Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Nghe sóng giữa trùng khơi

Nghe sóng giữa trùng khơi

Tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng tái hiện đời sống của các thủy thủ, công nhân, kỹ sư đến từ nhiều quốc gia cùng làm việc trên giàn khoan Biển Xanh. Điểm nhìn của Trương Anh Quốc bao quát, kết nối biển và bờ, đưa giàn khoan trở thành trung tâm của câu chuyện. Tại đây, mọi hỉ nộ ái ố, tham sân si và cả tình người đều được anh thiết dựng sinh động, khách quan.
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi. Tôi có dịp gặp anh tại Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8 ở Tuyên Quang nhưng mãi gần mười năm sau mới có dịp trò chuyện văn chương. Trước đó, tôi chỉ đọc rải rác tác phẩm của anh trên báo, tạp chí. Sau này gặp lại, anh gửi tặng tôi “gia tài” sách của mình. Quả thật, như Văn Thành Lê và nhiều cây bút khác nhận xét, viết về biển đảo, có lẽ hiếm ai vượt qua Trương Anh Quốc, bởi anh là nhà văn thủy thủ chính hiệu chứ không phải hàng fake.
Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
1. Trùng khơi nghe sóng tái hiện đời sống của các thủy thủ, công nhân, kỹ sư đến từ nhiều quốc gia cùng làm việc trên giàn khoan Biển Xanh. Điểm nhìn của Trương Anh Quốc bao quát, kết nối biển và bờ, đưa giàn khoan trở thành trung tâm của câu chuyện. Tại đây, mọi hỉ nộ ái ố, tham sân si và cả tình người đều được anh thiết dựng sinh động, khách quan.
Dưới mắt một lính mới, giàn khoan Biển Xanh hiện lên “vàng rực như một lâu đài nguy nga trên biển. Một công trình kiên cố mọc lên sừng sững nơi mực biển sâu hàng trăm mét. Một thành phố nổi, choáng ngợp… Trên nóc giàn khoan lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong nắng gió sớm mai”. Bối cảnh ấy hiện lên sống động nhờ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố. Đó là âm thanh gầm rít của trực thăng, đó là vị mặn chát của muối biển và đó là cảm giác bỏng rát từ cái nắng gắt gao… Nhịp lao động trên giàn xoay vòng khép kín từ cân hành lý, xem phim an toàn, lên xuống trực thăng ở sân bay bờ và giàn, các công đoạn thi công, bảo trì… Bên cạnh không khí lao động nhộn nhịp, giàn khoan cũng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Sự cố thiết bị, tai nạn nghề nghiệp có thể ập đến bất cứ lúc nào. Vì vậy, các quy định an toàn nghiêm ngặt về đội mũ bảo hộ, nơi cắm thẻ T gắn với vị trí làm việc hay lệnh cấm câu cá được đặt ra và yêu cầu tuân thủ. Tất cả liên hợp tạo nên môi trường đặc thù, áp lực và kỷ luật.
Làm việc trong môi trường khắc nghiệt và áp lực không tránh khỏi việc xảy ra mâu thuẫn. Trong Trùng khơi nghe sóng, trục xung đột xoay quanh bộ ba Vĩnh, Jet và Malee. Sự xuất hiện của Malee, nữ kỹ sư đo đạc 23 tuổi người Thái Lan đã phá vỡ bầu không khí toàn man-nam và lập tức trở thành tâm điểm chú ý của mọi người, đặc biệt là Vĩnh, một kíp trưởng trầm tính và cương nghị. Jet, gã đốc công cơ hội và mưu mô, lợi dụng quyền lực để cưỡng bức Malee, đẩy cô vào vòng xoáy sợ hãi. Trái ngược hắn, kíp trưởng Vĩnh giữ trọn sự chính trực, trở thành điểm tựa duy nhất cho Malee giữa giàn khoan đầy sóng gió. Bi kịch và tình huống càng trở nên oái ăm khi Malee mang thai và đứa con ấy có thể là kết quả tình yêu với Vĩnh, cũng có thể là hệ lụy từ hành vi bạo lực của Jet. Xuyên suốt tiểu thuyết, số phận ba người bị cuốn vào cơn lốc của tình yêu, dục vọng và quyền lực. Và như thường thấy trong sáng tác của anh, cái kết luôn bất ngờ, khiến người đọc không thể lường trước.
Xung đột trung tâm trở thành nền tảng để Trùng khơi nghe sóng dựng nên “xã hội giàn khoan” đầy mâu thuẫn và biến động. Trên giàn khoan, nhịp lao động luôn gấp gáp, ca này nối ca khác không ngừng nghỉ. Ở đó, như trên một sân khấu thử thách, mọi phẩm chất và tật xấu của con người đều có cơ hội phơi bày. Sự thay đổi liên tục về nhân sự cùng những va chạm trong hành xử khiến bầu không khí làm việc luôn căng thẳng và kịch tính. Có người tận tụy, có kẻ buông xuôi; có người dám nhận trách nhiệm, có kẻ chỉ tìm cách né tránh; có người chân thành, có kẻ khôn lỏi, kẻ thật thà, người khó chịu lẫn kẻ vui tính. Đã vậy, sự đối lập giữa tư duy lý trí phương Tây minh bạch, đề cao hiệu quả và tư duy cảm tính phương Đông nặng tình nghĩa, né tránh va chạm càng khoét sâu những xung khắc trong quan hệ con người.
Trong khung cảnh đó, Trương Anh Quốc đã chạm khắc những gương mặt điển hình trong hoàn cảnh điển hình, mỗi người một nét riêng. Stephen, điện trưởng người Úc, hách dịch và thù dai. Đại thuộc kiểu người ưa phô trương, thích thể hiện. Jet, Đồng và Đại cấu kết để mưu lợi. Satiawan, công nhân Indonesia cần mẫn và lặng lẽ làm việc và sùng đạo. Còn James, lái cẩu Mỹ rất đàn ông quân tử, già nua nhưng vẫn bám nghề với sự tận tụy hiếm thấy. Các chân dung ghép lại, dựng nên “xã hội giàn khoan” mang tính toàn cầu chân thực, thô ráp mà phức tạp.
Đằng sau kỷ luật nghiêm ngặt là vô số mánh lới như lách luật, giả chữ ký qua mặt cấp trên, đút lót để thăng tiến, câu cá lén gửi về bờ đem bán… Nguyên tắc ứng xử bị thay thế bằng những khẩu hiệu thực dụng, chua chát “cao thủ không bằng tranh thủ”, “mối quan hệ ưu tiên hơn kiến thức trình độ kinh nghiệm”… Jet ngang nhiên đổi mũ bảo hộ sai quy định mà vẫn được bao che. Đồng nịnh bợ đến mức trơ trẽn… Điều đó đã nói lên sự nứt gãy của cơ chế quản lý, kỷ luật chỉ là hình thức, thực ra quyền lực ngầm và phe cánh mới là yếu tố quyết định trật tự trên giàn khoan.
Có thể xem giàn khoan trong Trùng khơi nghe sóng là tấm gương soi, phản chiếu những mặt đối cực giữa trung thực và gian trá, tận tụy và lười nhác, tử tế và vô cảm. Tác phẩm đã vượt ra ngoài phạm vi phản ánh đời thường để vẫy gợi trong lòng mỗi người những cật vấn, trăn trở, chiêm nghiệm nhân sinh. Sức mạnh phẩm giá nào giúp con người vững vàng trước bão tố? Và đâu là mầm mống gặm nhấm bào mòn đưa đẩy nhân tính trượt dần vào ngõ suy đồi?
2. Để nhận diện cá tính, giọng điệu của Trương Anh Quốc có thể đặt Trùng khơi nghe sóng trong sự đối chiếu với các tác phẩm trước đó như Biển và Sóng của anh. Ở Biển, anh dồn nén các lát cắt đời sống thủy thủ ngay trên tàu theo dạng tự sự tuyến tính. Sang Sóng, biên độ mở rộng hơn, loại hình du kí kết hợp thư từ, điện thoại, truyện lồng trong truyện. Người đọc theo chân nhân vật đi qua nhiều cảng biển, nhiều quốc gia, tiếp xúc với sự đa dạng văn hóa, phong tục, tôn giáo như thể chỉ có đôi mắt và bước chân của người thủy thủ mới khám phá ra được vậy.
Trùng khơi nghe sóng tiếp tục mạch sáng tác về biển của Trương Anh Quốc nhưng với hướng đi mới. Nếu Sóng mang hơi hướng du ký với sự dịch chuyển qua nhiều vùng đất và nền văn hóa thì Trùng khơi nghe sóng lại đặt biển trong mối liên hệ trực tiếp với giàn khoan dầu khí của Việt Nam ta. Biển lúc này là cái nền cho chiếc giàn khoan, trở thành bối cảnh của lao động kỹ thuật, của va chạm văn hóa và của những thử thách nhân tính. Đặc biệt, với tiểu thuyết này, tính đến thời điểm hiện tại, lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, giàn khoan dầu khí được đặt làm trung tâm một tiểu thuyết.
Văn phong riêng khác của Trương Anh Quốc trong Trùng khơi nghe sóng là tiếng cười hóm hỉnh, pha chút cợt nhả mà vẫn giữ được sự tinh tế. Ở Biển và Sóng, chất hài hước đã xuất hiện, song còn nhẹ nhàng, chưa đạt đến độ mạnh và “tới” như trong tiểu thuyết này. Với Trùng khơi nghe sóng, anh khai thác triệt để lối ẩn dụ nhục thể và chơi chữ hai nghĩa tạo nhiều lớp nghĩa vừa dí dỏm vừa trào lộng. Các câu như “Lên nhanh nào, chị cho lái máy bay…”, “Khe của ai người ấy cắm, cắm cho đúng khe nghe mày”, “Chưa cắm lần nào mà cắm một phát trúng ngay khe giữa”, “Mày lái giỏi tao lái dở”, “Thời buổi cám cao gạo kém, ra sớm chừng nào tốt chừng ấy”, “Tùy ngài. Nếu ống của ngài to và dài hãy đưa qua đóng cho đã!”,… gợi liên tưởng đến vùng cấm kỵ, nhưng nhờ đặt trong không khí bông đùa, chòng ghẹo nên mang sắc thái tục mà vẫn thanh, không gây phản cảm. Tiếng cười như thang thuốc tinh thần giải tỏa chướng ngại lao động và thể hiện tính cách phong trần, nghịch ngợm của tập thể thủy thủ, công nhân và kỹ sư khoan.
Trong Trùng khơi nghe sóng, bên cạnh tiếng cười vui nhộn và phồn thực, Trương Anh Quốc còn triển khai giọng giễu nhại qua cách biến tấu thành ngữ, tục ngữ. Thành ngữ vốn gắn với trí tuệ dân gian, mang tính chuẩn mực, khi được anh tái sinh dưới hình thức vênh lệch, chúng lập tức tạo hiệu ứng hài hước, lộ bày sự méo mó trong ứng xử cũng như những lỗ hổng của kỷ luật tập thể trên giàn khoan. Câu “Sai một ly đi một lít” là một ví dụ. Phóng tác từ thành ngữ quen thuộc “sai một ly đi một dặm”, sự thay thế “dặm” bằng “lít” đã kéo nghĩa sang trường từ vựng kỹ thuật, gắn chặt với sự cố mất tỉ trọng dung dịch khoan trên giàn. Sự chệch lệch bất ngờ đã tạo tiếng cười vì nó vừa gần gũi với ngôn ngữ đời thường, vừa bám sát đặc thù nghề nghiệp. Câu này không xuất phát từ lời thoại của Jet, Vĩnh hay Đồng mà nằm trong giọng người kể chuyện, sau phần miêu tả sự cố. Đó là dạng trần thuật chen bình luận, tiếng cười xả ra từ sự chệch chuẩn ngôn ngữ nhưng trong tiếng cười ấy vẫn phảng phất vị chát đắng. Bởi, đặc trưng công việc trên giàn khoan luôn đi kèm với những rủi ro khó lường, sự bất cẩn luôn phải trả giá. Hay câu “đầu xuôi đuôi lọt” được anh bẻ thành “đầu xui đuôi đứt”. Tiếng cười phát sinh từ sự đảo biến này không giản đơn mua vui mà nó còn gợi nỗi chua chát khi khởi đầu đã gặp rủi ro, kết cục ắt khó tránh khỏi sự sụp đổ. Việc biến đổi theo lối thuận thành nghịch mang hai tầng nghĩa. Một mặt, nó cho thấy sự nghiêm khắc của lao động giàn khoan chỉ một sai lệch nhỏ cũng đủ tạo ra thảm họa, cái “lọt” an toàn bị thay thế bằng cái “đứt” bi kịch. Mặt khác, nó còn cho thấy cách các thủy thủ đối diện với khó khăn, dùng tiếng cười và sự châm biếm để làm dịu vơi những bức bối.
Xét ở góc độ liên văn bản, nhại trong Trùng khơi nghe sóng được Trương Anh Quốc triển khai khá linh hoạt. Anh lấy chất liệu từ nhiều nguồn quen thuộc như thành ngữ, tục ngữ, ca dao, so sánh dân gian và khẩu ngữ, rồi biến đổi bằng cách chèn, bớt hoặc thay thế từ ngữ, đưa vào đó giọng điệu thô mộc, tiếu lâm hay cả thuật ngữ kỹ thuật để tạo lệch chuẩn, gây tiếng cười và hàm chứa giễu nhại. Có thể nhận diện ba dạng chính. Dạng thứ nhất là so sánh mang hơi hướng dân gian, tiếu lâm với các câu như “Cả hai cười như ươi bay ngâm nước ấm”, “Truc khỏe như voi bản Đôn”, “thùng nhớt nặng… trúng người bẹp lép như con tép”. Dạng thứ hai là lặp âm và biến âm để tạo nhịp điệu chênh lệch, ví dụ “Cưới nhiều vợ có ngày vỡ nợ”, “Cáp đấu sai đái sẽ sâu”, “Nhức cả đầu nhầu cả đít”. Những câu này đẩy ngữ âm đến mức phi lý, đôi khi vô nghĩa nhưng chính sự vô nghĩa lại dư ba sức gợi. Dạng thứ ba là thay thế yếu tố trong thành ngữ gốc để gắn chất liệu lao động kỹ thuật vào khung ngôn ngữ dân gian, chẳng hạn “Có công mài chốt có ngày nên kim”, “Có sức người cọc thép cũng thành kim”, biến tấu từ câu quen thuộc “có công mài sắt có ngày nên kim”. Trương Anh Quốc giữ được bóng dáng văn bản gốc mà vẫn rộng mở cấu trúc ngữ âm và ngữ nghĩa để thành ngữ lột xác trong diễn ngôn trào tiếu đời thường, gần gũi và hợp với tâm thế hóm hỉnh của các thủy thủ công nhân trên nhà giàn.
Đọc Trùng khơi nghe sóng của Trương Anh Quốc, tôi nhận ra bóng dáng con người đời thực của anh thấp thoáng trong từng trang viết. Cái duyên ngầm nửa đùa nửa thật, nghịch ngợm nhưng không bật cười thành tiếng khiến người đọc dễ lầm tưởng là nghiêm túc tuyệt đối. Duyên ấy còn ở cách kể chuyện rất giản dị tự nhiên, cứ ngỡ như anh thấy gì nói nấy, có gì kể nấy nhưng thật ra anh đã dẫn dắt khéo léo, khiến người đọc bị cuốn theo mạch kể tưng tửng mà khả tín. Điểm biệt lạ của anh chính là tình yêu và sự am hiểu biển hiếm có. Văn phong phản chiếu phong thái từng trải, linh hoạt, gắn bó trọn vẹn với biển đảo và đủ sức chuyển tải chiều sâu trải nghiệm sống vào tác phẩm. Gấp trang cuối tiểu thuyết, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên một niềm yêu biển cả, yêu thủy thủ lạ lùng. Do đó tôi không ngạc nhiên khi biết Trùng khơi nghe sóng đoạt Giải thưởng của Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh năm nay. Giải thưởng là câu chuyện của từng năm, còn với Trùng khơi nghe sóng tôi tin sức cuốn hút dẫn dụ này sẽ theo dòng chữ mà chạm tới nhiều trái tim độc giả trong nhiều năm.
15/1/2026
Hoàng Thụy Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới là đệ nhất làng võ Trung Hoa?

Thiếu Lâm - Võ Đang, ai mới là đệ nhất làng võ Trung Hoa? Cố văn hào Kim Dung không ít lần khơi gợi lên một cuộc so sánh kinh điển trong l...