Nguồn gốc và ý nghĩa những từ Tết
Tết, Tết Nguyên đán, Tết Táo quân, đêm trừ tịch, giao thừa... những
từ ngữ này đã trở nên thân thuộc nhưng có nguồn gốc rất thú vị, độc đáo và mang
nhiều ý nghĩa phức tạp.
Niềm vui năm mới của chúng ta sẽ trọn vẹn hơn khi tìm hiểu và cảm
nhận những từ ngữ Tết.
Tết
Đối với người Việt Nam, tiếng Tết đã trở nên thân thuộc. Chúng ta gặp
nó trong những câu tục ngữ, ca dao, dân ca mộc mạc đến những bài diễn văn trang
trọng, từ những câu chuyện hàng ngày đến lời cầu khẩn trước bàn thờ linh
thiêng... Và mỗi dịp cuối năm cũ đầu năm mới, nó lại nở rộ, ngự trị trong sự xốn
xang của mọi người.
Không biết chính xác Tết xuất hiện trong tiếng Việt từ bao giờ,
chỉ biết nó vốn là một từ gốc Hán. Theo ngôn ngữ Hán, tiết có nhiều nghĩa.
Nghĩa gốc của tiết là "mấu tre" (vì thế khi viết chữ này,
người ta phải viết với bộ trúc). Rồi nó dần chuyển nghĩa, chỉ sự tiếp nối giữ
hai gióng cây, hai khúc cây, hai đoạn vật thể (tương đương với "đầu mặt",
"khớp", "khuỷu".. trong tiếng Việt).
Từ nghĩa này, nó tiếp tục mở rộng để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa
hai khoảng thời gian phân chia theo thiên văn - khí tượng trong năm, ví dụ một
năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc
lập, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xư thử,
bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông
chí, tiểu hàn, đại hàn). Sau đó tiết chuyển thành nghĩa "ngày lễ, dịp cúng
lễ vui mừng" - đây chính là nguồn gốc trực tiếp của Tết mà ta đang đề cập.
Ngoài ra tiết còn có nghĩa là "bộ phận nhỏ của một chỉnh thể"
(chi tiết, tình tiết...), "khoảng đoạn nhỏ" (chương tiết, tiết học,
tiết mục...), "phẩm chất trong sạch, khảng khái", (tiết tháo, tiết hạnh,
tiết khí, trinh tiết...).
Phần lớn tiếng Hán có phiên âm "iê" khi sang tiếng Việt
biến thành "ê": "thiêm" biến thành "thêm",
"thiết" (yến) biến thành "thết" (tiệc), "chiết"
biến thành "chết"... "Tiết" cũng vậy - biến thành "tết".
Ngoài nghĩa "ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng" như tết khai
hạ, tết thanh minh, tết Đoan Ngọ, tết Trùng cửu... Trong tiếng Việt, Tết còn
dùng để chỉ một dịp đặc biệt duy nhất đầu năm - như người ta thường nói: ăn Tết,
đi Tết, chơi Tết của sự rút gọn và biến âm từ xuân tiết trong tiếng Hán hạy sự
nói gọn từ Tết Nguyên đán (Tết cả) trong tiếng Việt.
Tết Nguyên đán
Nguyên đán là từ gốc Hán. "Nguyên" là "đứng đầu, số
một, nhất", "đán" là "buổi sáng". Do đó, Tết Nguyên
đán nghĩa là "Tết (mừng, của, vào) buổi sáng đầu (năm)".
Gọi như thế vì buổi sáng ngày mồng một tháng giêng là thời gian
quan trọng nhất trong năm, năm mới chính thức bắt đầu, mọi hoạt động tiêu biểu
nhất cho tết được tiến hành (lễ gia tiên, chúc mừng năm mới, mừng tuổi, chúc thọ
người già, đại tiệc đầu năm...).
Điều kiện ngoại cảnh cũng rất đẹp và thuận lợi: bắt đầu sang xuân,
cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa nở, chim hót, không khí ấm áp, trời quang đãng,
nhịp độ lao động vất vả của một năm tạm ngừng... Con người thư thái vui vẻ về
tinh thần, trở nên lịch sự, cởi mở hơn về phong cách, rực rỡ hơn với dung nhan,
trang phục mới...
Tất cả những hiện tượng trên đều tập trung vào buổi sáng đầu năm,
khiến người ta cảm thấy buổi sáng đầu năm thật quan trọng và thiêng liêng. Ai
cũng tin tưởng mơ ước mọi chuyện trong năm đều diễn ra thuận tiện, suôn sẻ, tốt
đẹp may mắn như buổi sáng đầu năm và cố gắng không làm điều xấu để khỏi xúi quẩy
cả năm.
Tết Táo Quân
Táo gốc tiếng Hán có nghĩa là "bếp". Táo Quân hay ông Táo
có nghĩa là "ông quản bếp", "ông vua bếp".
Theo truyền thuyết nước ta, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá phải
bỏ nhau, mỗi người một nơi tha phương cầu thực. Sau đó, người vợ may mắn lấy được
chồng giàu.
Một năm, vào ngày 23 tháng chạp, người chồng cũ đi ăn xin vô tình
vào phải nhà người vợ cũ. Người vợ nhận ra chồng cũ, liền đem cho nhiều cơm gạo
tiền bạc. Người chồng mới biết chuỵên nghi ngờ vợ. Người vợ khó xử, uất ức lao
vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ đau xót, cũng nhảy vào lửa chết theo. Người
chồng mới ân hận, lao vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong
cho họ làm "vua bếp"...
Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt.
Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn
dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó có hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân
dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng chạp hàng năm làm
"lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo
lên trầu trời"...
Đây có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục
có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác.
Ví như ở Trung Quốc thời thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là
"Táo thần", "Táo vương", "ông Táo"), đã được coi
là một trong bẩy vị thần được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của táo
quân thì không nhất quán.
Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân
nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới
là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa.
Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi
hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu
về việc người nào có lỗi...
Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi
tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo
cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu),
sau này mỗi năm vua chỉ lên trời vào ngày 23 hoặc 24 tháng chạp. Đến ngày ấy,
người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp,
bánh kẹo đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp ăn để bay và
trở vua lên trời - khác với táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời)!
Còn việc "ông Công" và "ông Táo" được nhân dân
ta cúng tiễn vào cùng một ngày có hai cách giải thích. Một: Công là từ rút gọn
của Thổ Công. Cách giải thích thứ nhất xem ra có lý hơn bởi nếu theo cách thứ
hai thì khó thể lý giải vì sao lễ tiễn ông Công lại trùng với lễ tiễn ông Táo?!
Đêm trừ tịch
Tịch gốc tiếng Hán nghĩa là "đêm". Tuy nhiên, theo nguyên
tắc thuận ngữ, trong tiếng Việt người ta vẫn nói "đêm trừ tịch" chứ
ít nói "trừ tịch", cũng như thường nói: chân thật, cây cổ thụ, sông Hồng
Hà, núi Trường Sơn... Còn trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, nhưng nghĩa gốc là
"qua đi, bỏ đi". Như vậy, trừ tịch nghĩa là "đêm của năm qua
đi" - đêm cuối cùng của năm cũ.
Tác giả Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục lại có cách
lý giải hoàn toàn khác, coi trừ tịch là xua đuổi, trừ ma quỷ: Nguyên tục bên
Tàu ngày xưa, cứ vào hôm ấy thì dùng một trăm hai mươi đứa trẻ con, độ chín, mười
tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cần trống, vừa đi đường vừa đánh để trừ khử ma quỷ,
cho nên goi là trừ tịch.
Giao thừa
"Giao" gốc nghĩa tiếng Hán là "xen kẽ nhau, thay
nhau" hoặc "nối tiếp nhau, trao đổi lẫn nhau"... còn "thừa"
nghĩa là "đảm nhận, thi hành (nhiệm vụ, nghĩa vụ)" hoặc "thừa kế,
kế tiếp"...
Gọi là "giao thừa" vì theo quan niệm tín ngưỡng, 12 giờ
đêm ngày 30 tháng chạp - thời điểm nối tiếp giữa năm cũ và năm mới - tức là lúc
mà hai vị thần cai quản trần gian gọi là ông Hành Khiển), một cũ, và một mới,
"bàn giao và tiếp nhận" công việc của nhau.
Vào ngày này, nhân dân ta hay làm lễ thiên địa để cầu mong các vị
thần ấy ban cho nhiều may mắn, hạnh phúc cho năm mới. Lễ thường bày ngoài trời
vì mọi người cho rằng các vị thần rất bận không thể vào tận trong từng nhà để
hưởng lễ!.
Phong Hóa
Nguồn: Phụ Nữ & Thể Thao



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét