Nếu Chế Lan Viên giành cả đời mình băn khoăn và trăn trở với câu hỏi:
Ta là ai? - Câu hỏi về sứ mệnh và trách nhiệm của người thi sỹ thì có một nhà
thơ đã suốt đời đi tìm câu trả lời cho câu hỏi ấy. Ta đi trong rừng suốt một
đời trai trẻ. Ta gửi mồ hôi dưới bể, để ngày sau lại nhớ lại đi tìm. Người
lính lên rừng xuống bể ấy tự làm thơ ghi lại cuộc đời mình. Đã có lúc Ta
yên lặng vì quá nhiều mây trắng mà không thoát khỏi sự níu kéo của cuộc đời. Tôi
như cây biết giấu lá vào đâu, giữa gió bụi cõi người. Đôi khi không khỏi chạnh
lòng những vết sẹo của quá khứ hơn một lần nâng đỡ thi nhân… Trong những câu trả
lời ấy, có câu làm tôi day dứt mãi không thôi. Tôi ấy mà, một gốc rạ bơ vơ.
Lúc đầu, đặt trong văn cảnh bài Lời thưa viết năm 1987, tôi nghĩ đó
chỉ là tâm trạng bâng khuâng một thời đã qua, khi mà lũ trẻ cùng thế hệ lần lượt
rủ nhau trở thành người lớn. Chỉ còn thi sỹ của chúng ta ở lại trên cánh đồng
mênh mang của tuổi thơ. Nhưng không. Đọc toàn bộ thi phẩm của ông, xâm nhập vào
cái thế giới tinh thần rộng lớn ấy, dường như gốc rạ bơ vơ còn mang
những ý nghĩa khác trong sứ mệnh và thân phận của người làm thi sỹ. Người đã viết
nên câu trả lời nặng trĩu tình đời ấy là nhà thơ Hữu Thỉnh.
Kể từ bài thơ đầu tiên trình làng trên báo Văn Nghệ số 174 ngày 26
-8-1966- Bài thơ Về một khúc sông đến thơ viết sau gần một thập niên
đầu của thế kỷ 21, thi sỹ có gần 50 năm liên tục cầm bút làm thơ. Nhưng ông
không có may mắn như một số nhà thơ khác được giải các cuộc thi thơ trên báo
Văn Nghệ năm 1969 và 1972. Họ đã sớm nổi danh và được hưởng sự ưu ái của nhiều
thế hệ độc giả. Năm ấy, chàng trai trẻ miền đất trung du nhà ta đến trường thi
muộn. Bài Tắm mưa khi gửi Ban tổ chức thì cuộc thi đã mãn. Tình ý thơ
cũng lạ. Nhưng muộn mất rồi. Cuộc thi đã công bố kết quả trên báo Văn Nghệ số
335 ngày 13 tháng 3 năm 1969. Tắm mưa được in sau đấy 7 ngày – Báo
Văn nghệ ngày 20 tháng 3 năm 1969. Thế là nhỡ một giấc mơ. Các tên tuổi của thi
ca chống Mỹ cứu nước được ghi nhận sớm từ Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang
Vũ, Nguyễn Đức Mậu đến Vũ Quần Phương, Xuân Quỳnh và nhiều người khác. Còn Hữu
Thỉnh, những sáng tác in trong tuyển có tên gọi Tiếng hát trong rừng, phần
nhiều được viết trước 1975, chừng độ 22 bài, chưa gây được tiếng vang nhiều lắm.
Mặc dù có một số bài hay, biểu lộ cái tinh tế của thi sỹ trước những rung động
thầm kín của thiên nhiên. Điều này được Hữu Thỉnh gìn giữ cẩn thận đến những
năm về sau. Tiếng hát trong rừng ghi nhận một chặng đường của Hữu Thỉnh
– đi tìm chính mình mà chưa tìm thấy hết.
Phải đợi đến năm 1975, sau khi đoạt giải nhất cuộc thơ mà ông đã ấp
ủ từ năm 1969, liên tục từ đấy, sức sáng tạo của Hữu Thỉnh bừng sáng và có lẽ
ông đã trở thành một trong số ít nhà thơ thế hệ chống Mỹ cứu nước giữ được trường
sức những năm dài sau 1975 trên con đường tiếp tục khám phá vẻ đẹp của tâm hồn
Việt Nam ở những đoạn không kém phần bi tráng, khi nhớ lại và suy ngẫm về cuộc
chiến vừa đi qua còn nóng như hôi hổi trên những dòng sông và đồi núi cũng như
cuộc chiến đấu sinh tử bảo vệ bờ cõi biên cương. Nỗi trăn trở nhọc nhằn và đa
đoan của cuộc phục sinh những năm đổi mới với việc kết hợp cảm xúc trong sáng,
chất trí tuệ ngày càng sâu lắng làm nên một phong cách độc đáo qua 4 tập thơ đặc
sắc. Đường tới thành phố. Thư mùa đông. Trường ca Biển. Thương lượng với
thời gian.
Có lần Hữu Thỉnh nói: Mỗi bài thơ là một định nghĩa về thơ. Ông đã
cố gắng làm như vậy trong hiện thực sáng tác của mình. Có lẽ vì thế, Hữu Thỉnh
trải nghiệm và có thành tựu ở nhiều thể loại. Từ lục bát đến thơ 4 chữ, 5 chữ.
Những bài thơ thất ngôn tứ tuyệt biến thể ngắn gọn, có sức biểu cảm. Đáng chú
ý, cùng với Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo… Hữu Thỉnh đã đóng góp cho nền
thơ hiện đại Việt Nam những bản trường ca đặc sắc mà các thế hệ nhà thơ lớp trước
ít sử dụng thể loại này.
Trong bốn bản trường ca, Sức bền của đất. 1975. Đường tới thành phố.
1977 - 1978. Trường ca Biển. 1981. 1994... Có tới ba bản trường ca được giải.
Nhưng xét trên cả tiến trình sáng tác của Hữu Thỉnh, Đường tới thành phố có
ý nghĩa hơn cả. Dường như không phải trước hết ở việc đổi mới nghệ thuật thi ca
mà là tiếng nói của thế hệ người Việt Nam với khẩu súng trường tinh
vi và ngắn lại mà đường ra trận lại dài thêm. Một thế hệ mang theo Mỗi
quyển sách nặng bằng năm viên đạn vào cuộc trường chinh khói lửa. Chính thế
hệ ấy viết nên sử thi của thời đại mình.
Hữu Thỉnh vốn xuất thân là một người lính trận 100%. Ông từng là đại
biểu Quốc hội hai nhiệm kỳ. Khóa 10 và khóa 11. Mười năm là thành viên của cơ
quan quyền lực cao nhất. Có ngồi trong nhà Quốc hội một ngày thôi mới biết thời
gian ấy không phải là ngắn vì những chương trình làm luật quá dài. Nhưng trước
sau, Hữu Thỉnh vẫn là một thi sỹ đích thực. Người đời chắc sẽ chỉ nhớ ông với
tư cách một nhà thơ. Mặc dù ông là người hiểu biết sâu sắc những vấn đề chính
trị của thời đại. Và điều đó thể hiện trong toàn bộ thi phẩm, trong cái thế giới
tinh thần khi thì bi tráng khi thì đầy ẩn ức những khắc khoải về lẽ sống của thời
đại ông. Trường ca Đường tới thành phố đánh dấu một bước ngoặt của đời
thơ Hữu Thỉnh. Nó khác hẳn về tầm vóc và cảm hứng sáng tạo so với thi ca của
ông trước đó. Nó đưa ông tới một giai đoạn sau đấy tất cả dường như khởi nguyên
từ Đường tới thành phố.
Trường ca Đường tới thành phố dài 1713 câu. Gồm 5 chương. Ngọn
lửa chiến trường. Tư lệnh. Điệp khúc những cây cầu. Tờ lịch cuối cùng. Tự do.
Cùng nhiều khúc trong mỗi chương. Một bản giao hưởng những âm thanh của quá khứ
và hiện tại đan xen vào nhau bởi một nghệ thuật lồng ghép giữa thực tại và hồi
tưởng. Bản giao hưởng về chiến tranh và hòa bình được một người trong cuộc viết
ra bằng những sự kiện và con người đa sắc, đa diện trên nền cảm xúc mãnh liệt
và hồi tưởng bi tráng cùng với kết cấu đa chiều khi thì tương phản, khi thì
giãi bày, dựng lên toàn cảnh về cuộc chiến từ những ngày gian khó đến chiến thắng
cuối cùng, từ chiến trường lửa đạn đến miền quê hậu phương xa xôi, thông qua
tâm trạng của những nhân vật trữ tình. Đất nước, nhân dân, người mẹ và nhất là
người lính, nhân vật trung tâm của chiến tranh cách mạng. Người vợ, người em
gái mến thương. Họ có một điểm chung là thiết tha yêu hòa bình và không có tên.
Bởi cuộc chiến tranh này những anh hùng vô danh nhiều hơn, thầm lặng hơn và chịu
thiệt thòi hơn rất nhiều những người có tên đã may mắn được lịch sử ghi lại. Nhiều
người, rất nhiều người trong số họ nằm lại giữa tiếng đất ru muôn đời của quê
hương trong thơ Hữu Thỉnh. Phải chăng đây là chỗ khác biệt của thi sỹ với nhà sử
học?
Mở đầu trường ca được đốt lên bằng ngọn lửa chiến trường. Không phải
ngọn lửa của đạn, của bom, ngọn lửa của cái ác. Ngọn lửa ở đây được đốt lên bởi
hy vọng, tình yêu và niềm tin chiến thắng.
Không biết bằng
cách nào lửa đã nhóm lên
Như không phải
củi rừng đang cháy
Có gì đó
trong đốm tàn hoa cải
Cứ bay lên
làm nhẹ cả người ngồi
Có người nói chương 1 của trường ca xa với chủ đề. Tôi không nghĩ
như thế. Vì Ngọn lửa chiến trường như cách lý giải về những nghĩ suy
và tâm tưởng của một thế hệ ra trận ý thức được sứ mệnh thiêng liêng của mình.
Chương 2 kể về cuộc đời viên tư lệnh. Chương 3, Điệp khúc của
những cây cầu kể về sự hy sinh của người chiến sỹ chiến đấu trong lòng địch,
của bộc phá viên và của lính lái xe tăng đặt trong một trường đoạn lớn của chiến
tranh từ những bàn đạp, đến khúc hát cửa mở và cuối cùng thần tốc để chiến thắng.
Cả đất nước đổ ra đường, tiềm lực lớn những binh đoàn chiến lược. Điểm thành
công của Hữu Thỉnh ở chỗ, với bức phông toàn cảnh của lửa đạn chiến trường, ông
lựa chọn sự kiện điển hình mang tính biểu tượng nhất. Kiềm chế không để cho sự
kiện lấn át cảm xúc. Những người lính vô danh xuất hiện đều hy sinh mà không bi
lụy, mà chan chứa những xúc cảm yêu thương và tự hào trong sự kết hợp uyển chuyển
nhiều thể thơ. Thơ tự do. Lục bát. Thơ văn xuôi tạo nên giai điệu chân thực về
cuộc chiến đấu của dân tộc ta những năm đánh Mỹ. Nhiều đoạn tự sự, kể chuyện mà
không sa vào chi tiết. Đặc biệt có nhiều đoạn thơ về gian khó của chiến tranh
làm sáng tỏ những phẩm chất của người lính.
Người lính
trong cơn sốt rét, cảnh thường gặp của bộ đội ta trên chặng đường dài hành quân
từ Bắc vào Nam.
Anh lớn lên
đâu biết trước một ngày
Ngồi nhặt sấu
dưới vòm cây sốt rét
Nắng ký ninh
rải rác dọc rừng thưa
Thèm trăm thứ
nhưng đồng bằng thèm nhất
Những ngày không còn gạo để ăn. Lính ta đi mót lúa ở cuối bìa rừng
lúc giặc vừa rút đi. Cả đất rừng đất núi mênh mông là thế mà hiếm hoi hạt thóc
nuôi người.
Gió ầm ào
qua nương
Những bông
lúa chỉ còn là bã gió
Mâý thế hệ người lính, mấy thế hệ cha con, người người lớp lớp khắp
từ Bắc chí Nam gươm súng ra chiến trường. Lính 69, lính 72, lính tái ngũ
còn giữ nguyên chức vụ quân hàm, ríu rít giọng Nam, giọng Bắc… Câu thơ văn xuôi
trải rộng đầy hứng khởi… Để rồi tất cả những hy sinh mất mát, những khúc tâm
tình. Ở nhà dài những năm canh, từ bậu cửa bước xuống sân cũng dài… dồn đến
khúc thần tốc Cành ngụy trang qua gió thổi ba miền. Xô bồ, ào ạt, cuồn
cuộn là thế nhưng Hữu Thỉnh không rơi vào giản đơn. Ông dựng lại trận đánh ác
liệt ở rừng cao su Xuân Lộc nửa giờ trước là ta nửa giờ sau chúng chiếm. Bất
ngờ và xúc động nhất của khúc Thần tốc là hình ảnh chiến sỹ lái xe tăng hy
sinh. Anh không để lại gì. Chỉ để lại dấu tay in vào nửa nắm cơm. Cái phần cơm
để lại không bao giờ ăn được nữa.
Sắt thép vô
danh như cuộc đời chiến sỹ
Có nắm cơm
đã cháy thành than
Đen chỉ còn
một nửa
Có dấu tay
in lõm vào trong
Ngón tay bè
của đồng chí lái
Sau thần tốc là chiến thắng. Tôi nghĩ nguồn cảm xúc của Hữu Thỉnh sẽ
dừng lại để nhường chỗ cho pháo hoa và cờ đỏ sao vàng. Nhưng không. Bản lĩnh
sáng tạo của ông không dừng lại ở đó. Ông viết tiếp chương 4 – Tờ lịch cuối
cùng, lại là chương hay nhất của trường ca. Với những khúc hồi tưởng lại quá khứ;
một đoạn lùi về ngày xưa. Không phải không có lúc ngậm ngùi những năm gian khó.
Nhẹ nhàng mà xúc động như thêm một lần giải nghĩa cho căn nguyên của chiến thắng. Tờ
lịch cuối cùng không chỉ đánh dấu sự trưởng thành của một phong cách thơ
mà còn là một trong những báo hiệu sự chững trạc của thế hệ các nhà thơ thời chống
Mỹ cứu nước. Thơ ca thời đó có nhiều thành tựu ở chủ trương chân, chân,
chân; thực, thực, thực; đưa hiện thực nguyên khối đi vào thơ. Nhưng quá đi
một chút đã có tác giả, đã có bài thơ còn quá xem trọng chi tiết, sa vào sự kiện,
đôi khi chưa chú ý thể hiện đầy đủ vẻ đẹp tâm trạng của nhà thơ. Có lúc cái thực
lấn át cái ảo. Cái tất nhiên nhiều quá mà ít cái ngẫu nhiên. Tờ lịch cuối
cùng là khúc hồi tưởng nhiều hoài niệm. Những chiến sỹ từ rừng sâu trở về,
từ đường số 1 chạy thi với biển để biển mệt nhoài nằm thở ở Nha Trang, những
chiến sỹ màu da bộc phá, qua mùa đông men mét cổ tay gầy, không quên bài hát của
người em gái Trường sơn năm ấy làm xốn xang người lính giữa rừng mưa. Mưa
miền đông ướt áo các em rồi. Mưa đã tạnh mấy năm. Nhưng tiếng mưa ấy còn tí
tách trong tâm khảm của người lính mỗi tuổi quân chịu 6 tháng mưa rừng để họ mến
yêu cái rào rạt của sông Tiền thanh bình sau chiến tranh. Đoạn thơ về người chị
ở thôn Vườn Trầu ngắt được nhiều sự kiện nhờ tâm trạng vừa thực vừa mơ, vừa cay
đắng vừa day dứt của hai mươi năm chờ đợi người chiến binh trở về.
Hai mươi năm
chị tôi đi đò đầy
Cứ sợ đắm vì
mình còn nhan sắc.
…Một mình một mâm cơm
Ngồi bên nào
cũng lệch.
Đến câu thơ thứ 1343, Hữu Thỉnh dành tâm tình cho người em gái ở
làng quê xứ Bắc hậu phương, sau khi ông kể về mẹ, về cha ở ngoài ta độ này đang
giáp hạt, năm thì ngắn mà tháng ba dài thế; Những nhà ga, những ruộng sắn, những
đoàn tàu chậm chạp vì đông người chạy bữa, những lúa đồng mỏi mắt vẫn chưa hoe.
Chưa có gì để nói đấy là tình yêu mà sao ngan ngát chuyện ngày xưa. Có gì bâng
khuâng theo bước chân người em gái ấy? Có phải mùa hoa cau nở đã qua rồi?
Đất nước theo em ra ngõ một mình
Cau vườn rụng một tàu đã cũ…
Vâng, lịch sử đã sang trang, sau một lần bóc tờ lịch cuối cùng của
chiến tranh, phía trước là hòa bình. Tôi muốn dừng lại ở nơi này, mặc dù bản
trường ca còn gần 400 câu nữa đầy ắp sự kiện và thổn thức bao nhiêu cảm xúc
ngày trở về. Người ta tưởng Đường tới thành phố đến chương Tự do là kết
thúc. Nhưng Hữu Thỉnh lại chọn một kết thúc mở. Tôi muốn nói tới phần Hồi âm ở
cuối trường ca gồm 100 câu thơ về cuộc chiến đấu trên đảo. Vào thời điểm 1977 -
1978, thi sỹ dường như linh cảm được trang mới của lịch sử chẳng thể bình yên
đang đón đợi ở phía chân trời.
Đường tới thành phố được Hữu Thỉnh viết trong tâm trạng mà câu
thơ thứ 1594 miêu tả. Tôi bị lắc giữa hai chiều hư thực đã đạt tới tầm
bao quát nhiều vấn đề của chiến tranh và hòa bình, lẽ sống và tình yêu của người
Việt Nam trong lửa đạn. Cái mà họ có là hòa bình đã phải trả giá bằng rất nhiều
hy sinh. Trường ca là đỉnh cao trong sự nghiệp thi ca của Hữu Thỉnh. Sau đấy chừng
10 năm, quãng 1981 – 1994, ông còn viết Trường ca Biển khi Đảo
tìm nhau xếp lại đội hình. Có nhà thơ dùng cả kinh dịch để phân tích thành công
của trường ca này. Nhưng những gì sáng tạo của Trường ca Biển và các
tập thơ sau này đều là bước phát triển đã được ông hoàn thiện trong Đường
tới thành phố. Đường tới thành phố là một sự tròn đầy của phong cách
thơ. Nhưng đoản thi trong Thư mùa đông vàThương lượng với thời gian có
một bước tiến lên về mặt thi pháp. Thư mùa đông chủ yếu là tâm tình,
tâm sự. Thương lượng với thời gian nghiêng tới cõi chiêm nghiệm về thế
sự. Một yêu cầu cấp bách của đời sống - sự tái nhận thức những hệ giá trị về
con người và lẽ sống.
Âm hưởng chủ đạo của Thư mùa đông phản ánh tâm tình đầy ẩn
ức của xã hội những năm sau chiến tranh. Ngân lên tiếng nói thầm thĩ của cuộc đời
thường.
Em vừa gỡ
gió ngoài sân
Nhưng Hữu Thỉnh không quên mình là người lính. Ông đồng cảm với những
người lính trẻ bao năm không thấy màu con gái, vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc
em cho nên ước có chút hương bồ kết để đá phải mềm và núi ấm lên trên biên
cương lãnh thổ. Khi qua cầu Tràng Hương lần đầu bắt gặp dòng Nho Quế. Cuối dòng
sông là non nước Cao Bằng. Ở đó trên đỉnh núi đồng đội tôi đang khát. Thư mùa
đông có một số bài thơ hay. Phan Thiết có anh tôi . 1981. Thơ viết
ở biển (Không ghi năm sáng tác). Thư mùa đông. 1982. Nghe tiếng
cuốc kêu. 1989…
Thương lượng với thời gian có nhiều bài đồng điệu với tên gọi
của Tập. Cảm hứng chủ đạo của Thương lượng với thời gian là sự chiêm
nghiệm về thế sự. Những suy tư trắc trở của người nghệ sỹ trước những biến đổi
của thời gian và lòng người, tâm sự về điều trắc ẩn của cuộc sống để bộc bạch với
quá khứ và âm thầm nhắn nhủ với hiện tại. Lối viết ngắn gọn, chắt chiu. Đôi lúc
cảm thấy dường như chàng Hữu Thỉnh ngày xưa nuối tiếc một điều gì đành chấp nhận
mà chẳng thể nào giữ được.
Gió sao là lạ,
Mây khang khác
Không hiểu,
Hay là nhịp cuối năm
Hôm qua thì
tiếc, Mai thì sợ
Tuột cương
trăng cũ lại sang rằm.
Thơ Hữu Thỉnh có bài hay và những câu thơ hay. Tôi nhớ đến lời bàn
của Aristotle trong Nghệ thuật thi ca: “Đối với thi ca cái không thể mà
đáng tin còn thích hơn là cái có thể nhưng không đáng tin”. Hữu Thỉnh như là một
trong nhiều minh chứng cho quan niệm trên đây. Thơ tưởng như phi lý mà có lý.
Tưởng như ảo mà lại thực. Vẻ đẹp của tâm hồn trở nên siêu thực hơn, kỳ ảo hơn,
đậm đà tình người ở những thời khắc thăng hoa.
Thu hết mọi
tiếng chuông thành một sắc áo vàng.
Em không phải
là chiều mà nhuộm anh đến tím.
Mưa thanh xuân
mưa trước cửa thiền
Sông chảy chậm
đợi chiều đang bị ướt…
Nhắc đến câu thơ hay, lại nhớ những câu thơ của các nhà thơ khác ở
nhiều thời đại từng được bay lên trên bầu trời xuân Văn Miếu đã mấy năm nay.
Các thi nhân lũ lượt khăn áo đi về. Rằm tháng giêng. Văn Miếu trở thành nơi tập
hợp những tao nhân mặc khách xem trọng cái ý tưởng Lành cho sạch – Rách
cho thơm mà phần nhiều trong số họ là nửa sau của câu thành ngữ ấy.
Một trong số người ấy, cách đây độ mấy niên được thả một câu thơ ở đó vào dịp áp trưa. Cùng đi với thi nhân là người khách nước ngoài đã sống lâu năm ở Hà Nội vì yêu thơ mà đến. Ông ấy nói với người được thả thơ rằng: Câu thơ được thả lên trời chẳng biết bay về đâu? Và ở lại đâu? Hãy theo hướng gió đi tìm. Thế là hai người qua phố, qua làng. Họ đi mãi. Bất chợt gặp cánh đồng mênh mông là mênh mông, bơ vơ là bơ vơ gốc rạ… Thi nhân của chúng ta không đi nữa. Anh bâng khuâng tự hỏi. Không biết thi sỹ của muôn đời đã đi vào thiên cổ từ nhiều thế kỷ trước và những người của thời hôm nay có thơ thả trên trời Văn Miếu và họ đã tự thả thơ của mình vào cõi đời này bao nhiêu năm, họ có đi tìm lại hay không? Tìm lại chính mình. Có ai may mắn tìm thấy vuông lụa điều mà đời đã ghi thơ của họ? Cuộc đời mênh mông chim trời cá nước biết đâu mà tìm? Ở đó sứ mệnh của người thi sỹ là gì? Anh là ai? Hữu Thỉnh nói “Nếu thi ca là lịch sử được viết bằng số phận của con người thì nhà thơ xứng đáng là người chiến sỹ tiên phong chống lại sự quên lãng. Thi ca là trí nhớ của lịch sử”. Hãy để thời gian che chở cho Thơ. Thi sỹ chẳng là ai cả vì thơ anh đã nói hộ cả rồi. Anh chỉ là những gốc rạ dâng hiến cho đời những mùa lúa chín. Đừng đi tìm anh nữa. Phải chăng, chàng thanh niên miền đồi núi trung du xứ Bắc đã lên rừng Trường Sơn năm mười tám tuổi rồi trở về từ Đường tới thành phố làm thơ ghi lại những số phận của con người Việt Nam nửa sau thế kỷ 20 đã tâm niệm sứ mệnh ấy của thi ca từ những năm chàng còn rất trẻ cho đến tận bây giờ?.
Một trong số người ấy, cách đây độ mấy niên được thả một câu thơ ở đó vào dịp áp trưa. Cùng đi với thi nhân là người khách nước ngoài đã sống lâu năm ở Hà Nội vì yêu thơ mà đến. Ông ấy nói với người được thả thơ rằng: Câu thơ được thả lên trời chẳng biết bay về đâu? Và ở lại đâu? Hãy theo hướng gió đi tìm. Thế là hai người qua phố, qua làng. Họ đi mãi. Bất chợt gặp cánh đồng mênh mông là mênh mông, bơ vơ là bơ vơ gốc rạ… Thi nhân của chúng ta không đi nữa. Anh bâng khuâng tự hỏi. Không biết thi sỹ của muôn đời đã đi vào thiên cổ từ nhiều thế kỷ trước và những người của thời hôm nay có thơ thả trên trời Văn Miếu và họ đã tự thả thơ của mình vào cõi đời này bao nhiêu năm, họ có đi tìm lại hay không? Tìm lại chính mình. Có ai may mắn tìm thấy vuông lụa điều mà đời đã ghi thơ của họ? Cuộc đời mênh mông chim trời cá nước biết đâu mà tìm? Ở đó sứ mệnh của người thi sỹ là gì? Anh là ai? Hữu Thỉnh nói “Nếu thi ca là lịch sử được viết bằng số phận của con người thì nhà thơ xứng đáng là người chiến sỹ tiên phong chống lại sự quên lãng. Thi ca là trí nhớ của lịch sử”. Hãy để thời gian che chở cho Thơ. Thi sỹ chẳng là ai cả vì thơ anh đã nói hộ cả rồi. Anh chỉ là những gốc rạ dâng hiến cho đời những mùa lúa chín. Đừng đi tìm anh nữa. Phải chăng, chàng thanh niên miền đồi núi trung du xứ Bắc đã lên rừng Trường Sơn năm mười tám tuổi rồi trở về từ Đường tới thành phố làm thơ ghi lại những số phận của con người Việt Nam nửa sau thế kỷ 20 đã tâm niệm sứ mệnh ấy của thi ca từ những năm chàng còn rất trẻ cho đến tận bây giờ?.









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét