Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2022
Hà Nội - Văn hóa và phong tục 2
Chương II
Chị dịu đi và trình bày một loạt vấn đề. Nào là chồng được 13
cân gạo, vợ 10 cân gạo, lương chẳng bao giờ đủ cả. Năm nay, chị lại thổi xôi.
Anh Quang Dũng nói: "Thế là có bánh chưng rồi. Bà dỡ xôi ra lá, cho một ít
nhân vào giữa, gói lại như chiếc bánh chưng vuông thành sắc cạnh, đem nấu lên một
lát. Thế là ta cũng có bánh chưng như ai, lại không phải đun lâu tốn củi”. Chị
Thạch cười: "Ông thật khéo bày trò", rồi làm đúng như vậy. Năm ấy,
nhà chị có 12 các bánh chưng cải tiến. Tối 30 Tết, anh mở hàng cho vợ và các
con, mỗi người một phong bao giấy đỏ. Chị Thạch cảm động bảo các con: “Phong
bao của bố đấy”. Cũng có nghĩa là thơm thảo thôi chứ không có nhiều. Sau đó, mọi
việc trong nhà lại do chị Thạch đảm nhiệm. Anh treo bức tranh Tết lên tường. Gọi
bức tranh này là "Tĩnh vật" hoặc "Cúc vàng" đều được cả.
Trong bức tranh này, anh vẽ mấy quả cam mọng vàng nằm trong đĩa. Cạnh đó là mấy
bông cúc vàng xòe ra. Xa một chút là ông phỗng bằng giấy ở các chợ quê xưa. Bức
tranh này anh vẽ từ mấy hôm trước, không ai biết. Nó gây một xúc động mạnh. Hoạ
sĩ Phạm Viết Song thích bức tranh lắm, gọi nó là bức "Hương xưa". Hoạ
sĩ Văn Đa ngắm bức tranh hàng nửa tiếng đồng hồ và gọi là bức "Hồn dân tộc".
Thế là xong. Anh ra hẳn một góc riêng. Anh thổi sáo. Anh thổi mỗi bài chỉ một
đoạn. Mà là đoạn anh thích nhất. Thôi thì đủ cả những: “Hòn vọng phu", Hà
nhật quân tái lai, Si na nôi u ru, Biệt ly nhớ nhung, Trở lại Sôriăngtô…
Cô lại lao vào công việc và tự học. Bây giờ, Thanh đã là cô
gái khác hẳn trước. Cô đã học được nhiều điều. Sau hơn hai năm ở Hà Nội, cô xin
phép bà Dương về thăm quê. Cô lại về với những con đường nhỏ lượn lờ như những
con rắn, leo lên những quả đồi đỏ rợp bóng cây. Mấy đám đồi xanh những cây cọ
xoè ô, những người bà con, dân làng rủ nhau đi hái chè… Tất cả đều rất quen thuộc
mà cũng rất bỡ ngỡ, bịn rịn. Bọn trẻ con trố mắt, nhìn cô. Chúng không biết rằng
cô là người cùng làng với chúng. Về đến nhà người anh cả, nỗi đau buồn xưa tràn
ngập. Cô khóc cha, khóc mẹ, khóc cho bản thân cuộc đời của mình. Bà con làng
xóm sang thăm cô, vui như ngày Tết. Cô mang nhiều bánh kẹo ra mời mọi người và
phân phát cho bọn trẻ con. Cô đi thăm hết nhà này đến nhà khác. Đến đâu cô cung
biếu một chút quà bánh, chiếc áo, cái khăn hoặc thước vải… Tối đến, cô đưa cho
anh cả số tiền mà trước đây anh đã nhận của Lạc. Cô cũng đưa thêm cho anh chị một
số tiền làm vốn.
Cụ Quýnh đưa tôi vào nhà, mời uống nước chè xanh và hút thuốc
lào Tiên Lãng. Cụ vừa mới ở Hà Nội về. Cụ không chịu được cái không khí Hà Nội.
Ở Hà Nội không biết trăng sáng tỏ hoặc trăng suông là gì. Thế thì biết làm sao
được cái câu: “Sáng trăng sáng cả vườn đào"? Biết được làm sao cái điệu
“Suông hời” thảng thốt…? Nể lòng người cháu họ mời ra Hà Nội, cụ chỉ nán lại ba
ngày rồi nằng nặc đòi về làng Hồ. Về nhà, cụ còn góp ý cho bọn trẻ khắc lại những
ván tranh Đông Hồ cổ, còn đi hết nhà này đến nhà nọ, còn nghe bọn trẻ hát những
bài quan họ mà cụ cho là quan họ rởm v.v… Cụ đã 95 tuổi mà vẫn tinh nhanh, quắc
thước, râu tóc như bông, nói đến chuyện các bức tranh Đông Hồ, cụ nói một mạch
như thể chỉ sợ tôi xen vào sẽ cắt đứt mạch suy nghĩ của mình. Bàn đến bức tranh
“ Hứng dừa “ cụ bèn kể lại theo lời của cha, ông cụ đã nói với cụ. Tôi chỉ còn
biết nghe và nhớ lại từng chi tiết
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...
-
Nguyễn Du Từ một ai đó đến không ai cả Bạn phải là một ai đó trước khi có thể là không ai cả Engler Jack Sau thời đại...
-
Hoàng Thụy Anh và những không gian mơ tưởng “ta chấp nhận mọi trả giá - kể cả cái chết - để hiện sinh - như một bài ...
-
Ánh trăng trong thơ Dương Quân (Trong Ba tập thơ Chập Chờn Cơn Mê, Điểm Hẹn Sau Cùng, Trên Đỉnh Nhớ) Vào một ...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét