Năm 2008, phải thẳng thắn thừa nhận, blog của nhà văn Nguyễn
Quang Lập là một hiện tượng đối với cư dân mạng. Trên Blog Bọ Lập, phương ngữ
Quảng Bình được sử dụng một cách triệt để trong những entry khiến cá tính người
viết hiện lên rất rõ. Bước sang năm 2009 hoàn toàn có thể tin tưởng một cuốn
sách in lại từ blog của Nguyễn Quang Lập sẽ đứng vào hàng top ten bán chạy. Như
một lời chúc mừng bước chuyển biến bút pháp của Nguyễn Quang Lập,
lethieunhon.com xin giới thiệu chân dung tác giả “Mùa hạ cay đắng” qua góc nhìn
của nhà thơ Nguyễn Thành Phong
Em đi qua trảng cỏ/Sương tan thành bình minh/Đi qua cánh đồng
xanh/Thành líu lo chim hót/Đi qua dòng suối ngọt/Suối ngọt hóa lời ca/Đi qua
trái tim ta/Thành tình yêu nồng cháy... Thơ của nhà văn, nhà viết kịch, biên kịch
điện ảnh nổi tiếng Nguyễn Quang Lập đấy. Chắc chả có nhà nghiên cứu phê bình
nào biết tới những dòng thơ này của Lập. Có thể em sinh viên Tổng hợp hồi ấy,
cách đây hơn 20 năm, giờ đã thành bà chủ, chồng con dùm dề, trong những phút
giây hồi nhớ tuổi xuân, vẫn thấy vang lên những câu thơ trong trẻo mà cũ mòn ấy
của Lập tặng cho từ ngày xa xưa.
Hai mươi mấy năm thật cũng dài. Thế mà sao tôi không quên được
nhiều câu thơ đại loại như kiểu ấy của Nguyễn Quang Lập thời sinh viên Khoa Vô
tuyến điện, Đại học Bách khoa Hà Nội. Nguyễn Quang Lập là bạn tôi từ hồi ấy.
Tôi là sinh viên Khoa Hóa thực phẩm cùng trường. Sau này, lúc Lập danh nổi như
cồn. Ngồi đâu cũng thấy người ta khen, tâng bốc Lập đến tận mây xanh... Tôi khẽ
khàng khoe: “Nguyễn Quang Lập là bạn tôi đấy”. Biết bao người nhướng mày nhìn
tôi, không mặn chuyện. Hẳn họ nghĩ tôi nhận xằng. Chắc cũng học cùng trường đại
học. Mà học cùng trường với nhà văn ấy như thế, có mà tới cả... mấy chục ngàn
thằng.
Lập là một “nhà tổ chức” bẩm sinh. Ngày đó, 12 thằng sinh
viên, hai em xinh đẹp và một ông giáo viên của trường nữa là thành 15, cùng yêu
thơ phú, nuôi mộng làm những bài thơ, hy vọng ngày mai công bố cho cả nước biết
mà bàng hoàng, nhưng đêm nay đi trên đường là ngất ngưởng bóng dáng những thi
nhân chưa ai biết tới, đã bàn việc lập thành một nhóm thơ lấy biểu tượng cánh cổng
parabol của trường làm tên gọi - Nhóm thơ “Vòm cửa xanh”.
Nhóm thơ thành lập, phải bầu bán người đứng đầu có uy
tín mà lãnh đạo anh em chứ. Lập ngày ấy nghe nói đã có thơ được giải chính thức
gì đó ở tỉnh Quảng Bình từ hồi nảo nào, thế là có uy tín rồi. Nhưng Lập lại học
trước bọn tôi hai năm, sắp ra trường, nên không thể cơ cấu làm chủ tịch để lãnh
đạo lâu dài được. So với số còn lại, uy tín tôi vượt lên rõ ràng hơn cả. Tôi trẻ
nhưng đã có thơ in báo Nhân Dân, Hà Nội mới và nhất là báo Văn nghệ nữa chứ.
Trong nhóm, sau này nhiều người thành những người viết, công bố nhiều tác phẩm,
đoạt nhiều giải thưởng, như: Hà Đức Hạnh, Đoàn Xuân Hoà đã trở thành hội viên Hội
Nhà văn Việt Nam, như các tác giả: Kiều Anh Hương, Đoàn Thông (chính là ông
giáo viên hồi đó dạy ở khoa điện),Trần Quang Bình (nay đã mất)... Còn một người
làm thơ nữa tên là Ngô Hồng Oai, viết thơ trao tay nhau đọc thì ký là Hải
Quang, sau này viết truyện hài hước nổi tiếng lại lấy bút danh là Nguyễn Ma
Lôi. Nhưng những cái tên trên hồi ấy tinh hoa chưa kịp phát tiết. Dĩ nhiên tôi
có thể yên vị mà ngồi vào vị trí chủ tịch.
Nhưng bỗng có vấn đề. Lê Quang Sinh, giờ là phóng viên Văn
nghệ trẻ, thường trú tại TP Hồ Chí Minh, khi ấy cứ nhiệt tình quá, tự động sừng
sừng đứng ra tổ chức các cuộc họp, rồi cũng lái được nhận xét của anh em, là
cũng xứng vào vòng tranh cử. Vậy thì phải hiệp thương, rối như canh hẹ. Nguyễn
Quang Lập nghe ngóng dư luận, thức trọn nửa đêm, hút hết ba gói thuốc lào rồi bỗng
vỗ đùi đánh đét, phán: “Thì đặt ra hai chức như hội nhà văn quốc gia ấy vậy. Chủ
tịch là ông Phong. Còn ông Sinh là tổng thư ký!”.
Xong vấn đề. Tôi thế là vẫn oai, lại chả phải làm gì. Mọi việc lo họp hành, tiền rượu trắng, tiền lạc rang, thuốc lá cuộn giao tổng Sinh lo. Thẻ hội viên do tổng Sinh cậy cục nhờ người đánh máy như thật, lại có cả hai chỗ bên dưới để cho cả chủ tịch Phong và tổng Sinh cùng ký. Lập ngồi vểnh râu uống rượu, ngấm ngầm nhận ánh mắt biết ơn của cả tôi lẫn Sinh.
Xong vấn đề. Tôi thế là vẫn oai, lại chả phải làm gì. Mọi việc lo họp hành, tiền rượu trắng, tiền lạc rang, thuốc lá cuộn giao tổng Sinh lo. Thẻ hội viên do tổng Sinh cậy cục nhờ người đánh máy như thật, lại có cả hai chỗ bên dưới để cho cả chủ tịch Phong và tổng Sinh cùng ký. Lập ngồi vểnh râu uống rượu, ngấm ngầm nhận ánh mắt biết ơn của cả tôi lẫn Sinh.
Tổ chức có rồi, nhưng là thành lập chui. Đoàn trường nghe
tin, biết sinh viên học Bách Khoa mà làm được thơ đăng báo thì quý lắm, càng
không nỡ cấm sợ các “nhà thơ trẻ” mất hứng sáng tác, ảnh hưởng đến phong trào
văn nghệ sinh viên, nhưng lại cũng lo, nhỡ nhóm làm bậy điều gì đó thì nguy to.
Liền cử một cán bộ đoàn mang mấy bài thơ tự sáng tác gửi đến xin tham gia nhóm.
Anh em hơi tự ái, lo công việc sáng tác thơ cao quý của mình bị theo dõi, sẽ mất
tự do. Lập nghe tin, nghĩ ngợi mất nửa gói thuốc lào, rồi lại phán: “Kết nạp
ngay ông cán bộ Đoàn ấy vào. Đoàn trường sẽ yên tâm, ta thì chính danh, không
khéo lại được bảo trợ, thêm được khoản tiền trà thuốc không tốt sao?”. Anh em đồng
loạt hoan hỉ, răm rắp nghe theo Lập.
Tôi thấy Lập “quái” còn qua một việc nữa. Ngày đó, phong trào
làm thơ trong sinh viên trường Bách Khoa lên cao vút. Ban giám hiệu cho tổ chức
một cuộc thi, treo giải khá cao nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập trường. Hàng
ngàn bài thơ sinh viên trong trường gửi dự thi. Tất nhiên nhóm “Vòm cửa xanh”
chiếm chủ lực về chất lượng. BGH nhờ tôi đi mời những nhà thơ nổi tiếng về trường
để chấm thơ. Tôi rủ Sinh, đi mời được ba nhà thơ cực oách là Quang Huy, Võ Văn
Trực và Nguyễn Bùi Vợi đến trường gặp lãnh đạo và nhận thơ về chấm. Gần xong,
tôi và Sinh lóc cóc đến thăm dò kết quả. Nhà thơ Quang Huy nheo nheo mắt: “Thơ
các cậu hay lắm. Phong và Sinh đều xứng giải nhất. Thơ Đoàn Thông cũng hay chả
kém. Nhưng... theo mình, thì... thi thơ ở một trường đại học, chả lẽ lại trao đến
hai, ba giải nhất. Có khi chỉ nên trao một thôi”.
Tôi và Sinh ắng lặng đưa mắt nhìn nhau. Chả ai chịu tiến cử
ai vào ngôi vị nhất cả. Thơ tôi hay, ít ra là ngang thơ Sinh, đáng ra Sinh phải
lên tiếng nhường tôi nhất để tôi thêm uy tín mà lãnh đạo anh em chứ. Tôi nhường
Sinh thì hóa ra thơ chủ tịch hay kém thơ tổng thư ký thì còn mặt mũi nào nữa.
Hai đứa đều im như thóc, chào nhà thơ Quang Huy ra về. Chắc cả hai cùng thức trằn
trọc suốt đêm để... mưu tính.
Hôm sau, Lập lúc ấy đã ra trường, vào bộ đội đóng quân ở
đảo Cái Bầu, trốn về Hà Nội thăm em ở Tổng hợp và tranh thủ đến sinh hoạt nhóm.
Nghe tôi tâm sự cái tình thế khó khăn ấy, vỗ trán nghĩ một lúc rồi nói ngay:
“Hai ông là lãnh đạo, đừng tham vặt. Thơ Đoàn Thông cũng hay, so với hai ông là
một chín một mười chứ gì? Thế thì để một giải nhất là ông ấy. Hai ông hai giải
nhì. Có hơn không nào?”. Tôi à lên tâm phục khẩu phục Lập, rồi chạy đến tỉ tê với
chánh chủ khảo Quang Huy. Và sau đó giải đã được trao đúng như thế. Cả nhóm thơ
ngất trời vui. Có 15 giải, nhóm thơ chiếm tới 13, chỉ lọt hai khuyến khích ra
ngoài, một cho Đặng Huy Giang bên trường Tổng hợp Văn thi ké, một cho một cựu
binh đang học tại trường. Đoàn Thông hiến hết tiền giải cùng anh em làm một đoạn
săm ô tô rượu lậu từ Bắc Ninh về uống cả đêm, say đứ say đừ đến cả mấy hôm sau
còn ngả nghiêng...
Nguyễn Quang Lập sau khi đi bộ đội, đóng ở đảo Cái Bầu ngoài
Quảng Ninh, rồi chuyển vào Đà Nẵng, vẫn không thôi mộng văn chương. Ra quân, Lập
về Sở VHTT tỉnh Bình Trị Thiên, bắt đầu bỏ thơ, viết truyện ngắn. Truyện đầu
tiên có tên là “Người lính hay nói trạng” in trên tạp chí “Sông Hương”, từ đó
danh nổi như cồn, từ truyện ngắn nhảy sang viết tiểu thuyết, kịch bản sân khấu
và kịch bản phim. Lập viết cái gì nổi tiếng cái ấy, cả tung hô lẫn có lúc bị
“đánh” chí chết. Chức to nhất Lập có được do bầu là Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ
Bình Trị Thiên. Bầu xong, Lập sướng mấy ngày, kể: “Lạ ghê, mọi người toàn gọi
tao là thằng Lập, bầu trúng chức xong, ngay chiều ấy được cơ quan thuê com lê
cho, xe ô tô con xịch đến đón tại nhà đưa lên họp với lãnh đạo tỉnh và từ đó,
ai cũng một điều anh Lập, hoặc ông Lập. Sướng mê đi nhé!”.
Rồi Lập ra Quảng Trị, vẫn là Phó Tổng thư ký Hội VHNT tỉnh Quảng
Trị, lại trúng chân đại biểu HDND thị xã. Có lần tôi nghe kể, Lập phát biểu về
máu xương đã đổ xuống thành cổ 81 ngày đêm tại một kỳ họp HDND làm mọi người đều
rưng rưng khóc...
Năm 1991, tôi đi thực tế qua Quảng Trị, ghé vào thăm Lập. Lập
nói gì đó với kế toán rồi rút bút ký. Ngay sau đó, kế toán mời tôi xuống phòng
lĩnh hai trăm ngàn đầu tư sáng tác. Ngày ấy là món tiền to. Tôi choàng mắt
nhìn. Thằng bạn mình giờ ký một cái là khắc có người chi ngay cho mình tiền răm
rắp, ghê chưa. Hôm sau, lại còn cho xe con đưa mình ra chỗ đoàn cùng đi thực tế.
Tiền ấy tôi mang về khoe vợ, bàn nhau không tiêu gì, đi mua ngay một cái đài
cátxét thật oách về nghe nhạc du dương và nghĩ, và mong, thằng bạn mình sẽ còn
lên to nữa...
Rồi cũng vì sinh kế, và vì tương lai con cái, Lập dẫn một vợ
ba con ra Hà Nội một lèo. Chưa có việc gì chắc chắn cũng nhất quyết đi... Đường
quan lộc của Lập như dừng lại... Nhất là sau vụ tai nạn xe máy cách đây mấy
năm, Lập cà nhắc, cà tang thế, vào cơ quan lớn dễ bị bảo vệ gọi lại hỏi, tưởng
người đâu đưa đơn kiện đến hay cũng là tới để phàn nàn thắc mắc gì đó. Đừng nói
Lập không thích chức vụ và không có tài làm lãnh đạo. Nhưng giờ thì hoàn cảnh
trời đày thế, bai bai thôi cậu chàng nhé.
Những cái Lập làm được trong sáng tác là hơn vạn lần những chức
tước mèng mèng có thể làm được. Người ta đã tốn nhiều giấy mực khen ngợi Lập,
và cả có lúc phê phán chê bai dữ dội đối với Lập rồi. Những gì Lập làm được
trong sáng tác từ sau những vần thơ hay cũ mòn hồi sinh viên đến nay luôn làm
tôi bất ngờ. Nhưng điều ngạc nhiên là Lập đã luôn nói trước với tôi về những điều
đó trước khi nó đến nhiều thời gian. Ví như, đang làm thơ, quãng năm 84, 85, Lập
viết thư cho tôi nói rằng sẽ không làm thơ nữa vì không thể hay được, và sẽ viết
truyện ngắn và một vài năm sau là nổi tiếng.
Có lẽ bài thơ Nghe tin bạn có con trai viết tặng tôi hồi
tháng 7-1985 khi tôi có con trai đầu lòng với hai câu kết trứ danh “Đời háu đá,
đá tôi thêm mấy phát/Bớ đời! Đừng bắt nạt cháu yêu tôi” in trên Văn nghệ và nhiều
nơi khác là bài thơ cuối cùng cho đến nay của Lập. Sau đó truyện ngắn của Lập
xuất hiện ào ạt: Người lính hay nói trạng, Cây sến lửa, Đò ơi, Chuyện sót lại ở
thung lũng Chớp Ri ... Thật ngoạn mục, ấn tượng, thảng thốt người đọc và giới
phê bình. Đang khi ấy, Lập nói sẽ viết kịch, sẽ đến học lỏm nghề kịch của kịch
tác gia Xuân Đức rồi sẽ làm cho Xuân Đức, Đào Hồng Cẩm phải nể. Sau đó là Trên
mảnh đất người đời, Mùa hạ cay đắng, Ngôi nhà quỷ ám... xuất hiện đúng như thế.
Lập tuyên bố sẽ viết kịch bản phim, chiến lược là phim nhựa, chiến thuật là phim truyền hình. Sau đó là những Đời Cát, Thung lũng hoang vắng... vang danh ra quốc tế. Đó là chưa kể, Lập làm báo Cửa Việt, Văn nghệ Trẻ... Lập làm được khối việc to tát ấy chả nhờ vào chút vận may nào cả. Đều do tự hoạch định mà nên. Cái tài tổ chức được lặn vào những việc của mình chứ có phát nhầm đi chỗ nào đâu?
Lập tuyên bố sẽ viết kịch bản phim, chiến lược là phim nhựa, chiến thuật là phim truyền hình. Sau đó là những Đời Cát, Thung lũng hoang vắng... vang danh ra quốc tế. Đó là chưa kể, Lập làm báo Cửa Việt, Văn nghệ Trẻ... Lập làm được khối việc to tát ấy chả nhờ vào chút vận may nào cả. Đều do tự hoạch định mà nên. Cái tài tổ chức được lặn vào những việc của mình chứ có phát nhầm đi chỗ nào đâu?
Tuổi Bính Thân, cầm tinh con khỉ mà lạ là Lập không thích ăn
hoa quả với đồ ngọt bao giờ cả. Bính Thân cũng khối người sung sướng nhưng Lập
bạn tôi thì ít được sướng. Cái dáng đi đã khổ, cái nết ăn cũng khổ theo. Chả biết
chơi gì cho tới bờ, tới bến cả. Hai lần tai nạn xe cộ đều dính đến đầu. Hai, ba
lần tai nạn văn chương giữa trường văn trận bút, tưởng khó ngóc đầu lên, thế mà
vẫn tinh tướng ra phết.
Ngày còn thiếu miếng ăn, Lập ra tôi chơi. Hỏi thích ăn gì nhất,
để đi chợ mua. Lập bảo thích nhất là rau muống xào với cà xanh chấm mắm tôm.
Ngày lĩnh giải thưởng văn học của Bộ Quốc phòng, Lập mang tiền về thẳng nhà
tôi, dẫn tôi ra chợ Giời mua cho vợ tôi chiếc xe đạp lấy cái để đi làm. Bao năm
rồi, đã giàu và hiện đại hơn lên một chút. Chiếc xe đạp cùng cái cátxét, tôi đã
mang về quê để ở nhà ông bà già. Mỗi lần về, tôi lại đi cái xe đạp ấy trên đường
làng và khi ở nhà, lại bật cátxét lên nghe. Tiếng nhạc vẫn còn du dương lắm.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét