“Miền cỏ tranh” của Nguyễn Minh Ngọc: Miền đất của sự sống và ân tình
Miền cỏ tranh viết
về Tiểu đoàn 840 từ những năm 1962 (tr.17) đến ngày toàn thắng 30.4.1975
(tr.356), bối cảnh là vùng đất thuộc các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, khu Lê
(Lê Hồng Phong), Nam Tây Nguyên và “Miền đông gian lao mà anh dũng”,
ghi dấu nhiều địa danh như Chi khu Bù Đăng, Bù Đốp, Yếu khu Bù Na, Chi khu Phước
Bính, Tiểu khu Phước Long (tr.228), Bù Gia Mập, sông Bé, sông Đắk Hoyt (tr.
284) biên giới Campuchia,… Tác phẩm không viết về hoạt động tập thể Tiểu đoàn
840 mà tập trung vào số phận của một nhân vật là Mười Lượng (Võ Lượng), một người
lính trinh sát. Anh đã sống, chiến đấu trong những ngày mưa bom bão đạn ấy. Anh
là nhân chứng về con người Việt Nam trong chiến tranh.
50 năm sau ngày hòa bình, thống nhất, đọc tiểu thuyết Miền cỏ tranh, người đọc hôm nay có nhiều điều để suy gẫm. Nguyễn Minh Ngọc nói được điểu gì mới mẻ về chiến tranh?
MIỀN NAM TRƯỚC 1975
Hiện thực được nói đến
trong tác phẩm là khu 6, vùng đất cực Nam Trung bộ và miền Đông Nam bộ(1).
Đây là vùng hoạt động của
Quân khu bộ (tr.12), được chỉ huy bởi Tư lệnh Quân khu, có tiều đoàn 840
(tr.16). Võ Lượng là lính của 840, trung đội trinh sát (20). Tiền thân của 840
là Tiểu đoàn 120. Đầu tháng 11 năm 1962, Tiểu đoàn 120 từ Ninh Thuận lên Đắk Lắk,
đánh trận Đầm Ròn, sau đó tham gia chống càn bảo vệ căn cứ Khu 6, vùng Chư Yan
Sin rồi về Di Duk, Năm Buôn, từ đây mang mật danh 840 (tr. 17). Mật danh này có
nghĩa là: “Số 8 chỉ địa bàn đơn vị đứng chân hoạt động ở B8 (Tuyên Đức) thuộc
vùng 4 (nam đường 21, nam Tây Nguyên) và thêm vào con số không (0) ở cuối cho
cân đối” (tr. 17). Tiểu đòan 840 đã đánh nhiều trận. “Sau trận đột ấp Bù Nơ, một
ấp nhỏ của đồng bào thượng, do một trung đội dân vệ chiếm giữ, Tiểu đoàn 840 phục
kích vận động đánh địch trên quốc lộ 14, rồi lui về vùng đông bắc Bù Gia Mập, để
củng cố lực lượng” (tr. 29) để đánh chiếm Bu Prang… Đây là một cứ điểm độc lập
do một đại đội Bảo an của quận Kiến đức (Quảng Đức) trấn giữ” (tr. 29). Tác giả
đã miêu tả và phân tích vị trí chiến lược của Bu Prang (tr30) rất cụ thể. Cần
phải bóc gỡ cứ điểm này để mở rộng hành lang và khai thông cửa khẩu sông Đắk
Hoyt (Đắk Huýt) …”(tr.31). Cuối tháng 12 năm 1965, Tiểu đoàn 840 được lệnh đánh
Bu Prang (tr.43). Do điều nghiên chưa kỹ nên trận đánh thất bại, Tiểu đoàn
thương vong gần 60 cán bộ chiến sĩ (tr.50). Võ Lượng bị thương nặng.
Tôi ghi lại một vài chi
tiết về hoạt động của Tiểu đoàn 840 (ở trên) để lưu ý bạn đọc rằng, nhà văn
Nguyễn Minh Ngọc đã miêu tả bối cảnh thật của cuộc chiến đấu, làm nền cho nhân
vật Võ Lượng. Những trang miêu tả bối cảnh này đậm chất ký, ghi lại người thật
việc thật mà bạn đọc có thể tìm được “nguồn” ở nhiều cơ sở lịch sử (quân đội, Đảng
bộ, các trang web lịch sử). Chẳng hạn, Chiến dịch Nguyễn Huệ ở miền Đông Nam bộ
do tướng Trần Văn Trà (Tư Chi), Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam làm Tư lệnh
chiến dịch và tướng Trần Độ (Chín Vinh), Phó Chính ủy miền Nam, làm chính ủy
chiến dịch (tr. 339). Chiến dịch mở màn cuối tháng 3 năm 1972, kéo dài đến
trung tuần tháng 1 năm 1973 (tr. 347) kết thúc thắng lợi.
Miền cỏ tranh ghi
lại tin tức thời sự từ những năm 1954 đến 30.4.1975 (20 năm kháng chiến chống Mỹ).
Theo chân nhân vật Năm
Ngà – Tư lệnh Quân khu 6 ở chiến trường Nam Tây Nguyên (tr.7)- tác giả ghi lại
hoạt động của ông từ ngày đầu 1945, rồi Nam bộ kháng chiến. Sau đó ông làm Tỉnh
đội trưởng Bình Thuận. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc. Đầu 1963 ông về Nam, được
Quân ủy trung ương và Bộ Tư lệnh bổ nhiệm Tư lệnh Quân khu 6, hoạt động ở vùng
cực nam Trung bộ (tr. 8). Ông tham gia chiến dịch Phước Long tháng 11 năm 1965.
Hoạt động từ những năm
1945 còn có Hai Lược, Chính ủy trung đoàn 812 của tỉnh Ninh Thuận. Năm 1959 Hai
Lược trở lại miền Nam làm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị Quân khu 6.
(tr. 84).
Nguyễn Minh Ngọc đã ghi
chép biên niên sử bước phát triển của cuộc kháng chiến ở khu 6 qua các năm 1959
(tr. 84), 1960 (tr. 104), 1962 (tr. 105), 1963 (tr. 109), 1964 (tr. 111), 1965
(tr. 27), 1966 (tr. 131), 1967(tr. 156), 1968 (tr. 187), 1969 (tr. 229), 1970
(tr. 320), 1971 (tr.336), 1972 (tr.348), 1973 (tr. 350), 1975 (tr. 352).
Xin đọc:
“Cuộc tổng công kích mùa
xuân Mậu Thân 1968 của ta nổ ra hầu khắp các thành phố, thị xã miền Nam, còn lại
phần lớn vùng nông thôn đồng bằng và đặc biệt là vùng rừng núi hẻo lánh thì có
khác về mức độ. Sáng 30 tết, các cơ quan đơn vị được lệnh hành quân ra tiền
phương. Đồng thời, đây cũng là đợt Khu bộ T10 di chuyển chỗ đóng quân đến vị
trí mới luôn”(tr.187)… Cuộc tổng công kích diễn ra ác liệt ở các đô thị lớn kéo
dài tới tận mùa hè 1968. (tr.188). Từ sau Mậu Thân, trên toàn miền Nam, phía
cách mạng bị tổn thất nặng nề và gặp khó khăn nhiều bề. Hầu hết các cơ sở cũ đều
bị phá bỏ với hy vọng chuyến này “tiến về Sài gòn” thì không trở lại nơi chốn
giữa rừng xanh nữa. Tới khi bị tổn thất nặng, các lực lượng của ta phải rút từ
nội thành và các đô thị về lại căn cứ thì lâm vào cảnh trắng tay, …hầu hết các
cơ quan, đơn vị của ta đều không còn chỗ đứng chân. Bởi vậy, tất cả đều phải dạt
sang đất Miên”. (tr. 207).
Xin đọc:
“Chiến dịch Hồ Chí Minh kết
thúc thắng lợi. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ giải phóng đã phấp phới
tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Năm cánh quân giải phóng cùng chầu tuần về
thành phố Sài Gòn…Cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam đã kép lại. Sông núi hòa ca, ngân lên khúc khải hoàn.
Lòng người cuồn cuộn nỗi niềm, vui có, buồn có. Nhưng hòa bình thật rồi.” (tr.
356).
Hai đọan miêu tả bối cảnh
lịch sử (được trích ở trên) thực ra chỉ là bản tin được tiểu thuyết hóa qua tâm
trạng nhân vật. Đó không phải là miêu tả sử thi về cuộc kháng chiến vĩ đại của
dân tộc. Dù vậy, những đoạn ghi chép lịch sử (1954-1975) này giúp người đọc hôm
nay có cái nhìn tổng quan về sự phát triển của cuộc kháng chiến ở miền Nam trước
năm 1975, và là dấu chỉ cách miêu tả mới mẻ của ngòi bút Nguyễn Minh Ngọc về
chiến tranh.
Ông không viết tụng ca,
không lý tưởng hóa ngòi bút, không kiến tạo tác phẩm theo công thức: “ta nhất định
thắng, địch nhất định thua”; không khai thác tư tưởng hận thù. Ông gọi: “Cuộc
chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt
Nam đã kép lại”, mà không nói “cuộc kháng chiến chống mỹ vĩ đại thắng lợi vẻ
vang”. Vâng, khát vọng lớn lao nhất của dân tộc này là hòa bình, thống nhất, độc
lập, tự do. Kháng chiến bảo vệ tổ quốc là nhiệm vụ lịch sử, như cha ông ta đã
chiến đấu bảo vệ tổ quốc hàng ngàn năm qua. Người Việt coi trọng tư tưởng hiếu
hòa. “Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng/ Ta lấy toàn quân là hơn,
để nhân dân nghỉ sức” (Bình Ngô đại cáo-Nguyễn Trãi). Có lẽ miêu tả chiến tranh
Nguyễn Minh Ngọc dựa trên tinh thần ấy.
Việc miêu tả biên niên thời sự chiến tranh trong Miền cỏ tranh đã đặt được nhân vật vào vị trí trung tâm của lịch sử. Nhân vật đã chứng kiến, đã trài nghiệm hiện thực ấy. Và hơn thế, nhân vật Võ Lượng đã sống, đã tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc (dù chỉ ở cương vị một người lính trinh sát ở một chiến trường hẹp), nhưng người trinh sát ấy đã nói lên tiếng nói một Con người trong chiến tranh, là nhân chứng của một dân tộc trong thời kỳ đau thương mà anh dũng nhất lịch sử hiện đại, để các thế hệ sau nhìn vào và suy gẫm.
THÂN PHẬN CON NGƯỜI TRONG
CHIẾN TRANH
Nhiều lần Võ Lượng nói đến
số phận không tránh khỏi của cuộc đời mình. “Dường như luôn có sự sắp đặt của số
phận hay sao ấy” (tr.120); “Anh cứ mơ hồ liên tưởng nghĩ mình hệt như một con
chiên đã được Chúa đóng đinh gắn chặt số phận với vùng đất này rồi, nên không dễ
gì dứt ra được, không thể khác” (tr.136); Bảy Trà nói với Lượng về chuyện tình
yêu: “Ừ thì tụi mình cứ thiệt tình, thưa chuyện trực tiếp luôn, anh à. Coi thử
mấy ảnh thương được thì thương, nếu không cũng đành cắn răng chịu”. Nghe vậy,
Lượng chia sẻ với vợ: “Coi như số phận vậy, Bảy à” (tr.236); lần khác vợ chồng
Lượng lại than thở với nhau: “Cái số tụi mình sao mà cực dữ vậy, Mười ơi!” –
“Thì đã là số phận, hỏi sao tránh nổi, hả em” (tr. 257). Khi nghe tin Mười
Thành chết vì lũ cuốn (tức Hai Lược), Lượng nghĩ: “Thương thay, tiếc thay!
Nhưng thôi, biết làm sao được, mỗi con người đều có một số phận riêng, rất
riêng, dường như tất cả được lập trình sẵn, thật khó có thể đổi thay! Tất cả
như một cuốn phim tua nhanh trong tâm trí Lượng, có đoạn vui, có khúc buồn,
nhưng đọng lại vẫn là nỗi đau mất mát…” (tr.319)
Và tác giả nhận xét về Lượng:
“Quãng đời lính chưa dài, nhưng cũng chẳng phải là ngắn, kể từ khi rời khu Lê
nhảy núi, con người luôn cưỡng lại số phận đã đi đến tận cùng cuộc chiến. Trồng
cây đắng hẳn không bao giờ cho trái ngọt. Võ Lượng tâm niệm và sống đúng như vậy”
(t.357).
Nói “số phận” là nói đến
con đường tạo nên bởi lực tổng hợp của hoàn cảnh sống, các mối quan hệ giữa người
và người và cá tính của đương sự. Các yếu tố này quyết định hướng đi của một đời
người (tất nhiên còn có yếu tố may rủi).
Lượng sinh ra trong chiến
tranh, lại lăn mình vào chiến trường, anh phải chấp nhận những mất mát, thiệt
thòi, hy sinh, …và không thể khác. Hơn nữa Lượng là đảng viên, anh phải thực hiện
nhiệm vụ tổ chức phân công. “Lượng xác định, một khi đã có sự phân công thì việc
ai nấy làm, mình vì đại cuộc chứ không phải vì bất cứ cá nhân nào” (tr.284). Lượng
là người lính trinh sát, “giỏi binh yếu địa bàn, thạo căn bản đồ mà cắt rừng, lại
vừa lanh lẹ khi xử trí tình huống” (tr.275), “Chủ động, sáng tạo, dám làm, dám
chịu trách nhiệm…”(tr.291), anh lại có tính cách ngỗ ngược (tr.233), liều lĩnh
(tr. 341) khác người. Những yếu tố ấy làm nên nhân vật Lượng đầy góc cạnh.
Lượng tuổi Ngọ, quê ở
thôn 1, xã Hồng Sơn. Quê anh mênh mông đồi cát, rừng còi (tr. 181). Người dân
quê chủ yếu làm nông, gắn với vườn tược, ruộng rẫy. Thưở nhỏ, Lượng rất khoái
đi bắt dông về làm thức ăn (con dông giống như rắn mối, da dày và nhiều màu sắc).
Má Lượng chịu khó chế biến thịt giông thành nhiều món ăn ngon. Gia đình cha mẹ
Lượng, ông Hai Thơ-bà Năm Tý, là một gia đình cách mạng. Ông bà có 7 người con
(tr. 36). Lượng thứ mười, là út. Má của Lượng là một thành viên tích cực trong
Hội Mẹ Chiến sĩ của tỉnh Bình Thuận. Ngoài các con ruột, má Lượng có một đoàn
con nuôi đông đảo. Họ là các “Vệ túm”, trong đó có Văn Lược (Hai Lược) là Chủ
nhiệm chính trị quân khu, người ảnh hưởng trực tiếp đến số phận Lượng sau này
(tr.35).
Tuy nhà nghèo, sống giữa
miền cát, nhưng “ông Hai Thơ và bà Năm Tý sớm hướng cho con cái đi theo con đường
sáng…”. Khi Lượng tròn một giáp (12 tuổi), Hiệp định Giơnevơ được ký kết
(1954). Nhưng rồi Mỹ-Diệm xé bỏ hiệp định. Họ thực hiện chính sách “tố cộng, diệt
cộng”, lập Ầp chiến lược. Cha của Lượng cho con là Võ Thanh, Võ Dũng gia nhập
quân Giải phóng. Tiếp đó, ngay sau Đồng Khởi, Võ Lượng cũng nối gót theo các
anh (tr.37).
Năm sau, bà Năm Tý chết
trong trại tập trung, còn ông Hai Thơ (cha của Lượng) bị địch bắt giam ở Phan
Thiết vì tội tiếp tay cho con trai trốn theo Việt Công. Giữa năm 1962, anh Võ
Dũng, chiến sĩ trinh sát thuộc tỉnh đội Bình Thuận, khi làm nhiệm vụ, lọt ổ phục
kích hy sinh. Sau đó là anh Chín Thanh hy sinh trong trận công đồn La Gàn ở huyện
Tuy Phong, (Liệt sĩ Võ Thanh hy sinh ngày 6.8.1965) (tr39).
“Nỗi mất mát đau thương
vò xé tâm can Lượng…Người mẹ đã khuất núi, ba người anh cầm súng đánh giặc lần
lượt ngã xuống ngay trên mảnh đất Bình Thuận quê hương. Đau đớn thay là cả ba
người anh đều chưa một ai kịp lập gia đình và có khi họ còn chưa biết nắm tay một
người con gái nói chi đến hò hẹn yêu thương…Trời cao đất dày ơi, ngươi có thấu
chăng?” (tr.41).
Và rồi tử thần đã đến bên
Lượng. Trận Bu Prang thất bại, Lượng bị thương nặng. “cứ nghĩ rằng mình sẽ “ra
đi” ngay trong đêm nên chả cần ai quan tâm nữa. Đầu óc trơ lì, lòng trống rỗng,
không buồn, không vui. Chỉ mỗi cảm giác chờ đợi là có thật. Không ân hận, chẳng
tiếc nuối, chàng trai miền cát cũng chẳng trách oán bất kỳ ai. Cái số kiếp mình
nó vậy. Cứ ráng chờ. Nhanh thôi. Lão thần chết vung lưỡi hái lên kéo một nhát
là xong đời. Sự giải thóat nhẹ nhàng” (tr. 59).
Nhưng Tử thần không thể
đem Lượng đi. Anh nhận ra sự kỳ diệu sức mạnh của tuổi trẻ. Anh cũng hiểu rất
rõ chính tình yêu thương của đồng đội, sự tin yêu và quan tâm của lãnh đạo cấp
trên, sức mạnh của tình yêu quê hương, tình yêu gia đình đã giữ anh lại trong
cuộc đời này và bù đắp cho anh những thiệt thòi của số phận.
Từ một du kích làng, bằng
tài năng, sự chân thành và lòng dũng cảm, Lượng đã thăng tiến lên chức Tiểu
đoàn phó Tham mưu trưởng Tiểu đoàn Đặc công. Anh cùng với đồng đội lập nhiều
chiến công, được thưởng huân chương. Cũng chính tài năng và “tiếng tăm” lừng lẫy
của Lượng, mà anh được nhiều nữ chiến sĩ xinh đẹp yêu thương. Đặc biệt anh
chinh phục được Thanh Trà, một nữ chiến sĩ, cô gái Sài Gòn xinh đẹp. Nàng trở
thành vợ và sinh cho anh hai đứa con trai (Võ Tâm và Võ Trí. tr.333) để nối dõi
tông đường như nguyện vọng của cha anh. Ở đâu anh cũng đầy ắp tình người:
“Dẫn mấy anh em quân báo
lên cửa khẩu làm nhiệm vụ, Võ Lượng gặp lại nhiều bạn bè, những đồng đội cũ,
tay bắt mặt mừng. Vui vì trải bao gian nan, bầm trầy, sau nhiều biến cố mà vẫn
còn được nhìn thấy nhau, được nắm tay nhau. Hay tin Lượng đã lập gia đình và
lên chức bố, anh em xúm lại chúc mừng. Thế là mỗi người bèn dốc bòng ra, ai có
gì tặng nấy, song nhiều hơn cả vẫn là những lon sữa hiệu Ông Thọ. Gom lại được
chục lon sữa đặc, quý hơn vàng, và trên hết vẫn là tấm lòng của đồng đội ở nơi
hòn tên, mũi đạn, dẫu ranh giới giữa sự sống và cái chết luôn cận kề song vẫn
luôn ấm áp tình người.” (tr.321).
Qua bóng dáng của Lượng,
người đọc hôm nay còn nhận ra nhiều thân phận khác nữa trong chiến tranh. Thân
phận con người trong những vận động lớn lao của lịch sử, của cuộc kháng chiến
(các đợt cán bộ tập kết ra Bắc rồi trở về Nam chiến đấu những năm 1960, Tổng tiến
công Mậu Thân 1968, Hiệp định Paris 1973. Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975…). Có cả
những thất bại chiến trường (trận Bu Prang), những đợt di tản qua đất Miên (tr.
323), những cô gái (cô Sáu, Út Hường, Bảy Trà), những thương binh (đoàn thương
binh vài ngàn người. tr. 326), những cái đói, cái đau, lũ cuốn (Mười Thành chết
vì lũ. tr.316), bom đạn, chất độc Dioxin (tr. 328) và những cái chết (tr.50)…
Đây là cảm giác của Lượng
khi chiến tranh kết thúc: “Trở lại Bù Gia Mập, anh dừng xe bên đường. Con mắt
người lính chiến như thể bị thôi miên trước màu xanh vàng ngút ngát của trảng
tranh. Những vạt cỏ tranh bị bom đạn thiêu rụi, mưa xuống, tua tủa cả một lớp
ngọn mầm nhọn hoắt như chông đang giăng giăng. Màu xanh lá mạ. Chợt liên tưởng
đến mảnh ruộng vẫn đi cày thuê hồi còn ở quê nhà, không kìm nổi, Lượng đưa ta dứt
một túm cỏ tranh. Anh đưa một cọng lên miệng nhấm. Đăng Đắng…”(tr. 357), sau đó
Lượng nhớ đến cha, nhớ cô Sáu và Út Hường, hai người đã chăm sóc anh khi anh bị
thương nặng, nhớ về Trinh và mối tình đầu. “Lượng nghẹn ngào thấy mình có lỗi với
cuộc đời này” (tr. 358). Anh “không thể nào đoán biết những gì đang chờ mình ở
phía trước, bao dự cảm bộn bề khiến ngưới lính chiến muốn nghẹt thở “ (tr.359).
Cái vị “đăng đắng” và cảm
quan “không thể nào đoán biết những gì đang chờ mình ở phía trước” của Lượng về
tương lai đời mình vẫn là dự cảm về một số phận bất định. Lẽ ra sau 30.4.1975,
với thành tích lẫy lừng, có vợ đẹp, con khôn, trở về đời thường, Lượng phải
vui, vì chắc chắn Lượng sẽ có một vị trí quyền lực tương xứng với thành tích
chiến đấu của anh. Anh sẽ được cấp nhà, cấp xe; con được hưởng chế độ ưu đãi,
và với quan hệ rộng rãi, con đường tương lai của anh có thể biết được. Vậy mả
Lượng lại “thấy mình có lỗi với cuộc đời này”, lại “không thể nào đoán biết những
gì đang chờ mình ở phía trước”. Cách kết thúc tác phẩm như vậy đặt ra cho người
đọc nhiều điều để suy gẫm, cũng đồng thời là dấu chỉ sự khác biệt giữa Miển cỏ
tranh với tiểu thuyết kháng chiến (giai đoạn 1945-1975) viết theo thi pháp của
Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa.
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA “MIỀN
CỎ TRANH”
1. Miền cỏ tranh là
tiểu thuyết hiện thực, nhưng không phải là Hiện thực xã hội chủ nghĩa, bởi vì
Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa “phản ánh hiện thực cách mạng, trong quá
triển cách mạng, kết hợp với lãng mạn cách mạng”. Miền cỏ tranh có
phản ánh hiện thực cách mạng (gia đình Võ Lượng là gia đình cách mạng), nhưng
cũng miêu tả phần “hiện thực không cách mạng”, những chuyện thường tình “ở đời”:
“Nhưng ở đời, nói như cách mà cổ nhân vẫn dạy là người tính không bằng trời
tính” (tr.221). Các miêu tả này làm cho Miền cỏ tranh đầy đặn hơn, trung thực
hơn và phong phú chất thẩm mỹ hơn so với tiểu thuyết “truyền thống”.
Chẳng hạn, tác giả miêu tả
cảnh làm tình (sex) của Lượng với Trinh (tr. 89), và cảnh ái ân giữa rừng của
Lượng với Thanh Trà (tr. 216); cảnh Lượng đưa “vài ngàn” thương binh ra Bắc,
“Ròng rã suốt ba tháng trời, dọc đường đi đã có không biết bao nhiêu chuyện dở
khóc dở cười xảy ra”, “nhiều thương binh gã quỵ ngay trên đường vì đau đớn,
không có thuốc và kiệt sức”, “những cái chết lãng nhách, thê thảm…” (tr. 329).
Chẳng hạn, việc lật tẩy
những trò xấu của Chính ủy Tư Vê (tr. 293) trong việc hắn âm mưu hãm hại Lượng
và đánh phá hạnh phúc của Thanh Trà (tr. 302); hoặc việc phê phán quy định “ba
khoan”, điều đã làm cho Lượng và Thanh Trà, lứa đôi yêu nhau lo lắng (tr.190).
Chuyện Lượng bị cấp trên cho ăn bánh vẽ (tr.118). Nhân vật Lượng, dù là chiến
sĩ trinh sát kiên cường, lại có lúc suy nghĩ tiêu cực: “lắm lúc đau quá xá, chịu
hết xiết, thì Lượng bỗng nảy ra ý nghĩ tiêu cực, giá gặp quả mìn thì đạp cho nỗ
banh xác luôn có khi lại sướng cái thân. Coi như một sự giải thoát cho kiếp người”
(tr. 116). Có lúc anh còn nghĩ: “…không màng đến bất cứ thứ gì. Bởi mọi chức tước,
địa vị rồi cuối cùng sẽ trở thành phù vân cả thôi” (tr. 159). Khi nhận nhiệm vụ
chiến đấu, Lượng không nói đến việc hy sinh vì lý tưởng, vì Tổ quốc; vì trách
nhiệm đảng viên, như là sức mạnh chiến thắng của một người lính chiến.
Những miêu tả đời thường
này đã vượt ra ngoài thi pháp của Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó có ý
nghĩa như là đóng góp của Nguyễn Minh Ngọc vào sự đổi mới tiểu thuyết, đổi mới
văn học Việt Nam sau chiến tranh.
2. Nhân vật Lượng chứa
đựng sự đổi mới cách viết của Nguyễn Minh Ngọc. Lượng không được miêu tả như một
nhân vật anh hùng của bút pháp lý tưởng hóa, cũng không được tô đậm phẩm chất
chính trị như yêu cầu của “tính Đảng”, mà được khắc họa như một nông dân bình
thường đánh giặc.
Anh giỏi bắt cá, bắt con
dông, săn thú rừng. Đi trinh sát, anh cắt rừng mà đi. Anh sống sâu nặng tình cảm
với cha mẹ, anh em. Anh đau đớn khi nghe tin gia đình bị giặc triệt hạ (mẹ chết
trong ấp chiến lược, cha bị bắt giam tội tiếp tế cho Việt cộng, ba người anh chết
trận…tr.41; tr.319). Hai nữ y tá chăm sóc anh đã để lại trong tim anh những ấn
tượng sâu đậm: “Anh trào nước mắt nhớ hình ảnh cô Sáu và Út Hường quân y ở trạm
xá. Tận bây giờ anh vẫn thấy nhói đau mỗi khi nhớ về cái chết bi thảm của người
con gái bưng biền xinh đẹp và dịu dàng quá sức. Lời hứa tìm về thăm của anh
chưa kịp thực hiện và cũng chẳng còn cơ
hội nữa” (tr.358). Lượng
đặc biệt yêu thương chăm sóc vợ con, bởi Thanh Trà là tình yêu vô giá của anh;
hai đứa con là Võ Tâm và Võ Trí là cháu đích tôn của cha anh, mà ba người anh
hy sinh đã không thực hiện được ý nguyện của người cha.
Cốt lõi phẩm chất của Lượng
là ý thức thực hiện nhiệm vụ của người chiến sĩ, với sự thẳng thắn, trung thực
giàu tình nghĩa, và giàu lòng nhân ái: “Ở bất kỳ đâu thì nhiệm vụ của người
lính vẫn không hề thay đổi, đó là bám đánh địch, tiêu hao và tiêu diệt sinh lực
kẻ thù, xây dựng và bảo tồn lực lượng góp phần ‘chia lửa’ cùng với toàn miền”
(tr.337).
Thoát ly gia đình từ năm
18 tuổi (tr.302), Lượng là cận vệ trung tín, là trinh sát giỏi, mưu trí, dũng cảm;
một tham mưu đầy mưu lược và luôn tiên phong thực hiện những nhiệm vụ khó khăn
mà cấp trên tin cẩn trao phó. Anh luôn tự khẳng định mình “là chính mình”
(tr.118), không sợ hy sinh gian khổ khi đối mặt với cuộc chiến và kề cận cái chết.
Anh từ bỏ quyền lợi chính đáng của một thương binh nặng được đi chữa trị ở
ngoài Bắc. Anh không bận tâm khi Huân chương của anh bị dìm, bị cố ý lãng quên
(tr. 293); đám cưới của anh đang tổ chức thì địch tấn công, phải đến lần thứ
ba, lễ thành hôn của anh với Thanh Trà mới được tổ chức trọn vẹn. (tr. 285…),
anh kính yêu những cấp trên tài giỏi, đức độ (chẳng hạn Phó Chính ủy Mười
Thành, Tham mưu trưởng Năm Khánh…).
Phẩm chất chính trị của
Lượng trở thành bản chất con người Lượng (có lẽ vì thế nhà văn Nguyễn Minh Ngọc
đã không cần phải miêu tả gì thêm); và nhờ có bao chiến sĩ như Lượng, đất nước
này mới được hòa bình, thống nhất toàn vẹn.
Tất nhiên, có lúc tác giả
cũng không tránh được chất thông tấn, nhưng cần thiết. Chẳng hạn: “Nhờ có vệ
binh chủ động đi tuần tra sớm phát hiện biệt kích tổ chức đi càn, đơn vị kịp thời
cử người về báo cáo để ở nhà nắm được, mặt khác linh hoạt bám nắm và theo dõi địch
rất sát sao. Tuy lực lượng đôi bên quá ư chênh lệch nhưng tiểu đội đã mưu trí
dũng cảm, biết lựa thế, lấy ít chọi nhiều, chủ động tấn công phủ đầu, bẻ gãy ý
đồ của địch khi chúng chưa kịp khởi sự…”(tr.178).
Ở nhân vật Lượng, còn thấp
thoáng chất lãng tử và bước đầu tiếp cận cách viết Hiện sinh. Người đọc ngạc
nhiên khi trong ngày đại thắng 30-4-1975, Lượng để vợ con ở lại hậu cứ, rồi
phóng chiếc Honda 90 màu xanh ngược về bản quán. Anh không có tâm trạng gì của
người vừa góp công vào cuộc đại thắng, cũng không bận rộn việc sẽ làm chức vụ
gì trong bộ máy Quân quản. Trong đầu anh không có bóng dáng của tương lai cho
mình và cho vợ con. Trái lại, khi nhìn lại đời mình và nhìn về con đường trước
mặt, anh hết sức hoài nghi: Võ Lượng “dừng lại bên đường. Anh đứng như chôn
chân, mắt trân trối nhìn trời, nhìn đất, nhìn đám bụi cuồn cuộn mịt mù theo từng
đoàn ô tô trẩy xuôi về phương Nam. Không thể nào đoán biết những gì đang chờ
mình ở phía trước…”; “Giây lát, anh tặc lưỡi. Cứ đi rồi khắc đến, Hãy sống rồi,
khắc biết. – Đi.”(tr. 359 – kết truyện).
Tâm thức hoài nghi và
thái độ “hãy sống rồi, khắc biết” là ý thức Hiện sinh về sự tồn tại. Bởi Lượng
đã đi qua sinh tử, trải nghiệm tồn tại cho anh biết rằng “Không thể nào đoán biết
những gì đang chờ mình ở phía trước”. Đó là một nhận thức mà bất kỳ ai cũng đều
cảm nghiệm trong hành trình sống của mình. Và như vậy, cuộc chiến đấu gian nan,
hy sinh; hạnh phúc, đau khổ, vinh nhục của một đời người, niềm hy vọng hay tuyệt
vọng của chính Lượng, đã là quá khứ (không phải là hiện tại và tương lai). Lại
bắt đầu một hành trình sống khác, một hành trình sinh tử đầy phiêu lưu (tr.
327; 331) “…không mấy ai còn đủ nước mắt để khóc nữa, những cái chết lãng
nhách, thê thảm. Nhiều người thở ngắn thở dài nghĩ dại, chả biết lúc nào tới lượt
mình? Vâng, chiến tranh là vậy, đâu có thể nói trước điều gì” (tr. 329): “Hãy sống
rồi, khắc biết. – Đi.” Lượng đặt mình vào một mệnh lệnh Hiện sinh, với thái độ
không chần chừ: – Đi (nhưng đi theo hướng nào, đi đến đâu và để làm gì? Sẽ tiếp
tục là những tra vấn hiện sinh).
Nhưng nhà văn Nguyễn Minh
Ngọc không trả lời những câu hỏi đó (bởi ông không phải là nhà tư tưởng). Ông
cũng chưa đi đến tận cùng Hiện sinh, mà còn ngập ngừng trong thế giới quan cũ.
Có lúc Lượng nghĩ: “…không màng đến bất cứ thứ gì. Bởi mọi chức tước, địa vị rồi
cuối cùng sẽ trở thành phù vân cả thôi” (tr. 159). Đây là tư tưởng của Kinh
thánh: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù
vân” (Sách Giảng viên.1, 2). Nguyễn Minh Ngọc nói nhiều đến số phận, số kiếp mà
trời đã “lập trình” cho mỗi người (tư tưởng Thiên Mệnh của Nho giáo): “…mỗi con
người đều có một số phận riêng, rất riêng, dường như tất cả được lập trình sẵn,
thật khó có thể đổi thay! (tr. 319). Nguyễn Minh Ngọc pha trộn với minh triết
dân gian. Dù “Thiên mệnh” là không thể thay đổi, “nhưng mặc lòng, cuộc đời vẫn
cứ luôn nhân hậu. Hễ cánh của này khép lại thì cánh cửa kia mở ra” (250); “Quả
là trong cái rủi có cái may!” (tr. 332). Xin lưu ý, Lượng không phải là kiểu
nhân vật tư tưởng. Anh là nhân vật của bút pháp hiện thực, nhưng trong quá
trình sống chiến đấu, đối mặt với tử sinh, anh tiếp cận được một vài khía cạnh
tư tưởng Hiện sinh. Đó là cái mới của ngòi bút Nguyễn Minh Ngọc.
Ý nghĩa thực của Hiện
sinh được tô đậm trong Miền cỏ Tranh là khát vọng sống, khát vọng
hòa bình, khát vọng hạnh phúc của Con người trong chiến tranh. Những khát vọng
này được miêu tả sâu sắc, được tô đậm trong từng chi tiết, dù ngôn ngữ hoàn
toàn bất lực trước thực tại.
Xin đơn cử. Ba người anh
của Lượng hy sinh khi chưa có vợ con. Họ hoàn toàn mất tuổi trẻ, mất hạnh phúc
tuổi thanh xuân. Làm sao cha của Lượng có cháu nội nối dõi tông đường. Cái khát
vọng này của ông làm cháy lòng Lượng khôn nguôi?: “ba người anh cầm súng đánh
giặc lần lượt ngã xuống ngay trên mảnh đất Bình Thuận quê hương. Đau đớn thay
là cả ba người anh đều chưa một ai kịp lập gia đình và có khi họ còn chưa biết
nắm tay một người con gái nói chi đến hò hẹn yêu thương…Trời cao đất dày ơi,
ngươi có thấu chăng?” (tr. 41). Những lần xung trận, Lượng vội vã đến độ không
sao từ biệt vợ và con trai, mong một phút được bên vợ bên con cũng không được.
“Nghĩ đến hai mẹ con, lòng khôn nguôi sự áy náy, nhưng biết làm sao được” (tr.
327). Lượng dẫn đoàn thương binh hàng ngàn người trên đường ra Bắc, anh chứng
kiến cái đói, đau xót mà bất lực: “…phải kiếm đủ cái ăn cho cả ngần ấy con người
quả là vượt quá khả năng. Chỉ còn nước là ngửa tay hứng trời mà lấy không khí vậy.
Đối diện với cái đói, người bình thường đã là một cực hình, với những người
mang đầy thương tích thì thật không có ngôn từ nào có thể diễn tả nổi…”(tr.331).
Đó là khát vọng bình an,
no ấm, khát vọng sống còn rất cụ thể của bao Con người đang trong lúc đau khổ
tuyệt vọng. Và đây là hạnh phúc thật: Ở chiến trường trở về, Lượng có thêm đứa
con trai. “Gia đình nhỏ đã có thêm một thành viên mới tuy cực nhưng mà vui. Bởi
con cái luôn là thứ phúc phận trời cho, chứ không phải cứ muốn là được! Còn được
sống sót trở về để ôm vợ con vào lòng, với Lượng có lẽ đó là thứ ‘huân chương’
siêu hạng rồi…”(tr.333)…
Miêu tả những khát vọng của
Con người trong chiến tranh chính là giá trị của Miền cỏ tranh mà
Nguyễn Minh Ngọc muốn chia sẻ với bạn đọc hôm nay. Chiến tranh đã qua đi nửa thế
kỷ. Nhưng kẻ thù xâm lược đất nước này thì không bao giờ từ bỏ tham vọng của
nó. Làm thế nào để mỗi người dân được sống trong hòa bình, no ấm và thực hiện
được những khát vọng của mình?
XIN ĐƯỢC CHIA SẺ
Tôi thích những trang
miêu tả thiên nhiên giàu đẹp của Miền cỏ tranh, thích những cử chỉ
rất đẹp của cô Sáu và Út Hường khi căm sóc thương binh. Tôi đồng cảm được với
tình yêu nồng nàn của Lượng với Trinh và sau đó với Thanh Trà. Đó là hạnh phúc
mà đời ngườichỉ có một lần tuổi trẻ. Tôi ngưỡng mộ cái đẹp của Phó Chính ủy Mười
Thành và Tham mưu trưởng Năm Khánh khi bảo vệ hạnh phúc cho Lượng… Miền cỏ
tranh có cách viết truyền thống nhưng đã hiện đại nhiều yếu tố của thi pháp.
Và tư tưởng này của nhà
văn Nguyễn Minh Ngọc đọng lại trong tôi nhiều suy nghĩ: “…các trảng cỏ tranh
luôn chứng tỏ một sức sống diệu kỳ giữa bom đạn, nắng nóng, lửa
cháy. Chúng cứ bình thản
trải rộng một màu xanh như vô tận” (tr. 295); “… Con mắt người lính chiến như
thể bị thôi miên trước màu xanh vàng ngút ngát của trảng tranh. Những vạt cỏ
tranh bị bom đạn thiêu rụi, gặp mưa xuống, tua tủa cả một lớp ngọn mầm nhọn hoắt
như chông đang giăng giăng. Màu xanh lá mạ…” (tr. 357). Đoạn văn vừa miêu tả hiện
thực, vừa có ý nghĩa tượng trưng thể hiện chủ đề của tác phẩm và tư tưởng của
nhà văn.
Tiểu thuyết Miền cỏ tranh là “sức sống diệu kỳ giữa bom đạn” của con người Việt Nam trong chiến tranh, là sự tái khám phá sức mạnh Việt Nam, và là thông điệp cho mai sau. “Ở đời dường như việc gì cũng có đầu có cuối, chẳng mầy khi là ngẫu nhiên cả. Sự vật luôn vần xoay, biến chuyển. Số phận con người cũng vậy, có lúc thăng, lúc trầm, chứ không hoàn toàn suôn sẻ.”(tr. 156).
Chú thích:
(1) Trong
kháng chiến chống Mỹ, Khu 6 ở Đông Nam Bộ, còn được gọi là T6, bao gồm các tỉnh:
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tuyên Đức, Lâm Đồng, Đắk Lắk và Quảng Đức.
Khu 6 được thành lập năm 1961, do Bộ Tư lệnh Miền (B2) trực tiếp chỉ đạo.
7/7/2025
Bùi Công Thuấn
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét