Rau đắng - Hồn quê
Lâu lắm rồi tôi không có dịp theo nội về khu đất giồng thăm lại mồ
mả ông bà trong ngày Tết đến. Tôi nhớ nhất vào mùa này, trên những rẫy dưa, khổ
qua… rau đắng mọc đầy dưới mặt liếp, xanh mơn mởn, đọng đầy những giọt sương
mùa đông. Những năm còn nhỏ, hay lí lắc, tôi thường trốn nội và các bác không
chịu phụ dọn cỏ mồ mả mà lẻn vào mấy liếp dừa gần đó nhổ… rau đắng. Tôi mải mê
đến nỗi lờ luôn tiếng gọi tìm kiếm của họ, đến khi bị phát hiện thường thì ít
nhất cũng bị mắng cho vài câu. Nhưng bù lại, tôi có đầy một giỏ đệm rau đắng
thơm tho đến nao lòng.
Không biết từ khi nào tôi thèm ăn rau đắùng đến như vậy,
nhưng trrong từng câu hát của bà, tôi nghiệm ra một điều, nó là linh hồn của một
miền quê yên ả, nơi chôn nhau cắt rốn mà bất cứ người con xa quê nào cũng đều
mang theo một nỗi nhớ da diết:
“À ơi… Canh rau đắng, cá rô đồng
Nồi cơm mẹ nấu thơm nồng ban trưa…”
Đa số những đứa trẻ, khi nghe nhắc đến nồi canh rau đắng là
nó cứ lắc đầu nguầy nguậy, không thèm ăn, vì… đắng quá. Đối với tôi, nồi canh
rau đắng ngọt vô cùng, bởi tôi rất thấm thía nỗi gian truân, vất vả của nội
tôi, ba mẹ tôi ngày trước… Thuở ấy, khi mới vào vùng Đồng Tháp Mười khai hoang,
lập nghiệp, trên vùng đất phèn đặc này kiếm một cọng rau đã khó, nói chi đến
chuyện ăn ngon, ăn sướng. Những ngày lũ rút, trên những liếp mía mới trồng,
không biết có phép lạ nào biến hoá mà những nơi ấy ngập tràn rau đắng. Rau đắng
nhiều vô số kể, vương đầy các lối đi, xanh mút tầm mắt. Vụ ấy, gia đình tôi
cũng như một số người dân khu vực Láng Cát… được mùa. Những năm sau, cứ khi nước
lũ rút, khi cái gió Đông se lạnh, người nông dân vào vụ Đông Xuân thì rau đắng
lại về. Cái quy luật đó mãi đến ngày nay tôi mới ngộ ra. Cây rau đắng có sức mạnh
kì lạ, hễ qua một mùa sinh trưởng mà không có người đến nhổ hoặc phun thuốc cỏ
diệt nó đi, khi già cỗi hạt của nó bám chặt vào đất, mùa sau đến hẹn lại lên,
nó phát triển hăng hơn.
Từ lâu, rau đắng nấu canh với cá rô đồng là chuyện không có
gì phải nhắc lại, bởi nó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân quê. Ngày
nay, từ nông thôn ra thành thị, trên các tuyến lộ ta bắt gặp đầy rẫy
các quán nhậu đề bảng: Cháo cá rau đắng. Rau đắng không chỉ có trong vụ Đông
Xuân như trước đây, bây giờ đến các quán này lúc nào cũng có sẵn (nghe nói họ đặt
hàng ở các nhà vườn, nhà rẫy, thậm chí cả việc áp dụng kỹ thuật gieo trồng
quanh năm). Khác với rau đắng biển, rau đắng “mọc sau hè” có vị rất đặc trưng,
thơm quyến rũ và có vị ngọt hậu. Khi dùng rau non, người ta ăn luôn cả rễ, thậm
chí để nguyên bụi mà không tách rời thân nó ra. Nấu canh rau đắng bây giờ cũng
khác và rất cầu kỳ, phải có đủ nấm rơm, đậu hủ non và các loại gia vị: hành,
tiêu, tỏi phi… với nhiều loại cá: cá bóng kèo, cá lóc, cá rô, cá trê, cá điêu hồng…
Ngẫm cũng lạ, người ta chỉ nấu canh rau đắng với cá, chứ không nghe ai nói nấu
canh rau đắng với thịt gà, thịt vịt, thịt heo… Canh rau đắng, gọi như vậy cũng
chưa chính xác. Bây giờ trên những chiếc bếp ga mi ni, nồi cháo đã nấu nhừ sẵn
với các loại gia vị nêm nếm vừa ăn, đem bắc lên bếp riu riu, ăn đến đâu nhúng
rau đắng vào đến đó cho vừa chín tới, để giữ được độ giòn và mùi thơm đặc biệt.
Ngay cả như nấu cháo với cá bóng kèo, con cá khi đã xóc hết nhớt, cho vào đĩa,
bỏ thêm vài cục đá lạnh tạo sự chết giả, khi nào thực khách muốn dùng thì cho
cá vào nồi cũng không muộn. Con cá bóng kèo để nguyên ruột, ăn vừa chín tới mới
ngon.
Ông bà ta ngày xưa, nấu canh rau đắng với gạo, tấm (hay
còn gọi là canh bồi, cháo bồi) thường ăn nguội nên từ khi cho rau đắng vào nồi,
đến khi dọn ra thì nó đã chín rụt.
Quả là sự khác biệt. Thời gian dẫu có đi qua, cuộc sống đã có
nhiều thay đổi, giữ được những cái thực tại đã khó, lưu giữ nét văn hoá truyền
thống văn hoá lại càng không phải chuyện một sớm một chiều. Có chăng ở sự cảm
nhận của mỗi con người chúng ta, biết gìn giữ và chắt chiu những nét đẹp của
văn hoá đời thường. Có to tát lắm không khi tôi gọi rau đắng - ấy là tinh túy,
là hồn quê.
24/1/2005 Nhật Linh
24/1/2005

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét