Ta thường nói cái này đẹp, cái kia xấu; đọc bài văn khen hay,
nhìn bức tranh khen khéo, nghe đàn mà cảm động, xúc cảnh mà hứng hoài. Bấy
nhiêu thứ đều gợi ra trong tâm tình ta một cái cảm riêng, nhà tâm lý gọi là “mỹ
cảm”.
Mỹ cảm thường cho là riêng của từng người. Cùng một cảnh trí,
cùng một bức vẽ, cùng một bài văn, cùng một điệu hát, có lẽ người này cho là đẹp
mà người kia cho là xấu người kia khen là hay mà người này chê là dở, tùy sự sở
thích, tùy cái thói quen của môi người.
Song, nếu như vậy thì quan niệm về sự Đẹp không có chuẩn đích
nhất định hay sao? Đã hay rằng lòng sở thích mỗi người một khác, không thể ép
cho giống nhau được, nhưng có sao có khi cùng một bài văn, cùng một bức họa, ai
ai cũng đều khen là hay, ai ai cũng đều nhận là đẹp?
Như văn chương nôm ta có Truyện Kiều, dù là danh sĩ giai nhân
cho đến nông phu dã phụ, cũng đồng thanh công nhận là hay cả, mỗi người cho hay
ra một vẻ, nhưng ai cũng chịu là hay.
Cớ sao lòng sở thích của người ta vốn bất nhất như thế, cái mỹ
cảm của bác thợ cày với cái mỹ cảm của thầy nho sĩ không sao giống nhau được,
mà có khi hòa hợp đến cùng khuynh hướng về một đường như vậy? Thế thì mỹ cảm
tuy là một cảm tình riêng mà cũng có căn cứ chung; quan niệm về sự đẹp không phải
là không có chuẩn đích.
Bởi sao vậy? Bởi cái đẹp đã lên đến trình độ cao thì tự có sức
mạnh vô cùng, cảm người sâu xa, đủ điều hòa được mọi sự phản trái. Các đế vương
đời xưa dùng âm nhạc mà trị dân, thực đã hiểu rõ sức mạnh của mỹ cảm.
Nhà triết học ngày nay cũng có người xướng lên lấy mỹ thuật
làm giáo dục, cho xã hội được hưởng hạnh phúc hòa bình.
Xét như thế thì sự Đẹp không phải là không có phép tắc không phải
là chỉ thuộc về cảm giác riêng của từng người, mà thực có quan hệ với nhân quần
xã hội.
Phát biểu những phép tắc ấy, nghiên cứu sự quan hệ ấy, đó là
mục đích của một khoa học tiếng gọi là “thẩm mỹ học”.
Phàm hiện tượng trong thế giới, đều có thể học được cả; không
những các hiện tượng mắt ta trông thấy, tai ta nghe thấy, giác quan ta cảm được,
đến những hiện tượng vô hình vô ảnh ở chốn u âm trong tâm giới, cũng có thể
nghiên cứu được.
Như thế thì sự Đẹp là phong phú của cuộc đời, màu mè của cảnh
vật phản chiếu vào trong lòng người, sự đẹp tăng thêm giá trị cho đời người, họ
lại không thể học được sao?
Vậy thẩm mỹ học là môn học riêng nghiên cứu về sự đẹp về hình
thức, tính chất của sự đẹp.
Hoặc giả nói: Người không có tài thì chẳng mỹ học nào dạy cho
có tài được. Đã không có tài thì dù theo phép tắc theo quy cũ của mỹ học, cũng
không bao giờ làm nên công trình mỹ thuật được. Làm ra đẹp, cảm sự đẹp là một
cao hứng tự nhiên, không thể đặt thành khoa học mà dạy.
Xin đáp rằng: mục đích của mỹ học quả không phải là muốn dạy
cho người ta có tài. Chỉ là nhân cảm cái gì đẹp, muốn giải xem sở dĩ làm sao
thà nó đẹp; muốn nghiên cứu cái lý do của mọi sự cảm giác về mỹ thuật.
Sự nghiên cứu ấy không sợ làm giảm mất thú của cái đẹp đi.
Không những không làm giảm mất, mà lại có phần tăng thêm lên. Vì mỹ cảm không
phải là mập mờ phảng phất mới là mạnh; mỹ cảm cũng như mọi mối cảm giác khác,
càng biện giải được phân minh, càng thâm trầm rõ rệt hơn.
Cái đẹp chân chính thì phong thú nó vô hạn, càng đến gần,
càng biết kỹ, lại càng cảm sâu. Nghiên cứu mỹ học không phải là không bổ ích về
thực tế; mĩ học có thể luyện cho người ta có tài thẩm mĩ, có lòng ái mĩ, mà gây
nên tính tình phong nhã.
Đứng trước một vật đẹp, quan sát cho kỹ, tự hỏi bởi đâu mà nó
đẹp, bấy giờ mới biết giá trị của vật ấy và biết yêu mến quí trọng thêm lên.
Chương trình của khoa mỹ học có thể chia ra làm ba phần như
sau nảy:
Một là bắt đầu tự tâm lý mà cứu xét xem lúc người ta đứng trước
cảnh đẹp, hoặc là cảnh thiên nhiên hoặc là công nhân tạo, trong lòng cảm ra thế
nào;
Hai là nhân đó tìm xem bởi những tính cách gì mà cái đẹp cảm
ta như thế; tức là giải tính chất của sự đẹp.
Ba là xét riêng về nhân công cấu tạo ra sự đẹp, tức là nghiên
cứu về mĩ thuật cùng các mỹ nghệ.
Như đứng trước một cảnh trí thiên nhiên, hay mỗi bức tranh vẽ
đẹp, hoặc là đại để vật gì đã nhiều người công nhận là đẹp, thì cảm giác ta lúc
bấy giờ như thế nào? Trước hết phải biết phàm sự đẹp bao giờ cũng cảm đến giác
quan người ta, hoặc là cảm ngay vào một trong ngũ quan, hoặc là kích động đến
cái nội quan trong tâm giới là trí tưởng tượng.
Như thế thì sự đẹp không phải là thuộc về siêu hình; đẹp là
phải có thể cảm ngay vào người ta được. Song không phải là cảm đến cả ngũ quan
đâu: như mùi thơm, vị ngon là những cảm giác không có tính cách mỹ cảm. Trong
ngũ quan chỉ có hai quan cảm được cái đẹp: là thị quan và thính quan, mắt trông
với tai nghe.
Bởi đó nên từ xưa đã chia các mỹ thuật làm hai loại: một loại
thuộc về hình sắc, do thị quan chi phối, như nghề hội họa, nghề điêu khắc; một
loại thuộc về thanh âm, do thính quan chi phối, như nghề âm nhạc, nghề ca xướng.
Như vậy thì sự đẹp không phải là một lý tưởng thuần túy; đẹp
phải biểu diễn ra hình sắc để cảm con mắt người ta, ra thanh âm để cảm cái tai
người ta, tức là thuộc về “hình nhi hạ”, thuộc về “cụ thể” cả.
Sự đẹp cũng không thể lẫn với sự thực được; tuy trong cái đẹp
phải có một phần thực ở đây thì mới đáng gọi là đẹp, song thực với đẹp vốn
khác, không giống nhau. Như cái chân lý vô hình, cái chân lý xuông thì không
sao sinh ra mỹ cảm được. Chân lý phải diễn ra hình tượng hiển nhiên, có vẻ sinh
hoạt, một cảm được người, mới sinh ra mỹ cảm.
Nay cái đẹp nó cảm ta ra thế nào? Ai cũng biết trong tâm giới
chia ra ba phần, gọi là ba “năng lực” của tinh thần: một là “ý”, hai là “trí”,
ba là “tình”. Vậy xét lần lượt từng phần, cho biết cái đẹp cảm mỗi phần thế
nào.
Trước nhất xét về ý. Về phần ý thì cái cảm của sự đẹp rút lại
có một đặc tính như sau này: là đối với vật đẹp, ý ta xui ta muốn bắt chước, muốn
hình dung lấy, truyền thần lấy. Phần nhiều người thời ý bắt chước ấy chẳng qua
cũng là một cái mạn hứng nhất thời mà thôi.
Nhưng vào những người có tài, có thể thành một khuynh hưởng rất
mạnh, đủ khiến nảy ra tư cách sáng tạo mỹ thuật.
Nói đến trí, thì chắc có một phần to trong sự cảm giác cái đẹp.
Đối với cái đẹp lòng ta sinh ra một cảm tình gọi là mỹ cảm, sự đó đã cố nhiên rồi;
nhưng ta vừa cảm mà ta lại vừa phán đoán nữa.
Có người tưởng lầm rằng sự đẹp cảm động thẳng ngay đến tâm
tình người ta, làm cho như say như mê đi, phần trí không có can thiệp gì đến.
Thực không phải thế. Mỹ cảm chân chính bao giờ cũng phải thỏa
hiệp với lý trí mới gọi được là hoàn toàn. Nếu không thế, nếu chỉ cảm động đến
phần tình thôi, thì là một sự du khoái thường, chưa phải là mỹ cảm, vì mỹ cảm
dù mãnh liệt đến đâu cũng vẫn có vẻ bình tĩnh trang nghiêm, hợp với lẽ phải.
Nên khi xét đoán về mỹ thuật, đã đoán định cái này là đẹp cái
kia là xấu, thì cho sự phán đoán ấy là, nhất định, là hợp lẽ, có bằng chứng hẳn
hoi. Như ngắm một phong cảnh đẹp thời cái đẹp ấy nó cảm mình tưởng cũng rõ
ràng, đích xác không còn nghi ngờ gì nữa. Đến như ý kiến người ta về mỹ thuật,
nếu có phán đoán theo lẽ phải, thời cũng không phải là vô bằng cả.
Sau hết nói đến tình. Trong ba phần ý, trí, tình, thì phải chịu
rằng sự đẹp quan hệ với phần này nhiều hơn cả. Nên người ta thường nói đẹp thuộc
về tình không phải là nói sai. Cảm giác về sự đẹp là một khuynh hướng đặc biệt,
trong khuynh hướng ấy không có chút tự kỷ nào.
Ta thấy cái đẹp ở đâu thì tự nghiêng lòng về đấy, không phải
là vụ cầu lấy ích lợi gì cho mình. Yêu chuộng cái dẹp, chỉ là vì đẹp mà thôi,
không phải vì lẽ gì nữa. Đã đẹp thì không hề hỏi có thể dùng được việc gì.
Trong cái đẹp tức đã gồm một sự ích lợi cao thượng, là khiến
được cho người ta thỏa lòng mãn ý, hưởng một sự du khoái thanh cao. Vì người ta
cảm sự đẹp, dường như thấy phẩm cách mình cao hơn lên, giá trị mình tăng hơn
lên.
Thực thế. Mỹ cảm là một cảm tình cao thượng khác hẳn nhưng sự
khoái lạc duy kỷ; mỹ cảm vốn có tính dễ ba cập ra ngoài: một người được hưởng
cái đẹp, muốn chia cho một người cùng hưởng; càng lan rộng ra bao nhiêu, hình
như cái thú lại càng tăng lên bấy nhiêu.
Đã có sức ba cập ra ngoài, lại bình tĩnh trang nghiêm dù mãnh
liệt, vẫn uy nghiêm.
Nói thế tất có người bẻ rằng: Cảnh đẹp thiên nhiên, không gì
đẹp bằng cảnh bể lớn đương buổi ba đào. Đứng ngắm cảnh ấy, cảm giác trong lòng
có thể bình tĩnh đang nghiêm được không? Xin đáp rằng: Nếu là một cảm giác đẹp
một mỹ cảm, tất phải bình tĩnh trang nghiêm, không thì không gọi là mỹ cảm được.
Như người thủy thủ đi bè, gặp cơn gió bão, sống chết ở trong
đám ba đào, thì cảnh trời bể vật lộn ấy là một cảnh dữ dội gớm ghê, không phải
là cảnh đẹp. Đương khi người thủy thủ còn đánh vật với sóng ở giữa bể khơi,
đương khi người vợ người mẹ đứng mong chồng mong con ở trên bãi bể, cầu nguyện
cho thoát nạn, chắc không có người nào nhìn cái cảnh ấy mà sinh mỹ cảm dược.
Nhưng khách du lãm, đứng trên bờ cao chiếu ống dòm mà trông
ra, thì tất lấy cảnh phong ba ấy làm đẹp vô cùng. Trông thấy dữ dội có lẽ cũng
cảm động, nhưng sự cảm động ấy không đủ làm rối trí mà khiến cho không nhận được
cái đẹp, vì nếu đã rối trí thì không còn cảm giác và phán đoán được sự đẹp nữa.
Ấy cái đẹp cảm người ta như thế, ảnh hưởng đến cả ba phần ý,
trí, tình, mà mạnh nhất là phần tình. Nay đã biết cảm giác ra làm sao, ảnh hưởng
thế nào, có thể suy ngược đến nguyên nhân mà giải đẹp là cái gì, cùng cái gì
làm thành ra đẹp.
Muốn biết tính chất cái đẹp thế nào, phải phân biệt rõ ràng,
không nên lẫn đẹp với nhiều cái khác, như sự thích, sự lợi, sự thực, sự “lành”.
Cái đẹp đối với bấy nhiêu cái vẫn có quan hệ với nhau, nhưng không phải giống
nhau. Nay thử xét sự quan hệ ấy ra làm sao.
Trước hãy nói đẹp không giống với cái thích, cái gì thích
không tất nhiên là đẹp. Chắc rằng cái đẹp bao giờ cũng làm cho người ta thích,
mà thích hơn cả mọi sự khác; nó khiến cho khoan khoái trong lòng, vui vẻ trong
trí, có khi làm cho ta say mê được; nhưng không phải vì ta thích mà gọi là đẹp,
chính bởi có đẹp ta mới thích.
Từ cái thích đến cái đẹp, quãng đường còn xa lắm, mà cái
thích về mỹ cảm lại là cái thích đặc biệt, không giống cái thích khác. Cái sở
thích thường chỉ cảm đến một bộ phận trong người ta, tiếp xúc ngay vào thân thể,
không được bình tĩnh trang nghiêm.
Như thế không gọi là “mỹ cảm” được. Cho nên phàm mỹ thuật mà
chỉ muốn khêu giục những cảm giác xấu của người ta để thỏa mãn cái sở thích về
nhục thể, là sai mục đích chân chính của mỹ thuật. Cái thích của mỹ thuật phải
là cái thiện cao thượng, vì sự đẹp là phát biểu phần tinh hoa trong tâm trong
trí người ta.
Nên các nhà tâm lý nói rằng cái thích về sự đẹp là một mối “cảm
tình”, không phải là một sự “cảm xúc”. Cảm tình là cái cảm đã nhập vào tính
tình, cảm xúc là cái cảm chỉ động đến thân thể, hai đàng khác nhau xa.
Đẹp lại không giống với lợi. Ích lợi là gì? Là dùng được việc,
là mưu định một việc gì mà ứng dụng được thích đáng với việc đó. Cái gì dùng được
việc, trông thấy lợi ngay là có ích lợi. Máy dùng để chạy, áo dùng để mặc, đều
là những vật có ích lợi cả.
Nhưng không phải vì ích lợi mà là đẹp. Cái đẹp ở ngoài và cao
hơn sự lợi ích; đẹp tự có một mục đích, không phải theo mục đích nào khác. Như
áo mặc vẫn có áo đẹp; nhưng vì không đẹp cũng vẫn có ích; có ích là dùng để mặc
cho ấm người, còn đẹp là ở kiểu cách khéo ở ngoài. Như vậy thì sự đẹp dường như
là một sự thừa, một cái phụ ở ngoài, nhưng là cái thừa, cái phụ tuyệt phẩm; nó
không có mục đích, vì mục đích nó là ở nó rồi.
Có khi cái đẹp không những không ích lợi mà lại thậm vô ích,
thế mà thiên hạ vẫn quí vẫn chuộng, chỉ là vị đẹp.
Đẹp lại không giống với thực. Boileau có câu nói rằng: “Không
cái gì đẹp bằng sự thực”. Nghĩa là đẹp phải có thực mới được; phải hợp lẽ thiên
nhiên, không trái phép thường của sự vật. Song sự thực tuy là một phần trong
cái đẹp nhưng không phải cái gì thực là đẹp cả đâu.
Như cái chân lý vô hình, gọi là đẹp sao được, vì chỉ thuần
thuộc về “trí” mà không cảm đến “tình”. Sách Thiên văn toàn là kể sự thực cả,
nhưng đọc sách thiên văn không tất gợi nên mỹ tình mỹ cảm. Mỹ cảm ấy là khi đêm
thanh vắng, ngửng mặt lên ngắm cái cảnh tượng sao lấp lánh trên bầu trời. Bộ
xương người không phải là đẹp, nhưng cả thân thể người ta, có vận động, có sinh
hoạt, có tầm thước, có dịp dàng, mới là đẹp.
Nên câu của Boileau trên kia phải lấy câu sau này của Platon
bổ thêm vào mới trọn nghĩa. Platon nói: “Cái đẹp ấy là cái vẻ rực rỡ của sự thực”,
nghĩa là tô điểm cho sự thực được tốt tươi, có văn vẻ thêm lên.
Đẹp lại không giống với lành. Lành tức là điều thiện. Việc
làm không trái với luân thường đạo lý là việc thiện. Đẹp có thể vừa lành được,
nhưng lành không tất nhiên là đẹp. Lại lành hay là thiện là sự cưỡng bách; làm
người ai cũng phải có lòng lành, không thể là người dữ người ác.
Như sự đẹp thì có thể cỡng bách được không. Quyết rằng không.
Đã gọi là đẹp mà lại nói là có thể bắt ép được, thì thực là lời nói vô nghĩa.
Tuy vậy, sự đẹp với sự lành, không phải là không có quan hệ với nhau.
Đẹp với lành, là hai tên để chỉ một sự tuyệt phẩm, xét ra hai
phương diện khác nhau. Lành là sự tuyệt phẩm trong cách ăn ở, đẹp là sự tuyệt
phẩm ở ngoài hình thể.
Trong làng văn thường xuất hiện một vấn đề như sau này: văn
chương quan hệ với đạo đức thế nào? Như một bài kịch mà suốt từ đầu đến cuối chỉ
toàn những lời khuyên răn cả, như một thiên luân lý, thì còn nghe sao được?
Nhân vật toàn những người đạo đức cả, thì lạnh lẽo quá chừng, không còn thú vị
gì nữa; phải tả cả những kẻ tàn ác, dâm tà, điên đảo, hiểm độc, mới ra vẻ diễn
kịch.
Không những thế, có khi những nhân vật rất hèn mạt xấu xa mà
khéo hình dung tả mạc, đủ làm nên một chuyện rất hay.
Như thế thì đẹp với lành thực là khác nhau, và mỹ thuật với đạo
đức không thể lẫn được. Tuy nhiên, một tác phẩm mỹ thuật cũng cần phải giữ cho
không hại đến phong tục trong nước, lương tâm người ta; cái thú của mỹ thuật phải
là cái thú chính đại quang minh; không nên là cái thú thiên tà khuất khúc người
in ai cũng có lòng hiếu nghĩa, liều đọc quyển sách, xem bức tranh, nghe bài đàn mà không thấy
cái gì đủ ứng khởi lòng hiếu nghĩa ấy, thì cảm thú tất không được hoàn toàn, mỹ
tình tát khi nó được trọn vẹn. Song phải biết đạo đức không tự nhiên là sinh ra
mỹ cảm. Làm con hiếu với cha mẹ, là làm trọn đạo lành, việc thuộc lương tâm,
không thuộc mỹ tình.
Sự lành mà thành đẹp là khi biểu lộ ra ngoài cảm động đến trí
tưởng tượng người ta, như làm những việc đại tiết nghĩa, đại công danh, đột ngột,
hiển hách, khiến cho người đời phải khâm phục. Nhưng “đẹp” đây cũng là đẹp
nghĩa bóng mà thôi, không phải là cái “đẹp mỹ” thuật.
Nay đã biết những cái gì là không thuộc về đẹp rồi, ngõ hầu
có thể giải nghĩa đẹp là gì.
Xưa nay các nhà làm sách định nghĩa chữ đẹp cũng đã nhiều;
nhà triết học cũng mỗi nhà giải ra một cách, có khi cao xa quá mà không thiết
thực. Như có nhà nói: “Đẹp là tổng hợp cái hữu hạn với cái vô hạn, cái tuyệt đối
với cái tương đối” tưởng cũng viển vông lắm.
Muốn định nghĩa cho vừa rõ ràng, vừa đầy đủ, thì phải giải sự
đẹp là cái gì sàng sủa, trọn vẹn, văn vẻ điều hòa, diễn ra hình thức, cảm đến
giác quan, gợi mối tưởng tượng, khơi nguồn tình tứ, khiến cho người ta có cảm
hoài, có hứng thú, được mãn ý, xứng tình, hài lòng, khoái trí.
Câu định nghĩa ấy không được gọn gàng, nhưng có lẽ cai quát
được cả ý nghĩ cái đẹp. Đã gọi là đẹp thì phải sáng sủa mà không mập mờ, trọn vẹn
mà không khuyết điểm, văn vẻ mà không thô tạp, điều hòa mà không sốc nổi, lại
phải phô diễn rực rỡ ra ngoài để cảm đến tai mắt người ta, không thể tiềm tàng
trong tâm trí đầu óc.
Có đủ bấy nhiêu tính cách, mới là cái đẹp chân chính.
Cái đẹp chân chính thật là cống hiến cho ta một sự khoái lạc
hoàn toàn. Người ta có nhiều cách sướng: sướng về nhục thể, sướng về tinh thần:
ăn no uống say, đàn ngọt hát hay là sướng; thưởng thức văn chương, suy nghiền
nghĩa lý cũng sướng.
Nhưng khoái lạc về mỹ thuật có khác, gồm cả các khoái lạc về
tinh thần cùng nhục thể, và là phần tinh hoa trong các tình cảm của người ta.
Nó là cái sướng, cái thú hoàn toàn hơn cả, vì cả tâm hồn thân thể đều được thỏa
mãn.
Cổ triết có câu: “Người ta là một toàn thể y nhiên tự trời
sinh ra”. Như thế thì thân thể ta, linh hồn ta, tâm thần trí tuệ ta, tình cảm ý
chí ta, đều là một cả, và gồm lại thành một bản thể thiên nhiên. Sự đẹp cũng vậy,
chung đúc cả cái thú cao thượng làm một thể, tinh anh phát tiết ra ngoài thì cảm
tai mắt, tính tình ta, nghĩa lý ẩn ngụ ở trong thì cảm tinh thần trí tuệ ta.
Đối với sự đẹp, cả toàn thể người ta đều phấn khởi khích
thích như muốn hớn hở, tươi cười dịp dàng, nhảy múa. Ấy ảnh hưởng của sự đẹp
sâu xa như vậy.
Các sách bàn về thẩm mĩ học thường nói trong cái đẹp có một
phần cốt yếu, không có lợi đẹp không được toàn. Phần ấy tức chữ tây gọi là
grâce, mà ta gọi là “duyên”. Đẹp vô duyên thì đẹp cũng như xấu, đẹp có duyên mới
là đẹp hoàn toàn.
Duyên là gì? Cũng khó mà giải được cho rõ. Duyên có lẽ là cái
vô hình màu nhiệm, “điểm nhãn” cho cái đẹp, mà không có thì đẹp thành ra trẽn
ra “trơ”.
Duyên là ở dáng điệu uyển chuyển mềm mại, ở sự vận động, sự
sinh hoạt điều hòa. Nếu là một vật bất động, như bức tượng, thì duyên là ở cái
hình thể nhẹ nhàng, tưởng như có khí sinh hoạt thực.
Về âm nbạc thì duyên cũng ở sự vận động, nhưng sự vận động
đây dường như ở ngay trong người mình, nghe tiếng đàn lưu loát mà tâm hồn tự
nhiên khoan khoái. Lại như trông bông hoa đẹp, thì duyên là cái vẻ mỹ miều tươi
tắn, như chúm chím muốn chào ta vậy.
Muốn hiểu rõ duyên là gì, thì nghĩ ngay thế nào là “vô
duyên”. “Vô duyên” là cứng cỏi, lạt lẽo, trơ trẽn, hững hờ. Có cái đẹp “vô
duyên” là cái đẹp bông hoa giấy, cùng mầu cũng sắc mà không vị không hương.
Nhưng vì sao cái gì có màu mè, có ý vị thì gọi là có duyên, đều
khiến cho người ta khả ái? Vì nó có vẻ sinh hoạt, không phải là vật vô hồn.
Vẻ sinh hoạt ấy lộ ra hình dáng uyển chuyển mềm mại, bóng bảy
nhẹ nhàng. Những tính cách bề ngoài ấy lại là tiêu biểu cho mấy đức tính ở
trong.
Người đằm thắm dịu dàng là người có bụng tốt, có tình yêu có
lòng tin với mọi người, đối với ai cũng dễ khiến sinh ra thiện cảm. Người như
thế là người có duyên, mà có duyên thì hình như có cái hương thơm riêng, đi đến
đâu cũng được lòng yêu của chúng. Đó là cái vẻ đẹp cái thú nhã của người ta. Có
đẹp mà không có duyên với có duyên mà không có đẹp, người đời ưa duyên hơn đẹp.
Đẹp mà nghiêm khắc quá, chưa phải là thật đẹp. Suy rộng ra
các tác phẩm mỹ thuật, không phải cứ ngang bằng sổ ngay, không sai qui củ là đẹp,
đâu phải có vẻ tự nhiên linh hoạt như cái duyên trong người ta mới thật là đẹp.
Bây giờ thử đem cái đẹp ra phân tích, xem có những duyên chất
gì. Đã nói đẹp với duyên quan hệ với nhau thế nào. Duyên tuy là cái vẻ tốt tươi
của sự đẹp, không có thì đẹp không được hoàn toàn, nhưng cũng mới là một nguyên
tố trong nhiều nguyên tố khác họp lại thành ra đẹp. Các nguyên tố ấy có thể
chia ra làm hai hạng: một là những nguyên tố thuộc về cảm tình, hai là nhữngnguyên
tố thuộc về lý trí.
Cứ theo các nhà mỹ học phân giải, thì thuộc về cảm tình có ba
phần tử như sau: lực lượng, sinh hoạt và nhã thú.
Lực lượng là cái vẻ mạnh mẽ, tuy mỗi vật mỗi khác, nhưng đại
để ở nguyên khi sung túc, hình thể quảng hoạt, không yếu ớt, không eo hẹp,
không thắt buộc, không cọc cằn. Như cây đa cây đề phải cao lớn rườm rà, cây lan
cây huệ phải tốt tươi rậm rạp, giống nào sức sinh trưởng được bao nhiêu đến được
bấy nhiêu, thế là đẹp.
Như người nước: ta thích chơi những cảnh cây uốn, cảnh non bộ,
thu rút hình thể thiên nhiên cho bé nhỏ lại, là vì cái tính riêng hiếu kỳ,
không phải vì những cảnh ấy có đẹp gì.
Sinh hoạt là cái vẻ linh lợi, như con vật thì vận động lanh lẹ,
tiếng đàn thì lưu loát dễ nghe, bông hoa thì mơn mởn tốt tươi, bức họa thì hiển
nhiên như thực. Bông hoa giả dù làm khéo đến đâu, hệt đến đâu, dụng công đến
đâu, cũng không đẹp bằng hoa thật, là vì không có vẻ linh hoạt.
Còn nhã thú, thì tức là “cái duyên” đã giải trên kia, cốt ở mềm
mại êm đềm, mỹ miều khả ái, có lực lượng, có sinh hoạt chưa đủ khiến cho ưa
thích, phải có nhã thú mới gợi được cảm tình.
Thuộc về lý trí, cũng có thể phân biệt được ba phần: nhất
trí, chuyển biến và thích nghi.
Sự nhất trí là một sự yếu cần của lý trí. Tư tưởng tức là nối
tiếp ý nọ với ý kia, nghĩa là xếp đặt cho nhất trí. Phàm sự gì loạn tạp, phiền
phức, hỗn độn thì trí thức không thể quan niệm được. Nên đã gọi là đẹp phải có
nhất trí, phải có một nơi trung tâm yếu điểm bao quát hết thảy, khiến cho manh
mối rõ ràng, trật tự chỉnh đốn, nhiên hậu trí thức mới thừa nhận cho là đẹp.
Nhưng nhất trí không phải là nhất luật, như cung đàn độc điệu,
nghe phải chán tai, bức họa nhất sắc, nhìn phải mỏi mắt. Nhất trí là gồm nhiều
phần khác nhau mà thống thuộc vào một nơi yếu điểm chung. Như cung đàn phải có
nhiều tiếng nhiều điệu gián tiếp nhau, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng khoan, tiếng
nhặt, miễn là có dịp dàng tiết tấu theo một cái khuôn khổ chung.
Nên trong sự nhất trí phải có “chuyển biến” nữa. Như vẽ một bức
tranh cảnh, phải thế nào cho hồn nhiên là một bức cảnh, nhưng trong cái hồn
nhiên ấy phải có nhiều vẻ khác nhau khéo điều hòa làm một: non xanh nước biếc,
cây có rườm rà, chỗ lạt chỗ đậm, chỗ sáng chỗ tối, đây chú tiều, đó cái quán, nọ
dịp cầu, kia chiếc thuyền; tuy bấy nhiêu thứ ngổn ngang mà xếp lại thành một bức
sơn thuỷ. Cũng có khi bức tranh vẽ thuần một vẻ, nghe toàn trời, hoặc toàn bộ mới
trông tưởng là không có biến chuyển chút nào mà nhìn kỹ màu sắc phong phú là dường
nào!
Tả là một mảnh trời bể mênh mông, trờii không có gì khác, chỉ
có mây với nước, mà mắt ta nhìn, tinh thần ta như đi theo.
Mộng du trong khoảng không vô hạn. Ấy cũng là bởi khéo chuyển
biến mà mắt nhìn không chán.
Thích nghi thì khác. Thích nghi là ở cách xếp đặt thế nào cho
hợp với cảnh ngoài. Như cây đa cây đề phải mọc chỗ đất cao có hình thế mới xứng
đáng. Nếu vẽ vào đất thấp, không có bề thế thì tất không thích nghi. Bài văn
cũng vậy, chỗ nào lời nên bình dị phải bình dị, chỗ nào lời nên hùng hồn, phải
hùng hồn, đương nghiêm trang mà trào phúng, đương trào phúng mà nghiêm trang
thì khó nghe lắm, thế là không thích nghi.
Ấy trong sự đẹp có bấy nhiêu phần tử phân tích ra như vậy. Phải
gồm được cả, đủ thỏa thích cả cảm tình cùng lý trí mới là thật đẹp.
Khi nào bấy nhiêu phần tử điều hòa bằng nhau, đều đặn không
bên nào hơn bên nào kém, thế là chân mỹ. Khi nào hoặc kém hoặc hơn không cân
nhau thì hoặc gọi là diễm lệ, hoặc gọi là hùng tráng.
Vậy thử xét ba thứ đẹp ấy khác nhau thế nào.
Chân mĩ là cái đẹp bình tĩnh trang nghiêm, như cái đẹp một bức
tượng. Các nhà mỹ học thường nói nghề làm tượng là nghề dễ đến được chân mỹ.
Bức tượng bằng đồng hay bằng đá bao giờ cũng vẫn có vẻ uy
nghiêm, trái hẳn với những lối mỹ lệ tầm thường, mà bao giờ dáng điệu cũng điều
độ hình thế cũng chỉnh tề, khác hẳn với những lối hùng tráng cao kỳ.
Diễm lệ là cái đẹp hơi kém bề mạnh mẽ trang nghiêm có vẻ sinh hoạt, có duyên đậm
đà, nhưng phần “chuyển biến” nhiều hơn phần “nhất trí”. Diễm lệ là cái đẹp mà
hoặc trong sự mệnh ý, trong cách hình dung có kém phần lực lượng.
Như thơ thì lối ca từ là thuộc về thể diễm lệ. Cái đẹp của
các thứ hoa, cái đẹp của cây liễu thướt tha, cái đẹp của con ong cái bướm, của
các giống vật bé nhỏ xinh xinh, là cái đẹp diễm lệ.
Hùng tráng là cái đẹp mà bề mạnh mẽ nghiêm trang lên đến cực
điểm, sự vận động, sự sinh hoạt cương cường kịch liệt, mà phần nhất trí, phần
chỉnh đốn có kém.
Nói rằng phần chỉnh đốn có kém, không phải là tuyệt nhiên
không có chỉnh đốn. Hỗn độn gì bằng cái cảnh bể khơi đương khi gió bão, thế mà
trong sự hỗn độn vẫn có phép tắc, vì ngắm cảnh ấy mà biết phép tạo vật dữ dội
thế nào, cổ lai vẫn thường như thế, nhất định như thế, không bao giờ sai. Nếu dữ
dội mà không có phép tắc gì, nhất thiết hỗn độn cả, thì tất ghê sợ mà không cảm
phục được.
Đẹp hùng tráng là cái đẹp lớn lao mạnh mẽ khiến phải cảm phục.
Núi cao, thác lớn, rừng rậm, bể khơi, cảnh hùng tráng thường là cảnh thiên
nhiên.
Nói rút lại, diễm lệ là cái đẹp thông thường, chân mĩ là cái
đẹp chỉnh đốn, hùng tráng là cái đẹp cao kỳ.
Mỹ cảm là cảm giác ai cũng có. Nhưng thường phảng phất, không
mấy người hiểu rõ căn nguyên tính cách thế nào. Trở lên là theo các sách triết
học tây mà giải nghĩa đẹp là gì. Coi đó thì biết trong cái đẹp gồm bao nhiêu
“chất” ở đấy; phải phân biệt cho rõ mới đủ tài liệu mà thưởng thức sự đẹp.
Nay thử kết luận mấy câu mà so sánh cái cách người Đông
phương với người Tây phương cảm giác sự đẹp khác nhau thế nào. Đại để thì người
Tây hiểu nghĩa đẹp rộng hơn người Đông.
Phàm hiện tượng gì trong trời đất, công trình gì của người
ta, loài giống gì trong vạn vật, mắt trông thấy, tai nghe thấy, lòng tưởng đến,
trí nghĩ đến, mà hứng khởi cảm phục, vui vẻ khoan khoái, người Tây cho là thuộc
về đẹp cả. Nên thường không câu nệ phải theo lề lối, phải hợp phép tắc mới công
nhận là đẹp. Người Đông phương ta thì trong cách cảm giác sự đẹp, trong cách
hình dung sự đẹp có ý miễn cưỡng, có ý kiểu sức, không được tự do, không được tự
nhiên. Cái đẹp đã có mẫu sẵn, mẫu ấy di truyền đời nọ sang đời kia, hình như đã
in vào trong trí nhớ người ta. Trước khi công nhận sự gì vật gì là đẹp, phải đối
chiếu với khuôn mẫu cũ, có giống mới cho là đẹp.
Đàn bà phải môi son má phấn, vóc liễu mày ngài mới là đẹp.
Đàn ông phải diêm dúa chỉnh tề, tới lui điều độ mới là đẹp. Cho đến văn chương
tư tưởng cũng phải theo quy cũ nhất định mới là đẹp. Bởi quan niệm về sự đẹp có
phần bó buộc hẹp hòi như thế, nên my thuật văn chương kém bề mới mẻ đặc sắc.
Trong ba cách đẹp như trên đã giải, cái đẹp của Đông phương
ta có lẽ thiên về phần diễn lệ mà thiếu về phần hùng tráng vậy.








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét