1.BÍCH KHÊ
Sinh:
(1916 - 1945)
Quê:
Quảng Ngãi.
Tác
phẩm thơ đã in: Tinh huyết, Thơ Bích Khê.
Tỳ Bà
Nàng
ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng
đan qua cành muôn tay êm
Mây
nhung pha màu thu trên trời
Sương
lam phơi màu thu muôn nơi
Vàng
sao nằm im trên hoa gầy
Tương
tư người xưa thôi qua đây
Ôi!
Nàng năm xưa quên lời thề
Hoa
vừa đưa hương gây đê mê
Cây
đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây
đàn yêu đương run trong mơ
Hồn
về trên môi kêu: Em ơi
Thuyền
hồn không đi lên chơi vơi
Tôi
qua tim nàng vay du dương
Tôi
mang lên lầu lên cung Thương
Tôi
không bao giờ thôi yêu nàng
Tình
tang tôi nghe như tình lang
Yêu
nàng bao nhiêu trong lòng tôi
Yêu
nàng bao nhiêu trên đôi môi
Đâu
tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào
Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Thu
ôm muôn hồn chơi phiêu diêu
Sao
tôi không màng kêu: Em yêu
Trăng
nay không nàng như trăng thiu
Đêm
nay không nàng như đêm hiu
Buồn
lưu cây đàn tìm hơi xuân
Buồn
sang cây tùng thăm đông quân
Ô!
Hay buồn tương cây ngô đồng
Vàng
rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.
Lời
bình
Tạo
nên khúc Tỳ bà bằng ngôn ngữ thơ, Bích Khê có hai sở hữu:
Thứ
nhất là một mối tình run rẩy với giai nhân “Ôi! Nàng năm xưa quên lời thề”. Tất
cả những thiết tha, đắm say, mơ mộng dành cho người đẹp giờ đây dồn hết cho âm
nhạc, dâng lên cao nhất từ đoạn ba tới đoạn năm, người đọc gặp ở đây tình – nhạc,
nhạc – tình hòa lẫn, hiện hình trong cùng một lúc xúc cảm, câu chữ, hình ảnh,
âm điệu… Khó mà tách bóc trước sau những yếu tố trên trong những cặp đôi hay đến
chót vót.
–
Cây đàn yêu đương làm bằng thơ
Dây
đàn yêu đương run trong mơ …
–
Tôi qua tim nàng vay du dương
Tôi
mang lên lầu lên cung Thương
Tôi
không bao giờ thôi yêu nàng
Tình
tang tôi nghe như tình lang…
–
Đâu tìm Đào Nguyên cho xa xôi
Đào
Nguyên trong lòng nàng đây thôi
Nhưng
điệu Tỳ bà phải dần dần hạ xuống bởi niềm say đắm miên man của chàng thi sĩ chỉ
là đơn độc.
Trăng
nay không nàng như trăng thiu
Đêm
nay không nàng như đêm hiu
Không
phải sở hữu người tình mà sở hữu một mối tình không, người thi sĩ đã lấy mối
đau đớn hy sinh kia làm “vốn” tạo nên khúc Tỳ bà thơ truyền đời. Nảy sinh từ
cao thượng ấy, Bích Khê đã mang tới cho thơ Việt những cấy ghép mới đầy cách
tân so với thơ mới đương thời: trăng thiu, đêm hiu. Hành xử táo bạo “tiên
phong” ấy vẫn cứ là một kêu gọi không bao giờ lùi bước trước sáng tạo thơ cho tới
hôm nay và mãi mãi.
Sở
hữu thứ hai với tác giả Tỳ bà là thiên nhiên mùa thu tuyệt vời. Vừa hỗ trợ, làm
mồi dẫn, vừa là lối thoát cho trái tim đau đớn. Ngay vào bài đã song song có mặt
cùng với nàng là mùa thu huyền diệu. Vô cùng tinh tế, ý nhị, vừa kín đáo lại vừa
mênh mang:
Nàng
ơi! Tay đêm đang giăng mềm
Trăng
đan qua cành muôn tay êm
Mây
nhung pha màu thu trên trời
Sương
lam phơi màu thu muôn nơi
Khúc
cuối bản Tỳ bà, giải thoát cho nỗi vô vọng về người đẹp, đã thánh thót những
dây đàn hòa nhập vào mùa thu trùm phủ khắp trời đất, buồn nhưng đẹp đến vô bờ:
Ô!
Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng
rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông
Không
phải tắt âm với lá rụng với tuyệt vọng mà mở ra, dậy lên men sống của sắc đẹp
mùa thu… Cây đàn tỳ bà – trái tim người nghệ sĩ– thi sĩ trong bao khắc khoải vẫn
dâng hiến cho đời vẻ đẹp bất tuyệt.
Trong
lá thư gửi Hàn Mặc Tử, Bích Khê công bố một quyết định: trong khoảng thời gian
ba đến sáu tháng hoặc sẽ bẻ bút, hoặc sẽ trở nên một thi sĩ phi thường. Tập thơ
Tinh huyết chính là sản phẩm phi thường ấy, trong đó cùng với một số bài thơ
“trổ hoài nghi” (Điểm lạ trổ hoài nghi – Bích Khê), có Tỳ bà. Dụng ý nghệ thuật
xây dựng một áng thơ gồm toàn những từ ở thanh điệu bằng ngang (bằng cao) và
thanh điệu bằng thấp (bằng có dấu huyền), thật dễ nhận ra. Nhưng một tay thợ chữ
khéo cũng có thể gắng gỏi làm được chúng ta phục cảm tài năng một thi sĩ với
không ít khám phá ngôn ngữ thơ trong Tỳ bà. Những lửng lơ quấn quýt (đoạn 1, đoạn
2), những dâng cao tha thiết (đoạn 3, đoạn 4, đoạn 5), vẻ mỏng gầy thất vọng
(đoạn 6), sự lan tỏa hòa đồng (đoạn 7), thanh bằng chảy suốt bài thơ đã đắc lực
góp vào thể hiện những cung bậc tình cảm đan xen ấy. Trong âm nhạc, sự láy lặp
từ và nhịp rất quan trọng để tạo giai điệu. Bích Khê nắm vững đặc điểm nghệ thuật
đó để sáng tác một bài thơ biểu hiện một bản nhạc, chứ không phải làm lời, làm
ca từ cho một nhạc sĩ phổ nhạc. Tài năng chính ở chủ động đầy tự tin ấy. Đây là
một văn bản thơ hẳn hoi, hoàn chỉnh. Chỉ có thơ mới tạo được thứ nhạc này:
–
Tôi qua tim nàng vay du dương
–
Tình tang tôi nghe như tình lang
Lợi
thế lặp lại, láy lại từ ngữ cấu tạo song song trong hai câu, hoặc ngay trong một
câu để tạo giai điệu dằn vặt hoặc mê đắm cuốn đi đã bộc lộ tài năng kiến trúc
ngôn ngữ khó trộn lẫn của Bích Khê. Một người bạn vừa tặng tôi một tập thơ mới
hiện đại. Tôi thích bởi thơ này gần gũi với nhịp điệu những ngày tôi đang sống.
Trong mấy ngày chịu ám ảnh của âm nhạc Tỳ bà được viết cách đây quá nửa thế kỉ,
tự nhiên thưởng thức của tôi cứ bị vòng trở lại…
TRÚC
THÔNG
2.TRẦN ĐĂNG KHOA
Sinh:
1958. Quê: Hải Dương.
Hiện
sống và viết tại Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Từ góc sân nhà em, Góc sân và khoảng trời, Khúc hát người anh
hùng (trường ca), Bên cửa sổ máy bay, Thơ Trần Đăng Khoa.
Gửi
Bác Trần Nhuận Minh
Bỏ
làng ra thành phố
Hai
anh em thợ cày
Thân
cũng như hoa cỏ
Hồn
gửi vào gió mây
Người
bảo bác theo Đỗ
Em
phải học Lí thôi
Bác
đã bay dưới đất
Em
đành đi trên giời
Bác
âm thầm chìm nổi
Cùng
kiếp người lang thang
Em
lông nhông bầu bạn
Với
kiến đen chó vàng
Bao
nhiêu là giun dế
Đã
khiêng vác em lên
Tên
tuổi em xủng xoảng
Những
mõ ran trống rền…
Bác
làm bông lau ngàn
Thả
hồn vào hoang vắng
Khi
buồn thì hát ca
Lúc
lui thì im lặng
Em
quấy bầu trăng gió
Bác
gánh bao nỗi người
Sánh
đôi mà đơn độc
“Đi
mang mang trong đời”
Giờ
thì em đã chán
Nhũng
vinh quang hão huyền
Muốn
làm làn mây trắng
Bay
cho chiều bình yên
Trả
niềm vui cho cỏ
Trả
nỗi buồn cho cây
Lại
áo tơi nón lá
Ta
về với luống cày
Đất
trời thì chật hẹp
Làng
quê thì mênh mông
Thung
thăng em với bác
Ta
cưỡi thơ ra đồng.
Trần
Đăng Khoa là em ruột Trần Nhuận Minh. Thuở chín – mười tuổi, chú bé Khoa ở xã
Quốc Tuấn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương làm thơ nổi tiếng như một thần đồng
thì anh Trần Nhuận Minh của chú dạy học và lầm lụi làm thơ về than, về mỏ ở thị
xã Hòn Gai. Anh Minh được về hậu vận. Bây giờ thì cả hai anh em, kẻ trước người
sau, đều đã được Giải thưởng Nhà nước về thơ. Bài thơ này như một trích ngang
lí lịch nghệ thuật của hai anh em do chú em láu lỉnh Trần Đăng Khoa tự khai.
Mở
đầu tự nhận: anh em mồ xuất thân thợ cày, bỏ làng ra phố. Cái nguồn gốc xuất
thân ấy tạo thuận lợi cho tác giả dùng giọng thơ nửa khôn nửa dại, nghe chất
phác thật thà mà ranh ma sắc sảo. Cái biến báo lấp lửng đùa đùa vốn là khẩu khí
thường ngày của Khoa vào bài thơ tự trào này hóa ra đắc địa. Thân cũng như hoa
cỏ – Hồn gửi vào gió mây. Hai câu thơ thâu tóm thân và phận, nói ra bằng giọng
khiêm nhường thân như cỏ mà nghĩa lí lại sang trọng, hồn ôm trời. Bác theo chân
ông Đỗ, em học trò ông Lí. Theo và học là khiêm nhường lắm lắm. Nhưng ông Đỗ là
ông thánh thơ Đỗ Phủ và ông Lí là ông tiên thơ Lí Bạch. Hai ông khổng lồ của
thơ Đường. Một ông hiện thực thâm trầm, một ông lãng mạn phóng khoáng. Ông hiện
thực bao quát việc dưới đất, ông lãng mạn mê say việc trên trời. Bác Minh nhà
chú Khoa thuộc phía dưới đất. Thơ Trần Nhuận Minh trong mươi năm cuối thế kỉ XX
quả có bước tiến vượt bậc trong việc dựng chân dung xã hội và chân dung nhân vật,
khắc họa khá tài tình một thực trạng hiện thực nhiều nghịch lí, nhiều xót
thương. Tác giả phân công ông anh dưới đất. Nhưng dưới đất mà bay, bay dưới đất.
Còn mình thì trên giời. Nhưng trên giời mà lại đi đi trên giời. Bảo Khoa nói thế
là để tôn trọng anh và tự giễu cái may về “hộ khẩu” của mình cũng đúng mà bảo
là Khoa coi trên giời cũng như dưới đất, thì cũng không sai. Nhất là cái chữ
đành, Em đành đi trên giời. Thiết gì giời. Đâu thì cũng là chỗ đặt chân. Bạn đọc
khó tính bảo ông này kiêu ngầm: cho hắn lên giời mà hắn cũng chán chết. Có lần
tôi còn nghe một bạn thơ bình luận vui, vui mà cũng khiếp: “Anh hắn chiếm dưới
đất, còn hắn: trên giời – thế thì thiên hạ hết chỗ”. Cũng là suy diễn. Trên trời
dưới đất là thoát thai từ khái niệm lãng mạn và hiện thực thôi. Khoa có nói gì
đến độc chiếm không gian đâu.
Về
các nhân vật của thơ Trần Nhuận Minh, tác giả nói đúng: Bác âm thầm chìm nổi –
Cùng kiếp người lang thang. Nhân vật thơ của Trần Nhuận Minh trong giai đoạn
thành công nhất của ông là những người cùng khổ, gánh chịu nhiều bất công. Cái
tình của Trần Nhuận Minh đối với họ sâu đậm, ông chìm nổi với họ. Khoa viết thế
là hiểu lòng anh, là biểu dương anh. Còn Khoa, so sánh với anh, thì thơ thẩn chỉ
là một thứ lông nhông. Em lông nhông bầu bạn – Với kiến đen chó vàng. Kiến,
chó, giun, dế… quả là các “nhân vật” thường gặp trong thơ chú bé thần đồng Trần
Đăng Khoa dạo ấy.
Bài
thơ có kết cấu song song, đoạn nói anh so sánh liền với đoạn nói em. Tài năng
ông em chín sớm, quá sớm, thành một hiện tượng độc đáo, chưa có tiền lệ. Tài
năng ông anh lại chín muộn. Mà thơ thì đang nói ở đoạn đầu đời Trần Đăng Khoa ý
tứ, khi nói về sự nghiệp của anh, giọng thơ ông trân trọng, cách nhìn thân
kính, nhận ra nỗi vui buồn kín đáo của anh trong niềm cảm thông xa vắng:
Bác
làm bông lau ngàn
Thả
hồn vào hoang vắng
Khi
buồn thì hát ca
Còn
khi nói về mình, ông xuê xoa tếu táo, thoáng chút giễu cợt, cố xóa đi cái ấn tượng
“thần đồng” mà người đời gán cho mình.
Bao
nhiêu là giun dế
Đã
khiêng vác em lên
Tên
tuổi em xủng xoảng
Những
mõ ran trống rền…
Cũng
có người cho là Khoa tự kiêu, coi thiên hạ hâm mộ thơ mình như giun dế. Trong đời,
tôi không thấy thế, mà trong các câu thơ này cũng không có ý ấy. Đoạn này tác
giả Trần Đăng Khoa đang nói tới những nhân vật trong thơ của “bác Minh” và của
mình. Trần Nhuận Minh viết về thợ mỏ, thơ ông gánh nông nỗi con người nơi bờ
lau bãi gió. Còn thơ Khoa thì nhung nhăng chuyện con giun đào đất, cây dưa đủng
đỉnh, con chó sợ tiếng bom, con mèo chơi tam cúc, ông trăng thì như quả bóng thằng
nào đá lên trời… Khoa thấy thơ anh mình mang nghĩa lớn, mà phận anh (khi ấy)
thì đơn độc. Còn mình trăng gió đâu đâu, chẳng làm no làm ấm được ai mà tên tuổi
lại xủng xoảng. Lúc bé chắc cũng thích. Bây giờ hiểu việc đời thấy cũng hão huyền,
nhí nhố, ồn ào. Lòng người thơ muốn yên tĩnh lại. Vật của cỏ thì trả cho cỏ, buồn
của cây thì trả cho cây mà quay về nghe thật lấy lòng mình. Ngược với hai câu đầu
của bài thơ, giờ đây Khoa rủ anh bỏ phố về làng, về lại nơi bắt đầu, áo tơi nón
lá, nhưng cõi lòng thanh nhẹ thung thăng. Ý thơ nhuốm vị tiêu dao Lão Trang.
Khoa viết bài thơ này ở tuổi bốn mươi. Nguyện vọng “về hưu” sớm quá! Tôi không
tin. Có lẽ do cái thế tư duy của thơ đẩy đến tình thế ấy. Thơ nói, chứ chưa phải
Khoa nói. Thực tế, lúc này Khoa đang mở một hướng mới cho ngòi bút, ấy là văn
xuôi. Văn xuôi Khoa vui hóm, mà lại sâu sắc thâm trầm. Và Trần Nhuận Minh khai
sinh mạch thơ hiện thực đầy sức nặng, rất được công chúng tin cậy. Ông được bầu
làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh. Làm việc năng nổ lắm. Không có chuyện về
làng đâu. Dù bây giờ ra đồng anh em họ không cưỡi trâu mà cưỡi thơ như hai ông
tiên ấy. Họ cũng chả về. Khoa hay nói trạng, cũng là cách ướm thử lòng mình vào
lại cõi hàn vi như một rèn luyện, một nhắc nhở: Đừng có hoắng! Thế thôi!
Ý
thơ Đất trời thì chật hẹp – Làng quê thì mênh mông ngỡ như nói ngược, nhưng
chính là đúc kết một chiêm nghiệm, thầm lặng hiểu tấm lòng thơm thảo hồn nhiên
của người dân quê. Đến đây thì không thể nào nói Trần Đăng Khoa khinh bạc độc
giả khi đọc câu thơ Bao nhiêu là giun dế – Đã khiêng vác em lên.
Đặc
sắc của bài thơ này là tình chân thực, giọng bình đạm, cho thấy tình anh em
thương trọng nhau thấm thía. Còn muốn tìm bài độc đáo, tiêu biểu của đời thơ Trần
Đăng Khoa thì vẫn phải tìm ở giai đoạn Góc sân và khoảng trời thơ ấu.
13/9/2007
Vũ Quần Phương
Vũ Quần Phương
3.NGUYỄN KHUYẾN
Sinh:
(1835 – 1909). Quê: Hà Nam.
Còn
được gọi là Tam nguyên Yên Đổ.
Ao
thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một
chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng
biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá
vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng
mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ
trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa
gối buông cần lâu chẳng được,
Cá
đâu đớp động dưới chân bèo.
Lời
bình
Bài
này nên gọi bằng tên Nôm là Câu cá mùa thu. Đây là một trong ba bài thơ thu nổi
tiếng của Nguyễn Khuyến. Nguyễn Khuyến có tài lưu giữ phong cảnh thôn quê đồng
bằng Bắc Bộ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Cảnh quê trong thơ ông so với cảnh
thật bây giờ thì khác biệt lắm, nhưng so với các thế kỉ trước như trong thơ
Nguyễn Ức thời Trần hay trong thơ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi thời Hồ, thời
Lê thì không khác mấy. Có lẽ nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc ngưng đọng
hàng chục thế kỉ tạo nên tình thế ấy.
Trước
hết hãy xét các chi tiết hiện thực được dùng làm nguyên liệu cho thơ. Một cái
ao, đủ rộng để người câu cá có thể dùng thuyền, dù là con thuyền nhỏ, một lối
ngõ trúc đủ dài để lượn quanh co. Hai mươi năm đổ lại đây, giá đất lên cao, ao
chuôm ở nông thôn bị lấp đi nhiều. Mấy cái ao rộng trước từ đường Nguyễn Khuyến
ở thôn Bùi đã được xếp loại di tích văn hoá mới còn nguyên vẹn cho khách về
thăm dễ hình dung cảnh trí bài thơ này. Nhưng các ngõ thì trúc không còn mà
cũng không còn được quanh co nữa, tốn đất, lại khó cho xe máy đi nhanh. Nói thế
để thấy thơ phong cảnh quê hương làng nước nhà mình của Nguyễn Khuyến hay của một
ai hậu thế như Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân… đã dần dà trở
thành hiện vật hình ảnh trong bảo tàng tâm hồn của chúng ta rồi. Mỗi lần đọc là
một lần ta sống lại cảnh xưa và nhập vào hồn cũ.
Bài
thơ làm theo luật Đường, tiếng rằng tám câu, nhưng bốn câu giữa thu lại chỉ là
hai cặp. Có mở ra mà ôm cảnh cũng chẳng được bao nhiêu. Nhà thơ buộc phải dùng
thủ pháp chấm phá, điểm vài nét mà tạo thần thái cho cảnh sắc, đánh thức vào tưởng
tượng của người đọc. Những bạn đọc trẻ hôm nay không kịp biết nông thôn xưa chắc
sức cảm thông lưu luyến với bài thơ này cũng có phần trở ngại. Không biết ngành
điện ảnh có lưu giữ được những hình ảnh quê hương ta của thời xa cũ ấy không.
Thơ
nói chuyện câu cá, nên mở bài Nguyễn Khuyến vào ngay cái ao và con thuyền câu
nhỏ. Hai giác quan được huy động ngay trong câu thơ đầu: lạnh lẽo và trong veo,
gợi hơi thu xứ Bắc. Con thuyền câu trong ao vốn nhỏ, nhưng trạng từ tẻo teo lại
làm cho nó nhỏ thêm. Trời thu cao và rộng nên con thuyền hoá nhỏ hơn, cái ngõ
trúc cũng vì thế mà quanh co hơn. Tả dưới đất mà cho cảm nhận trên trời. Đấy là
chỗ tinh tế có sẵn trong hồn Nguyễn Khuyến, không phải do khôn ngoan của bút
pháp mà nghĩ ra đâu, nên giọng thơ thanh thoát thoải mái, không định mà thành.
Ở
trên tôi có nói bốn câu giữa thành hai cặp, ấy là hai câu thực ba bốn và hai
câu luận năm sáu. Dưới bút Nguyễn Khuyến, bốn câu này đều là thực cả, không luận
chi hết. Hai câu đối nhau, lại cùng tả cảnh dễ thành áp đặt, công thức kiểu con
chó đi ra thì con mèo phải đi vô, như hồi nào các nhà Thơ mới chế giễu thơ cổ
điển. Nguyễn Khuyến tài hoa, ông đối lời, nhưng ý thơ thì lại đi liền trong một
vế.
Sóng
biếc theo làn hơi gợn tí,
Đối
rất chỉnh từng loại từ, nhưng câu dưới mở không gian rộng hơn, động hơn, tốc độ
hơn, khẽ đưa vèo. Tránh được đơn điệu trong lặp ý, lại tạo sinh động cho cảnh.
Nhưng cặp đối sau đó, tác giả không lập lại dạng thức này. Ông giữ nguyên nhịp
độ chuyền ý trong hai câu như nhau, cả hai đều là cảnh tĩnh, nhưng hướng một cảnh
theo chiều cao, một cảnh theo chiều rộng; Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt gợi một
chiều cao sâu thẳm ở trên đầu. Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Con ngõ như hẹp
lại và dài ra, lại vắng người đi, nên mở một chiều ngang cũng sâu hút, tịch mịch.
Không gian lặng lại, bất động, chuẩn bị sự bất động của con người ở ý kết.
Con
người, cố nhiên là ông câu cá, ở đây là chính tác giả. Nếu sa vào cảnh nữa thì
lạc đề, phải trở lại chuyện câu cá. Người câu mà như không câu, có giật, có lôi
gì đâu, cứ tựa gối buông cần, tự lúc nào rồi vẫn im như tượng. Không cả chút nhấp
nháy trên phao. Không hiểu sao ba chữ đ trong cá đâu đớp động lại gợi một sự
nghiêng tai lắng nghe mà không thấy tiếng. Nhưng không phải sự nghiêng tai của
ông câu. Sự nghiêng tai của người đọc. Ông câu trầm tư quá. Không hiểu ông câu
cá hay câu tâm hồn mình.
Bài
thơ tả ít mà gợi được thần thái phong cảnh mùa thu xứ Bắc. Bút pháp kĩ càng mà
lại thoải mái, tự nhiên. Đấy cũng là đặc điểm của tài thơ Nguyễn Khuyến. Nhưng
đẹp, tinh thì vẫn chỉ là một bài thơ phong cảnh, kiểu Bức tranh quê của nữ sĩ
Anh Thơ. Người, ông câu, cũng là một yếu tố của cảnh. Bạn đọc hôm nay khi sử dụng
một bài thơ thèm được sở hữu nhiều hơn thế. Có lẽ đấy là lí do để sau Nguyễn
Khuyến, thơ nước ta phải chuyển sang hình thức mới sao cho chất chứa được nhiều
hơn việc của lòng người.
14/7/2007
Vũ Quần Phương
Vũ Quần Phương
4.
YẾN LAN
Sinh:
(1916 – 1988). Quê: Bình Định.
Tác
phẩm thơ đã in: Những ngọn đèn, Tôi đến tôi yêu, Lẵng hoa hồng, Giữa hai chớp lửa,
Én đào, Thơ Yến Lan.
Bến
Mi Lăng
Bến
Mi Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu
hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng
thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông
lái buồn để gió lén mơn râu
Ông
không muốn run người ra tiếng địch
Chở
mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì
đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời
gõ vàng, trời thiếu những gì sao
Trôi
quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ
vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng
Chiều
ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để
đêm buồn vây chủ bến Mi Lăng
Nhưng
đêm kia đến một chàng kị mã
Nhúng
đầy trăng màu áo ngọc lưu li
Sợ
trăng vàng rơi khuất lối chưa đi
Ông
lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Đế
thuyền hồn bơi khỏi bến Mi Lăng
Tiếng
gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi
đò thôi run rẩy cả ngành trăng
Bến
Mi Lăng còn lạnh, bến Mi Lăng
Ông
lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
Lời
bình
Thuở
Yến Lan viết Bến Mi Lăng ông đang ở Trường thơ loạn (thơ điên) cùng Chế Lan
Viên và Hàn Mặc Tử mà tuyên ngôn là lời tựa tập thơ Điêu tàn. Nhưng Yến Lan
không “điên cuồng” như Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên mà “Yến Lan đi quá xa” trong miền
mơ mộng, như Hoài Thanh nhận xét. Bài thơ Bến Mi Lăng chính là “Cả trời thực,
trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta”, theo với cái say trăng trên Bến Mi Lăng của
Yến Lan.
Bài
thơ mở ra với cái vô sự của tất cả, cả cảnh vật và con người đều vô sự. “Bến Mi
Lăng nằm không”, một cái bến cô liêu, một không gian tịch liêu; một con thuyền
“đợi khách”, con thuyền cũng nằm im trên bến vì không có khách sang sông. Vắng
khách, ông lái chẳng chở đò đã đành, mà cũng “chẳng buông câu” kiếm dăm ba con
cá ăn, hay để tiêu sầu. Ông lái đò không uống rượu vì “rượu hết rồi”; ông lái
đò không đọc sách để “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”. Ông lái đò không
thổi sáo, không “run người ra tiếng địch” không nhờ tiếng sáo chở hồn “lên tắm
bến trăng cao”. ông lái tôn trọng cái “đìu hiu” của đất, cái “tĩnh mịch” của trời,
cứ để cho tất cả trời đất vạn vật trong trạng thái tự nhiên, như nhiên. Trời
đêm ấy “võ vàng” như gầy hơn, tiều tụy hơn vì trăng tỏ nhưng sao mờ “trời thiếu
những vì sao”. Không gian có gió, nhưng gió quá nhẹ, gió mơ hồ chỉ đủ để khẽ
lay động mấy sợi râu, gợi thêm chút buồn cho ông lái đò: “Ông lái buồn để gió
lén mơn râu”. Dòng chảy dưới bến cũng chỉ là một dòng quẩn đưa những xác lá
vàng “trôi quanh thuyền”, chẳng cuốn lá đi xa. “Những lá vàng quá lạnh” vì
chúng đã là những xác lá chết, đã lìa cành quẩn theo dòng nước lạnh. “Chiều” của
Yến Lan không giống “chiều” của Hồ Dzếnh. “Chiều” Hồ Dzếnh như một tình nhân
trong phút chia tay lưu luyến, bịn rịn cứ muốn níu kẻo “ngày” lại: “Chiều chậm
đưa chân ngày”. Còn “chiều” của Yến Lan là thứ “chiều nghi ngút”, một thứ chiều
vừa đơn côi vừa tủi buồn, nó “dài trôi về nẻo quạnh”, để nhanh chóng bàn giao
cho “đêm” quản lí toàn bộ không gian bến Mi Lăng: “Để đêm buồn vây phủ bến Mi
Lăng”. Yến Lan đã công phu chuẩn bị đến như thế để đắm mình trong đêm trăng bến
Mi Lăng, ru hồn với trăng và bị trăng hút hồn.
Đây
không phải là “nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự” (Trăng nhàn hạ soi bóng người
nhàn hạ) của Trần Nhân Tông khi ông về chơi ở Hành cung Thiên Trường; mà cũng
không phải cái thứ môtip ông lão chài hóa đá trong Vọng Trường Dụng của Vương
Xương Linh đời Đường bên Trung Quốc, đừng nhọc lòng đi tìm mối liên hệ xa xôi
như thế làm gì. Đây hẳn hoi là cảm xúc, cảm nhận của một hồn thơ lãng mạn mơ mộng
bậc nhất, “đi quá xa” trong miền mộng mơ của Thơ mới đương thời.
Hoài
Thanh đã rất tinh tế và nhạy cảm khi khái quát cái chất của các thi sĩ Bình Định
là “cái vầng trăng vẫn thường ám ảnh” hồn thơ họ. Nếu có mối liên hệ nào của Yến
Lan với Hàn Mặc Tử trong Trường thơ loạn thì đó chính là cái bến sông trăng và
con thuyền hồn, con thuyền chở trăng về với người, chở hồn người lên với trăng
như thiết lập một giao thông huyết mạch cho THƠ. Nếu thiếu TRĂNG thì THƠ không
chảy trong huyết quản của thi sĩ. Trăng là khoảng vọng Mĩ Nhân của Hàn Mặc Tử:
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu – Đợi gió đông về để lả lơi” (Bẽn lẽn).
Nhưng trăng của Yến Lan lại khác: “Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách”, trăng
rắc bụi vàng lên nẻo đường dương thế khiến cho chàng kị mã đến bến Mi Lăng một
đêm trăng phải… “gọi đò, gọi đò như hối hả – Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa
đi” mà có thể lạc đường. Áo chàng kị mã có màu “ngọc lưu li” xanh biếc đã
“nhúng đầy trăng”. Trăng dát vàng lên cành cây ngọn lá “Tiếng gọi đò” được nhắc
đến năm lần rung lên giữa hư không của đêm trăng vàng bến Mi Lăng chẳng lay động
được ai, chỉ làm “run rẩy cả ngành trăng”:
Tiếng
gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi
đò thôi run rẩy cả ngành trăng.
Trăng
Mi Lăng là những sợi tơ trời quấn quýt lấy hồn người:
Tơ
vương trời, nhưng chỉ rải trăng… trăng
Cái
đêm trăng vàng đầy tơ vương Mi Lăng đã làm một điều tội lỗi: nó quyện hồn Yến
Lan vào hồn ông lái đò rồi cả hai khua nhẹ mái chèo “Để thuyền hồn bơi khỏi bến
Mi Lăng”, “Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao”.
Say
trăng đến hồn lìa khỏi xác, say trăng đến chết thì là thứ say cao nhất rồi.
Nhưng say trăng là say Cái Đẹp, là say Mộng. Thiếu trăng, thiếu cái đẹp, thiếu
mộng thì lấy gì cho máu chảy trong tim, trong huyết quản của thi sĩ?
Thi
sĩ tôn thờ Cái Đẹp suốt đời đi tìm cái đẹp, gắn bó phần hồn tinh túy với trăng,
hiện thân của cái đẹp, đến chết vẫn vương sợi tơ trời. Khi đã nâng hồn lên tầng
của cái đẹp vĩnh hằng thì sẽ bay sạch mùi độ nhật kiếm cơm của ông lái đò, mùi
tanh của con cá câu trên bến Mi Lăng, bay sạch men rượu dễ làm ta không tỉnh
táo, sẽ không còn phải nghe tiếng hối thúc của chàng kị mã hối hả cưỡi ngựa qua
đò đi tìm hư danh trên những nẻo đường trần thế. Hồn lãng mạn của Yến Lan chính
thức nằm trong Trường thơ loạn cùng Chế Lan Viên là ở ý nghĩa này. Nó tạo ra
“cái không khí lạ lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích” (Hoài Thanh – Thi
nhân Việt Nanh.
Đặng Tương Như
5.VŨ ĐÌNH LIÊN
5.VŨ ĐÌNH LIÊN
Sinh:
(1913 – 1996). Quê: Hải Dương
Ông
đồ
Mỗi
năm hoa đào nở
Lại
thấy ông đồ già
Bày
mực tàu giấy đỏ
Bên
phố đông người qua.
Bao
nhiêu người thuê viết
Tấm
tắc ngợi khen tài
“Hoa
tay thảo những nét
Như
phượng múa rồng bay”
Nhưng
mỗi năm mỗi vắng
Người
thuê triết nay đâu?
Giấy
đỏ buồn không thắm;
Mực
đọng trong nghiên sầu…
Ông
đồ vẫn ngồi đấy
Qua
đường không ai hay
Lá
vàng rơi trên giấy,
Ngoài
giời mưa bụi bay.
Năm
nay đào lại nở,
Không
thấy ông đồ xưa.
Những
người muôn năm cũ
Hồn
ở đâu bây giờ?
(1936)
Hai
đoạn đầu bài thơ, tác giả giới thiệu những ngày huy hoàng của ông đồ:
Bao
nhiêu người thuê viết
Tấm
tắc ngợi khen tài
Hoa
tay thảo từng nét
Như
phượng múa rồng bay.
Những
lời khen thật hào phóng, nhưng nghĩ kĩ đó chỉ là lời khen của những người ngoài
giới bút nghiên. Đi viết câu đối thuê, bản thân việc ấy đã là nỗi lận đận, là
bước thất thế của người theo nghiệp khoa bảng. Đỗ cao thành quan nghè, quan
thám, đỗ thấp thì cũng ông cử, ông tú, chứ ông đồ là chưa đỗ đạt gì, công chưa
thành, danh chưa toại, đành về quê dạy học, bốc thuốc, hay xem lí số ở nơi đô hội
như có lần Tản Đà đã làm. Ngày Tết, mài mực bán chữ ngoài vỉa hè chắc cũng là
việc bất đắc dĩ của Nho gia. Chữ thì cho chứ ai lại bán. Bán chữ là cái cực của
kẻ sĩ ở mọi thời. Bà con yêu quý và cũng thán phục cái thứ chữ mà bà con không
biết, hay chỉ võ vẽ, nên mới khen lao đến vậy. Lời khen này không mang lại vinh
quang cho ông đồ, có thể ông còn tủi nữa, nhưng nó an ủi ông nhiều, nó là cái
tình của người đời vào hồi vận mạt của ông. Tác giả giới thiệu: cùng với hoa
đào, mỗi năm mới có một lần chứ có nhiều nhặn gì đâu, giấy đỏ mực tàu, chữ
nghĩa thánh hiền bày trên hè phố. Đừng nghĩ đến chuyện khoa bảng, hãy nghĩ đến
cương vị người bán, thì đây là hai đoạn thơ vui vì nó nói được sự đắt hàng, ông
đồ còn sống được, có thể tồn tại trong cái xã hội đang biến động này. Nhưng cuộc
đời đã không như thế mãi, cái ý thích của người ta cũng thay đổi theo thời cuộc.
Lớp người mới lớn không có liên hệ gì mà quyến luyến cái thứ chữ tượng hình
kia. Cái tài viết chân, thảo, triện, lệ của ông đồ chữ tốt kia, họ không cần biết
đến:
Nhưng
mỗi năm mỗi vắng
Người
thuê viết nay đâu?
Giấy
đỏ buồn không thắm;
Mực
đọng trong nghiên sầu…
Ông
đồ vẫn ngồi đấy,
Qua
đường không ai hay,
Lá
vàng rơi trên giấy,
Ngoài
giời mưa bụi bay.
Ông
đồ rơi vào tình cảnh một nghệ sĩ hết công chúng, một cô gái hết nhan sắc. Còn
duyên kẻ đón người đưa – Hết duyên đi sớm về trưa một mình. Ông đồ vẫn ngồi đấy
mà không ai hay. Cái hiện thực ngoài đời là thế và chỉ có thế, nó là sự ế hàng.
Nhưng ở thơ, cùng với cái hiện thực ấy còn là nỗi lòng tác giả nên giấy đỏ như
nhạt đi và nghiên mực hóa sầu tủi. Hay nhất là cộng hưởng vào nỗi sầu thảm này
là cảnh mưa phùn gió bấc. Hiện thực trong thơ là hiện thực của nỗi lòng, nỗi
lòng đang vui như những năm ông đồ “đắt khách” nào có thấy gió mưa. Gió thổi lá
bay, lá vàng cuối mùa thu rơi trên mặt giấy nó rơi và nằm tại đấy vì mặt giấy
chưa được dùng đến, chẳng có nhu cầu gì phải nhặt cái lá ấy đi.
Cái lá bất động trên cái chợ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Cái lá bất động trên cái chợ không phải của nó cho thấy cả một dáng bó gối bất động của ông đồ ngồi nhìn mưa bụi bay. Văn tả thật ít lời mà cảnh hiện ra như vẽ, không chỉ bóng dáng ông đồ mà cả cái tiêu điều của xã hội qua mắt của ông đồ. Tác giả đã có những chi tiết thật đắt: nơi ông đồ là bút mực, nơi trời đất là gió mưa, nơi xã hội là sự thờ ơ không ai hay. Thể thơ năm chữ vốn có sức biểu hiện những chuyện dâu bể, hoài niệm, đã tỏ ra rất đắc địa, nhịp điệu khơi gợi một nỗi buồn nhẹ mà thấm. Màn mưa bụi khép lại đoạn thơ thật ảm đạm, lạnh, buồn, vắng. Như vậy cũng chỉ với tám câu, bốn mươi chữ, đủ nói hết những bước chót của một thời tàn. Sự đối chiếu chi tiết ở đoạn này với đoạn trên: mực với mực, giấy với giấy, người với người, càng cho ta cái ấn tượng thảng thốt, xót xa của sự biến thiên.
Có
một khoảng thời gian trôi qua, khoảng trống của đoạn thơ trước khi vào bốn câu
kết:
Năm
nay đào lại nở,
Không
thấy ông đồ xưa.
Những
người muôn năm cũ
Hồn
ở đâu bây giờ?
Hãy
trở lại câu thơ đầu bài Mỗi năm hoa đào nở để thấy quy luật cũ không còn đúng nữa.
Ông đồ đã kiên nhẫn vẫn ngồi đấy, nhưng năm nay ông không còn kiên nhẫn được nữa:
Không thấy ông đồ xưa. Bóng dáng ông đâu phải bóng dáng của một người, của một
nghề, mà là bóng dáng của cả một thời đại, bóng dáng kí ức của chính tâm hồn
chúng ta. Đến bây giờ chúng ta mới thấy luyến tiếc, nhưng quá muộn rồi. Chúng
ta hỏi nhau hay tự hỏi mình? Hỏi hay khấn khứa tưởng niệm, hay ân hận sám hối.
Hai câu thơ hàm súc nhất của bài, chúng ta đọc ở đấy số phận của ông đồ và nhất
là đọc được thái độ, tình cảm của cả một lớp người đối với những gì thuộc về
dân tộc. Về ngữ pháp câu thơ này rất lạ, nhưng không ai thấy cộm: Những người
muôn năm cũ. Muôn năm, thật ra chỉ là vài ba năm, nhưng nói muôn năm mới đúng,
thời ông đồ đã xa lắc rồi, đã lẫn vào với những bút, những nghiên rất xa trong
lịch sử. Chữ muôn năm cũ của câu trên dội xuống chữ bây giờ của câu dưới càng gợi
bâng khuâng luyến nhớ. Câu thơ không phải là nỗi đau nức nở, nó chỉ như một tiếng
thở dài cảm thương, nuối tiếc khôn nguôi.
Vũ
Quần Phương
6.HỮU LOAN
Sinh:
1916. Quê: Thanh Hóa.
Hiện
sống và viết tại Thanh Hóa.
Tác
phẩm thơ đã in: Màu tím hoa sim.
Đèo
Cả
Đèo
Cả! Đèo Cả!
Núi
cao ngút!
Mây
trời Ai Lao
sầu
đại dương!
Dặm
về heo hút
Đá
Bia mù sương
Bên
quán “Hồng quân”
người
ngựa
mỏi
Nhìn
dốc ngồi than
thương
ai
lên
đường
Chầy
ngày
lạc
giữa núi
Sau
chân
lối
vàng
xanh
tuôn
Dưới
cây
bên
suối độc
Cheo
leo chòi canh
như
biên cương
Tóc
râu
trùm
lai rộng
Không
nhận ra
người
làng
Ngày
thâu
vượn
hú
Đêm
canh
gặp
hùm lang thang
Rau
khe
cơm
vắt
Áo
phai
màu
chiến trường
Gian
nguy
lòng
không nhạt
Căm
thù
trăm
năm xa
Máu
thiêng
sôi
dào dạt
Từ
nguồn thiêng
ông
cha
“Cần
xây chiến lũy ngất
đây
hình hài niên hoa
–Xâm
lăng!
Xâm
lăng!
gươm
khát…”
–
Ai ngân lung lay
đêm
quê nhà!
Nhớ
lần theo Đèo Cả
Hậu
phương từ rất xa
Ăn
với nhau bữa
heo
rừng
công
thui
chấm
muối
Trên
sạp cây rừng
ngủ
chung
nửa
tối
Biệt
nhau
đèo
heo
canh
gà
Râu
ngược
chào
nhau
bên
dốc núi.
Giặc
từ Vũng Rô
bắn
tới
Giặc
từ trong
tràn
ra
Nhưng
Đèo Cả
vẫn
đứng vững
Đèo
Cả Nam
máu
giặc
mấy
lần
nắng
khô
Sau
mỗi lần thắng
Những
người trấn Đèo Cả
Về
bên suối đánh cờ
Người
hái cam rừng
ăn
nheo nhắt
Người
vá áo
thiếu
kim
mài
sắt
Người
đập mảnh chai
vểnh
cằm
cạo
râu
Suối
mang bóng người
soi
những
về
đâu?
(1946)
Lời
bình
Lối
ngắt nhịp, cắt chữ, chuyển dòng ở bài thơ Đèo Cả nhà thơ Hữu Loan sáng tác từ
1946 quả là rất mới, nếu không nói là hoàn toàn mới so với kiểu tạo ngôn ngữ
thơ kể từ đó ngược về trước.
Hãy
trích mười câu đầu khá tiêu biểu cho sáu mươi câu thơ cả bài. Chúng ta nhận thấy:
Mỗi
dòng thơ đều ít chữ (từ):
–
Hai từ (Đèo Cả! – Đèo Cả!)
–
Ba từ (Núi cao ngút! – sầu đại dương!)
–
Bốn từ (Dặm về heo hút – Đá Bia mù sương)
–
Và ít nhất: Một từ (người
mỏi)
(thương
ai
lên
đường)
Người
– ngựa – mỏi thực chất là một ý thơ biểu hiện dưới hình thức một câu thơ có ba
từ. Nhưng ngắt ra theo lối leo thang thành ba dòng thơ
người
ngựa
mỏi
Cũng
vậy, thương – ai – lên – đường là một ý thơ rõ ràng xếp bốn từ liền hàng thành
ra một câu thơ gồm bốn từ. Những tác giả đã ngắt ra thành bốn dòng thơ, mỗi
dòng chỉ một từ:
thương
ai
lên
đường
Không
thể hời hợt và vội vàng cho đây là một kiểu “rách việc”, một lối lập dị, một
hình thức chơi trội. Đèo Cả là một bài thơ nổi tiếng cùng với Màu tím hoa sim của
Hữu Loan. Nó đứng cạnh, tương tự một lối viết với Tình sông núi và Nhớ máu của
Trần Mai Ninh, Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên, Không nói của Nguyễn
Đình Thi… Duy Đèo Cả xuất hiện sớm nhất trong hình thức diễn đạt ngắt nhịp, cắt
chữ, chuyển dòng đậm đặc chất mới mẻ của ngôn ngữ thơ đã bước sang một thời kì
mới. Nói như trên để khẳng định: đã xuất hiện một hiện tượng biến động ngôn ngữ
thơ, nó trở thành phổ biến, hàng loạt. Nhưng dĩ nhiên, theo quy luật sáng tạo
văn học, hiện tượng đặc trưng ấy chỉ nổi bật, tập trung ở những tác phẩm xuất sắc
của những tác giả tài năng nhất. Chúng ta còn có Tố Hữu, Quang Dũng, Hoàng Cầm,
Hoàng Trung Thông,… và một số thi sĩ khác nữa, trong thơ họ cũng có những biến
động ngôn ngữ của một thời kì mới, nhưng lại theo lối kiểu khác. Hôm nay, ở
đây, ta xem xét một dạng biến động ngôn ngữ thơ qua cách ngắt nhịp, cắt chữ,
chuyển dòng ở một dạng bài thơ mà tiêu biểu là bài Đèo Cả. Bây giờ hãy thử giải
đáp:
Về
đối tượng khách quan của thơ. Tức là thi liệu hiện thực. Cách mạng bùng nổ, một
biến động xã hội cực lớn phá tan dòng chảy đều đều nhạt tẻ cuộc sống trước đây.
Tiếp đến cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược trở lại, toàn bộ cuộc sống xã hội
và mỗi con người căng trần, xung sát, đảo lộn. Mọi cung bậc tình cảm đều mãnh
liệt, vọt lên độ căng cao. Yêu nước, căm thù giặc trở thành một thứ men rượu
cháy lên trong mạch máu toàn dân tộc. Chúng ta muốn đi tới một khái quát về một
nhịp điệu mới của cuộc sống, của con người Việt Nam. Thô trần, gân guốc, mau
thoắt, hành động thay thế cho suy tư, trầm ngâm.
…
Rau khe
cơm
vắt
Áo
phai
màu
chiến trường
Gian
nguy
lòng
không nhạt
Căm
thù
trăm
năm xa
Máu
thiêng
sôi
dào dạt…
…
Nhớ lần theo Đèo Cả
Hậu
phương từ rất xa
Ăn
nới nhau bữa
heo
rừng
công
thui
chấm
muối
Trên
sạp cây rừng
ngủ
chung
nửa
tối
Biệt
nhau
đèo
heo
canh
gà
Râu
ngược
chào
nhau
Những
cuộc chia tay, chia li vì nhiệm vụ lớn đánh giặc diễn ra như cơm bữa, vẫn đầy
tình cảm đồng đội, đồng chí, nhưng nhanh mạnh, có gì như dứt khoát, vẻ ngoài
hơi lạnh. Khác với những than thở lê thê mủi lòng trong thời kì lãng mạn thơ mới.
Chưa nói những cảnh huống ác liệt khác. Chỉ riêng diễn tả chia tay chia li hôm
nay cũng cần một nhịp mới, những chữ gọn, trần trụi, những dòng đổ chữ mau hơn.
Về
chủ thể thi sĩ. Đa số họ tham gia những chuyển động lớn xã hội trước hết trong
vai trò công dân tích cực. Trực tiếp là bộ đội đánh giặc, hoặc làm báo, bám sát
bộ đội, dân công, hoặc ở trong các ngành nghề kháng chiến khác. Nhà văn, nhà
thơ cùng đều đầu quân hoặc lăn lộn trong các công tác kháng chiến. Hữu Loan từng
là Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa địa phương, sau đó vào bộ đội, đã từ đại đội trưởng
lên tới cấp tiểu đoàn, đánh giặc ở mặt trận gian lao nhất là Bình–Trị–Thiên và
Trung Trung Bộ trong đó có Đèo Cả.
Sau
mỗi lần thắng
Những
người trấn Đèo Cả
Về
bên suối đánh cờ
Người
hái cam rừng
ăn
nheo mắt
Người
vá áo
thiếu
kim
mài
sắt
Người
đập mảnh chai
vểnh
cằm
cạo
râu
Suối
mang bóng người
soi
những
về
đâu?
Không
thể tưởng tượng, dù giàu khả năng đó nhất, những cảnh, những người, những cử chỉ
như trên nếu không trực tiếp là người trong cuộc. Câu thơ, hình ảnh thơ cuối
cùng tràn đầy hào khí lãng mạn, mang chất nghệ sĩ cũng không hề viết liền dòng,
mà vẫn cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng, thống nhất một nhịp điệu gân guốc, tính
hành động mau thoắt, dứt khoát của toàn bài thơ.
Suối
mang bóng người
soi
những
về
đâu?
Câu
thơ kết được “thư giãn” nhất cho người đọc sau khi phải liên tục leo thang, nhảy
dốc suốt từ đầu bài thơ. Trùm lên hơi thơ dịu xuống, một thoáng mắt mơ màng xa
xôi. Thời đại – qua chính điệu tâm hồn nhà thơ vẫn cứ khắc lên dấu ấn khốc liệt
của nó, một dấu ấn tỉnh táo từ trong vô thức, khi ngòi bút căng cảm xúc của ông
cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng.
Về
ý thức chủ động sáng tạo của người nghệ sĩ của ngôn ngữ. Dù khách thể thời đại
biến động thế nào, mà chủ thể nhà thơ của ông ta đóng kín, trơn quen trong lối ứng
xử thơ theo nếp cũ, thì vẫn không thể tạo nên một biến động đáng kể nào về ngôn
ngữ thơ. Hữu Loan thuộc số những thi sĩ trẻ thời ấy, có tri thức học vấn thơ ca
đông tây cũng như thơ ca dân tộc, cùng với những chiêm nghiệm cuộc sống, đã bừng
thức những chiêm nghiệm nghệ thuật mới mẻ. Ông và các đồng nghiệp trẻ của mình
chắc chắn đã không chịu đựng được làn sương mờ mờ giăng trùm lên nhịp điệu lối
thơ ngày trước. Không thích của các nhà thơ đàn anh dù tài năng đến mấy trước
đây, những chữ hoặc được tỉa tót, hoặc được trang hoàng, cứ như ve vuốt lỗ tai
hoặc mơn man lên quả tim thổn thức. Không thích những dòng thơ kéo lê dù năm chữ,
bảy chữ hay đa số tám chữ. Các thi sĩ trẻ và mới này thích biết mấy tung ra những
từ, nói theo một nhà thơ Tây Ban Nha, là “những từ cởi trần”.
Người
vá áo
thiếu
kim
mài
sắt
Người
đập mảnh chai
vểnh
cằm
cạo
râu
Không
một ngượng ngập, mà đầy hứng thú khi dùng các động từ “mài”, “vểnh”, “cạo”
trong văn cảnh những câu thơ trên.
người
ngựa
mỏi
Phải
tách, ngắt, chuyển thành ba dòng leo thang như thế mới bật hết lên sự mỏi, cảnh
mệt của người chiến sĩ và con ngựa leo dù lên hay xuống Đèo Cả.
thương
ai
lên
đường
Sướng
làm sao, vì mới nghệ thuật làm sao, từng từ tách, leo thang kia cùng với cả khối
bốn chữ leo thang ấy, đã hình dung thật chuẩn hình ảnh cứ xa, khuất dần của người
dù cho xuống hay đang lên Đèo Cả hiểm trở. Nhưng đâu có khô cứng, mà ngụ trong
nhịp ấy, cùng nhịp ấy, ở cùng từ, từng nấc thang chữ là những nhịp rung kín
đáo, kìm nén của quả tim người trong gian lao chiến trận.
Tôi
muốn tạo ra trong thơ tôi một nhịp điệu mới, nhịp điệu những bàn chân biểu tình
của nhân dân Đức, nhà viết kịch và nhà thơ cực kì xuất sắc Béc–tôn Biết đã nói
đại ý thế thời kì thập kỉ bốn mươi ở thế kỉ trước. Câu nói, lối nói thẳng thắn,
đầy sức bật đã minh chứng thật rõ tính khách quan và chủ quan trong sáng tạo
nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng. Ta có thể chiếu ý đó vào trường hợp
nhà thơ Hữu Loan với bài Đèo Cả đặt trong không gian và thời gian sau Cách mạng
tháng Tám ở nước ta. Và cả trong thơ ca nước ta khoảng thời gian thật là tinh
khôi, đầy hấp dẫn và thách thức với sáng tạo nghệ thuật lúc đó.
Người
ta bảo chỉ có thể cao hơn khi đứng trên vai người khổng lồ. Sáng tạo nghệ thuật,
mặc dù mang dấu ấn rất cá nhân, vẫn ở trong dòng chảy không ngừng của nghệ thuật
dân tộc và thế giới. Về thơ, lối cắt chữ, ngắt nhịp, chuyển dòng, công mở đầu
thuộc nhà thơ Nga khổng lồ Mai–a–cốp–xki từ thời chủ soái Trường phái vị lai,
càng phát triển mạnh sau Cách mạng tháng Mười với những trường ca nổi tiếng Tốt
lắm!, Vla–đi–mia I–lích Lê–nin. Nhà thơ Hữu Loan rất trẻ và rất mới của chúng
ta ngay từ 1946 trong mù mịt khói lửa chiến tranh, phải đâu được ngồi trong thư
viện nghiền ngẫm Mai–a–cốp–xki. Bản thân cuộc sống đất nước và cá nhân ông cùng
với bừng ngộ của một nhỡn lực thi ca chói sáng cách tân, Hữu Loan đã cống hiến
cho thi đàn Việt Nam hiện đại, qua bài Đèo Cả, một ứng xử ngôn ngữ nghệ thuật mới,
thật trong. Ứng xử ấy tiếp tục được khẳng định, yêu quý tới nay đã vượt sang thế
kỉ XXI.
TRÚC
THÔNG
7.HOÀNG LỘC
Sinh:
(1920 – 1949). Quê: Hải Dương
Viếng
bạn
Hôm
qua còn theo anh
Đi
ra đường quốc lộ
Hôm
nay đã chặt cành
Đắp
cho người dưới mộ
Đứa
nào bắn anh đó?
Súng
nào nhằm trúng anh?
Khôn
thiêng xin chỉ mặt
Gọi
tên nó ra anh!
Tên
nó là đế quốc?
Tên
nó là thực dân?
Nó
là thằng thổ phỉ?
Hay
là đứa Việt gian?
Khóc
anh không nước mắt
Mà
lòng đau như thắt
Gọi
anh chẳng thành lời
Mà
hàm răng dính chặt
Ở
đây không gỗ ván
Vùi
anh trong tấm chăn
Của
đồng bào Cửa Ngăn
Tặng
tôi ngày phân tán
Mai
mốt bên cửa rừng
Anh
có nghe súng nổ
Là
chúng tôi đang cố
Tiêu
diệt kẻ thù chung.
Lời
bình
Thảng
thốt mà lặng thầm như nuốt vào câm lặng – bởi, chỉ mới hôm qua thôi “còn theo
anh – Đi ra đường quốc lộ”. Thế mà, “Hôm nay đã chặt cành – Đắp cho người dưới
mộ”. Đường đột quá. Vì thế, cũng tiếc thương quá! Nỗi niềm bằng hữu như đang
quyện chặt với thời gian, không gian của thứ thông–tin–tâm–tình đớn đau và lặng
lẽ. Hôm qua là còn; Hôm nay đã mất. Hoá ra, sự sinh tận của con người thật quá
đỗi mong manh.
Khổ
thơ mở đầu của Viếng bạn vì thế dường như còn ẩn chứa một điều gì trầm lặng, u
uất. Và, trong từng lời, từng chữ ngỡ như khe khẽ cất lên những tiếng khấn thầm
từ tâm tư sâu thẳm của người còn sống:
Hôm
nay đã chặt cành
Đắp
cho người dưới mộ
Nỗi
buồn đau còn đấy mà uất hận lại dâng trong lòng người đồng đội khi buồn đau
chuyển thành cuộc truy tìm thủ phạm:
Đứa
nào bắn anh đó?
Súng
nào nhằm trúng anh?
Khôn
thiêng xin chỉ mặt
Gọi
tên nó ra anh!
Cuộc
truy tìm lặng thầm trong tâm tưởng của người đồng đội sao mà khẩn thiết, sao mà
gấp gáp trong những câu hỏi những mong tìm ra ngay, tìm ra tức thì “đứa nào bắn
anh đó”! Chẳng còn thấy sự cách biệt âm dương. Niềm tiếc thương cùng nỗi uất hận
khiến cho người còn sống như muốn lay thức, làm sống dậy sức mạnh khôn thiêng
huyền diệu nơi người bạn vừa nằm xuống. Thiết tha và thành kính xiết bao trong
những tiếng khôn thiêng xin chỉ mặt – Gọi tên nó ra anh!. Người đồng đội tin ở sự
khôn thiêng của người đã khuất hay là tin ở chính mình, tin ở con đường chính
nghĩa lớn lao mà mình cùng biết bao những người đồng chí, đồng đội của mình
đang đi.
Trong
nỗi đau thương, mất mát từ một người lại thắp sáng lên nhận thức chiến đấu của
một thế hệ những người ra trận trong cuộc chiến tranh giữ nước.
“Yêu
với căm, hai đợt sóng ào ào” – nhà thơ Xuân Diệu đã từng diễn tả như vậy. Trong
Viếng bạn của Hoàng Lộc, hai đợt sóng yêu căm thật dữ dội, thật mạnh mẽ, nhưng
là nhưng đợt sóng lặn vào trong. Vì thế, nó trở thành nội lực tinh thần thật kì
lạ:
Khóc
anh không nước mắt
Mà
lòng đau như thắt
Gọi
anh chàng thành lời
Mà
hàm răng dính chặt
Sự
tương phản giữa những cái không có, những điều không thấy (“Khóc anh không nước
mắt gọi anh chẳng thành lời”) với những điều hiện hữu, có thật trong nỗi đau quặn
thắt, khuất lấp nơi đáy hồn người bạn, người đồng chí (“Mà lòng đau như thắt”,
“Mà hàm răng dính chặt”) khiến cho cách diễn đạt tâm tư trong thơ của Hoàng Lộc
thành thực mà chấn động, giản dị mà thấm sâu.
Cuộc
chiến tranh Vệ quốc chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến
tranh của toàn dân. Tiếng khóc viếng bạn, viếng người đồng đội vì thế không dừng
lại nỗi đau riêng trong tình bằng hữu mà ấm áp tình thương của đồng bào, đồng
loại:
Ở
đây không gỗ ván
Vùi
anh trong tấm chăn
Của
đồng bào Cửa Ngăn
Tặng
tôi ngày phân tán
Tình
thương nối rộng tình thương. Sự hi sinh của người đồng đội vì thế như cũng bớt
đi phần lạnh lẽo. Để rồi, những tiếng cuối của lời Viếng bạn chợt bùng lên ước
nguyện trả thù, ước nguyện hành động:
Mai
mốt bên cửa rừng
Anh
có nghe súng nổ
Là
chúng tôi đang cố
Tiêu
diệt kẻ thù chung.
Trong
lời nguyện ước chiến đấu ấy là sự gửi gắm niềm tin giản dị, bình tâm khi hướng
tới một thời gian gần, một không gian cụ thể (Mai mốt bên cửa rừng); là lời hứa
thầm thiết tha với người đã khuất (Anh có nghe súng nổ); là quân lệnh (Tiêu diệt
kẻ thù chung) của những người bạn, những người đồng chí trong cuộc chiến đấu
gìn giữ và bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. Bài thơ Viếng bạn của Hoàng Lộc
vì thế là tiếng khóc và cũng là lời ca cửa một thời gian lao mà hùng tráng.
TRẦN
TRUNG
8.LƯU TRỌNG LƯ
Sinh:
(1912 – 1991). Quê: Quảng Bình.
Tác
phẩm thơ đã in: Tiếng thu, Tỏa sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh, Từ đất
này.
Tiếng
thu
(Tặng
bạn Văn)
Em
không nghe mùa thu
Dưới
trăng mờ thổn thức?
Em
không nghe rạo rực
Hình
ảnh kẻ chinh phu
Trong
lòng người cô phụ?
Em
không nghe rừng thu
Lá
thu kêu xào xạc
Con
nai vàng ngơ ngác
Đạp
trên lá vàng khô?
Tiếng
thu là bài thơ hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của
thi ca Việt Nam hiện đại. Tôi nói Tiếng thu là bài thơ thơ nhất, vì ngoài thơ
ra, nó không có gì bấu víu.
Toàn
bài vẻn vẹn chỉ có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài
thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu
máy móc của những người quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý
nghĩa thì đây là bài thơ “đầu Ngô minh Sở”. Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về.
Tì vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tí nào, nó như câu văn
xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình
ảnh kẻ chinh phu
Trong
lòng người cô phụ?
Ấy
vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người
ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học
Việt Nam và cũng chỉ xảy ra có một lần ở bài thơ này. Cái hay của bài thơ không
nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau
những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy
được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên
được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi thế, người
đọc cũng phải dùng hồn để chiêm ngưỡng nó, chứ không thể ngắm nó bằng lí trí tỉnh
táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lí trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ
những con chữ rất “ngơ ngác” này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố
hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khóa mở cánh cửa thực dụng,
đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là
bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có
9 câu mà đã có đến ba câu điệp “Em không nghe”:
–
Em không nghe mùa thu……
–
Em không nghe rạo rực……
–
Em không nghe rừng thu
Hỏi
em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được.
Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng
đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào
thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào
xạc, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp
trên lá vàng khô nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Đây cũng chỉ là một cách hiểu.
Nhưng cách hiểu này có phần sống sít và thô thiển. Nói rạch ròi đến trơ gốc trơ
rễ ra như thế thì mất hết thơ rồi, còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con
nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ đ du rất đặc bị cho bài
thơ này. Ở đây, nhạc điệp lại là nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ. Có người
còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của Nhật Bản.
Chỉ
cần so sánh văn bản, ta thấy Tiếng thu của Lưu Trọng Lư và Tan–ka của nhà thơ
Nhật Bản Sa–ru–ma–ru ở thế kỉ VII là hai tác phẩm hoàn toàn khác nhau. Chúng chẳng
có họ hàng gì với nhau cả. Vậy mà suốt nửa thế kỉ nay, không ít người cứ a dua
nhau, người nọ nói theo người kia, cho rằng Lưu Trọng Lư đã đạo thơ của nước
ngoài. Ngay trong một cuốn sách của một nhà thơ kiêm nhà phê bình mới ra mắt gần
đây cũng vẫn nói xưng xưng như vậy. Cái nghi án văn chương ấy cứ bám riết Lưu
Trọng Lư, cho cả đến khi ông đã nằm dưới ba thước đất. Đó là một điều rất đỗi
đau xót. Người khảo sát văn bản này, một nhà thơ trẻ biết tiếng Pháp nhưng
không dám tin ở khả năng ngoại ngữ của mình, đã tìm đến nhà thơ Tế Hanh nhờ thẩm
định lại. Tế Hanh là một thi sĩ tài đức, người rất giỏi tiếng Pháp, đã dịch nhiều
thơ thế giới qua tiếng Pháp, cũng là người cùng thời với Lưu Trọng Lư. Tế Hanh
kinh ngạc kêu lên: “Ô lạ nhỉ. Bài thơ này chẳng có gì liên quan đến Tiếng thu.
Sao lại đổ vấy cho anh Lư ăn cắp?”. Những người nhẹ dạ, u mê tin theo thì chúng
ta chả trách làm gì, nhưng có cả những nhà phê bình nghiên cứu, những nhà thơ
có tiếng là uyên thâm, cũng tin theo, rồi nói theo. Đấy mới thực sự là chuyện lạ
ở thời đại trí tuệ bùng nổ thông tin này…
Thực
tế trong bếp núc sáng tác, cũng có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng trường
hợp này lại không phải vậy. Có người bình luận nghi ngờ Lưu Trọng Lư còn viện cớ
rằng: “Thực tế Việt Nam làm gì có rừng vàng. Đấy là rừng châu Âu. Rừng Việt Nam
là rừng luốm nhuốm. Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Truyện Kiều:
Rừng thu từng biếc chen hồng. Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh
ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác!” Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con
mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi:
“Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng
tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng đó mới là quê hương của Lư. Thế giới
thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở
thế kỉ XX, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy
mình gò ngựa ở nhưng chốn xa xăm nào”.
Tương
truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân
cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh
ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm
chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng
vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và tỏa hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam
đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần
linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời…
TRẦN
ĐĂNG KHOA
9.THẾ LỮ
Sinh:
(1907 – 1989). Quê: Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Mấy vần thơ.
Nhớ
rừng
(Lời
con hổ ở vườn Bách thú)
Tặng
Nguyễn Tường Tam
Gậm
một khối căm hờn trong cũi sắt.
Ta
nằm dài, trông ngày tháng dần qua,
Khinh
lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương
mắt bé giễu oai linh rừng thẳm.
Nay
sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Làm
một trò lạ mắt, thú đồ chơi,
Chịu
ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với
cặp báo chuồng bên vô tư lự.
Ta
sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở
tung hoành hống hách những ngày xưa.
Nhớ
cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với
tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với
khi thét khúc trường ca dữ dội,
Ta
bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Luận
tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
Vờn
bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
Trong
hang tối, mắt thần khi đã quắc,
Là
khiến cho mọi bất đều im hơi.
Ta
biết ta chúa tế cả muôn loài,
Giữa
chốn thảo hoa không tên, không tuổi.
Nào
đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta
say mồi đứng trong ánh trăng tan?
Đâu
những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta
lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu
những bình minh cây xanh nắng gội,
Đâu
những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta
đợi chết mảnh mặt trời gay gắt,
Để
ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
–
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Nay
ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét
những cảnh không đời nào thay đổi,
Những
cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối:
Hoa
chăm, cỏ xén, lối chẳng, cây trồng,
Dải
nước đen giả suối chẳng thông dòng,
Len
dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm
vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng
học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của
chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Hỡi
oai linh cảnh nước non hùng vĩ!
Là
nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi
thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,
Nơi
ta không còn được thấy bao giờ!
Có
biết chăng những ngày ngao ngán,
Ta
đường theo giấc mộng ngàn to lớn
Để
hồn ta phảng phất được gần ngươi
–
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
(1936)
Lời
bình
Mối
bi kịch thân ở nơi tù, hồn ở giang sơn cũ đã tạo nên chất men ngưỡng mộ đối với
hoài niệm. Qua tâm linh của loài hổ, rừng núi hiện lên trong vẻ kì vĩ đắm say.
Kì vĩ vì thâm nghiêm bóng cả cây già; kì vĩ vì dữ dội oai hùng với các từ gào,
hét, thét, dữ dội; kì vĩ vì hoang vu bí ẩn: hang tối, thảo hoa không tên tuổi,
riêng phần bí mật.
Trong
cảnh núi rừng kì vĩ đó hiện lên hình ảnh oai linh của chúa sơn lâm. Trọng tâm của
bức tranh rừng này là con hổ. Nhưng trước khi để hổ hiện ra, Thế Lữ đã dựng cảnh
để gợi không khí oai hùng, kinh sợ. Vào đúng lúc tiếng gào thét của thiên nhiên
đang ở đỉnh cao dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Đầu tiên chỉ thấy bàn chân, một
bước chân dõng dạc, đường hoàng. Câu thơ như đoạn phim cận cảnh quay chi tiết,
thu hút sự chú ý của khán giả. Sau bàn chân là tấm thân, xuất hiện rất từ tốn
nên càng oai hùng, to lớn. Chiều dài của tấm lưng trải ra theo câu thơ, một sự
mềm mại lịch chứa sức mạnh:
Lượn
tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vùn
bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc
Cách
miêu tả từng động tác, lại là những động tác có chọn lựa của bàn chân, tấm thân
và ánh mắt đã thể hiện được sức chế ngự của mãnh thú trước phông cảnh. Mấy câu
thơ sau đã hoàn tất nốt bức chân dung chúa sơn lâm. Cái oai của chúa rừng còn
chế ngự cả cảnh vật khi chúa đã đi qua khiến cho mọi vật đều im hơi. Câu nói
kiêu hãnh của loài hổ không có gì quá đáng:
Ta
biết ta chúa tế cả muôn loài
Giữa
chốn thảo hoa, không tên không tuổi.
Chỉ
một đoạn thơ này đã đủ nói cái quá khứ oai hùng, giang sơn nhất khoảnh của chúa
rừng. Thế Lữ còn dư sức bút, một đoạn nữa, cũng chủ ý ấy nhưng chi tiết lấy từ
sinh hoạt của ác thú. Óc tưởng tượng của nhà thơ tiên phong trong phong trào
Thơ mới thật phong phú, từ chi tiết thực của đời thú, ông đã dựng được chân
dung tâm hồn của vị chúa tể. Có bốn cảnh: đêm trăng – ngày mưa – sáng xanh –
chiều đỏ. Bức tứ bình này (Thế Lữ cũng là họa sĩ đã từng học cao đẳng mĩ thuật)
ít chi tiết, nhưng nét đậm rõ, màu lên từng mảng lớn, trong cảnh có cả âm thanh
khi tưng bừng tươi sáng, khi câm lặng bí ẩn. Bút pháp tả cảnh ở đây hiếm thấy
trong thơ Việt Nam. Vẫn là tả tập tính của thú nhưng sức gợi của câu thơ rộng
xa, giúp người đọc thấy cái hồn của cảnh và “tâm trạng” con thú.
Nào
đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta
say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Sự
im lặng thiên nhiên có chút ghê rợn nhưng thật kì ảo quyến rũ: bên suối trăng một
mãnh thú uống nước, tinh mồi.
Tác
giả nâng uy quyền của chúa rừng bằng cách để hắn đối diện với thiên nhiên, tạo
hóa trong cả bốn bức tranh đó – đối diện với trăng, với mưa, với bình minh, với
hoàng hôn. Và ở cả bốn khung cảnh, con hổ đều ở thế chế ngự – chú ý các động từ
tả hoạt động của hổ trong bốn canh:
–
say mồi đứng uống
–
lặng ngắm giang sơn
–
đến chết mảnh mặt trời
–
chiếm lấy…
Đẹp
nhất, dữ dội, bi tráng nhất là cảnh hoàng hôn. Bức tranh rực rỡ trong gam đỏ: đỏ
của máu lênh láng, đỏ của mặt trời gay gắt. Tác giả dùng chữ “mảnh” để gọi mặt
trời, tưởng như mặt trời cũng bé đi trong mắt nhìn loài hổ. Không khí chết chóc
bao trùm, gợi lên do máu lênh láng, do giây phút hấp hối gay gắt của mặt trời.
Chỉ ít phút nữa vũ trụ sẽ chết lặng, ngự trị trong bóng tối, chỉ còn có oai
linh của hổ. Đấy là điểm cao trào nhất của quyền lực, gần như sự bất tử. Từ
trên đỉnh cao huy hoàng của hồi tưởng, hổ đã sực tỉnh cái thân tù:
–
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?
Lời
than có sức lay động và ngân vang do sự tương phản ấy. Hùm thiêng khi đã sa cơ…
Bản thân sự hồi tưởng này đã cụ thể hoá cảnh ngộ của câu thơ Gậm một khối căm hờn
trong cũi sắt. Mỗi lần hồi tưởng là một lần ý thức thêm sự bất lực, là một lần
gậm nhấm thất bại.
Nhiều
người đã bình luận có lí về ý nghĩa xã hội của bài thơ: Hổ trong cũi sắt nhớ tự
do là biểu tượng cho tình cảm của người dân Việt mất nước. Bài thơ có ý nghĩa
thức tỉnh lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc một cách kín đáo. Tuy nhiên, nếu
chỉ thấy ý nghĩa đó, chúng ta chưa thấy hết bài thơ và cũng rất nên đề phòng
trường hợp khi đi vào ý nghĩa xã hội, ta dễ sa vào bình tán mà tách dần khỏi
hình tượng thẩm mĩ vốn có của bài thơ. Đoạn cuối bài thơ không xuất sắc bằng
các đoạn trên, nhưng lại bộc lộ rõ khuynh hướng tư tưởng của bài thơ qua tâm sự
chúa sơn lâm:
Nay
ta ôm niềm uất hận ngàn thâu,
Ghét
những cảnh không đời nào thay đổi,
Những
cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối
Hoa
chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng,
Dải
nước đen giả suối, chẳng thông dòng,
Len
dưới nách những mô gò thấp kém;
Dăm
vừng lá hiền lành, không bí hiểm,
Cũng
học đòi bắt chước vẻ hoang vu
Của
chốn ngàn năm cao cả, âm u.
Niềm
uất hận đương nhiên là vì tù túng, nhưng cái uất nhất do sự tù túng gây nên là
phải chấp nhận cái tầm thường. Hổ nhớ rừng không chỉ là nhớ tự do mà còn là,
theo tôi lại là chủ yếu nếu căn cứ vào văn bản của bài thơ, nhớ cái cao cả, cái
chân thực, cái tự nhiên. Tới đây, chúng ta gặp thuộc tính của chủ nghĩa lãng mạn:
vươn tới cái phi thường, cao hơn cuộc sống hằng ngày buồn tẻ, đơn điệu, bé nhỏ
trong tầm tay trần tục của con người: hoa chăm, có xén, lối phẳng, cây trồng.
Quá nhấn mạnh, đến chỉ thấy ý nghĩa xã hội, e làm hẹp đi chất nhân bản của bài
thơ và cũng làm mờ đi quy luật thẩm mĩ của chủ nghĩa lãng mạn. Còn một lí do nhỏ
nữa: tự do của con hổ là tự do của một ông chúa, Ta biết ta chúa tế cả muôn
loài, khát khao tự do của hổ, qua một loạt hình tượng của bài, là khát khao ngự
trị, khao khát tước đoạt tự do của kẻ khác. Cho nên coi hổ trong cũi là thân phận
của dân tộc ta e có chỗ khó giải thích khi nói tới tính thống nhất của hình tượng.
Vũ
Quần Phương
10.LÊ THỊ MÂY
Sinh:
1949. Quê: Quảng Trị.
Hiện
sống và viết tại Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Những mùa trăng mong chờ, Dịu dàng, Tặng riêng một người, Một
mình, Giấc mơ thiếu phụ.
Những
mùa trăng mong chờ
Thư
anh tin ngày về
Cho
vầng trăng hẹn mọc
Trong
ngần hoa cau thơm
Mây
chớm màu tha thiết
Trăng
non nghiêng qua rồi
Bom
rung vầng trăng khuyết
Xô
thuyền trong xa xôi
Giữa
gập ghềnh núi biếc
Anh
khoác ba lô về
Đất
trời dồn chật lại
Em
tái nhợt niềm vui
Như
trăng mọc ban ngày
Gặp
nhau tròn mùa trăng
Em
trẻ như bầu trời
Vòng
tay anh đằm thắm
Giấu
lời ru trên môi
Mai
lại tiễn xa nhau
Vầng
trăng cong chẽn lúa
Đêm
đêm chín ngàn sao
Rỏ
vào tim giọt lửa
Mong
chờ em mong chờ
Vầng
trăng xinh – gương mặt
Sáng
sáng đầy theo anh
Suốt
chặng đường đánh giặc.
Lời
bình
Bài
thơ của Lê Thị Mây – Những mùa trăng mong chờ đã thực sự chạm đúng vào hiện thực
hoàn cảnh và tâm trạng. Bởi, nó đã trở thành vấn đề phổ quát và mang tính quy
luật, khi đất nước và con người phải đối mặt với thử thách dữ dội của chiến
tranh.
Với
những người phụ nữ có chồng ra mặt trận, thì thử thách lớn nhất, lặng thầm nhất
mà dữ dội và khắc khoải nhất, vẫn là không gian của nỗi cô đơn; vẫn là thời
gian của niềm mong chờ, ngóng đợi. Người chinh phụ xưa trong khúc ngâm của Đặng
Trần Côn và Đoàn Thị Điểm, từng thốt lên tiếng lòng ai oán trong thương nhớ người
chinh phu:
Trời
thăm thẳm xa nổi khôn thấu
Nỗi
nhớ chàng đau đáu nào xong
Cảnh
buồn người thiết tha lòng
Cành
cây sương đượm tiếng trùng mưa phun
(Chinh
phụ ngâm)
Cùng
chung nỗi niềm thương nhớ chồng đi xa, nhưng, người phụ nữ xa chồng ở thời hiện
đại – những tháng năm của cuộc chiến chống Mĩ cứu nước, có nhớ nhưng không
than. Sức sống của dân tộc trong chiến tranh giữ nước đã cho những người vợ xa
chồng sức khỏe về tinh thần. Một chút xót đau trước mất mát, chấn động của chiến
cuộc nhưng không hề bi lụy. Bởi, họ đã có cách nhìn chủ động vào những tháng
năm thử thách:
Bom
rung vầng trăng khuyết
Xô
thuyền trong xa xôi
Giữa
gập ghềnh núi biếc
Từ
hình ảnh “vầng trăng hẹn mọc” ở khổ thơ đầu đến một hình ảnh “Trăng non nghiêng
qua rồi – Bom rung vầng trăng khuyết”, những lời thơ của Lê Thị Mây không phải
chỉ diễn tả bước đi thời gian, mà còn tạo nên ấn tượng về sự tương phản giữa niềm
rạo rực chờ mong của người vợ khi nhận được “thư anh tin ngày về” với bao nhiêu
là chuyển rung thật dữ dội, như chợt xô ập từ hai tiếng “bom rung”. Hóa ra, bom
đạn dữ dội và khốc liệt từ chiến tranh là một sự thực không thể không tính đến.
Chiến tranh có thể làm tắt “vầng trăng hẹn mọc”, có thể làm “rung vầng trăng
khuyết”. Nhưng, hình như với một vầng trăng riêng nằm ngay trong trái tim mong
chờ của người phụ nữ, thì đạn bom nào xóa nổi. Nhà thơ nữ đã thực sự rung động,
cảm thông và nâng niu một khoảng lặng, một khoảng không gian mong chờ, thật
thanh nhã, thật thiết tha trong lòng người vợ trẻ. Không gian tâm tình ấy chỉ
có:
Trong
ngần hoa cau thơm
Mây
chớm màu tha thiết
Hình
ảnh vầng trăng được nhà thơ sử dụng như một tín hiệu nghệ thuật hàm chứa nội
dung cảm xúc thật đắc địa và ấn tượng. Thực ra, lối biểu đạt này của Lê Thị Mây
không có gì mới. Ca dao xưa, rồi cụ Nguyễn Tiên Điền chẳng từng diễn tả rất tài
hoa và đầy tâm trạng cảnh ngộ và lòng người từ hình ảnh vầng trăng đó sao:
Vầng
trăng ai xẻ làm đôi
Nửa
in gối chiếc, nửa soi dặm trường
(Truyện
Kiều)
Cái
hay, cái riêng của Lê Thị Mây trong Những mùa trăng mong chờ là ở sự đan dày và
biến hóa từ hình ảnh vầng trăng đầy gợi cảm và cũng đa đoan này. Nếu cả tên bài
thơ cùng sáu khổ thơ ngũ ngôn thì hình ảnh vầng trăng được điệp lại tới tám lần.
Trăng đi suốt bài thơ và khổ thơ nào cũng ôm chứa hình ảnh diệu huyền và thanh
thản ấy.
Đã
có trăng hẹn chờ ở khổ thơ đầu. Đã có trăng chấn động tùng âu lo ở khổ thứ hai.
Lê Thị Mây lại tạo nên ấn tượng về trăng trong niềm vui gặp gỡ của con người
sau những tháng ngày xa xôi, cách trở. Chỉ một sự việc, một sự kiện – “Anh
khoác ba lô về” mà như kéo theo, như ùa về tràn đầy niềm vui. Những lời thơ,
hình ảnh thơ của Lê Thị Mây liên tiếp mở ra những so sánh, những liên tưởng lạ.
Lạ mà không làm dáng, không khoe chữ. Lạ mà xúc động trào dâng:
Anh
khoác ba lô về
Đất
trời dồn chật lại
Em
tái nhợt niềm qui
Như
trăng mọc ban ngày
Nếu
thơ tình rất nên cần độ “thật” và độ “nồng”, thì ở Những mùa trăng mong chờ,
khi diễn tả niềm vui gặp gỡ, Lê Thị Mây đã đem đến cho ta cảm giác tròn đầy,
mãn nguyện. Dường như có sự gặp gỡ trong ân ái của cả đất trời, trăng sao và
con người. Những phút gặp gỡ, đầy lên theo mùa trăng (Gặp nhau tròn mùa trăng);
Những giây phút quấn quýt, nồng đượm (Vòng tay anh đằm thắm – Giấu lời ru trên
môi; Để rồi, tất thảy bừng lên sức trẻ và niềm vui khoáng đạt (Em trẻ như bầu
trời).
Có
niềm vui gặp gỡ để rồi lại có thời khắc bình thản, chủ động khi lại phải chia
tay. Như ý thức được điều tất yếu, phút chia tay của người vợ – người hậu
phương, được nhà thơ diễn tả trong khoảng lặng sâu thấm thía. Sự thấm thía của cảm
xúc và suy tư:
Mai
lại tiễn xa nhau
Vầng
trăng cong chẽn lúa
Đêm
đêm chín ngàn sao
Bởi
thế, Những mùa trăng mong chờ mới trở thành những mùa trăng của lòng chung thủy
và niềm tin dõi theo bước người đi trên những chặng đường đánh giặc. Bài thơ của
Lê Thị Mây vì thế cũng chứa đầy hai chiều xúc cảm: mong chờ và tin tưởng, kiêu
hãnh!
Hà
Nội 1/5/2007
TRẦN TRUNG
TRẦN TRUNG
11.TRẦN NHUẬN MINH
Sinh:
1944. Quê: Hải Dương.
Hiện
sống và viết tại Quảng Ninh.
Tác
phẩm thơ đã in: Đấy là tình yêu, Âm điệu một vùng đất, Thành phố bên này sông,
Nhà thơ áp tải, Nhà thơ và hoa cỏ.
Dặn
con
Chẳng
ai muốn làm hành khất
Tội
trời đày ở nhân gian
Con
không được cười giễu họ
Dù
họ hôi hám úa tàn
Nhà
mình sát đường, họ đến
Có
cho thì có là bao
Con
không bao giờ được hỏi
Quê
hương họ ở nơi nào
Con
chó nhà mình rất hư
Cứ
thấy ăn mày là cắn
Con
phải răn dạy nó đi
Nếu
không thì con đem bán
Mình
tạm gọi là no ấm
Ai
biết cơ trời vần xoay
Lòng
tốt gửi vào thiên ha
Biết
đâu nuôi bố sau này…
Cửa
Lục Thủy, 13 – 11 – 1991
Lời
bình
Bài
thơ là lời cha dặn con, nên lời thơ phải thật giản dị, việc dặn con làm cũng phải
thật rõ ràng cụ thể để trẻ con biết đường mà làm. Phẩm chất nghệ thuật của bài
thơ không được nương tựa vào ngôn ngữ, lại cũng không nương tựa được vào hình ảnh
mới lạ hoặc có tính lãng mạn bay bổng. Mọi việc cứ trần trần hiện thực. Sức hấp
dẫn của bài thơ nằm ở sự sâu sắc của những việc cha dặn con.
Dặn
con thì có nhiều điều phải dặn. Ngày xưa tác giả Gia huấn ca đã phải dùng cả tập
thờ ấy để dặn con mới tạm đủ để kí thác lòng mình. Tác giả Trần Nhuận Minh dặn
con mới chỉ thấy một bài này. Một bài mà cũng chỉ để dặn một việc. Vậy việc gì
với ông là cấp thiết là đáng dạy cho con đầu tiên?
Ấy
là việc dạy con thương người. Lòng thương ấy phải thành việc cụ thể. Lời dạy đã
thành lời dặn việc. Con trẻ cứ thế mà làm. Đó là việc bố thí cho người ăn xin.
Một sự giúp đỡ đồng loại nhỏ nhoi, ngẫu nhiên, tùy hứng, không một chút bắt buộc,
ràng buộc nào. Cho hay không cho hoàn toàn theo ý thích. Không ai lấy đó để
khen hay để trách. Đó là việc của riêng mình. Lời dặn con do vậy cũng không áp
dặt.
Chẳng
ai muốn làm hành khất
Tội
trời đày ở nhân gian.
Ngửa
tay xin thiên hạ cưu mang là nỗi tủi nhục cực lớn của con người. Mở đầu bằng
chuyện bàn việc đời, tác giả đưa con vào sự nghĩ ngợi, để từ nghĩ ngợi ấy mà tự
nghĩ ra việc cần làm. Lời bố dặn khi ấy dễ trở nên thuyết phục, con trễ có ý
chí làm theo. Mà việc đâu có khó:
1.
Không được cười giễu khinh bỉ người ta. Lí do thì nói rồi đấy. Họ là những người
không may. Họ gánh cái không may cho ta. Ta đói cơm rách áo thì cũng ra như họ.
Ý này còn được láy lại ở câu kết bài thơ.
2.
Của cho hành khất thì có là bao. Người ta không làm vì vô tâm, vì chưa thấm
thía cái ý nghĩa từ hai câu mở bài của tác giả.
3.
Đừng hỏi lai lịch họ. Đây là nét tinh tế và sâu sắc của bài thơ. Người gặp lúc
cùng quẫn, đến mức phải ngửa tay ăn xin, xấu hổ lắm chứ, người muốn nặc danh.
Hãy cho họ mà đừng hỏi họ nhiều.
Ba
việc ấy là đủ, là lời khuyên chung mọi người. Nhưng bài thơ là dặn con cần gắn
vào chuyện nhà của tác giả, nên mới có việc thứ tư là cái con chó nhà này cứ thấy
ăn mày là cắn. Ông cho thế là chó hư, phải dạy, dạy không được thì bán đi. Làm
như tiêu chuẩn thành viên của cái nhà này, dù là gia súc, cũng không có cái
thói khinh người ấy.
Đoạn
kết, cái ý đóng bài, như giải thích một lần nữa những điều bố dặn con làm. Ý kết
chiếu lên ý mở đầu chẳng ai muốn làm hành khất nhưng mở rộng thêm: ai cũng có
thể thành hành khất, kể cả bố đây, biết đâu. Tác giả có cách nói kín đáo, nhưng
thấm thía lẽ đời, lại có sức thuyết phục, thúc đẩy mọi người hảo tâm làm từ thiện
ở hai lẽ:
–
Của cho là của gửi: Lòng tốt gửi báo thiên hạ.
–
Và, biết đâu, cơ trời dâu bể, có nhân có quả, việc con giúp người bây giờ Biết
đâu nuôi bố sau này…
Bài
thơ ngắn nhưng nói đủ những điều cần nói. Thương người là nghĩa vụ mà cũng là
thương thân. Dặn con làm việc thiện rất cụ thể, nhưng rộng xa hơn là dạy nó
nghĩ việc đời, biết cảm thông và chia sẻ với những không may của người khác.
Đáng chú ý là trước khi khuyên con phải biết mang cho khi người ta đã ngửa tay
xin, tác giả đã dạy con sự trân trọng dù họ hôi hám úa tàn. Thái độ đúng sẽ dẫn
đến cách cho đúng. Mà cách cho còn quan trọng hơn của cho.
Có
lẽ trong nhiều điều cần dạy cho con ở đời thì thương người là điều cần dạy trước
tiên thật. Chỉ viết một bài thơ dặn con, và cả bài thơ cũng chỉ khuyên con một
điều, Trần Nhuận Minh đã khuyên con điều ấy. Bài thơ hay trong vị bình đạm mà
sâu sắc, lời lẽ mộc mạc mà trước sau tinh tế. Mỗi lời khuyên ngắn gọn đều như
rút ra từ chiêm nghiệm của cả đời người.
11/7/2007
Vũ Quần Phương
Vũ Quần Phương
12.
NGUYỄN MĨ
Sinh:
(1935 – 1971). Quê: Khánh Hòa
Tác
phẩm thơ đã in: Cuộc chia li màu đỏ.
Cuộc
chia ly màu đỏ
Đó
là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi
như cánh nhạn lai hồng
Trưa
một ngày sắp ngả sang đông
Thu,
bỗng nắng vàng lên rực rỡ
Tôi
nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn
đưa chồng trong nắng vườn hoa.
Chồng
của cô sắp sửa đi xa,
Cùng
đi với nhiều đồng chí nữa.
Chiếc
áo đỏ rực như than lửa
Cháy
không nguôi trước cảnh chia li
Vườn
cây xanh là chiếc nón kia
Không
giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không
che được nước mắt cô đã chảy
Những
giọt long lanh nóng bỏng, sáng ngời
Chảy
trên bình minh đang hé giữa làn môi.
Và
rạng đông đã bừng trên nét mặt
Một
rạng đông với màu hồng ngọc
–
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong
bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Ngày
mai sẽ là ngày sum họp
Đã
tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp
Nắng
vẫn còn ngời trên mắt lá si
Và
người chồng ấy đã ra đi…
Cả
vườn hoa đã ngập tràn nắng xế
Những
cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió
nói tôi nghe những tiếng thì thào
“Khi
Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”
Nhưng
tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái
màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ
là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên
đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người.
Một
làng xa giữa đêm gió rét…
Nghĩa
là màu đỏ ấy theo đi
Như
không hề có cuộc chia li…
Lời
bình
Cuộc
chia li màu đỏ xuất hiện lần đầu trong hai trang thơ của các cây bút trẻ trên
báo Văn nghệ hồi đầu kháng chiến chống Mỹ. Nguyễn Mĩ được biết đến từ bài thơ
này. Cuộc chia li màu đỏ đã diễn đạt rất thơ và rất lí tưởng những cuộc chia
tay phổ biến lúc đó. Tiễn người ra trận có bao giờ vui được, nhưng vẻ đẹp tâm hồn
của những người cứu nước thì thời nào cũng đáng ca ngợi, nhất là cuộc kháng chiến
của chúng ta lại mang tính nhân dân cao nhất trong lịch sử. Kết hợp được hai khía
cạnh tình cảm đó trong một bài thơ cho nhuần nhuyễn, chân thực là việc không dễ.
Nghiêng về phía này hay phía kia đều không đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc
đương thời, sẽ đi vào bi lụy hoặc lên gân. Bài thơ của Nguyễn Mĩ đã được mọi
người yêu mến, nó chân thật như đời thường mà vẫn cao cả lớn lao.
Bài
thơ hay trong cấu tứ, lạ trong bố cục và dáng dấp câu thơ.
Một
thời gian dài do muốn ôm chứa nhiều vụ việc cụ thể, muốn phản ánh cuộc đời rõ
ràng, dễ hiểu, thơ Việt Nam đã nhẹ về tứ. Các tác giả viết như kể chuyện. Những
bài thơ có sức phổ biến rộng đều là những bài thơ tự sự như Núi Đôi (Vũ Cao),
Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Quê hương (Giang Nam). Cố nhiên tự sự có cái hay của
tự sự, nó cũng ôm chứa nhiều tình cảm. Lòng yêu mến của công chúng đối với các
bài vừa dẫn là bằng chứng.
Nhưng
thơ tự sự có hạn chế về khái quát và rất dễ bằng phẳng, ít biến hóa trong bút
pháp. Đề tài chia li này, với ngần ấy chất liệu, rất dễ cuốn tác giả vào cách
viết tự sự. Nguyễn Mĩ tránh tự sự bằng một cấu tứ chặt.
Tứ
của anh là màu áo đỏ của cô gái tiễn chồng. Màu đỏ ấy cháy sáng khắp bài thơ tạo
nên một gam màu sáng tươi, chói chang cho cuộc chia li và cho tình cảm người
trong cuộc. Màu đỏ là nét tượng trưng, nhưng có sức nâng dậy tình cảm thực vì
tác giả biết sử dụng hợp lí các chi tiết thực của cuộc chia li với màu đỏ tượng
trưng áy. Trong chia li có xót đau nên:
Chiếc
áo đỏ rực như than lửa
Cháy
không nguôi trước cảnh chia li
Cháy
thành biểu tượng cho tình yêu rực cháy của người con gái, nỗi xót đau thấm đẫm
chất men lí tưởng. Chất men này không phải tác giả chế tạo ra rồi rưới thêm vào
hiện thực, nó vốn có ở trong hiện thực, trong những lá thư tình nguyện, trong
tình cảm người mẹ, người vợ, nhưng nó vốn khó nắm bắt được, thiếu sâu sắc một
chút là thành giả tạo, thơ sẽ lạc sang địa hạt cổ động ngay. Nguyễn Mĩ biết hạn
chế những lời bình luận, những cái vung tay, anh không xa rời tứ thơ trưng tâm.
Trong cuộc chia tay có nước mắt, cô gái không giấu được những giọt đầm đìa trên
gương mặt, nhà thơ cũng không giấu, không tránh né, anh thể hiện chân thực cái
nét buồn thương ấy. Nhưng, trên cái nền cao đẹp của lí tưởng, thể hiện ở màu đỏ
của tứ thơ, sự buồn thương đã trở nên cao cả:
Nứớc
mắt cô đã chảy
Những
giọt long lanh nóng bỏng, sáng ngời
Chảy
trên bình minh đang hé giữa làn môi.
Và
rạng đông đã bừng trên nét mặt
–
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Những
câu thơ này mang được dấu ấn sử thi của những ngày chống Mỹ, đã diễn đạt đúng
tình cảm vốn có nên có, cần phải có ở lứa tuổi ra trận.
Từ
tứ thơ – màu đỏ (tính lí tưởng của cuộc chia li) Nguyễn Mĩ đã thể hiện có sức
thuyết phục, có lôgíc, cái điều còn trong mơ ước:
Nhưng
tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái
màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ
là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên
đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người.
Sẽ
là ánh lửa hồng trên bếp
Một
làng xa giữa đêm gió rét…
Nghĩa
là màu đỏ ấy theo đi
Như
không hề có cuộc chia li…
Sơ
đồ hoá cách viết bài thơ này có thể dùng ba bước: Tình thật – Tứ giả – Tình thật.
Có tình (nhất là lúc tình cảm lại phát triển hai chiều như ở đây là buồn và tự
hào) mà thiếu tứ diễn đạt, thì sẽ không gây được ấn tượng. Nhờ có tứ, ở đây là
màu đỏ, một tứ giả có tính tượng trưng, người đọc sẽ tiếp nhận được tình thật của
tác giả, tiếp nhận nguyên khôi, trực giác, bằng hình tượng. Chúng ta thấy ở các
bài Núi Đôi (Vũ Cao) hay Quê hương (Giang Nam) các tác giả sau khi diễn tả tình
cảm đau thương đã phải sử dụng những đoạn thơ “biến đau thương thành hành động”
để nói một dạng tình cảm khác, không diễn tả cùng lúc như ở bài thơ này.
Nguyễn
Mĩ đã vận dụng cả hai bút pháp tả thực và tượng trưng trong bài thơ. Khi nói hiện
thực, anh dùng bút pháp tả thực; khi diễn tả tương lai, mơ ước anh dùng tượng
trưng. Nhờ tượng trưng anh cũng tránh được bình luận lộ liễu. Anh nhờ cây si
trong công viên dùng bóng mát của mình thay mặt cho đất nước an ủi đôi thanh
niên:
Cây
si xanh gọi họ đến ngồi
Trong
bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Những
câu thơ nói tới ngày mai là nói bằng tin tưởng chứ chưa phải bằng thực tế. Câu
thơ như tỏa sáng của màu đỏ tượng trưng. Và xen trong hình ảnh xán lạn có tính
chất tượng trưng ấy là một câu tả thực, cố nói thật bình dị, không cao giọng,
không mĩ tự, không hình ảnh cái sự kiện quan trọng, tác động mạnh nhất vào tình
cảm các nhân vật:
Và
người chồng ấy đã ra đi…
Cái
khoảng trống nơi công viên khi người trai ấy ra đi vẫn còn làm bồi hồi những
cánh hoa. Lời động viên rất cần có lúc đó đã được nói bằng ngọn gió thì thào.
Giống như bóng mát cây si ở đoạn trên lúc ngăn dòng nước mắt cô gái, lần thứ
hai Nguyễn Mĩ đã tránh được bình luận trực tiếp bằng bút pháp tượng trưng đúng
chỗ.
Đoạn
cuối bài thơ anh khẳng định cũng bằng cách tựa vào tứ thơ. Đây là chỗ bạn đọc
thấy rõ tứ giả đã nói được sâu sắc nhất tình thực. Với màu đỏ của tấm áo lúc
chia li, anh liên hệ với màu hoa nơi đỉnh dốc, màu lửa những đêm đông ở chiến
trường để khẳng định:
Như
không hề có cuộc chia li…
Sự
khẳng định chỉ là lôgíc hình thức được giả định từ màu áo đỏ, nhưng tình thực của
cảnh ngộ làm cho màu đỏ tượng trưng kia có lí do tồn tại.
Nguyễn
Mĩ không muốn bài thơ rơi vào tự sự, dù nó có cốt truyện, bằng cách phá bỏ kết
cấu theo trình tự thời gian. Câu thơ mở bài vào ngay trung tâm bài thơ, vào thẳng
tứ thơ với một chữ. Đó là một cách mở bài ít gặp trong thơ, gây chú ý trước rồi
mới giải thích:
Thu
bỗng nắng vàng lên rực rỡ
Cách
chen chữ Thu vào giữa ý thơ vốn liền mạch ở hai câu tạo một dáng dấp lạ cho câu
thơ. Chúng ta có thể thấy ở các bài thơ khác của anh, một Nguyễn Mĩ rất chịu
tìm hình thức mới cho câu thơ.
Ở
đoạn cuối ta lại gặp cách nhấn mạnh rất Nguyễn Mĩ:
Nhưng
tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái
màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Không
thêm ý nhưng tạo ấn tượng, khắc vào tâm trí của người đọc màu đỏ của tứ thơ, của
lí tưởng.
Bài
thơ này là một điển hình của vai trò chủ thể trong cách nhìn hiện thực. Ở đây
hiện thực được khai thác có khuynh hướng, tránh được cái tự nhiên chủ nghĩa. Cuộc
chia li là của đời nhưng màu đỏ là của tác giả. Nội đầu đề bài thơ đã cho thấy
sự kết hợp giữa hiện thực khách quan và phẩm chất lí tưởng của chủ thể, giữa
bút pháp hiện thực và tượng trưng.
Vũ Quần Phương
13.ANH NGỌC
Sinh:
1943. Quê: Nghệ An.
Hiện
sống và viết tại Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Hương đất màu cờ, Ngàn dặm và một bước, Sông Mê Kông bốn mặt
(trường ca), Điệp khúc vô danh (trường ca), Sông núi trên vai (trường ca), Thơ
tình, Thị Mầu.
Thị
Mầu
Người
mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm
điên đảo những phông màn khép mở
Người
táo bạo người không hề biết sợ
Người
chưa từng lùi bước trước tình yêu
Người
phá tung khuôn khổ những điệu chèo
Để
cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Người
trung thực đến không thèm giấu giếm
Cặp
môi hồng con mắt ướt đong đưa
Người
cả gan sàm sỡ cả cửa chùa
Chọn
sắc áo cà sa mà chọc ghẹo
Thừa
sinh lực nên người luôn túng thiếu
Nén
hương trầm tiếng mõ khéo trêu ngươi
Người
đi qua nghiêng ngả những trận cười
Chấp
tất cả lời ong ve mai mỉa
Người
chịu hết mọi thói đời độc địa
Chiếc
quạt màu khép mở vẫn ung dung
Trên
môi người tiếng hát vẫn trẻ trung
Từng
sợi tóc vẫn rung theo nhịp phách
Mùi
táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Người
đi qua sân khấu tới đời thường
sống trong hơi thở của nhân dân
Mấy
trăm năm ai để thương để giận
Câu
sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Mặt
trống gầm lên những khát vọng không lời
Những
khát vọng nằm sâu trong những trái tim người
Được
sống đúng với lòng mình thực chất
Những
xiềng xích phết màu sơn đạo đức
Mấy
trăm năm không khóa nổi thị Mầu
Những
cánh màn đã khép lại đằng sau
Táo
uẩn rụng sân đình không ai nhặt
Bao
thị Mầu đã trở về đời thực
Vị
táo còn chua mãi ở đầu môi.
Lời
bình
Hình
như đã trở thành quy luật: Khi tình yêu lên–tiếng–lửa, sẽ tạo ra sức sống riêng
với cả bản năng tự nhiên con–người.
Có
sức sống dồi dào mãnh hệt, thì mọi ràng buộc, mọi khuôn phép đạo đức… chỉ còn
biết cúi đầu chấp nhận.
Anh
Ngọc tung ra Thị Mầu vào đầu những năm tám mươi của thế kỉ trước, là tiếng nói
bênh vực thật táo bạo cho một cô ả thị Mầu – người đã từng chịu bao lời đàm tiếu
từ thiên hạ. Rằng thị lẳng lơ, rằng thị bản năng–nhục dục…Và, còn nhiều lời chê
bai khác!
Hình
ảnh thị Mầu trong thơ Anh Ngọc được đặt trong mối tương quan: giữa một thị Mầu
của chiếu chèo sân đình và một thị Mầu trong cảm hứng đón nhận của nhân dân.
Và, cũng chính từ mối tương quan đồng cảm, đồng tình ấy mà nhà thơ đã đối lập với
những gì giả tạo: “Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức – Mấy trăm năm không
khóa nổi thị Mầu”!
Trong
con mắt đồng tình và cả sự ngỡ ngàng đến khoái trá của nhà thơ, một thị Mầu như
đang độc diễn ở cả hai chiều: Sân khấu nghệ thuật dân gian và cả màn tự phô diễn
của một con người dám nổi loạn, dám “sống đúng với lòng mình thực chất”.
Anh
Ngọc vừa tách bạch, lại vừa đồng nhất hình ảnh thị Mầu – thị Mầu sân khấu hay
thị Mầu tự bộc lộ cũng mang một điểm chung: không chấp nhận bằng phẳng, khuôn
phép. Mà, khao khát đi tìm sự chấn động, “rung chuyển”.
–
Người mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm
điên đảo những phông màn khép mở
–
Người khá tung khuôn khổ những điệu chèo
Đế
cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Có
một thị Mầu trên sàn diễn nghệ thuật làm cho “rung chuyển những sân đình – Làm
điên đảo những phông màn khép mở”. Và vẫn con người từ nghệ thuật sân khấu dân gian
chèo ấy, lại thoắt bẻ gãy và tung phá từ chính những khuôn phép vốn định hình từ
nghệ thuật. Thế mới khiến cho:
–
… phá tung khuôn khổ những điệu chèo
–
Câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Mặt
trống gầm lên những khát vọng không lời…
Song,
có lẽ Anh Ngọc đã bắt gặp và đồng cảm, đồng tình với vẻ chân thực đến hết mình
của một–con–người thị Mầu dám hồn nhiên tự phát lộ ra con người bản thể. Có sự
đồng nhất và cộng hưởng của một thị Mầu nội tâm và một thị Mầu sống, khát khao
tận hưởng với đời, với tình.
Những
lời thơ và giọng điệu thật sảng khoái, thật hả hê khi Anh Ngọc dựng nên thành
thơ hình ảnh một cô thị Mầu “táo bạo”, “trung thực”, một cô Mầu “thừa sinh lực”…
để mà chịu trận trước búa rìu dư luận, bất chấp “tất cả lời ong ve mai mỉa”… để
đi đến với cái nhân bản đích thực, cái khát khao vượt cả không gian, thời gian
và định mệnh. Để “được sống đúng nơi lòng mình thực chất”! Cũng bởi thế mà chân
dung tinh thần của thị Mầu cứ mặc sức phô hiện thật sống động trong thơ Anh Ngọc.
Bộc
bạch khát khao tình yêu trần thế ư? Thị Mầu tự lên tiếng hát của lòng mình “táo
bạo”.
Người
táo bạo người không hề biết sợ
Người
chưa từng lùi bước trước tình yêu
Con
người thực của thị Mầu như chợt hiện lên rừng rực khát khao yêu, khao khát sống
để đón nhận và động rung với niềm vui trần thế.
Trên
môi người tiếng hát vẫn trẻ trung
Từng
sợi tóc vẫn rung theo nhịp phách
Mùi
táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Hình
ảnh thị Mầu, với sức sống tự thân, thực sự đã tạo nên cảm hứng đón nhận của người
đời. Hơn nữa, cảm hứng nghệ thuật ấy như vượt lên thời gian. Thị Mầu sống không
tuổi theo thời gian và lòng người bởi niềm hoan lạc – “Người đi qua nghiêng ngả
những trận cười”, Thị Mầu là con người của nghệ thuật mà cũng là con người của
cuộc đời – con người thuộc về tình yêu của nhân dân:
–
Người đi qua sân khấu tới đời thường
–
Người sống trong hơi thở của nhân dân
Với
bài thơ Thị Mầu, Anh Ngọc đã thành thực và cả dũng cảm nữa khi anh vừa trao gửi
tâm tình, lại như vừa tuyên ngôn về một lối sống tự nhiên và chân thực của con
người; đồng thời gửi gắm cả niềm khát khao, khát sống “đúng tới lòng mình thực
chất”! Phải chăng đấy là cái giá đích thực, chân chính của con người và của nghệ
thuật nữa. Âm hưởng cùng dư vị Thị Mầu sẽ sống còn mãi mãi:
Bao
thị Mầu đã trở đề đời thực
Táo
bạo trong lời lẽ và giọng điệu, với Thị Mầu, Anh Ngọc thực sự đã đứng thăng bằng
giữa hai cực cảm tính và lí tính bản năng tự nhiên và ý thức con người. Cái hay
trong Thị Mầu của Anh Ngọc vừa mang tiếng thơ, tiếng lòng của một cá thể – nghệ
thuật (thị Mầu trong chèo) mà tương giao và đồng nhất với tiếng lòng thành thực
của nhân dân, thuộc về nhân dân. Cái hay trong ý tưởng nhân văn, nhân đạo của
bài thơ cũng chính là ở chỗ đó.
Hà
Nội, 10/4/2007
Trần Trung
Trần Trung
14.HỒNG NGUYÊN
Sinh:
(1924 – 1954). Quê: Thanh Hóa
Nhớ
Lũ
chúng tôi
Bọn
người tứ xứ
Gặp
nhau hồi chưa biết chữ
Quen
nhau từ buổi “một hai”
Súng
bắn chưa quen
Quân
sự mươi bài
Lòng
vẫn cười vui kháng chiến
Lột
sắt đường tàu
Rèn
thêm dao kiếm
Áo
hai chân không
Đi
lùng giặc đánh
Ba
năm rồi gửi lại quê hương
Mái
lều gianh
Tiếng
mõ đêm trường
Luống
cày đất đỏ
Ít
nhiều người vợ trẻ
Mòn
chân bên cối gạo canh khuya
Chúng
tôi đi
Nắng
mưa sờn mép ba lô,
Tháng
năm bạn cùng thôn xóm.
Nghỉ
lại lưng đèo
Nằm
trên dốc nắng.
Kì
hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng,
Quờ
chân tìm hơi ấm đêm mưa.
–
Đằng nớ vợ chưa?
–
Đằng nớ?
–
Tớ còn chờ Độc lập
Cả
lũ cười vang bên ruộng bắp
Nhìn
o thôn nữ cuối nương dâu.
Chúng
tôi đi mang cuộc đời lưu động,
Qua
nhiều nơi không nhớ hết tên làng.
Đã
nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng
Tôi
nhớ bờ tre gió lộng
Làng
xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có
nắng chiều đột kích mấy hàng cau.
Có
tiếng gà gáy xóm,
Có
“khai hội, yêu cầu, chất vấn!”
Có
mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.
Trăng
lên tập hợp hát om nhà
Tôi
nhớ
Giương
kê cánh cửa,
Bếp
lửa khoai vùi
Đồng
chí nứ vui vui,
Đồng
chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,
Đồng
chí mô nhớ nữa,
Kể
chuyện Bình Trị Thiên,
Cho
bầy tôi nghe ví,
Bếp
lửa rung rung đôi vai đồng chí.
–
Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ,
Đồng
bào ta phải kháng chiến ra ri.
Đêm
đó chúng tôi đi,
Nòng
súng nghiêng nghiêng
Đường
mòn thấp thoáng…
Trong
điếm nhỏ,
Mươi
người trai tráng,
Ngồi
thổi nùn rơm
Thức
vừa rạng sáng,
Nhìn
trời sương nhẩm bước chúng tôi đi,
Chúng
tôi đi nhớ nhất câu ni
Dân
chúng cầm tay lắc lắc:
“Độc
lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc!”
Lời
bình
Trong
đời sống những năm kháng chiến chống Pháp, xuất hiện hai loại tình cảm rất tiêu
biểu được thơ ca nói đến nhiều nhất, đó là tình đồng chí và tình quân dân. Cả
hai loại tình cảm này làm nên một thứ tình cảm chung: tình kháng chiến. Kể từ
bài Đồng chí của Chính Hữu đến các bài Bên kia sông Đuống (Hoàng Cầm), Tây Tiến
(Quang Dũng), Bao giờ trở lại (Hoàng Trung Thông)… ít nhiều đều biểu đạt và ngợi
ca tình cảm này. Nhớ của Hồng Nguyên cũng là một trong những biểu hiện sống động
đó.
Bài
thơ khắc tạc được tư thế của những người lính trận, những người lính biết gác
tình riêng vì nghĩa lớn. Tư thế của họ thật kiêu hùng: Lột sắt đường tàu – Rèn
thêm dao kiếm – Áo vải chân không – Đi lùng giặc đánh. Chất tráng sĩ giảm hẳn
đi, chất đời thực được tăng cường với nhưng nhát cọ bằng ngôn từ chân mộc, cứng
cỏi, gân guốc, xa hẳn khí vị của thơ ca cỏ với những “hài vạn dặm”, “bụi trường
chinh”…vẫn còn vương lại trong một đôi cây bút cùng thời. Cuộc hành quân trong
đêm Nòng súng nghiêng nghiêng – Đường mòn thấp thoáng góp phần tạc dựng tư thế
của những người lính ra trận.
Bức
chân dung người lính còn được bổ sung bởi một mảng màu nữa, đó là tình cảm, tấm
lòng chiến sĩ. Họ vốn là những nông dân. Họ có cái chất hào hùng, ngang tàng,
dũng khí nhưng không có cái chất lãng mạn hào hoa với những hình ảnh thơm tho
tha thướt “dáng kiều thơm” như hình ảnh lính Tây Tiến. Tuy không có cái hào
hoa, nhưng họ có cái thật, cái đời thực Cái thật cũng có khả năng thuyết phục,
và mang vẻ đẹp của riêng nó. Chất văn xuôi đi vào thơ ca kháng chiến như là kết
quả của một quan niệm mỹ học mới – tìm kiếm cái đẹp trong thực tại đời thường.
Trước
hết là tình chồng vợ trong lúc cách xa. Người chiến sĩ xa nhà nghe được, cảm được
cả dáng hình nhẫn nại lặng thầm này: Mòn chân bên cối gạo canh khuya.
Đây
là một cảnh sinh hoạt lính tráng, một vẻ đẹp của tình đồng đội: “Kì hộ lưng
nhau ngang bờ cát trắng – Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa”. Câu thơ “Nhìn o thôn nữ
cuối nương dâu” như một hơi gió mát lành…
Cả
bài thơ có khá nhiều từ địa phương vùng xứ Thanh: nớ, o, nứ, ni, chừ, viền, ví
chắc… Chẳng cần chú thích bạn đọc cũng hiểu. Các từ mang tính phương ngữ góp phần
tạo ra một không khí có tính địa lí– văn hóa về một xứ Thanh thôn dã đang mùa
kháng chiến. Chúng cũng lại làm rõ được cái gốc gác lính quê “bọn người tứ xứ”
của một cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại.
Bài
thơ chắc khỏe một vóc dáng thi ca ghi dấu một thời đánh giặc.
Hồng
Nguyên mất sớm. Anh làm thơ không nhiều. Có thể nói, anh là nhà thơ của một
bài, thế nhưng một bài có vị trí chắc chắn. Cứ mỗi khi hình dung về thơ ca thời
kì chống Pháp thì không thể không tính đến Nhớ của Hồng Nguyên.
Văn Giá
15.PHAN THỊ THANH NHÀN
Sinh:
1943. Quê: Hà Nội.
Hiện
sống và viết tại Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Hương thầm, Chân dung người chiến thắng, Bông hoa không tặng,
Nghiêng bề anh, Câu thơ cuộc đời.
Trời
và đất
Chiều
nay chắc giận em ghê lắm
Anh
bực mình triết lí lung tung
Hai
đứa ta như trời với đất
Tính
tình sao xung khắc vô cùng
Vâng,
trời đất chăng hề thân thiết
Và
tính tình có giống nhau đâu
Trời
vui buồn ồn ào lộ liễu
Đất
trầm tư suy nghĩ trước sau
Anh
ơi! Nếu ví được cao xa như thể
Em
cũng chẳng là trời đất gì đâu
Nhưng
anh có biết không? Trời đất
Sẽ
chẳng là gì nếu thiếu nhau
Nhưng
trời đất dẫu cao xa lồng lộng
Tính
vẫn thường bồng bột đổi thay
Khi
giận dữ bão nghiêng đất lở
Bão
tan rồi trời xanh thơ ngây
Đất
khiêm nhường màu xanh lay động
Và
thắm sâu lặng lẽ sinh sôi
Trên
mặt đất chính là cuộc sống
Có
cần chi biện bạch nhiều lời.
Lời
bình
Bạn
đọc ngưỡng mộ thơ Phan Thị Thanh Nhàn đã tìm thấy trong thơ tình của chị vẻ đẹp
kín đáo, tế nhị, thanh tao thoảng qua như một thứ hương thầm. Đọc thơ tình của
Phan Thị Thanh Nhàn thấy hiện lên một phụ nữ yêu hết mình với một tình yêu
không đòi hỏi đền đáp, bao giờ cũng lặng lẽ dâng hiến; một tình yêu luôn giày
vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và oán trách. Sở trường của chị
là viết thơ nhường nhịn, viết thơ để nâng niu, vun đắp cho tình yêu. Bài thơ Trời
và đất thuộc số ít những bài thơ mà Phan Thị Thanh Nhàn phải lên giọng triết luận
về anh và em; về trời, về đất về tình yêu đôi ta…
Ngày
thường, chỉ cần vắng anh một hôm thôi, là em đã thấy anh “mang đi hết – Bao
nhiêu là thông minh”, khiến cho em cảm thấy chung quanh:
Chẳng
còn ai hóm hỉnh
Ai
cũng đều nhạt tênh
(Một
người)
Thế
mà chiều nay, anh có nhà, anh ở bên em, “Bao nhiêu là thông minh” lại đi đâu hết,
anh chẳng còn “hóm hỉnh” nữa, hơn thế, anh “bực mình”, anh lên tiếng “triết lí
lung tung”:
Chiều
nay chắc giận em ghê lắm
Anh
bục mình triết lí lung tung
Hai
đứa ta như trời với đất
Tính
tình sao xung khắc vô cùng.
Anh
của em là bậc trí thức mà trời phú cho “Bao nhiêu là thông minh”. Em tự hào về
anh, hạnh phúc vì có anh. Hơn một lần Phan Thị Thanh Nhàn đã để cho thơ của
mình nói về anh với niềm tin cậy, trân trọng: Anh là “mặt trận”, là “tia nắng ấm”,
là “niềm hi vọng”:
Của
anh. Ngày tháng vui buồn có anh
Như
niềm hi trọng mong manh
Cầm
tay rồi lại hóa thành giấc mơ
Mặt
trời đằm thắm thiết tha
Mà
tia nắng ấm bên ta vô hình
(Vô
đề)
Thôi
thì trời không chịu đất thì đất đành chịu trời vậy. Em là đất, em lặng im nghe
anh triết lí về “tính tình” của “hai đứa ta”; và anh gọi ra tình trạng đáng sợ
của nó: “Tính tình sao xung khắc vô cùng”.
Nhưng
tình yêu đích thực thì hờn dỗi, tức giận không phải là biểu hiện của sự tan vỡ
mà chính nó là hương hoa làm nhụy sen thêm tươi, bông hoa thêm đẹp. Khi trẻ,
người ta nhờ phụ nữ để hiểu thế nào là tình yêu. Lúc trưởng thành và có cuộc sống
gia đình, người ta lại phải nhờ tình yêu mà hiểu thế nào là phụ nữ. Phan Thị
Thanh Nhàn đã có lúc để cho nhân vật em trong thơ của mình mong ước cho anh “bé
bỏng” đi để cho em “chăm thương” với bàn tay của người chị và “tấm lòng người mẹ
cho anh”:
Em
muốn anh bé bỏng làm sao
Để
em được chăm thương dịu nhẹ
Để
em có bàn tay người chị
Và
tấm lòng người mẹ cho anh
(Nghĩ
về anh)
Sau
lúc “ông trời” nổi cơn sấm sét, giận giữ lớn tiếng “triết lí lung tung”, “ồn ào
lộ liễu”, bây giờ đến lúc “đất trầm tư suy nghĩ trước sau” và đất còn hiền triết
hơn cả trời. Đất triết luận thâm thúy rằng thế giới luôn tồn tại trong sự đối lập
và thống nhất: có âm có dương, có trời có đất, có anh có em… Nếu thiếu đi sự đối
lập và thống nhất ấy thì không tồn tại thế giới. Điều đó giống như “Không có mặt
trời thì hoa không nở, không có tình yêu thì không có hạnh phúc, không có phụ nữ
thì không có tình yêu, không có Người Mẹ thì cả nhà thơ lẫn anh hùng đều không
có”. Triết lí của người đàn ông là thứ triết lí của lí trí, còn triết lí của phụ
nữ là triết lí của trái tim, và tình yêu có những lí lẽ riêng mà lí trí không
sao hiểu được. Cho nên nhân vật em kéo anh trong cơn giận kia ra khỏi dòng triết
lí khô khan mà trở về với quỹ đạo tình yêu:
Nhưng
anh có biết không? Trời đất
Sẽ
chẳng là gì nếu thiếu nhau.
Tình
yêu chính là cách con người đi tìm nửa đối lập của mình, cả hai bên, đàn ông và
đàn bà đều có thiên hướng đi đến với nhau và tiếp nhận phẩm chất của bên kia.
Yêu chính là tìm hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người khác. Điều đó giống
như con người chấp nhận hoà đồng với thiên nhiên, chấp nhận sự đổi thay bồng bột
của thời tiết, chấp nhận “giận dữ bão nghiêng đất lở” để sau đó được thanh thản
ngắm nhìn “trời xanh thơ ngây”:
Nhưng
trời đất dẫu cao xa lồng rộng
Tính
vẫn thường bồng bột đổi thay
Khi
giận dữ bão nghiêng đất lở
Bão
tan rồi trời xanh thơ ngây.
Người
đàn ông thông minh thường hay triết lí về trái tim con người hoặc triết lí về
thiên địa. Còn người đàn bà hơn người đàn ông thông minh ở chỗ họ hiểu thấu
trái tim con người, hiểu thấu cả trời và đất mà không “cần chi biện bạch nhiều
lời”:
Và
thẳm sâu lặng lẽ sinh sôi
Trên
mặt đất chính là cuộc sống
Có
cần chi biện bạch nhiều lời.
Người
ta nói tình yêu không bao giờ chỉ toàn ngọt ngào nhiều khi nó như li rượu đắng,
nhưng không ai có can đảm chối từ. Vậy thì hãy cứ cạn ly rượu Tình Yêu – Cay Đắng
đó đi, vì biết đâu dưới đáy li vẫn còn giọt mật ngọt dành cho ta.
Đặng Tương Như
16.
Ý NHI
Sinh:
1944. Quê: Quảng Nam.
Hiện
sống và viết tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tác phẩm thơ đã in: Đến nơi dòng sông,
Cây trong phố, Chờ trăng, Người đàn bà ngồi đan, Ngày thường, Mưa tuyết, Gương
mặt.
Người
đàn bà ngồi đan
Giữa
chiều lạnh
Một
người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Vẻ
vừa nhẫn nại vừa vội vã
Nhẫn
nại như thể đó là việc phải làm suốt đời
Vội
vã như thể đó là lần sau chót
Không
thở dài
Không
mỉm cười
Chị
đang giữ kín đau thương
Hay
là hạnh phúc
Lòng
chị đang tràn đầy niềm tin
Hay
là ngờ vực
Không
một lần nào chị ngẩng nhìn lên
Chị
đang qua những phút giây trước lần gặp mặt
Hay
sau buổi chia li
Trong
mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong
đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng
Giũa
chiều lạnh
Một
người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Dưới
chân chị
Cuộn
len như quả cầu xanh
Đang
lăn nhũng lòng chậm rãi.
(1/1984)
Lời
bình
Bài
thơ của Ý Nhi đem ra cái lạnh của không gian đất trời và cái hạn hẹp của
không–gian–nhà để mà tượng hình lên chân dung Người đàn bà ngồi đan. Tư thế và
tâm thế của một nhân vật trữ tình cụ thể hiện lên trong công việc đời thường –
công việc của người đàn bà rất Á Đông. Nếu kể cả tên bài thơ, hình ảnh đầy sức
gợi cảm và gợi suy, được nhà thơ điệp lại tới ba lần. Và hình ảnh ấy vừa chạm
khắc nên hình, lại vừa tỏa lan tâm tình đi suốt bài thơ.
Ý
Nhi như “bắt mạch” ra tâm tư nhân vật thơ của mình – ấy là những trạng thái nhất
quán và trái chiều, đồng nhất và khác biệt của con người “ngồi đan bên cửa sổ”
với “vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã”, cả “niềm hân hoan hay nỗi lo âu”, và, với cả
“Trong đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng”…
Có
một thời gian và không gian xác định của sự hiện diện hình ảnh “người đàn bà ngồi
đan”. Con người lặng thầm với công việc của mình kia “giữa chiều lạnh”. Một chiều
lạnh hay nhiều buổi chiều như thế của đời người, làm sao mà đo đếm hết được!
(?)
Bài
thơ của Ý Nhi vẽ ra cảnh tượng con người trong đời sống lành thường, quen thuộc.
Từ tả công việc ngồi đan của người đàn bà, nhà thơ với xúc cảm phụ nữ mà đan tiếp,
dệt tiếp vào chiều sâu nội tâm của “người đàn bà ngồi đan”. Bao nhiêu là chiều
hướng tâm sự ẩn sâu bên trong cái vẻ ngoài “nhẫn nại” – “Nhẫn nại như thể đó là
việc phải làm suốt đời”. Mượn “cái không” của vẻ ngoài người đàn bà:
Không
thở dài
Không
mỉm cười
…
Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên
để
rồi nhà thơ gợi mở cho sự khám phá của người đọc thơ về khả năng vô tận, muôn
chiều của “cái có” trong tâm tư nhân vật trữ tình.
Những
“cái có” thực sự ắp đầy và trào dâng trong chiều sâu nội tâm của người đàn bà
giữa đời thường. Song, điều đáng nói là ở chỗ những “cái có” trong tâm tư ấy lại
hiện hữu ở hai chiều tương phản, đối lập: đau thương hay hạnh phúc, niềm tin
hay ngờ vực, gặp mặt hay chia li, hân hoan hay lo âu…
Những
trạng thái tâm tư trái chiều ấy, có mặt ở mọi nơi từ phía “người đàn bà ngồi
đan”. Từ tâm tư ẩn chứa mà chị đang giữ kín, từ “Trong đôi mắt kia là chán chường
hay hi vọng” của chị, tâm tư bộn bề và phức điệu ấy dường như cũng nương náu,
trú ngụ cả “trong mũi đan kia ẩn giấu”…
Hình
ảnh “người đàn bà ngồi đan” với cả hai tầng diện mạo: diện mạo bên ngoài và diện
mạo nội tâm, được nhà thơ phụ nữ lặng lẽ quan sát. Lặng lẽ ghi nhận. Lặng lẽ
tâm tình mà đan dệt nên từ những lời thơ bình dị theo giọng kể, theo điệu nói –
bình dị mà sâu xa như hơi thở của cuộc sống thường nhật:
Chị
đang giữ kín đau thương
Hay
là hạnh phúc
Lòng
chị đang tràn đầy niềm tin
Hay
là ngờ vực
…
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong
đôi mắt kia là chán chường hay hi vọng
Mượn
hàng loạt những yếu tố không xác định, cứ chơi vơi, lửng lơ theo hai hướng: được
– mất, buồn – vui, hợp – tan…, nhà thơ như muốn nhìn sâu vào hiện thực nhân
sinh để khái quát về sự tất yếu khách quan – sự tất yếu nằm ngoài mọi toan tính
chủ quan của chính con người. Bài thơ khép lại bằng một hình ảnh cuộn len được
ví như “quả cầu xanh – Đang lăn những vòng chậm rãi” - Cuộn len lăn ngoài vòng
đời!
Phải
chăng những điều “ý tại ngôn ngoại” mà nhà thơ muốn tâm tình và nhắn nhủ: con
người biết sống giữa cuộc đời bởi chính khả năng tự tại, tự ý thức của mình.
Bài thơ của Ý Nhi dường như cũng giấu đi những lời khen, chê, bình luận về cuộc
sống và phận người. Mà, để cho ta tự ngẫm thêm về hình ảnh “người đàn bà ngồi
đan” giữa chiều lạnh cuộc đời…
Hà
Nội, 6/4/2007
TRẦN TRUNG
TRẦN TRUNG
17.
TRẦN MAI NINH
Sinh:
(1917 – 1947). Quê: Thanh Hóa.
Tác
phẩm thơ đã in: Thơ văn Trần Mai Ninh.
Nhớ
máu
Ơ
cái gió Tuy Hòa…
Cái
gió chuyên cần
Và
phóng túng.
Gió
đi ngang, đi dọc,
Gió
trẻ lại – lưng chừng
Gió
nghĩ,
Gió
cười,
Gió
reo lên lồng lộn.
Tôi
đã thấy lòng tôi dậy
Rồi
đây
–
Còn mấy bước tới Nha Trang
–
A, gần lắm!
Ta
gần máu
Ta
gần người,
Ta
gần quyết liệt.
Ơ
hỡi Nha Trang.l
Cái
đô thành vĩ đại.
Biết
bao người niệm đọc tên mi.
Và
Khánh Hòa vĩ đại.
Cả
mặt
Cả
người.
Cả
hồn ta sát tới
Nhìn
mi!
Ta
có nhớ
Những
con người
Đã
bước nào bất tử!
Ơ,
những người!
Đen
như mực, đặc thành keo
Tròn
một củ
Hay
những người gầy sắt lại
Mặt
rẹt một đường gươm
Lạnh
gáy…
Lòng
bàn tay
Khắc
ấn chuôi dao găm.
Chân
bọc sắt,
Mắt
khoét thủng đêm dày
Túi
chứa cả Nha Trang… họ bước
Vương
Gia Ngại… Cung Giũ Nguyên
Chút
chít Hoàng Bá San… còn nữa!
Cả
một đàn chó ghẻ
Sủa
lau nhau
Và
lần lượt theo nhau
Chết
không ngáp!
Dao
găm để gáy,
Súng
màng tang
Ồng
ộc xối đầy đường máu chó,
Chúng
nó rú,
Cả
trại giặc kinh hoàng
Quy
– lát khua lắc cắc,
Giầy
đinh xôn xao.
Còi
và kèn…
Cả
trại giặc bạt hồn, bạt vía…
Chạy
lung tung
Sớm
mai, xét và bắt…
Thiết
giáp, cam – nhông
Rầm
rập nối đuôi nhau,
Và
đêm khuya: Lại chết
Chồn
Pháp, chó Việt gian
Ằng
ặc máu
Mắt
ta căng lên,
Cả
mặt,
Cả
người
Cả
hồn ta sát tới
Biết
bao người!
Sống
lẩn lút những ngang tàng
Bên
lưng giặc!
Vẫn
tổ chức, vẫn tuyên truyền,
Hoặc
giao thông hay liên lạc,
Rải
giấy,
Treo
cờ
Hay
gồng vai tiếp tế
Từ
bình minh cho tới trăng tàn:
Đúc
bê– tông bên mặt trận:
Và
thì thào cùng du kích đi lên…
Cả
ngàn chiến sĩ,
Cả
ngàn con bạc, con vàng
Của
Tổ quốc!
Sóng…
trong đám âm thầm
Mà
nắm chắc tối cao vinh dự!
Vững
tin tưởng nơi oai hùng,
Và
chiến thắng
Câu
Việt Nam dân tộc!
Cờ
đã nâng cao
Màu
đỏ máu
Với
sao vàng tung bay rực rỡ!
Mắt
hoàn cầu đã họp những tia xanh
Trán
nhíu lại
Chú
ý nhìn châu Á phía đông nam
Ta
quyết thắng!
Việt
Nam rồi đứng dậy,
Sáng
vô chừng!
Rất
tươi đẹp với Nha Trang và Nam Bộ
Phan
Thiết, Phan Rang, Đà Lạt
Máu
chan hoà trên góc cạnh kim cương
Các
anh hùng tay hạ súng trường
Rồi
khẽ vuốt mồ hôi và máu
Họ
cười vang rung lớp lớp tinh cầu!
Kết
thúc đêm 9/11/1946 tại Tuy Hòa
Lời
bình
Ngày
Trần Mai Ninh sáng tác bài thơ Nhớ máu (9–11–1946) đang là những ngày đầu tiên
của phong trào Nam Bộ kháng chiến nước sôi lửa bỏng. Nhà thơ hoạt động ở Tuy
Hòa. Cả một vùng miền Nam Trung Bộ chính là địa bàn hoạt động cách mạng của
ông. Nên những vùng đất và con người nơi đây đối với ông đặc biệt quen thuộc và
yêu dấu mà sau đó ông gọi bằng Tình sông núi– cũng là tên một bí thơ khác nổi
tiếng của ông. Bài thơ Nhớ máu diễn tả một cuộc hành binh trong tưởng tượng,
trong mơ ước của nhà thơ từ Tuy Hòa tới Nha Trang với một tâm hồn náo nức và một
lòng quyết chiến quyết thắng sắt đá đối với kẻ thù.
Bài
thơ được thiết lập trên một cái tứ là hình ảnh cơn gió. Bắt đầu là cơn gió tự
nhiên của đất đai xứ sở. Cơn gió này được nhà thơ gọi lên bằng những từ ngữ rất
sống động: chuyên cần, phóng túng, đi ngang đi dọc, trẻ, nghĩ, cười, reo lên lồng
lộn. Gió vốn là vô hình vô ảnh, ấy thế mà tác giả đã hình dung hóa, nhân hóa, tạo
nên một gương mặt gió nồng nàn, tươi trẻ, tràn trề sức sống, với một tâm trạng
náo nức, sung sướng.
Khi
câu thơ tiếp theo xuất hiện: “Tôi đã thấy lòng tôi dậy” thì hình ảnh ngọn gió bắt
đầu mang ý nghĩa ẩn dụ. Thì ra, lòng người đang náo nức băng băng xóc tới, hướng
về đô thành Nha Trang tiêu diệt kẻ thù nên nhìn ra những con gió cũng như những
người bạn đồng hành cùng chí hướng. Gió đến đây vừa là cái gió của ngoại giới,
vừa là cái gió của tâm hồn, của ý chí, của tư thế và sức mạnh chiến đấu.
Vẫn
là tư thế của những người chiến sĩ băng băng xốc tới như gió, mấy câu thơ điệp
lại:
Mắt
ta căng lên
Cả
mặt
Cả
người.
Cả
hồn ta sát tới
Tiếp
theo đấy là tư thế của ngọn cờ Tổ quốc tung ấy thật hào sảng, bát ngát, tự tin:
Cờ
đã nâng cao
Màu
đỏ máu
Với
sao vàng tung bay rực rồi
Nhìn
chung, nhịp đi của cả bài thơ, không khí của cả bài thơ là nhịp đi và không khí
của gió – gió lòng, gió ào ạt náo nức xông lên giết giặc, gió của khí thế chiến
thắng. Nhịp thơ phóng túng, cuồn cuộn như cố theo kịp bước đi của gió.
Bài
thơ thể hiện một cách khác về hình ảnh người bộ đội. Ở Hồng Nguyên, Quang Dũng,
Chính Hữu dẫu sao bên cạnh cái kiêu dũng còn ít nhiều chất hào hoa, đẹp theo
cách lãng mạn. Đến Trần Mai Ninh, hình ảnh người chiến sĩ hiện ra với những đường
nét bạo, khỏe, gân guốc, gồ ghề, thậm chí thô nhám. Đó là kết quả của một mĩ cảm
hướng thẳng, trực diện vào chất thực của đời sống, khai thác chất liệu đời sống
một cách trung thực, cận cảnh, trực tiếp. Chính vì thế, các câu thơ này bỗng thấy
cái lạ lạ, khác hẳn những cách nói của thơ ca cùng thời, nên rất ấn tượng: “Ơ,
những người! –Đen như mực, đặc thành keo – Tròn một củ – hay những người gầy sắt
lại – Mặt rẹt một đường gươm – Lạnh gáy – Lòng bàn tay – Khắc ấn chuôi dao găm
– Chân bọc sắt – Mắt khoét thủng đêm dày – Túi chứa cả Nha Trang… họ bước”. Những
câu thơ như thế đã tách Trần Mai Ninh ra hẳn một góc riêng so với những nhà thơ
viết về người lính trong nền thơ ca kháng chiến.
Bài
thơ mang tên Nhớ máu. Hình ảnh máu cũng theo suốt toàn bài. Ban đầu là máu chiến
trường (Ta gần máu), tiếp theo là máu kẻ thù (Ồng ộc xối đầy đường máu chó, Ằng
ặc máu), tiếp nữa là máu hi sinh của những người chiến đấu, máu làm thành màu cờ
Tổ quốc (Cờ đã nâng cao – Màu đỏ máu, Máu chan hoà trên góc cạnh kim cương), và
sau cùng là máu – chiến – thắng (Rồi khẽ vuốt mồ hôi và máu). Hình ảnh máu
xuyên suốt toàn bài đưa lại cho người đọc cái cảm giác khốc liệt của chiến
tranh, cảm giác hào hùng, bi tráng… Nhiều cảm giác cùng lúc xuất hiện như một
phức hợp. Tuy nhiên, tất cả được hoá giải bằng một câu thơ cuối đầy tư thế, ngạo
nghễ, bát ngát, hào sảng, tư thế chiến thắng: “Họ cười vang rung lớp lớp tinh cầu!”.
Bây giờ nói đến máu có thể không đưa lại cho người nghe một mĩ cảm tích cực nữa.
Nhưng vào hồi đó, hình ảnh máu đi vào thơ ca, âm nhạc như một tín hiệu thẩm mĩ,
nhằm để chỉ khí thế cách mạng sục sôi đánh giặc, vừa thiêng liêng vừa quyết tử:
“Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước…” (Quốc ca).
Với
những bài như Nhớ máu của Trần Mai Ninh, cùng với nó là Nhớ (Hồng Nguyên), Đèo
Cả, Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Hải Phòng 19–11–1946 (Trần Huyền Trân), Bên kia
sông Đuống (Hoàng Cầm), Lên Cấm Sơn (Thôi Hữu)… chúng ta đã có thể nói được về
một thi pháp thơ kháng chiến. Một cách nhìn trực diện, cận cảnh hiện thực đời
sóng với những chất liệu thô nhám, gồ ghề, gân guốc, thường ngày, chất liệu
“văn xuôi”. Bài thơ không nệ khuôn khổ. Hình thế bài thơ đi theo mô hình: hiện
trạng đau thương– kẻ thù hủy diệt – vùng lên đánh giặc– khung cảnh thanh bình
thơ mộng trong mong ước. Các câu thơ bề bộn chất liệu đời thường. Chữ dùng, từ
dùng, cách nói sáp gần với khẩu ngữ sinh hoạt thường ngày của đời sống kháng
chiến. Nhịp thơ cũng phóng túng theo, tùy biến, co dãn bất kể, không gò gẫm, với
nhiều đột xuất… Toàn cảnh thơ kháng chiến là những biến hóa đa dạng và độc đáo
của một đối cực lớn: trữ tình, bay bổng hết cỡ mà cũng vâm váp hiện thực hết cỡ.
Nó phản ánh chiều kích một cuộc chiến tranh “người người lớp lớp” cùng nhất loạt
tham gia đánh giặc, không trừ một ai. Nó là hào khí dân tộc. Thơ kháng chiến chống
Pháp phản ánh được cái hào khí chói sáng, lẫm liệt ấy.
Nhà
thơ Trần Mai Ninh hi sinh tại chiến trường Tuy Hòa. Giặc bắt được ông, trả thù
hèn hạ: khoét mắt ông, đem rong đi khắp chợ cùng phố nhằm thị uy dân chúng. Cái
chết thật bi thảm. Nhưng cũng thật lẫm liệt. Trong mỗi câu thơ của ông có trộn
cả máu của ông và của bao người khác. Tuy ông viết không nhiều, nhưng những vần
thơ của ông đã trở thành di sản tinh thần quý giá của dân tộc.
Văn Giá
Vũ
Quần Phương là người cả nghĩ. Và cách nghĩ của ông lại kín đáo. Ông thường nghĩ
bằng hình tượng thơ, bằng những chi tiết của đời sống, đôi khi rất nhỏ bé và được
đưa vào thơ tưởng như rất hồn nhiên. Bởi thế nếu đọc ông một cách sống sít, đọc
ào ào chỉ cốt nắm bắt lấy ngay nội dung trên những con chữ cụ thể thì có cảm giác
như thơ ông chẳng có gì cả. Bởi thế, có nhà thơ nhận xét: Thơ Vũ Quần Phương vừa
cũ lại vừa kĩ. Đó là một nhận định có phần vội vã. Thật ra đây chính là ưu điểm
của ông đồng thời cũng có thể xem như là một thiệt thòi của chính ông. Bởi lối
thơ này đòi hỏi một cách đọc ra ngoài chữ, đọc trong tâm hồn, trong lốn sống.
Vũ Quần Phương có bài thơ Nói với bé. Bài thơ này đã được đưa vào sách giáo
khoa Tiếng Việt 4, tập hai. Ông căn dặn em bé chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn cây
và thưởng thức câu chuyện cổ tích tuyệt vời của bà: “Nếu nhắm mắt trong vườn lộng
gió – Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay – Tiếng lích rích chim sâu trong lá –
Con chìa vôi vừa hót vừa bay – Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện – Sẽ được nhìn thấy
các bà tiên – Thấy chú bé đi hài bảy dặm – Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền”…
18.NGÔ VĂN PHÚ
Hiện
sống và viết tại Hà Nội. Tác phẩm thơ đã in: Gió bão trận bão, Khúc hát về một
con đường, Trong lửa đạn, Ngọn giáo búp đa, Tháng năm mùa gặt, Đi ngang đồi cọ,
Cỏ bùa mê, Mặt trái xoan, Hoa trắng tình yêu, Trời xanh, Cỏ đắng, Heo may.
Phương gió nổi, Mùa chim giẽ, Chiêm bao, Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú, Bên lở bên
bồi.
Bông
và mây
Trên
trời mây trắng như bông
Ở
dưới cánh đồng bông trắng như mây
Có
cô má đỏ hây hây
Đội
bông như thể đội mây về làng.
Lời
bình
Bông
và mây là thơ của một tác giả trẻ đương đại nhưng lại có vẻ đẹp của những áng
ca dao ưu tú thời xưa Ngô Văn Phú sáng tác bài thơ này năm 1961, ở tuổi 24.
Ngay khi xuất hiện trên báo nó đã neo vào trí nhớ người đọc. Và có thể coi nó
là bài thơ khai sinh một thi sĩ.
Thơ
bốn câu. Thi liệu rất tiết kiệm. Ba yếu tố trời, đất và người đan đi đan lại và
gắn bó với nhau rất tài tình. Trời là mây, Trên trời mây trắng như bông. Đất là
bông, Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây. Còn con người là cô má đỏ hây hây…
Các cô đẹp gái duyên dáng ấy lại có sức nối trời vào đất, Đội bông như thể đội
mây về làng. Bài thơ là bức tranh nhỏ ngày thu hoạch hông. Nhưng ý tứ hàm súc.
Thơ cho thấy cảnh, thấy tình, thấy cả tư tưởng.
Câu
đầu ví mây trắng như bông là để khen sắc trắng của mây.
Nhưng
câu hai ví bông trắng như mây thì lại không phải để khen màu sắc của bông mà là
để ca ngợi mùa bông năm ấy bội thu. Đấy là chỗ biến hóa của tiếng Việt mình.
Cùng là một chữ nhưng khi đảo vị trí cái đem so sánh và cái mẫu so sánh thì ý
nghĩa sẽ khác hẳn nhau. (Chết như sống là ca ngợi mà sống như chết là chê bai).
Câu
thứ ba, con người, là cô gái mà đặc tính được thơ lưu giữ là má đỏ hây hây. Đỏ
vì nắng, đỏ vì đang làm lụng ngoài đồng. Vẻ đẹp khỏe khắn và so với cả mây và
bông thì con người ở đây có hành động. Tả trời một câu, tả đất cũng một câu
nhưng tả người thì hai câu. Hành động của người lại gộp được cả trời vào đất
làm một. Thơ khen trời, khen đất cũng là để tôn vinh con người. Màu đỏ má nồng
nhiệt, duyên dáng, hồng lên rất gợi cảm giữa màu trắng của cả mây lẫn bông. Đội
bông như đội mây trắng trên vòm trời, tầm vóc các cô gái được so vào kích thước
của trời đất. Cách ca ngợi kín đáo nhưng để lại ấn tượng. Bài thơ hết nhưng
hình ảnh các cô ở lại.
Phong
vị ca dao ẩn giấu ở đâu trong hai mươi tám từ của bài thơ?
– Ở
cách tận dụng triệt để chi tiết. Đưa mây và bông làm nguyên liệu tạo thơ thì cả
trong ba ý thơ của bài đều dùng nguyên liệu ấy. Khéo nhất là cách lập ý trong
câu kết.
– Ở
cách suy nghĩ trực giác, dễ cảm nhận mà lại sâu sắc, trí tuệ. Có thể gọi đó là
trí tuệ hồn nhiên của người bình dân.
–
Hơn nữa, trong cách phối ý ở các câu, ta như gặp lại thể hứng, thể tỉ… quen thuộc
của ca dao.
Nhà
thơ Ngô Văn Phú là cây bút đương đại thành thạo sử dụng chất liệu thơ nông
thôn, nông nghiệp. Ông có nhiều bài hay gợi bóng dáng quê hương, con người Việt
Nam mình, gợi nết ăn nết ở thẫm đẫm hương vị truyền thống của quê ta. Nhưng gọn,
sáng, ấn tượng mạnh nhất có lẽ vẫn là bài thơ này.
19.VŨ QUẦN PHƯƠNG
Sinh:
1940. Quê: Nam Định.
Hiện
sống và viết tại Hà Nội.
Tác
phẩm thơ đã in: Hoa trong cây, Những điều cùng đến, Vầng trăng trong xe bò,
Mênh mông giấy trắng.
Đợi
Anh
đứng trên cầu đợi em
Dưới
chân cầu nước chảy ngày đêm
Ngày
xưa đã chảy, sau còn chảy
Nước
chảy ngang lòng anh đợi em
Anh
đứng trên cầu nắng hạ
Nắng
soi bên ấy lại bên này
Đợi
em. Em đến? Em không đến?
Nắng
tắt, còn anh đứng mãi đây
Anh
đứng trên cầu đợi em
Đứng
một ngày đất lạ thành quen
Đứng
một đời em quen thành lạ
Nước
chảy… kìa em, anh đợi em.
Lời
bình
Vũ
Quần Phương là cây bút đa tài. Ngoài làm thơ, ông còn viết văn xuôi và phê
bình. Vũ Quần Phương thẩm thơ khá tinh. Ông có nhiều phát hiện mới mẻ ở cả những
tác giả và những bài thơ đã quá quen thuộc, tưởng như không còn có gì để nói
thêm nữa.
Chính
khả năng thẩm thơ của một nhà phê bình thơ có tài đã giúp Vũ Quần Phương khá đắc
địa trong việc sáng tạo thi ca. Thơ ông chặt chẽ, vững chãi và tinh tế. Vũ Quần
Phương ít có những câu chữ non lép, xộc xệch mà người đời khó tính có thể bắt bẻ.
Nhưng ông cũng không làm cho người đọc phải giật mình, sửng sốt bởi lối nghĩ
táo bạo hay cách thao tác cấu tứ mới lạ. Vũ Quần Phương dường như không bận tâm
lắm đến việc cách tân, đổi mới hình thức thơ. Ông viết theo lối cổ điển.
Đợi
là một trong những bài thơ hay của ông. Bài thơ này còn được nhạc sĩ Huy Thục
phổ thành một bài hát cùng tên rất nổi tiếng. Nhìn thoáng qua, bài thơ không có
gì mới mẻ. Đây là một đề tài quen thuộc. Đã có bao nhiêu người viết về sự chờ đợi
trong tình yêu.
Vũ
Quần Phương chọn cây cầu làm nơi hẹn chờ người yêu. Bài thơ bắt đầu từ một cảnh
thật:
Anh
đứng trên cầu đợi em
Dưới
chân cầu nóc chảy ngày đêm
Bao
nhiêu người cũng đã từng đợi chờ nhau như thế. Đợi chờ trong nỗi thắc thỏm:
Anh
đứng trên cầu nắng hạ
Nắng
soi bên ấy lại bên này
Đợi
em. Em đến? Em không đến?
Nắng
tắt, còn anh đứng mãi đây
Nắng
tắt. Nhưng dòng nước dưới chân cầu thì vẫn chảy:
Ngày
xưa đã chảy, sau còn chảy
Nước
chảy ngang lòng anh đợi em.
Nước
chảy ngang lòng thì không còn là cái dòng nước cụ thể ở dưới chân cầu nữa rồi.
Nó là hình ảnh trực giác của thời gian. Trong sự đợi chờ thì thời gian là yếu tố
rất quan trọng. Thời gian làm đổi thay mọi thứ nhưng lòng người đợi thì lại trước
sau như một.
Đứng
một ngày đất lạ thành quen
Đứng
một đến em quen thành lạ
Đây
là hai câu thơ hay nhất trong bài. Hay không phải chỉ ở tài chơi chữ mà ở sự
chiêm nghiệm nỗi đời. Loại thơ này đâu có dễ viết. Đó là chất thơ kết tinh từ
việc đời từ sự từng trải thấm thía của người viết.
Những
năm gần đây, thơ Vũ Quần Phương hay ngẫm ngợi theo lối chiêm nghiệm, tổng kết
như thế này. Đây là một đặc điểm thi pháp của ông, nó thấp thoáng trong các bài
thơ hồi trẻ và rõ hơn trong chặng thơ gần đây.
Vũ
Quần Phương là người cả nghĩ. Và cách nghĩ của ông lại kín đáo. Ông thường nghĩ
bằng hình tượng thơ, bằng những chi tiết của đời sống, đôi khi rất nhỏ bé và được
đưa vào thơ tưởng như rất hồn nhiên. Bởi thế nếu đọc ông một cách sống sít, đọc
ào ào chỉ cốt nắm bắt lấy ngay nội dung trên những con chữ cụ thể thì có cảm giác
như thơ ông chẳng có gì cả. Bởi thế, có nhà thơ nhận xét: Thơ Vũ Quần Phương vừa
cũ lại vừa kĩ. Đó là một nhận định có phần vội vã. Thật ra đây chính là ưu điểm
của ông đồng thời cũng có thể xem như là một thiệt thòi của chính ông. Bởi lối
thơ này đòi hỏi một cách đọc ra ngoài chữ, đọc trong tâm hồn, trong lốn sống.
Vũ Quần Phương có bài thơ Nói với bé. Bài thơ này đã được đưa vào sách giáo
khoa Tiếng Việt 4, tập hai. Ông căn dặn em bé chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vườn cây
và thưởng thức câu chuyện cổ tích tuyệt vời của bà: “Nếu nhắm mắt trong vườn lộng
gió – Sẽ được nghe nhiều tiếng chim hay – Tiếng lích rích chim sâu trong lá –
Con chìa vôi vừa hót vừa bay – Nếu nhắm mắt nghe bà kể chuyện – Sẽ được nhìn thấy
các bà tiên – Thấy chú bé đi hài bảy dặm – Quả thị thơm, cô Tấm rất hiền”…
Tôi
nghĩ đọc thơ Vũ Quần Phương cũng thế. Để hiểu ông, có lẽ khi đọc, chúng ta cũng
nên nhắm mắt lại. Nghĩa là khép con mắt thịt và mở rộng nội tâm, đọc bằng hồn,
bằng sự chiêm nghiệm đời sống. Chỉ có như thế, chúng ta mới nhìn thấy được vẻ đẹp
của thơ ông.
Trần Đăng Khoa
MỤC
LỤC
1.
Tỳ bà: BÍCH KHÊ
2.
Gửi bác Trần Nhuận Minh: TRẦN ĐĂNG KHOA
3.
Thu điếu (Câu cá mùa thu): NGUYỄN KHUYẾN
4.
Bến Mi Lăng: YẾN LAN
5.
Ông đồ: VŨ ĐÌNH LIÊN
6.
Đèo cả: HỮU LOAN
7.
Viếng bạn: HOÀNG LỘC
8.
Tiếng thu: LƯU TRỌNG LƯ
9.
Nhớ rừng: THẾ LỮ
10.
Những mùa trăng mong chờ: LÊ THỊ MÂY
11.
Dặn con: TRẦN NHUẬN MINH
12.
Cuộc chia li màu đỏ: NGUYỄN MĨ
13.
Thị Mầu: ANH NGỌC
14.
Nhớ: HỒNG NGUYÊN
15.
Trời và đất: PHAN THỊ THANH NHÀN
16.
Người đàn bà ngồi đan: Ý NHI
17.
Nhớ máu: TRẦN MAI NINH
18.
Bông và mây: NGÔ VĂN PHÚ
19.
Đợi: VŨ QUẦN PHƯƠNG.





























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét