Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX

Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ
thơ Việt Nam thế kỷ XX
1. Thơ Việt Nam trước thế kỷ XX chịu ảnh hưởng nhiều của luật thơ truyền thống, thơ Đường (Trung Quốc) nên tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt. Thơ Việt Nam trong thế kỷ XX, từ phong trào thơ Mới đến nay đã phát triển theo nhiều khuynh hướng khác nhau, trong đó có những khuynh hướng hiện đại, mang đậm dấu ấn của sự tự do hóa. Có thể nói, đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp học và phong trào Tân thư. Trong khi đó, ảnh hưởng của chữ Hán giảm xuống. Con người thời kỳ này tuy chịu hai lần nô lệ nhưng cá tính được giải phóng. Động lực xã hội và sự phát triển về tư tưởng ảnh hưởng đến nghệ thuật, làm cho văn bản thơ có nhiều biến động. Tuyệt đại bộ phận các thể loại thơ được tự do hóa. Nói cách khác, đó là sự tự do hóa tổng hợp các thể loại lục bát, song thất lục bát, thơ 7 chữ, thơ 8 chữ... Diễn ngôn thơ cũng là một cách hiện đại hóa ngôn ngữ thơ. Có sự chuyển tiếp từ thơ có vần sang thơ tự do "hoặc tiếp theo thơ tự do, hoặc chỉ như một nhánh chảy khác của thơ tự do, tùy theo quan điểm của mỗi người, sự xuất hiện của thơ tân hình thức (new formalism), mà có người gọi nôm na là thơ vắt dòng, được xem là xuất phát từ Mỹ trong những năm gần đây..." (Nguyễn Đức Tùng)[1]. Giai đoạn 1975 -1986 là giai đoạn "thơ trẻ có những tìm tòi thể hiện, đưa ra được những mô hình cấu trúc khác lạ so với những thời kỳ trước đó" (Trần Quang Đạo)[2]. Đặc biệt, trên thi đàn đã có cả những thể loại thơ dài, dài gần như trường ca và có cả những loại thơ hao hao giống văn xuôi, có người đã gọi đó là thơ văn xuôi. Thậm chí có cả những thể loại thơ không vần, câu dài, câu ngắn không theo trật tự của ngữ pháp truyền thống hoặc trong thơ xuất hiện nhiều con số...
Bởi ngôn ngữ là chất liệu của thơ nên sự tự do hóa thơ gắn liền với sự hiện đại hóa ngôn ngữ thơ. Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ gắn liền với nghiên cứu thơ như hình với bóng. Trước đây, các nhà nghiên cứu, phê bình thơ chủ yếu nghiên cứu thơ từ phương diện lý luận văn học, theo kinh nghiệm, theo hướng cảm thụ mang tính chủ quan, không nêu rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hình thức biểu đạt sâu xa là ngôn ngữ và nội dung thơ nên còn có những ý kiến không thống nhất, gây nhiều tranh biện. Vì thế, việc nghiên cứu sự tự do hóa, hiện đại hóa về hình thức thơ (tức là nghiên cứu ngôn ngữ thơ và sự tự do hóa, hiện đại hóa về nội dung gắn liền với nhau) sẽ giúp chúng ta thấy được mối quan hệ qua lại giữa hình thức và nội dung một cách biện chứng, khách quan hơn. Nói khác đi là: việc nghiên cứu sự cách tân ngôn ngữ thơ sẽ góp phần chỉ rõ sự cách tân tư tưởng thơ, nội dung thơ một cách có cơ sở khoa học.
Ở Việt Nam, ngôn ngữ thơ cũng được nhiều người quan tâm. Ngôn ngữ thơ được công chúng, những người nghiên cứu, những nhà phê bình tiếp nhận và bình xét theo hướng đa diện với những lăng kính ở các mức độ khác nhau. Có người nhắc đến "ngôn ngữ" khi bình luận về thơ nói chung, thơ Việt Nam thế kỷ XX nói riêng, nhắc đến "con âm", "con chữ" (Dương Tường). Nhưng có lẽ đó mới chỉ là dấu hiệu của sự lưu ý đến khía cạnh ngôn ngữ khi bình luận về thơ chứ chưa thực sự có những nghiên cứu mang tính chất vận dụng, nhấn mạnh hơn hoặc khai thác có chiều sâu hơn đến các cấp độ của ngôn ngữ trong các công trình nghiên cứu của lý luận phê bình văn học. Ở một số công trình khác, ngôn ngữ thơ được soi chiếu từ nhiều góc độ: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (Nguyễn Hữu Đạt), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (Mai Ngọc Chừ), Ngôn ngữ quy ước hay tân kỳ (Trần Văn Nam), Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong thơ đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Lịch sử hiện đại hóa thơ Việt trong mắt một nhà thơ, trong đó có một phần liên quan đến ngôn ngữ thơ (bản gốc tiếng Anh của Hoàng Hưng, do Võ Sư Phạm dịch)... Tuy thế, các bài viết về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ và hiện đại hóa thơ Việt thì lẻ tẻ, rải rác, còn sách về ngôn ngữ thơ thì phần nhiều nghiên cứu theo hướng thi pháp. Tức là, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ như một chuyên khảo.
Có thể nói, ngôn ngữ thơ hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu cầu đòi hỏi được nghiên cứu. Chính vì thế, cuốn sách Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX nghiên cứu trên tư liệu tập thơ của một số tác giả sẽ tập trung nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt - một "điểm nóng" của mảng nghiên cứu ngôn ngữ văn học với tâm điểm thời gian là thế kỷ XX - thời kỳ diễn ra sự tự do hoá ngôn ngữ thơ nổi bật nhất - để tìm hiểu, khai thác, tìm ra khâu đột phá của thơ và ngôn ngữ thơ Việt thế kỷ XX.
Cuốn sách chọn hướng nghiên cứu sự tự do hóa trong thơ và hiện đại hóa ngôn ngữ thơ với mục đích trên sẽ góp phần làm rõ mối tương quan biện chứng giữa hình thức và nội dung: chính sự cách tân về hình thức là nhằm thể hiện, phản ánh sự cách tân về nội dung. Hướng nghiên cứu này báo hiệu lý luận ngôn ngữ thơ sẽ phát triển hơn, đồng thời các nhà sáng tác thơ có thêm công cụ để sáng tạo, phát huy khả năng thơ của mình trên cơ sở lý luận về ngôn ngữ thơ có tính khoa học.
2. Đối tượng nghiên cứu của cuốn sách chính là sự tự do hóa thơ Việt Nam thế kỷ XX, trên cơ sở tư liệu thơ của một số tác giả cụ thể.
Nói về cấu trúc ngôn ngữ thơ, người ta thường nói đến các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ, bước thơ. Trong một phạm vi nhất định, cuốn sách không bàn đến vấn đề bước thơ mà chỉ tập trung nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở ba cấp độ: bài thơ, khổ thơ, câu thơ trên cơ sở khảo sát các bài thơ thuộc các thể loại khác nhau như thơ 5 chữ, 6 chữ, 7 chữ, 8 chữ, lục bát, song thất lục bát, tự do... (để có cái "phông" tương đối khái quát và có sự so sánh, đối chiếu cơ bản mang tính chất "nền") nhưng lấy tâm điểm khai thác nghiên cứu chủ yếu là thơ 7 chữ và thơ 8 chữ (có so sánh với thơ tự do).
Cuốn sách hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ...; từ đó có một cách tiếp cận thơ theo hướng ngôn ngữ học rõ ràng hơn.
3. Cuốn sách sẽ làm rõ khái niệm “tự do hoá ngôn ngữ” thơ Việt Nam trong thế kỷ XX; mô tả những biến đổi theo hướng tự do hoá trên cứ liệu các tập thơ cụ thể của một số tác giả và nghiên cứu chi tiết sự tự do hoá trong các thể thơ ở cấp độ bài, khổ, câu để tìm ra sự khu biệt của thơ mới với thơ cũ, thấy được sự biến đổi của ngôn ngữ thơ Việt Nam qua các giai đoạn; bình luận (bao gồm nhận xét, đánh giá) về quá trình biến đổi, những đặc điểm trong sự biến đổi cấu trúc thơ; tìm ra sự cách tân về ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ tác phẩm thơ; đồng thời dự báo khuynh hướng phát triển, biến đổi của ngôn ngữ thơ tiếng Việt sau này.
4. Cuốn sách khảo cứu ngôn ngữ thơ hướng theo quy nạp, trên cơ sở thu thập, thống kê, phân tích, xử lý, so sánh tư liệu để tìm ra sự biến đổi, quá trình tự do hóa của ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX; từ đó, bàn luận và đưa ra những kết luận đánh giá chung về vấn đề được nghiên cứu.
Ngôn ngữ thơ được khảo cứu trên cơ sở một số phương pháp sau:
- Phương pháp mô tả: Mô tả kết hợp với phân tích mô hình các bài thơ, mô tả về khổ thơ với phép đối thanh điệu bằng - trắc, âm vực cao - thấp, cách gieo vần, luật niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ; mô tả cấu trúc, mô tả định lượng để có những nghiên cứu định tính về các quan hệ, phương thức tổ chức và giá trị tạo lập ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Cuốn sách nghiên cứu thơ trong mối liên hệ đa chiều giữa thơ với người sáng tác, người tiếp nhận (chủ thể sáng tác - khách thể - đối thể), với ngữ cảnh, môi trường giao tiếp (quá trình sáng tác - tiếp nhận), môi trường tồn tại của thơ (bài, khổ, câu), các mối liên hệ, tương tác qua lại giữa các yếu tố đó, tính hiển ngôn, hàm ẩn; nghiên cứu vấn đề liên kết và mạch lạc, phương thức liên kết trong sự tự do hoá ngôn ngữ thơ.
- Phương pháp phân tích thi pháp ngôn ngữ học của Roman Jakobson: Tìm hiểu, phân tích một số khả năng kết hợp, đảo ngữ, "vặn câu"... đồng thời thực hiện các thao tác thay thế, chêm xen, cải biến... và vận dụng lý thuyết về trục liên tưởng, trục cú đoạn (hệ hình, cú đoạn) để khai thác sự kết hợp thể hiện tính đa trị của thơ. Bên cạnh đó, cuốn sách phân tích bài thơ, khổ thơ, câu thơ để tìm hiểu 6 chức năng cơ bản mà Roman Jakobson đã từng khẳng định: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động trong thơ của một số tác giả được chọn.
- Phương pháp định lượng, định tính: Để trợ giúp các phương pháp nghiên cứu trên, chuyên khảo dùng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính: thực hiện phương pháp thống kê định lượng và so sánh để phục vụ việc mô tả, so sánh và bàn luận về bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
+ Phương pháp thống kê:
• Thống kê số lượng bài thơ (tính theo thể thơ, số chữ hoặc theo khổ trong bài và số câu trong khổ) và tỷ lệ phần trăm tương ứng rồi phân loại bài thơ (có các mô hình khác nhau) theo giai đoạn (1900 - 1945; 1945 - 2000) và ở từng tập thơ của một số tác giả được chọn (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm).
• Thống kê số lượng khổ thơ trong mỗi tập thơ để tìm hiểu về các loại khổ thơ.
• Thống kê số lượng, tỷ lệ phần trăm các trường hợp xuất hiện và không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng trắc ở từng khổ, từng bài trong các tập thơ và tổng hợp lại, khái quát lên thành các mô hình. Việc thống kê đó dựa trên cơ sở xử lý tư liệu từng tiếng trong câu thơ: xét xem từng tiếng thuộc về thanh trắc hay thanh bằng, có âm vực cao hay thấp.
• Thống kê hiện tượng niệm của các câu thơ trong khổ (chủ yếu là thơ 7 chữ) ở từng bài thơ. Từ đó, chuyên khảo thống kê số trường hợp có ni65m theo thanh bằng hoặc trắc ở các tập thơ (có tỷ lệ phần trăm tương ứng).
• Thống kê các hiện tượng gieo vần ở từng khổ trong các tập thơ (số lượng, tỷ lệ phần trăm, mô hình gieo vần) để đưa ra số liệu về các trường hợp có hoặc không có hiện tượng gieo vần.
• Thống kê về các cách ngắt nhịp câu thơ: xét cách ngắt nhịp ở từng câu trong từng khổ; đưa ra mô hình các cách ngắt nhịp khác nhau, tính số lượng và tỷ lệ phần trăm của các cách ngắt nhịp.
+ Phương pháp so sánh: Cuốn sách này sẽ so sánh các tập thơ để đánh giá kết quả số liệu về thể thơ, về các mô hình bài thơ (tính theo số khổ trong bài và số câu trong khổ). Trên cơ sở đó, cuốn sách bàn luận về thơ theo giai đoạn (1900 - 1945; 1945 - 2000) hoặc theo tác giả; so sánh các giai đoạn, các tác giả khác nhau để làm nổi bật những nét mới, những yếu tố tự do hóa và hiện đại hóa trong thơ; từ đó tìm hiểu và khẳng định vài nét về phong cách của một số nhà thơ.
+ Phương pháp phân tích thể loại: Dựa vào các số liệu thống kê, phân tích những đặc trưng của thể loại thơ được biểu hiện ở bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
5. Về nguồn tư liệu, trong mấy chục năm qua, nguồn tư liệu thơ tiếng Việt thế kỷ XX rất phong phú. Vì thế, tác giả phải chọn mẫu, tức là chọn những tập thơ, bài thơ điển hình nhất. Tác giả thống kê, phân tích và xử lý tư liệu ở các tập thơ: Từ ấy của Tố Hữu và Gửi hương cho gió của Xuân Diệu; một số tập Gái quê, Đau thương, Lệ Thanh thi tập, Xuân như ý của Hàn Mặc Tử; 50 bài thơ trong phần Một hồn thơ trải dài hơn nửa thế kỷ (được tập hợp trong cuốn sách Thử chọn 50 bài thơ đặc sắc trong đời thơ của Chế Lan Viên) ở Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995); 81 bài thơ trong ba tập thơ của Phạm Tiến Duật: Vầng trăng quầng lửa (Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970); Thơ một chặng đường (Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1970); Ở hai đầu núi (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1981); 164 bài thơ ở hai tập thơ của Hoàng Nhuận Cầm: Những câu thơ viết đợi mặt trời (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1983), Xúc xắc mùa thu (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1992), và ở một tập thơ của Lê Đạt là Bóng chữ (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994).
Ở cấp độ bài thơ, cuốn sách có hai phần khảo sát: bằng phương pháp định lượng trên tư liệu thơ của nhiều nhà thơ; khảo sát theo điểm bằng phương pháp định lượng và định tính trên tư liệu bốn tập thơ của Hàn Mặc Tử, 50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan Viên và thơ của các nhà thơ - nhà giáo thời kỳ 1945 - 1975. Trong số các tư liệu nói trên, cuốn sách chọn Tuyển thơ nhà thơ - nhà giáo (Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002) làm tư liệu vì trong tuyển thơ này có nhiều tác giả có tên tuổi trên thi đàn như: Vũ Đình Liên, Trần Đăng Khoa, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Trọng Hoàn, Cầm Giang, Tế Hanh, Chính Hữu, Hữu Loan, Bằng Việt, Nguyễn Bùi Vợi...
Ở cấp độ khổ thơ và câu thơ, cuốn sách chọn tư liệu thơ của các tác giả Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, Hoàng Nhuận Cầm, Phạm Tiến Duật và phân tích kỹ một bài lẻ của Hữu Loan, một câu lẻ của Nguyễn Đình Thi vì tất cả các tư liệu này phù hợp, đáp ứng với mục đích nghiên cứu của cuốn sách.
Về phương diện nghiên cứu, cuốn sách này cũng đã tham khảo thêm các ví dụ, các quan điểm của các giáo trình, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, về thơ Việt Nam các giai đoạn, đặc biệt là thơ Việt Nam thế kỷ XX.
6. Cuốn sách này là công trình đầu tiên khảo sát về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ thế kỷ XX, có đóng góp vào lý luận ngôn ngữ thơ ở chỗ khảo sát và tìm kiếm ra những đặc điểm, những vấn đề cụ thể, cơ bản của sự tự do hóa và hình thành thể loại thơ mới, sự đổi mới của ngôn ngữ thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX như:
- Một số động lực của sự biến đổi ngôn ngữ thơ.
- Sự biến đổi ngôn ngữ thơ ở ba cấp độ: bài thơ, khổ thơ, câu thơ (những biến đổi cụ thể và hệ quả của nó).
- Đặc điểm phong cách thơ của các tác giả.
Cuốn sách cũng góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề như:
- Làm rõ lịch sử ngôn ngữ văn học Việt Nam trong thế kỷ XX: sự cách tân về hình thức nhằm đáp ứng sự phát triển về tư tưởng và phục vụ sự đổi mới về nội dung.
- Làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề lý luận về phong cách học tiếng Việt.
Cuốn sách này cũng sẽ có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ văn học Việt Nam, đặc biệt là ở góc độ ngôn ngữ thơ với lối tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ...; tức là đưa ra phương pháp nghiên cứu thơ tiếng Việt hiện đại thế kỷ XX từ góc độ ngôn ngữ học.
Cuốn sách sẽ góp phần vào việc tìm kiếm và đổi mới cách dạy môn văn cho người Việt ở các bậc đào tạo khác nhau (phổ thông trung học, đại học và sau đại học). Kết quả nghiên cứu của chuyên khảo có thể được sử dụng trong việc giảng dạy và nghiên cứu biên soạn giáo trình về ngôn ngữ thơ ở các bậc đại học, sau đại học.
(Trích trong cuốn "Xu hướng tự do hóa ngôn ngữ thơ Việt Nam thế kỷ XX", Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 8-2014)
[1]. Trần Quang Đạo: Cấu trúc trong thơ trẻ sau 1975, Tham luận tại Hội thảo toàn quốc Văn học Việt Nam sau năm 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy tại Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, ngày 26-4-2005.
[2]. Nguyễn Đức Tùng: Thơ tự do, thơ có vần, và thơ tân hình thức, www.talawas.org, 2003.
  Nguyễn Thị Phương Thùy
Theo https://www.nxbctqg.org.vn/




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...