"Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư:
Khi tự mình đọc “Tiếng thu” lên để nghe hai màu vàng đạp lên
nhau trong tâm tưởng, mới thấy cái tuyệt đỉnh của thơ mà không một sự thêm vào
nào làm nó mới được hơn nữa, hay hơn được nữa, quyến rũ hơn được nữa.
Như một phút chợt dừng trong trường tình phiêu lưu của Lưu Trọng
Lư, “Tiếng thu” dội lên âm thanh day dứt của một thời bơ vơ xa xưa. Và còn vọng
mãi đến bao giờ?
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh người chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô.
Bằng hình thức kết cấu cú pháp: Điệp ngữ phủ định và câu hỏi
tu từ, bài thơ “Tiếng thu” đã được Lưu Trọng Lư thể hiện tới toàn bích trong
hơi thở thấm đẫm của văn học lãng mạn thời Thơ Mới.
Nhà thơ Nguyễn Vỹ từng viết: “Lưu Trọng Lư bước vào làng thơ
Việt Nam, gót chân lơ đễnh, cặp mắt ngơ ngác, nụ cười xa vắng, tay cầm một quyển
truyện mỏng của anh vừa in xong, nhan đề “Người Sơn Nhân”. Một quyển truyện? Thật
ra, không hẳn là một quyển truyện. Nhan đề Người Sơn Nhân cũng không hẳn là sơn
nhân. Có thể gọi đó là một bài thơ cũng được. Và có thể đổi nhan đề là “Người
thi nhân” cũng được. Lưu Trọng Lư đâu có biết Lưu Trọng Lư là thi sĩ. Lưu Trọng
Lư cũng không biết Lưu Trọng Lư là Lưu Trọng Lư… Dễ thương làm sao?”
Còn nhà phê bình Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” thì viết:
“Ở đời này, ít có người lơ đãng hơn. Thi sĩ đời nay họ khôn lắm, có khi ranh nữa.
Và yêu thơ, thường ta chẳng nên biết người. Thiệt thòi cho họ và thiệt thòi
ngay cho mình. Nhưng yêu thơ Lư mà quen Lư thì vô hại, vì đời Lư cũng là một
bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác chân
bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết”.
Có lẽ thế nên khi viết riêng về “Tiếng thu”, mặc dù có ý rằng
Lưu Trọng Lư ảnh hưởng một bài thơ Nhật Bản, Nguyễn Vỹ vẫn cứ cho rằng thơ Lưu
Trọng Lư đậm đặc chất thi sĩ hơn và vì thế có ý ở trên sự tả hơn bài thơ tả cảnh
của nhà thơ Sarumaru từ thế kỷ 8 của Nhật Bản.
Ông viết: “Lưu Trọng Lư là một ảnh tượng lơ lửng trong thời
gian. Mảnh tim của anh bay vời vợi trên khung xanh như con diều giấy, dính vào
trần gian bằng một sợi tơ mỏng manh, chập chờn trong gió, vi vu trong mây. Cho
nên thơ của Lưu Trọng Lư cũng phảng phất một hơi thu, một nắng hè dịu mát, một
khói lam chiều, một thuyền mơ phiêu dạt, một hơi tiêu man mác, một tiếng bước của
con nai vàng xào xạc trên lá vàng khô…”.
Ta thấy điều khác nhau ấy thật rõ ràng khi điệp ngữ phủ định
“Em không nghe” được sử dụng làm mô-típ chính để phát triển toàn bộ cảm xúc của
tác giả. Hai lần “Em không nghe” ở khổ đầu và khổ tiếp theo với các hình ảnh
“trăng mờ”, “chinh phu”, “cô phụ” đã gợi ra không khí quạnh vắng cổ điển của
“Chinh phụ ngâm”. Tự nhiên làm ta nhớ đến câu thơ “Mặt chinh phu trăng dọi dọi
soi”. Tiếng thu ở đây được phát hiện như tiếng thở khẽ của nỗi cô đơn. Câu hỏi
tu từ đã được tác giả sử dụng để gợi ý, định hướng độc giả lắng nghe về phía cô
đơn ấy mà tác giả không trực tiếp trả lời.
Từ một ánh trăng mờ đầy ấn tượng thổn thức đến nỗi mong nhớ
chồng rạo rực của người đàn bà cô độc trong căn phòng mang một màu ẩm tối, lần
“Em không nghe” cuối cùng mới hướng độc giả tới nỗi bơ vơ cùng cực. Ở khổ kết
này, sau phương thức chuyển nghĩa nhân cách hóa ở câu thứ hai: “Lá thu kêu xào
xạc”, nỗi bơ vơ được chiếc lá mùa thu kêu lên như người, thì sự nhân cách hóa
này làm sao có được ở bài thơ cổ Nhật Bản nói trên.
Chính tư tưởng của nhà thơ thời Thơ Mới đã khiến cho Lưu Trọng
Lư tìm ra chữ “kêu” xuất thần đẩy bài thơ đến tầm cao, vươn tới toàn mỹ. Hai
câu thơ cuối được hình thành chuyển nghĩa bằng định ngữ “vàng”. Hai màu vàng đạp
lên nhau:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô?
Đạp lên lá vàng khô?
đã tạo ra một không gian cô đơn vô bờ bến. Đấy là bước làm mới
bất ngờ từ sự tả cảnh ở bài thơ cổ kia:
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá bàng khô
Đạp lên lá bàng khô
Hai chất màu: “Vàng ngơ ngác” rồi đến “vàng khô” xiết lên
nhau, khiến ta nhớ đến Nguyễn Gia Thiều với: “Trải vách quế gió vàng hiu hắt”
và Nguyễn Du với: “Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”. Điều đó đã đẩy tâm trạng
độc giả tới sự đồng cảm sâu sắc với tâm hồn của tác giả. Một lối chuyển nghĩa độc
đáo khiến tiếng thu thấm sâu vào ta. Tiếng thu, tiếng của nỗi cô đơn, bơ vơ của
con người thời không phương hướng trong cảnh nước mất nhà tan còn ẩn dấu một dự
báo về sự “cùng tắc biến” của xã hội ta thời ấy. Một dự báo về một thời chiến
chinh như những thuở xưa. Hãy lắng nghe tiếng thu mà thấy.
Nhờ chất nhạc mạnh mẽ trong bài thơ, “Tiếng thu” được khá nhiều
nhạc sĩ của các thế hệ khác nhau phổ nhạc. Thời tiền chiến thì có Võ Đức Thu,
Lê Thương. Thời bây giờ thì có Phan Huỳnh Điểu, Hữu Xuân và Hoàng Phúc Thắng.
Nghe “Tiếng thu” được hát lên cũng thấy nao nao xúc động. Nhưng thú thực, khi tự
mình đọc “Tiếng thu” lên để nghe hai màu vàng đạp lên nhau trong tâm tưởng, mới
thấy cái tuyệt đỉnh của thơ mà không một sự thêm vào nào làm nó mới được hơn nữa,
hay hơn được nữa, quyến rũ hơn được nữa. Quyến rũ như mùa thu.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét