Cảm thức thiên nhiên
của người Nhật và người Việt
Thiên nhiên luôn mở ra trước mắt mọi người. Tùy theo thời đại,
xứ sở và cá tính, con người nhìn thấy và cảm nhận thiên nhiên theo một cách nào
đó.
Trong lao động, tham quan hay du lịch hoặc
đơn giản là nghĩ ngơi, người ta vẫn thường xuyên giao tiếp với thiên nhiên.
Tìm hiểu cảm thức thiên nhiên của người
khác, dân tộc khác cũng là một cách tìm hiểu văn hóa. Bởi có những cách ứng xử
văn hóa khác nhau đối với thiên nhiên.
Để thấy những quan niệm thiên nhiên khác
nhau, chỉ cần đọc qua những câu hỏi sau đây :
Thiên nhiên có phải là một thế giới khách
quan, một đối tượng nghiên cứu khoa học ?
Thiên nhiên có phải là một môi trường phong
nhiêu để khai thác nguồn lợi và để chinh phục ?
Thiên nhiên có phải là “tạo vật của Thượng
đế”, nằm đối trọng với con người ?
Hay thiên nhiên chính là bản thân “tạo hóa”
(zoka), là sáng tạo và chuyển hóa liên tục ?
Hay thiên nhiên và con người là đồng nhất
thể ?
Từ những vấn đề trên, có thể nhận thức nằm
dưới cảm thức thiên nhiên, là những tầng văn hóa. Tìm hiểu nó là một cách giao
cảm với người khác và giao cảm với chính thiên nhiên.
Theo Isamu Kurita (Trong cuốn Japanese
Identity, 1997), thiên nhiên mang một ý nghĩa huyền bí và sâu thẳm đối với người
Nhật, gần giống với Hy Lạp cổ đại xem thiên nhiên như một năng lực sáng tạo. Chứ
thiên nhiên không phải là vật thụ tạo của Đấng Chí Tôn nào.
Từ đó, người Nhật biểu tượng thiên nhiên bằng
ba hình ảnh : Tuyết – Nguyệt – Hoa (setsu – getsu – ka). Tuyết tượng trưng cho
bốn mùa thay đổi và thời gian trôi qua. Trăng gợi lên vũ trụ và pháp giới bao
la. Hoa là hiện hữu của từng mùa và từng thời.
Vậy Tuyết – Nguyệt – Hoa là tam nguyệt của
thiên nhiên, điều đó được thể hiện một cách giản dị mà sâu thẳm trong bài Tanka
(đoản ca) 31 âm tiết sau đây có từ thế kỷ XIII của Thiền sư Dogen (Đạo Nguyên)
:
Haru wa hana
Natsu hototogisu
Mùa xuân có hoa anh đào
Mùa hạ chim cu hót
Aki wa tsuki
Fuyu yuki saete
Suyushi karikeri
Mùa Thu thì trăng soi
Mùa Đông tuyết lạnh buốt
Và sáng ngời nơi nơi.
Bốn mùa lướt qua tâm hồn thiền sư như lướt
qua gương trong, nơi phản chiếu mọi vẻ đẹp. Tâm hồn ấy vừa phản chiếu bốn mùa vừa
vượt lên trên mọi thời khắc. Có thể tương chiếu với hai câu thơ của thi hào
Nguyễn Du :
Diệp lạc hoa khai nhãn tiền sự
Tứ thời tâm kính tự như như.
Tạm dịch :
Hoa nở lá rơi đầy trước mắt
Bốn mùa tâm kính vẫn như như.
Bốn mùa nằm trong hoa nở lá rơi. Đó là điệu
luân vũ của thời gian, hiển hiện trước tấm gương trong trẻo của tâm
hồn thi nhân. Tâm hồn đó vừa chứa muôn cái xao động (hoa nở lá rơi) vừa vượt
lên mọi thứ xao động (như như).
Cái nhìn thiên nhiên của một thiền sư Nhật
Bản và một thi nhân Việt Nam đã gặp nhau trong một khoảnh khắc bất ngờ.
Tiến sĩ Yashiro Yukio đã thu gọn yếu tính của
cảm thức thiên nhiên Nhật Bản như sau : “Khi tuyết rơi, khi hoa nở, khi trăng
lên – hơn bao giờ hết ta nhớ tới bạn”.
Dựa trên câu nói đó văn hào Kawabata
Yasunari diễn giải : “Khi chúng tôi thấy vẻ đẹp của tuyết trắng, của trăng
tròn, khi chúng tôi trông hoa anh đào nở, tóm lại, khi mà vẻ đẹp của bốn mùa lướt
tới và đánh thức chúng tôi dậy, đó chính là lúc chúng tôi nghĩ nhiều nhất đến
những người thân và muốn chia sẻ sự sung sướng cùng họ, kích thích bởi cái đẹp,
ta thấy rất cần người chia sẻ, rất cần tình bạn – và chữ “bạn” ở đây có thể là
“nhân gian”. Tuyết – Nguyệt – Hoa, những danh từ diễn tả các mùa nối tiếp nhau
theo phong tục Nhật Bản đã gồm cả núi, sông, cây, cỏ và muôn ngàn biểu hiện
khác của thiên nhiên cũng như cảm nghĩ của con người. Tinh thần ấy, cảm nghĩ ấy,
đối với bạn, đồng hành trên tuyết, dưới trăng, trong hoa cũng là bản chất của
Trà đạo” (Đất Phù Tang, Cái đẹp và tôi, Kawabata Yasunari, bản dịch của
Cao Ngọc Phượng, Lá Bối, 1969).
Như vậy, cái đẹp của thiên nhiên (Tuyết –
Nguyệt – Hoa) đã liên kết con người với con người trong tình bạn, đưa đến một
niềm giao cảm thâm sâu.
Ở Việt Nam tuyết hầu như không
có. Để biểu hiện thiên nhiên, người Việt thường dùng hình ảnh Non – Nước trong
tư tưởng lưỡng phân lưỡng hợp.
Nhà thơ Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi
tập (thế kỷ XV) nhiều lần nhắc đến cặp từ Non – Nước (trong các bài 36,
41, 46, 78, 86,88, 95, 143, 156) hoặc tạo ra các cụm từ : Non lạ nước
thanh, non cao nước cả…Và ông cũng là nhà thơ của Nguyệt. Ông gọi trăng
là Nguyệt mà ít khi dùng từ trăng.
Với tâm hồn rất Việt Nam của Nguyễn
Trãi, Non – Nước là thế giới của tự do, nơi con người tiêu dao tự tại :
Chơi nước chơi non đeo tích cũ…
Ông tự nhận mình là con người có thói quen
(tích cũ) chơi với nước, với non. Và tất nhiên chơi với vầng trăng :
Nước còn nguyệt hiện, sá thôi chèo…
Và đến tận thế kỷ XX, tình yêu Non – Nước
và Nguyệt ấy vẫn còn vang vọng nồng nàn trong thơ Tản Đà :
Nước non vắng khách hữu tình
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai
…..
Đêm thu trăng gió một lời…
Nếu như Hoa – Tuyết – Nguyệt là cái đẹp tuyệt
vời của thiên nhiên đối với người Nhật, giúp họ giao cảm với bạn hữu, nhân gian
thì Nước – Non là hình tượng thân yêu của thiên nhiên đối với người
Việt, giúp họ yêu quê hương đồng bào. Cái “nhớ ai” thường thấy trong thơ ca Việt Nam không
hẳn chỉ là thương nhớ một người mà có thể là thương nhớ tất cả những gì thân
yêu.
Người Nhật còn có núi Fuji (Phú
Sĩ) như là một biểu tượng tráng lệ của thiên nhiên và của những gì linh thiêng
nhất, và của tình yêu con người. Như lời của Thiền sư Hakuin (Bạch Ấn) thế kỷ
XVIII :
Koibito wa kumo no ue ni naru ofujisan
Harete auni wa yuki no hada miru
Núi Fuji, người yêu vươn mình trên mây
Khi trời trong ta thấy làn da em trắng tuyết.
Cảm thức thiên nhiên của người Nhật, cũng
theo Isamu Kurita, dựa trên ba yếu tố cơ bản sau đây :
Thứ nhất, thiên nhiên không tĩnh tại mà
luôn luôn biến dị giống như vòng xoay vô tận của các mùa. Cỏ cây, cầm thú, con
người liên tục sản sinh theo năng lực hầu như là “tính dục” của vũ trụ.
Thứ hai, thiên nhiên cho dù hung bạo đến
đâu cũng chứa đựng một yếu tố hòa điệu hay là trật tự. Nó có một cái gì đấy
siêu phàm. Trong núi sông, biển bờ, cỏ cây đều ẩn một thần linh. Sự tôn thờ mặt
trời là biểu hiện của niềm tin ấy, một niềm tin mang tính trực cảm. Do vậy, người
Nhật trong khi tôn thờ sẽ hướng về một phong cảnh thiên nhiên hơn là một vị thần
có hình thể.
Thứ ba, người Nhật không xem thiên nhiên là
cái đối lập với con người hay là cái mà con người phải chinh phục. Thay vì thế,
họ tin rằng con người sống hòa hợp trong lòng thiên nhiên, thiên nhiên hiện hữu
đồng đẳng với con người và hai bên có một mối giao tình thân thiết. Nói cách
khác, cả thiên nhiên và con người chỉ là hiện tượng tạm thời của vòng luân hồi
chuyển sinh (rinnetensho). Để có thể hòa đồng với thiên nhiên, họ phải phủ định
tự kỷ của mình (jiko hitei), hướng tới thể nhập chân không. Đó là một chân
không đầy ắp thiên nhiên, nơi ta tìm lại mình trong một chiều kích sâu thẳm,
cái chân không đầy an lạc mà người Nhật gọi là “sung thực không hư” (jùjitsu
kùkyo)[Isamukurita, Japanese Identity, Fujitsu Institude of Management, tr. 32,
33]
Ba điểm nêu trên cũng không khác mấy với cảm
thức thiên nhiên của người Việt. Bởi vì nó cũng là cái nhìn chung của tư tưởng
Á Đông.
Về điểm thứ nhất, cái nhìn thiên nhiên biến
di thiên nhiên có năng lực tính dục đã được diễn tả trong Kinh Dịch, hệ từ hạ
truyện : “Nam nữ cấu tinh, vạn vật hóa sinh”.
Với người Việt thiên nhiên cũng biến đổi và
hóa sinh, cũng ra đi và trở về trong một lời thề nguyền thiêng liêng của tình
yêu – Thề Non Nước :
Nước non nặng một lời thề…
(Tản
Đà)
Về điểm thứ hai, thiên nhiên hòa điệu và ẩn
chứa thần linh. Trong tư tưởng Thần đạo, người Nhật tìm thấy thiên nhiên có thần
và tuyệt đẹp.
Khi người Nhật đi ngắm hoa đào hay ngồi dưới
bông hoa không chỉ vì cái đẹp mà còn muốn giao cảm với linh thần của cây hoa.
Cũng như khi ngắm núi Fuji, họ tự hỏi đấy có phải là một linh thần – theo
lối một bài thơ về núi Fuji trong Manyoshu (Vạn diệp tập) :
Cả những vầng mây trắng
Không dám giăng ngang đầu
Sợ vùng linh thiêng ấy
Chim nào dám bay cao
Chỉ có tuyết và lửa
Trên đầu non đấu nhau
Tuyết vùi lấp
Lửa cháy thiêu
Cuộc thư hùng ấy
Vẫn vô hạn kỳ
Và trong huyền bí
Thần linh đang đi
….
Người chở che
Đất nước Yamato này
Nơi mặt trời mọc
Người là một linh thần
Hay người là vẻ đẹp
Của núi đồi cao thâm
Ôi ! Fuji huy hoàng
Trước người, xin được
Đứng nhìn ngàn năm !
Với người Việt, thiên nhiên ít đậm tính chất
linh thần như người Nhật mặc dù cũng thường hay nhắc đến câu “thần cây đa, ma
cây gạo, cú cáo cây đề” hoặc cũng yêu huyền thoại như Sơn Tinh, Thủy Tinh.
Trong khi tín ngưỡng từ xa xưa của Nhật là
Thần đạo xưng tụng thần linh thì tín ngưỡng người Việt lại xưng tụng các Tổ, Mẫu
và Thánh.
Tổ là tổ tiên, Mẫu là mẹ. Mẹ là thiên
nhiên, mẹ vạn vật. Như Mẫu Thượng Ngàn là bà chúa áo xanh của núi rừng và Mẫu
Thoải là bà chúa áo trắng của sông nước. Thánh thường là các anh hùng và những
người có công đức lớn với dân như Thánh Gióng, Chử Đồng Tử…
Các vị thiêng liêng trên cho dù siêu phàm đến
đâu cũng thường là có nguồn gốc con người, từ con người đi lên, thăng hoa làm Tổ,
làm Mẫu, làm Thánh trong trí tưởng tượng hàm ơn của người Việt.
Thơ ca Việt Nam miêu tả thiên
nhiên thường ít gợi lên cái thiêng liêng mà gợi lên cuộc sống thường ngày, công
việc thường ngày :
Lên non đón gió lấy trầm
Xui ong làm mật, giục tằm nhả tơ.
(Ca
dao)
Nhà thơ Kahlil Gibran trong tập Kẻ
tiên tri có viết : “Đời sống thường ngày là đền thờ và tôn giáo của các
người”. Kẻ lên non đón gió tìm trầm kia, chàng trai người Việt nào đấy, có phải
đang theo một tín ngưỡng gọi là “Đời sống thường ngày”.
Và ngay cả khi nhắc đến Phật và Tiên ở một
danh lam thắng cảnh, nữ sĩ Hồ Xuân Hương có một cái nhìn rất Việt Nam :
Người quen cõi Phật chen chân xọc
Kẻ lạ bầu tien mỏi mắt dòm.
Như vậy, những Tổ, Mẫu, Thánh, Tiên, Phật
cho dù có phảng phất trong cảm thức thiên nhiên của người Việt vẫn là dáng dấp
thân quen nào đấy trong đời sống thường ngày.
Điểm thứ ba trong cảm thức thiên nhiên của
người Nhật là mối giao cảm với thiên nhiên, giao cảm với chân không, quên đi tự
kỷ, tức phủ định cái ta nhỏ bé đi.
Cái giao cảm ấy người Nhật cảm thấy rõ đến
mức con người và thiên nhiên dường như có thể trò chuyện với nhau, có thể đồng
tình và cộng hưởng. Như trong một bài thơ Haiku (thơ 17 âm tiết) của thi hào
Bashô :
Te o uteba
kodama ni akuru
natsu no tsuki
Tôi vỗ bàn tay
dưới trăng mùa Hạ
tiếng dội về, ban mai !
Một đêm mùa Hạ bên sông Sumida, Bashô bước
ra khỏi Ba Tiêu am của mình, ngước nhìn vầng trăng phai mờ. Một tưởng tượng nào
đấy đã xui ông vỗ nhẹ bàn tay làm dấy lên một âm vang (kodama).
Với âm vang đó, ánh ban mai đã mọc. Như thể
vũ trụ đang trả lời. Hay đúng ra ánh sáng ấy ở ngay trong Bashô, không sai biệt
với ánh sáng bên ngoài và nó đang trả lời tiếng vỗ tay của chính ông.
Ba trăm năm đã qua từ tiếng vỗ tay đó nhưng
bài thơ đêm ấy của Bashô thì còn lại.
Cái giao cảm ấy với thiên nhiên cũng rất
thường thấy trong thơ Việt Nam.
Lụy nhớ mưa ngàn tuôn nườm nượp
Tóc thề mây núi bạc phơ phơ.
(Quách
Tấn)
Đó là nhà thơ nói về Đá Vọng Phu. Và đá sống
dậy trong một thời gian ướt đẫm tình yêu của mưa ngàn và mây núi.
Càng đắm mình vào thiên nhiên, người ta
càng dễ quên đi tự kỷ. Văn hóa Nhật thấm nhuần tinh thần Thiền, từ đó người Nhật
có thể cảm nhận một thiên nhiên đầy ắp chân không và một chân không đầy ắp
thiên nhiên.
Nói như Toshimitsu Hasumi, đấy là :
“Khi người ta cảm nghiệm được chân không
trong hiện hữu và hiện hữu trong chân không thì nhờ cả hai người ta tìm thấy
Bình An mà sống” [Zen in Japanese Art, Toshimitsu Hasumi, London, tr.
102].
Cảm nghiệm đó có thể được gợi lên từ một
bài thơ Haiku của Bashô :
Arayumi ya
sado ni yokotau
amanogawa
Ôi biển hoang vu
ngân hà vươn trải
ôm đảo Sado.
Vì không còn cái ta nhỏ bé, tâm hồn có thể
vươn trải như một dải Ngân hà, ôm ấp toàn thể thế giới bao la trong cái biển
chân không vô tận.
Như lời Kikai viết về một thiền sư : “Chiếc
cầu vồng đỏ bắc ngang vòm trời kia sở dĩ có là bởi hư không đang nhuốm sắc. Ánh
sáng kia trắng là vì bầu trời đang sáng dần. Không có gì để hứng lấy màu sắc cả.
Với một tâm trí như bầu trời trống kia, người tô màu cho mọi cảnh trí, nhưng rốt
cuộc không có vết tích gì còn lưu lại. Trong một thứ thi ca như thế, ta có thể
tìm thấy Như Lai, thấy pháp thân và thấy chân lý [Đất Phù Tang, Cái đẹp và
tôi. Kawabata Yasunari, Cao Ngọc Phượng dịch, Lá Bối, tr. 50, 51].
Đấy cũng là điều mà Việt Nam, thi hào
Nguyễn Du gọi là : “Mãn cảnh giai không hà hữu tướng” [cảnh vật đều là chân
không thì làm sao có hình tướng]
Các nhà thơ Thiền nói thế là để ta đừng chấp
vào hình tướng mà quên đi cái thiên nhiên thật sự vô cùng huyền diệu, cái vũ trụ
đang ôm ấp chúng ta.
Cảm nghiệm thiên nhiên của Bashô và Nguyễn
Du đầy thiền vị vì nằm chung văn hóa Thiền của Á Đông.
Qua những điều xem xét trên, có thể thấy rằng
tình yêu thiên nhiên của người Nhật và người Việt có nhiều điểm tương đồng,
không xem thiên nhiên như là một đối tượng khách quan hay một khách thể bất khả
tri. Trái lại, cả hai đều lấy giao cảm với thiên nhiên làm trọng theo tinh thần
Kinh Dịch : “thiên văn” (cái đẹp của thiên nhiên) giao cảm với “nhân văn” (cái đẹp
của con người), thiên nhân hợp nhất.
Nhưng cảm thức thiên nhiên của người Nhật
có những trải nghiệm trong văn hóa Thần đạo và Thiền tông. Họ xem thiên nhiên,
tự nhiên (shizen) là thần linh (kami) và xem thần linh là tự nhiên. Họ cũng xem
thiên nhiên là biểu hiện của Chân không (Kùkyo).
Trong khi đó, cảm thức thiên nhiên của người
Việt mang dấu ấn của một đời sống văn hóa coi trọng một thứ tín ngưỡng của đời
sống thường ngày. Thiên nhiên cùng với con người “xui giục” ong làm mật và tằm
nhả tơ, nghĩa là cùng nhau thúc đẩy cái biến hóa của đời sống.
Tất nhiên là, mỗi cảm thức có một bản sắc.
Hiểu bản sắc của nhau, hiểu tình yêu thiên nhiên của nhau, vậy là có thể làm bạn
đồng hành với nhau.
Và khi thưởng ngoạn cái đẹp của thiên
nhiên, hơn bao giờ hết ta nhớ đến “bạn”.
23/3/2007 Nhật Chiêu
23/3/2007


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét