Văn Lang thời Hùng Vương
Vừa qua, nhà giáo về hưu 71 tuổi Đỗ Văn Xuyền (sinh năm
1937), hiện đang sống tại Việt Trì, sau một thời gian để công nghiên cứu đã bước
đầu công bố công trình hơn 50 năm trời nghiên cứu “Giải mã chữ Việt cổ” tại
Trung tâm Văn hóa Người cao tuổi Việt Nam. Để phản biện kết quả nghiên cứu của
ông - một người ngoài ngành chungta.com tin rằng cần có một hội đồng chuyên gia
đa ngành đánh giá và kết luận. Sơ bộ, đó là một thành quả nghiên cứu công phu,
nghiêm túc, phản ánh sự lao động kiên trì, giàu nghị lực của tác giả và thành
quả là một đóng góp có giá trị giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cội nguồn lịch sử,
văn hóa của dân tộc và có thể mở ra "cửa sổ mới" hết sức thú vị để
chúng ta hiểu được các thư tịch cổ.
Ông Xuyền đã từng làm hiệu trưởng trường cấp II đầu tiên của
khu công nghiệp Việt Trì. Ngày ấy Việt Trì còn giữ được dáng vẻ nguyên sơ của một
vùng đất cổ, kinh đô Văn Lang với những: Lầu Thượng, Lầu Hạ, Kẻ Lư, Thậm Thình,
Mã Quàng... Khi học sinh trường đi lao động còn gánh về những Dao, Mác, Trống đồng,
minh khí, nhặt được ông đã nghĩ nơi đây là một công trường chế tác đồ đá mới. Từ
đó ông bắt đầu công việc tìm lại dấu vết của người Việt cổ.
Sau nhiều năm nghiên cứu các Ngọc phả tại các đền thờ khác
nhau rải rác khắp vùng trung du, đồng bằng Bắc Bộ, ông đã tìm ra 18 nơi thờ các
thầy giáo, học trò từ thời An Dương Vương, Hùng Vương. Từ đó ông đưa ra một giả
thiết ban đầu của mình là trước năm 186 công nguyên là năm chữ Hán được đưa vào
Việt Nam thì dân tộc ta đã có chữ viết riêng - chữ Việt cổ, chữ viết đó được
các thầy giáo thời Hùng Vương sử dụng.
Thiên cổ Miếu, thôn Hương Lan, xã Trưng Vương, TP Việt Trì,
nơi thờ hai vợ chồng
thày giáo Vũ Thê Lang, thời vua Hùng.
Giả thiết này hoàn toàn khác với điều đa số người Việt hiện
nay vẫn cho rằng là trước khi bị Tàu đô hộ, nước Văn Lang (tức nước Việt) không
có chữ viết riêng mà chỉ đến khi người Tàu qua xâm chiếm thì người Việt mới bắt
đầu dùng chữ Hán để viết.
Qua nghiên cứu các thư viện và tìm đọc các thư tịch trong,
ngoài nước của nhiều nhà nghiên cứu tiền bối đã đi sâu vào vấn đề này: Từ Hà
Văn Tấn, Lê Trọng Khánh, Bùi Văn Nguyên, Trần Ngọc Thêm... cho đến Vương Duy
Trinh, Trương Vĩnh Ký, cả những nhà nghiên cứu nước ngoài như Anh, Tiệp Khắc, Mỹ,
Pháp, nhất là Trung Quốc: Từ Lục Lưu, đến Hứa Thân, Trịnh Tiểu... ông đều gặp
may bởi họ đã khẳng định: Việt Nam xưa đã có chữ viết riêng.
Bản đồ ông Xuyền ghi dấu những đền thờ thầy giáo,
học sinh thời
vua Hùng đến Hai Bà Trưng
Sách Tân Lĩnh Nam Chích quái của Vũ Quỳnh (đời Lê, thế kỷ 15) viết đại ý: Thời
Lạc Long Quân có người hái củi, bắt được con rùa, lưng rộng khoảng ba thước,
trên mai có khắc chữ như con nòng nọc gọi là chữ Khoa Đẩu. Hùng Quốc vương
đã cử phái đoàn đem rùa thần đó cống cho vua Nghiêu.
Về việc này, sách Thông Giám Cương Mục do Chu Hy đời Tống viết:
“Năm Mậu Thân đời Đường Nghiêu thứ IV (2352 trước Công nguyên) có Nam Di Việt
Thường thị đến chầu, hiến con rùa lớn”.
Sách Thông Chí của Trịnh Tiểu cũng đời Tống nói rõ hơn: “Đời
Đào Đường, Nam Di Việt Thường thị qua nhiều lần thông dịch đến hiến một con rùa
thần. Rùa ước được ngàn tuổi, rộng hơn ba thước, trên lưng có chữ Khoa Đẩu,
chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy
Lịch”.
Một lần trên đường đi tìm kiếm ông đã dừng chân bên ngôi miếu
nhỏ của một xóm núi, đọc được một bản Ngọc Phả thời Trần Thái Tông với những
dòng chữ vang vọng tự hào: "Nghiêu thế, Việt thường Thị Kiến thiên tuế thần
quy, Bối hữu khoa dấu".
Như vậy thời Hùng Vương, dân tộc ta đã có chữ viết với tên gọi
Khoa Đẩu, đó là điều có thể khẳng định chắc chắn.
Đây là loại chữ ông Xuyền cho là chữ Việt cổ
Nhưng thứ chữ đó hình dạng ra sao? Cấu trúc thế nào? Ông luôn
sẵn sàng lao vào tìm kiếm dù cho thiếu thốn, bệnh tật và đã có tuổi.
Hơn một nghìn năm Bắc thuộc, cuộc tận thu trống đồng của Mã
Viện năm 43, cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15, cuộc đốt phá hết
thư khố quốc gia và thư khố của các bộ (sau cuộc tấn công vào đồn Mang Cá) của
Pháp năm 1875, liệu có còn sót lại những gì?
Trên bốn chiếc qua đồng Đông Sơn có chạm khắc 28 ký tự.
Đó là
những ký tự Việt cổ mà cho đến nay chưa giải mã được
Ông đã tìm đến những nơi đồn là có chữ Việt cổ. Nhưng đôi khi
thất vọng: Chữ khắc trên viên gạch ở Hoàng thành Thăng Long chỉ là chữ Chăm và
những trang sách trên lá buông ở đỉnh Trường Sơn và ở Thư viện Nghệ An chỉ là
chữ Lào cổ. Nhưng ông vẫn tin vào sự cất giấu lưu giữ của tổ tiên về chữ Việt cổ
(như khi đi tìm dấu vết của các thầy giáo thời trước Hán).
Ông Xuyền đến Sa Pa, trên tảng đá vùng Hầu Thảo, sau khi cạo
lớp rêu phủ đã tìm được những chữ giống như chữ cái của Vương Duy Trinh, Hiệp
biện Đại học sỹ, Tổng đốc Thanh Hóa. Trong cuốn Thanh Hóa quan phong viết
năm 1903, Vương Duy Trinh đã giới thiệu một số chữ lạ sưu tập được, khẳng định
đó là chữ Việt cổ từ thời Hùng Vương, và đưa ra nhận xét: “Vì Thập Châu là nơi
biên viễn nên dân ta còn lưu giữ thứ chữ ấy. Các nơi khác, Sĩ Nhiếp bắt bỏ hết
để học chữ Trung Quốc”.
Phải chăng đây là chữ Việt cổ (trích Thanh hóa Quan Phong)
Giáo sư Hà Văn Tấn đã công bố công trình nghiên cứu “Về một nền
văn tự trước Hán và khác Hán”, Giáo sư Lê Trọng Khánh thì khẳng định “Nhiều dân
tộc trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa Đẩu thời tiền sử để ghi tiếng dân tộc mình”.
Nhớ tới câu nói của Vương Duy Trinh: "Vì thập Châu là
vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thứ chữ ấy", ông hướng tìm
tòi lên vùng Tây Bắc, Việt Bắc, vùng khu 4 cũ, rồi lăn lộn lên cả Đông và Tây
dãy Trường Sơn để tìm theo dấu vết.
Để đi được dài ngày và đi xa, với số tiền lương hưu ít ỏi,
ông đã phải tính đến việc ăn ngủ giản tiện nhất, đó là: một chiếc võng bạt, một
bi đông đựng nước, một ít bánh mì sấy khô và dăm gói mì tôm. Thế là ông "cầm
cự" được hàng chục ngày để đi đến các vùng sâu vùng xa, quyết tìm cho ra
chữ Việt cổ.
Trong các tài liệu sưu tầm được, ông đặc biệt chú ý đến một bộ
chữ lạ. Rất tiếc là những trang sách này đã bị nguỵ trang và khoá mã, mặc dù vậy
nó đã tồn tại hàng mấy trăm năm mà không ai chú ý tới. Linh cảm mách bảo, ông
đã thức nhiều đêm trắng để mày mò giải mã. Kiến thức tổng hợp và vốn ngoại ngữ
đã giúp ông rất nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu chữ Việt cổ. Kết quả, ông đã
khu biệt được loại ký tự này với các loại văn tự xung quanh, tìm ra được hình dạng,
chức năng của từng chữ cái và cách cấu trúc của một loại ký tự mà người ta đã
nhầm là chữ Mường, chữ Thái...
Hịch khởi nghĩa của Hai Bà Trưng kêu gọi cả nước
khởi nghĩa giành độc lập, mùa xuân năm 40,
được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ
Câu thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ
ua công trình nghiên cứu về ngôn ngữ người Việt cổ
HauĐricourt, ông khẳng định được bộ ký tự này có từ trước công nguyên (loại ký
tự bắt nguồn từ chữ Khoa đầu tượng hình chuyển sang chữ cái có ghép vần). Căn cứ
vào ý kiến của giáo sư Lê Trọng Khanh: "Các dân tộc Bách Việt dùng thứ chữ
này".
Khi đã đọc thông viết thạo chữ Việt cổ, ông lại tìm đến các
vùng người Thái, người Mường. Loại văn tự này có thể ghi được tiếng Thái, tiếng
Mường nhưng không đầy đủ. Ông lại tìm đến các vùng quê Thái Bình, Bắc Ninh, Sơn
Tây, Thanh Nghệ Tĩnh... để lắng nghe những người già phát âm.
Thứ ký tự này đã giúp ông ghi lại đầy đủ giọng nói, âm vực của
họ, giúp ông giải thích được tiếng nói khác nhau của từng vùng - gần như nó đã
ghi lại nguyên tiếng nói người Việt cổ. Nó đã giúp ông giải thích được nhiều vấn
đề còn thắc mắc. Ví dụ: Vì sao trong tờ Le Paria và tờ L'Humanité từ những năm
20 của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Chữ Nguyễn Ái Quốc được viết là Nguyễn
ái Quấc. Và trong cuốn sách sổ sáng của Filíp Bỉnh viết ở Bồ Đào Nha năm 1822,
chữ huyên được viết là huên, chữ dòng được viết là dào.
Một số bài thơ được thầy Xuyền viết bằng chữ Việt cổ
Cũng như vậy ông có thể chứng minh được một nền văn tự có trước
Hán và khác Hán, của giáo sư Hà Văn Tấn qua việc giải thích sự tồn ghi trong cuộc
khai quật của bà Cô La Ni ở Lam Giận Hoà Bình năm 1923. Tháng 9/2004, giáo sư
Hà Văn Tấn đã mời ông về Hà Nội nghe ông kể lại quá trình đi tìm chữ Việt cổ và
khi được ông tặng bản Hịch của Hai Bà Trưng đã chuyển sang chữ Việt cổ, giáo sư
đã cảm động nghẹn ngào: "Vấn đề lớn lắm. Chúng ta phải sớm báo cáo lên nhà
nước".
Dịp hè năm nay, nghe tin tỉnh Sơn La tìm được hàng nghìn cuốn
sách cổ có chữ lạ. Ông cầm vài tờ photo lên, đọc mà nước mắt ràn rụa. Như vậy
điều dự đoán của các nhà khoa học trước đây đã được chứng minh: Thứ ký tự đặc
biệt để ghi âm tiếng nói của người Việt cổ (thứ chữ dân tộc ta đã có từ thì đại
Hùng Vương) đã được các dân tộc sử dụng chung và còn được lưu giữ bảo tồn ở
vùng Tây Bắc cho đến ngày nay.
Chữ Quốc ngữ xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ 17. Nhiều cuốn
sách cổ được in từ buổi đầu chữ Quốc ngữ xuất hiện, đến nay hầu như không ai đọc
được.
Khi đem bộ chữ Việt cổ đã được giải mã thử đọc một số cuốn
sách cổ, như cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651) của Alexandre de Rhodes, hay cuốn
“Sách sổ sang” của Philip Bỉnh (Giám mục người Việt, ở Thủ đô Bồ Đào Nha những
năm 1790-1820), thầy giáo Xuyền đã rất thú vị khi dễ dàng đọc được những từ khó
mà lâu nay nhiều người không đọc cũng không giải thích được.
Chính từ việc này, thầy Xuyền đã đưa ra một giả thuyết: Chữ
Quốc ngữ có lẽ không phải là một công trình hoàn toàn mới của Alexandre de
Rhodes.
Nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt,
và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ?!
Giả thuyết của thầy Xuyền không phải không có căn cứ. Bởi chữ
Quốc ngữ và chữ Việt cổ do ông giải mã có cùng cấu trúc ghép vần tương tự nhau,
chỉ khác nhau về hình dạng mà thôi!
Chính trong cuốn “Từ điển Việt-Bồ-La”, Alexandre de Rhodes đã
viết: “Đối với tôi, người dạy tài tình nhất là một thiếu niên bản xứ. Trong
vòng 3 tuần, nó đã hướng dẫn cho tôi tất cả các thanh của ngôn ngữ ấy và cách đọc
các từ”. Theo ông Xuyền thì “cách đọc các từ” đó nhiều khả năng là thứ chữ Việt
cổ!.
Những trang viết trong cuốn “song ngữ”
La Tinh- Việt cổ do
ông Xuyền biên soạn.
Cách đây 5.000 - 6.000 năm, cộng đồng các cư dân Việt cổ đã
sinh tụ và phát triển trên một lãnh thổ rộng lớn. Sử sách nước ta và nước ngoài
từ xưa và hiện nay đều xác định rõ niên đại của triều đại Hồng Bàng, với Quốc
hiệu Văn Lang là từ năm 2.879 đến 258 trước CN, được gọi là Kỷ Hồng Bàng, thời
đại các Vua Hùng.
Thời kỳ này, nền kinh tế sản xuất nông nghiệp, lúa nước đã
khá phát triển với kỹ thuật đồ đồng, những trống đồng nổi tiếng mà hơn trăm năm
qua đã tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước ta hiện nay và lãnh thổ nước Văn Lang
xa xưa. Theo Khảo cổ học, ở Việt Nam lúa nước đã có từ 10.000 năm về trước và đồ
đồng đã phát triển khoảng cách đây 5.000 năm.Thành tựu khảo cổ học, chủng tộc học,
v.v…về cư dân Việt cổ và vùng Đông Nam Á, tuy đến nay vẫn còn là bước đầu, mới
mẻ nhưng cũng đã chứng minh được phần nào những điều trên.
Qua quá trình nghiên cứu của nhà giáo về hưu Đỗ Văn Xuyền,
các thư tịch cổ ở nhiều nơi trong cả nước đã ghi lại danh sách các thầy giáo và
học trò thời Hùng Vương. Bước đầu chúng ta biết từ Hùng Huy Vương – Hùng Vương
thứ 6 đến An Dương Vương có 19 thầy giáo dạy 18 trường ở kinh đô và địa phương,
với số học trò được biết là 23 người. Học trò học ở các trường mà trong thần
tích, thần phả không nêu tên thầy giáo là 17 trường với số học trò là 35 người.
Như vậy có 19 thầy giáo và 35 trường học rải khắp các địa bàn trong cả nước và
58 học trò tiêu biểu. Ta khiêm tốn gọi đó là những dấu tích của nền giáo dục thời
Hùng Vương. Cũng trong quá trình nghiên cứu đó, ông Xuyền còn tìm thấy thời Bắc
thuộc lần thứ I từ năm 111TRCN đến năm 39 – thời Bà Trưng có 10 thầy giáo, 68 học
trò và 36 trường ở các địa phương.
Tượng thầy trò Vũ Thê Lang được thờ trong Thiên Cổ Miếu
Sau đây là danh sách các thầy giáo và học sinh thời Hùng
Vương của nhà giáo Đỗ Văn Xuyền tìm ra:
1. Danh sách 18 thầy giáo
STT
|
Thời Thầy giáo
|
Chi tiết
|
1
|
Thời Hùng Vương thứ 6 – Hùng Huy Vương có thầy Lý Đường
Hiên
|
Dạy học ở Yên Vĩ huyện Hoài An phủ ứng Thiên đạo Sơn Nam
nay là huyện Ứng Hoà Hà Tây. Thầy có hai học trò là Cao Đường và Lý
Đá học giỏi thấu tỏ mọi lẽ kinh sách, người đường thời ai cũng khen là
thần đồng.
|
2
|
Lý Đá và Cao Đường
|
Mở trường dạy học tại Xuân La Nguyễn Xá trang Diên Phú huyện
Diên Hà phủ Tiên Hưng trấn Sơn Nam.
Giặc Ân xâm lược, hai ông theo Phù Đổng đánh giặc, giặc tan
về đến núi Sóc Sơn ông cùng Phù Đổng bay về trời. Nhân dân Xuân la Nguyễn Xá
trang Diên Phú huyện Diên Hà phủ Tiên Hưng Trấn Sơn Nam lập đền thờ phụng.
|
3
|
Thời Hùng vương thứ 9 - Thầy Lỗ Công
|
Dạy ở kinh thành Văn Lang, là cháu ngoại vua Hùng Định
Vương. Có học trò là Hoàng Trù ở xã Bồng Lai huyện Từ Liêm Hà Nội theo học.
|
4
|
Thời Hùng Vương thứ 16 – Thầy Ngô Tiên
|
Dạy học ở Xuân Áng xã Thuỵ Trang huyện Đường Hào phủ Thượng
Hồng lộ Hải Dương có người học trò là Phan Hộ mày hổ, mũi rồng, tiếng như
chuông, mới sinh ra đã có răng, học được một năm giỏi giang, văn võ tinh
thông, tài trí khác đời.
Ông vào chữa bệnh cho Thái Phi vua thấy tài giỏi, phong “Đốc trưởng tiền quên ngự đô lực sĩ, Đông Đại tướng quân thiên hộ hầu. |
5
|
Thời Hùng Vương thứ 18 – thầy Cao Đường
|
Dạy học ở khu Khổng Tước Châu Hoan, học trò là Hùng Duệ
Vương. Còn có người học trò là Chu Hoằng theo học được hơn 4 năm mà văn
chương thông thái, võ bị tinh thường. Ông theo Tản Viên Sơn Thánh, trở hành vị
tướng đánh Thục giỏi được vua phòng: Cai số Đại vương. Ngày 10 tháng 11 ông tự
hoá, nhân dân khu Bùi Trang Hạ Bái huyên Diên Hà lập đền thờ phụng.
|
6
|
Thầy Nguyễn Thiện
|
Quê ở làng Yên Vỹ, động Hương Tích, huyện Hoài An phủ Ứng
Thiên, trấn Sơn Nam đến học ở Thượng Khu xã Vĩnh Lai, huyện Cẩm Giàng, Hải
Dương. Ông có hai người con trai cùng sinh giờ ngọ ngày 12/8 năm Bính Tý, lại
là hai học trò văn võ toàn tài, thao lược hơn người. Khi cha chết hai anh em
đến Sơn Tây vào yết kiến Tản Viên Sơn Thánh và kết nghĩa anh em cùng nhau
đánh Thục thắng lơị, được Hùng Duệ Vương phong: Đại tướng công.
|
7
|
Thầy Hải Đường
|
Dạy học ở kinh thành Văn Lang có người học trò tên là Nguyễn
Mục sinh ngày 12-9 năm GIáp Ngọ, con ông Nguyễn Danh Huyên và bà Đào Thị Túc ở
trang Đông Đồ huyện Kim Hoa phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc, đến ở nhà cậu rột là ông
Đào Công Hải làm huyện Doãn Châu Phong (Bạch Hạc) để đi học. Mới học được vài
năm mà Nguyễn Mục văn chương võ nghệ tinh thông. Hùng Duệ Vương yết bảng
chiêu hiền. Nguyễn Mục ứng thi được vua ban chức: Đại Phu tham gia triều đình
chính sự. Quân Thục xâm lược, Nguyễn Mục cầm quân đánh thắng giặc trở về được
Vua phong: Y Mục đại vương. Ngày 2 tháng chạp năm Kỷ Dậu ông hoá, vua truy
phong Thượng đẳng thần tối linh. Nhân dân trang Bối Khê huyện Đông Yên phủ
Khoái Châu lập đề thờ phụng.
|
8
|
Thầy Lã tiên sinh
|
Dạy ở Hồng Châu Hải Dương có hai người học trò là Cao Sơn
và Quý Minh vă võ đã hơn người. Bấy giờ Hùng Duệ Vương hạ chiếu kén nhân tài.
Hai ông ứng thi trúng tuyển, vua phong cho hai người chức Chỉ Huy Xứ: Tả Hữu
tướng quân. Vâng mệnh vua hai ông đưa quân trấn thủ ở sông Lô, sông Thao,
sông Đà đề phòng quân Thục xâm lược. Hai ông lập đồn ở xã Tiên Du huyện Phù
Khang phủ Tạm Đái đạo Sơn Tây về sau là xã Tiên Du tổng Hạ Giáp huyện Phù
Ninh Phú Thọ…
Ngày 10 tháng 11 hai ông đã hoá, nhân dân nơi đây đã tôn thờ làm Thành Hoàng làng. |
9
|
Thầy Lỗ tiên sinh
|
Dạy học ở xã An Canh huyện Thiên Thi nay là huyện Ân thi,
Hưng Yên. Thầy có 3 người học trò là Nguyễn Tuấn, Nguyễn Chiêu, Nguyễn Minh
là con ông Nguyễn Xuân và bà Đoàn Thị Nghi. Ba người cùng sinh một bọc ngày
10-3 năm Bính Thìn, thật là khôi ngô kỳ vỹ. Năm lên 9 tuổi ba anh em đều theo
học thầy Lỗ tiên sinh, học được ba năm đã tinh thông văn võ. Năm 15 tuổi tài
năng của 3 ông đã nổi bật, nhân dân và hào kiệt trong vùng đều khâm phục. Năm
19 tuổi Hùng Duệ Vương ra bảng kén chọn nhân tài, ba ông đều trúng tuyển. Vua
hài lòng phong cho ông Tuấn chức: Tư Tào điển lạc quan, ông Chiêu chức: Tả Tư
tào phán quan, ông Minh chức: Hữu Tư tào phán quan. Quân Thục đến xâm lược,
ba ông theo Tản Viên Sơn Thánh đánh giặc.
|
10
|
Thầy Lỗ Đường Tiên sinh
|
Dạy ở xã Đại Đồng thuộc huyện An Đường phủ Thượng Hồng tỉnh
Hải Dương.
Có người học trò là Trương Sơn Nhạc sinh giờ Thân ngày 8 tháng giêng năm giáp Thân, rất kỳ lạ, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú, trong bụng có điểm nét chữ “son” trông tựa như chữ thần tiên. Một tuổi đã biết nói, năm lên 7 theo học thầy Lỗ Đường, chẳng bao lâu văn võ kỳ tài, được Hùng Duệ Vương giao cho chức Bố Chính Quan. Quân Thục đến xâm lược, ông là vị tướng đã đáh thắng giặc rồi tự hoá.. Nhân dân làng Nhiễm Dương tổng Nghĩa Xá, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh lập đền thời phụng. |
11
|
Thầy Niệm Hưng
|
Quê ở Mộ Trạch Hải Dương được nhân dân làng Lỗ Khê phủ Từ
Sơn Bắc Ninh đón về dạy hỏi: Năm 23 tuổi nhà vua hạ chiếu kén anh tài. Niệm
Hưng ứng tuyển được Hùng Duệ Vương phong chức: Chỉ Huy xứ. Quân Thục xâm lược,
ông lĩnh chức Tiền Đạo đại tướng quân, đánh thắng quân Thục ông trở về Lỗ Khê
tự hoá, nhân dân tôn thờ làm Thành Hoàng Làng.
|
12
|
Thầy Nguyễn Minh
|
Quê ở huyện Lôi Dương Châu Ái đến xã Màn Xuyên tổng Đông kết
huyện Đông An mở trường dạy học. Bấy giờ Hùng Duệ Vương mở khoá thi, vào thi
Đình nhà vua chấm ông đỗ đầu khoá, được vua gả công chúa Ngọc Nương – công
chúa thứ ba, ông cùng với Tản Viên Sơ Thánh đánh giặc Chiêm Thành thắng lợi
được vua phong: Trấn Chiêm Thành cửa ải đại tướng quân.
|
13
|
Thầy Lỗ tiên sinh
|
Dạy học ở Động Lăng Xương huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng đạo
Hưng Hoá, có ba người học trò là Cao Hiển công, Cao Minh công, Cao Tùng công
quê gốc ở Châu ái đến ngụ cư ở Lăng Xương. Ba học trò này thật là dị tướng,
hai gồ má cao vọi, tay dài chấm gối, bàn chân có 7 cái lông dài. Học mới 3
năm mà đã am hiểu nghĩa lý, kinh sử lầu thông.
Vì có công đánh giăc Thục khi hoá được vua phong Thượng đẳng
phúc thần.
|
14
|
Thầy Phạm Công Tuyển
|
Quê ở trang Hội Triều huyện Hoàng Hoá phủ Hà Chung Châu ái
làm quan ở châu Xích Đằng phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam. Ông là Người văn
chương nổi tiếng. Sau khi vợ chết ông tư quan về dạy học ở Châu Xích Đằng phủ
Khoái Châu, sau lại chuyển về khu Đăng Xuyên xã Đăng Định huyện Thiên Thi…
Sau khi chết nhân dân xã Đăng Xuyên huyện Ân Thi tôn thờ Thành Hoàng làng.
|
15
|
Thầy Vũ công
|
Ở Mộ Trạch Hải Dương dòng dõi thi thư lên cung thành kinh
đô Văn Lang, ở thôn Hương Lan, ngày nay thuộc xã Trưng Vương – Việt Trì dạy học.
Hai ông bà sinh được người con đặt tên là Vũ Thê Lang, khi trưởng thành Vũ
Thê Lang đã dạy hai công chúa của Hùng Duệ Vương là Tiên Dung và Ngọc Hoa.
Nhân dân đã lập đền thờ vợ chồng Vũ Thê Lang, đền này có tên là “Thiên Cổ Miếu”.
|
16
|
Thầy Lý Đường tiên sinh
|
Dạy học ở động Lăng Xứơng huyện Thanh Xuyên phủ Gia Hưng,
đao Hưng Hoá xứ Sơn Tây. Nguyễn Chiêu học thầy 3 năm liền. Sau này Nguyễn
Chiêu gọi là Tả Viên Sơn Thánh phò mã của Hùng Duệ Vương.
|
17
|
Thầy Ngô tiên sinh
|
Dạy học ở thôn Trì La Huyện Thiên Thi Xứ Sơn Nam. Có hai
người học trò tên là Phạm Đá, Phạm Dũng cùng sinh một bọc ngày 9/3 năm kỷ
Mùi, con ông PHạm Đạt và bà Đinh THị Duyên, quê nội ở sách Biện Sơn huyện Lôi
Dương phủ Thuận Thiên Châu ái. Hai học trò này hình dáng kỳ dị, mày ngài hàm
én, tay dài chấm gói, bàn tay có 7 chiến lông mọc dài, năm lên tám tuổi hai
anh em đến học thầy Ngô tiên sinh, mới học được vài năm đã thông kinh sử. Thời
An Dương Vương có giặc Đại Man đến cướp phá Cao Bằng, Hưng Hoá. Nhà vua truyền
hịch tuyển lựa chọn nhân tài. Hai ông ứng tuyển được nhà vua phong cho ông Phạm
Đá là Bình Man Đô nguyên soái, ông Phạm Dũng là Thiên Quan đại tướng công.
Hia ông dẹp yên giặc lại trở về Trì La, khi hoá nhân dân tôn Thành Hoàng
làng.
|
18
|
Thầy Dương Như Tồn tiên sinh
|
Dạy học ở Lỗi Giang, Tề Giang xưa, nay thuộc Thọ Xuân Thanh
Hóa là thầy dạy tể tướng Lữ Gia thời nhà Triệu.
|
2. Danh sách 23 học trò
STT
|
Thời Học trò
|
Chi tiết
|
1
|
Thời Hùng Vương thứ 6 - ông Tạ Quang và bà Trần Thị
|
Ở xã An Phú huyện Từ Sơn Bắc Ninh có 5 con học ở xã Điềm Xá
huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu Hưng Yên. Năm người con này khi trưởng thành đã
cùng với Hùng Đức huyện quan Tiên Lữ đánh giặc ở Châu Quỳnh Nhai, Tuyên
Quang…. được vua phong: Ngũ vị đại vương.
|
2
|
Người con giai là Vũ Nghị
|
Con ông Vũ Huy Hiển, bà Hoàng Thị Việt. Năm 12 tuổi ha mẹ
cho đi học ở thôn Trung xã Vĩnh Lại tên nôm là làng Giải Thượng huyện Cẩm
Giàng – Hải Dương. Thời Hùng Hy Vương có giặc Cao Man giặc Ân ông đã cùng với
người cậu là Hoàng Công Độ, lạc tướng ở kinh thành Văn Lang đi đánh giặc lập
nhiều chiến công. Ông Vũ Nghị đã hoá theo Thánh Gióng ở núi Sóc Sơn.
|
3
|
Đời Hùng Vương thứ 6 có Vũ Lang Lữu
|
Sinh giờ Dần ngày 20 tháng giêng năm ất sửu là con ông Vũ
Sùng và bà lê Thị Ngọc, học ở sách Lam Sơn, Ái Châu, Thanh Hoá. Sau lại chuyển
đến học ở huyện Nam Xang phủ lý Nhân đạo Sơn Nam. ông thông thạo văn chương,
thượng thiên văn, hạ địa lý, không một vật gì không biết, không một việc gì
không hay, đời bấy giờ khen là: ông thánh trẻ. Giặc Ân xâm lược nước ta Vũ
Lang Lữu cùng Thánh Gióng đánh tan giặc. Ông được vua phong: Võ Gia Hỗu giám
sát đại tướng quân. Khi ông mất làng Vũ Xá tổng ngu Nhuế phủ Lý Nhân tỉnh Hà
Nam lập đền thờ phụng.
|
4
|
Hoàng tử Hùng Bảo, Hùng Chân
|
Con Hùng Huy Vương và con Hoàng hậu Phương Dung. Hoàng tử Bảo
sinh ngày 12/02 năm Giáp Tí. Hoàng Tử Chân sinh ngày 10 tháng giêng năm đinh
mão. Hai hoàng tử này học ở kinh thành Văn Lang, với tư chất thông minh, chăm
học, ngay từ thuở thiếu niên đã tỏ ra người có tài văn võ. Lúc bấy giờ có giặc
xâm lược vua cử hai hoàng tử làm tướng, phong cho hoàng tử Bảo là Bảo quốc lạc
hầu, Hoàng tử Chân là Chân Võ đại tướng quân.
|
5
|
Nguyệt tinh công chúa
|
Cháu của Hùng Tạo Vương – Hùng Vương thứ 16 học ở kinh
thành Văn Lang, 19 tuổi văn võ kỳ tài, đi 7 bước làm xong bài thơ.
|
6
|
Hoàng tử Mang Công
|
Con của Hùng Nghị Vương – Hùng vương thứ 17 học ở kinh
thành Văn Lang, là người thiên tư mẫn tuệ. Năm 17 tuổi Mang công lầu thông
thiên kinh vạn quyển, hiểu rõ ngọn ngành của mọi nghĩa lý.
|
7
|
Thời Hùng Duệ Vương có Lương Cội công
|
Con ông Lương Nhạc và bà Trần Thị Ái, cha mẹ cho Cội công
đi học ở động Chung Sơn quận Cửu Chân, Hoan Châu. Cội công rất thông minh,
văn tài võ lược đều giỏi, được vua trọng dụng phong làm tướng cử đi đánh giặc,
thắng lợi trở về vua lại truy phong; Đài vàng Cội Công Uy linh đại vương. Ông
mất, Trang Minh Lương (tức Mỹ Lương) huyện Diên Hà phủ Tân Hưng làm đền thờ
phụng.
|
8
|
Bốn người con: Liêm , Vĩnh, Dũng, Bùi
|
Vợ chồng ông Đinh Công Bách và Tô Thị Công Nghị quê ở Châu
Ái, Thanh Hoá có 4 con theo học ở làng Pó Hoa trấn Sơn Nam Thượng phủ Thường
Tín huyện Thượng phúc đạo Sơn Nam. Bốn người con đều đi học chăm chỉ, đều tài
giỏi cả văn lẫn võ, tài trí thông minh lẫy lừng thiên hạ, danh tiếng đến tai
vua. Hùng Duệ Vương mời 4 chàng trai vào triều để giúp vua trị nước.
|
9
|
Chàng Ngọ
|
Ông Nguyễn Trường vợ là Đinh Thị Khương ngày 8 tháng giêng
năm Bính Ngọ sinh được người con trai phong tư đẹp đẽ, khí vu hiên ngang đặt
tên là Ngọ. Cha mẹ cho Ngọ đi học ở khu Tập Ninh xã Vân Lung động Hoa Lư phủ
Trường Yên Châu Ái. Chàng thông hiểu văn chương, tinh thông võ nghệ được Hùng
Duệ Vương phong: Trung Thư Lệnh, Quân Thục đến xâm lược, ông là võ Tướng chỉ
huy đánh thắng giặc rồi ông tự hoá, làng Tập Ninh xã Vân Lung huyện Hoa Lư –
Ninh Bình lập đền thờ phụng.
|
10
|
Tam Quan học
|
Hùng Thiện Công và Nguyễn Thị Phương có người con trai tên
là Tam Quan học ở trang Cao Xá thuộc tổng Lai Cách phủ Bình Giang nay là xã
Ca An huyện Cẩm Giàng Hải Dương: Tam Quan học rất giỏi võ nghệ tinh thông,
pháp thuật cao cường được Hùng Duệ Vương tuyển dụng phong: Tam Quan địa
vương.
|
11
|
3 người con giai: Tuấn, Chiêu, Minh
|
Ông Nguyễn Xuân và vợ là Đoàn Thị Nghị ngày 10/3 sinh một bọc
được 3 người con giai thật là kỳ vỹ. Con thứ nhất đặt tên là Tuấn, con thứ 2
đặt là Chiêu, con thứ 3 đặt là Minh. Năm lên 9 tuổi cả 3 anh em đều đi học ở
làng cổ Lễ xã An Canh huyện Thiên Thi nay là Ân Thi Hưng Yên. Ba ông có công
đánh quân Thục xâm chiếm, khi hoá nhân dân Cỗ Lễ thờ; “Tam vị Thành Hoàng”
|
12
|
2 con giai: Minh Đức, Chiêu Chung
|
Đặng Cẩn vợ là Phùng Thị Thuần ngày 10 tháng 4 năm Nhâm
Thân sinh được 2 con giai , dung mạo khôi ngô kỳ lạ. năm lên 7 tuổi cha mẹ
cho 2 anh em đi học ở Châu Quỳnh Nhai. Năm 16 tuổi lực học hai cậu tinh
thông, tài năng võ nghệ khiến vạn phu không địch nổi. Năm 20 tuổi, giữa lúc
Hùng Duệ Vương dựng lầu kén rể ở thành Văn Lang để mộ người thông minh tài
trí, đức độ hơn người, kén chọn bậc vương lấy công cháu Ngọc Hoa rồi vua trao
ngôi báu. Hai ông vào ứng thi tài văn võ ứng đối lưu loát nhưng toàn tài chưa
có. Vì thế vua chỉ phong cho 2 ông chức: chỉ huy xứ tả hữu tướng quân. Quân
Thục đến xâm lược, hai ông cầm quân đánh thắng giặc trở về và tự hoá ngày 3
tháng 12 nhân dân Nghĩa trang Lưu Thượng, Lưu hạ đạo Hải Dương lập đền thờ phụng.
|
13
|
Thời Hùng Duệ Vương - Vũ Uy
|
Ông Vũ Phục vợ là Quế Hoa ngày 18 tháng 3 giờ Tý năm Nhâm Dần
sinh được người con trai đặt tên là Vũ Uy, năm 14 tổi cha mẹ cho Vũ uy học ở
xã Đan Tràng tổng Đan Tràng huyện Cẩm Giàng phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương, võ
nghệ tinh thông, học một biết mười, quân Thục đến xâm lược, ông xin nhà vua cầm
quân đánh giặc, chiến thắng ông trở về bản quán xã Đan Tràng và tự hoá được
vua phong: “Thượng đẳng phúc thần”
|
14
|
Con trai tên Hoằng
|
Ông Nguyễn Lương vợ là Đinh Thị Tố ngày 10-8 năm Giáp thân
sinh người con trai đặt tên là Hoằng, có nước da trắng ngần, mắt sáng như
sao, sau lưng có 28 nốt ruồi, dười đùi có 7 cái lông. năm 12 tuổi ông kết bạn
với Sơn Thánh và đến bái yết Hùng Duệ Vương được vua pong “Dũng lược tướng
quân” hộ giá nhà vua. Ông có công đánh thắng quân Thục được vua gia phong: Hoằng
tướng quân đại vương. Khi ôg hoá làng Cổ Viễn, Bình Lục, Hà Nam lập đền thờ
phụng.
|
15
|
2 con trai: Mang công, Mỹ công.
|
Ông bà Cao công ngày 2 tháng 2 năm Giáp thân sinh một bọc
được 2 con trai đặt tên là Mang công, Mỹ công. năm 11 tuổi cha mẹ cho hai anh
em đi ọc ở Vũ Ninh, học được 5 năm văn võ rất giỏi. Quân Thục xâm lược Hùng
Duệ Vương triệu hai ông về triều, cử đi đánh giặc. Thắng giặc trở về hai ông
tự hoá ngày 10-6 được vua truy phong: “Thượng đẳng phúc thần”. Làng Mão Cầu
Phủ Lý Nhân Hà Nam lập đền thờ phụng.
|
16
|
Đời vua Hùng Vương thứ 18 - Cao Sơn, Cao Minh
|
Ông Nguyễn Tùng vợ là Lê Thị Diêu ngày 14 tháng giêng năm
Nhâm Dần sinh được hai con trai mặt mũi khác thường đặt tên là Cao Sơn và Quý
Minh – Năm lên 6 tuổi cha mẹ cho đi học ở Hồng Châu Hải Dương. Năm 16 tuổi cả
hai anh em đều tinh thông võ nghệ. Vua hạ chiếu tìm người tài giỏi. Hai anh
em đến bái yết nhà vua được vua phong cho hai người làm: Đô chỉ huy xứ tướng
quân Cao sơn và Quý Minh là hai nhân vật từng được thờ rất nhiều với những
lai lịch sự tích mỗi nơi một khác. Có nơi cho Cao Sơn và Quý Minh là Tản
Viên, Cao Sơn và Quý Minh là Nguyễn Hiển và Nguyễn Sùng anh em con chú con
bác với ản Viên. Cao Sơn và Quý Minh là anh em kết nghĩa với Tản Viên. Có người
lại cho rằng Cao Sơn và Quý Minh là tước hiệu tránh viết tên huý..
|
17
|
Chung công
|
ý Công Hiển vợ là Đinh Thị Huyền ngày 10-2 năm Mậu Thân
sinh được người con trai tay dài quá gối, chân có 7 cái lông dài, cha mẹ đặt
tên là Chung công. Một tối Chung công đã biết nói, 7 tuổi đi học ở động Lăng
Xương huyện Thanh Châu phủ Gia Hưng đạo Hưng Hoá xứ Sơn Tây. Mới học được mấy
năm đã thông hiểu cả văn võ. Lớn lên cùng với Sơn Thánh cầm quân đánh Thục.
|
18
|
Đời Hùng Vương thứ 18 - Nam Định
|
Ở làng Lưu Xá huyện Thượng Hiền phủ Nghĩa Hưng đạo Sơn Nam
có ông Trương Tùng vợ là Phùng Thị ích đến ngụ cư ở trang Trịnh Xá khu Nguyên
Xá huyên Đông Ngàn phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc. Ngày 10/3 năm Quý Tỵ sinh được cậu
con trai đặt tên là Nam Định. Lên 3 tuổi đọc thông sử sách, lại giỏi võ nghệ,
đám học trò thời ấy thán phục và khen là thần đồng. Năm 21 tuổi, lúc này Hùng
Duệ Vương xuống chiếu cầu hiền Nam Định ứng tuyển, trả lời các câu hỏi của
vua đều lưu loát, vua khen và ban danh là Trung Định Công và giao cho chức chỉ
huy xứ ở huyện Thượng Hiền đạo Sơn Nam.
Hùng Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa nhưng đều nối gót lên tiên cả, chỉ còn lại 2 công chúa. Con gái lớn là Tiên Dung đã gả cho Chử Đồng Tử còn công chúa Ngọc Hoa duyên đẹp thời lành chưa định. Vì vậy mà giao cho Trung Định công dựng lầu ở cửa Việt Trì gọi là “Tuyển tế đại hiền lau” – Lễ đón người hiền, chọn rể, đề biển là: “Ngoan nguyệt cầu hiền” nghĩa là ngắm trăng cầu hiền - để nhà vua gả công chúa và truyền ngôi báu cho. Lúc bấy giờ chỉ có Sơn Thánh họ Nguyễn tên Tùng người Đạo Sơn Nam có nhiều phép lạ, vua cho rằng đó là người kỳ tài bậc nhất thiên hạ, vua đã gả công chúa và nhường ngôi báu.
Quân Thục đến xâm lược Trung Định công được vua phong: Tiền
đạo đương lộ tướng quân, đi giết giặc. Thắng giặc trở về ông tự hoá ngày 15/7
nhân dân khu Nguyên xá tôn thờ làm thành hoàng.
|
19, 20, 21, 22
|
4 con trai của Hùng Vương thứ 18
|
Hùng Vương thứ 18 ở Châu Quỳnh Nhai có ông Cao Bảo và Cao
Hình lấy vợ ở Thanh Ba làng Vũ Lao. Năm Đinh Sử tháng 3 ngày 10 vợ ông anh
sinh 2 con trai và một con gái. Ngày 10-8 năm ấy vợ ông em sinh một bọc 2 con
giai. Thế là hai anh em sinh được 4 giai một gái. Bốn con giai thân thể lẫm
liệt, cao to, môi rồng, mặt phượng, hàm én, mày hùm. Con gái thì phương phi,
mặt như gương sáng, nhan sắc như tiên nữ. lên 3 tuổi người anh đặt tên cho
con là Minh Công, Tín Công và con gái Dung nương. ông em đặt tên cho con là
Cao công, Bạch công. năm lên 7 tuổi hết thảy đều thông minh, trí tuê, khí độ
hơn người. Nam anh hùng, nữ tuấn tú. Lúc bấy giờ ở châu Quỳnh Nhai có người họ
Đinh là nhà cự tộc gia thế, tìm cách giết chết 2 anh em giai và người vợ ông
em. Bà vợ ông Cao Bảo đưa 3 con và 2 cháu đi chốn ở làng Thượng Nông huyện
Tam Nông phủ Lâm Thao, ở nhà bà Ma Thị Chính và cho các con, các cháu học ông
thầy ở làng Đào Xá Thanh Thuỷ. Học được 4 năm, tài chí của con trai và con
gái khác thường. Bốn con trai giúp nhà vua đánh Thục còn Dung nương thì lấy
vua làm thập tứ cung phi (cung phi thứ 14)
|
Trong tập: Sự hình thành và phát triển chữ Việt cổ, do
Viện Văn hóa in năm 1986, tác giả Lê Trọng Khánh đã dẫn chứng nhiều dân tộc
trong Bách Việt đã dùng chữ Khoa đẩu thời Phục Hy - Thần Nông để ghi tiếng dân tộc
mình.
Vào năm 1903 Tổng đốc Thanh Hóa lúc ấy là Vương Duy Trinh
công bố việc tìm ra một văn bản viết bằng thứ chữ lạ, trông như những ngọn lửa
vờn cháy mà Ông gọi là chữ Hỏa tự. Dựa vào những chữ Hán ghi chú bên cạnh
ông dịch được nội dung, thì ra đây là một bài thơ có tựa đề "Mời trầu"
có nội dung ca ngợi tình yêu.
Vương Duy Trinh cho rằng, đây chắc chắn là chữ của tổ tiên ta
từ thời các vua Hùng. Do âm mưu đồng hóa của kẻ thù, chúng tìm cách triệt phá,
không để lại dấu tích của thứ văn tự cũ, nay vẫn còn truyền lại và lưu hành
trong một bộ phận nhỏ xã hội. Theo nghiên cứu của Ông thì:" Thập châu là
vùng biên viễn, nhân dân ta còn lưu giữ được thư chữ này"
Văn bản chữ Việt cổ còn lại những gì? Đúng là tài liệu của
ta vừa bị giặc nước huỷ diệt, vừa bị ta không biết cách bảo tồn, thí dụ đã từng
có một tài liệu về chữ Việt cổ của gia đình cụ Lê Huy Nghiệm sau cách mạng
Tháng Tám đã bị mất.
Dù giặc ngoại xâm đã tước đoạt, đã thiêu huỷ những tài liệu
quý báu của tổ tiên chúng ta như Mã Viện đã tịch thu tất cả những trống đồng có
khắc chữ trên đó để đúc ngựa dâng cho Hán Quang Vũ và đúc cột đồng trụ. Năm 207
sau công nguyên, Sỹ Nhiếp du nhập sang nước ta chữ Hán đồng thời ra lệnh thiêu
huỷ sách vở và cấm nhân dân không được dùng thứ chữ viết của tổ tiên ta. Nhưng
chữ Việt Cổ càng ngày càng phát lộ nhiều: Trên trống đồng, trên qua đồng, trên
vách các hang động, bãi đá cổ ở Sapa, ở Pá Màng xã Liệp Tè Thuận Châu Sơn La,
chữ Việt Cổ còn tồn tai vùng biên viễn Thập Châu. Thư viện Sơn La đã sưu tầm được
gần 1500 cuốn sách, Bảo Tàng Sơn La cũng sưu tầm được gần 1000 cuốn sách trong
đó là chữ Thái hay chữ Việt Cổ mà chưa nghiên cứu vấn đề này. Nhất định chúng
ta tìm thấy và giải mã được chữ Việt Cổ, chữ của tổ tiên để lại.
Cách đây hơn một thế kỷ, Phạm Thận Duật, một nhà văn hóa lớn
của dân tộc, trong thời gian làm Tri châu ở Tây bắc (khoảng năm 1855) đã phát
hiện nhiều bộ chữ mà Ông cho là chữ Thái thổ tự , trong đó có một bộ chữ cái có
kèm ghi chú chữ Hán. Theo mô tả của Ông, thứ chữ này được viết theo chiều
ngang, bộ chữ gồm 18 thể chữ cái theo vần bằng, 18 thể chữ cái theo vần chắc.
Còn ở Châu Mai Sơn, Châu Minh Biên có bộ chữ gồm 17 thể chữ cái theo vần bằng,
15 thể chữ cái theo vần chắc. Ngoài ra còn 11 chữ và nét phụ ở 04 bên mà Ông gọi
là "tứ bàng phụ họa, sử dụng 03 thể chữ cái đảo lên, lộn xuống, ghép lại với
nhau thành từ, thì đều có thể thông với văn tự Trung châu" (tức là có thể
chuyển ngữ cho chữ Hán).
Theo nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền: Bộ chữ do Phạm Thận Duật mô
tả là bộ chữ không có dấu, trong đó 17 chữ vần bằng là phụ âm, đi với thanh
không. 16 thể chữ theo vần trắc là phụ âm đi với thanh huyền. 11 nét phụ (tứ
bàng phụ họa) cho những từ vần bằng chính là nguyên âm. Sau nhiều năm khảo sát ở
nhiều miền trong cả nước, Đỗ Văn Xuyền sưu tầm được một khối lượng lớn tư liệu
về chữ Việt cổ, và khu biệt được một bộ chữ gồm 47 chữ cái mà Ông tin chắc là
chữ Việt cổ, vì bộ chữ này thỏa mãn được 03 tiêu chuẩn kiểm tra ký tự của một
dân tộc, được các nhà khoa học đề ra, đó là:
- Có ghi lại được đầy đủ tiếng nói của dân tộc đó không?
- Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của kí tự đó không?
- Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm)
Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ la tinh của phương tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí (Tứ bàng phụ hoạ). Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông Xuyền mới tìm ra qui luật - Qui luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được qui luật ghép vần, người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, Những nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ.
- Những đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc có thể hiện qua các đặc điểm của kí tự đó không?
- Có giải quyết được các "nghi án" về ngôn ngữ, ký tự của dân tộc đó trong quá khứ? (Chứng minh bằng các cuộc kiểm tra thực tế ở các địa phương, bằng cách dịch lại các văn bản còn tồn nghi và đọc các văn bản cổ mới sưu tầm)
Đây là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (không phải chữ tượng hình nguyên thuỷ) có cấu tạo gần với hệ chữ la tinh của phương tây, nên rất dễ học. Tuy nhiên bộ chữ này có một nhược điểm là những chữ nguyên âm luôn thay đổi vị trí (Tứ bàng phụ hoạ). Phải mất nhiều năm nghiên cứu ông Xuyền mới tìm ra qui luật - Qui luật đặt vị trí nguyên âm theo đạo lý người Việt (ví dụ từ trời nguyên âm đặt phía trên, từ đất nguyên âm đặt phía dưới. Tương tự các từ cha, con nguyên âm đặt phía trước hoặc sau). Để thuộc bảng chữ cái và nắm được qui luật ghép vần, người ta có thể học sử dụng được bộ chữ này để đọc, viết trong khoảng thời gian 7-10 ngày. Nhóm nghiên cứu đang đang tập trung nghiên cứu để một ngày gần đây chứng minh giả thiết cho rằng, Những nhà truyền giáo người Bồ đã tiếp thu bộ chữ cổ của người Việt, và có công La tinh hóa nó, để ra được chữ Quốc ngữ.
Nhóm nghiên cứu rất cần sự ủng hộ của các nhà khoa học và các
cơ quan nghiên cứu khoa học của nhà nước để hoàn thiện công trình khoa học này.
Tôi đã đọc bài viết này với một sự say mê khó tả. Tôi cảm thấy
xúc động. Chưa bàn đến tính chính xác từ các giả thuyết thầy giáo Xuyền đưa ra,
chỉ riêng cái công sức mà ông thể hiện để đi tìm tiếng nói đã mất của tổ tiên
đã là một cái gì đó cực kì đáng trân trọng. Thành quả khoa học phụ thuộc rất
nhiều vào các điều kiện vật chất của bản thân người nghiên cứu. Nhưng vật chất
chưa phải là tất cả. Khi có một tình yêu và lí tưởng lớn, người ta có thể làm
nên những điều phi thường. Giá mà các nhà khoa học Việt Nam, nhất là các nhà
khoa học trẻ có được phẩm chất này thì nền khoa học của chúng ta sẽ tiến xa!
Qua chungta.com, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Xuyền. Tại sao Bộ khoa học và công nghệ lại không có 1 giải thưởng thường niên dành cho những nghiên cứu xuất sắc của những người không chuyên? Một việc nên làm quá đi chứ.
Qua chungta.com, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Xuyền. Tại sao Bộ khoa học và công nghệ lại không có 1 giải thưởng thường niên dành cho những nghiên cứu xuất sắc của những người không chuyên? Một việc nên làm quá đi chứ.
Đáng vui và đáng buồn
Vui là lại thêm một điều nữa về cội nguồn dân tộc mà ta có thể
tự hào.
Buồn là một sự kiện lớn lao thế này lại không dành được sự quan tâm nhiều của dư luận và xã hội. Sự kiện này chưa thấy lên báo, chưa thấy lên truyền hình, vì cả đất nước Việt Nam có bao nhiêu người biết đến và đọc được bài báo này. Trong khi đó, những câu chuyện về lịch sử Ai cập, kiến trúc châu Âu... lại được phát đi phát lại trên truyền hình.
Đáng buồn thay... như thế làm sao trách thế hệ trẻ chưa có sự quan tâm đúng mực đến lịch sử!
Buồn là một sự kiện lớn lao thế này lại không dành được sự quan tâm nhiều của dư luận và xã hội. Sự kiện này chưa thấy lên báo, chưa thấy lên truyền hình, vì cả đất nước Việt Nam có bao nhiêu người biết đến và đọc được bài báo này. Trong khi đó, những câu chuyện về lịch sử Ai cập, kiến trúc châu Âu... lại được phát đi phát lại trên truyền hình.
Đáng buồn thay... như thế làm sao trách thế hệ trẻ chưa có sự quan tâm đúng mực đến lịch sử!
Tại sao một công trình nghiên cứu quan trọng như thế này lại
được ít người biết đến?
Tôi thật sự xúc động và cảm phục trước những đóng góp của Thầy
giáo Xuyền đối với lịch sử nước nhà. Một công trình khoa học có tầm vóc Quốc
gia như vậy mà chỉ được thực hiện bởi một con người đã là đáng khâm phục, nhưng
cảm động hơn là nó được thực hiện từ một con người có tấm lòng vàng, với cái
võng và chút bánh mình sấy khô.
Trong khi nhà nước đã và đang đổ hàng nghìn tỷ đồng cho các trường vụ viện mà chỉ có một vài công trình khoa học đáng kể, thì một Thầy giáo lại làm được điều kỳ diệu. Khó mà đánh giá hết được những kết quả to lớn mà công trình của Thầy Xuyền mang lại cho đất nước, thế nhưng ở Việt nam này, mấy người đã biết đến thầy?
Thật là buồn.
Trong khi nhà nước đã và đang đổ hàng nghìn tỷ đồng cho các trường vụ viện mà chỉ có một vài công trình khoa học đáng kể, thì một Thầy giáo lại làm được điều kỳ diệu. Khó mà đánh giá hết được những kết quả to lớn mà công trình của Thầy Xuyền mang lại cho đất nước, thế nhưng ở Việt nam này, mấy người đã biết đến thầy?
Thật là buồn.
Thật khâm phục công sức của ông
Dù kết quả của công trình này thế nào, thanh niên chúng tôi hết
sức khâm phục ông vì sự say mê tìm tòi.
Chúng ta sẽ rất tự hào, văn hóa của chúng ta sẽ rẽ sang một hướng khác khi chúng ta có chữ viết riêng từ xa xưa, có nhiều nguồn gốc chung với các dân tộc khác người Hán.
Chúng ta sẽ rất tự hào, văn hóa của chúng ta sẽ rẽ sang một hướng khác khi chúng ta có chữ viết riêng từ xa xưa, có nhiều nguồn gốc chung với các dân tộc khác người Hán.
Đọc bài viết này tôi thật sự xúc động và tự hào. Chúng ta đã
có một nền văn hiến riêng biệt.
Hy vọng các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác rõ ràng. Thiết nghĩ mỗi người dân của Việt Nam ta cần biết thông tin này. Thật đáng tự hào làm sao!
Hy vọng các nhà khoa học bắt tay vào nghiên cứu để đưa ra những kết luận chính xác rõ ràng. Thiết nghĩ mỗi người dân của Việt Nam ta cần biết thông tin này. Thật đáng tự hào làm sao!
Thật đáng tự hào
Chúng ta đang sử ngôn ngữ của tổ tiên mình để lại!
Một nền văn minh của dân tộc Việt đã bị mất!
Tôi đang đi tìm các bài viết để nghiên cứu thêm về chữ khoa đẩu
thì bắt gặp bài viết này. Cảm ơn tác giả đã bỏ rất nhiều thời giờ, công sức và
tiền bạc để nghiên cứu về chữ viết của tổ tiên chúng ta.
Tôi đang tranh luận với 1 thầy giáo về nền văn minh dưới thời các vua Hùng nên muốn tìm các bài viết về chữ khoa đẩu để thấy rằng văn minh dưới thời vua Hùng giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc.
Vấn đề là ở chỗ người Hán âm mưu đồng hóa dân Việt mình, cho nên họ đã cấm người Việt học chữ khoa đẩu, là chữ viết riêng của dân Việt. Khi người Việt không đọc được chữ của mình thì lịch sử, văn học, văn minh của một dân tộc không còn nữa. Người Việt chúng ta đã bị biến thành dân mọi rợ ngu dốt, học chữ Hán để chúng dễ dàng biến dân Việt thành dân Hán.
Theo những nghiên cứu dựa vào chữ khoa đẩu dưới thời Lý thì lúc đó (thời Hùng Vương) bên đất Việt mình văn minh, võ học, tư tưởng, học thuật có phần hơn Trung Quốc. Về võ học, sử sách còn ghi Vạn Tín hầu Lý Thân thắng các cao thủ trong triều Tần Thủy Hòang, giúp xây Vạn Lý Trường Thành, đánh giặc Hung Nô.
Chúng ta có chữ khoa đẩu từ xưa ghi lại văn minh thời vua Hùng, văn minh thời Lĩnh Nam đều chép bằng loại chữ này. Đến thời Hai Bà Trưng, công chúa Phùng Vĩnh Hoa cũng đã tìm được 74.988 bộ sách đã được viết trong suốt các triều đại lịch sử trước kia. Kinh thì có các bộ Bách Tộc, Kinh Dương, Lạc Long... Những sách chép về y học, thiên văn học, lịch số học, cùng với hàng nghìn bộ sách lặt vặt rất nhiều. Có thể nói, lúc đó văn minh hai nước Trung-Việt ngang nhau.
Khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi chiếm lấy nước ta, Mã Viện đã ra lệnh thu hết sách vở chở về Lạc Dương, cấm học chữ khoa đẩu hoặc trong nhà người nào có sách bằng chữ khoa đẩu sẽ bị bắt để cho dân Việt chúng ta không còn biết nguồn gốc và xem chúng ta giống như các bộ tộc man di mọi rợ.
Cái thành công của tụi Hán là làm cho chúng ta tin mình như vậy. Vì những thư tịch cổ của mình bị mất nên tụi Tàu nó muốn chép láo lếu về dân Việt của mình như thế nào cũng được vì tụi nó nghĩ rằng không còn ai biết để mà sửa lại. Trong bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp còn ghi rằng dân Việt lúc đó không biết lễ nghĩa và chính Sĩ Nhiếp là người đầu tiên dạy dân Việt học chữ Hán với lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nhiều người Việt còn coi bộ sách này làm khuôn vàng, thước ngọc để tra cứu sử Việt.
Cũng may là đến thời nhà Lý vẫn còn công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông và một số người vẫn còn biết chữ khoa đẩu để mà ghi chép lại, nếu không thì không biết đâu mà tìm.
Nếu chúng ta không có 1 nền văn minh tích tụ trước từ thời vua Hùng, người Việt không có nguồn gốc lịch sử, văn học hay võ thuật không thể tự nhiên tình cờ có Hai Bà Trưng cùng với 162 vị anh hùng nổi lên đánh những trận kinh thiên động địa như trận Trường An, Nam Hải, Hồ Động Đình, Tượng Quận... gắn liền với tên tuổi của các vị công chúa Hoàng Thiều Hoa, Thánh Thiên, Phật Nguyệt, Phùng Vĩnh Hoa làm cho tụi Hán phải chống cự vất vả. Những trận chiến kia vẫn còn vết tích để lại trên phần đất Lĩnh Nam của chúng ta mà tụi Tàu chiếm giữ đến ngày nay.
Chúng ta có cơ sở để tự hào về dân tộc chúng ta, tự hào về 4000 năm văn hiến.
Tôi đang tranh luận với 1 thầy giáo về nền văn minh dưới thời các vua Hùng nên muốn tìm các bài viết về chữ khoa đẩu để thấy rằng văn minh dưới thời vua Hùng giữa Trung Hoa và nước Việt chúng ta không có sự khác biệt, có những lĩnh vực chúng ta hơn hẳn người phương Bắc.
Vấn đề là ở chỗ người Hán âm mưu đồng hóa dân Việt mình, cho nên họ đã cấm người Việt học chữ khoa đẩu, là chữ viết riêng của dân Việt. Khi người Việt không đọc được chữ của mình thì lịch sử, văn học, văn minh của một dân tộc không còn nữa. Người Việt chúng ta đã bị biến thành dân mọi rợ ngu dốt, học chữ Hán để chúng dễ dàng biến dân Việt thành dân Hán.
Theo những nghiên cứu dựa vào chữ khoa đẩu dưới thời Lý thì lúc đó (thời Hùng Vương) bên đất Việt mình văn minh, võ học, tư tưởng, học thuật có phần hơn Trung Quốc. Về võ học, sử sách còn ghi Vạn Tín hầu Lý Thân thắng các cao thủ trong triều Tần Thủy Hòang, giúp xây Vạn Lý Trường Thành, đánh giặc Hung Nô.
Chúng ta có chữ khoa đẩu từ xưa ghi lại văn minh thời vua Hùng, văn minh thời Lĩnh Nam đều chép bằng loại chữ này. Đến thời Hai Bà Trưng, công chúa Phùng Vĩnh Hoa cũng đã tìm được 74.988 bộ sách đã được viết trong suốt các triều đại lịch sử trước kia. Kinh thì có các bộ Bách Tộc, Kinh Dương, Lạc Long... Những sách chép về y học, thiên văn học, lịch số học, cùng với hàng nghìn bộ sách lặt vặt rất nhiều. Có thể nói, lúc đó văn minh hai nước Trung-Việt ngang nhau.
Khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng rồi chiếm lấy nước ta, Mã Viện đã ra lệnh thu hết sách vở chở về Lạc Dương, cấm học chữ khoa đẩu hoặc trong nhà người nào có sách bằng chữ khoa đẩu sẽ bị bắt để cho dân Việt chúng ta không còn biết nguồn gốc và xem chúng ta giống như các bộ tộc man di mọi rợ.
Cái thành công của tụi Hán là làm cho chúng ta tin mình như vậy. Vì những thư tịch cổ của mình bị mất nên tụi Tàu nó muốn chép láo lếu về dân Việt của mình như thế nào cũng được vì tụi nó nghĩ rằng không còn ai biết để mà sửa lại. Trong bộ Hậu Hán thư của Phạm Việp còn ghi rằng dân Việt lúc đó không biết lễ nghĩa và chính Sĩ Nhiếp là người đầu tiên dạy dân Việt học chữ Hán với lễ nghĩa. Thế mà ngày nay nhiều người Việt còn coi bộ sách này làm khuôn vàng, thước ngọc để tra cứu sử Việt.
Cũng may là đến thời nhà Lý vẫn còn công chúa Bình Dương con vua Lý Thái Tông và một số người vẫn còn biết chữ khoa đẩu để mà ghi chép lại, nếu không thì không biết đâu mà tìm.
Nếu chúng ta không có 1 nền văn minh tích tụ trước từ thời vua Hùng, người Việt không có nguồn gốc lịch sử, văn học hay võ thuật không thể tự nhiên tình cờ có Hai Bà Trưng cùng với 162 vị anh hùng nổi lên đánh những trận kinh thiên động địa như trận Trường An, Nam Hải, Hồ Động Đình, Tượng Quận... gắn liền với tên tuổi của các vị công chúa Hoàng Thiều Hoa, Thánh Thiên, Phật Nguyệt, Phùng Vĩnh Hoa làm cho tụi Hán phải chống cự vất vả. Những trận chiến kia vẫn còn vết tích để lại trên phần đất Lĩnh Nam của chúng ta mà tụi Tàu chiếm giữ đến ngày nay.
Chúng ta có cơ sở để tự hào về dân tộc chúng ta, tự hào về 4000 năm văn hiến.
Minh Bùi






















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét