Âm nhạc
Một buổi tối, hai gia đình: tôi và em tôi là Tấn Sơn rũ nhau đến
quán ca nhạc loại “hát với nhau nghe” nằm trên con đường tập trung nhiều hàng
quán ăn chơi có tiếng ở trung tâm Sài Gòn. Thỉnh thoảng vẫn thế, vì Sơn thích
ca hát và giọng tốt nên thường sưu tầm những địa chỉ “ tầm cở” để thử tài, và
cứ mỗi lần Sơn rũ là tôi không từ chối. Với máu nghề nghiệp và thích nghe nhạc,
đi chơi như vậy tôi được thưởng thức nhiều mặt. Được biết đây là một quán mới
mở, dành cho giới trẻ nên cách trang trí rất ấn tượng, hình khối, đường nét mặt
tiền mạnh mẽ, với hệ thống đèn nhiều màu rực rỡ. Bước vào cửa đã nghe tiếng
nhạc disco với âm lượng quá cở, tiếng cười nói của từng nhóm bạn trẻ tạo một
thứ tiếng ồn vượt mức chịu đựng ở cái tuổi trung niên như tôi.
Gian phòng chữ nhật không đủ rộng, chính giữa một bar rượu hình oval đã đầy các thanh niên nam nữ ăn mặc rất thời thượng đang ngồi trên các ghế cao, hướng vào giữa. Hai bên, sát tường là các bàn nước đặt dọc ở trên nền cao gần cả mét và đầu kia là một sân khấu nhỏ. Các hình thức, chi tiết nội thất thể hiện như trong một chiếc tàu biển: - những mỏ neo treo lủng lẳng, sợi dây thừng giăng đong đưa, chiếc vô lăng như bánh xe luân hồi to đùng gắn cuối phòng, các ô cửa tròn và các nữ tiếp viên xinh đẹp, phơi phới với trang phục như lính hải quân váy cực ngắn, đang rộn ràng trò chuyện với khách. Mật độ trang bị nội thất và con người nơi đây khá cao. Vì đi với gia đình nên chúng tôi tìm một nơi yên ổn, kín đáo ở góc cuối phòng và nhờ vậy tôi có thể quan sát được rộng và đầy đủ.
Giờ hát với nhau đã đến, tiếng nhạc phát ra từ máy chợt tắt, tiếng cười nói giảm đi, một số lớn khách đã đổi tư thế ngồi, quay về hướng sân khấu, không khí tỉnh lại. Một MC nam đẹp trai, tuổi trên 35 bước ra sân khấu, rất tự tin và tươi cười chào khán phòng, cùng lúc ban nhạc với vài nhạc công cũng tiến đến nhạc cụ. Sau phần giới thiệu vào đầu chương trình ca nhạc hằng đêm của quán, một khúc nhạc intro trổi lên như là thứ nhạc thiều riêng, với âm lượng vừa phải và giai điệu rumba khoan thai quen thuộc, tôi cảm thấy thật dễ chịu. MC vào đề rất tự nhiên, hàng loạt từ hoa mỹ được tung ra để giới thiệu một ca khúc với tốc độ chóng mặt, tôi há hốc theo dõi với chút kính nể khả năng phát thanh trôi chảy như thuộc bài của chàng MC này. Mặc dù đã nói rất dài nhưng tôi vẫn chưa đoán được bài hát tên gì, chỉ biết rằng đó là một chuyện tình lâm ly bi đát. Quay lại Sơn tôi hỏi:
– Chàng này ở đâu ra vậy?
– Tên là HT, em có quen, làm ở nhà văn hóa quận X. chuyên hướng dẫn các chương trình, ảnh mời em đến đây.- Sơn trả lời.
…. Và có dài thì cũng phải có đoạn kết, đó là bài “hoa sứ nhà nàng”… một chàng tướng to, khỏe cở anh Vọi trong “trống mái” của Khái Hưng, mặc chiếc áo rất hoa lá cành, ôm sát người, phơi lồ lộ những cơ bắp! rời bar rượu từ từ tiến lên sân khấu với dáng vẻ hiên ngang như đi chiến đấu, khán giả vỗ tay nồng nhiệt, một tín hiệu sinh động, lạc quan khởi đầu, mấy đứa nhỏ con tôi và con Sơn thích chí vỗ tay hưởng ứng theo. Tôi thấy lùng bùng hai tai. Có lẽ chàng này đi rất sớm và đã kiếm ngay xuất đầu tiên.
Câu vô đề -“đêm đêm ngưởi mùi h… mùi hương của nhà nàng” thấy lạnh cả người, một chất giọng eo ẻo, pha cải lương đúng chất với bài hát nhưng không tương ứng với tướng mạo của chàng lực sĩ tí nào, chàng say sưa, rên rĩ diễn tả nỗi đau khổ, có thể xếp vào bậc thầy của sến …không khí khán phòng tỏ ra nhẫn nại, chia xẻ, chờ phút cáo chung của khúc bi ca, thế nhưng kết cục lại có hậu với tràng pháo tay như pháo tết và vài tiếng huýt sáo inh tai, anh “Vọi” một lần nữa hiên ngang trở về bar rượu. MC lại xuất hiện, rất hào hứng và chợt xuống giọng ra vẻ triết lý cao siêu đầy kịch tính, nói về thân phận con người giữa cuộc đời ô trọc này…Một lần nữa tôi được chứng kiến tài nghệ của MC - đúng là một cao thủ, chữ nghĩa có thừa, - à, thì ra là một bài hát của Trịnh Công Sơn, bài “phúc âm buồn”. Một cô gái khoảng hai mươi lăm, mặt đầy đặn, mắt đeo cặp kính cận nặng, bước lên sân khấu..” người nằm co, như loài thú, khi mùa đông về...người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…người còn đứng như tượng đá…” khán phòng trầm lắng, một chút chùng lòng vì lời hát thấm sâu, chất giọng alto khoẻ khoắn, đầy dẫn dụ ngọt ngào, bài hát được kết thúc với sự ngưỡng mộ trân trọng. Và không khí như nóng lên khi MC giới thiệu một tay chơi gầy gò, mặc bộ Jean rách rưới bạc phết màu, điệu twist được trổi lên với bài “60 năm cuộc đời”, tôi chợt nhớ đến giai điệu kích động được phổ biến, ngự trị trong các vũ trường và các phòng trà Sài gòn trong thập niên 60 với chiếc quần ống túm là biểu tượng. “…ới..ới đời sống là thế không là bao, em ơi có bao nhiêu 60 năm…” Chàng trai vừa hát vừa lắc theo twist rất điệu nghệ, thỉnh thoảng chàng ứ…ứ nghe rất bốc (không thua gì Hùng Cường). Các nhạc công được dịp cũng xã hết công suất. Những bạn trẻ bị cuốn hút với những thân hình cựa quậy và tay chân quờ quạng theo, với hậu quả là tiếng pháo tay, la hét dậy trời của đám cuồng nhiệt. Sau trận bị trấn áp ngạt thở bằng âm thanh ấy tôi nghe ê ẩm cả người, đến nhân vật thứ tư tôi không còn đủ sinh lực chăm chú theo dõi mà quay về nói chuyện với gia đình, nhưng lần nữa lại phải quay về hướng sân khấu vì có một chàng trông rất lãng tử không hát mà đang nói điều gì, khán phòng bớt ồn. Nhìn cách ăn mặc có chút lè phè và cách diễn đạt lại lè nhè, tôi cảm nhận chàng là một bợm nhậu hơn là ca sĩ, thử lắng nghe ??!,- thì ra chàng muốn đọc thơ, môt bài thơ tự biên, tự diễn nói về một nghịch lý trong tình yêu mà chàng đã trãi qua. Tôi phải quay người lại để nghe, một cảm giác vừa khó chịu nhưng thích thú; khó chịu vì nơi này đâu phải là chỗ của thơ thẩn, và thích vì đụng đến lãnh vực hảo của mình. Chiến hữu này xem chừng bị lạc lõng nhưng vẫn tự tin, mắt lim dim đầy tâm trạng, chậm rãi và một chút xuất thần, hai câu cuối chàng lại ngẫu hứng ngâm lên nghe thống thiết, bài thơ dài vừa phải, đôi chỗ cảm thấy “phê” vì những ý tứ độc đáo, có thể xếp vào loại khá. Thật ái ngại cho chàng,vì giữa chốn “đạn bom khói lửa” thế này mà dám bay bổng như vậy, nhưng khán giả tỏ ra lịch sự và cho một tràng pháo tay không kém phần nhiệt liệt, một nửa để khích lệ tiết mục lạ, một nửa để tống tiễn cho nhanh?!.
Tưởng bở, chàng thừa thắng xông lên, quyết tâm không chịu rời micro và tiếp tục giới thiệu cho khán giả thưởng thức thêm một tiết mục nữa, lần này chàng hát chứ không phải đọc thơ. Chàng thật can đảm trước một lực lượng “ca sĩ” hùng hậu nộp đơn xin hát đang hăm hở, chờ đợi đến lượt mình, bài thơ vừa rồi đã làm nhụt chí và ngao ngán nhiều tay chơi nhưng chàng nào có hay biết, vẫn ung dung tự tại, bình thản tiếp tục. Bài hát được giới thiệu với tựa đề “ con sông quê hương”- nói về một con sông ở Bình Định của nhạc sĩ Xuân An, thoáng qua tựa bài hát nghe không quen và tác giả càng không biết, có chăng một nhận xét là chàng này thích hàng lạ, chỉ trình diễn những cái người khác chưa biết. Vẫn hào hứng và tự tin, sau khi dặn dò, chỉ vẽ các nhạc công, tiếng nhạc trổi lên, chàng cất tiếng ca: - “ bình thường, bình thường thôi bạn ơi…” rất hồn nhiên và lạc quan.-“ vẫn núi giăng mây, vẫn lúa xanh đôi bờ…”. Đến đây thì tôi thấy ngờ ngợ, bài hát hình như đã nghe đâu đó, giai điệu và tiết tấu nhẹ nhàng, tha thiết, ca từ đơn giản, gần gủi, một air nhạc xưa cũ ?! bài viết theo nhịp 2/4, không trang trọng, tươi vui, thướt tha cho những dòng sông theo kiểu valse như “blue Danube”, “Danube waves” hoặc “dòng An Giang” cũng không hào hùng như “Bạch Đằng Giang” hay “Sông Lô”. Tôi cố suy nghĩ để tìm những yếu tố quen thuộc của bài hát, nhưng sinh hoạt ồn ào kiểu này thật khó mà moi lại ký ức, đang miên man tôi chợt nghe Sơn lẩm bẩm – Uả, bài này của anh Phước Liên viết về con sông Dinh đây mà. Vừa lúc ấy tôi chớt nhớ ra tựa bài hát “Ơi con sông Dinh” và Sơn cũng gật đầu. Chàng ca sĩ rất thiết tha và tôi rời khỏi thực tại “…ơi con sông Dinh yêu thương và tháng ngày em thơ ấu, sớm tối qua cầu dừng chân ngắm xuồng câu, con sông quê hương chảy từ buồng tim của mẹ, ôm con chờ chồng rồi hoá đá vọng phu….” Nhớ lại bài hát này lần đầu tiên tôi biết được là nó xuất hiện trong tập bài hát mà Phước Liên in chung với nhạc sĩ Đỗ Trí Dũng của hội văn học nghệ thuật Khánh Hòa xuất bản, Liên đã gởi tặng tôi trong những năm tháng khi tôi còn mãi mê với những công trình xây dựng ở Đồng Tháp. Sở dĩ tôi nhớ và có ấn tượng với bài này vì lần đầu trong đời tôi thấy được một bài hát viết về con sông Dinh quê mình và tác giả lại là người bạn thân. Khi ấy tôi đã phải viết thư tới Liên với nhiều lời lẽ ca ngợi và cám ơn. Sau đó tôi cứ áy náy hoài về một ý sửa lưng bạn, vì trong bài hát có câu“…Sớm tối qua cầu dừng chân ngắm xuồng câu…” tôi nói đùa rằng - đứng trên cầu Dinh chỉ thấy ghe thôi chứ làm gì có xuồng mà ngắm”, ý tôi muốn nói rằng phương tiện đi trên sông Dinh đoạn ấy người quê mình chỉ gọi bằng ghe. Tôi mạnh dạn nói lên điều này vì Liên là bạn cùng xóm Rượu với mình, không xa lạ với con sông Dinh, có đi đâu cũng phải theo con đường Nguyễn Trường Tộ mà về, có nghĩa là từ thơ ấu đến lúc vào đời, dân xóm Rượu cứ phải đi, về dọc theo sông Dinh nên hình ảnh gì của sông Dinh cũng đều được chứng kiến và khắc sâu vào tâm trí mỗi người. Sau này khi quay về Sài Gòn công tác và Tấn Sơn vào Sài gòn học, anh em ở chung nhà, thỉnh thoảng tôi có nghe Sơn hát và được biết rằng bài hát này khá phổ biến ở Ninh Hòa.
Cứ mãi suy nghĩ về chuyện cũ mà quên thực tại Saigon by night tạp lục, tôi với Sơn còn miên man với chuyện bài hát thì may mắn quá, chàng lãng tử đã nhường sân khấu lại cho MC và người khách được mời lên kế tiếp chính là Tấn Sơn, tôi vội nói với Sơn là sẵn dịp này khéo léo đính chính lại tên và tác giả bài hát mà vị khách vừa rồi nhầm lẫn. Sơn không vội vàng rời chỗ ngồi và như đang do dự điều gì, bình thản một chút, Sơn từ từ bước về sân khấu với phong thái chửng chạc và trịnh trọng tìm một vài lý lẻ hay đẹp giới thiệu bài hát của mình. Bài hát “Xin còn gọi tên nhau” của Trường Sa là bài hát tôi rất thích, cùng những bài hát quí hiếm khác của cùng tác giả như “Mùa thu trong mưa”. Bài này tiết tấu sôi nổi nhưng thiết tha; lúc dồn nén, lúc dàn trãi, tạo một hiệu ứng mạnh mẽ, phải récitatif và nhấn nhá như Lệ Thu mới lột tả hết độ tuyệt cuả nó, nhất là những đoạn cao trào. Khánh Ly tuy mượt mà và ngọt ngào ở bài này nhưng diễn đạt đều quá. Sơn trình bày cũng khá. Tôi đã được nghe Sơn hát nhiều lần nhưng không nhàm chán, có lẽ là một trong những bài ruột của sơn và hình như hôm nay Sơn ưu ái tặng tôi món đặc sản này !? – Nhạc đã hay, lời và nội dung cũng không kém. “ Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng, chiều đông đưa những bước chân đau mòn …còn ai giữa mênh mông đời mình, nỗi đau mù lấp trên tuổi thơ ….. rồi trong mưa gió biết ai vỗ về…..tình trong cơn ngủ mê, rồi phai trong hàng mi.….” Một nỗi đau tình nhẹ nhàng, một đối xử thật vị tha và bao dung với người yêu dù cuộc tình đã vỡ, lúc nào cũng lo toan cho một cánh chim bay xa ….Khán giả vỗ tay rất nhiều khi Sơn hát xong, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy điều gì đó đang vướng víu, cả nhà vỗ tay rất dài để ủng hộ gà nhà nhưng tôi lại lơ đễnh cho đến khi Sơn có vài lời đính chính :
- Thành thật cám ơn bạn vừa rồi đã trình bày rất hay bài hát ngợi ca con sông quê hương chúng tôi, chúng tôi rất xúc động vì lâu lắm rồi mới được nghe lại. Tác giả bài hát là người anh cùng xóm với chúng tôi tên là Hình Phước Liên hiện đang sống tại Nha Trang, con sông mà bạn vừa hát tên là sông Dinh chảy qua thị trấn Ninh Hòa một huyện của tỉnh Khánh Hòa, bài hát ấy tên là ”ơi con sông Dinh…”
Gian phòng chữ nhật không đủ rộng, chính giữa một bar rượu hình oval đã đầy các thanh niên nam nữ ăn mặc rất thời thượng đang ngồi trên các ghế cao, hướng vào giữa. Hai bên, sát tường là các bàn nước đặt dọc ở trên nền cao gần cả mét và đầu kia là một sân khấu nhỏ. Các hình thức, chi tiết nội thất thể hiện như trong một chiếc tàu biển: - những mỏ neo treo lủng lẳng, sợi dây thừng giăng đong đưa, chiếc vô lăng như bánh xe luân hồi to đùng gắn cuối phòng, các ô cửa tròn và các nữ tiếp viên xinh đẹp, phơi phới với trang phục như lính hải quân váy cực ngắn, đang rộn ràng trò chuyện với khách. Mật độ trang bị nội thất và con người nơi đây khá cao. Vì đi với gia đình nên chúng tôi tìm một nơi yên ổn, kín đáo ở góc cuối phòng và nhờ vậy tôi có thể quan sát được rộng và đầy đủ.
Giờ hát với nhau đã đến, tiếng nhạc phát ra từ máy chợt tắt, tiếng cười nói giảm đi, một số lớn khách đã đổi tư thế ngồi, quay về hướng sân khấu, không khí tỉnh lại. Một MC nam đẹp trai, tuổi trên 35 bước ra sân khấu, rất tự tin và tươi cười chào khán phòng, cùng lúc ban nhạc với vài nhạc công cũng tiến đến nhạc cụ. Sau phần giới thiệu vào đầu chương trình ca nhạc hằng đêm của quán, một khúc nhạc intro trổi lên như là thứ nhạc thiều riêng, với âm lượng vừa phải và giai điệu rumba khoan thai quen thuộc, tôi cảm thấy thật dễ chịu. MC vào đề rất tự nhiên, hàng loạt từ hoa mỹ được tung ra để giới thiệu một ca khúc với tốc độ chóng mặt, tôi há hốc theo dõi với chút kính nể khả năng phát thanh trôi chảy như thuộc bài của chàng MC này. Mặc dù đã nói rất dài nhưng tôi vẫn chưa đoán được bài hát tên gì, chỉ biết rằng đó là một chuyện tình lâm ly bi đát. Quay lại Sơn tôi hỏi:
– Chàng này ở đâu ra vậy?
– Tên là HT, em có quen, làm ở nhà văn hóa quận X. chuyên hướng dẫn các chương trình, ảnh mời em đến đây.- Sơn trả lời.
…. Và có dài thì cũng phải có đoạn kết, đó là bài “hoa sứ nhà nàng”… một chàng tướng to, khỏe cở anh Vọi trong “trống mái” của Khái Hưng, mặc chiếc áo rất hoa lá cành, ôm sát người, phơi lồ lộ những cơ bắp! rời bar rượu từ từ tiến lên sân khấu với dáng vẻ hiên ngang như đi chiến đấu, khán giả vỗ tay nồng nhiệt, một tín hiệu sinh động, lạc quan khởi đầu, mấy đứa nhỏ con tôi và con Sơn thích chí vỗ tay hưởng ứng theo. Tôi thấy lùng bùng hai tai. Có lẽ chàng này đi rất sớm và đã kiếm ngay xuất đầu tiên.
Câu vô đề -“đêm đêm ngưởi mùi h… mùi hương của nhà nàng” thấy lạnh cả người, một chất giọng eo ẻo, pha cải lương đúng chất với bài hát nhưng không tương ứng với tướng mạo của chàng lực sĩ tí nào, chàng say sưa, rên rĩ diễn tả nỗi đau khổ, có thể xếp vào bậc thầy của sến …không khí khán phòng tỏ ra nhẫn nại, chia xẻ, chờ phút cáo chung của khúc bi ca, thế nhưng kết cục lại có hậu với tràng pháo tay như pháo tết và vài tiếng huýt sáo inh tai, anh “Vọi” một lần nữa hiên ngang trở về bar rượu. MC lại xuất hiện, rất hào hứng và chợt xuống giọng ra vẻ triết lý cao siêu đầy kịch tính, nói về thân phận con người giữa cuộc đời ô trọc này…Một lần nữa tôi được chứng kiến tài nghệ của MC - đúng là một cao thủ, chữ nghĩa có thừa, - à, thì ra là một bài hát của Trịnh Công Sơn, bài “phúc âm buồn”. Một cô gái khoảng hai mươi lăm, mặt đầy đặn, mắt đeo cặp kính cận nặng, bước lên sân khấu..” người nằm co, như loài thú, khi mùa đông về...người nằm yên không kêu than chết trên căn phần…người còn đứng như tượng đá…” khán phòng trầm lắng, một chút chùng lòng vì lời hát thấm sâu, chất giọng alto khoẻ khoắn, đầy dẫn dụ ngọt ngào, bài hát được kết thúc với sự ngưỡng mộ trân trọng. Và không khí như nóng lên khi MC giới thiệu một tay chơi gầy gò, mặc bộ Jean rách rưới bạc phết màu, điệu twist được trổi lên với bài “60 năm cuộc đời”, tôi chợt nhớ đến giai điệu kích động được phổ biến, ngự trị trong các vũ trường và các phòng trà Sài gòn trong thập niên 60 với chiếc quần ống túm là biểu tượng. “…ới..ới đời sống là thế không là bao, em ơi có bao nhiêu 60 năm…” Chàng trai vừa hát vừa lắc theo twist rất điệu nghệ, thỉnh thoảng chàng ứ…ứ nghe rất bốc (không thua gì Hùng Cường). Các nhạc công được dịp cũng xã hết công suất. Những bạn trẻ bị cuốn hút với những thân hình cựa quậy và tay chân quờ quạng theo, với hậu quả là tiếng pháo tay, la hét dậy trời của đám cuồng nhiệt. Sau trận bị trấn áp ngạt thở bằng âm thanh ấy tôi nghe ê ẩm cả người, đến nhân vật thứ tư tôi không còn đủ sinh lực chăm chú theo dõi mà quay về nói chuyện với gia đình, nhưng lần nữa lại phải quay về hướng sân khấu vì có một chàng trông rất lãng tử không hát mà đang nói điều gì, khán phòng bớt ồn. Nhìn cách ăn mặc có chút lè phè và cách diễn đạt lại lè nhè, tôi cảm nhận chàng là một bợm nhậu hơn là ca sĩ, thử lắng nghe ??!,- thì ra chàng muốn đọc thơ, môt bài thơ tự biên, tự diễn nói về một nghịch lý trong tình yêu mà chàng đã trãi qua. Tôi phải quay người lại để nghe, một cảm giác vừa khó chịu nhưng thích thú; khó chịu vì nơi này đâu phải là chỗ của thơ thẩn, và thích vì đụng đến lãnh vực hảo của mình. Chiến hữu này xem chừng bị lạc lõng nhưng vẫn tự tin, mắt lim dim đầy tâm trạng, chậm rãi và một chút xuất thần, hai câu cuối chàng lại ngẫu hứng ngâm lên nghe thống thiết, bài thơ dài vừa phải, đôi chỗ cảm thấy “phê” vì những ý tứ độc đáo, có thể xếp vào loại khá. Thật ái ngại cho chàng,vì giữa chốn “đạn bom khói lửa” thế này mà dám bay bổng như vậy, nhưng khán giả tỏ ra lịch sự và cho một tràng pháo tay không kém phần nhiệt liệt, một nửa để khích lệ tiết mục lạ, một nửa để tống tiễn cho nhanh?!.
Tưởng bở, chàng thừa thắng xông lên, quyết tâm không chịu rời micro và tiếp tục giới thiệu cho khán giả thưởng thức thêm một tiết mục nữa, lần này chàng hát chứ không phải đọc thơ. Chàng thật can đảm trước một lực lượng “ca sĩ” hùng hậu nộp đơn xin hát đang hăm hở, chờ đợi đến lượt mình, bài thơ vừa rồi đã làm nhụt chí và ngao ngán nhiều tay chơi nhưng chàng nào có hay biết, vẫn ung dung tự tại, bình thản tiếp tục. Bài hát được giới thiệu với tựa đề “ con sông quê hương”- nói về một con sông ở Bình Định của nhạc sĩ Xuân An, thoáng qua tựa bài hát nghe không quen và tác giả càng không biết, có chăng một nhận xét là chàng này thích hàng lạ, chỉ trình diễn những cái người khác chưa biết. Vẫn hào hứng và tự tin, sau khi dặn dò, chỉ vẽ các nhạc công, tiếng nhạc trổi lên, chàng cất tiếng ca: - “ bình thường, bình thường thôi bạn ơi…” rất hồn nhiên và lạc quan.-“ vẫn núi giăng mây, vẫn lúa xanh đôi bờ…”. Đến đây thì tôi thấy ngờ ngợ, bài hát hình như đã nghe đâu đó, giai điệu và tiết tấu nhẹ nhàng, tha thiết, ca từ đơn giản, gần gủi, một air nhạc xưa cũ ?! bài viết theo nhịp 2/4, không trang trọng, tươi vui, thướt tha cho những dòng sông theo kiểu valse như “blue Danube”, “Danube waves” hoặc “dòng An Giang” cũng không hào hùng như “Bạch Đằng Giang” hay “Sông Lô”. Tôi cố suy nghĩ để tìm những yếu tố quen thuộc của bài hát, nhưng sinh hoạt ồn ào kiểu này thật khó mà moi lại ký ức, đang miên man tôi chợt nghe Sơn lẩm bẩm – Uả, bài này của anh Phước Liên viết về con sông Dinh đây mà. Vừa lúc ấy tôi chớt nhớ ra tựa bài hát “Ơi con sông Dinh” và Sơn cũng gật đầu. Chàng ca sĩ rất thiết tha và tôi rời khỏi thực tại “…ơi con sông Dinh yêu thương và tháng ngày em thơ ấu, sớm tối qua cầu dừng chân ngắm xuồng câu, con sông quê hương chảy từ buồng tim của mẹ, ôm con chờ chồng rồi hoá đá vọng phu….” Nhớ lại bài hát này lần đầu tiên tôi biết được là nó xuất hiện trong tập bài hát mà Phước Liên in chung với nhạc sĩ Đỗ Trí Dũng của hội văn học nghệ thuật Khánh Hòa xuất bản, Liên đã gởi tặng tôi trong những năm tháng khi tôi còn mãi mê với những công trình xây dựng ở Đồng Tháp. Sở dĩ tôi nhớ và có ấn tượng với bài này vì lần đầu trong đời tôi thấy được một bài hát viết về con sông Dinh quê mình và tác giả lại là người bạn thân. Khi ấy tôi đã phải viết thư tới Liên với nhiều lời lẽ ca ngợi và cám ơn. Sau đó tôi cứ áy náy hoài về một ý sửa lưng bạn, vì trong bài hát có câu“…Sớm tối qua cầu dừng chân ngắm xuồng câu…” tôi nói đùa rằng - đứng trên cầu Dinh chỉ thấy ghe thôi chứ làm gì có xuồng mà ngắm”, ý tôi muốn nói rằng phương tiện đi trên sông Dinh đoạn ấy người quê mình chỉ gọi bằng ghe. Tôi mạnh dạn nói lên điều này vì Liên là bạn cùng xóm Rượu với mình, không xa lạ với con sông Dinh, có đi đâu cũng phải theo con đường Nguyễn Trường Tộ mà về, có nghĩa là từ thơ ấu đến lúc vào đời, dân xóm Rượu cứ phải đi, về dọc theo sông Dinh nên hình ảnh gì của sông Dinh cũng đều được chứng kiến và khắc sâu vào tâm trí mỗi người. Sau này khi quay về Sài Gòn công tác và Tấn Sơn vào Sài gòn học, anh em ở chung nhà, thỉnh thoảng tôi có nghe Sơn hát và được biết rằng bài hát này khá phổ biến ở Ninh Hòa.
Cứ mãi suy nghĩ về chuyện cũ mà quên thực tại Saigon by night tạp lục, tôi với Sơn còn miên man với chuyện bài hát thì may mắn quá, chàng lãng tử đã nhường sân khấu lại cho MC và người khách được mời lên kế tiếp chính là Tấn Sơn, tôi vội nói với Sơn là sẵn dịp này khéo léo đính chính lại tên và tác giả bài hát mà vị khách vừa rồi nhầm lẫn. Sơn không vội vàng rời chỗ ngồi và như đang do dự điều gì, bình thản một chút, Sơn từ từ bước về sân khấu với phong thái chửng chạc và trịnh trọng tìm một vài lý lẻ hay đẹp giới thiệu bài hát của mình. Bài hát “Xin còn gọi tên nhau” của Trường Sa là bài hát tôi rất thích, cùng những bài hát quí hiếm khác của cùng tác giả như “Mùa thu trong mưa”. Bài này tiết tấu sôi nổi nhưng thiết tha; lúc dồn nén, lúc dàn trãi, tạo một hiệu ứng mạnh mẽ, phải récitatif và nhấn nhá như Lệ Thu mới lột tả hết độ tuyệt cuả nó, nhất là những đoạn cao trào. Khánh Ly tuy mượt mà và ngọt ngào ở bài này nhưng diễn đạt đều quá. Sơn trình bày cũng khá. Tôi đã được nghe Sơn hát nhiều lần nhưng không nhàm chán, có lẽ là một trong những bài ruột của sơn và hình như hôm nay Sơn ưu ái tặng tôi món đặc sản này !? – Nhạc đã hay, lời và nội dung cũng không kém. “ Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng, chiều đông đưa những bước chân đau mòn …còn ai giữa mênh mông đời mình, nỗi đau mù lấp trên tuổi thơ ….. rồi trong mưa gió biết ai vỗ về…..tình trong cơn ngủ mê, rồi phai trong hàng mi.….” Một nỗi đau tình nhẹ nhàng, một đối xử thật vị tha và bao dung với người yêu dù cuộc tình đã vỡ, lúc nào cũng lo toan cho một cánh chim bay xa ….Khán giả vỗ tay rất nhiều khi Sơn hát xong, thế nhưng tôi vẫn cảm thấy điều gì đó đang vướng víu, cả nhà vỗ tay rất dài để ủng hộ gà nhà nhưng tôi lại lơ đễnh cho đến khi Sơn có vài lời đính chính :
- Thành thật cám ơn bạn vừa rồi đã trình bày rất hay bài hát ngợi ca con sông quê hương chúng tôi, chúng tôi rất xúc động vì lâu lắm rồi mới được nghe lại. Tác giả bài hát là người anh cùng xóm với chúng tôi tên là Hình Phước Liên hiện đang sống tại Nha Trang, con sông mà bạn vừa hát tên là sông Dinh chảy qua thị trấn Ninh Hòa một huyện của tỉnh Khánh Hòa, bài hát ấy tên là ”ơi con sông Dinh…”
Sau
những lời nhẹ nhàng phủ nhận toàn bộ cái “trật lất” của bạn một cách tinh vi,
Sơn đã “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Tâm trạng phức tạp, khó chịu trong tôi mới
được giải tỏa, tôi nghĩ rằng - nhiều người, nhất là các bạn trẻ nơi chốn ăn
chơi, náo nhiệt như thế này có mấy ai để ý đến bài hát xa lạ, bình thường hơn
những gì bình thường ấy. Lẽ ra cũng chẳng cần đính chính nhưng sao lúc ấy tôi vẫn
muốn Sơn làm như vậy. Trên đường trở lại chỗ ngồi Sơn ghé nơi vị khách hát nhầm
nói điều gì rất lâu ra bộ vui vẻ, đồng cảm. Tôi thấy mọi việc như vậy là ổn, đã
không xãy ra phiền lụy gì. Sơn về chỗ ngồi, cười mỉm và được vợ con khen nức nở
pha chút khôi hài, con gái tôi rút cành hoa hồng duy nhất đang cắm trên chiếc
bình trang trí đặt trên bàn đưa cho bé Khiêm tặng bố. Tôi định hỏi Sơn về cuộc
kỳ ngộ vừa rồi thì lại thấy một người đi về hướng bàn của mình, nhìn kỹ tôi biết
là chiến hữu ấy đang tìm đến.
- Chào các anh chị, em tên Định, các anh chị đều ở Nha Trang phải không?
- Đúng rồi. Tôi cười trả lời và đưa tay, chàng ra vẻ kính cẩn đưa cả hai tay nắm chặt
- Vừa rồi em giới thiệu tầm bậy quá, cũng may các anh nói cho em biết, chứ hồi giờ em cứ nghĩ bài hát như vậy.
Nghe Định phân trần trong hơi men, tôi vội đỡ lời:
- Vui vẻ như vậy là sướng rồi, có gì quan trọng lắm đâu, ai biết đúng sai ra sao, Định hát hay đấy chứ, ờ mà sao em biết bài hát ấy.
Chàng bắt đầu kể –… hồi em học Đại Học Thủy Sản Nha Trang có thằng bạn ở chung phòng ký túc xá, nó hát bài ấy rất hay và em thích quá nên nhờ nó chỉ em, nó nói xuất xứ bài hát như em giới thiệu trên sân khấu vừa rồi, mình cũng ham vui, hay đi ca hát và bài này là bài ruột của em đấy, anh thấy em hát bài này được không?.
- Tuyệt vời rồi còn gì, nếu chọn là bài ruột thì ráng mà nhớ tên tác giả, tên bài hát, và thuộc lời đầy đủ nhé, lần sau mà còn trật nữa là kêu cảnh sát phạt đấy.
- Định cười huề, xoa xoa vai tôi – tha cho em, như vậy là thuộc nhiều lắm rồi!
- Định hát có hồn lắm, anh nghe mà nhớ nhà, nhớ quê hương Ninh Hòa, hồi học ở ngoài đó Định có ra Ninh Hòa lần nào chưa?
- Em có nghe nói chứ chưa ra ấy bao giờ, tiếc quá!, nghe nói Ninh Hòa đẹp lắm phải không anh? Hình như thằng bạn dạy em bài hát quê đâu ngòai đấy.
Tôi chẳng biết phải trả lời sao với câu hỏi ít vô tư và khá tế nhị này! Định một thoáng nghĩ ngợi bồi thêm một câu rất tâm lý:
– Cảnh vật thiên nhiên và con người Khánh Hòa em thấy đều đẹp cả, các anh chị đúng là người Khánh Hòa, em rất cảm mến…bữa nào em mời mấy anh đi lai rai nói chuyện cho vui, em có mấy chỗ hay lắm.!
Qua tiếp xúc, tôi ghi nhận Định là một con người chân tình, có tâm hồn nhưng ẩn chứa một chút hoang đàng. Rất biết ơn Định vì Định đã quay ngược được dòng suy nghĩ của chúng tôi đến 180 độ trong một khung cảnh khó mà những cảm xúc loại ấy xen vào. Buổi tối hôm ấy trên đường về tôi cứ miên man vô cớ, vùng ký ức đang bị khuấy động, một cảm giác bâng khuâng xen lẫn những hân hoan. Về đến nhà tôi đã phải điện thọai ngay ra NhaTrang để chia xẻ một nỗi niềm rất thực nhưng cũng rất mơ hồ với Hình Phước Liên dù đã gần 11 giờ đêm, đây cũng là cái cớ để tôi liên lạc với Liên và nói một số chuyện vì vài tháng rồi không tin tức về nhau, tôi nghỉ rằng dù có phải bị đánh thức lúc này chắc Liên không trách cứ gì tôi. Và rồi Liên có mặt bên kia đầu dây. Sau những lời chào hỏi như mọi khi, tôi báo cho Liên biết - rất mừng vì đã tìm được hai đĩa cd nhạc hải ngọai mà Liên giới thiệu là album “Dòng sông Kỷ niệm” do Asia phát hành và Lâm Thúy Vân hát, trong đó có bài “phố huyện chiều em nhớ” của Liên và album “Con gái” do Hạ Vy thực hiện, trong đó có 2 bài của Liên là “Hồn nhiên như lá” và “Mưa xanh”, nhận xét chung về những bài hát trên là những cảm xúc nhẹ nhàng, gợi tả thật sinh động về vùng đất kỷ niệm, với nhiều chất Ninh Hòa, rất tiếc bài “Phố huyện chiều em nhớ” giọng Lâm Thúy Vân yếu quá nên nghe không rõ, nhất là ở những nốt xuống thấp, Liên nói - chất giọng như Lâm Thúy Vân rất thích hợp với tính cách bài hát nhưng nếu được Ngọc Lan hát thì hay hơn, giọng Ngọc Lan tuy mong manh nhưng vẫn rõ ràng, có khả năng len lỏi đến tận cùng. Tôi có nói vui với Liên là - bạn chắc đã biết câu danh ngôn “chỉ vì một cái má lúm đồng tiền mà phải cưới nguyên một cô gái “ và ở đây “ chỉ vì một hai bài hát của bạn mà tôi phải mua đến 2 đĩa nhạc đấy nhé…” tôi đã phải nghe tới, nghe lui để thắm thía, để mong tìm kiếm những gì sâu kín, cho đáng đồng tiền bát gạo! (những năm tháng ấy đĩa nhạc CD xuất hiện ở VN chỉ có con đường mang từ nước ngoài về và rất đắt cũng như rất khó kiếm, nhất là những album nhạc không phải nằm trong thị hiếu của của đông đảo người nghe, không phải được copy tại chổ nhiều và rẽ như hiện nay, ngay cả lúc ấy Liên cũng không có những đĩa nhạc trên). Liên kể lại việc ca sĩ Hạ Vy nhân chuyến về thăm quê, muốn tìm một số nhạc phẩm viết về quê hương Khánh Hòa để ra album riêng, sau khi Liên cho nghe một số bài hát, Vy thấy thích nên mang đi và những bài hát ấy xuất hiện ở hải ngọai là do vậy (quê Hạ Vy ở xã Ninh Diêm, Ninh Hòa. Trước khi sang Mỹ, Vy là ca sĩ của đoàn Hải Đăng- Khánh Hòa) . Cuối cùng tôi nói về sự kiện đi ca hát tối nay, Liên lắng nghe tỏ vẻ thích thú, Liên nói rằng bài hát “ơi con Sông Dinh” ra đời khoảng năm 1981. Ðó là một nội dung mà Liên ấp ủ rất lâu, với tâm nguyện rằng mình là người Ninh Hòa, đã sáng tác nhiều bài hát ca ngợi nhiều thứ nhưng chưa viết gì về Ninh Hòa, về sông Dinh là không ổn, khi ấy Liên công tác ở Ninh Hòa và vợ Liên thì đang làm việc ở Nha Trang nên nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ phải vào Nha Trang để ổn định cuộc sống gia đình và ngày đó phải giã từ vùng đất thân yêu, lìa xa con sông Dinh yêu dấu và ý tưởng ấy đã thôi thúc Liên viết nên bài hát. Bài này được trình diễn nhiều lần, nhiều nơi trong các chương trình văn nghệ ở Ninh Hòa và được nhiều người Ninh Hòa trong giai đoạn ấy biết đến.
Liên nói thêm rằng anh Hình Phước Long có viết ca khúc “nhớ sông Dinh” cũng rất hay. Chớp được thông tin đó tôi hỏi dồn - Liên có nhớ lời và hát được không ? Liên với giọng khàn khàn đặc biệt, tuy hát không hay nhưng thường các nhạc sĩ nắm bắt được ý tứ bài hát, có khả năng diễn đạt tinh tế nên khi hát dễ tạo cảm xúc tốt “… có đi là đi trăm nẻo, có vượt là vượt nghìn đèo,vẫn nhớ tới quê hương mình có dòng sông Dinh nho nhỏ, vẫn nhớ bóng tre êm đềm, nghiêng mình soi bóng sông…” , nghe Liên hát tôi cứ ngỡ những lời nhắc nhở của con sông quê. Cũng như Liên, nhạc sĩ Hình Phước Long cũng gởi gấm tâm tư, nỗi lòng của mình, một lúc nào đó sẽ phải ly hương, mang tâm trạng tha phương, tự nhủ lòng luôn nhớ về quê nhà, điều ấy bắt gặp ở câu tâm đắc và chủ đạo nhất của bài hát “ơi con sông Dinh” của Liên, như là thông điệp gửi đến tất cả những người con Ninh Hòa xa xứ. Định vừa rồi đã hát thiếu hoặc sai chỗ nào đó nghe là lạ. Tôi đang ngập ngừng chưa nhớ rõ hết thì Liên tiếp lời bài hát“… nhưng nếu tôi xa dòng nước xanh quê nhà là trọn đời tôi sẽ nghèo đi nỗi nhớ, như con sông phơi bãi cát hoang cằn khô…” thật đúng và ý vị cho sự so sánh này, vì không gì buồn và thất vọng khi thấy dòng sông xinh đẹp ngày nào chỉ còn trơ lên một vùng rong rêu, bùn cát giữa mùa khô hạn, những dáng vẻ thơ mộng, những huyền hoặc vô hình chỉ tồn tại như là sự sống, như là phần hồn khi dòng nước còn hiện diện, còn êm đềm trôi giữa tháng ngày. Ta thử nghĩ một lúc nào đó, những hình ảnh quê nhà sẽ không còn nằm trong dòng chảy của nỗi nhớ thì liệu một cuộc sống đích thực của quãng đời ly hương có tồn tại, thân xác ta như bãi cát của lòng sông phơi trơ, như con sông đã mất đi sự sinh động….Liên im lặng một lúc, rồi nói vu vơ vài ý không ăn nhập gì vào những điều tôi mới gợi lên, có lẽ Liên muốn dấu cảm xúc sâu kín của mình, phải chăng là một thứ hạnh phúc của người trồng hoa, dù chỉ là một thỏang hương nhưng lại rất ngào ngạt tận sâu thẳm tâm hồn, nhất là thứ hương đồng nội đã dễ gợi lên một vùng trời đầy hình ảnh của quê hương và kỷ niệm. Nói về những ca khúc viết về sông Dinh, tôi còn nhớ buổi ra mắt tập thơ “Bóng lá” của Phạm Dạ Thủy ở quán cà phê Phong Lan Ninh Hòa. Cái đêm hôm ấy trời mưa từ buổi chiều nhưng khách mời ở xa vẫn đến đông đủ: - từ Huế, Hà Nội, Nha Trang và tôi về từ Sài Gòn. Với những bài nhận xét tinh tế, bình phẩm thơ rất xúc tích, khá bài bản với nhiều ngợi khen, cổ vũ của những nhà thơ đi trước, có tên tuổi trong giới văn học Khánh Hòa và Việt Nam. Hôm ấy cũng có nhiều giọng ngâm điêu luyện của câu lạc bộ thơ nữ Khánh Hòa làm cho những bài thơ được bay bổng và ngào ngạt hơn. Chắc chắn Phạm Dạ Thủy rất sung sướng và hạnh phúc, vì buổi ra mắt tập thơ như vậy là thành công. Riêng tôi một cảm xúc mạnh mẽ được ghi nhận khi Phạm Dạ Thủy giới thiệu bài thơ “Nhớ quê “ không nằm trong tập thơ vì chị mới viết riêng tặng các bạn trong hội thân hữu Ninh Hòa tại Sài Gòn mà tôi có mặt hôm đó. Baì thơ được nhạc sĩ Hình Phước Liên phổ nhạc rất xuất sắc cũng để riêng tặng tôi cùng vài bạn. Bài hát được ca sĩ Kim Khánh, một ca sĩ có giọng ca “dĩ vãng” như Ánh Tuyết, là ca sĩ nổi tiếng cuả thành phố Nha Trang trình bày. Nôị dung bài hát vẫn trung thành với lời thơ:
“………
Thoắt đó tóc em giờ chớm bạc
Thơ ngây gởi lại cuối trời xưa
Nhớ quê mấy độ buồn em hát
Lời trôi lênh đênh trên sông mưa……
Tháng ngày tơ tưởng dòng sông cũ
Vạt cỏ mềm xanh mướt tuổi thơ
Cánh bướm thắm, con chuồn chuồn đỏ
Bay chập chờn trong những giấc mơ. ……“
Vẫn là dòng sông Dinh lãng đãng trong thơ được âm nhạc chấp cánh bay cao đã tạo một sức truyền cảm gấp nhiều lần. Bài hát thiết tha, đầm ấm, tuy đượm chút buồn của hoài niệm nhưng vẫn là niềm tin yêu, hứa hẹn một ngày mai sáng tươi. Nhạc của Phước Liên thường nghe rất gần gủi nhưng lại rất khó diễn đạt, cách chuyển cung và những luyến láy thật khó chịu cho những ai mớI đụng vào bài hát, phải chuẩn bị và xử lý kỷ bài hát mới mong không lạc và khô cứng. Bài “nhớ quê” cũng vậy, Kim khánh ca không chê vào đâu được nhưng khi tôi đề nghị Tấn Sơn hát bài này trong dịp họp cuối năm 2002 của hội thân hữu Ninh Hòa thì Sơn lại không truyền cảm hơn vì thiếu chuẩn bị, giọng Sơn thì khoẻ mạnh, đầy kỹ thuật nhưng thiếu chất mượt mà, cứ “vô tư” mà hát thì không thể lột tả hết cái tình của bài ca. Chịu khó vuốt ve một tí, đôi chổ sên sến mới đã ! vì âm giai những bài hát của Liên có nhiều chất dân ca. Có thể nói Dạ Thủy đã chọn đúng nhạc sĩ để trao việc phổ nhạc bài thơ ấy và Phước Liên đã chọn đúng ca sĩ để trình bày ca khúc cuả mình. Ngoài Phước Liên, hôm ấy còn có thêm 3 bài thơ được phổ nhạc với 3 nhạc sĩ khác cũng có mặt là Đỗ Trí Dũng - Nha Trang, Huỳnh Liên - Ninh Hòa và một người nữa là anh Tân chủ quán Thiên Thanh ở Lương Sơn nhưng không gây nhiều ấn tượng trong tôi và những bài ấy không dính líu gì với sông Dinh . Trong bữa tiệc văn nghệ “bóng lá” linh đình hôm ấy, món nào cũng ngon lành, nhưng món “nhớ quê” đã thực sự làm tôi khóai khẩu và xúc động, vì món ấy được Dạ Thủy xào nấu bằng nhiều nguyên liệu và gia vị quê nhà, trong đó mặc dù không nói rõ nhưng “nước” của sông Dinh rất tràn đầy, ngọt ngào và thấm đậm. Điểm lại số người sáng tác nhạc cuả Ninh Hòa chỉ cần dùng một bàn tay đã đếm đủ vì đó là lãnh vực không phải ai muốn cũng làm được. Nó đòi hỏi người viết phải có một khả năng, một trình độ nhất định về cảm xúc, về thẩm âm, sự hiểu biết văn học và điều tiên quyết là phải biết nhạc thuật. Chúng ta có thể điểm danh không khó lắm những nhạc sĩ của Ninh Hòa như: Hình Phước Liên, Hình Phước Long, Bảo Anh, Huỳnh Liên và một vài anh em không chuyên khác. Như vậy số bài hát viết về Ninh Hòa cũng không thể nhiều hơn, và ca khúc viết về sông Dinh càng hiếm, chẳng khác nào đãi cát tìm vàng.
Để kết thúc phần này, một lần nữa chúng ta lại cám ơn những người nhạc sĩ đã góp lời ca tiếng hát vào khu vườn văn nghệ của quê hương Ninh Hòa, dù những sáng tác ấy đã có nhưng âm vang bay xa, được nhiều người biết đến hoặc lặng thầm như một lời nguyện cầu thì chúng ta cũng rất trân trọng dành cả tấm lòng theo những cảm xúc của người nghệ sĩ, người con Ninh Hòa viết và ngợi ca về quê nhà.
- Chào các anh chị, em tên Định, các anh chị đều ở Nha Trang phải không?
- Đúng rồi. Tôi cười trả lời và đưa tay, chàng ra vẻ kính cẩn đưa cả hai tay nắm chặt
- Vừa rồi em giới thiệu tầm bậy quá, cũng may các anh nói cho em biết, chứ hồi giờ em cứ nghĩ bài hát như vậy.
Nghe Định phân trần trong hơi men, tôi vội đỡ lời:
- Vui vẻ như vậy là sướng rồi, có gì quan trọng lắm đâu, ai biết đúng sai ra sao, Định hát hay đấy chứ, ờ mà sao em biết bài hát ấy.
Chàng bắt đầu kể –… hồi em học Đại Học Thủy Sản Nha Trang có thằng bạn ở chung phòng ký túc xá, nó hát bài ấy rất hay và em thích quá nên nhờ nó chỉ em, nó nói xuất xứ bài hát như em giới thiệu trên sân khấu vừa rồi, mình cũng ham vui, hay đi ca hát và bài này là bài ruột của em đấy, anh thấy em hát bài này được không?.
- Tuyệt vời rồi còn gì, nếu chọn là bài ruột thì ráng mà nhớ tên tác giả, tên bài hát, và thuộc lời đầy đủ nhé, lần sau mà còn trật nữa là kêu cảnh sát phạt đấy.
- Định cười huề, xoa xoa vai tôi – tha cho em, như vậy là thuộc nhiều lắm rồi!
- Định hát có hồn lắm, anh nghe mà nhớ nhà, nhớ quê hương Ninh Hòa, hồi học ở ngoài đó Định có ra Ninh Hòa lần nào chưa?
- Em có nghe nói chứ chưa ra ấy bao giờ, tiếc quá!, nghe nói Ninh Hòa đẹp lắm phải không anh? Hình như thằng bạn dạy em bài hát quê đâu ngòai đấy.
Tôi chẳng biết phải trả lời sao với câu hỏi ít vô tư và khá tế nhị này! Định một thoáng nghĩ ngợi bồi thêm một câu rất tâm lý:
– Cảnh vật thiên nhiên và con người Khánh Hòa em thấy đều đẹp cả, các anh chị đúng là người Khánh Hòa, em rất cảm mến…bữa nào em mời mấy anh đi lai rai nói chuyện cho vui, em có mấy chỗ hay lắm.!
Qua tiếp xúc, tôi ghi nhận Định là một con người chân tình, có tâm hồn nhưng ẩn chứa một chút hoang đàng. Rất biết ơn Định vì Định đã quay ngược được dòng suy nghĩ của chúng tôi đến 180 độ trong một khung cảnh khó mà những cảm xúc loại ấy xen vào. Buổi tối hôm ấy trên đường về tôi cứ miên man vô cớ, vùng ký ức đang bị khuấy động, một cảm giác bâng khuâng xen lẫn những hân hoan. Về đến nhà tôi đã phải điện thọai ngay ra NhaTrang để chia xẻ một nỗi niềm rất thực nhưng cũng rất mơ hồ với Hình Phước Liên dù đã gần 11 giờ đêm, đây cũng là cái cớ để tôi liên lạc với Liên và nói một số chuyện vì vài tháng rồi không tin tức về nhau, tôi nghỉ rằng dù có phải bị đánh thức lúc này chắc Liên không trách cứ gì tôi. Và rồi Liên có mặt bên kia đầu dây. Sau những lời chào hỏi như mọi khi, tôi báo cho Liên biết - rất mừng vì đã tìm được hai đĩa cd nhạc hải ngọai mà Liên giới thiệu là album “Dòng sông Kỷ niệm” do Asia phát hành và Lâm Thúy Vân hát, trong đó có bài “phố huyện chiều em nhớ” của Liên và album “Con gái” do Hạ Vy thực hiện, trong đó có 2 bài của Liên là “Hồn nhiên như lá” và “Mưa xanh”, nhận xét chung về những bài hát trên là những cảm xúc nhẹ nhàng, gợi tả thật sinh động về vùng đất kỷ niệm, với nhiều chất Ninh Hòa, rất tiếc bài “Phố huyện chiều em nhớ” giọng Lâm Thúy Vân yếu quá nên nghe không rõ, nhất là ở những nốt xuống thấp, Liên nói - chất giọng như Lâm Thúy Vân rất thích hợp với tính cách bài hát nhưng nếu được Ngọc Lan hát thì hay hơn, giọng Ngọc Lan tuy mong manh nhưng vẫn rõ ràng, có khả năng len lỏi đến tận cùng. Tôi có nói vui với Liên là - bạn chắc đã biết câu danh ngôn “chỉ vì một cái má lúm đồng tiền mà phải cưới nguyên một cô gái “ và ở đây “ chỉ vì một hai bài hát của bạn mà tôi phải mua đến 2 đĩa nhạc đấy nhé…” tôi đã phải nghe tới, nghe lui để thắm thía, để mong tìm kiếm những gì sâu kín, cho đáng đồng tiền bát gạo! (những năm tháng ấy đĩa nhạc CD xuất hiện ở VN chỉ có con đường mang từ nước ngoài về và rất đắt cũng như rất khó kiếm, nhất là những album nhạc không phải nằm trong thị hiếu của của đông đảo người nghe, không phải được copy tại chổ nhiều và rẽ như hiện nay, ngay cả lúc ấy Liên cũng không có những đĩa nhạc trên). Liên kể lại việc ca sĩ Hạ Vy nhân chuyến về thăm quê, muốn tìm một số nhạc phẩm viết về quê hương Khánh Hòa để ra album riêng, sau khi Liên cho nghe một số bài hát, Vy thấy thích nên mang đi và những bài hát ấy xuất hiện ở hải ngọai là do vậy (quê Hạ Vy ở xã Ninh Diêm, Ninh Hòa. Trước khi sang Mỹ, Vy là ca sĩ của đoàn Hải Đăng- Khánh Hòa) . Cuối cùng tôi nói về sự kiện đi ca hát tối nay, Liên lắng nghe tỏ vẻ thích thú, Liên nói rằng bài hát “ơi con Sông Dinh” ra đời khoảng năm 1981. Ðó là một nội dung mà Liên ấp ủ rất lâu, với tâm nguyện rằng mình là người Ninh Hòa, đã sáng tác nhiều bài hát ca ngợi nhiều thứ nhưng chưa viết gì về Ninh Hòa, về sông Dinh là không ổn, khi ấy Liên công tác ở Ninh Hòa và vợ Liên thì đang làm việc ở Nha Trang nên nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ phải vào Nha Trang để ổn định cuộc sống gia đình và ngày đó phải giã từ vùng đất thân yêu, lìa xa con sông Dinh yêu dấu và ý tưởng ấy đã thôi thúc Liên viết nên bài hát. Bài này được trình diễn nhiều lần, nhiều nơi trong các chương trình văn nghệ ở Ninh Hòa và được nhiều người Ninh Hòa trong giai đoạn ấy biết đến.
Liên nói thêm rằng anh Hình Phước Long có viết ca khúc “nhớ sông Dinh” cũng rất hay. Chớp được thông tin đó tôi hỏi dồn - Liên có nhớ lời và hát được không ? Liên với giọng khàn khàn đặc biệt, tuy hát không hay nhưng thường các nhạc sĩ nắm bắt được ý tứ bài hát, có khả năng diễn đạt tinh tế nên khi hát dễ tạo cảm xúc tốt “… có đi là đi trăm nẻo, có vượt là vượt nghìn đèo,vẫn nhớ tới quê hương mình có dòng sông Dinh nho nhỏ, vẫn nhớ bóng tre êm đềm, nghiêng mình soi bóng sông…” , nghe Liên hát tôi cứ ngỡ những lời nhắc nhở của con sông quê. Cũng như Liên, nhạc sĩ Hình Phước Long cũng gởi gấm tâm tư, nỗi lòng của mình, một lúc nào đó sẽ phải ly hương, mang tâm trạng tha phương, tự nhủ lòng luôn nhớ về quê nhà, điều ấy bắt gặp ở câu tâm đắc và chủ đạo nhất của bài hát “ơi con sông Dinh” của Liên, như là thông điệp gửi đến tất cả những người con Ninh Hòa xa xứ. Định vừa rồi đã hát thiếu hoặc sai chỗ nào đó nghe là lạ. Tôi đang ngập ngừng chưa nhớ rõ hết thì Liên tiếp lời bài hát“… nhưng nếu tôi xa dòng nước xanh quê nhà là trọn đời tôi sẽ nghèo đi nỗi nhớ, như con sông phơi bãi cát hoang cằn khô…” thật đúng và ý vị cho sự so sánh này, vì không gì buồn và thất vọng khi thấy dòng sông xinh đẹp ngày nào chỉ còn trơ lên một vùng rong rêu, bùn cát giữa mùa khô hạn, những dáng vẻ thơ mộng, những huyền hoặc vô hình chỉ tồn tại như là sự sống, như là phần hồn khi dòng nước còn hiện diện, còn êm đềm trôi giữa tháng ngày. Ta thử nghĩ một lúc nào đó, những hình ảnh quê nhà sẽ không còn nằm trong dòng chảy của nỗi nhớ thì liệu một cuộc sống đích thực của quãng đời ly hương có tồn tại, thân xác ta như bãi cát của lòng sông phơi trơ, như con sông đã mất đi sự sinh động….Liên im lặng một lúc, rồi nói vu vơ vài ý không ăn nhập gì vào những điều tôi mới gợi lên, có lẽ Liên muốn dấu cảm xúc sâu kín của mình, phải chăng là một thứ hạnh phúc của người trồng hoa, dù chỉ là một thỏang hương nhưng lại rất ngào ngạt tận sâu thẳm tâm hồn, nhất là thứ hương đồng nội đã dễ gợi lên một vùng trời đầy hình ảnh của quê hương và kỷ niệm. Nói về những ca khúc viết về sông Dinh, tôi còn nhớ buổi ra mắt tập thơ “Bóng lá” của Phạm Dạ Thủy ở quán cà phê Phong Lan Ninh Hòa. Cái đêm hôm ấy trời mưa từ buổi chiều nhưng khách mời ở xa vẫn đến đông đủ: - từ Huế, Hà Nội, Nha Trang và tôi về từ Sài Gòn. Với những bài nhận xét tinh tế, bình phẩm thơ rất xúc tích, khá bài bản với nhiều ngợi khen, cổ vũ của những nhà thơ đi trước, có tên tuổi trong giới văn học Khánh Hòa và Việt Nam. Hôm ấy cũng có nhiều giọng ngâm điêu luyện của câu lạc bộ thơ nữ Khánh Hòa làm cho những bài thơ được bay bổng và ngào ngạt hơn. Chắc chắn Phạm Dạ Thủy rất sung sướng và hạnh phúc, vì buổi ra mắt tập thơ như vậy là thành công. Riêng tôi một cảm xúc mạnh mẽ được ghi nhận khi Phạm Dạ Thủy giới thiệu bài thơ “Nhớ quê “ không nằm trong tập thơ vì chị mới viết riêng tặng các bạn trong hội thân hữu Ninh Hòa tại Sài Gòn mà tôi có mặt hôm đó. Baì thơ được nhạc sĩ Hình Phước Liên phổ nhạc rất xuất sắc cũng để riêng tặng tôi cùng vài bạn. Bài hát được ca sĩ Kim Khánh, một ca sĩ có giọng ca “dĩ vãng” như Ánh Tuyết, là ca sĩ nổi tiếng cuả thành phố Nha Trang trình bày. Nôị dung bài hát vẫn trung thành với lời thơ:
“………
Thoắt đó tóc em giờ chớm bạc
Thơ ngây gởi lại cuối trời xưa
Nhớ quê mấy độ buồn em hát
Lời trôi lênh đênh trên sông mưa……
Tháng ngày tơ tưởng dòng sông cũ
Vạt cỏ mềm xanh mướt tuổi thơ
Cánh bướm thắm, con chuồn chuồn đỏ
Bay chập chờn trong những giấc mơ. ……“
Vẫn là dòng sông Dinh lãng đãng trong thơ được âm nhạc chấp cánh bay cao đã tạo một sức truyền cảm gấp nhiều lần. Bài hát thiết tha, đầm ấm, tuy đượm chút buồn của hoài niệm nhưng vẫn là niềm tin yêu, hứa hẹn một ngày mai sáng tươi. Nhạc của Phước Liên thường nghe rất gần gủi nhưng lại rất khó diễn đạt, cách chuyển cung và những luyến láy thật khó chịu cho những ai mớI đụng vào bài hát, phải chuẩn bị và xử lý kỷ bài hát mới mong không lạc và khô cứng. Bài “nhớ quê” cũng vậy, Kim khánh ca không chê vào đâu được nhưng khi tôi đề nghị Tấn Sơn hát bài này trong dịp họp cuối năm 2002 của hội thân hữu Ninh Hòa thì Sơn lại không truyền cảm hơn vì thiếu chuẩn bị, giọng Sơn thì khoẻ mạnh, đầy kỹ thuật nhưng thiếu chất mượt mà, cứ “vô tư” mà hát thì không thể lột tả hết cái tình của bài ca. Chịu khó vuốt ve một tí, đôi chổ sên sến mới đã ! vì âm giai những bài hát của Liên có nhiều chất dân ca. Có thể nói Dạ Thủy đã chọn đúng nhạc sĩ để trao việc phổ nhạc bài thơ ấy và Phước Liên đã chọn đúng ca sĩ để trình bày ca khúc cuả mình. Ngoài Phước Liên, hôm ấy còn có thêm 3 bài thơ được phổ nhạc với 3 nhạc sĩ khác cũng có mặt là Đỗ Trí Dũng - Nha Trang, Huỳnh Liên - Ninh Hòa và một người nữa là anh Tân chủ quán Thiên Thanh ở Lương Sơn nhưng không gây nhiều ấn tượng trong tôi và những bài ấy không dính líu gì với sông Dinh . Trong bữa tiệc văn nghệ “bóng lá” linh đình hôm ấy, món nào cũng ngon lành, nhưng món “nhớ quê” đã thực sự làm tôi khóai khẩu và xúc động, vì món ấy được Dạ Thủy xào nấu bằng nhiều nguyên liệu và gia vị quê nhà, trong đó mặc dù không nói rõ nhưng “nước” của sông Dinh rất tràn đầy, ngọt ngào và thấm đậm. Điểm lại số người sáng tác nhạc cuả Ninh Hòa chỉ cần dùng một bàn tay đã đếm đủ vì đó là lãnh vực không phải ai muốn cũng làm được. Nó đòi hỏi người viết phải có một khả năng, một trình độ nhất định về cảm xúc, về thẩm âm, sự hiểu biết văn học và điều tiên quyết là phải biết nhạc thuật. Chúng ta có thể điểm danh không khó lắm những nhạc sĩ của Ninh Hòa như: Hình Phước Liên, Hình Phước Long, Bảo Anh, Huỳnh Liên và một vài anh em không chuyên khác. Như vậy số bài hát viết về Ninh Hòa cũng không thể nhiều hơn, và ca khúc viết về sông Dinh càng hiếm, chẳng khác nào đãi cát tìm vàng.
Để kết thúc phần này, một lần nữa chúng ta lại cám ơn những người nhạc sĩ đã góp lời ca tiếng hát vào khu vườn văn nghệ của quê hương Ninh Hòa, dù những sáng tác ấy đã có nhưng âm vang bay xa, được nhiều người biết đến hoặc lặng thầm như một lời nguyện cầu thì chúng ta cũng rất trân trọng dành cả tấm lòng theo những cảm xúc của người nghệ sĩ, người con Ninh Hòa viết và ngợi ca về quê nhà.
PHẦN 2: NƯỚC TRÔI RA BỂ LẠI QUAY
VỀ NGUỒN
“Bình thường, bình thường thôi bạn ơi….”
Tôi lại mượn một câu nhạc vào đầu của bài ca “ơi con sông Dinh” của Hình Phước Liên để giới thiệu phần viết mới này - trong lãnh vực thi văn.
Đúng vậy! Sông Dinh rất bình thường như bao con sông khác nằm trên giãi đất hình chữ S này. Sông Dinh không rộng, không dài hơn sông Hồng, sông Cửu Long, cũng không thơ mộng hơn sông Hương, sông Cầu. Không tiếng tăm, lẫy lừng như sông Lô, sông Đuống…nói tóm lại sông Dinh rất khiêm tốn trong vị trí địa lý, và cả trên nhiều mặt khác. Thế nhưng đối với người Ninh Hòa nó đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống văn hóa và tinh thần. Nó như “tiếng lòng tôi” của Phạm Duy, như một điểm tựa, là khởi điểm của suy tưởng khi Hòai niệm hoặc muốn diễn họa về Ninh Hòa. Cho nên những sáng tác thơ văn của người Ninh Hòa, từ những người nổi danh, chuyên nghiệp đến những người viết tài tử, viết cho vui khi nói về Ninh Hòa mà không nhắc đến sông Dinh là một thiếu sót lớn lao. Rất tự nhiên phải nghĩ và đề cập đến, có người nhắc đi nhắc lại nhiều lần vẫn chưa thấy thỏa mãn. Thậm chí một dạo, có một người Ninh Hòa là phóng viên của một vài tờ nhật báo ở Sài Gòn lấy tên Sông Dinh làm bút danh để viết báo, để thể hiện tình yêu quê của mình. Để minh chứng cho điều này chúng ta thử tìm hiểu người Ninh Hòa đã nói gì về sông Dinh và sông Dinh có gì để nói. Nhưng trước khi muốn biết mình thì thử xem người ngoài Ninh Hòa nói gì:
- Ngày ấy tôi 14-15 tuổi, học lớp đệ tứ (lớp 9), thầy Đặng Thành Thân là giáo viên văn, người Phú Yên, mới bổ nhiệm về dạy tại trường trung học Ninh Hòa. Buổi học đầu tiên chỉ nói chuyện làm quen, thầy rất đắc nhân tâm với học sinh Ninh Hòa bằng cách nghiên cứu trước những đặc điểm của địa phương, đến lớp thầy nói rất nhiều điều, nhưng điều làm cho tôi ghi nhớ nhất là thầy đọc một bài thơ viết về sông Dinh. Thực sự với lứa tuổi ấy và lần đầu tiên được nghe bài thơ viết về Ninh Hòa tôi rất mê và thán phục, thầy ra vẻ đắc ý, ca ngợi quê hương Ninh Hòa rất giàu đẹp và nên thơ, nghe mà thấy sung sướng và tự hào về quê hương mình. Một thời gian sau tôi được biết những lời thầy Thân nói và bài thơ được trích trong cuốn “xứ trầm hương“ của Quách Tấn, một cuốn sách nói về quê hương Khánh Hòa. Vì Quách Tấn là một nhà thơ của nhóm 4 nhà thơ nổi tiếng của trường thơ Bình Định gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan… và Quách Tấn lại đang công tác tại tòa hành chánh tỉnh Khánh Hòa, phụ trách sọan thảo ”địa phương chí“ nên Quách Tấn có điều kiện để tìm hiểu nhiều về Khánh Hòa. Khi viết “xứ trầm hương” Quách Tấn rất “méo mó nghề nghiệp”.
Tuy không lý lẽ, siêu tưởng như Chế Lan Viên hoặc trữ tình, bi lụy như Hàn Mặc Tử nhưng việc sáng tác văn thơ cho địa chí thì tài nghệ có thừa nên Quách Tấn thường xen lẫn những bài thơ của mình vào để thi vị hóa, tạo hấp dẫn người đọc. Quách Tấn thường lấy bút danh khác hoặc dấu tên, cứ nói lên rằng của những tao nhân, mặc khách, cũa những nhà thơ phiêu lãng nào đó viết nên, khi tình cờ đi qua vùng đất thấy cảnh vật, non nước hữu tình nên đề thơ để lại. Lúc đó tôi rất tin về những giai thoại huyền hoặc và thầm khen người xưa thật lãng mạn, tài tình cùng với quê hương mình cũng thật tuyệt vời . Nhưng ba mươi năm sau ta hãy nghe Quách Tấn thố lộ:-“… Lại một bận khác, một ông bạn khác đến xem bài. Lúc ấy tôi vừa viết xong con sông Cù ở Nha Trang và bước sang con sông Dinh ở Ninh Hòa. Tôi mới viết đến ba ngọn nguồn của con sông và đang nghĩ một bài thơ trang điểm cho phong cảnh nhưng chưa tìm ra ý. Ông bạn xem bài thơ về con sông Nha Trang:
Sông Nha Trang, cát vàng nước lục
Thảnh thơi con cá đục
Lội dọc lội ngang
Đã nguyền cùng em giữ dạ đá vàng
Sao anh nỡ ham tách cà phê đen, ly sữa bò trắng
Mà phụ phàng nước non?!
Bớ anh ơi,
Nét bia Hòn Chữ chưa mòn
Lưỡi gươm rửa hận hãy còn mài trăng.
hỏi tôi: sông Nha Trang có thơ, sông Ninh Hòa chắc cũng có chứ?
ông bạn là người quen biết cũ. Trước kia bị tình phụ thường dùng rượu để giải sầu. Nghe ông bạn hỏi, tôi liền nảy tứ, đáp:
- sông Dinh mà không có thơ thì chợ Ninh Hòa hết người đến uống rượu. Xem đây…
Vừa dứt lời tôi đánh lốc cốc:
Sông Dinh có ba ngọn nguồn
Anh nhớ em băng đèo vượt suối
Nhưng không biết đường đến thăm em
Ghé vô chợ Ninh Hòa
Mua một xâu nem
Một chai rượu trắng
Anh uống cho say mèm để quên nỗi nhớ nhung
Rượu không say
Nghỉ lại ngại ngùng
Con gái mười hai bến nước
Biết thủy chung bến nào?
Nhân câu chuyện xưa của ông bạn mà kéo được nem và rượu là món đặc biệt ở Ninh Hòa vào để trang điểm cho sông Dinh thì thật là thú vị! Tôi nghĩ nếu không có ai đến, hoặc có mà là một người khác chứ không phải ông bạn say rượu vì tình kia, thì liệu có đem được nem và rượu vào làm gia vị cho cảnh sông Dinh không?”. (trên đây là đoạn hồi ký của Quách Tấn khi nhớ lại giai đoạn viết Xứ trầm hương và có bài thơ về sông Dinh mà thầy Thân đã đọc cho học sinh nghe) Như vậy Quách Tấn cũng rất giỏi về quảng cáo, đã khéo léo dùng thủ pháp kết hợp 3 in 1, có bao nhiêu đặc điểm của Ninh Hòa đã lôi tuột vào một bài thơ ngắn, tưởng như rất súc tích, nhẹ nhàng và ý vị. Nhưng thật tội nghiệp và kém may mắn cho cô gái sông Dinh được Quách Tấn mai mối, giới thiệu cho một đệ tử của Lưu Linh quê ở buôn K’hô phải băng rừng vượt suối và trên đường chàng tìm đến nhà người yêu ở cầu Sắt đã đi lạc về xóm Rượu.!? khốn khổ thay chàng đệ tử của Lưu Linh lại mua phải rượu dỏm, uống Hòai không say nên sinh ra cớ sự ngại ngùng như vậy. Con gái Ninh Hòa rất thủy chung nhưng dễ gì chọn anh chàng nát rượu như thế!!!. Tôi có hơi tự ái khi so sánh hai bài thơ viết cho hai dòng sông: - viết cho sông Cù (sông Nha Trang hoặc sông Cái) thì Quách Tấn rất tình tự và hào khí nhưng viết về sông Dinh Ninh Hòa thì cũng có tình đấy, nhưng lại khổ sở và trầy trật quá.! Không nên để tình duyên cô gái sông Dinh lận đận như vậy. (bài thơ này Quách Tấn lấy bút hiệu là Trường Xuyên)
Khá khen Quách Tấn đã gây “ân oán” cho quê hương Khánh Hòa nói chung và Ninh Hòa nói riêng bằng những vần thơ rất lý thú, tuy để phục vụ việc viết biên khảo của mình nhưng để lại trong lòng người đọc Ninh Hòa những dấu ấn khó phai.
Tha nhân như vậy còn người bản xứ thì sao.? Đến đây tôi lại phải bật mí và tạm khóa sổ để công bố một tổng kết: sau hơn 11 tháng theo dõi website ninh-hoa.com ở các mục thơ văn, số “văn, thi sĩ” tham gia là 43 (kể cả thơ văn trong mục các trường học) thì số “văn, thi sĩ” nhắc đến sông Dinh là 27, tỷ lệ là 63%. Tổng số bài thơ, bài văn gửi đến ninh-hoa.com là 198 thì số bài thơ, văn có nhắc đến sông Dinh là 45, tỷ lệ là 23%. Có thi sĩ nhắc đến sông Dinh nhiều lần trong các bài khác nhau của mình như Đường Hào, Nguyễn Văn Thành, Phạm Dạ Thủy, Vinh Hồ .vv,. Có người nói trực diện và đích danh sông Dinh, có người nói gián tiếp qua bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu sự vật rồi mới liên hệ với sông Dinh, có người không nhắc đến tên nhưng vẫn hiểu rằng không sông nào khác hơn là sông Dinh. Qua số liệu như thế chúng ta kết luận được gì.? Đó là chuyện con số, ai hiểu sao thì hiểu, còn chuyện con sông và con người mới là vấn đề cần phải tốn nhiều bút mực. Qua đây chúng ta lại phải tri ân các anh trong website ninh-hoa.com đã xây dựng nên một sân chơi cho người Ninh Hòa. Nhờ sân chơi này đã thu hút, hội tụ được nhiều suy nghĩ, nhiều tâm tư, phản ảnh cho chúng ta khá rõ nét và toàn cảnh những sinh họat nhân văn của người Ninh Hòa. Trang web ngày càng được người Ninh Hòa lưu tâm đón đọc cũng như gởi nhiều bài vở tham gia, đã nói lên tính hấp dẫn và sự quay về những giá trị tinh thần khi có những điều kiện thuận lợi. Qua sự việc trên tôi muốn giải thích ý nghĩa sâu sắc khi mượn câu thơ “nước trôi ra bể lại quay về nguồn” trong bài “thề non nước” của Tản Đà làm đề tựa cho phần này. Tuy bài thơ được viết bởi nhà một nhà thơ, một thầy đồ đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn rất thời sự, đầy lý tính, diễn giải khá tinh tế một sự vận động của thiên nhiên, của đất trời nhưng điều đáng khâm phục lại chính là tấm lòng của một người yêu tổ quốc, ẩn mình sau chuyện nước non. Ta thấy mỗi người con Ninh Hòa sau những thăng trầm, nổi trôi của mệnh nước hoặc một sự chuyển dịch, phát triển tự nhiên đã rời xa quê nhà, đã hóa thân (nói như Trịnh Công Sơn là “xa đời” ). Dù ở một nơi nào trên đất nước VN hoặc ở khắp năm châu bốn biển như là những ngọn nước, những nhánh sông đã lìa xa nguồn cội, nhưng tâm tưởng và nỗi lòng hướng về nước non Ninh Hòa vẫn không phai nhòa. Dù nó mong manh, hư ảo, mỗi người mỗi kiểu, mỗi cảnh: Tây – Tàu, vinh - nhục, giàu – nghèo, thị thành – quê mùa .v..v khác nhau. Hôm nay những ngọn nước, những nhánh sông ấy dồn tụ, chảy về, hiện diện một cách rộn ràng, rất vui vẻ, với chân tình nói lên nỗi lòng của mình về quê hương chẳng khác nào sự “..quay về nguồn” mà Tản Đà đã lên tiếng gần 100 năm trước.
Tôi lại mượn một câu nhạc vào đầu của bài ca “ơi con sông Dinh” của Hình Phước Liên để giới thiệu phần viết mới này - trong lãnh vực thi văn.
Đúng vậy! Sông Dinh rất bình thường như bao con sông khác nằm trên giãi đất hình chữ S này. Sông Dinh không rộng, không dài hơn sông Hồng, sông Cửu Long, cũng không thơ mộng hơn sông Hương, sông Cầu. Không tiếng tăm, lẫy lừng như sông Lô, sông Đuống…nói tóm lại sông Dinh rất khiêm tốn trong vị trí địa lý, và cả trên nhiều mặt khác. Thế nhưng đối với người Ninh Hòa nó đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống văn hóa và tinh thần. Nó như “tiếng lòng tôi” của Phạm Duy, như một điểm tựa, là khởi điểm của suy tưởng khi Hòai niệm hoặc muốn diễn họa về Ninh Hòa. Cho nên những sáng tác thơ văn của người Ninh Hòa, từ những người nổi danh, chuyên nghiệp đến những người viết tài tử, viết cho vui khi nói về Ninh Hòa mà không nhắc đến sông Dinh là một thiếu sót lớn lao. Rất tự nhiên phải nghĩ và đề cập đến, có người nhắc đi nhắc lại nhiều lần vẫn chưa thấy thỏa mãn. Thậm chí một dạo, có một người Ninh Hòa là phóng viên của một vài tờ nhật báo ở Sài Gòn lấy tên Sông Dinh làm bút danh để viết báo, để thể hiện tình yêu quê của mình. Để minh chứng cho điều này chúng ta thử tìm hiểu người Ninh Hòa đã nói gì về sông Dinh và sông Dinh có gì để nói. Nhưng trước khi muốn biết mình thì thử xem người ngoài Ninh Hòa nói gì:
- Ngày ấy tôi 14-15 tuổi, học lớp đệ tứ (lớp 9), thầy Đặng Thành Thân là giáo viên văn, người Phú Yên, mới bổ nhiệm về dạy tại trường trung học Ninh Hòa. Buổi học đầu tiên chỉ nói chuyện làm quen, thầy rất đắc nhân tâm với học sinh Ninh Hòa bằng cách nghiên cứu trước những đặc điểm của địa phương, đến lớp thầy nói rất nhiều điều, nhưng điều làm cho tôi ghi nhớ nhất là thầy đọc một bài thơ viết về sông Dinh. Thực sự với lứa tuổi ấy và lần đầu tiên được nghe bài thơ viết về Ninh Hòa tôi rất mê và thán phục, thầy ra vẻ đắc ý, ca ngợi quê hương Ninh Hòa rất giàu đẹp và nên thơ, nghe mà thấy sung sướng và tự hào về quê hương mình. Một thời gian sau tôi được biết những lời thầy Thân nói và bài thơ được trích trong cuốn “xứ trầm hương“ của Quách Tấn, một cuốn sách nói về quê hương Khánh Hòa. Vì Quách Tấn là một nhà thơ của nhóm 4 nhà thơ nổi tiếng của trường thơ Bình Định gồm Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan… và Quách Tấn lại đang công tác tại tòa hành chánh tỉnh Khánh Hòa, phụ trách sọan thảo ”địa phương chí“ nên Quách Tấn có điều kiện để tìm hiểu nhiều về Khánh Hòa. Khi viết “xứ trầm hương” Quách Tấn rất “méo mó nghề nghiệp”.
Tuy không lý lẽ, siêu tưởng như Chế Lan Viên hoặc trữ tình, bi lụy như Hàn Mặc Tử nhưng việc sáng tác văn thơ cho địa chí thì tài nghệ có thừa nên Quách Tấn thường xen lẫn những bài thơ của mình vào để thi vị hóa, tạo hấp dẫn người đọc. Quách Tấn thường lấy bút danh khác hoặc dấu tên, cứ nói lên rằng của những tao nhân, mặc khách, cũa những nhà thơ phiêu lãng nào đó viết nên, khi tình cờ đi qua vùng đất thấy cảnh vật, non nước hữu tình nên đề thơ để lại. Lúc đó tôi rất tin về những giai thoại huyền hoặc và thầm khen người xưa thật lãng mạn, tài tình cùng với quê hương mình cũng thật tuyệt vời . Nhưng ba mươi năm sau ta hãy nghe Quách Tấn thố lộ:-“… Lại một bận khác, một ông bạn khác đến xem bài. Lúc ấy tôi vừa viết xong con sông Cù ở Nha Trang và bước sang con sông Dinh ở Ninh Hòa. Tôi mới viết đến ba ngọn nguồn của con sông và đang nghĩ một bài thơ trang điểm cho phong cảnh nhưng chưa tìm ra ý. Ông bạn xem bài thơ về con sông Nha Trang:
Sông Nha Trang, cát vàng nước lục
Thảnh thơi con cá đục
Lội dọc lội ngang
Đã nguyền cùng em giữ dạ đá vàng
Sao anh nỡ ham tách cà phê đen, ly sữa bò trắng
Mà phụ phàng nước non?!
Bớ anh ơi,
Nét bia Hòn Chữ chưa mòn
Lưỡi gươm rửa hận hãy còn mài trăng.
hỏi tôi: sông Nha Trang có thơ, sông Ninh Hòa chắc cũng có chứ?
ông bạn là người quen biết cũ. Trước kia bị tình phụ thường dùng rượu để giải sầu. Nghe ông bạn hỏi, tôi liền nảy tứ, đáp:
- sông Dinh mà không có thơ thì chợ Ninh Hòa hết người đến uống rượu. Xem đây…
Vừa dứt lời tôi đánh lốc cốc:
Sông Dinh có ba ngọn nguồn
Anh nhớ em băng đèo vượt suối
Nhưng không biết đường đến thăm em
Ghé vô chợ Ninh Hòa
Mua một xâu nem
Một chai rượu trắng
Anh uống cho say mèm để quên nỗi nhớ nhung
Rượu không say
Nghỉ lại ngại ngùng
Con gái mười hai bến nước
Biết thủy chung bến nào?
Nhân câu chuyện xưa của ông bạn mà kéo được nem và rượu là món đặc biệt ở Ninh Hòa vào để trang điểm cho sông Dinh thì thật là thú vị! Tôi nghĩ nếu không có ai đến, hoặc có mà là một người khác chứ không phải ông bạn say rượu vì tình kia, thì liệu có đem được nem và rượu vào làm gia vị cho cảnh sông Dinh không?”. (trên đây là đoạn hồi ký của Quách Tấn khi nhớ lại giai đoạn viết Xứ trầm hương và có bài thơ về sông Dinh mà thầy Thân đã đọc cho học sinh nghe) Như vậy Quách Tấn cũng rất giỏi về quảng cáo, đã khéo léo dùng thủ pháp kết hợp 3 in 1, có bao nhiêu đặc điểm của Ninh Hòa đã lôi tuột vào một bài thơ ngắn, tưởng như rất súc tích, nhẹ nhàng và ý vị. Nhưng thật tội nghiệp và kém may mắn cho cô gái sông Dinh được Quách Tấn mai mối, giới thiệu cho một đệ tử của Lưu Linh quê ở buôn K’hô phải băng rừng vượt suối và trên đường chàng tìm đến nhà người yêu ở cầu Sắt đã đi lạc về xóm Rượu.!? khốn khổ thay chàng đệ tử của Lưu Linh lại mua phải rượu dỏm, uống Hòai không say nên sinh ra cớ sự ngại ngùng như vậy. Con gái Ninh Hòa rất thủy chung nhưng dễ gì chọn anh chàng nát rượu như thế!!!. Tôi có hơi tự ái khi so sánh hai bài thơ viết cho hai dòng sông: - viết cho sông Cù (sông Nha Trang hoặc sông Cái) thì Quách Tấn rất tình tự và hào khí nhưng viết về sông Dinh Ninh Hòa thì cũng có tình đấy, nhưng lại khổ sở và trầy trật quá.! Không nên để tình duyên cô gái sông Dinh lận đận như vậy. (bài thơ này Quách Tấn lấy bút hiệu là Trường Xuyên)
Khá khen Quách Tấn đã gây “ân oán” cho quê hương Khánh Hòa nói chung và Ninh Hòa nói riêng bằng những vần thơ rất lý thú, tuy để phục vụ việc viết biên khảo của mình nhưng để lại trong lòng người đọc Ninh Hòa những dấu ấn khó phai.
Tha nhân như vậy còn người bản xứ thì sao.? Đến đây tôi lại phải bật mí và tạm khóa sổ để công bố một tổng kết: sau hơn 11 tháng theo dõi website ninh-hoa.com ở các mục thơ văn, số “văn, thi sĩ” tham gia là 43 (kể cả thơ văn trong mục các trường học) thì số “văn, thi sĩ” nhắc đến sông Dinh là 27, tỷ lệ là 63%. Tổng số bài thơ, bài văn gửi đến ninh-hoa.com là 198 thì số bài thơ, văn có nhắc đến sông Dinh là 45, tỷ lệ là 23%. Có thi sĩ nhắc đến sông Dinh nhiều lần trong các bài khác nhau của mình như Đường Hào, Nguyễn Văn Thành, Phạm Dạ Thủy, Vinh Hồ .vv,. Có người nói trực diện và đích danh sông Dinh, có người nói gián tiếp qua bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu sự vật rồi mới liên hệ với sông Dinh, có người không nhắc đến tên nhưng vẫn hiểu rằng không sông nào khác hơn là sông Dinh. Qua số liệu như thế chúng ta kết luận được gì.? Đó là chuyện con số, ai hiểu sao thì hiểu, còn chuyện con sông và con người mới là vấn đề cần phải tốn nhiều bút mực. Qua đây chúng ta lại phải tri ân các anh trong website ninh-hoa.com đã xây dựng nên một sân chơi cho người Ninh Hòa. Nhờ sân chơi này đã thu hút, hội tụ được nhiều suy nghĩ, nhiều tâm tư, phản ảnh cho chúng ta khá rõ nét và toàn cảnh những sinh họat nhân văn của người Ninh Hòa. Trang web ngày càng được người Ninh Hòa lưu tâm đón đọc cũng như gởi nhiều bài vở tham gia, đã nói lên tính hấp dẫn và sự quay về những giá trị tinh thần khi có những điều kiện thuận lợi. Qua sự việc trên tôi muốn giải thích ý nghĩa sâu sắc khi mượn câu thơ “nước trôi ra bể lại quay về nguồn” trong bài “thề non nước” của Tản Đà làm đề tựa cho phần này. Tuy bài thơ được viết bởi nhà một nhà thơ, một thầy đồ đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn rất thời sự, đầy lý tính, diễn giải khá tinh tế một sự vận động của thiên nhiên, của đất trời nhưng điều đáng khâm phục lại chính là tấm lòng của một người yêu tổ quốc, ẩn mình sau chuyện nước non. Ta thấy mỗi người con Ninh Hòa sau những thăng trầm, nổi trôi của mệnh nước hoặc một sự chuyển dịch, phát triển tự nhiên đã rời xa quê nhà, đã hóa thân (nói như Trịnh Công Sơn là “xa đời” ). Dù ở một nơi nào trên đất nước VN hoặc ở khắp năm châu bốn biển như là những ngọn nước, những nhánh sông đã lìa xa nguồn cội, nhưng tâm tưởng và nỗi lòng hướng về nước non Ninh Hòa vẫn không phai nhòa. Dù nó mong manh, hư ảo, mỗi người mỗi kiểu, mỗi cảnh: Tây – Tàu, vinh - nhục, giàu – nghèo, thị thành – quê mùa .v..v khác nhau. Hôm nay những ngọn nước, những nhánh sông ấy dồn tụ, chảy về, hiện diện một cách rộn ràng, rất vui vẻ, với chân tình nói lên nỗi lòng của mình về quê hương chẳng khác nào sự “..quay về nguồn” mà Tản Đà đã lên tiếng gần 100 năm trước.
Một nhà phê bình
văn học có mặt trong đêm ra mắt tập thơ của Phạm Dạ Thủy đã nói: - Người Ninh
Hòa có nhiều khả năng trong lãnh vực sáng tác thơ văn..., một nhà thơ lão thành
nổi tiếng khác, viết lời bạt cho một tập thơ của người Ninh Hòa cũng nói: -
...Ninh Hòa là một trong những địa phương có truyền thống thơ ca... Tôi cảm thấy
thích thú và ngạc nhiên khi nghe những điều này.
Các nhà phê bình đưa ra nhận xét ấy cũng có thể là để lấy lòng người Ninh Hòa. Nhưng ta thử xem xét mặt tích cực của vấn đề. Nếu khách quan và để ý một chút chúng ta sẽ thấy ngay điều này khi mở trang web ninh-hoa.com, chương thơ văn chiếm phần lớn, với số lượng người tham gia và số lượng bài thơ văn không nhỏ. Già, trẻ, bé, lớn đều có mặt. Đó chỉ mới trong một tỷ lệ nhỏ của những người Ninh Hòa có khả năng tham gia trang web vì tiếp cận được phương tiện truyền thông hiện đại. Khi tôi đóng sổ ninh-hoa.com và nắm trong tay “bộ sưu tập” những bài thơ, văn viết về sông Dinh, tôi đã hớn hở, thỏa mãn vì thấy quá đủ dữ liệu để có thể tràng giang, đại hải, nói không thiếu một thứ gì của sông Dinh. Nhưng cứ mỗi tuần lại thấy bài viết về sông Dinh xuất hiện trên ninh-hoa.com, tôi lại thấy mình hớ hênh, xót xa cả ruột gan, không cam lòng mà bỏ qua. Mặc dù chiếc ghe sông Dinh đã chuyển tải rất nặng, rất đầy nhưng tôi không sợ chìm, cứ viết và cứ cập nhật, cứ kéo vào, chèo chống để lội sang bờ. Bên cạnh ấy, chẳng biết có phải do duyên nợ thế nào, tôi được các thi sĩ Ninh Hòa gởi tặng các tập thơ: Lời ru gửi gió (Tường Hoài - xuất bản 8/2003), Sông tạnh (Điềm Ca – xuất bản 3/2001), Mưa nguồn, trầm tích, chim và rêu (Điềm Ca, Hồ Tịnh Vinh Điềm, TP Hoàng Điềm cùng in chung – xuất bản 8/2003) và mới nhất cũng là tập thơ tôi mong đợi - Lời ru sông Dinh (nhiều tác giả - xuất bản 12/2003) thì tôi mới biết sợ và cảnh báo rằng con thuyền mình đang đi sắp gặp giông bão.
Chỉ cần nghe tựa các tập thơ đã thấy chới với. Tính đến cuối năm 2003 tôi đã có trong tay hơn 70 bài thơ, văn, biên khảo nói về sông Dinh, một số lượng đáng nể! Chưa chắc gì những con sông lớn khác trên đất nước Việt Nam có số bài thơ, văn nhắc đến nhiều như vậy. Rất may tôi chỉ chọn chủ đề hạn chế là viết về sông Dinh, chứ tham lam viết rộng hơn về vùng đất Ninh Hòa thì rõ là xem trời bằng vung và chắc sẽ sớm toi mạng vì quá gắng sức hoặc bội thực.!
Vì lẽ gì người Ninh Hòa lại có thiên hướng về văn chương như thế thì đó là điều cần suy ngẫm và tìm hiểu. Người xưa có nói - địa linh sinh nhân kiệt, hoặc nói một kiểu nôm na khác - nơi nào có núi cao, sông sâu thì sinh người tài giỏi. Với quan niệm đó, nếu đúng thì xứ Ninh Hòa đã và sẽ không có nhân vật xuất chúng, nổi tiếng nào ghi trong lịch sử văn học nghệ thuật hoặc lịch sử dựng nước, giữ nước như một số tỉnh bắc trung bộ hoặc miền bắc nước ta. Vì Ninh Hòa không có sông sâu, núi cao.
Sông Dinh không sâu thì dễ biết, độ sâu trung bình của sông Dinh không quá 2 thước, nhưng núi Ninh Hòa không cao thì ta phải so sánh. Chẳng cần phải so sánh với những ngọn núi ở đâu xa, ta chỉ thử lấy 3 ngọn cao nhất của các địa phương chung quanh Ninh Hòa sẽ thấy núi của Ninh Hòa xếp vào hạng thế nào: Vạn Ninh có hòn Chảo (1564m), hòn Chát (1519m), hòn Đại Đa Đa (1709m). Diên Khánh có hòn Giao (2010m), hòn Gia Lo (1812m), hòn Ka Doung (1783m). Cam Ranh có MaRai (2356m), Bakoum (1403m), Ta Lô (1304m). Và Ninh Hòa có hòn Bà ( 1361m), hòn Long (1339m), hòn Giong hay Dung ( 1290m). Như vậy núi Ninh Hòa về độ cao được xếp ở cuối bảng, nên lại không lạc quan lắm cho tiền đồ, tương lai con cháu chúng ta.?!
Thế nhưng như anh Hồ Văn Thinh có nói và phân tích kỹ những đặc điểm địa lý Ninh Hòa trong ninh-hoa.com và kết luận rằng: ”Tất cả những điều nói trên có lẽ đã đủ để chúng ta tin rằng Ninh Hòa là một địa linh.” Thôi thì cứ nói như kiểu Hình Phước Liên là “bình thường, bình thường thôi...” chứ mãi tìm cách chứng minh cho Ninh Hòa là xứ sở địa linh sẽ sản sinh ra những anh hùng hào kiệt hoặc những nhân tài xuất chúng thì quá khứ đã mỏi mắt, còn tương lai thì mờ mịt lắm?!
Thế thì địa linh của Ninh Hòa ảnh hưởng tới người Ninh Hòa ở lĩnh vực nào?. Chắc chắn phải có cơ sở để dẫn dắt ta vào hệ luận đó. Rõ ràng là môi trường khí hậu, vị trí địa lý, địa chất..v.v. và nhiều yếu tố thiên nhiên khác đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh hoạt, tâm tư, tình cảm của con người sống trong môi trường đó. Có những tác động thấy rõ ảnh hưởng, nhưng cũng có những tác động sâu xa, nhẹ nhàng và trừu tượng không phải ai cũng có thể hiểu và lý giải được. Tôi thấy rằng: - Ninh Hòa là vùng đất có nhiều núi xanh bao bọc chung quanh và chính giữa là đồng bằng, trong đó tâm điểm của đồng bằng là nơi hội tụ của ba nguồn sông Dinh. Từ đó nguồn nước chi phối và ảnh hưởng rất đều khắp, nó như quả tim của Ninh Hòa.
Hầu hết những vùng có đồng ruộng và cuộc sống trù phú của đồng bằng Ninh Hòa đều có các nhánh sông Dinh chảy qua: - Đầu nguồn nhánh Đá Bàn thì có Ninh Trung, Ninh Đông. Nhánh kế thì có Ninh Thượng, Ninh Thân, Ninh Phụng. Nhánh sông Cái thì có Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Bình và khi hợp thành sông Dinh thì chảy qua Ninh Hiệp, Ninh Đa, Ninh Giang, Ninh Phú. Nhờ có hệ thống thủy lợi thì nước sông Dinh đã vươn xa hơn như Ninh Quang, Ninh Lộc, Ninh Hà, Ninh Hưng. Như vậy nước sông Dinh mang phù sa đến hầu hết các thôn làng Ninh Hòa, đã nuôi sống ruộng vườn, làm màu mỡ đất đai, tạo sự no ấm cho người dân. Mặc dù đồng bằng Ninh Hòa không rộng lớn nhưng sản lượng thóc lúa, hoa màu vẫn đủ để Ninh Hòa tự túc, kể cả cung cấp cho một số vùng phi nông nghiệp như Ninh Diêm, Ninh Thủy, Ninh Hải…v.v.
Nói một cách khác, hầu như mọi người dân Ninh Hòa được sinh sống, nuôi dưỡng, phát triển bằng hạt gạo lấy từ nước và phù sa của sông Dinh. Nhưng điều đáng nói và liên quan đến nội dung của bài viết là dòng nước sông Dinh đã gợi cảm, đã thấm sâu, đã vun bồi cái tâm thức của người Ninh Hòa tạo thành những chất trữ tình, bởi sự ngọt ngào, hiền lành, êm thơ của dòng nước, của đôi bờ rợp bóng, của bến sông dạt dào, của xóm làng yên vui no ấm, bên cạnh núi xanh chập chùng là mây trời lãng đãng, là gió mát trăng thanh, là mưa dầm gió bấc,.. cùng nhiều thứ khác kết tinh lại. Sông Dinh nói riêng và sông ở miền trung nói chung có nhiều đặc điểm khác với sông ngòi ở miền nam. Mặc dù sông ở miền đồng bằng Cửu Long rộng, sâu, nhiều và chằng chịt nhưng lại không giàu tính “thơ”. Sông nước không có núi non chẳng khác chi con mắt thiếu đi chân mày hoặc lông mi, trông rất trơ trọi .Vì phương tiện giao thông chủ yếu bằng đường sông nên ghe, tàu, và nhiều loại sinh hoạt khác rất nhộn nhịp, dòng sông không bao giờ êm đềm, lắng dịu. Tiếng máy ghe tàu, xuồng dọc, đò ngang, sống vỗ ồn ào xôn xao sông nước, tiếng người í ới bán buôn, vó lưới, giăng câu, các dụng cụ bắt cá lô nhô bến bờ, thậm chí một số vùng có nhà cầu vệ sinh rải rác ven sông, đứng ngồi thoải mái, nước sông không khi nào trong xanh và thường có mùi sình vì con nước ảnh hưởng thủy triều khi ròng, khi lớn. Như vậy làm sao mà nên thơ được.!!
Sự khác biệt đó phải chăng là địa linh của Ninh Hòa, đã sinh ra những người giàu tưởng tượng, dễ xúc động, nhạy cảm và lãng mạn, thích vần điệu, yêu thơ văn. Có phải mọi thứ đó bắt nguồn từ sông Dinh.? Những đặc điểm trên cũng có thể có ở nhiều địa phương khác của Việt Nam nhưng Ninh Hòa vượt trội hơn ở yếu tố nào đó. Tuy không sắc xảo, ồn ào để nổi đình, nổi đám, để thành danh nhân nhưng người Ninh Hòa lại rất tình và điệu nghệ. Nếu Ninh Hòa thực sự có một bản sắc văn hóa riêng thì tôi xin được gọi nó là “văn hóa sông Dinh”.
Người Ninh Hòa không ai là không biết sông Dinh, nhưng biết tường tận về sông Dinh không phải ai cũng dám khẳng định. Khi “địa lý sông Dinh” của tôi xuất hiện trên ninh-hoa.com thì có ngay ý kiến của anh Vinh Hồ rằng -“ Sông Lốt là đoạn đầu nguồn của sông Dinh, có dòng nước trong quanh năm, nên bảo rằng sông Lốt còn gọi là sông Đục là không đúng...” tôi không biết trả lời sao.! mặc dù điều này được in thành sách đã lâu.
Khi tôi viết “vì sông chảy qua trước dinh quan trấn thủ Bình Khang nên người dân gọi là sông Dinh..” thì sau đó tôi tự hỏi - “vậy dinh trấn thủ Bình Khang nằm chổ nào?” tôi lại chào thua!. Chịu khó suy luận cũng chỉ suy được rằng – dinh trấn thủ nằm trên giao lộ của “con đường cái quan” thời xưa ấy, con đường mà cha ông ta đi từ bắc vào nam mở cõi, với dòng sông. Như vậy dinh trấn thủ lẩn quẩn chung quanh cầu Dinh trong phạm vi một bán kính nào đó??!..nằm ở góc rạp Vĩnh Hiệp chăng? Hay vực đất đối diện. Nằm ở chùa Hội Quán hoặc chùa Triều Châu.? hoặc xa hơn nữa là nằm ở chợ Dinh.??! Và cũng chỉ tự nghi vấn vậy thôi. Sau đó tình cờ đọc bài của anh Hồ Văn Thinh lại rất khẳng định trong sử lược Ninh Hòa rằng “dinh Bình Khang nằm bên tả ngạn sông Dinh”. Nghe gợi ý như vậy, đầu tôi sáng lên ngay, nó mở cho tôi một hướng suy luận tích cực - Vì trên đường đi chinh phục ấy, đội quân của thái thú Hùng Lộc do Nguyễn Phúc Tần đề cử dư hiểu tính chiến lược của con sông nên lấy làm phòng tuyến hoặc ranh giới và căn cứ đồn trú chắc chắn phải nằm bên này sông, gần hậu phương miền bắc, để khi rút binh hoặc được chi viện sẽ dễ dàng hơn nên dinh nằm bên tả ngạn là có cơ sở để tin tưởng.
Nếu phải quyết định chọn chính xác nơi nào thì tôi chọn dãi đất góc phần tư từ rạp Vĩnh Hiệp qua phòng văn hoá (chi thông tin cũ), ngược về phía đường Sắt Ninh Đông là nơi đặt dinh, thậm chí trại quân và các bộ máy cai trị khác còn chiếm cứ một vùng kéo dài hơn nữa vì khu vực ấy phần lớn hiện tại là đất công như bệnh viện Ninh Hòa, trường tiểu học Bình Hòa, chùa Hải Nam, trường Pháp Việt (mặc dù trước đó hơn 200 năm, nhưng tính kế thừa về sử dụng đất công vẫn có, tuy bất thành văn nhưng đất công thường chẳng ai dám đụng tới). Vì nơi đó thế đất cao, rộng và bằng phẳng, hướng cửa, mặt tiền của dinh Thái Khang và các công trình phụ trợ khác sẽ được quay mặt về hai hướng tốt với thời tiết, khí hậu của phương nam là đông và nam. Và tốt về quân sự vì hướng đông là con đường và nam là mặt sông, sẽ có tầm quan sát tốt nhất và dễ kiểm soát. Còn một yếu tố nữa cũng rất có cơ sở, cho ta xác định thêm tính đúng đắn của suy đoán trên là - con đường Trần Quí Cáp - trục lộ xương sống qua thị trấn Ninh Hòa tương đối thẳng nhưng không hiểu vì sao - từ chợ Ninh Hòa qua cầu Dinh vừa xuống dốc phải quẹo phải một góc khá lớn rồi mới tiếp tục đi thẳng, có phải chăng là vì dinh trấn thủ án ngữ bên cạnh trái nên có một qui định (lệnh) của dinh trấn hoặc nể sợ khu vực dinh nên người dân khi qua lại trước dinh phải né xa, tạo một hướng đi khác như thế. Phải có một lý do mạnh mẽ nào đó mới bẻ lệch nổi con đường cái quan như vậy?!. Qua đó chúng ta thấy rằng - lịch sử hình thành sông Dinh nói riêng và vùng đất Ninh Hòa nói chung vẫn còn có nhiều bí ẩn.
Việc phân tích, mổ xẻ sự kiện lịch sử trên nhằm lý giải chữ “Dinh” mà người dân Ninh Hòa qua bao đời, đã được nghe từ khi mới lọt lòng cho đến lúc lìa đời mà không có một cơ hội thắc mắc nào. Như vậy những yếu tố của sông Dinh như các tên gọi, sự biến đổi dòng chảy, đổi thay của các lưu vực, các chuyển biến nhân sinh chắc chắn đã không bất động qua thời gian. Rất tiếc các bậc tiền nhân của Ninh Hòa ta đã không có điều kiện để ghi nhớ, để lưu truyền cho đời sau cặn kẻ mà chúng ta chi biết một vài điểm chính yếu và khái quát qua sử lược Việt Nam. Cũng may chữ “Dinh” có một tính gợi hình và hàm ý rất cao để chúng ta còn dựa vào đó để truy nguyên, mà tìm ra lý lẽ như trên.
Như tựa của bài viết “sông Dinh qua thi ca” thì ý tôi chỉ mô tả, nói những đặc điểm, phân tích những sự việc và kể chuyện sông Dinh bằng thơ văn của người Ninh Hòa. Tôi trích lọc, hệ thống lại những câu thơ, những đoạn văn có liên quan theo từng nội dung, từng cảnh vật để minh họa về sông Dinh, kể cả những sử lược hoặc mổ xẻ, phân tích những điều sâu xa như bài kỳ 4, chứ tôi không có tham vọng bình phẩm tất cả thơ văn của người Ninh Hòa viết về sông Dinh, vì làm như vậy chẳng khác nào chuyện “đội đá vá trời”. Làm sao tôi có thể lý giải, kể lể cho hết những uẩn khúc trong tâm tư, tình cảm, nỗi lòng rất phong phú, đa dạng của người Ninh Hòa rung động trước sông nước quê hương. Chỉ làm cách này mới có khả năng giới thiệu đầy đủ những đoạn thơ văn và những tác giả nói về sông Dinh, qua đó tôi muốn biểu dương lực lượng thực sự về mối quan hệ của người Ninh Hòa với sông Dinh. Thậm chí trước ngôn từ, bài vở đông đảo của nền “văn hóa sông Dinh” tôi chỉ cầu mong làm sao nhặt không sót và công bằng trước tình cảm của người Ninh Hòa, dù đó là chữ nghĩa của tác giả chuyên nghiệp hay “tài tử”, bất kể là ai, mong hoàn thành “nhiệm vụ nặng nề “ mà đề tài đặt ra.
Mặc dù người Ninh Hòa viết về sông Dinh rất phong phú và đa dạng nhưng tựu trung tôi phân loại, hệ thống lại với những đề mục chủ yếu theo thứ tự như sau: Ðịa lý, Duyên dáng sông Dinh, Cây cầu, Bến sông, Yêu thương và hoài niệm. Cuối cùng là một chút riêng: - Sông Dinh và tôi.
Ðịa lý:
Viết về địa lý sông Dinh chúng ta có thể tìm đọc bài Ðịa Lý Ninh Hòa của anh Nguyễn Văn Thành trong mục Non Nước Ninh Hòa, qua cung cấp tài liệu của anh Hồ Văn Thinh, hoặc bài “Sông Dinh” của Dương Tấn Long trong mục Cầu Dinh/Cầu Sắt ở trang web ninh-hoa.com.
Dù là con sông quê
nhưng có mấy ai là người Ninh Hòa đã đi qua tất cả 3 nhánh của thượng nguồn
sông Dinh và theo sông ra tận cửa biển. Mỗi người trong khả năng của mình, khi
còn ở quê nhà chỉ có thể biết một phần hoặc vài phần chứ nào dám nhận mình biết
toàn phần và đầy đủ về địa lý sông Dinh. Nhưng nhờ có tài liệu của những nhà
biên khảo cũ về địa chí Khánh Hòa như Quách Tấn, Nguyễn Ðình Tư tôi sưu tập lại,
cùng với lời kể của những người hiểu biết nhiều về sông Dinh hiện tại, cộng với
những bản đồ địa lý Ninh Hòa và bức không ảnh. Tôi nghĩ rằng ngay trên trang
web này và ngày hôm nay người Ninh Hòa có tương đối đầy đủ tài liệu về sông
Dinh. Chúng ta có thể đọc và nhìn sông Dinh một cách tổng thể, có trật tự và dễ
hiểu.
Chúng ta cứ mãi dài dòng văn tự bên địa lý, lịch sử sông Dinh thì Phan Ðông Thức đi theo một con đường êm ả hơn. Viết về địa lý sông Dinh bằng văn xuôi là chuyện thường tình, biết nhiều về sông Dinh và viết hành trình của con sông từ đầu nguồn đến cuối bãi bằng thơ thì quả là một người rất yêu mến, tâm huyết và tài tình. Phan Ðông Thức đã làm được chuyện đó bằng bài thơ dài 32 câu ở ninh-hoa.com. Rất thoải mái cùng người em sông Dinh tung tăng, uốn lượn trên những làng xóm của dải đất Ninh Hòa, mặc kệ ai lý sự, ai kiếm tìm xa xôi:
Em sinh ra giữa Trường Sơn bát ngát
Chảy xuôi về mãi tận biển Ðông....
Chị em tôi họp mặt một giòng sông....
Ðến Khánh Dương thác nguồn cuộn chảy
Về Lam Sơn sóng soải chờ trăng.....
Qua Bến Gành em tên Sông Cái.....
Chào tạm biệt em đổi tên sông Lốt....
Ðến Mỹ Hiệp em tên gọi sông Dinh
Ngoan ngoãn chậm nguồn bên bờ Vĩnh Phú....
Chào Phước Ða chào Mỹ Chánh Thanh Châu.
Giòng sông tình tự
Phan Ðông Thức đã khéo nhân cách hóa, và cũng không cách nào làm cho con sông xinh đẹp, tình tự hơn khi ví nó như người con gái, khi ấy mới diễn đạt được hết sự sinh động và gởi gấm tình cảm của mình vào đó.
Ta cũng thấy những khái lược khác: -
Ba con sông Hòa chung về biển
Giòng sông Dinh lắm bến đợi chờ
Hàng tre nghiêng bóng đôi bờ
Gởi người sông Dinh - Ðổ Anh Tịnh
ba hòn bao bọc giữ quê Ninh
ba nhánh xuôi về một sông Dinh
Giòng Lốt ngợi ca bao chiến tích
Vọng phu ghi tạc những thiên tình
Ninh Hòa - Hồ Văn Thinh
Sông Dinh, sông Lốt, tên sông ấy
Ai đặt chi hai để nặng lòng
Sông ấy - Vinh Hồ
Duyên Dáng Sông Dinh
Giòng sông Dinh
Sóng cũng vỗ thành thơ
Hình ảnh để lại - Hồng Thị Vinh
Sông Dinh như tôi đã viết: “giòng sông Dinh vào mùa khô thì cạn, trong xanh và trôi lững lờ, có những nơi phơi bày cả đáy lòng sông với những bãi cát vàng phẳng mịn, hai bên bờ, những hàng tre xanh và cây vườn soi bóng xuống giòng nước, trông con sông xinh đẹp như người thiếu nữ với những vẻ duyên dáng, hiền hòa...” đúng là giòng sông chỉ đẹp khi đã qua mùa mưa bão. Giòng sông Dinh dịu dàng, êm ả, đã làm vướng bận biết bao tâm hồn. Hình ảnh sông Dinh trôi “lững lờ” là đặc điểm đáng yêu của con sông mà ta bắt gặp trong nhiều ý thơ , hình ảnh ấy thường rơi vào cuối đông đến những ngày xuân tươi thắm họăc nắng hạ rực rỡ và kéo dài đến đầu thu.
Mùa xuân qua, hạ đến
Lững lờ trôi
Giòng sông Dinh, nước sông Dinh
Sông Dinh tình nhớ mãi không nguôi- Ðỗ Công Quý
Sông Dinh lờ lững xuôi giòng chảy
Vẫn hiền như ngày ta đi xa
Với sông Dinh - Phạm Dạ Thủy
Giòng sông “lờ lững” đã tạo một ấn tượng đẹp để Dạ Thủy phải hai lần nhắc đến trong hai bài thơ khác nhau.
Sông Dinh chảy lững lờ trong câu hát
Tắm mát một thời trẻ dại hồn nhiên
Người say quê tôi nem chua rượu bọt
Tôi say quê tôi một nhánh sông hiền
Tình quê - Phạm Dạ Thủy
từ cái lờ lững và dịu dàng ấy, người Ninh Hòa cho rằng sông Dinh “Hiền” là sự suy dẫn hợp tình. Tuy sông Dinh vẫn có lúc “hung dữ” ngắn ngủi, nhưng dù gì thì cái tình vẫn cho người Ninh Hòa luôn cảm nhận cái hiền của sông Dinh là cố hữu.
Giòng sông Dinh hiền như một câu thơ
Ai phổ nhạc hát lên lời yêu mến
Ninh Hòa - Trần Việt Kỉnh
Lặng lẽ sông Dinh
Dâng bờ xanh ngút ngát
Cánh chim chiều tím một dáng núi xa
Ninh Hòa đoản khúc - Lê Khánh Mai
Hòn Hèo rợp bóng dáng mây che
Sông Dinh nước chảy nhè nhẹ sóng
Quê tôi - Nguyễn Thục
Trải nghìn đời vẫn lặng lẽ như tờ
Sông Dinh chảy mãi ngày đêm trông ngóng
Bất động - Hoàng Thy
Ta cũng thấy Tường Hoài và Vinh Hồ mượn cái lững lờ để làm chất liệu cho tình duyên của mình.
Dòng sông Dinh tháng ngày trôi lờ lững
Nối đôi bờ mấy nhịp cầu duyên
Cho Vĩnh Phú ngàn năm thương Mỹ Hiệp
Miếng trầu cau cho đượm thắm đôi tình
Về thăm Ninh Hòa-Nguyễn Tường Hoài
Chiều chiều ra đứng bến sông
Thương người em gái má hồng Thanh Minh
Phương tôi lờ lặng sông Dinh
Như tình thơ tím- Vinh Hồ
Vào mùa mưa lũ, dòng nước cuồn cuộn chảy, luôn có những khóm lục bình (người Ninh Hòa vẫn thường gọi là cây bèo) trôi theo giòng. Ta hãy nghe Nguyễn Văn Thành kể: -” tôi còn nhớ nước sông Dinh thời ấy có lần lên cao hơn bảy thước, nước đục ngầu chảy mạnh mang theo nhiều lục bình và cây cối trôi cuồn cuộn theo giòng nước lũ ...”. Qua mùa mưa lũ ấy, những khóm lục bình lưu lạc, cư ngụ dọc bến bờ đã để lại nhiều cảm xúc:
Bạn bè ơi
Xin gởi cho tôi
Một cánh lục bình trôi trên sông Dinh
tôi lớn lên theo nhịp thở của Ninh Hòa - Trương thị Ninh Hòa
Bèo sông Dinh trông đẹp lắm
Tím xanh nụ vàng nhè nhẹ trôi
Ðầy sông bèo nổi đưa theo gió
Bèo sông Dinh - Nguyễn Phương Linh
Bến sông Dinh một ngày ta trở lại
Ðã không còn những cánh lục bình xanh
ngày trở lại Sông Dinh - Nam Kha
Sóng lăn tăn tít tắp xa bờ
Khóm lục bình gió đùa nghiêng ngã
Trên bờ sông Dinh - Nam Kha
Cũng cầu Dinh với giòng nước hữu tình
Giữa giòng hoa tím lục bình dễ thương
Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết
Ước nào hái được bèo sông Dinh
Nhưng giữa sông hoa bèo nằm ngắm nắng
Tím xanh nụ vàng nhè nhẹ trôi
Bèo sông Dinh - Nguyễn Phương Linh
Nhưng khi giòng nước êm ả, lững lờ trôi mà mang theo lục bình là có sự bất thường nào đó? một bến sông nào bị khuấy động hay là cơn mưa mùa lướt qua thị trấn đã làm xôn xao mặt nước?
Bến nước sông Dinh lục bình trôi lặng lẽ
Trên giọt mưa mùa qua phố quạnh hiu
Khu phố cũ- Linh Vũ
Mưa rơi tầm tả gió thổi nhẹ
Hiu quạnh gió đưa bèo sông Dinh
Ninh Hòa Phong Vũ - Nguyễn Phương Linh
Thân phận lạc loài, vô định của một loài hoa tím, nằm trên giai điệu lững lờ không biết trôi dạt về bờ bến nào, đó là hình ảnh thơ và đẹp nhất của sông Dinh!
Nắng chiều
Hắt xuống sông Dinh nhợt nhạt
Cây cầu cũ
Giờ vắng bóng người qua
Nước lững lờ trôi đưa những lục bình tím ngắt
Dạt về đâu
Trong mơ- Ðỗ Thảo Nguyên
Nhưng ban đêm, Quan Dương còn nhìn thấy được lục bình trôi cũng là một điều kỳ lạ - “...tôi ngồi với nàng suốt đêm bên bờ sông Dinh đề chờ trời sáng. Giòng nước đen xanh dưới những chòm sao lấp lánh, thấp thoáng một vài đám lục bình trôi dật dờ không biết giạt về đâu..” Lá rụng về cội, chắc chắn hình ảnh ấy cho một cảm giác ghê sợ, nhưng ngồi với nàng thì sẽ thừa can đảm để vượt qua mọi thử thách...
Như bao thị tứ của Việt Nam, thường hình thành và phát triển kề bên một con sông nào đó. Vì phương tiện giao thông xa xưa thích dụng với sông ngòi, con người lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, bám theo nguồn nước để sinh sống:- nước để ăn uống, sinh hoạt, canh tác...kể cả môi trường vi khí hậu và cảnh quan. Thị trấn Ninh Hòa cũng thế, nó gắn liền với sông Dinh vì nguồn nước là chính chứ không trên bến dưới thuyền như một số thị tứ miền Nam, cho nên sông Dinh rất im ắng ngay cả sát chợ Dinh, không nhộn nhịp bán buôn. Hầu như chỉ có chiếc ghe nhỏ bằng tre là phương tiện để đi giăng câu của một ít người ven sông sử dụng, lâu lâu mới xuất hiện. Cho nên qua bao nhiêu bài thơ, văn viết về sông Dinh, hình ảnh chiếc ghe thật hiếm thấy?! một hình tượng đầy tính thi họa cho những vùng sông nước ở địa phương khác lại không cho nhiều ấn tượng trong lòng người Ninh Hòa, thật tiếc thay! có lẽ vì không là phương tiện sinh sống chủ yếu nên người dân Ninh Hòa không chịu chăm chút, yêu quí để ca ngợi hoặc cả dáng hình của chiếc ghe cũng quá đơn giản. Tuy hiếm nhưng vẫn có một đoạn thơ của Nguyễn Từ Chung viết về sông Dinh rất cô đọng, có nhắc đến chiếc thuyền câu.
....mẹ cha còn đó bên bờ sông Dinh
sớm chiều mây phủ vọng phu
Sữa tuôn từ núi ngọt giòng sông sâu
Ðôi bờ bãi lúa nương dâu
Lững lơ giòng nước thuyền câu buông chèo
Bên bờ sông Dinh
Nếu phố chợ Dinh là dung nhan của người con gái thì sông Dinh là mái tóc thề tô điểm cho thị trấn thêm xinh đẹp và duyên dáng, con sông đã làm mềm đi hoặc thướt tha hơn cho sinh hoạt chợ Dinh và thị trấn Ninh Hòa
Sông Dinh như thoáng buồn vương
Chút gì thiếu nữ phố phường chiều hôm
Ninh Hòa - Ngô Quang Trung
Sông Dinh hiền hòa năm tháng
Thị trấn vươn mình phố rợp hoa
Ninh Hòa tự khúc - Phạm Duy Tân
Phố chợ và con sông Hòa quyện như bóng với hình.
Quê tôi thị trấn bên dòng
Sông Dinh xanh bóng phố hồng cánh mây
Ninh Hòa sông Dinh quê tôi - Ðổ Công Quí
Dòng sông Dinh vắt ngang qua phố
Con nước hiền như người dân quê tôi
Tình quê - Phạm Dạ Thủy
Trăng đợi sông Dinh phố ngẩn ngơ
Buồng tim nước tưới ruộng đôi bờ
Ðây sông Dinh - Ðiềm Ca
Ðặc điểm của sông Dinh là dọc hai bờ những hàng tre rợp bóng, tre từng hàng, từng khóm xanh rì, kéo dài ngút ngàn, ôm ấp những xóm làng và nghiêng ngã trên sông. Giòng sông Dinh hữu tình và thâm trầm cũng vì đặc điểm này. Tre chạy từ thượng nguồn đến tận hạ lưu. Ngay như khi ngang qua thị trấn Ninh Hòa, nơi phố thị với nhiều nhà cửa nhưng đứng trên cầu Dinh ta vẫn thấy một màu xanh chập chùng. Ta nghe Thụy Nguyên mô tả: ”dọc hai bên sông Dinh là những bụi tre mọc tương đối chằng chịt xen lẫn vài tàng cây cổ thụ to lớn...” bên chân cầu sắt - Thụy Nguyên.
Cùng với bao nhiêu lời thơ mô tả về đặc điểm này
Con sông hiền như em gái quê hương
Tre tỏa bóng đôi bờ xanh mát
Con nước đầy vơi hoa mua tím ngát
Da em trắng ngần bởi tắm nước sông Dinh
Sông Dinh - Nguyễn Gia Nùng
Sông Dinh xanh biếc đôi bờ
Hàng tre soi bóng nghiêng thơ vào lòng
Ði qua mấy nhịp cầu cong
Nhớ sông Dinh - Phạm Duy Tân
Con sông Dinh dập dềnh sóng gợn
Hàng tre xanh lả ngọn trên giòng
Còn đó tình yêu - Hồ Dạ Thảo
Nghiêng đời em xuống đời anh
Hàng tre nghiêng bóng sông Dinh mơ màng
Mái chèo nghiêng xuống nhặt khoan.
Nghiêng xuống đời nhau - Tường Hoài
Phút giao mùa, sắc lá tre vàng rơi đầy trên sông cũng dễ gây màu nhung nhớ.
Sông Dinh
Ngày trở gió
Là tre vàng rụng kín giòng trong
Nhà tôi ở ven sông
Mùa xuân vàng hoa cải
Ðừng lỡ sông ơi - Phạm Duy Tân
Cũng như bao vùng sông nước khác, nếu có điều kiện để được thấy ánh trăng phản chiếu trên mặt nước vào những đêm trăng sáng, chắc chắn đó là những hình ảnh đẹp, trăng sông Dinh cũng vậy, chúng ta hãy nghe những người Ninh Hòa có kỷ niệm với hình ảnh ấy mô tả: :- “ánh đèn điện của phố nhỏ Ninh Hòa không đủ sức mạnh lấn áp ánh sáng huyền diệu của trăng như ở đây. Trăng sông Dinh vằng vặc nghiêng mình soi bóng tận đáy nước...” Phùng Phương - trăng quê nhà
Quan Dương với tình cảm của mình, thông qua lăng kính tình yêu nhìn đêm trăng sông Dinh rất tuyệt vời, nhưng trước khi ca ngợi vẫn không quên dùng lý trí nhắc lại điểm yếu của giòng sông: - “những mảng rêu xanh dưới giòng sông Dinh bình thường trông dơ dáy như thế, nhưng có tình yêu vào rồi thì ban đêm nhìn xuống dưới ánh trăng, trông lấp lánh như màu ngọc bích.” -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh.
Tuy không quá thể như Lý Bạch chết vì trăng nhưng rõ ràng cảm giác của đêm trăng trên sông Dinh dưới mỗi góc nhìn khác nhau có những rung động khác nhau đều đẹp.
Trăng lên len lén bên cầu
Sông như e ấp gái quê dậy thì
cợt đùa thoả thích trăng đi
Nguyễn Từ Chung - Bên bờ sông Dinh
Ðường Hào lại có một ghi nhận khác “ Vào những đêm trăng tỏ, ngược hướng dòng sông Dinh người ta có thể nhìn rõ hòn Vọng Phu......Tháng sáu nước sông Dinh cạn như ứ đọng không trôi, từ trên cầu nhìn xuống ánh trăng phản chiếu trên mặt nước sông vẽ thành những mảng trời trắng đen loang lổ...”
Dĩ nhiên không có gì là toàn hảo, người đẹp nào mà không có chút khuyết tật, đôi lúc bị trái gió trở trời. Sông Dinh cũng thế. Có một thời bộ mặt sông Dinh ô uế bởi sinh hoạt của chợ Dinh, một số người thiếu ý thức đem rác ra cầu Dinh đổ thoải mái xuống giòng sông, nước lững lờ trôi mang theo đầy rác rến, ta hãy nghe Quan Dương tả :”...có một quãng thời gian dài tất cả rác rến ngoài chợ đều đổ ập...”. -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh .Nhưng cũng chỉ một thoáng qua, không được người Ninh Hòa ghi nhận nhiều.
Nhưng Ðiềm Ca phát hiện một bất thường khác của sông Dinh, rất lạ! không biết ở thời điểm và đoạn sông Dinh nào?.! Hay do một thất vọng, chán ngán như kiểu người buồn cảnh có vui đâu bao giờ mà nhìn giòng sông hoá bi thương như thế!.
Trời xuân vẩn đục, trăng xuân tái
Ô nhiễm sông Dinh nước trổ hường
khói mù sương - Ðiềm Ca
Tóm lại, duyên dáng sông Dinh có thể được khắc họa bằng hình ảnh :- một giòng sông êm trong trôi lững lờ, dọc hai bên bờ là hàng tre xanh thắm, trên sông điểm vài khóm lục bình, xa xa là một chiếc ghe câu và tận cùng là núi hòn Hèo hoặc núi Vọng Phu có mây trời nhẹ trôi... Mời một họa sĩ nào yêu con sông quê, diễn họa cho ra chân dung ấy....Nếu không có một bức tranh cụ thể thì mong rằng người Ninh Hòa ghi sâu vào tâm tưởng mình con sông Dinh lúc nào cũng xinh đẹp, cái kính lọc tình cảm sẽ không để chút rác rưới, nhơ bẩn thực tế nào lọt qua, hòa lẫn vào cái mỹ quan khi nhớ và hình dung về sông Dinh.
Các nhà phê bình đưa ra nhận xét ấy cũng có thể là để lấy lòng người Ninh Hòa. Nhưng ta thử xem xét mặt tích cực của vấn đề. Nếu khách quan và để ý một chút chúng ta sẽ thấy ngay điều này khi mở trang web ninh-hoa.com, chương thơ văn chiếm phần lớn, với số lượng người tham gia và số lượng bài thơ văn không nhỏ. Già, trẻ, bé, lớn đều có mặt. Đó chỉ mới trong một tỷ lệ nhỏ của những người Ninh Hòa có khả năng tham gia trang web vì tiếp cận được phương tiện truyền thông hiện đại. Khi tôi đóng sổ ninh-hoa.com và nắm trong tay “bộ sưu tập” những bài thơ, văn viết về sông Dinh, tôi đã hớn hở, thỏa mãn vì thấy quá đủ dữ liệu để có thể tràng giang, đại hải, nói không thiếu một thứ gì của sông Dinh. Nhưng cứ mỗi tuần lại thấy bài viết về sông Dinh xuất hiện trên ninh-hoa.com, tôi lại thấy mình hớ hênh, xót xa cả ruột gan, không cam lòng mà bỏ qua. Mặc dù chiếc ghe sông Dinh đã chuyển tải rất nặng, rất đầy nhưng tôi không sợ chìm, cứ viết và cứ cập nhật, cứ kéo vào, chèo chống để lội sang bờ. Bên cạnh ấy, chẳng biết có phải do duyên nợ thế nào, tôi được các thi sĩ Ninh Hòa gởi tặng các tập thơ: Lời ru gửi gió (Tường Hoài - xuất bản 8/2003), Sông tạnh (Điềm Ca – xuất bản 3/2001), Mưa nguồn, trầm tích, chim và rêu (Điềm Ca, Hồ Tịnh Vinh Điềm, TP Hoàng Điềm cùng in chung – xuất bản 8/2003) và mới nhất cũng là tập thơ tôi mong đợi - Lời ru sông Dinh (nhiều tác giả - xuất bản 12/2003) thì tôi mới biết sợ và cảnh báo rằng con thuyền mình đang đi sắp gặp giông bão.
Chỉ cần nghe tựa các tập thơ đã thấy chới với. Tính đến cuối năm 2003 tôi đã có trong tay hơn 70 bài thơ, văn, biên khảo nói về sông Dinh, một số lượng đáng nể! Chưa chắc gì những con sông lớn khác trên đất nước Việt Nam có số bài thơ, văn nhắc đến nhiều như vậy. Rất may tôi chỉ chọn chủ đề hạn chế là viết về sông Dinh, chứ tham lam viết rộng hơn về vùng đất Ninh Hòa thì rõ là xem trời bằng vung và chắc sẽ sớm toi mạng vì quá gắng sức hoặc bội thực.!
Vì lẽ gì người Ninh Hòa lại có thiên hướng về văn chương như thế thì đó là điều cần suy ngẫm và tìm hiểu. Người xưa có nói - địa linh sinh nhân kiệt, hoặc nói một kiểu nôm na khác - nơi nào có núi cao, sông sâu thì sinh người tài giỏi. Với quan niệm đó, nếu đúng thì xứ Ninh Hòa đã và sẽ không có nhân vật xuất chúng, nổi tiếng nào ghi trong lịch sử văn học nghệ thuật hoặc lịch sử dựng nước, giữ nước như một số tỉnh bắc trung bộ hoặc miền bắc nước ta. Vì Ninh Hòa không có sông sâu, núi cao.
Sông Dinh không sâu thì dễ biết, độ sâu trung bình của sông Dinh không quá 2 thước, nhưng núi Ninh Hòa không cao thì ta phải so sánh. Chẳng cần phải so sánh với những ngọn núi ở đâu xa, ta chỉ thử lấy 3 ngọn cao nhất của các địa phương chung quanh Ninh Hòa sẽ thấy núi của Ninh Hòa xếp vào hạng thế nào: Vạn Ninh có hòn Chảo (1564m), hòn Chát (1519m), hòn Đại Đa Đa (1709m). Diên Khánh có hòn Giao (2010m), hòn Gia Lo (1812m), hòn Ka Doung (1783m). Cam Ranh có MaRai (2356m), Bakoum (1403m), Ta Lô (1304m). Và Ninh Hòa có hòn Bà ( 1361m), hòn Long (1339m), hòn Giong hay Dung ( 1290m). Như vậy núi Ninh Hòa về độ cao được xếp ở cuối bảng, nên lại không lạc quan lắm cho tiền đồ, tương lai con cháu chúng ta.?!
Thế nhưng như anh Hồ Văn Thinh có nói và phân tích kỹ những đặc điểm địa lý Ninh Hòa trong ninh-hoa.com và kết luận rằng: ”Tất cả những điều nói trên có lẽ đã đủ để chúng ta tin rằng Ninh Hòa là một địa linh.” Thôi thì cứ nói như kiểu Hình Phước Liên là “bình thường, bình thường thôi...” chứ mãi tìm cách chứng minh cho Ninh Hòa là xứ sở địa linh sẽ sản sinh ra những anh hùng hào kiệt hoặc những nhân tài xuất chúng thì quá khứ đã mỏi mắt, còn tương lai thì mờ mịt lắm?!
Thế thì địa linh của Ninh Hòa ảnh hưởng tới người Ninh Hòa ở lĩnh vực nào?. Chắc chắn phải có cơ sở để dẫn dắt ta vào hệ luận đó. Rõ ràng là môi trường khí hậu, vị trí địa lý, địa chất..v.v. và nhiều yếu tố thiên nhiên khác đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sinh hoạt, tâm tư, tình cảm của con người sống trong môi trường đó. Có những tác động thấy rõ ảnh hưởng, nhưng cũng có những tác động sâu xa, nhẹ nhàng và trừu tượng không phải ai cũng có thể hiểu và lý giải được. Tôi thấy rằng: - Ninh Hòa là vùng đất có nhiều núi xanh bao bọc chung quanh và chính giữa là đồng bằng, trong đó tâm điểm của đồng bằng là nơi hội tụ của ba nguồn sông Dinh. Từ đó nguồn nước chi phối và ảnh hưởng rất đều khắp, nó như quả tim của Ninh Hòa.
Hầu hết những vùng có đồng ruộng và cuộc sống trù phú của đồng bằng Ninh Hòa đều có các nhánh sông Dinh chảy qua: - Đầu nguồn nhánh Đá Bàn thì có Ninh Trung, Ninh Đông. Nhánh kế thì có Ninh Thượng, Ninh Thân, Ninh Phụng. Nhánh sông Cái thì có Ninh Sim, Ninh Xuân, Ninh Bình và khi hợp thành sông Dinh thì chảy qua Ninh Hiệp, Ninh Đa, Ninh Giang, Ninh Phú. Nhờ có hệ thống thủy lợi thì nước sông Dinh đã vươn xa hơn như Ninh Quang, Ninh Lộc, Ninh Hà, Ninh Hưng. Như vậy nước sông Dinh mang phù sa đến hầu hết các thôn làng Ninh Hòa, đã nuôi sống ruộng vườn, làm màu mỡ đất đai, tạo sự no ấm cho người dân. Mặc dù đồng bằng Ninh Hòa không rộng lớn nhưng sản lượng thóc lúa, hoa màu vẫn đủ để Ninh Hòa tự túc, kể cả cung cấp cho một số vùng phi nông nghiệp như Ninh Diêm, Ninh Thủy, Ninh Hải…v.v.
Nói một cách khác, hầu như mọi người dân Ninh Hòa được sinh sống, nuôi dưỡng, phát triển bằng hạt gạo lấy từ nước và phù sa của sông Dinh. Nhưng điều đáng nói và liên quan đến nội dung của bài viết là dòng nước sông Dinh đã gợi cảm, đã thấm sâu, đã vun bồi cái tâm thức của người Ninh Hòa tạo thành những chất trữ tình, bởi sự ngọt ngào, hiền lành, êm thơ của dòng nước, của đôi bờ rợp bóng, của bến sông dạt dào, của xóm làng yên vui no ấm, bên cạnh núi xanh chập chùng là mây trời lãng đãng, là gió mát trăng thanh, là mưa dầm gió bấc,.. cùng nhiều thứ khác kết tinh lại. Sông Dinh nói riêng và sông ở miền trung nói chung có nhiều đặc điểm khác với sông ngòi ở miền nam. Mặc dù sông ở miền đồng bằng Cửu Long rộng, sâu, nhiều và chằng chịt nhưng lại không giàu tính “thơ”. Sông nước không có núi non chẳng khác chi con mắt thiếu đi chân mày hoặc lông mi, trông rất trơ trọi .Vì phương tiện giao thông chủ yếu bằng đường sông nên ghe, tàu, và nhiều loại sinh hoạt khác rất nhộn nhịp, dòng sông không bao giờ êm đềm, lắng dịu. Tiếng máy ghe tàu, xuồng dọc, đò ngang, sống vỗ ồn ào xôn xao sông nước, tiếng người í ới bán buôn, vó lưới, giăng câu, các dụng cụ bắt cá lô nhô bến bờ, thậm chí một số vùng có nhà cầu vệ sinh rải rác ven sông, đứng ngồi thoải mái, nước sông không khi nào trong xanh và thường có mùi sình vì con nước ảnh hưởng thủy triều khi ròng, khi lớn. Như vậy làm sao mà nên thơ được.!!
Sự khác biệt đó phải chăng là địa linh của Ninh Hòa, đã sinh ra những người giàu tưởng tượng, dễ xúc động, nhạy cảm và lãng mạn, thích vần điệu, yêu thơ văn. Có phải mọi thứ đó bắt nguồn từ sông Dinh.? Những đặc điểm trên cũng có thể có ở nhiều địa phương khác của Việt Nam nhưng Ninh Hòa vượt trội hơn ở yếu tố nào đó. Tuy không sắc xảo, ồn ào để nổi đình, nổi đám, để thành danh nhân nhưng người Ninh Hòa lại rất tình và điệu nghệ. Nếu Ninh Hòa thực sự có một bản sắc văn hóa riêng thì tôi xin được gọi nó là “văn hóa sông Dinh”.
Người Ninh Hòa không ai là không biết sông Dinh, nhưng biết tường tận về sông Dinh không phải ai cũng dám khẳng định. Khi “địa lý sông Dinh” của tôi xuất hiện trên ninh-hoa.com thì có ngay ý kiến của anh Vinh Hồ rằng -“ Sông Lốt là đoạn đầu nguồn của sông Dinh, có dòng nước trong quanh năm, nên bảo rằng sông Lốt còn gọi là sông Đục là không đúng...” tôi không biết trả lời sao.! mặc dù điều này được in thành sách đã lâu.
Khi tôi viết “vì sông chảy qua trước dinh quan trấn thủ Bình Khang nên người dân gọi là sông Dinh..” thì sau đó tôi tự hỏi - “vậy dinh trấn thủ Bình Khang nằm chổ nào?” tôi lại chào thua!. Chịu khó suy luận cũng chỉ suy được rằng – dinh trấn thủ nằm trên giao lộ của “con đường cái quan” thời xưa ấy, con đường mà cha ông ta đi từ bắc vào nam mở cõi, với dòng sông. Như vậy dinh trấn thủ lẩn quẩn chung quanh cầu Dinh trong phạm vi một bán kính nào đó??!..nằm ở góc rạp Vĩnh Hiệp chăng? Hay vực đất đối diện. Nằm ở chùa Hội Quán hoặc chùa Triều Châu.? hoặc xa hơn nữa là nằm ở chợ Dinh.??! Và cũng chỉ tự nghi vấn vậy thôi. Sau đó tình cờ đọc bài của anh Hồ Văn Thinh lại rất khẳng định trong sử lược Ninh Hòa rằng “dinh Bình Khang nằm bên tả ngạn sông Dinh”. Nghe gợi ý như vậy, đầu tôi sáng lên ngay, nó mở cho tôi một hướng suy luận tích cực - Vì trên đường đi chinh phục ấy, đội quân của thái thú Hùng Lộc do Nguyễn Phúc Tần đề cử dư hiểu tính chiến lược của con sông nên lấy làm phòng tuyến hoặc ranh giới và căn cứ đồn trú chắc chắn phải nằm bên này sông, gần hậu phương miền bắc, để khi rút binh hoặc được chi viện sẽ dễ dàng hơn nên dinh nằm bên tả ngạn là có cơ sở để tin tưởng.
Nếu phải quyết định chọn chính xác nơi nào thì tôi chọn dãi đất góc phần tư từ rạp Vĩnh Hiệp qua phòng văn hoá (chi thông tin cũ), ngược về phía đường Sắt Ninh Đông là nơi đặt dinh, thậm chí trại quân và các bộ máy cai trị khác còn chiếm cứ một vùng kéo dài hơn nữa vì khu vực ấy phần lớn hiện tại là đất công như bệnh viện Ninh Hòa, trường tiểu học Bình Hòa, chùa Hải Nam, trường Pháp Việt (mặc dù trước đó hơn 200 năm, nhưng tính kế thừa về sử dụng đất công vẫn có, tuy bất thành văn nhưng đất công thường chẳng ai dám đụng tới). Vì nơi đó thế đất cao, rộng và bằng phẳng, hướng cửa, mặt tiền của dinh Thái Khang và các công trình phụ trợ khác sẽ được quay mặt về hai hướng tốt với thời tiết, khí hậu của phương nam là đông và nam. Và tốt về quân sự vì hướng đông là con đường và nam là mặt sông, sẽ có tầm quan sát tốt nhất và dễ kiểm soát. Còn một yếu tố nữa cũng rất có cơ sở, cho ta xác định thêm tính đúng đắn của suy đoán trên là - con đường Trần Quí Cáp - trục lộ xương sống qua thị trấn Ninh Hòa tương đối thẳng nhưng không hiểu vì sao - từ chợ Ninh Hòa qua cầu Dinh vừa xuống dốc phải quẹo phải một góc khá lớn rồi mới tiếp tục đi thẳng, có phải chăng là vì dinh trấn thủ án ngữ bên cạnh trái nên có một qui định (lệnh) của dinh trấn hoặc nể sợ khu vực dinh nên người dân khi qua lại trước dinh phải né xa, tạo một hướng đi khác như thế. Phải có một lý do mạnh mẽ nào đó mới bẻ lệch nổi con đường cái quan như vậy?!. Qua đó chúng ta thấy rằng - lịch sử hình thành sông Dinh nói riêng và vùng đất Ninh Hòa nói chung vẫn còn có nhiều bí ẩn.
Việc phân tích, mổ xẻ sự kiện lịch sử trên nhằm lý giải chữ “Dinh” mà người dân Ninh Hòa qua bao đời, đã được nghe từ khi mới lọt lòng cho đến lúc lìa đời mà không có một cơ hội thắc mắc nào. Như vậy những yếu tố của sông Dinh như các tên gọi, sự biến đổi dòng chảy, đổi thay của các lưu vực, các chuyển biến nhân sinh chắc chắn đã không bất động qua thời gian. Rất tiếc các bậc tiền nhân của Ninh Hòa ta đã không có điều kiện để ghi nhớ, để lưu truyền cho đời sau cặn kẻ mà chúng ta chi biết một vài điểm chính yếu và khái quát qua sử lược Việt Nam. Cũng may chữ “Dinh” có một tính gợi hình và hàm ý rất cao để chúng ta còn dựa vào đó để truy nguyên, mà tìm ra lý lẽ như trên.
Như tựa của bài viết “sông Dinh qua thi ca” thì ý tôi chỉ mô tả, nói những đặc điểm, phân tích những sự việc và kể chuyện sông Dinh bằng thơ văn của người Ninh Hòa. Tôi trích lọc, hệ thống lại những câu thơ, những đoạn văn có liên quan theo từng nội dung, từng cảnh vật để minh họa về sông Dinh, kể cả những sử lược hoặc mổ xẻ, phân tích những điều sâu xa như bài kỳ 4, chứ tôi không có tham vọng bình phẩm tất cả thơ văn của người Ninh Hòa viết về sông Dinh, vì làm như vậy chẳng khác nào chuyện “đội đá vá trời”. Làm sao tôi có thể lý giải, kể lể cho hết những uẩn khúc trong tâm tư, tình cảm, nỗi lòng rất phong phú, đa dạng của người Ninh Hòa rung động trước sông nước quê hương. Chỉ làm cách này mới có khả năng giới thiệu đầy đủ những đoạn thơ văn và những tác giả nói về sông Dinh, qua đó tôi muốn biểu dương lực lượng thực sự về mối quan hệ của người Ninh Hòa với sông Dinh. Thậm chí trước ngôn từ, bài vở đông đảo của nền “văn hóa sông Dinh” tôi chỉ cầu mong làm sao nhặt không sót và công bằng trước tình cảm của người Ninh Hòa, dù đó là chữ nghĩa của tác giả chuyên nghiệp hay “tài tử”, bất kể là ai, mong hoàn thành “nhiệm vụ nặng nề “ mà đề tài đặt ra.
Mặc dù người Ninh Hòa viết về sông Dinh rất phong phú và đa dạng nhưng tựu trung tôi phân loại, hệ thống lại với những đề mục chủ yếu theo thứ tự như sau: Ðịa lý, Duyên dáng sông Dinh, Cây cầu, Bến sông, Yêu thương và hoài niệm. Cuối cùng là một chút riêng: - Sông Dinh và tôi.
Ðịa lý:
Viết về địa lý sông Dinh chúng ta có thể tìm đọc bài Ðịa Lý Ninh Hòa của anh Nguyễn Văn Thành trong mục Non Nước Ninh Hòa, qua cung cấp tài liệu của anh Hồ Văn Thinh, hoặc bài “Sông Dinh” của Dương Tấn Long trong mục Cầu Dinh/Cầu Sắt ở trang web ninh-hoa.com.
Dù là con sông quê
nhưng có mấy ai là người Ninh Hòa đã đi qua tất cả 3 nhánh của thượng nguồn
sông Dinh và theo sông ra tận cửa biển. Mỗi người trong khả năng của mình, khi
còn ở quê nhà chỉ có thể biết một phần hoặc vài phần chứ nào dám nhận mình biết
toàn phần và đầy đủ về địa lý sông Dinh. Nhưng nhờ có tài liệu của những nhà
biên khảo cũ về địa chí Khánh Hòa như Quách Tấn, Nguyễn Ðình Tư tôi sưu tập lại,
cùng với lời kể của những người hiểu biết nhiều về sông Dinh hiện tại, cộng với
những bản đồ địa lý Ninh Hòa và bức không ảnh. Tôi nghĩ rằng ngay trên trang
web này và ngày hôm nay người Ninh Hòa có tương đối đầy đủ tài liệu về sông
Dinh. Chúng ta có thể đọc và nhìn sông Dinh một cách tổng thể, có trật tự và dễ
hiểu.Chúng ta cứ mãi dài dòng văn tự bên địa lý, lịch sử sông Dinh thì Phan Ðông Thức đi theo một con đường êm ả hơn. Viết về địa lý sông Dinh bằng văn xuôi là chuyện thường tình, biết nhiều về sông Dinh và viết hành trình của con sông từ đầu nguồn đến cuối bãi bằng thơ thì quả là một người rất yêu mến, tâm huyết và tài tình. Phan Ðông Thức đã làm được chuyện đó bằng bài thơ dài 32 câu ở ninh-hoa.com. Rất thoải mái cùng người em sông Dinh tung tăng, uốn lượn trên những làng xóm của dải đất Ninh Hòa, mặc kệ ai lý sự, ai kiếm tìm xa xôi:
Em sinh ra giữa Trường Sơn bát ngát
Chảy xuôi về mãi tận biển Ðông....
Chị em tôi họp mặt một giòng sông....
Ðến Khánh Dương thác nguồn cuộn chảy
Về Lam Sơn sóng soải chờ trăng.....
Qua Bến Gành em tên Sông Cái.....
Chào tạm biệt em đổi tên sông Lốt....
Ðến Mỹ Hiệp em tên gọi sông Dinh
Ngoan ngoãn chậm nguồn bên bờ Vĩnh Phú....
Chào Phước Ða chào Mỹ Chánh Thanh Châu.
Giòng sông tình tự
Phan Ðông Thức đã khéo nhân cách hóa, và cũng không cách nào làm cho con sông xinh đẹp, tình tự hơn khi ví nó như người con gái, khi ấy mới diễn đạt được hết sự sinh động và gởi gấm tình cảm của mình vào đó.
Ta cũng thấy những khái lược khác: -
Ba con sông Hòa chung về biển
Giòng sông Dinh lắm bến đợi chờ
Hàng tre nghiêng bóng đôi bờ
Gởi người sông Dinh - Ðổ Anh Tịnh
ba hòn bao bọc giữ quê Ninh
ba nhánh xuôi về một sông Dinh
Giòng Lốt ngợi ca bao chiến tích
Vọng phu ghi tạc những thiên tình
Ninh Hòa - Hồ Văn Thinh
Sông Dinh, sông Lốt, tên sông ấy
Ai đặt chi hai để nặng lòng
Sông ấy - Vinh Hồ
Duyên Dáng Sông Dinh
Giòng sông Dinh
Sóng cũng vỗ thành thơ
Hình ảnh để lại - Hồng Thị Vinh
Sông Dinh như tôi đã viết: “giòng sông Dinh vào mùa khô thì cạn, trong xanh và trôi lững lờ, có những nơi phơi bày cả đáy lòng sông với những bãi cát vàng phẳng mịn, hai bên bờ, những hàng tre xanh và cây vườn soi bóng xuống giòng nước, trông con sông xinh đẹp như người thiếu nữ với những vẻ duyên dáng, hiền hòa...” đúng là giòng sông chỉ đẹp khi đã qua mùa mưa bão. Giòng sông Dinh dịu dàng, êm ả, đã làm vướng bận biết bao tâm hồn. Hình ảnh sông Dinh trôi “lững lờ” là đặc điểm đáng yêu của con sông mà ta bắt gặp trong nhiều ý thơ , hình ảnh ấy thường rơi vào cuối đông đến những ngày xuân tươi thắm họăc nắng hạ rực rỡ và kéo dài đến đầu thu.
Mùa xuân qua, hạ đến
Lững lờ trôi
Giòng sông Dinh, nước sông Dinh
Sông Dinh tình nhớ mãi không nguôi- Ðỗ Công Quý
Sông Dinh lờ lững xuôi giòng chảy
Vẫn hiền như ngày ta đi xa
Với sông Dinh - Phạm Dạ Thủy
Giòng sông “lờ lững” đã tạo một ấn tượng đẹp để Dạ Thủy phải hai lần nhắc đến trong hai bài thơ khác nhau.
Sông Dinh chảy lững lờ trong câu hát
Tắm mát một thời trẻ dại hồn nhiên
Người say quê tôi nem chua rượu bọt
Tôi say quê tôi một nhánh sông hiền
Tình quê - Phạm Dạ Thủy
từ cái lờ lững và dịu dàng ấy, người Ninh Hòa cho rằng sông Dinh “Hiền” là sự suy dẫn hợp tình. Tuy sông Dinh vẫn có lúc “hung dữ” ngắn ngủi, nhưng dù gì thì cái tình vẫn cho người Ninh Hòa luôn cảm nhận cái hiền của sông Dinh là cố hữu.
Giòng sông Dinh hiền như một câu thơ
Ai phổ nhạc hát lên lời yêu mến
Ninh Hòa - Trần Việt Kỉnh
Lặng lẽ sông Dinh
Dâng bờ xanh ngút ngát
Cánh chim chiều tím một dáng núi xa
Ninh Hòa đoản khúc - Lê Khánh Mai
Hòn Hèo rợp bóng dáng mây che
Sông Dinh nước chảy nhè nhẹ sóng
Quê tôi - Nguyễn Thục
Trải nghìn đời vẫn lặng lẽ như tờ
Sông Dinh chảy mãi ngày đêm trông ngóng
Bất động - Hoàng Thy
Ta cũng thấy Tường Hoài và Vinh Hồ mượn cái lững lờ để làm chất liệu cho tình duyên của mình.
Dòng sông Dinh tháng ngày trôi lờ lững
Nối đôi bờ mấy nhịp cầu duyên
Cho Vĩnh Phú ngàn năm thương Mỹ Hiệp
Miếng trầu cau cho đượm thắm đôi tình
Về thăm Ninh Hòa-Nguyễn Tường Hoài
Chiều chiều ra đứng bến sông
Thương người em gái má hồng Thanh Minh
Phương tôi lờ lặng sông Dinh
Như tình thơ tím- Vinh Hồ
Vào mùa mưa lũ, dòng nước cuồn cuộn chảy, luôn có những khóm lục bình (người Ninh Hòa vẫn thường gọi là cây bèo) trôi theo giòng. Ta hãy nghe Nguyễn Văn Thành kể: -” tôi còn nhớ nước sông Dinh thời ấy có lần lên cao hơn bảy thước, nước đục ngầu chảy mạnh mang theo nhiều lục bình và cây cối trôi cuồn cuộn theo giòng nước lũ ...”. Qua mùa mưa lũ ấy, những khóm lục bình lưu lạc, cư ngụ dọc bến bờ đã để lại nhiều cảm xúc:
Bạn bè ơi
Xin gởi cho tôi
Một cánh lục bình trôi trên sông Dinh
tôi lớn lên theo nhịp thở của Ninh Hòa - Trương thị Ninh Hòa
Bèo sông Dinh trông đẹp lắm
Tím xanh nụ vàng nhè nhẹ trôi
Ðầy sông bèo nổi đưa theo gió
Bèo sông Dinh - Nguyễn Phương Linh
Bến sông Dinh một ngày ta trở lại
Ðã không còn những cánh lục bình xanh
ngày trở lại Sông Dinh - Nam Kha
Sóng lăn tăn tít tắp xa bờ
Khóm lục bình gió đùa nghiêng ngã
Trên bờ sông Dinh - Nam Kha
Cũng cầu Dinh với giòng nước hữu tình
Giữa giòng hoa tím lục bình dễ thương
Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết
Ước nào hái được bèo sông Dinh
Nhưng giữa sông hoa bèo nằm ngắm nắng
Tím xanh nụ vàng nhè nhẹ trôi
Bèo sông Dinh - Nguyễn Phương Linh
Nhưng khi giòng nước êm ả, lững lờ trôi mà mang theo lục bình là có sự bất thường nào đó? một bến sông nào bị khuấy động hay là cơn mưa mùa lướt qua thị trấn đã làm xôn xao mặt nước?
Bến nước sông Dinh lục bình trôi lặng lẽ
Trên giọt mưa mùa qua phố quạnh hiu
Khu phố cũ- Linh Vũ
Mưa rơi tầm tả gió thổi nhẹ
Hiu quạnh gió đưa bèo sông Dinh
Ninh Hòa Phong Vũ - Nguyễn Phương Linh
Thân phận lạc loài, vô định của một loài hoa tím, nằm trên giai điệu lững lờ không biết trôi dạt về bờ bến nào, đó là hình ảnh thơ và đẹp nhất của sông Dinh!
Nắng chiều
Hắt xuống sông Dinh nhợt nhạt
Cây cầu cũ
Giờ vắng bóng người qua
Nước lững lờ trôi đưa những lục bình tím ngắt
Dạt về đâu
Trong mơ- Ðỗ Thảo Nguyên
Nhưng ban đêm, Quan Dương còn nhìn thấy được lục bình trôi cũng là một điều kỳ lạ - “...tôi ngồi với nàng suốt đêm bên bờ sông Dinh đề chờ trời sáng. Giòng nước đen xanh dưới những chòm sao lấp lánh, thấp thoáng một vài đám lục bình trôi dật dờ không biết giạt về đâu..” Lá rụng về cội, chắc chắn hình ảnh ấy cho một cảm giác ghê sợ, nhưng ngồi với nàng thì sẽ thừa can đảm để vượt qua mọi thử thách...
Như bao thị tứ của Việt Nam, thường hình thành và phát triển kề bên một con sông nào đó. Vì phương tiện giao thông xa xưa thích dụng với sông ngòi, con người lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên, bám theo nguồn nước để sinh sống:- nước để ăn uống, sinh hoạt, canh tác...kể cả môi trường vi khí hậu và cảnh quan. Thị trấn Ninh Hòa cũng thế, nó gắn liền với sông Dinh vì nguồn nước là chính chứ không trên bến dưới thuyền như một số thị tứ miền Nam, cho nên sông Dinh rất im ắng ngay cả sát chợ Dinh, không nhộn nhịp bán buôn. Hầu như chỉ có chiếc ghe nhỏ bằng tre là phương tiện để đi giăng câu của một ít người ven sông sử dụng, lâu lâu mới xuất hiện. Cho nên qua bao nhiêu bài thơ, văn viết về sông Dinh, hình ảnh chiếc ghe thật hiếm thấy?! một hình tượng đầy tính thi họa cho những vùng sông nước ở địa phương khác lại không cho nhiều ấn tượng trong lòng người Ninh Hòa, thật tiếc thay! có lẽ vì không là phương tiện sinh sống chủ yếu nên người dân Ninh Hòa không chịu chăm chút, yêu quí để ca ngợi hoặc cả dáng hình của chiếc ghe cũng quá đơn giản. Tuy hiếm nhưng vẫn có một đoạn thơ của Nguyễn Từ Chung viết về sông Dinh rất cô đọng, có nhắc đến chiếc thuyền câu.
....mẹ cha còn đó bên bờ sông Dinh
sớm chiều mây phủ vọng phu
Sữa tuôn từ núi ngọt giòng sông sâu
Ðôi bờ bãi lúa nương dâu
Lững lơ giòng nước thuyền câu buông chèo
Bên bờ sông Dinh
Nếu phố chợ Dinh là dung nhan của người con gái thì sông Dinh là mái tóc thề tô điểm cho thị trấn thêm xinh đẹp và duyên dáng, con sông đã làm mềm đi hoặc thướt tha hơn cho sinh hoạt chợ Dinh và thị trấn Ninh Hòa
Sông Dinh như thoáng buồn vương
Chút gì thiếu nữ phố phường chiều hôm
Ninh Hòa - Ngô Quang Trung
Sông Dinh hiền hòa năm tháng
Thị trấn vươn mình phố rợp hoa
Ninh Hòa tự khúc - Phạm Duy Tân
Phố chợ và con sông Hòa quyện như bóng với hình.
Quê tôi thị trấn bên dòng
Sông Dinh xanh bóng phố hồng cánh mây
Ninh Hòa sông Dinh quê tôi - Ðổ Công Quí
Dòng sông Dinh vắt ngang qua phố
Con nước hiền như người dân quê tôi
Tình quê - Phạm Dạ Thủy
Trăng đợi sông Dinh phố ngẩn ngơ
Buồng tim nước tưới ruộng đôi bờ
Ðây sông Dinh - Ðiềm Ca
Ðặc điểm của sông Dinh là dọc hai bờ những hàng tre rợp bóng, tre từng hàng, từng khóm xanh rì, kéo dài ngút ngàn, ôm ấp những xóm làng và nghiêng ngã trên sông. Giòng sông Dinh hữu tình và thâm trầm cũng vì đặc điểm này. Tre chạy từ thượng nguồn đến tận hạ lưu. Ngay như khi ngang qua thị trấn Ninh Hòa, nơi phố thị với nhiều nhà cửa nhưng đứng trên cầu Dinh ta vẫn thấy một màu xanh chập chùng. Ta nghe Thụy Nguyên mô tả: ”dọc hai bên sông Dinh là những bụi tre mọc tương đối chằng chịt xen lẫn vài tàng cây cổ thụ to lớn...” bên chân cầu sắt - Thụy Nguyên.
Cùng với bao nhiêu lời thơ mô tả về đặc điểm này
Con sông hiền như em gái quê hương
Tre tỏa bóng đôi bờ xanh mát
Con nước đầy vơi hoa mua tím ngát
Da em trắng ngần bởi tắm nước sông Dinh
Sông Dinh - Nguyễn Gia Nùng
Sông Dinh xanh biếc đôi bờ
Hàng tre soi bóng nghiêng thơ vào lòng
Ði qua mấy nhịp cầu cong
Nhớ sông Dinh - Phạm Duy Tân
Con sông Dinh dập dềnh sóng gợn
Hàng tre xanh lả ngọn trên giòng
Còn đó tình yêu - Hồ Dạ Thảo
Nghiêng đời em xuống đời anh
Hàng tre nghiêng bóng sông Dinh mơ màng
Mái chèo nghiêng xuống nhặt khoan.
Nghiêng xuống đời nhau - Tường Hoài
Phút giao mùa, sắc lá tre vàng rơi đầy trên sông cũng dễ gây màu nhung nhớ.
Sông Dinh
Ngày trở gió
Là tre vàng rụng kín giòng trong
Nhà tôi ở ven sông
Mùa xuân vàng hoa cải
Ðừng lỡ sông ơi - Phạm Duy Tân
Cũng như bao vùng sông nước khác, nếu có điều kiện để được thấy ánh trăng phản chiếu trên mặt nước vào những đêm trăng sáng, chắc chắn đó là những hình ảnh đẹp, trăng sông Dinh cũng vậy, chúng ta hãy nghe những người Ninh Hòa có kỷ niệm với hình ảnh ấy mô tả: :- “ánh đèn điện của phố nhỏ Ninh Hòa không đủ sức mạnh lấn áp ánh sáng huyền diệu của trăng như ở đây. Trăng sông Dinh vằng vặc nghiêng mình soi bóng tận đáy nước...” Phùng Phương - trăng quê nhà
Quan Dương với tình cảm của mình, thông qua lăng kính tình yêu nhìn đêm trăng sông Dinh rất tuyệt vời, nhưng trước khi ca ngợi vẫn không quên dùng lý trí nhắc lại điểm yếu của giòng sông: - “những mảng rêu xanh dưới giòng sông Dinh bình thường trông dơ dáy như thế, nhưng có tình yêu vào rồi thì ban đêm nhìn xuống dưới ánh trăng, trông lấp lánh như màu ngọc bích.” -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh.
Tuy không quá thể như Lý Bạch chết vì trăng nhưng rõ ràng cảm giác của đêm trăng trên sông Dinh dưới mỗi góc nhìn khác nhau có những rung động khác nhau đều đẹp.
Trăng lên len lén bên cầu
Sông như e ấp gái quê dậy thì
cợt đùa thoả thích trăng đi
Nguyễn Từ Chung - Bên bờ sông Dinh
Ðường Hào lại có một ghi nhận khác “ Vào những đêm trăng tỏ, ngược hướng dòng sông Dinh người ta có thể nhìn rõ hòn Vọng Phu......Tháng sáu nước sông Dinh cạn như ứ đọng không trôi, từ trên cầu nhìn xuống ánh trăng phản chiếu trên mặt nước sông vẽ thành những mảng trời trắng đen loang lổ...”
Dĩ nhiên không có gì là toàn hảo, người đẹp nào mà không có chút khuyết tật, đôi lúc bị trái gió trở trời. Sông Dinh cũng thế. Có một thời bộ mặt sông Dinh ô uế bởi sinh hoạt của chợ Dinh, một số người thiếu ý thức đem rác ra cầu Dinh đổ thoải mái xuống giòng sông, nước lững lờ trôi mang theo đầy rác rến, ta hãy nghe Quan Dương tả :”...có một quãng thời gian dài tất cả rác rến ngoài chợ đều đổ ập...”. -Những đoạn tình quanh quẩn cầu Dinh .Nhưng cũng chỉ một thoáng qua, không được người Ninh Hòa ghi nhận nhiều.
Nhưng Ðiềm Ca phát hiện một bất thường khác của sông Dinh, rất lạ! không biết ở thời điểm và đoạn sông Dinh nào?.! Hay do một thất vọng, chán ngán như kiểu người buồn cảnh có vui đâu bao giờ mà nhìn giòng sông hoá bi thương như thế!.
Trời xuân vẩn đục, trăng xuân tái
Ô nhiễm sông Dinh nước trổ hường
khói mù sương - Ðiềm Ca
Tóm lại, duyên dáng sông Dinh có thể được khắc họa bằng hình ảnh :- một giòng sông êm trong trôi lững lờ, dọc hai bên bờ là hàng tre xanh thắm, trên sông điểm vài khóm lục bình, xa xa là một chiếc ghe câu và tận cùng là núi hòn Hèo hoặc núi Vọng Phu có mây trời nhẹ trôi... Mời một họa sĩ nào yêu con sông quê, diễn họa cho ra chân dung ấy....Nếu không có một bức tranh cụ thể thì mong rằng người Ninh Hòa ghi sâu vào tâm tưởng mình con sông Dinh lúc nào cũng xinh đẹp, cái kính lọc tình cảm sẽ không để chút rác rưới, nhơ bẩn thực tế nào lọt qua, hòa lẫn vào cái mỹ quan khi nhớ và hình dung về sông Dinh.
Trên sông Dinh có hai cây cầu
quan trọng đối với người Ninh Hòa, không những ở tính công năng mà còn ở tính
văn hóa của nó: - đó là cầu Dinh và cầu Sắt. Nói về sông Dinh mà không nói tới
hai cây cầu này là điều thiếu sót lớn.
Cầu Dinh
Đã là người Ninh Hòa không ai không một lần đi qua cầu Dinh. Cây cầu huyết mạch, nối liền đường bộ, vượt qua sông Dinh, nằm ở trung tâm thị trấn Ninh Hòa. Cầu Dinh gần chợ Dinh (chợ Ninh Hòa), bên kia là Vĩnh Phú. Nơi đây hàng ngày, người xe tấp nập qua lại, đi về khắp nơi hoặc vào chợ Dinh mua sắm, giao thương.
Ai về Ninh Hòa quê tôi
Cầu Dinh phơi phới nằm phơi nắng đào
Dòng sông chở nặng ca dao
(Ninh Hòa quê tôi - Nguyễn Tường Hoài)
Bình thường nếu phải giới thiệu về cầu Dinh, bao nhiêu lời đó là đủ, nhưng với bài này, có một số chuyện về cầu Dinh rất lý thú, đáng nói, cần bàn sâu hơn.
Cầu Dinh
Đã là người Ninh Hòa không ai không một lần đi qua cầu Dinh. Cây cầu huyết mạch, nối liền đường bộ, vượt qua sông Dinh, nằm ở trung tâm thị trấn Ninh Hòa. Cầu Dinh gần chợ Dinh (chợ Ninh Hòa), bên kia là Vĩnh Phú. Nơi đây hàng ngày, người xe tấp nập qua lại, đi về khắp nơi hoặc vào chợ Dinh mua sắm, giao thương.
Ai về Ninh Hòa quê tôi
Cầu Dinh phơi phới nằm phơi nắng đào
Dòng sông chở nặng ca dao
(Ninh Hòa quê tôi - Nguyễn Tường Hoài)
Bình thường nếu phải giới thiệu về cầu Dinh, bao nhiêu lời đó là đủ, nhưng với bài này, có một số chuyện về cầu Dinh rất lý thú, đáng nói, cần bàn sâu hơn.
Có sông rồi sau đó có cầu - là chuyện tất nhiên, nhưng Quan Dương
thích nhắc lại và lý giải đơn giản như đang giỡn: “...Con sông Dinh có tự bao
giờ? Không ai biết. nhưng chiếc cầu thì chắc chắn phải có sau con sông. Nói
chính xác hơn là tại bởi vì có con sông nên mới có chiếc cầu..”. Những đoạn
tình quanh quẩn cầu Dinh - Không sai tí nào.! Một định lý tuyệt vời! dựa vào
“định lý Quan Dương” tôi cũng nhắm mắt tuyên bố một cách hùng hồn và chắc nịch
rằng:- tất cả mọi chiếc cầu trên hành tinh này đều có sau con sông.!!. Đùa một
tí, thế nhưng khi đặt ngược vấn đề và đi sâu hơn thì mọi việc không còn là
chuyện đùa và đơn giản nữa. Tôi nói rằng: - con sông Dinh chắc chắn có sau cầu
Dinh.!? Nghe điều này chắc hẳn nhiều người thấy lạ và nghịch lý. Để sáng tỏ sự
việc, chúng ta thử lội ngược dòng thời gian, ngược dòng suy nghĩ và lịch sử mù
mờ của Ninh Hòa, qua đó tìm hiểu xem cầu Dinh ra đời từ khi nào và tại sao cầu
Dinh có trước sông Dinh.
- Năm Quý Tỵ (1653) vua Chiêm Thành đem quân cướp phá đất Phú Yên.
Chúa Nguyễn Phúc Tần cử Hùng Lộc đem quân vào đánh dẹp, quân Chiêm đại bại xin
hàng. Chúa Nguyễn dành một phần đất cho vua Chiêm từ Phiên Lang (Phan Rang) trở
vào, phần còn lại trở ra Phú Yên thì chiếm cứ và lập làm 2 phủ là Diên Ninh và
Thái Khang. Phủ Diên Ninh bao gồm Diên Khánh và các vùng xung quanh còn Thái
Khang là vùng đất còn lại trong đó có Ninh Hòa. Dinh trấn thủ được xây dựng ở
Thái Khang (vùng Ninh Hòa) như đã nói ở bài kỳ 4. Như vậy sau khi bình định
vùng đất, dù sơ khai, việc tổ chức bộ máy hành chánh, vấn đề an dân, giao thông
đi lại..vv...tất yếu phải được hình thành, ít lắm là khu vực quanh Dinh và các
vùng phụ cận. Trong đó việc làm một cây cầu để vượt qua sông, nối tiếp con đường
cái quan, nằm cạnh Dinh Thái Khang là vô cùng cấp thiết. Chỉ có binh hùng tướng
mạnh của một chính thể mới có khả năng thực hiện điều này. Cây cầu cần cho
người dân đi lại làm ăn và cũng để tiện đường mở mang bờ cõi, điều hành xã hội,
điều động binh lính, tiếp ứng vùng đất Diên Ninh phía nam. Cho nên cư dân địa
phương, những người đi mở đất, tập họp, sinh sống các khu vực quanh dinh, xây
nhà, lập chợ (chợ Dinh), được cơ hội lui tới, qua lại cây cầu bên cạnh dinh
Thái Khang, gọi cây cầu là “cầu Dinh” cho gọn, điều này chắc chắn được chấp
nhận ngay từ đầu vì nơi đó không có biểu tượng quyền lực nào cao hơn dinh của
quan trấn thủ. Cầu Dinh thực sự hình thành và có tên lưu truyền từ đó. Tôi nghĩ
rằng cây cầu được hình thành sau khi có Dinh Thái Khang không quá 3 năm.
Như vậy cầu Dinh ra đời và chính thức có tên vào khoảng 1655 - 1657. Còn nói vì sao sông Dinh có sau cầu Dinh chẳng qua là vấn đề được nhìn một cách khác. Tôi chẳng dám phủ nhận “định lý Quan Dương” mà ý nói - tên “sông Dinh” có sau tên “cầu Dinh”. Vì rằng sông Dinh trước đó có tên là sông Vĩnh Phú (còn có tên Vĩnh Hòa, Vĩnh An). Khi có dinh trấn thủ, có cầu Dinh, người dân đi lại trên cầu, xuôi ngược trên sông, dần dần tập gọi tên “sông Dinh”. Những người biết tên sông rồi thì cứ gọi sông Vĩnh Phú, người chưa biết thì ấp a, ấp úng - “... sông ấy à... sông qua dinh trấn thủ đấy chứ gì.... ờ - thì cứ gọi sông Dinh cho rồi !..” và lâu dần chữ “Dinh” ngắn gọn, dễ gọi, thay thế chữ Vĩnh Phú. Tôi nghĩ rằng dân gian thì gọi là sông Dinh, còn quan quân chúa Nguyễn cứ phải kêu là sông Vĩnh Phú vì đó là kiểu của địa chí, của câu chữ triều đình. Cho nên tên “sông Dinh” phải rất lâu về sau mới chính thức được công nhận và có sau tên “cầu Dinh” là vậy. Tuy nhiên tên “sông Dinh” phải có trước khi dinh trấn thủ dời vào thành Diên Khánh, vì nếu dinh dời đi rồi thì còn đâu hình tượng nữa mà đặt tên. (Năm Nhâm Tuất 1742 chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên Diên Ninh thành Diên Khánh. Vì thấy địa thế tốt nên dời dinh vào đấy).
Như vậy cầu Dinh ra đời và chính thức có tên vào khoảng 1655 - 1657. Còn nói vì sao sông Dinh có sau cầu Dinh chẳng qua là vấn đề được nhìn một cách khác. Tôi chẳng dám phủ nhận “định lý Quan Dương” mà ý nói - tên “sông Dinh” có sau tên “cầu Dinh”. Vì rằng sông Dinh trước đó có tên là sông Vĩnh Phú (còn có tên Vĩnh Hòa, Vĩnh An). Khi có dinh trấn thủ, có cầu Dinh, người dân đi lại trên cầu, xuôi ngược trên sông, dần dần tập gọi tên “sông Dinh”. Những người biết tên sông rồi thì cứ gọi sông Vĩnh Phú, người chưa biết thì ấp a, ấp úng - “... sông ấy à... sông qua dinh trấn thủ đấy chứ gì.... ờ - thì cứ gọi sông Dinh cho rồi !..” và lâu dần chữ “Dinh” ngắn gọn, dễ gọi, thay thế chữ Vĩnh Phú. Tôi nghĩ rằng dân gian thì gọi là sông Dinh, còn quan quân chúa Nguyễn cứ phải kêu là sông Vĩnh Phú vì đó là kiểu của địa chí, của câu chữ triều đình. Cho nên tên “sông Dinh” phải rất lâu về sau mới chính thức được công nhận và có sau tên “cầu Dinh” là vậy. Tuy nhiên tên “sông Dinh” phải có trước khi dinh trấn thủ dời vào thành Diên Khánh, vì nếu dinh dời đi rồi thì còn đâu hình tượng nữa mà đặt tên. (Năm Nhâm Tuất 1742 chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên Diên Ninh thành Diên Khánh. Vì thấy địa thế tốt nên dời dinh vào đấy).
Thế còn cầu Dinh lúc ấy làm bằng gì? Dáng hình ra sao ? cũng là
điều đáng nói. Chắc chẳng khó khăn lắm để tìm hiểu điều này vì thời ấy có vật
liệu nào khác hơn để làm cầu ngoài cây, gỗ. Cầu không cao, không rộng, nhưng
phải cao hơn mực nước lụt cao nhất trong năm và rộng cho người ngựa, xa giá qua
được là đủ. Cầu rộng chừng 2 mét, dài khoảng 90m, không có lan can, có dạng như
cây cầu ở Ninh Phú, gần chợ Cầu trước đây. Được kết hợp giữa gỗ và tre - gỗ
dùng cho chân trụ và dầm, lớp lát mặt thì bằng tre già. Gỗ của Ninh Hòa lúc ấy
tìm thật dễ dàng, chỉ cần ngược về Quang Đông hoặc xa chút nữa là Văn Định (ổ
gà), núi rừng dày đặc, cách Dinh chừng cây số. Tre thì bạt ngàn tại chỗ, cứ đi
dọc sông Dinh lựa và đốn thoải mái. Tuy nhiên khối lượng công việc rất lớn,
không thể làm kiểu “cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo...” mà phải có một tính
kiên cố nhất định. Có thấy nước sông Dinh cuồn cuộn chảy vào mùa lụt thì mới
hiểu cầu Dinh bằng gỗ khi ấy phải mạnh mẽ cỡ nào mới đứng vững được. Ta còn nhớ
người lính thú đời xưa trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư, qua ba năm trấn thủ lưu đồn,
đi làm những việc như làm cầu Dinh đã phải than thở: “... chém tre đẵn gỗ trên
ngàn, hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai”. Tuy hao tốn công sức như vậy nhưng
cầu gỗ rất mau hư hỏng, niên hạn khoảng năm, ba năm phải tu sửa. Chắc chắn
nhiều năm thìn và nhiều ngày hăm ba tháng mười nào đó, cầu đã bị nước lũ sông
Dinh tàn phá, cuốn trôi, khiến phải nhiều lần làm lại. Mặc dầu khó khăn, chật
vật, cầu Dinh bằng gỗ đã nhiều đời trơ gan cùng tuế nguyệt, chịu gian khó suốt
hơn 250 năm.
Kỹ thuật beton cốt thép ứng dụng cho việc xây dựng công trình ở các nước Châu Âu bắt đầu cuối thế kỷ 19 và du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 20, nhưng cầu beton cốt thép phải đợi thực dân Pháp thực hiện việc “làm thịt” thuộc địa, bằng cách nâng cấp con đường cái quan thành quốc lộ số 1 với mặt đường tráng nhựa, mở rộng, chạy dọc theo chiều dài đất nước. Những chiếc cầu beton kèm theo, xuất hiện trên các con sông VN, trong đó có chiếc cầu Dinh qua vùng đất Ninh Hòa chúng ta. Đó là những năm 1925. Tuy tiến bộ hơn cầu bằng gỗ nhưng nó là thế hệ thứ nhất của những chiếc cầu beton nên kỹ thuật vẫn thô sơ và việc xây dựng ì ạch, khó khăn không kém gì cha ông ta làm cầu gỗ trước đó. Tuy vậy, sự xuất hiện của con đường mới là một bước ngoặc to lớn trên lãnh vực giao thông công chánh của Việt Nam ta sau mấy ngàn năm văn hiến!.!
Sự thay đổi đó khởi đầu rất gian nan với nhiều mồ hôi, công sức và cả sinh mệnh của những người bản xứ. Đã tạo ra một lực lượng lao động mới mang tên “phu lục lộ” mà chúng ta đã nghe nhiều nỗi thống khổ của họ dưới ách thống trị của thực dân. Bỏ qua chính kiến để nói mặt khác của vấn đề thì Ninh Hòa chúng ta cũng được ăn theo nền văn minh phương tây.
Có một con đường tráng nhựa và một cây cầu kiên cố, khang trang hơn thời kỳ lạc hậu trước đó...vv thế là một thị tứ bám theo cây cầu sinh sôi, phát triển. Ninh Hòa đã cởi bỏ chiếc áo the thâm mang suốt hơn 250 năm và khoác lên chiếc áo veston mới lạ!. Nhớ về chiếc cầu này ta thấy Đường Du Hào viết trong “tuổi mười ba”:-“ Cầu Dinh, chiếc cầu nối liền xóm Vĩnh Phú với phố Ninh Hòa, còn thô sơ và chất hẹp, bề ngang cây cầu rộng vừa đủ vỏn vẹn cho một chiếc xe hàng loại Renualt cũ qua lại một chiều. Tôi thì nhớ cầu Dinh beton thời ấy dáng hình mỏng manh, không rộng, lòng cầu chừng 3m, hai bên có lối đi bộ chừng 1m, đủ để một chiếc xe 4 bánh và một chiếc xe hai bánh tránh nhau. Trên cầu có một chòi canh để điều hành xe qua lại, vì xe lớn chỉ chạy được một chiều nên bên này qua cầu thì bên kia nhận hiệu lệnh phải ngừng chờ đến lượt (cầu Xóm Bóng ở Nha Trang cũng hẹp như vậy, nhưng vì cầu quá dài nên cứ vài nhịp có đoạn mở rộng để tránh xe). Được biết, trước thập niên 60, xe cộ không nhiều, việc qua lại cầu không phải chờ đợi.
Rõ là người Pháp nghĩ rằng qui mô cây cầu như vậy là quá đủ, họ không dự đoán (cũng chẳng cần phải lo xa) được xã hội phát triển. Cầu được sử dụng tích cực, các phương tiện giao thông ngày càng nhiều, nhất là thời kỳ chiến tranh VN gần đến cao điểm, xe quân sự qua lại không ngớt, khi có những đoàn convoy nặng nề, gần cả trăm chiếc chạy qua, luôn là nỗi lo ngại cho chiếc cầu ốm yếu này. Cho đến một ngày năm 1965 - một nhịp cầu cùng chiếc xe tải chở đá xây dựng của ông D rơi tòm xuống sông gây nên cái chết thương tâm. Sau đó là một chàng tài xế Mỹ đen, đã quá yêu mến dòng sông, đưa nguyên chiếc xe nhà binh to tướng, lao thẳng xuống thăm “bà thủy”, chỏng 4 bánh dưới cầu. Những sự kiện trên báo hiệu cho giờ phút chấm dứt sứ mệnh lịch sử của chiếc cầu beton đơn sơ, đầu đời ấy. Dù người ta cố gắng duy trì, cứu chữa bằng cách đóng ghép vào nơi gãy đổ những dầm sắt, gỗ sử dụng tạm, nhưng nó cũng chỉ sống lây lất, không lâu. Tưởng cũng nên nhắc lại vào năm 1954, những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Việt Minh sau khi tấn công vào nhà lao ông Corse (chi thông tin cũ) bất thành, trên đường rút lui đã “dằn mặt” thực dân Pháp bằng cách gởi tặng cầu Dinh một quả mìn, tiếng nổ vang dội trời đêm, rúng động cả thị trấn Ninh Hòa.
Kỹ thuật beton cốt thép ứng dụng cho việc xây dựng công trình ở các nước Châu Âu bắt đầu cuối thế kỷ 19 và du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 20, nhưng cầu beton cốt thép phải đợi thực dân Pháp thực hiện việc “làm thịt” thuộc địa, bằng cách nâng cấp con đường cái quan thành quốc lộ số 1 với mặt đường tráng nhựa, mở rộng, chạy dọc theo chiều dài đất nước. Những chiếc cầu beton kèm theo, xuất hiện trên các con sông VN, trong đó có chiếc cầu Dinh qua vùng đất Ninh Hòa chúng ta. Đó là những năm 1925. Tuy tiến bộ hơn cầu bằng gỗ nhưng nó là thế hệ thứ nhất của những chiếc cầu beton nên kỹ thuật vẫn thô sơ và việc xây dựng ì ạch, khó khăn không kém gì cha ông ta làm cầu gỗ trước đó. Tuy vậy, sự xuất hiện của con đường mới là một bước ngoặc to lớn trên lãnh vực giao thông công chánh của Việt Nam ta sau mấy ngàn năm văn hiến!.!
Sự thay đổi đó khởi đầu rất gian nan với nhiều mồ hôi, công sức và cả sinh mệnh của những người bản xứ. Đã tạo ra một lực lượng lao động mới mang tên “phu lục lộ” mà chúng ta đã nghe nhiều nỗi thống khổ của họ dưới ách thống trị của thực dân. Bỏ qua chính kiến để nói mặt khác của vấn đề thì Ninh Hòa chúng ta cũng được ăn theo nền văn minh phương tây.
Có một con đường tráng nhựa và một cây cầu kiên cố, khang trang hơn thời kỳ lạc hậu trước đó...vv thế là một thị tứ bám theo cây cầu sinh sôi, phát triển. Ninh Hòa đã cởi bỏ chiếc áo the thâm mang suốt hơn 250 năm và khoác lên chiếc áo veston mới lạ!. Nhớ về chiếc cầu này ta thấy Đường Du Hào viết trong “tuổi mười ba”:-“ Cầu Dinh, chiếc cầu nối liền xóm Vĩnh Phú với phố Ninh Hòa, còn thô sơ và chất hẹp, bề ngang cây cầu rộng vừa đủ vỏn vẹn cho một chiếc xe hàng loại Renualt cũ qua lại một chiều. Tôi thì nhớ cầu Dinh beton thời ấy dáng hình mỏng manh, không rộng, lòng cầu chừng 3m, hai bên có lối đi bộ chừng 1m, đủ để một chiếc xe 4 bánh và một chiếc xe hai bánh tránh nhau. Trên cầu có một chòi canh để điều hành xe qua lại, vì xe lớn chỉ chạy được một chiều nên bên này qua cầu thì bên kia nhận hiệu lệnh phải ngừng chờ đến lượt (cầu Xóm Bóng ở Nha Trang cũng hẹp như vậy, nhưng vì cầu quá dài nên cứ vài nhịp có đoạn mở rộng để tránh xe). Được biết, trước thập niên 60, xe cộ không nhiều, việc qua lại cầu không phải chờ đợi.
Rõ là người Pháp nghĩ rằng qui mô cây cầu như vậy là quá đủ, họ không dự đoán (cũng chẳng cần phải lo xa) được xã hội phát triển. Cầu được sử dụng tích cực, các phương tiện giao thông ngày càng nhiều, nhất là thời kỳ chiến tranh VN gần đến cao điểm, xe quân sự qua lại không ngớt, khi có những đoàn convoy nặng nề, gần cả trăm chiếc chạy qua, luôn là nỗi lo ngại cho chiếc cầu ốm yếu này. Cho đến một ngày năm 1965 - một nhịp cầu cùng chiếc xe tải chở đá xây dựng của ông D rơi tòm xuống sông gây nên cái chết thương tâm. Sau đó là một chàng tài xế Mỹ đen, đã quá yêu mến dòng sông, đưa nguyên chiếc xe nhà binh to tướng, lao thẳng xuống thăm “bà thủy”, chỏng 4 bánh dưới cầu. Những sự kiện trên báo hiệu cho giờ phút chấm dứt sứ mệnh lịch sử của chiếc cầu beton đơn sơ, đầu đời ấy. Dù người ta cố gắng duy trì, cứu chữa bằng cách đóng ghép vào nơi gãy đổ những dầm sắt, gỗ sử dụng tạm, nhưng nó cũng chỉ sống lây lất, không lâu. Tưởng cũng nên nhắc lại vào năm 1954, những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Việt Minh sau khi tấn công vào nhà lao ông Corse (chi thông tin cũ) bất thành, trên đường rút lui đã “dằn mặt” thực dân Pháp bằng cách gởi tặng cầu Dinh một quả mìn, tiếng nổ vang dội trời đêm, rúng động cả thị trấn Ninh Hòa.
Cầu gãy một nhịp phía bên Vĩnh Phú. Quả mìn đã làm lung lay ý chí
quân Pháp ở Ninh Hòa, nhưng cũng góp phần làm thương tổn và giảm tuổi thọ chiếc
cầu không ít. Thương tiếc cho cây cầu yểu mệnh ở tuổi trung niên vì chịu quá
nhiều biến cố và dâu bể, nó tồn tại khoảng 40 năm!. (cũng nên nói thêm về tính
thô sơ của kỹ thuật beton cốt thép thời đó, vì với tiêu chuẩn niên hạn thì kết cấu
beton cốt thép là kết cấu bền vững, có tuổi thọ trên 80 năm, những vật liệu
tạo thành beton như: ciment, cốt thép thời đó cường độ không cao, đá thì không
có loại đá dăm được chế biến từ những máy nghiền như kiểu của hãng thầu RMK của
Mỹ nằm ở đèo Rù Rì, chỉ lấy từ thiên nhiên rồi sàn lọc bằng thủ công ở đầu
nguồn các sông, viên đá tròn, láng nhưng chất lượng không đồng nhất , độ bám
dính vào kết cấu không cao, dễ bong tróc nên sắt thép mau rỉ sét, công trình
nhanh xuống cấp nếu không được bảo quản tốt).
Cầu cũ đã suy tàn, không còn khả năng đáp ứng được số lượng người
xe và trọng tải nên phải phá bỏ để làm chiếc cầu mới rộng hơn, mạnh mẽ hơn. Thế
nhưng Ninh Hòa khi đó chỉ có cây cầu Dinh là duy nhất nối quốc lộ 1. Nếu tháo
bỏ cầu cũ để làm cầu mới thì xe cộ vào Nam ra Bắc khi qua Ninh Hòa trong thời
gian ấy phải chạy đường nào?! đó là vấn đề nan giải!. Nhưng rồi một tuyến đường
tạm được thiết lập theo lộ trình: - bắt đầu từ Vĩnh Phú thì xe chạy theo hướng
Quang Đông , đến gần cầu Sắt, làm một cây cầu song song, qua bờ bên kia chạy
dọc theo đường ray, cạnh chùa Tổ (Thiên Bửu hạ) một đoạn rồi quẹo trái về hướng
xóm Cầu Gỗ, chạy bọc ra hạt Kiểm Lâm và đáp vào quốc lộ 21, trước trường Bán
Công.
Tuyến đường ấy được xây dựng một cách nhanh chóng, do lực lượng công binh Mỹ thực hiện. Con đường tạm bằng đất đỏ được những chiếc xe chuyên làm đường, hình dáng cồng kềnh như con bọ ngựa với chiếc bánh xe khổng lồ, vừa đổ đất, vừa san ủi, xe chạy bụi đỏ bốc lên mù trời. Chiếc cầu vững chắc với những trụ bằng cây gỗ thông dài, ngay thẳng, đường kính không dưới 3 tấc, được tẩm dầu chống mục, có xuất xứ tận Mỹ quốc, trụ được đóng bằng búa máy sâu xuống lòng đất, lớp gỗ lát mặt cầu cũng bằng gỗ xẻ tẩm dầu rất dày và cứng cáp. Rõ là cầu gỗ của cha ông ta không thể nào sánh bằng !. Chiếc cầu tuy đen đúa nhưng đủ khả năng gánh chịu tất cả các loại xe lúc ấy, kể cả các xe quân sự to lớn ngày đêm qua lại ầm ầm.
Tuyến đường ấy được xây dựng một cách nhanh chóng, do lực lượng công binh Mỹ thực hiện. Con đường tạm bằng đất đỏ được những chiếc xe chuyên làm đường, hình dáng cồng kềnh như con bọ ngựa với chiếc bánh xe khổng lồ, vừa đổ đất, vừa san ủi, xe chạy bụi đỏ bốc lên mù trời. Chiếc cầu vững chắc với những trụ bằng cây gỗ thông dài, ngay thẳng, đường kính không dưới 3 tấc, được tẩm dầu chống mục, có xuất xứ tận Mỹ quốc, trụ được đóng bằng búa máy sâu xuống lòng đất, lớp gỗ lát mặt cầu cũng bằng gỗ xẻ tẩm dầu rất dày và cứng cáp. Rõ là cầu gỗ của cha ông ta không thể nào sánh bằng !. Chiếc cầu tuy đen đúa nhưng đủ khả năng gánh chịu tất cả các loại xe lúc ấy, kể cả các xe quân sự to lớn ngày đêm qua lại ầm ầm.
Dù sứ mệnh của chiếc cầu cùng con đường được đặt ra không cao và
không lâu dài nhưng không ai cấm cản nó “sống còn” khi cầu Dinh mới đã xây dựng
xong. Tuyến đường này đã tồn tại một thời gian dài hơn 10 năm. Khi cầu gỗ bị hư
mục, xụp đổ thì việc sử dụng tuyến đường này mới thực sự chấm đứt, trả lại sự
thâm nghiêm, tỉnh lặng cho khu vực. “Xương thịt” của cây cầu như là một gia tài
vô chủ, cũng giúp đỡ cho một số người nghèo khổ trong vùng làm củi hoặc làm
việc gia dụng trong một giai đoạn khó khăn của đất nước !!. Những phế tích của
tuyến đường này sau gần 40 năm vẫn có thể dễ dàng tìm thấy. Tinh ý, nhìn kỹ vào
những tấm hình cầu Sắt của ninh-hoa.com, ta thấy những trụ gỗ cầu còn sót lại
lô nhô phía trước cầu Sắt. Ai có dịp ghé thăm chùa Tổ, bước lên đoạn đường ray
trước chùa, nhìn bên kia sẽ thấy rõ “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Nó đã để
lại trong lòng người Ninh Hòa sống trong giai đoạn ấy những hình ảnh và kỷ niệm
đáng nhớ của một thời thơ trẻ và ly loạn, những người hiện nay đã ở tuổi trên
50.
Quay lại chiếc cầu Dinh beton thế hệ thứ hai - Khi tuyến đường tạm
làm xong thì cầu Dinh được khởi công ngay. Tuy cầu vẫn được xây dựng theo
phương pháp không mới lắm, nhưng phương tiện và điều kiện xây dựng đã khác hẳn.
Nhân lực, vật lực có sẳn của quân đội Mỹ rất dồi dào và tiên tiến. Chỉ có phần
móng cầu được đóng bằng cọc beton là một kỹ thuật mới lúc bấy giờ. Người dân
thị trấn Ninh Hòa lần đầu tiên được thấy dụng cụ thi công lạ mắt và nghe những
tiếng búa máy đóng cọc inh tai. Trụ cầu, dầm cầu và phần còn lại thì vẫn phải
đúc tại chổ bằng phương pháp cũ (Vì vài năm sau, khi có hãng RMK xuất hiện thì
việc sản xuất dầm cầu bằng kỹ thuật beton tiền áp mới được ứng dụng, dầm được
sản xuất tại xưởng hàng loạt như chúng ta thấy chất đầy ở Lương Sơn hoặc đèo Rù
Rì. Khi làm những phần chính của cầu xong, chỉ cần mang dầm đúc sẳn đến lắp ráp
và làm vài công tác Hòan thiện là xong). Cầu Dinh mới được Hòan tất sau hơn nữa
năm xây dựng, có 5 nhịp, dài 87.5m, rộng 10m, gồm lòng cầu 8m và 2 lề rộng 1m,
có 3 nhịp nằm trong lưu vực sông và một phần 2 nhịp kia gối vào nền đường. Cây
cầu mới này lực lưỡng hơn cầu trước rất nhiều, dư chổ cho 2 xe tải chạy ngược
chiều cùng với những xe 2 bánh chạy hai bên. Đây chính là cây cầu hiện hữu mà
người Ninh Hòa sử dụng, nó đã tồn tại đến nay gần 40 năm nhưng chưa hề suy
suyển và vẫn còn thích dụng. Chính nó là đối tượng, là hình ảnh của ký ức mà
bao nhiêu thơ văn của người Ninh Hòa đề cập đến cùng với sông Dinh.
Chỉ nói
riêng ở VN, ngòai một số ít cây cầu đường bộ có hình dáng khác lạ, thì Cầu Dinh
hiện tại cũng giống như rất nhiều cây cầu beton khác trên các quốc lộ của Việt
Nam - về hình dáng không có gì đặc biệt. Vì chức năng và cấu tạo của nó vốn đơn
giản. Những cây cầu được xây dựng trong thời kỳ đất nước không mấy khỏe mạnh,
nên chẳng cần phải hoa mỹ, hoặc phải suy nghĩ làm gì khác hơn. Chỉ cần dài
ngắn, rộng hẹp khác nhau theo con sông và nhu cầu sử dụng.
Đưa ra nhận xét một mặt và đơn giản như vậy, tôi lại áy náy nên vội nhìn trước ngó sau. Có đúng thế chăng !? xem chừng có nhiều người Ninh Hòa phản đối. Vì như Nguyễn Văn Thành trong Tây Du Ký có viết:
- “...dọc sông Seine có nhiều cầu nhưng tôi vẫn thích cầu Dinh và cầu Sắt thật bình dị của quê tôi nhiều hơn...”.
hoặc Quan Dương
Đưa ra nhận xét một mặt và đơn giản như vậy, tôi lại áy náy nên vội nhìn trước ngó sau. Có đúng thế chăng !? xem chừng có nhiều người Ninh Hòa phản đối. Vì như Nguyễn Văn Thành trong Tây Du Ký có viết:
- “...dọc sông Seine có nhiều cầu nhưng tôi vẫn thích cầu Dinh và cầu Sắt thật bình dị của quê tôi nhiều hơn...”.
hoặc Quan Dương
“...Tóm lại ngoại hình chiếc cầu Dinh chẳng có gì đặc biệt
nhưng bởi vì nó dính liền với thịt da, cho nên mỗi lần lái xe qua một chiếc cầu
nào đó hồn tôi thường bâng quơ thổn thức về một chiếc cầu thời thơ ấu...”.
Như vậy có nhiều tính chủ quan trong chuyện nhận định, đánh giá về một hình tượng quê hương. Cho nên tôi phải nói thêm thế này mới may ra nghe được và yên tâm:
- Mỗi cây cầu ở mỗi vùng đất đều đặc biệt đối với con người sống ở vùng đất đó. Vì nó là cầu Dinh cho nên trở thành đặc biệt với người Ninh Hòa.
Ta hãy nghe Phạm Duy Tân trong ba bài thơ khác nhau đều cho rằng:
Như vậy có nhiều tính chủ quan trong chuyện nhận định, đánh giá về một hình tượng quê hương. Cho nên tôi phải nói thêm thế này mới may ra nghe được và yên tâm:
- Mỗi cây cầu ở mỗi vùng đất đều đặc biệt đối với con người sống ở vùng đất đó. Vì nó là cầu Dinh cho nên trở thành đặc biệt với người Ninh Hòa.
Ta hãy nghe Phạm Duy Tân trong ba bài thơ khác nhau đều cho rằng:
Sông Vĩnh Phú thuyền câu không muốn lướt
Cầu Dinh cong hai đầu xuôi nguợc
Đất quê tôi - Phạm Duy Tân
Con đường về nhà em run run lần đầu tiên ấy
Cầu Dinh cong hai đầu xanh tay vẫy......
Em ôm sông Dinh vào lòng mãi thế sao
Liệu con nước có dùng dằng không nhỉ
Chiếc cầu thì cong, mạch thơ vẫn chảy
khúc đồng dao trên sông Dinh - Phạm Duy Tân
Sông Dinh xanh biếc đôi bờ
Hàng tre soi bóng nghiêng thơ vào lòng
Đi qua mấy nhịp cầu cong
Nhớ sông Dinh - Phạm Duy Tân
Nếu cầu Dinh cong như Phạm Duy Tân với “tứ ngôn ký xuất” như vậy thì thật sự cầu Dinh có dáng hình không đến nổi tệ. Tôi vội vàng lôi những tấm hình cầu Dinh ra xem thì thấy rằng cầu Dinh không thẳng nhưng không cong “quá trời” như Phạm Duy Tân nói. Nếu gọi là cong thì một số cầu như: - cầu Sài Gòn, cầu Bình Triệu qua sông Sài gòn, cầu Bến Lức, cầu Tân An qua sông Vàm Cỏ, cầu Xóm Bóng 2 mới xây dựng qua cửa sông cái ở Nha Trang...v.v mới gọi là cong. Những cây cầu này đều dài, bắt qua sông rộng, có nhiều tàu thuyền cao lớn chạy qua bên dưới. Như vậy những cây cầu cong có tính năng vừa cho giao thông đường bộ, lại phải bảo đảm cho đường thủy. Nơi cao nhất của nhịp cong chính là để đủ chiều cao thông thuyền. Dĩ nhiên làm một cây cầu cong luôn đắt tiền hơn cây cầu thẳng cùng kích thước. Nó cũng có một số mặt bất lợi khi sử dụng. Có một số cầu cong mang tính hình thức, tạo thêm dáng vẻ thơ đẹp cho cảnh quan. Có cầu như là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Còn ở đây, như đã nói ở kỳ trước, sông Dinh không có tàu thuyền qua lại. Nói cách khác, cầu Dinh không cần giải quyết cho giao thông đường thủy (hiện trạng sông Dinh không sâu, có nhiều đập chắn, tàu thuyền không thể lưu thông.
Cầu Dinh cong hai đầu xuôi nguợc
Đất quê tôi - Phạm Duy Tân
Con đường về nhà em run run lần đầu tiên ấy
Cầu Dinh cong hai đầu xanh tay vẫy......
Em ôm sông Dinh vào lòng mãi thế sao
Liệu con nước có dùng dằng không nhỉ
Chiếc cầu thì cong, mạch thơ vẫn chảy
khúc đồng dao trên sông Dinh - Phạm Duy Tân
Sông Dinh xanh biếc đôi bờ
Hàng tre soi bóng nghiêng thơ vào lòng
Đi qua mấy nhịp cầu cong
Nhớ sông Dinh - Phạm Duy Tân
Nếu cầu Dinh cong như Phạm Duy Tân với “tứ ngôn ký xuất” như vậy thì thật sự cầu Dinh có dáng hình không đến nổi tệ. Tôi vội vàng lôi những tấm hình cầu Dinh ra xem thì thấy rằng cầu Dinh không thẳng nhưng không cong “quá trời” như Phạm Duy Tân nói. Nếu gọi là cong thì một số cầu như: - cầu Sài Gòn, cầu Bình Triệu qua sông Sài gòn, cầu Bến Lức, cầu Tân An qua sông Vàm Cỏ, cầu Xóm Bóng 2 mới xây dựng qua cửa sông cái ở Nha Trang...v.v mới gọi là cong. Những cây cầu này đều dài, bắt qua sông rộng, có nhiều tàu thuyền cao lớn chạy qua bên dưới. Như vậy những cây cầu cong có tính năng vừa cho giao thông đường bộ, lại phải bảo đảm cho đường thủy. Nơi cao nhất của nhịp cong chính là để đủ chiều cao thông thuyền. Dĩ nhiên làm một cây cầu cong luôn đắt tiền hơn cây cầu thẳng cùng kích thước. Nó cũng có một số mặt bất lợi khi sử dụng. Có một số cầu cong mang tính hình thức, tạo thêm dáng vẻ thơ đẹp cho cảnh quan. Có cầu như là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Còn ở đây, như đã nói ở kỳ trước, sông Dinh không có tàu thuyền qua lại. Nói cách khác, cầu Dinh không cần giải quyết cho giao thông đường thủy (hiện trạng sông Dinh không sâu, có nhiều đập chắn, tàu thuyền không thể lưu thông.
Dưới cầu Dinh vẫn còn mấy nhịp cầu cũ. Chỉ có mấy ngư dân bất đắc
dĩ của sông Dinh, nếu gặp chướng ngại thì đưa chiếc ghe khiêm tốn của mình lên
lưng cõng là xong ). Trong xây dựng những kết cấu có nhịp lớn như dầm, dàn kèo
sắt..vv. người thiết kế thường phải tạo độ vồng (bombé) để khi kết cấu có võng
thì nhìn vẫn ngay thẳng hoặc khi thấy vồng thật sự thì người ở trong không gian
ấy có cảm giác thanh thoát, an tâm. Cho nên độ vồng khác với cong. Nhưng ở đây,
cầu Dinh không phải cong mà cũng chẳng phải vồng, vì độ vồng cong rất ít, chỉ
nằm trong phạm vi nhịp, còn cầu Dinh có nét cong vừa phải, là kết hợp của 5
nhịp mà thành.
Nên đó là đìều kỳ lạ của hình dáng chiếc cầu này. Tôi không hiểu vì sao như vậy, vì nhiều chiếc cầu rất dài nhưng thẳng vẫn cứ thẳng, như cầu Hà Ra, cầu Xóm Bóng 1 ở Nha Trang, cầu Đà Rằng ở Tuy Hòa..vv. Thật ra cái hình profile này không phải người Ninh Hòa nào cũng có dịp thấy được. Chỉ có những người sống ven sông hoặc có điều kiện đi dọc bờ mới nhìn được trọn vẹn hình dáng cây cầu. Cầu Dinh có nét duyên dáng nhờ cái cong nữa vời này. Có lẽ người thiết kế chiếc cầu Dinh trong phút giây ngẫu hứng đã tặng cho Ninh Hòa một sản phẩm khác thường, đầy chất lãng mạn như vậy. (trên ninh-hoa.com có nhiều hình cầu Dinh có thể tham khảo).
Để có được số liệu về cầu Dinh tôi phải tốn không ít công sức. Chỉ việc xác định cầu Dinh có mấy nhịp tôi đã không dám vội vàng. Mặc dầu cầu Dinh có 5 nhịp nhưng thoạt nhìn ta thấy cầu Dinh chỉ có 3 nhịp vì các hàng tre um tùm che khuất, không thấy 2 nhịp ngắn gần bờ. Nhưng Nguyễn văn Thành lại tự tin đến bất ngờ:
Cầu Dinh bốn nhịp trữ tình
Sông Dinh thơ mộng uốn mình chảy ngang
Ninh Hòa – Nguyễn Văn Thành
Tôi tự hỏi - tại sao Nguyễn Văn Thành đưa ra một con số rất cụ thể, chắc chắn như vậy !? sau đó chợt hiểu rằng : - có thể ý tác giả nói - cầu Dinh có 5 nhịp nhưng chỉ có 4 nhịp “trữ tình” còn một nhịp “vô tình” nào đó đã để lại nhiều kỷ niệm thương đau nên đã khai tử nó. Trường hợp này giống như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã giải thích bài hát “có một giòng sông đã qua đời” - Có một dòng sông mà TCS rất yêu qúi, nhưng một hôm, tình cờ thấy ngừơi yêu mình sánh vai với một ngừơi khác đi qua cầu, bóng hai người soi xuống dòng nước. Từ đó TCS không còn yêu mến dòng sông và xem như dòng sông đã chết. Nếu quả thực hệ luận ấy đúng thì Nguyễn Văn Thành cho cầu Dinh sập luôn mới phải, khai tử một nhịp nào có thắm thía gì! (điều này các dẫn chứng phần sau chúng ta sẽ được rõ hơn). Quan Dương không biết dựa vào đâu lại cho cầu Dinh dài quá cỡ thợ mộc: “... Mỗi khi lái xe qua chiếc cầu Causeway dài 40 cây số nơi tiểu bang hiện định cư, tôi đều liên tưởng đến chiếc cầu Dinh ngẳn củn dài chưa đầy 200 mét ở Ninh Hòa...” Tại sao Quan Dương không chọn một cây cầu 50m ở Louisiana so sánh để thấy cầu Dinh của Ninh Hòa to lớn biết dường nào mà chọn cây cầu dài nhất ở đấy để ăn hiếp cầu Dinh. Tôi không biết cây cầu dài 40 km có giá trị văn hóa lớn ở mặt nào, nhưng với cây cầu Dinh nhỏ chưa đầy 100 m đã có bao nhiêu thứ để nói, nếu cầu Dinh dài gấp đôi như Quan Dương thì sự việc và cái đáng nói chắc phải là con số bình phương. Hoặc như Anh Quốc Minh trong “thư từ Hoa Thịnh Đốn “ khi nhớ về Ninh Hòa thì thứ tự ưu tiên lại dành cho cây cầu Dinh đứng đầu ”...Tôi phải bắt đầu từ đâu hả bạn? Bắt đầu từ chiếc cầu Dinh có những thanh sắt đã cũ sét vì thời gian...”. Nhưng những thanh sắt cũ sét của cầu Dinh thật khó tìm ?! vì cây cầu toàn beton, vẫn còn tốt tươi, lành lặn.
Nói đến đây tôi lại thấy mình quá trật đường ray vì cứ mãi duy lý. Cái cầu cong của Phạm Duy Tân là một ý hướng vươn tới cái đẹp khi thi vị hoá cầu Dinh, xuất phát từ tình cảm với quê hương, yêu mến cây cầu. Cầu Dinh có cong như hình móng ngựa vẫn không sai. Còn Nguyễn Văn Thành có nói cầu Dinh đến 100 nhịp để bày tỏ tình cảm với ai đó thì càng đúng, vì cầu bao nhiêu nhịp anh thương mình bấy nhiêu hoặc trái lại . Quan Dương cũng có tình, có lý khi chọn giới hạn an toàn cho cầu Dinh khi phán đoán chiều dài cầu đến 200m. Có đem cây cầu lớn gấp 400 lần để so sánh với cầu Dinh mới thấy tác dụng của ép phê ngược thế nào. Hoặc Anh Quốc Minh vẫn theo lý luận tự nhiên là cái gì xưa cũ vẫn phải hư hao, hủy hoại với thời gian. Vì trăm năm bia đá thì mòn kia mà, sắt thép nào tồn tại mãi với thời gian, tuy vậy Anh Quốc Minh không có chút mặc cảm gì, nếu không muốn nói đó là vẻ đẹp tự nhiên của ký ức. Hoài niệm thì đâu cần thật thà như đếm mới là chính xác. Mô tả về vị trí và đặc điểm của cầu Dinh, người Ninh Hòa dưới mỗi cái nhìn khác nhau có những cảm nhận và diễn đạt khác nhau. Đã là người Ninh Hòa thì việc định vị cầu Dinh và những nẻo đường qua thị trấn không có gì khó khăn cả. Ta hãy nghe Trần Thị Nết mô tả những con đường qua cầu Dinh trong một bài thơ:
Có một con đường ....mà em rất thương
Dù lâu không về - em cứ vẫn nhớ
Đường nào ? đường ...vào nhà em đó.
Qua cầu Dinh - rạp hát... là quẹo vào
và
Chuông chùa vọng lại chùa Phật học
Qua cầu Dinh trường tiểu học hướng này
Những nẻo đường trong mơ - Trần thị Nết
Đúng là trong mơ! Hướng dẫn đường quanh co, ấp úng như vậy thì người hỏi đường thấy khó khăn quá.?! Có lẽ được nhiều chàng thăm hỏi nên đành phải đánh lạc hướng cho xong. Nhưng qua đó ta thấy sự tế nhị của một người đẹp sông Dinh.
Quan Dương thì nghịch ngợm hơn khi xác định vị trí cầu Dinh. Không phải bằng đường bộ mà bằng cách lội sông.
Từ bến ông Đùm bơi qua Vĩnh Phú
Ánh điện vàng soi bóng nước cầu Dinh.....
Thí mạng cùi trời đất nỡ làm thinh
Cầu Dinh - Quan Dương
Nên đó là đìều kỳ lạ của hình dáng chiếc cầu này. Tôi không hiểu vì sao như vậy, vì nhiều chiếc cầu rất dài nhưng thẳng vẫn cứ thẳng, như cầu Hà Ra, cầu Xóm Bóng 1 ở Nha Trang, cầu Đà Rằng ở Tuy Hòa..vv. Thật ra cái hình profile này không phải người Ninh Hòa nào cũng có dịp thấy được. Chỉ có những người sống ven sông hoặc có điều kiện đi dọc bờ mới nhìn được trọn vẹn hình dáng cây cầu. Cầu Dinh có nét duyên dáng nhờ cái cong nữa vời này. Có lẽ người thiết kế chiếc cầu Dinh trong phút giây ngẫu hứng đã tặng cho Ninh Hòa một sản phẩm khác thường, đầy chất lãng mạn như vậy. (trên ninh-hoa.com có nhiều hình cầu Dinh có thể tham khảo).
Để có được số liệu về cầu Dinh tôi phải tốn không ít công sức. Chỉ việc xác định cầu Dinh có mấy nhịp tôi đã không dám vội vàng. Mặc dầu cầu Dinh có 5 nhịp nhưng thoạt nhìn ta thấy cầu Dinh chỉ có 3 nhịp vì các hàng tre um tùm che khuất, không thấy 2 nhịp ngắn gần bờ. Nhưng Nguyễn văn Thành lại tự tin đến bất ngờ:
Cầu Dinh bốn nhịp trữ tình
Sông Dinh thơ mộng uốn mình chảy ngang
Ninh Hòa – Nguyễn Văn Thành
Tôi tự hỏi - tại sao Nguyễn Văn Thành đưa ra một con số rất cụ thể, chắc chắn như vậy !? sau đó chợt hiểu rằng : - có thể ý tác giả nói - cầu Dinh có 5 nhịp nhưng chỉ có 4 nhịp “trữ tình” còn một nhịp “vô tình” nào đó đã để lại nhiều kỷ niệm thương đau nên đã khai tử nó. Trường hợp này giống như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã giải thích bài hát “có một giòng sông đã qua đời” - Có một dòng sông mà TCS rất yêu qúi, nhưng một hôm, tình cờ thấy ngừơi yêu mình sánh vai với một ngừơi khác đi qua cầu, bóng hai người soi xuống dòng nước. Từ đó TCS không còn yêu mến dòng sông và xem như dòng sông đã chết. Nếu quả thực hệ luận ấy đúng thì Nguyễn Văn Thành cho cầu Dinh sập luôn mới phải, khai tử một nhịp nào có thắm thía gì! (điều này các dẫn chứng phần sau chúng ta sẽ được rõ hơn). Quan Dương không biết dựa vào đâu lại cho cầu Dinh dài quá cỡ thợ mộc: “... Mỗi khi lái xe qua chiếc cầu Causeway dài 40 cây số nơi tiểu bang hiện định cư, tôi đều liên tưởng đến chiếc cầu Dinh ngẳn củn dài chưa đầy 200 mét ở Ninh Hòa...” Tại sao Quan Dương không chọn một cây cầu 50m ở Louisiana so sánh để thấy cầu Dinh của Ninh Hòa to lớn biết dường nào mà chọn cây cầu dài nhất ở đấy để ăn hiếp cầu Dinh. Tôi không biết cây cầu dài 40 km có giá trị văn hóa lớn ở mặt nào, nhưng với cây cầu Dinh nhỏ chưa đầy 100 m đã có bao nhiêu thứ để nói, nếu cầu Dinh dài gấp đôi như Quan Dương thì sự việc và cái đáng nói chắc phải là con số bình phương. Hoặc như Anh Quốc Minh trong “thư từ Hoa Thịnh Đốn “ khi nhớ về Ninh Hòa thì thứ tự ưu tiên lại dành cho cây cầu Dinh đứng đầu ”...Tôi phải bắt đầu từ đâu hả bạn? Bắt đầu từ chiếc cầu Dinh có những thanh sắt đã cũ sét vì thời gian...”. Nhưng những thanh sắt cũ sét của cầu Dinh thật khó tìm ?! vì cây cầu toàn beton, vẫn còn tốt tươi, lành lặn.
Nói đến đây tôi lại thấy mình quá trật đường ray vì cứ mãi duy lý. Cái cầu cong của Phạm Duy Tân là một ý hướng vươn tới cái đẹp khi thi vị hoá cầu Dinh, xuất phát từ tình cảm với quê hương, yêu mến cây cầu. Cầu Dinh có cong như hình móng ngựa vẫn không sai. Còn Nguyễn Văn Thành có nói cầu Dinh đến 100 nhịp để bày tỏ tình cảm với ai đó thì càng đúng, vì cầu bao nhiêu nhịp anh thương mình bấy nhiêu hoặc trái lại . Quan Dương cũng có tình, có lý khi chọn giới hạn an toàn cho cầu Dinh khi phán đoán chiều dài cầu đến 200m. Có đem cây cầu lớn gấp 400 lần để so sánh với cầu Dinh mới thấy tác dụng của ép phê ngược thế nào. Hoặc Anh Quốc Minh vẫn theo lý luận tự nhiên là cái gì xưa cũ vẫn phải hư hao, hủy hoại với thời gian. Vì trăm năm bia đá thì mòn kia mà, sắt thép nào tồn tại mãi với thời gian, tuy vậy Anh Quốc Minh không có chút mặc cảm gì, nếu không muốn nói đó là vẻ đẹp tự nhiên của ký ức. Hoài niệm thì đâu cần thật thà như đếm mới là chính xác. Mô tả về vị trí và đặc điểm của cầu Dinh, người Ninh Hòa dưới mỗi cái nhìn khác nhau có những cảm nhận và diễn đạt khác nhau. Đã là người Ninh Hòa thì việc định vị cầu Dinh và những nẻo đường qua thị trấn không có gì khó khăn cả. Ta hãy nghe Trần Thị Nết mô tả những con đường qua cầu Dinh trong một bài thơ:
Có một con đường ....mà em rất thương
Dù lâu không về - em cứ vẫn nhớ
Đường nào ? đường ...vào nhà em đó.
Qua cầu Dinh - rạp hát... là quẹo vào
và
Chuông chùa vọng lại chùa Phật học
Qua cầu Dinh trường tiểu học hướng này
Những nẻo đường trong mơ - Trần thị Nết
Đúng là trong mơ! Hướng dẫn đường quanh co, ấp úng như vậy thì người hỏi đường thấy khó khăn quá.?! Có lẽ được nhiều chàng thăm hỏi nên đành phải đánh lạc hướng cho xong. Nhưng qua đó ta thấy sự tế nhị của một người đẹp sông Dinh.
Quan Dương thì nghịch ngợm hơn khi xác định vị trí cầu Dinh. Không phải bằng đường bộ mà bằng cách lội sông.
Từ bến ông Đùm bơi qua Vĩnh Phú
Ánh điện vàng soi bóng nước cầu Dinh.....
Thí mạng cùi trời đất nỡ làm thinh
Cầu Dinh - Quan Dương
Ngã 4 cầu Trạm
Đã vậy thời điểm lội sông là ban đêm nên càng táo bạo, rất liều
mạng!. Nguyễn Thị Thu thì mượn cầu Dinh để nói về cầu Gỗ trong - Chuyện một
chiếc cầu: “ ...Cầu Gỗ nằm giữa cầu Dinh, cầu Sắt và cầu Trạm, nên vào mùa mưa
lụt cầu phải âm thầm chịu đựng một lưu lượng nước vĩ đại từ hai cầu Dinh và cầu
Sắt đổ vào...” và ...” Mùa tháng mười nước lụt năm nào đã phá bằng mặt cầu Gỗ,
người yêu tôi phải chèo ghe từ cầu Dinh lên cầu Gỗ để thăm tôi...”. Nếu đúng
như vậy thì Nguyễn Thị Thu có người yêu là một tay chèo cừ khôi. Nước lụt sông
Dinh rất mạnh nên chèo ngược dòng rất khó, cố gắng lắm chỉ đạt vận tốc không
km/giờ, buông một chút thì đạt vận tốc âm, dù có kinh nghiệm như những ngư dân
sông Dinh là chèo men theo bờ cũng không dám đi một đoạn xa như vậy.
Tôi nghĩ chàng phải cõng ghe lên tận cầu Sắt rồi thả xuôi dòng mới
làm được kỳ tích này. Có cần phải khổ cực như thế để chứng tỏ tình yêu? nguy
hiểm quá. !. Qua đoạn viết này của Nguyễn Thị Thu làm tôi nhớ lại dòng nước
sông Dinh đổ vào con sông cạn nằm giữa vùng rạp hát Thái Bình, đầu chợ Dinh và
dọc xóm Lò Heo. Mùa khô là một cái trũng có thể đi bộ qua được, nhưng mùa lụt,
nước sông Dinh dâng cao đổ về hướng này rất mạnh - qua cầu Gỗ, tiếp đến là cầu
Đồn (cầu Trạm) để tràn về đồng Trong. Những năm lụt lớn, mực nước của nhánh này
đều dâng đến dạ cầu, dòng nước chảy qua cầu sùng sục, dữ tợn hơn dòng sông Dinh
rất nhiều, vì lượng nước rất lớn mà lòng sông thì chật hẹp, vào mùa khô cạn
nước cô đọng, ao tù, thu hẹp lại gần quanh cầu như cái mương nhỏ đầy lục bình.
Hiện nay con sông cạn ấy không còn nữa, nó đã trở thành một con đường tráng
nhựa thênh thang của thị trấn Ninh Hòa, chạy từ bờ sông Dinh qua cầu Gỗ, cầu
Trạm, vòng đến xóm Mới, hai bên đã đầy nhà cửa. Tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ
của Tú Xương nói lên tâm trạng của mình về một con sông ở làng quê bị lấp:- “
sông kia rày đã nên đồng- chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.” Trong một tâm
trạng bùi ngùi, để đôi lúc mơ mộng lại - “giật mình còn ngỡ tiếng ai gọi đò”.
Cùng tâm trạng đó Dương Alpha trong bài “cầu Trạm” đã viết:
Con mương cầu Trạm nay đã lấp
Bỗng thấy trong ta quá muộn phiền!
hoặc Quan Dương cũng trong một bài cùng tên “cầu Trạm”, quay quắt hơn với một nỗi niềm sâu kín:
Chiếc cầu Trạm nơi tuổi thơ đánh rớt
Ðám lục bình nằm khóc ướt dòng sông
Còn sót lại chút gì từ ký ức?
đường cắt ngang như một nhát dao buồn
Có sự đổi thay nào mà không để lại những bâng khuâng, tiếc nhớ, nhất là
những hình ảnh thân quen chứa đầy kỷ niệm của thuở ấu thời.
Trở lại cây cầu Dinh, hơn ai hết, Nguyễn văn Thành có quá nhiều kỷ niệm. Để xác định cầu Dinh ở vị trí nào trên địa lý và trên con tim ta hãy nghe một người đầy kinh nghiệm mô tả:
cầu Dinh nối giữa hai làng
sông Dinh lại nỡ ngăn nàng với ta
Bẽ bàng - Nguyễn Văn Thành
Tôi lại thấy một ý thơ như lời đối đáp:
Nhớ nhiều chiếc cầu Dinh
Đưa tình chàng bên ấy
Cùng cô em bên này
chờ trầu cau dạm hỏi
Có phải đây là em - Trần thị Nết
Con mương cầu Trạm nay đã lấp
Bỗng thấy trong ta quá muộn phiền!
hoặc Quan Dương cũng trong một bài cùng tên “cầu Trạm”, quay quắt hơn với một nỗi niềm sâu kín:
Chiếc cầu Trạm nơi tuổi thơ đánh rớt
Ðám lục bình nằm khóc ướt dòng sông
Còn sót lại chút gì từ ký ức?
đường cắt ngang như một nhát dao buồn
Trở lại cây cầu Dinh, hơn ai hết, Nguyễn văn Thành có quá nhiều kỷ niệm. Để xác định cầu Dinh ở vị trí nào trên địa lý và trên con tim ta hãy nghe một người đầy kinh nghiệm mô tả:
cầu Dinh nối giữa hai làng
sông Dinh lại nỡ ngăn nàng với ta
Bẽ bàng - Nguyễn Văn Thành
Tôi lại thấy một ý thơ như lời đối đáp:
Nhớ nhiều chiếc cầu Dinh
Đưa tình chàng bên ấy
Cùng cô em bên này
chờ trầu cau dạm hỏi
Có phải đây là em - Trần thị Nết
Ngã 4 cầu Gỗ
Xem ra việc xác định cầu Dinh là cái gạch nối giữa hai làng Vĩnh
Phú và Mỹ Hiệp của Nguyễn Văn Thành là chuẩn xác và dễ hiểu mà ta bắt gặp ở
Quan Dương cùng suy nghĩ : “Nhờ có nó nằm gát mình từ phía bên này phố chợ nên
tôi mới có thể bước qua bên kia Vĩnh Phú để những lá thư tình có cớ tuôn về
Phước Đa rồi quẹo lên cầu Sắt, Quang Đông. Nó cũng là cái cớ cho tất cả những
nhà văn thơ Ninh Hòa đem vào sáng tác..”.
Nhưng đến khi nghe Quan Dương định nghĩa lần nữa tôi lại thấy rất
hoang mang: ”...cầu Dinh trấn thủ giữa phố Ninh Hòa như một cái rốn trên
vuông bụng của một thiếu nữ xuân thì và chính vì vị trí toạ lạc đặc biệt đó mà
nó trở thành hình tượng quê hương...” quả là Quan Dương khéo tưởng tượng,
mô tả rất gợi hình, gợi cảm, muốn làm anh em lên ruột nên ví cầu Dinh như cái
rốn của một thiếu nữ phơi phới như vậy. Vì là một nơi nhạy cảm nên anh em ta
muốn đến cầu Dinh chỉ còn cách nhảy dù chứ biết đi đường nào tới nơi an
toàn.!!. Đã vậy còn cho nó là hình tượng của quê hương. Bình tâm, tôi phản đối
sự so sánh này. Trời sinh ra cái rốn chỉ để thoa dầu khi đau bụng chứ có tác
dụng cao đẹp gì mà ca ngợi lắm thế, hình tượng chổ nào?.!!. Nếu gặp phải cái
rốn lồi thì ý tưởng của Quan Dương xem như phá sản. (có người nhờ hỏi lại Quan
Dương :
- không biết chân của người thiếu nữ phía bên Vĩnh Phú hay bên chợ
Ninh Hòa ?!).
Quan Dương còn nhạy cảm đến nỗi Khứu giác ghi nhận được cái mùi
độc địa :
- “...Những ngày đầu tiên đến Mỹ suốt ngày ru rú trong nhà với máy
lạnh có lần vừa mở cửa bước ra, không khí ập đến đã cho tôi cái cảm giác rất
đột ngột. Tôi ngữi được cái mùi đó và bất giác kêu lên - mùi cầu Dinh...".
Thật bất ngờ.! Quá bất ngờ. Tôi hoàn toàn không có khái niệm gì về
cái mùi lạ lẫm này và dám chắc chỉ duy nhất Quan Dương là người Ninh Hòa có cảm
giác siêu nhân kia. Phải là người ngụp lặn, sục sạo nhiều ở khu vực đó mới tinh
tường như vậy, đáng được tôn vinh là người uyên bác về cầu Dinh.
Nói đến
sông Dinh, cầu Dinh mà không nhắc đến những địa chỉ "có vấn đề" quanh
cầu Dinh vẫn là thiếu sót. Vì những nơi ấy, khi đề cập, người Ninh Hòa luôn
liên tưởng đến cầu Dinh. Những nơi này tuy không là công hữu nhưng lại mang
tính xã hội, lịch sử và cộng đồng rất cao. Chùa Hội Quán là một địa chỉ thuộc
dạng trên nhưng đã được giới thiệu khá đầy đủ ở mục "cơ sở tôn giáo"
của ninh-hoa.com nên không nhắc lại. Tôi muốn nói đến hai kiến trúc khác nằm
trên nền cũ của dinh Thái Khang.
Trong truyện ngắn "tuổi mười ba" Đường
Du Hào có nhắc: "Cầu Dinh do Tây làm từ thuở công xi rượu bên đầu cầu còn
là khu nhốt tù chính trị, nên đã quá xưa khiến nhiều đoạn bị hư nát. Ở những
đoạn như thế, phu lục lộ gác tạm miếng ván cho người qua lại. Ban ngày trông đã
không mấy an toàn về đêm càng thập phần nguy hiểm hơn". Mặc dù Đường Du
Hào nói đến lịch sử cầu Dinh, nhưng lại liên hệ đến địa chỉ: - "công xi
rượu". Làm tôi nhớ lại một nơi có nhiều kỷ niệm và có những vấn đề lịch sử
phức tạp cần phân tích. Một tọa độ gắn liền với cầu Dinh, cách chân cầu chừng
20m, phía Vĩnh Phú. Tôi có may mắn biết rõ, cũng như có nhiều dịp ra vào nơi ấy
vì nhà tôi là một đại lý tiêu thụ rượu của công xi này.
"Công xi" là kiểu phát âm của người Hoa
với chữ Pháp "compagnie", nghĩa là công ty. Người sáng lập của tổ
chức sản xuất kinh doanh ngành rượu này là một ông chủ người Hoa tên Nhiêu Tấn
Hiếu. Công ty này có mặt hoạt động ở một số tỉnh miền Trung như: Phan Thiết,
Phan Rang, Diên Khánh, Ninh Hòa.v.v. Được thành lập từ nhiều năm trước 1945,
nhưng không ai xác định được thời điểm nào. Ông Nhiêu Bá kế nghiệp cha rồi lấy
tên mình làm thương hiệu. Sau 1945 do tình trạng lúa gạo khan hiếm, giá tăng
cao bởi chính sách của phát xít Nhật - bỏ cây lúa, trồng cây công nghiệp. Hậu
quả là có gần 2 triệu người VN chết đói. Thiếu gạo nấu rượu, nhiên liệu đốt là
củi ngày càng khó kiếm, công ty Nhiêu Bá gặp khó khăn, việc sản xuất kinh doanh
đình trệ. Ông Nhiêu Bá qua đời, không con nối dõi. Người em trai là Nhiêu Đức
Nghị cùng 2 người em gái ở Hồng Kông được thừa hưởng di sản. Vì không thể trực
tiếp điều hành, quản lý nên họ quyết định cho Nhiêu Bá liên kết, xáp nhập với
Hiệp Hội Các Lò Rượu Pháp ở Đông Dương - viết tắt là SFDIC (Société Française
des Distilleries de l’Indochine). Tổ chức này rất lớn mạnh, có nhà máy chưng
cất rượu nổi tiếng ở Bình Tây, gần bến Lê Quang Liêm - Sài Gòn, có nhà máy xay
lúa lớn nhất nhì Đông Dương. Với lợi thế có sẵn nhiên liệu đốt là trấu, tấm gạo
làm nguyên liệu, cùng với máy móc, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm của SFDIC
giá thành rẻ,rượu của họ được thị trường Đông Dương ưa chuộng. Mặt hàng
chủ yếu của SFDIC là rượu vang trắng. Ở nhà máy, họ chưng cất rượu đạt nồng độ
từ 92 đến 95°, chở đến các chi nhánh rồi pha chế xuống còn 40° để bán ra cho
các đại lý. Các cơ sở cũ của Nhiêu Bá đều nhận sản phẩm của SFDIC và bán cho
thị trường của mình. Sản phẩm của SFDIC còn có các loại rượu mùi, rượu Rhum,
nước hoa...
Việc quản lý của tổ chức này có hệ
thống chặt chẽ, từ Sài Gòn đến các địa phương. Chi nhánh Nhiêu Bá Ninh Hòa dưới
quyền quản lý của tổ chức Nhiêu Bá Khánh Hòa, nằm ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám
Nha Trang. Tôi còn nhớ, thỉnh thoảng có chiếc xe hơi giống con cóc, loại
"traction avant" của Citroën, chở ông Tây đến nhà tôi, lấy các mẩu
rượu rồi dùng những dụng cụ đo lường mang theo để thử nghiệm. Họ muốn xem rượu
ở các đại lý như thế nào. Việc kiểm tra thường xuyên các đại lý là một nguyên
tắc quản lý chất lượng của Nhiêu Bá. Trước 1960 đại lý Nhiêu Bá Ninh Hòa được
điều hành bởi ông Lý Xuân. Ông Lý Xuân về hưu, Nhiêu Bá giao cho ông Trần Thành
từ Nha Trang ra thay, điều hành, quản lý đến 1976. Khi SFDIC chính thức giải
tán ở VN và lui binh về mẫu quốc, thì cơ sở này thuộc công hữu và được dùng làm
cửa hàng buôn bán. Cơ sở Nhiêu Bá Ninh Hòa khi ấy là một tòa nhà được xây dựng
trên khu đất rộng 530m2. Ngay cửa vào chính là văn phòng và một sảnh
nhỏ làm nơi giao dịch. Phía sau là nhà ở của gia đình người quản lý và các kho
chứa rượu. Một cổng lớn bên trái vào sân sau, dành cho xe vận tải chở rượu
xuất, nhập. Các kho chứa đầy các khạp sành rượu lớn, nằm san sát nhau, chỉ chừa
các lối đi. Khạp được đậy rất kỹ. Mỗi lần có dịp vào kho, khi người phục vụ mở
nắp khạp để đong rượu, tôi thường ghé mũi vào gần miệng khạp để nhận một cảm
giác kinh khủng - một mùi nồng nặc, buốt cả óc, bưng cả đầu, choáng váng mặt
mày. Biết là khó chịu, nhưng lần nào tôi cũng thích hít một cái như thế, chẳng
biết có phải do ghiền ?!. Nồng độ ở các khạp rượu này luôn trên 40°. Rượu được
đong bằng một cái ca kim loại 10 lít, trên thân có ghi vạch chia đơn vị.
Rượu của công xi Nhiêu Bá có mặt khắp Ninh Hòa
nhưng không phải ai cũng biết xuất xứ của nó. Mỗi chuyến xe chở hàng của nhà
tôi đến các quán ở làng quê Ninh Hòa đều có vài can rượu kèm theo. Dù những nơi
rất xa như: Ninh Thượng, Ninh Hưng, Ninh Hải v.v... Không chỉ những chàng
nghiện rượu dùng đến hằng ngày, mà hầu như người Ninh Hòa thời đó có dịp uống
rượu đều dùng loại rượu này. Nếu không nhậu đến "quắt cần câu" thì
cũng uống một ly rượu lễ tiệc, rượu cúng cho phải tình phải nghĩa. Ở nông thôn
ngày ấy có gì vui thú hơn là chén chú, chén anh sau những giờ phút nhọc nhằn
với ruộng đồng.
Với sự hiện diện
lâu đời của công xi rượu và nhớ đến một số công trình khác của Pháp để lại trên
mảnh đất Ninh Hòa, ai có quan tâm, tìm hiểu một chút, đều có thể thấy rõ chính
sách thuộc địa của Pháp. Những tên gọi như: Đồn G.I, Bataillon, Lao ông Cọt, Sở
Thương Chánh, Ga xe lửa,... đều là những công cụ phục vụ cho cai trị, khai thác
và ngu dân...Cái gì thực sự tốt đẹp và cần thiết cho người bản xứ thì khoan nói
tới. Còn việc khai thác tài nguyên, ăn chơi, trụy lạc cứ khuyến khích, tạo điều
kiện phát triển. Nên công xi rượu Nhiêu Bá ở Ninh Hòa cũng như cả hiệp hội các
lò rượu Pháp làm ăn thịnh vượng trên toàn cõi Đông Dương, chúng ta chẳng có gì
phải ngạc nhiên. Gạo thì không đủ ăn chứ rượu cứ phải ra lò.!! Nên biết rằng,
muốn có 1 lít rượu 40° phải dùng
đến 2.5 kg gạo và mỗi năm Nhiêu Bá Ninh Hòa bán ra hơn 400.000 lít rượu (những
năm 60 -70).
Việc Đường Du Hào nói trước đó công xi rượu là
nơi nhốt tù chính trị lại là một đề tài khác, đáng nói của cơ sở bán rượu này.
Là người Ninh Hòa trong giai đoạn 1945 -1954. không ai không nghe tên –
"lao ông Cọt". Đó là tên của quan quản lý nhà tù, người Pháp, gốc đảo
Corse. Lao ông Cọt là nơi thực dân Pháp lập nên để giam cầm những người Ninh
Hòa yêu nước, trong phong trào Việt Minh, chống lại chế độ thực dân. Nơi đó là
nỗi ám ảnh của người dân Ninh Hòa với người thân hoặc đồng bào của mình bị tù
đày hoặc phải bỏ mạng dưới sự hà khắc của chế độ thực dân. Trước 1945 Cơ sở
Nhiêu Bá Ninh Hòa chiếm một diện tích rộng lớn, khoảng 3000m2. Bao
gồm đất của rạp Vĩnh Hiệp, vượt qua đoạn đầu đường từ Vĩnh Phú đi Quang Đông,
bao trùm khu vực chi thông tin cũ. Vì trong giai đoạn đó, công xi rượu vừa là
nơi buôn bán, vừa sản xuất rượu nên nhà xưởng của Nhiêu Bá có nhiều bộ phận.
Gồm kho nhiên liệu, kho nguyên liệu, nhà ủ men, xưởng chưng cất, nhà ở, kho
chứa rượu, garage, nơi giao dịch mua bán.
Sau 1945, khi Nhiêu Bá thuộc SFDIC thì cơ sở rượu
Ninh Hòa chỉ còn chức năng phân phối. Rượu được chở từ Sài Gòn ra và công xi
rượu Ninh Hòa chỉ có nhiệm vụ buôn bán. Vì vậy một số kho xưởng, các bộ phận
phục vụ chưng cất rượu không còn sử dụng nên bỏ phế. Thời kỳ ấy phong trào Việt
Minh hoạt động mạnh ở Ninh Hòa. Nhiều người yêu nước rơi vào tay giặc. Thực dân
Pháp gia tăng các cuộc ruồng bố, bắt giam nhiều thanh niên, trai tráng bị nghi
ngờ khác ở các làng quê Ninh Hòa. Khu tạm giam và thẩm vấn Bataillon không đủ
chỗ, nên thực dân Pháp cấp bách tìm thêm một nơi giam giữ khác. Vì SFDIC là
"phe nhà", lại sẵn có kho, xưởng bỏ trống, không còn gì hay hơn là
giao cơ sở cho quan thầy Pháp biến nó thành trại giam. Thế là lao ông Cọt hình
thành từ đó. Cơ sở Nhiêu Bá chỉ giữ lại kho chứa rượu và nơi giao dịch cùng một
vài diện tích cần thiết khác để hoạt động yên ổn bên cạnh nhà lao mãi sau này.
Sau hiệp định Genève 1954, tù binh các bên được trao trả, thì lần nữa lao ông
Cọt lại thất nghiệp, hoang tàn. Vì không muốn thấy chứng tích thương đau, một
lao tù của đêm dài nô lệ, chính quyền mới của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, mong muốn
phá bỏ nhà lao để xây dựng lại một công trình khác ý nghĩa hơn. Với thế lực của
mình, ông Phạm Ngô (còn gọi là ông xã Chè hoặc tổng Chè) đã dành quyền kinh
doanh cùng với sự góp vốn của các ông Phạm Đào (giáo Đào), ông Bùi Hữu Thành
(giáo Thành), làm nên rạp hát Vĩnh Hiệp, vào năm 1955 –1956 cùng ăn chia với
nhà nước.
Với quy mô, diện mạo và vị trí tọa lạc của công xi
rượu, gợi cho tôi nhiều thắc mắc về lịch sử của cơ sở này. Suy từ hiện trạng ta
thấy rằng đây là một kiến trúc của người Trung Hoa thế kỷ 19. Tường bằng gạch
đất nung như gạch thẻ, dày 4 đến 6 tấc, hồ xây bằng vôi trộn với mật đường, mái
lợp ngói âm dương.
Khi ông Trần Thành về tiếp nhận cơ sở năm 1960, có sửa chữa lại và được những người lớn tuổi, am hiểu ở địa phương cho rằng công trình đã có khoảng 70-80 năm tuổi. Như vậy tính đến thời điểm phá bỏ vào năm 2002 thì công trình này tồn tại gần 120 năm. So ra kiến trúc này xuất hiện cùng thời với chùa Hội Quán. Công Trình được xây dựng trên nền cũ dinh Thái Khang, nằm bên chân cầu, sát con sông Dinh, một vị trí rất đẹp và đặc biệt của cuộc đất (mặc dù trước đây công xi rượu cách sông bởi con hẻm và một dãy nhà nhưng tôi nghĩ rằng đó chỉ là những nhà dân xây chen lấn, chiếm bờ sông Dinh).
Khi ông Trần Thành về tiếp nhận cơ sở năm 1960, có sửa chữa lại và được những người lớn tuổi, am hiểu ở địa phương cho rằng công trình đã có khoảng 70-80 năm tuổi. Như vậy tính đến thời điểm phá bỏ vào năm 2002 thì công trình này tồn tại gần 120 năm. So ra kiến trúc này xuất hiện cùng thời với chùa Hội Quán. Công Trình được xây dựng trên nền cũ dinh Thái Khang, nằm bên chân cầu, sát con sông Dinh, một vị trí rất đẹp và đặc biệt của cuộc đất (mặc dù trước đây công xi rượu cách sông bởi con hẻm và một dãy nhà nhưng tôi nghĩ rằng đó chỉ là những nhà dân xây chen lấn, chiếm bờ sông Dinh).
Quay lại lịch sử di dân của người Hoa vào vùng đất
Ninh Hòa đầu thế kỷ 19. Đây là khởi sự của triều Nguyễn, thời vua Gia Long.
Trong thời kỳ này ở Trung Hoa nổi lên phong trào kháng Thanh, phục Minh. Một số
di thần nhà Minh bị đàn áp mạnh mẽ phải đi lánh nạn. Dân các tỉnh Phúc Kiến,
Quảng Đông, Hải Nam, Triều Châu cùng chạy theo đường biển về phương Nam, ghé và
định cư ở các vùng đất dọc miền trung VN, tập trung ở các cửa sông, trong đó có
Ninh Hòa. Một nhóm nhỏ người Hoa ghé vào Ninh Hải lập nên thị tứ ở bán đảo Đông
Hòa, một bộ phận khác ghé vào cửa biển Hà Liên định cư ở Văn Định xã Ninh Phú,
ở Bến Đò xã Ninh Hà. Sau đó họ tiếp tục đi ngược sông Dinh để tìm vùng đất mới
và biết được một quần cư trù phú khác, có sinh hoạt chợ búa, tổ chức xã hội
trật tự, thích hợp với sở trường sinh kế của mình - đó là chợ Dinh. Từ đó họ an
cư, quy tụ, sinh sống, làm chủ một khu vực lớn quanh chợ Dinh, thành một khu
phố với sinh hoạt theo cộng đồng và tập quán riêng. Kiến trúc nhà cửa của họ
cũng khác kiểu cách với dân địa phương. Hầu hết làm nghề buôn bán. Ta thấy rằng
những nhóm người Hoa di dân đi ngược sông Dinh, gặp cầu Dinh chỉ quẹo trái, đổ
bộ phía chợ Dinh chứ không thấy bóng dáng nhà cửa riêng lẻ nào của người Hoa có
mặt bên phải cầu Dinh - bên Vĩnh Phú. Điều ấy cho chúng ta hiểu rằng:
Truy ngược về 120 năm trước ta thấy đó là những
năm sau khi vua Tự Đức mất. Lịch sử Việt Nam giai đoạn này có nhiều biến động.
Vì không con nối dõi, các phụ chính đại thần là Trần Tiến Thành, Nguyễn Văn
Tường, Tôn Thất Thuyết, mưu bỏ vua này, lập vua khác. Chỉ 5 năm đã đổi thay 5
đời vua là Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh (1883-1888). Là
thời kỳ rối ren, có nhiều thảm kịch triều chính của nhà Nguyễn.
Cùng lúc người Pháp bắt đầu gây hấn với triều đình Huế, thực hiện ý đồ xâm chiếm nước ta. Đất nước đang vận hạn suy yếu, thù trong, giặc ngoài như thế thì sự xuất hiện công trình này là một sản phẩm của cơ hội. Tôi nghĩ rằng dinh thự đó không phải là di tích của vua, chúa Nguyễn lập nên mà là của một người Hoa bên chợ Dinh có nhiều thế lực, nhiều tiền bạc, đã mạnh dạn ra tay, thử làm một bước đột phá sang sông, được sự đồng tình của quan địa phương. Thừa lúc triều đình bất ổn, thiếu kiểm soát mà xây dựng nên. Lúc này dinh trấn thủ đã dời về Diên Khánh, còn chốn công đường địa phương thì ở tận Phước Đa, nên ý chí giữ gìn "đất tổ" không còn mạnh mẽ. Dù đây là công trình duy nhất của người Hoa hiện diện bên tả ngạn sông Dinh, nhưng "đất tổ" đã mất thiêng từ đó. Mở ra một thời kỳ dân cư hóa khu vực dinh Thái Khang.
Cùng lúc người Pháp bắt đầu gây hấn với triều đình Huế, thực hiện ý đồ xâm chiếm nước ta. Đất nước đang vận hạn suy yếu, thù trong, giặc ngoài như thế thì sự xuất hiện công trình này là một sản phẩm của cơ hội. Tôi nghĩ rằng dinh thự đó không phải là di tích của vua, chúa Nguyễn lập nên mà là của một người Hoa bên chợ Dinh có nhiều thế lực, nhiều tiền bạc, đã mạnh dạn ra tay, thử làm một bước đột phá sang sông, được sự đồng tình của quan địa phương. Thừa lúc triều đình bất ổn, thiếu kiểm soát mà xây dựng nên. Lúc này dinh trấn thủ đã dời về Diên Khánh, còn chốn công đường địa phương thì ở tận Phước Đa, nên ý chí giữ gìn "đất tổ" không còn mạnh mẽ. Dù đây là công trình duy nhất của người Hoa hiện diện bên tả ngạn sông Dinh, nhưng "đất tổ" đã mất thiêng từ đó. Mở ra một thời kỳ dân cư hóa khu vực dinh Thái Khang.
Thời gian dài sau, ít lắm cũng sau 1925, khi cầu
Dinh gỗ thành Beton và đường cái quan được tráng nhựa, quốc lộ số 1 đi lại dễ
dàng. Nhiêu Tấn Hiếu - một ông chủ lớn người Hoa (nhưng không phải người Hoa
định cư ở Ninh Hòa), trên đường thong dong đi dọc miền Trung, tìm thị trường
khuếch trương ngành rượu, thấy công trình bên bờ sông Dinh có một vị trí quá
đẹp, thích hợp cho việc làm ăn của mình, nên bằng mọi giá đã tậu lại cơ ngơi
của người đồng hương, tạo nên sự nghiệp Nhiêu Bá như đã nói ở phần trên. Với
một lý lịch rối rắm như thế, công xi rượu không phải là một nơi bình yên hoặc
bình thường như dưới con mắt của nhiều người Ninh Hòa. Mặc dù ít người biết
tới, nhưng một thời, nó vừa là tác nhân, vừa là nạn nhân, là chứng tích của bể
dâu, của thế sự thăng trầm trên vùng đất Ninh Hòa chúng ta.
Công xi rượu Nhiêu Bá là một địa chỉ có tính lịch sử, rất gần cầu Dinh nhưng ít người
biết tới. Trái lại rạp hát Vĩnh Hiệp, dù sinh sau đẻ muộn, là hậu duệ mấy đời
của công xi rượu lại là địa chỉ nổi danh hơn vì tính đại chúng của nó.
Tên Vĩnh Hiệp là từ
ghép của hai làng Vĩnh Phú và Mỹ Hiệp. Với cái tên như vậy, người chủ rạp mong
muốn chiếm được cảm tình của khán giả trong vùng bởi sự kết hợp của 2 từ thân
quen này. Nằm bên cạnh công xi rượu, được nhiều người Ninh Hòa biết đến vì nó
là rạp hát, một nơi sinh hoạt sân khấu lẫn chiếu phim duy nhất ở Ninh Hòa thời
đó. Khoảng thập niên 60, cái thời mà nghệ thuật cải lương lên đến đỉnh cao, rất
hấp dẫn người dân miền Nam nói chung và người Ninh Hòa nói riêng, thì không ai
không mong muốn một lần được xem cải lương tại rạp Vĩnh Hiệp. Cứ mỗi lần có
đoàn cải lương từ miền nam ra Ninh Hòa trình diễn thì những ngày đó, thị trấn
như có lễ hội, nhất là khu vực cầu Dinh - với "banderole",
"panneau" quảng cáo và cờ giăng đủ màu sắc. Bây giờ hồi tưởng tôi vẫn
còn thấy nôn nao, miên man, vui buồn trộn lẫn không tả được. Mỗi chiều cứ
khoảng 5 giờ, để khởi động cho xuất hát tối, những chiếc loa phóng thanh từ
phía cầu Dinh phát lên những bài vọng cổ.
Ngày ấy bài vọng cổ rất chân phương, không cách điệu, nghe cứ buồn
man mác. Vì vốn xuất xứ là bài "dạ cổ Hoài lang"- Bài hát là lời than
thở của người vợ nhớ thương chồng khi chiều tối (một sérénade VN ). Đó là một
giai điệu buồn mà mãi sau này tôi mới cảm nhận được. Cũng từ hướng cầu Dinh ấy,
chiếc xe đi rao vở tuồng cải lương với những lời giới thiệu rộn ràng, thúc dục.
Tiếng loa vang dội, mỗi lúc cứ to dần. Phát thanh viên giọng miền Nam, với ngữ
điệu hào hứng, dồn dập. Xe chạy tới đâu xóm làng sôi động tới đó. Lũ trẻ xóm
Rượu (lấy vị trí nơi ở của tôi) sướng điên cả lên, mặt mày sáng rỡ, vểnh tai,
định vị xe đang tới đâu để chuẩn bị cho một cuộc chạy đua tiếp sức. Nhiều đứa
quá háo hức, không chịu đứng tại chỗ mà chạy đón đầu. Khi chiếc xe xuất hiện ở
đầu xóm, nhân viên quảng cáo tay cầm những tờ ram (programme) phân phát cho người
lớn bên đường, thì lũ trẻ mình trần, chân đất, chạy bán sống, bán chết theo xe,
với mong muốn dành giật cho được nhiều tờ ram, xem như những chiến lợi phẩm.
Mặc dù xe chỉ chạy nước kiệu, nhưng lũ trẻ phải vắt dò lên cổ mới theo kịp. Khi
đã đuối sức và hết đoạn đường kiểm soát của mình, chúng mới chịu buông và
nhường cho những đứa trẻ của chặng khác. Cứ như thế, xe quảng cáo chạy xa dần
tận xóm Nhà Thờ. Đôi lúc chưa thỏa mãn, vài đứa còn nán lại chờ xe quay về,
nhưng thường lượt này, xe chạy rất nhanh nên chẳng gặt hái được gì thêm. Kết
quả buổi chiều "truy hoang" là có đứa phải lác cả mặt mũi, trầy cả
chân tay, hoặc bị cha mẹ cho trận đòn nên thân, để đánh đổi những chiến công vô
tích sự nhưng không kém phần nguy hiểm này.
Những ngày ấy, buổi tối khu vực cầu Dinh là tiêu điểm của người
Ninh Hòa. Những khán giả nhiệt tình ở các làng xa thì tạm gác công việc đồng
áng buổi chiều, lo cơm nước sớm để kịp xuống phố. Người buôn bán ở chợ Dinh thì
vội dọn dẹp sạp hàng. Còn người thị trấn xôn xao, lòng dạ bồn chồn, ra vào chờ
đợi. Không phải ai đến rạp cũng vì mục đích xem hát. Thường buổi hát cải lương
mở màn lúc 8 giờ tối, nhưng khoảng 6 giờ chiều bà con đã lần lượt tụ tập, chừng
7 giờ đã đông nghẹt khu vực quanh cầu Dinh. Người thực sự muốn xem hát thì vào
sâu bên trong, chen lấn đến quầy để mua vé vào rạp. Người phân vân, chờ đợi thì
tụm năm, tụm ba trước sân. Người ham vui đứng tràn ra đường hoặc vất vưởng dọc
cầu Dinh. Đây là cơ hội tụ tập, gặp gỡ, nhìn ngắm, tán gẫu của người Ninh Hòa,
một xứ vốn nghèo những nơi vui chơi công cộng thời ấy.
Dịp này cũng là lúc hẹn hò của bạn tình, bạn nhậu. Cứ lẩn quất nơi
các hàng quán quanh rạp là được một buổi tối no say, hạnh phúc, rồi về trong tư
thế như người đi xem cải lương. Những đứa trẻ như tôi thời ấy, được cha mẹ cho
đi xem hát là niềm vui sướng tột cùng. Với sân khấu màu sắc, phông màn rực rỡ,
đào kép phấn son, trang phục lòe loẹt cứ làm mê mẩn, nức lòng tuổi thơ chứ nào
có thưởng thức được gì sâu xa. Hào hứng, ngây ngất với các màn bay lượn, đấu
kiếm, tung chưởng của vở tuồng kiếm hiệp.
Chảy nước mắt với những pha lâm ly bi đát. Nghe đào kép xuống câu vọng cổ, cùng vỗ tay với mọi người, như thế là tỏ ra sành điệu. Làm sao quên được giai điệu luyến tiếc của bài ca tạm biệt (Au revoir: tò te, cây me đánh đu...) khi cuối vở tuồng.v.v
Không chấm dứt ở đó, ban ngày còn rủ bạn qua rạp xem hình các đào kép treo ở tiền sảnh. Lũ trẻ rất thích thú, mê mệt các chân dung bóng bẩy, xinh đẹp của các nghệ sĩ. Những đoàn cải lương nổi tiếng thời đó đã đi qua vùng đất Ninh Hòa và trình diễn ở rạp Vĩnh Hiệp như: Kim Chưởng, Thống Nhất, Kim Chung, Hương Mùa Thu, Dạ Lý Hương.v.v. với các đào kép như: Út Bạch Lan, Diệu Hiền, Thanh Hương, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Mỹ Châu,v.v... Út Trà Ôn, Hữu Phước, Minh Cảnh, Út Hiền, Thành Được, Tấn Tài.v.v...Các vở cải lương nổi tiếng như: Thuyền ra cửa biển, Mắt em là bể oan cừu, Sơn nữ Phà Ca, Cô gái Đồ Long, Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà.v.v.. Phải nói rằng - với người Ninh Hòa, nhất là những người bình dân. Những kỷ niệm, hình ảnh về văn hóa,văn nghệ chỉ có chừng đó. Quẩn quanh các đào kép, các vở tuồng, các đoàn cải lương. Nó là kiến thức, là dân trí, là cả một đời.
Chảy nước mắt với những pha lâm ly bi đát. Nghe đào kép xuống câu vọng cổ, cùng vỗ tay với mọi người, như thế là tỏ ra sành điệu. Làm sao quên được giai điệu luyến tiếc của bài ca tạm biệt (Au revoir: tò te, cây me đánh đu...) khi cuối vở tuồng.v.v
Không chấm dứt ở đó, ban ngày còn rủ bạn qua rạp xem hình các đào kép treo ở tiền sảnh. Lũ trẻ rất thích thú, mê mệt các chân dung bóng bẩy, xinh đẹp của các nghệ sĩ. Những đoàn cải lương nổi tiếng thời đó đã đi qua vùng đất Ninh Hòa và trình diễn ở rạp Vĩnh Hiệp như: Kim Chưởng, Thống Nhất, Kim Chung, Hương Mùa Thu, Dạ Lý Hương.v.v. với các đào kép như: Út Bạch Lan, Diệu Hiền, Thanh Hương, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Mỹ Châu,v.v... Út Trà Ôn, Hữu Phước, Minh Cảnh, Út Hiền, Thành Được, Tấn Tài.v.v...Các vở cải lương nổi tiếng như: Thuyền ra cửa biển, Mắt em là bể oan cừu, Sơn nữ Phà Ca, Cô gái Đồ Long, Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà.v.v.. Phải nói rằng - với người Ninh Hòa, nhất là những người bình dân. Những kỷ niệm, hình ảnh về văn hóa,văn nghệ chỉ có chừng đó. Quẩn quanh các đào kép, các vở tuồng, các đoàn cải lương. Nó là kiến thức, là dân trí, là cả một đời.
Ngoài những ngày phải đón tiếp đoàn cải lương, rạp Vĩnh Hiệp là nơi
thường trực chiếu xi-nê vào buổi chiều và tối. Cứ khoảng 2 giờ chiều là rạp
vang lên mấy bài hát tân nhạc, lải nhải, quen thuộc nghe đến phát ngán. Chẳng
qua là một sự lên tiếng: - Rạp bán vé rồi, tụi mày đứa nào muốn coi xi-nê thì
chuẩn bị... Ai là học sinh trung học của Ninh Hòa giai đoạn ấy không khỏi không
một lần trốn học đi xem xi nê ở rạp Vĩnh Hiệp. Chắc chắn không ít người có
nhiều kỷ niệm sâu đậm với nó. Nhờ có rạp tôi mới biết được "thành Naple
trong 4 ngày khói lửa", "cầu sông Kwait", "huyết
chiến Okinawa" hoặc "Hiệp sĩ mù", " Tinh võ môn", "Mãnh
Long quá giang" hoặc "Thanh xà - Bạch xà", "Lương
Sơn Bá - Chúc Anh Đài", "Tề thiên đại thánh"... Nhờ
nó chúng ta có dịp chiêm ngưỡng các khuôn mặt khả ái: Lý Thanh, Lăng Ba, Miêu
Khả Tú, Trịnh Phối Phối... hoặc điển trai, oai vệ của Địch Long, Vương Vũ,
Khương Đại Vệ, Lý Tiểu Long...
Thỉnh thoảng nơi này cũng tổ chức hội diễn văn nghệ các trường học, các địa phương trong quận, hoặc cuối năm với chương trình đại nhạc hội đầy hấp dẫn, với các tiết mục ca hát hiếm có, và đỉnh điểm là màn vũ sexy gây "cháy rạp " của thần vệ nữ Tuyết Nhung,.... Sở dĩ rạp Vĩnh Hiệp đóng một vai trò quan trọng như vậy vì thời đó ở Ninh Hòa nó là độc nhất vô nhị. Có thể nói như vậy vì rạp Thái Bình đã ọp ẹp, thỉnh thoảng chỉ để hát tuồng. Bên cạnh ấy, lúc bấy giờ không có loại phương tiện nào khác để xem như: TV, Video. Đến gần cuối thập niên 60 mới có hệ thống truyền hình quốc gia, chỉ xem được đài Qui Nhơn. Không phải nhà nào cũng có TV, chương trình thì hạn chế, phát sóng sau 19 giờ. Qua đầu thập niên 70 chừng 20% số nhà ở thị trấn có TV, ở thôn quê rất hiếm. Thỉnh thoảng, chi thông tin Ninh Hòa cử chiếc xe lam chiếu phim lưu động, đi phục vụ các nơi, chỉ những phim có chủ đề thời sự, chính trị. Thậm chí nguồn năng lượng chính để sinh hoạt là điện công cộng cũng chỉ có vào cuối những năm 60 và sau 7 giờ tối. Phạm vi phục vụ cũng chỉ ở trung tâm thị trấn Ninh Hòa.
Thỉnh thoảng nơi này cũng tổ chức hội diễn văn nghệ các trường học, các địa phương trong quận, hoặc cuối năm với chương trình đại nhạc hội đầy hấp dẫn, với các tiết mục ca hát hiếm có, và đỉnh điểm là màn vũ sexy gây "cháy rạp " của thần vệ nữ Tuyết Nhung,.... Sở dĩ rạp Vĩnh Hiệp đóng một vai trò quan trọng như vậy vì thời đó ở Ninh Hòa nó là độc nhất vô nhị. Có thể nói như vậy vì rạp Thái Bình đã ọp ẹp, thỉnh thoảng chỉ để hát tuồng. Bên cạnh ấy, lúc bấy giờ không có loại phương tiện nào khác để xem như: TV, Video. Đến gần cuối thập niên 60 mới có hệ thống truyền hình quốc gia, chỉ xem được đài Qui Nhơn. Không phải nhà nào cũng có TV, chương trình thì hạn chế, phát sóng sau 19 giờ. Qua đầu thập niên 70 chừng 20% số nhà ở thị trấn có TV, ở thôn quê rất hiếm. Thỉnh thoảng, chi thông tin Ninh Hòa cử chiếc xe lam chiếu phim lưu động, đi phục vụ các nơi, chỉ những phim có chủ đề thời sự, chính trị. Thậm chí nguồn năng lượng chính để sinh hoạt là điện công cộng cũng chỉ có vào cuối những năm 60 và sau 7 giờ tối. Phạm vi phục vụ cũng chỉ ở trung tâm thị trấn Ninh Hòa.
Với rạp
Vĩnh Hiệp, dù là của tư nhân, chủ rạp không chỉ thu bạc cắc, và vì thế mà chúng
ta phủ nhận hoặc quên đi sự hiện diện tích cực của công trình này ở Ninh Hòa.
Nó được đặt ở vị trí có nhiều thuận lợi. Khu đất khá lớn, diện tích 1500m2,
gồm sân trước, khán phòng, sân khấu và các diện tích phụ khác. Sức chứa khoảng
700 chỗ ngồi. Tài sản này không nhỏ tí nào. Nếu với đồng tiền riêng tư ấy,
những người chủ mua vài căn phố, vài mẫu ruộng, dăm ba chiếc xe đò thì nhiều
thế hệ tuổi trẻ chúng ta chỉ biết hát bội, bài chòi, đám đình, đám ma hoặc đôi
lúc đi phá làng phá xóm...
Nhờ nó, người Ninh Hòa có nơi giao lưu văn nghệ, thưởng thức cải lương- một món ăn dân gian giàu tính văn hóa dân tộc thời bấy giờ, và được nhìn ra thế giới bên ngoài với nghệ thuật thứ 7. Rạp Vĩnh Hiệp với người Ninh Hòa như cái nôi, cái cửa ngõ văn hoá. Là một phần của cuộc sống tinh thần của người dân trong quận hoặc ít lắm là của người thị trấn một thời.
Nhờ nó, người Ninh Hòa có nơi giao lưu văn nghệ, thưởng thức cải lương- một món ăn dân gian giàu tính văn hóa dân tộc thời bấy giờ, và được nhìn ra thế giới bên ngoài với nghệ thuật thứ 7. Rạp Vĩnh Hiệp với người Ninh Hòa như cái nôi, cái cửa ngõ văn hoá. Là một phần của cuộc sống tinh thần của người dân trong quận hoặc ít lắm là của người thị trấn một thời.
Với cầu
Dinh, sự hiện diện của rạp Vĩnh Hiệp như cây đa bên bến nước. Bến nước vẫn nhộn
nhịp người qua lại nhưng cây đa không còn nữa. Rạp Vĩnh Hiệp và công xi rượu
chỉ còn là chuyện dĩ vãng. Hai kiến trúc trên đã quá suy tàn, được phá bỏ năm
2002 để chỉnh trang lại thị trấn. Nơi ấy bây giờ là những căn nhà phố vô cảm,
vài cửa tiệm nhí nhố không gợi chút suy tư gì. Rất tiếc qui hoạch ấy không dành
chút không gian công cộng nào để người Ninh Hòa còn dịp gợi nhớ hoặc tưởng
niệm.
Tôi phải quay ngược lại vấn đề văn hóa một chút.
Chỉ nói ở giai đoạn thập niên 60 đến 1975. Khi nhắc lại trào lưu phim ảnh võ
thuật Đài Loan, Hồng Kông đã ngự trị và chiếm một ngôi vị rất cao trong tâm trí
thanh thiếu niên nhiều thế hệ là nói sự kiện, chứ tôi không cổ xúy và đánh giá cao
loại văn hoá ấy. Những cao thủ võ lâm Hông Kông, Đài Loan đã hạ đo ván bài
chòi, hát bội. Đã đánh tan tác cải lương cùng nhiều loại hình nghệ thuật khác
không một ai can gián. Nó tiêu tốn nhiều thời giờ của nhiều thế hệ. Trong ký ức
của thanh niên Ninh Hòa cũng như lịch sử rạp Vĩnh Hiệp đã không có chỗ cho
những tác phẩm điện ảnh lớn khác của các nước Âu - Mỹ, những bộ phim dựa vào
các tác phẩm văn học nổi tiếng phương tây như: La Vérité, Khi nào còn loài
người, Cuốn theo chiều gió, Buồn ơi chào mi, Chiến tranh và Hòa bình, Vacance
Romaine, Cléopâtre..v.v. Cùng những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thế giới như:
Catherine Deneuve, Brigitte Bardot, Sauphia Lauraine, Gina Lolobrigida, Alain
Delon, Robert Michum, Litz Taylor..v.v.
Việc tiếp nhận văn hóa như vậy ở quê ta không có
tính kế thừa, chẳng ai dẫn dắt, mọi thứ cứ tự nhiên, không chọn lựa và chắc
chắn các nhà kinh doanh không bỏ qua cơ hội khai thác thị hiếu, để thu được
nhiều tiền. Vì rằng chuyện giao lưu văn hóa nên đa dạng, chuyện thưởng thức
nghệ thuật không ai giống ai, nhưng với nghệ thuật thứ 7 người Ninh Hòa chỉ có
một con đường - đó là con đường đến cầu Dinh, đến với rạp Vĩnh Hiệp.
Trong khi ấy, tại Nha Trang có đến 5 rạp, thường
trực chiếu các loại phim khác nhau, để ai thích gì thì tùy chọn. Cho nên nhiều
thế hệ trẻ của Ninh Hòa bị thua thiệt, có khiếm khuyết trong thưởng lãm nghệ
thuật, không thể đi xa hơn ở một số trào lưu văn hóa. Mặc dù có một số nhỏ, có
điều kiện đọc sách báo, nghe radio, hoặc đi học ở Nha Trang... có cái nhìn khác
hơn. Nói tóm lại, những phim ảnh mà người Ninh Hòa được xem ở rạp Vĩnh Hiệp chỉ
hạn chế ở những nội dung: - thần thoại, chiến tranh, võ thuật. Còn những nội
dung có tính giáo dục tình cảm cao đẹp, những vấn đề về con người, về nhân bản
thiếu đi rất nhiều.
Có thể ví cầu Dinh như cái bao lơn (balcon) của
thị trấn Ninh Hòa. Từ cây cầu ấy ta có thể nhìn và khái quát được dòng sông -
nhìn hướng Ðông, dòng sông uốn lượn về phía bên trái một vòng rất gợi cảm, giữa
dòng là con đập, mặt sông quang đãng, rộng mở, xa xa là núi Hòn Hèo. Nhìn về
hướng Tây là cầu Sắt, cây cối um tùm, dòng sông thâm u, thoảng hiện núi Vọng
Phu huyền thoại.
Cầu Dinh nước chảy ngập
ngừng
Quanh năm lặng lẽ in hình Vọng Phu
(Hoàng Minh Mục)
Quanh năm lặng lẽ in hình Vọng Phu
(Hoàng Minh Mục)
Cầu Dinh cũng là nơi để bà con thị trấn Ninh Hòa
ngắm nhìn sông nước. Tuy bình thường sông Dinh nhẹ nhàng:
Đi qua cầu sông Dinh
Dòng thương xanh vời vợi
Dòng thương xanh vời vợi
(Nỗi niềm cố quận – Nguyễn
Tường Hoài)
cũng dòng sông mang tình tự
quê hương
cũng cầu Dinh với dòng nước hữu tình
cũng cầu Dinh với dòng nước hữu tình
(Những nẻo đường trong mơ -
Trần Thị Nết)
Nhưng có dịp vào mùa lũ lụt đứng trên cầu Dinh, là đứng trên
dòng nước, sẽ thấy nước mênh mông, ngầu đục, cuồn cuộn chảy xiết đến chóng mặt.
Đêm đến cầu Dinh còn là nơi đón gió, tìm chút không khí thoáng
đãng, nhẹ nhàng sau ngày làm việc mệt nhọc của người dân thị trấn Ninh Hòa. Dù
sông đêm không còn sinh động nữa, nhưng ngọn gió Ðông Nam thổi ngược dòng, mang
hơi nước từ mặt sông lên rất tươi mát. Cầu Dinh về đêm cũng là nơi hò hẹn, tình
tự của những đôi tình nhân, một nơi tưởng như người xe tấp nập, không yên ổn
ấy, lại an toàn và rất dễ chịu cho những cuộc gặp gỡ.
Ta hãy nghe Đường Du Hào nhắc lại hình ảnh sinh hoạt
– "...Ấy vậy mà cầu Dinh một thời đã là thắng cảnh của người bản xứ, nơi dạo chơi và cũng là chỗ dừng chân của đám trai gái phố thị về đêm. Thuở xa xưa lúc còn thanh bình, vào những đêm hè người ta hay kéo nhau ra cầu Dinh hóng gió. Từng cặp, từng nhóm, tản bộ đến đây ngồi trên mạn cầu trao đổi những mẩu chuyện không đâu. Vài anh thanh niên trai trẻ ngứa cổ cất giọng hát vài câu vọng cổ nghe thật tình tứ đẩy đưa...”.
Như vậy cầu Dinh về đêm lại vui vẻ, lý thú, trái ngược với cái náo nhiệt, gay gắt ban ngày. Hình như các cuộc hò hẹn nơi cầu Dinh đều dẫn đến những kết quả tốt đẹp, nên chúng ta chưa nghe người Ninh Hòa nói về một vụ nhảy cầu nào do thất tình cả.
Chỉ có Nguyễn Văn Thành nhiều duyên nợ với cầu Dinh, phải lận đận, đã cay đắng thố lộ :
Ta hãy nghe Đường Du Hào nhắc lại hình ảnh sinh hoạt
– "...Ấy vậy mà cầu Dinh một thời đã là thắng cảnh của người bản xứ, nơi dạo chơi và cũng là chỗ dừng chân của đám trai gái phố thị về đêm. Thuở xa xưa lúc còn thanh bình, vào những đêm hè người ta hay kéo nhau ra cầu Dinh hóng gió. Từng cặp, từng nhóm, tản bộ đến đây ngồi trên mạn cầu trao đổi những mẩu chuyện không đâu. Vài anh thanh niên trai trẻ ngứa cổ cất giọng hát vài câu vọng cổ nghe thật tình tứ đẩy đưa...”.
Như vậy cầu Dinh về đêm lại vui vẻ, lý thú, trái ngược với cái náo nhiệt, gay gắt ban ngày. Hình như các cuộc hò hẹn nơi cầu Dinh đều dẫn đến những kết quả tốt đẹp, nên chúng ta chưa nghe người Ninh Hòa nói về một vụ nhảy cầu nào do thất tình cả.
Chỉ có Nguyễn Văn Thành nhiều duyên nợ với cầu Dinh, phải lận đận, đã cay đắng thố lộ :
Hoàng hôn phủ xuống đã lâu
Sao anh thất thểu tựa cầu sông Dinh
Thành cầu anh tựa một mình
Vai anh sương ướt anh nào có hay
Cuộc đời nhiều nỗi đắng cay
Sao anh thất thểu tựa cầu sông Dinh
Thành cầu anh tựa một mình
Vai anh sương ướt anh nào có hay
Cuộc đời nhiều nỗi đắng cay
(Nhớ em – Nguyễn Văn Thành)
Có một vụ nhảy cầu Dinh độc đáo, không phải do thất tình, thất
nghiệp hoặc thất chí, được Đường Du Hào kể trong truyện Tuổi mười ba: -
"... lúc đó vừa mới xế trưa, trong lúc mọi người đang hò nhau thí công
đánh lụt, ông Ba Tam trong cơn say đã leo lên thành cầu, hát vài câu xàng xê
gãy nhịp rồi hình như chưa thỏa cơn say đã nhảy tòm xuống sông, bất kể lời can
ngăn của bà con lối xóm đang bu quanh. Những người có mặt lúc đó chỉ kịp la lên
vài tiếng thì người ông Ba Tam đã bị nước nhận chìm cuốn mất. Lúc đó mực nước
chỉ còn cách thành cầu vài tấc, cuồn cuộn đục màu sình, chảy mạnh tưởng có thể
trôi luôn cả cây cầu..." Có lẽ ông Ba Tam vừa từ công xi rượu đi ra nên
không biết mình là ai, đang ở đâu, cứ tưởng mấy chàng uống rượu là con Ngọc
Hoàng.!. Sự kiện này đáng được ghi vào những huyền thoại về cầu Dinh hoặc phố
chợ Ninh Hòa.
Đúc kết lại phần viết về cầu Dinh, tôi thấy 3 cây
bút xóm Rượu là Nguyễn Văn Thành, Đường Du Hào, Quan Dương đã làm chủ tình
hình. Không hiểu vì sao cầu Dinh không phải là lãnh địa của mình nhưng lại là
vùng tác chiến rất dữ của những chàng trai xóm Rượu. Điều này cho thấy người
xóm Rượu có nhiều cơ duyên với cầu Dinh.
Để tìm một tóm tắt cô đọng cho phần Hoài niệm về
cây cầu Dinh thân yêu, tôi lại mượn lời của Quan Dương để bày tỏ và chấm dứt
phần này: "...Nói cho cùng chiếc cầu ngắn củn bé nhỏ ở tận nơi cùng trời
cuối đất tọa lạc ở một địa thế gần như vô danh tên gọi là Ninh Hòa giống y như
cái ngăn đông đá trong tủ lạnh mỗi khi bất chợt tay chạm phải, hơi lạnh chuyền
đột ngột qua các sợi tế bào trên từng ngón tay rồi chuyển lẹ làng vào tim vào
óc. Mỗi lần chạm phải như thế tôi phát giác ra một điều chân lý, đó là chiếc
cầu với rong rêu trôi lềnh bềnh vào những mùa nước cạn không có chút gì thơ
mộng kia chính là cái tủ lạnh kiên cố đặt sâu trong tiềm ức. Nó gắn liền với
cuộc sống, những khi vui vẻ yên lành thì tôi quên bén nó đi, mỗi khi trái gió
trở trời thì hơi lạnh quê nhà tỏa ra làm da dẻ nổi đầy gai góc...".
Mỗi lần nghe Quan Dương nói sự thật hoặc đôi lúc có quá lời, là mỗi
lần nghe con tim người Ninh Hòa thắc thỏm. Vì Quan Dương thường dùng thể tỉ để
so sánh những sự vật có hai mặt đối lập và mệnh đề đầu với nội dung tầm thường,
kém cỏi lại bao hàm những hình ảnh thân thương, quê nhà. Nhưng sau đó chúng ta
được khám phá thú vị, vì cái ý của sự kém cỏi, tầm thường ấy, được Quan Dương
nhanh chóng nâng lên, bằng cách nêu ra được cái giá trị và vị thế đặc biệt của
nó trong tình cảm, tâm hồn người Ninh Hòa. Một lần nữa chúng ta phải ngạc
nhiên, phải suy nghĩ vì Quan Dương có sự so sánh đầy ấn tượng giữa cầu Dinh và
ngăn đá tủ lạnh. Dù chưa thẩm định hết giá trị câu nói, nhưng không thấy người
Ninh Hòa nào có ý tứ lạ đời hơn nên tôi không còn gì để nói thêm về cầu Dinh.
Xin mượn 3 câu thơ của Vinh Hồ, như lời kinh cầu, tìm chút bình an
trong tâm tưởng, khi nhớ đến chiếc cầu Dinh bình dị quê nhà.
Qua cầu Dinh nhớ, thương,
mong...
Tình ai theo ngọn lục bình xa xa?
Tôi đi hồn gởi lại nhà...
Tình ai theo ngọn lục bình xa xa?
Tôi đi hồn gởi lại nhà...
Cầu Dinh được người Ninh
Hòa biết đến, như một phương tiện giao thông thực dụng, để vượt qua sông Dinh
vào thị trấn Ninh Hòa, ít người thấy được hình dáng. Trong khi ấy, cầu Sắt nằm
ở thượng lưu, song song với cầu Dinh, cách cầu Dinh chừng 400 m, không phải để
người Ninh Hòa sử dụng nhưng lại có nhiều dịp ngắm nhìn, quan sát. Cầu Sắt nằm
ở vị trí có khung cảnh thâm u, huyền hoặc. Tuy thô cứng về hình thức, nhưng có
hồn và chút duyên ngầm khi nằm trong bao cảnh lung linh, hư ảo. Nó được ghi nhớ
như một bức tranh có gam màu xanh xám, thiếu sáng. Có sông nước, núi mây bàng
bạc, tràn ngập màu cây lá, làm nền quanh chiếc cầu xạm đen. Có đường nét, hình
dáng lập thể, tương phản với thiên nhiên. Khi nhớ quê, nhớ đến cầu Sắt, người
Ninh Hòa không quên cái vẻ liêu trai, trầm mặc của nó.
Có nhiều thơ văn của người Ninh Hòa
viết về cây cầu thân thương này. Với tình cảm thiết tha, nhẹ nhàng:
Cầu Sắt dòng sông sao nên thơ
Vĩnh Phú làng xưa vẫn hiền Hòa
Chiều nay xứ lạ nhìn bức ảnh
Vĩnh Phú làng xưa vẫn hiền Hòa
Chiều nay xứ lạ nhìn bức ảnh
(Cầu sắt và chuyện cô em - Trần thị Nết)
Khen ai khéo họa bức tranh xưa…
Bốn chục năm qua chẳng thấy mờ
Cầu Sắt bắc ngang dòng nước mộng
Bạn bè chôn chặt chuyện tình thơ
(Phan Xuân - Kỷ Niệm)
Bốn chục năm qua chẳng thấy mờ
Cầu Sắt bắc ngang dòng nước mộng
Bạn bè chôn chặt chuyện tình thơ
(Phan Xuân - Kỷ Niệm)
hoặc mô tả một cách chân tình, đơn
giản:
"...Chân cầu Sắt có nước sông
Dinh trong mát rề rề chảy về hướng cầu Dinh. Dọc dài hai bên sông là những bụi
tre..."
(Bên chân cầu Sắt – Thụy Nguyên)
(Bên chân cầu Sắt – Thụy Nguyên)
Cầu Sắt dòng nước chảy qua
Uốn mình qua bãi cát vàng xinh ghê
Xế chiều nhạt nắng bên đê
Có em ngồi giặt áo quần mé sông
Uốn mình qua bãi cát vàng xinh ghê
Xế chiều nhạt nắng bên đê
Có em ngồi giặt áo quần mé sông
Em lớn lên theo nước sông Dinh
Con sông Dinh chảy qua cầu Sắt
Mùa hè Ninh Hòa nắng mờ con mắt
Con sông Dinh chảy qua cầu Sắt
Mùa hè Ninh Hòa nắng mờ con mắt
(Gởi cô học trò bên sông Dinh thuở trước -
Phạm Tín An Ninh)
Phạm Tín An Ninh)
Cầu
Sắt - đứng im lìm...dưới nắng hạ.
Đẹp trữ tình...thiếu nữ áo bà bạ
Qua cầu ấy...ngõ tắt sang cầu Gỗ.
(Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết)
Đẹp trữ tình...thiếu nữ áo bà bạ
Qua cầu ấy...ngõ tắt sang cầu Gỗ.
(Những nẻo đường trong mơ - Nguyễn Trần Sơn Nết)
Quan Dương viết về cầu Dinh:
“...Chiếc cầu Causeway nơi xứ người được xây vô cùng hiện đại và kiên cố bắt qua biển nối liền hai thành phố Metarie và Mendevill. Chiếc cầu nơi xứ mình xây bằng xi măng bắc qua sông Dinh nối liền xóm chợ và Vĩnh Phú. Một nơi có nhu cầu về vật chất. Một nơi có nhu cầu về tinh thần..." (nhu cầu vật chất trong trường hợp này được hiểu là nhu cầu sử dụng).
Ở Ninh Hòa trái lại. Cầu Dinh có nhu cầu vật chất và cầu Sắt có nhu cầu tinh thần. Nói cách khác là:
- Cầu Dinh để "dùng" và cầu Sắt để "ngắm".
“...Chiếc cầu Causeway nơi xứ người được xây vô cùng hiện đại và kiên cố bắt qua biển nối liền hai thành phố Metarie và Mendevill. Chiếc cầu nơi xứ mình xây bằng xi măng bắc qua sông Dinh nối liền xóm chợ và Vĩnh Phú. Một nơi có nhu cầu về vật chất. Một nơi có nhu cầu về tinh thần..." (nhu cầu vật chất trong trường hợp này được hiểu là nhu cầu sử dụng).
Ở Ninh Hòa trái lại. Cầu Dinh có nhu cầu vật chất và cầu Sắt có nhu cầu tinh thần. Nói cách khác là:
- Cầu Dinh để "dùng" và cầu Sắt để "ngắm".
Cầu Sắt có một nửa gần gũi, thân quen và một nửa xa lạ, lạnh lùng. Nó bắc
qua sông Dinh, nhưng không hẳn thuộc Ninh Hòa như cầu Dinh. Cái hấp dẫn của cầu
Sắt chính là nằm ở tính khách thể của nó. Vì đặc điểm ấy mà hình ảnh cầu Sắt
luôn ấp ủ, gợi cảm. Nó khắc sâu và hiện rõ nét trong ký ức người Ninh Hòa.
Ta hãy nghe Điềm Ca nói về cái hư ảo
của đêm trăng cầu Sắt:
Cò rủ nhau về ngủ trắng cây
Phiêu phiêu thuyền chở ánh trăng đầy
ngả ba sông nước in cầu Sắt
Phiêu phiêu thuyền chở ánh trăng đầy
ngả ba sông nước in cầu Sắt
(Nắng rây - Điềm Ca)
hoặc Phùng Phương hiện thực hơn:
“...Trăng cầu Sắt thấp thoáng như ẩn, như hiện bên lũy tre làng chở che
thôn xóm..."
(Trăng quê nhà - Phùng Phương)
Nói vậy chứ cầu Sắt sinh
ra không phải chỉ để ngắm. Đối với người Ninh Hòa nó có giá trị tinh thần,
nhưng đối với ngành hỏa xa thì cầu Sắt có nhu cầu vật chất rất cao. Nó là một
mắt xích quan trọng trong hệ thống đường sắt quốc gia. Điều này thấy rõ khi chúng
ta nêu lên tình huống: - Nếu cầu Dinh sập thì chỉ có người Ninh Hòa biết, không
ảnh hưởng đến sinh hoạt của vùng khác. Chứ cầu Sắt Ninh Hòa gặp chuyện lôi thôi
thì nhiều hành khách sẽ lao đao, một số vùng của VN bị ảnh hưởng, cả nước sẽ
biết rõ.
Cầu Sắt hiên ngang đứng vững vàng
Từng đưa những chuyến xuyên Nam bắc
Từng đưa những chuyến xuyên Nam bắc
"Cầu Sắt" không phải là tên riêng của cây cầu xe lửa bắc qua sông
Dinh, Ninh Hòa. Vì nó bằng sắt nên cứ đơn giản gọi là "cầu Sắt". Có
nhiều cầu xe lửa bằng sắt, bắc qua các con sông của những vùng đất khác. Người
dân ở các vùng đó cũng đã gọi là "cầu Sắt". Vì hoạt động của nó không
đơn độc, riêng tư, cho nên muốn biết thấu đáo về cầu Sắt Ninh Hòa, chúng ta
phải liên hệ với tông chi, họ hàng nhà chúng. Muốn làm điều này phải tìm hiểu,
đi sâu vào lịch sử ngành hỏa xa Việt Nam:
- Đường Sắt Việt Nam có mặt cách
đây hơn 120 năm. Có thể nói đó là một tài sản to lớn và quý giá mà thực
dân Pháp đã tốn nhiều tiền của, công sức gây dựng nên, để lại trên đất
nước chúng ta. Tổng chiều dài đường sắt Việt Nam khoảng 2600 km. Tuyến Sài
gòn – Hà Nội dài 1726 km. Hiện nay nó là một thể hoạt động thống nhất.
Nhưng khởi đầu, việc xây dựng công trình giao thông này lại diễn ra ở
nhiều thời kỳ và hoàn cảnh khác nhau. Ở miền Bắc và miền Nam, đường sắt
được xây dựng rất sớm. Vì địa thế bằng phẳng, dân cư tập trung, nhu cầu
khai thác tài nguyên, kinh tế rất cao. Trong khi đó, tuyến xuyên Việt, qua
dải đất miền Trung dài dằng dặc, là khúc xương khó nuốt, kém hiệu quả.
Tuyến đường này phải qua nhiều núi đồi, dân cư thưa thớt, một vùng đất nghèo khó, ít tài nguyên, nên được xây dựng cuối cùng. Tuyến Nha Trang – Đà Nẵng là đoạn đường xây dựng cực kỳ khó khăn và muộn màng nhất. Ở miền Bắc, tuyến xe lửa đầu tiên được xây dựng vào năm 1891 – 1894, từ phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn.
Ở miền Nam sớm hơn với tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho, xây dựng từ 1881 – 1885. Tuyến Sài Gòn – Nha Trang xây dựng vào 1901 – 1913 (đến trạm Phú Vinh trên đất quận Vĩnh Xương, tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm Nha Trang về phía Tây 6 km).
- Năm 1928, làm tiếp đoạn Nha
Trang - Đà Nẵng, cùng lúc từ Nha Trang làm ra và từ Đà Nẵng làm vào. Hai
đoạn đường sắt cùng thi công một lúc này đã gặp nhau tại ga Hảo Sơn, phía
cực nam tỉnh Phú Yên. Ngày 2-9 -1936, người Pháp làm lễ khánh thành ga Nha
Trang, đồng thời tổ chức lắp thanh ray, khớp nối cuối cùng ở ga Hảo Sơn và
làm lễ thông đường sắt trên toàn cõi Đông Dương. Việc xây dựng con đường
bộ, quốc lộ số 1 đã tốn nhiều công sức và khổ nhục của phu lục lộ VN thì
con đường sắt này còn hao tốn hơn gấp nhiều lần. Nhất là tuyến miền Trung
phải xuyên nhiều hầm và núi đồi.
Đường sắt đi trên phần đất Khánh Hòa có cầu
Sắt bắc qua sông Cái Nha Trang dài 200 m, có 4 nhịp, là cầu Sắt dài nhất Khánh
Hòa. Cũng trên đoạn này, đường sắt qua 6 hầm gồm: hầm Hòn Chùa gần núi Sạn, hầm
Rù Rì, hầm Rọ Tượng, hầm Cổ Mã, hầm Đại Lãnh và hầm Papônnô. Trong đó hầm
Papônnô ở đèo Cả là hầm dài nhất Khánh Hòa lúc đó và cũng là hầm dài nhất Đông
Dương (dài 1.179m). Đường sắt qua Khánh Hòa có 12 ga chính gồm : Đại Lãnh, Tu
Bông, Vạn Giã, Hòa Huỳnh, Ninh Hòa, Phong Thạnh, Lương Sơn, Nha Trang, Cây Cày,
Hòa Tân, Suối Cát và Ngã Ba, cùng một số trạm khác như trạm Phú Vinh, trạm Ngọc
Hội, trạm Vạn Lương.
Đoạn đường sắt qua Ninh Hòa dài gần 30 km,
không có hầm nào, được xây dựng 1929 – 1931. Cầu Sắt bắc qua sông Dinh là dài
nhất, xây dựng năm 1930. Cầu dài gần 100 m, có hai nhịp, ở cây số 1280, tính từ
ga Hà Nội. Cầu nằm ở giao điểm của bốn làng: Vĩnh Phú, Quang Đông, Bình Thành
và Mỹ Hiệp.
Mặc dù tuyến đường miền Trung hình thành đã lâu nhưng không phải lúc nào
cũng hoạt động. Chiến tranh Việt Nam đã làm phương tiện giao thông này phải
ngừng nghỉ nhiều lần, ở những giai đoạn khác nhau. Trong kháng chiến chống
Pháp, tuyến miền Trung thu hẹp dần, co lại ở từng địa phương, rồi ngưng hoạt
động vào 1952 . Đến 1965 hoạt động trở lại. Khi chiến tranh ác liệt thì ngưng
vào sau 1968. Đến 1972 tiếp tục hoạt động. Ngưng 1975. 1976 hoạt động cho đến
nay.
Khác với cầu đường bộ. Những chiếc cầu sắt dành cho xe lửa có hình dáng rất
riêng biệt. Cầu beton có cấu tạo dầm chịu lực nằm bên dưới. Còn cầu sắt thì dầm
chịu lực chính là tập hợp một hệ những thanh sắt hình liên kết, quay lên trên,
gọi là dầm dàn. Những dầm dàn này cũng vừa là lan can, tạo thành hình dáng đặc
trưng của cầu . Có một số cầu sắt có dầm, lan can dạng hình cung, trông thẩm mỹ
hơn. Cầu Sắt được thiết kế điển hình, cấu kiện được chế tạo tại xưởng, chỉ đem
đến lắp ráp. Cho nên những chiếc cầu sắt dành cho xe lửa không mấy khác nhau.
Việc thi công dễ dàng, nhanh chóng hơn cầu beton rất nhiều. Nói về kỹ thuật
luyện kim, và thi công sắt thép thì người Pháp thuộc loại thượng thừa. Nếu
chúng ta đã biết tháp Eiffel xây dựng năm 1889, thì đừng ngạc nhiên và hỏi tại
sao người Pháp làm được những chiếc cầu sắt rất hoàn hảo ấy từ những năm cuối
thế kỷ 19 ở Việt Nam.
Cầu thường sơn màu đen hoặc xám. Sở
dĩ hai màu này được chọn vì người ta muốn đơn giản hóa công việc.
Ừ nhỉ - trải bao nhiêu cuộc biển dâu.
Cây cầu Sắt ấy...vẫn màu đen xưa,
Rồi ngày nắng - rồi những ngày mưa,
Dòng sông - cầu Sắt ngày xưa biết sầu?
(Cầu sắt và chuyện cô em - Trần Thị Nết)
Cây cầu Sắt ấy...vẫn màu đen xưa,
Rồi ngày nắng - rồi những ngày mưa,
Dòng sông - cầu Sắt ngày xưa biết sầu?
(Cầu sắt và chuyện cô em - Trần Thị Nết)
Tôi có ý tưởng rằng: Nếu sơn cầu Sắt với
một màu có sắc tươi sáng, rực rỡ thì cái mỹ quan và văn hóa cầu Sắt chắc sẽ
sống động, vui vẻ hơn nhiều. Tại sao cứ thụ động nghĩ rằng: sơn màu đen hoặc
xám là mới đúng đắn !. Trong khi lượng sơn và chi phí không khác biệt. Được sơn
những màu khác, có thể khi ấy, người ta không còn kêu "cầu Sắt" nữa
mà là: cầu Tím, cầu Xanh, cầu Vàng.v.v như ở Sài Gòn có một cây cầu sắt xe lửa,
sơn loại sơn chống sét rỉ, màu đỏ nên người dân ở đây cứ kêu "cầu Đỏ"
và trở thành cái tên chính thức. Thậm chí có một thời, "cầu Đỏ" được
sơn đen, nhiều người không đồng tình, nên phải sơn lại màu đỏ cho đúng với tên
của nó.
Cầu Sắt Ninh Hòa tồn tại
đến nay được 74 năm. Với niên hạn như vậy, được xem là khá dài. Bằng cả một đời
người sống thọ. Vấn đề nằm ở chỗ là cả thời gian ấy, cầu Sắt không hề có sự đổi
thay nào. Nói về tính thủy chung thì cầu Sắt Ninh Hòa đáng được trân trọng.
Nhưng sự chung thủy này là một phản ảnh đáng buồn cho thực trạng ngành đường
sắt Việt Nam. Dĩ nhiên đây là những vấn đề khách quan của đất nước. Chiến
tranh, nghèo khó, không cho phép chúng ta dễ dàng làm những chuyện đại sự, tốn
nhiều tiền của. Trong khi ngành đường sắt các nước phát triển đã có những buớc
tiến khá dài. Các nước này, từ lâu đã dùng khổ đường 1435 mm, thì đường sắt VN
vẫn dùng hầu hết loại đường có khổ 1000 mm (chiều dài đường loại khổ 1000 mm =
2169 km. Ở miền Bắc hiện có một vài tuyến ngắn, độc lập, dùng khổ đường 1435 mm
= 178 km và một số kết hợp giữa khổ 1000 mm – 1435 mm, gọi là đường lồng = 253 km).
Tàu TGV của Pháp đạt vận
tốc trung bình 200 km/h - đến 260 km/h, vận tốc tối đa 320 km/h hoặc hệ thống
đường sắt Shinkansen ở Nhật, tàu chạy đạt vận tốc trung bình 270km/h và vận tốc
tối đa là 362km/h. Trong khi ấy ở VN, tàu Thống Nhất Sài Gòn - Hà Nội vận tốc
trung bình 65km/h, vận tốc tối đa 80km/h. Hiện tại tàu nhanh nhất VN chạy tuyến
Sài Gòn – Hà Nội đã đạt 30 giờ. Mỗi ngày chỉ có một chuyến. Được thành tích này
không hẳn từ yếu tố tốc độ, mà do ưu tiên ở việc tránh tàu. Chỉ ngừng ở những
ga lớn, thời gian ngừng rất ngắn. Còn lại những tàu khác, đều kéo dài hơn 34
giờ. Việt Nam cố gắng đến năm 2020 sẽ nâng tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam
theo tiêu chuẩn khổ đường 1435 mm, với tốc độ tàu hàng đạt 80 km/h và tàu khách
đạt 120 km/h. Không mở rộng đường thì không thể thay đổi loại tàu để nâng tiện
ích và tốc độ lên được. Nếu thực hiện điều này, dù không thể sánh với các nước
có ngành hoả xa tiên tiến, nhưng nhiều thứ sẽ đảo lộn. Lúc ấy cầu Sắt không
chắc sẽ còn thủy chung với chúng ta, còn nguyên hình dáng, nằm ngoan bên bờ bến
cũ.
Cầu sắt qua sông Cái Nha
Trang, dầu nằm gần trung tâm tỉnh lỵ và dài gấp đôi cầu Sắt qua sông Dinh Ninh
Hòa, nhưng nói về ảnh hưởng của cầu đến nhân văn khu vực thì không thể qua mặt
được cầu Sắt Ninh Hòa. Cái diễm phúc của chiếc cầu Sắt Ninh Hòa là nằm bên cạnh
thị trấn, gần khu vực dân cư, nên gắn liền với sinh hoạt của người dân nơi đây.
Ký ức của bậc cha chú
chúng ta về hình ảnh chiếc xe lửa chạy qua cầu Sắt với những cột khói cuồn
cuộn, kéo dài trên trời, của ngày tháng thanh bình xa xưa là những nỗi vui và
đầy giai thoại. Những chiếc đầu máy hơi nước của thời kỳ sơ khai ngành hỏa xa,
bây giờ đã mục nát ở những kho bãi nào đó hoặc nằm ở những bảo tàng, nhưng hình
dáng của nó lại rất ấn tượng, dễ hiển hiện khi nhớ và liên tưởng đến. Cho dầu
bây giờ, những động cơ diesel mạnh mẽ, to lớn gấp hai ba lần, gầm thét theo một
kiểu cách khác, nhưng tiếng "xình xịch" và hình ảnh cột khói cùng với
hai tiếng "xe lửa", vẫn chưa thoát ra khỏi suy nghĩ quán tính của
những người đã từng sống một thời với nó.
Khối vật
chất bằng sắt thép, dài ngoằn, lao vun vút trên con đường sắt, tạo ra tiếng ồn
không nhỏ. Khi chạy qua cầu Sắt, sự cộng hưởng giữa xe và cầu càng to tiếng,
gây chấn động cả một vùng rộng lớn. Ở xa gần cây số vẫn biết xe đang qua cầu.
Người dân Quang Đông, Bình Thành, Vĩnh Phú, Mỹ Hiệp có thể đoán giờ bằng cách
căn cứ vào thời điểm của từng chuyến tàu chạy qua cầu Sắt. Có người xem như
đồng hồ báo giờ để thức giấc, để đi chợ Dinh, để nấu cơm chiều hoặc ngừng việc
ruộng đồng.
Những lần còi hụ xe lửa chạy
Chị lại đèo em cùng ra xem
Sụt sịt, sụt sịt tiếng xe lửa
Em chị ngẩn ngơ - nhìn tàu đi.
Chị lại đèo em cùng ra xem
Sụt sịt, sụt sịt tiếng xe lửa
Em chị ngẩn ngơ - nhìn tàu đi.
(cầu Sắt và chuyện cô em -
Trần Thị Nết)
Âm thanh của xe lửa, tạo được tiện ích nhỏ nhoi
như trên, nhưng mặt khác lại gây muộn phiền, khó chịu không ít cho những công
trình gần cầu (hoặc cả những cư dân) cần sự tỉnh lặng như: chùa Thiên Bửu hạ,
chùa Nam Hòa Phật Đường, đình Vĩnh Phú, trường tiểu học Vĩnh Phú. Khi xưa mỗi
ngày chỉ vài ba chuyến xe lửa qua cầu. Bây giờ mỗi ngày có ba chục chuyến (gồm
12 chuyến tàu khách Bắc–Nam, 8 chuyến tàu khách địa phương, 10 chuyến tàu hàng).
Cứ trung bình 48 phút một chuyến, nên sự xáo động, ồn ào này không phải chuyện
nhỏ. Những chuyến tàu khách bây giờ, kéo theo số lượng toa nhiều hơn xưa tối
thiểu gấp 1.3 lần, nên số lượng khua động càng lớn. Nhất là những chuyến tàu
vào Nam. Vì gần đến Gác Nhíp và ga Ninh Hòa nên kéo lên những hồi còi dài như
xé tan mọi thứ. Tôi lo ngại rằng số chuyến tàu khuya ngày càng gia tăng, sẽ làm
vỡ kế hoạch dân số khu vực Quang Đông, Vĩnh Phú... Làm sao ngủ yên khi đoàn tàu
ầm ầm lao qua cầu Sắt giữa đêm thanh vắng...! (có 10 chuyến chạy qua cầu Sắt từ
sau 10 giờ đêm đến trước 6:30 sáng).
Con đường thực sự và duy nhất đến với cầu Sắt là con đường đi Ninh Đông. Cầu Sắt như cái cổng chào của cửa ngõ vào làng Quang Đông. Cứ mỗi lần muốn vào làng là phải chịu phép "luồn trôn" cầu Sắt. Nếu đó là điều vinh dự cho cầu Sắt, thì lại là nỗi bất hạnh của xã Ninh Đông. Đã bao đời nay, không biết có ai suy nghĩ: phải làm sao cho người dân đi đến Ninh Đông hoặc từ Ninh Đông về thị trấn, khỏi phải qua cái cổng chào bất đắc dĩ, thiếu thoải mái này. Thậm chí đôi lúc chấp nhận thân phận, muốn "luồn trôn" cũng không xong, vì nước cứ ngập tràn ngay dưới "trôn" khi mùa mưa lụt. Lối đi dưới cầu cao 2.5m, như một khung cửa hẹp thì có làm được gì. Ngẫng lên thì đụng gầm cầu, chui xuống sẽ thường xuyên sống chung với thủy thần. Lấn trái thì lọt sông, nghiêng phải thì đụng mố cầu!. Làm sao phải hiên ngang, như đi trên con đường từ Phong Ấp vào xã Ninh Bình!. Tôi thấy rằng: có thể vạch một tuyến thẳng, từ đầu đường Trần Quý Cáp - Vĩnh Phú, đến đường sắt, qua Quang Đông, rồi tìm hướng nhập lại với đường hiện hữu là thông tất cả.
Con đường thực sự và duy nhất đến với cầu Sắt là con đường đi Ninh Đông. Cầu Sắt như cái cổng chào của cửa ngõ vào làng Quang Đông. Cứ mỗi lần muốn vào làng là phải chịu phép "luồn trôn" cầu Sắt. Nếu đó là điều vinh dự cho cầu Sắt, thì lại là nỗi bất hạnh của xã Ninh Đông. Đã bao đời nay, không biết có ai suy nghĩ: phải làm sao cho người dân đi đến Ninh Đông hoặc từ Ninh Đông về thị trấn, khỏi phải qua cái cổng chào bất đắc dĩ, thiếu thoải mái này. Thậm chí đôi lúc chấp nhận thân phận, muốn "luồn trôn" cũng không xong, vì nước cứ ngập tràn ngay dưới "trôn" khi mùa mưa lụt. Lối đi dưới cầu cao 2.5m, như một khung cửa hẹp thì có làm được gì. Ngẫng lên thì đụng gầm cầu, chui xuống sẽ thường xuyên sống chung với thủy thần. Lấn trái thì lọt sông, nghiêng phải thì đụng mố cầu!. Làm sao phải hiên ngang, như đi trên con đường từ Phong Ấp vào xã Ninh Bình!. Tôi thấy rằng: có thể vạch một tuyến thẳng, từ đầu đường Trần Quý Cáp - Vĩnh Phú, đến đường sắt, qua Quang Đông, rồi tìm hướng nhập lại với đường hiện hữu là thông tất cả.
Đây là con đường hợp lý lẽ và ngắn nhất từ thị trấn đến Quang Đông.
Tuyến này hiện có một phần lớn ở đoạn đầu Vĩnh Phú. Phần còn lại là đất nông
nghiệp, nên không quá lo ngại ở việc bồi thường, giải tỏa. Có lẽ cái lấn cấn
còn lại là cưỡi lưng đường sắt - Điều này mà lo thì càng vô duyên, vì ở Ninh
Hòa, đã có nhiều đường "về thôn xưa" ở các xã: Ninh Bình, Ninh Quang,
Ninh Lộc, Ninh Hưng .v.v. đều cưỡi. Hiện tại có con đường từ khu đèo Bánh Ít
(khu qui hoạch mới) đi Ninh Đông, nhưng vẫn là con đường vòng. Có lẽ người Ninh
Đông chung tình, chịu đựng giỏi hơn các làng xã khác ở Ninh Hòa.?!. Về chuyện
này thì đành phải phụ tình với cầu Sắt. Muốn có con đường khang trang, muốn đô
thị hóa thì phải chia tay cái "trôn" cầu Sắt càng sớm càng tốt.
Nói tới cầu Sắt, thanh niên thị trấn nghĩ ngay
đến việc tắm sông, nhảy cầu. Sở dĩ nơi này được chọn làm chỗ thao dượt vì lòng
sông sâu, an toàn. Khu vực ít người qua lại, người thân hoặc cha mẹ khó phát
hiện. Những ngày hè oi bức, đám thanh niên ở các xóm làng lân cận rũ nhau về
đây "giải nhiệt" có: xóm Vĩnh Phú, xóm cầu Gỗ, xóm Rượu, xóm Chợ.v.v.
Anh Quốc Minh trong bài "thư từ Hoa Thịnh Đốn" khi
nhớ về Ninh Hòa: - "... Hay bắt đầu từ chiếc cầu Sắt, nơi mà tôi và bạn đã thách đố nhau bơi
ngang từ bờ bên này của con sông sang bên kia trong những ngày nước lớn?..."
hoặc như Đường Du Hào:
Hè chiều nắng gắt dòng sông cạn
trốn trường, bì bỏm tắm với trâu
Ðông trưa nước lũ bờ sông ngập
dầm nước đêm về nhức cả đầu
trốn trường, bì bỏm tắm với trâu
Ðông trưa nước lũ bờ sông ngập
dầm nước đêm về nhức cả đầu
Bơi lội! không có gì đáng nói, chỉ là khúc dạo
đầu. Nhảy cầu Sắt mới là cái thú táo bạo sau đó. Không phải chàng trai nào cũng
dám thưởng thức. Nhắc sự kiện này thì hầu như các đấng nam nhi thị trấn đều
biết. Nhưng hỏi rằng đã từng nhảy cầu Sắt hay chưa thì thưa thớt người mạnh dạn
đưa tay. Tôi tắm sông Dinh hằng ngày, nhảy đủ kiểu ở cầu bến nhà mình, nhưng
đến cầu Sắt chỉ dám làm khán giả. Thời cực thịnh của tắm sông, nhảy cầu là lúc
xuất hiện chiếc cầu gỗ nằm kề cầu Sắt của tuyến đường tạm, khi thi công cầu
Dinh như đã nói ở kỳ 6. Khi tuyến ấy không còn hoạt động nữa thì đó là vùng
oanh kích tự do của các chàng. Nó như một sân chơi công cộng, hoặc trung tâm
bơi lội của thị trấn.
Những trưa hè mấy chàng quậy phá, la hét inh ỏi,
dậy trời đất. Với kinh nghiệm của thanh niên Ninh Hòa về sông nước, thì nhảy
cầu không đòi hỏi kỹ thuật cao như bơi lặn mà cần sự gan dạ, liều lĩnh. Những
kiểu nhảy theo thứ tự trình độ tăng dần là: nhảy đứng thẳng, nhảy đứng hơi co
chân, nhảy ôm chân sát bụng (thả bom), nhảy chúi, nhảy lộn ngược hoặc xuôi.
Nhảy thẳng và co chân là kiểu được ưa chuộng nhất, vì ít nguy hiểm, dễ kiểm
soát. Nhảy chúi, dang hai tay ngang thẳng cánh và sau đó xếp phía trước khi gần
tiếp mặt nước là tuyệt đỉnh của nghệ thuật nhảy cầu, thể hiện sự gan dạ và cái
đẹp. Thỉnh thoảng vài chàng "nhỏ gan", tập tành nhảy chúi, không điều
khiển được cơ thể, đưa nguyên bụng xuống nước, đó là sự cố khôi hài, dở khóc,
dở cười. Một tiếng nổ to, khối nước văng cao. Khi trồi lên mặt nước, chàng đã
vội vã lên bờ với tình trạng: ngực, bụng đỏ, mặt nhăn nhó, xám ngắt. Bị một hai
lần như thế thì tởn tới già, lần khác không dám chơi dại!.
Đẳng cấp được khẳng định ngay từ đó. Theo số liệu của Liên
đoàn bơi lội quốc tế (FINA), các cấp độ chiều cao cầu nhảy của những bể bơi
tiêu chuẩn là 1m, 3m, 5m, 7.5m và cao nhất là 10m. Trong khi ấy ở cầu Sắt, mùa
nước thấp, độ cao mặt cầu so với mặt nước không dưới 10m. Nay thông báo cho các
cao thủ Ninh Hòa, đã từng trình diễn những show ngoạn mục, ở những cuộc thi đấu
mùa hè giữa thập niên 60 – 70 ở cầu Sắt xin liên hệ với FINA để được cấp bằng.!
Các tuyển thủ đều được xếp loại ngoại hạng, đẳng cấp quốc tế.!
Tôi rất muốn dùng một địa danh hoặc một đặc điểm nào đó của
Ninh Hòa để đặt tên cho địa chỉ e-mail hoặc bút danh của mình nhưng cứ loay hoay
hoài không xong. Cho nên rất ái mộ những người Ninh Hòa đã làm được điều ấy.
Lướt qua danh sách các địa chỉ như:
ninhhoa2@yahoo.com,
nhatrang19@123vn.com,
binhthanh1@dng.vnn.vn,
truongchau1021@yahoo.com,
ninhphung@aol.com,
ninhsim@yahoo.com,
chauninhhoa@yahoo.com.v.v.
nhatrang19@123vn.com,
binhthanh1@dng.vnn.vn,
truongchau1021@yahoo.com,
ninhphung@aol.com,
ninhsim@yahoo.com,
chauninhhoa@yahoo.com.v.v.
Các bút danh như: Sông Dinh, Ninh Hòa, Nguyễn Ninh Hòa, Phạm
Ninh Hòa, Trương Thị Ninh Hòa, Trần Thị Cầu Sắt.v.v. Dĩ nhiên mỗi một tên như
vậy luôn gắn liền với một kỷ niệm, một hình ảnh thân quen nào đó hoặc cụ thể là
tên của nơi mình sinh ra. Vì đang viết về cầu Sắt nên tôi lại quan tâm đến
người có tên Trần Thị Cầu Sắt.
Không phải bí hiểm như bút danh TTKH của giai
thoại văn học VN với bài "hai sắc hoa ti gôn", nhưng một thời ở trang
web: www.ninh-hoa.com, khi xuất hiện tên Trần
Thị Cầu Sắt, các chàng trai
"đứng tuổi" của ninh-hoa.com cứ xôn xao cả lên - đón già, đón non,
nói bóng, nói gió. Riêng tôi cứ thấy ái ngại và tò mò vì cái tên "cầu Sắt"
nghe cứng cỏi, lạnh lùng, rất nam tính lại nằm bên cạnh "Trần Thị".
Nếu một chàng xưng tên Trần Cầu Sắt thì hết chỗ chê!. Phải là nhân vật có máu
mặt, đáng nể nang, tối thiểu cũng là vua nhảy cầu Sắt ... Còn trường hợp này -
một người nữ dám nhận tên mình như vậy lại càng không phải vừa ?!. Mới nghe
tên, người ta nghĩ ngay đến chiếc cầu, một khu vực và một người con gái. Suy
nghĩ kỹ thì thấy đây là người đẹp. Phải như vậy mới tự hào và bất chấp. Tôi cho
rằng: tên "Trần Thị Cầu Sắt" là biểu tượng của người đẹp khu vực,
không nhất thiết phải bận tâm đến một người đẹp cụ thể nào. Như vậy Trần Thị
Cầu Sắt hoặc Công Huyền Tôn Nữ Cầu Sắt cũng như nhau. Có thể xem như người đẹp
Tô Châu vậy.
Không chỉ tò mò vì cái tên. Chúng ta phải liên hệ đến những
sáng tác thơ văn của một số chàng trai có tình ý hơi "bị" nhiều, quẩn
quanh khu cầu Sắt thì mới thấy ra vấn đề. Một số không phải đến cầu Sắt để tắm
sông, nhảy cầu, mà để theo đuổi một bóng hình nào đó. Vì khu cầu Sắt có nhiều
người đẹp, cũng là một điểm hò hẹn lý tưởng.
Có ai về lại quê em -
Ninh-Hòa,
nhớ ghé cầu Dinh - thăm cầu Sắt,
xem lại cầu kia mấy nhịp bây giờ?
có còn là điểm hẹn hò...như xưa.
nhớ ghé cầu Dinh - thăm cầu Sắt,
xem lại cầu kia mấy nhịp bây giờ?
có còn là điểm hẹn hò...như xưa.
(thăm hộ dùm em - Trần Thị Nết)
Phải sưu tập, đối chiếu lại mới thấy rõ đôi dép
của chàng nào mòn nhiều hơn, bởi con đường quanh co, gồ ghề, lởm chởm đá dẫn
đến cầu Sắt.
Đầu tiên là Quan Dương:
Chiếc cầu Sắt dang đầu phơi
nắng
Nơi em ngồi giặt áo mỗi trưa
Thời nứt mắt yêu em bằng câm lặng
Ðêm về cắn bút nát nhừ thơ
Nơi em ngồi giặt áo mỗi trưa
Thời nứt mắt yêu em bằng câm lặng
Ðêm về cắn bút nát nhừ thơ
(Quan Dương - Cầu Sắt)
Thương xót cho người đẹp ngồi giặt dưới nắng trưa
thì không dám nói thẳng, mà mượn cây cầu bằng sắt để lo lắng, sợ cầu Sắt ấm đầu,
sổ mũi. Chính vì không dám nói thật lòng mình mà Quan Dương đành phải ngồi cắn
bút. Lẽ ra phải nát nhừ vài cây bút chì Gilbert đắt giá thì lần nữa Quan Dương
lại trút nỗi niềm lên mấy tờ giấy mỏng manh. Bên cạnh cầu Sắt có một bờ đất
thấp, phẳng, người dân nơi đó thường ra giặt giũ, tắm gội. Bến sông ấy cũng là
điểm xuất phát hoặc cập bờ của mấy chàng tắm sông, nhảy cầu. Có phải chỗ này là
nơi "...em ngồi giặt áo mỗi trưa"?. Quan Dương khi viết về cầu Dinh
đã không giấu giếm:
"Nhờ có nó nằm gát mình từ phía bên này phố chợ nên tôi mới có thể bước qua bên kia Vĩnh Phú để những lá thư tình có cớ tuôn về Phước Đa rồi quẹo lên cầu Sắt, Quang Đông...".
"Nhờ có nó nằm gát mình từ phía bên này phố chợ nên tôi mới có thể bước qua bên kia Vĩnh Phú để những lá thư tình có cớ tuôn về Phước Đa rồi quẹo lên cầu Sắt, Quang Đông...".
Một lần nữa cho thấy Quan Dương rất quyết liệt, không biết đã
mạnh dạn ghé nhà nàng để trao thư hay đi thẳng xuống bến sông để
"tuôn" thư như đi rãi truyền đơn ấy!. Để rồi hơn 35 năm sau lại bất
ngờ, thận trọng với bức e-mail gởi cho Trần Thị Cầu Sắt ở trang 36 Guestbook
của www.ninh-hoa.com (Sunday 03/30/2003 6:15:43pm): "Da biet ban la ai roi. Minh rat hieu ban co mot ly do that te nhi nen
khong the sinh hoat cung...". Quan Dương thường mạnh mẽ, bạt mạng trong ý tứ, nhưng
lần này đối đáp với Trần Thị Cầu Sắt lại nhẹ nhàng, phải phép. Chỉ có người đẹp
mới làm anh hùng trở nên nhẹ dạ và xuống giọng như thế.! Như vậy chúng ta đã
xác định được Quan Dương có mối quan hệ với Trần Thị Cầu Sắt trên mức bình
thường rồi nhé.!
"...Sao anh thất thểu
tựa cầu sông Dinh
Thành cầu anh tựa một mình
Vai anh sương ướt, anh nào có hay.....
Tình em anh mãi mang theo
Bên chân cầu Sắt ngày nào nhớ em".
Thành cầu anh tựa một mình
Vai anh sương ướt, anh nào có hay.....
Tình em anh mãi mang theo
Bên chân cầu Sắt ngày nào nhớ em".
Tôi có phân vân: như vậy bài thơ ấy nói về cuộc
hò hẹn ở cầu Dinh hay cầu Sắt ? vì "cầu sông Dinh" không hẳn cầu
Dinh! Suy nghĩ kỹ, tôi biết đó là cầu Dinh, nên đã trích dẫn đoạn thơ này cho
vào bài kỳ 9 viết về cầu Dinh. Bởi vì không biết đợi chờ từ lúc nào, nhưng với
thời điểm "sương ướt" thì đêm đã sau 10 giờ. Không chừng người đẹp
cho leo cây, phải đợi đến 11 giờ hoặc hơn nữa rồi ra về trắng tay.
Nguyễn Văn Thành cho rằng mình nhút nhát thì đố
mà dám bén mảng đến cầu Sắt nổi tiếng nhiều ma, ở thời điểm như vậy. Nhưng dù
chờ đợi ở cầu nào, chúng ta đã có được khoảng xác định khu vực hoạt động của
Nguyễn Văn Thành là - từ cầu Dinh đến cầu Sắt. Lại thêm một chàng lui tới cầu
Sắt không phải để tắm sông!.- Vì một người đẹp cầu Sắt khác nữa à? Hy vọng rằng
đúng và tên nàng chắc là Công Huyền Tôn Nữ Cầu Sắt. Có như vậy mới mong tránh
khỏi cảnh nồi da xáo thịt ! Vì Trần Thị Cầu Sắt đã có Quan Dương chăm sóc kỹ
rồi.
Qua bài vở ta thấy cuộc tình của Nguyễn Văn Thành với người
đẹp cầu Sắt không mấy lạc quan. Trong đó có một thất bại nặng nề, tưởng đã toi
mạng vì một cuộc đổ bộ bằng đường thủy:
"...Cầu Sắt sẽ giữ trọn vẹn một kỷ niệm của một cậu học trò nhỏ bé và nhút nhát, một lần dám làm anh hùng "giã gạo suýt chết đuối" nơi chân cầu cũng chỉ vì em và hai thằng bạn mắc dịch xúi bậy..."
(Ninh Hòa em lại đi xa - Nguyễn Văn Thành).
"...Cầu Sắt sẽ giữ trọn vẹn một kỷ niệm của một cậu học trò nhỏ bé và nhút nhát, một lần dám làm anh hùng "giã gạo suýt chết đuối" nơi chân cầu cũng chỉ vì em và hai thằng bạn mắc dịch xúi bậy..."
(Ninh Hòa em lại đi xa - Nguyễn Văn Thành).
Mặc dầu "chuyện đôi ta buồn nhiều hơn
vui" nhưng hương vị ngọt ngào của nó làm Nguyễn Văn Thành luôn ngây ngất,
nên dù "nghìn trùng xa cách" trở về, vẫn háo hức, không quên đường
xưa lối cũ:
“...Tôi muốn đánh bạo ghé nhà cô ả nhưng lừng khừng không dám. Dừng xe bên cầu Sắt, tôi nhớ hai thằng bạn nối khố khác..."
(Về Ninh Hòa ăn Tết - Nguyễn Văn Thành).
“...Tôi muốn đánh bạo ghé nhà cô ả nhưng lừng khừng không dám. Dừng xe bên cầu Sắt, tôi nhớ hai thằng bạn nối khố khác..."
(Về Ninh Hòa ăn Tết - Nguyễn Văn Thành).
Và nỗi ám ảnh không nguôi:
"...Hình ảnh mượn cô bạn cục xà-bông để gội đầu sống lại thật rõ nét trước mắt tôi. Gió nơi chân cầu bất chợt thổi mạnh làm tôi thấm lạnh và lòng se thắt …"
Nghe lời thở than, chúng ta không khỏi xúc động trước sự ngây thơ, chân thành của chàng trai trong tình yêu.
Chàng trai tên Thụy Nguyên trong bài "Bên chân cầu Sắt", ở mục thơ văn trường Trần Bình Trọng cũng đến cầu Sắt để tìm người đẹp:
"...theo con đường rầy xe lửa lởm chởm với sỏi đá sắc bén. Vừa đi tôi vừa thầm nghĩ đến nàng Thụy, cô học trò thùy mị mà tôi yêu say đắm... Tôi vừa khập khểnh bước trên những mô đá, vừa ước mong được nhìn thấy nàng trên bãi cát thơ mộng cạnh chân cầu Sắt...".
Và một người đẹp cầu Sắt tên Thụy.
"...Hình ảnh mượn cô bạn cục xà-bông để gội đầu sống lại thật rõ nét trước mắt tôi. Gió nơi chân cầu bất chợt thổi mạnh làm tôi thấm lạnh và lòng se thắt …"
Nghe lời thở than, chúng ta không khỏi xúc động trước sự ngây thơ, chân thành của chàng trai trong tình yêu.
Chàng trai tên Thụy Nguyên trong bài "Bên chân cầu Sắt", ở mục thơ văn trường Trần Bình Trọng cũng đến cầu Sắt để tìm người đẹp:
"...theo con đường rầy xe lửa lởm chởm với sỏi đá sắc bén. Vừa đi tôi vừa thầm nghĩ đến nàng Thụy, cô học trò thùy mị mà tôi yêu say đắm... Tôi vừa khập khểnh bước trên những mô đá, vừa ước mong được nhìn thấy nàng trên bãi cát thơ mộng cạnh chân cầu Sắt...".
Và một người đẹp cầu Sắt tên Thụy.
Nhưng chẳng hiểu vì sao kịch bản rất giống Nguyễn Văn Thành?!
(chắc có con ma da ái tình cầu Sắt làm đạo diễn): Vẫn là mượn người đẹp cục xà
bông, vẫn là bị bạn trai xúi dục, và suýt chết đuối:
"Thụy hình như ngạc nhiên và bỡ ngỡ trong giây lát. Nàng thẹn thùng trao cục xà bông để đáp lại lời yêu cầu của tôi.Tôi đưa tay lấy cục xà bông trong tay nàng rồi chà vội lên tóc...".
Một hành vi "kinh khủng khiếp"! việc diễn ra trong vô thức và ngây dại, nhưng cảm giác thì tận trời xanh. Kết quả: "...không may dòng nước đã cuốn tôi vào cái lòng chảo ác nghiệt sát chân cầu...". Hồn vía và niềm hân hoan của Thụy Nguyên sau đó ít phút đã tan biến với trận "giã gạo" nhớ đời!. Ai vẫn biết chàng sợ chết, nhưng khi tai qua nạn khỏi lại lên giọng, đượm mùi cải lương: "...Nhưng tôi muốn được chết đuối để biến thành một con ma da linh thiêng nơi chân cầu Sắt để mỗi chiều cuối tuần hiện về kéo chân người yêu theo tôi...". Cái giá phải trả của hành động nông nổi là suýt chết đuối. Nhưng nặng nề hơn là cái bệnh tương tư mãn tính cứ đeo đẳng suốt một đời, vì cục xà bông mà chàng xoa đầu khi ấy, được người đẹp vừa giặt xong chiếc quần vải Mỹ A láng bóng.
"Thụy hình như ngạc nhiên và bỡ ngỡ trong giây lát. Nàng thẹn thùng trao cục xà bông để đáp lại lời yêu cầu của tôi.Tôi đưa tay lấy cục xà bông trong tay nàng rồi chà vội lên tóc...".
Một hành vi "kinh khủng khiếp"! việc diễn ra trong vô thức và ngây dại, nhưng cảm giác thì tận trời xanh. Kết quả: "...không may dòng nước đã cuốn tôi vào cái lòng chảo ác nghiệt sát chân cầu...". Hồn vía và niềm hân hoan của Thụy Nguyên sau đó ít phút đã tan biến với trận "giã gạo" nhớ đời!. Ai vẫn biết chàng sợ chết, nhưng khi tai qua nạn khỏi lại lên giọng, đượm mùi cải lương: "...Nhưng tôi muốn được chết đuối để biến thành một con ma da linh thiêng nơi chân cầu Sắt để mỗi chiều cuối tuần hiện về kéo chân người yêu theo tôi...". Cái giá phải trả của hành động nông nổi là suýt chết đuối. Nhưng nặng nề hơn là cái bệnh tương tư mãn tính cứ đeo đẳng suốt một đời, vì cục xà bông mà chàng xoa đầu khi ấy, được người đẹp vừa giặt xong chiếc quần vải Mỹ A láng bóng.
Và còn bao nhiêu chàng trai nữa đi theo tiếng gọi ái tình đến
khu vực cầu Sắt? - đếm không xuể!.
Lòng sông khu cầu Sắt có lẽ sâu nhất khu vực. Đôi
lúc khô hạn, sông Dinh nhiều chỗ phơi bày cả đáy, nhưng khu vực cầu Sắt hiếm
thấy hiện tượng này. Nơi đó có nhiều tre và cây vườn, tỏa bóng mát xuống dòng
nước, tạo môi trường tốt cho các loại cá qui tụ về. Những người câu cá sông
Dinh hiểu qui luật này, thường tìm đến cầu Sắt để câu hoặc đánh lưới. Cá sông
Dinh không phong phú lắm, thường gặp: cá trắng, cá đỏ mang, lớn trung bình
chừng 2 – 3 ngón tay, kém may mắn thì chỉ được mấy chú lòng tong đeo bám. Cá
rô, cá trầu, cá trê thích về đồng nên ít gặp ở sông Dinh. Đến cầu Sắt mới mong
khả dĩ hơn. Nhất là đi câu đêm.
Buồn trông giăng lưới buông câu
Cá đâu đớp động chân Cầu Sắt xưa
Ôm cần ngồi suốt canh khuya
Trăng mờ tiếng hạc như chia nỗi lòng
Hơi sương chợt tỉnh giấc nồng
Hồi chuông Chùa Tổ vọng hồn cô miên.....
Cá đâu đớp động chân Cầu Sắt xưa
Ôm cần ngồi suốt canh khuya
Trăng mờ tiếng hạc như chia nỗi lòng
Hơi sương chợt tỉnh giấc nồng
Hồi chuông Chùa Tổ vọng hồn cô miên.....
(Đêm câu cá sông Dinh- Phan Ðông Thức)
Nhưng tâm trạng khi hiện diện ở cầu Sắt của Phan Đông Thức mới là
điều đáng suy ngẫm. Cá động rất nhiều dưới chân cầu Sắt nhưng Phan Đông Thức cứ
ôm cần đợi dài. Không hiểu vì sao? Có thể lưỡi câu không gắn mồi. Nhưng cũng
chẳng gì phải bận tâm. Thậm chí sương khuya ướt đẫm nhưng giấc cứ nồng. Ngư dân
này đến cầu Sắt để ngủ hoặc nghỉ ngơi thì đúng hơn. Tinh thần đi câu của Phan
Đông Thức là cốt cách của tiên ông, có thể là một hóa thân của Lã Vọng.! Đi câu
đêm như thế thì sáng sớm phải ghé chợ Dinh, mua một ít cá trước khi về nhà mới
ổn.!
Cũng với tâm trạng đó, chúng ta thấy một ngư dân
khác:
Đêm khuya với mảnh trăng lu
Sương rơi trên cỏ. Mịt mù cõi xưa
Đã lâu không tiếng chuông chùa
Còn đâu ghe nhỏ, nước khua dưới cầu
(Cố hương - Dương Alpha)
Sương rơi trên cỏ. Mịt mù cõi xưa
Đã lâu không tiếng chuông chùa
Còn đâu ghe nhỏ, nước khua dưới cầu
(Cố hương - Dương Alpha)
Đó là tâm trạng của những người thấu rõ lẽ đời, chán ngán thế sự,
cần quên thực tại nên tìm vui thú nơi chốn thiên nhiên. Cao Bá Quát ngày xưa
cũng rơi vào tình cảnh ấy khuyên rằng:
"Thế sự thăng trầm
quân mạc vấn
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu"
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu"
Đại ý: bạn đừng nên hỏi việc lên xuống của chuyện
đời mà hãy hướng về nơi chốn sâu xa, trong khói sóng có một chiếc thuyền câu.
Như vậy, với khung cảnh hư ảo, như tôi đã mô tả trong phần đầu về cầu Sắt ở kỳ
10. Sông nước khu cầu Sắt có thể được xem như chốn "yên ba, thâm xứ".
Không phải đến đó chỉ để câu cá, sinh hoạt đời thường, mà còn là nơi để thoát
tục. Tiếng chuông chùa Tổ vang vọng, luôn là một Hòa điệu, làm tâm hồn thanh
thản, giải thoát được những nhọc nhằn cuộc sống.
Tưởng cũng nên nói thêm, số lượng bài thơ văn của
người Ninh Hòa viết về quê hương có nhắc đến hai chiếc cầu thì: cầu Dinh là 21
và cầu Sắt là 32. Tỷ số đó cho chúng ta thấy tình cảm của người Ninh Hòa với
cầu Sắt vượt trội hơn cầu Dinh rất nhiều. Ngoài những thơ văn mô tả, hoặc nói
về sinh hoạt có liên lụy đến cầu Sắt như đã kể trên, còn lại là những tình cảm,
nỗi nhớ thương về chiếc cầu.
Mình nhắc Ninh Hòa ngã ba bùng binh
Nhớ cây cầu Sắt nhớ sông Dinh
Nhớ cây cầu Sắt nhớ sông Dinh
Em đi để gió ngậm ngùi
Ðể cây cầu Sắt sụt sùi nhớ em
(Bài Lục bát cho đội múa - Trương Thị Thu Thức)
Ðể cây cầu Sắt sụt sùi nhớ em
(Bài Lục bát cho đội múa - Trương Thị Thu Thức)
Thương cây cầu Sắt ngày nào
Vẫn còn vang vọng tình tôi yêu nàng
(Khúc Thụy Nguyên- chuyện tình bên chân cầu Sắt -
T.N.Th)
Vẫn còn vang vọng tình tôi yêu nàng
(Khúc Thụy Nguyên- chuyện tình bên chân cầu Sắt -
T.N.Th)
Hỏi cây cầu Sắt âm thầm
Dòng sông dưới ấy đục trong thế nào?
(Trương Thị Ninh Hòa - Cuối dòng sông Dinh)
Dòng sông dưới ấy đục trong thế nào?
(Trương Thị Ninh Hòa - Cuối dòng sông Dinh)
Anh nhớ thăm cầu Sắt
bao kỷ niệm bé thơ
tình yêu thuở dại khờ
(Khi anh về - Trương Thị Ninh Hòa)
bao kỷ niệm bé thơ
tình yêu thuở dại khờ
(Khi anh về - Trương Thị Ninh Hòa)
Cầu Sắt đứng âm thầm
Thương ai.. tuổi mười lăm
Một thời yêu vụng dại
(Lòng bỗng dưng buồn - Trương Thị Ninh Hòa)
Thương ai.. tuổi mười lăm
Một thời yêu vụng dại
(Lòng bỗng dưng buồn - Trương Thị Ninh Hòa)
Trong đó nổi bật lên một ý thơ của Đường Du Hào, nó khái quát được
nỗi lòng và niềm mong mỏi của người Ninh Hòa. Xem như một tổng kết của bài viết
về cầu Sắt.
Cố quận còn đó cây cầu Sắt
người cũ tha hương nay khuất đâu?
Ngàn năm nước vẫn một màu,
Trăm năm vẫn đó cây cầu bến sông.
(Vịnh cầu Sắt - Đường Du Hào)
người cũ tha hương nay khuất đâu?
Ngàn năm nước vẫn một màu,
Trăm năm vẫn đó cây cầu bến sông.
(Vịnh cầu Sắt - Đường Du Hào)
Câu hỏi của Đường Du Hào không khỏi làm người
Ninh Hòa chùng lòng. Là một vọng tưởng tuyệt diệu, mơ hồ như khói sương cầu
Sắt, ẩn hiện như ảnh ảo của chính mỗi người chúng ta. Một thời quá vãng.
Ơi con sông Dinh
Hình Phước Liên - Long Nhật
Phim tài liệu
Tiếng đàn bên sông Dinh
Tiếng đàn bên sông Dinh
Dương Tấn Long






















































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét