoại mất lâu lắm rồi, chiều nay, một mình tôi lang
thang trên đồi Forest Lawn lộng gió, những ngôi mộ ẩn chìm dưới cỏ, tôi đốt một
nén nhang thơm bái vọng quê nhà…
Quê nhà yêu dấu của tôi.
NGUYỄN VŨ SINH - NGƯỜI MÊ THƠ ĐẾN CÙNG
TẬN
Biết Sinh từ
thời đăng thơ trên Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc của SG trước 75 nhưng mới quen nhau trên
FB và ngoài đời vài năm trở lại đây. Là người con của Diên Lạc - Diên Khánh - Khánh
Hòa vốn chân chất, hiền hậu như khoai như sắn nhưng tâm hồn luôn bay
bổng theo văn chương. Sinh đúng là người mê thi ca đến cùng tận sau Trường Thi,
Trần Hữu Nghiễm mà tôi đã từng quen biết. Ở đâu, làm gì cũng thơ... đến từng cây
số!. Trường Thi vì thơ mà khổ đến cuối đời. Trần Hữu Nghiễm vì thơ và thuốc lá mà
chết bởi bệnh ung thư... Cay đắng, xót xa là thế nhưng thơ chính là
dưỡng chất nuôi tâm hồn lớn dậy của họ. Chấp nhận đánh đu cùng số phận để cất
lên tiếng lòng của mình khi đi qua sự khắc nghiệt của cuộc sống. Những năm sau
này Sinh viết nhiều và thướng xuyên đăng thơ trên trang Vuông Chiếu của thi sĩ
Luân Hoán. Thơ Sinh có bài đọc để giật mình chiêm nghiệm về cuộc đời, song cũng
có bài chỉ để đọc lướt qua. Tuy nhiên, đây là cách chơi... đẹp của tâm linh và
chữ nghĩa vậy. Nói như nhà thơ Trần Xuân An: “Mình chơi thơ cũng là cách chơi
tao nhã và thú vị... thay vì đam mê cờ bạc, ma túy, rượu chè, gái gú... có hại
hơn đúng không nhỉ? “Chính xác quá Trần Xuân An ạ. Các bạn cứ phát
triển tư duy và cảm hứng. Mỗi người cảm nhận thơ một cách khác nhau. Các bạn cũng
như tôi, may lắm là để lại cho đời một hai bài hoặc vài câu thơ cũng quá đủ rồi. Đến
như thi hào Nguyễn Du cũng tự nhận ”Mua vui cũng được một vài trống
canh...” dù truyện Kiều cho đến nay vẫn là số
một trong thi ca mà chưa có hiện tượng “sao đổi ngôi” nào sánh được!
Một kỷ niệm nhỏ với Nguyễn Vũ
Sinh khiến tôi nhớ hoài: Năm 2017 về Huế giỗ mẹ, tiện đường tôi ghé Diên Lạc
thăm Sinh. Nghe tôi điện thoại cậu ta đã mượn một chiếc xe 7 chỗ ra đón tôi. Gặp
nhau chúng tôi tha hồ tâm sự như những cố nhân. Sinh mời tôi ở lại một vài bữa để
Sinh đưa đi rừng. Nghe thật thích nhưng thấy thời tiết không đẹp nên tôi từ chối. Ở
với Sinh vài giờ là tôi chia tay để lên tàu vào SG. Khi tàu đến Phan Rang thì
nghe Sinh gọi điện báo bão vừa đổ bộ vào Khánh Hòa. Nhà sinh cây cối ngã đổ
nhưng nhà đúc nên không sao.Hú vía thật. Nếu tôi ở lại thì phải tránh bão thêm
vài ngày rồi. Về SG cứ nhớ mãi bữa cơm trưa ở nhà Sinh. Tuy không cao lương mỹ vị
gì nhưng vợ Sinh nấu ăn ngon lạ lùng. Tôi cũng khen Sinh là có phước mới lấy được
người vợ trẻ, đảm đang, hiền thục và khi Sinh làm thơ thì bóng dáng mỹ nhân ấy
hiện lên trong thi ca. Chỉ là những cảm nhận ít oi về NVS như vậy. Có lẽ nên biết
về tác giả Nguyễn Vũ Sinh và thơ nhỉ.
Nguyễn Vũ Sinh là tên thật. Bút hiệu là Nguyễn Văn Ngọc
Sinh. Sinh ngày16.12.1953 tại Diên Khánh - Khánh Hòa.
THƠ NGUYỄN VŨ SINH
TỰ DO VÀ CÁI CHẾT MỎI MÒN
Dù biết trở về rừng nguyên sinh không còn nữa
Nhưng chim thanh vẫn da diết nỗi mong chờ
Từng ngày qua náu trong lồng tù hẹp
Khát khao một lần quay lại chốn xưa.
Nhưng chim thanh vẫn da diết nỗi mong chờ
Từng ngày qua náu trong lồng tù hẹp
Khát khao một lần quay lại chốn xưa.
Giọng hót mỗi ngày vẫn ngân vang thánh thót
Lòng hằng mong tung đôi cánh giữa bầu trời
Trong chiếc lồng hẹp từng ngày qua vẫn đợi
Như loài chim muông khao khát ánh dương soi.
Lòng hằng mong tung đôi cánh giữa bầu trời
Trong chiếc lồng hẹp từng ngày qua vẫn đợi
Như loài chim muông khao khát ánh dương soi.
Thà vòm trời rộng tung bay đôi cánh mỏi
Hít thở tự do hơn chết rũ một đời
Cánh cửa khép bao ngày qua tăm tối
Mong về nguồn xưa xanh bóng núi đồi.
Hít thở tự do hơn chết rũ một đời
Cánh cửa khép bao ngày qua tăm tối
Mong về nguồn xưa xanh bóng núi đồi.
Dù đại ngàn những lòng sông suối cạn
Hàng cây già thưa thớt đứng mồ côi
Lồng son hẹp song khe thưa mắt mỏi
Tiếng chim thanh giờ đã hót nghẹn lời.
Hàng cây già thưa thớt đứng mồ côi
Lồng son hẹp song khe thưa mắt mỏi
Tiếng chim thanh giờ đã hót nghẹn lời.
LẠC DẤU CHIÊM BAO
Nghe tháng ngày hư hao
Đã qua đi thuở nào
Cánh phượng hồng năm cũ
Lạc mộng giấc chiêm bao.
Đã qua đi thuở nào
Cánh phượng hồng năm cũ
Lạc mộng giấc chiêm bao.
Mòn mỏi trông trời cao
Chim xoải cánh phương nào
Bóng sa mờ ải nhạn
Tiếng hót gầy âm hao...
Chim xoải cánh phương nào
Bóng sa mờ ải nhạn
Tiếng hót gầy âm hao...
Kỷ niệm xa rồi sao
Nghe sóng vỗ thét gào
Lời ru nào cho bãi
Đã úa màu xanh phai.
Nghe sóng vỗ thét gào
Lời ru nào cho bãi
Đã úa màu xanh phai.
Vì sao, tại vì sao?
Giọt lệ mãi tuôn trào
Kiệt khô bờ hốc mắt
Bao phận người lao đao?
Giọt lệ mãi tuôn trào
Kiệt khô bờ hốc mắt
Bao phận người lao đao?
Có còn đêm trăng sao
Tỏa sáng trên trời cao
Giờ môi thơm mắt biếc
Cũng nhạt nhòa hư hao.
Tỏa sáng trên trời cao
Giờ môi thơm mắt biếc
Cũng nhạt nhòa hư hao.
Hương thơm trao ngọt ngào
Cứ mãi đợi khát khao
Bao môi người đã mỏi
Mà chẳng hiểu vì sao?
Cứ mãi đợi khát khao
Bao môi người đã mỏi
Mà chẳng hiểu vì sao?
Vì sao và vì sao?
Nỗi nhớ quê cồn cào
Trông mây mờ viễn xứ
Đã lạc dấu chiêm bao.
Nỗi nhớ quê cồn cào
Trông mây mờ viễn xứ
Đã lạc dấu chiêm bao.
MIMOSA
Chân qua bước dạo lang thang
Mimosa nở sắc vàng áo hoa
Phố giờ thưa thớt người qua
Trời Đà Lạt thắm màu hoa dã quỳ
Mimosa nở sắc vàng áo hoa
Phố giờ thưa thớt người qua
Trời Đà Lạt thắm màu hoa dã quỳ
Đường nghiêng níu bước người đi
Mưa bay ướt dấu buồn ghi phố phường
Sớm mai trời đất mờ sương
Ly cà phê nóng quyện hương đại ngàn
Mưa bay ướt dấu buồn ghi phố phường
Sớm mai trời đất mờ sương
Ly cà phê nóng quyện hương đại ngàn
Mimosa nở hoa vàng
Tô trời Đà Lạt thêm ngàn sắc hoa
Cao nguyên phố thị bây giờ
Dấu xưa chừng đã phai nhòa nét hương?
Tô trời Đà Lạt thêm ngàn sắc hoa
Cao nguyên phố thị bây giờ
Dấu xưa chừng đã phai nhòa nét hương?
Nguyễn Vũ Sinh
Trần Hoài Thư - Một đời
cần mẫn với văn chương
Nói đến Trần Hoài Thư, với bất cứ ai có quan tâm đến văn
chương thì không thể không biết. Đó là một anh chàng nhà văn với vóc dáng thư
sinh (dù là một sĩ quan đầy lang bạt kỳ hồ) có cặp kính cận dày cộm rất dễ nhận
thấy. Từ thập niên 60 chúng tôi đã quen biết nhau vì cùng viết trên các tạp chí
văn học của Sài Gòn. Quý nhau và chân tình vì tác phẩm chứ không vì điều gì
khác.Từ đấy, những kỷ niệm nảy sinh khó mà quên được. Tôi nhớ một đêm của năm
1967 Trần Hoài Thư từ Quy Nhơn về Huế ghé thăm nhà văn Lê Bá Lăng ở Vỹ Dạ - sẵn
có mặt tôi ở đó. Thế là cuộc rượu bày ra. Thế là tâm sự triền miên về Quê Hương,
Chiến Tranh, Tuổi Trẻ... Sau đó cùng thức, cùng viết để ngày mai gửi bài cho tạp
chí Văn. Lần ấy, cả 3 bài của 3 chúng tôi được đăng trang trọng trên Văn - lúc ấy
Trần Phong Giao là thư ký tòa soạn.Bạn bè gặp nhau như một thứ mồi lửa để cùng
cháy khi trước tác. Và đó cũng chính là niềm phấn kích vô biên trên dọc đường
văn nghệ. Lúc ấy, Trần Hoài Thư là một sĩ quan của Sư Đoàn 22 Bộ Binh. Lê Bá Lăng
là thầy giáo. Tôi thì còn học đệ tam trường Nguyễn Tri Phương. Sau năm 1968 thì mỗi
người mỗi ngả. Mỗi cánh đời đu bay theo định phận của mình trong khói lửa... Nhưng
luôn đau đáu về nhau qua tin tức anh em, bè bạn.
Anh Trần Hoài Thư lấy vợ ngày tháng nào tôi không còn nhớ... Nhưng tôi biết chắc một điều: Trước khi ký kết bản án chung thân với chị Nguyễn Ngọc Yến thì họ có một mối tình đẹp hơn cả cổ tích. Chị ấy là một độc giả mê văn chương của chàng lãng tử phong trần thường có truyện ngắn đăng trên tạp chí Bách Khoa. Và địa chỉ 160 Phan Đình Phùng - SG trở thành nơi hẹn hò của họ. Sau một thời gian quen biết yêu thương, người đẹp Tây Đô đã gật đầu kết tóc se tơ cùng chàng lính trận - sĩ quan mà diện mạo rất thư sinh ấy. Không được dự đám cưới của anh Trần Hoài Thư song ở nơi cùng cốc khi biết tin tôi cũng mừng cho anh đã chạm vào hạnh phúc sau nhiều năm tháng lẻ loi cùng tận - với trang viết ngồn ngộn hoài bão của tuổi thanh xuân đã trôi mịt mù trong chinh chiến mà chàng cho là vô nghĩa. Do tên tuổi của một nhà văn sau ngày lấy vợ anh được chuyển về quân khu 4 làm phóng viên chiến trường (Lúc này anh mang lon trung úy). Đơn vị có bản doanh ở Cần Thơ và đây cũng chính là nơi chị Yến sinh sống, làm việc.
Phần tôi, sau khi học khóa 7/73 Thủ Đức tôi về Bến Tre. Thế là gần gũi và liên lạc thường xuyên với anh Trần Hoài Thư. Lần nào gặp nhau chúng tôi cũng mong có được trong tay một tạp chí văn chương để mà viết. Từ anh tôi biết thêm một số bạn ở Cần Thơ như Trần Mộng Hoàng, Minh Nguyễn, Phù Sa Lộc, Trần Kiêu Bạc, Nguyễn An Bình... thơ văn của họ luôn nói về thân phận, quê hương, tình yêu và quý trọng nhân văn.
Sau 75 tan tác, tôi về Huế làm ruộng. Trần Hoài Thư bị đi cải tạo. Mất liên lạc.
Năm 1980 nghe Trần Hoài Thư cải tạo về đã vượt biên sang Mỹ. Lúc này tôi đã chìm xuống đất đen và ngưng viết (Cho đến khi TBT Nguyễn Văn Linh đổi mới thì cầm bút trở lại)
Qua tin tức bạn bè bên Mỹ, Trần Hoài Thư đã học thêm để lấy bằng kỹ sư điện tử (thần phục tinh thần của anh). Sau giờ hành chánh trở về nhà anh cần mẫn viết lách và cùng chị Yến lo việc gia đình.
Ở không gian mới. Môi trường mới anh vẫn miệt mài sáng tác. Tác phẩm của anh có bề dày đáng nể - gấp 3 lần sáng tạo trước 75. Một mình đứng ra thành lập cơ sở in ấn Thư Quán Bản Thảo (có sự trợ lực của nhà văn Phạm Văn Nhàn) với chủ trương gìn giữ văn học miền Nam trước 75. Đến nay đã ra được 80 số. Tạp chí văn học nghệ thuật này quy tụ nhiều nhà văn nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng.
Tưởng cứ yên ấm theo thời gian. Có ngờ đâu hai năm gần đây chị Nguyễn Ngọc Yến bị tai biến. Thế là anh gánh thêm chuyện chăm sóc vợ. Nội chuyện lo cho vợ cũng đã hết giờ. Vậy là Trần Hoài Thư phải làm việc gấp 3, 4 lần. Nội lực của anh thật phi thường. Nhưng không biết kéo dài đến bao lâu bởi sức người có hạn? Mới đây nhất anh Nhàn cho tôi biết Trần Hoài Thư lại bị bệnh Gút hành hạ. Ôi trớ trêu thay!
Tôi không bao giờ mong định phận của cặp đôi này như thế cả bởi cái tâm sáng của họ cứ ngời ngời...
Trần Hoài Thư tên thật là Trần Quý Sách, Sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Tác phẩm đã đã xuất bản:
Trước 1975:
Anh Trần Hoài Thư lấy vợ ngày tháng nào tôi không còn nhớ... Nhưng tôi biết chắc một điều: Trước khi ký kết bản án chung thân với chị Nguyễn Ngọc Yến thì họ có một mối tình đẹp hơn cả cổ tích. Chị ấy là một độc giả mê văn chương của chàng lãng tử phong trần thường có truyện ngắn đăng trên tạp chí Bách Khoa. Và địa chỉ 160 Phan Đình Phùng - SG trở thành nơi hẹn hò của họ. Sau một thời gian quen biết yêu thương, người đẹp Tây Đô đã gật đầu kết tóc se tơ cùng chàng lính trận - sĩ quan mà diện mạo rất thư sinh ấy. Không được dự đám cưới của anh Trần Hoài Thư song ở nơi cùng cốc khi biết tin tôi cũng mừng cho anh đã chạm vào hạnh phúc sau nhiều năm tháng lẻ loi cùng tận - với trang viết ngồn ngộn hoài bão của tuổi thanh xuân đã trôi mịt mù trong chinh chiến mà chàng cho là vô nghĩa. Do tên tuổi của một nhà văn sau ngày lấy vợ anh được chuyển về quân khu 4 làm phóng viên chiến trường (Lúc này anh mang lon trung úy). Đơn vị có bản doanh ở Cần Thơ và đây cũng chính là nơi chị Yến sinh sống, làm việc.
Phần tôi, sau khi học khóa 7/73 Thủ Đức tôi về Bến Tre. Thế là gần gũi và liên lạc thường xuyên với anh Trần Hoài Thư. Lần nào gặp nhau chúng tôi cũng mong có được trong tay một tạp chí văn chương để mà viết. Từ anh tôi biết thêm một số bạn ở Cần Thơ như Trần Mộng Hoàng, Minh Nguyễn, Phù Sa Lộc, Trần Kiêu Bạc, Nguyễn An Bình... thơ văn của họ luôn nói về thân phận, quê hương, tình yêu và quý trọng nhân văn.
Sau 75 tan tác, tôi về Huế làm ruộng. Trần Hoài Thư bị đi cải tạo. Mất liên lạc.
Năm 1980 nghe Trần Hoài Thư cải tạo về đã vượt biên sang Mỹ. Lúc này tôi đã chìm xuống đất đen và ngưng viết (Cho đến khi TBT Nguyễn Văn Linh đổi mới thì cầm bút trở lại)
Qua tin tức bạn bè bên Mỹ, Trần Hoài Thư đã học thêm để lấy bằng kỹ sư điện tử (thần phục tinh thần của anh). Sau giờ hành chánh trở về nhà anh cần mẫn viết lách và cùng chị Yến lo việc gia đình.
Ở không gian mới. Môi trường mới anh vẫn miệt mài sáng tác. Tác phẩm của anh có bề dày đáng nể - gấp 3 lần sáng tạo trước 75. Một mình đứng ra thành lập cơ sở in ấn Thư Quán Bản Thảo (có sự trợ lực của nhà văn Phạm Văn Nhàn) với chủ trương gìn giữ văn học miền Nam trước 75. Đến nay đã ra được 80 số. Tạp chí văn học nghệ thuật này quy tụ nhiều nhà văn nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng.
Tưởng cứ yên ấm theo thời gian. Có ngờ đâu hai năm gần đây chị Nguyễn Ngọc Yến bị tai biến. Thế là anh gánh thêm chuyện chăm sóc vợ. Nội chuyện lo cho vợ cũng đã hết giờ. Vậy là Trần Hoài Thư phải làm việc gấp 3, 4 lần. Nội lực của anh thật phi thường. Nhưng không biết kéo dài đến bao lâu bởi sức người có hạn? Mới đây nhất anh Nhàn cho tôi biết Trần Hoài Thư lại bị bệnh Gút hành hạ. Ôi trớ trêu thay!
Tôi không bao giờ mong định phận của cặp đôi này như thế cả bởi cái tâm sáng của họ cứ ngời ngời...
Trần Hoài Thư tên thật là Trần Quý Sách, Sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Tác phẩm đã đã xuất bản:
Trước 1975:
1. Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang
2. Những vì sao vĩnh biệt
3. Ngọn cỏ ngậm ngùi
4. Một nơi nào để nhớ
2. Những vì sao vĩnh biệt
3. Ngọn cỏ ngậm ngùi
4. Một nơi nào để nhớ
Sau 1975:
VĂN
1. Ra biển gọi thầm (Tập truyện)
2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện)
3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện)
4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện)
5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện)
6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện)
7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút)
8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện)
9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa)
10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện)
11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện)
12. Truyện từ Văn (Tập truyện)
13. Truyện từ Trình Bày, Văn Học, Khởi Hành... (Tập truyện)
14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện)
15. Tản mạn văn chương (tập I)
16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện)
2. Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối (Tập truyện)
3. Về hướng mặt trời lặn (Tập truyện)
4. Mặc niệm chiến tranh (Tập truyện)
5. Đại đội cũ, trang sách cũ (Tập truyện)
6. Thế hệ chiến tranh (Tập truyện)
7. Thủ Đức gọi ta về (Tạp bút)
8. Đánh giặc ở Bình Định (tự truyện)
9. Hành trình của một cổ trắng (truyện vừa)
10. Ở một nơi trên Trường Sơn (tập truyện)
11. Truyện từ Bách Khoa (Tập truyện)
12. Truyện từ Văn (Tập truyện)
13. Truyện từ Trình Bày, Văn Học, Khởi Hành... (Tập truyện)
14. Truyện từ Vấn Đề (Tập truyện)
15. Tản mạn văn chương (tập I)
16. Giấc mơ Giáng Sinh (Tập truyện)
THƠ
1. Thơ Trần Hoài Thư
2. Ngày vàng
3. Nhủ đời bao dung
4. Ô cửa
5. Xa xứ
6. Quán
7. Vịn vào lục bát
2. Ngày vàng
3. Nhủ đời bao dung
4. Ô cửa
5. Xa xứ
6. Quán
7. Vịn vào lục bát
Văn của Trần Hoài Thư:
Trần Hoài Thư
Người Cha
Trần Hoài Thư
Người Cha
Bên trời. Ai đã gọi bên trời, lời thất thanh, đêm bật rách
ròng ròng lệ đỏ. Ai đã gọi bên trời, ngựa đã nản chân bon, hí lên tiếng hí cuối
cùng, và mây ngũ vồng đưa ngựa già về miền tịch lặng. Bên trời, thời đại này,
người có thể thấy mặt nhau từ xa vạn dậm, địa cầu gần gũi vô cùng, thư từ đến với
nhau trong tích tắc, nhưng cũng có tín hiệu đến quá chậm quá tức tửi, quá đau.
Tuần quạ Lúc con ở bên này ung dung lái xe trên xa lộ, ngày 8 tiếng trong hảng
miệt mài, đêm ngủ yên lành trên nệm dày, trong chăn dạ, thì bên kia Ba lại bỏ đị
Ba nhắm mắt. Ba không còn đợi thằng con, đứa cháu trở về. Và chấm hết.
Bên trời. Buổi sáng đến sở. Ngồi yên. Ba ơi, chưa bao giờ con
lại cảm thấy cô đơn như bây giờ. Muốn bỏ mà đi. Muốn thèm một lần mếu máo. Muốn
gọi một tiếng ba từ lâu chưa một lần được gọị Đi đâu bây giờ để khỏi đập đầu,
khỏi đau quặn lồng ngực, để khỏi cắn miệng, cắn môi, mà nuốt dòng lệ mặn. Thì
ra, bây giờ con mới hiểu thế nào là một nỗi mất mát của một đời ngườị Cái mất
mát sẽ chẳng bao giờ được đền bù hay có thể được tìm trở lạị Dù là một hạt bụi
đi nữa. Dù là một sợi tóc đi nữạ Cái mất mát mà ai cũng có một lần chấp nhận.
Nhưng mà thưa ba, chiến tranh giờ đã tàn lụi, đâu còn nỗi mất mát nào như những
nỗi mất mát như ngày xưa. Người chết giờ đây, dù sao cũng còn được an ủi. Có
nghĩa là, trước khi nhắm mắt vẫn còn nhìn lại một lần những người thân yêu. Trừ
ba. Thưa ba, bài này, con viết cho ba.
Trang giấy này con khóc cho ba. Một hai ngày, hay trăm ngàn
ngày, con sẽ nói với ba, thầm thì với ba, kể lể với ba. Cái đau này con xin giữ
lấy, cho riêng con. Không ai trong nhóm biết cái mất mát này. Con sẽ dấu, như
chẳng bao giờ xin cái ngày phép tang chế thường lệ. Bởi vì, với con, ba không
chết. Ba sống mãi. Ở mãi trong đời con.
Từ Quảng Bình, mồ mả ông bà ba bỏ lại. Bỏ lại, như lần đầu
theo con tàu sắt ra khơi xuôi về Nam. Ba đã lựa chọn đời sống và tương lai cho
con cháu. Nhưng vào ngày ấy, ba vẫn còn có một chỗ để mà đến. Dù những ngày đầu
tiên lam lũ. Dù chiếc áo lương đen của ba càng lúc càng mờ phai giữa một thành
nội đóng cửạ Dù nghề thầy thuốc của ba càng lúc càng khó khăn tội tình giữa một
thế giới Tây y. Ba đã chọn lựạ Đau đớn mà chọn lựa. Bỏ Quảng Bình, bỏ Đồng Hới,
bỏ mồ mả ông bà, ba lạy ba lạỵ Bỏ cơ nghiệp, nhưng cơ nghiệp có gì ở cõi này,
trừ tiếng gọi thầm lặng của một kiếp đời: Tự do yêu và ghét. Ngày ấy con còn
quá nhỏ để hiểu tại sao người ta dám bỏ cả một phần đời quý báu nhất của con
ngườị Tại sao người ta lại dám chấp nhận đến một nơi vô định, chấp nhận một phần
đất lạ lẫm của miền xa. Tại sao người ta lại dám phủi tay, bỏ sạch của cải mồ
hôi nước mắt, công lao mà mình đã cố tạo dựng, và cả một nơi chốn yêu dấu nhất
của một con người gọi quê hương. Đêm nay, mấy mươi năm trở lại một thời gian, một
không gian cũ, để lại càng hiểu hơn về nỗi đau bầm của một người bỏ quê nhà. Ba
chưa một ngày dính líu với bộ máy. Ba cũng chưa một ngày tung hô đả đảo. Ba đứng
bên lề: giản dị như chiếc áo lương đen ba mặc suốt năm suốt tháng. Cao quí như
nghề thầy thuốc mà ba đã giúp đời, giúp bà con, lâng láng. Và khổ hạnh như một
nhà tu. Và ung dung như một vị đồ nho. Và cô độc như người còn lại cuối cùng của
một thế giới. Như vậy tại sao ba lại mang thân gà trống tục tục bầy con xuống
con tàu hả mồm. Thì ra, ba đã tiên tri được sự thật. Một sự thật mà ngay cả thế
hệ của con sau này cũng chẳng bao giờ biết nổi. Và chao ơi, đến khi biết được
thì đã quá muộn màng.
Những ngày đầu tiên ở Huế, thì quá lam lũ. Huế có những ngày
mưa dầm, có những buổi trời lạnh căm căm, và gió thì cắt bầm da thịt. Và ba đã
đứng ở giữa Huế, đi ở giữa Huế, chống đỡ cùng đời sống ở Huế. Vẫn chiếc áo
lương đen bạc màu. Vẫn chiếc áo tơi nylon màu sậm rêu đã rách. Và vẫn chiếc dù
đen. Ba đã không những chống cự cùng cơm áo mà còn chống cự cùng cái nền văn
minh đang mỗi ngày một lấn áp xã hội. Nhưng nếu cơm áo đã làm ba lao đao lận đận,
thì cái nền văn minh kia đã làm ba cô độc hàng vạn lần. Ở đâu người ta cũng
quay mặt. Ở đâu, khói bụi, và sản phẩm của những luồng gió từ phương Tây vẫn cuốn
lốc, vẫn vần vũ. Ba đã đi tìm lại những người thân chủ cũ. Mong đợi họ để ba bấm
tay xem lại kinh mạch, để ba kê toa thuốc, và cuối cùng là ít tiền công. Ba
cũng đã đi qua những phòng mạch bác sĩ chen chúc người. Ba nhìn người ta đang bị
đầu độc bởi khói xe, dầu mỡ, nước đá, trụ sinh. Và càng đau hơn nữa, ba phải
nhìn những trang giấy kinh điển, những giòng chữ hiền nhân, những suy nghĩ vạn
đại từ từ bay cuốn hay vùi dập dưới bước chân người không thương tiếc. Khi ấy
ba chỉ biết cúi đầu, lưng khom xuống, và lượm và nhặt. Khi ấy ba buồn bã nhìn về
phía Đại Nội, trường Quốc Tử Giám, nơi mà ngày xưa ba đã từng học những giòng
chữ của thánh hiền. Huế vào những ngày đầu tiên, mây thì màu chì, và sũng nước.
Những con quạ đen in bóng trên thành quách cũ, từ Thượng Tứ qua Đông Bạ Huế vào
những ngày đầu tiên, đêm thấp thoáng những ngọn đèn lu mờ giữa dòng sông Hương,
và tiếng hò Nam Ai thỉnh thoảng cất lên ủ dột. Huế, học trò Đồng Khánh, Quốc Học,
bãi học qua cầu như cả một đàn bướm. Huế có đài phát thanh bên cầu, còn nghe âm
vang tiếng đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễn hữu Thiết. Huế có tiếng rao hàng rong
não nuột trong bóng tối âm u từ đường Trương Định về Hàng Đoát. Và Huế có một
mình ba, đứng lại, còn lại một mình.
Nhưng ba không bao giờ chịu làm kẻ thua cuộc. Ba vẫn mặc chiếc
áo lương đen, mang chiếc dù đen, chiếc áo tơi màu rêu sậm, và đi bộ, đi mãi, đi
miết. Từ Morin về Đập Đá. Từ Morin lên Phủ Cam. Từ Morin qua cầu Trường Tiền,
qua Đông Ba, Thượng Tứ, vào Hồ Tịnh Tâm, ngược lên Bến Ngự. Dáng ba nhỏ, gầy.
Hai chân ba khẳng khiu, vai hơi khom xuống. Đôi khi một chiếc xe phóng qua vũng
nước, và cả người ba bị nước bắn tung tóe. Đôi khi những con chó hung dữ sẵn
sàng nhảy bổ vào người ba, nếu không nhờ cây dù bên người, chắc ba sẽ phải bỏ
cuộc. Rồi ba trở về cùng con. Mái nhà tôn nào bên đường Trương Định, nền nhà đất
thịt, chiếc giường tre nương tựa cơ hàn. Những đêm mùa đông năm ấy, Huế trở trời,
lạnh căm căm da thịt. Vì lạ lẫm, và vì hơi lạnh buốt bốc lên từ nền đất, thấm
qua tấm chiếu, qua cả chiếc mền dạ nhà binh, khiến con không thể nào ngủ được.
Và ba cũng vậy, nằm bên con, mắt mở. Chúng ta đã không thể tưởng tượng có một
ngày chúng ta phải nương thân tại nhà của một người khác, trong khi ở quê nhà,
chúng ta có cả ngôi nhà gạch khang trang, có nền xi măng, giường rộng, chiếu
hoa. Chúng ta không thể tưởng tượng một ngày ba dẫn con đi tìm quán ăn nghèo
nàn bên chợ đông ba, để nghe mệ chủ quán bĩu môi nói trắng trợn: Quán tôi dơ bẩn,
ông nên tìm chỗ khác, chỉ vì ba cẩn thận lấy tờ giấy mang trong mình lau đôi
đũa, cái chén. Mắt ba đã mở trong đêm, nhìn lên chiếc mùng, hay đang trở về
cùng quá khứ. Với ba, con biết, lệ thầm ấy là quá khứ. Và với con, lệ thầm ấy
là mền không đủ ấm, là khoảng đêm dày dặc, là gió bên ngoài hú từng cơn, đập
vào mái tôn kêu âm ỉ, là cả thân thể co rúm lại trước cái lạnh bốc xuống từ mái
tôn, bốc lên từ đất...Phải, với ba, lệ thầm ấy là quá khứ. Con người ba đã nặng
trĩu quá khứ. Ngay ở hiện tại này, ba cũng là ngọn đèn của quá khứ. Ngày xưa, mỗi
lần ba ngủ không được, ba vẫn trở dậy pha trà và đọc sách thánh hiền, hay ngâm
những vần thơ cổ. Bây giờ không ai cho phép ba trở dậy, để ngồi độc ẩm cùng
bóng đêm. Người ta đang ngủ. Nếu có thức chăng là những hồn ma từ những thành
quách rêu rong.
Chúng thức để mà khóc cho một thời đại. Nhưng dù sao, chúng vẫn
là hồn ma. Còn ba, ba lại là con người thật. So với chúng, ai khổ hơn aỉ
Vâng, ai khổ hơn ai. Dù sao những hồn ma kia cũng vẫn còn bầu
bạn. Còn ba, một người còn sót lại cuối cùng, quá chừng lẽ loi, và cô độc. Nếu
có bạn chăng là con quạ đen trên nhánh cây phượng gầy bên Thành Nội hay tiếng dế
khóc than dưới mấy tầng gạch cổ. Từ một xóm nghèo bên Morin, ba lại dẫn con đi
nương nhờ tại Đập Đá, rồi qua Bến Ngự, rồi về Phủ Cam, rồi qua Thành Nội... Cơm
áo cuối cùng cũng xong. Những bà chủ nhà nghiệt ngã cuối cùng cũng xong. Những
dốc lên dốc xuống cuối cùng cũng xong. Những ngày hừng hực nóng và những đêm buốt
tận xương tủy cuối cùng cũng xong. Dòng sông Hương vẫn xanh lơ. Đêm Nam Ai, Nam
Bình vẫn bềnh bồng trên những chuyến đò côi cút. Người di cư bắt đầu hòa nhập
vào cuộc sống mới. Ông Bá đã trở thành một người thân tín của chế độ, và được
giao một nhiệm vụ cao cấp của đảng chính quyền. Anh Trinh được lên Trung sĩ nhất.
Bác Cấn được phong trung sĩ nhất hậu cần. Ông Phán lên làm Phó Tỉnh trưởng hành
chánh. Bây giờ những người di cư mới tìm lại ba như ngày xưa họ đã tìm đến.
Thân chủ của ba đã không còn bao gồm trong thành phố Huế mà đã được bung ra đến
Đà Nẵng, Hội An. Người ta cuối cùng đã tìm đến một vị thầy sau bao năm ngoảnh mặt.
Và trong lòng chiếc xe hàng Phi Long, Tiến Lực màu vàng da cam ấy, ba vượt đèo
Hải Vân, xuống bến xe, và lại đi bộ, đi hoài đi mãi. Áo lương đen, chiếc mũ dạ,
chiếc dù đen. Và cái túi áo mỗi lúc mỗi đầy những trang giấy thánh hiền. Phố lầu
cao che mái ra bờ lề, bóng ba lẽ loi giữa chợ người. Ngày mưa cũng như ngày nắng.
Ngày lạnh căm căm cũng như ngày lửa oi nồng, một mình đông tay nam bắc, bước tới,
đi tới. Để làm gì. Hai trăm đồng học phí một tháng cho lớp Đệ Ngũ của trường Việt
Hương. Ba trăm đồng học phí cho lớp Đệ Tứ của trường Bán Công, để con tiếp tục
đến trường. Và đêm đêm, ba ngồi viết hàng trăm verbe qui tắc hay bất quy tắc,
những demander à hay demander pour, thành ngữ, văn phạm trên cuốn sổ tay bìa đỏ.
Ba hãnh diện nhắc lại ngày ba cứu dân làng thoát khỏi lần bố ráp của Tây bởi vì
ba là người nói và viết được tiếng Pháp. "Ông quan ba đọc xong thơ của ba,
bèn kêu ba tới và bắt tay kêu ba là monsieur". Ba nói về cuốn tự điển
Larousse dày cả ngàn trang mà ba thuộc lòng. Người ta thường nói về một người mẹ
như một hình ảnh yêu quí nhất, tôn thờ nhất, dịu hiền nhất, nhưng với ba, cho
con được ngừng lại một giây, một phút, để cho nước mắt cứ tuôn, để đôi mắt con
mờ nhạt, để hiểu rằng con được tự hào có một người cha còn tuyệt vời hơn cả một
người mẹ nữa. Có lần con thấy con gà trống dẫn đàn con đi kiếm mồi, con vật sao
cô dơn quá. Nó có mồng, cựa, bộ lông sặc sở, uy dũng hiên ngang làm sao, thế mà
cứ mỗi lần tìm được mồi, nó lại kêu tục tục, gọi đàn con đến... Cũng như ba. Tục
tục hoài. Hết tay này quạt lại đến tay kia quạt trong những đêm mùa hè dưới mái
nhà tôn. Chiếc mền đắp lại trên người con, trong đêm giá buốt. Và đôi khi, giữa
đêm, con còn nghe tiếng ba nằm mớ. Ú ớ.
Một ác mộng cũng nên. Tại sao ba không bao giờ kể cho con nghe về cái ác mộng ấy để con hiểu thế nào là lịch sử, những biến cố của đất nước hay cái thảm kịch của chính ba? Phải, ba đã dấu con. Ba đã dấu về một người đàn bà mà ba đã cưới về làm vợ, về một người nào mà lẽ ra con còn được gọi cái tiếng mẹ như mọi người. Ba đã dấu, chẳng bao giờ nhắc nhở, hờn giận. Nhưng ba không thể dấu nỗi những tiếng mớ u uẩn trong đêm. Rằng, nỗi buồn câm nín mà ba mang theo trên hai vai gầy guộc của một ông đồ, một người đàn ông, một người cha hẩm hiu đã trở thành tiếng ú ớ buồn thảm.
Một ác mộng cũng nên. Tại sao ba không bao giờ kể cho con nghe về cái ác mộng ấy để con hiểu thế nào là lịch sử, những biến cố của đất nước hay cái thảm kịch của chính ba? Phải, ba đã dấu con. Ba đã dấu về một người đàn bà mà ba đã cưới về làm vợ, về một người nào mà lẽ ra con còn được gọi cái tiếng mẹ như mọi người. Ba đã dấu, chẳng bao giờ nhắc nhở, hờn giận. Nhưng ba không thể dấu nỗi những tiếng mớ u uẩn trong đêm. Rằng, nỗi buồn câm nín mà ba mang theo trên hai vai gầy guộc của một ông đồ, một người đàn ông, một người cha hẩm hiu đã trở thành tiếng ú ớ buồn thảm.
Cuối cùng, ba vẫn là người để người ta tìm đến, sau khi bệnh
tình của họ, và người thân, bác sĩ đã bó tay. Vợ họ hiếm muộn con cái. Con trai
họ mộng tinh di tinh trầm trọng. Có người bị mất ngủ kinh niên. Và mỗi lần kê
toa thuốc xong, ba không bao giờ quên một câu dặn dò: Nhớ là đừng bao giờ dùng
nước đá. Nước đá hàn, uống vào sẽ hại không ít thì nhiều. Ba đã dặn bệnh nhân của
ba như vậy là vì lương tâm của vị thầy thuốc hay là vì cái nền văn minh kỹ thuật
đang cuốc lốc mọi thứ cổ truyền mà ba tìm cách chối bỏ? Với con, cả hai. Ba vui
mừng khi thấy con bệnh mà ba chữa trị đã bình phục, nhưng ba đau khổ không ít
khi nhìn cốc nước đá lạnh mà người ta đã mời ba. Ba đã cố giải thích với họ về
một nền văn minh chết người, đang tìm cách làm hủy diệt loài người. Tại sao những
người xưa sống lâu cả trăm tuổi? Tại sao người ta mắc bệnh tâm thần ngày càng
nhiều? Thuốc trụ sinh là gì chẳng qua là nấm? Và cả bao nhiêu loại thuốc men
khác cũng bắt nguồn từ cây cỏ? Đôi khi gặp một vài người tri kỷ, ba lại nói về
cái độc hại và phá sản của một nền văn hóa ngoại lai. Nó làm băng hoại gia đình
và xã hội. Ba trách thế hệ trẻ tuổi sa đọa, quên hết cội nguồn, thương mây khóc
gió, không còn biết trọng thánh hiền. Nhưng ba không biết, con đang ở trong thế
hệ trẻ tuổi mà ba đã kết án. Ba không biết tuổi trẻ của con đang nổi loạn. Tuổi
trẻ của con đầy những xâu xé, giành giựt, bị hành hạ bởi ý thức. Qua sách vở
con đọc, qua lịch sử mà con đã sống và lớn lên để thừa hưởng, qua xứ Huế mà con
đã cô đơn, qua cha mẹ phân ly, qua tình yêu mà con đã vấp phải, qua mấy bức tường
thành mà con bị giam hãm. Ý thức đẩy con xa ba, và càng xa, ba càng buồn vì con
hơn ai hết. Ba muốn con lập thân, có nghĩa là đậu bằng cấp, có chức vụ để người
đời trọng nể. Nhưng con thì lại khác, ngồi trong thư viện, đọc trang sách của
Sartre mà lạc loài, mà hư vô, mà nôn mửa. Đời là gì. Chiến tranh ở đâu đó, trên
những trang nhật báo mỗi ngày. Con đọc Tội ác và Hình Phạt mà tìm hình bóng con
qua người trẻ tuổi. Tại sao? Đầu óc con muốn nổ bùng. Con lê dép Nhật, để tóc
dài, như thách đố cùng Huế, cùng xã hội. Con bỏ lại sách vở, bằng cấp ở phía
sau, để coi đời là áng mây trắng. Con đuổi theo áng mây ảo tưởng. Con coi đời
là cuộc chơi. Chẳng cần thắc mắc. Khi người ta bắn con, viên đạn phá toạc da thịt
con, những mảnh lựu đạn cắm sâu trong thịt con, con vẫn nhìn lên bầu trời,
không oán trách, giận hờn hay đổ tộị Rồi ở đâu, trong cõi này, những áng mây sẽ
dịu dàng đậu lại, nương nhờ nhau, che chở nhaụ Rồi ở đâu, cũng có ngày người
Nam ôm kẻ Bắc, người Bắc ôm kẻ Nam...Nhưng cuối cùng, con đã hiểụ Người thật
thà không thể sống chung với ma quỉ.
Thôi thì đành ra đi Ở Việt Nam đâu còn gì nữa để mà nói về
con người, về tình tự, về mây trắng. Nhưng khi bỏ đi, thì phải bỏ những gì yêu
dấu nhất trong đờị Bao nhiêu năm trong nước con cứ hẹn lần hồi một ngày về phép
thăm ba, thăm Huế, để nói với ba rằng con vẫn còn bình an, và để nhìn lên lư
nhang đầy ngập tro và trăm ngàn que nhang tàn chen chúc, nhưng cuối cùng chỉ là
một lời vỗ về hoang tưởng. Cháu nội của ba vẫn chưa được thấy mặt nộị Giấc mơ
nào về quê, để ba nhìn cháu nội đã vỡ vụn tan tành. Và giờ đây, con lại xa ba
thêm một nửa vòng trái đất. Lại còn phải thêm một lần nếm mùi bỏ xứ ra đị Lại
thêm một lần, bóp còi cho tiếng còi lạc vào chốn mịt mùng. Lại thêm một lần, những
bánh xe cứ lăn hoài không biết ngày nào trở về cố hương. Ba thì lại xạ Nói gì về
một lời tiên tri cũ để chợt giật mình. Thì ra tóc con cũng đã nhuốm bạc rồi Tin
nhà cuối cùng cũng phải đến như qui luật của vũ trụ nhân sinh. Con đang nhắm mắt
đây, bởi vì, con biết Đất Trời Tiên Phật đang bao bọc ba, dìu dẫn ba, và chưa
chắc, ba đang có mặt tại chốn nàỵ Con nhắm mắt, giòng lệ nóng tuôn trào, không
ai biết, mà chẳng cần ai biết. Bởi vì chỉ có ba biết con và con biết ba là đủ.
Con biết có một người can đảm nhất trên đời, đạo hạnh nhất trên đời, và cũng buồn
bã nhất trên đờị Tháng ba hay tháng chạp, năm này hay năm khác, đêm xứ Mỹ hay
ngày xứ Mỹ, qua thị trấn này hay về thị trấn khác, những con đường hun hút mênh
mông rồi cũng cuối cùng về lại một điểm. Cái điểm đó, có ba mái tóc bạc phơ, bộ
áo lụa trắng, đôi mắt mù lòa, hun hút trong dòng thiên cổ.
THƠ TRẦN HOÀI THƯ
HUẾ GỌI TA VỀ
Có một dòng sông mềm như dải lụa
Có hai ngôi trường như đôi tình nhân
Có một con đường mỗi ngày hai bận
Anh đưa em về, qua bến qua sông
HUẾ GỌI TA VỀ
Có một dòng sông mềm như dải lụa
Có hai ngôi trường như đôi tình nhân
Có một con đường mỗi ngày hai bận
Anh đưa em về, qua bến qua sông
Có một chiếc cầu bắc qua thành phố
Thành phố mù sương, phố cổ mù sương
Có anh tội tình như loài cổ thụ
Em đậu trên cành, làm anh bâng khuâng
Thành phố mù sương, phố cổ mù sương
Có anh tội tình như loài cổ thụ
Em đậu trên cành, làm anh bâng khuâng
Có buổi trời mưa, trời mưa không ngớt
Có em xăn quần, bên đập chờ ghe
Không biết nhìn lên hay là nhìn xuống
Thôi thì quay về, để khỏi u mê
Có em xăn quần, bên đập chờ ghe
Không biết nhìn lên hay là nhìn xuống
Thôi thì quay về, để khỏi u mê
Có một ngôi nhà, muốn vào không dám
Có một nỗi buồn cứ bám chung thân
Con sóc dại khờ gặm hoài trái đắng
Và anh dại khờ nên mới yêu em.
Trần Hoài Thư
Có một nỗi buồn cứ bám chung thân
Con sóc dại khờ gặm hoài trái đắng
Và anh dại khờ nên mới yêu em.
Trần Hoài Thư
THẾ HỆ CHIẾN TRANH
Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân, vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân
Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân, vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân
Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu...
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai, tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu...
Trần Hoài Thư
Tôi nói câu này về Hồ Trọng Thuyên không ngoa ngôn chút nào bởi
vì anh ta sinh ra là để ôm choàng lấy chất lãng mạn từ nơi chôn nhau cắt rún là
Huế cho đến vùng đất lành chim đậu như Sài Gòn hay Hoa Kỳ xa hun hút. Quen nhau từ
thập niên 60. Thuyên là một anh chàng đẹp trai, đàn hay hát giỏi nhưng không hiểu
sao trời bắt anh ta luôn thất tình. Lũ chúng tôi của thập niên 60 hồi ấy ở Huế gồm
Lê Văn Tài, Viêm Tịnh, Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Huỳnh Ngọc Thương, Ngụy Ngữ... thường
tụ hội nhau đàn ca xướng hát, viết báo, làm thơ dù tuổi trẻ chúng tôi không khỏi
bị chi phối bởi chiến tranh. Thời ấy, lang thang đường Trần Hưng Đạo Huế, anh
nào cũng kè kè tờ bán nguyệt san Văn - để khoe với nhau mình có bài đăng ở đó. Tờ
tạp chí nổi tiếng chọn bài khó nhất. Hồ Trọng Thuyên không viết bài nhưng luôn đồng
hành cùng chúng tôi.Và anh ta thất tình ai, dù có giấu giếm chúng tôi cũng biết (Thuyên trái ngược với Viêm Tịnh - anh chàng này có tiếng đào hoa ở Huế). Cũng do trời
phú, cũng bởi thất tình mà Hồ Trong Thuyên hát những tình khúc buồn rất truyền
cảm và da diết. Đó là những tình khúc của Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Vũ
Thành An, Phạm Duy, Phạm Đình Chương... Cho dù ở những quán cà phê nổi tiếng của
Huế hay nhà riêng của bạn bè “mệ”. Thuyên luôn phơi bày lãng mạn và trái tim đa
cảm của mình qua tiếng hát. Thường thì những anh chàng nghệ sĩ ôm đàn hát rất dễ
chinh phục trái tim của những thiếu nữ (cho dù thiếu nữ đó có kín cổng cao tường
hay có một chút hư thân chăng nữa). Vậy mà với mệ Thuyên tôi không tìm ra dấu
tích của ái ân mật ngọt nào. Đời chàng cứ trôi đi như thế cho đến lúc bị động
viên vào quân trường Thủ Đức. Ra trường, chàng cũng may mắn hơn người là về đơn
vị ngay chính quê nhà. Thời gian này tôi cũng như lục bình trôi. Một ngày của thập
niên 70, khi về thăm lại Huế tôi lại gặp mệ Thuyên với cấp bậc thiếu úy làm
phân chi phu trưởng. Vẫn lãng mạn như thường. Anh kéo tôi tới đơn vị chơi. Vẫn giọng
hát da diết ấy khiến tôi bùi ngùi nhớ người yêu thương cũ học trường Kiểu Mẫu
ngày nào. Được biết mệ Thuyên vẫn chưa có ai để mặn muối cay gừng.
Sau năm 75, vẫn như mọi người mệ đi cải tạo. Khi về, không sống nổi ở Huế Hồ Trọng Thuyên vào Nam. Thời gian này, Thuyên lang thang và gặp bạn đồng hương cũ như Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Vương Kiều, Nguyễn Văn Trai, Quý Lê Thị Ngọc... Họ thường tụ lại ở quán cà phê đầu đường Sương Nguyệt Ánh. Ngoài chuyện văn nghệ, họ thường phơi bày tâm tư mình về một nơi yêu dấu nhất-Huế. Huế ở dễ giận mà đi thì nhớ đến quắt quay, đúng không mệ Thuyên? Nhắc đến quán cà phê thì cũng phải nhắc đến cơ sở tăm nhang ớ gần ngã ba Ông Tạ. Đó là cơ sở làm tăm nhang của vợ chồng Tập - Kiều Huệ. Ôi thời gian ấy khó mà quên. Đời sống tuy không khấm khá gì nhưng cặp đôi này rất thích bạn văn nghệ - nhất là bạn bè Huế. Do đó, anh em quần tụ về đây như Vương Kiều, Tôi, Song Đầu Lân, Nguyễn Thu, Nguyễn Duy Công, Hồ Trọng Thuyên... Kỷ niệm còn mãi để nhớ nhưng tôi quên mất ngày, tháng năm nào... Một đêm trăng đẹp (tôi gọi là đêm thu SG) sau chầu nhậu quất cần câu ở nhà Tập, anh em ra về hết chỉ còn tôi và Hồ Trọng Thuyên ở lại. Tôi kiếm cái võng ngả lưng... Thuyên vì vẫn ôm đàn hát những bản tình ca một mình. Chợp mắt đâu được nửa tiếng, Thuyên lay tôi dậy: “Ui chao ơi! Trăng tuyệt vời rứa mà mi ngủ hí”. Tôi làu bàu: “Xỉn rồi đẹp chi mà đẹp! Để tau ngủ. Mi muốn như thi bá Lý Bạch thì cứ ôm trăng mà chết đi...”. Nói là nói vậy nhưng tôi cũng trở dậy thức cùng Thuyên đến tàn khuya. Có ai lãng mạn như Thuyên không? chắc có anh chàng Trần Thoại Nguyên nhỉ. Nửa đêm leo lên mái chùa nhìn trăng rồi ứa ra thơ đó.
Vì sinh kế tôi phải trôi cùng cơm áo. Bẵng đi một thời gian thì nghe tin Hồ Trọng Thuyên lấy vợ. Có một công chúa tình nguyện thề hẹn trăm năm với chàng Hoàng Tử thất tình rồi. Ngạc nhiên chưa? Thế là mệ Thuyên giã từ những ngày tháng ngao du cũ để làm chồng...
Với tôi đó đó là niềm vui thứ nhất để được chia sẻ với bạn. Niềm vui thứ hai là sau mấy năm Hồ Trọng Thuyên và công chúa sang sinh sống ở Mỹ.
Thời gian sinh sống ở Mỹ, qua tin bạn bè là Hồ Trọng Thuyên và họa sĩ Nguyễn Đình Thuần như bóng với hình. Cũng văn nghệ đình đám... Con người tình cảm dù sống nơi đâu, làm gì cũng luôn chân tình và lồ lộ cái tâm. Mệ Thuyên không quên bạn bè. Mỗi năm đều gửi về cho Anh em Huế ở SG tí ít tiền để lai rai ba xị (và dĩ nhiên là nhớ mệ) và cũng có vài lần Thuyên về thăm quê. Có lần thấy tôi thích cái áo thun Mỹ anh đang mặc trên người. Mệ cởi ra tặng ngay.
Mới đây tôi được hung tin từ Từ Hoài Tấn, Hồ Trọng Thuyên đã qua đời bên Mỹ vì bạo bệnh. Sẽ hỏa thiêu và chị Thuyên cùng con gái mang tro cốt về quê nhà ở Huế. Lá rụng về cội mà.
Tôi sửng sờ thật.
Rồi nhớ một câu nói của ai đó: “Kẻ ác thì sống lâu. Người hiền thì mau chết...” mà xa xót lòng!.
Cầu mong hương linh mệ Thuyên sớm an nhiên nơi cõi vĩnh hằng...
Sau năm 75, vẫn như mọi người mệ đi cải tạo. Khi về, không sống nổi ở Huế Hồ Trọng Thuyên vào Nam. Thời gian này, Thuyên lang thang và gặp bạn đồng hương cũ như Nguyễn Miên Thảo, Từ Hoài Tấn, Vương Kiều, Nguyễn Văn Trai, Quý Lê Thị Ngọc... Họ thường tụ lại ở quán cà phê đầu đường Sương Nguyệt Ánh. Ngoài chuyện văn nghệ, họ thường phơi bày tâm tư mình về một nơi yêu dấu nhất-Huế. Huế ở dễ giận mà đi thì nhớ đến quắt quay, đúng không mệ Thuyên? Nhắc đến quán cà phê thì cũng phải nhắc đến cơ sở tăm nhang ớ gần ngã ba Ông Tạ. Đó là cơ sở làm tăm nhang của vợ chồng Tập - Kiều Huệ. Ôi thời gian ấy khó mà quên. Đời sống tuy không khấm khá gì nhưng cặp đôi này rất thích bạn văn nghệ - nhất là bạn bè Huế. Do đó, anh em quần tụ về đây như Vương Kiều, Tôi, Song Đầu Lân, Nguyễn Thu, Nguyễn Duy Công, Hồ Trọng Thuyên... Kỷ niệm còn mãi để nhớ nhưng tôi quên mất ngày, tháng năm nào... Một đêm trăng đẹp (tôi gọi là đêm thu SG) sau chầu nhậu quất cần câu ở nhà Tập, anh em ra về hết chỉ còn tôi và Hồ Trọng Thuyên ở lại. Tôi kiếm cái võng ngả lưng... Thuyên vì vẫn ôm đàn hát những bản tình ca một mình. Chợp mắt đâu được nửa tiếng, Thuyên lay tôi dậy: “Ui chao ơi! Trăng tuyệt vời rứa mà mi ngủ hí”. Tôi làu bàu: “Xỉn rồi đẹp chi mà đẹp! Để tau ngủ. Mi muốn như thi bá Lý Bạch thì cứ ôm trăng mà chết đi...”. Nói là nói vậy nhưng tôi cũng trở dậy thức cùng Thuyên đến tàn khuya. Có ai lãng mạn như Thuyên không? chắc có anh chàng Trần Thoại Nguyên nhỉ. Nửa đêm leo lên mái chùa nhìn trăng rồi ứa ra thơ đó.
Vì sinh kế tôi phải trôi cùng cơm áo. Bẵng đi một thời gian thì nghe tin Hồ Trọng Thuyên lấy vợ. Có một công chúa tình nguyện thề hẹn trăm năm với chàng Hoàng Tử thất tình rồi. Ngạc nhiên chưa? Thế là mệ Thuyên giã từ những ngày tháng ngao du cũ để làm chồng...
Với tôi đó đó là niềm vui thứ nhất để được chia sẻ với bạn. Niềm vui thứ hai là sau mấy năm Hồ Trọng Thuyên và công chúa sang sinh sống ở Mỹ.
Thời gian sinh sống ở Mỹ, qua tin bạn bè là Hồ Trọng Thuyên và họa sĩ Nguyễn Đình Thuần như bóng với hình. Cũng văn nghệ đình đám... Con người tình cảm dù sống nơi đâu, làm gì cũng luôn chân tình và lồ lộ cái tâm. Mệ Thuyên không quên bạn bè. Mỗi năm đều gửi về cho Anh em Huế ở SG tí ít tiền để lai rai ba xị (và dĩ nhiên là nhớ mệ) và cũng có vài lần Thuyên về thăm quê. Có lần thấy tôi thích cái áo thun Mỹ anh đang mặc trên người. Mệ cởi ra tặng ngay.
Mới đây tôi được hung tin từ Từ Hoài Tấn, Hồ Trọng Thuyên đã qua đời bên Mỹ vì bạo bệnh. Sẽ hỏa thiêu và chị Thuyên cùng con gái mang tro cốt về quê nhà ở Huế. Lá rụng về cội mà.
Tôi sửng sờ thật.
Rồi nhớ một câu nói của ai đó: “Kẻ ác thì sống lâu. Người hiền thì mau chết...” mà xa xót lòng!.
Cầu mong hương linh mệ Thuyên sớm an nhiên nơi cõi vĩnh hằng...
Hình 2: Hồ Trọng Thuyên năm 2017
Hạc Thành Hoa - người
của tình văn nghệ vô biên
Tên thật của anh là Nguyễn Đường Thai - thầy giáo dạy văn ở Cao
Lãnh - Đồng Tháp. Là người thầy tận tâm, tận lực với học trò. Là người đưa đò không
hề mệt mỏi với biết bao thế hệ học sinh, mà khi hỏi tên anh ai cũng biết và là
nhà thơ Hạc Thành Hoa, nhà thơ nổi tiếng trước và sau 75 - người của tình văn nghệ
vô biên. Tôi biết và quen anh như một mối lương duyên văn nghệ đã non nửa thế kỷ... Bài
thơ NƯỚC ĐỤC đăng trên bán nguyệt san Văn - SG là bài thơ khiến bạn đọc xôn xao
và rất yêu thích - kể cả tôi - từ đấy cho đến tận bây giờ vì đã bắt gặp mình trong
đó. Bài thơ dài hơi nhưng cảm xúc và ngôn ngữ ngồn ngộn... Bài thơ này đã khiến một
bạn đọc nữ ở Đà Nẵng đã họa tức thì (dù chưa biết HTH là ai. Mặt ngang mặt dọc
thế nào) bằng cảm xúc và tâm cảm nhạy bén của mình (mà thi sĩ Hồ Dzếnh gọi đó
là Phút linh). Đó là chị Lê Thị Ái Niệm. Lúc ấy chị gửi bài họa vào tạp chí Văn nhờ
chuyển tác giả HTH. Không biết thế nào và chắc họ sống trong mường tượng đến mười
mấy năm sau mới quen biết nhau (qua tôi). Cũng vì giao cảm này mà chị Niệm, tôi
và Hạc Thành Hoa đã kết nối, gắn bó nhau trên tình thần yêu thi ca, đam mê
sáng tạo... Nói về anh thì có nhiều chuyện để kể. Tại sao lại là tình văn nghệ
vô biên? Bởi vì anh sống chân thật, hết mình với anh em, bạn bè. Về thi ca, anh
là một thi sĩ “ăn ngủ cùng thơ”. Nói khác hơn là Hạc Thành Hoa đã hôn phối với
nàng thơ rất nồng nàn, đắm đuối để khai sinh nhiều tập thơ hay cho đời. Về đời
thực. Anh là một thầy giáo dạy văn cấp 3 thời ấy - lương dư sức nuôi vợ con và
còn cưu mang thêm bạn bè văn nghệ tìm đến Cao Lãnh. Trong đó có thi sĩ Vũ Hữu Định
là người ăn, ở nhà Hạc Thành Hoa lâu nhất bởi những tháng năm này VHĐ bỏ vợ con
ngoài quê, để lang bạt, giang hồ tận phương Nam. Cái tâm đẹp ấy có từ Hạc Thành
Hoa cùng người vợ trẻ hiền thục, đảm đang... khác chi những bông điển điển vàng
trên sông nước miền Tây ngó ra vừa dịu dàng vừa thuần khiết.
Tôi và anh chỉ gặp nhau có một lần ở Sài Gòn nhưng thư từ qua lại thì thường xuyên. Nhớ năm 1995, khi tôi in tập thơ đầu tay: Hát Dạo Bên Trời. Lời chúc mừng của HTH là bài viết (viết tay) dài hai trang giấy A 4. Chữ nhỏ như con kiến nhưng đẹp lạ thường. Tôi cảm động biết chừng nào và giữ kỷ vật ấy đến bây giờ. Mọi buồn vui trong cuộc sống anh đều kể cho tôi nghe. Có lần anh về Đà Nẵng chấm thi được bạn bè văn nghệ tiếp đón niềm nở và đưa đi tham quan cùng khắp. Khi lên tàu vào lại miền Nam, anh đã điện thoại kể cho tôi nghe và ứa nước mắt khi chia tay ĐN. Đấy một con người sống tình cảm như thế mà ai không thương? Lại có lần đâu thập niên 90 Hạc Thành Hoa nghe ai kể có một nhà văn nữ ở SG gặp khó khăn, anh đã viết thư kêu tôi cố gắng vận động giúp đỡ. Tôi trả lời anh là tôi biết nhà văn ấy đang có nhà mặt tiền ở quận 3 và đang có quán cà phê để kiếm cơm chưa đến nổi phải chở từng bó rau đi bán như tôi và ở nhờ nhà vợ - trên một căn gác chưa tới 12 mét vuông. Thế là anh im. Vậy đấy, nhà thơ HTH rất dễ mũi lòng... và trong sáng đến lạ!
Tôi và anh chỉ gặp nhau có một lần ở Sài Gòn nhưng thư từ qua lại thì thường xuyên. Nhớ năm 1995, khi tôi in tập thơ đầu tay: Hát Dạo Bên Trời. Lời chúc mừng của HTH là bài viết (viết tay) dài hai trang giấy A 4. Chữ nhỏ như con kiến nhưng đẹp lạ thường. Tôi cảm động biết chừng nào và giữ kỷ vật ấy đến bây giờ. Mọi buồn vui trong cuộc sống anh đều kể cho tôi nghe. Có lần anh về Đà Nẵng chấm thi được bạn bè văn nghệ tiếp đón niềm nở và đưa đi tham quan cùng khắp. Khi lên tàu vào lại miền Nam, anh đã điện thoại kể cho tôi nghe và ứa nước mắt khi chia tay ĐN. Đấy một con người sống tình cảm như thế mà ai không thương? Lại có lần đâu thập niên 90 Hạc Thành Hoa nghe ai kể có một nhà văn nữ ở SG gặp khó khăn, anh đã viết thư kêu tôi cố gắng vận động giúp đỡ. Tôi trả lời anh là tôi biết nhà văn ấy đang có nhà mặt tiền ở quận 3 và đang có quán cà phê để kiếm cơm chưa đến nổi phải chở từng bó rau đi bán như tôi và ở nhờ nhà vợ - trên một căn gác chưa tới 12 mét vuông. Thế là anh im. Vậy đấy, nhà thơ HTH rất dễ mũi lòng... và trong sáng đến lạ!
Cũng năm ấy, chị Lê Ái Niệm từ ĐN bay vào SG thăm tôi và rủ tôi xuống Cao Lãnh
thăm nhà thơ Hạc Thành Hoa. Tôi rất muốn nhưng vì phải bỏ mối rau hằng ngày nên
để chị ấy đi một mình. Chiều về chị kể: ”Ui chao ơi! Tau tới tận nơi. Hai vợ chồng
Hạc Thành Hoa rất ngạc nhiên. Họ đãi tau món ăn ở Cao Lãnh thật tuyệt vời. Tau dọa
chị Hạc Thành Hoa - mình ở lại mấy ngày đó hí. Thấy chị ấy bối rối mà thương. Ăn
cơm trưa xong tau từ giã hai vợ chồng trở lại SG”. Ngạc nhiên chưa? Tôi nói:
Chị ác rứa! Làm người ta tưởng thiệt! Chị nói: Làm người ai làm thế... chỉ là
anh em văn nghệ thôi mà. Chỉ là thơ chứ mô có tình ý chi... Chị Lê Ái Niệm đọc
cho tôi nghe mấy câu thơ chị làm để tặng cho chị Hạc Thành Hoa:
Em trở về nơi nỗi nhớ thẳm sâu
Mùa nước nổi có hoa vàng điên điển
Ăn bát canh chua nghe lòng xao xuyến
Thương bàn tay tảo tần nuôi những tài hoa
Lê Ái Niệm
(Tặng chị Hạc Thành Hoa )
Em trở về nơi nỗi nhớ thẳm sâu
Mùa nước nổi có hoa vàng điên điển
Ăn bát canh chua nghe lòng xao xuyến
Thương bàn tay tảo tần nuôi những tài hoa
Lê Ái Niệm
(Tặng chị Hạc Thành Hoa )
Mấy năm sau này thư anh HTH thưa dần. Tôi điện thoại thì nghe
anh đã nghỉ hưu và thường đau ốm. Năm nào cũng vào bệnh viện... và khi tối lửa tắt
đèn thì có ai? Là người trăm năm của anh chứ ai. Chị ấy chăm sóc, động viên anh
từng giờ phút. Chỉ có tình nghĩa phu thê mới đẹp nồng nàn và dịu êm như thế mà
thôi
Thưa chị Hạc Thành Hoa
Những dòng tôi viết đây là chân thực của một người bạn trân quý anh Hạc Thành Hoa và cả chị - người bạn đời tuyệt vời của anh ấy cho đến thiên thu. Tôi nghĩ rằng chị đã lắng nghe, thấu hiểu và cảm thông một tâm hồn thi nhân như anh ấy. Thơ chỉ là thơ. Đời thực mới là quan trọng đúng không chị? Tôi đã rưng rưng khi đọc bài thơ anh ấy viết cho chị Tạ Lỗi cùng người vợ trẻ. Và nhớ câu nói của ai đó bất hủ: Phía sau thành công của người đàn ông là hình bóng của người đàn bà vĩ đại... Những năm tháng ấy, tôi phải gọi chị là Bồ Tát mới đúng. Bởi vì, chỉ có Bồ Tát mới cứu rỗi linh hồn thi sĩ có lúc đi hoang...
Anh Hạc Thành Hoa ơi!
Tôi rất vui khi thấy anh đã hoàn thành tốt thiên chức nhà giáo. Lừng danh một thi sĩ. Sống trọn nghĩa tình với vợ con. Thâm cảm bạn bè gần xa. Thế là hãy ngẩng cao đầu anh nhé. Nếu có đôi khi miệng đời suy diễn qua thơ thì không nên buồn và đừng chấp. Bởi vì tôi đã từng rơi vào hoàn cảnh như thế. Khi mình tận cùng đất đen chẳng ai ngó ngàng. Khi sáng sũa ra một tí là có kẻ ganh đường, ghét ngõ...(Tôi cũng đã làm tròn bổn phận của một người chồng yêu vợ, thương con. Giờ cũng ngẩng cao đầu mà đi)
Lần này (trong năm nay) chúng tôi nhất định về Cao Lãnh thăm anh chị. Nhất định tận hưởng hương đồng gió nội. Miên man với mùa nước nổi phương Nam. Yêu lắm hoa điên điển vàng trời Cao Lãnh...
Thưa chị Hạc Thành Hoa
Những dòng tôi viết đây là chân thực của một người bạn trân quý anh Hạc Thành Hoa và cả chị - người bạn đời tuyệt vời của anh ấy cho đến thiên thu. Tôi nghĩ rằng chị đã lắng nghe, thấu hiểu và cảm thông một tâm hồn thi nhân như anh ấy. Thơ chỉ là thơ. Đời thực mới là quan trọng đúng không chị? Tôi đã rưng rưng khi đọc bài thơ anh ấy viết cho chị Tạ Lỗi cùng người vợ trẻ. Và nhớ câu nói của ai đó bất hủ: Phía sau thành công của người đàn ông là hình bóng của người đàn bà vĩ đại... Những năm tháng ấy, tôi phải gọi chị là Bồ Tát mới đúng. Bởi vì, chỉ có Bồ Tát mới cứu rỗi linh hồn thi sĩ có lúc đi hoang...
Anh Hạc Thành Hoa ơi!
Tôi rất vui khi thấy anh đã hoàn thành tốt thiên chức nhà giáo. Lừng danh một thi sĩ. Sống trọn nghĩa tình với vợ con. Thâm cảm bạn bè gần xa. Thế là hãy ngẩng cao đầu anh nhé. Nếu có đôi khi miệng đời suy diễn qua thơ thì không nên buồn và đừng chấp. Bởi vì tôi đã từng rơi vào hoàn cảnh như thế. Khi mình tận cùng đất đen chẳng ai ngó ngàng. Khi sáng sũa ra một tí là có kẻ ganh đường, ghét ngõ...(Tôi cũng đã làm tròn bổn phận của một người chồng yêu vợ, thương con. Giờ cũng ngẩng cao đầu mà đi)
Lần này (trong năm nay) chúng tôi nhất định về Cao Lãnh thăm anh chị. Nhất định tận hưởng hương đồng gió nội. Miên man với mùa nước nổi phương Nam. Yêu lắm hoa điên điển vàng trời Cao Lãnh...
THƠ HẠC THÀNH HOA
ĐÊM TRĂNG PHƠI ÁO
Ngày mai đã hết quần áo mặc
Một bộ diện gần cả tháng nay
Ta lười trời đất còn nể mặt
Thì sá gì đôi trận gió bay…
Một bộ diện gần cả tháng nay
Ta lười trời đất còn nể mặt
Thì sá gì đôi trận gió bay…
Nhưng đêm trăng sáng trăng huyền diệu
Gác trọ lòng không bóng mây vương
Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới
Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.
Gác trọ lòng không bóng mây vương
Bạn vừa đi khỏi trăng vừa tới
Đem áo quần ra giặt đỡ buồn.
Dưới bóng trăng mình ta một cõi
Đất trời im vắng giấc cô miên
Bên thau quần áo cao như núi
Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.
Đất trời im vắng giấc cô miên
Bên thau quần áo cao như núi
Nỗi buồn trong dạ cũng cao thêm.
Trăng soi từng chỗ cho ta giặt
Áo quần trắng toát một màu trăng
Vò từng chiếc áo nghe tim buốt
Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.
Áo quần trắng toát một màu trăng
Vò từng chiếc áo nghe tim buốt
Lòng cũng sầu theo những nếp nhăn.
Ta ngồi nhìn bọt xà bông vỡ
Mỗi bọt tan theo một phiến trăng
Tiếng của đời ai đang nức nở
Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.
Mỗi bọt tan theo một phiến trăng
Tiếng của đời ai đang nức nở
Giữa tiếng đêm thu mộng xế tàn.
Cố thức giặt cho xong quần áo
Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong
Trăng theo nước chảy về vô tận
Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.
Ngậm ngùi vắt những ánh trăng trong
Trăng theo nước chảy về vô tận
Từng giọt trăng dư rụng xuống lòng.
Đêm nay phơi áo trên sân thượng
Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu
Phơi cả hồn ta trong sương lạnh
Một trời trong vắt bóng trăng treo
Phơi cả đời ta giữa quạnh hiu
Phơi cả hồn ta trong sương lạnh
Một trời trong vắt bóng trăng treo
TẠ LỖI CÙNG NGƯỜI VỢ TRẺ
Suốt đời đuổi bắt một vầng trăng
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
Mười mấy năm cơ cực là thế
Mà vẫn xem như một điều hết sức tự nhiên
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
Mười mấy năm cơ cực là thế
Mà vẫn xem như một điều hết sức tự nhiên
Có phải em là một nàng tiên
Từ trong tranh bước ra lần nữa
Anh sống bằng đồng lương nhà giáo
Nên những câu thơ bay lên từ sợi khói thuốc rê
Từ trong tranh bước ra lần nữa
Anh sống bằng đồng lương nhà giáo
Nên những câu thơ bay lên từ sợi khói thuốc rê
Tội thân em ngày hai buổi đi về
Tâm sự với nắng mưa sương gió
Em vẫn dịu dàng như cây lúa
Dù bây giờ đã nặng hạt oằn bông
Tâm sự với nắng mưa sương gió
Em vẫn dịu dàng như cây lúa
Dù bây giờ đã nặng hạt oằn bông
Anh và hai con sẽ ra sao nếu thiếu em
Người nhạc trưởng dàn đồng ca nhếch nhác
Em vẫn là cánh trà mộc mạc
Không ướp hương hoa nhưng vị rất đậm đà
Người nhạc trưởng dàn đồng ca nhếch nhác
Em vẫn là cánh trà mộc mạc
Không ướp hương hoa nhưng vị rất đậm đà
Sáng ra đi tối mịt mới về nhà
Chiếc xe đạp cũ không hề sơn lại
Dù bận rộn trăm công nghìn việc
Vẫn không quên mang về một bịch thuốc rê
Chiếc xe đạp cũ không hề sơn lại
Dù bận rộn trăm công nghìn việc
Vẫn không quên mang về một bịch thuốc rê
Người xa nhau tính từng năm từng tháng
Mình xa nhau phải tính từng ngày
Đâu có ngờ sự thật hôm nay
Mình phải xa nhau nhiều đến thế
Mình xa nhau phải tính từng ngày
Đâu có ngờ sự thật hôm nay
Mình phải xa nhau nhiều đến thế
Một sáng ra thăm em ngoài chợ
Lại gặp nàng tiên bị đày đọa xuống trần
Em vẫn vui cuộc sống nhọc nhằn
Như lẽ thường có chồng con là cực
Lại gặp nàng tiên bị đày đọa xuống trần
Em vẫn vui cuộc sống nhọc nhằn
Như lẽ thường có chồng con là cực
Anh làm thơ nghĩa là không làm gì khác được
Nên em càng khó nhọc bội phần
Khi ra về lòng thấy phân vân
Anh bất chợt bùi ngùi quay lại
Nên em càng khó nhọc bội phần
Khi ra về lòng thấy phân vân
Anh bất chợt bùi ngùi quay lại
Em vẫn như cây lúa thời con gái
Thương sao nụ cười lẩn với mênh mông
Nghĩ lại giận mình quá đổi vô tâm
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
Bên anh có một nàng tiên dịu dàng là thế
Mà cứ miệt mài đuổi bắt một vầng trăng
Thương sao nụ cười lẩn với mênh mông
Nghĩ lại giận mình quá đổi vô tâm
Chưa có được một lời ngợi ca người vợ trẻ
Bên anh có một nàng tiên dịu dàng là thế
Mà cứ miệt mài đuổi bắt một vầng trăng
(Trích trong tập thơ Phía Sau Một Vầng Trăng in năm 1995)
TRÊN BỜ ĐÁ TÌNH NGƯỜI
Chồi vui chưa trổ cành không
Mù mưa giăng một nhánh sông âm thầm
Tình người bờ đá trăm năm
Sóng tình tôi cuộn trên dòng nước xuôi
Hang sâu chim ngủ phận người
Trơ vơ cột khói thở trời mây đen
Nẻo đời mai có còn em
Nhìn cây rủ bóng hồn im nắng tà
Ngại mây gió đuổi phương xa
Trời xanh sợi khói giăng qua bãi nào
Những ngày gió đợi trên cao
Trong mưa phố vắng bước sầu ngựa ô
Xe nào mai ngọn gió đưa
Chim quên tiếng hát nghe mưa xuống cành
Hạc Thành Hoa
(Trích trong tập thơ Khói Tóc in năm 1996)
Và thơ giao hòa:
(Trích trong tập thơ Khói Tóc in năm 1996)
NƯỚC ĐỤC
Mù mưa giăng một nhánh sông âm thầm
Tình người bờ đá trăm năm
Sóng tình tôi cuộn trên dòng nước xuôi
Hang sâu chim ngủ phận người
Trơ vơ cột khói thở trời mây đen
Nẻo đời mai có còn em
Nhìn cây rủ bóng hồn im nắng tà
Ngại mây gió đuổi phương xa
Trời xanh sợi khói giăng qua bãi nào
Những ngày gió đợi trên cao
Trong mưa phố vắng bước sầu ngựa ô
Xe nào mai ngọn gió đưa
Chim quên tiếng hát nghe mưa xuống cành
Hạc Thành Hoa
(Trích trong tập thơ Khói Tóc in năm 1996)
Và thơ giao hòa:
(Trích trong tập thơ Khói Tóc in năm 1996)
NƯỚC ĐỤC
Gửi một người em không quen biết
Giọt lệ sầu ta tự buổi nào
Có vầng mây rớt trên hoang đảo
Ngồi đây mà khóc chuyện chiêm bao
Giọt lệ sầu ta tự buổi nào
Có vầng mây rớt trên hoang đảo
Ngồi đây mà khóc chuyện chiêm bao
Ngày về quê hẳn xa xôi lắm
Cọc đã chôn sâu dưới lòng sông
Mười năm không thấy con cá lội
Dải nước phù sa đục một dòng
Cọc đã chôn sâu dưới lòng sông
Mười năm không thấy con cá lội
Dải nước phù sa đục một dòng
Ở đây họ sống bình yên quá
Trăng sao là chuyện của đất trời
Gió mây là của người khờ khạo
Hạnh phúc đâu cần tìm kiếm xa xôi
Trăng sao là chuyện của đất trời
Gió mây là của người khờ khạo
Hạnh phúc đâu cần tìm kiếm xa xôi
Từng đêm ta thấy trăng, sao khóc
Ngày gió mây than thở với trời
Riêng ta cũng cầm lòng không đậu
Bởi chính vì ta cũng lẻ loi
Ngày gió mây than thở với trời
Riêng ta cũng cầm lòng không đậu
Bởi chính vì ta cũng lẻ loi
Đến nay đã sống gần mấy kiếp
Bên một dòng sông lá mục nằm
Chỉ thấy hư không lên tiếng gọi
Đã mấy mùa đứng ngó mưa câm
Bên một dòng sông lá mục nằm
Chỉ thấy hư không lên tiếng gọi
Đã mấy mùa đứng ngó mưa câm
Ở đây ta sống sống độc lắm
Đời vẫn như chiều thu lá bay
Dòng sông quen quá mà sao lạ
Ta vẫn người xa mới tới đây
Đời vẫn như chiều thu lá bay
Dòng sông quen quá mà sao lạ
Ta vẫn người xa mới tới đây
Nay đã hơn mười năm thèm khát
Thèm áo em bay tiếng hát lưng đồi
Ngày vẫn lang thang cho quên đói
Đêm nghe sóng vỗ thấy bèo trôi
Thèm áo em bay tiếng hát lưng đồi
Ngày vẫn lang thang cho quên đói
Đêm nghe sóng vỗ thấy bèo trôi
Ta như chiếc bóng trong gương đục
Mỗi ngày cơn bệnh cứ tăng thêm
Nằm đây đã mòn chăn rách gối
Để nghe thạch sùng chắc lưỡi đêm đêm
Mỗi ngày cơn bệnh cứ tăng thêm
Nằm đây đã mòn chăn rách gối
Để nghe thạch sùng chắc lưỡi đêm đêm
Ta lỡ chọn lầm căn gác hẹp
Chân mòn trên những lối đi quanh
Đến nay bóng tối càng thêm đậm
Bóng tối muôn đời vẫn lặng thinh
Chân mòn trên những lối đi quanh
Đến nay bóng tối càng thêm đậm
Bóng tối muôn đời vẫn lặng thinh
Bạn ta xa lắm nên nào biết
Sông thì đầy mà máu cứ dần vơi
Chiều chiều sóng nổi bùn đen dậy
Ngồi nhìn nước đục xót thương đời
Sông thì đầy mà máu cứ dần vơi
Chiều chiều sóng nổi bùn đen dậy
Ngồi nhìn nước đục xót thương đời
Bạn ta cuộc sống u nhàn lắm
Sao ta còn nặng một chiếc gông
Áo cơm cứ níu chân mây lại
Làm sao chim hót nổi trong lồng
Sao ta còn nặng một chiếc gông
Áo cơm cứ níu chân mây lại
Làm sao chim hót nổi trong lồng
Ôi nợ áo cơm ghì sát đất
Quanh ta nước đục bợn lòng thơ
Những muốn rảnh rang mà trả nợ
Nợ gió trăng và nợ của sông hồ
Quanh ta nước đục bợn lòng thơ
Những muốn rảnh rang mà trả nợ
Nợ gió trăng và nợ của sông hồ
Từng đêm mộng thấy mình hóa bướm
Thảnh thơi không vướng bận chi đời
Tỉnh dậy giận thân không bằng mộng
Trên nóc mùng treo một cánh dơi
Thảnh thơi không vướng bận chi đời
Tỉnh dậy giận thân không bằng mộng
Trên nóc mùng treo một cánh dơi
Gửi một người em không quen biết
Thơ ta chưa cạn hết niềm đau
Đời ta nay đã tan thành mộng
Ai người sẽ khóc ta mai sau
(1973)
THƠ HỌA CỦA LÊ THỊ ÁI NIỆM
MỘT CHÚT TÌNH QUEN
Thơ ta chưa cạn hết niềm đau
Đời ta nay đã tan thành mộng
Ai người sẽ khóc ta mai sau
(1973)
THƠ HỌA CỦA LÊ THỊ ÁI NIỆM
MỘT CHÚT TÌNH QUEN
(Gửi Hạc Thành Hoa để quen nhân đọc “Nước Đục” của người)
Đọc được thơ người lòng xao xuyến
Tưởng như quen biết tự ngàn năm
Nghe mây rón rén vào cơn mộng
Muốn đạp đất trời để đến thăm
Tưởng như quen biết tự ngàn năm
Nghe mây rón rén vào cơn mộng
Muốn đạp đất trời để đến thăm
Người bỏ xa quê lâu quá nhỉ
Mười năm người nhớ một dòng sông
Còn em từ thuở rời tay sách
Quê cũ đìu hiu nước mấy dòng
Mười năm người nhớ một dòng sông
Còn em từ thuở rời tay sách
Quê cũ đìu hiu nước mấy dòng
Người ở quanh ta dù hờ hững
Có trăng sao làm bạn tình say
Một sáng trời hồng, hong tóc biếc
Mình đâu ngờ hạnh phúc ở trong tay
Có trăng sao làm bạn tình say
Một sáng trời hồng, hong tóc biếc
Mình đâu ngờ hạnh phúc ở trong tay
Từng đêm người thấy trăng sao khóc
Trời bỗng buồn hiu ở phương này
Tóc dài không buộc chân người được
Chỉ thấy đêm sầu trăng lặng soi
Trời bỗng buồn hiu ở phương này
Tóc dài không buộc chân người được
Chỉ thấy đêm sầu trăng lặng soi
Thời gian em không nghe dài nữa
Tự một đêm nao đọc thơ người
Nghe người cười khóc trên trang giấy
Đã níu hồn em rách tả tơi
Tự một đêm nao đọc thơ người
Nghe người cười khóc trên trang giấy
Đã níu hồn em rách tả tơi
Người sống phương trời như lá gió
Quen dòng sông mà lạ dòng sông
Bởi nước trôi hoài không đứng lại
Hay lá còn chờ ngọn thu phong
Quen dòng sông mà lạ dòng sông
Bởi nước trôi hoài không đứng lại
Hay lá còn chờ ngọn thu phong
Muốn vướng chân người tà áo lụa
Sẽ hát người nghe buổi đói lòng
Người sẽ quên đi đời đen trắng
Quên thân bèo sóng vỗ long đong
Sẽ hát người nghe buổi đói lòng
Người sẽ quên đi đời đen trắng
Quên thân bèo sóng vỗ long đong
Sẽ khóc thương người như đã khóc
Thương mình khi thấy bóng gương soi
Muốn đến thăm người khi người bệnh
Nhưng phương trời mù mịt tăm hơi
Thương mình khi thấy bóng gương soi
Muốn đến thăm người khi người bệnh
Nhưng phương trời mù mịt tăm hơi
Gác hẹp người về khi ấm lạnh
Em ước ao là giọt nắng cuối mùa
Soi sáng tình người xua bóng tối
Bởi đời người đã trải lắm thiệt thua
Em ước ao là giọt nắng cuối mùa
Soi sáng tình người xua bóng tối
Bởi đời người đã trải lắm thiệt thua
Sông đầy nhưng máu người là biển
Chở mấy dòng sông trở lại nguồn
Em mơ một thuở dừng chân lại
Xõa tóc bên cầu để nhớ thương
Chở mấy dòng sông trở lại nguồn
Em mơ một thuở dừng chân lại
Xõa tóc bên cầu để nhớ thương
Nợ cơm áo níu chân người lại
Tiếng hát người vang mãi đến đây
Gông dù nặng không buộc thơ người được
Bởi hồn người ẩn nấp trong mây
Tiếng hát người vang mãi đến đây
Gông dù nặng không buộc thơ người được
Bởi hồn người ẩn nấp trong mây
Rồi một sáng chim về mở hội
Mặt trời hồng soi bóng sông xanh
Sẽ kể người nghe cuộc đời ấm lạnh
Giấu sau tay và sau trái tim hồng
Mặt trời hồng soi bóng sông xanh
Sẽ kể người nghe cuộc đời ấm lạnh
Giấu sau tay và sau trái tim hồng
Mộng cũng muốn mình là Trang TửMặc tình người xuôi ngược bon chen
Nhưng nước mắt có trong nhịp thở
Máu ưu phiền đã thấm nửa tim quen
Thương một chút tình tìm tri kỷ
Mười năm dài có thấm vào đâu
Suốt một kiếp người chưa chắc được
Đời thả mơ về phố Hợp Châu
Mười năm dài có thấm vào đâu
Suốt một kiếp người chưa chắc được
Đời thả mơ về phố Hợp Châu
Gửi đến người mong manh giọt nắng
Chiều âm thầm chở chuyến ngày qua
Phương trời đó héo hon cánh Hạc
Thơ của người đã hé nụ thành Hoa
Chiều âm thầm chở chuyến ngày qua
Phương trời đó héo hon cánh Hạc
Thơ của người đã hé nụ thành Hoa
LÊ THỊ ÁI NIỆM
(1973)
(1973)
Tiểu sử HẠC THÀNH HOA:
Hạc Thành Hoa, tên thật Nguyễn Đường Thai. Sinh quán tại Xuân Phổ, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giáo sư Việt văn Trung học Sa Đéc, Lương Văn Can Quận 8, Cao Lãnh. Anh làm thơ từ năm 1961, đã đăng nhiều thơ trên các báo, tạp chí văn học miền Nam trước năm 1975.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Trong nỗi buồn vàng (Nguyễn Đình Vượng, tạp chí Văn Sài Gòn - XB - 1971).
– Một mình như cánh lá (Giao điểm Sài Gòn xuất bản 1973), (Thư ấn quán, Hoa Kỳ tái bản 2006).
– Phía sau một vầng trăng (NXB Thanh niên - Hà Nội - 1995).
– Khói tóc (NXB Lao động - Hà Nội - 1996).
– Tuyển Tập Thơ Hạc Thành Hoa (NXB Văn Học - 2013)
Hạc Thành Hoa, tên thật Nguyễn Đường Thai. Sinh quán tại Xuân Phổ, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Giáo sư Việt văn Trung học Sa Đéc, Lương Văn Can Quận 8, Cao Lãnh. Anh làm thơ từ năm 1961, đã đăng nhiều thơ trên các báo, tạp chí văn học miền Nam trước năm 1975.
Tác phẩm đã xuất bản:
– Trong nỗi buồn vàng (Nguyễn Đình Vượng, tạp chí Văn Sài Gòn - XB - 1971).
– Một mình như cánh lá (Giao điểm Sài Gòn xuất bản 1973), (Thư ấn quán, Hoa Kỳ tái bản 2006).
– Phía sau một vầng trăng (NXB Thanh niên - Hà Nội - 1995).
– Khói tóc (NXB Lao động - Hà Nội - 1996).
– Tuyển Tập Thơ Hạc Thành Hoa (NXB Văn Học - 2013)
Hình 3 và 4: Thư viết tay
Hạc Thành Hoa gửi TDL
Hạc Thành Hoa gửi TDL
Nguyễn Như Mây - thơ
chính là người
Đúng như cái tên Nguyễn Như Mây. Cả đời anh sống, đi và viết
thật cân bằng bởi đam mê văn chương đến tận cùng... Biết nhau trước năm 75 qua
thơ văn trên các tạp chí văn học ở SG. Nhưng mãi đến thập niên 80 tôi mới quen
anh. Đó thời chưa mở cửa, đi lại rất khó khăn... Do tôi phải kiếm sống bằng nghề
bất đắc dĩ: ”Mua bán răng vàng bạc vụn” mà nhà thơ Bùi Chí Vinh có bài thơ Ve
Chai Hành... Vậy nên, tôi phải leo xe đò ra Phan Thiết. Việc đầu tiên là ghé thăm
nhà thơ Nguyễn Như Mây. Nhà anh ở trên đường Lê Hồng Phong (Gần Ga Xe Lửa)... Lúc
tôi gõ cửa và xưng tên, anh à lên một tiếng. Thì ra là TDL. Anh mời tôi ở lại một
đêm. Một đêm mà bằng cả bao nhiêu ngày tháng cho tâm sự đầy vơi. Anh đọc thơ, hát
nhạc cho tôi nghe rồi kể chuyện về Phan Thiết (tp có mùi hăng hăng của mắm mặn,
chỉ thiếu gừng cay). Về bạn bè văn nghệ ở đó như Nguyễn Bắc Sơn (đã qua đời) Từ
Thế Mộng (đã qua đời), Lê Nguyên Ngữ, Hồ Việt Khuê, Phan Anh Dũng, Nguyễn Thị
Liên Tâm... Anh cũng không quên giới thiệu về người vợ hiền thục, đảm đang của
anh. Nhờ “hậu phương vững mạnh” của chị ấy mà anh yên tâm viết lách (trường hợp
của anh khiến tôi nhớ đến anh Trần Phong Giao, Dương Nghiễm Mậu, Phong Sơn, Nguyễn
Tôn Nhan, Vũ Ngọc Giao... Những người vợ trời cột vào đời văn nghệ sĩ, nếu không
như thế thì...). Tán hết chuyện văn nghệ đã hết bình trà Bảo Lộc ngon, Nguyễn Như
Mây châm tiếp trà. Lúc này, bệnh nghề nghiệp nổi lên trong tôi. Tôi kể về những kẻ
thất thời phải kiếm sống bằng nghề ve chai như Nguyễn Ước, Phù Hư, NTT Đại Đế,
Kim Hoa Bà Bà, Sơn Quăn, Mộng Diệp... Sau đó không quên gợi ý anh có gì trong
nhà bán cho tôi. Moi trí nhớ một hồi Nguyễn Như Mây à lên: Mình có mấy đồng bạc
Pháp. Như buồn ngủ gặp chiếu manh tôi hỏi dồn đâu anh đâu anh?. Mấy phút lục lọi,
anh mang ra 4 đồng bạc (cở lớn) có hình bà đầm xòe mang niên hiệu 1802. Tôi nói
giá mua và đưa tiền. Anh khoát tay từ chối. Mình tặng cậu. Thế là tôi trúng mánh,
sẽ có tiền đong gạo cho vợ con cũng 4, 5 ngày. Tôi lí nhí cảm ơn anh. Hết đêm
Phan Thiết, sáng tinh mơ chia tay nhau bằng một chầu cà phê rồi tôi tiếp tục cuộc
săn lùng răng vàng bạc vụn... Đó là kỷ niệm đẹp mà tôi khó quên.
Thế rồi, đường đời, mỗi người một ngả. Suối cứ trôi và sông cứ chảy theo định phận của mình. Mãi đến năm 2000 tôi mới gặp lại Nguyễn Như Mây khi anh đi Hon Da từ Phan Thiết vào Tp dự buổi ra mắt tập san Quán Văn ở quán Cà phê Lọ Lem nằm trên đường Nguyện Trọng Tuyển. Vẫn con người ấy, vẫn phong cách ấy tuy thời gian có làm anh già đi đôi chút và bệnh đau xương khớp không tha anh. Tuy thế, anh vẫn say sưa làm thơ và đi phượt khắp mọi miền. Mới đây anh gửi qua bưu điện tặng tôi hai tập thơ anh chép tay. Thời buổi này in ấn nhanh và đẹp, anh vẫn chọn cách chép tay thơ mình trên giấy. Chữ viết đẹp không thua gì chữ viết của nhạc sĩ TCS và lòng thì trân trọng khi ký tặng. Tôi thật quý phục anh. Anh còn nói mình sắp đi Huế bằng xe Hon Da. Về thăm thần kinh thơ mộng của bạn đấy. Tôi nói sao anh liều thế. Anh nói mình quen rồi... Trong đời tôi hai điều tôi không làm được là đi phượt và cặm cụi trên trang viết cho đến già bằng thủ công mà anh thì làm được và làm giỏi nữa kìa. Nguyễn Như Mây, tên anh cũng chính là định mệnh của thi sĩ.
Theo Thi Viện.Net thì tiểu sử của Nguyễn Như Mây như sau:
Nguyễn Như Mây tên khai sinh là Nguyễn Dục, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại Phan Thiết, nhưng nguyên quán của ông ở làng Gò Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại nhà thơ Xuân Diệu) còn mẹ quê ở Hội An. Ông là một trong những nhà thơ kỳ cựu của đất Phan Thiết, Bình Thuận, cây bút quen thuộc của các tạp chí Bách Khoa, Khởi Hành, Đối Diện... trước 1975. Thơ ông bàng bạc chút mây, chút gió nhưng ăm ắp sự suy tưởng và tràn đầy thân phận, tình cảm.
Thế rồi, đường đời, mỗi người một ngả. Suối cứ trôi và sông cứ chảy theo định phận của mình. Mãi đến năm 2000 tôi mới gặp lại Nguyễn Như Mây khi anh đi Hon Da từ Phan Thiết vào Tp dự buổi ra mắt tập san Quán Văn ở quán Cà phê Lọ Lem nằm trên đường Nguyện Trọng Tuyển. Vẫn con người ấy, vẫn phong cách ấy tuy thời gian có làm anh già đi đôi chút và bệnh đau xương khớp không tha anh. Tuy thế, anh vẫn say sưa làm thơ và đi phượt khắp mọi miền. Mới đây anh gửi qua bưu điện tặng tôi hai tập thơ anh chép tay. Thời buổi này in ấn nhanh và đẹp, anh vẫn chọn cách chép tay thơ mình trên giấy. Chữ viết đẹp không thua gì chữ viết của nhạc sĩ TCS và lòng thì trân trọng khi ký tặng. Tôi thật quý phục anh. Anh còn nói mình sắp đi Huế bằng xe Hon Da. Về thăm thần kinh thơ mộng của bạn đấy. Tôi nói sao anh liều thế. Anh nói mình quen rồi... Trong đời tôi hai điều tôi không làm được là đi phượt và cặm cụi trên trang viết cho đến già bằng thủ công mà anh thì làm được và làm giỏi nữa kìa. Nguyễn Như Mây, tên anh cũng chính là định mệnh của thi sĩ.
Theo Thi Viện.Net thì tiểu sử của Nguyễn Như Mây như sau:
Nguyễn Như Mây tên khai sinh là Nguyễn Dục, sinh năm Kỷ Sửu (1949) tại Phan Thiết, nhưng nguyên quán của ông ở làng Gò Bồi, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê ngoại nhà thơ Xuân Diệu) còn mẹ quê ở Hội An. Ông là một trong những nhà thơ kỳ cựu của đất Phan Thiết, Bình Thuận, cây bút quen thuộc của các tạp chí Bách Khoa, Khởi Hành, Đối Diện... trước 1975. Thơ ông bàng bạc chút mây, chút gió nhưng ăm ắp sự suy tưởng và tràn đầy thân phận, tình cảm.
Cả tuổi thơ ông và đến lúc học hết tú tài 1 ở trường Phan Bội
Châu, Nguyễn Như Mây gắn bó với Phan Thiết. Đến cuối những năm sáu mươi của thế
kỷ trước, ông vô Sài Gòn học và lấy bằng tú tài 2. Cũng từ đây, Nguyễn Như Mây
bắt đầu thời kỳ thanh niên sôi nổi của mình khi tham gia sinh hoạt ở Tổng hội
Sinh viên Học sinh Sài Gòn…
THƠ CÓ NHAN ĐỀ CỦA NGUYỄN NHƯ MÂY
LƯU BÚT HỒNG
Tóc con gái đợi ngày hè đến
Nghiêng nửa vai để thấy môi hồng
Rủ nhau ngồi trắng hết bờ sông
Và chép tặng những lời hoa cỏ.
Nghiêng nửa vai để thấy môi hồng
Rủ nhau ngồi trắng hết bờ sông
Và chép tặng những lời hoa cỏ.
Ai cũng hái theo cành phượng đỏ
Để hóa trang nhân vật của mình
Chín mười năm ngồi ghế học sinh
Giờ lưu bút, viết sao cho hết!
Để hóa trang nhân vật của mình
Chín mười năm ngồi ghế học sinh
Giờ lưu bút, viết sao cho hết!
Nước mắt ai để dành trong viết
Chờ thả dòng mực tím bâng khuâng
Nắng chiều hè rưng rức bên sông
Quên nhuộm tím áo dài bè bạn
Chờ thả dòng mực tím bâng khuâng
Nắng chiều hè rưng rức bên sông
Quên nhuộm tím áo dài bè bạn
Chưa bao giờ bọn mình hò hẹn
Để rồi cùng đưa mắt nhìn nhau!
Ai viết xong trước, hãy chiêm bao
Cho lưu bút lắng hồn mực tím.
Để rồi cùng đưa mắt nhìn nhau!
Ai viết xong trước, hãy chiêm bao
Cho lưu bút lắng hồn mực tím.
Ai còn cầm viết và bịn rịn
Xin trao mình một nửa môi cười
Còn nửa kia... mai mốt xa xôi
Đành gói nửa vầng trăng thương nhớ...
Xin trao mình một nửa môi cười
Còn nửa kia... mai mốt xa xôi
Đành gói nửa vầng trăng thương nhớ...
CHÂN DUNG MỘT CHỦ QUÁN
Quán không có khách, quán buồn
ly không bàn ghế trống trơn đèn màu
tôi không có khách, chẳng sao!
vẫn phì phèo điếu thuốc nâu với mình
ly không bàn ghế trống trơn đèn màu
tôi không có khách, chẳng sao!
vẫn phì phèo điếu thuốc nâu với mình
vẫn làm từng ngụm rượu quen
quen tay nâng cốc, quen nhìn đêm khuya
quen mình còn chỗ đi về
thân phù du trễ chuyến xe... cười khà!...
quen tay nâng cốc, quen nhìn đêm khuya
quen mình còn chỗ đi về
thân phù du trễ chuyến xe... cười khà!...
NHẮN TRỜI MƯA
Khi không trời đổ mưa rào
Làm tôi ướt một chút màu bâng khuâng
Phải chi trời ở thật gần
Để tôi nhắn trước mỗi lần muốn mưa
Rằng ông đừng giả ngây thơ
Đôi khi tôi hẹn đem mưa cản đường
Nhớ giùm tôi: lúc yêu thương
Bao nhiêu giông bão chẳng sờn lòng tôi!
Mưa to hơn nữa đi trời
Đây qua hàng xóm sẽ ngồi tới khuya...
Làm tôi ướt một chút màu bâng khuâng
Phải chi trời ở thật gần
Để tôi nhắn trước mỗi lần muốn mưa
Rằng ông đừng giả ngây thơ
Đôi khi tôi hẹn đem mưa cản đường
Nhớ giùm tôi: lúc yêu thương
Bao nhiêu giông bão chẳng sờn lòng tôi!
Mưa to hơn nữa đi trời
Đây qua hàng xóm sẽ ngồi tới khuya...
VÀ THƠ KHÔNG ĐỀ:
(Trích từ 2 cuốn thơ chép tay của NNM)
(Trích từ 2 cuốn thơ chép tay của NNM)
Tôi chào tôi ở trong gương
Hằng ngày gặp mặt nên thường chào nhau
Hằng ngày gặp mặt nên thường chào nhau
Tôi chào tôi ở trên cầu
Bóng ai dưới nước, nhìn sao giống mình?
Bóng ai dưới nước, nhìn sao giống mình?
Tôi chào tôi suốt ngày đêm
Cả trong giấc ngủ cũng nhìn thấy tôi!
Cả trong giấc ngủ cũng nhìn thấy tôi!
Làm sao quên được con người
Đóng hai vai suốt một đời nhân sinh?
Đóng hai vai suốt một đời nhân sinh?
Bao giờ tôi hết gặp mình?
Tôi không biết!... kìa, lại nhìn thấy nhau...
Tôi không biết!... kìa, lại nhìn thấy nhau...
Trên sông Mường Mán tôi về
Neo thuyền ngủ với đêm hè đầy trăng
Neo thuyền ngủ với đêm hè đầy trăng
Hai bên bờ gió lang thang
Rủ tôi uống chút trăng vàng, rồi say
Rủ tôi uống chút trăng vàng, rồi say
Lúc sương khuya đã đầy vai
Tôi và sông chẳng biết ai thấm buồn...
Tôi và sông chẳng biết ai thấm buồn...
Khuất sâu trong ngàn lá
Khuất hết tận ngàn hoa
Ta muốn khuất cả ta
Sau chỗ ngồi đã khuất
Sau bóng đời hun hút
Ly rượi vừa Hoàng hôn...
Khuất hết tận ngàn hoa
Ta muốn khuất cả ta
Sau chỗ ngồi đã khuất
Sau bóng đời hun hút
Ly rượi vừa Hoàng hôn...
Trăng ở đâu cũng có bởi TCS nói: Từ khi em là Nguyệt... Nguyệt
chính là Trăng. Trăng trong thơ Lý Bạch, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Như Mây đều tuyệt thú
trên ngọn đỉnh trời. Có lần tôi về Phan Thiết một mình nhìn trăng nơi Lầu Ông
Hoàng nửa khuya đẹp đến nao lòng... Trăng ở đâu cũng diễm lệ nhưng trăng ở Phan
Thiết, Quy Nhơn có gì đó luôn vẫy gọi tôi rất... Hàn Mặc Tử! và tôi phải nghe
đi nghe lại bản nhạc của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về thi sĩ HMT mà rưng
rưng... (... Lầu Ông Hoàng đó thuở nao chân Hàn Mặc Tử đã qua. Ánh trăng treo
nghiêng nghiêng bờ cát dài thêm hoang vắng...)
Hình 4: Chữ viết của Nguyễn Như Mây
Hình ảnh: Nhà văn Trần Áng Sơn
Mới đó mà đã 4 năm nhà văn Trần Áng Sơn qua đời. Nhưng với tôi
và anh em, bè bạn thì anh vẫn còn đó. Vẫn cùng rong chơi trên thế gian này. Nỗi
ám ảnh thương quý khôn nguôi này đuổi theo mỗi lần tôi ghé cà phê 64 Trần Quốc
Thảo khi quây quần bên Nguyễn Liên Châu, Ngô Đình Hải, Nguyễn Thanh Thủy, Tuấn
Polo, Lê Nho Quế Sơn, Vũ Ngọc Giao, Châu Đăng Khoa... Ngồi nay chỗ anh đã ngồi,
kể cả Kim - Long - Huế mà nổi da gà... bởi khuôn mặt trầm tư, nghiêm nghị nhưng
không thiếu cởi mở, lịch lãm, hào hoa ngày nào bên tách cà phê, bên chung rượu
tiêu sầu... đã khắc ghi kỷ niệm.
Biết anh từ thập niên 60 qua những trang văn thơ đăng trên các tạp chí miền
Nam. Vậy mà mãi đến thập niên 80 tôi mới gặp và quen biết Trần Áng Sơn. Đó là thời
kỳ những người văn nghệ sĩ cũ không biết mình sống ra sao và về đâu khi quyền lực
đã được chuyển giao. Họ kiếm sống bằng đủ thứ nghề (miễn là lương thiện) và tạm
thời ngưng viết (cho dù sáng tạo đối với họ là cần như hơi thở), có người bỏ
viết vĩnh viễn. Nhưng anh Trần Áng Sơn vẫn âm thầm làm việc và kiếm sống bằng
ngòi bút của mình một cách chân chính và khiêm tốn (có tác phẩm ký tên TAS, có
tác phẩm ký bút hiệu khác). Vì là thời kỳ đổi mới (1989) nên có nhiều hoạt động
in ấn sách. Anh viết đến gần 50 đầu sách. Trong đó đáng kể nhất và cũng là cuốn
sách mà bạn bè ưa thích nhất là: Những Trang Sách Khép Mở. Anh khắc họa chân
dung nhiều văn nghệ sĩ bằng cách nhìn rất riêng của mình. Do cần mẫn làm việc và
hút thuốc lá nên qua năm 2000 anh bị một lúc mấy thứ bệnh hành hạ phải vào bệnh
viện. Trong đó bệnh tim phải kể trước nhất. Từ đó anh bỏ thuốc lá, viết ít lại và
chữa bệnh... bằng thơ. Một nhà văn cuối cùng chọn thơ để tắm gội linh hồn mình
thì chẳng có gì lạ. Có lẽ thơ khái quát và cô đúc cao hơn những dàn trải khi viết
tiểu thuyết. Cũng có thể anh lấy thơ để tắm gội mình bởi bụi bặm trần gian phủ
lên đời sống nhiều tầng lớp u minh. Có thể anh trìu mến, vuốt ve khi ”chơi thơ”
là thú chơi tao nhã nhất và trong trẻo nhất (tôi trừ ra những người rặn chữ, sắp
xếp sao cho lạ, song chẳng đi thẳng vào trái tim người đọc rồi cũng lụi tàn). Vì
vậy mà anh Trần Áng Sơn đã trình làng tập thơ lục bát năm 2012. Đó là những câu
chữ được viết bằng tim và trí tuệ yêu thương mình, yêu thường người và yêu
thương bè bạn của anh sau chót. Anh bước qua phạm trù này rất thanh thản và bình
yên mặc dù không khỏi trăn trở về phận người, quê hương. Văn, thơ là thứ vũ khí
sắc bén để anh chống lại phiền não và bệnh tật từ năm 2000 cho đến 2014. Người
văn nghệ sĩ mãi mãi là người không tuổi đối với tâm hồn nhưng thân xác thì làm
sao tránh khỏi quy luật của muôn đời? Những lần gặp sau cùng của năm 2014 thấy
anh xuống sắc và chốc chốc lại ôm ngực trái như cố níu giữ trái tim mình ở lại
cùng thế gian. Nhưng rồi phải bất lực trước số phận, ngày 18.5.2014... anh bỏ lại
bạn bè để về bên kia thế giới.
Tôi tưởng tiếc một nhà văn, một người anh lúc nào cũng đem cái tâm của mình ra
xử thế. Một vóc dáng cao to, đẹp trai chỉn chu từ cách ăn mặc cho đến lời ăn, tiếng
nói. Là em ruột của ca sĩ Mộc Lan, là người rất thân thiết với nhạc sĩ Châu Kỳ
và nhiều anh chị em văn nghệ đã thành danh như Trần Tuấn Kiệt, Thế Phong, Cao
Thoại Châu, Mai Trinh Đỗ Thị, Kim Tuấn, Tô Kiều Ngân, Cao Thoại Châu, Nguyễn Thụy
Long...
Anh viết truyện ngắn, truyện dài rất nhiều nhưng cuốn Những Trang Sách Khép Mở là cuốn gây tiếng vang nhiều nhất. Thơ anh đăng báo từ 1956 trên Bông Lúa, Nhân Loại... Song với tôi, tập thơ lục bát 68 Khoảnh Khắc. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2012 lại rất ấn tượng vì sự ngọt ngào tuôn chảy như sông suối:
Anh viết truyện ngắn, truyện dài rất nhiều nhưng cuốn Những Trang Sách Khép Mở là cuốn gây tiếng vang nhiều nhất. Thơ anh đăng báo từ 1956 trên Bông Lúa, Nhân Loại... Song với tôi, tập thơ lục bát 68 Khoảnh Khắc. Hội Nhà Văn xuất bản năm 2012 lại rất ấn tượng vì sự ngọt ngào tuôn chảy như sông suối:
Lục bát TRẦN ÁNG SƠN:
LỤC BÁT BUỒN
Ai chia lục bát hai câu
Một câu thấp một câu cao làm gì
Tôi ở đây, em ngoài kia
Trời ơi chăn chiếu chia lìa được sao
Một câu thấp một câu cao làm gì
Tôi ở đây, em ngoài kia
Trời ơi chăn chiếu chia lìa được sao
LỤC BÁT BIA BỌT
Lâu rồi không bọt không bia
Thấy thương cái cốc chia lìa cái môi
Thấy thương bó đũa chia đôi
Và thương em hé môi cười… không tên
Thấy thương cái cốc chia lìa cái môi
Thấy thương bó đũa chia đôi
Và thương em hé môi cười… không tên
LỤC BÁT BẤT NGỜ
Ba lô không ở trên vai
Cuộc đời chỉ lai rai sống còn
Tôi gã đàn ông biết buồn
Biết cay biết đắng biết khôn biết khờ
Thế nên tôi rất ngu ngơ
Để tôi gặp cái bất ngờ… là em
Cuộc đời chỉ lai rai sống còn
Tôi gã đàn ông biết buồn
Biết cay biết đắng biết khôn biết khờ
Thế nên tôi rất ngu ngơ
Để tôi gặp cái bất ngờ… là em
LỤC BÁT SONG SONG
Tôi và em em và tôi
Như con đường sắt suốt đời song song
Suốt đời tìm một đường cong
Trên con đường sắt song song nghịch chiều
Như con đường sắt suốt đời song song
Suốt đời tìm một đường cong
Trên con đường sắt song song nghịch chiều
LỤC BÁT GIÃ TỪ
Giã từ câu sáu tôi đi
Câu tám níu lại còn gì hành trang
Chỉ là một dấu chấm than
Mà sao tôi phải cưu mang suốt đời
Câu tám níu lại còn gì hành trang
Chỉ là một dấu chấm than
Mà sao tôi phải cưu mang suốt đời
T.A.S
Thơ là chiêm nghiệm, là tiên tri, đúng không anh Trần Áng
Sơn? Bài Lục Bát Giã Từ ấy đấy.
Những kỷ niệm khó quên với nhà văn Trần Doãn Nho
Từ thập niện 60, tôi đang còn mài đũng quần ở bậc trung học thì anh đã ở tầng trên: Đại Học. Vì là dân văn nghệ cùng viết bài trên các tạp chí văn chương ở Sài Gòn nên dễ quen biết nhau. Những năm tháng ấy, ở Huế chúng tôi thường tụ tập về nhà, nhà văn Lê Bá Lăng ở Vỹ Dạ đàn đúm, say sưa bàn luận chuyện văn học. Ở đây còn có Ngụy ngữ, Viêm Tịnh, Hồ Minh Dũng... Vẻ bề ngoài Trần Doãn Nho rất mô phạm nhưng bên trong tâm hồn anh chất lãng mạn cùng triết lý về nhân sinh quan, thế giới quan luôn thúc giục phải lên đường, phải làm gì đó, phải sống và viết cùng tâm cảm của mình. Chúng tôi say sưa đọc nào Nietzsche, nào Kant, nào Hegel, nào Shakespeare,nào Jean - Paul - Sartre, nào Dostoevsky, nào Camus, Khổng Tử, Lão Tử, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tuệ Sỹ... Đọc để thấu hiểu, để tiêu hóa và làm nên chất của mình riêng biệt. Không ai giống ai và đồng phục là điều chẳng bao giờ xảy ra thời chúng tôi sống và viết.
Những kỷ niệm khó quên với nhà văn Trần Doãn Nho
Từ thập niện 60, tôi đang còn mài đũng quần ở bậc trung học thì anh đã ở tầng trên: Đại Học. Vì là dân văn nghệ cùng viết bài trên các tạp chí văn chương ở Sài Gòn nên dễ quen biết nhau. Những năm tháng ấy, ở Huế chúng tôi thường tụ tập về nhà, nhà văn Lê Bá Lăng ở Vỹ Dạ đàn đúm, say sưa bàn luận chuyện văn học. Ở đây còn có Ngụy ngữ, Viêm Tịnh, Hồ Minh Dũng... Vẻ bề ngoài Trần Doãn Nho rất mô phạm nhưng bên trong tâm hồn anh chất lãng mạn cùng triết lý về nhân sinh quan, thế giới quan luôn thúc giục phải lên đường, phải làm gì đó, phải sống và viết cùng tâm cảm của mình. Chúng tôi say sưa đọc nào Nietzsche, nào Kant, nào Hegel, nào Shakespeare,nào Jean - Paul - Sartre, nào Dostoevsky, nào Camus, Khổng Tử, Lão Tử, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tuệ Sỹ... Đọc để thấu hiểu, để tiêu hóa và làm nên chất của mình riêng biệt. Không ai giống ai và đồng phục là điều chẳng bao giờ xảy ra thời chúng tôi sống và viết.
Tôi thích cái lặng lẽ mà sóng ngầm của anh khi đọc những
truyện ngắn anh viết trên Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Đối Diện, Tân Văn... Mỗi
truyện đều có phảng phất hương hoa của trái tim nhân bản và tình yêu quê
hương cũng như những tra hỏi về phận người của tác giả. Nó có những men say
riêng của Trần Doãn Nho khi ai chạm tới những trang viết ngồn ngộn ấy.
Những năm tháng này, chiến tranh mỗi ngày một ác liệt - mặc
dù chẳng ưa gì chiến tranh - Nhưng mỗi người một cách riêng để ở lại hoặc
lên đường theo vận nước. Thế rồi tôi phải ngút ngàn xa bạn bè đã từng sẻ chia mọi
vui buồn trong cuộc sống ở Huế. Từ thập niên 70 và nhất là biến cố 75. Năm 76 tôi
hồi hương về Huế làm nông dân thì Trần Doãn Nho đã vào trại cải tạo. Lê Bá Lăng
lên Kinh tế mới Bình Điền. Và nhiều bạn bè khác đã như chim rã cánh lăng lắc bốn
phương trời... Tôi biết chỉ còn Viêm Tịnh là thân thiết sau cùng với Trần Doãn
Nho nơi cố thổ. Riêng tôi, cùng cực ở quê cha, quê mạ hơn một năm rồi tôi cũng ”ù té chạy” khi bồng bế vợ con về lại phương Nam.
Hoàn cảnh của “bên thua” là vậy đó. Nhưng tình bạn
thì không bao giờ thay đổi. Cải tạo xong, Trần Doãn Nho cũng trôi về nơi đất lành
chim đậu Sài Gòn của thập niên 80.
Anh đã kiếm tôi ở chợ Trần Hữu Trang - gần ga xe lửa số 6, Phú
Nhuận. (thật cảm động vì tôi thành kẻ chợ mà anh đâu có quên. Chính lúc này mới
biết ai là bạn, ai là bè). Chúng tôi rưng rưng và lần đó đã uống với nhau vài ly rượu
để nhớ thơ Nguyễn Bính:
... Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười...
(Hành Phương Nam)
Uống với nhau ngay trước sạp bán rau của vợ chồng tôi. Bà xã tôi hết sức ngạc
nhiên vì có những người bạn Huế chân tình như thế.
Sau lần đó rồi không gặp nhau
nữa. Nghe đâu anh chuẩn bị làm hồ sơ đi HO. Rồi năm 1993 anh cùng gia đình định
cư tại Mỹ. Tôi nhớ không lầm thì năm 2001 anh về thăm quê hương và cũng đã ghé
thăm tôi ở Phú Nhuận. Cũng là bia rượu lúc gặp lại, cũng tâm sự về bạn bè. Tôi mừng
vì khí sắc anh lúc này “vượng“ hẳn. Được biết anh cầm bút trở lại và những đứa
con tinh thần đã khai sinh nơi quê người hây hẩy. Không chỉ tác phẩm
văn chương mà anh còn viết tiểu luận sắc bén như: Tác giả, tác phẩm
và sự kiện (2005). Viết và đọc (1999). Có một truyện dài tạo nên sự chú ý đặc
biệt của bạn đọc. Đó là Dặm Trường( 2001)
Cũng từ lần ấy đến giờ tôi chưa nghe anh về lại
VN. Song tôi tin một người như Trần Doãn Nho dù ở đâu, làm gì, thế nào thì chữ
Tâm luôn như tấm gương sáng trước mặt anh và tài, tâm thường trú trong trái tim
nhà văn bằng những trăn trở khôn nguôi...
Có điều lạ là nhà văn Trần Doãn Nho hiếm khi làm
thơ. Vậy mà, tôi đã tình cờ đọc được bài thơ của anh với ý, tứ, từ rất hay khi viết về Huế - nơi chôn nhau cắt rún của anh cũng như tôi:
THƠ TRẦN DOÃN NHO:
NỖI HUẾ
nơi đó
thành quách nhiều hơn người
giai thoại đè lịch sử
thuở nhỏ
tôi đi dọc theo những con đường vuông
góc thành này đến góc thành kia
lớp lớp rêu bám đầy
nhẫn nhục, cổ sơ
nghiêm cẩn đến nao lòng
nhìn hoài vẫn cứ tự hỏi…
tôi giẫm bước vô danh trên những địa danh
quá khứ được ăn tiêu rất kỹ
những khu vườn có cổng chắn
tường lở nhiều chỗ
vài đoạn rào thép gai
chắp vá hờ hững
ngôi nhà thấp
chật ních kỷ vật
câu đối sơn son thếp vàng hồn nhiên ngủ kỹ
ngang và dọc
mục và quý phái
cũ và kiêu sa
giai thoại mọc lên từ mỗi góc nhỏ
ngày tháng co dãn
thuở thanh xuân
mân mê những livre-de-poche Ưng Hạ
đọc cọp báo Sài Gòn Mới Gia Long
tà tà Phan Bội Châu
nhìn trộm Phương Lan
dựa cột đèn Trần Hưng Ðạo
ngắm từng em từng em đi qua
rỡ ràng phố chật
cốc cà phê Lạc Sơn chiều muộn
hơi người hơi ruốc
nhớ bâng quơ
chiều mưa giông Ðồng Khánh
những con chim bồ câu
túa ra
ướt mèm áo trắng
cậu học trò không chịu về nhà
nép dưới tàn cây
hiên phố
ngẩn ngơ
huế rất lạnh mà rất nắng
mưa thì phùn và gió rất khô
trời mênh mang mà người thì lặng
những buổi chiều hiền
thẩn thơ đường nhỏ
em đi như tĩnh vật
tôi rụng rời cơn mơ
nhiều lần lang thang quanh hoàng cung
nghe gạch ngói thở
sờ đám tượng trên sân chầu
ẩn nhẩn
đìu hiu
leo lên lầu ngọ môn
thấm thía dòng hư tự
quan ở đâu vua ở đâu cờ quạt ở đâu
chỉ là mấy bông sứ lặng lẽ rụng
trong hồ sen ngơ ngác
hít hà chút cổ sử
ngậm ngùi thơm
đó là nơi tỏ ra rất tiện lợi
cho nhiều màn trình diễn
ngoạn mục bất ngờ
có khi trịnh trọng có khi bình dân
có khi rất chuyên nghiệp
và những tan vỡ liên tục diễn ra
thật chậm rãi
đủ để người ta thưởng thức nỗi mất mát
của chính mình
lắm khi
từ trong cái ù lì lặng lẽ
bỗng vươn vai đứng dậy
y như thể đã chuẩn bị từ bao giờ
vội vội vàng vàng
băng cờ la hét
đường phố hừng hực
khát khao thu gọn chiều dài lịch sử
dưới kia
sông vẫn lặng
đò vẫn trôi
sông còn thơm
mà đò thì chật
những ngày xuân âm khí năm nào
thành quách nín
đất đá nghẹn
cỏ cây câm
hố hầm co quắp
ngột
lại có khi
thành phố bồng bế nhau
vứt cả rực rỡ hè mới chớm
rùng rùng bỏ chạy
đi đâu?
không biết đi đâu
miễn là xuôi Nam
để lại một cõi lặng
không gian rỗng
sàn diễn trống trơn
những con chó mất chủ chạy rất tự do
và vô vọng
hàng phượng lạc loài
chấp chới bay
gió nắng rong chơi
vòng vèo quanh nội thành ấm ức
kiêu binh về
bắt đầu mắng mỏ nhiếc móc
thậm chí oán thù
những người đã chết
y như thể không có họ
thì đất nước sẽ thành cường quốc từ thế kỷ 18!
bỗng nhiên
mọi thứ được vội vã hóa thân
hội hè đình đám
những ngợi khen đẫm mùi tiếp thị
phục chế/tân trang kẻ thù
đem ra bày bán
chữ nghĩa không xương…
sorry huế!
đành phải ra đi
bỏ phía sau nhìn phía trước.
lạc lõng giữa đất trời lạ hoắc
ăn cũng huế
nói cũng huế
đi cũng huế
chào cũng huế
thương cũng huế
nhớ cũng huế
ngày huế
đêm huế
lao xao những ôn những mụ những o những dì
đám trẻ con ngỡ ngàng
tưởng còn thời khuyết sử
cô cháu nhỏ tò mò
what’s hue, ngoai?
hue here! tôi chỉ vào bà ngoại
really, ngoai?
yes
ngoai oi, so i love hue so very very much.
tháng bảy quay quắt huế
đến hẹn
nước lại lên
nước tràn Ðập Ðá nước lút bến đò Cồn nước ngập Bao Vinh nước
ngâm quốc lộ
… đãng trí
tôi không về
ai lội lụt thăm em
một thuở
vỉa hè/ góc phố
nắng/ mưa
lụt/ bão
nghèo/ thiếu/ đói/ no
tù/ ngục
… một thuở…
thành phố thì còn
huế đã đi
vĩnh viễn đi!
Trần Doãn Nho
Khi viết những dòng này, Sài Gòn những ngày
này “mưa trù trù” có khác chi mưa Huế? Mưa quê cha thúi đất Mưa quê mạ không thấy
mặt trời... Con người không biết mần chi chỉ biết bó gối nhìn ra đầu ngõ... Sài
Gòn là Huế sao? Chiến tranh đã gặm hết tuổi thanh xuân của tôi. Tuổi bất
hoặc phải ra ngồi chợ. Giờ tuổi hoàng hôn đang sầm sập đến. Bao ước mơ, hoài bão tan thành mây khói... Bất giác thở dài. Quay qua kệ sách bắt gặp Thư Quán Bản Thảo số 32, nhà văn Trần Hoài Thư ưu ái dành chỗ cho
tôi, trong đó có các bài viết của các anh Nguyễn Vy Khanh, Lương Thư Trung, Trần
Yên Hòa, Trần Doãn Nho. Đọc lại thấy anh đúng là người thấu hiểu và nắm bắt hết
hồn vía của thơ tôi. Tôi thú vị với những đoạn trong bài viết của anh: ”Nói
chung, những bài thơ thành công nhất của Lữ thường là những đoản khúc lục bát
hay thơ tám chữ. Chẳng hạn như đoản khúc sau, tả về tâm trạng xao xuyến của người
lính hành quân trên núi:
Lên đây vai nặng bước liều
Quanh co sông núi khói chiều
tơ vương
Mùa xuân gối đất nằm sương
Tôi thân co lạnh với hồn cây
thưa
Lên đây trời đất mập mờ
Trong tôi buồn thổi từ
giờ tử sinh
(Ngày Xuân Ở Thường Đức)
Những bài tám chữ như
Thư Gửi người Ở Lại, Ngày Vẫy Biệt Khu Rừng Mơ Tuổi Nhỏ, Gửi Người Xa Xăm, Sao
Không Nói... dài hoặc khá dài là những bài hoàn chỉnh và lời thơ rất thiết
tha. Nhiều hình ảnh, nhiều ví von đa dạng. Với tôi “cái chất thơ Trần Dzạ Lữ”
chân thật nhất thường tỏa ra nơi những bài thơ tám chữ đó hơi thơ lắng đọng, nhịp
thơ miên man, lời thơ níu kéo nhau tạo nên nhiều cảm xúc.”
(Trích từ bài viết của Trần Doãn Nho: Trần Dzạ Lữ và Hát Dạo Bên Trời)
(Trích từ bài viết của Trần Doãn Nho: Trần Dzạ Lữ và Hát Dạo Bên Trời)
Đọc bài viết lại nhớ anh và
thèm một buổi gặp lại để tôi ngâm hết bài thơ Hành Phương Nam của thi sĩ
Nguyễn Bính cho anh nghe. Thèm lắm, nhưng liệu còn có dịp nào nữa không anh Trần
Doãn Nho, nhà văn mà tôi hằng yêu mến?.








































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét