Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

Bình thơ từ 100 bài thơ hay thế kỷ XX P.1

Bình thơ từ 100 bài thơ hay thế kỷ XX P.1
1.BÍCH KHÊ
Sinh: (1916 - 1945)
Quê: Quảng Ngãi.
Tác phẩm thơ đã in: Tinh huyết, Thơ Bích Khê.
Tỳ Bà
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng sao nằm im trên hoa gầy
Tương tư người xưa thôi qua đây
Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương run trong mơ
Hồn về trên môi kêu: Em ơi
Thuyền hồn không đi lên chơi vơi
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao tôi không màng kêu: Em yêu
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Buồn lưu cây đàn tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô! Hay buồn tương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
Lời bình
Tạo nên khúc Tỳ bà bằng ngôn ngữ thơ, Bích Khê có hai sở hữu:
Thứ nhất là một mối tình run rẩy với giai nhân “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề”. Tất cả những thiết tha, đắm say, mơ mộng dành cho người đẹp giờ đây dồn hết cho âm nhạc, dâng lên cao nhất từ đoạn ba tới đoạn năm, người đọc gặp ở đây tình – nhạc, nhạc – tình hòa lẫn, hiện hình trong cùng một lúc xúc cảm, câu chữ, hình ảnh, âm điệu… Khó mà tách bóc trước sau những yếu tố trên trong những cặp đôi hay đến chót vót.
– Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây đàn yêu đương run trong mơ …
– Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi mang lên lầu lên cung Thương
Tôi không bao giờ thôi yêu nàng
Tình tang tôi nghe như tình lang
– Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Nhưng điệu Tỳ bà phải dần dần hạ xuống bởi niềm say đắm miên man của chàng thi sĩ chỉ là đơn độc.
Trăng nay không nàng như trăng thiu
Đêm nay không nàng như đêm hiu
Không phải sở hữu người tình mà sở hữu một mối tình không, người thi sĩ đã lấy mối đau đớn hy sinh kia làm “vốn” tạo nên khúc Tỳ bà thơ truyền đời. Nảy sinh từ cao thượng ấy, Bích Khê đã mang tới cho thơ Việt những cấy ghép mới đầy cách tân so với thơ mới đương thời: trăng thiu, đêm hiu. Hành xử táo bạo “tiên phong” ấy vẫn cứ là một kêu gọi không bao giờ lùi bước trước sáng tạo thơ cho tới hôm nay và mãi mãi.
Sở hữu thứ hai với tác giả Tỳ bà là thiên nhiên mùa thu tuyệt vời. Vừa hỗ trợ, làm mồi dẫn, vừa là lối thoát cho trái tim đau đớn. Ngay vào bài đã song song có mặt cùng với nàng là mùa thu huyền diệu. Vô cùng tinh tế, ý nhị, vừa kín đáo lại vừa mênh mang:
Nàng ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng đan qua cành muôn tay êm
Mây nhung pha màu thu trên trời
Sương lam phơi màu thu muôn nơi
Khúc cuối bản Tỳ bà, giải thoát cho nỗi vô vọng về người đẹp, đã thánh thót những dây đàn hòa nhập vào mùa thu trùm phủ khắp trời đất, buồn nhưng đẹp đến vô bờ:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Không phải tắt âm với lá rụng với tuyệt vọng mà mở ra, dậy lên men sống của sắc đẹp mùa thu… Cây đàn tỳ bà – trái tim người nghệ sĩ– thi sĩ trong bao khắc khoải vẫn dâng hiến cho đời vẻ đẹp bất tuyệt.
Trong lá thư gửi Hàn Mặc Tử, Bích Khê công bố một quyết định: trong khoảng thời gian ba đến sáu tháng hoặc sẽ bẻ bút, hoặc sẽ trở nên một thi sĩ phi thường. Tập thơ Tinh huyết chính là sản phẩm phi thường ấy, trong đó cùng với một số bài thơ “trổ hoài nghi” (Điểm lạ trổ hoài nghi – Bích Khê), có Tỳ bà. Dụng ý nghệ thuật xây dựng một áng thơ gồm toàn những từ ở thanh điệu bằng ngang (bằng cao) và thanh điệu bằng thấp (bằng có dấu huyền), thật dễ nhận ra. Nhưng một tay thợ chữ khéo cũng có thể gắng gỏi làm được chúng ta phục cảm tài năng một thi sĩ với không ít khám phá ngôn ngữ thơ trong Tỳ bà. Những lửng lơ quấn quýt (đoạn 1, đoạn 2), những dâng cao tha thiết (đoạn 3, đoạn 4, đoạn 5), vẻ mỏng gầy thất vọng (đoạn 6), sự lan tỏa hòa đồng (đoạn 7), thanh bằng chảy suốt bài thơ đã đắc lực góp vào thể hiện những cung bậc tình cảm đan xen ấy. Trong âm nhạc, sự láy lặp từ và nhịp rất quan trọng để tạo giai điệu. Bích Khê nắm vững đặc điểm nghệ thuật đó để sáng tác một bài thơ biểu hiện một bản nhạc, chứ không phải làm lời, làm ca từ cho một nhạc sĩ phổ nhạc. Tài năng chính ở chủ động đầy tự tin ấy. Đây là một văn bản thơ hẳn hoi, hoàn chỉnh. Chỉ có thơ mới tạo được thứ nhạc này:
– Tôi qua tim nàng vay du dương
– Tình tang tôi nghe như tình lang
Lợi thế lặp lại, láy lại từ ngữ cấu tạo song song trong hai câu, hoặc ngay trong một câu để tạo giai điệu dằn vặt hoặc mê đắm cuốn đi đã bộc lộ tài năng kiến trúc ngôn ngữ khó trộn lẫn của Bích Khê. Một người bạn vừa tặng tôi một tập thơ mới hiện đại. Tôi thích bởi thơ này gần gũi với nhịp điệu những ngày tôi đang sống. Trong mấy ngày chịu ám ảnh của âm nhạc Tỳ bà được viết cách đây quá nửa thế kỉ, tự nhiên thưởng thức của tôi cứ bị vòng trở lại…
TRÚC THÔNG
2.TRẦN ĐĂNG KHOA
Sinh: 1958. Quê: Hải Dương.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Từ góc sân nhà em, Góc sân và khoảng trời, Khúc hát người anh hùng (trường ca), Bên cửa sổ máy bay, Thơ Trần Đăng Khoa.
Gửi Bác Trần Nhuận Minh
Bỏ làng ra thành phố
Hai anh em thợ cày
Thân cũng như hoa cỏ
Hồn gửi vào gió mây
Người bảo bác theo Đỗ
Em phải học Lí thôi
Bác đã bay dưới đất
Em đành đi trên giời
Bác âm thầm chìm nổi
Cùng kiếp người lang thang
Em lông nhông bầu bạn
Với kiến đen chó vàng
Bao nhiêu là giun dế
Đã khiêng vác em lên
Tên tuổi em xủng xoảng
Những mõ ran trống rền…
Bác làm bông lau ngàn
Thả hồn vào hoang vắng
Khi buồn thì hát ca
Lúc lui thì im lặng
Em quấy bầu trăng gió
Bác gánh bao nỗi người
Sánh đôi mà đơn độc
“Đi mang mang trong đời”
Giờ thì em đã chán
Nhũng vinh quang hão huyền
Muốn làm làn mây trắng
Bay cho chiều bình yên
Trả niềm vui cho cỏ
Trả nỗi buồn cho cây
Lại áo tơi nón lá
Ta về với luống cày
Đất trời thì chật hẹp
Làng quê thì mênh mông
Thung thăng em với bác
Ta cưỡi thơ ra đồng.
Lời bình
Trần Đăng Khoa là em ruột Trần Nhuận Minh. Thuở chín – mười tuổi, chú bé Khoa ở xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương làm thơ nổi tiếng như một thần đồng thì anh Trần Nhuận Minh của chú dạy học và lầm lụi làm thơ về than, về mỏ ở thị xã Hòn Gai. Anh Minh được về hậu vận. Bây giờ thì cả hai anh em, kẻ trước người sau, đều đã được Giải thưởng Nhà nước về thơ. Bài thơ này như một trích ngang lí lịch nghệ thuật của hai anh em do chú em láu lỉnh Trần Đăng Khoa tự khai.
Mở đầu tự nhận: anh em mồ xuất thân thợ cày, bỏ làng ra phố. Cái nguồn gốc xuất thân ấy tạo thuận lợi cho tác giả dùng giọng thơ nửa khôn nửa dại, nghe chất phác thật thà mà ranh ma sắc sảo. Cái biến báo lấp lửng đùa đùa vốn là khẩu khí thường ngày của Khoa vào bài thơ tự trào này hóa ra đắc địa. Thân cũng như hoa cỏ – Hồn gửi vào gió mây. Hai câu thơ thâu tóm thân và phận, nói ra bằng giọng khiêm nhường thân như cỏ mà nghĩa lí lại sang trọng, hồn ôm trời. Bác theo chân ông Đỗ, em học trò ông Lí. Theo và học là khiêm nhường lắm lắm. Nhưng ông Đỗ là ông thánh thơ Đỗ Phủ và ông Lí là ông tiên thơ Lí Bạch. Hai ông khổng lồ của thơ Đường. Một ông hiện thực thâm trầm, một ông lãng mạn phóng khoáng. Ông hiện thực bao quát việc dưới đất, ông lãng mạn mê say việc trên trời. Bác Minh nhà chú Khoa thuộc phía dưới đất. Thơ Trần Nhuận Minh trong mươi năm cuối thế kỉ XX quả có bước tiến vượt bậc trong việc dựng chân dung xã hội và chân dung nhân vật, khắc họa khá tài tình một thực trạng hiện thực nhiều nghịch lí, nhiều xót thương. Tác giả phân công ông anh dưới đất. Nhưng dưới đất mà bay, bay dưới đất. Còn mình thì trên giời. Nhưng trên giời mà lại đi đi trên giời. Bảo Khoa nói thế là để tôn trọng anh và tự giễu cái may về “hộ khẩu” của mình cũng đúng mà bảo là Khoa coi trên giời cũng như dưới đất, thì cũng không sai. Nhất là cái chữ đành, Em đành đi trên giời. Thiết gì giời. Đâu thì cũng là chỗ đặt chân. Bạn đọc khó tính bảo ông này kiêu ngầm: cho hắn lên giời mà hắn cũng chán chết. Có lần tôi còn nghe một bạn thơ bình luận vui, vui mà cũng khiếp: “Anh hắn chiếm dưới đất, còn hắn: trên giời – thế thì thiên hạ hết chỗ”. Cũng là suy diễn. Trên trời dưới đất là thoát thai từ khái niệm lãng mạn và hiện thực thôi. Khoa có nói gì đến độc chiếm không gian đâu.
Về các nhân vật của thơ Trần Nhuận Minh, tác giả nói đúng: Bác âm thầm chìm nổi – Cùng kiếp người lang thang. Nhân vật thơ của Trần Nhuận Minh trong giai đoạn thành công nhất của ông là những người cùng khổ, gánh chịu nhiều bất công. Cái tình của Trần Nhuận Minh đối với họ sâu đậm, ông chìm nổi với họ. Khoa viết thế là hiểu lòng anh, là biểu dương anh. Còn Khoa, so sánh với anh, thì thơ thẩn chỉ là một thứ lông nhông. Em lông nhông bầu bạn – Với kiến đen chó vàng. Kiến, chó, giun, dế… quả là các “nhân vật” thường gặp trong thơ chú bé thần đồng Trần Đăng Khoa dạo ấy.
Bài thơ có kết cấu song song, đoạn nói anh so sánh liền với đoạn nói em. Tài năng ông em chín sớm, quá sớm, thành một hiện tượng độc đáo, chưa có tiền lệ. Tài năng ông anh lại chín muộn. Mà thơ thì đang nói ở đoạn đầu đời Trần Đăng Khoa ý tứ, khi nói về sự nghiệp của anh, giọng thơ ông trân trọng, cách nhìn thân kính, nhận ra nỗi vui buồn kín đáo của anh trong niềm cảm thông xa vắng:
Bác làm bông lau ngàn
Thả hồn vào hoang vắng
Khi buồn thì hát ca
Lúc vui thì im lặng
Còn khi nói về mình, ông xuê xoa tếu táo, thoáng chút giễu cợt, cố xóa đi cái ấn tượng “thần đồng” mà người đời gán cho mình.
Bao nhiêu là giun dế
Đã khiêng vác em lên
Tên tuổi em xủng xoảng
Những mõ ran trống rền…
Cũng có người cho là Khoa tự kiêu, coi thiên hạ hâm mộ thơ mình như giun dế. Trong đời, tôi không thấy thế, mà trong các câu thơ này cũng không có ý ấy. Đoạn này tác giả Trần Đăng Khoa đang nói tới những nhân vật trong thơ của “bác Minh” và của mình. Trần Nhuận Minh viết về thợ mỏ, thơ ông gánh nông nỗi con người nơi bờ lau bãi gió. Còn thơ Khoa thì nhung nhăng chuyện con giun đào đất, cây dưa đủng đỉnh, con chó sợ tiếng bom, con mèo chơi tam cúc, ông trăng thì như quả bóng thằng nào đá lên trời… Khoa thấy thơ anh mình mang nghĩa lớn, mà phận anh (khi ấy) thì đơn độc. Còn mình trăng gió đâu đâu, chẳng làm no làm ấm được ai mà tên tuổi lại xủng xoảng. Lúc bé chắc cũng thích. Bây giờ hiểu việc đời thấy cũng hão huyền, nhí nhố, ồn ào. Lòng người thơ muốn yên tĩnh lại. Vật của cỏ thì trả cho cỏ, buồn của cây thì trả cho cây mà quay về nghe thật lấy lòng mình. Ngược với hai câu đầu của bài thơ, giờ đây Khoa rủ anh bỏ phố về làng, về lại nơi bắt đầu, áo tơi nón lá, nhưng cõi lòng thanh nhẹ thung thăng. Ý thơ nhuốm vị tiêu dao Lão Trang. Khoa viết bài thơ này ở tuổi bốn mươi. Nguyện vọng “về hưu” sớm quá! Tôi không tin. Có lẽ do cái thế tư duy của thơ đẩy đến tình thế ấy. Thơ nói, chứ chưa phải Khoa nói. Thực tế, lúc này Khoa đang mở một hướng mới cho ngòi bút, ấy là văn xuôi. Văn xuôi Khoa vui hóm, mà lại sâu sắc thâm trầm. Và Trần Nhuận Minh khai sinh mạch thơ hiện thực đầy sức nặng, rất được công chúng tin cậy. Ông được bầu làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh. Làm việc năng nổ lắm. Không có chuyện về làng đâu. Dù bây giờ ra đồng anh em họ không cưỡi trâu mà cưỡi thơ như hai ông tiên ấy. Họ cũng chả về. Khoa hay nói trạng, cũng là cách ướm thử lòng mình vào lại cõi hàn vi như một rèn luyện, một nhắc nhở: Đừng có hoắng! Thế thôi!
Ý thơ Đất trời thì chật hẹp – Làng quê thì mênh mông ngỡ như nói ngược, nhưng chính là đúc kết một chiêm nghiệm, thầm lặng hiểu tấm lòng thơm thảo hồn nhiên của người dân quê. Đến đây thì không thể nào nói Trần Đăng Khoa khinh bạc độc giả khi đọc câu thơ Bao nhiêu là giun dế – Đã khiêng vác em lên.
Đặc sắc của bài thơ này là tình chân thực, giọng bình đạm, cho thấy tình anh em thương trọng nhau thấm thía. Còn muốn tìm bài độc đáo, tiêu biểu của đời thơ Trần Đăng Khoa thì vẫn phải tìm ở giai đoạn Góc sân và khoảng trời thơ ấu.
13/9/2007
Vũ Quần Phương
3.NGUYỄN KHUYẾN
Sinh: (1835 – 1909). Quê: Hà Nam.
Còn được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Lời bình
Bài này nên gọi bằng tên Nôm là Câu cá mùa thu. Đây là một trong ba bài thơ thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến có tài lưu giữ phong cảnh thôn quê đồng bằng Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Cảnh quê trong thơ ông so với cảnh thật bây giờ thì khác biệt lắm, nhưng so với các thế kỉ trước như trong thơ Nguyễn Ức thời Trần hay trong thơ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi thời Hồ, thời Lê thì không khác mấy. Có lẽ nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc ngưng đọng hàng chục thế kỉ tạo nên tình thế ấy.
Trước hết hãy xét các chi tiết hiện thực được dùng làm nguyên liệu cho thơ. Một cái ao, đủ rộng để người câu cá có thể dùng thuyền, dù là con thuyền nhỏ, một lối ngõ trúc đủ dài để lượn quanh co. Hai mươi năm đổ lại đây, giá đất lên cao, ao chuôm ở nông thôn bị lấp đi nhiều. Mấy cái ao rộng trước từ đường Nguyễn Khuyến ở thôn Bùi đã được xếp loại di tích văn hoá mới còn nguyên vẹn cho khách về thăm dễ hình dung cảnh trí bài thơ này. Nhưng các ngõ thì trúc không còn mà cũng không còn được quanh co nữa, tốn đất, lại khó cho xe máy đi nhanh. Nói thế để thấy thơ phong cảnh quê hương làng nước nhà mình của Nguyễn Khuyến hay của một ai hậu thế như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… đã dần dà trở thành hiện vật hình ảnh trong bảo tàng tâm hồn của chúng ta rồi. Mỗi lần đọc là một lần ta sống lại cảnh xưa và nhập vào hồn cũ.
Bài thơ làm theo luật Đường, tiếng rằng tám câu, nhưng bốn câu giữa thu lại chỉ là hai cặp. Có mở ra mà ôm cảnh cũng chẳng được bao nhiêu. Nhà thơ buộc phải dùng thủ pháp chấm phá, điểm vài nét mà tạo thần thái cho cảnh sắc, đánh thức vào tưởng tượng của người đọc. Những bạn đọc trẻ hôm nay không kịp biết nông thôn xưa chắc sức cảm thông lưu luyến với bài thơ này cũng có phần trở ngại. Không biết ngành điện ảnh có lưu giữ được những hình ảnh quê hương ta của thời xa cũ ấy không.
Thơ nói chuyện câu cá, nên mở bài Nguyễn Khuyến vào ngay cái ao và con thuyền câu nhỏ. Hai giác quan được huy động ngay trong câu thơ đầu: lạnh lẽo và trong veo, gợi hơi thu xứ Bắc. Con thuyền câu trong ao vốn nhỏ, nhưng trạng từ tẻo teo lại làm cho nó nhỏ thêm. Trời thu cao và rộng nên con thuyền hoá nhỏ hơn, cái ngõ trúc cũng vì thế mà quanh co hơn. Tả dưới đất mà cho cảm nhận trên trời. Đấy là chỗ tinh tế có sẵn trong hồn Nguyễn Khuyến, không phải do khôn ngoan của bút pháp mà nghĩ ra đâu, nên giọng thơ thanh thoát thoải mái, không định mà thành.
Ở trên tôi có nói bốn câu giữa thành hai cặp, ấy là hai câu thực ba bốn và hai câu luận năm sáu. Dưới bút Nguyễn Khuyến, bốn câu này đều là thực cả, không luận chi hết. Hai câu đối nhau, lại cùng tả cảnh dễ thành áp đặt, công thức kiểu con chó đi ra thì con mèo phải đi vô, như hồi nào các nhà Thơ mới chế giễu thơ cổ điển. Nguyễn Khuyến tài hoa, ông đối lời, nhưng ý thơ thì lại đi liền trong một vế.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Đối rất chỉnh từng loại từ, nhưng câu dưới mở không gian rộng hơn, động hơn, tốc độ hơn, khẽ đưa vèo. Tránh được đơn điệu trong lặp ý, lại tạo sinh động cho cảnh. Nhưng cặp đối sau đó, tác giả không lập lại dạng thức này. Ông giữ nguyên nhịp độ chuyền ý trong hai câu như nhau, cả hai đều là cảnh tĩnh, nhưng hướng một cảnh theo chiều cao, một cảnh theo chiều rộng; Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt gợi một chiều cao sâu thẳm ở trên đầu. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Con ngõ như hẹp lại và dài ra, lại vắng người đi, nên mở một chiều ngang cũng sâu hút, tịch mịch. Không gian lặng lại, bất động, chuẩn bị sự bất động của con người ở ý kết.
Con người, cố nhiên là ông câu cá, ở đây là chính tác giả. Nếu sa vào cảnh nữa thì lạc đề, phải trở lại chuyện câu cá. Người câu mà như không câu, có giật, có lôi gì đâu, cứ tựa gối buông cần, tự lúc nào rồi vẫn im như tượng. Không cả chút nhấp nháy trên phao. Không hiểu sao ba chữ đ trong cá đâu đớp động lại gợi một sự nghiêng tai lắng nghe mà không thấy tiếng. Nhưng không phải sự nghiêng tai của ông câu. Sự nghiêng tai của người đọc. Ông câu trầm tư quá. Không hiểu ông câu cá hay câu tâm hồn mình.
Bài thơ tả ít mà gợi được thần thái phong cảnh mùa thu xứ Bắc. Bút pháp kĩ càng mà lại thoải mái, tự nhiên. Đấy cũng là đặc điểm của tài thơ Nguyễn Khuyến. Nhưng đẹp, tinh thì vẫn chỉ là một bài thơ phong cảnh, kiểu Bức tranh quê của nữ sĩ Anh Thơ. Người, ông câu, cũng là một yếu tố của cảnh. Bạn đọc hôm nay khi sử dụng một bài thơ thèm được sở hữu nhiều hơn thế. Có lẽ đấy là lí do để sau Nguyễn Khuyến, thơ nước ta phải chuyển sang hình thức mới sao cho chất chứa được nhiều hơn việc của lòng người.
14/7/2007
Vũ Quần Phương 
4. YẾN LAN
Sinh: (1916 – 1988). Quê: Bình Định.
Tác phẩm thơ đã in: Những ngọn đèn, Tôi đến tôi yêu, Lẵng hoa hồng, Giữa hai chớp lửa, Én đào, Thơ Yến Lan.
Bến Mi Lăng
Bến Mi Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu
Ông không muốn run người ra tiếng địch
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời gõ vàng, trời thiếu những gì sao
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để đêm buồn vây chủ bến Mi Lăng
Nhưng đêm kia đến một chàng kị mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu li
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Đế thuyền hồn bơi khỏi bến Mi Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng
Bến Mi Lăng còn lạnh, bến Mi Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
Lời bình
Thuở Yến Lan viết Bến Mi Lăng ông đang ở Trường thơ loạn (thơ điên) cùng Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử mà tuyên ngôn là lời tựa tập thơ Điêu tàn. Nhưng Yến Lan không “điên cuồng” như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên mà “Yến Lan đi quá xa” trong miền mơ mộng, như Hoài Thanh nhận xét. Bài thơ Bến Mi Lăng chính là “Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta”, theo với cái say trăng trên Bến Mi Lăng của Yến Lan.
Bài thơ mở ra với cái vô sự của tất cả, cả cảnh vật và con người đều vô sự. “Bến Mi Lăng nằm không”, một cái bến cô liêu, một không gian tịch liêu; một con thuyền “đợi khách”, con thuyền cũng nằm im trên bến vì không có khách sang sông. Vắng khách, ông lái chẳng chở đò đã đành, mà cũng “chẳng buông câu” kiếm dăm ba con cá ăn, hay để tiêu sầu. Ông lái đò không uống rượu vì “rượu hết rồi”; ông lái đò không đọc sách để “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”. Ông lái đò không thổi sáo, không “run người ra tiếng địch” không nhờ tiếng sáo chở hồn “lên tắm bến trăng cao”. ông lái tôn trọng cái “đìu hiu” của đất, cái “tĩnh mịch” của trời, cứ để cho tất cả trời đất vạn vật trong trạng thái tự nhiên, như nhiên. Trời đêm ấy “võ vàng” như gầy hơn, tiều tụy hơn vì trăng tỏ nhưng sao mờ “trời thiếu những vì sao”. Không gian có gió, nhưng gió quá nhẹ, gió mơ hồ chỉ đủ để khẽ lay động mấy sợi râu, gợi thêm chút buồn cho ông lái đò: “Ông lái buồn để gió lén mơn râu”. Dòng chảy dưới bến cũng chỉ là một dòng quẩn đưa những xác lá vàng “trôi quanh thuyền”, chẳng cuốn lá đi xa. “Những lá vàng quá lạnh” vì chúng đã là những xác lá chết, đã lìa cành quẩn theo dòng nước lạnh. “Chiều” của Yến Lan không giống “chiều” của Hồ Dzếnh. “Chiều” Hồ Dzếnh như một tình nhân trong phút chia tay lưu luyến, bịn rịn cứ muốn níu kẻo “ngày” lại: “Chiều chậm đưa chân ngày”. Còn “chiều” của Yến Lan là thứ “chiều nghi ngút”, một thứ chiều vừa đơn côi vừa tủi buồn, nó “dài trôi về nẻo quạnh”, để nhanh chóng bàn giao cho “đêm” quản lí toàn bộ không gian bến Mi Lăng: “Để đêm buồn vây phủ bến Mi Lăng”. Yến Lan đã công phu chuẩn bị đến như thế để đắm mình trong đêm trăng bến Mi Lăng, ru hồn với trăng và bị trăng hút hồn.
Đây không phải là “nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự” (Trăng nhàn hạ soi bóng người nhàn hạ) của Trần Nhân Tông khi ông về chơi ở Hành cung Thiên Trường; mà cũng không phải cái thứ môtip ông lão chài hóa đá trong Vọng Trường Dụng của Vương Xương Linh đời Đường bên Trung Quốc, đừng nhọc lòng đi tìm mối liên hệ xa xôi như thế làm gì. Đây hẳn hoi là cảm xúc, cảm nhận của một hồn thơ lãng mạn mơ mộng bậc nhất, “đi quá xa” trong miền mộng mơ của Thơ mới đương thời.
Hoài Thanh đã rất tinh tế và nhạy cảm khi khái quát cái chất của các thi sĩ Bình Định là “cái vầng trăng vẫn thường ám ảnh” hồn thơ họ. Nếu có mối liên hệ nào của Yến Lan với Hàn Mặc Tử trong Trường thơ loạn thì đó chính là cái bến sông trăng và con thuyền hồn, con thuyền chở trăng về với người, chở hồn người lên với trăng như thiết lập một giao thông huyết mạch cho THƠ. Nếu thiếu TRĂNG thì THƠ không chảy trong huyết quản của thi sĩ. Trăng là khoảng vọng Mĩ Nhân của Hàn Mặc Tử: “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi” (Bẽn lẽn). Nhưng trăng của Yến Lan lại khác: “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”, trăng rắc bụi vàng lên nẻo đường dương thế khiến cho chàng kị mã đến bến Mi Lăng một đêm trăng phải… “gọi đò, gọi đò như hối hả – Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi” mà có thể lạc đường. Áo chàng kị mã có màu “ngọc lưu li” xanh biếc đã “nhúng đầy trăng”. Trăng dát vàng lên cành cây ngọn lá “Tiếng gọi đò” được nhắc đến năm lần rung lên giữa hư không của đêm trăng vàng bến Mi Lăng chẳng lay động được ai, chỉ làm “run rẩy cả ngành trăng”:
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Trăng Mi Lăng là những sợi tơ trời quấn quýt lấy hồn người:
Tơ vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng
Cái đêm trăng vàng đầy tơ vương Mi Lăng đã làm một điều tội lỗi: nó quyện hồn Yến Lan vào hồn ông lái đò rồi cả hai khua nhẹ mái chèo “Để thuyền hồn bơi khỏi bến Mi Lăng”, “Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao”.
Say trăng đến hồn lìa khỏi xác, say trăng đến chết thì là thứ say cao nhất rồi. Nhưng say trăng là say Cái Đẹp, là say Mộng. Thiếu trăng, thiếu cái đẹp, thiếu mộng thì lấy gì cho máu chảy trong tim, trong huyết quản của thi sĩ?
Thi sĩ tôn thờ Cái Đẹp suốt đời đi tìm cái đẹp, gắn bó phần hồn tinh túy với trăng, hiện thân của cái đẹp, đến chết vẫn vương sợi tơ trời. Khi đã nâng hồn lên tầng của cái đẹp vĩnh hằng thì sẽ bay sạch mùi độ nhật kiếm cơm của ông lái đò, mùi tanh của con cá câu trên bến Mi Lăng, bay sạch men rượu dễ làm ta không tỉnh táo, sẽ không còn phải nghe tiếng hối thúc của chàng kị mã hối hả cưỡi ngựa qua đò đi tìm hư danh trên những nẻo đường trần thế. Hồn lãng mạn của Yến Lan chính thức nằm trong Trường thơ loạn cùng Chế Lan Viên là ở ý nghĩa này. Nó tạo ra “cái không khí lạ lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nanh.
Đặng Tương Như
5.VŨ ĐÌNH LIÊN
Sinh: (1913 – 1996). Quê: Hải Dương
Ông đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê triết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu…
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(1936)
Lời bình
Hai đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ:
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo từng nét
Như phượng múa rồng bay.
Những lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ cao thành quan nghè, quan thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đồ là chưa đỗ đạt gì, công chưa thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội như có lần Tản Đà đã làm. Ngày Tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là việc bất đắc dĩ của Nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thứ chữ mà bà con không biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa đào, mỗi năm mới có một lần chứ có nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ đến cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc. Lớp người mới lớn không có liên hệ gì mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết đến:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu…
Ông đồ vẫn ngồi đấy,
Qua đường không ai hay,
Lá vàng rơi trên giấy,
Ngoài giời mưa bụi bay.
Ông đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn duyên kẻ đón người đưa – Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng. Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi. Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi lòng đang vui như những năm ông đồ “đắt khách” nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá bay, lá vàng cuối mùa thu rơi trên mặt giấy nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy chưa được dùng đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi.
Cái lá bất động trên cái chợ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu kết:
Năm nay đào lại nở,
Không thấy ông đồ xưa.
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Hãy trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa. Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa: Không thấy ông đồ xưa. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một nghề, mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối. Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về dân tộc. Về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng, thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
Vũ Quần Phương
6.HỮU LOAN
Sinh: 1916. Quê: Thanh Hóa.
Hiện sống và viết tại Thanh Hóa.
Tác phẩm thơ đã in: Màu tím hoa sim.
Đèo Cả
Đèo Cả! Đèo Cả!
Núi cao ngút!
Mây trời Ai Lao
sầu đại dương!
Dặm về heo hút
Đá Bia mù sương
Bên quán “Hồng quân”
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương
ai
lên
đường
Chầy ngày
lạc giữa núi
Sau chân
lối vàng
xanh tuôn
Dưới cây
bên suối độc
Cheo leo chòi canh
như biên cương
Tóc râu
trùm lai rộng
Không nhận ra
người làng
Ngày thâu
vượn hú
Đêm canh
gặp hùm lang thang
Rau khe
cơm vắt
Áo phai
màu chiến trường
Gian nguy
lòng không nhạt
Căm thù
trăm năm xa
Máu thiêng
sôi dào dạt
Từ nguồn thiêng
ông cha
“Cần xây chiến lũy ngất
đây hình hài niên hoa
–Xâm lăng!
Xâm lăng!
Súng thèm
gươm khát…”
– Ai ngân lung lay
đêm quê nhà!
Nhớ lần theo Đèo Cả
Hậu phương từ rất xa
Ăn với nhau bữa
heo rừng
công thui
chấm muối
Trên sạp cây rừng
ngủ chung
nửa tối
Biệt nhau
đèo heo
canh gà
Râu ngược
chào nhau
bên dốc núi.
Giặc từ Vũng Rô
bắn tới
Giặc từ trong
tràn ra
Nhưng Đèo Cả
vẫn đứng vững
Đèo Cả Nam
máu giặc
mấy
lần
nắng
khô
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo nhắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?
(1946)
Lời bình
Lối ngắt nhịp, cắt chữ, chuyển dòng ở bài thơ Đèo Cả nhà thơ Hữu Loan sáng tác từ 1946 quả là rất mới, nếu không nói là hoàn toàn mới so với kiểu tạo ngôn ngữ thơ kể từ đó ngược về trước.
Hãy trích mười câu đầu khá tiêu biểu cho sáu mươi câu thơ cả bài. Chúng ta nhận thấy:
Mỗi dòng thơ đều ít chữ (từ):
– Hai từ (Đèo Cả! – Đèo Cả!)
– Ba từ (Núi cao ngút! – sầu đại dương!)
– Bốn từ (Dặm về heo hút – Đá Bia mù sương)
– Và ít nhất: Một từ (người
ngựa
mỏi)
(thương
ai
lên
đường)
Người – ngựa – mỏi thực chất là một ý thơ biểu hiện dưới hình thức một câu thơ có ba từ. Nhưng ngắt ra theo lối leo thang thành ba dòng thơ
người
ngựa
mỏi
Cũng vậy, thương – ai – lên – đường là một ý thơ rõ ràng xếp bốn từ liền hàng thành ra một câu thơ gồm bốn từ. Những tác giả đã ngắt ra thành bốn dòng thơ, mỗi dòng chỉ một từ:
thương
ai
lên
đường
Không thể hời hợt và vội vàng cho đây là một kiểu “rách việc”, một lối lập dị, một hình thức chơi trội. Đèo Cả là một bài thơ nổi tiếng cùng với Màu tím hoa sim của Hữu Loan. Nó đứng cạnh, tương tự một lối viết với Tình sông núi và Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Không nói của Nguyễn Đình Thi… Duy Đèo Cả xuất hiện sớm nhất trong hình thức diễn đạt ngắt nhịp, cắt chữ, chuyển dòng đậm đặc chất mới mẻ của ngôn ngữ thơ đã bước sang một thời kì mới. Nói như trên để khẳng định: đã xuất hiện một hiện tượng biến động ngôn ngữ thơ, nó trở thành phổ biến, hàng loạt. Nhưng dĩ nhiên, theo quy luật sáng tạo văn học, hiện tượng đặc trưng ấy chỉ nổi bật, tập trung ở những tác phẩm xuất sắc của những tác giả tài năng nhất. Chúng ta còn có Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hoàng Trung Thông,… và một số thi sĩ khác nữa, trong thơ họ cũng có những biến động ngôn ngữ của một thời kì mới, nhưng lại theo lối kiểu khác. Hôm nay, ở đây, ta xem xét một dạng biến động ngôn ngữ thơ qua cách ngắt nhịp, cắt chữ, chuyển dòng ở một dạng bài thơ mà tiêu biểu là bài Đèo Cả. Bây giờ hãy thử giải đáp:
Về đối tượng khách quan của thơ. Tức là thi liệu hiện thực. Cách mạng bùng nổ, một biến động xã hội cực lớn phá tan dòng chảy đều đều nhạt tẻ cuộc sống trước đây. Tiếp đến cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược trở lại, toàn bộ cuộc sống xã hội và mỗi con người căng trần, xung sát, đảo lộn. Mọi cung bậc tình cảm đều mãnh liệt, vọt lên độ căng cao. Yêu nước, căm thù giặc trở thành một thứ men rượu cháy lên trong mạch máu toàn dân tộc. Chúng ta muốn đi tới một khái quát về một nhịp điệu mới của cuộc sống, của con người Việt Nam. Thô trần, gân guốc, mau thoắt, hành động thay thế cho suy tư, trầm ngâm.
… Rau khe
cơm vắt
Áo phai
màu chiến trường
Gian nguy
lòng không nhạt
Căm thù
trăm năm xa
Máu thiêng
sôi dào dạt…
… Nhớ lần theo Đèo Cả
Hậu phương từ rất xa
Ăn nới nhau bữa
heo rừng
công thui
chấm muối
Trên sạp cây rừng
ngủ chung
nửa tối
Biệt nhau
đèo heo
canh gà
Râu ngược
chào nhau
bên dốc núi…
Những cuộc chia tay, chia li vì nhiệm vụ lớn đánh giặc diễn ra như cơm bữa, vẫn đầy tình cảm đồng đội, đồng chí, nhưng nhanh mạnh, có gì như dứt khoát, vẻ ngoài hơi lạnh. Khác với những than thở lê thê mủi lòng trong thời kì lãng mạn thơ mới. Chưa nói những cảnh huống ác liệt khác. Chỉ riêng diễn tả chia tay chia li hôm nay cũng cần một nhịp mới, những chữ gọn, trần trụi, những dòng đổ chữ mau hơn.
Về chủ thể thi sĩ. Đa số họ tham gia những chuyển động lớn xã hội trước hết trong vai trò công dân tích cực. Trực tiếp là bộ đội đánh giặc, hoặc làm báo, bám sát bộ đội, dân công, hoặc ở trong các ngành nghề kháng chiến khác. Nhà văn, nhà thơ cùng đều đầu quân hoặc lăn lộn trong các công tác kháng chiến. Hữu Loan từng là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa địa phương, sau đó vào bộ đội, đã từ đại đội trưởng lên tới cấp tiểu đoàn, đánh giặc ở mặt trận gian lao nhất là Bình–Trị–Thiên và Trung Trung Bộ trong đó có Đèo Cả.
Sau mỗi lần thắng
Những người trấn Đèo Cả
Về bên suối đánh cờ
Người hái cam rừng
ăn nheo mắt
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?
Không thể tưởng tượng, dù giàu khả năng đó nhất, những cảnh, những người, những cử chỉ như trên nếu không trực tiếp là người trong cuộc. Câu thơ, hình ảnh thơ cuối cùng tràn đầy hào khí lãng mạn, mang chất nghệ sĩ cũng không hề viết liền dòng, mà vẫn cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng, thống nhất một nhịp điệu gân guốc, tính hành động mau thoắt, dứt khoát của toàn bài thơ.
Suối mang bóng người
soi
những
về đâu?
Câu thơ kết được “thư giãn” nhất cho người đọc sau khi phải liên tục leo thang, nhảy dốc suốt từ đầu bài thơ. Trùm lên hơi thơ dịu xuống, một thoáng mắt mơ màng xa xôi. Thời đại – qua chính điệu tâm hồn nhà thơ vẫn cứ khắc lên dấu ấn khốc liệt của nó, một dấu ấn tỉnh táo từ trong vô thức, khi ngòi bút căng cảm xúc của ông cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng.
Về ý thức chủ động sáng tạo của người nghệ sĩ của ngôn ngữ. Dù khách thể thời đại biến động thế nào, mà chủ thể nhà thơ của ông ta đóng kín, trơn quen trong lối ứng xử thơ theo nếp cũ, thì vẫn không thể tạo nên một biến động đáng kể nào về ngôn ngữ thơ. Hữu Loan thuộc số những thi sĩ trẻ thời ấy, có tri thức học vấn thơ ca đông tây cũng như thơ ca dân tộc, cùng với những chiêm nghiệm cuộc sống, đã bừng thức những chiêm nghiệm nghệ thuật mới mẻ. Ông và các đồng nghiệp trẻ của mình chắc chắn đã không chịu đựng được làn sương mờ mờ giăng trùm lên nhịp điệu lối thơ ngày trước. Không thích của các nhà thơ đàn anh dù tài năng đến mấy trước đây, những chữ hoặc được tỉa tót, hoặc được trang hoàng, cứ như ve vuốt lỗ tai hoặc mơn man lên quả tim thổn thức. Không thích những dòng thơ kéo lê dù năm chữ, bảy chữ hay đa số tám chữ. Các thi sĩ trẻ và mới này thích biết mấy tung ra những từ, nói theo một nhà thơ Tây Ban Nha, là “những từ cởi trần”.
Người vá áo
thiếu kim
mài sắt
Người đập mảnh chai
vểnh cằm
cạo râu
Không một ngượng ngập, mà đầy hứng thú khi dùng các động từ “mài”, “vểnh”, “cạo” trong văn cảnh những câu thơ trên.
người
ngựa
mỏi
Phải tách, ngắt, chuyển thành ba dòng leo thang như thế mới bật hết lên sự mỏi, cảnh mệt của người chiến sĩ và con ngựa leo dù lên hay xuống Đèo Cả.
thương
ai
lên
đường
Sướng làm sao, vì mới nghệ thuật làm sao, từng từ tách, leo thang kia cùng với cả khối bốn chữ leo thang ấy, đã hình dung thật chuẩn hình ảnh cứ xa, khuất dần của người dù cho xuống hay đang lên Đèo Cả hiểm trở. Nhưng đâu có khô cứng, mà ngụ trong nhịp ấy, cùng nhịp ấy, ở cùng từ, từng nấc thang chữ là những nhịp rung kín đáo, kìm nén của quả tim người trong gian lao chiến trận.
Tôi muốn tạo ra trong thơ tôi một nhịp điệu mới, nhịp điệu những bàn chân biểu tình của nhân dân Đức, nhà viết kịch và nhà thơ cực kì xuất sắc Béc–tôn Biết đã nói đại ý thế thời kì thập kỉ bốn mươi ở thế kỉ trước. Câu nói, lối nói thẳng thắn, đầy sức bật đã minh chứng thật rõ tính khách quan và chủ quan trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng. Ta có thể chiếu ý đó vào trường hợp nhà thơ Hữu Loan với bài Đèo Cả đặt trong không gian và thời gian sau Cách mạng tháng Tám ở nước ta. Và cả trong thơ ca nước ta khoảng thời gian thật là tinh khôi, đầy hấp dẫn và thách thức với sáng tạo nghệ thuật lúc đó.
Người ta bảo chỉ có thể cao hơn khi đứng trên vai người khổng lồ. Sáng tạo nghệ thuật, mặc dù mang dấu ấn rất cá nhân, vẫn ở trong dòng chảy không ngừng của nghệ thuật dân tộc và thế giới. Về thơ, lối cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng, công mở đầu thuộc nhà thơ Nga khổng lồ Mai–a–cốp–xki từ thời chủ soái Trường phái vị lai, càng phát triển mạnh sau Cách mạng tháng Mười với những trường ca nổi tiếng Tốt lắm!, Vla–đi–mia I–lích Lê–nin. Nhà thơ Hữu Loan rất trẻ và rất mới của chúng ta ngay từ 1946 trong mù mịt khói lửa chiến tranh, phải đâu được ngồi trong thư viện nghiền ngẫm Mai–a–cốp–xki. Bản thân cuộc sống đất nước và cá nhân ông cùng với bừng ngộ của một nhỡn lực thi ca chói sáng cách tân, Hữu Loan đã cống hiến cho thi đàn Việt Nam hiện đại, qua bài Đèo Cả, một ứng xử ngôn ngữ nghệ thuật mới, thật trong. Ứng xử ấy tiếp tục được khẳng định, yêu quý tới nay đã vượt sang thế kỉ XXI.
TRÚC THÔNG
7.HOÀNG LỘC
Sinh: (1920 – 1949). Quê: Hải Dương
Viếng bạn
Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Đứa nào bắn anh đó?
Súng nào nhằm trúng anh?
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Tên nó là đế quốc?
Tên nó là thực dân?
Nó là thằng thổ phỉ?
Hay là đứa Việt gian?
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chẳng thành lời
Mà hàm răng dính chặt
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Lời bình
Thảng thốt mà lặng thầm như nuốt vào câm lặng – bởi, chỉ mới hôm qua thôi “còn theo anh – Đi ra đường quốc lộ”. Thế mà, “Hôm nay đã chặt cành – Đắp cho người dưới mộ”. Đường đột quá. Vì thế, cũng tiếc thương quá! Nỗi niềm bằng hữu như đang quyện chặt với thời gian, không gian của thứ thông–tin–tâm–tình đớn đau và lặng lẽ. Hôm qua là còn; Hôm nay đã mất. Hoá ra, sự sinh tận của con người thật quá đỗi mong manh.
Khổ thơ mở đầu của Viếng bạn vì thế dường như còn ẩn chứa một điều gì trầm lặng, u uất. Và, trong từng lời, từng chữ ngỡ như khe khẽ cất lên những tiếng khấn thầm từ tâm tư sâu thẳm của người còn sống:
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
Nỗi buồn đau còn đấy mà uất hận lại dâng trong lòng người đồng đội khi buồn đau chuyển thành cuộc truy tìm thủ phạm:
Đứa nào bắn anh đó?
Súng nào nhằm trúng anh?
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!
Cuộc truy tìm lặng thầm trong tâm tưởng của người đồng đội sao mà khẩn thiết, sao mà gấp gáp trong những câu hỏi những mong tìm ra ngay, tìm ra tức thì “đứa nào bắn anh đó”! Chẳng còn thấy sự cách biệt âm dương. Niềm tiếc thương cùng nỗi uất hận khiến cho người còn sống như muốn lay thức, làm sống dậy sức mạnh khôn thiêng huyền diệu nơi người bạn vừa nằm xuống. Thiết tha và thành kính xiết bao trong những tiếng khôn thiêng xin chỉ mặt – Gọi tên nó ra anh!. Người đồng đội tin ở sự khôn thiêng của người đã khuất hay là tin ở chính mình, tin ở con đường chính nghĩa lớn lao mà mình cùng biết bao những người đồng chí, đồng đội của mình đang đi.
Trong nỗi đau thương, mất mát từ một người lại thắp sáng lên nhận thức chiến đấu của một thế hệ những người ra trận trong cuộc chiến tranh giữ nước.
“Yêu với căm, hai đợt sóng ào ào” – nhà thơ Xuân Diệu đã từng diễn tả như vậy. Trong Viếng bạn của Hoàng Lộc, hai đợt sóng yêu căm thật dữ dội, thật mạnh mẽ, nhưng là nhưng đợt sóng lặn vào trong. Vì thế, nó trở thành nội lực tinh thần thật kì lạ:
Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chàng thành lời
Mà hàm răng dính chặt
Sự tương phản giữa những cái không có, những điều không thấy (“Khóc anh không nước mắt gọi anh chẳng thành lời”) với những điều hiện hữu, có thật trong nỗi đau quặn thắt, khuất lấp nơi đáy hồn người bạn, người đồng chí (“Mà lòng đau như thắt”, “Mà hàm răng dính chặt”) khiến cho cách diễn đạt tâm tư trong thơ của Hoàng Lộc thành thực mà chấn động, giản dị mà thấm sâu.
Cuộc chiến tranh Vệ quốc chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến tranh của toàn dân. Tiếng khóc viếng bạn, viếng người đồng đội vì thế không dừng lại nỗi đau riêng trong tình bằng hữu mà ấm áp tình thương của đồng bào, đồng loại:
Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán
Tình thương nối rộng tình thương. Sự hi sinh của người đồng đội vì thế như cũng bớt đi phần lạnh lẽo. Để rồi, những tiếng cuối của lời Viếng bạn chợt bùng lên ước nguyện trả thù, ước nguyện hành động:
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.
Trong lời nguyện ước chiến đấu ấy là sự gửi gắm niềm tin giản dị, bình tâm khi hướng tới một thời gian gần, một không gian cụ thể (Mai mốt bên cửa rừng); là lời hứa thầm thiết tha với người đã khuất (Anh có nghe súng nổ); là quân lệnh (Tiêu diệt kẻ thù chung) của những người bạn, những người đồng chí trong cuộc chiến đấu gìn giữ và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc vì thế là tiếng khóc và cũng là lời ca cửa một thời gian lao mà hùng tráng.
TRẦN TRUNG
8.LƯU TRỌNG LƯ
Sinh: (1912 – 1991). Quê: Quảng Bình.
Tác phẩm thơ đã in: Tiếng thu, Tỏa sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh, Từ đất này.
Tiếng thu
(Tặng bạn Văn)
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Lời bình
Tiếng thu là bài thơ hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Tôi nói Tiếng thu là bài thơ thơ nhất, vì ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu.
Toàn bài vẻn vẹn chỉ có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những người quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ “đầu Ngô minh Sở”. Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tì vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và cũng chỉ xảy ra có một lần ở bài thơ này. Cái hay của bài thơ không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lí trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lí trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất “ngơ ngác” này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khóa mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến ba câu điệp “Em không nghe”:
– Em không nghe mùa thu……
– Em không nghe rạo rực……
– Em không nghe rừng thu
Hỏi em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Đây cũng chỉ là một cách hiểu. Nhưng cách hiểu này có phần sống sít và thô thiển. Nói rạch ròi đến trơ gốc trơ rễ ra như thế thì mất hết thơ rồi, còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ đ du rất đặc bị cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệp lại là nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của Nhật Bản.
Chỉ cần so sánh văn bản, ta thấy Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và Tan–ka của nhà thơ Nhật Bản Sa–ru–ma–ru ở thế kỉ VII là hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỉ nay, không ít người cứ a dua nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã đạo thơ của nước ngoài. Ngay trong một cuốn sách của một nhà thơ kiêm nhà phê bình mới ra mắt gần đây cũng vẫn nói xưng xưng như vậy. Cái nghi án văn chương ấy cứ bám riết Lưu Trọng Lư, cho cả đến khi ông đã nằm dưới ba thước đất. Đó là một điều rất đỗi đau xót. Người khảo sát văn bản này, một nhà thơ trẻ biết tiếng Pháp nhưng không dám tin ở khả năng ngoại ngữ của mình, đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm định lại. Tế Hanh là một thi sĩ tài đức, người rất giỏi tiếng Pháp, đã dịch nhiều thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có gì liên quan đến Tiếng thu. Sao lại đổ vấy cho anh Lư ăn cắp?”. Những người nhẹ dạ, u mê tin theo thì chúng ta chả trách làm gì, nhưng có cả những nhà phê bình nghiên cứu, những nhà thơ có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi nói theo. Đấy mới thực sự là chuyện lạ ở thời đại trí tuệ bùng nổ thông tin này…
Thực tế trong bếp núc sáng tác, cũng có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng trường hợp này lại không phải vậy. Có người bình luận nghi ngờ Lưu Trọng Lư còn viện cớ rằng: “Thực tế Việt Nam làm gì có rừng vàng. Đấy là rừng châu Âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Truyện Kiều: Rừng thu từng biếc chen hồng. Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác!” Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: “Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỉ XX, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mình gò ngựa ở nhưng chốn xa xăm nào”.
Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và tỏa hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời…
TRẦN ĐĂNG KHOA
9.THẾ LỮ
Sinh: (1907 – 1989). Quê: Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Mấy vần thơ.
Nhớ rừng
(Lời con hổ ở vườn Bách thú)
Tặng Nguyễn Tường Tam
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt.
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm.
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Làm một trò lạ mắt, thú đồ chơi,
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Luận tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là khiến cho mọi bất đều im hơi.
Ta biết ta chúa tế cả muôn loài,
Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng trong ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa chăm, cỏ xén, lối chẳng, cây trồng,
Dải nước đen giả suối chẳng thông dòng,
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng những ngày ngao ngán,
Ta đường theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
(1936)
Lời bình
Mối bi kịch thân ở nơi tù, hồn ở giang sơn cũ đã tạo nên chất men ngưỡng mộ đối với hoài niệm. Qua tâm linh của loài hổ, rừng núi hiện lên trong vẻ kì vĩ đắm say. Kì vĩ vì thâm nghiêm bóng cả cây già; kì vĩ vì dữ dội oai hùng với các từ gào, hét, thét, dữ dội; kì vĩ vì hoang vu bí ẩn: hang tối, thảo hoa không tên tuổi, riêng phần bí mật.
Trong cảnh núi rừng kì vĩ đó hiện lên hình ảnh oai linh của chúa sơn lâm. Trọng tâm của bức tranh rừng này là con hổ. Nhưng trước khi để hổ hiện ra, Thế Lữ đã dựng cảnh để gợi không khí oai hùng, kinh sợ. Vào đúng lúc tiếng gào thét của thiên nhiên đang ở đỉnh cao dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Đầu tiên chỉ thấy bàn chân, một bước chân dõng dạc, đường hoàng. Câu thơ như đoạn phim cận cảnh quay chi tiết, thu hút sự chú ý của khán giả. Sau bàn chân là tấm thân, xuất hiện rất từ tốn nên càng oai hùng, to lớn. Chiều dài của tấm lưng trải ra theo câu thơ, một sự mềm mại lịch chứa sức mạnh:
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vùn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Cách miêu tả từng động tác, lại là những động tác có chọn lựa của bàn chân, tấm thân và ánh mắt đã thể hiện được sức chế ngự của mãnh thú trước phông cảnh. Mấy câu thơ sau đã hoàn tất nốt bức chân dung chúa sơn lâm. Cái oai của chúa rừng còn chế ngự cả cảnh vật khi chúa đã đi qua khiến cho mọi vật đều im hơi. Câu nói kiêu hãnh của loài hổ không có gì quá đáng:
Ta biết ta chúa tế cả muôn loài
Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.
Chỉ một đoạn thơ này đã đủ nói cái quá khứ oai hùng, giang sơn nhất khoảnh của chúa rừng. Thế Lữ còn dư sức bút, một đoạn nữa, cũng chủ ý ấy nhưng chi tiết lấy từ sinh hoạt của ác thú. Óc tưởng tượng của nhà thơ tiên phong trong phong trào Thơ mới thật phong phú, từ chi tiết thực của đời thú, ông đã dựng được chân dung tâm hồn của vị chúa tể. Có bốn cảnh: đêm trăng – ngày mưa – sáng xanh – chiều đỏ. Bức tứ bình này (Thế Lữ cũng là họa sĩ đã từng học cao đẳng mĩ thuật) ít chi tiết, nhưng nét đậm rõ, màu lên từng mảng lớn, trong cảnh có cả âm thanh khi tưng bừng tươi sáng, khi câm lặng bí ẩn. Bút pháp tả cảnh ở đây hiếm thấy trong thơ Việt Nam. Vẫn là tả tập tính của thú nhưng sức gợi của câu thơ rộng xa, giúp người đọc thấy cái hồn của cảnh và “tâm trạng” con thú.
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Sự im lặng thiên nhiên có chút ghê rợn nhưng thật kì ảo quyến rũ: bên suối trăng một mãnh thú uống nước, tinh mồi.
Tác giả nâng uy quyền của chúa rừng bằng cách để hắn đối diện với thiên nhiên, tạo hóa trong cả bốn bức tranh đó – đối diện với trăng, với mưa, với bình minh, với hoàng hôn. Và ở cả bốn khung cảnh, con hổ đều ở thế chế ngự – chú ý các động từ tả hoạt động của hổ trong bốn canh:
– say mồi đứng uống
– lặng ngắm giang sơn
– đến chết mảnh mặt trời
– chiếm lấy…
Đẹp nhất, dữ dội, bi tráng nhất là cảnh hoàng hôn. Bức tranh rực rỡ trong gam đỏ: đỏ của máu lênh láng, đỏ của mặt trời gay gắt. Tác giả dùng chữ “mảnh” để gọi mặt trời, tưởng như mặt trời cũng bé đi trong mắt nhìn loài hổ. Không khí chết chóc bao trùm, gợi lên do máu lênh láng, do giây phút hấp hối gay gắt của mặt trời. Chỉ ít phút nữa vũ trụ sẽ chết lặng, ngự trị trong bóng tối, chỉ còn có oai linh của hổ. Đấy là điểm cao trào nhất của quyền lực, gần như sự bất tử. Từ trên đỉnh cao huy hoàng của hồi tưởng, hổ đã sực tỉnh cái thân tù:
– Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Lời than có sức lay động và ngân vang do sự tương phản ấy. Hùm thiêng khi đã sa cơ… Bản thân sự hồi tưởng này đã cụ thể hoá cảnh ngộ của câu thơ Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt. Mỗi lần hồi tưởng là một lần ý thức thêm sự bất lực, là một lần gậm nhấm thất bại.
Nhiều người đã bình luận có lí về ý nghĩa xã hội của bài thơ: Hổ trong cũi sắt nhớ tự do là biểu tượng cho tình cảm của người dân Việt mất nước. Bài thơ có ý nghĩa thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc một cách kín đáo. Tuy nhiên, nếu chỉ thấy ý nghĩa đó, chúng ta chưa thấy hết bài thơ và cũng rất nên đề phòng trường hợp khi đi vào ý nghĩa xã hội, ta dễ sa vào bình tán mà tách dần khỏi hình tượng thẩm mĩ vốn có của bài thơ. Đoạn cuối bài thơ không xuất sắc bằng các đoạn trên, nhưng lại bộc lộ rõ khuynh hướng tư tưởng của bài thơ qua tâm sự chúa sơn lâm:
Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét những cảnh không đời nào thay đổi,
Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối
Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng,
Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng,
Len dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Niềm uất hận đương nhiên là vì tù túng, nhưng cái uất nhất do sự tù túng gây nên là phải chấp nhận cái tầm thường. Hổ nhớ rừng không chỉ là nhớ tự do mà còn là, theo tôi lại là chủ yếu nếu căn cứ vào văn bản của bài thơ, nhớ cái cao cả, cái chân thực, cái tự nhiên. Tới đây, chúng ta gặp thuộc tính của chủ nghĩa lãng mạn: vươn tới cái phi thường, cao hơn cuộc sống hằng ngày buồn tẻ, đơn điệu, bé nhỏ trong tầm tay trần tục của con người: hoa chăm, có xén, lối phẳng, cây trồng. Quá nhấn mạnh, đến chỉ thấy ý nghĩa xã hội, e làm hẹp đi chất nhân bản của bài thơ và cũng làm mờ đi quy luật thẩm mĩ của chủ nghĩa lãng mạn. Còn một lí do nhỏ nữa: tự do của con hổ là tự do của một ông chúa, Ta biết ta chúa tế cả muôn loài, khát khao tự do của hổ, qua một loạt hình tượng của bài, là khát khao ngự trị, khao khát tước đoạt tự do của kẻ khác. Cho nên coi hổ trong cũi là thân phận của dân tộc ta e có chỗ khó giải thích khi nói tới tính thống nhất của hình tượng.
Vũ Quần Phương
10.LÊ THỊ MÂY
Sinh: 1949. Quê: Quảng Trị.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Một mình, Giấc mơ thiếu phụ.
Những mùa trăng mong chờ
Thư anh tin ngày về
Cho vầng trăng hẹn mọc
Trong ngần hoa cau thơm
Mây chớm màu tha thiết
Trăng non nghiêng qua rồi
Bom rung vầng trăng khuyết
Xô thuyền trong xa xôi
Giữa gập ghềnh núi biếc
Anh khoác ba lô về
Đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm vui
Như trăng mọc ban ngày
Gặp nhau tròn mùa trăng
Em trẻ như bầu trời
Vòng tay anh đằm thắm
Giấu lời ru trên môi
Mai lại tiễn xa nhau
Vầng trăng cong chẽn lúa
Đêm đêm chín ngàn sao
Rỏ vào tim giọt lửa
Mong chờ em mong chờ
Vầng trăng xinh – gương mặt
Sáng sáng đầy theo anh
Suốt chặng đường đánh giặc.
Lời bình
Bài thơ của Lê Thị Mây – Những mùa trăng mong chờ đã thực sự chạm đúng vào hiện thực hoàn cảnh và tâm trạng. Bởi, nó đã trở thành vấn đề phổ quát và mang tính quy luật, khi đất nước và con người phải đối mặt với thử thách dữ dội của chiến tranh.
Với những người phụ nữ có chồng ra mặt trận, thì thử thách lớn nhất, lặng thầm nhất mà dữ dội và khắc khoải nhất, vẫn là không gian của nỗi cô đơn; vẫn là thời gian của niềm mong chờ, ngóng đợi. Người chinh phụ xưa trong khúc ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, từng thốt lên tiếng lòng ai oán trong thương nhớ người chinh phu:
Trời thăm thẳm xa nổi khôn thấu
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
(Chinh phụ ngâm)
Cùng chung nỗi niềm thương nhớ chồng đi xa, nhưng, người phụ nữ xa chồng ở thời hiện đại – những tháng năm của cuộc chiến chống Mĩ cứu nước, có nhớ nhưng không than. Sức sống của dân tộc trong chiến tranh giữ nước đã cho những người vợ xa chồng sức khỏe về tinh thần. Một chút xót đau trước mất mát, chấn động của chiến cuộc nhưng không hề bi lụy. Bởi, họ đã có cách nhìn chủ động vào những tháng năm thử thách:
Bom rung vầng trăng khuyết
Xô thuyền trong xa xôi
Giữa gập ghềnh núi biếc
Từ hình ảnh “vầng trăng hẹn mọc” ở khổ thơ đầu đến một hình ảnh “Trăng non nghiêng qua rồi – Bom rung vầng trăng khuyết”, những lời thơ của Lê Thị Mây không phải chỉ diễn tả bước đi thời gian, mà còn tạo nên ấn tượng về sự tương phản giữa niềm rạo rực chờ mong của người vợ khi nhận được “thư anh tin ngày về” với bao nhiêu là chuyển rung thật dữ dội, như chợt xô ập từ hai tiếng “bom rung”. Hóa ra, bom đạn dữ dội và khốc liệt từ chiến tranh là một sự thực không thể không tính đến. Chiến tranh có thể làm tắt “vầng trăng hẹn mọc”, có thể làm “rung vầng trăng khuyết”. Nhưng, hình như với một vầng trăng riêng nằm ngay trong trái tim mong chờ của người phụ nữ, thì đạn bom nào xóa nổi. Nhà thơ nữ đã thực sự rung động, cảm thông và nâng niu một khoảng lặng, một khoảng không gian mong chờ, thật thanh nhã, thật thiết tha trong lòng người vợ trẻ. Không gian tâm tình ấy chỉ có:
Trong ngần hoa cau thơm
Mây chớm màu tha thiết
Hình ảnh vầng trăng được nhà thơ sử dụng như một tín hiệu nghệ thuật hàm chứa nội dung cảm xúc thật đắc địa và ấn tượng. Thực ra, lối biểu đạt này của Lê Thị Mây không có gì mới. Ca dao xưa, rồi cụ Nguyễn Tiên Điền chẳng từng diễn tả rất tài hoa và đầy tâm trạng cảnh ngộ và lòng người từ hình ảnh vầng trăng đó sao:
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Truyện Kiều)
Cái hay, cái riêng của Lê Thị Mây trong Những mùa trăng mong chờ là ở sự đan dày và biến hóa từ hình ảnh vầng trăng đầy gợi cảm và cũng đa đoan này. Nếu cả tên bài thơ cùng sáu khổ thơ ngũ ngôn thì hình ảnh vầng trăng được điệp lại tới tám lần. Trăng đi suốt bài thơ và khổ thơ nào cũng ôm chứa hình ảnh diệu huyền và thanh thản ấy.
Đã có trăng hẹn chờ ở khổ thơ đầu. Đã có trăng chấn động tùng âu lo ở khổ thứ hai. Lê Thị Mây lại tạo nên ấn tượng về trăng trong niềm vui gặp gỡ của con người sau những tháng ngày xa xôi, cách trở. Chỉ một sự việc, một sự kiện – “Anh khoác ba lô về” mà như kéo theo, như ùa về tràn đầy niềm vui. Những lời thơ, hình ảnh thơ của Lê Thị Mây liên tiếp mở ra những so sánh, những liên tưởng lạ. Lạ mà không làm dáng, không khoe chữ. Lạ mà xúc động trào dâng:
Anh khoác ba lô về
Đất trời dồn chật lại
Em tái nhợt niềm qui
Như trăng mọc ban ngày
Nếu thơ tình rất nên cần độ “thật” và độ “nồng”, thì ở Những mùa trăng mong chờ, khi diễn tả niềm vui gặp gỡ, Lê Thị Mây đã đem đến cho ta cảm giác tròn đầy, mãn nguyện. Dường như có sự gặp gỡ trong ân ái của cả đất trời, trăng sao và con người. Những phút gặp gỡ, đầy lên theo mùa trăng (Gặp nhau tròn mùa trăng); Những giây phút quấn quýt, nồng đượm (Vòng tay anh đằm thắm – Giấu lời ru trên môi; Để rồi, tất thảy bừng lên sức trẻ và niềm vui khoáng đạt (Em trẻ như bầu trời).
Có niềm vui gặp gỡ để rồi lại có thời khắc bình thản, chủ động khi lại phải chia tay. Như ý thức được điều tất yếu, phút chia tay của người vợ – người hậu phương, được nhà thơ diễn tả trong khoảng lặng sâu thấm thía. Sự thấm thía của cảm xúc và suy tư:
Mai lại tiễn xa nhau
Vầng trăng cong chẽn lúa
Đêm đêm chín ngàn sao
Rỏ nào tim giọt lửa
Bởi thế, Những mùa trăng mong chờ mới trở thành những mùa trăng của lòng chung thủy và niềm tin dõi theo bước người đi trên những chặng đường đánh giặc. Bài thơ của Lê Thị Mây vì thế cũng chứa đầy hai chiều xúc cảm: mong chờ và tin tưởng, kiêu hãnh!
Hà Nội 1/5/2007
TRẦN TRUNG
11.TRẦN NHUẬN MINH
Sinh: 1944. Quê: Hải Dương.
Hiện sống và viết tại Quảng Ninh.
Tác phẩm thơ đã in: Đấy là tình yêu, Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông, Nhà thơ áp tải, Nhà thơ và hoa cỏ.
Dặn con
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian
Con không được cười giễu họ
Dù họ hôi hám úa tàn
Nhà mình sát đường, họ đến
Có cho thì có là bao
Con không bao giờ được hỏi
Quê hương họ ở nơi nào
Con chó nhà mình rất hư
Cứ thấy ăn mày là cắn
Con phải răn dạy nó đi
Nếu không thì con đem bán
Mình tạm gọi là no ấm
Ai biết cơ trời vần xoay
Lòng tốt gửi vào thiên ha
Biết đâu nuôi bố sau này…
Cửa Lục Thủy, 13 – 11 – 1991
Lời bình
Bài thơ là lời cha dặn con, nên lời thơ phải thật giản dị, việc dặn con làm cũng phải thật rõ ràng cụ thể để trẻ con biết đường mà làm. Phẩm chất nghệ thuật của bài thơ không được nương tựa vào ngôn ngữ, lại cũng không nương tựa được vào hình ảnh mới lạ hoặc có tính lãng mạn bay bổng. Mọi việc cứ trần trần hiện thực. Sức hấp dẫn của bài thơ nằm ở sự sâu sắc của những việc cha dặn con.
Dặn con thì có nhiều điều phải dặn. Ngày xưa tác giả Gia huấn ca đã phải dùng cả tập thờ ấy để dặn con mới tạm đủ để kí thác lòng mình. Tác giả Trần Nhuận Minh dặn con mới chỉ thấy một bài này. Một bài mà cũng chỉ để dặn một việc. Vậy việc gì với ông là cấp thiết là đáng dạy cho con đầu tiên?
Ấy là việc dạy con thương người. Lòng thương ấy phải thành việc cụ thể. Lời dạy đã thành lời dặn việc. Con trẻ cứ thế mà làm. Đó là việc bố thí cho người ăn xin. Một sự giúp đỡ đồng loại nhỏ nhoi, ngẫu nhiên, tùy hứng, không một chút bắt buộc, ràng buộc nào. Cho hay không cho hoàn toàn theo ý thích. Không ai lấy đó để khen hay để trách. Đó là việc của riêng mình. Lời dặn con do vậy cũng không áp dặt.
Chẳng ai muốn làm hành khất
Tội trời đày ở nhân gian.
Ngửa tay xin thiên hạ cưu mang là nỗi tủi nhục cực lớn của con người. Mở đầu bằng chuyện bàn việc đời, tác giả đưa con vào sự nghĩ ngợi, để từ nghĩ ngợi ấy mà tự nghĩ ra việc cần làm. Lời bố dặn khi ấy dễ trở nên thuyết phục, con trễ có ý chí làm theo. Mà việc đâu có khó:
1. Không được cười giễu khinh bỉ người ta. Lí do thì nói rồi đấy. Họ là những người không may. Họ gánh cái không may cho ta. Ta đói cơm rách áo thì cũng ra như họ. Ý này còn được láy lại ở câu kết bài thơ.
2. Của cho hành khất thì có là bao. Người ta không làm vì vô tâm, vì chưa thấm thía cái ý nghĩa từ hai câu mở bài của tác giả.
3. Đừng hỏi lai lịch họ. Đây là nét tinh tế và sâu sắc của bài thơ. Người gặp lúc cùng quẫn, đến mức phải ngửa tay ăn xin, xấu hổ lắm chứ, người muốn nặc danh. Hãy cho họ mà đừng hỏi họ nhiều.
Ba việc ấy là đủ, là lời khuyên chung mọi người. Nhưng bài thơ là dặn con cần gắn vào chuyện nhà của tác giả, nên mới có việc thứ tư là cái con chó nhà này cứ thấy ăn mày là cắn. Ông cho thế là chó hư, phải dạy, dạy không được thì bán đi. Làm như tiêu chuẩn thành viên của cái nhà này, dù là gia súc, cũng không có cái thói khinh người ấy.
Đoạn kết, cái ý đóng bài, như giải thích một lần nữa những điều bố dặn con làm. Ý kết chiếu lên ý mở đầu chẳng ai muốn làm hành khất nhưng mở rộng thêm: ai cũng có thể thành hành khất, kể cả bố đây, biết đâu. Tác giả có cách nói kín đáo, nhưng thấm thía lẽ đời, lại có sức thuyết phục, thúc đẩy mọi người hảo tâm làm từ thiện ở hai lẽ:
– Của cho là của gửi: Lòng tốt gửi báo thiên hạ.
– Và, biết đâu, cơ trời dâu bể, có nhân có quả, việc con giúp người bây giờ Biết đâu nuôi bố sau này…
Bài thơ ngắn nhưng nói đủ những điều cần nói. Thương người là nghĩa vụ mà cũng là thương thân. Dặn con làm việc thiện rất cụ thể, nhưng rộng xa hơn là dạy nó nghĩ việc đời, biết cảm thông và chia sẻ với những không may của người khác. Đáng chú ý là trước khi khuyên con phải biết mang cho khi người ta đã ngửa tay xin, tác giả đã dạy con sự trân trọng dù họ hôi hám úa tàn. Thái độ đúng sẽ dẫn đến cách cho đúng. Mà cách cho còn quan trọng hơn của cho.
Có lẽ trong nhiều điều cần dạy cho con ở đời thì thương người là điều cần dạy trước tiên thật. Chỉ viết một bài thơ dặn con, và cả bài thơ cũng chỉ khuyên con một điều, Trần Nhuận Minh đã khuyên con điều ấy. Bài thơ hay trong vị bình đạm mà sâu sắc, lời lẽ mộc mạc mà trước sau tinh tế. Mỗi lời khuyên ngắn gọn đều như rút ra từ chiêm nghiệm của cả đời người.
11/7/2007
Vũ Quần Phương
12. NGUYỄN MĨ
Sinh: (1935 – 1971). Quê: Khánh Hòa
Tác phẩm thơ đã in: Cuộc chia li màu đỏ.
Cuộc chia ly màu đỏ
Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa.
Chồng của cô sắp sửa đi xa,
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa.
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia li
Vườn cây xanh là chiếc nón kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi.
Và rạng đông đã bừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
– Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp
Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si
Và người chồng ấy đã ra đi…
Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
“Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”
Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người.
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét…
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia li…
Lời bình
Cuộc chia li màu đỏ xuất hiện lần đầu trong hai trang thơ của các cây bút trẻ trên báo Văn nghệ hồi đầu kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Mĩ được biết đến từ bài thơ này. Cuộc chia li màu đỏ đã diễn đạt rất thơ và rất lí tưởng những cuộc chia tay phổ biến lúc đó. Tiễn người ra trận có bao giờ vui được, nhưng vẻ đẹp tâm hồn của những người cứu nước thì thời nào cũng đáng ca ngợi, nhất là cuộc kháng chiến của chúng ta lại mang tính nhân dân cao nhất trong lịch sử. Kết hợp được hai khía cạnh tình cảm đó trong một bài thơ cho nhuần nhuyễn, chân thực là việc không dễ. Nghiêng về phía này hay phía kia đều không đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc đương thời, sẽ đi vào bi lụy hoặc lên gân. Bài thơ của Nguyễn Mĩ đã được mọi người yêu mến, nó chân thật như đời thường mà vẫn cao cả lớn lao.
Bài thơ hay trong cấu tứ, lạ trong bố cục và dáng dấp câu thơ.
Một thời gian dài do muốn ôm chứa nhiều vụ việc cụ thể, muốn phản ánh cuộc đời rõ ràng, dễ hiểu, thơ Việt Nam đã nhẹ về tứ. Các tác giả viết như kể chuyện. Những bài thơ có sức phổ biến rộng đều là những bài thơ tự sự như Núi Đôi (Vũ Cao), Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Quê hương (Giang Nam). Cố nhiên tự sự có cái hay của tự sự, nó cũng ôm chứa nhiều tình cảm. Lòng yêu mến của công chúng đối với các bài vừa dẫn là bằng chứng.
Nhưng thơ tự sự có hạn chế về khái quát và rất dễ bằng phẳng, ít biến hóa trong bút pháp. Đề tài chia li này, với ngần ấy chất liệu, rất dễ cuốn tác giả vào cách viết tự sự. Nguyễn Mĩ tránh tự sự bằng một cấu tứ chặt.
Tứ của anh là màu áo đỏ của cô gái tiễn chồng. Màu đỏ ấy cháy sáng khắp bài thơ tạo nên một gam màu sáng tươi, chói chang cho cuộc chia li và cho tình cảm người trong cuộc. Màu đỏ là nét tượng trưng, nhưng có sức nâng dậy tình cảm thực vì tác giả biết sử dụng hợp lí các chi tiết thực của cuộc chia li với màu đỏ tượng trưng áy. Trong chia li có xót đau nên:
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia li
Cháy thành biểu tượng cho tình yêu rực cháy của người con gái, nỗi xót đau thấm đẫm chất men lí tưởng. Chất men này không phải tác giả chế tạo ra rồi rưới thêm vào hiện thực, nó vốn có ở trong hiện thực, trong những lá thư tình nguyện, trong tình cảm người mẹ, người vợ, nhưng nó vốn khó nắm bắt được, thiếu sâu sắc một chút là thành giả tạo, thơ sẽ lạc sang địa hạt cổ động ngay. Nguyễn Mĩ biết hạn chế những lời bình luận, những cái vung tay, anh không xa rời tứ thơ trưng tâm. Trong cuộc chia tay có nước mắt, cô gái không giấu được những giọt đầm đìa trên gương mặt, nhà thơ cũng không giấu, không tránh né, anh thể hiện chân thực cái nét buồn thương ấy. Nhưng, trên cái nền cao đẹp của lí tưởng, thể hiện ở màu đỏ của tứ thơ, sự buồn thương đã trở nên cao cả:
Nứớc mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi.
Và rạng đông đã bừng trên nét mặt
– Một rạng đông với màu hồng ngọc
Những câu thơ này mang được dấu ấn sử thi của những ngày chống Mỹ, đã diễn đạt đúng tình cảm vốn có nên có, cần phải có ở lứa tuổi ra trận.
Từ tứ thơ – màu đỏ (tính lí tưởng của cuộc chia li) Nguyễn Mĩ đã thể hiện có sức thuyết phục, có lôgíc, cái điều còn trong mơ ước:
Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người.
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét…
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia li…
Sơ đồ hoá cách viết bài thơ này có thể dùng ba bước: Tình thật – Tứ giả – Tình thật. Có tình (nhất là lúc tình cảm lại phát triển hai chiều như ở đây là buồn và tự hào) mà thiếu tứ diễn đạt, thì sẽ không gây được ấn tượng. Nhờ có tứ, ở đây là màu đỏ, một tứ giả có tính tượng trưng, người đọc sẽ tiếp nhận được tình thật của tác giả, tiếp nhận nguyên khôi, trực giác, bằng hình tượng. Chúng ta thấy ở các bài Núi Đôi (Vũ Cao) hay Quê hương (Giang Nam) các tác giả sau khi diễn tả tình cảm đau thương đã phải sử dụng những đoạn thơ “biến đau thương thành hành động” để nói một dạng tình cảm khác, không diễn tả cùng lúc như ở bài thơ này.
Nguyễn Mĩ đã vận dụng cả hai bút pháp tả thực và tượng trưng trong bài thơ. Khi nói hiện thực, anh dùng bút pháp tả thực; khi diễn tả tương lai, mơ ước anh dùng tượng trưng. Nhờ tượng trưng anh cũng tránh được bình luận lộ liễu. Anh nhờ cây si trong công viên dùng bóng mát của mình thay mặt cho đất nước an ủi đôi thanh niên:
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Những câu thơ nói tới ngày mai là nói bằng tin tưởng chứ chưa phải bằng thực tế. Câu thơ như tỏa sáng của màu đỏ tượng trưng. Và xen trong hình ảnh xán lạn có tính chất tượng trưng ấy là một câu tả thực, cố nói thật bình dị, không cao giọng, không mĩ tự, không hình ảnh cái sự kiện quan trọng, tác động mạnh nhất vào tình cảm các nhân vật:
Và người chồng ấy đã ra đi…
Cái khoảng trống nơi công viên khi người trai ấy ra đi vẫn còn làm bồi hồi những cánh hoa. Lời động viên rất cần có lúc đó đã được nói bằng ngọn gió thì thào. Giống như bóng mát cây si ở đoạn trên lúc ngăn dòng nước mắt cô gái, lần thứ hai Nguyễn Mĩ đã tránh được bình luận trực tiếp bằng bút pháp tượng trưng đúng chỗ.
Đoạn cuối bài thơ anh khẳng định cũng bằng cách tựa vào tứ thơ. Đây là chỗ bạn đọc thấy rõ tứ giả đã nói được sâu sắc nhất tình thực. Với màu đỏ của tấm áo lúc chia li, anh liên hệ với màu hoa nơi đỉnh dốc, màu lửa những đêm đông ở chiến trường để khẳng định:
Như không hề có cuộc chia li…
Sự khẳng định chỉ là lôgíc hình thức được giả định từ màu áo đỏ, nhưng tình thực của cảnh ngộ làm cho màu đỏ tượng trưng kia có lí do tồn tại.
Nguyễn Mĩ không muốn bài thơ rơi vào tự sự, dù nó có cốt truyện, bằng cách phá bỏ kết cấu theo trình tự thời gian. Câu thơ mở bài vào ngay trung tâm bài thơ, vào thẳng tứ thơ với một chữ. Đó là một cách mở bài ít gặp trong thơ, gây chú ý trước rồi mới giải thích:
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ
Cách chen chữ Thu vào giữa ý thơ vốn liền mạch ở hai câu tạo một dáng dấp lạ cho câu thơ. Chúng ta có thể thấy ở các bài thơ khác của anh, một Nguyễn Mĩ rất chịu tìm hình thức mới cho câu thơ.
Ở đoạn cuối ta lại gặp cách nhấn mạnh rất Nguyễn Mĩ:
Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Không thêm ý nhưng tạo ấn tượng, khắc vào tâm trí của người đọc màu đỏ của tứ thơ, của lí tưởng.
Bài thơ này là một điển hình của vai trò chủ thể trong cách nhìn hiện thực. Ở đây hiện thực được khai thác có khuynh hướng, tránh được cái tự nhiên chủ nghĩa. Cuộc chia li là của đời nhưng màu đỏ là của tác giả. Nội đầu đề bài thơ đã cho thấy sự kết hợp giữa hiện thực khách quan và phẩm chất lí tưởng của chủ thể, giữa bút pháp hiện thực và tượng trưng.
Vũ Quần Phương
13.ANH NGỌC
Sinh: 1943. Quê: Nghệ An.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Hương đất màu cờ, Ngàn dặm và một bước, Sông Mê Kông bốn mặt (trường ca), Điệp khúc vô danh (trường ca), Sông núi trên vai (trường ca), Thơ tình, Thị Mầu.
Thị Mầu
Người mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm điên đảo những phông màn khép mở
Người táo bạo người không hề biết sợ
Người chưa từng lùi bước trước tình yêu
Người phá tung khuôn khổ những điệu chèo
Để cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Người trung thực đến không thèm giấu giếm
Cặp môi hồng con mắt ướt đong đưa
Người cả gan sàm sỡ cả cửa chùa
Chọn sắc áo cà sa mà chọc ghẹo
Thừa sinh lực nên người luôn túng thiếu
Nén hương trầm tiếng mõ khéo trêu ngươi
Người đi qua nghiêng ngả những trận cười
Chấp tất cả lời ong ve mai mỉa
Người chịu hết mọi thói đời độc địa
Chiếc quạt màu khép mở vẫn ung dung
Trên môi người tiếng hát vẫn trẻ trung
Từng sợi tóc vẫn rung theo nhịp phách
Mùi táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Người đi qua sân khấu tới đời thường
 sống trong hơi thở của nhân dân
Mấy trăm năm ai để thương để giận
Câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Mặt trống gầm lên những khát vọng không lời
Những khát vọng nằm sâu trong những trái tim người
Được sống đúng với lòng mình thực chất
Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức
Mấy trăm năm không khóa nổi thị Mầu
Những cánh màn đã khép lại đằng sau
Táo uẩn rụng sân đình không ai nhặt
Bao thị Mầu đã trở về đời thực
Vị táo còn chua mãi ở đầu môi.
Lời bình
Hình như đã trở thành quy luật: Khi tình yêu lên–tiếng–lửa, sẽ tạo ra sức sống riêng với cả bản năng tự nhiên con–người.
Có sức sống dồi dào mãnh hệt, thì mọi ràng buộc, mọi khuôn phép đạo đức… chỉ còn biết cúi đầu chấp nhận.
Anh Ngọc tung ra Thị Mầu vào đầu những năm tám mươi của thế kỉ trước, là tiếng nói bênh vực thật táo bạo cho một cô ả thị Mầu – người đã từng chịu bao lời đàm tiếu từ thiên hạ. Rằng thị lẳng lơ, rằng thị bản năng–nhục dục…Và, còn nhiều lời chê bai khác!
Hình ảnh thị Mầu trong thơ Anh Ngọc được đặt trong mối tương quan: giữa một thị Mầu của chiếu chèo sân đình và một thị Mầu trong cảm hứng đón nhận của nhân dân. Và, cũng chính từ mối tương quan đồng cảm, đồng tình ấy mà nhà thơ đã đối lập với những gì giả tạo: “Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức – Mấy trăm năm không khóa nổi thị Mầu”!
Trong con mắt đồng tình và cả sự ngỡ ngàng đến khoái trá của nhà thơ, một thị Mầu như đang độc diễn ở cả hai chiều: Sân khấu nghệ thuật dân gian và cả màn tự phô diễn của một con người dám nổi loạn, dám “sống đúng với lòng mình thực chất”.
Anh Ngọc vừa tách bạch, lại vừa đồng nhất hình ảnh thị Mầu – thị Mầu sân khấu hay thị Mầu tự bộc lộ cũng mang một điểm chung: không chấp nhận bằng phẳng, khuôn phép. Mà, khao khát đi tìm sự chấn động, “rung chuyển”.
– Người mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm điên đảo những phông màn khép mở
– Người khá tung khuôn khổ những điệu chèo
Đế cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Có một thị Mầu trên sàn diễn nghệ thuật làm cho “rung chuyển những sân đình – Làm điên đảo những phông màn khép mở”. Và vẫn con người từ nghệ thuật sân khấu dân gian chèo ấy, lại thoắt bẻ gãy và tung phá từ chính những khuôn phép vốn định hình từ nghệ thuật. Thế mới khiến cho:
– … phá tung khuôn khổ những điệu chèo
– Câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Mặt trống gầm lên những khát vọng không lời…
Song, có lẽ Anh Ngọc đã bắt gặp và đồng cảm, đồng tình với vẻ chân thực đến hết mình của một–con–người thị Mầu dám hồn nhiên tự phát lộ ra con người bản thể. Có sự đồng nhất và cộng hưởng của một thị Mầu nội tâm và một thị Mầu sống, khát khao tận hưởng với đời, với tình.
Những lời thơ và giọng điệu thật sảng khoái, thật hả hê khi Anh Ngọc dựng nên thành thơ hình ảnh một cô thị Mầu “táo bạo”, “trung thực”, một cô Mầu “thừa sinh lực”… để mà chịu trận trước búa rìu dư luận, bất chấp “tất cả lời ong ve mai mỉa”… để đi đến với cái nhân bản đích thực, cái khát khao vượt cả không gian, thời gian và định mệnh. Để “được sống đúng nơi lòng mình thực chất”! Cũng bởi thế mà chân dung tinh thần của thị Mầu cứ mặc sức phô hiện thật sống động trong thơ Anh Ngọc.
Bộc bạch khát khao tình yêu trần thế ư? Thị Mầu tự lên tiếng hát của lòng mình “táo bạo”.
Người táo bạo người không hề biết sợ
Người chưa từng lùi bước trước tình yêu
Con người thực của thị Mầu như chợt hiện lên rừng rực khát khao yêu, khao khát sống để đón nhận và động rung với niềm vui trần thế.
Trên môi người tiếng hát vẫn trẻ trung
Từng sợi tóc vẫn rung theo nhịp phách
Mùi táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Hình ảnh thị Mầu, với sức sống tự thân, thực sự đã tạo nên cảm hứng đón nhận của người đời. Hơn nữa, cảm hứng nghệ thuật ấy như vượt lên thời gian. Thị Mầu sống không tuổi theo thời gian và lòng người bởi niềm hoan lạc – “Người đi qua nghiêng ngả những trận cười”, Thị Mầu là con người của nghệ thuật mà cũng là con người của cuộc đời – con người thuộc về tình yêu của nhân dân:
– Người đi qua sân khấu tới đời thường
– Người sống trong hơi thở của nhân dân
Với bài thơ Thị Mầu, Anh Ngọc đã thành thực và cả dũng cảm nữa khi anh vừa trao gửi tâm tình, lại như vừa tuyên ngôn về một lối sống tự nhiên và chân thực của con người; đồng thời gửi gắm cả niềm khát khao, khát sống “đúng tới lòng mình thực chất”! Phải chăng đấy là cái giá đích thực, chân chính của con người và của nghệ thuật nữa. Âm hưởng cùng dư vị Thị Mầu sẽ sống còn mãi mãi:
Bao thị Mầu đã trở đề đời thực
Vị táo còn chua mãi ở đầu môi.
Táo bạo trong lời lẽ và giọng điệu, với Thị Mầu, Anh Ngọc thực sự đã đứng thăng bằng giữa hai cực cảm tính và lí tính bản năng tự nhiên và ý thức con người. Cái hay trong Thị Mầu của Anh Ngọc vừa mang tiếng thơ, tiếng lòng của một cá thể – nghệ thuật (thị Mầu trong chèo) mà tương giao và đồng nhất với tiếng lòng thành thực của nhân dân, thuộc về nhân dân. Cái hay trong ý tưởng nhân văn, nhân đạo của bài thơ cũng chính là ở chỗ đó.
Hà Nội, 10/4/2007
Trần Trung
14.HỒNG NGUYÊN
Sinh: (1924 – 1954). Quê: Thanh Hóa
Nhớ
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ
Gặp nhau hồi chưa biết chữ
Quen nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen
Quân sự mươi bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến
Lột sắt đường tàu
Rèn thêm dao kiếm
Áo hai chân không
Đi lùng giặc đánh
Ba năm rồi gửi lại quê hương
Mái lều gianh
Tiếng mõ đêm trường
Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya
Chúng tôi đi
Nắng mưa sờn mép ba lô,
Tháng năm bạn cùng thôn xóm.
Nghỉ lại lưng đèo
Nằm trên dốc nắng.
Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng,
Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
– Đằng nớ vợ chưa?
– Đằng nớ?
– Tớ còn chờ Độc lập
Cả lũ cười vang bên ruộng bắp
Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu.
Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động,
Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng.
Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng
Tôi nhớ bờ tre gió lộng
Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau.
Có tiếng gà gáy xóm,
Có “khai hội, yêu cầu, chất vấn!”
Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.
Trăng lên tập hợp hát om nhà
Tôi nhớ
Giương kê cánh cửa,
Bếp lửa khoai vùi
Đồng chí nứ vui vui,
Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,
Đồng chí mô nhớ nữa,
Kể chuyện Bình Trị Thiên,
Cho bầy tôi nghe ví,
Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí.
– Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ,
Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri.
Đêm đó chúng tôi đi,
Nòng súng nghiêng nghiêng
Đường mòn thấp thoáng…
Trong điếm nhỏ,
Mươi người trai tráng,
Sờ chuôi lựu đạn,
Ngồi thổi nùn rơm
Thức vừa rạng sáng,
Nhìn trời sương nhẩm bước chúng tôi đi,
Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni
Dân chúng cầm tay lắc lắc:
“Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!”
Lời bình
Trong đời sống những năm kháng chiến chống Pháp, xuất hiện hai loại tình cảm rất tiêu biểu được thơ ca nói đến nhiều nhất, đó là tình đồng chí và tình quân dân. Cả hai loại tình cảm này làm nên một thứ tình cảm chung: tình kháng chiến. Kể từ bài Đồng chí của Chính Hữu đến các bài Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Tây Tiến (Quang Dũng), Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông)… ít nhiều đều biểu đạt và ngợi ca tình cảm này. Nhớ của Hồng Nguyên cũng là một trong những biểu hiện sống động đó.
Bài thơ khắc tạc được tư thế của những người lính trận, những người lính biết gác tình riêng vì nghĩa lớn. Tư thế của họ thật kiêu hùng: Lột sắt đường tàu – Rèn thêm dao kiếm – Áo vải chân không – Đi lùng giặc đánh. Chất tráng sĩ giảm hẳn đi, chất đời thực được tăng cường với nhưng nhát cọ bằng ngôn từ chân mộc, cứng cỏi, gân guốc, xa hẳn khí vị của thơ ca cỏ với những “hài vạn dặm”, “bụi trường chinh”…vẫn còn vương lại trong một đôi cây bút cùng thời. Cuộc hành quân trong đêm Nòng súng nghiêng nghiêng – Đường mòn thấp thoáng góp phần tạc dựng tư thế của những người lính ra trận.
Bức chân dung người lính còn được bổ sung bởi một mảng màu nữa, đó là tình cảm, tấm lòng chiến sĩ. Họ vốn là những nông dân. Họ có cái chất hào hùng, ngang tàng, dũng khí nhưng không có cái chất lãng mạn hào hoa với những hình ảnh thơm tho tha thướt “dáng kiều thơm” như hình ảnh lính Tây Tiến. Tuy không có cái hào hoa, nhưng họ có cái thật, cái đời thực Cái thật cũng có khả năng thuyết phục, và mang vẻ đẹp của riêng nó. Chất văn xuôi đi vào thơ ca kháng chiến như là kết quả của một quan niệm mỹ học mới – tìm kiếm cái đẹp trong thực tại đời thường.
Trước hết là tình chồng vợ trong lúc cách xa. Người chiến sĩ xa nhà nghe được, cảm được cả dáng hình nhẫn nại lặng thầm này: Mòn chân bên cối gạo canh khuya.
Đây là một cảnh sinh hoạt lính tráng, một vẻ đẹp của tình đồng đội: “Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng – Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa”. Câu thơ “Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu” như một hơi gió mát lành…
Cả bài thơ có khá nhiều từ địa phương vùng xứ Thanh: nớ, o, nứ, ni, chừ, viền, ví chắc… Chẳng cần chú thích bạn đọc cũng hiểu. Các từ mang tính phương ngữ góp phần tạo ra một không khí có tính địa lí– văn hóa về một xứ Thanh thôn dã đang mùa kháng chiến. Chúng cũng lại làm rõ được cái gốc gác lính quê “bọn người tứ xứ” của một cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại.
Bài thơ chắc khỏe một vóc dáng thi ca ghi dấu một thời đánh giặc.
Hồng Nguyên mất sớm. Anh làm thơ không nhiều. Có thể nói, anh là nhà thơ của một bài, thế nhưng một bài có vị trí chắc chắn. Cứ mỗi khi hình dung về thơ ca thời kì chống Pháp thì không thể không tính đến Nhớ của Hồng Nguyên.
Văn Giá
15.PHAN THỊ THANH NHÀN
Sinh: 1943. Quê: Hà Nội.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Hương thầm, Chân dung người chiến thắng, Bông hoa không tặng, Nghiêng bề anh, Câu thơ cuộc đời.
Trời và đất
Chiều nay chắc giận em ghê lắm
Anh bực mình triết lí lung tung
Hai đứa ta như trời với đất
Tính tình sao xung khắc vô cùng
Vâng, trời đất chăng hề thân thiết
Và tính tình có giống nhau đâu
Trời vui buồn ồn ào lộ liễu
Đất trầm tư suy nghĩ trước sau
Anh ơi! Nếu ví được cao xa như thể
Em cũng chẳng là trời đất gì đâu
Nhưng anh có biết không? Trời đất
Sẽ chẳng là gì nếu thiếu nhau
Nhưng trời đất dẫu cao xa lồng lộng
Tính vẫn thường bồng bột đổi thay
Khi giận dữ bão nghiêng đất lở
Bão tan rồi trời xanh thơ ngây
Đất khiêm nhường màu xanh lay động
Và thắm sâu lặng lẽ sinh sôi
Trên mặt đất chính là cuộc sống
Có cần chi biện bạch nhiều lời.
Lời bình
Bạn đọc ngưỡng mộ thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã tìm thấy trong thơ tình của chị vẻ đẹp kín đáo, tế nhị, thanh tao thoảng qua như một thứ hương thầm. Đọc thơ tình của Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên một phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng lẽ dâng hiến; một tình yêu luôn giày vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và oán trách. Sở trường của chị là viết thơ nhường nhịn, viết thơ để nâng niu, vun đắp cho tình yêu. Bài thơ Trời và đất thuộc số ít những bài thơ mà Phan Thị Thanh Nhàn phải lên giọng triết luận về anh và em; về trời, về đất về tình yêu đôi ta…
Ngày thường, chỉ cần vắng anh một hôm thôi, là em đã thấy anh “mang đi hết – Bao nhiêu là thông minh”, khiến cho em cảm thấy chung quanh:
Chẳng còn ai hóm hỉnh
Ai cũng đều nhạt tênh
(Một người)
Thế mà chiều nay, anh có nhà, anh ở bên em, “Bao nhiêu là thông minh” lại đi đâu hết, anh chẳng còn “hóm hỉnh” nữa, hơn thế, anh “bực mình”, anh lên tiếng “triết lí lung tung”:
Chiều nay chắc giận em ghê lắm
Anh bục mình triết lí lung tung
Hai đứa ta như trời với đất
Tính tình sao xung khắc vô cùng.
Anh của em là bậc trí thức mà trời phú cho “Bao nhiêu là thông minh”. Em tự hào về anh, hạnh phúc vì có anh. Hơn một lần Phan Thị Thanh Nhàn đã để cho thơ của mình nói về anh với niềm tin cậy, trân trọng: Anh là “mặt trận”, là “tia nắng ấm”, là “niềm hi vọng”:
Đâu đây trong cuộc đời thường
Của anh. Ngày tháng vui buồn có anh
Như niềm hi trọng mong manh
Cầm tay rồi lại hóa thành giấc mơ
Mặt trời đằm thắm thiết tha
Mà tia nắng ấm bên ta vô hình
(Vô đề)
Thôi thì trời không chịu đất thì đất đành chịu trời vậy. Em là đất, em lặng im nghe anh triết lí về “tính tình” của “hai đứa ta”; và anh gọi ra tình trạng đáng sợ của nó: “Tính tình sao xung khắc vô cùng”.
Nhưng tình yêu đích thực thì hờn dỗi, tức giận không phải là biểu hiện của sự tan vỡ mà chính nó là hương hoa làm nhụy sen thêm tươi, bông hoa thêm đẹp. Khi trẻ, người ta nhờ phụ nữ để hiểu thế nào là tình yêu. Lúc trưởng thành và có cuộc sống gia đình, người ta lại phải nhờ tình yêu mà hiểu thế nào là phụ nữ. Phan Thị Thanh Nhàn đã có lúc để cho nhân vật em trong thơ của mình mong ước cho anh “bé bỏng” đi để cho em “chăm thương” với bàn tay của người chị và “tấm lòng người mẹ cho anh”:
Em muốn anh bé bỏng làm sao
Để em được chăm thương dịu nhẹ
Để em có bàn tay người chị
Và tấm lòng người mẹ cho anh
(Nghĩ về anh)
Sau lúc “ông trời” nổi cơn sấm sét, giận giữ lớn tiếng “triết lí lung tung”, “ồn ào lộ liễu”, bây giờ đến lúc “đất trầm tư suy nghĩ trước sau” và đất còn hiền triết hơn cả trời. Đất triết luận thâm thúy rằng thế giới luôn tồn tại trong sự đối lập và thống nhất: có âm có dương, có trời có đất, có anh có em… Nếu thiếu đi sự đối lập và thống nhất ấy thì không tồn tại thế giới. Điều đó giống như “Không có mặt trời thì hoa không nở, không có tình yêu thì không có hạnh phúc, không có phụ nữ thì không có tình yêu, không có Người Mẹ thì cả nhà thơ lẫn anh hùng đều không có”. Triết lí của người đàn ông là thứ triết lí của lí trí, còn triết lí của phụ nữ là triết lí của trái tim, và tình yêu có những lí lẽ riêng mà lí trí không sao hiểu được. Cho nên nhân vật em kéo anh trong cơn giận kia ra khỏi dòng triết lí khô khan mà trở về với quỹ đạo tình yêu:
Nhưng anh có biết không? Trời đất
Sẽ chẳng là gì nếu thiếu nhau.
Tình yêu chính là cách con người đi tìm nửa đối lập của mình, cả hai bên, đàn ông và đàn bà đều có thiên hướng đi đến với nhau và tiếp nhận phẩm chất của bên kia. Yêu chính là tìm hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác. Điều đó giống như con người chấp nhận hoà đồng với thiên nhiên, chấp nhận sự đổi thay bồng bột của thời tiết, chấp nhận “giận dữ bão nghiêng đất lở” để sau đó được thanh thản ngắm nhìn “trời xanh thơ ngây”:
Nhưng trời đất dẫu cao xa lồng rộng
Tính vẫn thường bồng bột đổi thay
Khi giận dữ bão nghiêng đất lở
Bão tan rồi trời xanh thơ ngây.
Người đàn ông thông minh thường hay triết lí về trái tim con người hoặc triết lí về thiên địa. Còn người đàn bà hơn người đàn ông thông minh ở chỗ họ hiểu thấu trái tim con người, hiểu thấu cả trời và đất mà không “cần chi biện bạch nhiều lời”:
Đất khiêm nhường màu xanh lay động
Và thẳm sâu lặng lẽ sinh sôi
Trên mặt đất chính là cuộc sống
Có cần chi biện bạch nhiều lời.
Người ta nói tình yêu không bao giờ chỉ toàn ngọt ngào nhiều khi nó như li rượu đắng, nhưng không ai có can đảm chối từ. Vậy thì hãy cứ cạn ly rượu Tình Yêu – Cay Đắng đó đi, vì biết đâu dưới đáy li vẫn còn giọt mật ngọt dành cho ta.
Đặng Tương Như
16. Ý NHI
Sinh: 1944. Quê: Quảng Nam.
Hiện sống và viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm thơ đã in: Đến nơi dòng sông, Cây trong phố, Chờ trăng, Người đàn bà ngồi đan, Ngày thường, Mưa tuyết, Gương mặt.
Người đàn bà ngồi đan
Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã
Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời
Vội vã như thể đó là lần sau chót
Không thở dài
Không mỉm cười
Chị đang giữ kín đau thương
Hay là hạnh phúc
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin
Hay là ngờ vực
Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên
Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt
Hay sau buổi chia li
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng
Giũa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Dưới chân chị
Cuộn len như quả cầu xanh
Đang lăn nhũng lòng chậm rãi.
(1/1984)
Lời bình
Bài thơ của Ý Nhi đem ra cái lạnh của không gian đất trời và cái hạn hẹp của không–gian–nhà để mà tượng hình lên chân dung Người đàn bà ngồi đan. Tư thế và tâm thế của một nhân vật trữ tình cụ thể hiện lên trong công việc đời thường – công việc của người đàn bà rất Á Đông. Nếu kể cả tên bài thơ, hình ảnh đầy sức gợi cảm và gợi suy, được nhà thơ điệp lại tới ba lần. Và hình ảnh ấy vừa chạm khắc nên hình, lại vừa tỏa lan tâm tình đi suốt bài thơ.
Ý Nhi như “bắt mạch” ra tâm tư nhân vật thơ của mình – ấy là những trạng thái nhất quán và trái chiều, đồng nhất và khác biệt của con người “ngồi đan bên cửa sổ” với “vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã”, cả “niềm hân hoan hay nỗi lo âu”, và, với cả “Trong đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng”…
Có một thời gian và không gian xác định của sự hiện diện hình ảnh “người đàn bà ngồi đan”. Con người lặng thầm với công việc của mình kia “giữa chiều lạnh”. Một chiều lạnh hay nhiều buổi chiều như thế của đời người, làm sao mà đo đếm hết được! (?)
Bài thơ của Ý Nhi vẽ ra cảnh tượng con người trong đời sống lành thường, quen thuộc. Từ tả công việc ngồi đan của người đàn bà, nhà thơ với xúc cảm phụ nữ mà đan tiếp, dệt tiếp vào chiều sâu nội tâm của “người đàn bà ngồi đan”. Bao nhiêu là chiều hướng tâm sự ẩn sâu bên trong cái vẻ ngoài “nhẫn nại” – “Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời”. Mượn “cái không” của vẻ ngoài người đàn bà:
Không thở dài
Không mỉm cười
… Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên
để rồi nhà thơ gợi mở cho sự khám phá của người đọc thơ về khả năng vô tận, muôn chiều của “cái có” trong tâm tư nhân vật trữ tình.
Những “cái có” thực sự ắp đầy và trào dâng trong chiều sâu nội tâm của người đàn bà giữa đời thường. Song, điều đáng nói là ở chỗ những “cái có” trong tâm tư ấy lại hiện hữu ở hai chiều tương phản, đối lập: đau thương hay hạnh phúc, niềm tin hay ngờ vực, gặp mặt hay chia li, hân hoan hay lo âu…
Những trạng thái tâm tư trái chiều ấy, có mặt ở mọi nơi từ phía “người đàn bà ngồi đan”. Từ tâm tư ẩn chứa mà chị đang giữ kín, từ “Trong đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng” của chị, tâm tư bộn bề và phức điệu ấy dường như cũng nương náu, trú ngụ cả “trong mũi đan kia ẩn giấu”…
Hình ảnh “người đàn bà ngồi đan” với cả hai tầng diện mạo: diện mạo bên ngoài và diện mạo nội tâm, được nhà thơ phụ nữ lặng lẽ quan sát. Lặng lẽ ghi nhận. Lặng lẽ tâm tình mà đan dệt nên từ những lời thơ bình dị theo giọng kể, theo điệu nói – bình dị mà sâu xa như hơi thở của cuộc sống thường nhật:
Chị đang giữ kín đau thương
Hay là hạnh phúc
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin
Hay là ngờ vực
… Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng
Mượn hàng loạt những yếu tố không xác định, cứ chơi vơi, lửng lơ theo hai hướng: được – mất, buồn – vui, hợp – tan…, nhà thơ như muốn nhìn sâu vào hiện thực nhân sinh để khái quát về sự tất yếu khách quan – sự tất yếu nằm ngoài mọi toan tính chủ quan của chính con người. Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh cuộn len được ví như “quả cầu xanh – Đang lăn những vòng chậm rãi” - Cuộn len lăn ngoài vòng đời!
Phải chăng những điều “ý tại ngôn ngoại” mà nhà thơ muốn tâm tình và nhắn nhủ: con người biết sống giữa cuộc đời bởi chính khả năng tự tại, tự ý thức của mình. Bài thơ của Ý Nhi dường như cũng giấu đi những lời khen, chê, bình luận về cuộc sống và phận người. Mà, để cho ta tự ngẫm thêm về hình ảnh “người đàn bà ngồi đan” giữa chiều lạnh cuộc đời…
Hà Nội, 6/4/2007
TRẦN TRUNG
17. TRẦN MAI NINH
Sinh: (1917 – 1947). Quê: Thanh Hóa.
Tác phẩm thơ đã in: Thơ văn Trần Mai Ninh.
Nhớ máu
Ơ cái gió Tuy Hòa…
Cái gió chuyên cần
Và phóng túng.
Gió đi ngang, đi dọc,
Gió trẻ lại – lưng chừng
Gió nghĩ,
Gió cười,
Gió reo lên lồng lộn.
Tôi đã thấy lòng tôi dậy
Rồi đây
– Còn mấy bước tới Nha Trang
– A, gần lắm!
Ta gần máu
Ta gần người,
Ta gần quyết liệt.
Ơ hỡi Nha Trang.l
Cái đô thành vĩ đại.
Biết bao người niệm đọc tên mi.
Và Khánh Hòa vĩ đại.
Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người.
Cả hồn ta sát tới
Nhìn mi!
Ta có nhớ
Những con người
Đã bước nào bất tử!
Ơ, những người!
Đen như mực, đặc thành keo
Tròn một củ
Hay những người gầy sắt lại
Mặt rẹt một đường gươm
Lạnh gáy…
Lòng bàn tay
Khắc ấn chuôi dao găm.
Chân bọc sắt,
Mắt khoét thủng đêm dày
Túi chứa cả Nha Trang… họ bước
Vương Gia Ngại… Cung Giũ Nguyên
Chút chít Hoàng Bá San… còn nữa!
Cả một đàn chó ghẻ
Sủa lau nhau
Và lần lượt theo nhau
Chết không ngáp!
Dao găm để gáy,
Súng màng tang
Ồng ộc xối đầy đường máu chó,
Chúng nó rú,
Cả trại giặc kinh hoàng
Quy – lát khua lắc cắc,
Giầy đinh xôn xao.
Còi và kèn…
Cả trại giặc bạt hồn, bạt vía…
Chạy lung tung
Sớm mai, xét và bắt…
Thiết giáp, cam – nhông
Rầm rập nối đuôi nhau,
Và đêm khuya: Lại chết
Chồn Pháp, chó Việt gian
Ằng ặc máu
Mắt ta căng lên,
Cả mặt,
Cả người
Cả hồn ta sát tới
Biết bao người!
Sống lẩn lút những ngang tàng
Bên lưng giặc!
Vẫn tổ chức, vẫn tuyên truyền,
Hoặc giao thông hay liên lạc,
Rải giấy,
Treo cờ
Hay gồng vai tiếp tế
Từ bình minh cho tới trăng tàn:
Đúc bê– tông bên mặt trận:
Và thì thào cùng du kích đi lên…
Cả ngàn chiến sĩ,
Cả ngàn con bạc, con vàng
Của Tổ quốc!
Sóng… trong đám âm thầm
Mà nắm chắc tối cao vinh dự!
Quắc mắt nhìn vào thăm thẳm tương lai
Vững tin tưởng nơi oai hùng,
Và chiến thắng
Câu Việt Nam dân tộc!
Cờ đã nâng cao
Màu đỏ máu
Với sao vàng tung bay rực rỡ!
Mắt hoàn cầu đã họp những tia xanh
Trán nhíu lại
Chú ý nhìn châu Á phía đông nam
Ta quyết thắng!
Việt Nam rồi đứng dậy,
Sáng vô chừng!
Rất tươi đẹp với Nha Trang và Nam Bộ
Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt
Máu chan hoà trên góc cạnh kim cương
Các anh hùng tay hạ súng trường
Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu
Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!
Kết thúc đêm 9/11/1946 tại Tuy Hòa
Lời bình
Ngày Trần Mai Ninh sáng tác bài thơ Nhớ máu (9–11–1946) đang là những ngày đầu tiên của phong trào Nam Bộ kháng chiến nước sôi lửa bỏng. Nhà thơ hoạt động ở Tuy Hòa. Cả một vùng miền Nam Trung Bộ chính là địa bàn hoạt động cách mạng của ông. Nên những vùng đất và con người nơi đây đối với ông đặc biệt quen thuộc và yêu dấu mà sau đó ông gọi bằng Tình sông núi– cũng là tên một bí thơ khác nổi tiếng của ông. Bài thơ Nhớ máu diễn tả một cuộc hành binh trong tưởng tượng, trong mơ ước của nhà thơ từ Tuy Hòa tới Nha Trang với một tâm hồn náo nức và một lòng quyết chiến quyết thắng sắt đá đối với kẻ thù.
Bài thơ được thiết lập trên một cái tứ là hình ảnh cơn gió. Bắt đầu là cơn gió tự nhiên của đất đai xứ sở. Cơn gió này được nhà thơ gọi lên bằng những từ ngữ rất sống động: chuyên cần, phóng túng, đi ngang đi dọc, trẻ, nghĩ, cười, reo lên lồng lộn. Gió vốn là vô hình vô ảnh, ấy thế mà tác giả đã hình dung hóa, nhân hóa, tạo nên một gương mặt gió nồng nàn, tươi trẻ, tràn trề sức sống, với một tâm trạng náo nức, sung sướng.
Khi câu thơ tiếp theo xuất hiện: “Tôi đã thấy lòng tôi dậy” thì hình ảnh ngọn gió bắt đầu mang ý nghĩa ẩn dụ. Thì ra, lòng người đang náo nức băng băng xóc tới, hướng về đô thành Nha Trang tiêu diệt kẻ thù nên nhìn ra những con gió cũng như những người bạn đồng hành cùng chí hướng. Gió đến đây vừa là cái gió của ngoại giới, vừa là cái gió của tâm hồn, của ý chí, của tư thế và sức mạnh chiến đấu.
Vẫn là tư thế của những người chiến sĩ băng băng xốc tới như gió, mấy câu thơ điệp lại:
Mắt ta căng lên
Cả mặt
Cả người.
Cả hồn ta sát tới
Tiếp theo đấy là tư thế của ngọn cờ Tổ quốc tung ấy thật hào sảng, bát ngát, tự tin:
Cờ đã nâng cao
Màu đỏ máu
Với sao vàng tung bay rực rồi
Nhìn chung, nhịp đi của cả bài thơ, không khí của cả bài thơ là nhịp đi và không khí của gió – gió lòng, gió ào ạt náo nức xông lên giết giặc, gió của khí thế chiến thắng. Nhịp thơ phóng túng, cuồn cuộn như cố theo kịp bước đi của gió.
Bài thơ thể hiện một cách khác về hình ảnh người bộ đội. Ở Hồng Nguyên, Quang Dũng, Chính Hữu dẫu sao bên cạnh cái kiêu dũng còn ít nhiều chất hào hoa, đẹp theo cách lãng mạn. Đến Trần Mai Ninh, hình ảnh người chiến sĩ hiện ra với những đường nét bạo, khỏe, gân guốc, gồ ghề, thậm chí thô nhám. Đó là kết quả của một mĩ cảm hướng thẳng, trực diện vào chất thực của đời sống, khai thác chất liệu đời sống một cách trung thực, cận cảnh, trực tiếp. Chính vì thế, các câu thơ này bỗng thấy cái lạ lạ, khác hẳn những cách nói của thơ ca cùng thời, nên rất ấn tượng: “Ơ, những người! –Đen như mực, đặc thành keo – Tròn một củ – hay những người gầy sắt lại – Mặt rẹt một đường gươm – Lạnh gáy – Lòng bàn tay – Khắc ấn chuôi dao găm – Chân bọc sắt – Mắt khoét thủng đêm dày – Túi chứa cả Nha Trang… họ bước”. Những câu thơ như thế đã tách Trần Mai Ninh ra hẳn một góc riêng so với những nhà thơ viết về người lính trong nền thơ ca kháng chiến.
Bài thơ mang tên Nhớ máu. Hình ảnh máu cũng theo suốt toàn bài. Ban đầu là máu chiến trường (Ta gần máu), tiếp theo là máu kẻ thù (Ồng ộc xối đầy đường máu chó, Ằng ặc máu), tiếp nữa là máu hi sinh của những người chiến đấu, máu làm thành màu cờ Tổ quốc (Cờ đã nâng cao – Màu đỏ máu, Máu chan hoà trên góc cạnh kim cương), và sau cùng là máu – chiến – thắng (Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu). Hình ảnh máu xuyên suốt toàn bài đưa lại cho người đọc cái cảm giác khốc liệt của chiến tranh, cảm giác hào hùng, bi tráng… Nhiều cảm giác cùng lúc xuất hiện như một phức hợp. Tuy nhiên, tất cả được hoá giải bằng một câu thơ cuối đầy tư thế, ngạo nghễ, bát ngát, hào sảng, tư thế chiến thắng: “Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!”. Bây giờ nói đến máu có thể không đưa lại cho người nghe một mĩ cảm tích cực nữa. Nhưng vào hồi đó, hình ảnh máu đi vào thơ ca, âm nhạc như một tín hiệu thẩm mĩ, nhằm để chỉ khí thế cách mạng sục sôi đánh giặc, vừa thiêng liêng vừa quyết tử: “Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước…” (Quốc ca).
Với những bài như Nhớ máu của Trần Mai Ninh, cùng với nó là Nhớ (Hồng Nguyên), Đèo Cả, Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Hải Phòng 19–11–1946 (Trần Huyền Trân), Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Lên Cấm Sơn (Thôi Hữu)… chúng ta đã có thể nói được về một thi pháp thơ kháng chiến. Một cách nhìn trực diện, cận cảnh hiện thực đời sóng với những chất liệu thô nhám, gồ ghề, gân guốc, thường ngày, chất liệu “văn xuôi”. Bài thơ không nệ khuôn khổ. Hình thế bài thơ đi theo mô hình: hiện trạng đau thương– kẻ thù hủy diệt – vùng lên đánh giặc– khung cảnh thanh bình thơ mộng trong mong ước. Các câu thơ bề bộn chất liệu đời thường. Chữ dùng, từ dùng, cách nói sáp gần với khẩu ngữ sinh hoạt thường ngày của đời sống kháng chiến. Nhịp thơ cũng phóng túng theo, tùy biến, co dãn bất kể, không gò gẫm, với nhiều đột xuất… Toàn cảnh thơ kháng chiến là những biến hóa đa dạng và độc đáo của một đối cực lớn: trữ tình, bay bổng hết cỡ mà cũng vâm váp hiện thực hết cỡ. Nó phản ánh chiều kích một cuộc chiến tranh “người người lớp lớp” cùng nhất loạt tham gia đánh giặc, không trừ một ai. Nó là hào khí dân tộc. Thơ kháng chiến chống Pháp phản ánh được cái hào khí chói sáng, lẫm liệt ấy.
Nhà thơ Trần Mai Ninh hi sinh tại chiến trường Tuy Hòa. Giặc bắt được ông, trả thù hèn hạ: khoét mắt ông, đem rong đi khắp chợ cùng phố nhằm thị uy dân chúng. Cái chết thật bi thảm. Nhưng cũng thật lẫm liệt. Trong mỗi câu thơ của ông có trộn cả máu của ông và của bao người khác. Tuy ông viết không nhiều, nhưng những vần thơ của ông đã trở thành di sản tinh thần quý giá của dân tộc.
Văn Giá 
18.NGÔ VĂN PHÚ
Sinh: 1937. Quê: Vinh Phúc.
Hiện sống và viết tại Hà Nội. Tác phẩm thơ đã in: Gió bão trận bão, Khúc hát về một con đường, Trong lửa đạn, Ngọn giáo búp đa, Tháng năm mùa gặt, Đi ngang đồi cọ, Cỏ bùa mê, Mặt trái xoan, Hoa trắng tình yêu, Trời xanh, Cỏ đắng, Heo may. Phương gió nổi, Mùa chim giẽ, Chiêm bao, Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú, Bên lở bên bồi.
Bông và mây
Trên trời mây trắng như bông
Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây
Có cô má đỏ hây hây
Đội bông như thể đội mây về làng.
Lời bình
Bông và mây là thơ của một tác giả trẻ đương đại nhưng lại có vẻ đẹp của những áng ca dao ưu tú thời xưa Ngô Văn Phú sáng tác bài thơ này năm 1961, ở tuổi 24. Ngay khi xuất hiện trên báo nó đã neo vào trí nhớ người đọc. Và có thể coi nó là bài thơ khai sinh một thi sĩ.
Thơ bốn câu. Thi liệu rất tiết kiệm. Ba yếu tố trời, đất và người đan đi đan lại và gắn bó với nhau rất tài tình. Trời là mây, Trên trời mây trắng như bông. Đất là bông, Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây. Còn con người là cô má đỏ hây hây… Các cô đẹp gái duyên dáng ấy lại có sức nối trời vào đất, Đội bông như thể đội mây về làng. Bài thơ là bức tranh nhỏ ngày thu hoạch hông. Nhưng ý tứ hàm súc. Thơ cho thấy cảnh, thấy tình, thấy cả tư tưởng.
Câu đầu ví mây trắng như bông là để khen sắc trắng của mây.
Nhưng câu hai ví bông trắng như mây thì lại không phải để khen màu sắc của bông mà là để ca ngợi mùa bông năm ấy bội thu. Đấy là chỗ biến hóa của tiếng Việt mình. Cùng là một chữ nhưng khi đảo vị trí cái đem so sánh và cái mẫu so sánh thì ý nghĩa sẽ khác hẳn nhau. (Chết như sống là ca ngợi mà sống như chết là chê bai).
Câu thứ ba, con người, là cô gái mà đặc tính được thơ lưu giữ là má đỏ hây hây. Đỏ vì nắng, đỏ vì đang làm lụng ngoài đồng. Vẻ đẹp khỏe khắn và so với cả mây và bông thì con người ở đây có hành động. Tả trời một câu, tả đất cũng một câu nhưng tả người thì hai câu. Hành động của người lại gộp được cả trời vào đất làm một. Thơ khen trời, khen đất cũng là để tôn vinh con người. Màu đỏ má nồng nhiệt, duyên dáng, hồng lên rất gợi cảm giữa màu trắng của cả mây lẫn bông. Đội bông như đội mây trắng trên vòm trời, tầm vóc các cô gái được so vào kích thước của trời đất. Cách ca ngợi kín đáo nhưng để lại ấn tượng. Bài thơ hết nhưng hình ảnh các cô ở lại.
Phong vị ca dao ẩn giấu ở đâu trong hai mươi tám từ của bài thơ?
– Ở cách tận dụng triệt để chi tiết. Đưa mây và bông làm nguyên liệu tạo thơ thì cả trong ba ý thơ của bài đều dùng nguyên liệu ấy. Khéo nhất là cách lập ý trong câu kết.
– Ở cách suy nghĩ trực giác, dễ cảm nhận mà lại sâu sắc, trí tuệ. Có thể gọi đó là trí tuệ hồn nhiên của người bình dân.
– Hơn nữa, trong cách phối ý ở các câu, ta như gặp lại thể hứng, thể tỉ… quen thuộc của ca dao.
Nhà thơ Ngô Văn Phú là cây bút đương đại thành thạo sử dụng chất liệu thơ nông thôn, nông nghiệp. Ông có nhiều bài hay gợi bóng dáng quê hương, con người Việt Nam mình, gợi nết ăn nết ở thẫm đẫm hương vị truyền thống của quê ta. Nhưng gọn, sáng, ấn tượng mạnh nhất có lẽ vẫn là bài thơ này.
9/8/2007
Vũ Quần Phương
19.VŨ QUẦN PHƯƠNG
Sinh: 1940. Quê: Nam Định.
Hiện sống và viết tại Hà Nội.
Tác phẩm thơ đã in: Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vầng trăng trong xe bò, Mênh mông giấy trắng.
Đợi
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy
Nước chảy ngang lòng anh đợi em
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?
Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây
Anh đứng trên cầu đợi em
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đời em quen thành lạ
Nước chảy… kìa em, anh đợi em.
Lời bình
Vũ Quần Phương là cây bút đa tài. Ngoài làm thơ, ông còn viết văn xuôi và phê bình. Vũ Quần Phương thẩm thơ khá tinh. Ông có nhiều phát hiện mới mẻ ở cả những tác giả và những bài thơ đã quá quen thuộc, tưởng như không còn có gì để nói thêm nữa.
Chính khả năng thẩm thơ của một nhà phê bình thơ có tài đã giúp Vũ Quần Phương khá đắc địa trong việc sáng tạo thi ca. Thơ ông chặt chẽ, vững chãi và tinh tế. Vũ Quần Phương ít có những câu chữ non lép, xộc xệch mà người đời khó tính có thể bắt bẻ. Nhưng ông cũng không làm cho người đọc phải giật mình, sửng sốt bởi lối nghĩ táo bạo hay cách thao tác cấu tứ mới lạ. Vũ Quần Phương dường như không bận tâm lắm đến việc cách tân, đổi mới hình thức thơ. Ông viết theo lối cổ điển.
Đợi là một trong những bài thơ hay của ông. Bài thơ này còn được nhạc sĩ Huy Thục phổ thành một bài hát cùng tên rất nổi tiếng. Nhìn thoáng qua, bài thơ không có gì mới mẻ. Đây là một đề tài quen thuộc. Đã có bao nhiêu người viết về sự chờ đợi trong tình yêu.
Vũ Quần Phương chọn cây cầu làm nơi hẹn chờ người yêu. Bài thơ bắt đầu từ một cảnh thật:
Anh đứng trên cầu đợi em
Dưới chân cầu nóc chảy ngày đêm
Bao nhiêu người cũng đã từng đợi chờ nhau như thế. Đợi chờ trong nỗi thắc thỏm:
Anh đứng trên cầu nắng hạ
Nắng soi bên ấy lại bên này
Đợi em. Em đến? Em không đến?
Nắng tắt, còn anh đứng mãi đây
Nắng tắt. Nhưng dòng nước dưới chân cầu thì vẫn chảy:
Ngày xưa đã chảy, sau còn chảy
Nước chảy ngang lòng anh đợi em.
Nước chảy ngang lòng thì không còn là cái dòng nước cụ thể ở dưới chân cầu nữa rồi. Nó là hình ảnh trực giác của thời gian. Trong sự đợi chờ thì thời gian là yếu tố rất quan trọng. Thời gian làm đổi thay mọi thứ nhưng lòng người đợi thì lại trước sau như một.
Đứng một ngày đất lạ thành quen
Đứng một đến em quen thành lạ
Đây là hai câu thơ hay nhất trong bài. Hay không phải chỉ ở tài chơi chữ mà ở sự chiêm nghiệm nỗi đời. Loại thơ này đâu có dễ viết. Đó là chất thơ kết tinh từ việc đời từ sự từng trải thấm thía của người viết.
Những năm gần đây, thơ Vũ Quần Phương hay ngẫm ngợi theo lối chiêm nghiệm, tổng kết như thế này. Đây là một đặc điểm thi pháp của ông, nó thấp thoáng trong các bài thơ hồi trẻ và rõ hơn trong chặng thơ gần đây.
Vũ Quần Phương là người cả nghĩ. Và cách nghĩ của ông lại kín đáo. Ông thường nghĩ bằng hình tượng thơ, bằng những chi tiết của đời sống, đôi khi rất nhỏ bé và được đưa vào thơ tưởng như rất hồn nhiên. Bởi thế nếu đọc ông một cách sống sít, đọc ào ào chỉ cốt nắm bắt lấy ngay nội dung trên những con chữ cụ thể thì có cảm giác như thơ ông chẳng có gì cả. Bởi thế, có nhà thơ nhận xét: Thơ Vũ Quần Phương vừa cũ lại vừa kĩ. Đó là một nhận định có phần vội vã. Thật ra đây chính là ưu điểm của ông đồng thời cũng có thể xem như là một thiệt thòi của chính ông. Bởi lối thơ này đòi hỏi một cách đọc ra ngoài chữ, đọc trong tâm hồn, trong lốn sống. Vũ Quần Phương có bài thơ Nói với bé. Bài thơ này đã được đưa vào sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tập hai. Ông căn dặn em bé chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn cây và thưởng thức câu chuyện cổ tích tuyệt vời của bà: “Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió – Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay – Tiếng lích rích chim sâu trong lá – Con chìa vôi vừa hót vừa bay – Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện – Sẽ được nhìn thấy các bà tiên – Thấy chú bé đi hài bảy dặm – Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền”…
Tôi nghĩ đọc thơ Vũ Quần Phương cũng thế. Để hiểu ông, có lẽ khi đọc, chúng ta cũng nên nhắm mắt lại. Nghĩa là khép con mắt thịt và mở rộng nội tâm, đọc bằng hồn, bằng sự chiêm nghiệm đời sống. Chỉ có như thế, chúng ta mới nhìn thấy được vẻ đẹp của thơ ông.
Trần Đăng Khoa
MỤC LỤC
1. Tỳ bà: BÍCH KHÊ
2. Gửi bác Trần Nhuận Minh: TRẦN ĐĂNG KHOA
3. Thu điếu (Câu cá mùa thu): NGUYỄN KHUYẾN
4. Bến Mi Lăng: YẾN LAN
5. Ông đồ: VŨ ĐÌNH LIÊN
6. Đèo cả: HỮU LOAN
7. Viếng bạn: HOÀNG LỘC
8. Tiếng thu: LƯU TRỌNG LƯ
9. Nhớ rừng: THẾ LỮ
10. Những mùa trăng mong chờ: LÊ THỊ MÂY
11. Dặn con: TRẦN NHUẬN MINH
12. Cuộc chia li màu đỏ: NGUYỄN MĨ
13. Thị Mầu: ANH NGỌC
14. Nhớ: HỒNG NGUYÊN
15. Trời và đất: PHAN THỊ THANH NHÀN
16. Người đàn bà ngồi đan: Ý NHI
17. Nhớ máu: TRẦN MAI NINH
18. Bông và mây: NGÔ VĂN PHÚ
19. Đợi: VŨ QUẦN PHƯƠNG.
Vũ Quần Phương 
(Chủ biên)
Theo http://www.saomaidata.org/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. T...