Nguyễn Linh Khiếu với Phồn Sinh:
"Ta một mình ở lại để dòng
sông trôi đi"
Đồng hành với các nhà thơ đương đại như Hoàng Hưng, Dương Kiều
Minh, Nguyễn Quang Thiều, Trương Đăng Dung, Mai Văn Phấn, Nguyễn Trọng Hoàn...
Nguyễn Linh Khiếu đã tạo được dấu ấn riêng từ quá trình đi tìm thế giới tự
thân. Lặng nhìn qua ô cửa sổ cuộc đời, nhà thơ đối thoại với mình, lạnh hơn cả
sương tuyết! Kẻ độc hành, cô đơn, một mình ở lại với đời, với người, trong thơ,
không ai khác đó chính là anh, trước biến chuyển khôn lường của vũ trụ.
Từ Chùm mơ tiên cảm (1991), Mùa
thiêng (1995), Hoa linh (2000) Sa hồng (2018), Beijing
- Lá phong vàng (2018), Phồn Sinh (2018) và Dòng Thiêng (2019)
có thể thấy một chân dung Nguyễn Linh Khiếu khá bí ẩn, luôn buồn lặng trước bộn
bề cuộc sống. Dù bao lần thấy mọi người tranh cãi sôi nổi, nhiều chuyện, cả những
vấn đề liên quan đến đổi mới nghệ thuật, cả những vấn đề liên quan trực tiếp đến
thơ anh, tên anh cũng không thấy anh nói gì. Với anh Tranh cãi với những
người không biết thì thật ngốc nghếch bởi Những thân cành khô kia làm
sao chứng minh được đó là anh đào (Anh đào), [1, tr.37]. Anh vẫn ở đó, im
lặng, hiện hữu với nỗi cô đơn, hoang hoải giữa cõi người. Đêm phương Bắc
thăm thẳm trong suốt. Có thể nghe được tiếng thì thào của xa xưa. Bỗng dưng
hoang mang hoảng hốt vô cùng (Trăng non) [1, tr. 27]; Nhìn cây run
lên giữa đêm đông băng giá Beijing lòng mình bỗng dưng chùng xuống. Sự sống bị
vùi dập giữa đêm đen băng giá (Gió đêm) [1, tr. 28]. Một mình, với anh là hạnh
trắng, là triết luận về quan niệm đắc thời và thất thế chỉ là tích tắc trong cuộc
đời mỗi con người. Vinh và nhục chỉ là chớp mắt trong nhân gian. Điều căn bản
trong tâm thức nhà thơ là phải luôn giữ được phẩm hạnh bản nguyên của mình, dù
hoàn cảnh thế nào mình vẫn cứ là mình. Như có lúc anh từng mơ ước nếu ta
có một quốc gia/ trên lãnh thổ nhiệt đới phì nhiêu của mình ta chỉ trồng
hoa hạnh/ người yêu hoa khắp thế gian hành hương về chiêm ngưỡng/ thiên
đường hoa hạnh của thi nhân (thiên đường hoa hạnh) [2, tr 11]; ta một
mình trong cơn mưa nhiệt đới mỡ màu thánh thiện/ ta một mình trú ẩn dưới
trắng ngần hao hạnh giữa cơn dông (hạnh trắng), [2, tr 56]; một mình
lang thang ngổn ngang hoang phế/ một mình sừng sững cột sắt chiều vàng/ hoa
cỏ thì thào giai điệu phồn sinh (Cột sắt New Delhi- Sa hồng) [2, tr 76]...
Nhưng đến Phồn Sinh thì khác, nhà thơ lặng lẽ đối
thoại, theo cách riêng của thơ, không cùng chung con đường với bất cứ ai! Một
mình, ngẫm, hạnh phúc, đau khổ, được mất, những tổn thương, những biến cố bất
ngờ, những quy luật phi lý không thay đổi được... càng cô đơn! Khi con người thật
sự “tự do” về bản thể của mình, khi những rào cản về mặt tư tưởng đã được gỡ bỏ,
nhà thơ thỏa sức kiến tạo thế giới nghệ thuật riêng. Phồn Sinh là kiểu hình thức
mới của Cái Tôi bản thể Nguyễn Linh Khiếu soi ngắm thế giới từ bên trong mình.
Anh đã từ một góc nhìn riêng, đồng hành với các nhà thơ thế hệ 5x trong quá
trình nỗ lực cách tân nghệ thuật để tạo dựng một nền thơ Việt Nam hiện đại.
Thơ, với Nguyễn Linh Khiếu hình như ban đầu chỉ là kiểu nhật
ký truyền thống ghi lại cảm xúc lúc cô đơn. Nhưng càng về sau, nhà thơ càng thấy
không thể viết lại hết những cảm xúc chợt đến bằng một hình thức thơ gò bó. Nguyễn
Linh Khiếu đột phá thể thơ, kết cấu, chuyển hóa ngôn từ “phồn sinh” theo nhiều
cách khác để diễn tả tình yêu, nỗi cô đơn của tha nhân, của chính mình. Một
mình, tự nguyện ở lại với lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc nhưng luôn tìm
cách đổi mới hình thức thơ, hướng đến không gian trong trẻo như loài hoa hạnh
trắng. Có lẽ đây cũng là một trong những khởi nguồn cho Phồn Sinh của
Nguyễn Linh Khiếu. Những biến chuyển mới của thời hiện đại đáp ứng được nhu cầu
vật chất nói chung, nhưng không phải giá trị nào của cuộc sống mới cũng phù hợp
với văn hóa người Việt. Những khập khễnh, lệch chuẩn luôn tiềm ẩn những bất đồng.
Nếu không giải quyết được những mâu thuẫn cuộc sống diễn ra hàng ngày, con người
phải chấp nhận cô đơn. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhà thơ lựa
chọn cách một mình, lặng lẽ bước vào hành trình định giá lại giá trị văn hóa lịch
sử ngàn năm châu Thổ.
Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh đã thống kê 287 lần tác giả dùng
từ ta là (ta - Linh - Muslim) /136 lần dùng từ phồn sinh với
nhiều ý nghĩa khác nhau. Với tâm thức ta - một mình, độc hành trên con đường
sáng tạo, không có nhu cầu được khen chê, Nguyễn Linh Khiếu đã tạo nên một kiểu
thơ hoàn toàn không giống ai. Một mình ta đơn độc giữa thế giới náo nhiệt, đối
diện với không cùng vũ trụ, Nguyễn Linh Khiếu mang phong cách của nhà thơ thời
đại, của triết gia thời kỳ biến đổi. Phồn sinh vì thế có bàn về tự do, về dân
chủ, về sự thật, về tinh thần giải phóng, về cội nguồn, về một dân tộc quật cường...
nhưng một mình ở lại - ta là ai? ... là con cái của dân tộc quật cường dân
tộc hiên ngang bất khuất [3-110]// ... là đứa con của dân tộc kiêu
hãnh dưới mặt trời nhiệt đới [3-114] // ... là đứa con của châu thổ
Sông Hồng [3-123]
Ta soi vào khuôn mặt người để đối diện với cả loài người, ta
soi vào khuôn mặt người để ta đối diện với cả thế giới. Trong thế giới này, con
người, dù màu da có khác nhau, chính kiến có khác nhau nhưng vẫn cần phải luôn
nương tựa vào nhau để sống. Con người là con người thế giới lớp lớp kế tiếp
nhau, là nhân quả của nhau khăng khít trong kiếp luân hồi. Có khi nào ta - một
mình soi vào khuôn mặt người để ta đối diện với chính mình, để đi tìm lời giải
đáp cho câu hỏi vì sao ta có mặt ở hiện tại, trong cõi phù sinh? Ta - khi một
mình mới hiểu sâu về nguồn cội, ta sinh ra ở đâu, như thế nào?
ta sinh ra nơi cửa mở sông Hồng/ nước rực đỏ cuồn cuộn
dâng trào hùng tráng những bến bờ/ nước phơi phới phập phồng cồn cào sinh lực [3-136]
soi vào khuôn mặt ai ta khám phá ra khuôn mặt Linh
...
khám phá ra bản chất đời sống phương Đông thung dung an nhiên
tự tại của các hiền nhân quân tử của các tao nhân mặc khách của các tài tử thi
nhân của các bậc lão làng trưởng họ thâm trầm phơ phơ tóc râu đại thọ [3-163]
Cũng có khi một mình ta đơn độc giữa hành trình đi tìm chân
dung nàng thơ theo một cách riêng. Con đường độc hành bao gian nan khó lường
trước. Có khi nhà thơ một mình nhập thân vào loài vật tuân theo quy luật 12 con
giáp theo quan niệm của người phương Đông: Từ Tí, Sửu, Dần...Hợi. Nhưng 12 con
vẫn chưa đủ, một mình ta còn có thể ở lại với chú chim hải âu bé nhỏ, là chú vịt
tài hoa, là chú cá nhỏ nòng đong cân cấn, là con tôm ngúng nguẩy, là thủy tức
loài sinh vật nhỏ nhoi nhút nhát, là con giun cần mẫn, là con sâu yếu ớt và mềm
nhũn, là cái kiến bé nhỏ lầm lũi, là con ruồi bay rối rít, là con muỗi với đời
sống vô cùng ngắn ngủi, là con giòi nhung nhúc trong đống phân trâu, là con dế
mèn võ sĩ, là con cánh cam xanh biếc, là con bọ hung đen thui bóng lộn bẩn thỉu
hiện hình của Lý Thông gian ác... Là những con không hề xuất hiện trong lục thập
hoa giáp nhưng đều có số phận riêng của nó, lận đận... như số phận bao người tự
quàng vào mình thành kẻ làm thơ.
Một mình, nhập thân vào con vật vẫn không nói hết, nhà thơ
còn hóa nỗi cô đơn vào thiên nhiên. Đó là khi một mình ta như tia nắng mặt trời
tưới nguồn sống xuống khắp thế gian, khi là ngọn gió tự do bay dài rộng hay bạt
ngàn bay mênh mông bát ngát, khi là cái cây lúc lỉu quả vàng, khi là ngọn cỏ
bao giờ cũng xanh mướt, khi là cây nấm bất ngờ rơi từ trời rơi xuống, khi ta là
dòng nước trong vắt chảy đầm đìa, khi ta là hạt phù sa cuồn cuộn trôi nổi trên
sông Hồng. Nhưng một mình, thật lạ, không gì hơn vẫn mang cảm giác rợn ngợp,
khi đã là con người phập phù trong vũ trụ.
khi ta là con người/ khi ta là bất cứ cái gì/ chẳng hiểu sao
trong vũ trụ bao la này bao giờ ta cũng là một cái gì đó nhưng bao giờ ta cũng
không phải là nó [3-54]. Phồn Sinh nói còn về vấn đề đối thoại
và hòa hợp giữa phụ nữ với đàn ông. Phụ nữ với anh như que kem, mát lạnh
và hấp dẫn, chứa bao điều vĩ đại. cơ thể phụ nữ chính là bí mật vĩ đại nhất
của thế giới này [3- tr. 301]. trong thế giới này không có hành vi
nào tuyệt vời bằng cưỡi lên lưng nhau cưỡi lên bụng nhau cắn đuôi nhau quấn
quanh nhau không có hành vi nào tuyệt vời bằng hành vi đạp mái nhảy đực [3-tr.307].
Nhiều phát ngôn về phụ nữ nhẹ nhàng, trân trọng, chan chứa yêu thương, nhưng
cũng có những lúc dữ dội:
đàn ông là thần dược của đàn bà/ đàn bà là thần dược của đàn
ông/ đàn ông bao giờ cũng là bã thuốc của đàn bà/ đàn bà bao giờ cũng là vực thẳm
chôn sống tất cả đàn ông [3-396] / nơi nào nhiều đàn bà đẹp đàn
ông ở đó bao giờ cũng là chó má trau bò ruồi nhặng giun dế giòi bọ ma quỷ [3-
362]
Phồn Sinh còn bàn về sự thông minh của con người, về chiến
tranh, đao phủ thời hiện đại, về thiện ác, về đạo đức học, mỹ học, khoa học,
triết học, văn chương, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, chính trị, tôn giáo... theo
cách nhìn của người làm nghệ thuật. sự thông minh và vĩ đại của những con
người hiện đại đang hàng ngày hàng giờ đưa nhân loại đến tự hủy diệt mình có phải
trong triệu triệu năm vẫn xoay của trái đất nhân loại vẫn loanh quanh một vòng
tuần hoàn tột đỉnh giầu sang sung sướng đó cũng là khởi điểm con đường tất
yếu tuyệt diệt nhân loại đã trải qua nhiều lần được sinh ra và nhiều lần tự
mình hủy diệt [3-247]
ta chợt hiểu ra đã hàng ngàn năm nhân loại xưng danh con người
nhưng nhân loại vẫn luôn hiện nguyên hình một loài thú dữ [3-267]
trên thế giới này chưa có loài dã thú nào ác hơn hơn loài thú
tên người [3-270]
hạnh phúc bao giờ cũng giống nhau nhưng các xứ sở khác nhau
các dân tộc các xã hội khác nhau rất khác nhau về hạnh phúc/ hạnh phúc chỉ là một
nhưng cái kiểu hạnh phúc của mỗi con người mỗi dân tộc mỗi nền văn hóa lại khác
nhau/ hạnh phúc chỉ là một nhưng mỗi người lại có một hạnh phúc/ không có
hạnh phúc chung cho tất cả mọi người [3-295]
ở đâu trên thế gian này cũng vang lừng khúc ca tinh cha huyết
mẹ/ chẳng có gì hùng vĩ hơn cha/ chẳng có gì diệu kỳ hơn huyết mẹ [3-315]...
Và trong thời khắc chọn một mình ở lại, anh đã phải thốt lên:
hỡi con người hãy kính trọng tôn vinh nhau đúng như con người [3,
tr 320]
Phồn Sinh còn nói về quy luật tự nhiên, ghi nhận, đồng
thuận với quy luật tự nhiên. Thừa nhận tự nhiên tồn tại vĩnh hằng trong không
gian và thời gian đời người. Câu thơ quy luật của tự nhiên là quy luật vô
cùng tiết kiệm [3-331] được nhắc lại nhiều lần đầy ẩn ý:
con người buồn cười thật/ thế giới này có nghĩ gì đâu/ cái gì
có là có cái gì không là không/ cái gì có là không cái gì không là có/ ngay cả
không và có cũng chỉ là cảm giác của ta [3-tr.332]
quy luật tự nhiên muôn đời là tiết kiệm [3-tr.336]
quy luật tự nhiên muôn đời là tiết kiệm [3-tr 341]
Con người trong Phồn Sinh là con người cá thể soi
mình vào xã hội, vào cái ngoài mình để nhận diện đúng mình. Con người với nỗi
cô đơn bản thể luôn biết cách tự nhận diện mình trước các giá trị phổ quát của
nhân loại để khẳng định rõ hơn về mình, ý thức về giới hạn của mình và nỗ lực
vượt lên giới hạn.
mỗi chúng ta chỉ có năm mươi phần trăm để tồn tại trên đời/
còn năm mươi phần trăm kia là thuộc về người khác [3-341]
Phồn Sinh ẩn chứa năng lượng của thế giới reo gọi, những năng
lượng tương đồng trong chính con người khi đối diện với bản thân mình. Đó cũng
là thông điệp của một triết gia trong hành trình luận giải sự vô thường của thế
giới, sự hiện sinh của cõi người, sự tồn tại của mọi sinh linh.
sự thông thái bao giờ cũng là kẻ thù của đám đông [3-
tr.368]
ta chỉ là một triết gia nửa đời nửa đạo/ một thi nhân nửa tỉnh
nửa mê/ một nam nhi nửa đàn ông nửa đàn bà một con đực nửa già nửa non [3-
tr.392]
Trong hành trình dằng dặc cô đơn ấy, nhà thơ trở về bản thể của
chính “ta”. Phồn Sinh như thế đã được viết bằng cảm xúc, bằng hơi thở,
bằng nước mắt và cả máu. Phồn Sinh còn mang hơi thở dung dị của cuộc
sống, gần với sự bắt đầu của châu thổ Sông Hồng. Nhà thơ, nếu là nhà thơ
chân chính thì muôn đời, vẫn còn luôn ở đó, sông Hồng vẫn cứ trôi! Và, anh vẫn
một mình, cô đơn ở lại trong ngôi nhà ngôn ngữ hữu thể!
ta đã viết bản trường ca Phồn Sinh bằng chính sinh mệnh của
mình/ bản trường ca Phồn Sinh đã viết ta bằng chính thiên mệnh của ta/ không viết
bản trường ca Phồn Sinh nghĩa là ta không hề sinh ra trên mặt đất/ viết bản trường
ca Phồn Sinh rồi không biết ta sẽ sống trong thời đại của ta thế nào [3-tr.709]
đi đâu rồi cũng trở về nơi mình ra đi/ trở về nơi mảnh đất cửa
biển ven sông quê cha đất tổ [3- tr. 622]
đi đâu rồi cũng trở về ngôi nhà của mình [3- tr.137]
hạnh phúc biết bao nếu những người còn là con người [3-
tr.673].
Một mình ở lại, suy tư, đặt lại vấn đề truyền giống, sinh sản,
giao hoan, hôn phối, đàn ông, đàn bà... tất thảy. Thơ Nguyễn Linh Khiếu không
chỉ có khả năng truyền lực sống theo nghĩa giống nòi (sinh sản đó là giá trị của
mọi giá trị) [3- tr. 679], mà còn ăp ắp năng lượng tinh thần, tính nhân văn,
chuyển tải nhiều thông điệp về đạo làm người trong xã hội... Phồn Sinh còn
là sự cố tình sắp xếp các kiểu ngôn từ theo cách mạch đồng hiện cảm xúc. Các cấp
độ từ đứng cạnh nhau ở nhiều dạng thái: khó hiểu - dễ hiểu; đơn nghĩa - đa
nghĩa, sang trọng - bình dân; có học vấn - không học; có khả năng sống - hiện hữu
của sự chết... Hình như ngay lúc cầm bút, tác giả không có nhu cầu được người đọc
hiểu mình. Phồn Sinh vì thế đã “thật thà” giúp nhà thơ ghi lại cảm
xúc, giải tỏa ẩn ức, giải phóng năng lượng ngôn từ chất chứa bao lâu, bao năm
chưa nói ra được với mình. Đây cũng là những dòng tự thuật tâm trạng nhất,
không ngại, không sợ, là chính mình trong phồn sinh tư tưởng. Một mình ở lại, vắng
vẻ, chót vót trên đỉnh đồi tư duy. Một mình tự thay đổi các dạng thế: đứng đầu,
bơi lên trên, lặn xuống đáy, bay trên, ngụp dưới, ngồi nhìn từ xa, lại gần... để
cảm nhận sự biến ảo diệu kì của thế giới ngôn từ. Dòng sông ấy không còn là
châu thổ mà đã hóa sông thơ, dòng phồn sinh trong cảm xúc của thi sĩ đa tài.
Không cần đức tin vào một tôn giáo duy nhất, không cần nhà thờ, không cần không
gian cầu nguyện linh thiêng của giáo đường nhưng Nguyễn Linh Khiếu đã như là một
vị giáo chủ truyền “đạo đời” Phồn Sinh lạ, quyến rũ. Thơ anh vì vậy, có khi mộc
mạc, giản đơn, có khi phức tạp, du dương như tiếng hót của một loài chim lạ. Là
loài chim không cần tên tuổi trong vũ trụ bao la, hiếm khi phô trương thân
hình, chỉ hiện diện khi cất lên tiếng hót vang vọng, trong trẻo.
Xét về mặt ngôn từ, thơ anh vừa có sự sáng tạo, vừa có sự hủy
diệt ngôn từ vì khả năng sản sinh từ mới trùng điệp. Lối tư duy triết học hiện
sinh, dòng chảy cảm quan vô thức vừa thừa nhận cái ngẫu nhiên và tất nhiên, vừa
là sinh mệnh vừa là thiên mệnh, vừa tốt tươi, trẻ trung, ngây thơ, vừa khô héo,
xù xì, từng trải... đều có trong thơ Nguyễn Linh Khiếu. Cũng như đã có lúc anh
tự nhận mình là con của nhiệt đới gió mùa, của mặt trời quanh năm đỏ tươi
nồng nàn bỏng cháy, là đứa con của trung tâm mưa giông bão tố, con của vành đai
động đất sóng thần đất núi lửa... nhưng hơn tất cả, xem ra tự hào nhất với ông
vẫn là ta - một mình trong vị trí người con trai lịch lãm ở lại với châu thổ
sông Hồng luôn cồn cào rạo rực giàn dụa phù sa.
Thơ Nguyễn Linh Khiếu đã “khoe sắc” từ những điều giản dị.
Không tô vẽ rực rỡ, nhưng không chấp nhận kiểu thơ thiếu dụng ý của kỹ xảo của
hình thức ngôn từ, cũng không chủ ý chuyển tải đạo đức nặng nề như thơ truyền
thống mà nhẹ nhàng đưa đến cho người đọc những ngẫm ngợi sâu xa về lẽ đời, về
triết lý nhân sinh, về ngọn nguồn sự sống. Đọc thơ anh vì thế phải ngẫm “ngẫm
mà xanh”. Bởi thơ Nguyễn Linh Khiếu trước hết là nhật ký của cảm xúc tâm hồn, cồn
lên nỗi nhớ và nhớ, đồng vọng về quá khứ với khao khát yêu thương và hướng đến
tương lai với những hành vi sống đẹp. Lược bớt hoàn toàn hình thức câu thơ truyền
thống ở cách ngắt dòng, không sử dụng dấu câu, Phồn Sinh buộc người đọc
phải theo dõi liên tục mạch cảm xúc của tác giả đôi lúc đến mệt mỏi, muốn bỏ cuộc.
Tuy nhiên phồn Sinh có nhiều chương, nhiều câu thơ mang tính hài hòa
về âm điệu khá rõ nên luôn tạo hứng thú cho người đọc cùng đồng hành sáng tạo với
nhà thơ trên hành trình đến với chân trời châu thổ. Nhà thơ đã tận hiến, mê
say, nâng niu từng khoảnh khắc sống, từng phút giây có mặt trong hiện tại. Những
chuyến đi, những buổi gặp gỡ ân tình sâu nặng, cũng như những khoảnh khắc gặp gỡ
ngắn ngủi vì công việc, vì hoàn cảnh, vì nhiều lí do, anh đều trân trọng, nâng
niu như những báu vật. Đó là phong cách riêng của thơ cũng như trong cuộc sống
của Nguyễn Linh Khiếu. Những điều bình dị trong cuộc sống được anh làm mới thêm
trong thơ bằng trái tim nhạy cảm của thi sĩ. Giản dị cũng là phần thiết yếu tạo
nên con người anh, nuôi dưỡng cuộc sống hiện tại của anh trong tình thân ái,
chan hòa với mọi người.
Thơ Nguyễn Linh Khiếu có nói đến nhiều chủ đề khác như tình
người, tình yêu, lẽ sống, tồn tại của xã hội, sự biến dịch của vũ trụ, hiện tồn
của không thời gian…, nhưng đọng lại trong lòng người đọc là lời cảm ơn tình
nghĩa của tác giả đến tất cả những người luôn yêu quý mình, hiện hữu bên mình,
và cảm ơn cả những người khác mình, chưa thích mình, “lúc hiện hữu, lúc không”.
Với anh, hiện hữu của tất cả họ đều luôn quan trọng, luôn có trong ký ức của
anh để giúp anh hiểu, anh lớn thêm, để làm một con người đúng nghĩa. Dù những kỷ
niệm có làm anh hạnh phúc hay đớn đau cả tâm hồn lẫn thể xác thì đó cũng là những
phần thiết yếu cho anh có những bài học sống trải quý giá trong cuộc đời. Dù đã
có lúc cô đơn đến cùng cực, không sẻ chia được đến phải lặng im, nhưng lặng im
của anh là kiểu lặng im cồn cào đáy biển để chuẩn bị cho những đợt sóng dữ dội,
sự “lên men” của thơ.
Con người sống trong đời là vì khao khát điều gì đó chưa làm
xong. Sẽ hết lí do để sống nếu không còn biết khao khát! Thơ anh giúp người đọc
hiểu rõ trong tận cùng nỗi cô đơn khắc khoải, con người vẫn phải biết cách sẻ
chia để được bình yên, được sống tận hiến, sống có nghĩa với cuộc đời. Tôi chợt
nhơ câu thơ của Nguyễn Trọng Hoàn, (không biết vô tình hay hữu ý) như là tâm
giao với Nguyễn Linh Khiếu Người ta khổ là do không cháy được/ Dù cháy vì
vui hay cháy vì buồn! (Hình như). Phồn Sinh cũng không phải là lời
than thở khao khát giành quyền sống như thơ ca Việt Nam truyền thống một thời,
mà là sự tự nhận thức bản thể tự cô đơn. Đó là nỗi cô đơn một mình đối diện, gắn
liền với thân phận, luôn trăn trở với khát vọng sống, khát vọng giao cảm trong
thế giới của chủ thể trữ tình. Cuối cùng, đọng lại với người đọc vẫn là màu sắc
triết luận đa chiều trong thơ, nỗi niềm khắc khoải của thi sỹ về phận người cô
đơn trước vũ trụ vần vũ, như có lần anh đã từng ngẫm ngợi: Trong cuộc sống,
không phải tất cả ra đi là sẽ hết, có những lúc ra đi nhưng không có gì biến mất.
Tiếng chim thiêng đâu đó vẫn vang vọng ngàn năm luôn thôi thúc các thi nhân.
Đôi khi chỉ mình ta và hoa mưa vời vợi biển trời (mưa rơi dọc Cam Ranh)
[2, tr 40].
------
[1]. Beijing - Lá phong vàng, (tùy văn) Nxb Hội Nhà văn,
2018
[2]. Sa hồng, (thơ và trường ca) Nxb Hội Nhà văn, 2018
[3]. Phồn sinh, (Trường ca), Nxb Hội Nhà văn, 2018
13/8/2020 Mai Liên Giang
13/8/2020


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét