Không phải sự vô tư buông lời nào cũng đạt được thành công,
cũng như không thể đánh đồng sự vô tư ấy với “giả vờ”giản dị hay lười nhác
trong sáng tạo để tạo ra những câu thơ vô hồn, mòn sáo. Bởi thế sự vô tư ấy chỉ
có thể được cảm nhận đầy đủ nhất khi những câu thơ gây được sự chú ý của người
đọc, được lắng đọng quan thời gian và giành được chỗ đứng xứng đáng trong tâm hồn
mỗi con người.
Nói gì chăng nữa, con người vẫn luôn có nhu cầu và bản năng cắt
nghĩa những biểu tượng; hóa giải các mã văn hóa dù chỉ là những kiến giải đơn
giản nhất. Lưu Hiệp – nhà lý luận kiệt xuất của Trung Hoa cổ đại – cho
rằng: “Tác phẩm văn chương sở dĩ phức tạp là vì nội dung và hình thức đều đa dạng”.
Tính đa dạng kéo theo sự đa nghĩa (ambiguity) đã khiến nhiều người lầm hiểu nhà
văn là nhà kiến tạo cầu kỳ, nhưng thật sự, đó chỉ là một sự hồn nhiên trong
sáng tạo. Khi nhớ lại kỷ niệm về Lá diêu bông, Hoàng Cầm viết: “Bỗng tôi
nghe văng vẳng bên tai một giọng nữ rất trong trẻo, nhưng không phân biệt được
là giọng của ai. Cái giọng nữ trong trẻo ấy cứ đọc lên rành rọt từng lời một,
và tôi nghiêng người về phía ngọn đèn ngủ 6 oát chép tốc ký toàn bộ bài thơ
này. Khi giọng đọc ngừng hẳn, không còn gì để ghi nữa, tôi cầm nguyên giấy bút
như vậy ngủ thiếp đi. Sáng dậy, tôi phải sắp xếp lại những chữ xiêu vẹo đã may
mắn ghi được trong đêm.” Những chuyện nửa thực, nửa hư, nửa thành thật thú nhận
của nghệ thuật, nửa mơ hồ của khoa học khiến nhiều khi người đọc hoang mang
nhưng tựu chung lại vẫn chỉ là sự hồn nhiên của sáng tạo để đẩy sức tưởng tượng
lên đến cùng cực.
Hẳn thế, nên tưởng tượng và sự hồn nhiên từ lâu đã có sự liên
hệ khăng khít. Bởi nhà thơ “hồn nhiên” thế nên mới có thể đem gắn các sự kiện rời
rạc, xa xăm với nhau mà chẳng ngại phá vớ lôgic thực dụng thông thường. Nhà văn
Pháp George Sand từng nói: “Trong văn học, cho dù một sự hư cấu đơn giản nhất
cũng phải nhờ đến tưởng tượng, đó là đem các sự vật rời rạc, nối liền lại với
nhau, bổ sung, thêm thắt, làm cho đẹp”. Chẳng thế mà những cuộc ghép đôi, phối ảnh
thật lạ lẫm như: “tiếng đàn bọt nước” (Thanh Thảo); “mùa em” (Quang Dũng); “mắt
lò xo” (Nguyễn Hùng Vỹ); “hơi bị đẹp” (Nguyễn Duy)… cứ hồn nhiên xác tín một
quy luật sáng tạo.
Sự hồn nhiên trước hết là một khác biệt so với những dụng
công, “rắp tâm” sáng tạo cầu kì. Chẳng thế mà khi nói về thơ Đồng Đức Bốn, Nguyễn
Huy Thiệp nhân thể khái quát về sự khác biệt đó: “Căn bệnh mà nhiều người làm
thơ lục bát thường mắc là nhiều chữ quá, khôn chữ quá. Càng dụng công bao nhiêu
thì thơ họ làm càng thiếu tự nhiên, càng dở bấy nhiêu. Tác giả giống như một
người đang chơi trò chơi trí uẩn: anh ta nặn óc tìm cách sắp xếp các con chữ,
các âm vận, âm điệu, cố khuôn nó vào ở trong niêm luật. Tôi đã từng gọi kiểu
làm thơ này là thuộc môn phái trí năng, làm thơ bằng trí.” (Giới thiệu thơ Đồng
Đức Bốn). Lối thơ “trí uẩn” như kẻ dựng cảnh, phục trang kì thực cũng để lại những
thành tựu đáng nể như khi “thơ là sự hội tụ của trí tuệ”, là khi nhà thơ tiên
liệu được sức vóc của biểu tượng:
Làm thơ chứ không để thơ làm
Càng không để rượu làm, chữ làm, vần làm
Cuồng tín
Thơ là chưa bay mà đã đến
Là đang yêu bỗng giã từ
Là ba chữ thôi mà là bể, là giếng, là kho vàng hiển hiện
Là hoa sen cười nửa miệng mà Chân Như
(Prométhée 86)
Càng không để rượu làm, chữ làm, vần làm
Cuồng tín
Thơ là chưa bay mà đã đến
Là đang yêu bỗng giã từ
Là ba chữ thôi mà là bể, là giếng, là kho vàng hiển hiện
Là hoa sen cười nửa miệng mà Chân Như
(Prométhée 86)
Hiển nhiên là rất hàm xúc, trí tuệ, hiển nhiên là trường phái
thơ mà Chế Lan Viên đã lựa chọn có vẻ đẹp riêng khi đằng sau mỗi câu chữ là một
triết luận quán thông mọi suy cảm. Nhưng, có lẽ, thơ ngoài sức biểu niệm thì vẫn
cần nặng về biểu cảm, nghĩa là cần được nhớ trước khi được suy tôn, cần được
suy cảm trước khi buộc người khác phải suy cảm…Có lẽ vì thế, đằng sau những ồn
ào cách tân thơ ca, lặng sóng sau những phong ba ấy, thơ vẫn nghiêng hẳn về những
cụ thể, cảm tính trong tâm hồn người đọc chăng? Đó là thuộc tính của thơ chăng?
Sự hồn nhiên trong thơ thể hiện đầy đủ, dày dặn nhất ở sự phá
cách và hình thức hóa ra thành sự đột biến trong mạch cảm xúc, lạ hóa trong thi
ca. Hẳn những người kĩ tính với thơ nhất, hẳn những ai không hay mặn mà với thơ
văn kháng chiến cũng phải thán phục sự hồn nhiên trong câu chữ khi Hoàng Cầm viết:
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ
(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)
Thực sự, từ ý tưởng “dòng lấp lánh” chẳng đã thành mòn sáo
như một phản xạ trong sáng tạo, thành một “cơ chế tự động hóa” trong tiếp nhận,
bỗng dưng nảy ra một “dáng nằm” trong cái không - thời gian tưởng như
là bất khả xâm phạm. “kháng chiến trường kỳ” dẫu có bị không gian hóa theo địa
giới của chiến khu đi chăng nữa thì vẫn là thứ “chân không tuyệt đối” với mọi sắc
thái đời thường, với những ẩn ngữ gợi nhục dục. Nhưng, cứ hồn nhiên như thế,
câu thơ tạo ra một ngoại lệ chưa từng có bằng sự hồn nhiên trong cấu tứ của
mình.
Lại một lần nữa, sự hồn nhiên của những câu thơ như Nguyễn
Khoa Điềm viết:
Mùa xuân, là mùa xuân đấy
Thả chim, cỏ nội, hương đồng
Đàn trâu bụng tròn qua ngõ
Gõ sừng lên mảnh trăng cong.
(Miền quê – Nguyễn Khoa Điềm)
Thả chim, cỏ nội, hương đồng
Đàn trâu bụng tròn qua ngõ
Gõ sừng lên mảnh trăng cong.
(Miền quê – Nguyễn Khoa Điềm)
Ai cũng từng biết “đàn trâu bụng tròn”, thừa hiểu “mảnh trăng
cong” nhưng đến lúc những chiếc sừng gõ vào miền trăng ấy thì làng quê đã trở
nên huyền ảo, thanh bình và sáng trong. Chắc hẳn, nhà văn đã không thể ngờ được
sức lan tỏa của hình tượng thơ bình dị, không cầu kì tạo chữ nhưng tạo nên sức
gợi mở như thế.
Nhà thơ đã có nhiều thành công trong thi ca bằng sự hồn nhiên
phải kể đến Đồng Đức Bốn. Nào là những cảnh nhà quê:
Nhà quê có cái giếng đình
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi.
(Nhà quê)
Trúc xinh cứ đứng một mình lẳng lơ
Nhà quê có mấy trai tơ
Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi.
(Nhà quê)
Và lắm khi là cả phố xá:
Tôi là một gã nhà quê
Yêu em nên phố bốn bề đều hoa
Nói gì thì kệ người ta
Không em phố chẳng còn là phố đâu.
(Phố hoa)
Yêu em nên phố bốn bề đều hoa
Nói gì thì kệ người ta
Không em phố chẳng còn là phố đâu.
(Phố hoa)
Nếu đã nệ những cầu kỳ chữ nghĩa sẽ chẳng bao giờ viết “giả vờ
sang chơi” hay “kệ người ta”. Những lời ấy không hề nôm na khẩu ngữ mà mang giọng
cao ngạo, ngang tàng nhưng thành thật. Thế mới biết chính sự vô tư, phóng túng
trong cảm xúc, phóng bút trong đặt câu, làm chữ đã làm nên tên tuổi của Đồng Đức
Bốn giữa “rừng lục bát” đã đầy ắp những tài năng và ghi dấu nhiều đỉnh cao khó
vượt.
Sự vô tư trong thơ có lẽ sẽ còn rất nhiều khía cạnh và vấn đề
phải bàn tới trong những chuyên luận văn chương. Sự vô tư ấy có thể bắt nguồn từ
đặc trưng về tính phi lợi nhuận của bản thân mục đích sáng tạo văn học. Nhưng,
bên cạnh đó còn thể hiện một tâm lí sáng tạo rất riêng của những thi nhân luôn
hướng đến việc thể hiện cảm xúc, việc hữu hình các ý tưởng thay vì gọt rũa câu
chữ cho vừa mắt người đọc, cho hợp thói thường. Đương nhiên, không phải sự vô
tư buông lời nào cũng đạt được thành công, cũng như không thể đánh đồng sự vô
tư ấy với “giả vờ” giản dị hay lười nhác trong sáng tạo để tạo ra những câu thơ
vô hồn, mòn sáo. Bởi thế sự vô tư ấy chỉ có thể được cảm nhận đầy đủ nhất khi
những câu thơ gây được sự chú ý của người đọc, được lắng đọng quan thời gian và
giành được chỗ đứng xứng đáng trong tâm hồn mỗi con người. Chỉ có như thế,
chúng ta mới nhận ra một điều tuy không mới mẻ nhưng đầy thú vị ấy.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét