Sau Thống nhất, trong nước các dòng nhạc không
cách mạng (trừ một số ca khúc thuộc các dòng nhạc: phản chiến, du ca và
nhạc sinh hoạt cộng đồng) bị cấm hoàn toàn vì không phù hợp với
chủ trương, các ca sĩ được khuyến khích chuyển sang hát nhạc
truyền thống cách mạng (nhạc đỏ).
Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc, nhạc vàng... đều coi bị là nhạc vàng và hạn chế lưu hành. Nhạc Cách mạng có sự chuyển biến lớn với sự phát triển mạnh mẻ về nhiều mặt: mở rộng nội dung - đề tài; lực lượng sáng tác đa dạng hơn, phong phú thêm bởi nhiều thế hệ nhạc sĩ thuộc nhiều dòng nhạc quy tụ lại; công chúng đông đảo hơn; giai điệu cách tân hiện đại hơn; hòa âm phối khí chuyên nghiệp hơn....
Các dòng nhạc tiến chiến, tình khúc, nhạc vàng... đều coi bị là nhạc vàng và hạn chế lưu hành. Nhạc Cách mạng có sự chuyển biến lớn với sự phát triển mạnh mẻ về nhiều mặt: mở rộng nội dung - đề tài; lực lượng sáng tác đa dạng hơn, phong phú thêm bởi nhiều thế hệ nhạc sĩ thuộc nhiều dòng nhạc quy tụ lại; công chúng đông đảo hơn; giai điệu cách tân hiện đại hơn; hòa âm phối khí chuyên nghiệp hơn....
Lực lượng nhạc sĩ rất hùng hậu và đa dạng bởi đất nước thống
nhất đã quy tụ lại nhiều nguồn sáng tác: Các nhạc sĩ Việt Nam dân chủ cộng hòa,
của Mặt trận giải phóng, các nhạc sĩ du ca, phản chiến, nhạc trẻ… ở miền Nam, rồi
nhiều nhạc sĩ thuộc dòng tình khúc và nhạc vàng, sau vài năm đầu “lặng thinh” bắt
đầu sáng tác trở lại. Ngoài ra, phải kể thêm sự đóng góp của đông đảo các nhạc
sĩ trẻ có thể đã sáng tác trước 1975, nhưng thực sự trưởng thành, được biết
đến trong thời hậu chiến này: Võ Công Anh, Nguyễn Hải, Hoàng Lương, Vũ Hoàng,
Nguyễn Văn Hiên, Trương Minh, Phạm Đăng Khương, Thanh Tùng, An Thuyên, Hoàng
Lương, Nguyễn Long, Võ Lê, Võ Công Diên, Trọng Vĩnh, Quang Lộc, Quang Minh, Trọng
Vĩnh, Trần Tiến, Nguyễn Tôn Nghiêm, Thập Nhất, Phú Quang, Nguyễn Ngọc Thiện,
Giáp Văn Thạch, Trần Tích, v.v… Đề tài sáng tác chủ yếu trong 10 năm
của ca khúc thời hậu chiến, là:
- Ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh: Viếng
lăng Bác (1976 - thơ Viễn Phương) của Hoàng Hiệp; Bác Hồ một tình
yêu bao la (1979), Vầng trăng Ba Đình (1984) của Thuận Yến),
v.v…
- Tình yêu quê hương đất nước: Dáng đứng
Bến Tre (Nguyễn Văn Tý); Tình đất đỏ miền Đông của Trần
Long Ẩn; Quê Hương (Giáp Văn Thạch phổ thơ Đỗ Trung Quân); Đất
nước lời ru (Văn Thành Nho); Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân
Hồng); Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến); Bước tiếp những mùa
xuân (1976- Nguyễn Phú Yên); Nhịp chèo sông Hiếu (Trần
Tích); Nha Trang mùa thu lại về (1978- Văn Ký); Nơi đảo xa (1979
- Thế Song); Bài ca không quên, Đất nước (Phạm Minh Tuấn - thơ Tạ
Hữu Yên); Việt Nam mãi mãi yêu người (Bùi Công Thuấn); Chiều
trên quê hương tôi (Trịnh Công Sơn)… Đặc biệt, Nguyễn Trọng Tạo tìm về chủ
đề quê hương để làm đậm tình người với nhiều ca khúc: Làng quan họ quê
tôi (phỏng thơ Nguyễn Phan Hách), Chèo thuyền trên sông Bùng, Đường về
Thạch Nham, Dừa xanh Hoài Nhơn, Tình ca người trồng cỏ, Màu xanh Hương Sơn, Vầng
trăng bến đợi, Tình ca bên một dòng sông, v.v…
- Tình cảm gia đình và tình yêu lứa đôi: Huyền thoại mẹ (Trịnh
Công Sơn); Mẹ (Trần Tích); Người mẹ (Nguyễn Ngọc Thiện); Thuyền
và Biển (Phan Huỳnh Điểu); Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt
Hòa); Tình ca Tây Nguyên, Màu áo trắng và màu tím Huế, Chia tay với chùa
Hương, Hát ru (Hoàng Vân); Về một tình yêu (Trần Quang Lộc); Gởi
nắng cho em (Phạm Tuyên); Chiều trên bến cảng (Nguyễn Đức
Toàn); Gửi lại em, Hương thầm (thơ Phan thị Thanh Nhàn) của
Vũ Hoàng, v.v…
- Công cuộc dựng xây đất nước: Đêm rừng Đắc Min (Nguyễn
Đức Trung); Em nông trường, em ra biên giới (Trịnh Công Sơn); Hồ
núi Cốc (Phó Đức Phương); Trị An âm vang mùa xuân (Tôn Thất Lập); Tàu
anh qua núi (Phan Lạc Hoa); Đêm thành phố đầy sao (Trần Long Ẩn); Người
đi xây hồ Kẻ Gỗ (Nguyễn Văn Tý); Mùa xuân từ những giếng
dầu (Phạm Minh Tuấn); Ơi cuộc sống mến thương (Nguyễn Ngọc Thiện); Tình
ca Vũng Tàu, Bài ca xây dựng, Bài ca người thợ mỏ (Hoàng Vân),
v.v…
- Bảo vệ biên giới Tổ quốc chống xâm lược: Tiếng súng đã
vang trên bầu trời biên giới của Phạm Tuyên; Khúc hát lính biên phòng của
Vũ Hiệp Bình; Tình yêu trên dòng sông quan họ (thơ Đỗ Trung Lai) của Phan Lạc Hoa; Gởi em phía sông Hồng, Màu hoa đỏ của
Thuận Yến; Chiều dài biên giới, Chiều biên giới (thơ Lò Ngân Sủn) của
Trần Chung; 40 thế kỷ cùng ra trận của Hồng Đăng; Hoa hồng trên
điểm tựa, Tổ quốc yêu thương của Hồ Bắc; Biên giới trong trái tim ta của
Nguyễn Văn Sanh; Ta là thế hệ thứ tư của Lư Nhất Vũ; Hát mãi
khúc quân hành, Bài ca người lính của Diệp Minh Tuyền và Bài
ca trên đỉnh Pò Hèn được nhiều người biết đến của Thế Song ca ngợi
nữ mậu dịch viên Hoàng Thị Hồng Chiêm đã hi sinh tại Quảng Ninh trong Chiến
tranh biên giới Việt- Trung năm 1979, v.v…
Cuộc sống mới nẩy sinh những nhu cầu và thẩm mỹ âm nhạc mới,
nhất là đối với lớp thanh niên. Và để thỏa mãn điều đó, cuối thời đoạn nầy,
nhiều ca khúc nhạc nhẹ ra đời, dù với tên gọi khác đi. Đó là loại nhạc
giải trí dễ dàng được đông đảo công chúng, nhất là giới trẻ tiếp nhận, yêu
thích. Đặc điểm của nhạc nhẹ là nội dung, hình thức đơn giản, dễ nhớ. Tính chất
âm nhạc thường vui tươi, yêu đời. Nhạc nhẹ dính liền với nhạc thời trang,
khơi nguồn từ các nguồn nhạc dân gian, vận dụng các thể loại nhạc Pop,
Ballat, Rock... theo lối cấu trúc âm nhạc cổ điển châu Âu. Nhiều thể
loại nhạc nhảy múa, sinh hoạt, hành khúc, những bản Overture nhỏ
(khúc mở màn)… cũng được xếp vào loại nhạc nầy.
• CA KHÚC CHÍNH TRỊ CUỐI THẬP NIÊN 70
Về sự hình thành của dòng ca khúc nhạc nhẹ Việt Nam không thể
không kể đến vai trò to lớn của phong trào ca khúc chính trị (CKCT) - một
tên gọi khác của nhạc nhẹ, nhạc trẻ vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu những năm
80. Với tính chất gọn nhẹ, năng động, xung kích, CKCT thời đoạn nầy ra đời
nhằm phục vụ những nhiệm vụ chính trị cấp bách của nhà nước trong “chặng đường đầu
tiên” của thời kỳ quá độ. Mặt khác, CKCT còn là một loại hình biểu hiện nghệ
thuật quần chúng, bắt kịp với nhịp điệu thời đại, thoả mãn một phần nhu cầu thẩm
mỹ của nhân dân, trước hết là sự đòi hỏi của quần chúng về một thứ nghệ thuật “hiện
thực hóa cuộc sống”.
Ca khúc chính trị được tập trung sáng tác ở TP HCM. Những
nhạc sĩ trước 1975 như Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà, Quốc
Dũng... và những nhạc sĩ trẻ như Nguyễn Ngọc Thiện, Từ
Huy, Nguyễn Văn Hiên, Nguyễn Đức Trung, Vũ Hoàng, Lê Văn Lộc, Nguyễn
Văn Sanh, Thế Hiển, Vy Nhật Tảo... với những sáng tác trẻ trung đã gia nhập
phong trào Ca khúc chính trị và cũng trưởng thành từ phong trào sáng
tác này. Nhiều tay đàn, tay trống sừng sỏ của Sài Gòn cũ cũng chỉ
hành nghề trong môi trường CKCT: Mạnh Tuấn, Huỳnh Hiệp, Lý Được, Thanh Long,
Hùng Tao Đàn, Bảo Chấn, Bạch Lý, Mỹ Linh, Huỳnh Háo, Cao Đức, Vũ Văn
Tuyên, Trần Tài, Quốc Dũng, Tùng Châu, Sỹ Đan... Nhiều ca sĩ ngày hôm nay vẫn
còn nguyên danh tiếng hoặc mớinổi lên ở thời đoạn thị trường hóa âm nhạc (1986
trở đi) đều có thời gắn bó với CKCT như: Cẩm Vân, Lệ Thu, Trang Thanh Lan, Lâm
Xuân, Bảo Yến, Nhã Phương, Kim Yến, Ngọc Yến, Hồng Vân, Ngọc Điệp, Trang Kim Yến,
Chung Tử Lưu, Nguyễn Hưng, Thái Châu, Quang Lý, Tuấn Phong, Cao
Minh, Thế Hiển, v.v.…
Rồi, nhiều nhóm ca khúc chính trị được thành lập, chủ yếu
cũng ở TP.HCM. Đó là mô hình nhóm đàn - hát như một ban nhạc biên chế nhỏ
gồm các thành viên là ca sĩ, nhạc sĩ trẻ, có thể tự sáng tác (“tự biên”) và tự
trình bày (“tự diễn”) theo khuynh hướng nội dung các bài hát thể hiện phải có
chất thời sự, chính trị cùng ngợi ca tình yêu cuộc sống. Có thể kể ra các nhóm
tiêu biểu, gây được ảnh hưởng lớn trong phong trào thanh niên bấy giờ, được sự
cổ vũ nhiệt tình của giới trẻ và công chúng, được yêu cầu biểu diễn nhiều nơi:
Nhóm Rạng Đông (Nhà văn hóa Thanh niên TP. HCM) gồm Cẩm Vân, Chí Hùng
(organ của ban The Black cũ), Hồng Danh, Sĩ Thanh, Bạch Lý, Thanh
Long (ban The Blue Jets cũ); nhóm nhạc nữ 30 Tháng 4 gồm
Kim Phương, Cẩm Vân, Kim Yến, Bạch Lý, Thúy Quang (organ); nhóm nữ Xí nghiệp
dệt số 8 với Tường Vân (tay trống của The Blue Stars cũ) và
giọng hát của bốn nữ ca sĩ trẻ; nhóm Nữ Sinco với Hồng Hạnh; các
nhóm Phong Lan Trắng, Sao Sáng, Hải Âu, Mây Trắng, Lướt Sóng, Mê Kông, Nắng
Hồng, Đại Dương, nhóm Thanh niên xung phong của Nguyễn Đức
Trung, Thúy Hồng, Ngọc Bích…, nhóm Ca khúc Đại học Tổng hợp của Hoàng
Cao, nhóm Ca nhạc dân tộc Phù Sa với Ngọc Yến, Văn Tài, Ngọc Điệp…, rồi Cửu
Long nữ, Sinco nam, Hy Vọng, Dây Leo Xanh, Rạng Đông, Bách Việt, v.v…
Cuối thập niên 70, nhiều nhóm CKCT tham gia Liên hoan
CKCT tại Liên xô và các nước Đông Âu: Bulgaria, CHDC Đức (cũ) và gây được
tiếng vang lớn.
Trong thời gian nầy, có 3 sự kiện tạo cảm hứng và đề tài sáng
tác cho nhiều nhạc sĩ: Phong trào Thanh niên xung phong lên đường
xây dựng đất nước rồi phục vụ hai cuộc chiến tranh chống xâm lược: cuộc
chiến tranh biên giới Tây Nam và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc.
Ca khúc chính trị về đề tài thanh niên xung phong (TNXP) đưa
khán giả trở về miền ký ức sau giải phóng và khắc họa hành trình vất vả, khó
khăn của thế hệ thanh niên xung phong thời ấy.
Hình ảnh người TNXP trong đời sống và đề tài, hình tượng
TNXP trong ca khúc được yêu thích (trước đó, Cô gái mở đường - 1966-
Xuân Giao viết về TNXP vẫn còn vang mãi đến ngày nay) đến nỗi đã có
rất nhiều bài hát của các nhạc sĩ chuyên nghiệp viết về TNXP như Phạm Trọng Cầu,
Phan Huỳnh Điểu, Lư Nhất Vũ, Trương Quang Lục, Nguyễn Văn Sanh, Trần Xuân Tiến,
Vy Nhật Tảo, Phạm Tuyên, Trần Tiến, Tôn Thất Lập, Phạm Minh Tuấn, Trịnh Công
Sơn, Trần Long Ẩn… Vài ca khúc tiêu biểu của họ: Hoàng hôn màu lá (Thanh
Tùng); Ngày mai anh lên đường (Thanh Trúc); Vinh quang con đường
TNXP (Trần Long Ẩn); Thành phố tình yêu và nỗi nhớ (thơ
Nguyễn Nhật Ánh, nhạc Phạm Minh Tuấn); Tình ca tuổi trẻ (Tôn Thất Lập); Tạm
biệt chim én (Trần Tiến); Bài ca TNXP (Phạm Trọng Cầu); Bài
ca TNXP (Hoàng Hiệp); Khúc hát người đi khai hoang (Lư Nhất
Vũ); Là thanh niên xung phong (Phan Huỳnh Điểu); Đào kênh (Trần
Xuân Tiến); Tâm tình người xung kích thanh niên (Nguyễn Văn
Sanh); Một đời người, một rừng cây (Trần Long Ẩn); Con kênh ta
đào (Phạm Tuyên phổ thơ Bùi Văn Dung); Tự hào lớp tuổi trẻ tiến công (Trương
Quang Lục)… Trong đó, được coi là ca khúc điển hình về TNXP cho đến bây giờ
có lẽ là Tình ca tuổi trẻ của nhạc sĩ Tôn Thất Lập.
Từ phong trào TNXP đã hình thành những nhạc sĩ trẻ trưởng
thành qua những sáng tác mới về đề tài TNXP như Nguyên Anh (Bài ca kinh tế mới); Nguyễn
Đức Trung (Bài ca sinh hoạt, Em như tia nắng mặt trời, Sẽ qua
trong mưa); Nguyễn Đức Tập (Tuyến kinh lửa, Dứt điểm),
v.v…
Khi hai cuộc chiến tranh biên giới nổ ra, TNXP ra chiến
trường, ca khúc về TNXP chuyển đề tài: Lúc đất nước cần, người TNXP sẵn sàng hy
sinh nơi tuyến lửa để bảo vệ đất nước. Giai đoạn này, xuất hiện những
tác phẩm về người TNXP ở biên giới như: Những vết chai cho Tổ quốc, Em đi
cầu cây (Lê Văn Lộc); Trăng treo đỉnh đầu (Lê Đức Du phổ thơ Cao
Vũ Huy Miên); Em ở nông trường, em ra biên giới (Trịnh Công
Sơn); Cô gái thông đường trên biên giới Tây Nam (Nguyễn Nam)… Có những
ca khúc viết về họ, huyền thoại người TNXP nơi lửa đạn làm công
chúng thực sự xúc động và thành công đến nổi bây giờ nghe lại vẫn còn chảy nước
mắt. Không ai đã nghe mà quên được như giai điệu chậm vừa, trầm buồn, sâu lắng,
nhẹ nhàng mà gợi sâu hình ảnh, tâm tình của người nữ anh hùng trẻ tuổi trong ca
khúc Những bông hoa trên tuyến lửa (Nguyễn Cửu Dũng phổ
thơ Đỗ Trung Quân): “Em là người thanh niên xung phong/ Không
có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn…”:
Ở giữa rừng đâu có gương soi
Làm sao em thấy được vết bầm trên má
Làm sao em thấy được vết bầm trên má
Chuyến tải thương về mấy lần trượt ngã
Vì mùa mưa nào chưa dứt ở đây.
Vì mùa mưa nào chưa dứt ở đây.
Anh bộ đội thương binh vừa tỉnh lại sáng nay
Đã hỏi thăm em người cáng thương hôm trước
“Cô ấy ngã mấy lần không đếm được
Mà sao không khóc mới lạ lùng”
Đã hỏi thăm em người cáng thương hôm trước
“Cô ấy ngã mấy lần không đếm được
Mà sao không khóc mới lạ lùng”
Chắc anh hiểu rồi em ở tấm
lòng
Nước mắt chỉ dành cho người ngã xuống
Nên dù té đau, gai rừng đâm chân buốt
Đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần
Nên dù té đau, gai rừng đâm chân buốt
Đâu để vết thương anh rỉ máu hai lần
Không có súng, chỉ có đôi vai cáng thương, tải đạn
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa tiến công
Tôi thấy rồi em ơi giữa cuộc hành quân
Niềm kiêu hãnh trong mắt em kỳ lạ
Trong chiếc áo bạc màu đôi miếng vá
Cô gái Việt Nam đẹp đến lạ thường
Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường…
Giữa tầm đạn thù, tấm lòng dũng cảm
Em vượt đường dài tiếp thêm lửa tiến công
Tôi thấy rồi em ơi giữa cuộc hành quân
Niềm kiêu hãnh trong mắt em kỳ lạ
Trong chiếc áo bạc màu đôi miếng vá
Cô gái Việt Nam đẹp đến lạ thường
Ôi! Những bông hoa nở giữa chiến trường…
Đề tài TNXP hấp dẫn, phong phú và tâm huyết đến mức
nhân mừng sinh nhật TNXP TP tròn 35 tuổi, NS Quỳnh Hợp
ra mắt chùm ca khúc viết về thanh niên xung phong nằm trong album mang
tên “Cỏ hát” với đúng 35 ca khúc (gồm 2 CD và 1 tập nhạc). “Cỏ
hát” là nhạc phổ thơ của các nhà thơ TNXP như Nguyễn Nhật Ánh,
Đỗ Trung Quân, Cao Vũ Huy Nguyên, Đào Công Điện… và nhiều nhà thơ
thành danh khác viết về TNXP như: Bùi Chí Vinh, Trần Mạnh Hảo, Huỳnh Dũng
Nhân… Những ca khúc trong “Cỏ hát” được Quỳnh Hợp biểu cảm nhẹ
nhàng, vừa như tự tình vừa như nhắn nhủ, tự nhiên và hồn hậu không đỏm dáng mà
giản dị, chân thành được phổ từ những bài thơ có cái đẹp của tình người, tình đồng
đội cùng những tâm tình xa thẳm nay được tung xới, điểm tô sắc màu lung
linh: du dương, rộn ràng, thánh thót ngân nga… mang đến cho người nghe những
rung cảm bồi hồi, xốn xang…
CKCT cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 đã hoàn thành nhiệm
vụ cuả mình là động viên lòng yêu nước của toàn dân, của tuổi trẻ vào công cuộc
xây dựng đất nước thời hậu chiến, vào hai cuộc chiến đầu bảo vệ biên giới Tổ quốc
và là bước đệm trong quá trình tiếp thu, hình thành, phát triển nền ca nhạc
nhẹ chuyên nghiệp đương thời sau đó.
Nhạc nhẹ Việt chính thống đương thời 1986 - nay
Ca nhạc Việt giai đoạn đương đại (1975 - nay) tồn song
song tại 2 loại nhạc: ca nhạc quốc nội và ca nhạc hải ngoại. Ca nhạc
quốc nội giai đoạn nầy được phân kỳ rất tách bạch thành 2 thời đoạn với những đặc
trưng rất riêng biệt, rõ ràng: Thời đoạn nhạc hậu chiến 1975-1985 và thời đoạn
đương thời 1975 - nay. Riêng ca nhạc Việt trong thời đoạn đương thời lại
gồm hai dòng nhạc cùng hiện hữu: nhạc nhẹ chính thống và nhạc
nhẹ thị trường.
Người viết gọi đây là nhạc nhẹ chính thống là
muốn nói đến những ca khúc nhạc nhẹ đương thời có giá trị nghệ thuật- tư tưởng,
có cảm thụ thẩm mỹ đúng đắn, lành mạnh, được sáng tác bởi các nhạc sĩ tài năng
và để phân biệt với dòng nhạc nhẹ thị trường bị thương mại hóa hiện
nay, mặc dù dòng nhạc nhẹ chính thống nầy cũng tham gia sâu rộng vào thị trường
âm nhạc Việt Nam hiện nay.
Sau Đổi mới (1986), ca khúc trữ tình lên ngôi với những cái
tên được nhắc nhiều trong mảng “nhạc nhẹ”. Ngoài Thanh Tùng, người được
coi là khởi đầu cho dòng nhạc nhẹ phía Nam và Trần Tiến, người được xem
là mở màn cho nhạc nhẹ ở phía Bắc có thể nêu thêm nhiều tên tuổi
nhạc nhẹ khác: Phú Quang (Em ơi Hà Nội phố, Thương lắm tóc dài ơi, Đâu phải bởi
mùa thu…); Dương Thụ (Lắng nghe mùa xuân về, Vẫn hát lời tình yêu, Điều
còn mãi…); Bảo Chấn (Tình thôi xót xa, Nỗi nhớ dịu êm, Hoa cỏ mùa
xuân, Bên em là biển rộng, Đêm nay anh mơ về em…); Phạm Đăng Khương (Con
đường đến trường, Như cơn gió vô tình, Tình yêu trở lại, Chia tay chiều mưa...); Nguyễn
Ngọc Thiện (Chia tay tình đầu, Kỷ niệm mùa hè, Cô bé dỗi hờn, Nếu em là người
tình, Thôi anh hãy về…), v.v..
Trong mảng tình ca có sự góp mặt của nhiều thế hệ NS: các NS
cao niên như Huy Du, Hoàng Hà, Nguyễn Đức Toàn, Thuận Yến, Hoàng Vân, Nguyễn
Văn Tý, Hồng Đăng, Chu Minh, Phan Nhân, Văn Ký, Lư Nhất Vũ, Hồng Đăng, Trương
Quang Lục, Trần Quang Huy, Trần Hoàn, Hoàng Hiệp, Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu…,
cùng với những tác giả thuộc lớp sau (sinh vào thập niên 40-50) rất đông
như: Phạm Minh Tuấn, Diệp Minh Tuyền, Từ Huy, Trần Quang Lộc, Ngọc Đại, Bảo Chấn,
Trọng Đài, Tôn Thất Lập, Quỳnh Hợp, Thanh Tùng, Dương Thụ,
Trương Quí Hải, Quốc Dũng, Dương Thụ, Nguyễn Văn Hiên, Nguyễn Ngọc Thiện, Vũ
Hoàng, Bùi Thanh Hóa, Trần Tích, Trương Minh, Việt Hùng, Võ Công Diên,
Nguyễn Phú Yên, Phú Quang, Thế Hiển, Phó Đức Phương, Đặng Hữu
Phúc, Hữu Du, Phạm Đăng Khương, Nguyễn Đình Bảng, Trương Ngọc Ninh, Nguyễn Cường,
Nguyễn Trọng Tạo, Trần Mai, Hoài Nhơn, Phan Thành Liêm, Phan Thiết, Hồng Vân,
Trần Tiến, Bùi Công Thuấn, Lê Văn Lộc, An Thuyên, Hoàng Lương (HN), Hoàng Lương
(BR-VT), Vy Nhật Tảo, Trọng Vĩnh, Võ Lê, Phan Long, Văn Thành
Nho,…
Những năm sau này còn thêm lớp NS trẻ, sinh từ thập niên
1960 về sau như: Phương Uyên, Trần Quế Sơn, Quốc Trung, Ngọc Châu, Võ Thiện
Thanh, Việt Anh, Huy Tuấn, Tống Duy Hòa, Huyền Vũ, Anh Quân, Lê Minh Sơn, Tiên
Cookie, Duy Long, Vĩnh Trí, Giáng Son, Xuân Phương, Đỗ Bảo, Lưu Hà An, Hồ Hoài
Anh, Lưu Hương Giang, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Hồng Sơn, Lê Nhật Linh, Lê Vĩnh
Phúc, Trần Minh Phi, Trần Thanh Sơn, Lê Chí Thành, Lê Quốc Thắng, Ngô Tùng
Văn, Lê Cát Trọng Lý, Phạm Toàn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Minh Sơn,
Lưu Thiên Hương, Thiên Toàn, Vĩnh Trí, Đức Nghĩa… Điều này chứng tỏ ý thức nhập
cuộc của giới sáng tác được nối tiếp không ngừng giữa các thế hệ.
Từ thập niên 90, nhạc nhẹ chiếm lĩnh trong đời sống
âm nhạc Việt Nam. Đề tài - chủ đề cũng chuyển đổi. Hình tượng, nhân vật
trung tâm trong ca khúc không còn là người lính, những hồi ức, kỷ niệm, dư âm của
chiến tranh vọng lại trong lòng con người, những đổi mới trên quê hương được giải
phóng, những công trình trình xây dựng như ca khúc thời đoạn hậu chiến nữa, mà
giờ đây chủ đề- đề tài nói về thân phận con người, ngợi ca tuổi trẻ, thiên
nhiên, hướng tới những giá trị nhân văn và hầu hết tập trung vào quê hương,
đất nước và tình yêu đôi lứa.
Theo GS, TS âm nhạc Trần Quang Hải trong một
công trình quá dày công và rất tâm huyết “Lịch sử Tân nhạc Việt Nam - phần
1” thì nhạc nhẹ VN lúc này phát triển theo
hai khuynh hướng: vận dụng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu
châu và vận dụng âm nhạc dân gian, dân tộc. Xin dẫn ra tên tuổi
một sồ nhạc sĩ và vài ca khúc tiêu biểu của họ thuộc từng khuynh hướng:
1. Khuynh hướng dùng ngôn ngữ âm nhạc cổ điển Âu châu.
NS Thanh Tùng qua để tài tình yêu (Mưa ngâu, Giọt nắng
bên thềm) và nhiều nhạc sĩ đi theo khuynh hướng này với những tìm tòi và
sáng tạo khác nhau như Nguyễn Đình Bảng (Cơn mưa em bất chợt); Từ Huy (Những lời
em hát); Phú Quang (Em ơi, Hà Nội phố, Đâu phải bởi mùa thu); Nguyễn Ngọc
Thiện (Như khúc tình ca); Dương Thụ (Tiếng sóng biển, Lắng nghe mùa
xuân về, Điều còn mãi); Đặng Hữu Phúc (Ru con mùa đông); Bảo
Chấn (Tình thôi xót xa, Nỗi nhớ dịu êm, Hoa cỏ mùa xuân); Phạm Trọng Cầu (Tiếng
hát cho em), v.v…
2. Khuynh hướng vận dụng âm nhạc dân gian, dân tộc.
Các NS đã có nhiều sáng tạo và thể hiện rõ phong
cách sáng tác của mình theo xu hướng hiện đại, dân tộc, (dân tộc hóa nhạc nhẹ)
bằng việc sử dụng kết hợp với những mô típ, chất liệu từ âm nhạc dân gian của
các vùng miền... Các NS Lư Nhất Vũ (Bài ca đất phương Nam- lời Lê Giang);
Nguyễn Cường (Đừng sánh em với mặt trời, Một nét ca trù mùa xuân, Em muốn
sống bên anh trọn đời, Đôi mắt Pleiku); Trần Tiến (Tùy hứng ngựa ô, Tiếng
trống Baranưng, Ngẫu hứng sông Hồng, Sao em nỡ vội lấychồng, Quê nhà);
Phó Đức Phương (Huyền thoại hồ núi Cốc, Chảy đi sông ơi, Trên đỉnh
Phù Vân, Một thoáng Tây Hồ, Nha Trang thu, Không thể và có
thể); Nguyễn Phú Yên (Gởi Huế thân yêu- thơ Tạ Nghi Lễ); Trương Ngọc
Ninh (Vòng tay Đam San); Trần Hoàn (Lời Bác dặn trước lúc ra đi -
1989); Thuận Yến (Miền Nam trong tim Bác 1998); Vũ Đức Sao Biển (Đêm
Gành Hào nghe điệu hoài lang, Điệu buồn phương Nam); Nguyễn Trọng Tạo (Khúc
hát sông quê- thơ Lê Huy Mậu)… sáng tác theo chiều hướng này và trở thành
những tên tuổi đã chinh phục được công chúng nhiều tầng lớp, lứa tuổi. Ban
nhạc nhẹ của nhà hát Tuổi Trẻ do NS Đỗ Hồng Quân phụ trách đã đưa các nhạc
khí dân tộc, cũng như cách phối âm phối khí, trình diễn, sáng tác theo chiều hướng
nhạc dân gian.
Các nhạc sĩ chuyên nghiệp Việt Nam thực hiện việc tiếp thu và
chuyển hóa nhạc Pop, Pallat, Rock… quốc tế cho phù hợp với thói quen
thẩm mỹ của công chúng Việt Nam. Tiếp nhận và chuyển hóa trước hết trong sáng
tác và cả trong biểu diễn bằng cách tăng cường âm hưởng dân gian- dân tộc trong
giai điệu, hòa thanh và tiết tấu. Không thể phủ nhận nhạc trẻ, nhạc nhẹ giai đoạn
nầy mang lại một làn gió mới cho đời sống âm nhạc và trong số những bài hát nặng
tính thị trường vẫn có những tác phẩm được đánh giá cao khiến không chỉ giới trẻ
mà người lớn tuổi cũng quan tâm ủng hộ. Nhiều thế hệ nhạc sĩ cùng góp công sức,
tâm huyết tạo nên thành tựu đó. Có những nhạc sĩ thuộc lớp sau và lớp trẻ
hiện nay đam mê dòng nhạc quê hương. Nhiều bài hát được viết về quê
hương với ca từ giản dị, mộc mạc, khi thì mềm mại, sâu lắng
như: Giấc mơ màu trắng do nhóm The Bell thể hiện, lúc lại cao
trào, mạnh mẽ như: Dòng máu Lạc Hồng, Bản hùng ca chim lạc của
Lê Quang. Phổ biến hơn là đề tài quê hương lồng vào chủ đề tình yêu, lúc man
mác ngọt dịu như Phố núi của Hoàng Lương; lúc trong trẻo, hồn nhiên
như Cánh cò trên sông của Trọng Vĩnh; lúc tha thiết yêu thương
như Thành phố ngàn hoa của Nguyễn Hồng Sơn; lúc nhẹ nhàng tình cảm
như Chợt nhớ quê xưa (thơ Hồ Đắc Thiếu Anh), Trăng bên sông của
Nguyễn Phú Yên; lúc tâm tình trìu mến như Tình biển hoàng hôn hay tình
cảm tha thiết như Đà Lạt tím (thơ Lê Thiên Minh Khoa) của Bùi
Thanh Hóa; lúc da diết xốn xang như Em gái quê mình của Trần Quế Sơn;
lúc tình cảm sâu lắng như Lặng lẽ tôi của Trần Tích; lúc đằm thắm nhớ mong
như Chiều trên núi Tao Phùng của Trương Minh; lúc dịu dàng thanh
thoát như Mùa xuân em về của Bùi Công Thuấn; lúc yêu thương tự hào
như Địa đạo lòng dân của Võ Lê; lúc yêu thương lạc quan
như Tình ca quê hương của Bùi Công Thuấn; lúc buồn thương thiết
tha như Phố núi chiều mưa hay lắng sâu tiếc nhớ như Lối xưa của
Lê Nhật Linh; hoặc vẽ nên một bức tranh thủy mạc sống động về quê hương
như bài hát Giấc mơ trưa của Giáng Son và Nguyễn Vĩnh
Tiến, Phố cổ của Nguyễn Duy Hùng, v.v…
Nhiều ca khúc nhạc nhẹ viết về tình cảm gia đình được
đánh giá cao như: Bà tôi của Nguyễn Vĩnh Tiến; Mẹ
tôi của Nguyễn Trọng Tạo; Mẹ của Phan Long; Chị ơi! của
Võ Công Diên, Bóng mẹ quê nhà (thơ Phạm Thanh Chương); Ơi mẹ mến
yêu của Nguyễn Phú Yên; Cõng mẹ đi chơi của Trần Quế Sơn; Con
ơi hãy ngủ của Hoàng Tuấn- Đỗ Bảo. Lối cũ ta về của Thanh
Tùng viết trong hoài niệm về người vợ đã mất. Mẹ yêu của Phương
Uyên được viết để dành cho bà nội những tình cảm chân thành, nhẹ nhàng và sâu lắng
nhất. Hai ca khúc cùng tên Chị tôi của Trần Tiến và Thanh Tùng đã phản
ánh phẩm chất thảo hiền, hy sinh cao cả của người phụ nữ. Mừng tuổi mẹ của
Trần Long Ẩn đã đi sâu vào lòng người bao thế hệ, từng lời, từng chữ
đều thấm đượm tình yêu thương, biết ơn mà ông dành cho mẹ…
Đáng trân trọng là năm 2017, lúc đang lâm bạo bệnh, nhân mùa
báo hiếu, Trần Quang Lộc vẫn sáng tác và phát hành CD Khóc Mẹ trên đời gồm
8 ca khúc về mẹ được nhạc sĩ và các danh ca thể hiện: Thư cho Mẹ, Khóc Mẹ
trên đời, Tình Mẹ (thơ NP Nhật Nam), Nơi ấy (thơ Thu Nguyệt), Bến đợi
đời con, Vầng trăng của Mẹ, Trở về với Mẹ ta thôi (thơ Đồng Đức Bốn), Mẹ
và đôi gánh (thơ Chiêu Tuệ).
Một đề tài mới lạ của nhạc nhẹ Việt trong giai đoạn nầy là viết
về đời thường của người hùng, tạo nên những ca khúc làm chảy nước mắt. Người
nghe xúc động, tôn kính trước giai điệu trìu mến về hình ảnh thường ngày “Mái
tóc mẹ bạc phơ và ánh mắt mẹ như mơ/ Là biết mấy chờ mong mỏi
mòn từng đứa con ra đi không bao giờ trở lại/ Chỉ câu hát ru con bên nôi,
chỉ câu hát cuộc đời mẹ ru” trong Mẹ Việt Nam anh hùng của
An Thuyên, giải nhất của Bộ Văn hóa- Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt
Nam. Hoặc cảm phục, thương quý trước giai điệu nhẹ nhàng, yêu thương về hình ảnh
đời thường rất thực: trong trắng, vô tư, hồn nhiên, mơ mộng của người nữ anh
hùng trẻ tuổi Võ Thị Sáu: “Vào tuổi mười lăm, có những chiều mây gió
ngẩn ngơ/ cỏ cây lá hoa có những đêm chập chờn giấc ngủ/ như đêm trăng rằm cho
nụ hoa lê ki ma” trong ca khúc Còn mãi tuổi mười lăm của Trọng
Vĩnh, giải nhất ca khúc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, năm 2006. Và người nghe không thể
cầm được nước mắt khi nghe đến ca từ đầy xúc động nhắc lại đời thường của 10 cô
gái đã hy sinh ở Ngã ba Đồng Lộc, trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước trong ca
khúc Ngã ba chiều (thơ Trần Sỹ Tuấn) của Đỗ Hồng Quân: “Thương mái
tóc chị dầy/ Khi các chị ngã xuống/ Tuổi xanh chưa biết yêu…”
Bên cạnh đó, còn nhiều ca khúc viết về tình yêu rất
thành công như: Hãy trả lời em của Tuấn Nghĩa, giai điệu
nhẹ nhàng, lời ca giản dị mà rất đỗi dễ thương; Nơi tình yêu bắt
đầu của Minh Tiến, ngọt dịu và truyền cảm; Một thời của
Nguyễn Hồng Sơn (BR-VT) da diết, luyến tiếc; Miên khúc của Lê Nhật
Linh buồn thương, day dứt; Phượng hồng (thơ Đỗ Trung Quân) của
Vũ Hoàng hoài niệm, luyến tiếc; Và em của Hoàng Lương, giai điệu
thanh thoát, ca từ lãng đãng, phóng khoáng tâm tình; Lỗi tại tôi của
Hoàng Thi Tâm, dịu dàng, tình tứ. Ba tình ca chỉ được viết trong một năm
(1994) của Nguyễn Phú Yên: Vẫn ngày xưa ấy, vui tươi, linh hoạt; Hỡi
người tình nhỏ, nhẹ nhàng, trìu mến; Khúc giao duyên, tươi trẻ,
nhanh vui… Rồi Sông và trăng, Mây và núi của Vĩnh Tâm, ca từ
và giai điệu của hai ca khúc này đều khá hay với nội dung viết về một
tình yêu lãng mạn, được hình tượng hóa thành mây và núi, sông và
trăng. Ca khúc Tâm tưởng chiều của Bùi Công Thuấn. giai điệu dặt
dìu mà tiếc nhớ, với lời có ngôn từ như thơ, có cái tứ của thơ, có diễn biến
tâm trạng cái tôi trữ tình trong thơ, tình yêu và nỗi nhớ được ẩn dụ hóa trong
hình ảnh thiên nhiên: nắng, trời, mây, sông, cây cỏ và “trong mưa nhạt
nhòa”, làm người nghe xúc động khi hoài nhớ lại “dấu tích thương yêu” mà
trong đời ai cũng từng trải qua. Còn Phượng hồng (thơ Đỗ Trung
Quân) của Vũ Hoàng ghi điểm trong lòng khán giả bởi giai điệu da diết, nồng
nàn, lời ca day dứt, luyến tiếc về mối tình đầu thầm kín của tuổi học trò gắn
liền với hình ảnh “phượng hồng” đầy lưu luyến,
v.v…
Nhạc sĩ lão thành Hoàng Hà trong thời đoạn này ngoài chủ
đề truyền thống là sở trường của tác giả Đất nước trọn niềm vui, đã có
một “bước chuyển” trong tâm cảm âm nhạc. Lúc nầy, ông viết nhiều ca khúc về
tình yêu và phận người, với giai điệu dịu dàng hơn, day dứt hơn, ẩn chứa niềm
khắc khoải về “nỗi người”. Chiều nay mùa thu là cảm xúc lãng đãng,
khoáng đạt trước vẻ đẹp mùa thu thanh tao, thư thái. Mang theo mùa đông,
ca khúc đoạt giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 1997,
là nỗi nhớ day dứt về một mùa đông đã xa. Đây là hai trong khoảng 10 ca
khúc ông phổ thơ của nhà thơ Hoàng Quý, người thâm giao, tri âm cùng ông từ năm
1985, khi ông vào Vũng Tàu cho đến lúc mất (04.9.2013). Cũng hoài niệm mùa
đông, nhưng Du ca mùa đông của Hoàng Quý được Nguyễn Chính phổ nhạc với
giai điệu dìu dặt, lắng sâu hòa quyện với ca từ cùng biểu hiện nỗi sầu
mênh mang, nỗi nhớ tiêu dao một mùa đông xòe tay ướt khói sương trời: “Ai
hát khúc du ca mùa đông/ Cô xót cả vòm trời cám dỗ…/ Thương tóc tiếc một đời rũ
gội/ Buồn thơm thảo sấu chua ơi!”
Điều đáng mừng nhưng không có gì phải ngạc nhiên là trong ca
khúc đương đại có những nhạc phẩm của các nhà thơ. Đáng mừng vì đó là những nhạc
phẩm thành công, nhiều ca khúc của họ được công chúng yêu thích. Không ngạc
nhiên vì theo lý luận văn nghệ cổ điển thì “thi trung hữu nhạc”, còn lý luận
văn nghệ hiện đại thì hai loại hình nầy đều thuộc loại thể trữ tình (biểu hiện
bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình một cách trực tiếp). Thơ và nhạc gần
gũi, thân thiết nhau, nhất là đối với các nghệ sĩ đa tài. Văn Cao vừa
nhạc sĩ, vừa thi sĩ. Trịnh Công Sơn âm nhạc đầy chất thơ. Nguyễn Đình Thi là
nhà thơ, nhà văn lớn, nhà soạn kịch, nhà phê bình văn học, bên cạnh những ca
khúc nổi tiếng như: Diệt phát-xít, Trường ca Người Hà Nội. Trong
những nhà thơ viết nhạc, phải kể đến hai nghệ sĩ thành công với nhiều ca
khúc nổi tiếng: Nguyễn Trọng Tạo và Đynh Trầm Ca Nguyễn Trọng Tạo
quả là một nghệ sĩ đa tài Thi Nhạc Họa, đoạt được những giải thưởng xứng đáng;
có nhiều ca khúc nở hoa thơm, kết trái ngọt trong vườn âm nhạc Việt
đương đại. Cho tới nay, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết gần 100 ca khúc, trong đó
có nhiều bài nổi tiếng: Làng Quan Họ quê tôi (thơ Nguyễn Phan Hách), Khúc
hát sông quê (thơ Lê Huy Mậu), Đôi mắt đò ngang, Non nước Cao Bằng, Mẹ
tôi, Đồng Lộc thông ru, Tình ca hạt giống vàng, Trống hội cổng làng, Tình Thu,
Tình Đông, Tình Xuân, Tình Hạ (Tứ bình), Mưa, Tình ca hoa cúc biển,
Con dế buồn, Tình ca hạt giống vàng… Đặc biệt, hai bài Làng quan họ quê
tôi và Khúc hát sông quê đã khiến công chúng đôi khi nhớ đến
Nguyễn Trọng Tạo với vai trò một nhạc sĩ nhiều hơn, vì hai bài hát này của anh
đã quá nổi tiếng, dù anh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thơ Việt
đương đại. Làng quan họ quê tôi từng được hãng JVC Nhật Bản chọn vào
đĩa karaoke 100 bài hát Việt Nam và dàn nhạc giao hưởng Leipzig trình tấu trong
Tuần Văn hóa Việt Nam tại Đức. Khúc hát sông quê (thơ Lê Huy Mậu) của
anh được công chúng trong và ngoài nước đặc biệt yêu thích, thuộc nằm lòng. Gần
đây, 2017 và 2018, hai “Đêm nhạc Nguyễn Trọng Tạo” diễn ra tại Nhà
Hát Lớn Hà Nội và Thành Phố Vinh thành công ngoài mong muốn, được đông đảo công
chúng hâm mộ.
Còn nhà thơ Đynh Trầm Ca, ngoài những bài thơ được phổ
nhạc, như: Tình yêu mắt nai, Mắt Huế xưa (nhạc Quốc
Dũng), Nỗi buồn chim sáo (nhạc Huỳnh Ngọc Đông), Xa rồi hạnh
phúc gian nan (nhạc Tiến Luân)…, ông viết hơn 100 ca khúc đã ra mắt ừ
trước 1975, sau Thống nhất vẫn viết nhạc đều đặn. Người yêu âm nhạc dành tình cảm
sâu đậm với những ca khúc như Ru con tình cũ, Sông quê, Bay đi những
cơn mưa phùn (thơ Hoàng Lộc), Phượng ca, Mưa La Qua mưa Vĩnh Điện…
từng được các ca sĩ nổi danh như Khánh Ly, Lệ Thu, Hồng Nhung, Phương Hồng Quế,
Phi Nhung… trình bày trên các sân khấu trong và ngoài nước hoặc trên các đĩa CD
mấy chục năm qua.
Có thể nói cả hai khúc “sông quê” của hai nhà
thơ- nhạc sĩ nầy là nhạc phẩm thành công nhất của họ và có nhiều điểm giống
nhau: cùng là giai điệu trữ tình thấm đẫm chất dân ca: ở Khúc hát
sông quê là dân ca Nghệ Tĩnh, ở Sông quê là dân ca Nam bộ, và đều
có sức hút mạnh mẽ trong lòng công chúng nhiều thế hệ, đã vang lên
khắp thôn cùng, xóm
nhỏ.
Trong dòng nhạc nhẹ thời đoạn nầy, nhiều nhạc sĩ định hình được
phong cách riêng. Chẳng hạn, trầm lắng, sâu sắc là Phó Đức Phương, Hoàng Tạo;
sôi nổi và nhạy bén là Nguyễn Cường, Trần Tiến; sang trọng và tình cảm là Phú
Quang, Dương Thụ; nhịp nhàng, uyển chuyển là Trương Ngọc Ninh, An Thuyên, đằm
thắm và ngọt dịu là Hoàng Lương (BR-VT), Trọng Vĩnh,
v.v…
Các ca sĩ nổi tiếng càng ngày càng nhiều như Ánh
Tuyết, Thanh Lam, Hồng Nhung, Hồng Hạnh, Cẩm Vân, Cẩm Ly, Phương Thanh, Vân
Khánh, Thanh Thúy, Lam Trường, Đan Trường, Quang Linh, Bảo Yến, Khắc Dũng,
Thanh Long, Mỹ Linh, Tam Ca Áo Trắng, Duy Minh, Thanh Phong, Cao Thi, Minh
Chuyên, Ngọc Quỳnh, Trang Nhung, Hồ Lệ Thu, Nguyên Vũ, Hiền Thục, Tạ Minh Tâm,
Quang Thọ, Lê Dung (đã mất), Trần Thu Hà, Bằng Kiều… Hai ca sĩ sau đã sang định
cư ở Mỹ.
CA KHÚC VỀ BIỀN ĐẢO TỔ QUỐC TỪ THẬP NIÊN 90.
Nếu trong thời đoạn hậu chiến (1975-1985), ca khúc chính
trị (thực chất là nhạc trẻ, nhạc nhẹ), nhất là về đề tài thanh niên xung phong và chống xâm lược, bảo vệ biên giới Tổ quốc được giới trẻ và công chúng
yêu thích, thì trong thời đoạn nầy, biển đảo Tổ quốc là đề tài được nhiều
nhạc sĩ khai thác và sáng tác nên những giai điệu trầm hùng, thỏa mãn được nhu
cầu tình cảm bức thiết (yêu nước) của công chúng và làm mê say, xúc động lòng
người.
Theo NS Cát Vận, PCT Hội Nhạc sĩ VN trong bài viết: "Đề
tài biển đảo trong âm nhạc cách mạng Việt Nam": “Đề tài về biển đảo từ
rất lâu đã xuất hiện trong âm nhạc, vốn là đề tài rất dễ cảm xúc, tạo “thi hứng”
và “nhạc hứng” cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ nên đã có nhiều tác phẩm thành công
trong tuyến đề tài này”. Ông phân giải rất rạch ròi tiến trình phát triển
đề tài biển đảo trong âm nhạc VN. Theo đó, Côn Đảo của NS Đỗ Nhuận viết
năm 1943, 20 năm sau, nhạc sĩ lại có bài Lớn lên trên biển cả cùng với
quyết tâm giữ gìn biển đảo quê mình. Rồi Hải quân Việt Nam của
NS Văn Cao viết năm 1945-1946 trước khi Quân chủng Hải quân ra đời. Năm
1958, NS Thế Dương viết Lướt sóng ra khơi, đã trở thành
bài hát chính thức của quân chủng Hải quân VN. Và Tiếng hát trên tiền tiêu
Tổ quốc của Thái Quý, một khúc nhạc đầy yêu thương, thơ mộng
đối với biển đảo quê nhà.
Bước vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, đề tài về biển đảo
đã được định hình qua nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ: Huy Du với Bạch
Long Vĩ đảo quê hương, Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi (1965); Lương
Ngọc Trác với Bài ca gửi đất liền (lời Phan Ngạn). Và Đỗ Nhuận
với Tình ca biển cả là người đầu tiên đưa được khẩu hiệu
của Hải quân nhân dân “Tàu là nhà, biển cả là quê hương” vào
ca từ, v.v…
Sau đó, trong những năm tháng cả nước chống Mỹ, nhiều bài hát
về đề tài biển đảo liên tục được các nhạc sĩ quan tâm sáng tác. Những bài hát về
đề tài này đã được phổ biến rộng rãi như: Thái Văn A đứng đó của Văn
An; Gửi anh chiến sĩ thông tin trên đảo của Hồ Bắc; Khúc
hát đảo quê hương, Những thành phố bên bờ biển cả (thơ Huy Cận) của Phạm
Đình Sáu, v.v...
Những ca khúc trên, theo NS Cát Vận (tài liệu đã dẫn), đã
trở thành “cột mốc”, “điểm tựa” cho những bài hát mới về đề tài này ra đời sau
đó, như: Thư ra đảo của Văn Dung; Chiều Cát Bà của Văn
Lương; Tình yêu Cát Bà của Cát Vận; Nếu em đến đảo của Trọng
Loan; Biển gọi của Nguyễn Kim; Sao biển của Phạm
Minh Tuấn; Trên biển quê hương của Đức Minh; Tình em biển cả của
Nguyễn Đức Toàn; Bến cảng quê hương tôi của
Hồ Bắc, v.v...
Trong những năm cuối thập niên 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
XX, đề tài biển đảo đã được khai thác khá đậm, ca khúc nhạc nhẹ viết
về biển đảo đã xuất hiện ngày một nhiều, trong đó có những bài tình ca viết về
biển, những bài hát trẻ trung viết về ngành dầu khí, viết về các đảo, vịnh,
cảng… của các tỉnh, thành phố ven biển: Phú Quốc, Hạ Long, Cát Bà, Côn Đảo,
Lý Sơn… Nhiều ca khúc được công chúng yêu thích, như Biển hát chiều
nay (1980) của Hồng Đăng; Chút thơ tình người lính biển (thơ Trần
Đăng Khoa - 1981) của Hoàng Hiệp; Đất nước bên bờ sóng (1980) của Thái
Văn Hóa; Gần lắm Trường Sa ơi! (1982) của Huỳnh Phước Long, v.v…
Một tác phẩm nổi bật trong thời đoạn này là Nơi đảo xa (1979) của
nhạc sĩ Thế Song. Phút xuất thần trong những giây phút đi thực tế với các
chiến sĩ Hải Quân đã tạo cho ông có một tác phẩm để đời, vang mãi trong trái
tim những người yêu biển đảo quê nhà. Ông còn viết một loạt ca
khúc khác về đề tài sở trường là biển đảo và những người lính đảo, như: Ngôi
nhà lính đảo, Biển mưa, Biển chuyện tình hóa đá, Hoa hồng biển đảo, Mênh mang
Trường Sa, Tình em theo cánh sóng, Hát từ vùng gió xoáy, Hòn mưa, Sóng ru, Vũng
Tàu tình yêu biển, Cát Bà tình em, Biển hẹn Cà Mau, v.v…
Đặc biệt, Nguyễn Trọng Tạo từ giữa thập niên 80, đã viết
một loạt ca khúc về biển đảo ấm nóng lòng người: Lời biển quê hương, Tình
ca hoa cúc biển, Nghe ru biển đêm, Cảm xúc bển quê…, trong đó có một ca
khúc về Trường Sa Trường Sa làng ta. Riêng về đề tài Trường Sa, Hoàng
Sa phải đến những năm 90 của thế kỷ trước mới xuất hiện phổ biến qua nhiều
cuộc vận động áng tác ca khúc, cuộc thi sáng tác ca khúc về biển đảo, những
chuyến đi thực tế biển đảo do Bộ tư lệnh Hải quân, Ban Tuyên giáo Trung
ương, Đài Tiếng nói VN, VTV, báo điện tử VN… tổ chức. Lần đầu tiên
trên làn sóng quốc gia, thính giả mới được nghe hai tiếng Hoàng Sa, Trường Sa
thân yêu qua các giai điệu đủ sắc màu từ trữ tình, lãng mạn đến khỏe khoắn, mạnh
mẽ. Đó là các bài Gần lắm Trường Sa của Huỳnh Phước Long; Quần
đảo đồng đội của Hoàng Tạo; Làng lính trên đảo của Doãn
Nho; Trường Sa chiều biển nhớ của Vũ Trọng Tường; Màu xanh Trường
Sa của Lương Minh; Đợi mưa trên đảo (thơ Trần Đăng Khoa) của
Nguyễn Thịnh, v.v…
Vào thập niên đầu của thế kỷ nầy, thế kỷ XXI, kỷ nguyên của
biển và đại dương, ăm mưu và tham vọng của nước lớn lộ rõ khi liên tục lấn
chiếm biển đảo với thủ đoạn tinh vị, đề tài về biển đảo lại “nóng” với nhiều ca
khúc xuất sắc được phổ biến rộng rãi trong công chúng: Trụ biển của
Đỗ Hòa An; Giữa biển Đông nghe khúc Tiến quân ca của Vũ Trung; Lá
phong ba, lời độc thoại của Ngọc Anh; Chiến sĩ nhà giàn của Hồng
Vân; Hải đội Hoàng Sa của Trần Bắc Hải; Lính đảo về phố của
Ngọc Hoà; Lời ru Trường Sa của Vũ Việt Hùng; Phút lặng im trên
biển của Nguyễn Hồng Sơn (TP HCM); Nơi ấy Trường Sa của Xuân
Nghĩa; Tổ quốc nhìn từ biển của Quỳnh Hợp - Nguyễn Việt Chiến; Thức
anh cùng sóng biển của Hoàng Hà; Ngôi nhà trên biển, Một dãi sơn
hà của Phan Thiết; Điệu nắng, điệu gió Trường Sa của Đức Nghĩa; Ru
đảo của Lê Tịnh; Ánh trăng nhà giàn của Hoàng Lương (BR-
VT); Lời gọi biển Đông của Bùi Công Thuấn; Trường Sa thân yêu của
Nguyễn Tôn Nghiêm… Điểm sáng trong thập niên nầy hai bài hát của nhạc sĩ Vũ Thiết: Khúc
tráng ca Biển và Lời sóng hát đều phổ thơ của Trịnh Công Lộc.
Tiếp tục dòng chảy ấy, rất đáng mừng là trong các năm đầu thập
niên thứ hai nầy, nhiều nhạc sĩ đã đã viết những sáng tác nóng hổi thời sự mà
có giá trị nghệ thuật về Trường Sa: Võ Công Diên với Trường Sa gọi (2015);
Vũ Duy Cương với Phía ấy Trường Sa; Nguyễn Phú Yên với Hoàng Sa
- Trường Sa - Việt Nam; Lê Minh Sơn với Này là Biển của ta; Nguyễn
Văn Hiên với Thương lắm Trường Sa; Nguyễn Cường với Trống quân
lính đảo, Sóng xô Trường Sa; Cát Vận với Mơ thanh bình sóng biển Việt
Nam, Nghe tiếng A di đà ở Trường Sa; Quỳnh Hợp với Làng đảo (thơ
Nguyễn Hữu Quý); Trần Ngọc Lâm với Hành trình xanh Trường Sa; Nguyễn
Việt Hùng với Mênh mang biển đảo quê hương; Thiên Toàn với Hát
về Hoàng Sa - Trường Sa; Dương Toàn Thiên với Gửi Trường Sa..
Nổi bật nhất trong thời đoạn nầy là Tổ quốc gọi tên mình (thơ Nguyễn
Phan Quế Mai) của Đinh Trung Cẩn đoạt 4 giải thưởng văn nghệ,
trong đó có giải A của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 2011.
Đáng quý là hòa cùng tiếng hát vệ quốc trong nước, nhiều nhạc
sĩ hải ngoại đã viết những ca khúc chống xâm lấn biển Đông, như: Anh Bằng và Lê
Dinh với Phải lên tiếng, Cả nước đấu tranh (2012); Nguyễn Văn Đông với Trường
Sa lương tri thế giới (2014), v.v…
Ở một hướng khác, nhiều nhạc sĩ khai thác đề tài tình yêu
trong không gian nghệ thuật biển cả và tạo ra những ca khúc rất được mến chuộng
từ nhiều giới, như: Thanh Tùng với Chuyện tình của biển; Đăng Quang với Biển
và Bờ; Phú Quang với Biển nỗi nhớ và em (thơ Hữu Thỉnh); Lê
Hựu Hà với Nắng vàng, biển xanh và anh; Bùi Thanh Hóa với Tình
biển hoàng hôn (thơ Bình Diệp); Võ Lê với Biển chiều nhớ em (thơ
Phạm Minh Châu), Tình biển (thơ Trần Minh Ngọc), Biển cho em; Võ
Thanh Sơn với Sóng ru; Huy Tuấn với Giữ lại mùa hè; Khánh
Vân với Biển thức (thơ Vũ Thanh Hoa), Biển quê hương; Hoàng
Hà với Dong khơi (thơ Hoàng Quý), Tiếng rừng dương; Hoàng
Lương (HN) với Nhớ biển, Tình em với biển; Hoàng Hiệp với Thương
nhớ ngoài khơi (thơ Đỗ Đức Yên); Hữu Du với Biển tháng năm; Trương
Ngọc Ninh với Biển khát; Mạnh Hùng với Biển vổ sóng về đâu; Phan
Thiết với Hoàng hôn trên phố biển, Điểm hẹn tình yêu; Phan Trọng với Tình
ca phố biển (thơ Trần Tư Ngoan); Trương Minh với Về biển (thơ
Hữu Thỉnh); Việt Hùng với Sóng ru biển hát; Kim Tuấn với Biển cạn; Lê
Vinh với Biển đêm; Duy Thái với Tìm tên anh trên bờ cát; Tuấn
Phương với Biển chiều; Hồng Nhung với Biển ngày mưa; Dương
Thụ với Ru em bằng tiếng sóng; Hoàng Lương (BR-VT) với Xuân
phố biển, Hàng Dương ngày trở lại, Điệu hò trên biển đêm; Quỳnh
Hợp với Về thăm biển quê em; Vĩnh Trí với Vầng sáng trên biển
khơi, Biển (thơ Xuân Diệu); Trọng Vĩnh với Giàn khoan và hoa lửa; Trần
Quang Lộc với Biển chờ ru tôi; Phan Thành Liêm với Thành
phố biển quê em; Phan Long với Có một chiều vàng và một chiều
mưa (thơ Hoàng Quý); Hồng Vân với Ra khơi; Duy Long với Tình
ca miền biển xanh, Biển hát cho em; Trần Tích với Biển và Em, Vũ
Thanh và Trần Quang Huy trong hai ca khúc cùng tên: Vũng Tàu biển hát, v.v…
Thành công hơn cả trong không gian nghệ thuật nầy có lẽ
là Tiếng rừng dương của Hoàng Hà, giải nhất ca khúc của Hội Nhạc sĩ
Việt Nam năm 2002, với giai điệu mênh mông, hoài niệm và ca từ “trong
veo” mà hàm súc, tác giả viết về biển đảo nhưng lại thổ lộ “niềm khắc khoải về
nỗi đời, phận người”.
Hai năm trở lại đây, chủ đề biển đảo và người lính bảo vệ Tổ
quốc lại được các nhạc sĩ dự Trại sáng tác Vũng Tàu quan tâm và thể hiện
thành công: Biển hát (thơ Triệu Nguyên Phong) của Minh Tiến; Hiên
ngang Hoàng Sa - Trường Sa của Nguyễn Văn Đại, Bản hùng ca người
lính của Lương Hoàng Minh; Hoa lồng đèn Côn Đảo của Hoàng Mạnh
Toàn, v.v...
Gần đây nhất, nhạc sĩ Nguyễn Hồng Sơn (BR-VT) đã sáng
tác một chùm 10 ca khúc về các chiến sĩ nhà giàn DK1: Tâm tình người
chiến sĩ canh giữ biển dầu, Màu xanh nhà giàn, Khoảng sân, Không nơi nào
đẹp thế đâu em, Thư đêm dàn khoan, những cánh thư màu tím, Hát qua bộ đàm…, trong
đó nhiều ca khúc được phát trong chương trình giao lưu văn nghệ "Nhịp cầu
tri âm" phát sóng ngày 14/5/2018 gây xúc động cho khán giả.
Trước đây, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiên cũng viết nhật ký bằng ca
khúc về hành trình ra Trường Sa và tập hợp 21 ca khúc sáng tác trong chuyến đi
thành cuốn sách Thương lắm Trường Sa với ca từ của anh hoặc thơ
của các tác giả: Nguyễn Thị Quyết Tâm, Thanh Chín, Mạnh Hà được công chúng vừa
mê thích, vừa mến phục… Còn nhạc sĩ Thế Hiển, con của nhạc sĩ Thế Song, tác giả Nơi
đảo xa, ca khúc về biển nổi tiếng trong thời đại chúng ta với ca từ rạo rực
tình yêu Tổ quốc và biển đảo quê hương, đã có 6 bài hát về Trường Sa gồm: Nỗi
nhớ đảo xa (thơ Lê Xuân Bắc), Vỏ ốc biển, Khúc hát tự hào HQ- 561, Tiếng
hát trên đảo Sơn Ca (phổ thơ Phan Hoàng), Biên cương biển đảo biên phòng và Lính
đảo Trường Sa.
Cho đến nay có thể nói, đề tài Trường Sa, Hoàng Sa đã
trở thành một tuyến đề tài định hình, có sức hấp dẫn cao đối với các nhạc sĩ
cùng công chúng yêu nhạc và yêu nước. Đề tài này đã sáng lên như một cột mốc chủ
quyền, như một ngọn hải đăng trước sóng gió biển khơi, nó gợi mở cho các thế hệ
nhạc sĩ Việt Nam và những người yêu âm nhạc, yêu biển đảo đi tiếp, viết tiếp,
sáng tạo tiếp về một tuyến đề tài luôn tạo ra những nguồn cảm hứng vô tận. Với
đà nầy, chắc sẽ có những tác phẩm lớn, bề thế, hoành tráng tương xứng với vị
trí của Biển đảo Việt Nam trong kỷ nguyên mới, góp một tiếng nói vào việc bảo vệ
chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của chúng ta.
Dù lãnh đủ nhiều hạn chế do hệ lụy của một nền âm nhạc thị
trướng bị thương mại hóa, nhưng công bằng mà nói, âm nhạc chuyên nghiệp Việt
Nam ngày càng phát triển, hội nhập với âm nhạc các nước trong khu vực và trên
thế giới. Do vậy, cuối năm 2014, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của Hiệp Hội các nhà soạn nhạc châu Á - Thái Bình Dương - ACL.
Cũng từ sau Đổi mới, 1986, do “cởi trói”, do “mở cửa”
rồi “thả cửa” của cơ quan quản lý văn hóa và các phương tiện thông tin đại
chúng chính thống, do trình độ, nhu cầu, “gu” thẩm mỹ âm nhạc của công chúng
trong một nền kinh tế thị trường, âm nhạc bị thương mại hóa, đã hình thành một
dòng ca khúc thị trường, mà ngoài những “điểm son” của nhạc nhẹ chính thống với
nhiều ca khúc giá trị được đông đảo công chúng say mê, “vết chàm” của nó là đẻ
ra đứa con lắm “khuyết tật”: nhạc sến trẻ với số lượng ca khúc
chiếm nhiều nhất trong các lĩnh vực sáng tác, quảng bá, biểu diễn và thửơng thức
âm nhạc. Từ đó, đời sống âm nhạc rơi vào tình trạng sôi động bề mặt nhưng
thiếu chiều sâu, thiếu những giá trị bền vững.
Có người lạc quan cho rằng: Chính sự rối ren, hỗn độn với những
thử nghiệm mới mẻ vẫn đáng mừng hơn một thị trường nhạc phẳng lặng, đơn điệu. Rồi,
những gì có giá trị, tất yếu sẽ tồn tại với đời sống. Những gì không phù hợp sẽ
bị quên lãng.
Có người lạc quan cho rằng: Chính sự rối ren, hỗn độn với những thử nghiệm mới mẻ vẫn đáng mừng hơn một thị trường nhạc phẳng lặng, đơn điệu. Rồi, những gì có giá trị, tất yếu sẽ tồn tại với đời sống. Những gì không phù hợp sẽ bị quên lãng.
Có người lạc quan cho rằng: Chính sự rối ren, hỗn độn với những thử nghiệm mới mẻ vẫn đáng mừng hơn một thị trường nhạc phẳng lặng, đơn điệu. Rồi, những gì có giá trị, tất yếu sẽ tồn tại với đời sống. Những gì không phù hợp sẽ bị quên lãng.
Nhưng, số đông công chúng, nhất là giới trẻ, kể cả lớp trẻ có
học, lại quan tâm, yêu thích các ca khúc thị trường ra đời một cách vội vàng, với
ca từ đơn giản, nhạt nhẽo, sáo rỗng, dễ dãi, lắp ráp và ước lệ có sẵn, có khi
thông tục…, với giai điệu dễ dãi, mòn sáo, đơn điệu, lặp lại mình, lặp lại người
khác, âm nhạc lai căng, thậm chí “lấy cắp” từ nhạc nước ngoài. Trước hết, “vết
chàm”, hạn chế cơ bản trong các ca khúc trẻ hiện nay vẫn nằm ở người
sáng tác. Có người đổ lỗi cho công chúng: do thị hiếu thẩm mỹ một số người ,
trong đó có lớp trẻ bây giờ chưa cao, có người thích nhạc tầm thường thì
có người viết nhạc tầm thường để đáp ứng nhu cầu tầm thường đó, theo kiểu “đi
với ma mặc áo giấy”. Mà quên rằng: Văn nghệ (chân chính) không thể “theo
đuôi quần chúng” mà phải định hướng, góp phần nâng cao thị hiếu, tình cảm thẩm
mỹ và khả năng cảm thụ âm nhạc cho công chúng.
Nhạc sĩ Dương Cầm, người nhận hai chiếc cúp ở hạng mục Nhà sản
xuất của năm và Nhạc sĩ của năm tại giải Âm nhạc Cống hiến
lần 13 - 2018, khi trả lời phỏng vấn: “Có phải nguyên nhân dẫn đến chuyện
“cẩu thả” và thiếu đầu tư sáng tạo trong sáng tác?” đã nói: “Tôi nghĩ một phần
lỗi do khán giả. Khán giả đón nhận mọi thứ dễ dàng quá, tiếp tay cho những sản
phẩm như vậy. Khán giả khó tính hơn thì tự nhiên những ca khúc kém chất lượng,
vòng đời ngắn hay sáng tác kiểu“cẩu thả”sẽ không còn nữa”. Nhưng sau đó, khi được
hỏi: “Nhưng trách nhiệm định hướng khán giả lại nằm ở chính các nghệ sĩ, nhạc
sĩ?”, anh lại thừa nhận: “Thiên chức của người nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ
trong âm nhạc… là mang đến cho khán giả những cái hay, cái đẹp, những thứ thuộc
về “chân thiện mỹ. Không thể bắt khán giả ngày nào cũng ăn cơm bụi, phải cho
họ thưởng thức món ăn ngon, mới lạ và có giá trị độc đáo. Đó là trách nhiệm của
một người nghệ sĩ.”
Chuyên mục CA NHẠC THỊ TRƯỜNG ĐƯƠNG THỜI này
tương đối dài so với các phần khác nên được phân ra, trình bày theo 4 tiểu
mục:
1. Nhạc sĩ và ca khúc thị trường hôm nay.
2.Quảng bá ca khúc thị trường hiện
nay.
3. Ca sĩ thị trường ngày nay.
4. Công chúng ca nhạc thời nay.
Kỳ 1: NHẠC SĨ VÀ CA KHÚC THỊ TRƯỜNG HÔM NAY.
1.“Thợ làm nhạc”:
Với thâm niên 60 năm trong nghề, nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9,
tác giả của mấy chục ca khúc được nhiều thế hệ say mê, như: Ai
đưa em về, Biệt khúc, Bơ vơ, Buồn ơi chào mi, Chia phôi, Cho người tình xa, Cô
đơn, Đêm nay ai đưa em về, Đêm tình yêu, Không, Một lời cuối cho em, Tình khúc
chiều mưa, Trọn kiếp đơn côi, Xin đừng nói yêu tôi, Xin như làn mây trắng… cho
rằng thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay thiếu tính nghệ thuật. Ông nói:“Việt Nam
hiện tại chỉ có giải trí, không có nghệ thuật. Bây giờ, nhạc để xem nhiều hơn
là để nghe. Người ta làm giải trí kiếm tiền, coi qua rồi bỏ chứ hiếm người tâm
huyết làm nghệ thuật. Điều này khiến tôi buồn lắm vì con đường nghệ thuật của
mình không có những người chung chí hướng để làm tốt vai trò nghệ sĩ”. Ông cũng
nói đến sự khác biệt giữa thế hệ trước như ông với giới nhạc sĩ Việt
hiện nay: “Hồi xưa, người nhạc sĩ viết ca khúc từ những cảm xúc thật của họ, họ
viết ra để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cho mọi người chứ họ không viết nhạc để
bán. Còn bây giờ, nhạc sĩ viết nhạc theo yêu cầu đơn đặt hàng nên âm nhạc không
có hồn, không có cảm xúc thật của người sáng tác”.
Hình như một số không ít nhạc sĩ trẻ hiện nay không được
đào tạo qua trường lớp, nhiều người không có tay nghề âm nhạc (tay
ngang) nhưng có tay khác, chẳng hạn tay trong, tay ngoài dài hơn…, “đâm ngang”
viết ca khúc, rồi có điều kiện tiếp thị, quảng cáo rầm rộ bởi “công nghệ lăng
xê” và khả năng tài chính. Người viết vừa thiếu kiến thức về nhạc lý,
lại vừa thiếu kinh nghiệm xử lý trong cả về giai điệu, tiết tấu lẫn ca
từ, mà có người gọi họ là “thợ làm nhạc”. Môi trường âm nhạc bị làm cho ô
nhiễm bởi những tay “thợ làm nhạc” nầy. Họ làm nhạc rất nhanh và rất nhiều,
theo đơn đặt hàng rẻ mạt của các ca sĩ hay các nhà thầu âm nhạc. Nên đẻ ra một
hiện tượng trái quy luật là, trước kia các nhạc sĩ tạo ra ca sĩ; còn hiện nay ở
ta, nhiều nữ ca sĩ ngôi sao "đẻ" ra nhạc sĩ, nhiều nhạc sĩ nổi lên nhờ
"ăn theo" ca sĩ.
Thợ làm nhạc” không cần cảm xúc để sáng tác và cũng chẳng cần
tìm kiếm giai điệu hay đẹp, mà chỉ dùng kỹ thuật điện tử để tạo âm thanh cho những
câu nói đời thường theo phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Vì thế đã sản sinh những
bài ca với giai điệu trúc trắc ngang phè, với lời ca thô thiển, dung tục, giản
đơn.
Có nghe một chuyện như cổ tích: một “nhạc sĩ” dùng một
phần mềm vi tính, đưa ca từ là câu chữ được lắp ráp từ các bài thơ cùng chủ đề
trên báo chí và trang mạng vào máy vi tính, rồi khởi đông chương trình, máy vi
tính hoạt động một thời gian là báo DONE, nhạc phẩm hoàn thành và sẽ có khách
hàng mua!
Ca từ dễ dãi, thiếu lành mạnh, tục tĩu hoặc sáo rỗng, vô
nghĩa… đang có dấu hiệu bùng phát. Nhiều ca khúc có ca từ quá nhố
nhăng, lố bịch, thậm chí tục tĩu như: MV (music video) Oh my
chuối: "Em thích chuối tây, chuối ta. Anh mang chuối cho em nha. Đêm
nay ta quẩy trong bar”. Có những viết về “đàn ông, đàn bà” bởi các
“nhạc sĩ thị trường” Việt Nam mà ngay từ tựa đề bài hát ta đã có
thể đóan được nội dung ca từ và người viết như thế nào: Hận
người đàn bà vì tiền quên tình của Duy Biên, Người đàn ông
không cần đàn bà của Đình Văn: “Tôi là người
đàn ông không cần đàn bà nào nói yêu tôi, tôi là người đàn ông cũng
vì đàn bà mà giờ ném chua cay…”. Không chỉ có thế, còn rất
nhiều ca khúc mang tựa đề rất “ngộ nghĩnh”: Kiếp xì ke, Kẻ cá
độ của Hồ Minh Duy, hoặc tựa đề khó hiểu chỉ cần
nghe qua là đã tò mò muốn thử như: Đ.C.M.A, Đ.C.M.E, Quăng tao
cái boong… Đặc biệt hơn là ca khúc Kiếp đánh đề do Hồ
Minh Duy thể hiện: “Nói nghe nè, là ngày hôm qua đó, tôi nằm mơ thấy
con cầy cắn tôi, chó nhỏ 11 chiều nay nó sẽ ra, bạn hãy đánh bao lô
11 đi…” ca từ rất khô cứng, nhạt nhẽo, thô thiển, đó là chưa kể đến
giai điệu quá đơn giản của ca khúc.
Nhiều nhạc sĩ trẻ vẫn chưa chú trọng đến tính hình
tượng trong ca từ của chính mình. Bởi lẽ đó, các bài hát chỉ có thể
“lắng đọng” trong tai người nghe một thời gian ngắn, không “ăn đời, ở
kiếp” với người nghe được. Nhiều ca khúc thị trường được viết trong
một thời điểm tức thời, theo kiểu “mì ăn liền” chưa đáp ứng được yêu
cầu nghệ thuật của một ca khúc thực sự, khác xa với thời gian trước
đây, thời gian nhạc xưa lên ngôi. Mặc dù giai điệu không sôi nổi, đa
dạng như hiện tại, nhưng bù lại, từng lời, từng nốt nhạc trong ca
khúc đều được các nhạc sĩ trau chuốt rất kỹ
lưỡng.
Tình yêu bao giờ cũng cao đẹp, lãng mạn, ca khúc viết về tình
yêu cần có giai điệu và ca từ phù hợp, nhưng trong các ca khúc viết về
tình yêu hiện nay, cả ca từ lẫn giai điệu không được mượt mà, chưa có
sự trau chuốt. Tình yêu trong loại nhạc nầy quá xô bồ, ca từ để
viết về những chuyện tình rất hạn hẹp, thô ráp, không có ẩn dụ, hình ảnh,
liên tưởng, khó nhận thấy vẻ đẹp thiêng liêngcủa hai chữ “tình
yêu”. Tình yêu không có sự lãng mạn, cứ thẳng thắn, bộc trực,
như câu: “khóc thật nhiều cho vơi niềm thương đau/ Có nhau rồi, rồi
lại mất nhau/ Vòng tay em vui với ai hay chăng chốn này, duyên tình tan
nát…” (Chợt khóc - Huỳnh Phong). Hay là một sự hiện đại
hóa tình yêu cũng được thể hiện trong các ca khúc trẻ: “tình yêu
như chiếc điện thoại bỏ sim ra ngoài…” (Điện thoại yêu sim - Nhất
Trung). Tình yêu thời hiện đại được dạng ca khúc nầy thể hiện thật khủng khiếp,
như chuyện mua bán ở nhà hàng mà giá cả chưa thỏa đáng nên giận dữ tuyệt tình:“Dốc
hết tình nầy trả nợ người/ Trả hết, trả hết cho người…” (Trả nợ tình
xa - Tuấn Khanh). Chưa nói đến ca từ có chỗ giống tình khúc nổi tiếng Trả
hết cho người của Lê Hựu Hà.
Con gái thời hiện đại mạnh mẽ, thẳng thắn, có khi bỗ bã,
nhưng không phải là tất cả. Nhưng những tính cách ấy lại được tô đậm, còn đức
tính đảm đang, trung hậu của họ ít được nói tới, như các nhạc sĩ Trần Tiến và
Thanh Tùng trong hai ca khúc cùng tên, Chị tôi đã phản ánh phẩm chất
thảo hiền, hy sinh cao cả của người phụ nữ. Tình yêu của phái nữ được thể hiện
như một sự liều lĩnh, táo bạo, sỗ sàng đến mức chỉ tìm thấy ở gái giang hồ: “Em
vẫn nhớ anh nhớ phút ân ái, làn tóc xõa môi hôn thật sâu…” (Tình xa khuất - Trường
Huy). Dù điều ấy là có thật ở ngoài đời nhưng có nên đưa vào ca từ để khi
hát lên lại được coi là thiêng liêng, hạnh phúc nhất của tình yêu không!
Tình yêu dẫu có vẹn tròn hay dang dở, dẫu có buồn, có tiếc nuối,
thì vẫn cứ sống, cứ làm việc và vẫn nâng niu những kỷ niệm một thời chứ không hận
thù rên rỉ, đòi sống chết như một nhạc sĩ trẻ viết Phải chăng tôi yêu nhầm
người, Tôi đã lầm tin em (Thái Khang)... Tình yêu muôn đời vẫn rất
đẹp, nhưng nhiều bài hát "mì ăn liền" bây giờ đã tầm thường hóa tình
yêu đi rất nhiều...
Có lẽ chưa bao giờ số lượng nhạc trẻ lại xuất hiện
ồ ạt như hiện nay. Chính vì sự ồ ạt đó đã tạo nên những ca khúc
sáo rỗng về lời ca, và tầm thường về giai điệu như ca khúc Làn Da
Nâu của Nhật Đăng. Bài hát chỉ vỏn vẹn có mấy câu được
Phi Thanh Vân lặp đi, lặp lại một cách nhàm chán, không rõ nội
dung khi trình bày: “Em có một ước ao, em có một khát
khao, làn da nâu, làn da nâu…”. Hoặc có những bài hát đã trở thành
thảm họa của âm nhạc như Vọng cổ teen, tân nhạc và cổ nhạc xen lẫn
vào nhau không “giao duyên” chút nào, nội dung lại không rõ ràng, vô
nghĩa. Còn nhiều nữa: các ca khúc như: Không phải dạng vừa đâu, Anh
không đòi quà, Chỉ có em… từng có độ phủ sóng cao trong giới trẻ, cũng bị lên
án bởi ca từ dễ dãi, vô bổ, tầm thường. Thậm chí, ca khúc Số nhọ của
nhóm Lip B còn khiến người nghe giật mình bởi những câu hát ngớ ngẩn như: “Hẹn
anh trên zalo/ thấy anh chạy ô tô/ em cũng thấy thích thích/ nhưng em chỉ sợ là
em phô/ Nào ngờ anh ngỏ lời/ Làm con tim em rối bời/ Ôi trời ơi, trai đẹp…”. Không
những mượn giai điệu nhạc ngoại, mà ca từ cũng thường chen vào những câu chữ nước
ngoài nên nghe rất lợn cợn như: “You say you come to me nên anh rã rời” (Ngọt
ngào - Lương Bằng Quang), “I don’t know, người ta nói hạnh phúc sẽ chẳng
bao lâu” (Cho ta gần nhau hơn - Chipu), “Sarang hayo, đó chính là lời
yêu anh trao” (Lời yêu đó - HKT). Vậy mà được đông đảo giới trẻ
đón nhận một cách thích thú.
Nói như NS Nguyễn Thị Minh Châu, Phó Chủ tịch Hội Nhạc
sĩ Việt Nam trong chuyên đề “Âm nhạc thời kinh tế thị trường và thời hội
nhập (phần 1)”: “Nhạc trẻ đang kém chất lượng vì nội lực (nội tâm) của nhiều
người viết quá non yếu, cụ thể là non về trình độ kiến văn, nhân sinh quan, thế
giới quan..., đồng thời vốn liếng về kỹ thuật trong âm nhạc còn quá ít thì chuyện
lai căng, vay mượn là dĩ nhiên. Nhạc trẻ đang thiếucái nhìn có quan điểm về con
người, cuộc sống, thế giới, vì thế rất cần những người cầm đuốc dẫn đường, xóa
bỏ cái lối theo thị hiếu dễ dãi”.
Rồi vài vụ lùm xùm xung quanh việc các vụ vi phạm Luật ở
hữu trí tuệ thông qua việc “nhạc sĩ” đạo thơ và ca sĩ đạo nhạc. Nhiều
lắm, chỉ kể vài vụ tiêu biểu thôi! Chẳng hạn, Khi chúng ta già của
Phạm Hồng Phước do ca sĩ chuyển giới Hương Giang thể hiện được chờ đón của
không ít người hâm mộ trong dịp Lễ Tình nhân năm 2014, nhưng ngay lập tức cộng
đồng mạng đã nhanh chóng nhận thấy đến 80% ca từ của ca khúc này là nội dung một
bài thơ được đăng trên mạng xã hội cách đó gần 1 năm của Nguyễn Thị Việt Hà (Tạp
chí Văn nghệ Cà Mau). Và Việt Hà đã khởi kiện… Rồi chuyện nhà thơ trẻ Vi
Thùy Linh đòi rút toàn bộ lời thơ trong seri ca khúc Nhật thực của
Ngọc Đại và nhạc sĩ phải tự làm lại lời ca cho những ca khúc bị Vi Thuỳ Linh
rút lại lời thơ. Thế là các ca khúc bỗng trở thành “ông Chằng bà Chuộc”chẳng ra
thế nào nữa.
Ngay các hãng sản xuất và phát hành ca nhạc và ca sĩ
chuyên nghiệp cũng vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ. Vừa khi ca sĩ Đàm
Vĩnh Hưng giới thiệu album Tình ca 50, nhạc sĩ Tâm Anh đã gửi đơn khiếu nại
khẳng định rằng nhạc phẩm Phố đêm trong album chính là sáng tác của
anh chứ không phải là của một tác giả khác như bìa album đã ghi. Theo đơn
khiếu nại của nhạc sĩ Tâm Anh thì nhiều ca từ đã bị sửa để ghi âm như: năm
tháng cách xa nhà (thay vì tuy lính chiến xa nhà) và vai áo bạc
phai màu (thay vì chinh chiến từ lâu rồi)... Đã vậy, tờ bướm kèm theo
đĩa đã ghi lời ca sai ý của người sáng tác như: ghi nhớ thành khi
nhở; mây đen thành mây đêm; ngàn người thành ngàn lời; lạc
loài thương yêu thành lạc loài hương yêu; giá lạnh ướt thêm thành giá
lạnh ướt mềm… Nhạc sĩ “yêu cầu quý cơ quan chức năng xem xét thu hồi
hoặc chỉnh sửa lại album Tình ca 50 do ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng thực hiện, và có hướng
xử lý việc vi phạm tác quyền này”.
Trả lời báo Thanh Niên, Đàm Vĩnh Hưng “xin nhạc
sĩ Tâm Anh lượng thứ, do sự non trẻ nên tôi đã không kiểm chứng lại tên tác giả
của ca khúc trên”. Nhưng anh cho biết: Toàn bộ ca khúc trong album Tình
ca 50 cũng như ca khúc Phố đêm là do Trung tâm băng nhạc Lạc Hồng
và anh xin phép từ danh mục ca khúc (có ghi tên tác giả khác) được phép
phổ biến của Sở VH-TT TP.HCM và của Bộ VH-TT. Và: “Cũng xin nói ngay rằng
trước khi ra mắt công chúng, toàn bộ danh mục bài hát, tác giả ca khúc, bìa đĩa
trước đã được Trung tâm băng nhạc Lạc Hồng và tôi trình với các cơ quan văn hóa
xét duyệt”.
Như vậy thì lỗi tại ai? Cơ quan văn hóa hay Trung
tâm băng nhạc Lạc Hồng và anh? Hay là cả hai? Và là sự vô tình, hay cẩu thả,
hay tắc trách trong quản lý, sáng tạo nghệ thuật? Hay là cả ba?
4. Nhạc chế:
Cũng liên quan đến vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ là nhạc
chế, tức tác phẩm phái sinh. Nhạc “chế” tồn tại trong đời sống xã hội
như một dạng văn nghệ dân gian, cũng tương tự như chuyện tiếu lâm, chủ yếu là
truyền khẩu, giúp mọi người giải trí vui vẻ trong phạm vi từng cộng đồng nhỏ hẹp.
Những ca khúc chế lời trên thực tế rất có sức hút đối với người nghe, nhất
là khi nội dung lời ca có tính hài hước, gắn với một sự kiện, vấn đề nào đó mà
dư luận đang rất quan tâm. Kiểu như Hà Nội mùa này phố cũng như sông chế
lại từ bài Hà Nội mùa vắng những cơn mưa (thơ Bùi Thanh Tuấn) của nhạc
sĩ Trương Quý Hải; Huyền thoại mẹ của Trịnh Công Sơn chế thành Huyền
thoại rượu: “Đêm trong mùng nằm nhớ rượu… Rượu là rượu mà bia là
bia… Bạn là bạn mà ta là ta”… Hay chỉ là giải trí đơn thuần, “tếu rẻ tiền”
như Và tôi cũng yêu ăn do Bùi Nhật Anh chế lại lời của bài hát Và
tôi cũng yêu em (Đức Huy); Hoặc ca khúc Sáu mươi năm cuộc đời nổi
tiếng của nhạc sĩ Y Vân được Chí Tài biểu diễn bằng những lời chế hài hước và
thông tục như sau: “Cô Lan tóc mái ngang/ Dáng cô không đụng hàng/ Nên anh mơ
màng/ Ngây ngất yêu Xuân Lan/ Khi anh yêu Lan thì anh yêu thật lòng/ Lan ơi,
anh hứa sẽ ngoan/ Lan ơi lấy anh nha/ Sống đến khi mình già/ Anh sẽ mua nhà,
mua xế cho em nha/ Anh đi bôn ba rồi kiêm luôn việc nhà, Lan ơi anh muốn làm
cha...”…
Nhưng, mấy năm gần đây, nhạc chế (được xem là tác
phẩm phái sinh) được sử dụng khai thác với mục đích kinh doanh hay giải trí
trên các trang mạng như YouTube, Nghe nhạc trực tuyến… thì hiện tượng
đã khác khi chuyển sang vấn đề vi phạm quyền tác giả theo nhiều điều khoản của
Bộ luật Sở hữu trí tuệ 2004, bởi hành vi cắt xén, sửa đổi, công bố tác phẩm mà
chưa có sự đồng ý của tác giả (lúc nầy được gọi là tác phẩm phái sinh bất
hợp pháp). Điều đáng phàn nàn là từ Internet, các tác phẩm phái sinh bất hợp
pháp nầy bắt đầu lan lên sân khấu và rồi “lấn sân” sang truyền hình với
các chương trình: Bạn có thực tài, Gặp nhau cuối năm- Táo quân VTV,
Ơn giời cậu đây rồi (VTV3), Cuộc sống thường ngày (VTV1)… và sau nầy
là Bí mật đêm chủ nhật (HTV7)…
Đáng buồn hơn là trước đây, khi nhạc chế mới manh nha xuất hiện,
bên cạnh những bình luận hưởng ứng góp vui, vẫn còn có một bộ phận không
nhỏ khán giả “ném đá” vì chế nhạc sẽ làm mất ý nghĩa và giá trị của ca khúc, nhất
là với những ca khúc nổi tiếng. Nhưng ngày nay, nhạc chế được người ta hưởng ứng
và rất ít người soi xét nữa, thậm chí kể cả khi những ca từ chế lại mang nội
dung nhố nhăng, thô tục, nhảm nhí, phản cảm. Không những thế, việc nhạc chế cứ
liên tục xuất hiện trên sóng truyền hình dễ khiến người ta nhầm tưởng đây là một
sự “sáng tạo” hợp pháp và được ngợi khen.
5. Nhạc chế Phật giáo:
Không thể không nhắc đến một loại nhạc chế khác cũng đang được
phổ biến rộng rãi gây phản cảm lớn: nhạc chế về đề tài Phật giáo - nhạc
“đạo” (ăn cắp) nói về “đạo”. Nhiều bản nhạc cũ nổi tiếng được người ta,
trong đó có người xưng là tu sĩ, nhưng không biết là thật hay giả, đặt lời lại
với nội dung nói về tam bảo, ngũ giới, những điều răn dạy, giá trị Phật
pháp và lợi ích của sự tu học, cách tu hành… của người Phật tử, với ca từ
dân giả, phổ thông phù hợp với lớp người bình dân theo đạo Phật.
Các ca khúc dạng nầy được dàn dựng và quay phim nghiêm
chỉnh thành DVD, DVD Karaoke hoành tráng phóng lên nhiều trang mạng,
trong số đó trang youtube còn ghi: “Giấy phép chuẩn của YouTube”. Các
DVD, DVD Karaoke này “nghiêm túc” ghi tên mới của bài hát, tên “Tác
giả sáng chế lời”, như cách họ gọi (nhưng có khi quên đi tên tác gỉa
và nhạc phẩm nguyên bản) như: Thích Giác Thanh, Thích Trí Giải, Minh Kiết,
Thầy Pháp Hòa…, với cả tên của người hát như: Thanh Trì, Phạm Anh Thư, Tú Anh
và cả “ca sĩ” có tên vừa sến sẩm, vừa lai căng: NguoiDep Diamond…
Có hằng trăm bài như thế: Phố đêm của Tâm
Anh thành Bình bát như lai; Chuyện hoa sim (ý thơ Hữu Loan)
của Anh Bằng thành A na luật (với tít phụ Thiên nhân đệ nhất) của
Thích Trí Giải; Thành phố buồn của Lam Phương thành Giải thoát;
Con đường xưa em đi của Châu Kỳ thành Con đường đi Tây phương… của
Thích Giác Thanh; Chiếc áo bà ba của Trần Thiện Thanh
thành Chiếc áo cà sa; Rước tình về với quê hương của Hoàng Thi
Thơ thành Con theo cha Di Đà của Minh Kiệt; Vó ngựa trên đồi
cỏ non của Giao Tiên thành Ăn cơm chay ở chùa của Nguyễn
Văn A; Tội tình của Hàn Châu thành Vắng bóng ân sư; Trăng
tàn trên hè phố của Phạm Thế Mỹ thành Giác ngộ; Xin anh giữ trọn
tình quê của Duy Khánh thành Con giữ trọn đạo mầu; Đêm buồn tỉnh
lẻ của Bằng Giang thành Con về chùa; Chút kỷ niệm buồn thành Kỷ
niệm ngày xuất gia.… Các trang mạng ghi công khai: “Tuyển nhạc chế lời Phật
giáo”, “Nhạc chế lời karaoke Phật giáo”, có khi còn rút tít rất “sân si”: TỔNG
HỢP NHẠC CHẾ PHẬT GIÁO TUYỆT HAY, TUYỂN TẬP NHẠC CHẾ PHẬT GIÁO
TUYỆT VỜI… với mỗi tệp từ mười mấy đến mấy chục bài. Có DVD ghi hẳn: NHẠC
PHẬT GIÁO CHẾ LỜI THEO NHẠC VÀNG XƯA, có kèm theo câu tiếng Anh hẳn
hoi: “Buddhist music word processing under the old gold ban”.
Hầu hết nguyên gốc các bản nhạc chế Phật giáo là nhạc
vàng đang được công chúng bình dân hiện nay yêu thích. Có khi một
nguyên bản được chế thành 2,3 bản, rồi “vô tư” đưa lên mạng, như các bài Rước
tình về với quê hương của Hoàng Thi Thơ và Nối lại tình xưa của Vinh
Sử & Ngân Giang ít nhất có 3 dị bản. Còn một ca khúc biến thành 2 bản
nhạc đạo thì nhiều: Chuyện hoa sim của Anh Bằng thành Thiên nhân
đệ nhất của Thích Trí Giải và một bản khác là Đức Phật Niết bàn;
Tội tình của Hàn Châu thành Vắng bóng ân sư và Đói
khát giữa dòng nước lũ...
Các “nhạc sĩ” nầy đánh trúng thị hiếu của lớp công chúng nầy
khi không quên dòng nhạc dân ca và nhạc ngoại. Trước đây đã từng có môt
vài vị nhạc sĩ Phật giáo bị tai tiếng, vì không ngần ngại cho ra lò vô số cái gọi
là những bài lý dân ca mang nội dung đạo Phật mà không phân biệt được cái gì là
Lý của dân ca, Lý của hệ thống đàn ca Tài tử Nam bộ, và những bài Lý có chủ
nhân đàng hoàng của nhạc sĩ Cao Văn Lý, Lê Anh Trung..., các bài Lý thuộc
bộ sưu tầm dân ca của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ và nhà thơ Lê Giang, tự tiện
đặt lời mới vào thành: Lý ăn chay, Lý đốt nhang, Lý đọc kinh,
Lý phá chùa, Lý đập tượng vv… Ngày nay, nhiều dân ca đã được “đạo”
thành nhạc đạo: Lý ngựa ô Nam bộ điệu bắc quen thuộc chuyển hóa
thành Chuyển hóa tập khí; Qua cầu gió bay; một bài dân ca Quan
họ thành Thảnh thơi; một bài dân ca Bắc Bộ khác
thành Trống chuông, v.v…
Nhạc ngoại cũng không bị từ: các bài nhạc đạo Hãy
thôi làm khổ cho nhau, Bến bờ an lạc, Niềm đau tháng năm theo chiều
lá bay có quốc tịch là Trung Hoa, trong đó Hãy thôi làm khổ cho
nhau, có nguồn gốc là Alishan de gu niang (Cô gái núi Ali) rất
phổ biến do ca sĩ nổi tiếng Trác Y Đình (Timi Zhuo) thể hiện.
Bài hát thiếu nhi có nội dung ngây thơ vô tư, giai điệu trong
sáng hồn nhiên như lứa tuổi các em, Em bé quê nổi tiếng của Phạm Duy
được sửa lời thành 2 bài hát “đạo”: một bài là: Ai bảo ăn chay
là khổ của Hoàng Duy có lời mới là: “Ai bảo ăn chay là khổ, ăn
chay vui lắm chứ. Vì từ bi tấm lòng vị tha vì thương xót chúng sinh. Không lấy
sát sinh làm vui mà dùng chay thanh khiết…”, một bài là Ai
bảo đi tu là khổ có lời mới còn “thô sơ” và “dân gian” hơn: “Ai
bảo đi tu là khổ, đi tu sướng lắm chứ. Ngồi tụng kinh, cái đầu rung rinh và đôi
mắt lim dim. Năm tháng không lo chuyện chi ngoài công phu chấp tác. Cứ mỗi năm
ba má đến thăm mang bánh qùa đầy mâm…” do một người tự xưng là Thầy
Pháp Hòa viết. “Thầy” nầy còn viết lời mới cho mấy chục ca khúc
nữa với ca từ lợn cợn như thế: Những đồi hoa sim (thơ Hữu Loan) của
Dzũng Chinh thành Những lời kinh thiêng; Duyên kiếp cầm ca của
Minh Kỳ thành Tâm hạnh người tu; Chuyện tình Lan và Điệp của Lê
Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng thành Mục Liên cứu mẹ; Đời
tôi cô đơn thành Đời thôi cô đơn; Con đường xưa em đi của Châu Kỳ
thành Con đường xưa ta đi; Câu chuyện đầu năm của Hoài An
thành Sân trước cành mai; Duyên kiếp của Lam
Phương thành Trợ duyên; Trúc đào (thơ Nguyễn Tất Nhiên) của
Anh Bằng thành Cội Bồ đề; Rước tình về với quê hương của Hoàng
Thi Thơ qua ‘sáng chế” lời của Thầy Pháp Hòa thành Đưa nhau về bến
tâm linh… Có bài chỉ mất tên nhạc sĩ cũ và lời cũ thôi, còn tựa cũ vẫn được giữ
nguyên gắn liền với tên “Thầy” như: Qua cơn mê của Trịnh Lâm
Ngân (bút hiệu ghép của 3 người: Trần Trịnh, Lâm Đệ, Nhật Ngân); Nối
lại tình xưa của Vinh Sử & Ngân Giang nhưng lại không quên ghi rõ
ràng, công khai, minh bạch tên “Thầy” và cả “nhãn”: Ca Khúc Phật Giáo…
Xét về khía cạnh nghệ thuật, lời bài hát cải biên, nôi dung
nghe có vẻ rất Phật giáo, nhưng ca từ không ổn, không có nét trau chuốt của
ngôn ngữ nghệ thuật, bởi lời chủ yếu là làm sao hợp với nhạc điệu bài hát
mà thôi, như: “ngồi tụng kinh cái đầu rung rinh”, “ăn chay không sợ bệnh
đau, ăn chay chỉ tốn rau”… Mặt khác, có nhiều bài nhạc Phật giáo mới sáng tác
(có tên tác giả) được phổ biến rộng thậm chí như là bài hát tiêu biểu bởi ca từ
rất đẹp, rất ý nghĩa, nhưng nhạc điệu, sao vẫn thấy quen quen, giống như một
giai điệu của bài hát nào đó đã phổ biến trước đây.
Xét về khía cạnh văn hóa và tôn giáo thì việc hát nhạc cải biên
phải chăng đã vô tình làm mờ nhạt giá trị một tôn giáo được đánh giá là tôn
giáo của trí tuệ, một tôn giáo phù hợp với khoa học, chứa đựng những triết lý
cao siêu đậm chất nhân bản. Với phong trào hát nhạc cải biên, những sản
phẩm chấp vá, lai tạo trong Phật tử phải chăng đã vô tình làm nghèo nền văn hóa
Phật giáo và cũng đã vô tình làm hình ảnh Phật giáo, hình ảnh tăng lữ, sự tu tập
trở nên thiếu trang trọng, trang nghiêm. Vì đã là nhạc Đạo thì cần phải
nghiêm túc và càng khó chấp nhận những gì đi ngược lại đạo đức, Giáo
pháp.
Chưa nói đến vấn đề phạm pháp khi “đạo nhạc” là vi phạm luật
Sở hữu trí tuệ, và việc phạm giới khi ăn cắp nhạc, giới thứ 2 trong Ngũ giới
(năm điều răn không được làm của mà Phật tử đã quy y hoặc
phát nguyện), những bài ca lợn cợn giữa đời và đạo, hỗn mang giữa chính và tà,
giữa thẩm mỹ chân chính và sự thông tục tầm thường với lời ca thường là thô thiển,
dung tục không hợp với đạo lý cao siêu, thậm chí còn không hợp được với chất trữ
tình, lãng mạn, trong veo của giai điệu bản nhạc, có khi ca từ ẩn chứa những
triết lý uyên nguyên, cao siêu, thanh thoát của đạo Phật lại không phù hợp với
giai điệu chậm buồn, yêu thương, tiếc nuối, da diết…, có lúc sướt
mướt, sến sẩm, ủy mị, quằn quại, khổ đau, bi sầu, rên rỉ… của một điệu
nhạc bình dân thưở nào là quá phản cảm. Điều đó làm tha hóa, xuống cấp đi thị
hiếu, xu hướng thẩm mỹ của một tầng lớp công chúng yêu văn nghệ có xu hướng đạo
đức hướng thiện.
Trước đây, nhạc loại này tưởng chỉ có truyền nhau nghe với
đàn guitar thùng ca thu trực tiếp, sang băng cho nhau thì khác. Sau này trên mạng
đầy rẫy những DVD và DVD Karaoke hổ lốn như thế thì mức độ và bản chất sự việc
đã khác rồi. Thậm chí, có bản còn giả giọng giống như ca sĩ nổi tiếng đã từng
hát bài hát nguyên gốc ngày xưa. Rồi có quý Tăng Ni đưa nhạc chế tác cải biên
Phật giáo vào những đĩa giảng pháp của mình và tệ hại hơn là bài giảng pháp đó
nói về đạo đức, nói về việc giữ giới của cư sĩ và tu sĩ và như vậy vô tình những
bài hát đó trở thành những điều mâu thuẫn so với những lời giảng
pháp của quý giảng sư. Các trang mạng có đăng tin: một số tăng ni sinh của
Học Viện Phật giáo VN cũng chuyền tay nhau, phân phát cho nhau từng xấp DVD loại
này. Có người coi đó là biểu hiện thường tình của thời “mạt pháp”! Thật đáng lo
ngại biết bao!
Nhưng cũng mừng thay là nhiều trí thức trong Phật tử và tu sĩ
Phật giáo đã lên tiếng chân tình góp ý với Giáo hội và Phật tử về vấn đề nầy.
Trong đó có đề xuất với Ban Văn hóa Giáo hội Phật giáo VN cũng cần nên xem
xét, chấn chỉnh về nhạc đạo hiện nay và cần có kế hoạch về vận động, hỗ trợ, hợp
đồng sáng tác những ca khúc Phật giáo có ca từ đẹp, phù hợp về giai điệu, phù hợp
loại hình sinh hoạt hay biểu diễn, đúng ý nghĩa là nhạc đạo. Rồi chọn lọc, phát
hành, phổ biến chính thức rộng rãi đến đại chúng những bài hát tiêu biểu
Phật giáo, góp phần xây dựng nền văn hóa nghệ thuật Phật giáo cao đẹp.
Mong rằng khi được chấn chỉnh, Phật tử sẽ có những ca
khúc về Phật giáo giá trị như Mừng ngày Đản Sanh của Nguyên
Thông, ca khúc chính thức cho ngày Phật Đản. Xin nói thêm: Nguyên
Thông là bút hiệu khác của nhạc sĩ Thông Đạt, tức Văn Giảng khi ông viết những
ca khúc Phật giáo. Dưới bút hiệu này, ông đã sáng tác khoảng vài chục ca
khúc về Phật giáo, đóng góp không nhỏ cho nền Phật nhạc của Việt Nam: Từ
Đàm quê hương tôi, Mừng ngày Đản Sanh, Ca Tỳ La Vệ, Vô thường, Hoa
cài áo lam… Hoặc như ca khúc Mừng Khánh Đản và cả Tuyển tập nhạc
Phật giáo gồm 25 bài của Lê Mộng Nguyên, tác giả ca khúc Trăng mờ bên
suối (1948) bất hủ, đều được viết trước năm ông 20
tuổi đã được Giáo hội Phật giáo Việt Nam xuất bản năm
1989.
Càng mừng thay là gần đây người có trách nhiệm của các Trung
tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc và các Sở VH-TT đã lên tiếng. NS Phó Đức
Phương, Giám đốc Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN cho biết, chế nhạc
thực chất là một hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền tác giả: “Việc
đưa những lời đùa bỡn vào trong âm nhạc đã có từ rất lâu rồi, nhưng nếu nó chỉ
tồn tại trong một phạm vi nhất định, mang lại tiếng cười nhất thời thì được.
Tuy nhiên, khi nó trở thành một kênh truyền bá chính thống thì là vi phạm luật
pháp về quyền tác giả, gồm quyền nhân thân và quyền tài sản”.
Theo NS Đinh Trung Cẩn, Giám đốc Trung tâm Bảo vệ quyền tác
giả âm nhạc tại TP HCM thì Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc VN thời gian
qua cũng đã tiến hành nhiều biện pháp, trong đó có việc yêu cầu các website gỡ
bỏ những tác phẩm có hành vi xâm phạm quyền tác giả. Còn ông Võ Trọng
Nam, Phó Giám đốc Sở VH-TT TP. HCM, khẳng định: “Sở không bao giờ cấp
phép cho những chương trình biểu diễn nhạc chế và cũng không cấp phép cho ca
khúc đổi lời ca. Nếu không có sự đồng ý của tác giả thì rõ ràng đó là hành vi
phạm pháp”. Nghe “nói” thì đáng mừng, nhưng công chúng yêu âm nhạc
chân chính đang mong chờ thấy “làm”, sự ra tay của các cơ quan có trách nhiệm
quản lý văn hóa, văn nghệ. Wait and see: Hãy đợi đấy!..
6. “Nhạc sến đỏ”:
Giai đoạn nầy còn có một loại nhạc được gọi là nhạc sến
đỏ. Đó là loại nhạc, mà giá trị âm nhạc lẫn ca từ đều không cao, không có sự
sáng tạo, nhưng nội dung rất cách mạng. Giai điệu thì nghe quen tai như
tiếng nói người thân, ca từ thì ước lệ nghe như khẩu hiệu hô hào, nghe
xong ca khúc tưởng gặp lại anh hàng xóm cũ. Có mấy mô típ như mấy lối mòn cho
kết cấu ca từ dạng nhạc nầy: Hoặc mở đầu ca khúc bằng một sáo ngữ: Tôi
đã về đây, Bà Rịa (hay một địa danh khác) ơi!; Ai có về Bà Rịa - Vũng
Tàu… rồi kể lể các địa danh trong tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: Long
Sơn, Long Hải, Bãi Trước, Bãi Sau… cùng truyền thống, đặc sản của từng
nơi được phân bố đều cho các câu, các phiên khúc, điệp khúc trong bài. Hoặc
cũng viết về một vùng đất, con người, sự kiện cụ thể: Mở đầu bằng câu mẫu, như: Anh
đến quê em, Đồng Tháp anh hùng… hoặc: Ai đã từng đi qua Sông Rây một thưở… rồi
ôn lại kỷ niệm, rồi yêu thương, luyến tiếc, tự hào… về vùng đất, sự kiện, con
người đang viết. Hoặc tự sự theo lối “đi bộ”: Dùng ngôn ngữ chính luận, kết hợp
với khẩu ngữ tự nhiên, không hình tượng để phản ánh, biểu hiện chủ đề. Hoặc ngược
lại, dùng ngôn ngữ ước lệ, tương trưng quen thuộc và khẩu hiệu tuyên truyền cổ
động gắn vào đề tài thành lời cho ca khúc v.v…
Có hai dạng tác giả của loại nhạc nầy: một là, các tác giả
phong trào, không chuyên, không có tay nghề âm nhạc và vốn văn hóa không cao,
nhưng nhiệt tình với phong trào mà viết nhạc (rất đáng quý!). Hai là, các
nhạc sĩ, thậm chí cả đoàn nhạc sĩ được mời về các địa phương, cơ quan, công ty…
tham quan và viết về mình như theo đơn đặt hàng. Mấy ngày sau, trước khi
chia tay, để trả nợ ân tình, các nhạc sĩ phải “đẻ non” những đứa con, để lại
cho các địa phương, cơ quan, tổng công ty đó “nuôi”. Xin kể một chuyện có thật
100%, nhưng cũng xin ẩn danh: Một tỉnh giàu có, vì bệnh thành tích, mời một
đoàn 10 nhạc sĩ nổi danh, có cả nhạc sĩ kỳ cựu, lão làng của một thành phố lớn
về 10 ngày để thực tế, hy vọng họ sẽ sáng tác ra những tuyệt tác để đời,
cỡ như Dáng đứng Bến Tre của Nguyễn Văn Tý và vào cuối đợt, cũng có
hơn mười ca khúc “nộp quyển”, rồi… “lưu kho”, đi vào… lãng quên, không thể trở
thành “tỉnh ca” được, mà lại trở thành.. “tĩnh ca”! Còn ca khúc nổi tiếng làm
nhạc hiệu trên các đài phát thanh, truyền hình của tỉnh na2y lại của một nhạc
sĩ khác “vô tình” đi ngang qua địa phương và ‘vô tư” sáng tác mà thành!
7. Ca sĩ “lên đời” đạo nhạc ngoại:
Một vết chàm trong nhạc nhẹ Việt hiện nay nữa liên quan đến
nhạc ngoại quốc. Đó là vấn nạn đạo nhạc: nhiều “nhạc sĩ” đạo nhạc
nước ngoài , gây nhiều tai tiếng cho âm nhạc Việt.
Trong số đó, có nhiều ca sĩ “lên đời”, “chuyển hệ,
“thăng ngạch” làm “nhạc sĩ”. Hầu hết họ là những ca sĩ nổi tiếng, được xếp vào các “TOP”, có đông đảo các fan trẻ hâm mộ, có các VCD
ca nhạc bán chạy, có các show được đông đảo người xem, có người được các giải
cao trong các chương trình ca nhạc, các cuộc thi giọng hát, các nhạc hội… Phổ
biến hơn cả là các nghệ sĩ underground (Underground musi - âm nhạc phi
chính thống) Việt vay mượn nhạc đệm (nhạc beat) có sẵn của bài hát ngoại
quốc nổi tiếng để làm nền cho ca từ và giai điệu một bài hát mới sáng
tác. Chiêu trò sản xuất âm nhạc theo qui trình “ngược” kiểu này làm mất đi tính
sáng tạo, xúc phạm thiên chức của nhạc sĩ là lấy cảm xúc từ cuộc sống để viết
nên tác phẩm chứ không phải “ăn sẵn” trên nền nhạc vay mượn. Cũng đã qua thời
nhạc xưa các nghệ sĩ của chúng ta “mượn” nguyên hợp âm, hòa thanh, giai điệu của
nhạc hoa rồi. Bây giờ chúng ta có những “đạo sĩ” tinh vi hơn, chỉ mượn vòng hợp
âm, mượn giai điệu mỗi chỗ một ít, rồi về viết lại giai điệu khác đi trên hợp
âm đó, phối lại và nghiễm nhiên có ca khúc mới và mượn gió bẻ măng từ những người
ủng hộ. Việc này qua mắt được những người nghe nhạc phổ thông chứ không qua mắt
được những người có kiến thức về âm nhạc.
Sơn Tùng trở thành ca sĩ Việt có nhiều MV đạt 100 triệu lượt
xem nhất cũng là “nhạc sĩ” có nhiều bản nhạc bị phát giác là đạo nhạc nước
ngoài. Đó là ca khúc Chắc ai đó sẽ về trong bộ phim Chàng trai
năm ấy gây sốt khán giả Việt ngay khi tung trailer và bản audio bài hát
vào cuối năm 2014 được xếp trong danh sách Top 10 tìm kiếm nhiều nhất
trên Google Việt Nam, lại có điểm tương đồng về beat, cách xử lý những đoạn
ngân với ca khúc Because I miss you của Jung Yong Hwa (CN
Blue). Với Chúng ta không thuộc về nhau (đã đạt 160 triệu người
xem) dư luận cho rằng quá giống We don't talk anymore của
Charlie Puth, đặc biệt ở đoạn điệp khúc. Chính tác giả bản remix nổi tiếng của
ca khúc này là Heyder mới đây cũng đã lên tiếng, xác nhận bản phối của anh
và Chúng ta không thuộc về nhau do ca sĩ Sơn Tùng M-TP thể hiện có
nhiều điểm tương đồng. Hai bản nhạc vừa giống nhiều nốt liền nhau trong nhiều
câu, vừa giống y nguyên vòng hợp âm, vừa giống tiết tấu và cấu trúc, lại tương
đương về chỉ số BPM... thì 99% là có sự mượn ý tưởng và hoàn toàn có cơ sở để kết
luận là đạo nhạc.
Còn Cơn mưa ngang qua được so sánh với Sarangi
Mareul Deutjianha của Ahn Jae Wook thành viên nhóm nhạc Namolla
Family tại Hàn Quốc. Chính phần beat giống đến ngỡ ngàng giữa hai ca
khúc khiến khán giả không thể làm ngơ trước scandal này. Liên quan đến ca
khúc nầy còn một vết chàm nữa: Cơn mưa ngang qua phần 3 ra đời
sau đó gặp nhiều ý kiến cho rằng nó giống với I Remember của Bang Yong Guk
(B.A.P). Rồi, Em của ngày hôm qua, bản hit được cho là để đời của Sơn
Tùng (cán mốc 100 triệu lượt người xem) cũng không tránh khỏi nghi án
đạo nhạc. Cụ thể, ca khúc trùng khớp với rất nhiều đoạn trong Every
Night của nhóm nhạc nổi tiếng Hàn Quốc- EXID. Không những thế, cả
hình ảnh và vũ đạo trong MV bản hit này cũng bị “tố” giống G-Dragon
và Trouble Maker- những cái tên nổi tiếng của làng giải trí xứ sở
Kim Chi. Còn nữa, cùng với nhiều bản hit bị lên án, Em đừng đi
tiếp tục là ca khúc mà cư dân mạng phanh phui. Bài hát bị phát hiện là giống
ca khúc Still của nhóm FLOWER phát hành từ năm 2011 tại Nhật Bản.
Chưa hết đâu: Tuyết yêu thương (Young Uno) mượn bài Jiang Nan; Hy
vọng (LK) đạo bài Question (Ha Yoo Sun), Nắng ấm xa dần
đạo nguyên bài Mono - logue của As One. Mà kẻ cắp âm
nhạc chuyên nghiệp nầy là ai?
Sơn Tùng đã từng giành 5 đề cử và một giải Cống hiến cùng
với hai giải Bài hát yêu thích với các ca khúc. Cơn mưa ngang
qua và Em của ngày hôm qua (2 bản nhạc bị cho là đạo) cũng
hai lần là khách mời biểu diễn của chương trình Thần tượng âm nhạc Việt
Nam. Năm 2015, Sơn Tùng nằm trong danh sách Top 10 tìm kiếm
nhiều nhất trên Google Việt Nam. Sơn Tùng cũng đã có 2 lần khiến ca khúc
Việt Nam đứng trong top 10 ca khúc nhiều lượt xem trong một ngày
trên YouTube. Đặc biệt ca khúc Nơi này có anh phát hành năm 2017
đã đứng vị trí thứ nhất với hơn 9 triệu lượt xem đến ngày
14/2/2017.
Kể ra để thấy được sự dung túng, ngụy biện bởi
công ty quản lý âm nhạc, không có trách nhiệm trong bản quyền bài hát của gà
nhà tung ra, để gây ý kiến trái chiều, lôi kéo sự quan tâm và vụ lợi cho ca sĩ
và nhà sản xuất, sự tắc trách và “có vấn đề” cả trong và ngoài “chuyên môn” của
ban giám khảo các cuộc thi ca nhạc, sự bao che và hùa theo bởi một số lượng
lớn người nghe nhạc dễ dãi, nguỵ tín và nhận thức kém.
Nữ ca sĩ trẻ Bùi Cát Tường đoạt nhiều giải thưởng ca khúc
trong và ngoài nước (44 giải - theo vi.wikipedia.org) lại gây tai tiếng bởi ba
ca khúc nổi tiếng của cô bị phát hiện là đạo. Trước tiên là ca khúc Yêu xa làm
mưa làm gió một thời và đoạt 4 giải thưởng âm nhạc trong năm 2014 đã bị
phát hiện có nhiều đoạn nhạc giống với video nhạc game Final Fantasy
10 - Eyes on me. Rồi Don’t you go của cô là đạo Unfriend
You của Greyson Chance. Tai tiếng hơn là ca khúc Vết mưa, được
xếp Bài hát yêu thích 2014 của cô lại đạo nhạc Nhật gây nhạc Nhật
gây xôn xao dư luận mà chính tác giả của bản nhạc nguyên gốc Rain In The
Park - Marika Takeuchi cũng lên tiếng.
Hơn cả Bùi Cát Tường, theo vi.wikipedia.org, Đồng Nhi đoạt
đến 71 giải thưởng âm nhạc từ năm 2010-2017. Nhưng cũng tai tiếng: người
ta phát hiện ra rằng Trách ai bây giờ có điệp khúc giống với beat của Auditory
Hallucination (NaShow và Jang Jaein) và Boom Boom của cô lại
có beat giống với ca khúc Bitch I'm Madonna của nữ hoàng nhạc
Pop Madonna.
Còn ca sĩ Đinh Đại Vũ đã không thèm chỉnh sửa gì
mà đặt nguyên một phân đoạn trong MV DNA của BTS vào MV Em muốn
cái gì đây của mình. Ngoài phân cảnh được lấy ra từ DNA, sản phẩm
nầy của Đinh Đại Vũ còn bị phát hiện có khá nhiều điểm tương đồng với Hãy
ra khỏi nơi đó đi của Phan Mạnh Quỳnh và Em của ngày hôm
qua của Sơn Tùng M-TP. Đúng là “ăn cắp của ăn trộm”, vì Em
của ngày hôm qua của Sơn Tùng được cho là lấy từ Every
night của nhóm nhạc nổi tiếng Hàn Quốc - EXID và từ các hình ảnh
và vũ đạo của G-Dragon và Trouble Maker. Không những thế, vài cảnh trong Em
muốn cái gì đây cũng bị các Kpop fan tố là “học hỏi” từ Blood
sweat andtears của BTS. Anh lại lại khiến nhiều người "điên
tiết" hơn khi có những phát ngôn thiếu tôn trọng nghệ sĩ nước ngoài,
nghệ sĩ Hàn Quốc khi gọi họ là "cái bọn Hàn Quốc", khi bị họ
phát hiện và phản đối.
Phúc Bồ, ca sĩ và là người thu âm, hòa âm phối khí, sản
xuất và phát hành âm nhạc ở Hà Nội cũng bị cú đúp tai tiếng... Đầu tiên,
ca khúc Cưa cẩm anh thể hiện tại chung kết Sao đại chiến bị
tố đạo nhạc Body của Mino. Tiếp đó Rap binh đoàn hổ của anh
bị chỉ trích đã sao chép Okey Dokey do Zico do Mino sản xuất và
thể hiện. Sự giống nhau giữa các ca khúc của Phúc Bồ và Mino là rất rõ ràng,
khiến khán giả nghe lần đầu cũng có thể dễ dàng nhận ra.
Cũng bị cú đúp tai tiếng còn có ca sĩ Châu Đăng
Khoa, người đã 8 lần đoạt các giải thưởng âm nhạc, 2 lần Bài hát ấn tượng của Bài
hát Việt, hai năm liền được xếp vào Top 10 nhạc sĩ được yêu
thích nhất Làn sóng xanh (2014, 2015) cũng bị khán giả soi khi
phát hiện ra Người lạ ơi của anh có nhiều điểm tương đồng về
giai điệu với What if của Robin Wesley và Anh vẫn nhớ (Nah). Và
bản hit Lẻ loi đánh dấu hình ảnh mới của Châu Đăng Khoa trong vai trò
ca sĩ cũng bị khán giả phát hiện có nhiều điểm giống với ca khúc Up &
Down của EXID.
8. Nhạc sĩ thành “đạo sĩ” nhạc ngoại:
Đến lượt các “nhạc sĩ”: nhạc sĩ Khắc Hưng đã giành “cú đúp” tại
giải Âm nhạc Cống hiến 2017 vào tháng 4/2017, khi cùng lúc được tôn
vinh là Nhạc sĩ của năm và Nhà sản xuất âm nhạc của năm. Tuy
nhiên, sau đó, lại giành một kỷ lục gấp cú đúp trên, khi 4 ca khúc của anh dính
nghi án 'đạo nhái' trong 8 tháng đầu năm 2017. Bản Ánh nắng của
anh anh “đạo” bản nhạc piano I của nghệ sĩ piano Hàn Quốc
Yiruma nằm trong album First love được Yiruma phát hành năm 2001. Rồi ca
khúc Ghen của Khắc Hưng, được thể hiện bởi giọng ca của nữ ca sĩ Min
và Erik tiếp tục “nối gót” Ánh nắng của anh khi bị cư dân mạng soi có
nhiều điểm tương đồng với I got you của nữ ca sĩ Bebe Rexha. Ngay sau
đó, cư dân mạng trở nên hoang mang khi phát hiện ca khúc Đâu chỉ riêng em được
lấy cảm hứng từ một bài hát nhạc Hoa tạm dịch Tình lay động, lòng nhói đau của Hải
Sinh. Người nghe đã ngỡ ngàng vì phần điệp khúc của Đâu chỉ riêng em quá
giống với đoạn nhạc mở đầu của ca khúc Tình lay động, lòng nhói đau. Nhiều
người còn đánh giá hai ca khúc này giống nhau đến 70% về mặt giai điệu.
Còn nữa, tối ngày 21/8/2017, MV mới ca khúc thảm họa Như
cái lò của Khắc Hưng lại nhanh chóng tiếp tục gây bức xúc trong
dư luận không những bởi ca từ phản cảm, gợi dục, kích động mà
còn ở nghi án đạo nhạc, đạo ý tưởng. Người hâm mộ tinh ý nhận ra bản beat, flow
rap của MV này có sự giống nhau so với bài hát Bass down low do
ca sĩ Dev, Tinie Tempah, The Cataracs thể hiện ra đời
từ năm 2011. Chưa hết, bối cảnh mà nhân vật chính xuất hiện trong MV cũng như
góc quay, vũ đạo được người hâm mộ đánh giá là trùng hợp với bản gốc.
Dựa là sáng tác của nhạc sĩ Lưu Thiên Hương, ca khúc này
được Maya giới thiệu lần đầu tiên trên sân khấu đêm chung kết The Remix 2016.
Tuy nhiên, sau khi Maya giới thiệu ca khúc Dựa đến đông đảo công
chúng, không ít khán giả đã tinh ý nhận ra có quá nhiều điểm trùng hợp về giai
điệu nhạc nền giữa hai ca khúc Dựa và ca khúc Legends (phát
hành năm 2015) của ca sĩ, nhạc sĩ người Ý Razihel. Thậm chí, chính nghệ sĩ
Razihel còn để lại bình luận tại đoạn video trình diễn ca khúc Dựa của
Maya tại sân chơi The Remix 2016 được đăng tải lên kênh Youtube như
sau: “WHOEVER MADE THIS BEAT STOLE THE DROP FROM MY SONG LEGENDS. CONGRATS!”
(Xin gửi lời chúc mừng đến người nào đó đã ăn cắp giai điệu từ ca khúc Legends
của tôi).
Nhiều nữa, danh sách còn cả lố: Bảo Chấn với ca khúc nổi
tiếng Tình thôi xót xa lại bị nghi đạo nhạc bài Frontier (Keiko
Matsui). Bài Mưa (Thuỳ Chi và nhóm M4U) của Minh Vương vừa nhận giải Bài
hát Việt năm 2008 thì bị lên án kịch liệt vì đạo, bài Aitai của
Se7en. MV Khói độc của Hồ Quang Hiếu bị fan tố đạo 1 đoạn ý tưởng của MV
Bad (nhóm Infinite). Single Lần đầu của Bảo Anh vướng
nghi án đạo nhạc ca khúc kinh điển Be my lover của nhóm nhạc huyền
thoại La Bouche. Bản OST có tên Anh thích thả thính của cựu thành
viên 365 Daband, Tronie Ngô bị tố là “vay mượn” của Love me love me, một bản
hit của nhóm nhạc Kpop đình đám - WINNER, v.v…
Nói ra thật nhục nhã, nhưng không thể vạch hết tên tuổi
các “nhạc sĩ”, ca sĩ “lên đời” đạo nhạc ra đây hết được. Vì chuyện xấu xa,
kiêng kỵ nầy đã trở thành phổ biến, đại trà trong giới viết nhạc sến trẻ ngày nay.
Đơn cử: báo chí và các trang mạng đăng nhiều: trong 8 tháng, 4 ca khúc chỉ của
một người nổi tiếng bị phát hiện là nhạc đạo; trong một tháng, 5 ca khúc; trong
2 tuần đầu năm, 4 ca khúc VN là nhạc đạo nước ngoài, v.v… Một số trang giải
trí còn thường xuyên đăng tải video thống kê về số lượng ca khúc đạo nhạc. Bất
ngờ và đáng buồn là đến thời điểm hiện tại, loạt video nhiều kỳ này vẫn chưa có
dấu hiệu dừng lại! Có thể coi đây là minh chứng về sự bất cập, sự xuống cấp văn
hóa của thị trường âm nhạc giải trí hiện nay.
Giải thích “câu chuyện Tây hóa âm nhạc Việt”, liên quan đến vấn
đề ngày càng phổ biến là chuyện đạo nhạc, tương đồng trong một số sáng tác, bản
phối của Việt Nam với những sản phẩm trên thế giới”, nhạc sĩ Dương Cầm cho
rằng: “Nền công nghiệp âm nhạc của chúng ta đi sau thế giới quá xa. Chúng ta
nghe nhiều, học hỏi họ nhiều quá mà không có sự tỉnh táo thì rất dễ hòa lẫn.
Nhiều khi nhạc sĩ nghe nhiều một cách không ý thức thì khi viết ra giai điệu
hay đặt bản phối cho các bài hát, vô hình nó bị in sâu vào đầu và làm ra bị giống.
Với tôi, phải tỉnh táo trong việc tiếp nhận thông tin mới để làm sao vẫn phải
có gì đó của mình”.
9. Lạm phát chuyển ngữ nhạc ngoại:
Cũng liên quan đến nhạc ngoại quốc trong giai đoạn này,
còn có một vết chàm nữa là nhạc ngoại, lời Việt. Dạng ca khúc nầy (viết
lời Việt trên nhạc ngoại) không phải là chuyện mới mẻ. Ở Miền Nam,
từ thập niên 60, nhất là đầu thập niên 70, khi phong trào nhạc trẻ bùng phát,
nhiều nhạc sĩ đã viết lời Việt cho nhạc ngoại rất thành công và có những ca
khúc để đời. Xin được nhắc lại tên tuổi của vài nhạc sĩ và những ca khúc đó.
Mở đầu cho trào lưu “Việt hóa” các ca khúc Âu - Mỹ thời ấy có
thể nói đến nhạc sĩ Vũ Xuân Hùng, ông đã chuyển soạn lời Việt cho các ca khúc
được nhiều người yêu mến như: Búp bê không tình yêu (Poupée de cire,
poupée de son), Gõ cửa 3 tiếng (Knock three times), Chuyện phim buồn (Sad
movies), Lãng du (L’Avventura), Anh thì không (Toi jamais), v.v... Sau đó
nhiều nhạc sĩ khác, nhiều ban nhạc, cũng đã soạn lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại
quốc khác: Phạm Duy, Quốc Dũng, Trường Hải, Jo Marcel, Kỳ Phát,
Lữ Liên, Khúc Lan, Nam Lộc, Nguyễn Duy Biên, Tùng Giang, trong đó có cả
nhà báo Trường Kỳ (cột chèo với Vũ Xuân Hùng), v.v...
Nhạc sĩ Nam Lộc "Việt hóa" nhiều bản nhạc ngoại quốc
thịnh hành đương thời bằng cách đặt lời tiếng Việt: Trưng Vương khung cửa
mùa thu (Tell laura i love her), Mây lang thang (The cowboy's work is
never done), Dĩ vãng buồn (I’ll never fall in love again), Tình ca cho em (Good bye to love),
Như mùa thu lá bay (Ben), Chỉ là giấc mơ qua (Yellow Bird), Một thời để yêu
(Les amoureux qui passent), Phút bên em (L’Amour avec toi), v.v...
Thành công hơn cả là là Phạm Duy, với đa phần là nhạc
Pháp, với giọng hát bằng song ngữ điêu luyện của ca sĩ Thanh Lan, đã gây được ảnh
hưởng khá mạnh mẽ trong giới trẻ: Khi xưa ta bé (Bang bang), Tình cho
không biếu không (L'amour c'es pour rien), Hỡi người tình lara (Dr. Zhivago), Chuyện
tình (Love story), Người yêu nếu ra đi (If you go away), Cuộc tình tàn (Je
sais), Himalaya, Ngày tân hôn (The wedding), Em ðẹp nhất ðêm nay (La plus belle
pour aller danser), Những nụ tình xanh (Tous les garcons et toutes les
filles), Viễn du trong tưởng tượng (En partant), Trong nắng trong gió (Dans le
soleil et dans le vent), Nắng đã tắt (Il est mort le soleil), Ôi giàn thiên lý
đã xa (Chèvrefeuille que tu es loin), Tình yêu mùa ðông (J'aime bien l'hiver),
Chàng (Lui), Nàng (Elle etait belle), Chỉ cần một giọt lệ (Rien qu'une larme),
Tiễn em nơi phi trường (Adieu jolie candy), Gọi tên người yêu (Aline), v.v…
Còn ở Miền Bắc trước 1975, nhiều ca khúc Nga - Xô-viết lời Việt
được phổ biến rộng rãi và được công chúng yêu thích như: Cachiusa (thơ
Mikhail Isakovski) của Matvei Blanter; Chiều ngoại ô Matxcơva của
Soloviov Sedoi; Đôi bờ (lời Grigorii Mikhailovich Pozhenyan, nhạc
phim Cơn khát) của Andrey Yakovlevich; Thời thanh niên sôi nổi (thơ
L. Oshanin, nhạc phim Về phía đằng kia) của Aleksandra Pakhmu-tova; Cây
thùy dương (thơ Mikhain Pilipenko) của Evgenhi Podygin; Triệu bông hồng (thơ
Andrey Voznesensky) của Raimond Pauls; Đàn sếu (thơ Rasul Gamzatov) của
Yan Frenkel; Tình ca du mục (thơ Konstantin Podrevsky) của Boris
Fomin; Chiều hải cảng của V. Solovyov- Sedoi; Kalinka của Ivan
Petrovich Larionov, v.v…
Trong số các ca khúc Nga kể trên, nhiều ca khúc do NSND Trung
Kiên viết lời Việt, trong đó có ca khúc nổi tiếng Triệu bông hồng do
nhạc sĩ Raimonds Pauls phổ thơ của nhà thơ lớn Andrey Voznesensky. Sau nầy
nó gắn liền với tên tuổi của ca sĩ Ái Vân trong thập niên 1980.
Vấn đề chuyển ngữ nhạc ngoại bị lạm phát vì yếu tố thương mại
cao mà yếu tố văn hóa lùn, thẩm mỹ thấp. Những ca khúc thời trang của Tây
phương hay Á châu được chuyển ngữ một cách hấp tấp, vội vàng, đôi
khi trở nên ngây ngô, ngớ ngẩn, không còn ý nghĩa nguyên bản như trong ca
khúc Yêu nhau đi (Tragedy), Ôi tình yêu, Mắt bồ câu (nhạc Thái).
Có ca khúc ca từ quá khô cứng, lộ liễu như Mười phút yêu của
ca sĩ Nhật Kim Anh: “trao anh chỉ mười phút, lời yêu sao nói lên
thành câu…”. Có bản “nhạc sĩ” đặt ca từ bừa bãi, có bản ca từ còn không
phù hợp với giai điệu, tiết tấu gieo rắc độc hại về tư tưởng và
thẩm mỹ.
Do đó, thị trường âm nhạc ở Việt Nam tràn ngập những bài ca
Việt không ra Việt mà Tây phương cũng chẳng ra Tây phương. Đó là thứ âm nhạc
lai căng lợn cợn giữa nhạc sến Việt và nhạc sến Tây phương (loại nhạc vỉa
hè Rap, Hip-hop, R&B, v.v…).
Từ đó, từ “nhạc sến” nay được mở rộng khái niệm, không những
chỉ dòng nhạc bình dân mà có chất lượng thấp trước 1975, mà còn nhiều bản
nhạc sau này chịu ảnh hưởng nhạc Hoa, Nhật, Hàn, Thái, hay theo thể loại Pop
ballad, Rap, Hip-hop, R&B…, ca từ cũng đơn giản dễ
dãi như phân tích ở trên và cũng khai thác các chủ đề thất tình, oán trách, mẫu
chuyện đời thường..., có khác là ở giai điệu và lối hát trẻ trung hiện đại hơn,
nhưng chủ đề thường bó hẹp hơn và ít chịu ảnh hưởng của dân
ca.
Kỳ 2: QUẢNG BÁ CA KHÚC THỊ TRƯỜNG
HIỆN NAY.
Góp phần làm nên thị trường âm nhạc giải trí rối ren, hỗn
độn, lợn cợn, chất lượng kém, thẩm mỹ lùn hiện nay có “công” lớn của
các nhà sản xuất, tổ chức biểu diễn, quãng bá âm nhạc, trong đó có “công” không
nhỏ của giới truyền hình, báo chí và các phương tiện truyền thông đại
chúng khác.
Đã qua rồi thời hoàng kim của chương trình Bài hát Việt, một sân chơi sáng tác âm nhạc hiếm hoi trên sóng truyền hình từng giới thiệu nhiều gương mặt trẻ tài năng và bước đầu có phong cách riêng như Nguyễn Đức Cường, Lê Cát Trọng Lý, Phạm Toàn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Minh Sơn, Lưu Thiên Hương, Giáng Son, Đức Nghĩa… Và sự ra đi lặng lẽ của Bài hát Việt, có người bi quan cho rằng đó cũng là dấu chấm hết cho nỗ lực hiếm hoi trong việc tìm kiếm các hướng đi mới cho âm nhạc đương thời. Thế vào đó, là sự ồn ào của các trò chơi truyền hình (gameshow) về âm nhạc đình đám, như Giọng hát Việt, Thần tượng âm nhạc, Nhân tố bí ẩn…
Đã qua rồi thời hoàng kim của chương trình Bài hát Việt, một sân chơi sáng tác âm nhạc hiếm hoi trên sóng truyền hình từng giới thiệu nhiều gương mặt trẻ tài năng và bước đầu có phong cách riêng như Nguyễn Đức Cường, Lê Cát Trọng Lý, Phạm Toàn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Minh Sơn, Lưu Thiên Hương, Giáng Son, Đức Nghĩa… Và sự ra đi lặng lẽ của Bài hát Việt, có người bi quan cho rằng đó cũng là dấu chấm hết cho nỗ lực hiếm hoi trong việc tìm kiếm các hướng đi mới cho âm nhạc đương thời. Thế vào đó, là sự ồn ào của các trò chơi truyền hình (gameshow) về âm nhạc đình đám, như Giọng hát Việt, Thần tượng âm nhạc, Nhân tố bí ẩn…
Trái ngược với sự vắng bóng của các cuộc thi sáng tác âm nhạc,
sự nở rộ của nhiều gameshow, liveshow âm nhạc với xu hướng giải trí
bình dân, có phần dễ dãi dường như đang chiếm lĩnh nhiều phương tiện thông tin
đại chúng. Một trong những trào lưu “đang lên”, gây nhiều tranh cãi trong dư luận
thời gian qua là “Bolero trỗi dậy” với sự ra đời của hàng loạt các gameshow có
tên gọi na ná nhau: Thần tượng Bolero, Song ca cùng Bolero, Solo cùng
Bolero, Tình Bolero, Tình Bolero hoan ca, Kịch cùng Bolero…
Một số cuộc thi âm nhạc khác lại trà trộn, giả dạng, đánh
tráo khái niệm được gọi bằng tên gọi khác thời sự hơn, “cao quý” hơn, và có vẻ
hợp với chủ trương của nhà nước hơn kiểu như: Ca khúc Quê hương, Quê
hương Tình mẹ…, tuy không gắn “mác” bolero nhưng đội hình ban giám khảo ngồi
trên “ghế nóng” và thường “uýnh giá” (đánh giá) diễn viên như “thánh phán” đều
chủ yếu nổi lên từ dòng nhạc này, vì thế phần lớn thí sinh đã lựa chọn giải
pháp an toàn bằng việc hát… bolero! Sự thái quá trong việc quảng bá như thế dẫn
đến tình trạng: một dòng nhạc bình dân, ít được đánh giá cao tại chính mảnh đất
từng sản sinh ra nó, bolero đã bất ngờ trở thành trào lưu được một bộ phận ca
sĩ và khán, thính giả ở Việt Nam nhiệt tình hưởng ứng. Điều này sẽ không có gì
đặc biệt nếu như bolero không phải là một dòng nhạc “giẫm chân tại chỗ”, vì dù
đã có lịch sử hình thành hơn 60 năm mà số lượng sáng tác không nhiều, không có
nhiều sáng tạo từ giai điệu, phối khí đến ca từ và phong cách biểu diễn. Và nội
dung của hầu hết các bài hát bolero chỉ quẩn quanh những chuyện tình ngang
trái, đẫm nước mắt. Vì vậy, nhận định của Tùng Dương, ca sĩ nổi tiếng với nhiều
giải thưởng âm nhạc uy tín: “Bolero chỉ mang tính hoài niệm, không mang
tính chất sáng tạo, phát triển nền âm nhạc. Già trẻ, lớn bé mà đều đắm đuối với
bolero thì đúng là một sự thụt lùi” tuy có làm mất lòng nhiều người trong
giới giải trí nhưng đã đề cập một cách thẳng thắn tình trạng “nghèo nàn trong
sáng tạo” trong đời sống âm nhạc Việt Nam đương đại.
Nhân nhắc đến, nói thêm về điệu bolero và nhạc vàng. Nhạc
vàng ở Miền Nam trước 1975 thường dùng các thể điệu boléro,
rhumba, ballade, slow, slow rock, mà bolero là phổ biến hơn cả. Thể
điệu bolero VN có nhịp rất chậm, khác bolero của Tây Ban Nha hay Nam Mỹ
có nhịp nhanh hơn, gần như rhumba. Vì thế, người ta vẫn quen gọi ca khúc bolero
VN là nhạc vàng, tức âm nhạc trữ tình hay lãng mạn, bởi giai điệu chậm buồn của
nó... Bolero rất hợp dân ca Nam bộ và giới bình dân Nam bộ, những người
hát dân ca Nam bộ từ nhỏ và thể loại nhạc này hợp với trình độ của họ, nên họ là những người chuộng nhạc vàng hơn cả. Ba đề tài chủ yếu phổ biến của nhạc vàng là: Tình - Lính và Quê hương. Nhưng, nhạc bolero xưa ở
miền Nam có nhịp điệu chậm buồn, sắc thái tình cảm thường là yêu thương, tiếc
nuối, da diết… chứ không phải quá sướt mướt, sến sẩm, ủy mị, quằn quại, khổ
đau, bi sầu, rên rỉ… mới ra chất bolero như các ca sĩ ngày nay thể hiện, khi bị
khai thác “quá đà” và “biến dạng” thảm hại trên truyền hình, nhạc hội, sàn diễn
và băng đĩa của các nhà sản xuất. Dòng nhạc nào cũng đều có những giá trị của
nó, bolero cũng có lớp công chúng riêng và những giá trị riêng, nhất là những
ca khúc có ca từ hay đẹp, mang tình văn học. Nhưng vì chạy theo lợi nhuận mà
cách khai thác và thể hiện dòng nhạc bolero “biến thái” như hiện nay đã không
truyền đạt cho công chúng những giá trị cốt lõi và đúng đắn của dòng nhạc này,
dẫn đến cái nhìn sai lệch về bolero đầy tai hại: nhạc bolero bị đánh đồng với
nhạc sến.
Theo dõi trên bảng xếp hạng ca khúc mới của một số website âm
nhạc nổi tiếng thời gian qua, vị trí “độc tôn” thường thuộc về một số bài hát
không mấy xuất sắc, cho thấy “mảnh đất” này còn quá nghèo nàn và thiếu tính cạnh
tranh. Điều đó trái ngược với các bảng xếp hạng âm nhạc nước ngoài, bởi ở đó sự
thay đổi ngôi vị liên tục của nhiều ca khúc, giọng ca, nhóm nhạc cho thấy một đời
sống âm nhạc thật sự sôi động và phát triển. Sự chiếm lĩnh của bolero cùng các
trào lưu K-pop (nhạc pop Hàn Quốc), C-pop (nhạc pop tiếng
Trung) trên thị trường âm nhạc Việt Nam hiện nay đang đặt ra câu hỏi về sự yếu
kém của nhạc trẻ Việt hiện
nay.
Rõ ràng là, khâu sản xuất, quảng bá và tổ chức biểu diễn âm
nhạc đã thao túng thị trường âm nhạc đương thời. Năm 2004, nhạc ngoại lời Việt
chiếm 30% số ca khúc phổ biến trong băng dĩa nhạc, theo thống kê của phòng ca
múa nhạc Sở VHTT TPHCM. Trên sân khấu biểu diễn, số ca khúc nhạc ngoại lời Việt
chiếm gần 50 %.
Ngoài ra, những giải thưởng âm nhạc cuối năm từ thượng vàng hạ
cám, hàng trăm tác phẩm âm nhạc được xếp hàng tôn vinh lại khiến chúng ta có cảm
giác đời sống âm nhạc lòe loẹt, sặc sỡ nhưng ít giá trị thực chất. Giải thưởng
nhiều, khiến sự tôn vinh bị lạm phát và trở nên hình thức.
Trong nền kinh tế thị trường, âm nhạc trở thành hàng hóa nên
mọi hoạt động của guồng quay Showbiz bao trùm lên đời sống âm nhạc. Vì vậy, một
thời gian dài, đời sống âm nhạc rơi vào tình trạng sôi động bề mặt nhưng thiếu
chiều sâu, thiếu những giá trị bền vững.
Tình trạng bát nháo trong thị trường âm nhạc tác động đến tất
cả đối tượng, từ nhạc sĩ, ca sĩ, đến công chúng và dần làm thẩm mỹ
âm nhạc của giới trẻ trở nên lệch chuẩn..
2. Nguyên nhân:
Tác giả Cao Minh trong bài viết “Vùng trũng” của âm nhạc
Việt Nam đăng trên Thế giới và Việt Nam ngày 03/08/2014
có đưa ra mấy nguyên nhân của thực trạng nầy. Xin bổ sung vài nguyên nhân
nữa và phân tích thêm.
Nguyên nhân của thực trạng nầy thì nhiều, ngoài sự “vô tư” của
một số nhạc sĩ và ca sĩ. Nhưng trước hết, là thiếu sâu sát, thiếu trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, nghệ thuật; đã lơi lỏng,
không đủ khả năng để đưa hoạt động âm nhạc đi đúng chiều hướng tích cực,
nhất là sự “thiếu tầm” của một số người lảnh đạo, quản lý ngành văn hóa ở các
điạ phương.
Biểu hiện đầu tiên sự “thiếu tầm” nầy là ngắn về tầm nhìn xa
chiến lược của ngành, thường chỉ "chạy theo giải quyết sự cố” sau khi
báo chí và dư luận lên tiếng. Biểu hiện kế tiếp là quản lý văn hóa
mà hẹp về bề rộng văn hóa, lùn về chiều cao nghiệp vụ và cạn về chiều sâu
cảm thụ nghệ thuật. Đơn cử: Lảnh đạo một Sở VH-TT tỉnh phát biểu trước hội nghị
khi là chủ tri: “Tỉnh mình có kinh tế cao, mà chưa tổ chức được một đêm nhạc
bolero như các tỉnh Miền Tây là hạn chế lớn”. Hoặc một người có trách nhiệm
ngành VH-TT của tỉnh lại phát biểu: “VNS tỉnh nhà, có người viết lòng
vòng khắp nơi, nổi tiếng toàn quốc, mà không có một chữ, một nốt viết về
tỉnh mình là không thể chấp nhận được”. Trong khi vì có tầm nhìn và am hiểu
về văn học- nghệ thuật, trong buổi Gặp gỡ thường niên giữa Bí
thư tỉnh ủy tỉnh nầy với văn nghệ sĩ toàn tỉnh vào cuối năm 2017, có lảnh đạo
các sở, ban, ngành hữu quan tham dự, ông có câu nói “để đời” mà VSN trong tỉnh
thường nhắc tới: “VNS là vốn quý của quốc gia. Tác phẩm của họ
có thể viết về nhân loại, đật nước, các vùng miền khác, miễn là nhân văn và có
giá trị. Là vốn quý của quốc gia, nhưng đã sống trên địa bàn tỉnh ta, thì các cấp
Đảng, chính quyền và các sở, ban, ngành hữu quan phải chăm sóc đời sống vật
chất, tình thần và tạo điều kiện thuận lợi cho VNS sáng tác”.
Thứ hai, là do sự vụ lợi (hay lợi nhuận) của những người
sản xuất, tổ chức chương trình ca nhạc tạo ra sân chơi, sàn diễn công khai
cho các ca khúc loại kém chất lượng này được quảng bá tràn lan
trong xã hội. Chính nhạc sĩ Dương Cầm, cũng là một nhà sản xuất
âm nhạc (nhận cúp “Nhà sản xuất của năm” vào đầu năm 2018) cũng công
nhận vai trò tối quan trọng của người sản xuất âm nhạc:“Đấy là những người
có sự định hướng cho ca sĩ, tác phẩm và cả chính tác giả. Thị trường âm nhạc nằm
trong tay của các nhà sản xuất âm nhạc”.
Thứ ba, là Hội Nhạc sĩ Việt Nam là hội chuyên nghiệp,
mang tính chuyên sâu và chính thống về âm nhạc, nhưng những hoạt động cùng tầm ảnh
hưởng tới đời sống âm nhạc cả nước khá mờ nhạt. Mặc dù Hội có chủ trương “giáo
dục thẩm mỹ âm nhạc cho công chúng, đặc biệt là công chúng trẻ, để mọi đối tượng
có thể thưởng thức các sản phẩm âm nhạc trong môi trường nghệ thuật trong sáng,
lành mạnh…, kiên quyết chống xu hướng nghiệp dư hóa trong nghệ thuật, loại trừ
thói lai căng, bắt chước tùy tiện, dễ dãi trong việc sáng tác, biểu diễn và hưởng
thụ âm nhạc. Coi trọng và đề cao tính chuyên nghiệp trong sáng tác, biểu diễn,
phê bình lý luận và đào tạo.” (NS Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ
VN - Diễn văn tại Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập Hội Nhạc sĩ VN, 17.12.2017
tại Hà Nội).
Thứ tư, hệ thống truyền thông (truyền hình, phát thanh, báo
chí, mạng...) trong thời đại thông tin toàn cầu và kinh tế thị trường đã vì lợi
ích cục bộ, thông tin một chiều hoặc lệch về một số vấn đề trong đời
sống âm nhạc. Một số tờ báo cũng cổ xúy xu hướng âm nhạc có giá trị thẩm mỹ
thấp khi ngày ngày đăng tải tin tức vô bổ về đời tư của ca sĩ trẻ, về các
scandal, về mấy chuyện tình ái đáng giấu đi hơn là khoe ra... để thu
hút đông độc giả. Còn hệ thống truyền hình vì mục tiêu thương mại, quảng cáo,
nhiều ca khúc, chương trình biểu diễn âm nhạc thiếu thẩm mỹ, chất lượng nghệ
thuật kém vẫn được giới thiệu, lăng xê trên các kênh truyền hình nhà nước (do
các nhạc sĩ có văn hóa và tay nghề cao phụ trách!) ở các khung giờ
vàng, hoặc ngày càng có nhiều hơn các cuộc chơi ca nhạc, biến âm nhạc
thành những trò chơi, vô hình chung hạ thấp tính giáo dục, tính nhận thức, tính
thẩm mỹ, mà chỉ nghiêng hẳn sang lĩnh vực giải trí đơn thuần. Rổi thường xuyên
tổ chức các cuộc thi tìm kiếm tài năng ca nhạc mà các chương trình này được
tài trợ nên chất lượng phải chiều theo thị hiếu bình dân của doanh nghiệp tài
trợ.
Thứ năm, là do ý thức và trách nhiệm của người có
trách nhiệm đối với đời sống âm nhạc hiện nay. Một ví dụ nhỏ mà điển hình: các
cuộc thi Sao Mai của truyền hình quốc gia bao nhiêu năm nay vẫn gọi
là: "phong cách Nhạc nhẹ", "phong cách Thính
phòng" và "phong cách Dân ca" mà các nhạc
sĩ, thậm chí cả giáo sư, tiến sĩ âm nhạc ngồi trong Hội đồng giám khảo vẫn cứ
điềm nhiên như không hề biết có gì đó sai của nhà đài phát động: Trong văn học
nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng, phong cách là khái niệm chỉ đặc điểm nổi trội, ổn định và có chất lương trong sáng tác của tác giả hoặc
trong cách thể hiện của cá nhân hoặc nhóm nghệ sĩ, riêng trong âm nhạc, 3 loại
nhạc trên chỉ được gọi là “dòng”: “dòng nhạc Thính phòng", "dòng
nhạc nhẹ", "dòng nhạc mang âm hưởng Dân ca". Rồi, truyền
thông, báo chí vẫn vô cảm, điềm nhiên tuyên truyền cái sai đó. Đây thực sự là
điều nguy hại bởi nó góp một phần định hướng, hướng dẫn thị hiếu thưởng thức
của người dân.
Cuối cùng, là thiếu một sự giáo dục thẩm mỹ nói chung và
thẩm mỹ âm nhạc nói riêng mang tính hệ thống đối với học sinh, sinh viên và đối
với toàn xã hội (nằm trong chiến lược phát triển con người, đất nước của những
nhà hoạch định) trong một nền giáo dục lạc hậu. Vì thế, tình trạng xuống cấp
của ca khúc hiện nay khó có thể giải quyết rốt ráo, triệt để. Và cứ như vậy, vấn
đề càng trở nên nguy hại hơn, vì ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị hiếu thẩm mỹ
nói chung, thị hiếu âm nhạc nói riêng của vài thế hệ.
Kỳ 3: CA SĨ THỊ TRƯỜNG NGÀY NAY
Lĩnh vực sáng tác, quảng bá ca khúc đã vậy, ở khía cạnh biểu
diễn, việc trở thành ca sĩ dễ bề nổi tiếng, nhanh chóng mang lại thu nhập cao
đã tạo ra trào lưu đổ xô đi làm ca sĩ. Thậm chí, ngay cả với những người không
có giọng hát nổi trội cũng bằng mọi cách để đứng trên sân khấu. Từ một người
vô danh, nếu "đầu quân, đầu tư" vào một “lò” nào đấy, với sự hỗ trợ tối
đa của công nghệ âm thanh thời hiện đại, lập tức một hoặc một dàn "ca
sĩ" ra đời và cứ đà ấy sẽ là những "ngôi sao", "siêu
sao"; những pa này nọ... Đời sống âm nhạc hiện nay của nước ta đã "đầy
phè" những ca sĩ kiểu đó.
Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 nhận xét: “Ca sĩ bây giờ đa số chỉ
chú trọng ăn mặc, make-up cho đẹp và lên sân khấu hát thì sau lưng có một đám
múa. Nhưng ít chú trọng đến xúc cảm âm nhạc, không để tâm hồn vào bài hát”.
Có người nhờ sự hỗ trợ của vũ đạo, trang phục sexy mà che đi
khuyết điểm trong giọng hát của mình như câu thành ngữ mới: lấy mắt bù
tai! Như một nữ ca sĩ trong Oh my chuối được đưa lên trang
Youtube với mấy bộ váy áo cũn cỡn, vũ điệu gợi dục mà được chú ý... Hoặc,
gây sự chú ý bằng những scandal đời tư hơn là những trau dồi về mặt chuyên
môn. Thay vì tìm lối đi riêng, dày công tập luyện thanh nhạc, rèn luyện vũ
đạo, tham gia các chương trình âm nhạc có tính chất cống hiến, không ít ca sĩ
trẻ mải mê với các gameshow để đánh bóng hình ảnh, hoặc sa vào thể hiện lại những
ca khúc mà những ca sĩ nổi tiếng một thời đã hát, như trong các chương
trình: Gương mặt thân quen, Giọng ải giọng ai, Gương mặt thân quen nhí,
Phiên bản hoàn hảo...
Một số trong họ lại chạy theo thời thượng, hát nhạc lãng mạn
tiền chiến và tình khúc 1945 - 1975, làm “biến dạng”, “méo mó”
các dòng nhạc vốn sang trọng, thanh nhã này.
TS - NS Nguyễn Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ VN trong bài
viết như là tổng kết đánh giá toàn diện về âm nhạc Việt hiện thời “Âm nhạc
Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập quốc tế” đã viết: “Các ca sĩ,
các “Diva”, các Sao, các giọng ca dòng nhạc nhẹ nổi lên một thời gian
như cồn nhờ công nghệ lăng xê’’.
Nhiều giọng ca trẻ bắt chước giọng hát, cách
phát âm, nhả chữ... đến dáng điệu, y phục, trang điểm, cử chỉ và phong cách biểu
diễn của các ca sĩ đàn chị mà quên rằng: trong văn học nghệ thuật nói chung và
trong âm nhạc, nói riêng, cả trong sáng tác lẫn biểu diễn, rất kiêng kỵ sự lặp
lại người khác. Người nghệ sĩ muốn thành công, trước tiên phải “không giống ai’
nghĩa là phải có phong cách riêng. Thậm chí, Như Quỳnh, ca sĩ của dòng nhạc
này, trở về Việt Nam từ Mỹ làm giám khảo cuộc thi Thần tượng Bolero, trong buổi
gặp gỡ báo giới TP. HCM vào đầu năm nay, 2018 cũng chia sẻ: "Họ đang chịu ảnh
hưởng và bắt chước thế hệ trước. Nói ra điều này, nếu các ca sĩ trẻ có chê
trách, tôi cũng đành chịu. Các giọng ca gạo cội như Giao Linh, Thanh Tuyền,
Thanh Thúy, Hoàng Oanh... mỗi người đều có chất giọng đặc biệt, không thể lẫn lộn.
Tôi mong thế hệ sau sẽ có được giọng ca, âm điệu để cất tiếng lên, khán giả
không cần nhìn mặt vẫn nhận được đó là ai".
Trong nền âm nhạc thị trường, một số giọng ca nổi tiếng thành
danh với những dòng nhạc khác cũng không thể bỏ qua sức hút cũng như lượng công
chúng đông đảo của những ca khúc bolero như Cẩm Ly, Quốc Đại, Phương Thanh… Ngoài ra, một số ca sĩ trẻ như Quốc Thiên, Phương Vy... cũng đã chọn
bolero để làm mới mình, trong đó album Quốc Thiên - Tình ca vượt thời
gian cũng được đánh giá tốt.
Điều gây bất ngờ nhất là ba ca sĩ hàng
đầu của dòng nhạc học thuật là Khánh Hòa, một giọng ca thính phòng vốn
"đóng đinh" với nhiều ca khúc về chủ đề người lính, biển đảo, biên
cương; Hoàng Tùng, giải Nhất phong cách thính phòng Sao mai 2003 và
Lan Anh, một giọng ca opera sang trọng, đã không chỉ dừng lại ở việc
"hát chơi" như Trọng Tấn, Anh Thơ mà còn ra hẳn những album Bolero, đầu
tư hòa âm, phối khí mới cho các ca khúc… Có điều Khánh Hòa, một giọng
ca thính phòng nổi tiếng; Hoàng Tùng, vốn được đánh gía là giọng ca có kỹ thuật
điêu luyện và Lan Anh, một trong những giọng ca opera nữ số 1 Việt Nam hiện nay
khi từ lối hát học thuật của thính phòng chuyển thành chất bảng lảng xưa cũ của
những hoài niệm, khán giả cũng không khó để nhận ra họ đã thay đổi, với một
cách hát hoàn toàn khác. Cho nên có người đã đặt câu hỏi: Họ hát bolero là vì
đam mê thực sự hay là vì chạy theo trào lưu?
Đặc biệt là Phương Thanh với giọng hát dường như sinh ra cho
rock đã khiến khán giả bất ngờ khi ra mắt album Chanh Bolero. Một cách hát
nhạc xưa rất lạ, không quá sướt mướt, mùi mẫn, không sến sẩm, nhưng buồn
mà vẫn đẹp, vẫn cao sang của nữ ca sĩ đã trở thành một hiện tượng âm nhạc tích
cực của dòng nhạc bolero VN.
Nhưng Phương Thanh là trường hợp hiếm hoi, đa số các ca sĩ từng
nổi tiếng “lúc trước hát tốt, tôi thích, nhưng giờ chạy theo hát
nhạc vàng bị mất chất” như ý kiến của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9. Trả lời phỏng
vấn về ca sĩ thị trường ngày nay, ông có những nhận xét rất chân thành, thẳng
thắn, bình tĩnh, có trách nhiệm và nhiều trăn trở đối với giới ca sĩ và thậm
chí với từng ca sĩ đang ăn khách hiện nay. Có ca sĩ thì “cái gì
cũng tốt nhưng đều bị vướng vướng kỹ thuật thanh nhạc nên nhiều lúc nhạc cảm
không có, tâm hồn bài hát không có”. Có ca sĩ thì “đóng kịch nhiều hơn là
hát, khi diễn tả nội tâm, diễn kịch tính nhưng đóng kịch chứ không thật.”. Có
ca sĩ hát “chỉ nghe vui mắt, vui tai, nghe qua xong rồi thì
thôi, không để lại ấn tượng gì hết”. Có ca sĩ trước “hát cho thỏa
đam mê còn sau này, bị gò bó vào kỹ thuật để khoe giọng, và vô tình giết chết
tình cảm. Người nào cũng phô trương, tôi phải hát giọng cao tới nốt đó tôi mới
là ca sĩ, còn hát chưa tới thì chưa phải là ca sĩ. Cái đó là sai lầm tai hại vô
cùng và không ai chấp nhận”.
Người am hiểu và yêu âm nhạc rất lo lắng khi thấy nhiều ca sĩ
nhạc thính phòng được đào tạo về thanh nhạc nhiều năm trong nhạc viện, một số
được phong là Nghệ sĩ ưu tú bởi những cống hiến cho dòng nhạc sang trọng, trí
thức này, cũng vì đồng tiền đã bỏ sở trường là nhạc hàn lâm của mình chạy qua mảnh
đất đang màu mỡ là nhạc thị trường này. Đáng buồn hơn là khi thấy họ
đứng nghiêm trước những lời “úynh giá” của các ca sĩ nhạc sến đàn chị mà họ “khẩu
phục”, vì đứng trước một nền ca nhạc bị thương mại hóa, trong khi chắc chắn
họ không “tâm phục”, vì họ chắc chắn đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi một
dòng âm nhạc cao cấp hơn thấm sâu vào tim óc, máu thịt họ nhiều năm
rồi!
Những năm gần đây, người ta còn mời nhiều ca sĩ sến ở hải ngoại
về Việt Nam và tổ chức những đêm nhạc “hoành tráng” trên khắp ba miền đất nước
để các ca sĩ này hát những bài ca rên rỉ, nỉ non… một thời. Thậm chí, có
nơi còn “sính” hàng ngoại và “đồ cổ quá đà”, đến nổi phải mời họ làm giám khảo
cho những cuộc thi ca nhạc, hội diễn do địa phương mình tổ chức để truyền bá một
nền văn hóa, văn nghệ mới!
Kỳ 4: CÔNG CHÚNG CA NHẠC THỜI NAY
Quá trình sáng tạo của văn học - nghệ thuật nói chung bao gồm
ba thành tố: tác giả - tác phẩm - công chúng. Còn quá trình nầy trong âm nhạc,
nhất là trong ca khúc thì qua thêm nhiều trung gian hơn: tổ chức sản xuất, quảng
bá nhạc phẩm, biểu diễn ca khúc nên ít nhất phải có năm thành tố sau: tác giả -
ca khúc - người điều phối - ca sĩ - công chúng. Quá trình nào thì công chúng tiếp
nhận, hưởng thụ tác phẩm cũng là đối tượng cuối cùng và là trung tâm của sáng tạo
nghệ thuật.
Trở lên, trong khi bàn về bốn thành tố trước, đã không thể
không đề cập đến thành tố trung tâm của ca nhạc này - công chúng. Nên trước khi
trình bày cụ thể các lớp công chúng ca khúc ngày nay, xin mượn lời của người có
nhiều trách nhiệm với ca nhạc Việt Nam hiện nay, TS-NS Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch
Hội Nhạc sĩ Việt Nam để khái quát về công chúng ca nhạc hôm nay: “Hiện
nay, công chúng số đông thường chỉ chú ý vào các ca khúc thị trường ra đời một
cách vội vàng với ca từ đơn giản, sáo rỗng, âm nhạc lai căng, thậm chí “lấy cắp”
từ nhạc nước ngoài, theo dõi các ca sĩ, các “Diva”, các “Sao”, các giọng ca
dòng nhạc nhẹ nổi lên một thời gian như cồn nhờ công nghệ lăng xê. Công chúng,
đặc biệt là giới trẻ quên đi hoặc không biết tới dòng âm nhạc chính thống, kinh
điển bác học (thanh nhạc cũng như khí nhạc) và dòng âm nhạc cổ truyền - dân tộc” (“Âm
nhạc Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập quốc tế” tài liệu đã dẫn).
Nói như thế, có nghĩa dòng ca khúc nhạc nhẹ có chất lượng
tư tưởng - nghệ thuật, dòng âm nhạc kinh điển bác học và dòng âm nhạc cổ
truyền - dân tộc vẫn còn có một lớp công chúng riêng. Nhưng đang nói đến “công
chúng số đông” với ca khúc thị trường.
Số đông bạn trẻ ngày nay đều thích nghe nhạc trẻ, nhất
là các thể loại nhạc Rock, Pop Ballad, V-pop hoặc những thể
loại nhạc mạnh như “Dance remix” hay dùng cho các vũ trường… Nhưng
như đã nói ở trên, do thị hiếu thẩm mỹ chưa sâu sắc, cơ bản, còn nhất
thời như một thứ "mốt”, cho nên khả năng đánh giá, sự lựa chọn thẩm mỹ
chưa định hình rõ nét, mà thành ra khả năng cảm thụ âm nhạc thấp, có khi thông
tục; lệch chuẩn và phiến diện, cực đoan một chiều. Xin nói rõ hơn về từng loại
thị hiếu này.
Về cảm thụ âm nhạc cực đoan một chiều: vì quá say mê
dòng nhạc trẻ thị trường hiện nay, họ xếp tất cả các dòng nhạc nhẹ khác trước
1975: nhạc vàng, nhạc tiền chiến, nhạc vàng, tình khúc, nhạc xanh, nhạc trẻ… đều
là nhạc sến tuốt, là nhạc lạc hậu so với thời đại, trong
khi chính bản thân mình cũng không biết chọn loại nhạc giá trị
theo đúng nghĩa của nó để thưởng thức, chỉ biết nghe loại nhạc thị
trường đậm chất “sến” do các “nhạc sĩ thị trường” tạo nên.
Về thị hiếu âm nhạc lệch lạc, không đúng đắn, lành mạnh: Một bộ phận giới trẻ có xu hướng và thói quen thưởng thức âm nhạc bằng mắt hơn bằng tai vì ca từ làm sao họ hiểu nổi (ca từ tiếng nước ngoài hoặc ca từ tiếng việt thì sáo rỗng, vô nghĩa) và bằng chứng là những ca sĩ nào có vũ đạo đẹp, lạ, sôi động và ăn mặc mát mẻ sẽ thu hút được nhiều khán giả trẻ hơn.
Về thị hiếu âm nhạc lệch lạc, không đúng đắn, lành mạnh: Một bộ phận giới trẻ có xu hướng và thói quen thưởng thức âm nhạc bằng mắt hơn bằng tai vì ca từ làm sao họ hiểu nổi (ca từ tiếng nước ngoài hoặc ca từ tiếng việt thì sáo rỗng, vô nghĩa) và bằng chứng là những ca sĩ nào có vũ đạo đẹp, lạ, sôi động và ăn mặc mát mẻ sẽ thu hút được nhiều khán giả trẻ hơn.
Còn về khả năng cảm thụ âm nhạc thấp lùn, thông tục thì
vô số sự kiện minh họa: Ở trên có nhắc đến MV Oh my chuối, ca
khúc có ca từ nhố nhăng, lố bịch, tục tĩu và nữ ca
sĩ biễu diễn với mấy bộ váy áo cũn cỡn, vũ điệu gợi dục. Đáng ngạc
nhiên là theo một bài báo thì: "nhiều ý kiến cho rằng Oh my chuối là
thảm họa của V-pop, nhảm nhí, tục tĩu và gợi dục và xếp MV này vào một
trong những sản phẩm "rẻ tiền", "lố lăng”, thì MV Oh my chuối lại
thu hút nhiều người xem trên Youtube.
Rồi cuối năm 2013, trong một buổi biểu diễn tại Hải Phòng,
hai nam rapper trẻ trình bày một ca khúc khá nổi tiếng với lời "chế"
tục tĩu, đáng nói là lời "chế" này lại được khán giả tại buổi biểu diễn
ủng hộ! Hai ca sĩ này còn cùng một vài ca sĩ khác thuộc dòng nhạc
underground biểu diễn ca khúc Phiếu bé ngoan gồm hai phần, đều
có các ca từ vô cùng tục tĩu, phản cảm, mang tính khiêu dâm trần trụi và được
đăng tải trên một số trang nghe nhạc trực tuyến. Đáng tiếc là trong khi có bạn
đọc nhận xét trên Youtube: "YANBI sáng tác ra ca khúc này quả là con
người quá bệnh hoạn. Ca từ dung tục, trần trụi không một chút nghệ thuật dẫu là
nghệ thuật của tầng lớp sến, hạ cấp... Chắc khi sáng tác bài này YANBI đang ở
thời kỳ bệnh... nặng về thần kinh" thì vẫn vẫn có nhiều người ủng hộ,
bênh vực, có ý kiến cho rằng: “Đó là thể loại nhạc riêng tách biệt với những thể
loại âm nhạc đại chúng, và họ hát là vì niềm say mê âm nhạc” (!?)
Ba sự kiện này và nhiều sự kiện khác trong các đoạn trên khi
nói về nhạc sĩ, ca sĩ, giới sản xuất, tổ chức quảng bá, biểu diễn, vai trò của
truyền hình, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng… cho thấy, thực tế
đời sống âm nhạc ở Việt Nam hiện nay, một bộ phận công chúng yêu thích
các ca khúc rất thiếu văn hóa, giai điệu nhạt nhòa, na ná nhau, ca từ hời hợt,
dễ dãi, thậm chí ca sĩ rất sex và phản cảm thể hiện lại được hâm mộ và tôn
thành “thần tượng”.
Thực tế đó khiến dư luận phải đặt câu hỏi: Phải chăng thị hiếu
âm nhạc của một bộ phận công chúng, nhất là công chúng trẻ, đang trong xu hướng
xuống cấp nghiêm trọng?
Trong một xã hội mà nền kinh tế thị trường mới khai mở, những
hỗn loạn là không thể tránh khỏi khi đạo đức xuống cấp và chủ nghĩa sex (Sexual
Marxism) đang lên ngôi. Đại gia và một số quan chức khi ăn, uống phải có
em “nhà nghèo” ngồi cạnh. Chương trình trực tiếp bình luận bóng đá World đá” cup
2018 trên VTV năm nay, bao giờ cũng có một em trẻ đẹp gọi là yêu bóng đá,
mê cầu thủ nào đó ngồi trên diễn đàn chung với ba vị khách mời đáng kính trọng
là các chuyên gia bóng đá, phóng viên thể thao hàng đầu của Việt Nam. Người say
mê bóng đá chân chính vừa bực mình, vừa buồn cười, vừa thấy tội nghiệp khi nghe
các em uốn éo trả lời nhợt nhạt, “vô tư” trước những câu hỏi của biên tập viên
truyền hình có tính chuyên sâu về chiến thuật, chiến lược, đấu pháp… của trận đấu,
của bóng đá nằm “ngoài chuyên môn” của các em. Nhưng để chủ nghĩa tình dục
trên hết lan sang và nhúng chàm vào lãnh vực âm nhạc, một bộ môn nghệ thuật có
tính đại chúng cao và có ảnh hưởng lớn đến văn hóa, lối sống của công chúng thì
khác, thì thành quá nghiêm trọng rồi!
Công bằng mà nói, bộ phận giới trẻ này dù yêu thích đến say
mê loại nhạc rẻ tiền, lố bịch và phản cảm như thế, nhưng được cái, đó là niềm
đam mê chân thực, nhiệt tình, có khi đến “điên cuồng” của họ. Như có người sẵn
sàng làm mọi thứ để được gặp mặt, được xem thần tượng. Họ khóc, nài nỉ, thậm
chí… đe dọa tự tử với bố mẹ chỉ để được đi xem trực tiếp thần tượng của mình biểu
diễn. Rồi, sau khi đã được gặp thần tượng, họ sẽ bắt chước từ đáng đi, kiểu ăn
mặc, kiểu tóc... của thần tượng và sẵn sàng “ăn thua đủ” với những ai nói xấu
thần tượng... Chuyện bi hài mà nhiều kênh đã đăng: một nhóm bạn trẻ quỳ xuống
và hôn chiếc ghế của ngôi sao ca nhạc Hàn Quốc - Bi Rain đã ngồi, trong đêm lưu
diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội!
Lệch sang một hướng khác, có một bộ phận công chúng bây giờ
chỉ yêu thích nhạc vàng. Giới này gồm những người lớn tuổi thuộc tầng lớp bình
dân, trong đó có tầng lớp mới giàu và một bộ phận giới trẻ bây giờ, mà đáng ngạc
nhiên là có cả thanh niên có học, có cả cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ trẻ. Một số
trong họ đã đối lập nhạc vàng trước 1975 với tất cả các dòng nhạc khác (nhạc đỏ,
nhạc tiền chiến, nhạc phản chiến, du ca, tình khúc, nhạc trẻ…) và tự nguyện gọi
dòng nhạc mà họ thích là nhạc sến với với sắc thái biểu cảm
dương tính = ca ngợi, đam mê, yêu thích…, khác với giới có học, trung lưu ở miền
Nam trước kia, chỉ thích dòng nhạc sang (nhạc tiền chiến, phản chiến,
tình khúc …) gọi dòng nhạc đó là nhạc sến với sắc thái biểu cảm âm tính = coi
thường, thấp kém… Chuyện vui cực ngắn: "Em muốn hát nhạc sến
cơ! Bấm cho em bài Hương xưa của Cung Tiến(?) đi anh !..."
như lời một cô sinh viên nói với bạn trai trong phòng
karaoke!...
Lượng công chúng yêu nhạc vàng đông đảo trở thành một phong
trào, và như đã nói trên, đến nổi nhiều nhà sản xuất ca nhạc ra nhiều băng từ
bolero, nhiều ca sĩ chuyển dòng nhạc, nhiều ca sĩ bolero mới nổi lên, nhiều nhạc
hội, nhiều sàn diễn bolero được tổ chức, nhiều trang mạng đăng nhạc bolero, nhiều
đài truyền hình tổ chức nhiều chương trình nhạc bolero… để đáp ứng nhu cầu của
họ và để tăng thu lợi nhuận. Báo chí và các phương tiện thông tin khác cũng
không thể bỏ qua đề tài “ăn khách” nầy để thu hút độc giả, khán thính giả…
Thực ra, điệu bolero trữ tình vốn sang trọng, ngọt ngào, tiết
tấu chậm buồn, nhẹ nhàng, có thể nói đến chia ly, cô đơn, nhưng không quá
đau đớn, sầu não, bi lụy… như thực trạng do ca từ của nhạc sĩ và lối
hát của ca sĩ hiện nay tạo nên. Điều đáng nói, là công chúng yêu
dòng nhạc bolero đương thời lại nhận thức chưa đúng đắn chân giá trị cốt lõi của
dòng nhạc này, tưởng chất bolero là: sướt mướt, sến sẩm, ủy mị, quằn quại,
khổ đau, bi sầu, rên rỉ… như các ca sĩ ngày nay thể hiện và đánh đồng nhạc
bolero với nhạc sến, khi nó bị khai thác “quá đà” và “biến dạng” thảm hại trên
truyền hình và nhạc hội, sàn diễn ngày nay.
Như đang có cơn sốt bolero, một biểu hiện “hội chứng
đám đông”, theo “mốt”, mang tính phong trào quá rõ. Thị hiếu âm nhạc của một bộ
phận công chúng không còn là tự thân, mà đang bị truyền thông thương mại dẫn dắt
với mức độ thái quá. Lên xe đò, thường được nghe miễn phí, những bài hát
thuộc dòng nhạc bolero. Quà tặng cho nhau, giờ có thêm sản phẩm mới, là đĩa nhạc,
cái USB chứa bài hát bolero. Quán karaoke cho đến đám cưới bây giờ, nhạc bolero
được người ta chọn nhiều hơn. Thậm chí, đám tang người ta cũng “xài” bolero,
khi đám thanh niên hát buồn về khuya trong rạp đám và đội kèn hòa tấu trên đường
đưa đám, toàn bolero. Mở truyền hình, vặn đài, hết show này đến chương trình
khác, thi tài hát bolero. Báo chí, truyền thông xã hội giành nhiều diện tích,
thời lượng luận bàn về dòng nhạc này.
Dư luận đàm tiếu nhiều về thị hiếu âm nhạc của đám trọc phú mới
nổi: Ông chủ thì chỉ thích nghe nhạc sến Việt với giai điệu lèn phèn và lời
ca đơn sơ hợp với “gu” của họ; còn “cô cậu chủ”, con cái họ thì chỉ đủ sức cảm
nhận loại nhạc sến Tây phương ồn ào thô tục. Đám trọc phú này đã tung tiền để bảo
trợ những chương trình ca nhạc nhảm nhí trên các sân khấu và đài truyền hình khắp
các địa phương và thể hiện rõ đặc trưng của “trọc phú” là tính chơi ngông với
tiền bạc, tương tự như công tử Bạc Liêu xưa và Cường Đô La ngày nay: Trong những
dịp tiệc tùng như sinh nhật và cưới hỏi, họ dám thuê hàng chục ca sĩ tiếng tăm,
với thù lao cả hàng ngàn đô la Mỹ mỗi người, để hát những bài ca sến mà họ ưa
thích.
Một chuyện có thật: Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tổ chức một
đêm Nhạc Hoàng Việt, người nhạc sĩ sinh ra và lớn lên ở Bà Rịa, mời đoàn
nhạc giao hưởng TP. HCM cùng nhiều ca sĩ nhạc nhẹ hàng đầu VN về biểu diễn, cho
xe ca đưa cán bộ, nhân dân từ các huyện thị về TP. Vũng Tàu. Đêm nhạc hoành
tráng, sang trọng với những ca khúc nổi tiếng thuộc nhiều dòng nhạc của Hoàng
Việt: Tiếng còi trong sương đêm, Nhạc rừng, Lên ngàn, Quê mẹ, Tình
ca, Tình ca 2… và bản Giao hưởng đầu tiên của Việt Nam: Quê hương (1965).
Nhưng rạp hát Điện Biên với vỏn vẹn 500 chỗ, mở cửa tự do, không bán vé vẫn còn
lỏng lẻo người. Trong khi đó, đêm nhạc Tình ca bolero do Trung tâm
VH-TT tỉnh tổ chức ở TP. Bà Rịa mời các ca sĩ hạng hai thể hiện tại hội trường
lớn, Nhà biểu diễn đại chúng của Trung tâm có sức chứa trong cả hai tầng gần
1.000 chỗ, gấp hai lần rạp hát trên, lại chật nêm người mua vé vào cửa, trong
đó ngoài lứa tuổi trung niên, cao niên còn có đông đảo lớp người trí thức trẻ.
Lý giải cho hiện tượng nhạc trẻ bùng lên và nhạc vàng trỗi dậy,
ngoài những nguyên nhân kinh tế - xã hội, có những nguyên nhân xuất phát từ
phía chủ quan công chúng yêu nhạc. Đó là tâm lý “quen quá, hóa chán”,
“cũ người, mới ta”, và “thiếu gì, thích nấy”. Công chúng yêu nhạc
trước đây nghe toàn nhạc đỏ, “quen quá, hóa chán”, bảo hòa rồi, nay mở cửa được
"mở mắt" thấy được bầu trời âm nhạc rất đa hệ, phong phú,”thiếu gì
thích nấy” nên “cũ người mới ta” say mê các dòng nhạc mình tưởng
là mới lạ. Nhưng lý giải thế nào về hiện tượng một bộ phận trí thức trẻ bây giờ
lại yêu thích nhạc vàng, trong khi dòng nhạc này trước 1975, ở Miền Nam chỉ được
giới bình dân ở nông thôn, thị thành và lính hát, còn giới có học, như
sinh viên, bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo, sĩ quan… chỉ nghe các dòng nhạc sang? Cho
nên, thời đó muốn nghe nhạc vàng thì phải vào câu lạc bộ (CLB) Hạ sĩ quan &
Binh sĩ, còn muốn nghe nhạc tiền chiến, tình khúc, nhạc phản chiến… của Trịnh
Công Sơn, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Thương, Văn Cao… thì phải vào
CLB Sĩ quan (những người có tú tài trở lên). Có một độ chênh trong nhận thức và
cảm thụ thẩm mỹ giữa các thế hệ!
Có thể lý giải hiện tượng này bằng năng lực thẩm mỹ. Không
phải cứ biết chữ là đọc được thơ, cứ có mắt là xem được tranh tượng và không phải
cứ có tai là thưởng thức được nhạc. Điều đó còn tùy thuộc vào năng lực thẩm
mỹ của mỗi người. Riêng năng lực thẩm mỹ âm nhạc là khả năng của mỗi cá
nhân trong khi thưởng thức sản phẩm âm nhạc, từ đó nhận định về sự hay - dở,
xác định thái độ thích hay không thích đối với tác phẩm một cách đúng đắn,
lành mạnh. Năng lực thẩm mỹ âm nhạc của mỗi người tùy thuộc vào nhiều yếu tố tổng
hòa lại: văn hóa - giáo dục, năng khiếu, truyền thống, sự trải nghiệm, tự
học tập rèn luyện… của mình. Do đó, năng lực thẩm mỹ, xu hướng thẩm mỹ của mỗi
người mỗi khác nhau do các thành tố tạo nên khác nhau, nhưng thị hiếu thẩm
mỹ vẫn có mẫu số chung, đó là giúp con người hướng tới các giá trị chân - thiện
- mỹ, tiếp nhận nghệ thuật không chỉ để thỏa mãn nhu cầu, để giải trí, mà qua
đó thu nạp những giá trị có ý nghĩa xã hội - nhân văn, thu nạp tri thức, làm
phong phú đời sống tinh thần và đặt mình vào xu hướng luôn hành động sao cho có
thể vừa làm đẹp bản thân, vừa góp phần làm đẹp xã hội.
Trong nhiều yếu tố tổng hòa để hình thành năng lực thẩm
mỹ, quan trọng nhất là yếu tố văn hóa - giáo dục. Yếu tố văn hóa - giáo dục
không mâu thuẩn với, nhưng khác với yếu tố bằng cấp. Bằng cấp ngày nay thường
chỉ công nhận về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề của anh, nhưng thường
không thể hiện cấp độ văn hóa và mức độ “có giáo dục” của anh. Chuyện thường
ngày: Thời trước, mỗi giờ học Việt văn, anh say mê vì giáo sư làm cho anh yêu
cái đẹp, yêu văn chương - nghệ thuật, từ đó dần dần nâng cao khả năng cảm thụ
nghệ thuật của anh theo một lý tưởng thẩm mỹ đúng đắn và lành mạnh, góp phần
làm cho anh cảm thụ, nhận biết được ca khúc nào là có giá trị tư tưởng - nghệ
thuật để anh chọn. Còn bây giờ, có những tiết Giảng văn, anh nhàm chán vì có những
giáo viên bình giảng văn chương như lên lớp bài Chính trị, Đạo đức, Giáo dục
công dân, bởi giáo viên chỉ chú trọng đến ba mục đích yêu cầu: giáo dục
(truyền bá tư tưởng, đạo đức), giáo dưỡng (cung cấp kiến thức) và rèn kỹ
năng, mà quên mục đích yêu cầu thứ tư của môn Văn học là giáo dục thẩm mỹ, một
yếu tố để hoàn thiện nhân cách con người. Xong tiết học, anh không những không
yêu thêm văn chương - nghệ thuật mà còn “hãi” nó. Từ đó, làm cho anh dần
vô cảm với cái hay, cái đẹp của văn chương - nghệ thuật.
Rất mừng là còn công chúng thứ ba là đối tượng của “nhạc
sang”. Họ là những người có học: trí thức cũ (ở Miền Nam), trí thức cách
mạng (ở Miền Bắc), lớp trẻ có văn hóa thời nay và một lớp người thuộc thành phần
trung lưu am hiểu về âm nhạc, nhiều người trong họ biết chơi đàn, phổ biến là
guitar. Nhạc sang của họ là những ca khúc có giá trị, nổi tiếng một thời thuộc
nhiều dòng nhạc: nhạc đỏ, nhạc tiền chiến, tình khúc… và các ca khúc nhạc nhẹ
chính thống đương thời của các nhạc sĩ không chạy theo dòng nhạc thị trường bị
thương mại hóa.
Nhắc đến thực trạng âm nhạc hôm nay, lại nhớ đến một nhận định
trong bài viết khá công phu và nhiệt huyết “Âm nhạc Việt Nam xưa và nay!!!” của
Phan Nguyên Luân trên cuuhocsinhphuyencom.wordpress.com ngày 29.02.2016. Tác giả
đã trích dẫn lời của nhà xã hội học cổ đại Tuân Tử: “Một trong những đặc
trưng của thời loạn là âm nhạc nhố nhăng, bông lông” (Tuân Tử - Chương Bàn
Về Nhạc, Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, trang 314) để khái quát: “Việt Nam hiện nay
không có chiến tranh, nhưng lại có những dấu hiệu (sắp) đang ở trong thời loạn…
Mà âm nhạc của Việt Nam hiện nay thì quả thật quá nhố nhăng và bông lông”. Lập
luận của tác giả theo tam đoạn luận gồm ba mệnh đề: tiền đề là câu nói của Tuân
Tử, thân đề (đặt ở cuối) là nhận xét về thực trạng âm nhạc VN hiện nay “quá
nhố nhăng và bông lông”, kết đề (đặt ở giữa) là kết luận về xã hội VN “có
những dấu hiệu (sắp) đang ở trong thời loạn…”. Lời phán truyền của bậc hiền
triết Tuân Tử là chân lý rồi, thực trạng âm nhạc VN được nhận định như thế là
quá xác đáng rồi, nhưng dù đồng cảm với tác giả trên, cũng không thể hoàn toàn
đồng ý hoàn toàn với kết luận của ông. Bởi dù khái niệm “nhạc” trong Nho giáo
có những nét tương đồng với khái niệm âm nhạc hiện đại: Nhạc là sự hòa hợp
các thứ âm thanh mà tạo thành, thể hiện sự rung cảm của lòng người đứng
trước ngoại vật. Thiên còn lại trong Sách Nhạc (bị
thất lạc bởi chính sách “đốt sách” của Tần Thủy Hoàng) ghép trong Kinh Lễ có
viết về nhạc rằng: “có thể khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm
lòng người rất sâu và làm phong tục dời đổi được…”. Nhưng Nhạc trong quan niệm
Nho giáo cao hơn và khác với âm nhạc hiện đại, Khổng Tử viết: “Lễ để chỉ đạo ý
chí, Nhạc để điều hòa thanh âm, Hành chính để thống nhất hành động, Hình
pháp để ngăn ngừa tội ác. Lễ, Nhạc, Hành chính, Hình pháp có mục đích cuối
cùng là một, tức là thống nhất lòng dân để thực hiện một nền thạnh trị.”. Như vậy,
nhạc trong Nho giáo còn là đạo trị nước như Hành chính, Hình pháp. Quan niệm
như vậy, thì ở thời xa xưa đó, nhạc loạn thì nước loạn là đúng rồi. Còn âm nhạc
hiện đại là một trong 7 loại hình nghệ thuật (1.Kiến trúc và trang trí, 2. Điêu
khắc, 3. Hội họa, 4. Âm nhạc, 5. Văn Chương, 6. Sân khấu, 7. Điện ảnh). Nên tuy
âm nhạc rối loạn, xuống cấp có góp phần vào việc làm rối loạn, xuống cấp
đời sống xã hội, nhưng không thể đủ sức đẩy đất nước vào “thời loạn” được. Ở
đây, xin nói cho rạch ròi, cặn kẽ: Tác giả trên đã đánh tráo khái niệm trong lập
luận: đồng hóa hai nghĩa của một từ đồng âm, từ đa nghĩa, hay một từ dùng trong
hai phong cách ngôn ngữ khác nhau, khi “cào bằng” nghĩa cổ và nghĩa mới của từ
Nhạc (âm nhạc). Kiểu như lập luận ngụy biện trong tam đoạn luận vui sau: Vật
chất tồn tại mãi mãi, không bao giờ mất đi mà chỉ chuyển hóa dạng này qua dạng
khác. Bánh mì là vật chất, Vậy bánh mì tồn tại mãi mãi, mua một ổ ăn suốt đời! Tiền
đề và thân đề đều đúng nhưng kết đề lại… hài hước, gây cười, vì tác giả đã đánh
tráo khái niệm của từ đa nghĩa “vật chất”: “vật chất” trong mệnh đề 1 là thuật
ngữ triết học, dùng trong phong cách ngôn ngữ khoa học, “vật chất” trong mệnh đề
2 là ngôn ngữ thông thường dùng trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên. Một vỏ vật
chất của từ “vật chất” chứa hai tinh thần ngữ nghĩa khác xa
nhau!
Để có tạm kết lạc quan hơn cho phần này, xin mượn lời ba nhạc
sĩ có uy tín đương thời. Nhạc sĩ Đức Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học
Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Phó Chủ tịch thường trực Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cho
rằng: Âm nhạc giống như một dòng sông chảy qua nhiều đoạn. Có những đoạn chảy êm
đềm, cũng có những đoạn chảy thành nhánh, khúc khuỷu, bâng quơ. Nhưng cuối
cùng, những nhánh đó vẫn sẽ nhập vào dòng chảy chính và mọi thứ lại trở
nên tốt đẹp. “Từ xưa đến nay, âm nhạc có những khi khủng hoảng nhưng không
đến mức xuống dốc, hay đáng lo ngại. Bởi sau cùng, giá trị chân thực mới tồn tại
được”, ông chia sẻ.
Cũng đồng ý với quan điểm của nhạc sĩ Đức Trịnh, nhạc sĩ
Hoàng Lân, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, cho rằng: Mọi
thứ sẽ được sàng lọc bởi thời gian và công chúng. Những gì là ngọc quý có giá
trị sẽ trường tồn với thời gian. Còn những gì phản cảm, vô giá trị sẽ nhanh
chóng bị rơi vào quên lãng.
Nhận xét về âm nhạc thị trường hiện nay của Nguyễn
Ánh 9 đã gây ra phản ứng trái chiều trong công luận: “Nhạc thị trường
sẽ rớt dần và tới một giai đoạn nào đó, nghệ thuật sẽ lên ngôi. Nhạc thị trường
tự động phát sinh rồi sẽ tự động chết bởi những gì không hay sẽ không tồn tại… Đời
tôi không thấy nhưng đời con, đời cháu của tôi sẽ thấy điều này”.
Đáng lạc quan cho nền âm nhạc Việt Nam là ý kiến đồng thuận với
Nguyễn Ánh 9 chiếm số đông công chúng, trong đó có ca sĩ nổi tiếng như Ánh
Tuyết, đặc biệt thái độ “trân trọng” của những người có trách nhiệm cao nhất với
âm nhạc Việt Nam hiện nay: PGS.TS-NS Đỗ Hồng Quân và NS Cát Vận, Chủ tịch và
Phó CT Hội Nhạc sĩ VN trước “nhận xét rất chân thành, bình tĩnh, có
trách nhiệm và nhiều trăn trở đối với đời sống âm nhạc” (Đỗ Hồng Quân) của tác
giả của “Buồn ơi, chào mi”.
Xin đừng lo: "Hãy cứ vui chơi cuộc đời/ đừng cuồng
điên mơ trăm năm sau..." (Trịnh Công Sơn - Hãy cứ vui như mọi
ngày). Rồi các thế hệ công chúng âm nhạc sẽ giữ lại cái tinh túy và thời gian sẽ
cuốn trôi những rác rưởi. Rõ ràng trước mắt đó: Bây giờ ta đã có "Những
tình khúc bất tử", "Những tình khúc vượt thời gian”, "Những
tình ca xuyên thế kỷ", "Những ca khúc nổi tiếng một thời", "Những bài hát truyền thống - cách mạng", "Những bài ca đi
cùng năm tháng", "Những bài ca bất hủ", "Những bài ca không
quên", v.v... và v.v... rồi đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét