Trong khoảng mươi năm trở lại đây tác giả Nguyễn Hồng Vinh đã
in sáu tập thơ. Cảm hứng chủ đạo trong các tập thơ của ông là tình yêu đất nước,
quê hương, con người, cùng những trăn trở về thế sự. Tưởng chỉ có… thơ, thế
nhưng ông còn dành nhiều tâm huyết cho lĩnh vực lý luận phê bình văn học,
nghệ thuật. Năm 2014 cuốn sách chuyên luận Giữ lửa ra đời. ở cuốn sách này, các
bài viết chủ yếu về những vấn đề chính trị-xã hội, đề cập nhiều sự kiện thời sự
nóng bỏng trong nước và quốc tế. Tác giả khiêm tốn nói rằng đó là “vấn đề của
tháng”, nhưng thực ra có nhiều sự kiện không chỉ có ý nghĩa ở thời hiện tại mà
còn gợi mở nhiều điều cần tiếp tục suy nghĩ, bàn thảo trong tương lai. Đó
là câu chuyện hòa nhập nhưng không hòa tan, đánh mất bản sắc văn hóa dân
tộc; kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường
vai trò lãnh đạo của Đảng; toàn cầu hóa và những tác động đến Việt Nam,v.v..
Vẫn tiếp nối mạch suy nghĩ đó - luôn tắm mình dòng chảy sôi động
của thực tiễn - Giữ lửa tập 2 vừa ra mắt bạn đọc. Đây là một cuốn
sách công phu, tập hợp 65 bài viết trong 450 trang in. Gọi là bài viết, nhưng
có những tác phẩm thật sự là một công trình khoa học, vì PGS.TS Nguyễn Hồng
Vinh thực hiện trong thời gian ông đảm nhiệm công việc Chủ tịch Hội đồng Lý luận
Phê bình văn học-nghệ thuật Trung ương. Nét đặc sắc so với tập 1, Giữ lửa tập
2 dành nhiều chuyên luận, tiểu luận về đề tài báo chí, văn học-nghệ thuật. Đáng
chú ý là các tác phẩm: Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật
có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao; Văn học, nghệ thuật với việc xây dựng
nhân cách con người Việt Nam; Vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật
hiện nay; Nâng cao chất lượng, hiệu quả phê bình văn học…
Phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Cái khó của người
viết phê bình là chọn được vấn đề trúng, những vấn đề đang được dư luận xã hội
quan tâm và có ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược, tranh luận gay gắt. Chọn
trúng vấn đề lại còn có cách thể hiện giản dị, hấp dẫn, nói lý mà có tình, mong
nhận được sự đối thoại, đồng cảm nơi bạn đọc. Để bài viết có tính thuyết phục
tác giả lựa chọn cách chuyển tải ý tưởng của mình bằng phương thức truyến thống
- “thuật nhi bất tác” - trong nhiều trường hợp chỉ thuật mà không bình. Nghĩa
là chủ yếu nêu số liệu, dẫn chứng, người đọc sẽ tự liên hệ, so sánh, phân tích
và mỗi người tự rút ra những thu hoạch cho mình. Vì vậy, theo nhà văn, nhà báo
Phan Quang: Thế mạnh nổi trội ở Nguyễn Hồng Vinh là làm một ông chủ giàu có của
một kho thông tin, tư liệu đồ sộ. Ông phân tích, lập luận chủ yếu căn cứ vào
các tư liệu có độ tin cậy cao, sở cứ xác đáng, nhiều trường hợp đã được kiểm chứng
qua thời gian.
Người đọc bị thuyết phục bởi những tư liệu mới và phải
nói là hiếm, vì có hiếm thì mới quý. Chẳng hạn, trong bài Đấu tranh phản bác
các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa,
khi đề cập một vấn đề rất hóc búa: Chủ nghĩa xã hội còn hay đã hết thời, tác giả
dẫn chứng: “Họ (thế lực thù địch, cơ hội chính trị - TG) chứng minh, cho đến hôm
nay, chỉ còn bốn nước “cái gọi là xã hội chủ nghĩa”: Trung Quốc, Việt Nam, Cu
Ba, CHDCND Triều Tiên. Cu Ba rất khó khăn, Triều Tiên đói kém. Chỉ còn Việt Nam
và Trung Quốc, nhưng đang phải đương đầu với vô vàn thách thức (…) Cho nên ai
đó vẫn nói chủ nghĩa Mác -Lê-nin là nền tảng tư tưởng, đó là ảo tưởng! Thực tiễn
hiện nay đã chứng minh rằng, chủ nghĩa Mác - Lê - nin đã cáo chung; theo đó, chủ
nghĩa xã hội cũng đã cáo chung!” (tr.272). Bác bỏ luận điểm này, tác giả viết,
lại cũng bằng những dẫn chứng sinh động: “Chủ nghĩa xã hội không thể cáo chung,
vì nếu cáo chung, tại sao Việt Nam thu được những thành tựu to lớn qua 30 năm đổi
mới như vậy? Vì sao Trung Quốc đi theo con đường XHCN và đã trở thành nền kinh
tế lớn thứ hai thế giới, với dự trữ ngoại tệ hiện tại là 3500 tỷ USD? Tại sao
xuất hiện luận thuyết chủ nghĩa xã hội Mỹ Latinh tuyên bố đi theo học thuyết
này? Nếu cáo chung, tại sao khi kinh tế thế giới khủng hoảng, một số nhà tư bản
lại đổ xô đi mua bộ Tư bản của C.Mác để tìm lời giải cho cuộc khủng hoảng?”(tr
283).
Khi nói về “vấn đề đạo đức xã hội trong văn học, nghệ thuật” ở
mọi lĩnh vực, từ văn học đến điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh… Nguyễn Hồng
Vinh đều nêu lên những dẫn chứng xác đáng, những tác giả, tác phẩm đỉnh cao, có
sức sống vượt thời gian, và ngược lại là những tác phẩm có xu hướng cực đoan,
xuyên tạc lịch sử, sùng bái hình thức, tìm tòi theo hướng tắc tị, cố tạo ra những
scandal… Sự lựa chọn ở đây không phải là ngẫu nhiên, nhận xét theo cảm tính, mà
đòi hỏi người phê bình phải có con mắt xanh và công phu trong việc thẩm định,
đánh giá tác phẩm. Nhờ có những tư liệu, dẫn chứng tin cậy đủ sức làm giá đỡ
cho những nhận định sắc sảo: “Mấy thập niên gần đây lại xuất hiện một số tác phẩm
“giải thiêng”, phủ nhận các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc,
bài xích một số Anh hùng dân tộc (…) Một số nghệ sĩ có phần thờ ơ, thu mình
trong thế giới riêng của sáng tạo, thiếu chí khí đổi mới tư duy, ngôn ngữ, chạy
theo tâm lý đám đông, lợi nhuận… Xu hướng đề cao một chiều tính giải trí hơn là
giá trị giáo dục, giá trị nghệ thuật của tác phẩm đang có chiều hướng tăng lên”
(tr 49).
2.
Phần lớn các tác phẩm trong Giữ lửa (tập 2) thể hiện
rõ tính chiến đấu, tính trung thực khi viết bài phê bình văn nghệ. Đó là sự
công tâm, khách quan trong đánh giá những thành tựu, dòng chủ lưu của văn học,
nghệ thuật hôm nay; sự vươn lên mạnh mẽ, tự đổi mới, dù âm thầm hay quyết liệt
của đội ngũ những người sáng tác, phê bình, nhất là những người viết trẻ - thế
hệ sinh ra và lớn lên khi đất nước đã hòa bình, thống nhất, bước vào công cuộc
đổi mới. Tác giả khẳng định, văn học, nghệ thuật đã có những đóng góp to lớn
trong các cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và trong sự
nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế. Đã có nhiều tác phẩm có giá trị thức
tỉnh, bồi đắp tâm hồn, trí tuệ, lòng yêu nước, đẩy lùi cái ác, vun đắp cái thiện.
Xuất hiện nhiều tác giả, tác phẩm văn học có giá trị tư tưởng và nghệ thuật
cao, thể hiện tính đa dạng các chủ đề nảy sinh từ những vấn đề bức xúc của
đời sống xã hội, những góc khuất, những số phận chìm nổi, đắng cay của con người.
Tuy nhiên, mặt non kém, hạn chế là đáng lo ngại. Tác giả, với
tư cách của người trong cuộc, không né tránh những vấn đề gai góc, “tế nhị”,
bày tỏ thái độ, quan điểm bằng những luận cứ khoa học sáng rõ, chắc chắn. Ông
thẳng thắn nêu rõ, còn không ít tác phẩm nội dung thiếu tính xây dựng, thậm chí
phản giáo dục, phản đạo đức, phản nhân cách; non yếu về chất lượng tư tưởng và
nghệ thuật. Đáng tiếc là có những cuốn sách cố tình xuyên tạc, làm sai lệch bản
chất công cuộc đổi mới của chúng ta, phủ định sạch trơn quá khứ. Một số tác giả
trẻ đắm chìm trong những cái tôi tầm thường, vụn vặt, hoặc đi tìm đề tài “thời
thượng”, đề tài bạo lực, tình dục, mà xa rời chức năng giáo dục và dự báo
của văn học. Như vậy là tìm đường hay đi vào ngõ cụt?
Không chỉ nêu thực trạng, điều chính yếu là phải thức tỉnh. ở
đây Nguyễn Hồng Vinh đã nêu lên “một vài suy nghĩ” mang tính tham khảo, nhưng
thực ra đó là những giải pháp có khả năng thực thi. Vấn đề muôn thuở vẫn là tài
năng và tấm lòng của người viết; là văn hóa phê bình, văn hóa tranh luận. Không
thể có thiên tài thật sự mà bị dập vùi. Không có “tuyệt tác” nào lại bị ghẻ lạnh,
cấm đoán. Chỉ có điều “tuyệt tác” đó viết để cho ai và vì ai. Hãy đi vào đời sống,
đánh vật với sóng cả, nắng gió biên cương, sình lầy, gió chướng, hầm lò…
mà viết, viết đi cho hay, viết đi cho tốt, tưởng không phải là một “lời kêu gọi”
chung chung. Tác giả dẫn lời Ngô Thì Sĩ đã nói từ thế kỷ 18, rằng: “Đem đạo
Thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo lý đời thường để cảm hóa
lòng người”. Đủ thấy từ xa xưa các bậc tiền nhân đã nhận chân rất rõ loại văn
chương đáng thờ và loại không đáng thờ.
Đóng góp của PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh trong tập chuyên luận
này là bước đầu tổng kết những vấn đề lý luận văn học, nghệ thuật mới nảy sinh
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, nhất là khi chúng ta đang thực hiện Nghị quyết
33 của Ban Chấp hành T.Ư (Khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Trong những tổng kết đó
có sự đóng góp của các nhà văn, nhà báo, nhà khoa học. Nhưng với tư cách là người
chủ trì một hội đồng chuyên ngành về lý luận phê bình văn học, nghệ thuật, tác
giả đã có công đề xuất, thiết kế những chuyến đi thực tế, khảo sát thực tiễn, hội
thảo khoa học ở nhiều địa phương, nhiều ngành, từ đó xây dựng các đề tài nghiên
cứu sát thực tiễn và gợi mở nhiều đề tài trong hoạt động sáng tác, phê bình để
các tác phẩm thật sự có ảnh hưởng sâu sắc đến công chúng, xã hội. Chẳng hạn để
tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, tác
giả đề xuất, phải giải quyết tốt bốn mối quan hệ: Quan hệ giữa trình độ dân trí
với đề tài, chất lượng nghệ thuật tác phẩm; quan hệ giữa hội nhập quốc tế
với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; quan hệ giữa tuyên truyền, quảng bá cả
hai lĩnh vực sáng tác và phê bình; quan hệ giữa yêu cầu tuyên truyền các
vấn đề thời sự với chiều sâu của tác phẩm văn học, nghệ thuật.
Đây là những vấn đề rất lớn, đòi hỏi văn nghệ sĩ phải giữ bền
ngọn lửa đam mê và sáng tạo; phải tiếp tục có những đề tài cụ thể, tiếp tục
nghiên cứu, bổ sung, phát triển. Với dung lượng một cuốn sách chuyên luận cũng
phải đáp ứng cả hai yêu cầu thời sự và chiều sâu, độ lùi xa của tác phẩm,
PGS.TS Nguyễn Hồng Vinh đã đem đến cho độc giả những tổng kết, kiến giải,
thông tin có giá trị.
Hải Đường
Nguồn Báo Văn nghệ số 12/2017






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét