Mỹ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 nằm trong một
quá trình chuyển biến và phân hoá quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam.
“Em Thúy”, tranh của Trần Văn Cẩn.
Ngày nay nói đến mỹ thuật mọi người thường chí nghĩ đến hội
họa và điêu khắc. Với mỹ thuật cổ Việt Nam thì hội họa là tranh nói chung mà cơ
bản là mảng đồ hoạ, còn điêu khắc thì gồm cả tượng tròn và chạm khắc trang trí
các loại. Chỉ từ giai đoạn cận - hiện đại, trong quá trình tiếp xúc với văn hóa phương Tây và sự phát triển chuyên sâu của khoa học, kiến trúc đã tách ra để mỹ
thuật tập trung vào tranh và tượng.
Với quan niệm mở rộng, lịch sử mỹ thuật Việt Nam được khởi
nguyên từ thời tiền sử và sơ sở, luôn bám sát tiến trình lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc ta. Với vị trí địa lý thuận lợi Việt Nam có được sự giao
lưu rộng rãi để tiếp tục nhận tinh hoa văn hoá thế giới mà hoàn thiện mình và
toả sáng.
Sống giữa môi trường nhiệt đới, thiên nhiên hào phóng ban phát
ân huệ vừa nghiệt ngã, thử thách, dân tộc ta đã hợp sức lại để tạo thế ứng xử
linh hoạt: lợi dụng, cải tạo và đấu tranh nhằm khai thác và chế ngự hiệu quả nhất.
Ngoài ra nạn ngoại xâm luôn thường trực, dân tộc ta giữa những
thời gian dựng nước ngắn ngủi, luôn phải tiến hành chiến tranh giải phóng và
kháng chiến trường kỳ, vinh quang nhiều nhưng phải hy sinh lớn về cả xương máu
và của cải. Trong tình hình ấy, dân tộc ta phải bám lấy thực tại và vượt lên để
rồi biểu hiện lại cuộc sống của mình bằng nghệ thuật mà rõ nhất là ở mỹ thuật với
sự cao đẹp của tâm hồn hướng thiện.
Trong mỗi giai đoạn, bên cái chung còn có nhiều cái riêng do
điều kiện cụ thể của xã hội quy định: các nhà nước quân chủ tự chủ, nhưng mỗi
vương triều có một cách quản lý đất nước khác. Do đó cũng tạo nên diện mạo mỹ
thuật khác ở từng thời kỳ.
Chẳng hạn “Mỹ thuật thời Pháp thuộc (1885 - 1945)” sau
khi nhà Nguyễn được thành lập thì đúng lúc ấy Chủ nghĩa tư bản phương Tây đang
tích cực tìm kiếm thị trường sang phương Đông. Vừa lúc bôn ba địch khôi phục
nghiệp chúa thì đã bị khởi nghĩa nông dân Tây Sơn quật đổ, Bá Đa Lộc làm đại diện
đã ký với Pháp bản điều ước. Do Pháp đang gặp nhiều khó khăn nên điều ước không
được thi hành. Sau khi thắng Tây Sơn, Gia Long đã có những ưu đãi nhất định với
người Pháp và các giáo sĩ.
Năm 1817 Pháp đòi thi hành điều ước Bá Đa Lộc ký năm 1787 nhượng
Đà Nẵng và Côn đảo cho chúng. Sau khi Minh mạng lên ngôi bèn cấm đoạt Thiên
chúa và từ chối buôn bán với Pháp tạo ngăn cách với phương Tây. Do những biến động
ở Trung Quốc MInh mạng đã cử tàu đi Pháp và Anh để giao dịch buôn bán và tìm hiểu
nhưng đã bị Anh và Pháp từ chối. Vả lại xã hội Việt Nam chưa có đủ nhân tố bên
trong để đón nhận tiến bộ kỹ thuật và văn minh của phương Tây để cải cách đất
nước. Ngay cả khi có những điều trần của một số người Việt cấp tiến, dù tự Đức
có để mắt tới vẫn bị triều đình bác bỏ.
Năm 1858 chúng chính thức mở màn tấn công Đà Nẵng.
Năm 1859 tiếp tục chuyển vào chiếm Gia Địh.
Năm 1862 triều đình phải ký nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp.
Năm 1867 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ mất nốt vào tay giặc.
Năm 1873 Pháp mở rộng địa bàn xâm lược ra Bắc.
Năm 1882 Hà Nội bị đánh chiếm.
Năm 1885 Pháp chiếm kinh đô Huế hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam. Triều đình Huế đầu hàng một số sĩ phu đã đi với nhân dân nổi dật, đấu tranh chống phong kiến sang đấu tranh giải phóng dân tộc.
Năm 1859 tiếp tục chuyển vào chiếm Gia Địh.
Năm 1862 triều đình phải ký nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho Pháp.
Năm 1867 3 tỉnh miền Tây Nam Bộ mất nốt vào tay giặc.
Năm 1873 Pháp mở rộng địa bàn xâm lược ra Bắc.
Năm 1882 Hà Nội bị đánh chiếm.
Năm 1885 Pháp chiếm kinh đô Huế hoàn thành cuộc xâm lược Việt Nam. Triều đình Huế đầu hàng một số sĩ phu đã đi với nhân dân nổi dật, đấu tranh chống phong kiến sang đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đến cách mạng tháng tám năm 1945 lật đổ ách thống trị thực
dân Pháp kết thúc 60 năm bù nhìn (1885 - 1845) của triều Nguyễn.
Trong 25 năm mở rộng và 60 năm thống trị Pháp chi phối Kinh tế
- Chính trị - Văn hóa xã hội và đã có một số nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp của
phương Tây, song ở các làng quê mỹ thuật truyền thống vẫn giữ được bản sắc phát
triển theo con đường cũ.
Bước tiến mới về mỹ nghệ - mỹ thuật ở buổi giao thời về đào tạo
mới mỹ nghệ:
Pháp đã nhận ra “bàn tay vàng“ do đó họ liền tổ chức
triển lãm mà gọi là cuộc “đấu xảo“ như các cuộc triển lãm Hà Nội
(1887), Quốc tế (1888 - 1889), Ly ông (1885), Paris (1990)… Từ những kết quả đã
đạt được qua các cuộc triển lãm chính quyền thuộc địa mở ra một số trường mỹ
nghệ ở Nam Kỳ:
– Năm 1901 lập trường mỹ nghệ Thủ Dầu một với bốn bộ môn: gỗ,
điêu khắc, khảm xà cừ, đúc đồng.
– Năm 1907 lập trường mỹ nghệ Biên Hòa đào tạo về gốm, sứ và đúc đồng.
– Năm 1913 lập trường nghệ thuật bản xứ Gia Định sau đó thay đổi tên liên tục, nó luôn phản ánh mục tiêu đào tạo không ổn định, trường đào tạo giáo viên các công việc về hình họa, chạm khắc, đồ họa…
– Năm 1907 lập trường mỹ nghệ Biên Hòa đào tạo về gốm, sứ và đúc đồng.
– Năm 1913 lập trường nghệ thuật bản xứ Gia Định sau đó thay đổi tên liên tục, nó luôn phản ánh mục tiêu đào tạo không ổn định, trường đào tạo giáo viên các công việc về hình họa, chạm khắc, đồ họa…
– Năm 1920 mở rộng địa bàn ra Bắc, lập trường nghệ thuật thực
hành ở Hà Nội, dạng đúc đồng, làm đồ mộc, chạm bạc, làm ren…
Những cuộc đấu xảo tổ chức tại Pháp đã giúp cho các nghệ nhân
Việt Nam học hỏi nhau, vừa được tiép xúc với công chúng và nghệ thuật phương
Tây. Chẳng hạn tại cuộc triển lãm Macxây năm 1906 mỗi kỳ và mỗi nước thuộc địa
Đông Dương đều có gian hàng đặc trưng cho truyền thống văn hoá của mình. Đã có
hai nghệ nhân được thưởng Huy chương đồng như Nguyễn Hữu Chi, Nam Quát những sản
phẩm họ làm ra chủ yếu là đồ chạm mộc, tủ chè, sập ngủ, thêu trên lụa Lyông của
Pháp… và đã được dân chúng ưa chuộng.
Còn những trường mỹ nghệ tuy chỉ ở trình độ sơ cấp nhưng những
thợ giỏi Việt Nam đã phát huy được kinh nghiệm truyền thống cha ông và tiép thu
được phương pháp khoa học mới, đã đưa nghệ thuật của mình phát triển lên tầng
cao mới. Từ những trường như mỹ thuật Thủ Dầu Một, mỹ thuật Biên Hòa…, nhiều mặt
hàng mộc, sơn mài in đá, gỗ, chạm đồng, sơn dầu, tranh lụa… lên đến trình độ
tinh xảo của nghệ thuật.
Về những mở đầu cho mỹ thuật mới:
Mỹ thuật dần đã hoà nhập với thế giới đương đại để trở thành
hiện đại theo khoa học mới. Do sự ham thích của vài cá nhân, sau trở thành tổ
chức của chính quyền thực dân Pháp.
Người đi đầu của nền hội hoạ Việt Nam là Lê Văn Miếu (1873 –
1943) ông sinh ra ở Nghệ An trong một gia đình nhà nho yêu nước. Năm 1888 được
Vua Đồng Khánh cử sang Pháp học, ông rất ghét quan trường nên học xong lại sang
học trường mỹ thuật Paris từ 1891 - 1895. Ông đã xuất sắc cả hai trường nhưng
1895 về nước không có đất dụng võ nên ông đã tham gia nhiều phong trào cách mạng.
ở Pháp ông tiếp thu được những kiến thức hội họa hiện đại. Về nước trong sáng tạo
đã kết hợp với lối vẽ dân tộc và đã trở thành cầu nối nghệ thuật truyền thống với
nghệ thuật hiện đại.
Lên Văn Miếu sáng tác không nhiều song tác phẩm lại bị thất lạc
gần hết. ở Bảo tàng mỹ thuật Hà Nội còn sưu tầm được hai bức “Chân dung cụ
Tú mền“, “Bình văn“, ở Huế cũng giữ được hai bức “Chân dung cụ
ông và cụ bà Nguyễn Khoa Luận “và một số Bảo tàng của các tỉnh cũng giữ được
một vài tác phẩm. Sáu bức không nhiều ngoài những tranh chân dung, chỉ một bức
“Bình văn“ đã phản ánh sinh hoạt học đường đầu thế kỷ XX nhằm giác
ngộ tinh thần yêu nước cho học sinh. Do đó ông với bức bình văn là một cái mốc
và đẹp đẽ.
Sau Lê Văn Miếu là ông Huỳnh Tựu có lẽ là người thứ hai được
học ở Pháp. Lúc ông ở Phi Châu về có vẽ một số chân dung bản thân và phong cảnh
nhưng đều thất lạc cả. ở trường nghệ thuật trang trí và đồ hoạ Gia Định ông dạy
vẽ sơn dầu và làm phụ tá cho Giám đốc ăngđrêgiơ nhiều năm, đến năm 1926 được cử
làm Giám hiệu, ông chỉ giữ được chức trong vòng một năm.
Hoạ sỹ Nam Sơn tên thật Nguyện Vạn Thọ (1890 - 1973) chủ yếu
đi lên bằng tự học nhưng lại là người tham gia thành lập trường Cao đẳng mỹ thuật
Đông Dương. Quê ở Vĩnh Phúc, sinh ra ở Hà Nội trong một gia đình truyền thống
hiếu học. Tuổi nhỏ ông học ở trường Pháp Việt… đồng thời được gia đình dạy Hán
tự thi thư và kiến thức hội hoạ qua sách của Trung Quốc. Ông còn tìm tòi học vẽ
qua các tranh tế, tranh tàu, …
Ông tham gia thành lập hội quán sinh viên An Nam và làm quen
được hoạ sỹ Vichtotacđiơ. Năm 1923 ông tham gia đấu xảo Hà Nội với 4 bức tranh
sơn dầu: “Cô gái Bắc Kỳ“, “Nhà nho xứ Bắc“, “Ông
già Kim Liên“… Đến năm 1924 trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương được
thành lập, ông được học ở một trong những trường nổi tiếng nhất và làm giáo
viên dạy trang trí từ khoá V (1929 - 1934) đến cách mạng tháng tám năm 1945.
Năm 1931 tham gia bày tranh tại Paris và đã đạt giải thưởng.
Năm 1935 dự triển lãm ở Sadeal, ông tập trung vẽ về Phật và
các sư sãi. Năm 1936 ông mới chuyển đề tài sang thiếu nữ, với những sắc màu
tươi mởn. Năm 1942 ông sang Nhật, trở về vẽ nhiều tranh về đất nước này.
Tham gia đấu xảo ở Hà Nội năm 1923 còn có họa sĩ Thăng Trần
Phềnh sau là sinh viên trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Trong hoạt động
cách mạng ở Pháp còn có cả Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập hội liên hiệp thuộc
địa và làm phụ trách các hoạt động khác và còn vẽ nhiều bức tranh châm biếm đả
kích theo lối phương Tây như bức vẽ người phu xe Việt Nam làm cõi gò lưng kéo
chiếc xe tay chở tên thực dân to béo. Nhưng bức tranh đả kích này đã thôi thúc
tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa.
Đây chỉ là những bức biếm hoạ, song cũng biểu hiện sự đổi mới
của mỹ thuật Việt Nam trong giao tiếp với nghệ thuật phương Tây.
Trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương:
Về sự ra đời và hoạt động của trường Cao đẳng mỹ thuật Đông
Dương: Hoạ sỹ Vichtotacđiơ với lòng ham mê nghệ thuật và cảnh sắc của đất nước
Việt Nam cuốn hút, ông ở lại và vận động chính quyền thực dân cho mở trường Cao
đẳng mỹ thuật. Đến 27/10/1924 toàn quyền Đông Dương ký nghị định thành lập
trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Tháng 10 năm 1925 khai giảng và chính thức
đi vào hoạt động đào tạo khóa I (1925 - 1930).
Năm 1945 mở được 18 khóa với 149 sinh viên.
Trong 20 năm hoạt động (1925 - 1945) đội ngũ giáo viên, giáo
sư có tất cả là 31 người Việt Nam có 6 người, mà từ khoá V mới có hoạ sỹ Nam
Sơn dạy vẽ trang trí, các khoá VI, VII, X, XIII và XIV mới lần lượt thêm các
giáo viên là nhà điêu khắc Gioócgiơ, hoạ sỹ Nguyễn Phan Chánh, Tô Ngọc Vân…
Các hoạ sĩ và nhà điêu khắc Việt Nam được đào tạo theo phương
pháp khoa học phương Tây. Đào tạo cơ bản gồm những môn học cơ sở (giải phẫu người,
định luật xa gần, lịch sử mỹ thuật Việt Nam và Thế giới, đọc biểu kiến trúc cổ)
và môn học cơ bản như: hình họa nghiên cứu, bài tập điêu khắc, bài tập trang
trí.
Đào tạo chuyên khoa làm các bài tập theo thể loại và chất liệu
khác nhau. Đào tạo được xác định song do điều hành của những Giám đốc khác nhau
nên từng thời cũng có xu hướng khác nhau.
Năm 1925 - 1937 trường do hoạ sĩ Vichtotacđiơ làm Giám đốc.
Ông là hoạ sĩ có tài, ông đã phát hiện ra cái đẹp độc đáo của nghệ thuật truyền
thống Việt Nam, và óc sáng tạo, bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt Nam.
Dưới sự điều hành của Vichtotacđiơ, sinh viên được đào tạo
thành nghệ sỹ với những sáng tạo vừa theo quy phạm hàn lâm, biết vượt qua những
ràng buôvj máy móc có tính công thức. Năm 1930 - 1938 trường mở các lớp dự bị để
đào tạo nguồn.
Năm 1937 - 1943 sau khi Vichtotacđiơ mất, nhà điêu khắc
Giôngse thay chức Giám đốc nhưng lại chỉ muốn “Đào tạo những người thợ mỹ
nghệ“. Năm 1943 Mỹ ném bom ở Hà Nội, trường chia làm 3 bộ phận sơ tán.
Khoa hội hoạ và một số bộ phận nhỏ khoa điêu khắc lên Sơn Tây do hoạ sĩ Nam
Sơn, Tô Ngọc Vân phụ trách. Khoa kiến trúc và một phần lớn khoa điêu khắc vào
Đà Lạt do Giôngse phụ trách. Các lớp mỹ nghệ về phụ lý do Gioocgiơ phụ trách.
Năm 1945 Nhật đảo chính Pháp nên trường cũng đóng cửa.
Với sự ra đời và hoạt động của trường Cao đẳng mỹ thuật Đông
Dương, Việt Nam đã có một trung tâm đào tạo các nghệ sĩ tạo hình chính quy ở cấp
cao. Bên cạnh chương trình và phương thức học mang tính hàn lâm của phương tây,
còn tìm hiểu truyền thống dân tộc của Trung Quốc, Nhật Bản. Do vậy tạo mối giao
lưu nghệ thuật Đông - Tây. Các họa sĩ và nhà điêu khắc Việt Nam từ đây đã hướng
cho mỹ thuật Việt Nam phát triển theo con đường mới - dân tộc hiện đại hoà nhập
vào mỹ thuật Thế giới đương đại.
Về những thành tựu mới của mỹ thuật Việt Nam:
Ở đầu thế kỷ XX đã kết hợp nhuần nhuyễn được những giá trị tạo
hình truyền thống với khoa học nghệ thuật chặt chẽ, gắn quy luật xã hội với quy
luật tự nhiên, cởi mở mà chặt chẽ. Các hoạ sỹ và nhà điêu khắc Việt Nam được
đào tạo hệ thống, trở thành đội ngũ nghệ sĩ tạo hình của dân tộc. Họ vận dụng
những sáng tạo của mình đã tạo nên những hình ảnh sinh động đọng lại trong ký ức,
khi tái hiện vào tác phẩm trở thành những hình tượng tinh giản, sâu lắng,
thoáng hoạt trong cấu trúc tổng thẻ.
Năm 1930 lớp họa sĩ đầu tiên tốt nghiệp. Từ năm 1931 trở đi
các họa sĩ Việt Nam đã liên tục tham gia các cuộc triển lãm quốc tế: Paris
(1931), Rôma (1932) tại Milăng và Napơlơ (1936), đã có nhiều tên tuổi các họa sĩ Việt Nam như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân…
Năm 1937 nhân dịp trong “Đại hội đồng kinh tế tài chính
Đông Dương “có tiếng nói đòi đóng cửa trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương,
các hoạ sĩ và sinh viên tổ chức ngay tại trường một cuộc triển lãm lớn.
Năm 1938 Gioongse muốn hạ cấp trường mỹ thuật “Chỉ đào
tạo những thợ mỹ nghệ“, thì một nhóm họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, Lưu Văn Sìn,
Trần Văn Cẩn… đã lên tiếng phản đối kịch liệt và dẫn ra cái tài của nghệ sĩ Việt
Nam.
Thành tựu của mỹ thuật Việt Nam trong cuộc triển lãm năm 1939
ở Hà Nội có các họa sĩ tham gia và được đánh giá: Nguyễn Đỗ Cung như một vườn
hoa nghệ thuật trăm sắc, Tô Ngọc Vân cho ta ngắm một nghệ thuật lưu bát, Nguyễn
Phan Chánh vẫn dịu dàng…
Nguyễn Văn Ty tuy chỉ có một bức tranh in gỗ cũng đủ cho ta
thấy một tấm lòng cao thượng tôn sùng những nét hay. Trong sự phát triển có
tính chất khẳng định về một nền mỹ thuật Việt Nam với đầy tin tưởng ấy cũng là
sự phát triển của các chất liệu gắn với những hoạ sĩ tiêu biểu. Điều mới lạ đến
bất ngờ là sự sáng tạo ra chất liệu hội hoạ sơn mài. Dù phải sau cách mạng tháng
tám năm 1945 sơn mài mới được tiếp tục nghiên cứu để hoàn chỉnh một chất liệu hội
họa thì ngay giai đoạn thể nghiệm ban đầu này, họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã khám
phá ra những sắc màu mung lung đến huyền diệu, vượt ra khỏi chất liệu khác để
đưa lên tranh tạo nên tác phẩm độc đáo. Khi trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương
đóng cửa, đội ngũ họa sĩ và nhà điêu khắc Việt Nam đã trở nên đông đảo, nội
dung ngày càng gắn với nhân sinh xã hội, một số người đã sớm giác ngộ trở thành
những chiến sĩ văn hóa đóng góp tích cực cho thắng lợi của cách mạng tháng tám
năm 1945.
Mỹ thuật Việt Nam trong thời quân chủ, chủ yếu thể hiện ở tượng
Chùa và trang trí đình làng, có một số tranh lụa và đồ họa, còn đội ngũ nghệ sĩ gần như vô danh không để lại được mấy tên tuổi, thì giờ đây vào thời cận đại, mỹ
thuật Việt Nam có sự đổi mới về chất, khởi sắc hẳn lên. Bên cạnh những thành tựu
về mỹ nghệ vẫn phát triẻn theo hướng truyền thống, việc trường Cao đẳng mỹ thuật
Đông Dương được thành lập, về khách quan đã đào tạo được đội ngũ họa sĩ tạo
hình có nghề, nắm vững phương pháp nghệ thuật khoa học phương Tây, song từ dòng
máu dân tộc và sự đam mê sáng tạo, đã kết hợp nhuần nhuyễn hai dòng nghệ thuật
Đông - Tây, đẩy mỹ thuật Việt Nam sang trang mới hòa nhập với thế giới trong đó
có những kiện tướng trên từng chất liệu.
Trong kho tàng mĩ thuật Việt Nam rất đa dạng và phong phú về
các thể loại tranh, mỹ nghệ, điêu khắc.
Mĩ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến năm 1945 nằm trong một
quá trình chuyển biến và phân hóa quan trọng trong lịch sử cận đại Việt Nam. Thế
kỷ XIX với nhà Nguyễn một triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã đặt đất
nước ta vào hoàn cảnh mới, sự giao tiếp với phương Tây và ảnh hưởng văn hoá
Trung Hoa đã tạo lập một nền nghệ thuật đa dạng mang nhiều yếu tố phức tạp bên
ngoài. Tuy vậy, nét nghệ thuật cổ truyền vẫn được bảo lưu qua các công trình kiến
trúc, điêu khắc, mĩ thuật dân gian.
Mỹ thuật Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến 1945 là nền mỹ thuật bản
lề của hai thế kỷ, nó đã chứng minh phần nào sự phân hóa nghệ thuật hiện đại thế
giới.
Giai đoạn này kế tiếp những thành tựu nghệ thuật ở giai đoạn
trước nó và hình thành hai thời kỳ cơ bản.
Thời kỳ hoàn tất một loạt các công trình kiến trúc lăng tẩm,
đền miếu mang nhiều yếu tố Trung Hoa và Pháp, mỹ thuật Huế là một công trình
lăng tẩm kết hợp giữa thiên nhiên và kiến trúc điêu khắc đáng lưu ý trong lịch
sử trong kiến trúc nước ta. Về mặt hội họa chưa có gì đáng kể cùng với sự phát
triển bước tiến mới của nền mỹ thuật. Ngưòi đi đầu của nền hội hoạ mới là Lê
Văn Miến (1873 - 1943) quê ở Nghệ An, 1888 sang Pháp học trường thuộc địa sau
đó học trường Mĩ thuật Paris năm 1891 đến 1895. Cả hai trường ông đều đỗ xuất sắc.
Tác phẩm tiêu biểu là “Chân dung cụ tú Mền” và bức “Bình
vân”, “Chân dung cụ ông và cụ bà”, “Chân dung cụ Đào Tấn”, “Chân dung cụ tổ phụ
Hồ Liệu”. Với bức “Bình Vân” là cái mộc lịch sử nghệ thuật nước nhà chỉ có thể
coi là thuận lơị và đẹp đẽ. Nó làm cho hội hoạ hiện đại Việt Nam có thêm phần
tư thế tuổi đời thêm một, học vấn vững chãi không gặp lại một phần thứ hai nào
nữa (theo Thái Bá Vân).
Bước sang đầu thế kỷ 20, mỹ thuật cận đại Việt Nam phát triển
với những cuộc tiếp xúc đầu tiên với nghệ thuật phương Tây thông qua những cuộc
thi hàng thủ công mỹ nghệ với hình thức đấu xảo giữa các thuộc địa ở Châu Á...
Và mùa đông năm 1925, trường Cao đẳng mĩ thuật Đông Dương được thành lập, bắt đầu
một thời kỳ mới trong lịch sử mĩ thuật cận đại Việt Nam - giai đoạn 1930 -
1940.
Giai đoạn 1930 - 1945 gắn liền với hoàn cảnh lịch sử Việt Nam
những năm 1930. Đó là những năm cuối cùng của cuộc vận động cách mạng dân chủ
tư sản, những hoạt động tích cực của Đảng cộng sản Đông Dương, những năm có nhiều
biến động trong văn học nghệ thuật, xuất hiện nhiều trận tuyến đấu tranh giữa
hai xu hướng hiện thực và lãng mạn, nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị
nhân sinh.
Nghệ thuật tạo hình 1930 - 1945 cũng tạo nên những phong cách
nghệ thuật đa dạng, xuất hiện nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc với những sở trường sử
dụng chất liệu, tìm kiếm đề tài để hai xu hướng sáng tác chính là là lãng mạn
và hiện thực đã định hình diện mạo nền hội hoạ cận đại Việt Nam với những đại
diện xứng đáng, tiêu biểu.
Với xu hướng lãng mạn, họa sĩ Tô Ngọc Vân hiện trong lịch sử
Mỹ thuật Việt Nam như một ngôi sao sáng long lanh, bền chặt. Giai đoạn 1930 -
1945 tranh phong cảnh của Tô Ngọc Vân đã đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp sáng
tác. Thiên nhiên trong tranh ông thơ mộng nhẹ nhàng, êm ái với màu sắc ngon ành
rung cảm. Bức tranh “Thuyền trên sông Hương” là một trong những tranh phong cảnh
của ông sáng tác năm 1935 đã chứng minh điều đó, hiện có mặt ở phòng mĩ thuật cận
đại của bảo tàng. Tác phẩm “Hai thiếu nữ và em bé” (Sơn dầu 1944). “Thiếu nữ
bên hoa huệ” (Sơn dầu 1943), “Thiếu nữ bên hoa sen” (Sơn dầu 1944) được coi là
những tác phẩm tiêu biểu cho giai đoạn cuối chót của sự nghiệp sáng tác của ông
theo xu hướng lãng mạn.
Bức tranh “Thuyền trên sông Hương” (1935) - thời mà Tô Ngọc
Vân cùng một số người đang đi sâu vào nghiên cứu chất liệu sơn dầu du nhập từ
Âu Châu sang nước ta. Tô Ngọc Vân với tư chất độc đáo của mình đã tách ra khỏi ảnh
hưởng của lối vẽ sơn dầu Âu Châu và tạo cho mình một phong cách vẽ sơn dầu có
nhiều tìm tòi bắt nguồn từ nghệ thuật truyền thống của Việt Nam.
Cách diễn đạt nhiều chi tiết với khối nối và sáng tối đầy đủ
nhằm biểu hiện mức độ cao về thực tế cuả Âu Châu không phù hợp với cảm xúc,
nhân quan của người nghệ sỹ Việt Nam. Nên tuy học phương pháp của Âu Châu mà
các nghệ sĩ của ta đã chuyển được thành lối diễn đạt riêng của mình. Trường hợp
của Nguyễn Phan Chánh về lụa cũng như trường hợp của Tô Ngọc Vân về sơn dầu là
những chứng minh cụ thể. Bằng chất liệu sơn dầu ông đã chứng minh cụ thể giữa
khối nối và nhiều chi tiết, giữa sáng tối chi li, từng độ đậm nhạt, đến khái
quát của mảng hình và màu sắc. Tìm cái chủ yếu và cất nhịp với chất liệu khó
tính của thế giới.
Trong tranh màu sắc êm, trầm không chối mắt, màu sắc, ở một
nơi mà màn sương ẩm phủ mờ, khắc hẳn với màu sắc ở một nước Châu Âu có khí hậu
khô hanh. Các sắc không đến độ cao của nó vì ánh sáng cũng không toả hết năng
lượng của mặt trời vì còn có màn hạt ẩm dày đặc trong khí quyển, có nhiều người
cứ cho là họa sĩ của ta vẽ không bạo như Châu Âu với nhiều màu sắc đối kháng đến
cực độ nhưng họ không hiểu được vì sao và các nghệ sỹ ở nước ta cũng như ở
phương Đông nói chung, ít người vẽ được như thế, cũng như các nghệ sĩ Châu Âu
không thể diễn đạt được như đồng nghiệp của họ ở phương Đông.
Thuyền sông Hương đến nay không còn như hồi Tô Ngọc Vân vẽ,
ta đến đó chỉ tìm đến sự thong thả, yên tĩnh, sự nghỉ ngơi cần thiết sau những
ngày tháng làm việc căng thẳng.
Một hoạ sĩ thứ hai cũng theo hướng lãng mạn như Tô Ngọc Vân
đã rất nổi tiếng không kém, đó là Nguyễn Gia Trí. Ông nổi tiếng về những tranh
sơn mài với kỹ thuật dùng vỏ trứng thành thạo, tác phẩm “Thiếu nữ bên cây phù
dùn” (Sơn mài 1944) màu sắc xao động, chỗ tối chỗ sáng, trong không khí huyền ảo,
bay bướm.
Những tranh lụa cuả Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Lân lại giới thiệu
vẻ đẹp của người thiếu nữ bằng những nét vẽ linh động, nhẹ nhàng. Và Mai Trung
Thứ, tác giả của những tranh sơn dầu với đề tài thiếu nữ đa sầu đa cảm hết sức
mơ màng, lãng mạn. Tác phẩm “Thiếu nữ Huế “(Sơn dầu 1934) của ông là một trong
những tác phẩm tiêu biểu cho đề tài này.
Năm 1943, hoạ sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác bức tranh “Em Thúy”.
Cũng như Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn trên chất liệu sơn dầu đã làm ông nổi tiếng,
tạo cho ông có những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Tác phẩm “Em Thúy” được
giải nhất tại triển lãm tranh 1943. Bức tranh này toát lên phong cách riêng của
ông, sự cảm nhận cũng như thể hiện vẻ đẹp lên tác phẩm. Một vẻ đẹp tinh tế tạo
nên một tác phẩm tuyệt vời.
Bức tranh “Em Thúy” ra đời 1943 cùng thời với bức tranh “Thiếu
nữ bên hoa huệ” của Tô Ngọc Vân. Trước cách mạng, đối với Trần Văn Cẩn, đề tài
chủ yếu của ông là thiếu nữ, phụ nữ. Ông tìm vẻ đẹp nội tâm trong con người họ,
tác phẩm “Em Thúy” đã đạt đến mức điêu luyện của sơn dầu, phát huy quy chế mạnh
của sơn dầu và đạt hiệu quả cao trong việc diễn tả tinh tế ngoại hình và chiều
sâu tâm lý của nhân vật.
”Em Thúy” được thể hiện trên khuôn khổ 60 x 45 cm. Trong
tranh hoạ sĩ sử dụng lối vẽ sơn dầu mỏng và mềm mại. Đó là phảng phất một chút
kỹ thuật và phong cách vẽ tranh lụa. Với lối diễn tả ấy, ông đã thể hiện thành
công vẻ đẹp trong sáng, thơ ngây của một em bé gái. Nhìn tổng thể bức tranh,
tác giả đã diễn tả với gam màu ấm nóng, pha chút lạnh nhẹ tạo cảm giác thật tự
nhiên, thoải mái. Khuôn mặt hình trái xoan, xinh xắn, cặp mắt to đen lánh, tạo
nên một vẻ đẹp thông minh, phúc hậu. Nổi bật lên trong sự phối hợp không gian
nhiều mảng màu là bộ váy trắng mỏng, nhẹ, tao nhã của “em Thúy”. Cách bố trí mảng
màu của
hoạ sĩ thật ấn tượng, từ chiếc vòng tay, mái tóc, chiếc ghế với
mảng đậm đến khuôn mặt trắng hồng, và cả không gian tạo nên một nhịp điệu hài
hoà, cân đối.
Đôi mắt “em Thúy” mở to, đen, tròn long lanh đến ngây thơ, hồn
nhiên. Đôi mắt ấy chứa đựng bao nhiêu điều, cả cuộc đời trong sáng của em, một
cái nhìn đăm chiêu sâu lắng. Có thể rằng, điểm nhìn của em không là vật gì cả
mà là không gian vô định. Người ta thường nói: “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”.
Đúng vậy, với “Em Thúy”, Trần Văn Cẩn đã nói lên điều đó. Một trong những thành
công của tác phẩm là đôi mắt của em, là con đường dẫn đến tâm hồn, tình cảm. Hiện
trên khuôn mặt ngây thơ ấy là một vẻ đẹp tuyệt đối đến ngỡ ngàng đối với người
xem, chiếc ghế nâu đỏ làm nền cho mảng trắng của chiếc váy cô bé nổi bật. Mặc
dù nó không làm tương phản đến khó chịu cho bức tranh mà tạo nên sự hài hòa sắc
độ, mềm mại của chất liệu, thuần tuý của vẻ đẹp tâm hồn.
Sự thành công tuyệt đối trong bức tranh là sự cảm nhận và
cách thể hiện những tình cảm đó của tác giả qua nhân vật của mình. Đến với “Em
Thuý” đồng thời ông cũng bộc lộ đựơc tâm hồn cảm xúc của mình.
Bức tranh “Em Thúy” hiện đang được trưng bày ở Viện bảo tàng
Mỹ thuật Việt Nam. Bức tranh đã để lại cho kho tàng Mỹ thuật Việt Nam nói chung
và lĩnh vực sơn dầu nói riêng một kiệt tác nghệ thuật hiếm có, làm phong phú
hơn cho mảng tranh này, đem lại cho nghệ thuật Việt Nam một cái nhìn nghệ thuật.
“Em Thúy” (sơn dầu), “Gội đầu” (khác gỗ). “Hai thiếu nữ trước
bình phong (lụa). Các tác phẩm này đã nói lên phong cách sáng tác của ông với
màu sắc dung dị, ấm áp, không khoa trương, từng nét chân thực và từ tốn. Do đó
cho đến nay ta vẫn nhận ra phong độ Trần Văn Cẩn khi xưa.
Song song với bức tranh “Em Thuý”, tranh khắc gỗ “Gội đầu” là
mảng khá thành công của ông. Tuy khắc gỗ không phải mảng ông luôn thể hiện
nhưng đối với ông, chất liệu này ông hiểu rất rõ và thể hiện lên nó rất thành
công.
Tác phẩm này đã đạt giải nhất tại triển lãm tranh của các họa sĩ Việt Nam năm 1943 - cùng với năm ra đời của bức tranh nhằm khẳng định vai
trò và vị trí của ông trong làng nghệ thuật Việt Nam.
Sự diễn tả những đường nét, độ cong duyên dáng, màu sắc nhẹ
nhàng hài hoà của một cô gái đang xoã tóc, cúi xuống gội đầu. Mái tóc dài óng ả,
mềm mại như dòng suối. Cách cúi thật thoải mái, uyển chuyển tạo sự duyên dáng đầy
Việt Nam.
Với những tranh sơn mài lộng lẫy, đề tài thơ mộng, lãng mạn
phải kể đến “Gió mùa hạ” của Phạm Hậu, “Hội chùa” của Lê Quốc Lộc - Nguyễn Văn
Quế, “Bể và nhân vật” của Nguyễn Văn Ty, “Đánh cá đêm trăng” của Nguyễn Khang,
“chùa Thầy” của Nguyễn Tiến Trịnh. Những tác phẩm sơn mài này đánh dấu sự phát
triển của những thí nghiệm về sơn mài ở thời kỳ 1930 - 1945. Trước đây người ta
dùng sơn ta để trang trí với ba màu cơ bản: đỏ sơn, vàng chói, đen (than).
Thành công của Nguyễn Gia Thi sau 6 - 7 năm tìm tòi thể nghiệm đã tìm ra một mảng
màu phong phú cho sơn mài là trắng bạc, trắng vỏ trứng, đỏ nâu, đỏ da cam, xanh
trời, xanh lá cây… Tạo nên những tác phẩm tuyệt đẹp trong màu sắc lộng lẫy, bóng
bẩy, huyền ảo. Thành công của Nguyễn Gia Thi là sự kết hợp giữa thí nghiệm mò mẫm
của Trần Quang Trân năm 1933 - 1934 đến Phạm Hậu, Lê Phổ, Nguyễn Đỗ Cung ở những
năm 1936 - 1939.
Song song với xu hướng lãng mạn, xu hướng hiện thực trong hội
hoạ và điêu khắc cũng phát triển khá mạnh và hầu như đối lập với xu hướng lãng
mạn. Đề tài chủ yếu của xu hướng này là sinh hoạt nông thôn với cảnh lao động
lam lũ cực nhọc. Tuy tiếng nói tố cáo xã hội chưa mạnh mẽ nhưng phong cách cuả
các tác giả hiện thực đã phần nào nói lên tâm trạng phản kháng một xã hội bất
công. Hoạ sĩ tiêu biểu cho xu hướng này là Nguyễn Phan Chánh.
Các tác phẩm về lụa của ông như: “Chơi ô ăn quan”, “Rửa rau cầu
ao” (1931), “Ra đồng”, “Đi chợ về” (1937″ đã chứng minh điều đó. Đặc điểm tranh
lụa của ông là những gam màu nâu ấm, trắng phớt, các độ đậm nhạt điểm tô cho
nhau trên một gam màu chủ đạo là nâu, đỏ nâu, tạo nên một không khí dịu dàng cổ
kính. Cách tạo hình của ông là diễn tả theo mặt phẳng, lối diễn tả này tiếp thu
nhiều ở tranh cổ Việt Nam mà ông đã làm quen từ trước.
Với bức “Chơi ô ăn quan”, Nguyễn Văn Chánh vẽ theo phương
pháp hiện đại và đã được trưng bày ở triển lãm đấu xảo quốc tế thuộc địa tại
Pari 1934, cũng là tác phẩm đầu tay của hoạ sĩ, một trong những nhà mĩ thuật lớp
đầu của nước ta, tiếp thu kỹ thuật diễn tả phương Tây nhưng lại mang nhiều tính
dân tộc rất độc đáo.
Tranh vẽ trên lụa, diễn tả bốn thiếu nữ đang chơi ô ăn quan -
một trò chơi phổ biến của dân gian từ miền Trung trở ra Bắc. Khi trưng bày ở nước
ngoài, người ta chú thích là trò chơi của trẻ em. Hai em là vai chính được diễn
tả toàn diện còn hai em phụ thì ghép với em chính bên phải thành một mảng nhỏ
bên trái và một mảng lớn bên phải. Người ta không cảm thấy lệch mà lại thấy cân
đối bởi những mảng đen trắng và sáng tối phân bố một cách tài tình. Màu chính
là màu nâu và đen với nhiều sắc nhi và cung bậc nên không tạo ra sự nặng nề,
trái lại bằng cách cấu tạo hình và mảng đẹp nên càng làm cho mảng thêm chiểu
sâu và có âm thanh.
Ở thời kỳ này các hoạ sĩ Việt Nam đua nhau diễn đạt khối vờn
nổi như các tranh phương Tây nhưng chính phong trào tìm lối thoát của phương pháp
bán tam viền vờn khối nặng nề ở Châu Âu lại quay về Châu á để thu lối diễn đạt
mới thanh thoát và khái quát hơn.
Nguyễn Phan Chánh từ bé đã say mê những tranh dân gian, đã cầm
bút nho viết và vẽ, cho nên ông nhập cách vờn khối của phương Tây một cách kín
đáo. Khối vẫn có ở áo quần, ở mặt các em bé, những đường viền mờ, tỏ, những
cung bậc đậm nhạt, những nét ở mặt, quần áo đều như có và như không, không ai
thấy thiếu ở chỗ nào cần có. Nhưng không thừa vì không có sự rườm rà, tham lam.
Toàn bộ tranh có chiều sâu, không gây cảm giác tách rời từng
người, mảng người và nền. Nét mặt các em thiếu nữ ngây thơ, chân thật. Bạn xem
tranh chú ý mấy ô chơi bên trái, tuy ít nhưng là điểm quan trọng. Điểm theo
hình bầu dục dài với mười hình tròn nhỏ và hai hình tròn to hơn, tạo nên yếu tố
trang trí và gắn liền khối trái, em gái bé nhất chưa chít khăn, với khối phải
ba em lớn hơn. Em bên trái đang bỏ tiền, hoặc cuội vào các ô, mắt chăm chú còn
em đối thủ có nét mặt điềm tĩnh và chú ý bạn chơi, mảng quần trắng của em ngồi xem
ở giữa đã làm nên một âm thanh thanh thoát và là điểm khởi sắc của toàn bộ cung
bậc. Nếu đó là quần đen thì tranh sẽ nặng nề và buồn tẻ, cái giỏi của tác giả
thể hiện ở điểm trắng ấy. Độ của nền, tuy là một mảng nhưng ta vẫn thấy như có
không khí, gió thổi nhẹ ở giữa các em gái. Có cái rất khác giữa tranh của Nguyễn
Phan Chánh với tranh của các tác giả khác.
Nhất là ở phương Tây là nền bao giờ cũng có những dấu hiệu để diễn đạt bối cảnh như cây cỏ sông núi. Những sáng tác của ông qua các thời kỳ hầu như rất ít nền có bối cảnh từ các tranh như “Thiếu nữ và biển” (1938), “Tát nước tập đoàn” (1956).
Nhất là ở phương Tây là nền bao giờ cũng có những dấu hiệu để diễn đạt bối cảnh như cây cỏ sông núi. Những sáng tác của ông qua các thời kỳ hầu như rất ít nền có bối cảnh từ các tranh như “Thiếu nữ và biển” (1938), “Tát nước tập đoàn” (1956).
Hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh ngoài dòng đề tên bằng chữ nho và
đóng dấu son còn hay đề thơ do chính ông làm để nói lên cái ý của mình.
ở bức tranh “Chơi ô ăn quan”, bên trái tranh ông đề bốn câu
thơ viết bằng mực nho. Người viết bài có ý tiếc là mảng thơ này làm cho bố cục
mất thanh thoát. Nếu không có thì hay hơn. Bức tranh diễn đạt các em gái chơi một
trò chơi mà bài thơ không nói gì đến điều ấy.
“Đương ngây thơ chưa quen gì màu son phấn
Chỉ biết đua nhau đuổi bướm tranh hoa
Nhưng lại đón được màu xuân hơn nơi lầu son gác tía
Mà không học thói làm mây làm mưa trên núi Đương Đài”
Chỉ biết đua nhau đuổi bướm tranh hoa
Nhưng lại đón được màu xuân hơn nơi lầu son gác tía
Mà không học thói làm mây làm mưa trên núi Đương Đài”
Cái ý ấy không nói gì đến trò chơi lại nói về cái ẩn ngầm sau
nội dung kia là vẻ đẹp của tuổi thơ. Đúng là các em trên tranh tuổi từ mười đến
mười bốn, mười lăm. Đang ngây thơ chưa biết gì đến những công việc của người phụ
nữ trong xã hội, cần có những nhu cầu khác nhiều hơn.
Tranh lụa “Chơi ô ăn quan” của hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đến
nay vẫn mang một giá trị không thể phủ nhận được.
Với lối thể hiện trên tranh khắc gỗ, những nét khắc vững
vàng, tỉ mỉ, nhịp điệu, màu sắc vừa đơn giản vừa quý, hoạ sĩ Đức Thuận để lại
cho chúng ta hai tác phẩm có giá trị về nền hiện thực “Bến thuyền sông Hồng”,
“Đánh cá” (1931). Đánh dấu mốc lịch sử, tiêu biểu cho ngành Mĩ thuật Việt Nam
có các hoạ sĩ trên. Nhìn lại lịch sử mĩ thuật Việt Nam nói chung, nghệ thuật tạo
hình thời cận đại nói riêng ở giai đoạn1930 - 1945 là một thời kỳ có nhiều biến
động và phân hóa sâu sắc. Đó là một bước phát tiển nhanh chóng của hội họa Việt
Nam. Nó phản ánh thực trạng xã hội trước một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử
cách mạng tháng Tám 1945 và nối tiếp là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp
hình thành.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét